Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1289)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (64)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (353)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Tình đầu tình cuối

Tình đầu tình cuối

❤️❤️❤️

Lúc Hạnh về đến nhà thì trời đã nhá nhem tối. Thủy đang ở trong bếp sửa soạn bữa cơm chiều, nói vọng ra :

-Mẹ về rồi hả? Cơm đã sẵn sàng, mẹ rửa mặt cho mát rồi ăn nghe.

Hạnh đáp :

-Thôi con ăn đi, hôm nay mẹ mệt, không muốn ăn đâu.

Thủy đáp “vâng” một tiếng rồi thôi. Cứ mỗi lần đi thăm mộ ba Thủy về là mẹ không muốn dùng cơm. Riết trở thành một điều quen thuộc, nên Thủy cũng không để tâm.

Hạnh bước vào phòng. Tuy mệt mỏi, nhưng nàng cũng không nằm xuống giường. Hạnh ngồi lên chiếc ghế bàn phấn, nhìn sững vào bức ảnh Phan chụp với nàng trên bàn. Ba năm qua rồi kể từ ngày một tai nạn giao thông đã nhẫn tâm cướp đi người chồng của nàng.

Hạnh còn nhớ hôm đó cũng là một ngày chủ nhật, thay vì ở nhà thì Phan có công việc phải đi tỉnh từ tảng sáng và dự định trở về trong ngày. Trên đường về thì tai nạn xẩy ra. Đau đớn nhất là khi hai mẹ con Hạnh đến bệnh viện thì Phan cũng vừa trút hơi thở cuối cùng. Không kịp nói với chồng được một câu nào. Hạnh sững sờ không bật lên được cả tiếng khóc. Xác chết của Phan chưa kịp lạnh thì Hạnh đã như một tảng băng lạnh giá.

Ba năm trôi qua. Không có một ngày chủ nhật nào là Hạnh không lên thăm nghĩa trang thăm Phan. Đi từ sáng sớm và về nhà lúc trời sắp tối. Mộ Phan nằm trong khuôn viên một ngôi chùa cách xa thành phố chừng vài cây số. Trước đây Phan quy y với hòa thượng trụ trì nên mới được phép chôn cất ở đây. Gọi là nghĩa trang, nhưng chỉ có vài chục ngôi mộ nằm rải rác dưới những tàng cây lúc nào cũng cho bóng mát.

Ban đầu Thủy cũng đưa mẹ đi, nhưng dần dần vì bận công việc, nên thỉnh thoảng Thủy mới đi cùng mẹ. Thực ra, dù Thủy là đứa con duy nhất, nhưng vào những ngày chủ nhật lên với Phan, Hạnh cũng thích được một mình yên tĩnh. Thắp một nén nhang và ngồi yên lặng trước bức ảnh của chồng đã được gắn vào bia đá trên mộ.

Suốt thời gian trước khi Phan qua đời, Hạnh với Phan là một cặp vợ chồng điển hình hạnh phúc bạn bè không ai so sánh được. Hai người như một cặp bồ câu lúc nào cũng rù rì bên nhau như hình với bóng dù con gái đã lớn. Thủy là đứa con gái duy nhất. Hàng ngày Phan đi làm về là bữa cơm đã có sẵn. Thủy lớn lên trong cái khung cảnh đầm ấm đó cho đến ngày Phan qua đời.

Trong phòng Hạnh cũng có thiết kế một bàn thờ Phan với bức ảnh và một vài vật kỷ niệm của Phan bên cạnh như xâu chuổi hạt bồ đề của thầy bổn sư tặng, và cái điện thoại di động Phan thường dùng. Mỗi lần nhìn chiếc điện thoại, Hạnh có cảm giác như vừa nghe tiếng chuông đổ và giọng Phan báo tin chàng sắp rời sở về nhà. Đi đâu Phan cũng gọi về cho vợ biết đang ở đâu và trước khi về cũng gọi báo cho vợ.

Phan chơi dương cầm rất khá và rất mê nhạc cổ điển, nhất là Beethoven. Đám cưới xong, vừa dọn về nhà mới, việc đầu tiên của hai vợ chồng là mua ngay một cây đàn, đặt trong phòng khách. Hạnh không biết đàn, nhưng mỗi lần nhìn Phan ngồi lướt tay trên phím đàn, Hạnh tưởng như đang sống lại những ngày mới yêu nhau, và niềm hạnh phúc tỏa sáng khuôn mặt nàng.

Từ ngày Phan mất, trừ cây đàn quá lớn, Hạnh chuyển hệ thống âm thanh ngoài phòng khách vào phòng ngủ, và lúc nào cũng để những khúc nhạc mà Phan thường nghe. Hàng ngày, sau giờ làm việc, Hạnh thường thu mình trong chiếc ghế bành trong phòng, bật nhạc nhè nhẹ và ngồi yên lặng hồi tưởng những kỷ niệm cùng chồng.

Ba năm nay Hạnh gần như không hề giao tiếp với bạn bè, ngoại trừ một người ban cũ rất thân thiết với cả hai vợ chồng nàng là Nguyệt, và Dung là chị ruột của nàng, cách nhà Hạnh có mấy căn, nhưng cũng thỉnh thoảng, nàng mới gập mặt. Điện thoại bên ngoài gọi đến đều qua con gái trả lời. Dần dần bạn bè đều biết và chẳng có cách gì khuyên can, nên cũng tôn trọng nỗi đau khổ của Hạnh và chẳng ai làm phiền nữa.

Ba năm trôi qua. Hạnh có cảm giác như chưa một ngày nào Hạnh thấy vơi đi nỗi khổ đau thương nhớ chồng. Lúc mất Phan, nếu không có Thủy, lúc đó cũng đã gần mười lăm tuổi, Hạnh nghĩ có thể chết theo Phan cho trọn mối tình đầu của nàng.

…Có tiếng mở cửa nhè nhẹ và Thủy đến bên cạnh Hạnh,vòng tay ôm lấy mẹ :

- Mẹ đi tắm và đi nằm nghỉ đi. Ba năm trời rồi, nếu mẹ cứ mãi thế nầy làm sao con yên tâm đi học xa được?

- Ngày mai mẹ sẽ lên tòa lãnh sự để hỏi xem thủ tục như thế nào. Mẹ cũng muốn sang năm con được sang Úc, sau đó, thỉnh thoảng mẹ sẽ có cơ hội qua thăm con. Mẹ biết thế nầy cũng không phải, nhưng lúc nào mẹ cũng tội nghiệp ba con. Nếu có thể đi ra nước ngoài một thời gian, mẹ sẽ khuây khỏa dần hơn là ở đây.

- Con nghĩ đó cũng là một giải pháp tốt.

Lúc Hạnh rời khỏi tòa lãnh sự Úc thì đã hơn mười một giờ trưa. Chờ đợi nhân viên phụ trách để giải quyết vấn đề gần cả hai tiếng đồng hồ, cuối cùng chẳng có kết quả gì. Nàng cảm thấy cơ thể rã rời vì suốt ngày hôm qua không ăn một miếng cơm nào.

Gần như ba năm nay, mỗi chủ nhật lên chùa thăm Phan, Hạnh cũng chẳng bao giờ ăn uống gì. Hòa thượng trụ trì lúc nào cũng ân cần mời Hạnh dùng cơm chay, nhưng lúc nào Hạnh cũng từ chối. Sáng hôm nay vì dậy sớm, lại phải ngồi chờ quá lâu, lại càng thấy mỏi mệt.

Hạnh vừa ra đầu đường, thấy taxi chạy đến, chưa kịp đưa tay vẫy thì bỗng dưng choáng váng rồi không biết trời đất gì nữa. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm vào ghế sau của chiếc taxi. Xe vẫn còn đang đậu tại chỗ lúc Hạnh sắp vẫy tay gọi. Đàng ghế trước là một người đàn ông đang ngồi quay người nhìn Hạnh chăm chú. Thấy Hạnh vừa tỉnh dậy,người đó đã nói ngay:

- Ơn trời, bà đã tỉnh. Chỉ mới vài phút trước, bà bỗng nhiên ngất xỉu. Tôi biết bà muốn gọi taxi, nên đã xin mạng phép dìu bà vào xe và chờ bà tỉnh dậy để biết bà muốn đi đâu.

Hạnh ngơ ngác một lúc rồi nhìn người đàn ông, bối rối. Nàng ấp úng và hỏi một câu ngớ ngẩn:

- Xin lỗi ông là ai?

Người khách lạ mỉm cười :

- Tôi cũng vừa trong tòa tổng lãnh sự ra, đi sau lưng bà và cũng đang đinh đón xe thì thấy bà ngã xuống, may là bà không sao. Tôi tên là Khải, Việt kiều Úc. Bà đã khỏe hẳn chưa, xin bà cho tài xế biết địa chỉ để đưa bà về. Xin chào bà.

Nói xong, Khải mở cửa xe, bước xuống. Hạnh lại càng bối rối:

- Xin cám ơn ông, xin lỗi đã làm phiền ông…

Giọng nói ngắt quãng, Hạnh không biết nói gì, nhìn người đàn ông lúng túng. Khải lịch sự cúi đầu chào và tránh ra khỏi để xe chạy. Mãi đến khi xe lăn bánh, Hạnh mới thấy là mình đã bối rối đến không biết nói thêm một câu nào khách sáo ngoài hai chữ cám ơn.

Hạnh mường tượng lại khuôn mặt của người đàn ông nầy. Khoảng năm mươi trở lại, khuôn mặt thanh tú, không mập không gầy. Hạnh nhớ lại lúc ngồi chờ trong tòa lãnh sự, người đàn ông nầy ngồi cách nàng vài dẫy ghế, thỉnh thoảng nhìn qua phía nàng.

Có lần bắt gập ánh mắt nàng, người đó vội quay đi chỗ khác. Hóa ra lúc Hạnh ra khỏi tòa nhà, người đó cũng theo sau nàng, nhưng Hạnh không để ý. Hạnh tưởng tượng lúc nàng ngất xỉu, người đó phải đứng gần nàng lắm mới có thể đỡ nàng kịp thời. Làm thế nào để anh ta đưa nàng vào trong xe được nhỉ? Hạnh thoáng một chút ngượng ngập và có cảm giác đỏ mặt.

Người tài xế quay đầu lui hỏi địa chỉ làm Hạnh giật mình. Taxi đỗ trước nhà, Hạnh trả tiền và vội vã bước xuống xe. Thoáng một ý nghĩ vẩn vơ là không biết làm thế nào gập lại người đàn ông kia để nói một lời cám ơn cho đàng hoàng lịch sự.

Thủy vẫn chưa về. Căn nhà trở nên trống vắng. Hạnh cầm một lát bánh mì của Thủy làm sẵn trên bàn ăn từ sáng và bước vào phòng. Bức hình Phan như đang nhìn Hạnh làm Hạnh thấy yên lòng. Mọi chuyện bên ngoài lắng xuống mỗi lần Hạnh ngồi trước bàn thờ đối diện với Phan.

Hạnh vừa gặm bánh mì vừa suy nghĩ miên man. Ba năm trôi qua rồi, Hạnh không hề tiếp xúc với một người đàn ông nào. Nàng sống khép kín trong những kỷ niệm với Phan. Người bạn thân nhất là Nguyệt, cũng như chị Dung thường khuyên nàng nên bình thường cuộc sống, vì đàng nào Phan cũng đã không còn.

Thực ra Hạnh cũng muốn thế, nhưng mỗi lần nhìn bức hình Phan trên bàn thờ, Hạnh lại thấydâng lên những nhớ thương chồng, đồng thời với những chán nản trong lòng. Rồi lại chẳng muốn gập ai cả. Năm nay vừa bốn mươi, Hạnh vẫn còn đẹp. Nét âu sầu càng làm cho khuôn mặt nàng có cái vẻ quyến rũ lạ thường.

Hạnh ngồi yên tĩnh một mình cho đến lúc có tiếng mở cửa phía ngoài. Biết Thủy đi học về, nhưng Hạnh vẫn ngồi yên. Một lúc lâu sau, Thủy bước vào phòng:

- Mẹ, đã 6 giờ chiều rồi, con đã làm cơm rồi, mẹ rửa mặt rồi ăn cơm nghe mẹ.

Hạnh giật mình. Đã sáu giờ chiều rồi. Hạnh tưởng như mình vừa về nhà được một lúc, hóa ra nàng đã ngồi trong phòng cả nửa ngày trời. Ngay cả Thủy về nhà, sửa soạn cơm nước trong bếp mà Hạnh vẫn không hay. Nàng ừ một tiếng nhẹ và uể oải đứng dậy ra khỏi phòng. Ngồi vào bàn với bữa cơm đã sẵn sàng, tuy đạm bạc, nhưng rất tươm tất, bỗng nhiên Hạnh chợt thấy mình có lỗi với Thủy.

Từ bao lâu nay, công việc nhà cửa gần như một mình Thủy phụ trách. Từ bao lâu không biết, bây giờ mới chợt nhận ra là chỉ vì thương nhớ Phan, cứ đày ải mình trong quá khứ mà Hạnh đã bỏ bê con một cách vô trách nhiệm. May mà Thủy hiểu rõ mẹ và không bao giờ trách Hạnh. Những suy nghĩ về chuyện mấy năm qua và chỉ trong chốc lát Hạnh bỗng nhiên như bừng tỉnh.

Thấy mẹ ngồi thừ người, Thủy nhắc:

- Mẹ.

Chỉ một tiếng gọi Mẹ làm Hạnh giật mình như vừa tỉnh mộng. Nàng nói lí nhí :

- Mẹ xin lỗi con.

Hai chữ xin lỗi Hạnh vừa thốt ra, không phải cho bây giờ, mà muốn nói với con lời xin lỗi đã bao năm nay chẳng lo gì cho Thủy.

Thủy hỏi :

- Mẹ lên tòa Lãnh sự thế nào?

- Cũng hơi khó khăn. Người ta bảo là nếu có ai bảo lãnh qua Úc thì dễ dàng hơn. Để ngày mai mẹ liên lạc với dì Nguyệt xem sao. Hình như dì ấy bà con bên đó nhiều lắm.
Ngay tối hôm đó, Hạnh gọi máy cho Nguyệt. Tiếng Nguyệt đầu dây:

- Trời ơi, sắp có bão lụt gì đây mà Hạnh lại gọi cho minh. Đùa đấy chứ mừng lắm, nhất là nghe giọng Hạnh rất vui. Có chuyện gì không?

- Mình muốn gập Nguyệt để hỏi một vài chuyện liên quan đến chuyện đi du học của cháu Thủy mà thôi.

- Bộ để cho nó đi, ở nhà một mình lại rầu rĩ nhớ nó mà chết sao?

Thủy thở dài:

- Mấy hôm nay mình nghĩ khá nhiều về vấn đề này. Thực ra mình cũng có lỗi với nó nhiều lắm. Từ ngày mất Phan, mình bỏ bê nó, không ngó ngàng gì đến nó cả. Ba năm nay nó không hề trách mình một tiếng vì biết mình nhớ ba nó. Nhưng nghĩ lại, càng thấy ân hận trong lòng.

Một lúc yên lặng ở đầu dây bên kia, mới nghe Nguyệt nói :

- Để mình suy nghĩ, và sẽ giới thiệu với Thủy một người bà con ở bên Úc mới về, sẽ cho biết tin tức về chuyện bảo lãnh cho con bé qua học bên đó.

Sáng hôm sau, Nguyệt hẹn Hạnh ở một quán cà phê ngoài phố. Quán cà phê nầy trước đây Hạnh vẫn thường cùng Phan ra đây mỗi chủ nhật. Bước vào đã thấy Nguyệt ngồi ở một chiếc bàn gần cửa sổ. Hạnh hỏi :

- Nguyệt hẹn với ai thế?

- Người nầy tên Khải, là chồng của một người bà con của mình, sống ở bên Úc. Cô ấy bị bệnh qua đời đã hai năm nay. Công ty của anh Khải làm việc có một bộ phận ở Việt Nam, nên thỉnh thoảng anh ấy vẫn về Việt nam làm việc.

Cái tên nghe quen quen,nhưng Hạnh không để ý.

Ngồi một lúc thì Nguyệt nhìn ra cửa, vẫy tay. Hạnh chưa kịp quay lại nhìn thì người đó đã bước lại gần. Hạnh quay đầu lại, ngỡ ngàng nhìn người đàn ông vừa đến, cũng bắt gập ánh mắt ngạc nhiên của đối phương. Nguyệt nhìn cả hai, ngạc nhiên:

- Bộ hai người đã biết nhau?

Hạnh lúng túng chưa kịp phản ứng thì người đàn ông kia đã nhanh nhẩu :

- Chỉ gần như thế thôi. Nghĩa là chúng tôi đã biết nhau nhưng chưa hề quen nhau.

Nguyệt ngẩn ngơ không hiểu như thế nào, trong khi Hạnh ngượng ngùng không biết làm thế nào để giải thích. Khải thấy thế, liền nói :

- Hôm qua tình cờ chúng tôi…

Nguyệt ngắt lời :

- Đây là anh Khải, và đây là chị Hạnh. Hai người làm ơn giải thích sự việc cho tôi biết đi để tôi khỏi phải mất công giới thiệu.

Hạnh chưa kịp phản ứng thì Khải đã nhanh chóng kể lại câu chuyện gập nhau ở tòa Tổng lãnh sự Úc. Nguyệt nghe xong, chép miệng :

- Âu cũng là cái duyên của cả hai bên.

Câu nói có thể có một nghĩa khác, nhưng trái lại làm cho Hạnh thấy ngượng ngùng không dám nhìn Khải. Khải thì trái lại, cười một cách hồn nhiên:

- Có lẽ thế. Đúng ra hôm qua tôi phải đưa cô Hạnh về nhà mới phải. Xe của cô đi rồi tôi mới thấy mình không được lịch sự. Bây giờ đúng là có duyên gập lại để có thể xin lỗi cô vậy.

Hạnh chỉ mỉm cười không trả lời, nhưng trong lòng thì lại tự nhủ, đúng ra câu nói đó phải là của nàng để xin lỗi Khải mới phải, và tự nhiên nàng nẩy sinh một mối cảm tình với người đàn ông vừa mới quen biết nầy. Bây giờ, Hạnh mới để ý đến Khải kỷ càng hơn: Đúng là chưa đến năm mươi, khuôn mặt thanh tú, giọng nói trầm ấm rất dễ có cảm tình. Ăn mặc không chải chuốc, nhưng rất lịch sự.

Chuyện trò một lúc, sau khi nghe Nguyệt trình bày hộ Hạnh về việc Thủy muốn đi du học ở Úc, Khải trầm ngâm một lúc rồi mới hỏi:

- Chỉ có hai mẹ con, nếu cháu Thủy phải đi học xa, cô Hạnh có chịu được không?

Hạnh cười nhẹ :

- Nếu không chịu được thì biết làm sao bây giờ?

Khải cũng cười :

- Nếu không chịu được thì cô Hạnh có thể tìm cách qua ở với cháu chứ sao.

Nói xong thì như nghĩ đến một điều gì đó, Khải ngừng lại và lặng yên. Hạnh cũng im lặng nhìn ra đường. Một lúc sau, Nguyệt lên tiếng :

- Anh Khải thử nghĩ xem có giải pháp nào trong trường hợp không xin học bổng cho cháu được, rồi cho tụi em biết nghe.

Lúc Khải chào từ giã, Hạnh nói :

- Anh Khải ở có gần đây không? Chừng nào rảnh ghé qua nhà chơi, anh hỏi chị Nguyệt thì biết nhà tôi, không xa nhà chị ấy lắm.

Khải đáp :

- Cám ơn cô Hạnh. Nếu cho phép, tôi sẽ ghé qua thăm cho biết nhà. Tôi quen biết Nguyệt khá lâu, nhưng không hề biết Nguyệt có một người bạn thân xinh đẹp như thế nầy.

Nguyệt nói đùa :

- Anh không biết là phải, nhưng anh may mắn lắm anh mới được quen biết với chị Hanh đấy, chứ không phải dễ đâu.

Lúc chỉ còn hai người, Nguyệt hỏi Hạnh :

- Chị thấy anh Khải thế nào? Từ ngày vợ qua đời, đã hơn hai năm nay, anh ấy một mình lo cho hai đứa con bên Úc và thỉnh thoảng về đây làm việc. Con cái anh ấy đều vào đại học cả, nên anh Khải cũng khỏe. Lúc nào về, anh cũng ghé thăm mình và lúc nào cũng rất lịch sự dễ thương.

Hạnh cười :

- Bộ Nguyệt muốn giới thiệu anh ấy với mình hay sao mà quảng cáo dữ vậy?

Nguyệt cũng cười :
- Biết đâu chừng, duyên số, ai mà biết được.

Hạnh bỗng im lặng. Nàng bỗng nghĩ đến Phan. Ba năm trôi qua rồi. Tang chồng đã mãn, nhưng nghe Nguyệt nói thế, Hạnh vẫn cảm giác như có lỗi với Phan.

Lúc Hạnh về nhà thì Thủy cũng đã về và cơm nước đã sẵn. Nàng ngồi vào bàn, hỏi han Thủy nhiều điều làm Thủy ngạc nhiên thấy mẹ vui vẻ khác thường. Một lúc sau, Hạnh nói:

- Sáng hôm nay dì Nguyệt giới thiệu với mẹ một người quen của dì ấy, ở bên Úc mới về để nhờ cậu ấy hỏi về việc du học của con. Cậu ấy cũng có con gái khoảng tuổi con và sắp sửa vào đại học.

Thủy đi từ ngạc nhiên nầy qua nhạc nhiên khác: Mẹ đã chịu ra ngoài, lại còn chịu làm quen với một người đàn ông nào đó, kể cũng lạ. Nhưng Thủy cũng chẳng hỏi thêm. Dù sao, mẹ cũng được vui vẻ, hơn là suốt bao nhiêu năm nay, ngày nào mặt mày cũng ủ dột buồn bã.

Thấy Thủy yên lặng, Hạnh nói thêm :

- Việc đi học tự túc khi con chưa đủ tuổi thành niên có lẽ cần phải có người bảo lãnh thì dễ dàng hơn. Để mẹ nhờ dì Nguyệt hỏi cậu Khải xem có thể bảo lãnh con không?

- Người ta chẳng bà con quen biết gì làm sao lại bảo lãnh cho con được?

Mấy hôm sau, Nguyệt đề nghị Hạnh mời Khải đến nhà dùng cơm. Hạnh suy nghĩ một lúc rồi nhận lời. Buổi tối hôm đó, Hạnh cứ nghĩ là Khải sẽ cùng đến với Nguyệt, nên trong khi hai mẹ con đang chuẩn bị đồ ăn, nghe tiếng chuông, nàng bảo Thủy: ”Con ra mở cửa cho dì Nguyệt.” Thủy đon đả ra mở cửa, thấy Khải, tay cầm một bó hoa, Thủy giật mình đứng sững lại, ngạc nhiên, cúi đầu chào. Không để cho Thủy phải thắc mắc, Khải lên tiếng :

- Chào cháu, chắc chắn cháu là Thủy phải không? Chú là chú Khải,chú có nghe dì Nguyệt và mẹ cháu nói cháu đang xin qua Úc du học.

Thủy đáp :

- Dạ phải ạ,mời chú vào nhà.

Thấy Hạnh đang bận tay trong bếp, Khải đưa bó hoa cho Thủy và nói lớn :

- Chào cô Hạnh. Tôi xin lỗi đến hơi sớm. Cô cứ tự nhiên.

Hạnh gật đầu chào khách:

- Tôi đang bận tay, mời anh ngồi chơi.

Phòng khách không rộng, nhưng được sắp xếp rất gọn ghẻ. Bên cạnh kệ sách gấn cửa sổ là chiếc dương cầm, phía trên có một pho tượng Beethoven bằng đồng nhỏ. Phía tường đối diện treo một bức tranh thiếu nữ của họa sĩ Nguyễn Trung.

Một bộ salon gồm một chiếc ghế nệm dài và một chiếc ghế bành cách nhau bằng một cái bàn kính thấp. Đơn giản và mỹ thuật. Giữa phòng khách và bếp là một khoảng không gian nhỏ,chỉ đặt một chiếc bàn ăn có sáu cái ghế và một chiếc tủ chưng chén bát kê sát tường.

Một lúc sau thì có tiếng chuông và lần này, chính Khải mở cửa. Nguyệt bước vào, theo sau là một người đàn bà xấp xỉ tuổi Khải. Chàng gật đầu chào trong khi Nguyệt nhanh nhẩu giới thiệu :

- Giới thiệu với anh Khải, đây là chị Dung, chị ruột của Hạnh, và đây là anh Khải ở bên Úc mà em thỉnh thoảng có nhắc đến với chị. Anh Khải ngồi chờ tụi em một chút nghe, em và chị Dung phải vào giúp Hạnh một tay.

Nói xong hai người đi vào trong bếp. Khải một mình thơ thẩn trong phòng khách, rồi ngồi xuống trước cây đàn dương cầm, gõ nhẹ một tiếng. Nguyệt nói vọng ra : 

- Em chưa giới thiệu với mọi người, anh Khải là một pianist đấy. Trong khi chờ đơi, anh có thể cho tụi em nghe một bài cho vui đi.

Khải không trả lời và chàng đánh một khúc nhạc của Beethoven. Tình cờ đó là khúc nhạc ngày xưa Phan thường chơi và rất thích. Hạnh cũng quá quen thuộc khúc nhạc nầy. Nguyệt nhìn qua thoáng thấy Hạnh đứng lặng yên một lúc rồi nói nhỏ:

- Không ngờ anh Khải chơi đàn quá hay mà lại cũng thích nhạc cổ điển nữa.

Thủy cũng có vẻ ngạc nhiên nhìn mẹ buộc miệng :

- Chú Khải chơi hay quá, làm con nhớ Ba. Mấy năm nay không được nghe Ba đàn.

Nói xong, Thủy thấy như mình lỡ lời, bèn lẳng lặng bê thức ăn dọn lên bàn. Mọi người lần lượt ngồi vào bàn. Hạnh ngồi giữa Thủy và chị Dung. Nguyệt và Khải ngồi đối diện. Nguyệt nói :

- Không ngờ anh Khải đàn hay quá, em cũng biết anh là một cây dương cầm, nhưng cũng chưa bao giờ được nghe đấy.

Khải cười :

- Lâu quá, tôi cũng ít chơi đàn, vì bận công việc, lại hay đi đây đi đó. Tối hôm nay, thấy cây đàn lại ngứa tay một chút thôi, mong quý vị không phiền. Cây đàn để lâu quá không điều chỉnh, có nhiều nốt bị lạc đi một chút, nếu cô Hạnh cần, tôi sẽ gọi người lên dây lại.

Hạnh nói:

- Từ ngày anh Phan mất, chẳng ai sờ dến cây đàn, anh Khải khỏi bận tâm, để chừng nào thuận tiện hẳn hay vậy. Xin mời anh, mời chị Dung và Nguyệt dùng cơm kẻo nguội.



 

Lúc căn nhà chỉ còn hai mẹ con, dọn dẹp xong, Hạnh trở về phòng. Nàng không bật đèn, cũng không vặn nhạc như thường lệ, để nguyên áo quần nằm lên giường. Tiếng đàn của Khải như còn văng vẳng bên tai, và bỗng nhiên Hạnh mường tượng hình dáng của Khải ngồi trước cây dương cầm. Khải đẹp trai, ăn nói lịch sự, đàng hoàng, lại chơi đàn hay có phần trội hơn cả Phan. Khải lại đang tự do.

Hạnh rùng mình,  không biết tại sao lại cứ vẩn vơ với những suy nghĩ về người đàn ông chỉ mới gập có ba lần. Hóa ra cái chết của Phan làm cho Hạnh đóng cửa tâm hồn nàng lại, cách biệt với bên ngoài. Mọi chuyện diễn ra trong cuộc sống khép kín của nàng như một thói quen, ngay cả dần dần hình bóng Phan nhạt nhòa trong lòng nàng vẫn không hay. Gập Khải, như một luồng ánh sáng rọi vào trong căn phòng luôn luôn đóng chặt cửa của nàng, mang theo một luồng hơi ấm dịu dàng, mới mẻ.

Hạnh nhớ lại trong bữa ăn, mọi người xem ra đều có cảm tình với Khải, kể cả Thủy. Ngoài ra, Nguyệt thì lại còn ý cặp nàng với Khải một cách kin đáo, có lẽ vì không muốn thấy người bạn thân của mình sống âm thầm lặng lẽ như thế.

Mấy ngày hôm sau, Khải điện thoại đến và muốn mời Hạnh đi dùng cơm tối cùng với Nguyệt. Khải hỏi ý chị Dung và Thủy, thì cả hai cũng đều nói một cách kin đáo khuyến khích Hạnh. Tối hôm đó, Hạnh mặc một bộ đen rất trang nhã. Ba năm nay, ít khi thấy nàng trang điểm, vả lại không mấy khi ra khỏi nhà, nên Thủy cứ đứng nhìn sững mẹ:

- Trời ơi, mẹ đẹp quá, coi chừng chú Khải bị hớp hồn đấy.

Hạnh đưa mắt lườm con, nhưng trong lòng thì lại thấy sung sướng, và khi Khải đưa xe đến đón thì nàng bước ra ngay. Không thấy Nguyệt, Hạnh hỏi:

- Chị Nguyệt không đi cùng với anh sao?

- Chị ấy gọi điện xin lỗi có việc đột xuất không đến được. Chúng ta đi vậy.

Hai người đến một nhà hàng tây lich sự và sang trong. Khải tỏ ra là một người lịch lãm sành điệu trong việc ăn uống làm cho Hạnh rất thoải mái.

Gần cuối bữa ăn, Khải nói:

- Trong trường hợp Hạnh thực muốn cho cháu Thủy đi học, tôi có thể làm giấy bảo lãnh cả hai mẹ con qua, nhưng đây cũng là một vấn đề hết sức tế nhị, mong là Hạnh không hiểu lầm.

Hạnh hỏi:

- Nghĩa là sao, Hạnh chưa hiểu?

Khải ngập ngừng một lúc, không ngờ là Hạnh không hiểu:

- Thế nghĩa là chúng ta phải làm một hôn ước giả để làm hồ sơ bảo lãnh.

Đúng là Hạnh không hiểu. Nàng cúi đầu ngượng ngùng một lúc sau mới nói:

- Anh cho Hạnh suy nghĩ và bàn với cháu Thủy cùng chị Dung, rồi sẽ trả lời với anh. Dù sao, Hạnh cũng rất cám ơn ý tốt của anh, nhưng vấn đề nầy quả thật cũng hơi bất ngờ với Hạnh thật.

Trên đường về, cả hai ít nói chuyện với nhau. Riêng Hạnh thì vẫn miên man suy nghĩ về lời đề nghị của Khải. Lúc từ giã,Khải nói:

- Hạnh đừng bận tâm về lời đề nghị của anh nghe, đấy chỉ là một giải pháp, biết đâu chúng ta có thể tìm được những cách khác đơn giản hơn.

Hạnh vừa bước vào nhà thì Thủy đang ngồi xem truyền hình trong phòng khách đã hỏi ngay:

- Mẹ ăn ở đâu vậy? Có vui không? Chú Khải thế nào? Có “gentleman” không?

Nghe Thủy hỏi một tràng, Hạnh biết ngay là Thủy cũng có cảm tình với Khải, nên nàng cười vui vẻ :

- Chú Khải là một người rất lịch sự, có thể nói là rất gentleman, con nghĩ là nếu chú ấy lui tới với gia đình mình có sao không?

Thủy đáp không suy nghĩ :

- Mẹ à,ba mất đã ba năm nay rồi. Ba năm nay mẹ sống như một cái bóng trong nhà, bây giờ nếu có một người bạn thì con thấy rất tốt. Thời đại bây giờ khác xưa rồi mẹ ạ.

Ngày hôm sau, Hạnh gọi Nguyệt và chị Dung, hỏi ý kiến về lời đề nghị của Khải. Cả hai đều cho rằng đó cũng là một giải pháp rất tốt, nếu Hạnh không thấy đó là vấn đề, nên hạnh cũng thấy nhẹ lòng. Thực ra thì cả chị Dung lẫn Nguyệt đều muốn Hạnh có một thay đổi. Sau đó, Hạnh nói chuyện với Thủy thì Thủy cũng đồng ý ngay, nhưng Thủy nói :

- Không chỉ là chuyện con được đi học, mà con cũng muốn mẹ có cơ hội thay đổi một chút. Tuy nhiên, dù trên nguyên tắc, chỉ là giấy tờ thôi, nhưng con nghĩ là mẹ cũng cần một thời gian để biết thêm về chú Khải thì tốt hơn.

Hạnh không ngờ mới hơn mười bảy tuổi mà Thủy đã chín chắn như thế, nên nàng rất mừng.

Ba bốn hôm không thấy tin tức Khải, Hạnh chủ động gọi điện cho chàng và mời đến nhà dùng cơm. Khải vui vẻ nhận lời. Bữa cơm chỉ có Khải và hai mẹ con Hạnh. Ăn xong, Thủy xin phép về phòng, chỉ còn Hạnh và Khải trong phòng khách. Khải không hề nhắc đến lời đề nghị hôm nọ, nên Hạnh phải gợi ý trước:

- Hạnh rất cám ơn anh về chuyện hôm nọ, và Hạnh thấy đó là một giải pháp duy nhất để anh giúp mẹ con em. Nhưng mình biết nhau chưa được bao lâu, vả lại em cũng mới mãn tang anh Phan, nên em cũng muốn có một khoảng thời gian để người ta khỏi dị nghị, có được không anh?

Khải đáp :

- Vậy thì anh có một đề nghị thế nầy: Còn khoảng mấy tháng nữa thì cháu Thủy đã qua tuổi thành niên, lúc đó, có thể gập khó khăn. Vì vậy, anh muốn làm giấy tờ trước, cho đến lúc nào Hạnh đồng ý thì giấy tờ đã xong. Đến lúc đó, nếu không muốn thì có thể hủy bỏ cũng không sao. Về việc bảo lãnh, anh quen với tòa Lãnh sự rất thân, nên có thể trong vòng ba bốn tháng giải quyết xong.

- Dạ, vậy quyết đinh như thế cũng được.

Tối hôm đó, Hạnh không ngớt suy nghĩ về Khải. Hình như tình cảm của Hạnh đến với Khải quá nhanh làm chính Hạnh cũng bất ngờ. Có thể vì chị Dung, Nguyệt và quan trọng nhất là Thủy đều có cảm tình với Khải, nên Hạnh chẳng có chút do dự, ngại ngùng nào đối với Khải.

Trong lúc nghĩ về Khải, Hạnh lại tự chống chế với mình lúc nghĩ về Phan: Dù sao, chồng mất cũng đã ba năm rồi, lòng thương nhớ cũng đã nguôi ngoai. Đối với dư luận bên ngoài, chắc cũng chẳng ai đánh giá mình….

Những cuộc hẹn hò với Khải tăng dần. Hai người gần như công khai đối với bạn bè phần đông đều tán thành cuộc tình của họ. Hơn một tháng sau, Khải phải trở về Úc. Chỉ hai tuần xa cách, mà Hạnh bỗng thấy thiếu vắng một cái gì đó. Những cuộc hẹn hò. Giọng nói trầm ấm dịu dàng. Một dáng ngồi trước cây dương cầm với tiếng đàn lãng mạn.

Đôi khi chính Hạnh cũng tự thấy ngạc nhiên là hình bóng của Phan đã mờ dần trong tâm trí nàng lúc nào không hay. Tất cả đều được thay bằng Khải, và một điều nữa là Hạnh không còn thấy một chút mặc cảm nào lúc nghĩ về Phan nữa.

Hai tuần lễ trôi qua với những nhớ nhung thiếu vắng như mới yêu lần đầu. Hạnh mong Khải từng ngày. Những lúc Thủy đi học, Hạnh thường đến nhà Nguyệt, đi bát phố cùng vài người bạn thân. Cái thói quen ngồi mãi trong nhà gần như không còn nữa, và Hạnh thấy cần có một người bạn bên cạnh để trò chuyện. Dĩ nhiên là những chuyện về người đàn ông mới quen biết không lâu. Cái gì nơi Khải cũng mới mẻ, khác hẳn chuyện ngày xưa với Phan.

Cũng có đôi khi ngồi một mình trong phòng, nhìn lên bàn thờ Phan, Hạnh thấy có một điều gì đó bất ổn trong lòng. Nàng tự hỏi thầm: ”Có phải mình vội vã quá không? Có phải mình có chút không phải với Phan chăng?” Nhưng rồi lại tự bảo: ”Ba năm rồi.

Tang Phan đã mãn rồi. Không lý mình cứ mãi sống trong sự thương nhớ vô ích như cũ? Rồi Thủy thế nào? Rồi mình sẽ già đi mất!” Và hình bóng Khải hiện đến làm nhạt nhòa mọi suy nghĩ về người chồng cũ, đưa Hạnh vào giấc ngủ êm đềm.

Khải trở về, báo tin cho Hạnh biết là mọi thủ tục bảo lãnh xem như hoàn tất và chỉ trong vòng ba tháng nữa là cả ba có thể lên đường sang định cư ở Úc. Buổi tối hôm đó, sau bữa cơm tối, cả hai ngồi trên chiếc ghế ngoài hiên nhà.

Hạnh dựa vào vai Khải, mơ màng nghĩ đến một nơi xa lạ mới mẻ chưa bao giờ bước chân tới. Mối tình đầu như đã đi vào quá khứ. Hạnh thấy như mình sắp bước vào một cõi tình yêu chưa từng đặt chân đến.


 Hoàng Tá Thích

------------

-Hình Internet

Hồng Anh st


 

Xem thêm...

Những đặc tính truyền thống cơ bản của nền giáo dục miền Nam trước 75

Bồng bồng mẹ bế con sang,
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo.
Muốn sang thì bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thày.(Ca dao Việt Nam)“Tôi muốn thấy có sự kính trọng trong một trường học. Ông thày tới, học trò phải nghiêm chỉnh đứng dạy chào thày…” – Nicolas Sarkozy, khi tranh cử Tổng Thống Pháp (Từ Nguyên)*****Một người bạn mới về thăm Việt Nam trở lại Mỹ trước ngày Lễ Tạ Ơn 2016 ít ngày cho biết rất nhiều người trong nước hiện tại đã đánh giá cao nền giáo dục ở Miền Nam thời trước năm 1975; riêng bà con ở Miền Nam lại lấy làm hãnh diện là đã được đào tạo bởi nền giáo dục ấy, trong những học đường Miền Nam và bởi các thày cô Miền Nam.Nhân dịp này, tôi xin được cùng bạn đọc ôn lại những ưu điểm qua một số những đặc tính cơ bản của sinh hoạt giáo dục ở Miền Nam thời trước năm 1975 nói riêng và văn hóa miền Nam nói chung, chính yếu là sự liên tục lịch sử. Nói như vậy không phải là trong thời gian này miền đất của tự do và nhân bản mà những người Quốc Gia còn giữ được không phải là không trải qua nhiều xáo trộn. Chiến tranh dưới hình thức này hay hình thức khác luôn luôn tồn tại và có những thời điểm người ta nói tới các chế độ độc tài hay quân phiệt và luôn cả cách mạng. Nhưng ngoại trừ những gì liên hệ tới chế độ chính trị, quân sự hay an ninh quốc gia, sinh hoạt của người dân vẫn luôn luôn diễn ra một cách bình thường, người nào việc nấy, người nào trách nhiệm nấy và được tôn trọng hay tôn trọng lẫn nhau. Sự liên tục lịch sử do đó đã có những nguyên do để tồn tại, tồn tại trong sinh hoạt hành chánh, tồn tại trong sinh hoạt tư pháp, trong văn chương và nghệ thuật và tồn tại đương nhiên trong sinh hoạt giáo dục. Trong bài này tôi chỉ nói tới tới giáo dục và giáo dục công lập. Đây không phải là một bài khảo cứu mà chỉ là một bài nhận định và những nhận định được nêu lên chỉ là căn bản, sơ khởi, và tất nhiên là không đầy đủ. Đồng thời mỗi người có thể có phần riêng của mình. Một sự nghiên cứu kỹ càng, có phương pháp hơn và đầy đủ hơn là một điều cần thiết.
 
Những đặc tính truyền thống cơ bản của nền giáo dục miền Nam trước 75
Giáo dục là của những người làm giáo dục
 
Giáo dục công lập ở Việt Nam đã có từ lâu đời và tùy theo nhận định của các sử gia, tới một mức độ nào đó định chế này đã tồn tại trên dưới mười thế kỷ. Mục đích của nó là để đào tạo nhân tài cho các chế độ, nói riêng, và cho đất nước, nói chung. Các vua chúa Việt Nam thời nào cũng vậy, cũng coi trọng việc học cả. Có điều coi trọng thì coi trọng, các vua Việt Nam, nói riêng và các triều đình Việt Nam, nói chung, chỉ vạch ra những đường nét chung và những mục tiêu chung, kèm theo là tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người tài mà không trực tiếp can dự vào sinh hoạt giảng dạy của các trường, hầu hết là các trường tư ở rải rác khắp trong nước. Sinh hoạt này hoàn toàn do các thày ở các trường do các tư nhân đảm trách. Giáo dục là của người dân và của những người làm giáo dục, và cho đến khi người Pháp sang, nó là của giới trí thức đương thời, đúng hơn là của các nhà Nho với tất cả những học thuyết, những nguyên tắc căn bản của giới này. Sang thời Pháp, do nhu cầu bảo vệ và phát triển văn minh và văn hóa của họ, người Pháp lập ra một nền giáo dục mới, nhưng việc điều hành, việc soạn thảo chương trình vẫn được giao cho các nhà giáo được huấn luyện chuyên môn hay ít ra là lựa chọn nghề dạy học với tinh thần quí trọng kiến thức và yêu mến nghề dạy học dù chỉ là tạm thời về phía người Pháp cũng như về phía người Việt. Họ mở các trường sư phạm để huấn luyện giáo chức chuyện nghiệp.Những đặc tính truyền thống cơ bản của nền giáo dục miền Nam trước 75Đặc tính kể trên đã liên tục được tôn trọng trong suốt thời gian miền Nam tồn tại và luôn cả trước đó, từ thời Chính Phủ Quốc Gia của Cựu Hoàng Bảo Đại. Chức vụ bộ trưởng hay tổng trưởng giáo dục có thể là do các chính trị gia hay những người thuộc các ngành khác đảm nhiệm, nhưng trong việc lựa chọn nhân sự điều hành trong bộ, ngoại trừ các chức vụ có tính cách chính trị như đổng lý văn phòng, chánh văn phòng, bí thư tức thư ký riêng của bộ trưởng… tất cả các chức vụ chỉ huy khác trong bộ, từ thứ trưởng, tổng thư ký, tổng giám đốc, giám đốc cho tới các hiệu trưởng các trường và đương nhiên là các giáo sư, giáo viên, đều là những nhà giáo chuyên nghiệp, không có đại diện đảng phái chính trị ở bên cạnh. Lý do rất đơn giản: họ là những người vô tư, biết việc, rành công việc và có kinh nghiệm, chưa kể tới sự yêu nghề. Chính trị đối với họ chỉ là nhất thời, tương lai của cả một dân tộc, hay ít ra là của những thế hệ tới mới, là quan trọng. Trong phạm vi lập pháp, rõ hơn là ở quốc hội, các chức vụ đứng đầu các ban hay tiểu ban, dù là thượng viện hay hạ viện đều do các nghị sĩ hay dân biểu gốc nhà giáo phụ trách. Ngoại trừ ở những vùng mất an ninh, những gì thuộc phạm vi chính trị nhất thời đã ngưng lại trước ngưỡng cửa của học đường. Thày cô giáo là nhân viên của bộ giáo dục, do bộ giáo dục bổ nhiệm, trực thuộc vị hiệu trưởng của trường sở tại , rồi các nha sở của bộ giáo dục ở trung ương chứ không trực thuộc các quận hay tỉnh trưởng.Image result for KÝ ỨC VỀ NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG THỜI TIỂU HỌC Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975 - Phan Văn Phước"Về tên các trường, tất cả các trường trung, tiểu học đều được gọi bằng tên của các danh nhân hay anh hùng dân tộc thời trước, được mọi người công nhận, Trưng Vương, Ngô Quyền, Chu Văn An, Đoàn Thị Điểm, Gia Long, Petrus Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Lê Ngọc Hân… không hề có tên nào là của các lãnh tụ đương thời dù đó là Bảo Đại, Ngô Đình Diệm hay Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, kể cả Trần Văn Hương gốc nhà giáo… thay vì những tên hoàn toàn xa lạ đối với quảng đại quần chúng Miền Nam về sau này như Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám…, những người của một đảng chính trị hay, tệ hơn nữa, là ngụy tạo, không có thật.Tôn chỉ và mục đích nhằm hướng tới quốc gia, dân tộc và con người, dựa trên những truyền thống đã có từ lâu đờiNói tới ba nguyên tắc căn bản, đồng thời cũng là tôn chỉ và mục đích tối hậu của nền giáo dục của miền Nam trước năm 1975, có người tỏ ý không thích ba nguyên tắc này. Lý do có lẽ, tôi chỉ đoán như vậy, là vì ba nguyên tắc này phần nào đã được người Cộng Sản Việt Nam nêu lên trong Đề Cương Văn Hóa 1943 của họ. Ba nguyên tắc đó là Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng, sau này là Nhân Bản, Dân Tộc và Khoa Học trong khi trong Đề Cương Văn Hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì là Dân Tộc, Đại Chúng và Khoa Học…
Image result for KÝ ỨC VỀ NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG THỜI TIỂU HỌC Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975 - Phan Văn Phước"
 
Ở đây người viết không đi sâu vào khía cạnh này vì dù không thích, không đồng ý, ba nguyên tắc Dân Tộc, Nhân Bản và Khai Phóng này vẫn đã trở thành căn bản của nền giáo dục của miền Nam mà không ai lưu tâm tới vấn đề là không biết. Chúng đã giúp cho nền giáo dục này giữ được những truyền thống cơ bản của dân tộc và phát triển một cách vững vàng từng bước một để theo kịp với đà tiến triển của cả nhân loại mà không chạy theo những gì của thời thượng để trở thành lai căng, mất gốc, đồng thời cũng không bị gán cho là bảo thủ, lỗi thời… Tính cách liên tục lịch sử của nền giáo dục của miền Nam sở dĩ có được, phần nào là dựa trên những nguyên tắc này, đặc biệt là nguyên tắc Dân Tộc. Nó cho phép người ta đề cao và bảo tồn những truyền thống dân tộc trong học đường, dù đó là những truyền thống thuần túy Việt Nam hay những truyền thống của Khổng giáo. Đôi câu đối được khắc trên cổng chính của một trong những trường trung học lớn nhất của miền Nam là trường Petrus Trương Vĩnh Ký sau đây là một trường hợp điển hình:Khổng Mạnh cương cường tu khắc cốt
Âu Tây khoa học yếu minh tâmSự khủng hoảng hiện tại của nền giáo dục ở trong nước là do ở sự thiếu những yếu tố chỉ đạo này. Điều này đã được thấy rõ qua sự vô cùng lúng túng của Ông Vũ Đức Đam, đương kim Phó Thủ Tướng, đặc trách văn hóa, xã hội, khoa học, giáo dục và đào tạo trong một buổi điều trần trước Quốc hội và bị hỏi câu hỏi là: “Có hay không một triết lý giáo dục Việt Nam?” Điều khiến cho người ta ngạc nhiên là không lẽ là một cán bộ ở cấp cao chuyên lo về văn hóa như vậy, ông lại không biết tới Đề Cương Văn Hóa 1943 trong đó ba nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cho các vận dụng văn hóa, nói chung, văn học và giáo dục… nói riêng, là: dân tộc hóa, đại chúng hóa, và khoa học hóa đã được nêu cao hay sao? Không lẽ ba nguyên tắc này đã trở thành lạc hậu trong tình thế mới, trước quyền hành và quyền lợi của nhà cầm quyền?

Liên tục trong phạm vi nhân sự

Nhân sự ở đây không ai khác hơn là các nhà giáo, căn bản là các nhà giáo chuyên nghiệp. Tôi muốn nói tới các nhà giáo tốt nghiệp từ các trường sư phạm, những người ngay từ thuở thiếu thời đã chọn nghề dạy học làm lý tưởng cho mình và chỉ sống bằng nghề dạy học, vui với nghề dạy học hãnh diện với vai trò làm thày, làm cô của mình, dù đó là sư phạm tiểu học hay sư phạm trung học. Một nghề bị coi là “bạc nghệ”, là bị xếp sau so với các nghề khác:Dưa leo ăn với cá kèo,
Cha mẹ anh nghèo, anh học noọc-man.(noọc-man: nghề Thầy giáo, theo hệ thống giáo dục Pháp xưa)Tất cả các vị này vẫn còn nguyên vẹn khi đất nước bị qua phân và đã ở các trường trong Nam khi các trường này được mở cửa trở lại sau một thời gian chiến tranh bị tạm đóng cửa, không mấy người tập kết ra Bắc.Sau khi đất nước bị chia cắt và qua cuộc di cư của non một triệu người từ miền Bắc vô Nam, họ lại được tăng cường thêm bởi một số đông các đồng nghiệp của họ từ miền Bắc vô cùng với các trường được gọi là Bắc Việt di chuyển: Ngô Quyền, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương, Hồ Ngọc Cẩn, Trần Lục… Tất cả đã cùng nhau hướng dẫn và điều hành các học đường miền Nam trong thời kỳ chuyển tiếp từ Pháp thuộc sang độc lập, đồng thời cũng là những giảng viên cơ bản trong các trường huấn luyện giáo chức thuộc thế hệ mới. Từ phong thái đến cách giảng dạy, từ cách vào lớp, cho phép học trò ngồi, tới cách viết bảng và xóa bảng, cách chấm bài hay phê bài, các vị này đã để toát ra một sự chừng mực và vô cùng thận trọng của những nhà sư phạm nhà nghề, khác hẳn với một số các đồng nghiệp của họ từ ngoại quốc về chỉ lo dạy các môn học chuyên môn. Học đường do đó đã tránh được nạn chánh trị hóa, tránh được nạn cán bộ chánh trị xâm nhập. Nhiều vị vào những lúc tình thế vô cùng tế nhị đã giữ được thế vô tư và độc lập, nghiêm chỉnh của học đường và tư cách của giáo chức. Cũng cần phải nói thêm là trong thời gian này nhiều vị xuất thân là cử, tú, kép, mền, luôn cả tiến sĩ của thời trước, những người tinh thâm Nho học, vẫn còn có mặt ở các học đường, đặc biệt là các Đại Học Văn Khoa ở Saigon và Huế như Tiến Sĩ Nguyễn Sĩ Giác, Cử Nhân Thẩm Quỳnh, Tú Tài Kép Vũ Huy Chiểu… mà không ai là không quý trọng.Hệ thống tổ chức, tổ chức thi cử và chương trình học vẫn giữ được những nét chính của Chương Trình Pháp và Chương Trình Hoàng Xuân Hãn, Phan Huy Quát.Đây là một trong những đặc tính căn bản của nền giáo dục của miền Nam trong suốt thời kỳ nền giáo dục này tồn tại. Những gì người Pháp thiết lập không những không bị hủy bỏ, coi như tàn tích của chế độ thực dân, đế quốc mà còn được thận trọng giữ gìn, song song với việc bảo tồn truyền thống văn hóa cổ truyền và đạo đức của dân tộc. Người Việt ở miền Nam trong tinh thần cởi mở và tự do đã biết phân định những gì là kìm kẹp và những gì là hay đẹp mà một chế độ chính trị đem lại, thay vì cứ nhắm mắt đập bỏ để sau này hối tiếc. Các nhà làm giáo dục ở miền Nam đã tỏ ra vô cùng thận trọng trong mọi quyết định. Những gì gọi là cách mạng vội vã, nhất thời dường như không được chấp nhận. Họ chủ trương cải tổ để thích ứng với hoàn cảnh mới và cải tổ từ từ, kể cả khi thế lực và ảnh hưởng của người Mỹ, từ đó áp lực của họ đã trở nên rất mạnh. Hệ thống giáo dục do người Pháp từ tiểu học cho đến đại học đã tồn tại dưới hình thức Việt hóa bắt đầu từ thời chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945, với chương trình Hoàng Xuân Hãn, vị bộ trưởng giáo dục đương thời, sau này là Phan Huy Quát thời Quốc Gia Việt Nam mới được thành lập. Nó cho phép người ta, từ thày đến trò, dễ dàng chuyển sang một nền giáo dục mới của một quốc gia độc lập không hề có chuyện trục trặc. Ngay từ cuối niên học 1944-1945, trong rất nhiều khó khăn, từ giao thông, vận chuyển đến thông tin, liên lạc, người ta đã tổ chức đươc những kỳ thi ở bậc tiểu học bằng tiếng Việt mà không hề có chuyện than phiền, khiếu nại. Điều nên nhớ là Chính Phủ Trần Trong Kim chỉ tồn tại có vẻn vẹn bốn tháng hay hơn một trăm ngày, vô cùng ngắn ngủi, với những phương tiện giao thông và liên lạc hết sức nghèo nàn. Sau này khi gửi sinh viên ra ngoại quốc du học, miền Nam đã không gặp phải những khó khăn trong việc đối chiếu bằng cấp, hệ thống học và khả năng của các đương sự, không phải chỉ riêng cho những ai muốn sang du học bên Pháp mà luôn cả cho những ai muốn sang các quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Úc, Nhật… vì đó là một hệ thống giống như các hệ thống khác thuộc thế giới tây phương, một hệ thống gần với hệ thống chung của quốc tế.
 
Image result for KÝ ỨC VỀ NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG THỜI TIỂU HỌC Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975 - Phan Văn Phước"
Duy trì mối liên tục lịch sử cũng cho phép người ta sử dụng được các sách giáo khoa của người Pháp và những sách giáo khoa về lịch sử và văn chương Việt Nam do chính người Việt soạn thảo từ thời trước năm 1945 và sau đó là từ năm 1947 đến năm 1954 ở những vùng đất của người quốc gia. Điển hình là các sách toán và khoa học bằng tiếng Pháp, do các tác giả Pháp soạn và xuất bản ở bên Pháp nhưng đã được không những các thày mà luôn cả các trò sử dụng làm tài liệu hay để tự học. Trong phạm vi văn chương, những sách của Dương Quảng Hàm, đặc biệt là hai cuốn Việt Nam Văn Học Sử Yếu và Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển đã được dùng rất lâu dù cho nhiều sách giáo khoa khác đầy đủ hơn đã được soạn thảo. Cũng vậy, trong phạm vi sử học với cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim. Về nội dung, đặc biệt là trong văn học, người ta cũng thấy nền giáo dục của miền Nam vẫn giữ được tinh thần tự do, cởi mở. Các tác giả được đem dạy hay trích dẫn đã được lựa chọn căn cứ vào giá trị của các công trình của họ thay vì gốc gác và sự lựa chọn chế độ của họ, thay vì căn cứ vào chuyện họ ở miền Bắc hay ở miền Nam trong thời gian này. Tô Hoài, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân… là những trường hợp điển hình.Trong phạm vi thi cử, các kỳ thi được thiết lập từ thời Pháp hay có ở bên Pháp vẫn được duy trì, đặc biệt là hai kỳ thi tú tài. Ở bậc đại học hệ thống tổ chức cũng tương tự. Ảnh hưởng của người Mỹ chỉ được chấp nhận một cách từ từ với nhiều thận trọng, mặc dầu người Mỹ đã bỏ ra nhiều tiền bạc và nhân sự qua các chương trình viện trợ khiến cho nhiều người Mỹ đã tỏ vẻ bất bình. Hình thức thi trắc nghiệm áp dụng cho các kỳ thi tú tài chỉ được thực hiện rất trễ về sau này và dư luận đã đón nhận nó với những nhận định khác nhau. Tiếc rằng chỉ vài năm sau Miền Nam đã không còn nữa.Trong phạm vi tổ chức thi cử, người ta có thể thấy không riêng gì quan niệm, cách tổ chức, cách coi thi và chấm thi cũng như cách cho điểm, định kết quả và công bố kết quả hãy còn chịu ảnh hưởng nhiều của người Pháp mà còn luôn cả những thời quân chủ trước đó nữa. Quyền uy của các giám khảo, các chánh phó chủ khảo, các giám thị đã luôn luôn được tôn trọng và nhiều vị chủ khảo đã tỏ ra vô cùng can đảm giữ thế độc lập cho mình hay biết khôn ngoan né tránh cho mình và cho các đồng nghiệp của mình khi phải lãnh nhiệm vụ ở những vùng xa thủ đô Sài Gòn, an ninh và giao thông không bảo đảm. Nên nhớ là trong thờ gian này hệ thống trung ương tập quyền vẫn còn tồn tại. Ra đề thi, in đề thi và gửi đề thi về địa phương với tất cả sự bảo mật cần thiết là vô cùng khó khăn, tế nhị và phức tạp. Về phía chính quyền thì từ trung ương đến địa phương hầu như không hề có sự trực tiếp can thiệp. Báo chí, các cơ quan truyền thông vẫn luôn luôn hiện diện và sẵn sàng phanh

Một Xã hội tôn trọng sự học và những người có học

Đây là một trong những đặc tính cơ bản của văn hóa Việt Nam mà xã hội Miền Nam nói chung và nền giáo dục Miền Nam nói riêng thời trước năm 1975 được thừa hưởng. Đặc tính này đã được biểu lộ không riêng qua tinh thần tôn sư trọng đạo mà còn được coi như một giá trị và là một giá trị đứng đầu trong mọi giá trị. Sự học là một giá trị và giáo dục là một giá trị. Sự học hay giáo dục làm nên con người chứ không phải là những yếu tố khác, dù đó là quyền uy và tiền bạc. Người làm công tác giáo dục được tôn trọng và từ đó có được những điều kiện ít ra là về phương diện tinh thần để thực thi sứ mạng của mình mà những người làm chánh trị, những nhà chủ trương cách mạng, kể cả những người cấp tiến nhất cũng phải kiêng nể. Nhưng bù lại, người ta lại trông đợi rất nhiều ở các người làm công tác giáo dục, ở đây là các thày, cô. Giữa những người cùng làm công tác dạy học cũng vậy, tất cả đã tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng các bậc tôn trưởng, kể cả những người đã khuất. Sự thiết lập những bàn thờ tiên sư ở các trường trung học Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho và Phan Thanh Giản ở Cần Thơ phải được kể là tiêu biểu cho tinh thần giáo dục của miền Nam. Đối với các phụ huynh học sinh, sự trong đợi các thày nhiều khi qua mức, ngày nay khó ai có thể nghĩ được điển hình là chuyện “giáo sư mà cũng ăn phở”. Câu chuyện do một vị giáo sư từ Bắc vô Nam sau Hiệp Định Genève và được cử xuống Mỹ Tho chấm thi tú tài kể lại. Buổi sáng, các thày rủ nhau đi ăn phở trước khi nhập trường. Ở tiệm phở, ông nghe người địa phương thầm thì “giáo sư mà cũng ăn phở”. Nên nhớ là Mỹ Tho là một tỉnh nhỏ và hồi giữa thập niên 1950, bằng tú tài là to lắm rồi trong khi các vị giáo sư này lại là giám khảo chấm thi tú tài lận!

Tạm thời kết luận

Bài này bắt đầu được viết vào lúc những tin tức về những tệ hại trong nền giáo dục ở nước Việt Nam chiếm một phần không nhỏ trong sinh hoạt truyền thông quốc tế cũng như quốc nội. Ngoài những tin tức, những bài nhận định còn có những hình ảnh của các kỳ thi đi kèm. Tất cả đã xảy ra hàng ngày và đã chiếm những phần không nhỏ trong thời lượng phát thanh hay phát hình hay trên các trang báo, đặc biệt là vào những thời kỳ bãi trường hay khởi đầu của một niên học. Mọi chuyện đã liên tiếp xảy ra từ nhiều năm trước và người xem, người nghe có thể đoán trước và chờ đợi mỗi khi mùa hè và sau đó là mùa thu đến. Nhiều người còn dùng hai chữ phá sản để hình dung tương lai của nền giáo dục này và nhiều người khác còn tỏ ý nuối tiếc quá khứ mà họ cho là rất đẹp của nền giáo dục ở miền Nam thời trước năm 1975. Ở đây, như đã nói trong phần mở đầu, người viết chỉ vắn tắt ghi nhận một số những dữ kiện căn bản liên hệ tới nền giáo dục ở Miền Nam thời truớc năm 1975. Một công trình nghiên cứu qui mô hơn và kỹ càng hơn còn cần phải được thực hiện trước khi người ta có thể khẳng định những nhận xét này. Tuy nhiên có một điều người ta phải để ý và thận trọng khi nói tới cách mạng và đặc biệt khi làm cách mạng. Người ta có thể xóa bỏ một chế độ chính trị bằng cách mạng, từ đó đoạn tuyệt với quá khứ nhưng người ta không thể theo đà đó mà làm cách mạng trong những phạm vi sinh hoạt khác trong đó có giáo dục một cách máy móc, không thận trọng. Nhận định này có thể bị coi là bảo thủ, nhưng đó là một sự thật và là một sự thật bắt đầu bằng kinh nghiệm. Có điều vì bằng kinh nghiệm nên khi biết được là sai lầm thì đã quá muộn. Những gì thuộc về quá khứ, kể cả quá khứ bị coi là phong kiến, lạc hậu không phải là luôn luôn tệ hại, là cổ hủ và những gì được coi là canh tân, đổi mới không phải luôn luôn là tốt đẹp. Tất cả cần phải có thời gian để “gạn đục, khơi trong”. Duy có một điều không bao giờ thay đổi là khi giáo dục không còn được coi là một giá trị và khi các thày cô không còn được coi trọng thì xã hội sẽ không còn là xã hội của loài người nữa.Image result for KÝ ỨC VỀ NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG THỜI TIỂU HỌC Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975 - Phan Văn Phước"Đối với các nhà giáo, còn có một câu hỏi là nghiệp đoàn giáo chức của họ ở đâu? Tự hỏi nhưng ai cũng biết là ở Việt Nam hiện tại làm gì có nghiệp đoàn vì các luật về lập hội, lập nghiệp đoàn, biểu tình vẫn chưa được Quốc Hội đem ra thảo luận. Tưởng cũng nên nhớ là ngay từ thời Vua Bảo Đại, qua Chính Phủ Trần trọng Kim, các đạo Dụ về tự do hội họp, tự do lập hội, tự do lập nghiệp đoàn đã được ban hành ngay từ Tháng Bảy năm 1945. Tất cả đã xảy ra trong một tuần lễ đầu tháng Bảy khiến cho báo chí đương thời đã mệnh danh tuần lễ này là Tuần Lễ Của Các Tự Do. Nhưng chỉ chưa tới ba tuần lễ sau ngày tuyên bố nền độc lập và thành lập Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh ngày 22 tháng 9 năm 1945, bãi bỏ các nghiệp đoàn trên toàn cõi Việt Nam. Đồng thời Bộ Trưởng Nội Vụ Võ Nguyên Giáp đã ký nghị định giải tán Hội Khai Trí Tiến Đức và cho Hội Văn Hóa Cứu Quốc tư cách pháp nhân. Trong khi đó, ở các nước tiền tiến, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, các nghiệp đoàn giáo chức rất mạnh và được phía chính quyền kính nể. Tương lai của các giáo chức Việt Nam, nói riêng, và nền giáo dục Việt Nam, nói chung, quả thật không có gì sáng sủa. Giáo sư Tiến sĩ Phạm Cao Dương
Quận Cam Hoa Kỳ Mùa Lễ Tạ Ơn 2016 

*******

KÝ ỨC VỀ NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG THỜI TIỂU HỌC

Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

 Phan Văn Phước

 Dân miền Nam, những ai bây giờ chừng 55 tuổi trở lên, chắc đều nhớ rõ cách tổ chức độc đáo ở các lớp bậc tiểu học cách đây hơn bốn thập niên. Hồi đó, cách gọi tên các lớp học ngược lại với bây giờ, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ. Lớp Năm là lớp Một ngày nay, rồi đến lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, trên cùng là lớp Nhứt. Lớp Năm, tức là lớp thấp nhất, thường do các thầy cô giỏi nhất hoặc cao niên, dồi dào kinh nghiệm nhất phụ trách.

Sở dĩ như vậy là vì bậc học này được xem là vô cùng quan trọng, dạy học trò từ chỗ chưa biết gì đến chỗ biết đọc, biết viết, biết những kiến thức cơ bản đầu tiên, nghĩa là biến từ chỗ không có gì đến chỗ bắt đầu có.Ký ức về những bài học thuộc lòng thời Tiểu họcHọc trò, không phân biệt giàu nghèo, khi đến lớp chỉ được dùng một thứ bút duy nhất, là bút ngòi lá tre. Gọi là lá tre bởi vì bút có cái ngòi có thể tháo rời ra được, giống hình lá tre nho nhỏ, khi viết thì chấm vào bình mực. Bình mực, thường là mực tím, có một cái khoen nơi nắp để móc vào ngón tay cho tiện. Thân bình bên trong gắn liền với một ống nhựa hình phễu dưới nhỏ trên to để mực khỏi sánh ra theo nhịp bước của học trò. Khi vào lớp thì học trò đặt bình mực vào một cái lỗ tròn vừa vặn khoét sẵn trên bàn học cho khỏi ngã đổ. Bút bi thời đó đã có, gọi là bút nguyên tử, là thứ đầy ma lực hấp dẫn đối với học trò ngày ấy, nhưng bị triệt để cấm dùng.Các thầy cô quan niệm rằng rèn chữ là rèn người, nên nếu cho phép học trò lớp nhỏ sử dụng bút bi sớm, thì sợ khi lớn lên, chúng sẽ dễ sinh ra lười biếng và cẩu thả trong tính cách chăng. Mỗi lớp học chỉ có một thầy hoặc một cô duy nhất phụ trách tất cả các môn.Thầy gọi trò bằng con, và trò cũng xưng con chứ không xưng em với thầy. Về việc dạy dỗ, không thầy nào dạy giống thầy nào, nhưng mục tiêu kiến thức sau khi học xong các cấp lớp phải bảo đảm như nhau. Thí dụ như học xong lớp Năm thì phải đọc thông viết thạo, nắm vững hai phép toán cộng, trừ, lớp Tư thì bắt đầu tập làm văn, thuộc bảng cửu chương để làm các bài toán nhân, chia… Sách giáo khoa cũng không nhất thiết phải thống nhất, nên không có lớp học giống lớp nào về nội dung cụ thể từng bài giảng.Ký ức về những bài học thuộc lòng thời Tiểu họcCứ mỗi năm lại có các ban tu thư, có thể là do tư nhân tổ chức, soạn ra những sách giáo khoa mới giấy trắng tinh, rồi đem phân phối khắp các nhà sách lớn nhỏ từ thành thị cho chí nông thôn. Các thầy cô được trọn quyền lựa chọn các sách giáo khoa ấy để làm tài liệu giảng dạy, miễn sao hợp với nội dung chung của Bộ Giáo dục là được.Tuyệt nhiên không thấy có chuyện dạy thêm, học thêm ở bậc học này nên khi mùa hè đến, học trò cứ vui chơi thoải mái suốt cả mấy tháng dài. Các môn học ngày trước đại khái cũng giống như bây giờ, chỉ có các bài học thuộc lòng trong sách Việt Văn, theo tôi, là ấn tượng hơn nhiều.Đó là những bài thơ, những bài văn vần dễ nhớ nhưng rất sâu sắc về tình cảm gia đình, tình yêu thương loài vật, tình cảm bạn bè, tình nhân loại, đặc biệt là lòng tự tôn dân tộc ViệtTôi còn nhớ rõ trong sách Tân Việt Văn lớp Năm có bài học thuộc lòng thật hay về bóng đá mà hồi đó gọi bằng một từ rất hoa mỹ, là túc cầu:TRẬN CẦU QUỐC TẾ
 
Chiều chưa ngã, nắng còn gay gắt lắm
Hai đội cầu hăng hái tiến ra sân
Tiếng hoan hô thêm dũng mãnh bội phần
Để cổ võ cho trận cầu quốc tế.
Đoàn tuyển thủ nước nhà hơi nhỏ bé
Nếu so cùng cầu tướng ở phương xa
Còi xuất quân vừa lanh lảnh ban ra
Thì trận đấu đã vô cùng sôi nổi.
Tiền đạo ta như sóng cồn tiến tới
Khi tạt ngang, khi nhồi bóng, làm bàn
Khiến đối phương thành rối loạn, hoang mang
Hậu vệ yếu phải lui về thế thủ
Thiếu bình tỉnh, một vài người chơi dữ
Nên trọng tài cảnh cáo đuổi ra sân
Quả bóng da lăn lộn biết bao lần
Hết hai hiệp và… đội nhà đã thắng
Ta tuy bé nhưng đồng lòng cố gắng
Biết nêu cao gương đoàn kết đấu tranh
Khi giao banh, khi phá lưới, hãm thành
Nên đoạt giải dù địch to gấp bội…Bài học thuộc lòng này, về sau tôi được biết, lấy cảm hứng từ chiếc cúp vô địch đầu tiên và duy nhất cho đến bây giờ của Việt Nam tại Đông Á Vận Hội trên sân Merdeka của Malaysia vào cuối thập niên 50, với những tên tuổi vang bóng một thời như Tam Lang, Ngôn, Cù Sinh, Vinh “đầu sói”, Cù Hè, Rạng “tay nhựa”… Tuy không biết chơi bóng đá, nhưng thằng bé là tôi lúc đó rất thích bài học thuộc lòng này nên tự nhiên… thuộc lòng luôn.Càng đọc càng ngẫm nghĩ, đây đâu phải là bài thơ chỉ nói về bóng đá mà thôi. Nó là bài học đoàn kết của một dân tộc tuy nhỏ bé nhưng gan lỳ, bất khuất khiến cho cả thế giới phải ngước nhìn bằng đôi mắt khâm phục. Bạn thấy lạ lùng chưa, chỉ một bài thơ ngắn nói về một thứ trò chơi thôi, mà lại chứa đựng biết bao nhiêu điều vĩ đại mà những lời đao to búa lớn ồn ào chắc chi đã làm được.Ký ức về những bài học thuộc lòng thời Tiểu học
 
Nói về môn Lịch sử, hồi đó gọi là Quốc sử, đã có sẵn một bài học thuộc lòng khác:
 
GIỜ QUỐC SỬ
 
Những buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng khắp trong giờ Quốc sử.
Thầy tôi bảo:
“Các con nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thưở trước của giang san,
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
Các con nên đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này mong nối chí tiền nhân.
Ta tin rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân tộc Việt vẫn là dân hùng liệt.
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam.
Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm,
Đầy chiến thắng, vinh quang và hạnh phúc.”Hình ảnh ông thầy dạy Sử trong bài học thuộc lòng hiện lên, nghiêm nghị nhưng lại thân thương quá chừng, và bài Sử của thầy, tuy không nói về một trận đánh, một chiến công hay một sự kiện quá khứ hào hùng nào, nhưng lại có sức lay động mãnh liệt với đám học trò chúng tôi ngày ấy, đến nỗi mấy chục năm sau chúng tôi vẫn nhớ như in.Lại có bài song thất lục bát về ông thầy dạy Địa lý, không nhớ tác giả là ai, nhưng chắc chắn tựa đề là “Tập vẽ bản đồ”, phía lề trái còn in cả hình vẽ minh họa của Quần đảo Trường Sa và Hoàng sa:Hôm qua tập vẽ bản đồ,
Thầy em lên bảng kẻ ô rõ ràng.
Ranh giới vẽ phấn vàng dễ kiếm,
Từ Nam Quan cho đến Cà Mau.
Từng nơi, thầy thuộc làu làu,
Đây sen Đồng Tháp, đây cầu Hiền Lương.
Biển Đông Hải, trùng dương xanh thẳm,
Núi cheo leo thầy chấm màu nâu.
Tay đưa mềm mại đến đâu,
Sông xanh uốn khúc, rừng sâu chập chùng…
Rồi với giọng trầm hùng, thầy giảng:
“Giống Rồng Tiên chói rạng núi rừng,
Trải bao thăng giáng, phế hưng,
Đem giòng máu thắm, bón từng gốc cây.
Làn không khí giờ đây ta thở,
Đường ta đi, nhà ở nơi này,
Tổ tiên từng chịu đắng cay,
Mới lưu truyền lại đêm ngày cho ta.
Là con cháu muôn nhà gìn giữ,
Đùm bọc nhau, sinh tử cùng nhau.
Tóc thầy hai thứ từ lâu,
Mà tài chưa đủ làm giàu núi sông !
Nay chỉ biết ra công dạy dỗ,
Đàn trẻ thơ mong ở ngày mai.
Bao nhiêu hy vọng lâu dài,
Dồn vào tất cả trí tài các con …”Giờ đây, mấy chục năm đã trôi qua, tóc trên đầu tôi cũng bắt đầu hai thứ như ông thầy già dạy Địa trong bài học thuộc lòng ngày ấy, nhưng có một điều mà tôi nghĩ mãi vẫn chưa ra. Ông thầy đang dạy Địa, hay ông thầy đang âm thầm truyền thụ lòng yêu nước, lòng tự tôn dân tộc cho đàn trẻ thơ qua mấy nét vẽ bản đồ?Lời của thầy thật là nhẹ nhàng, khiêm tốn nhưng cũng thật là tha thiết, chạm vào được chỗ thiêng liêng nhất trong tâm hồn những đứa trẻ ngây thơ vào những ngày đầu tiên cắp sách đến trường, nơi chúng được dạy rằng ngoài ngôi nhà nhỏ bé của mình với ông bà, cha mẹ, anh em ruột thịt, chúng còn có một ngôi nhà nữa, rộng lớn hơn nhiều, nguy nga tráng lệ, thiêng liêng vĩ đại hơn nhiều, một ngôi nhà mà chúng phải thương yêu và có bổn phận phải vun đắp: Tổ quốc Việt Nam. 
 
 
Phan Văn Phước
Ngày 2 tháng 3, 2016
 

  *************
Thế hệ những người sinh vào thập niên 1940 tại miền Nam nay còn không ít, cũng không nhiều. Số người không còn phần vì tuổi tác, bệnh tật, phần vì đã trải qua nhiều thăng trầm dâu bể của những năm trước và sau 30-4-1975: chiến trận, tù đày, những cuộc vượt biển kinh hoàng…, số người còn trụ lại kẻ thì sống tha hương trên xứ người, người ở lại Việt Nam thì phần đông cũng lang thang bên lề cuộc sống, tuổi tác chất chồng, sống bằng ký ức hơn là những dự phóng tương lai.Trong tay không còn bao nhiêu tư liệu chính thức về một thời kỳ giáo dục đã trải qua năm, sáu mươi năm, chỉ còn một mớ ký ức sót lại trong đầu, hy vọng rằng những bạn đọc là chứng nhân của thời kỳ này sẵn lòng bổ khuyết, đính chính cho những sai sót của một bộ nhớ đã trải qua nhiều thử thách của thời gian và thời cuộc. Bởi vậy mà mấy bài viết này có tên là “Ký ức vụn”, không mang ý nghĩa một biên khảo, mà chỉ nhằm giúp người đọc có chút ý niệm tổng quát về một nền học đã mai một từ hơn nửa thế kỷ đã qua.
Học viện Quốc gia Hành chánh được xây mới năm 1962.

CHUYỆN HỌC

Sơ lược việc học trước thời Đệ Nhất Cộng Hòa

Những năm trước năm 1954, không thấy có chương trình giáo dục mầm non dành cho lứa tuổi dưới 6. Thường một đứa bé đến 6 tuổi, thậm chí 7-8 tuổi hay hơn nữa, mới được cha mẹ cho đi học lớp đầu đời là lớp năm, bậc tiểu học. Trước thời Đệ nhất Cộng hòa, hệ thống giáo dục tại Việt Nam cũng có ba bậc học chính là Tiểu học, Trung học và Đại học, song ở hai bậc học đầu, mỗi bậc lại chia thành hai cấp. Ở bậc Tiểu học, lớp khởi đầu là lớp Năm hay lớp Đồng ấu (Cours Enfantin), kế đến là lớp Tư hay lớp Dự bị (Cours Préparatoire), lớp Ba hay lớp Sơ đẳng (Cours Elémentaire). Cả ba lớp này thuộc cấp Sơ học, học xong, học sinh thi lấy bằng Sơ học Yếu lược (Primaire Elémentaire).miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòaSau cấp Sơ học là cấp Tiểu học gồm ba lớp: lớp Nhì một năm (Cours Moyen de 1ère Année), lớp Nhì hai năm (Cours Moyen de 2è Année), và lớp Nhất (Cours Supérieur). Xong lớp Nhất, học sinh thi lấy bằng Tiểu học (Certificat D’Etude Primaire Complémentaire Indochinois, viết tắt là C.E.P.C.I), ai thi đỗ mới được học lên bậc Trung học. Thời đó, có bằng CEPCI đã đủ tự hào với làng trên xóm dưới rồi, “trâm” tiếng Tây với Tây đủ để trẻ em trong làng khiếp sợ. Thời kỳ trước Đệ nhất Cộng hòa, học sinh đỗ Tiểu học xong không vào ngay lớp Đệ nhất niên mà còn phải trải qua một lớp trung gian là lớp Tiếp liên (Cours Certifié), hết năm này mới vào lớp Đệ nhất niên của bậc Trung học. Thời Pháp thuộc, bậc học này cũng chia làm hai cấp: Cao đẳng Tiểu học và Trung học. Bốn năm Cao đẳng Tiểu học gồm các lớp: Đệ nhất niên, Đệ nhị niên, Đệ tam niên và Đệ tứ niên. Học xong bậc này, học sinh thi lấy bằng Thành Chung (Diplôme d’Étude Primaire Supérieur Franco-Indigène), người Việt bình dân lúc bấy giờ vẫn quen gọi là “bằng Đít-lôm”.miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòaSau bằng Thành chung, học sinh học lên bậc Tú tài. Kể từ cuối thập niên 1920, chương trình thi bậc Tú tài đã được Nha Học chính Đông Pháp qui định, gồm hai kỳ thi cách nhau một năm, kỳ thi lấy bằng Tú tài I hay Tú tài bán phần (Baccalauréat Première Partie) và kỳ thi Tú tài II hay Tú tài toàn phần (Baccalauréat Deuxième Partie, gọi tắt là BAC). Người dự thi Tú tài toàn phần bắt buộc phải có bằng Tú tài bán phần.

Việc học thời Đệ Nhất Cộng Hòa

Chương trình Tiểu học thời Đệ nhất Cộng hòa không còn kéo dài sáu năm như trước đó, vẫn là các lớp Năm, Tư, Ba, Nhì, Nhất, song không còn kỳ thi Sơ học Yếu lược và không còn hình thức lớp Nhì một năm và lớp Nhì hai năm nữa. Sau khi học xong chương trình lớp nhất, học sinh tham dự kỳ thi Tiểu học.Vào đầu thập niên 1950, khi vào lớp Tư, học sinh đã bắt đầu được dạy tiếng Pháp, chương trình thi các năm 1954-1955 còn có bài ám tả tiếng Pháp (sau này là chính tả, dictée française), song chỉ có tính nhiệm ý, không bắt buộc. Thời Đệ nhất Cộng hòa, các lớp từ Đệ nhất niên đến Đệ tứ niên được đổi tên lần lượt thành các lớp Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ và Đệ tứ; bậc Cao đẳng Tiểu học được đổi thành bậc Trung học Đệ nhất cấp. Tại bậc học này, học sinh lớp Đệ thất được dạy sinh ngữ hai là Anh ngữ. Như vậy, gần như không có một sự chọn lựa nào từ phía người học, do Pháp ngữ được học từ bậc Tiểu học và Anh ngữ được học từ bậc Trung học nên mặc nhiên trong học và thi, Pháp ngữ là sinh ngữ 1 (điểm thi có hệ số 3), Anh ngữ là sinh ngữ 2 (điểm thi có hệ số 2). Sau khi học xong lớp Đệ tứ, học sinh thi lấy bằng Trung học Đệ nhất cấp thay cho bằng Thành chung. Bậc Tú tài thời Đệ nhất Cộng hòa được gọi là Trung học Đệ nhị cấp, gồm ba lớp: Đệ tam, Đệ nhị và Đệ nhất.miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòaBước vào lớp Đệ tam, học sinh chọn một trong 4 ban:
  • Ban A – Các môn học chủ yếu là Lý Hóa – Vạn vật (nay là Sinh vật), các môn khác là môn phụ
  • Ban B – Các môn học chủ yếu là Toán – Lý – Hóa
  • Ban C – Còn gọi là Ban Văn chương – Sinh ngữ, các môn học chủ yếu là Văn-Triết học (riêng cho lớp Đệ nhất); Sử Địa-Anh Pháp
  • Ban D – Còn gọi là ban Cổ ngữ, các môn học chủ yếu là Văn – Hán ngữ hay La tinh ngữ.
Về trường học, thời Đệ nhất Cộng hòa, số trường tư chiếm tỉ số áp đảo. Thường mỗi tỉnh có một trường trung học công lập chính nằm ở tỉnh lỵ, ví dụ ở Gia Định có trường Hồ Ngọc Cẩn, ở Định Tường có trường Nguyễn Đình Chiểu, ở Cần Thơ có trường Phan Thanh Giản, ở Bình Định-Qui Nhơn có trường Cường Đễ… Các trường này dạy đến hết bậc Trung học Đệ nhị cấp. Ở mỗi quận trong các tỉnh lớn, có một trường Tiểu học công lập và/hoặc trường Trung học Đệ nhất cấp.Hệ thống các trường trung học thời Đệ nhất Cộng hòa phát triển nhanh do sự tăng đột biến gần một triệu người di cư từ bắc vào nam, khiến số học sinh tăng nhanh. Tại Sài Gòn – Gia Định những năm sau 1954, ngoài mấy trường trung học công lập cố cựu có từ thời Pháp thuộc như Pétrus Trương Vĩnh Ký, Gia Long…, một số trường công lập lớn (đến lớp Đệ nhất) được di từ miền bắc vào hoặc chủ yếu dành cho con em người di cư như Chu Văn An (dành riêng cho nam), Trưng Vương (dành riêng cho nữ), Hồ Ngọc Cẩn (dành riêng cho nam), Trần Lục (dành cho nam, đến bậc Trung học Đệ nhất cấp)… Vào thời kỳ này, do các trường công lập không đáp ứng được hết yêu cầu của khối lượng học sinh tăng cao, một hệ thống trường tư thục hình thành và phát triển rất nhanh tại Sài Gòn – Gia Định. Có thể kể một số trường có tiếng tại khu vực quận Nhất và quận Ba (cả mới lẫn cũ) như Tân Thanh, Tân Thịnh, Vạn Hạnh, Việt Nam Học Đường, Huỳnh Thị Ngà, Huỳnh Khương Ninh, Vương Gia Cần, Lê Bá Cang, Trường Sơn, Nguyễn Bá Tòng, Bùi Chu, Hưng Đạo… với một đội ngũ giáo sư tư thục hùng hậu, không ít người xuất thân từ giới văn chương.miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòaBên cạnh những trường dạy thuần túy chương trình Việt do chính quyền hay tư nhân quản lý, còn một số trường được thành lập từ thời Pháp thuộc dạy chủ yếu bằng tiếng Pháp, hoạt động song hành với các trường Việt, tiêu biểu là trường Chasseloup-Laubat, sau đổi thành Jean Jacques Rousseau (nay là Lê Quý Đôn), dành cho nam sinh (cố quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk [1922-2012] từng theo học trường này); trường Marie Curie dành cho nữ sinh; trường Taberd…Ở bậc Đại học, thời Đệ nhất Cộng hòa, chỉ có hai viện Đại học công lập chính là Viện Đại học Sài Gòn và Viện Đại học Huế với một quy mô nhỏ hơn. Đại học tư có Viện Đại học Đà Lạt của giáo hội Công giáo với hoạt động không đáng kể. Viện Đại học Sài Gòn bao gồm nhiều phân khoa khác nhau: như Đại học Khoa học (Khoa học Đại học đường), Đại học Kiến trúc, Đại học Luật khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa, Đại học Y khoa, Đại học Dược khoa, Đại học Nha khoa. Ở cấp đại học, ngoài các phân khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn, còn có Học viện Quốc gia Hành chánh trực thuộc Phủ Tổng thống (đại diện là Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống), chuyên đào tạo các viên chức hành chánh trung cao cấp, và Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (Phú Thọ) đào tạo các kỹ sư công chánh, điện lực, hàng hải… Viện Đại học Huế có một quy mô
hoạt động nhỏ hơn với bốn phân khoa: Khoa học, Văn khoa, Luật khoa, và Sư phạm.
 
Image result for KÝ ỨC VỀ NHỮNG BÀI HỌC THUỘC LÒNG THỜI TIỂU HỌC Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975 - Phan Văn Phước"
Thời đó, các Viện trưởng Đại học và Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh được xếp ngang Thứ trưởng một bộ. Ngoài những trường đào tạo công chức chính ngạch như Đại học Sư phạm, Học viện Quốc gia Hành chánh, phải thi tuyển vào và sinh viên được hưởng một khoản học bổng đáng kể hàng tháng, hầu hết các phân khoa Đại học khác đều theo thể thức ghi danh, các sinh viên không phải thi tuyển vào, chỉ ghi danh nhập học và không phải đóng một khoản học phí nào trong suốt các năm học. Một chuyện vui vui xảy ra tại trường Đại học Văn khoa Sài gòn những năm 1959 – 1963: học sinh ghi danh vào lớp Dự bị quá đông, không đủ ghế ngồi, nhiều người phải ngồi cả dưới đất. Vì thế, trước giờ phòng học mở cửa, sinh viên tụ tập đông đảo phía trước, khi cửa mở, mọi người ném sách, tập tá lả vào trong, sách tập ai nằm trên ghế-bàn nào thì người đó được vào ngồi nơi đó (ghế ngồi học gắn kèm mặt bàn kéo ra phía trước để viết, rất gọn). Thỏa thuận bất thành văn này được tôn trọng triệt để, không thấy ai đôi co với ai bao giờ. Sau khi lấy xong chứng chỉ dự bị, sinh viên chọn các chứng chỉ ưa thích hoặc phù hợp với năng lực riêng, chuyện chen chúc trong phòng học không còn nữa…

Lê Nguyễn

 Kim Phượng st & tổng hợp
 Image result for Chương trình giáo dục và sách giáo khoa thời Việt Nam Cộng Hòa" 
 
 
 
Xem thêm...

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và những dư âm để lại

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý

và những dư âm để lại

► ◄ ►◄ ► ◄

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và những dư âm để lại Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý ra đi ở tuổi 94, thêm một lần tác phẩm "Dư âm" của ông được nhiều người nhắc đến như một ca khúc đáng nhớ nhất trong sự nghiệp âm nhạc mà ông theo đuổi, cống hiến.

  – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả của ca khúc nổi tiếng “Dư Âm” cách đây gần 70 năm, vừa qua đời tại nhà riêng ở Sài Gòn vào chiều 26 Tháng Mười Hai, 2019.

Báo Tuổi Trẻ dẫn nguồn tin từ gia đình nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cho biết, ông qua đời tại nhà riêng ở đường Trần Khắc Chân, quận 1, sau thời gian chống chọi với rất nhiều căn bệnh của tuổi già.

Tin cho biết, “10 giờ sáng ngày 27 Tháng Mười Hai, linh cữu ông sẽ được di quan ra nhà tang lễ thành phố. Lễ an táng ông vào sáng 29 Tháng Mười Hai tại nghĩa trang hoa viên Bình Dương, nơi có nhiều nghệ sĩ đang yên nghỉ như nhạc sĩ Phạm Duy, nhà văn Sơn Nam, soạn giả Viễn Châu, Giáo Sư Trần Văn Khê, nhà thơ Kiên Giang…”

Tiểu sử của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được báo Tuổi Trẻ cho biết, “Ông sinh ngày 5 Tháng Ba, 1925 tại Vinh, Nghệ An, quê gốc ở Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cha của ông là “trùm một phường bát âm của miền quê Vĩnh Phú thạo cả hát văn, hát chèo và hát ả đào,” sau vào làm thợ máy nhà máy xe lửa Trường Thi ở Nghệ An…”

“… Từ năm 1944, ông đi hát trong phòng trà ở Vinh kiếm sống. Năm 1945, Nguyễn Văn Tý tham gia phong trào Việt Minh, sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh Niên Cứu Quốc Nghệ An.”

“Theo lời của Nguyễn Văn Tý, ông bắt đầu sáng tác vào năm 1947 khi là trưởng Phòng thông tin tuyên truyền huyện Thanh Chương, nhưng ông coi tác phẩm đầu tay của mình là bài ‘Ai Xây Chiến Lũy’ được viết 1949.”

“… Bản Dư Âm nổi tiếng được ông sáng tác khoảng 1950 sau một lần về chơi nhà bạn ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Dư Âm viết về cô em gái của người bạn đó.”

Đến 1951, Nguyễn Văn Tý ra khỏi quân đội và chuyển về công tác ở Chi Hội Văn Nghệ Liên Khu IV. Năm 1952, ông quen biết với bà Nguyễn Thị Bạch Lệ, em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, và sau đó hai người thành hôn. Thời gian này ông sáng tác những bài như: Vượt Trùng Dương (1952), Tiếng Hát Dôi-a (1953) và ca khúc nổi tiếng Mẹ Yêu Con (1956).

Cuối năm 1957, Nguyễn Văn Tý cùng với Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao được chỉ định thành lập Hội Nhạc Sĩ (miền Bắc) Việt Nam.”

Vẫn theo báo Tuổi Trẻ, “ông đã để lại nhiều tác phẩm âm nhạc nổi tiếng như: Dư Âm, Dáng Đứng Bến Tre, Mẹ Yêu Con, Tấm Áo Chiến Sĩ Mẹ Vá Năm Xưa, Một Khúc Tâm Tình của người Hà Tĩnh, Người Đi Xây Hồ Kẻ Gỗ…”

Những năm tháng cuối đời, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sống cô đơn và khốn khó tại Sài Gòn. Theo lời ca sĩ Ánh Tuyết, ông “sống bằng lương hưu, phụ cấp hoạt động trước cách mạng, rồi tiền tác quyền chừng hơn 1 triệu/tháng, tất cả là hơn 4 triệu đồng mỗi tháng không đủ để ông sinh hoạt tằn tiện thuốc men, chưa kể trả lương đỡ đần việc nhà cho cô cháu gái của người vợ đã khuất.”

Vẫn theo ca sĩ Ánh Tuyết, hai cô con gái của nhạc sĩ “thì một người sinh sống ở Hà Nội, cô út ở Sài Gòn thì cũng gần đây nhưng chính nhạc sĩ không muốn về sống cùng vì biết hoàn cảnh của các con cũng khó khăn.” (KN)

Image result for dư âm nguyễn văn tý"

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý - tác giả ca khúc 'Dư âm' qua đời ở tuổi 94

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý ra đi ở tuổi 94 tại nhà riêng ở TP.Sài Gòn tối 26.12.2019. Tin buồn được báo chí trong và ngoài nước đồng loạt đăng lên trang nhất trên các phiên bản báo điện tử bằng các dòng tít rất trân trọng như Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý – tác giả của ca khúc nổi tiếng “Dư âm” qua đời ở tuổi 94, Vĩnh biệt nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả "Dư âm", Nguyễn Văn Tý - nhạc sĩ của tình khúc bất hủ Dư âm - qua đời ở tuổi 94​...

Nghe tin nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý mất, người yêu âm nhạc đã bày tỏ niềm thương ông bằng cách chia sẻ lên mạng xã hội những câu chuyện về cuộc đời, sự nghiệp âm nhạc của ông trong quá khứ, trong đó không ai không nhắc tới Dư âm – ca khúc làm nên tên tuổi Nguyễn Văn Tý từ những năm 50 thế kỷ trước.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và tác phẩm nổi tiếng Dư âm - Ảnh: Tư liệu

Di sản âm nhạc ông để lại cho hậu thế là hàng loạt ca khúc đi vào lòng nhiều thế hệ người yêu nhạc. Tác phẩm của ông rất đa dạng về thể loại, từ những bản tình ca lãng mạn dạt dào cảm xúc như Dư âm, cho đến những ca khúc xây dựng trên chất liệu dân ca Bắc Bộ gần gũi yêu thương, trào dâng cảm xúc như Mẹ yêu con, Tiễn anh lên đường, Bài ca năm tấn, Tấm áo chiến sĩ mẹ vá năm xưa, Cô nuôi dạy trẻ. Âm hưởng dân ca Bắc Trung Bộ thì có Người đi xây hồ Kẻ Gỗ , Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh... Âm hưởng dân ca Nam Bộ có Dáng đứng Bến Tre... Rồi đến những bản nhạc hừng hực khí thế chiến đấu, thúc giục tinh thần yêu nước như Múa hát mừng chiến công, Bài ca phụ nữ Việt Nam, Vượt trùng dương...

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý - Ảnh:Tư liệu

Trong tất cả những ca khúc kể trên của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý có thể nói Dư âm là bài đặc biệt nhất. Dư âm khiến cho người yêu nhạc say đắm với giai điệu nhẹ xao xuyến về câu chuyện tình lãng mạn thuần khiết của chàng trai trẻ mơ về cô gái ôm đàn ngồi hát dưới trăng…Điều đặc biệt của Dư âm còn là bối cảnh ra đời và số phận của bài hát. Chuyện kể rằng sau khi ra đời vào năm 1950, bài hát Dư âm của nhạc Nguyễn Văn Tý bị cấm hát ở miền Bắc trong nhiều năm trời. Trái lại ở miền Nam ca khúc được phổ biến rộng rãi, nhiều ca sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn thời bấy giờ như Elvis’ Phương, Vũ Khanh, Tuấn Ngọc... biểu diễn.

Dư âm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý xuất bản tại miền Nam trước 1975

Sinh thời, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý kể lại “đoạn trường” của bài hát: “Hồi đó, tình ca không được phép phổ biến vì e làm nao núng tinh thần chiến sĩ nhưng lớp trẻ vẫn chuyền nhau bài Dư âm, học thuộc và hát với nhau. Dư âm nổi tiếng ngay tuy nhiên cũng vì thế, mà tôi bị đoàn đưa ra phê bình và không những bị kiểm thảo, kỷ luật, tôi còn phải đi khắp nơi để nói chuyện “bài xích” chính bài hát của mình. Tôi có đi nhưng nói tới đâu, người ta lại cười đến đó”.

Từ một chàng trai đi hát phòng trà, Nguyễn Văn Tý rồi trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng. Qua thời đỉnh cao của sự nghiệp, ông về hưu và sinh sống tại TP Sài Gòn. Là nghệ sĩ nhưng Nguyễn Văn Tý cũng là người có cá tính đặc biệt. Trong những năm cuối đời, tuổi già bệnh tật khiến ông trở nên khó tính, ông hay tủi thân thường than thở về sự thiếu quan tâm của những người con trong gia đình. Năm 2017, người mến mộ nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý xôn xao khi nghe báo chí thông tin ông sống cô đơn và túng thiếu ở trong căn nhà nhỏ ở đường Trần Khát Chân. Q.1, TP.Sài Gòn. Tuy nhiên sau đó mọi người mới vỡ lẽ ra đó chỉ là biểu hiện của “tuổi già đỏng đảnh”, lúc nhớ lúc quên của ông. Trên thực tế đời sống kinh tế của ông vẫn thong dong với suất lương hưu, các khoản trợ cấp người có công và tiền tác quyền cùng sự yêu thương chăm sóc của hai người con gái ruột.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý ra đi, để lại cho đời rất nhiều ca khúc nổi tiếng nhưng có lẽ Dư âm là ca khúc đáng nhớ nhất của ông, bởi nó được sáng tác bằng cảm xúc chân thành từ trái tim về mối tình rất đẹp nhưng không có đoạn kết của ông thời trai trẻ. Có lẽ chính vì những cảm xúc chân thành tha thiết đó nên dù năm tháng trôi qua, Dư âm vẫn xao xuyến, đong đưa trong hàng triệu trái tim người yêu nhạc:

“Dư âm tiếng hát reo lên trong lòng anh bao nhớ nhung
Đê mê lòng nhớ đêm qua giấc mơ môi em hé rung
Anh muốn thành mây nương nhờ làn gió
Đưa anh tới cõi mơ hồ nào đây muôn kiếp bên nàng…”.

Image result for dư âm nguyễn văn tý"

Hoàn cảnh ra đời của ca khúc Dư âm

Năm 1950, tôi đang làm Trưởng đoàn Văn công. Trong kỳ nghỉ phép, một người bạn thân rủ tôi về nhà anh ấy chơi tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Nhà anh bạn có hai người con gái: Chị 22, em 16, mà tôi hồi đó 26 tuổi. Hình như ý muốn của anh bạn là để tôi kết cô chị, cho thành anh em. Tôi gặp cô này và đôi lần trò chuyện nhưng chẳng thấy có cảm xúc gì. Một hôm, đang nói chuyện với cô ta, thì cô em đến tì cằm vào thành ghế chị ngồi, và nghiêng đầu nhìn tôi với đôi mắt đen tròn lay láy. Ôi! đôi mắt kỳ diệu hút hồn tôi …

Thấy tôi bỗng nhiên đờ đẫn, cô chị quay lại và ... đứng dậy bỏ đi, cô em sợ quá, cũng đi luôn. Sau đó, tôi bị gia đình này cấm liên lạc với cô em vì cô còn ít tuổi, so với tôi. Nhưng ... nhớ quá, tôi tới liều. Gia đình không cho vào nhà mà để tôi ngồi tại một góc sân.

Ngồi mãi … bất chợt thấy Hằng (tên cô em) xuất hiện với mái tóc xõa ngang vai, cô ấy vừa mới gội đầu, ra ngồi hong tóc ngoài thềm, cách tôi cái sân rộng. Cô ôm chiếc ghi ta, xoay lưng lại phía tôi, và bắt đầu gảy đàn… Cô hát khe khẽ những gì, tôi không rõ nhưng cho rằng đó là một phản ứng của cô chống lại khuôn phép gia đình và xã hội, đồng thời gửi cho tôi một thông điệp, cho nên tôi ghi nhận hình ảnh đó một cách trọn vẹn.

 Image result for dư âm nguyễn văn tý"

Tôi ra về, mang nặng trong lòng sự tan vỡ. Về đến đơn vị, đêm hôm ấy, khi mọi người đã ngủ, tôi thắp ngọn đèn dầu, ngồi trong tấm cót cuộn tròn, viết Dư âm, viết cho chính mình những điều không thể nói cùng ai, viết một mạch, không sửa chữ nào. Bản nhạc hoàn tất khi trời hừng sáng.

Hồi đó, tình ca không được phép phổ biến vì e làm nao núng tinh thần binh sĩ nhưng lớp trẻ vẫn chuyền nhau bài Dư âm, học thuộc và hát với nhau. Dư âm nổi tiếng ngay tuy nhiên cũng vì thế, mà tôi bị đoàn đưa ra phê bình và không những bị kiểm thảo, kỷ luật, tôi còn phải đi khắp nơi để nói chuyện “bài xích” chính bài hát của mình. Tôi có đi nhưng nói tới đâu, người ta lại cười đến đó.

Bài Dư âm bị cấm tại miền Bắc trong nhiều năm trời, chỉ miền Nam mới phổ biến rộng rãi. Cuối năm 1957, tôi được chỉ định làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam thì báo Nhân văn ra đời, rồi xảy ra vụ Nhân văn giai phẩm. Anh Lưu Hữu Phước khuyên tôi đi tránh. Tôi nghe theo và đi nghiên cứu dân ca.

Năm 1958, tức là tám năm sau cái đêm trăng ấy, có lần tình cờ tôi gặp lại Hằng nhưng lúc ấy, tôi đã lập gia đình nên phải đi nhanh qua mặt nàng, đi như chạy trốn. Đó là lần cuối cùng thấy nhau.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý

Nghe bài hát dư âm qua tiếng hát Elvis' Phương:

 

Tiểu Vũ

Kim Phượng st

Xem thêm...

Những bức ảnh đẹp đoạt giải năm 2019

Những bức ảnh đẹp đoạt giải năm 2019

✧✧✧

Những bức ảnh đẹp về thời tiết đoạt giải năm 2019

Những bức ảnh xuất sắc nhất mô tả thời tiết như vẻ đẹp tuyệt vời của bình minh mù sương, những cơn giông và trận bão choáng ngợp... đã chiến thắng trong cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 1.

Với bức ảnh “Above My Expectations” (Vượt hơn mọi kỳ vọng của tôi), nhiếp ảnh gia Gareth Mon Jones giành chiến thắng trong cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019. Năm nay, hơn 5.700 tác phẩm ảnh đã được gửi đến cuộc thi của Hiệp hội Khí tượng Hoàng gia Anh.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 2.

Với bức ảnh “The Power of Lightning” (Sức mạnh của sét), nhiếp ảnh gia Elena Salvai giành giải thưởng Cảm tình của khán giả và đoạt giả Nhì trong cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 3.

Nhiếp ảnh gia Brian Bayliss đoạt giải Ba trong cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019 với bức ảnh “Snow Rollers in Wiltshire” (Cuộn tuyết ở Wiltshire).

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 4.

Với bức ảnh “Spectacular lightning show over Trial Bay” (Màn trình diễn choáng ngợp của sét trên vịnh Trial), nhiếp ảnh gia trẻ tuổi Hugo Begg giành chiến thắng trong cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019, hạng mục dành cho các tay máy dưới 17 tuổi.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 5.

Với bức ảnh “Motorcycle caught in the snow” (Xe máy kẹt trong màn tuyết), nhiếp ảnh gia Ali Bagheri giành giải Nhì trong cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019, hạng mục dành cho các tay máy dưới 17 tuổi.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 6.

Với bức ảnh “Cinnamon rolls cloud” (Bánh quế bằng mây cuộn), nhiếp ảnh gia Bingyin lọt vào vòng chung kết trong cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 7.

Với bức ảnh “Flood” (Lụt), nhiếp ảnh gia Mohammad Hossein Moheimany lọt vào vòng chung kết của cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 8.

Với bức ảnh “In slow dance” (Điệu nhảy chậm), nhiếp ảnh gia Andrei Baskevich lọt vào vòng chung kết của cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 9.

Nhiếp ảnh gia Patrick Hochner lọt vào vòng chung kết của cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019 với bức ảnh “Pouring down” (Nước đổ).

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 10.

Với bức ảnh “Morning shadows, Scotney Castle” (Bóng mờ ban mai, lâu đài Scotney), nhiếp ảnh gia Chris Brown lọt vào vòng chung kết của cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 11.

Với bức ảnh “Rain in the City” (Mưa trong thành phố), nhiếp ảnh gia Christine Holt lọt vào vòng chung kết của cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 12.

Bức ảnh “White misty rainbow over the winter garden” (Cầu vồng sương mù trắng trên khu vườn mùa đông) của nhiếp ảnh gia Elena Belozorova lọt vào vòng chung kết của cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 13.

Bức ảnh “Barrier Rainstorm” (Bức tường mưa) của nhiếp ảnh gia

Brian Michael Denton lọt vào vòng chung kết.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 14.

Bức ảnh “The ship of stranded” (Con tàu mắc cạn) của

nhiếp ảnh gia Peng-Gang Fang lọt vào vòng chung kết.

Những bức ảnh đẹp nghẹt thở về thời tiết đoạt giải năm 2019 - Ảnh 15.

Với bức ảnh “Exploding Wave, Tynemouth UK” (Sóng cồn, Tynemouth, Anh), nhiếp ảnh gia Owen Humphreys lọt vào vòng chung kết của cuộc thi Weather Photographer of the Year 2019.

Giải Agora 2019:

Bốn bức ảnh Việt Nam lọt top 50 khoảnh khắc đẹp nhất thế giới

Giải thưởng ảnh Agora mới đây đã chọn ra những khoảnh khắc đẹp nhất thế giới năm 2019. Trong đó, bức ảnh mang tên "Song of Freedom" (Bài ca tự do) của nhiếp ảnh gia Michael Aboya (24 tuổi) đến từ Ghana đã đoạt giải "Bức ảnh đẹp nhất năm".

Tại giải ảnh này, Việt Nam vinh dự có 4 bức ảnh lọt top những khoảnh khắc đẹp nhất thế giới trong năm 2019. Trên hình là bức “Làm ruộng” chụp những thửa ruộng bậc thang ở miền bắc Việt Nam do tác giả Diep Van thực hiện

Bức ảnh thứ 2 nằm trong top này mang tên "Khi đàn trâu trở về" của tác giả Hoàng Quốc Vinh. Nhiếp ảnh gia này chụp cảnh đàn trâu đi tắm ở Pleiku

Ở Việt Nam, nén hương mang nhiều giá trị, ý nghĩa tâm linh thiêng liêng, bởi vậy bức ảnh "Làm hương" của tác giải Khánh Phan cũng là một khoảnh khắc đẹp trong năm 2019

“Trái tim trên biển cả”, bức ảnh chụp từ trên tầm cao ghi lại cảnh ngư dân thao tác với lưới đánh cá của tác giả Nguyen Phan Xuan là đại diện thứ 4 của Việt Nam được vinh danh trong sự kiện này

Cũng chiêm ngưỡng thêm 1 vài bức ảnh khác trong top 50 khoảnh khắc đẹp nhất năm 2019 này. Trên hình là bức ảnh "Color of lif" của nhiếp ảnh gia Pranab Basak chụp cảnh những người phụ nữ làng chài đang bắt cá tại Ấn Độ

Bức ảnh "Run and Run" chụp 3 nhà sư ở chùa Hsinbyume, Myanmar của tác giả Ling Ling

Bức ảnh chụp khoảnh khắc chim mẹ cho con ăn tại Myanmar

mang tên "Mother's Godness" được chụp bởi tác giả Phyo Moe

Bức ảnh chụp cảnh thiên nhiên hùng vĩ ở thác Tumpak Sewu,

Đông Java của nhiếp ảnh giả Jonathan Rogers

Bức ảnh lâu đài Neuschwanstein ở Đức mang tên "Dark Disney" của tác giả Tommi Matz

Bức ảnh "Inretrospect" chụp bởi Patricia Soon.

Trong ảnh là một người đàn ông cô đơn nhìn về phía chân trời ở Kobe, Nhật Bản

Cảnh cầu vồng kép được nhiếp ảnh gia Paal Lund chụp tại đảo Lotofen, Na Uy

Bức ảnh "Dancer" chụp vũ công ballet tại Hội trường Peace & Friendship,

thủ đô Athens, Hy Lạp của nhiếp ảnh gia Markellos Plakitsis

 

Kim Quy sưu tập

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này