Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1256)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (58)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (345)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong (1918 - 1942)

   THU NHỚ   
 
Nắng vàng, se mát, trời xanh trong
Nhấm nháp thu buồn Đặng Thế Phong
Trăm năm vọng mãi lời ca khúc
Dương thế muôn đời vẫn nhớ ông.
Từng “giọt mưa thu thánh thót rơi”
“Đêm thu” trăng chiếu hoa buồn soi
“Con thuyền không bến” trôi lờ lững
Bạc mệnh, tài hoa, một cuộc đời...
 
Related image

Rất tiếc Nhạc sĩ Đặng Thế Phong đã qua đời qúa trẻ lúc mới 24 tuổi. Tuy ông chỉ mới kịp sáng tác được có 3 ca khúc vô gía bất hủ này. 

Image result for Đặng Thế Phong photos

Một ngày cuối thu buồn ông ra đi... 

Tiếc thương cuộc đời người nghệ sĩ tài hoa, khi tình yêu vừa mới nên duyên bén phận thì đã vội ra đi. Ông để lại cho đời 3 tuyệt phẩm mà chỉ cần giai điệu vừa cất lên thôi cũng đủ làm ta như tan biến vào cõi thiên thai mờ ảo. GIỌT MƯA THU là tiếng lòng sâu thẳm đến khôn cùng của ông khi nghĩ về duyên phận cuộc đời mà con tim đã trọn trao cho người thiếu nữ để rồi đành phải xa cách nghìn thu. Những giọt mưa thu tí tách rơi cũng là những giọt nước mắt xót thương cho 1 kiếp người tài hoa nhưng yểu mệnh. Những giai điệu buồn thiết tha ấy sẽ mãi lay động lòng người thương nhớ khôn nguôi về thân phận con người, về những mối tình dang dở.
 
Tâm hồn và âm nhạc của Đặng Thế Phong gói gọn trong một chữ “buồn”.... Có những người nhạc sĩ trong suốt cuộc đời sáng tác của mình chỉ để lại cho thế nhân số ca khúc đếm không hết một bàn tay. Đó là cố nhạc sĩ tài hoa Đặng Thế Phong cùng ba ca khúc bất hủ Dêm thu , giọt mưa thu , con thuyền không bến . “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...” (Giọt mưa thu) , Giọt mưa thu, hay còn gọi là Vạn cổ sầu, là tên đầu tiên cố nhạc sĩ Đặng Thế Phong đặt cho ca khúc được ông viết vào đầu năm 1941, cũng là bài hát cuối cùng trong cuộc đời tài hoa nhưng bạc mệnh của ông. Theo một số tài liệu không rõ nguồn, được lan truyền trên những trang văn nghệ thì ghi lại rằng Đặng Thế Phong là một chàng trai tài hoa, đàn hay hát giỏi, lại mang vẻ đẹp mong manh của cô thiếu nữ với môi đỏ như son. Ông cũng từng theo học dự thính trường Đại học mỹ thuật Đông Dương. Cũng từ đây mà có một giai thoại được lưu truyền rằng Đặng Thế Phong từng vẽ một nhánh cây rất đẹp không có ngọn. Thầy dạy của ông đã khen ngợi bức tranh ấy nhưng cũng tỏ ý lo ngại cho một vận mệnh ngắn ngủi của Đặng Thế Phong.Không ngờ sự tiên đoán ấy đã trở thành sự thật khi Đặng Thế Phong giã biệt cuộc đời vào năm 24 tuổi. 24 năm trên cõi đời, sáng tác đầu tay là một đêm thu, năm 1940, với khu vườn đầy ánh trăng lan dịu và một tâm hồn say khướt theo màu trăng. “Vườn khuya trăng chiếu Hoa đứng im như mắc buồn Lòng ta xao xuyến Lắng nghe lời hoa Cánh hoa vương buồn trong gió Áng hương yêu nhẹ nhàng say Gió lay…” (Đêm thu)
 
Image result for Đêm thu music sheet

    Đêm Thu - Đặng Thế Phong - Thái Thanh    

 
Như một định mệnh, cả ba ca khúc nổi tiếng trong cuộc đời sáng tác của Đặng Thế Phong đều nói về mùa thu. Ngoại trừ Đêm thu là ca khúc đầu tay, thì Con thuyền không bến và Giọt mưa thu được kể lại rằng do Đặng Thế Phong sáng tác trong nỗi nhớ quay quắt về người con gái có tên gọi là Tuyết.
... Đêm nay thu sang cùng heo mây Đêm nay sương lam mờ chân mây Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…”( Con thuyền không bến)

Con Thuyền Không Bến - Trần Mạnh Tuấn & Jean Sebastien Simonoviez at TMT's Studio.

Image result for Con thuyền không bến music sheet
  Mùa thu vốn dĩ đẹp, nhưng buồn. Đã thế, lại còn đêm thu, tất cả cảnh vật, cuộc sống hiện hữu trong ca khúc của Đặng Thế Phong đều là những hoạt động diễn ra trong trời đêm mùa thu. Con thuyền thì không bến; thu sang cùng với heo mây; giọt mưa thu rơi hoà cùng tiếng khóc than hờ…
“Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...” (Giọt mưa thu)

Giọt Mưa Thu - Nhạc Đặng Thế Phong - Tiếng hát Thái Thanh

Related image
   Và ai yêu nhạc của ông đều biết rằng ngay từ ca khúc thứ hai, là Con thuyền không bến, nhạc sĩ đã nhuốm bệnh lao , Con thuyền không bến tuy vẫn là giai điệu nhẹ nhàng, còn vương chút âm hưởng Tây phương của Đêm thu nhưng đã bắt đầu chất chứa những hình ảnh chênh vênh và âm thanh của lòng trắc ẩn. Rồi khi đến Giọt mưa thu, thì hoàn toàn là một bức tranh thu u ám. Cái nghèo, cái buồn, cái cô độc bao trùm lên khắp nhạc điệu, len lỏi trong từng ca từ của nhạc khúc. Đặng Thế Phong hoàn thành sáng tác này ngay trên giường bệnh.
Tài hoa của Đặng Thế Phong được giới nghiên cứu âm nhạc và nghệ thuật chỉ ra rằng chính do ông đã kết hợp hài hòa giữa nhạc Tây phương và giai điệu ngũ cung. Nói một cách khác là “Đông Tây giao hoà”. Tất cả ba ca khúc của ông được xem là những ca khúc tiên phong của tân nhạc Việt Nam.
24 năm đối với chiều dài của một cuộc đời thì quả là ngắn ngủi. Nhưng sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong để lại thì kéo dài qua nhiều thế hệ. Mùa thu của Đặng Thế Phong qua bao nhiêu năm tháng vẫn mãi mãi là mùa thu của tình yêu vô vọng, mùa thu của phận đời, phận người nghiệt ngã, mùa thu của tài hoa nhưng bạc mệnh, mùa thu của Đặng Thế Phong.

Image result for Đặng Thế Phong photos

Rất tiếc Nhạc sĩ Đặng Thế Phong đã qua đời qúa trẻ lúc mới 24 tuổi. Tuy ông chỉ mới kịp sáng tác được có 3 ca khúc vô gía bất hủ này. Nhưng hầu hết những Nhạc Sĩ cùng thời với ông như Văn Cao, Phạm Duy, Cung Tiến, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Qúy v.v.. hay những Nhạc Sĩ thuộc lớp đàn em sau đều phải nhìn nhận ông đã là một Nhạc Sĩ tài ba, nỗi lạc của làng Tân Nhạc VN trong thời Tiền Chiến lúc bấy giờ (trong khoảng 45).

Có nhiều Nhạc Sĩ nổi tiếng sau này còn ví ông như là một Chopin, Mozart của VN vậy. Tôi tin rằng nếu ông không bất hạnh mà qua đời qúa sớm thì có lẽ ông đã sáng tác và để lại cho nền Tân Nhạc VN sau này rất nhiều những ca khúc vô gía bất hủ khác nữa...Có lẽ công bằng thẳng thắn mà xét cố Nhạc Sĩ Đặng Thế Phong cũng phải được xứng đáng xem là một Thiên Tài cũng như ông nên phải được dành cho một chỗ ngồi cao nhất sáng chói trên Diễn Đàn Tân Nhạc VN mãi mãi về sau vậy.

CON THUYỀN KHÔNG BẾN (Đặng Thế Phong) - Kim Anh

  Đặng Thế Phong – Tài Hoa Mệnh Yểu  

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định và mất năm 1942 tại Hà Nội vì bệnh lao, là một nhạc sĩ tiền chiến tiêu biểu cho nền Tân nhạc Việt Nam.
Cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc Thành chung. Ông lên Hà Nội học với tư cách dự thính tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương; tại đây, Đặng Thế Phong đã để lại một giai thoạt đẹp và buồn. Trong một kỳ thi, ông vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, Giáo sư Tardieu, thầy dạy ông khen đẹp, nhưng đoán rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!
Thời gian sau, ông lang thang vào Sài Gòn, sau đó sang Cambodia kiếm sống – có lúc ông mở một lớp dạy nhạc. Sinh thời, Đặng Thế Phong sống và chết trong nghèo đói.
Là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của Tân nhạc Việt Nam, trong 24 năm của đời mình, Đặng Thế Phong chỉ để lại vỏn vẹn 4-5 tác phẩm, trong đó có 3 nhạc phẩm nổi tiếng và quen biết về mùa thu là “Đêm thu”, “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu” (hay “Vạn cổ sầu”; lời bài này được coi là của Bùi Công Kỳ).
Trong chương trình “Vòng Quanh Thế Giới” tuần này, nhạc sĩ Tô Vũ, cùng thời với Đặng Thế Phong, sẽ cho quý thính giả và độc giả biết về người bạn của mình.
 
ConThuyenKhongBen-Dang-The-Phong
 
 
Nhạc sĩ Tô Vũ: Đặng Thế Phong có thể nói là một người rất đa tài và rất yêu thích âm nhạc. Anh ấy thì là người ở Nam Định, khi lên Hà Nội học, anh ấy lại học họa như kiểu Văn Cao ấy, tức là anh ấy học ở trường Mỹ thuật Đông Dương chứ không phải là nhạc sĩ bẩm sinh, rất mê nhạc và chơi nhạc guitare rất hay. Thế là, khi có phong trào vận động và sáng tác và Đặng Thế Phong một trong những người đầu tiên sáng tác. Bởi vì ông ấy có một hoàn cảnh như thế này. Lúc đó tôi ở nhờ nhà ông Phạm Cao Củng là một nhà viết truyện trinh thám đầu tiên của Việt Nam, cũng nổi tiếng, lấy hiệu là ông Văn Tuyền – Phạm Cao Củng. Tôi ở nhờ nhà ông Văn Tuyền – Phạm Cao Củng. Ông Phạm Cao Củng là chủ bút một tờ báo “Học sinh”, vẽ minh họa cho tờ báo ấy chính là nhờ ông Đặng Thế Phong. Đặng Thế Phong đến ở nhờ ông Phạm Cao Củng để vẽ báo cho ông Phạm Cao Củng, còn tôi đến ở nhờ ông Phạm Cao Củng để đi học tú tài. Thế là hai anh cùng là nhạc với nhau, Ông Đặng Thế Phong làm được bài gì là hát cho tôi nghe ngay. Bản nhạc đầu tiên mà Đặng Thế Phong được nổi lên là do Phạm Cao Củng in cho trên tờ báo “Học sinh”. Bài đầu tiên là bài “Đêm Thu”.
Việt Hùng: Nhạc sĩ là người đã có thời trai trẻ và thời còn đi học gắn liền một khoảng thời gian với những kỷ niệm với nhạc sĩ Đặng Thế Phong. Nhạc sĩ có thể chia sẻ với quý thính giả về một số ca khúc nhạc sĩ Đặng Thế Phong viết.
Nhạc sĩ Tô Vũ: Đặng Thế Phong anh ấy có mặc cảm riêng về con người. Chính vì vậy nên anh ấy viết những bài buồn. Ngoại hình của anh ấy có mấy cái răng khểnh, hai nữa là bàn tay của anh ấy toàn nổi những mụn hột cơm. Cho nên ông ấy mặc cảm về ngoại hình của mình lắm. Lúc đó, phong trào Lê Thương sáng tác, Đặng Thế Phong bảo: “Làm thế này chúng ta làm cũng được”. Đặng Thế Phong cũng làm luôn và bài đầu tiên là “Đêm Thu”. Ông Củng bảo thế này: “Thế bây giờ thì thế này: tôi phải in cho các cậu thì người ta mới biết chứ”. Ông ấy in bài “Đêm Thu” trên báo “Học sinh” cho ông Đặng Thế Phong. Thế rồi ông Đặng Thế Phong đi hát ở một số nơi từ thiện, người ta rất thích Và sau đó đến bài “Con thuyền không bến” thì nổi lên như cồn.
song_con_thuyen_khong_ben
Lúc ấy anh ấy bị bệnh và anh ấy trở về Nam Định. Chính trên giường bệnh anh ấy viết bài “Giọt mưa thu” cũng là một bài hết sức rất nổi tiếng. Người giữ bài nhạc này để in hộ là nhạc sĩ Bùi Công Kỳ và chính Bùi công Kỳ là người đưa bài “Giọt mưa thu” ra cho công chúng. Chứ khi viết bài này thì Đặng Thế Phong đã gần chết rồi.
Việt Hùng: Như vậy bản cuối cùng của Nhạc sĩ Đặng Thế Phong là bài “Giọt mưa thu” cũng như lời trăn trối để lại.
Nhạc sĩ Tô Vũ: Lúc đầu ông ấy đề là “Vạn cổ sầu” nhưng về sau anh em nào đó, tôi tin là Bùi Công Kỳ thôi, bảo là để “Vạn cổ sầu” nghe nó sầu quá nên đổi lại là “Giọt mưa thu”.
Việt Hùng: Nhạc sĩ Đặng Thế Phong lấy từ nguồn cảm hứng hay là từ ca từ nào để đặt cho “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi”?
Nhạc sĩ Tô Vũ: Ông ấy nằm bệnh liệt giường hàng tháng, không dậy được và người hay đến thăm lúc ốm là Bùi Công Kỳ. Cứ nghe giọt mưa tí ta tí tách và nhớ cuộc đời, thấy cuộc đời nó cũng tàn đi, nó chảy đi như giọt mưa mùa thu, tức là tâm sự cuộc đời của Đặng Thế Phong đấy.
Việt Hùng: Thế rồi để trở về bản “Con thuyền không bến”, mọi người biết đến rất nhiều “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”. Xuất xứ “Con thuyền không bến” nhạc sĩ biết từ đâu?
 
Con Thuyen Khong Ben - Dang The Phong
 
Nhạc sĩ Tô Vũ: “Con thuyền không bến”… đi lên chơi với anh Củng, chúng tôi hay đi chơi lắm, ngồi trên con thuyền đi trên sông Thương, con thuyền không bến… con sông ấy chính là con sông Thương mà anh Đặng Thế Phong đã từng đi và tôi cũng được biết anh đã đi mà anh ấy không rủ tôi bởi vì anh ấy đi với bạn anh ấy. Còn tôi đi với người khác. Nhưng khi về hát thì tôi biết ngay. Là một trong những người đầu tiên viết theo thể (xanh-cốp), hồi đó là mới lắm đó… (tinh tinh tinh tinh tình tình tinh – tinh tinh thinh tinh tình tinh tinh – hát) Cái ấy là cái sáng tạo mới – rất nhiều người sợ, ông Doãn Mẫn rất sợ cái đó và bảo viết thế hơi quá mạnh đấy – Đặng Thế Phong đã làm đấy, bởi vì ông ấy bảo thế nó mới đúng con thuyền lờ lững. “Đêm nay thu sang cùng heo may – Đêm nay bơ vơ thuyền trôi đây – Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng – Như bước chân ai chùng tơ lòng” (hát). Bài “Con thuyền không bến” tôi nghe Đặng Thế Phong hát thấm lắm, buồn lắm!
Thế anh Củng bảo “việc gì sao cậu buồn thế”, hóa ra lần ấy anh ấy cảm thấy anh không còn tồn tại lâu, thành ra anh ấy nhìn cái gì cũng thấy buồn, đi chơi trên sông cũng cảm thấy rất buồn chứ ông ấy chả có thất tình gì đâu. Và viết bài “Con thuyền không bến” cảm thấy mình rất bơ vơ lạc lõng ở thế gian này.
Việt Hùng: Phải chăng có thể nói nhạc sĩ Đặng Thế Phong là một trong những nhạc sĩ đặt tiền đề cho khám phá mới trong những melody và những giai điệu của nền Tân nhạc như vậy? Nhạc sĩ suy nghĩ như thế nào về điều này?
 
Nhạc sĩ Tô Vũ: Đúng, đúng, đúng! Chính phong cách của Đặng Thế Phong rất nhiều người về sau này hướng vào cái đường ấy. Một trong những người viết và tiết tấu nó mạnh hơn chính là Ngọc Bích. Chính từ Đặng Thế Phong mà Ngọc Bích đã tiến tới cái loại (swing) Là vì Đặng Thế Phong là người dám chơi nghịch phách đầu tiên trong các ca khúc trữ tình.
Việt Hùng: Thế là từ khi Đặng Thế Phong sáng tác các ca khúc “Con thuyền không bến”, “Giọt nưa thu”, phần lớn hầu hết nhạc sĩ Đặng Thế Phong tự hát để phổ biến đến thính giả…
Nhạc sĩ Tô Vũ: Đúng. Đúng như thế. Nếu Đặng Thế Phong không hát mà chỉ in không thôi thì chắc chắc những bản nhạc đó sẽ chết chìm hết. Vì hồi đó người có thể sử dụng đuợc ký âm và hát lên được ít lắm.
Việt Hùng: Là một người có nhiều kỷ niệm với nhiều nhạc sĩ thời tân nhạc của Việt Nam, nhất là nhạc sĩ Đặng Thế Phong, nhạc sĩ có kỷ niệm gì chia sẻ với quý thính giả?
Nhạc sĩ Tô Vũ: Tôi rất quý Đặng Thế Phong. Tôi quý là vì ông ấy đa tài quá. Ông ấy vẽ rất giỏi. Ông này vừa là nhạc sĩ, họa sĩ, và ca sĩ, nhiều thứ lắm. Tôi nghĩ cũng như Văn Cao, Đặng Thế Phong không bỏ nhiều công phu học nhạc như tôi đâu, không chịu khó như tôi đâu. Thế nhưng các anh ấy như người ta nói là “học một biết mười”, hay nghe lỏm một bài hát thôi thì lập tức nghĩ ra cách gì để biến đổi thành của mình, mình sáng tác ra. Cho nên tôi bảo là loại này như các anh ấy không gọi là nhân tài mà gọi là thiên tài. Đặng Thế Phong và Văn Cao là hai điển hình mà tôi cho là thiên tài xây dựng nền Tân nhạc của chúng ta.
Việt Hùng: Trước khi ra đi, nhạc sĩ Đặng Thế Phong có để lại bản “Giọt mưa thu”, ngoài ra nhạc sĩ có nghe nhạc sĩ Đặng Thế Phong có nhắn nhủ gì để lại cho đời, cho người…
 
giot-mua-thu
Nhạc sĩ Tô Vũ: Hình như có chuyện này bây giờ trở thành giai thoại. Có mấy bà thời trước ấy là thiếu nữ rất xinh đẹp đã về đây và nói với tôi là mình chính là người tạo cảm hứng để Đặng Thế Phong viết bản “Giọt mưa thu”. Tôi không tin. Nhưng có một bà bên Thụy Sĩ về đây, em ruột bà ấy biết tôi và tôi cũng biết gia đình ấy. Bà ấy bảo Đặng Thế Phong là vì không lấy được bà ấy nên mới viết “Giọt mưa thu” và chết thành như vậy. Hoàn toàn không đúng! Nhưng tôi biết bà này rất yêu Đặng Thế Phong, bà ấy về để lấy ảnh và thờ ông ấy bên Thụy Sĩ bây giờ. Tôi tin là không phải, không có đâu! Tôi tin là ông Đặng Thế Phong có người yêu. Cái đó là đúng! Nhưng tôi tin là rất trắc trở – cái này ông Củng nói với tôi. Gia đình cô này không thể chịu được ông Đặng Thế Phong nghèo rớt mồng tơi lại thích làm nhạc, với vẽ thì sống làm sao được! Về với ông này chỉ có ăn cơm với uống nước lã. Tôi thấy ông Củng nói về ông Phong như thế đấy. Tôi tin không phải ông đào hoa nhiều cô mê như lời cô em gái thường nói bây giờ. Tôi tin rằng ông ấy thất tình, rất yêu một người nào đó nhưng không với được cho nên những bài hát ấy rất buồn, cả “Đêm thu” cũng rất buồn, “Con thuyền không bến” lại càng buồn bơ vơ đến “Vạn cổ sầu” tức là “Giọt mưa thu” lại càng buồn hơn nữa. Anh ấy là một con người thất tình giống y như (nhạc sĩ Bizet – ở Pháp), hay là Chopin chứ không phải là người tài hoa như Đoàn Chuẩn đâu.
Việt Hùng: Thường bây giờ mọi người nói nhìều đến “Giọt mưa thu” và “Con thuyền không bến”. Tuy nhiên nhờ nhạc sĩ có thể ngân nga một ca từ hoặc melody nhỏ trong bản “Đêm thu” cho thính giả nhớ lại, hồi tưởng lại “Đêm thu”.
Nhạc sĩ Tô Vũ: (Hát) Câu “Hoa lá cành ánh trăng xuân dịu dàng” trở thành câu về sau quá nhiều người thích, đến nỗi ông Trần Văn Khê còn nói “kiểu hoa lá cành ấy mà”, tức là kiểu phù phiếm bên ngoài, không có gì. Nó chính là câu pháp của Đặng Thế Phong. Tôi thấy từ ông Lê Thương, bao nhiêu người cứ nhắc đến bảo “ừ cái cậu ấy hoa lá cành thôi, không sâu sắc, chỉ phơn phớt như bướm thôi”. Lấy từ lời ca ấy của Đặng Thế Phong. Tôi mới bảo: “Hoa lá cành” lấy từ “Đêm thu” à?” “Đúng, nó nói rất đúng Đặng Thế Phong, rất đúng! Thằng cha ấy chỉ hoa lá cành thôi”…….
Việt Hùng: Vâng, “Con thuyền không bến” qua tiếng hát Anh Ngọc, “Giọt mưa thu” qua tiếng hát Thanh Thúy, và “Đêm thu” qua tiếng hát Lê Dung cùng ký ức của nhạc sĩ Tô Vũ từ Sài Gòn nói về nhạc sĩ Đặng Thế Phong như một lời chia tay với thính giả chương trình “Một giờ vòng quanh thế giới”.

Thái Thanh Hát Con Thuyền Không Bến Của Đặng Thế Phong

 

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, Đặng Thế Phong (1918 – 1942) là một trường hợp đặc biệt. Ông là một trong rất ít nhạc sĩ tiên phong của thời kỳ tân nhạc còn phôi thai, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho giai đoạn âm nhạc tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi, khi còn rất trẻ nhưng vẫn kịp để lại cho đời 3 ca khúc bất hủ : "Đêm thu", "Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu". Người yêu của Đặng Thế Phong là 1 cô gái tên Tuyết, người gốc Nam Định. Trước khi quen và yêu Tuyết, Đặng Thế Phong đã sáng tác ca khúc đầu tay "Đêm thu" trong một đêm cắm trại của Hướng đạo sinh (1940). Còn bản "Con thuyền không bến" thì được sáng tác ở Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) khi tình yêu giữa nhạc sĩ và cô Tuyết đang độ chín mùi. Một hôm, ông cùng một nhóm bạn văn nghệ sĩ lên Bắc Giang chơi, nhân đó họ tổ chức một đêm đi thuyền trên sông Thương. Cùng lúc đó, chàng nhận được tin Tuyết ngã bệnh nơi quê nhà. Lòng dạ bồn chồn, xót xa, Đặng Thế Phong ôm đàn bước vào khoang thuyền, bỏ mặc các bạn đang đùa vui. Khi đêm sắp tàn thì bản nhạc hoàn tất với những lời ai oán não nùng gửi về... chân mây: “Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay sương lam mờ chân mây... như nhớ thương ai chùng tơ lòng...”, rồi “... Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng...”. Sau khi từ Bắc Giang về, Đặng Thế Phong bắt đầu nhuốm bệnh. Thời đó, bệnh lao là một bệnh nan y, ở tỉnh không đủ điều kiện chữa trị, Đặng Thế Phong phải chuyển lên Hà Nội. Cô Tuyết vì phải phụ giúp gia đình chuyện buôn bán ở thành Nam nên vài hôm mới lên Hà Nội chăm sóc người yêu rồi lại tất tả quay về. Tháng 7 mưa ngâu. Cảnh buồn tê tái. Đặng Thế Phong nhớ Tuyết quay quắt... Nhạc hứng tuôn trào, chàng gượng ngồi dậy, ôm đàn và viết nên khúc nhạc buồn da diết: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...”. Đó chính là ca khúc bất hủ "Giọt mưa thu". Cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi, Đặng Thế Phong trở về Nam Định. Từ đấy cho đến lúc Đặng Thế Phong lìa đời, cô Tuyết lúc nào cũng túc trực bên giường bệnh để chăm sóc ông, khiến những người quen biết đều xót xa thương cảm cho một mối tình vô vọng lẫn nể phục tính cách cao thượng chung thủy của Tuyết.
 

Cảm âm ca khúc ‘Giọt Mưa Thu’ của Đặng Thế Phong: tác phẩm cuối cùng của người nghệ sĩ trước lúc ra đi

Những ai yêu thích những ca khúc viết về mùa thu, hẳn đều biết bài hát “Giọt Mưa Thu” của nhạc sĩ Đặng Thế Phong, sáng tác năm 1942. Bài hát đã làm rung động trái tim nhiều thế hệ, nhưng đâu phải ai cũng biết rằng chủ nhân của nó đã viết nên bài hát đó trong đáy sâu của tâm trạng cô đơn, buồn đau và tuyệt vọng.
 
Mùa thu nơi đất Bắc có nhiều nét đẹp làm xao xuyến hồn người. Cảnh vật thiên nhiên biến đổi cùng với các yếu tố thời tiết tạo nên mùa thu với những đặc trưng không thể trộn lẫn. Trong các yếu tố đó, mưa thu là khiến lòng người buồn nhất. Nào đâu có thấy ai vui với mưa thu bao giờ!
 
Có những nhạc sĩ còn lấy mưa mùa thu làm cảm hứng sáng tác; nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với bài “Ướt Mi” là một ví dụ (Ngoài hiên mưa rơi rơi, buồn dâng lên đôi môi…). Nhạc sĩ Đặng Thế Phong trong khi lâm bệnh lao nặng, nằm trên giường bệnh nghe tiếng mưa thu rơi đều đều qua mái tranh mà bừng lên cảm hứng sáng tác, ông đã vùng dậy viết trọn bài “Giọt Mưa Thu”
 
Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi
 
 
Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi, trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi (Nguồn ảnh: vantho.net)
 
Cảm giác buồn thương của ông còn nhân lên gấp bội khi phải xa cách người yêu nơi quê nhà:
Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ
Người nhạc sĩ nghèo khó cô đơn cảm thấy cuộc đời thật là bế tắc, đến mức muốn trách ông Trời, trách mùa thu tới mang theo nỗi buồn dồn cộng lên đôi vai ông
Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Trong khổ đau cùng cực, ông thấy mình sao quá nhỏ nhoi, yếu đuối, còn chẳng bằng lũ chim non trên cành. Ông còn muốn nhờ cậy chúng nói hộ nỗi lòng với trời cao:
Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành
Như nhủ trời xanh
Gió ngừng đi mưa buồn chi cho cõi lòng lâm ly
Nhưng mưa gió của mùa thu chỉ là một yếu tố làm cho ông buồn thêm, chứ không phải là căn nguyên thực sự của nỗi lòng ông.
Căn nguyên thực sự đó đến từ bao nỗi lo toan trong tâm ông: bôn ba quá nhiều mà chưa dừng lại ở đâu; bệnh nặng đã đến hồi vô phương cứu chữa; tình yêu còn chưa đơm hoa kết trái; tuổi đời còn quá trẻ chưa thành tựu được gì; nhất là nỗi nghèo khó đã đeo bám ông từ lúc được làm người.
Những nỗi lo như thế, cộng thêm cái lạnh của gió thu, cái trì trì của mưa thu, đã dìm ông xuống đến đáy sâu của sự tuyệt vọng; cho dù đến lúc thời tiết có biến chuyển đẹp hơn, thì cuộc đời ông biết chắc rằng đang đi xuống:
Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh
Mây ngỏ trời xanh
Chắc gì vui mưa còn rơi bao kiếp sầu ta nguôi
 
 
Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh, mây ngỏ trời xanh (Nguồn ảnh: Pinterest)
 
Vì vậy ông chỉ còn biết khóc cùng với mưa thu:
Ai nức nở thương đời châu buông mau dương thế bao la sầu
Ông đã cảm thấy rõ biển sầu nơi thế gian này, nhận thấy được quy luật của đất trời này là vĩnh viễn bất biến, cuộc đời ông cũng không khác gì một cơn gió đi qua trần thế mà thôi.
Gió xa xôi vẫn về
Mưa trăng ngủ lê thê
Đến bao năm nữa trời
Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu
Chỉ một thời gian rất ngắn sau khi viết ca khúc Giọt Mưa Thu này, ông đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi 24, để lại cho đời vỏn vẹn 3 tác phẩm bất hủ đều viết về mùa thu; ngoài bài hát chúng ta đang xem còn có “Đêm Thu” và “Con Thuyền Không Bến”. Ba bài hát này đều đã trở nên nổi tiếng ở Hà Nội ngay khi ông còn sống.
 
 
Nhạc sĩ Đặng Thế Phong (Nguồn ảnh: lediemchihue.com)

Ông thậm chí còn tự mình biểu diễn bài “Con Thuyền Không Bến” trên sân khấu; trong khán giả hôm đó có một người đặc biệt, chính là người yêu của ông, lặn lội từ Nam Định lên Hà Nội xem ông hát.
Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc, trong bài “Giot Mưa Thu” Đặng Thế Phong đã dung hợp nhuần nhuyễn giai âm thất cung của Tây phương với giai âm ngũ cung của Việt Nam để thể hiện cái hắt hiu và lâm ly của mùa thu ngoài đời và trong đời mình.
Thời đầu khi mới ra mắt công chúng, “Giọt Mưa Thu” được trình bày bởi ca sĩ Tâm Vấn. Bà đã từng chia sẻ: “Thời đó ba bài của ông Đặng Thế Phong thì lẫy lừng ở Hà Nội, gần như là ai cũng biết, từ người mù chữ cho đến người nghe nhạc đều mê”.
Sau này ca sĩ Lệ Thu, trong một hòa âm xuất sắc, có thể nói là người tiếp nối thành công nhất cái hồn và khung cảnh lâng lâng của bài hát này.

GIỌT MƯA THU ❀ Đặng Thế Phong ♪♫ Lệ Thu - HD

 
Ca sĩ Hoàng Oanh, tạo nên điểm mới lạ cho ca khúc nhờ kết hợp với kể lại tích cổ và ngâm thơ vọng cổ. “Giọt Mưa Thu” qua giọng ca đài các của chị còn như đưa ta về một miền xa xưa hơn nữa.

Hoàng Oanh | Giọt Mưa Thu | Đặng Thế Phong

 
Nỗi buồn khổ của riêng ai, người đó phải gánh chịu. Âu đó cũng là lẽ của đất trời, như hết hạ rồi lại sang thu vậy. Giờ ta ghe lại “Giọt Mưa Thu” của ngày xưa, trong những giọt mưa thu của hôm nay, để tri ân một nhạc sĩ tài năng đã góp phần khai sáng nền tân nhạc lãng mạn cho nước Việt chúng ta.
Hoài Ân
Giọt mưa thu là nhạc phẩm cuối cùng của cố nhạc sĩ Đặng Thế Phong được ông viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh năm 1942. Ban đầu bản nhạc mang tên Vạn cổ sầu, nhưng theo ý một vài người bạn, ông đặt lại là Giọt mưa thu cho bớt sầu thảm hơn. Một số ý kiến cho rằng ca khúc này có sự tham gia viết lời của cố nhạc sĩ Bùi Công Kỳ.
Đặng Thế Phong
Giọt mưa thu được xếp vào những ca khúc hay nhất của tân nhạc Việt Nam. Phạm Duy cho rằng Giọt mưa thu cùng hai nhạc phẩm khác của Đặng Thế Phong khởi đầu cho dòng "nhạc thu" Việt Nam sẽ được Văn Cao và Đoàn Chuẩn tiếp nối. Nhạc phẩm này cũng là cảm hứng để Hoàng Dương sáng tác bài Tiếc thu nổi tiếng. Nhiều ý kiến cho rằng Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng bởi Giọt mưa thu khi viết bản nhạc đầu tay Uớt mi.
Về hoàn cảnh ra đời của Giọt mưa thu, theo một bài viết của nhạc sĩ Lê Hoàng Long: "Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn cổ sầu. Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe. Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt mưa thu. Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là dòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong - Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng? Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về."
 
Image result for Đặng Thế Phong photos

Thái Thanh Hát 3 ca khúc của Đặng Thế Phong

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong - Những Tình Khúc Bất Hủ (thu âm pre 75)

GIỌT MƯA THU - Thanh Thúy

 
Đặng Thế Phong (1918 – 1942)
    Con Thuyền Không Bến    
 
With just three love songs, Đêm Thu (Autumn Night), Con Thuyền Không Bến (Adrift), and Giọt Mưa Thu (Autumn Raindrops), Đặng Thế Phong joined the pantheon of great Vietnamese songwriters of the pre-war years. He ranked among the pioneers of modern Vietnamese music, seamlessly melding the traditional pentatonic scale with Western heptatonic scale. The song Con Thuyền Không Bến is an example of this type of composition. The theme of autumn permeating his repertoire, small as it is, has the power to unleash an avalanche of autumn songs that lasts to this day, to the delight of the Vietnamese audience.
 
A native of Nam Dinh Province, birthplace of an impressive succession of talented musicians: Ðan Thọ, Hoàng Trọng, Nguyễn Xuân Khoát (1910), Văn Chung (1914), Lê Yên (1917), Nguyễn Văn Thương (1919), Bùi Công Kỷ (1919), Lưu Hữu Phước (1921), Ðỗ Nhuận (1922), and Phan Huỳnh Ðiểu (1924), Đặng Thế Phong rose to prominence as a songwriter of the Romantic movement and was glorified by universal accolade. His memory is further honored by the tragedy of his short life. Born into a family of civil servants in 1918, the second of six children, whose father, Đặng Hiển Thể, died early, he managed to gain an eighth-grade education before dire financial circumstances forced him to seek employment by moving to Hanoi, where for a while he enrolled as an auditor at the College of Fine Arts. He earned a meager income by illustrating the magazine Học Sinh. (Young Students) under the editorship of the detective story writer Phạm Cao Củng, while financing his further education. For the magazine, he produced the literary comics Hoàng Tử Sọ Dừa. (Prince Coconut Shell) and Giặc Cờ Đen (The Black Flag Bandits). In the spring of 1941, he left for Saigon, then went on to Phnom Penh, Kampuchea, where he offered music classes until his return to Hanoi in the fall. One story says it is in Phnom Penh that he completed the song Con Thuyền Không Bến, which debuted, sung by himself, in the Olympia theater in Hanoi upon his return. However, a probably more credible source, as we shall see below, places the writing of this song in 1940 over the Thuong River, and the premiere also took place this year. Severe privations, long unsuccessful travels, and tuberculosis (though he also had meningitis) finally took his life in early 1942 at the age of 24. It is said that he finished writing his last song, Giọt Mưa Thu (Autumn Raindrops), on his deathbed in a small loft on Hang Dong Street in Nam Dinh.
 
Musician Lê Hoàng Long tells the story of the song as an insider. In 1940, : Đặng Thế Phong had to go to Bắc Giang Province for a few days. This province is traversed by the Thuong River, which clearly shows its two currents, one clearer than the other running side by side, probably because of the difference in the amount of sediments. One bright moon-lit night Dang and his friends rented a boat, moored it, and were enjoying the evening over drinks when he received a handwritten note saying his girlfriend Miss Tuyet had taken ill. For the remainder of the night Dang grew silent and worried. That night, restless and finding sleep elusive, he began to write Con Thuyền Không Bến, which he finished before daybreak. Two days later he was back in Nam Dinh, and Miss Tuyet miraculously recovered on seeing him. In the chill of fall and its light breeze the two lovers met under moonlight. He softly sang the just-written melody into her ears, and the world has a new song, whose perennial themes of love and autumn and moonlight once again rise to stir every Vietnamese heart.
 
Commenting on the lyrics, famed folklorist-songwriter-singer Pham Duy emphasizes the malaise of the young generation, who keenly felt the oppressiveness of the colonial regime and could relate to the aimless drift of the boat on the currents of the Thuong River, the metaphor for the currents of events, which they were powerless to change. To Pham Duy it had to be a boat that is adrift on the Thuong River of two distinct currents, it had to be autumn which brings its cold wind, the haze that reaches to the cloud front, the wind that whistles among the pines, and the moon that lights the landscape to arouse the Zeitgeist in the Vietnamese soul of the time, the tenderness, the pain, the melancholy, the love of kinfolk and land, which remain the motifs across all genres of artistic creation. A boat adrift on the Seine in the summer would never elicit any kind of meaningful response.
 
    Sưu tầm & tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang   
Xem thêm...

Sắc thái tiếng rao Sài Gòn xưa và nay

Sắc thái tiếng rao Sài Gòn xưa và nay

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Về Sài Gòn lại nhớ những tiếng rao cũ “Quê hương trên đôi vai gầy” và hiện nay có một sự thật là Sài Gòn bây giờ có thể đã vắng nhiều những tiếng rao, nhất là về đêm, không thiếu gì người bán hàng rong vẫn quang gánh kĩu kịt từng con hẻm quanh co nhưng tiếng rao của họ đã bị vô số tiếng ồn xe cộ, TV, âm nhạc lấn áp, ngày trước, mỗi khi nghe tiếng rao quen thuộc là người Sài Gòn có thể biết giờ mà khỏi cần coi đồng hồ. Tiếng rao trở thành thân thuộc đến nỗi khi vắng nó một vài hôm đã khiến người ta lo lắng cho sức khoẻ của người bán dạo. Để rồi khi được nghe lại tiếng rao thì bồi hồi như thể vừa gặp lại người quen! Tiếng rao Sài Gòn có sắc thái riêng. Bây giờ, tiếng rao có khi được thay bằng những thanh âm khác: tiếng lóc cóc của xe mì gõ lúc nửa đêm, hay tiếng xoành xoạch của anh chàng đấm bóp…

Một xe đẩy bán nước bên cạnh một quầy cà phê nhỏ trên vỉa hè Sài Gòn
Một xe đẩy bán nước bên cạnh một quầy cà phê nhỏ trên vỉa hè Sài Gòn

1.Những tiếng rao quen thuộc về Sài Gòn

Cuộc sống Sài Gòn như đầy đặn hơn trong những con hẻm nhỏ. Chỗ lày là quán cà phê cóc, kế bên là quán cơm bình dân, đối diện là quán bún bò nằm cạnh quán phở… Ăn uống ở những quán này, giá cả rất bình dân mà chất lượng cũng… chấp nhận được! Với những người tỉnh lẻ lên Sài Gòn ở trọ vài năm thì chắc chắn những tiếng rao của cái đô thị này đã ngấm vào ký ức. Sài Gòn là vậy, hối hả, ồn ào nhưng rất dễ thương dễ nhớ. Nhớ tiếng rao, là một phần hồn của Sài Gòn, ai đã đến rồi đều mang theo khi tạm biệt. Đó là một phần đặc trưng, một phần bản sắc của Sài Gòn vậy!..,sáng tinh mơ Sài Gòn đã quen với tiếng rao “bánh mì nóng giòn…”, “báo mới đây…”,. Sau những “thức điểm tâm” đó là một ngày làm việc với: “ve chai, đồ điện hư cũ bán hông…” vào buổi trưa, “bánh bò bánh tiêu bánh cuốn”, “xôi khúc bánh tét bánh giò” vào buổi chiều kéo tận đến khuya. Đêm Sài Gòn không thể thiếu tiếng lóc cóc của đội quân xe mì gõ suốt hai mùa mưa nắng … Gần đây, dân nhập cư, nông nhàn đổ về thành phố ngày càng đông. Tiếng rao cũng “phong phú” nhiều mặt hàng hơn: ve chai, khoai lang, khoai mì, đậu phộng nấu, bắp nấu…,bước trên đường phố Sàigòn náo nhiệt và sống động, ta có thể nghe thấy khắp các đường, hẻm những tiếng rao “tiếp thị”. Đường phố thì ồn ào, nhà ở thì cao tầng, tiếng rao dường như không còn ngân nga như trước. Người rao cố vươn dài cổ, hét thật to để át đi những âm thanh hỗn độn của cuộc sống.

hang rong

Tiếng rao Sài Gòn tựa như một bài hát có âm, có điệu, có vần nghe thật hấp dẫn. Nhưng đằng sau những âm thanh đó là nếp sinh hoạt người dân chốn thị thành từ lâu đời, chống chọi với gian khổ để giành lấy cuộc sống bản thân!
Tiếng lóc cóc của những xe hàng rong đi qua
Mùi thơm đánh thức cả con hẻm nhỏ
Náo nức những tiếng rao buổi sáng
“Báo đê… ê… , bánh mì nóng, xôi vò đê…ê!”

Nụ cười hồn nhiên của cô bé bán nước bên bờ kênh
Nụ cười hồn nhiên của cô bé bán nước bên bờ kênh
Người Sài Gòn xưa giải khát thế nào
Những xe bán nước dạo trên đường phố Sài Gòn những năm 40

2.Tiếng Rao “SÀI GÒN” ngày nay

Sài Gòn hôm nay có những tiếng rao mới: “Thịt ngon, cá tươi, rau xanh các bác ơi!”… Đó là âm thanh của tiếng rao vào sáng sớm trong các khu phố bình dân. Người rao là những cô gái trẻ quê phía Bắc. Các cô cột hai cái rổ sắt hai bên yên sau chiếc xe đạp, chứa vài thứ thực phẩm tươi sống: thịt, cá, rau củ quả… Thật tiện lợi, mang chợ đến tận nhà! Đi theo “sau lưng” các cô là những anh chàng mà tiếng rao được “hiện đại hoá” bằng băng cassette, phát ra liên tục, đều đều: “Bánh mì Sài Gòn đặc ruột thơm bơ một ngàn một ổ”… Xen kẽ theo “bánh mì đặc ruột”, là các cô, các bà cưỡi xe đạp, chở phía sau một nồi xôi rất… Bắc Kỳ và cất tiếng rao: “Xôi khúc đây!”..,rồi tiếng rao buổi sáng trên các hẻm hóc Sài Gòn sẽ được nâng lên “cao trào” khi xuất hiện những anh chàng đạp xe, cùng chiếc loa phát ra lời rao lanh lảnh từ máy cassette: “Keo dính chuột sản xuất bằng công nghệ hóa màu đã được kiểm nghiệm cực kỳ khoa học, không gây độc hại cho người!”… Keo dính chuột có thể không gây hại, nhưng tiếng rao oang oang của anh ta có thể đã lập tức gây “ngộ độc” màng nhĩ của bà con trong xóm! Rồi sẽ xuất hiện từ đầu hẻm một người đẩy chiếc cân sức khỏe, cao nghễu nghện đi vào với lời rao tự động: “Cân nặng 55 kg, chiều cao 1m60, sức khỏe tốt…”,buổi trưa và chiều Sài Gòn những tiếng rao vẫn tiếp tục cất lên nhằm “giới thiệu sản phẩm”: bò bía, bột chiên, hủ tiếu gõ, trái cây… cả tiếng rao mài dao mài kéo

ganh hang rong sai gon viet nam Sài Gòn về đêm làm cho người ta ít nhiều có những ký ức mông lung gợi nhớ… Những tiếng rao đêm như xói vào lòng người. Xe mì gõ nơi góc đường bốc hơi nghi ngút toả hương thơm cả một quãng phố dài. Tiếng gõ lóc cốc của thằng bé bán mì vang đi khắp xóm. Tiếng gõ nhịp vang lên trong từng con hẻm – như một tiếng rao đêm nhẹ nhàng mà da diết – khi mọi người đã say trong giấc ngủ thì có ai còn thao thức bởi những con người này không? Saigon về đêm vẫn còn ẩn chứa biết bao điều…,ngồi trên căn gác xép, người Sài Gòn đêm đêm lại nghe văng vẳng đâu đó một mớ âm thanh hỗn độn: tiếng rao đêm, tiếng chổi của những người quét rác, tiếng bước chân người qua lại, tiếng gõ phát ra từ những xe hủ tiếu mì… Những âm thanh ấy ngày càng nhỏ dần và rơi vào khoảng không vô tận, hun hút của màn đêm

hang rong 

Đêm càng khuya, tiếng rao càng nhỏ, nhưng lại vang xa, ngân dài từ đầu phố đến cuối phố, nhẫn nại và chậm chạp. Tiếng rao nối những con phố dài vắng lặng hun hút ánh đèn, làm cho đêm như sâu hơn. Tiếng rao đêm lanh lảnh của ai kia văng vẳng vọng về. Bên ngoài kia còn biết bao người lam lũ vất vã… Thành phố phát triển có những đổi thay xa lạ với chính nó. Điều này quá hiển nhiên như bây giờ ít được nghe tiếng rao đêm của người bán ăn khuya vì ở ngã tư kia giờ đã có hàng quán sáng ánh điện suốt đêm, ký ức thỉnh thoảng vẫn vọng lại tiếng rao đêm, ánh đèn dầu….

Có tiếng rao như lời Mẹ tôi, như lời chị tôi
Mang quê hương trên đôi vai gầy
Những trái ổi sẻ, những trái me
Ðậu phộng luộc, đòn gánh tre
Ai mua, ai không mua, ai mua

Nguồn: Sài Gòn xưa 

 ********

Sài Gòn - nhớ "quay quắt" những tiếng rao thân thương

Khi nói đến Sài Gòn, người ta thường nghĩ đến nhịp sống vội vã, cuộc sống hoa lệ. Thế nhưng, có một điều rất gần gũi mà bình dị và hầu như bất cứ người dân Sài thành đều nhớ tới da diết mỗi khi đi xa, đó là tiếng rao.

 Với những người sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Sài Gòn này, tiếng rao được xem là một phần kí ức bình dị và đẹp đẽ. Từng có lúc những tiếng rao ấy còn thân thuộc đến mức như chiếc đồng hồ, ngày nắng cũng như ngày mưa, cứ nghe thấy là người ta biết đã mấy giờ rồi. Qua năm tháng, những tiếng rao của những người bán hàng rong lam lũ dần bị “nuốt chửng” bởi vô số âm thanh của cuộc sống hiện đại. Chỉ những tiếng rao đêm mới đủ sức vọng lại khoảng không thinh lặng, để lòng người bỗng dưng lắng lại sau một ngày vất vả ngược xuôi, mưu sinh kiếm sống.
bestie-tieng-rao-sai-gon

Cứ mỗi lần nghe “Bánh mì Sài Gòn, đặc biệt thơm ngon, 2 ngàn 1 ổ” là mùi bơ sữa lan toả cả khu phố, khiến cho cái bụng đói cồn cào. Không chỉ là món ăn cho tụi trẻ con, bánh mì còn là đặc trưng cho ẩm thực của thành phố năng động, hiện đại này. Không chỉ có bánh mì 2 ngàn 1 ổ, bánh mì thịt, bánh mì chả hay bánh mì xíu mại cũng khiến cho người dân thành phố cũng như khách du lịch nức lòng.

bestie-tieng-rao-sai-gon

Những tiếng rao đêm vang vọng, khắc khoải trong đêm tối khiến chúng ta dâng lên một niềm thương cảm sâu sắc. Đó là những con người ngược xuôi, lao động vất vả để mưu sinh, kiếm sống. Những chiếc xe bắp xào, hột vịt lộn luôn có một sức hút “khó cưỡng” đối với cái bụng đang kêu lên vì đói

bestie-tieng-rao-sai-gon

Tuổi thơ của người Sài Gòn sẽ thật thiếu sót nếu thiếu đi gánh chè đậu thân thương. Lũ trẻ cứ trực chờ tiếng rao của cô gánh chè đậu để được thưởng thức món chè ngon không lẫn vị với loại chè nào khác được.

bestie-tieng-rao-sai-gon

Chắc chỉ có ở Sài Gòn mới có được những tiếng rao độc lạ, có 1 không 2 như thế này thôi đúng không nhỉ? Mỗi lần xe bán kem đi qua, những đứa nhóc trong xóm lại bắt đầu xin tiền bố mẹ để mua kem và rêu rao bài hát “Không có tiền thì không có kem”. Ngày xưa, không có gì hấp dẫn trẻ con hơn là một que kem.

bestie-tieng-rao-sai-gon

Tiếng rao còn nhắc nhớ về một thời nghèo khó, lam lũ của người Sài Gòn...

bestie-tieng-rao-sai-gon

Những chiếc bánh được xếp chồng lên nhau khá đẹp mắt, vị bánh ngọt ngọt, béo béo, ăn một lần sẽ không thể nào quên được. Người Sài Gòn có thói quen ăn ở lề đường, hè phố bởi nơi đây mới tập trung đông đúc nhất những món ăn đặc trưng của ẩm thực.

 
bestie-tieng-rao-sai-gon

Nghe thấy tiếng rao “bánh chưng bánh giò”, nhiều người lại nghĩ thương cho người bán. Đã khuya rồi mà vẫn có người đạp chiếc xe đạp quanh các hẻm nhỏ Sài Gòn để kiếm miếng ăn. 

bestie-tieng-rao-sai-gon

Ai mua chổi hôn, chổi chà, chổi lông gà, chối quét nhà, ai mua hôn? Lâu lâu, chúng ta sẽ được nghe tiếng rao thân thương này. Nếu thích, bạn có thể gọi lại để xem chổi, không ưng thì có thể trả lại, người Sài Gòn rất thân thiện, sẽ không bị ép mua hay cáu gắt gì cả.

bestie-tieng-rao-sai-gon

Tàu hũ đây... Tàu hũ nóng đây... Đây là món ăn vặt đặc trưng mà người Sài Gòn nào cũng thích, bạn có thể ăn nóng, ăn đá tùy ý. Với thời tiết nắng nóng, có một bát tàu phớ (tàu hũ) để giải nhiệt thì còn gì bằng! Mọi người tụ họp nhau quanh chiếc gánh bán đậu hũ và trò chuyện cùng nhau, vui biết bao nhiêu.

bestie-tieng-rao-sai-gon

Bánh tráng trộn hiện đang là món ăn vặt khá phổ biến và được lòng giới trẻ Sài Gòn. Đứng nhìn cô bán hàng tay thoăn thoắt cho những nguyên liệu vào sau đó trộn đều tay, chắc hẳn ai cũng sẽ thèm rỏ dãi. Bánh tráng trộn và trà sữa là những món ăn, thức uống không thể thiếu khi tụ tập bạn bè vào ngày cuối tuần.

Người bán dạo bây giờ bớt rao lại, mà họ sắm cho mình cái loa có cái bình điện đi kèm để rong ruổi đi bán suốt cả ngày. Tiếng rao phát ra từ cái loa nghe cũng hay hay nhưng có lúc vẫn thèm lắm một tiếng rao mộc mạc ngày xưa – dẫu giọng người bán bưng có lạc một chút, có khàn khàn hay đứt hơi một chút nhưng nó đầy cảm xúc, xoáy vào trong tim và gợi thật nhiều kỉ niệm về một thời  đã qua. Dẫu thế nào đi chăng nữa, tiếng rao vẫn sẽ in sâu vào kí ức của người Sài Gòn nói chung, khách du lịch nói riêng những cảm xúc không nói thành lời. Hy vọng rằng, các bạn vẫn yêu quý Sài Gòn, yêu con người nơi đây và cả những tiếng rao... như bạn đã từng nhé!

*********

NHỮNG TIẾNG RAO VUI  

Nghề mua bán dạo thường liên quan tới “gánh hàng rong”, mà “gánh hàng rong” thì hầu như đã đi vào văn học như là một biểu tượng của lòng mẹ, của sự hy sinh cao cả. Nó cũng từng là “bệ đỡ” cho biết bao tương lai thành đạt của con cái…Mà hàng rong thì thường phải rao, rao bằng lời, bằng tiếng. Hành trình ra đời, lớn lên rồi lập nghiệp, lập thân của tôi bắt đầu từ làng quê mình – Kế Môn – rồi vô Huế, dzô Đà Nẵng, Hội An, rồi cuối cùng là Sài Gòn, nên tôi sẽ kể cho các bạn để cùng nghe lại những âm thanh rao vui từ trong ký ức cũng như cả hiện tại nữa.

 Image result for NHỮNG TIẾNG RAO VUI

Rao làng

“Cá khôn?” là tiếng rao quen nhất ở làng xưa mà tôi từng nghe được. Cá đây thường là cá biển – từ Tân Hội, Mỹ Hòa vô bán. Chứ cá sông, cá đồng dạo đó thì ai cũng có thể tự đi bắt mà ăn, chẳng ai rao bán cả (có dư thì cũng tự “chia” nhau thôi). Cá biển có khi vô làng buổi sáng nhưng cũng có lúc vô nửa đêm lúc trăng còn vằng vặc. Dưới ánh trăng, mớ cá bạc má, tròn ngân còn tươi rói lấp lánh ánh bạc “chộ mà thèm”! Dĩ nhiên là rẻ, rất rẻ so với ngoài chợ…

“Ló khôn?” lại là một tiếng rao quen thuộc nữa, nhưng không phải rao bán, mà là rao mua. Thường là của mấy mụ hàng xáo ở các làng khác tới mua ló trong làng. Có dư chút thì phải bán thôi, không bán thì lấy tiền mô mà chi dùng vô những chuyện “quan hôn tang tế”. Người ta nói nhà nông: “cái chi cũng từ trong hột ló mà ra” là vậy.

“Hoạn heo khôn?” lời rao này cũng quen lắm, là của mấy chú “có nghề” hẵn hoi. Vì xưa làng mình nhà nào cũng có nuôi heo, ít thì một hai con, nhiều thì năm bảy con. Ngoài mục đích lấy thịt, cái chính là để lấy phân bón ruộng. Và để cho heo đực bớt “quậy”, mập lên, thì phải “lặt”. Nhưng thay vì nói “lặt …đái khôn?” nghe ghê quá, thì người ta dùng từ “hoạn”…như kiểu “hoạn quan” vậy.

Image result for gánh hàng rong

Những tiếng rao quen vừa kể thường ngắn, gọn, đơn giản, không lên xuống, trầm bổng hay ngân vang. Có lẽ bởi ngoài bản chất của “tiếng quê mộc mạc” thì không gian làng quê, nơi thôn xóm yên ả, vắng lặng khiến người rao chẳng cần phải mất sức lên giọng, họ chỉ rao như hỏi, hỏi như rao cũng đủ nghe: cá khôn? ló khôn? hay hoạn heo khôn?…

Cá biệt cũng có lời rao cần phải lên giọng, càng to càng tốt, chẳng hạn như của ông Mõ làng. Chiều chiều, vào giờ cơm tối, ổng lần lượt đi qua các xóm, mỗi xóm chia ra hai “khúc”, mỗi khúc rao một lần. Ông lên giọng: “T…ấ…t cả toàn dân…”. Trẻ con như tụi tôi hồi đó thì chỉ thích cái câu tiếp theo sau: “ Túi ni, trên xã có chiếu xi-nê…”. Suy cho cùng thì đây cũng là rao, chỉ khác là rao của nhà nước chứ không phải của tư nhân.

Related image

Rao Huế

Rời làng vô Huế – mà ngày ấy thường gọi là Dinh – để “nghe giọng Dinh dẽo dẹo” của mấy o con gái Huế. Ca-nô Bảo Toàn mới cập Bến Đông Ba, chộn rộn kẻ chưa xuống, người đã lên, ồn ào náo nhiệt…

“Ai …nước?” là của mấy chú bé, cô bé bán nước chè xanh dạo. Tiếng rao “Ai nước” lúc này đã có độ ngân vang và dẽo như một đường cong, nhấn ở tiếng “ai” và kéo dài ở tiếng “nước”. Một ấm chè bằng nhôm và một cái ly cũ kỹ sẽ liên tục rót cho “khách hàng” những ly nước chè xanh thơm phức mùi chè gừng của Huế.

“Kem nề – Kem nề”!: lời rao có vẻ như “này”, như mời gọi đám con nít nhà quê mới lên tỉnh, thích “của lạ” – vì ở làng làm gì có cà –rem! Mà đâu phải kem “vừa bùi vừa mịn” như bây giờ, thuở ấy chỉ là một “ cục nước đá có pha đường” không hơn không kém. Vậy mà con nít cứ khoái tít dù ngậm thấy “ê cả răng, chá cả mẹn”! Và càng ngậm nó càng tan chảy mau hơn!

 Image result for gánh hàng rong

-“Ai… chè đậu xanh chè bắp?” là của mấy o gái Huế bán chè dạo trên đường phố. Chè đậu xanh thì ở làng không lạ gì, nhưng chè bắp – mà là bắp Cồn Hến – thì phải vô Huế mới có. Và mấy o bán chè o nào cũng duyên cũng dáng như nhau, cũng áo dài, nón lá bài thơ, dù là vất vả nhưng vẫn có nét thanh lịch.

-“Ai…trứng… lôôn … …” đây là tiếng rao tôi từng nghe trên đường dẫn về Đông Ba từ cầu Dã Viên, Kim Long trong một buổi tối trời mưa lất phất, se lạnh của mùa Đông xứ Huế. Nhìn quang gánh và ánh đèn dầu leo lét đung đưa theo bước chân của người phụ nữ, ai cũng biết đây là gánh bán trứng vịt lộn về đêm. Trời lạnh xứ Huế mà ăn hột vịt lộn với rau răm -muối- tiêu -ớt thì còn gì ngon và ấm bằng?

Related image

Điều đáng nói ở đây là tiếng rao trong đêm khuya giữa khung cảnh vắng lặng ấy.
Nếu rao ngắn gọn bằng tiếng phụ nữ yếu ớt: “Ai ăn trứng vịt lộn không?” hẵn là người ở hai bên con đường lớn ấy, không ai nghe. Chỉ còn cách là kéo dài và ngân vang âm cuối, càng vang, càng dài càng tốt. Vì vậy mà chữ “lộn” thay vì dấu “nặng” khi không lại…bất đắc dĩ thành dấu …“huyền”! Người rao thì chẳng hề để ý, nhưng người nghe lại nghĩ tục!

 Image result for NHỮNG TIẾNG RAO VUI

Rao Quảng

Vậy mà khi tôi vượt đèo Hải Vân vô tới Đà Nẵng – xứ Quảng, thì cũng cái trứng vịt đó, tôi lại nghe người Quảng rao:

“Hộc dịch lọong!” “Hộc dịch lọong”! : ba tiếng ngắn gọn, nặng chịch như…uất nghẹn một điều gì?! Có lẽ bản chất người Quảng cũng thực tế, đơn giản, không màu mè, và người Quảng không còn gọi là trứng vịt như người Huế mà gọi là “hột dzịch” theo cách gọi ở Nam bộ.

Bánh mì nóng dòn! Bánh mì nóng dòn đơi! Đây có lẽ là tiếng rao nghe hấp dẫn nhất trong đêm mùa lạnh xứ Quảng khi các lò bánh mì bắt đầu cho ra lò mẻ đầu tiên còn nóng hỗi. Dạo những năm 1960’s Đà Nẵng không có nhiều bánh trái như bây giờ, chỉ cần một ổ bánh mì nóng ăn-không cũng đủ khoái khẩu.

Related image

-“Ươi eng chè đậu xanh đậu doán nước đóa?” thì cũng chè đậu xanh, đậu ván như Huế vậy thôi, chỉ có thêm nước đá. Đây cũng là cái mới vì ở Huế xưa người ta không ai ăn chè với nước đá cả. Cà-rem là cà –rem, chè là chè, không lẫn lộn!

“Phở!” “Phở”!: vào đây mới biết phở là gì. Hình như tôi nhớ không lầm dạo đó Huế chưa hề có món phở, mà chỉ nhiều bún bò. Đà Nẵng mới có phở, mà là phở bán dạo trên đường phố, bán cả về đêm. Thuở ban sơ thì dùng quang gánh, về sau, người đàn ông thường đẩy một cái xe (giống như xe hủ tiếu bây giờ), trên là nồi xúp lớn, bên dưới đốt than củi để hâm nóng nước xúp. Chả thế mà sinh ra chuyện nửa hư nửa thực khi có người Pháp xưa tưởng rằng xe này là xe bán “lửa” bởi nghe ông này cứ rao “phở, phơ” mà tiếng Pháp phơ (feu) nghĩa là “lửa”!

Image result for gánh hàng rong

Rao Sài Gòn

Cũng như các thành phố khác, Sài Gòn hẵn là có nơi mua chỗ bán hẵn hoi, không quận huyện nào không có chợ, có tiệm, có cửa hàng. Nhưng xã hội thì lúc nào bên cạnh lớp người giàu có sung túc, vẫn tồn tại một lớp người nghèo khó vất vả. Chuyện bán buôn cũng thế, có người đứng làm ông chủ tiệm, bà chủ cửa hàng, nhưng vẫn luôn có người phải buôn gánh bán bưng, dùng hai bàn chân thay cho bánh xe để di chuyển và dạo quanh hang cùng ngõ hẽm của thành phố để mưu sinh.

Related image 

Đặc biệt những năm đầu sau ngày đất nước thống nhấn 1975, lúc đó người ta coi việc buôn bán như một tội lỗi, là tầng nấc trung gian cần phải loại bỏ. Chỉ có một bên là sản xuất, một bên là tiêu dùng. Khâu phân phối do nhà nước độc quyền quản lý. Cửa hàng buôn bán tư nhân không được phép tồn tại. Từ đó, tại Sài Gòn mới nẩy sinh phong trào bán dạo khá phổ biến một thời. Không những bán hàng hóa mà còn bán cả dịch vụ. Dân Sài Gòn đã bao đời nay được mệnh danh là dân “tứ chiến” cho nên nghề bán dạo cũng gom đủ các sắc dân từ cả ba miền Nam Trung Bắc, không thiếu một thứ tiếng nào.

Tôi làm công nhân cho một xưởng sản xuất đồ mộc ở quận 3, buổi sáng tới nơi làm việc đã nghe:

Related image

“Xôi cút nời! Xôi cúc”! tiếng rao lơ lớ của một một anh Tàu-lai trung niên ốm nhách đèo theo một cái “xửng” trên chiếc xe đạp cà tàng. Rứa là chỉ cần “một cặp” (hai cục) là no cho cả buổi sáng để lấy sức làm việc nặng nhọc rồi. Buổi trưa sau giờ cơm, nằm nghỉ tạm ở một góc phòng, tôi có thể nghe hàng loạt những tiếng rao hàng từ bên ngoài. Nghe riết thành quen, thành thuộc lòng từng lời rao…

-“Dzé số nời – dzé số chiều xổ nời!” lời rao này thì có khá nhiều giọng tham gia: nam có, nữ có, con nít có, người lớn có. Nghề này có lẽ nhàn hơn, chẳng cần vốn, chỉ ghé qua đại lý lấy bán, chiều còn dư nộp lại. Vì vậy mà ai cũng dễ làm. Đố ai mà “thống kê” được là tại Sài Gòn có bao nhiêu người đi bán vé số dạo hằng ngày. Có lẽ cũng lên tới con số triệu không chừng. Vé số thì nhiều vô kể, mỗi tỉnh mỗi thành đều tranh thủ xổ để lấy lời. Xưa “vé số kiến thiết” cả nước chỉ xổ mỗi tuần một lần, nay tính ra con số lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm. Vậy mà vẫn bán sạch. Có lẽ trong thời buổi kiếm tiền khó khăn, con người ta chỉ trông chờ vào hên xui may rủi chăng?

Image result for Sài Gòn chuyện đời của phố: Nhớ tiếng rao xưa

“Ai đậu hủ nước dừa?, là tiếng rao của một bà xồn xồn mập ú với gánh đậu hủ lúc nào cũng còn nóng hổi. Chén đậu có chan một loại nước nâu vàng, bỏ tí gừng cho thơm, bên trên là lớp nước dừa đặc quánh béo ngậy. Rõ là khác với đậu hủ Huế, mình chỉ bỏ đường cát trắng, hay vàng và không hề có nước dừa, vậy mới không mất đi mùi thơm đặc trưng của đậu hủ.

Có lần anh bạn đồng nghiệp nằm bên cạnh tôi cắc cớ hỏi:

-“Ông có biết bà đó rao bán gì không?” Tôi nhìn anh ta ngạc nhiên:
-“Thì bán đậu hủ chứ còn bán gì?” Anh ta khoát tay:
-“Cứ nghe đi, nghe thiệt kỹ rồi hãy trả lời”…

Báo hại tôi cứ chăm chú nghe đi nghe lại mà chẳng hiểu gì ngoài mấy tiếng “ai… hủ…dừa …”. Anh bạn cười phá lên, khiến mấy đồng nghiệp khác ở góc xa cũng cười theo. Thì ra, tai anh ta nghe mà đầu óc thì cứ nghĩ vẩn vơ tới chuyện tào lao. Rõ ràng người ta rao: “Ai hủ nước dừa” mà anh ta nỡ nhẫn tâm sửa lại là: “Ai ngủ cũng dừa” !

Image result for NHỮNG TIẾNG RAO VUI

 Rồi thời đại ngày một tiến bộ, có ai đó đã nghĩ ra cách rao không phải bằng lời mà bằng những âm thanh đặc biệt, để cho đỡ “khô cổ” mà vẫn có người nghe và hiểu. Có lẽ cái ông “hủ tiếu mì gõ” đã đi tiên phong trong phong trào này cùng với cái “leng keng” quen thuộc xưa của chú cà-rem chăng? Rồi đến lượt: “tèn ten tẹn, tèng téng tèn…” của chú kem wall từ thập niên 90’s, rồi sau đó là cái cân dạo, còn gọi là cân sức khỏe, vì sau khi cân đo, lấy chiều cao, trọng lượng rồi, cân còn ưu ái khuyến mãi phát ra lời khuyên để tăng giảm cân, bảo vệ sức khỏe!

Rồi còn nữa, nhiều thứ khác, như cái anh chàng, cô nàng bán đĩa nhạc sao chép “bình dân”, thì với dàn âm thanh cỡ không chỉ “hi-fi” mà tới cả …“ba phai” trên xe 3 bánh, cứ việc mở hết công suất thì từ xa đã nghe thấy, đâu cần phải dùng lời? Hay như anh chàng chuyên đi tẩm quất dạo về đêm, cứ dùng …một xấp kim loại gắn vào nhau, lâu lâu lại lắc nghe “xẻng xẻng” thì dần dà cũng trở thành…ám hiệu cho cái nghề “xoa và bóp” này.

Vậy nhưng, nhiều người lại không thích kiểu “chơi dụng cụ” này mà vẫn thích dùng lời rao, chỉ có khác là họ thâu âm lời rao vào máy và phát ra liên tục.

-“Mài dao, mài kéo – mài kéo, mài dao – thay cáng dao”, hay:
-“Bánh chưng bánh giò – Bánh giò bánh chưng”, đôi khi vắn tắt, chỉ còn là “Chưng giò”!
–“Keo dính chuột! Keo dính chuột! Trung tâm công nghệ hóa màu vừa cho ra đời một sản phẩm – đó là keo dính chuột – keo dính chuột không độc hại – không gây ô nhiễm môi trường...” Báo hại, đi tìm cái “trung tâm công nghệ hóa màu” này để kiểm chứng thì chỉ nổ con mắt, chẳng tìm thấy đâu!

Related image

Cuối cùng, chỉ có họ hàng nhà ve chai (mà phía Bắc hay gọi là nghề “đồng nát”) là còn trung thành với nghề rao cổ điển – cho đến bây giờ vẫn không dùng tới máy móc, không dụng cụ…hỗ trợ. Sài Gòn có cả một mạng lưới khổng lồ, rộng khắp của nghề thu gom ve chai, phế liệu. Từ các đại lý lớn đến các đại lý nhỏ rồi đến các con người lam lũ rải ra khắp các hang cùng ngõ hẽm, thu gom từ cái lông vịt, cái thau nhựa bể, cho đến chiếc ti-vi, …không bỏ sót một thứ gì.

Đây cũng chính là cái nghề khởi nghiệp đã đưa một con người từ hai bàn tay trắng trở thành giàu có tiếng tăm nhất vùng đất Sài Gòn gần một thế kỷ trước. Đó là Chú Hỏa – một người Hoa Minh Hương – Chợ Lớn. Hơn ai hết, ông ta hiểu rằng “tấc đất là chính tấc vàng”, cho nên tiền lời từ ve chai ông ta đầu tư tất cả và đất đai. Và đó là tiềm năng khiến ông trở nên ngày càng giàu có.

Thuở ban sơ, “nguồn hàng” thường không nhiều. Chỉ vài món, thường là lông vịt cùng …chai với lọ, nên mới hình thành cái từ “ve chai” lúc khởi thủy.

-“Ve chai – lông vịt – thau nhôm, mủ bể, dép đứt bán hông?”…

Bây giờ “ nguồn hàng, theo với đà phát triển của khoa học, của vật liệu, cộng với quan niệm tiêu dùng mới – không thiên về dùng làm của để đời sau – trở thành phong phú vượt trội. Hầu như trong nhà có cái gì hư hỏng cần bán thì ve chai đều mua được tất. Vậy nên lời rao ve chai ngày càng dài ra, càng kể lể lê thê như sớ táo quân 23 tháng Chạp vậy.

Image result for gánh hàng rong

-“Bàn hư, ghế hư, dzán, đi văng, bàn máy may, xe đạp hư cũ bán hôông?

Và rồi có lúc, có chú nhóc bỗng thay âm “bán hôông” cuối bằng cái từ mới nghe ra vẻ “khẳng định” hơn:

Quạt bàn, quạt trần, bàn ủi than, bàn ủi điện hư cũ bán là mua; bình ắc-quy, bình tăng giảm điện, tăng phô hư cũ bán là mua!…

Loa, ăm-li, ra dô, ti vi, tủ lạnh, cat-xét, máy vi tính, điện thoại hư cũ bán là mua!…Đồng hồ đeo tay, đồng hồ treo tường, hột quẹt dip-bô hư cũ bán là mua!…

Rồi thì những món hàng hư hỏng đủ cấp đủ loại này mang về, người ta sẽ làm
gì với chúng, chế biến lại ra sao, thì không ai có thể biết hết. Chỉ biết đó là một hình thức tận dụng phế liệu rất cần thiết và mang lại lợi nhuận không nhỏ cho các chủ vựa ve chai. Chỉ có bản thân người trực tiếp đi thu lượm ve chai, hao hơi rát cổ bằng những tiếng rao miệt mài, thì ngày ngày vẫn còng lưng đẩy mà thu nhập thì lúc nào cũng khiêm tốn.

Công tâm mà xét, cũng nhờ nghề ve chai mà hàng ngàn người thất nghiệp, từ quê lên tỉnh, có công ăn việc làm, có đồng vô đồng ra, dù chỉ là tạm bợ. Cá biệt chỉ có chị Ánh Hồng mới đây ở Sài Gòn, với 5 triệu zen nhặt được trong thùng các-tông ve chai, thì có thể xem như đó là điều may mắn hy hữu,hiếm hoi, là chuyện cổ tích, không hơn không kém.

  NGUYÊN THANH – 

 

Kim Phượng st & tổng hợp

Image result for gánh hàng rong   hình bìa________________________

Xem thêm...

Tình yêu đẹp như vần thơ

Tình yêu đẹp như vần thơ

 ❤️  ԼO Ɣ Є  ❤️ 

Lòng ta chôn một khối tình  

Tình trong giây phút mà thành thiên thu 

Sonnet d’Arvers

 

 

Một chiều xuân khoảng năm 1830, một chàng thanh niên đẹp trai, trạc tuổi hai trên hai mươi, dáng dấp hào hoa phong nhã theo chân Victor Hugo  đến khách thinh của Charles Nodier. Thuở ấy, ở Pháp, phong trào khách thinh (salon littéraire) – một hình thức câu lạc bộ văn nghệ đang thịnh hành.

Victor Hugo bảo gã thanh niên: “Nầy Félix, chuẩn bị tinh thần nhé, cái tao đàn mà tôi đưa cậu đến đây, chẳng những nổi tiếng vì… văn nghệ, mà còn nức danh vì… Mà thôi, chẳng nói trước mất hứng thú. Để cậu vào đấy rồi sẽ biết”.

Dù nhà văn Victor Hugo không có lời giới thiệu nồng nhiệt và ưu ái, nhà thơ Félix Arvers(1) cũng đã biết tiếng tao đàn của ông Charles Nodier, qua những khuôn mặt văn học tài danh thường lui tới như Victor Hugo(2), Lamartine (3), Alfred de Musset (4)… Có điều chàng chưa hân hạnh đặt gót đến nơi đó lần nào, nên còn chưa rõ bên trong có điều gì gọi là nức tiếng, như lời úp mở của Victor Hugo vừa bảo. Chàng bồn chồn, háo hức.

Charles Nodier (5), chủ nhân tao đàn vốn là nhân vật tiếng tăm trong Hàn lâm viện Pháp. Hôm ấy, ông đi vắng. Con gái ông là Marie Nodier ở độ rực rỡ của tuổi trăng tròn, hân hoan chào đón Victor và người bạn mới.

Sau lời giới thiệu của Victor Hugo cho đôi bên hiểu biết nhau, Félix đã sớm trải qua những giờ phút bàng hoàng, vì lắng nghe giọng oanh tao nhã bàn luận văn chương của Marie Nodier. Nhất là được nghe nàng ngồi đánh dương cầm, nhìn dáng người mảnh mai thanh tú và những ngón tay tiên thoan thoắt trên phím ngà, chàng thi sĩ bị ngay tiếng sét ái tình làm ngây ngất như kẻ mất hồn.

Cuối buổi hôm ấy, Félix ra về miên man tư lự, trong lòng tràn ngập nỗi trầm tư. Chàng hiểu tại sao Victor Hugo đã úp mở bảo khéo mình hãy chuẩn bị tinh thần trước khi bước chân vào tao đàn… Félix đã yêu nàng ngay từ phút đầu tiên gặp gỡ. Sau đó, chàng còn lân la đến nơi ấy đôi ba bận nữa nhưng vẫn câm lặng với mối tình chôn chặt trong lòng.

Kể về gia thế, Félix mặc cảm chàng thuộc gia đình người hàng rượu, há dám táo bạo tỏ tình với trang lá ngọc cành vàng? Bởi lẽ về sự nghiệp, chàng chỉ mới xuất thân tập sự với luật sư Guyet Desfontaines với vai trò quản lý văn khế. Bấy nhiêu đó có đủ cho giai nhân để mắt xanh đến chàng chăng? Biết người biết mình, Félix đành ôm mối tình đơn phương câm lặng, tự hứa với lòng sẽ cố tạo cho mình một thanh danh đã. Và lòng tự nhủ hãy tạm dừng chân, không lui tới nhà Marie nữa.

Chàng để cho lòng thanh thản nuôi thêm ý chí phấn đấu trên đường lập thân. Félix miệt mài làm thơ, viết kịch, vừa để kiếm tiền vừa gây tiếng thơm trên văn đàn. Cho đến một ngày kia, nhìn lại sự nghiệp vun bồi, chàng cảm thấy đã có thể ngỏ lời với nàng, với thân sinh nàng. Chàng trở lại chốn xưa với tấc lòng bồi hồi.

Nhưng chàng phải thảng thốt, tê mê nhận lấy một tiếng sét nữa trong cuộc tình đầu đời: Marie Nodier vừa kết hôn với Mennessier! Viên ngọc báu đã về tay người khác. Nghẹn ngào, tuyệt vọng! Tâm hồn chàng vừa lắng dịu sau cơn địa chấn thì một bài thơ tình được hình thành trong óc tim rỉ máu…!

Một buổi chiều, buồn da diết, không nén được lòng sầu khổ, Félix Arvers lại lững thững đến khách thinh. Đến không mục đích! Chàng biết dù có đến nữa cũng chỉ để lịm hồn mình trong thất vọng đau thương. Nhưng đã bao lần không muốn trở lại mà tâm tưởng, gót chân chàng vẫn cứ như có một sức mạnh vô hình dìu chàng về nơi ấy…

Marie Nodier nay đã là bà Mennessier nhưng vẫn tỏ ra thiện cảm với chàng. Một bữa, nàng niềm nở trao Félix một tập lưu bút xinh xắn và trang trọng:

- Xin ông ghi cho đôi dòng kỷ niệm. Các bạn văn thơ của chúng ta đều đã góp mặt trong tập nầy. Chỉ còn mình ông thôi.

Khổ đau mà không thể chối từ, chàng khẽ run tay cầm bút, suy tư. Viết gì đây, Félix cảm thấy khơi động ở lòng mình một tình cảm mông lung vô vọng, bất giác chàng hạ bút ghi lại bài thơ đã thai nghén từ dạo hay tin nàng có chồng. Chàng viết một mạch như để trấn áp những xúc động bùng vỡ thêm ở lòng mình:

 

Tình tuyệt vọng

 

Lòng ta chôn một khối tình,

Tình trong giây phút mà thành thiên thâu.

Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu,

Mà người gieo thảm như hầu không hay.

Hỡi ôi ! người đó ta đây

Để ta thui thủi đêm ngày chiếc thân.

Sao ta đi trọn đường trần

Chuyện riêng chẳng dễ một lần hé môi,

Người dù ngọc nói hoa cười,

Nhìn ta như thể nhìn người chưa quen.

Đường đời ta trót giẫm lên

Ngờ đâu chân đạp lên trên mối tình.

Một niềm tiết liệt đoan trinh,

Xem thơ nào biết có mình ở trong.

Lạnh lùng lòng sẻ hỏi lòng,

Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây.

 

                 Khái Hưng dịch

 Viết xong, chàng đăm chiêu suy nghĩ: nàng đã có chồng, dù thế nào ta cũng không có quyền làm vẩn đục hạnh phúc của gia đình nàng. Yêu nàng, nay dù mộng đẹp vỡ tan, ta càng phải giữ cho tình cảm tốt đẹp. Rồi ý nhị, chàng tinh tế ghi thêm mấy lời dưới chữ ký tên: Bắt chước một bài thơ Ý  (“Imité de l’ltalien”).

Để tâm hồn lắng đọng sự bình tĩnh, Félix xếp tập “Lưu bút” trao lại cho nàng và cáo từ lui gót. Và từ đó, chàng cố tình lẩn tránh nàng. Đôi khi chạm mặt nhau ngoài phố hay trong những cuộc hội họp, chàng luôn giữ cho tình ý nghiêm trang giữa hai người.

Sau khi đọc qua bài thơ của chàng ghi trong tập “Lưu bút”, nàng tuyệt nhiên suốt đời chẳng biểu lộ một thái độ nào để cho ai có thể vin vào đấy mà đoán được tâm trạng nàng. Nàng vẫn lạnh lùng đúng như lời thơ chàng từng ca tụng: Một niềm tiết liệt đoan trinh. Nhưng có ai dám khẳng định, tự sâu thẳm tâm hồn, Marie Nodier thực sự không mảy may cảm động trước mối chân tình của chàng.

Phải chăng định mệnh nghiệt ngã đã khiến cho thi sĩ - giai nhân cam chôn chặt tâm tình thầm kín mãi trong lòng. Tuy nhiên khi bài thơ được loan truyền, ai đọc qua không khỏi xúc động, cảm thấy lòng bồi hồi chạnh tưởng đến giấc mộng tình đi qua trong một thời hoa bướm. Hầu hết khách văn chương với tâm hồn giàu cảm lụy, đều tấm tắc khen thầm bài thơ hay với ý tình nên thơ, cảm động. Và họ cũng tha hồ phỏng đoán coi người phụ nữ ấy là ai?

Ba năm sau (khoảng năm 1833), Félix cho xuất bản tập thơ: “Những giờ nhàn rỗi của tôi” (Mes heures perdues) trong đó có bài thơ nằm trong tập Lưu bút của Marie Nodier. Nhà phê bình nổi tiếng thời bấy giờ là Jules Janin đã viết về bài thơ của Arvers: Hãy ngâm lên những lời thơ diễm tuyệt ấy… Tiếng nói ấy là tiếng nói thần diệu, tình ấy là tình chân thật, thiết tha”. Félix Arvers làm bài thơ ấy khi chàng 25 tuổi. Và đúng như lời dự đoán của Janin, sự nghiệp văn chương của Arvers chỉ cô đọng vào một bài thơ ấy.

Cả thi phẩm của Félix, chỉ riêng bài thơ ấy là còn sống mãi đến bây giờ. Người sau dựa vào bài Sonnet của Arvers, thông cảm với tác giả, đã họa lại hoặc phỏng theo mà sáng tác, tính ra có đến 120 bài trong đó, những tác phẩm của phái nữ như bà Gay, bà Lelouard… được khen nhiều hơn.

Hầu hết các bài thơ ấy đã được các nhà giáo, nhà văn nước ta dịch ra tiếng Việt: Khái Hưng, Nguyễn Vỹ, Bình Nguyên Lộc, Hồ Văn Hảo, Nguyễn Tri Hựu, Nguyễn Thị Giang… Trong đó, bài thơ dịch theo thể lục bát Tình tuyệt vọng của Khái Hưng là giàu âm điệu và gợi cảm hơn nên được nhiều người yêu thơ trân trọng thuộc lòng.

Bài thơ “Tình tuyệt vọng” của Félix Arvers chỉ cô đọng trong 16 câu nhưng chứa đựng một không gian tình cảm thâm thúy vô bờ. Nó ấn tượng tuyệt vời vì người đẹp Marie Nodier vẫn cảm nhận được tấm lòng nhà thơ cũng như nhà thơ đã yêu nàng say đắm thiết tha như một thần tượng của đời mình.

Hai người hiểu sâu sắc và yêu nhau mà vẫn thầm lặng, thờ ơ và cư xử với nhau như người dưng. Cuộc tương ngộ giữa “Tài tử-giai nhân” trên lãnh vực văn chương đã để lại cho người đời một bài thơ tình cảm động và một chuyện tình hiếm thấy, đẹp như mùa xuân.

Bài thơ “Tình tuyệt vọng” của Félix Arvers chắc mãi mãi sẽ là bức tranh hiện thực lãng đãng sương khói yêu đương, minh họa cho những mối tình nên thơ lãng mạn giữa thi sĩ và giai nhân:

 

Thơ viết không xong, thuyền trôi chớ đổ

Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa

(Hồ Dzếnh).

Hay:

“ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề

Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở

 

(Hồ Dzếnh).

-----------

  Nguyễn Thanh     

                    

1) Félix Arvers (1806-1850), nhà thơ Pháp

(2), (3), (4), (5) : Victor Hugo, Lamartine, Alfred de Musset, Charles Nodier:

đều là nhà văn, nhà thơ Pháp nổi tiếng sống vào khoảng cuối thế kỷ 18 - thế kỷ 19.

 

 =Kim Kỳ sưu tầm =

 

Xem thêm...

Ấn tượng cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 được tái hiện qua tranh vẽ

Ấn tượng cuộc sống người Việt

vào thập niên 1930 được tái hiện qua tranh vẽ

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

 
 

Những năm 1930, được sự gợi ý của ông Jules Gustave Besson, Chánh Thanh tra các Trường Mỹ thuật và Mỹ nghệ ở miền Nam và cũng là Hiệu trưởng của Trường Mỹ thuật Gia Định, học sinh của trường Vẽ Gia Định đã tham gia đông đảo để thực hiện Bộ Chuyên khảo bằng tranh vẽ về Đông Dương (Monographie dessinée de l’Indochine). Nội dung tranh mô tả phong cảnh, cách sinh sống của người Việt vào khoảng đầu thập niên 1930.

Bộ Chuyên khảo bằng tranh vẽ về Đông Dương là một series đồ sộ gồm 520 bức vẽ bằng bút chì, in li-tô và phần lớn đều tô màu, được phân thành 4 bộ về xứ Bắc, 1 bộ về miền Trung, 6 bộ về miền Nam và 2 bộ về Cao Miên và Ai Lao. Các tác phẩm này đã được Hội Ấn nghiệp và Trang Trí tập họp lại và in thành « Vựng tập về Thương mại, Văn hóa, Lãnh thổ, và Con người đất Gia Định ». Sách do Nhà xuất bản Paul Geuthner in theo các bản vẽ đã thực hiện trong các năm 1935-1938-1943.

Các bức vẽ được thực hiện theo kỹ thuật vẽ tranh phương Tây nên hình ảnh được tái hiện hết sức chân thực, sống động, giúp ta có thể cảm nhận được rõ ràng cuộc sống của người Việt vào thập niên 1930.

Bìa “Bộ Chuyên khảo bằng tranh vẽ về Đông Dương” (Monographie dessinée de l’Indochine)

Cảnh đời sống và sinh hoạt của người Việt:

 

Làng nghề thủ công:

Gánh hát rong:

Cảnh chợ quê:

 

Thời trang của người Việt những năm 1930:

Theo Trithucvn.net

Kim Phượng st

 

Image result for Cảnh đời sống và sinh hoạt của người Việt: hình bìa

Xem thêm...
Theo dõi RSS này