Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1388)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (370)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Khôi Phục Đèn Lồng Trung Thu Cổ Truyền Việt Nam - Trịnh Bách

Khôi Phục Đèn Lồng Trung Thu Cổ Truyền Việt Nam

  Trịnh Bách

trung thu 1
Trung Thu Hà Nội 1932 (tạo sắc từ ảnh của Bảo tàng Quai Branly)
 
Từ bao thế kỷ nay Việt Nam vẫn luôn là nước độc nhất trên thế giới lấy ngày Rằm tháng Tám Âm lịch mỗi năm làm Tết Nhi Đồng. Các nước Đồng Văn sử dụng Âm lịch khác là Trung Hoa, Hàn Quốc và Nhật Bản chỉ xem dịp Rằm tháng Tám là lễ hội đoàn viên hoặc lễ hội lúa mới. Và Việt Nam cũng là nơi duy nhất có phong tục làm lồng đèn hình các con thú cho trẻ em trong dịp Tết Nhi Đồng, tức là Tết Trung Thu.
 
Tương truyền vào thời Đường bên Trung Hoa (Phan Kế Bính cho là vào thời Tống) có con cá chép thành tinh. Mỗi năm đến tối rằm tháng Tám con tinh cá vào kinh đô Tràng An bắt người dân để ăn thịt. Triều Đình nhà Đường nghĩ ra một kế là dạy cho dân Tràng An làm đèn lồng hình con cá chép bằng khung tre phết giấy hay vải lụa, để đêm Trung Thu thắp lên đem ra treo trước nhà hay để đi rước trong kinh thành. Con tinh cá thấy thế tưởng đồng loại đã làm việc ở những chỗ ấy rồi nên bỏ đi. Tục lệ này dần lan ra mọi nơi trong nước và thành lệ mỗi năm. Nước ta lúc bấy giờ hãy còn bị nội thuộc nhà Đường, cho nên có lẽ người mình đã tiếp thu phong tục làm đèn lồng hình con cá này từ giai đoạn đó.
 
Khi người Mông Cổ chiếm được nước Trung Hoa từ nhà Tống năm 1279, lúc đầu họ đã bãi bỏ nhiều lề lối cũ của người bản địa. Và có thể tục lệ làm đèn con cá chép của người Hoa cũng bị phế bỏ lúc đó. Trong khi đó Việt Nam vì đã ngăn cản được các cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông, cho nên chúng ta vẫn giữ được nền tự chủ và các phong tục cũ. Trong đó có việc làm đèn lồng Trung Thu.

trung thu 2Đèn con cá chép cổ truyền (Henri Oger 1908)

Rồi lần hồi người Việt đã phát triển thêm các loại đèn lồng hình thú hay hoa quả khác cho trẻ em, dựa trên cổ tích Trung Thu. Ví dụ như đèn con thỏ ngọc, hay đèn con thiềm thừ hý nguyệt. Theo di thảo của vua Lê Thánh Tôn thì thiềm thừ, tức con cóc 3 chân, là thủy tổ của các loài cóc, ếch. Và thiềm thừ đã sống trên cung Trăng từ nhiều vạn năm. Sau này người mình còn tạo ra các loại đèn con bướm, con gà, con tôm, con cua, quả đào, quả lựu, v.v., cho thêm phong phú.
 
Từ nhiều thế kỷ, trẻ em Việt Nam đã vui Tết Trung Thu của mình với những thứ đồ chơi độc đáo như con giống làm bằng bột và đèn lồng hình dạng các con thú. Đấy là những phong tục đẹp đẽ và độc đáo của riêng người Việt. Nhiều bảo tàng bên Pháp hiện vẫn còn giữ được những cái đèn Trung Thu và những con giống bột rất đẹp, tinh xảo; được làm cho Tết Nhi Đồng của Hà Nội từ những thập niên đầu thế kỷ 20.
 
Cho đến cuối thế kỷ 19 thì thú chơi lồng đèn Trung Thu ở miền Bắc Việt Nam, nhất là ở Hà Nội, đã thành rõ nếp lắm rồi. Theo các ảnh chụp cũng như tranh vẽ đèn Trung Thu ở Bắc Việt của các nhiếp ảnh gia và các nhà nghiên cứu người Pháp, thì từ những năm cuối thế kỷ 19 đèn Trung Thu cho trẻ em ở Hà Nội đã rất xúc tích, đa dạng. Mẫu mã đèn Trung Thu ở Sài Gòn dù ở thời điểm cực thịnh về sau này, nghĩa là cho đến giữa thập niên 1970, vẫn không thể so sánh với các đèn Trung Thu ngoài Bắc mấy thập kỷ trước đó được. 
 
trung thu 3
Đèn Trung Thu Sài Gòn 1966 (ảnh Douglas Ross)
 
Ngày xưa ở Bắc Bộ có nhiều nơi làm đèn Trung Thu cho trẻ em. Nhưng nổi trội nhất phải kể đến làng Báo Đáp ở Nam Trực, Nam Định. Người làng Báo Đáp làm đèn Trung Thu bài bản và quy mô hơn mọi nơi khác. Có thể nói là nếu Bát Tràng nổi tiếng với đồ gốm và Vạn Phúc nổi tiếng với vải lụa, thì Báo Đáp được biết đến là làng đèn Trung Thu.
 
trung thu 4
Đèn cá chép theo phong cách Báo Đáp (ảnh tư liệu)
 
Các biến động chính trị, lịch sử đã làm nghệ thuật làm lồng đèn Trung Thu cổ truyền quý báu của người mình gần như biến mất từ lâu ở miền Bắc. Nhưng thật may là rất nhiều người dân làng Báo Đáp di cư vào Sài Gòn hồi giữa thập niên 1950 đã tụ họp lại lập ra xóm Phú Bình, hiện ở quận Tân Phú, và tiếp tục nghề làm đèn cố hữu của họ. Tất cả đèn Trung Thu của Sài Gòn và các tỉnh miền Nam từ hơn nửa thế kỷ nay đều được sản xuất từ Phú Bình. Nhưng các loại đèn cầu kỳ, tinh xảo cổ xưa cũng đã bị thất truyền ở Sài Gòn từ vài ba chục năm nay.
 
Từ năm 2007 tôi đã bắt đầu mầy mò ở khu Phú Bình, là chỗ tôi vẫn được đưa đến mua đèn Trung Thu loại cao cấp từ hơn nửa thế kỷ trước khi còn bé, để cố gắng tìm nghệ nhân tâm huyết cho việc phục hồi lại nghệ thuật quý báu này. Thật ra mục đích đầu tiên của tôi chỉ là làm lại cái đèn con thỏ mà Trung Thu mỗi năm hồi đó tôi nhất định phải có, do cùng một nghệ nhân làm. Tôi quý cái đèn con thỏ đó đến nỗi đã vẽ nằm lòng lại từng chi tiết của nó, nhất là cách dán lông thỏ đặc biệt của người nghệ nhân già. Và con thỏ đó sẽ là mấu chốt để phục hồi lại các đèn Trung Thu đẳng cấp của Báo Đáp-Phú Bình cũ.
 trung thu 5
Đèn con thỏ Sài Gòn trước 1975 được tái tạo (ảnh tư liệu)

Nhưng chuyện không đơn giản. Ví dụ như cách đây khoảng tám năm, có lần tôi cố gắng chỉ cho một người làm lồng đèn cách dán lông thỏ giả vào những cái đèn tương đối còn chấp nhận được, nhưng là những lồng đèn có vẻ đẹp nhất trong phố lúc đó, của anh ta. Như một gợi ý cho anh ta về cách trang trí đèn lồng Trung Thu hồi xưa. Nhưng vì anh thợ không hứng thú lắm, cho nên không thành công. Hiện nay, những lồng đèn bán ở chợ lồng đèn Trung Thu quận 5 vẫn dán lông giả đủ màu sắc mà hoàn toàn không có một căn bản mỹ thuật nào. Và người ta cũng không hiểu mục đích dán lông như vậy để làm gì.

Lông thỏ để làm đèn Trung Thu được đặt hàng từ mùa hạ để lấy lông ngắn, không quá xù. Riêng lông bụng dài đẹp phải đặt mua ở Đà Lạt vào mùa Đông. Hồi đó chỉ có thỏ ta lông ngắn cho nên phải khó như vậy. Rồi người ta phải biết chỗ nào trên đèn dán lông lưng thỏ, chỗ nào dán lông bụng. Ngày nay vì ý thức đạo đức cho nên phải dùng lông thỏ giả. Nhưng dùng lông giả thì cũng phải biết cách tỉa lông sao cho giống lông lưng, lông bụng thỏ thật.
 
Mãi đến 2017 tôi mới có cơ duyên gặp được gia đình cụ quả phụ Nguyễn Trọng Văn ở Phú Bình. Gia đình Cụ Văn đã có truyền thống làm đèn Trung Thu từ nhiều đời ở làng Báo Đáp. Từ khi dọn vào Sài Gòn họ vẫn tiếp tục giữ nghề, dù rằng có phải thay đổi một ít về hình thức của những chiếc đèn này. Người làm việc trực tiếp với tôi là em Nguyễn Trọng Bình, con trai cụ Văn. Bình rất khéo tay, kiên nhẫn, sáng dạ. Và quan trọng nhất là cầu tiến, yêu nghề. Em nhẫn nại chữa các lỗi kỹ thuật hay nhận những yêu cầu khó khăn mà không bao giờ than van, mệt mỏi…
 
trung thu 6
Cụ Nguyễn Trọng Văn và Nguyễn Trọng Bình (ảnh tư liệu)
 
Bình có những kỹ thuật và mẹo để uốn khung tre thành những hình dạng phức tạp một cách thật giản dị và tự nhiên đến buồn cười. Có lẽ đây là những gì còn sót lại từ quê tổ cũ. Chỉ một, hai ngày sau khi gặp gỡ, cái đèn con thỏ thân thương hồi bé của tôi đã hiện ra trước mặt như chưa hề vắng bóng. Cụ Văn cứ ôm cái đèn mà thì thầm: “Đây mới là đèn con thỏ…”. Thật cảm động. Các phác họa khung lồng đèn tôi đưa ra khó đến đâu Bình cũng giải quyết dễ dàng, nhuần nhuyễn như đã sẵn quen thuộc.
 
Nhưng thế chưa là tất cả trong việc hồi phục lại cái nghệ thuật cổ truyền quý giá đã mất này.
 
Sau khi đã phục hồi lại được một số đèn Trung Thu cao cấp của Sài Gòn cũ, chúng tôi vẫn bí tị không hiểu người Báo Đáp ngày xưa dán đèn bằng vật liệu gì. Theo hình ảnh và hiện vật còn lại ở các bảo tàng bên Pháp, một số rõ ràng được dán bằng giấy bóng kính. Có những cái đèn dán bằng lụa mỏng. Nhưng phần nhiều được dán giấy nhưng không phải là giấy bóng kính, vì cách vẽ theo lối bôi nước nhiều lần (tương tự như thủy mặc) trên các đèn này thì các loại giấy thường đều không chịu nổi.
 
Cụ Văn bị bán thân bất toại do tai biến mạch não, cho nên vẫn phải ngồi xe lăn từ nhiều năm nay. Và cụ dường như không để ý mấy đến những gì diễn ra chung quanh. Nhưng từ khi chúng tôi làm lại những lồng đèn cũ thì cụ có vẻ năng động hơn, và nói chuyện với tôi rất nhiều. Một hôm khi Bình và tôi đang bàn về loại vật liệu dán đèn khó hiểu đó, thì cụ Văn bật ra như thét: “Giấy Nhiễu! giấy nhiễu mới chịu được nước chứ”. Rồi cụ bảo Bình ra hỏi ‘A Dí’ xem bà ấy còn giấy nhiễu không. A Dí (tức ‘bà dì’ trong tiếng Quảng Đông) là một bà già người Hoa chuyên buôn bán giấy các loại ở chợ Kim Biên từ đã rất lâu, và là bạn thân của gia đình.
 
trung thu 7
Đèn con cua sống làm bằng giấy nhiễu (ảnh tư liệu)
 
Và A Dí cũng giật mình khi chúng tôi tìm giấy nhiễu, vì mấy chục năm nay không ai hỏi đến loại giấy này. Lúc đó gần Tết Nguyên Đán cho nên bà ấy hẹn sau Tết sẽ cố tìm nhập về cho chúng tôi một ít để thử.
 
Thì ra người Báo Đáp xưa kia phần lớn dán đèn Trung Thu bằng giấy nhiễu, hoặc có khi bằng vải. Giấy nhiễu là loại giấy bên trong có trộn vụn tơ hay sợi vải để chịu nước. Đến những năm 1940 trở đi họ cũng đã bắt đầu dán đèn bằng giấy bóng kính. Khi vào Sài Gòn, họ đổi theo phong cách và thị hiếu của các nhà buôn Chợ Lớn mà đổi sang hoàn toàn dán đèn lồng bằng giấy bóng kính, thường là màu đỏ. Theo phong cách của người Hoa Chợ Lớn, đèn Trung Thu cao cấp nhiều khi còn được gắn thêm lông thỏ và mặt mài kim kính. Chỉ tiếc là loại giấy bóng kính của Nhật mấy chục năm trước với độ dầy 20-24µ nay không còn nữa. Hiện người ta phải dùng giấy loại 18µ dễ loang mầu của Trung Quốc.
 
Cụ Văn cũng cho biết rằng các đèn Trung Thu có cái khung treo bên trên hình tròn bằng tre ngày xưa được gọi là đèn Tàu. Đèn Ta hoặc được treo trực tiếp lên cán tre, hoặc được gắn vào khúc cành tre ở bên dưới đèn.
 
Và cuối cùng chúng tôi cũng tìm tòi ra được các chất liệu và phương pháp để tạo khung, bồi giấy cho các loại đèn con thú cổ truyền Việt Nam. Hóa ra không phải chỉ cần có đúng chất giấy, chất liệu vẽ, và tạo được khung đèn là đủ đâu. Cao điểm là các lồng đèn con cua sống và con cá hóa long của người Báo Đáp ngày xưa, mà chúng tôi đã mầy mò từ khi gặp gỡ 3 năm trước đến nay, đã được xuất hiện trở lại nhân dịp Trung Thu 2020. Đến được bước này rồi thì các đèn Báo Đáp cổ truyền khác như đèn con cua luộc, con bướm, quả đào, quả lựu, v.v., sẽ chỉ tuần tự mà ra lò khi có thời giờ thôi…
 
trung thu 8
Con cá hóa long cổ truyền (ảnh tư liệu)
 
Bên cạnh đó, nhiều mẫu mã mới không có trong hệ thống đèn Trung Thu cổ cũng được tạo ra theo phong cách truyền thống để cho bộ sưu tập phong phú thêm. Ví dụ như đèn con lợn làm phỏng theo các loại tranh dân gian như Đông Hồ hay Kim Hoàng. Hay đèn con cá Koi Nhật Bản…
 
trung thu 9
Đèn con lợn Đông Hồ và Đèn con cá Koi (ảnh tư liệu)
 
Hiện nay các nhà sản xuất đèn ở Phú Bình cũng đã bắt đầu theo mẫu mã của gia đình cụ Văn mà làm lại đèn Trung Thu truyền thống, dù lúc đầu họ vẫn chỉ làm được những mẫu đơn giản về hình dạng. Nhưng số lượng khách đặt hàng đèn Trung Thu truyền thống từ khắp nơi trong nước, từ Hà Nội đến Huế hay Cần Thơ… đã tăng lên gấp bội so với những năm trước. Và nhiều trường học bắt đầu cho học sinh làm quen với thú vui rước đèn Trung Thu cổ truyền. Đèn Trung Thu Truyền thống Việt Nam đang tái xuất hiện một cách rất tích cực.
 
Điều quan trọng nhất là người thanh niên Phú Bình/Báo Đáp này hiện đã nắm giữ lại được tất cả các bí quyết của nghệ thuật làm đèn Trung Thu cổ truyền của đất nước, mà trong bao năm tưởng như đã mất.
 
 
Trịnh Bách
Theo VOA tiếng Việt ngày 22/9/2020
 
******
 

Người mang Trung thu Hà Nội xưa về gần hơn với ngày nay

Đó là nhà nghiên cứu Trịnh Bách, người miệt mài tìm kiếm, khôi phục những mẫu đèn Trung thu xưa, những con giống bột màu gắn với tuổi thơ của biết bao người Hà Nội.

Lật tìm trong dấu xưa

Trịnh Bách kể, sau khi về nước năm 1994, chứng kiến việc trẻ em cứ đến rằm tháng Tám lại chơi các đồ chơi Trung Quốc mà không hề biết đến những đèn lồng Trung thu cổ truyền độc đáo của nước mình, ông thấy thương các em, và tự thấy mình cần phải “làm cái gì đó”. Thế là ông cứ mày mò tìm trong ký ức, tìm sách vở tư liệu trong thư viện, “đào xới” trên internet để truy tìm những hình ảnh còn vương sót trong sách báo nước ngoài.

Nhà nghiên cứu Trịnh Bách và những mẫu đèn cổ khôi phục được

Tới quãng năm 2007, sau hàng chục chuyến đi về các làng nghề, Trịnh Bách đến khu Phú Bình (Quận 11, TP Hồ Chí Minh) - vốn là chỗ vẫn sản xuất đèn Trung thu từ khi ông còn bé - để tìm nghệ nhân tâm huyết có tay nghề để phục hồi lại nghệ thuật quý báu này. May mắn, ông gặp được gia đình cụ quả phụ Nguyễn Trọng Văn ở đấy.

“Gia đình cụ Văn đã có truyền thống làm đèn Trung thu từ nhiều đời ở làng Báo Đáo (Nam Trực, Nam Định). Từ khi chuyển vào TP Hồ Chí Minh, họ vẫn tiếp tục giữ nghề, dù rằng có phải thay đổi một ít về hình thức của những chiếc đèn này. Người làm việc trực tiếp với tôi là các em Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Trọng Thành, con trai cụ Văn. Họ rất kiên nhẫn, sáng dạ và quan trọng nhất là cầu tiến, yêu nghề…”, ông Trịnh Bách nhớ lại.

Theo nhà nghiên cứu Trịnh Bách, lồng đèn hình con thú có nguồn gốc từ thời Đường bên Trung Hoa. Khởi thủy chúng được làm với hình cá chép. Rồi sau đó còn có thỏ ngọc và cóc 3 chân, là những con vật sống với Hằng Nga trên cung Trăng… nhưng phong tục này đã mất ở Trung Quốc từ lâu. Trong khi đó, người Việt về sau còn tiếp tục tạo thêm đèn hình các con vật khác như gà, bướm, chuồn chuồn, ông sao, củ ấu...

Cái hay là ở chỗ đó, người Việt mình tiếp thu và sáng tạo thêm những thứ gắn với đời sống thường ngày, gần gũi với chúng ta để đưa vào những chiếc lồng đèn. Chính bởi vậy, lồng đèn dân gian của Việt Nam mang đặc trưng của văn minh lúa nước, văn minh sông Hồng với những hình ảnh quen thuộc không thể trộn lẫn được.

Người mang Trung thu Hà Nội xưa về gần hơn với ngày nay

Ngày xưa ở Bắc Bộ có nhiều nơi làm đèn Trung thu cho trẻ em nhưng nổi trội nhất phải kể đến làng Báo Đáp. Theo ông Trịnh Bách, đèn Trung thu của người làng Báo Đáp nổi tiếng đến nỗi nhiều bảo tàng bên Pháp hiện vẫn còn giữ được những cái đèn Trung thu rất đẹp, tinh xảo của họ làm từ những thập niên đầu thế kỷ XX.

Người Báo Đáp phần lớn dán đèn Trung thu bằng giấy nhiễu, hoặc có khi bằng vải. Đến những năm 1940 trở đi họ cũng đã bắt đầu dán đèn bằng giấy bóng kính. Khi vào Sài Gòn, họ đổi theo phong cách và thị hiếu của các nhà buôn Chợ Lớn mà đổi sang hoàn toàn dán đèn lồng bằng giấy bóng kính, thường là mầu đỏ. Theo phong cách của người Hoa Chợ Lớn, đèn nhiều khi còn được gắn thêm lông thỏ và mặt mài gắn kính.

Năm 2017, nhà nghiên cứu Trịnh Bách bắt đầu phục dựng lại đèn của phong cách Sài Gòn cũ mà ông vẫn được thấy và được chơi ở Sài Gòn khi còn nhỏ. Sau đó, từ ký ức của cụ Văn, ông cũng đã hồi phục được một số đèn theo phong cách Báo Đáp xưa, của những năm 1950, tiêu biểu như đèn Trung thu hình con cua mà lâu nay chỉ thấy trên bức ảnh tư liệu đen trắng. Chiếc đèn này đã được bàn giao cho Bảo tàng Hà Nội để phục vụ công chúng.

Nhuận sắc thêm cho những con giống bột màu

Qua nghiên cứu, ông Trịnh Bách khẳng định: Việt Nam là đất nước độc nhất có tục lệ nặn con giống bột làm đồ chơi trẻ em trong dịp Tết Trung thu. Tục nặn con giống bột có từ hàng trăm năm trước. Viện Viễn đông Bác Cổ hiện còn lưu giữ được ảnh những con giống bột được chụp từ đầu thế kỷ XX, với chú thích là “Đồ chơi bằng bột nhuộm màu của Tết Trung thu Hà Nội”.

Theo nhà nghiên cứu Trịnh Bách, con giống bột Trung thu Hà Nội có ba xuất xứ là khu vực Đồng Xuân (các phố Đồng Xuân, Hàng Đường, Hàng Mã…), Phố Khách (Hàng Buồm, Mã Mây…) và nhất là làng Xuân La, Phú Xuyên. Vì lý do lịch sử mà các con giống bột Hà Nội từ lâu nay hầu như đã bị thất truyền. Không ai còn biết đến chúng nữa. “Những năm 1995, 1996 tôi vẫn thấy một thiếu nữ bán con giống bột Trung thu ở chợ Trung thu phố Hàng Mã (Hà Nội). Sau đó không thấy nữa, vì nghe nói bà cụ làm con giống đã qua lớn tuổi không còn tiếp tục giữ nghề được nữa”, ông Trịnh Bách nói.

 

Con giống tò he, đặc trưng của Trung thu Hà Nội

Từ những ký ức trung thu xưa kết hợp với việc xem, chụp ảnh những con giống bột màu đang được lưu giữ trong bảo tàng ở Châu Âu, Trịnh Bách lại tiếp tục hành trình đưa con giống bột màu trở lại với đời sống đương đại. Quãng năm 1998, trong một lần tìm kiếm, Trịnh Bách đã gặp được Đặng Văn Hậu - một thiếu niên nặn tò he ở Phú Xuyên (Hà Nội) rất khéo tay.

Lúc đó hỏi Hậu và ông ngoại về con giống bột Trung thu Hà Nội thì cả hai đều không biết. Lại mất tới hơn 10 năm nữa, năm 2017, khi ấy Đặng Văn Hậu may mắn được gặp bà Phạm Nguyệt Ánh ở Nhân Hòa, Hà Nội. Bà Nguyệt Ánh trước kia ở Đồng Xuân, là nghệ nhân cuối cùng của dòng giống bột Đồng Xuân còn sót lại hiện nay. “Với kiến thức của bà Nguyệt Ánh, tay nghề của Đặng Văn Hậu và ký ức của tôi, chúng tôi đã hồi phục lại được cả ba dòng con giống bột và con bánh chim cò nói trên”, ông Trịnh Bách kể.

Nhà nghiên cứu Trịnh Bách cho rằng, trong quá trình khôi phục lại những gì đã mất, khó nhất là tìm được nghệ nhân biết nghề, yêu nghề, và nhất là có lương tâm nghề nghiệp. Việc khó kế tiếp là phải tìm lại được công thức cho ra được nguyên liệu gốc. “Một cái khó nữa là chống chọi lại được trước sự ra đời của các “truyền thống giả”.

Trẻ em thích thú với những con tò he dịp trung thu

Vì bao năm chiến tranh, thiếu thốn, nhiều ngành nghề đã bị mai một. Phần đông người ta đã không còn biết đến các ngành nghề này nữa. Lợi dụng điều không may này, nhiều người đã tự đặt ra những thứ “gọi là truyền thống” để trục lợi, đánh vào khát khao tìm về truyền thống của mọi người, nhất là giới trẻ hiện nay. Từ ẩm thực, văn chương, cho đến thủ công mỹ nghệ. Việc này có hại cho tương lai của nền văn hóa dân tộc”, nhà nghiên cứu Trịnh Bách khẳng định.

 

Hồng Anh sưu tầm

 

Ýnghĩa của ngày Tết Trung thu

 

Xem thêm...

‘Mùa thu cho em’ – lời tỏ tình mùa thu của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên

‘Mùa thu cho em’ – lời tỏ tình mùa thu

của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên

.*¨*.¸♪¸.* ❤️*¸.*¨*

 Đất trời chuyển mình vào thu, tạm biệt những cơn giông và cái nắng hạ vàng như mật. Mùa thu tới nhịp sống như khoan thai, để con người tận hưởng khoảnh khắc chuyển giao tuyệt vời của tạo hóa. Lắng nghe một bản nhạc nhẹ nhàng như ánh nắng mùa thu, cảm xúc của ta như chậm lại sau những bước chân và nhịp đời vồn vã.

Ngô Thụy Miên là một nhạc sĩ tình ca với những bản tình ca bất hủ. Nhạc của ông là những cảm nhận đẹp đẽ tinh tế ông gửi theo làn gió thu heo may dịu dàng, những con đường ngập lá vàng rơi hay cả khúc yêu thương của những trái tim còn đang ngây ngất bởi sắc thu lời nhắn nhủ đánh thức cảm xúc của người nghe.

Đó chính là những giai điệu âm thanh tuyệt vời mà ca khúc “Mùa thu cho em” gửi gắm. Lời ca bay bổng, hình ảnh lãng mạn, giai điệu ngọt ngào mang âm hưởng của những năm 70 là lời nhắc tới người nghe thu đã sang rồi.

Vẻ đẹp nồng nàn của mùa thu trong con mắt của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên

Khi nhắc tới mùa thu, người ta thường liên tưởng tới bầu trời với những đám mây màu xám lũ lượt kéo nhau về vây kín cả không gian. Cây cối như đứng im buồn bã, những chiếc lá như chẳng lưu luyến cành.

Lá vàng ngập trời, gió thu hiu hiu khẽ thổi cũng đủ làm lá rụng rơi. Mùa thu thường mang sắc màu của sự ảm đạm, của những nỗi buồn.

Ấy thế mà với nhạc sĩ Ngô Thụy Miên mùa thu trải ra lại đẹp đẽ dịu dàng. Ông như đang lắng nghe tiếng gọi của mùa thu. Âm thanh của chiếc lá rụng, của con nai vàng ngơ ngác đạp xào xạc trên lá vàng khô cũng được ông lắng nghe một cách tinh tế.

Mưa mùa thu nhẹ nhàng tí tách, làn gió nhẹ hiu hiu thổi nhưng lại làm cho tâm hồn của nhạc sĩ ngây ngất mà chẳng thấy vẻ của cô liêu.

Vạn vật đang thay cho mình chiếc áo mới và con người cũng chậm bước lại để cảm nhận điều tuyệt diệu của cuộc sống. Cảm xúc ấy được nhạc sĩ ví von như ‘‘trái tim vương màu xanh mới’’. Đó như lời nhắc nhở rằng, thu sang rồi tâm hồn ta cũng cần phải khoác lên nó một chiếc áo mới, một sức sống mới, tình yêu và niềm hi vọng.

Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
mang ái ân mang tình yêu tới
em có nghe nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé

Em có hay mùa thu mưa bay gió nhẹ
em có hay thu về hết dấu cô liêu
Và em có hay khi mùa thu tới
bao trái tim vương màu xanh mới
em có hay hay mùa thu tới hồn anh ngất ngây

Có thể thấy rằng, tình cảm dành cho mùa thu được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thể hiện vừa lãng mạn, vừa kín đáo nhưng vẫn có sự nồng nàn say đắm theo nhịp của yêu thương vốn sẵn có trong con tim yêu được thể hiện qua từng bản tình ca của ông.

Cái đặc biệt của ca khúc Mùa thu cho em có lẽ chính là con mắt nhìn đầy lạc quan về cuộc sống của nhạc sĩ. Người ta có thể dệt lên những ca từ mang sắc vẻ buồn bã, của sự ảm đạm, hay vẻ cô liêu, nhưng với Ngô Thụy Miên, ngay cả trong cái buồn cũng vẫn đẹp. Nắng úa nhưng lại đẹp như hàng mi của em, nắng thu nhè nhẹ lại đủ làm cho đôi má em hồng, đôi môi nhạt nhưng lại thơm nồng. Dẫu mùa thu có làm người ta bồi hồi như người đang đợi chờ thì nó cũng đẹp thơ mộng như thể anh đang chờ em, chờ người yêu thương.

Giấc mơ tình yêu:

“Và em có mơ khi mùa thu tới, hai chúng ta sẽ cùng chung lối….”

Bức tranh mùa thu bằng âm nhạc của Ngô Thụy Miên hiện lên đẹp thơ mộng. “Mùa thu cho em” cũng là một góc nhìn đầy hy vọng, niềm tin và tình yêu cuộc sống của nhạc sĩ.

Tình yêu luôn gắn liền với những giây phút đợi chờ. Cảm xúc ấy là khác nhau. Có người đợi chờ trong nôn nóng bồn chồn, có người đợi chờ trong lo âu, có người đợi chờ trong hồi họp, khắc khoải. Còn với Ngô Thụy Miên, giây phút đợi chờ trong cơn mưa mùa thu khiến nàng thu trong ông nức nở. Ông như cảm nhận được sâu hơn hương vị của cuộc sống, lắng nghe được những âm thanh rất nhỏ báo hiệu cho mùa thu tới.

Ông như mơ, mơ về hạnh phúc lứa đôi. Giấc mơ đầy hứa hẹn về một cuộc sống tốt đẹp nên ông khe khẽ hỏi:

Nắng úa dệt mi em
và mây xanh thay tóc rối
nhạt môi môi em thơm nồng
tình yêu vương vương má hồng

sẽ hát bài cho em
và ru em yên giấc tối
ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
chờ em anh nghe mùa thu tới

Em có mơ mùa thu cho ai nức nở
em có mơ mơ mùa mắt ướt hoen mi
Và em có mơ khi mùa thu tới
hai chúng ta sẽ cùng chung lối
em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương…

Bởi vậy mà người ta nói rằng Mùa thu cho em là bản tình ca đầy ắp yêu thương và hy vọng. Là cái nhìn đầy lạc quan về cuộc sống của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên. Nếu có ai đó nói rằng cuộc sống là buồn tẻ thì hãy yêu đi, bởi khi yêu trái tim kia sẽ vui trở lại, và tình yêu là hương vị đầy thanh khiết xoa dịu tâm hồn của con người. Đó là món quà mà thiên thần tình yêu muốn trao tặng cho con người, để gieo lên đó hạt giống của yêu thương.

Mùa thu cho em được thể hiện rất thành công bởi hai danh ca: Lệ Thu và Ngọc Lan, họ đã truyền tải tới người nghe những gì đẹp nhất, dịu dàng nhất, thơ mộng nhất và trong sáng nhất từ cái hồn của ca khúc này.

Trở lại với những ca khúc nhạc Việt của một trong bốn cây cổ thụ của nhạc tình ca Việt Nam để được đắm mình vào hương sắc của đất trời vào thu. Để lắng nghe nhịp điệu của cuộc sống và thêm yêu hơn cuộc đời này.

Chuyên mục Nghệ thuật của Đại Kỷ Nguyên xin gửi tới quý độc giả bản nhạc mùa thu tuyệt đẹp mang theo lời nhắn gửi: Thu đã sang, lòng ta thêm rộn ràng, thêm nâng niu và yêu thương cuộc sống này.

Trí Lực

 

MÙA THU CHO EM (NGÔ THỤY MIÊN)
Cúc no nắng cúc mới vàng sắc nắng
Gió còn thưa lá chưa vội vàng đưa
Lắng tai nghe Thu bước nhẹ vào mùa
Phơn phớt thấy mùa Thu đang gợi cảm
 
Chỉ lắng nghe âm thanh dịu dàng một lời thơ, để những ngón tay miết nhẹ lên giai điệu và lòng thì thầm nhắc khẽ: “Thu rồi…”
 
Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
mang ái ân mang tình yêu tới
em có nghe nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé...
 
Mỗi tình khúc của Ngô Thụy Miên giống như một nỗi nhớ đánh rơi bên hồ, có màu sắc, hương vị và thanh âm riêng biệt. Để rồi một ngày đầu Thu, nỗi nhớ mang trên mình đôi cánh xanh trong suốt, bay lên từ vòm sóng và hát ríu ran bản tình ca giữa đất trời.
 
 
Em có hay mùa thu mưa bay gió nhẹ
em có hay thu về hết dấu cô liêu
Và em có hay khi mùa thu tới
bao trái tim vương màu xanh mới
em có hay hay mùa thu tới hồn anh ngất ngây...
 Đó là Mùa Thu Cho Em, một bài hát hài hòa giữa ca từ bay bổng trong sáng đặt trên nền nhạc cổ điển của thập niên 70. Mùa về trong phố, dắt theo dịu dàng một cơn mưa. Người ta thường nói ở xứ này vào ngày mưa buồn lắm. Những con đường nhỏ thưa thớt bóng người, chỉ còn vòm cây xanh thẫm đổ xuống như một chiếc dù ngăn cách mặt đất với bầu trời.
Đi qua nơi nào cũng bắt gặp nét cổ kính phong rêu: mái ngói đỏ sậm, bức tường phai màu, hoa Chăm Pa trên cây. Và tất cả quán café ở đây đều dìu dặt những bản nhạc trữ tình êm ái. Tâm hồn thành phố nhỏ từ mấy trăm năm đã là một hòa tấu thật hiền và xúc cảm. Người lạ ghé thăm, ngỡ ngàng bởi sự trầm lắng, dễ thương và xíu xiu nơi này.
 
Buổi sáng, ngồi bên hiên quán café nhìn xuống mặt hồ xanh rộng, tay xoay xoay ly trà và ngắm những con bồ câu sà xuống kiếm hạt dưa. Mưa bụi khẽ khàng đậu trên tóc, trên má, rồi rớt xuống tay mát dịu. Ngày mưa, nhưng không buồn…
Không gian tĩnh tại, hợp quá với một tình khúc của Ngô Thụy Miên. Nhạc sĩ không sinh ra trên đất này, nhạc phẩm không nhắc tới đất này, mà sao “tạng” của ông lại như thể bắt nguồn từ chất điềm đạm, mộng mơ vốn là bản sắc nơi đây vậy.
Mùa thu, một ngày mưa, xứ sở mang tên nỗi buồn. Sao tất cả điều này bước vào âm nhạc của Ngô Thụy Miên lại nồng ấm, giàu tình cảm đến thế. Màu vàng của nắng, màu xanh cây cối, bụi mưa trong, cùng môi thơm thiếu nữ… đã dệt nên mối tình đẹp, se sợi dây yêu thương vấn vít và khiến lòng người mẫn cảm, tinh tế hơn trước những thanh âm mùa: “Anh có nghe, nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé.”
Một lời tỏ tình ý nhị và nữ tính. Cô gái đã nhờ mùa thu nói hộ lòng yêu, hay cô chính là mùa thu đấy, tóc mây môi hồng, hát tình ca và mơ về đường yêu thơm ngát.
Ngoại ô mùa thu. Lối mòn quanh co chạy lên dốc, thấp thoáng màu hoa giấy trắng hồng xập xòe như cánh bướm nhỏ. Xung quanh là đồi thông trùng điệp. Màu thông xanh kì ảo, mượt mà, đôi khi có thể khiến tâm hồn bật khóc vì những phiến lá nhỏ thon như nỗi buồn quỳ gối.
 Cỏ dưới chân mịn ướt, mùi rêu ẩm trên thân cây lẫn với hương dẻ vàng thơm mềm. Không gian mùa thu chìm trong màu xanh ngát. Mát lạnh thẳm sâu. Muốn làm một chiếc lá mỏng, dũng cảm treo nơi đầu cơn gió lạ, qua ngày bão ngày mưa, lá vẫn bền bỉ ở lại với đời hát ca. Muốn làm một mặt trời bên lưng đồi vùi ngủ, không mang sắc đỏ, không lấp lánh vàng, một mặt trời đi vắng cho ngày mưa êm thật êm.
Ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
Chờ anh, em nghe mùa thu trôi.
Ở lưng đồi mùa thu, có những cơn mưa về đậu lại, ngọn thông cao rì rào và một người con gái mắt trong đứng đợi tình yêu. Câu nhắn nhủ hẹn hò đã trở thành điểm nhấn của ca khúc, buông chậm rãi xao xuyến như đám mây vắt ngang bầu trời. Mùa thu chỉ vừa tới như lòng người mới lần đầu chớm yêu.
Với Mùa thu cho em, Ngô Thụy Miên đã vẽ một mùa rất riêng, tươi sáng và ấm áp. Nó khác hẳn màu phôi pha, úa tàn ta thường gặp trong các tình khúc thu của những nhạc sĩ cùng thời.
Có mưa đấy nhưng đem lá rắc lưng đồi, màu nắng nhẹ để điểm trang hàng mi thiếu nữ, và nỗi cô liêu không còn ám ảnh trái tim người trẻ tuổi. Trái tim đó đã biết gõ nhịp yêu thương và mang đôi cánh xanh trong suốt bay trên đồi để hát ríu ran về tình yêu cùng nỗi nhớ.
 
Những ngày mưa, mùa này, có thể nhặt trong thành phố biết bao nhiêu là nỗi nhớ, có màu sắc, hương vị và âm thanh riêng biệt. Riêng tôi, tôi vẫn muốn được lần nữa ngồi bên hiên quán café ven hồ, tay xoay xoay ly trà và thảnh thơi ngắm những con bồ câu sà đậu kiếm hạt dưa.
Tôi biết có thể từ dưới mặt hồ trong veo này, hay ở lưng đồi mùa thu phía xa kia, sẽ đổ về một dòng nhạc phảng phất hơi sương ẩm trộn lẫn mùi thơm của ban mai tinh khiết.
Và tôi lại ước mình được trở thành một mảnh lá treo nơi đầu cơn gió, một mặt trời ngủ quên bên lưng đồi, cho ngày mưa cứ thế trôi êm, êm mãi…
Ở lưng đồi mùa thu, Người biết không - tôi - vẫn đợi!
 
Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
mang ái ân mang tình yêu tới
em có nghe nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé
Em có hay mùa thu mưa bay gió nhẹ
em có hay thu về hết dấu cô liêu
Và em có hay khi mùa thu tới
bao trái tim vương màu xanh mới
em có hay hay mùa thu tới hồn anh ngất ngây
Nắng úa dệt mi em
và mây xanh thay tóc rối
nhạt môi môi em thơm nồng
tình yêu vương vương má hồng
sẽ hát bài cho em
và ru em yên giấc tối
ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
chờ em anh nghe mùa thu tới
Em có mơ mùa thu cho ai nức nở
em có mơ mơ mùa mắt ướt hoen mi
Và em có mơ khi mùa thu tới
hai chúng ta sẽ cùng chung lối
em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương...

TKBT

Cảm nhận âm nhạc: “Mùa Thu Cho Em” (Ngô Thụy Miên)

Lời tỏ tình của mùa thu

 

Trong làng nhạc miền Nam trước 1975, nhắc đến dòng nhạc tình ca, người ta sẽ nghĩ đến nhạc sĩ Ngô Thụy Miên trước tiên. Mỗi bài hát của nhạc sĩ họ Ngô là một màu sắc, hương vị và thanh âm riêng biệt và tất cả đều là ca tụng tình yêu. Tình yêu trong nhạc của ông có thể không trọn vẹn, nhưng tuyệt nhiên không có sự bi lụy hay đau thương nào, thay vào đó là những lời dịu ngọt, êm đềm, vỗ về tình nhân. Vì vậy dòng nhạc Ngô Thụy Miên luôn nhận được sự yêu thích đặc biệt của nhiều thế hệ khán giả.

Hai bài hát đầu tiên mà Ngô Thụy Miên ra mắt công chúng yêu nhạc ở miền Nam thập niên 1960 là bài Chiều Nay Không Có Em (năm ông 17 tuổi) và Mùa Thu Cho Em (khi ông vừa tròn 20 tuổi). Nếu như bài hát đầu tiên được công chúng đón nhận nồng nhiệt, đặc biệt là ở lớp thanh niên, sinh viên thời đó, thì bài hát thứ 2 – Mùa Thu Cho Em – luôn có trong danh sách những ca khúc trữ tình hay nhất về mùa Thu.

Vẻ đẹp cô liêu, trầm lắng và lãng mạn muôn đời của mùa thu đã trở thành nguồn cảm hứng trong hội họa từ thế kỷ 19 qua nét vẽ của Levitan trong bức tranh nổi tiếng Mùa Thu Vàng. Vài mươi năm sau đó, các nhạc sĩ thời kỳ tiền chiến của Việt Nam đã khai phá nền tân nhạc bằng những khúc thu ca bất hủ của Đặng Thế Phong, Văn Sao và sau đó là Đoàn Chuẩn. Thập niên 1960, thế hệ nhạc sĩ miền Nam lại đóng góp thêm rất nhiều bài thu được yêu mến cho đến tận ngày nay, như Cung Tiến với Thu Vàng, Phạm Mạnh Cương với Thu Ca, và Ngô Thụy Miên với Mùa Thu Cho Em.

Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới
mang ái ân mang tình yêu tới
em có nghe, nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé

Em có hay mùa thu mưa bay gió nhẹ
em có hay thu về hết dấu cô liêu
Và em có hay khi mùa thu tới
bao trái tim vương màu xanh mới
em có hay, hay mùa thu tới hồn anh ngất ngây

Nắng úa dệt mi em
và mây xanh thay tóc rối
nhạt môi môi em thơm nồng
tình yêu vương vương má hồng

sẽ hát bài cho em
và ru em yên giấc tối
ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
chờ em anh nghe mùa thu tới

Em có mơ mùa thu cho ai nức nở
em có mơ, mơ mùa mắt ướt hoen mi
Và em có mơ khi mùa thu tới
hai chúng ta sẽ cùng chung lối
em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương…

Mùa thu của Văn Cao là nỗi buồn trong Buồn Tàn Thu, nỗi cô liêu trong Thu Cô Liêu. Mùa thu của Đặng Thế Phong càng sầu thảm hơn với Vạn Cổ Sầu, còn mùa thu của Đoàn Chuẩn là những nỗi niềm tự sự: “Có những đêm về sáng, đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi”… Với Ngô Thụy Miên, mùa thu lúc nào cũng đẹp, dịu dàng, êm ái và ngát hương như những lời thủ thỉ, tình tự với người yêu:

“Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương…”

Cái tinh tế trong nhạc cảm của Ngô Thuỵ Miên là đã nghe được cả tiếng nai vàng hát trong “mưa giăng lá đổ”. Trong tiếng mưa rả rích của mùa thu, tiếng gió thổi, tiếng lá bay lạo xạo, tâm hồn trinh nguyên của người nghệ sĩ còn nghe được cả tiếng nai vàng hát, rồi còn là hát khúc yêu đương nữa. Đó là tài năng thiên bẩm của người nghệ sĩ, dễ dàng rung cảm trước thiên nhiên, hay là chính chàng trai đang hát khúc yêu đương tỏ tình rồi đổ tội cho con nai vàng ngơ ngác?

Không những vậy, người nhạc sĩ còn mượn cái hồn thu lãng đãng để rót mật vào tai người yêu:

em có nghe nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé…

Mùa thu với màu vàng của nắng, màu úa của lá, màu xanh của cỏ cây còn trơn ướt những giọt sương mai, một bức tranh tuyệt đẹp. Có phải vì vậy mà các nhạc sĩ hay tỏ lời yêu thương vào cái mùa của lãng mạn này.

Em có hay mùa thu mưa bay gió nhẹ
em có hay thu về hết dấu cô liêu
Và em có hay khi mùa thu tới
bao trái tim vương màu xanh mới
em có hay, hay mùa thu tới hồn anh ngất ngây

Mùa thu được trải ra đẹp đẽ và dịu dàng để dìu gót giai nhân. Tình cảm mà chàng trai mang đến thật ân cần, nhẹ nhàng và đầy sức sống, đó là “trái tim vương màu xanh mới”. Mùa mới đã sang, nên tình yêu cũng cần sang một trang mới, khi hồn người đang say đắm và ngất ngây rồi.

Trong cơn say đó, có lẽ chàng trai đã không còn phân biệt được đâu là mùa thu, đâu là người tình nữa, vì dường như cả hai đã hòa thành một:

Nắng úa dệt mi em
và mây xanh thay tóc rối
nhạt môi môi em thơm nồng
tình yêu vương vương má hồng…

Tiếp theo đó là lời “hứa hẹn”. Không biết là cô gái đã nhận lời yêu chưa, mà chàng trai đã mơ mộng về một ngày có thể vỗ về nhau yên giấc tối, rồi nhắn nhủ những câu chờ nhau:

sẽ hát bài cho em
và ru em yên giấc tối
ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
chờ em anh nghe mùa thu tới…

Em có mơ mùa thu cho ai nức nở
em có mơ mơ mùa mắt ướt hoen mi
Và em có mơ khi mùa thu tới
hai chúng ta sẽ cùng chung lối
em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương…

Chàng trai rón rén hỏi người yêu rằng trong giấc thu nhẹ nhàng chiều nay, người có đang mơ về những mùa xưa nức nở và mắt ướt hoen mi, hay là sẽ mơ về một tương lai cùng nhau chung lối? Người ta vẫn bảo rằng nếu cuộc sống này buồn tẻ quá thì hãy mở lòng đón nhận tình yêu. Vì khi yêu, trái tim sẽ bừng dậy cùng những hương vị thanh khiết nhất của cuộc đời: em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương…

Nhưng nếu không thể, thì người cũng hãy nhớ rằng ở lưng đồi kia ta vẫn đợi, và nghe những mùa thu đang tới. Hãy nhớ:

 

ngày mai khi mưa ngang lưng đồi
chờ em anh nghe mùa thu tới

Trọn vẹn cả bài hát này là một lời tỏ tình rất ý nhị. Năm mươi năm qua, không biết có bao nhiêu người đã mượn bài hát này để tỏ tình, chỉ biết rằng chính nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã nhận định rằng đây là bài hát đã mang tên tuổi của ông đến với công chúng yêu nhạc hồi thập niên 1960-1970, và là một trong những bài tình ca được yêu cầu nhiều nhất trên đài phát thanh thời đó.

Đông Kha ( nguồn nhacxua.vn )

 Kim Phượng sưu tầm & tổng hợp
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

Xem thêm...

Lịch sử váy cưới theo thời gian

 

Lịch sử váy cưới theo thời gian

•°҈°•°҈°•°҈°•°҈°•°҈°•°҈°•

Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao các cô dâu thường hay mặc váy cưới màu trắng hay màu kem chưa? Thật ngạc nhiên là màu trắng cũng từng không phải là lựa chọn số một của các nàng dâu thời xưa, vậy điều gì đã dẫn đến sự thay đổi này ? Hãy tìm hiểu trong bài viết dưới đây về nguồn gốc và lịch sử của chiếc váy cưới .

Có vẻ như các cô dâu từ xưa đến nay đã luôn kết hôn trên nền váy trắng. Xu hướng mặc một chiếc váy cưới màu trắng đã xuất hiện từ thời hoàng gia Victoria. Trước đó, cô dâu được mặc trang phục đẹp nhất mà họ muốn, màu sắc và chất liệu của chiếc váy thay đổi tùy theo địa vị xã hội của người phụ nữ.

Mặc dù màu sắc và phong cách đã thay đổi trong suốt những năm qua, các cô dâu luôn ăn mặc đẹp nhất trong dịp này. Người thuộc hoàng gia hoặc những người có địa vị cao trong xã hội luôn ăn mặc một cách tinh tế và thời thượng nhất. Những người có địa vị hạn chế vẫn coi đám cưới là một dịp đặc biệt và ăn mặc trang trọng miễn là ngân sách của họ cho phép.

Thời cổ đại và sự phụ thuộc vào truyền thống thế giới

Vào thời cổ đại, nhiều đám cưới là sự liên minh lợi ích về kinh tế cho hai gia đình, hơn là sự kết hợp của hai người đang yêu. Tuy nhiên, các cô dâu cổ đại vẫn phải chọn biểu tượng cho hạnh phúc của mình bằng cách mặc trang phục cưới rực rỡ. Vào thời La Mã cổ đại, nụ hôn cưới được coi là ràng buộc về mặt pháp lý và thể hiện sự chấp nhận hợp đồng hôn nhân của cô dâu và chú rể. Mặc dù có những hạn chế về những gì được biết về tất cả các truyền thống váy cưới cổ xưa, các sản phẩm may mặc và màu sắc thay đổi theo văn hóa. Ví dụ:

  • Rome cổ đại, cô dâu đeo mạng che mặt màu vàng tượng trưng cho họ như một ngọn đuốc và tượng trưng cho sự ấm áp.

  • Athens cổ đại, cô dâu có khả năng mặc áo choàng dài có màu hoặc đỏ hoặc tím.

  • Vào thời nhà Chu (khoảng 1046-256 trước Công Nguyên) ở Trung Quốc, trang phục cô dâu có màu đen với viền đỏ. Trong thời kỳ Hán, quần áo màu đen đã được mặc, và trong thời nhà Đường của Trung Quốc (khoảng 618 đến 906 sau Công Nguyên), các sắc lệnh về quần áo đã trở nên ít nghiêm ngặt hơn và nó khá là thời trang cho các cô dâu mặc màu xanh lá cây.

  • Cô dâu truyền thống Nhật Bản mặc một số kimono màu khác nhau trong ngày cưới.

  • Hàn Quốc, truyền thống quần áo của cô dâu là mô phỏng hoàng gia, có thể là một chiếc áo được thiết kế công phu với tay áo dài có nhiều màu như xanh, đỏ và vàng bằng lụa.

Thời Trung cổ 

Trong thời Trung cổ (thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 15), đám cưới vẫn không chỉ là sự kết hợp giữa hai người. Nó thường đại diện cho một liên minh giữa hai gia đình, hai doanh nghiệp và thậm chí hai quốc gia. Đám cưới thường được sắp xếp và là vấn đề chính trị hơn là tình yêu. Một cô dâu phải ăn mặc theo cách khiến gia đình cô ấy hài lòng nhất, vì cô ấy không chỉ đại diện cho chính mình.

  • Cô dâu thời trung cổ của một vị thế xã hội cao mặc màu sắc phong phú, vải đắt tiền và thường có đá quý được may vào quần áo. Người ta thường thấy có những cô dâu còn được khoác lên mình những lớp lông thú, nhung và lụa có màu đậm.

  • Những người có địa vị xã hội thấp hơn mặc những loại vải không phong phú, mặc dù họ đã cố gắng bắt chước các phong cách thanh lịch nhất có thể.

  • Váy cưới ở thời trung cổ có thể có nhiều sắc thái – màu xanh rất phổ biến vì sự liên quan của nó với độ tinh khiết, nhưng váy cũng có thể là màu đỏ, vàng, xanh lá cây hoặc một sắc thái khác.

Thời Phục Hưng 

Trong thời Phục hưng (khoảng thế kỷ 14 đến 17, trùng với thời đại Elizabeth của Anh, 1558-1603), thời trang nói chung được thiết lập bởi giới quý tộc. Phụ nữ thường mặc đồ tốt nhất có thể, và có thể bao gồm một số lớp dưới áo choàng chính. Đám cưới có thể rất phức tạp, và những chiếc váy sẽ phản ánh khía cạnh đó. Các khía cạnh khác của thời đại này có thể đã xuất hiện trong váy cưới thời Phục hưng bao gồm:

  • Áo dài đi từ vai hoặc cổ đến chân, có thể nối liền bằng một đường dây thiết kế dài sau lưng.

  • Váy liền thân được thiết kế theo hình quả chuông

  • Burgundy (đỏ rượu) là một màu phổ biến cho các cô dâu trong khoảng thời gian này.

Định mức xã hội và trang phục cưới 

Trong suốt nhiều năm, các cô dâu tiếp tục ăn mặc theo cách phù hợp với địa vị xã hội của họ; luôn luôn ở đỉnh cao của thời trang, với những vật liệu phong phú nhất, táo bạo nhất có thể mua được.

Chất liệu – số lượng chất liệu của một chiếc váy cưới sẽ phản ánh vị thế xã hội của cô dâu. Chẳng hạn, tay áo càng chảy, tàu áo càng dài, gia đình cô dâu càng giàu có. Các vật liệu cũng sẽ tiếp tục phản ánh địa vị xã hội hoặc mức độ giàu có của cô dâu, ví dụ, các cô dâu Elizabeth thuộc tầng lớp thượng lưu có thể mặc satin, nhung hoặc cordouroy, trong khi các cô dâu thuộc tầng lớp thấp hơn có thể mặc các chất vải lanh, cotton hoặc len.

Váy cưới thời Victoria

Trước thời trị vì của Nữ hoàng Victoria (1837-1901), phụ nữ thường không mặc váy cưới màu trắng. Mặc dù có một số trường hợp ngoại lệ, chẳng hạn như Mary Queen of Scots (người mặc váy trắng trong đám cưới của mình vào năm 1558), phụ nữ thường mặc các màu khác, có thể bao gồm xanh lam, đỏ, vàng, xanh lá cây hoặc thậm chí là xám.

Áo cưới trắng của Nữ hoàng Victoria

Năm 1840, Nữ hoàng Victoria kết hôn với Hoàng tử Albert xứ Saxe và bà đã mặc một chiếc váy cưới màu trắng. Vào thời đó, khác với màu xanh dương, màu trắng không phải là biểu tượng của sự tinh khiết. Trên thực tế, nhiều phụ nữ đã chọn màu xanh lam cho váy cưới của mình vì lý do nó là điểm đặc trưng cho sự trong trắng của người phụ nữ. Mặt khác, màu trắng tượng trưng cho sự giàu có. Vì chiếc váy của cô được làm bằng ren thủ công, nên Victoria đã chọn màu trắng vì nó là màu hoàn hảo để làm nổi bật chiếc váy phi thường của cô. Vì màu trắng thường không được chọn làm màu cưới, nên chiếc váy của Victoria đã gây bất ngờ.

Một xu hướng mới

Tuy nhiên, đó không phải là một bất ngờ gây khó chịu, bởi vì ngay sau đó, rất nhiều phụ nữ có địa vị xã hội cao trên khắp châu Âu và châu Mỹ cũng bắt đầu mặc váy cưới màu trắng. Mặc dù thỉnh thoảng có những ví dụ về những phụ nữ khác mặc đồ trắng trước Nữ hoàng Victoria, nhưng bà được cho là người đã bắt đầu mang lại sự phổ biến cho váy cưới màu trắng. Một số phụ nữ vẫn chọn kết hôn với màu sắc khác, nhưng xu hướng thiên về màu trắng được hình thành sau đám cưới của Nữ hoàng Victoria.

Sự phát triển của chiếc váy cưới trắng

Một khi xu hướng đối với màu trắng được hình thành, nó tiếp tục phát triển. Mặc dù phong cách thay đổi qua nhiều năm, váy trắng đã trở thành tiêu chuẩn cho váy cưới ở phương Tây.

Cuộc cách mạng công nghiệp

Vào đầu thế kỷ này, cuộc Cách mạng Công nghiệp đã khiến nhiều cô dâu có khả năng mua một chiếc váy mới cho ngày cưới của mình hơn và tất nhiên, màu trắng là màu được lựa chọn nhiều nhất cả. Sự xuất hiện của du lịch đường sắt đã ảnh hưởng đến phong cách váy cưới, một số có váy có đường hẹp hơn. Những chiếc váy này tuân theo các xu hướng và phong cách thời đó và tiếp tục như vậy một thế kỷ sau. Màu váy cưới thịnh hành nhất ở Âu Mỹ vẫn là màu trắng.

Đầu những năm 1900

Vào đầu những năm 1900, kiểu váy với phần eo hẹp (dùng với áo nịt ngực) và tay áo phồng rất phổ biến. Các chi tiết như đường viền, vòng cổ cao và đoàn tàu áo dài cũng được thấy trong khung thời gian này.

Váy cưới những năm 1910

Trong những năm 1910, cô dâu bắt đầu mặc những kiểu váy rộng hơn. Khiêu vũ trong đám cưới đã trở nên phổ biến trong khoảng thời gian này và áo nịt ngực dần không còn là lựa chọn hàng đầu nữa. Những chiếc váy cũng không xa hoa bằng khoảng thời gian trước đó, mặc dù chúng thường có ren, bèo nhún và cổ áo cao của Thời đại Edward.

Thế hệ phụ nữ trẻ vào những năm 1920

Những chiếc váy tinh xảo với các yếu tố như phần eo hoặc tua rua buông xuống, đường viền ngắn hơn cho thấy mắt cá chân và kiểu váy thu hẹp là phổ biến trong những năm 1920, trong số đó cũng có đường may và đường viền sâu.

Kỷ nguyên suy thoái

Đó là một câu chuyện khác trong thời kỳ trầm cảm, khi phụ nữ kết hôn vào ngày chủ nhật đẹp nhất của họ. Trong Thế chiến thứ hai, nhiều cô dâu cảm thấy không thích hợp khi mặc váy trắng xa hoa, và chọn váy nhà thờ hoặc một bộ vest phù hợp cho trang phục cưới của họ. Phong cách váy cưới của những năm 1930 thường vừa vặn và đơn giản hơn, thường được làm từ sợi rayon.

Váy cưới những năm 1940

Bước ra từ Thời kỳ suy thoái, trang phục vẫn có những yếu tố thực tế phản ánh sự cần thiết trong thời chiến. Những chiếc váy của những năm 1940 đôi khi được làm bằng vải trang trí nội thất để tiết kiệm tiền.

Thời hậu chiến

Sau chiến tranh, một kỷ nguyên thịnh vượng bắt đầu và váy cưới chính là thứ phản ánh điều này. Áo cưới trắng trang trọng đã trở thành mốt. Lựa chọn về màu trắng, chẳng hạn như kem, trắng nhạt hoặc trắng ngà đều là những màu váy cưới được ưa thích, trong khi những màu sáng như xanh lam, xanh lá cây hoặc hồng đã không còn thịnh hành. Đặc biệt, nó được coi là xui xẻo khi kết hôn trong một chiếc váy đen.

  • Váy cưới những năm 1950 có các yếu tố nữ tính như ren, và váy dạ hội đã trở nên phổ biến.
  • Những chiếc váy quây và những đường viền cổ yếm cũng được đưa vào thời trang cô dâu vào cuối những năm 1950.

Thời trang váy cưới những năm 1960

Những kiểu váy bắt đầu được thiết kế thon hơn, cũng như những đường viền được tạo sao cho cao hơn, đây là những đặc điểm nổi bật của thập kỷ này và được nhìn thấy trong các kiểu váy cưới. Váy đôi khi kết hợp các yếu tố kim loại.

Những năm 1970

Phong cách phóng khoáng là một phần quan trọng trong sự phát triển của váy cưới vào những năm 1970. Các chi tiết phổ biến bao gồm đường viền cổ vuông, tay áo rộng rãi hoặc cánh dơi, và viền váy xếp nếp. Váy maxi ren hoặc voan thường được mặc.

Áo cưới những năm 1980

Những năm 1980 đã xuất hiện trong trang phục cưới, với kiểu váy công chúa có tay áo phồng lớn. Các lớp ren và vải tuyn rất phổ biến, và váy thường được làm bằng vải taffeta.

Những năm 1990

Trang phục cô dâu đã được thay đổi đáng kể trong những năm 1990, hầu hết chúng đều nghiêng về kiểu dáng đẹp, tối giản, tương phản với thiết kế của thập niên 80. Áo cưới dài vừa vặn đã được ưa chuộng hơn cả trong thời kì này.

Những năm 2000

Vào những năm 2000, nhiều sự lựa chọn về trang phục hơn đã được thể hiện qua kiểu váy chữ A phổ biến hay mặc áo quây.

Những năm 2010 và sau đó

Các cô dâu liên tục tìm cách cá tính hóa váy cưới của mình, mặc dù màu trắng hoặc kem  vẫn là màu váy thịnh hành, nhưng chúng đã có nhiều biến thể hơn. Các xu hướng bao gồm các điểm nhấn màu trên váy, váy cưới màu hồng nhạt và có hoa văn.

Ảnh hưởng của váy cưới trong lịch sử

Theo thời gian, thật thú vị khi ghi nhận những ảnh hưởng khác nhau đến những chiếc váy cưới lịch sử. Văn hóa, tầng lớp xã hội và các chuẩn mực phổ biến đều đóng một phần lớn trong kiểu váy cưới mà phụ nữ mặc. Ngoài ra, hoàng gia, quý tộc, người giàu có, phong cách nổi tiếng, và tài sản cá nhân hoặc hạn chế ngân sách cũng ảnh hưởng đến cách phụ nữ ăn mặc trong ngày trọng đại đời mình. Ngày nay, phụ nữ được trao quyền nhiều hơn bao giờ hết, với các lựa chọn về trang phục có nhiều ảnh hưởng về văn hóa hoặc thời gian, những trang phục được lấy cảm hứng từ những sự chấp nhận hiện đại của một đám cưới thoải mái và hạnh phúc.

Cô dâu hiện đại có những lựa chọn trang phục không giới hạn

Mặc dù truyền thống ngày nay thường là váy trắng, nhưng không phải cô dâu nào cũng cảm thấy bị ràng buộc theo xu hướng. Cô dâu ngày nay có thể kết hôn với hầu hết mọi phong cách. Từ một chiếc váy được thiết kế trang trí công phu đến một chiếc váy cưới trên bãi biển trang trọng hơn, cô ấy sẽ trông xinh đẹp với bất kỳ phong cách nào cô ấy chọn.

 

************

Giải mã lịch sử nguồn gốc váy cưới, tìm hiểu trang phục cưới các nước phương Đông

Váy cưới thời Trung cổ

Vào thời điểm này, đám cưới không chỉ đơn thuần là việc kết hôn của hai người. Đây có thể là hôn nhân giữa hai gia tộc, hai doanh nghiệp hoặc hai quốc gia với nhau. Nhiều đám cưới xem trọng chính trị hơn là tình yêu, nhất là trong giới quý tộc và thượng lưu. Cô dâu mặc váy cưới thể hiện đẳng cấp, địa vị xã hội gia đình, chứ không vì bản thân. Cô dâu quyền quý thường mặc những màu rực rỡ bằng những chất liệu độc quyền. Có thể là tông màu sẫm bằng lông thú, nhung và lụa.

Image for post

Ngoài ra, cô dâu thường chọn váy cưới được may bằng chất liệu thượng hạng. Còn cô dâu nghèo chọn áo cưới ở nhà thờ trong hôn lễ của họ. Ý nghĩa và giá cả của váy cưới thể hiện địa vị cũng như ám chỉ sự giàu sang của gia đình.

Những chiếc váy cưới trắng phá cách đầu tiên

Công chúa Philippa là người đầu tiên mặc váy cưới trắng với áo choàng lụa trắng. Áo choàng được may viền bằng lông chồn xám. Bà diện nó trong lễ cưới hoàng gia Anh năm 1406. Tiếp đó, năm 1559, Mary Stuart mặc một chiếc váy cưới màu trắng khi cô kết hôn với người chồng đầu tiên, Francis Dauphin người Pháp. Bà chọn vì đó là màu yêu thích của cô, mặc dù màu trắng đại diện cho tang thương. Trước thời đại của Nữ hoàng Victoria, cô dâu được mặc bất kỳ màu sắc nào khi kết hôn. Màu đen là màu rất phổ biến ở Scandinavia.

Màu trắng — bước ngoặt của váy cưới tới từ nữ hoàng Victoria

Image for post

Dù có rất nhiều những gương mặt có tầm quan trọng trong lịch sử thế giới mặc áo choàng trắng thành hôn theo chiều dài của lịch sử như Nữ Hoàng Mary của Scotland. Nhưng mọi chuyện chỉ thay đổi khi Nữ Hoàng Victoria mặc chiếc váy cưới trắng. Bà chính là người định hình chiếc váy cưới trắng sau này khi thành hôn với Hoàng tử Albert. Ngày cưới, Nữ hoàng Victoria bước diện váy trắng đơn giản làm từ vải len Honiton. Chiếc áo choàng màu trắng kết hợp ren, bộ áo cưới của cô đã được đánh giá cao. Thay vì vương miện, bà đội vòng hoa kết từ cành sim. Thật ram, bà chọn màu trắng không chỉ vì ý nghĩa mà còn mang đậm chất chính trị hơn.

Image for post

Trước đám cưới của nữ hoàng Victoria vào năm 1840, hầu hết váy đều mang sắc xanh dương. Bởi họ cho rằng đây biểu tượng của sự thuần khiết.

Ngoài ra, sắc màu nổi bật được ưu ái hơn nữa chính là đỏ. Đương nhiên vì màu này là biểu tượng của tình yêu, của hoa hồng, của sự lãng mạn. Còn màu trắng mang vẻ tang thương, không nên chọn gam màu lạnh vào ngày trọng đại.

Bởi đám cưới của bà sẽ được mọi người trong và ngoài nước dõi theo. Bên cạnh đó, vì vừa mới lên ngôi, bà muốn chứng tỏ với mọi người rằng bà có đủ năng lực. Vậy nên bà đã gửi thông điệp trên chiếc váy của mình. Thời điểm đó, ngành công nghiệp vải len đang trên đà đi xuống, bà muốn thúc đẩy ngành công nghiệp trở nên cách tốt nhất là sử dụng chính chiếc váy cưới của mình.

Là trang phục xa xỉ của giới quý tộc Châu Âu

Image for post

Váy cưới trắng chỉ thật sự thịnh hành vào khoảng thời gian sau này. Còn trước đó hầu như chỉ có giới quý tộc nhà giàu Châu Âu mới có đủ điều kiện diện. Bởi xà phòng và bột giặt mới xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ 20. Do đó, ở thời gian trước, chỉ có những gia tộc thật giàu mới có thể khoác lên mình những chiếc váy cưới trắng tinh để thể hiện sự sang trọng, tinh khiết, thanh lịch và địa vị. Vì sẽ tốn không ít tiền để vệ sinh những chiếc váy trắng, thường chỉ sử dụng một lần.

Váy cưới thật sự thịnh hành trong giới bình dân sau những năm 50

Váy cưới trắng vẫn là điều gì đó quá xa xỉ so với cuộc sống ở những đầu thập kỷ 20. Bởi điều kiện sống lúc ấy còn rất khó khăn. Đặc biệt, hai cuộc chiến khiến váy cưới tới những năm 50 mới bắt đầu thịnh hành trong giới bình dân. Rồi sau đó, váy cưới trắng trở thành truyền thống cho những đám cưới sau này.

Image for post

Tuy từng bị cho là tang tóc, nhưng chúng ta không thể phủ nhận được vẻ đẹp của váy cưới trắng. Sự trang trọng, lộng lẫy khi cô dâu bước vào lễ đường với chiếc váy trắng, tôn lên vẻ đẹp của cô dâu cùng với màu trắng còn thể hiện sự trong trắng, thuần khiết và vẻ đẹp đơn sơ đầy quyền rũ của cô dâu.

Thiết kế váy cưới trắng

Sau này, váy cưới cũng được dựa theo phong cách của nữ hoàng Victoria. Trong những năm 20 của thế kỷ 20, váy cắt ngắn tà trước và may dài ở phía sau. Đi kèm với đó là chiếc nón có mạng che mặt hình chuông. Thiết kế váy cưới này gợi nhớ đến thời đại của Nữ hoàng Victoria.

Ngày nay, váy cưới phương Tây thường có màu trắng và trắng ở nhiều cấp độ. Dù là váy cưới trắng, nhưng cũng có màu sậm hơn như vỏ trứng, màu mộc và màu ngà.

Image for post

Sau này, nhiều người cho rằng màu trắng tượng trưng cho sự trong trắng. Nhưng đây không phải là ý nghĩa ban đầu. Màu xanh là biểu tượng của tinh khiết, đạo đức, trung thành, và Đức Mẹ Maria.

Váy cúp ngực hoặc không tay chiếm đến 75% thị trường áo cưới. Bởi các nhà thiết kế không cần nhiều bộ phận, cần dễ thay đổi kích cỡ để vừa vặn hơn. Tuy nhiên, những năm gần đây, áo cưới có tay, có dây trở nên phổ biến rộng rãi hơn.

Váy cưới truyền thống của các nước

Váy cưới truyền thống ở Trung Quốc, Ấn Độ (sari cưới), Pakistan (salwar kameez và lehengas) và Việt Nam (áo dài truyền thống) có màu đỏ — màu truyền thống của may mắn và an lành. Ngày nay, cô dâu lựa chọn nhiều màu sắc khác ngoài màu đỏ. Trong đám cưới hiện đại ở các nước châu Á, cô dâu có thể lựa chọn trang phục của phương Tây với bất kỳ màu sắc nào, và sau đó mặc một bộ trang phục truyền thống cho lễ trà chính.

Áo cưới truyền thống Đài Loan

Trong đám cưới của người Đài Loan ngày nay, trang phục cưới truyền thống thời nhà Thanh với mũ phượng vẫn được sử dụng.

Image for post

Đám cưới, Đài Loan các cô dâu thường chọn lụa màu đỏ hoặc màu làm chất liệu may váy cưới. Nhưng hầu hết cô dâu sẽ mặc đồ đỏ truyền thống vào tiệc cưới chính. Theo truyền thống, cha của cô dâu phụ trách tổ chức tiệc cưới sang trọng bên nhà gái và rượu hỷ dùng trong tiệc của hai bên gia đình.

Áo cưới truyền thống Ấn Độ

Image for post

Tại Ấn Độ, các cô dâu sẽ chọn váy cưới truyền thống — Sari cưới màu đỏ. Vải Sari cũng là lụa theo truyền thống. Theo thời gian, màu sắc và chất vải dành cho cô dâu Ấn Độ đã được đa dạng hóa. Các loại vải như crepe, georgette, charmeuse, và sa-tin được sử dụng, và màu sắc đã được mở rộng bao gồm vàng, hồng, cam, nâu sẫm… Cô dâu Ấn Độ tại phương Tây thường mặc Sari tại lễ cưới và thay đổi thành lễ phục truyền thống của Ấn Độ sau đó.

Áo cưới truyền thống Nhật Bản

Image for post

Cô dâu Nhật Bản thường mặc Kimono trắng truyền thống cho buổi lễ chính. Bộ váy này tượng trưng cho sự tinh khiết và trong trắng. Các cô dâu có thể đổi thành Kimono màu đỏ cho tiệc sau lễ cầu may.

Áo cưới truyền thống Philippines

Image for post

Tại Philippines, Baro’t Saya cách điệu phù hợp với hôn lễ trắng truyền thống. Đây được coi như trang phục cưới cho phụ nữ. Trang phục cưới truyền thống của nam giới là Tagalog Barong. Các bộ lạc và người Hồi giáo ở Philippines mặc những kiểu trang phục truyền thống khác trong những buổi lễ của mình.

 

Nam Mai sưu tầm

Queen Victoria and the Rise of the White Wedding Gown – Women's Museum of  California

 

 

Xem thêm...

TRÒ CHUYỆN VỚI KHOẢNG KHÔNG TRƯỚC MẶT Tuyền Linh ( phần 10 )

TRÒ CHUYỆN VỚI KHOẢNG KHÔNG TRƯỚC MẶT

Tuyền Linh

( phần 10 )

•°҈°•°҈°•°҈°•°҈°•°҈°•°҈°•

 

PHẦN 10

25.8.2020 – Sáng nay mình vừa mới Email cho luật sư N. đồng thời cũng gởi kèm theo bản copy Phần 9 - Nhật ký TRÒ CHUYỆN VỚI KHOẢNG KHÔNG TRƯỚC MẶT - để ông ta đọc đặng hiểu rõ về cảnh đời và quan điểm của mình trong vụ khởi kiện nầy. Có thể chiều nay mình sẽ gởi tiếp về Tòa Án Nhân Dân Huyện Đơn Dương ( thẩm phán V.T.L ) một đơn khởi kiện bổ sung để xin Tòa xác nhận và giải quyết vấn đề theo yêu cầu “ gượng ép “ của mình, buộc vợ chồng C T T Tr phải hoàn trả lại 208 mét vuông đất ( là 1/2 trong diện tích 416 mét vuông hiện có ) thuộc thửa đất số 948, tờ bản đồ 50, phải thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình. Bạn thấy đấy, túi tham của họ là vô đáy. Đất và nhà là tài sản của mình, nay phải bấm bụng chia cho họ một nửa, mà họ còn muốn nuốt luôn. Mình nghĩ chắc thế nào bạn cũng thắc mắc tại sao mình phải nói “ gượng ép “ khi gởi đơn khởi kiện bổ sung lên Tòa án? Chẳng là như thế nầy, thực tình, mình không bao giờ muốn chia cho C T T Tr một nửa bất động sản đó đâu, bởi lẽ C T T Tr ngồi không mà được hưởng nhiều quá. Nhưng mình nắm được hướng giải quyết của thẩm phán L. và luật sư N. nên mình linh động chiều theo ý họ thôi. Mình nghĩ họ muốn giải quyết sự việc nầy nhanh chóng, nhẹ nhàng, bởi trên con đường khởi kiện của mình còn có cả một thành lũy án ngữ phức tạp lắm. Giải quyết theo cách nầy thì có thể dung hòa được cả đôi bên. Mình đồng tình với sự nhạy cảm nầy nên mình làm theo. Thế thôi! Từ ngữ “ gượng ép “ được mọc lên là vì lẽ ấy. Giờ thì bạn đã rõ lý do rồi chứ? Mình cũng cần nói thêm để bạn hiểu, nội dung Đơn Khởi Kiện bổ sung do luật sư N. thảo ra và mình chỉ có ký tên vào đó và gởi về Tòa án thôi. Trước khi ký, mình cũng đã hỏi kỹ luật sư N. là ai đề xướng cách giải quyết theo kiểu đơn bổ sung nầy? Luật sư N. cho biết, chính ông ta.

Dưới đây là mẫu Đơn Khởi Kiện bổ sung, bạn cũng nên xem cho biết.

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Lâm Đồng, ngày 20 tháng 8 năm 2020

ĐƠN KHỞI KIỆN BỔ SUNG

Kính gửi: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG

Họ và tên người khởi kiện: ông Nguyễn Văn Thơ; sinh năm: 1940

HKTT: 79 Trần Hưng Đạo, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Địa chỉ liên lạc: số: … P.T thị trấn Vũng Liêm, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

SĐT: 0334421525

Họ và tên người bị kiện: anh H Q Th

Cùng vợ là chị: C T T Tr

Trú tại: Khóm 1, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương giải quyết những vấn đề sau:

Trước đây tôi đã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương giải quyết tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng tôi và chị C T T Tr; tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 948, tờ bản đồ 50, diện tích 416 m2 do Ủy ban nhân dân huyện Đơn Dương cấp cho chị C T T Tr, anh H Q Th tháng 1 năm 2005.

Nay tôi làm đơn này bổ sung yêu cầu khởi kiện, tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương công nhận một phần hai diện tích đất 416 m2 là 208 m2, thửa đất số 948, tờ bản đồ 50 thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của tôi, buộc chị C T T Tr, anh H Q Th phải trả lại cho tôi 208 m2 đất và tài sản gắn liền với đất. Đất tọa lạc tại

Khóm 1, thị trấn Dran, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Trên đây là toàn bộ yêu cầu của tôi, kính mong quý Tòa xem xét giải quyết.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

NGƯỜI LÀM ĐƠN

Nguyễn Văn Thơ

06.9.2020 – Tính từ ngày mình gởi đơn khởi kiện bổ sung về Tòa án huyện Đơn Dương cho đến nay cũng đã gần nửa tháng rồi mà chưa thấy động tĩnh gì cả. Hôm qua mình có phone cho luật sư N. để biết tình hình ra sao, sự việc tiển triển đến đâu rồi, nhưng chuông reo mà ông ấy không nhấc máy. Mình chẳng hiểu được lý do ra sao? Tính mình ghét nhất là chờ đợi, nhất là chờ đợi một kết quả quan trọng. Thật ra trong vụ việc nầy, thâm tâm mình không muốn tạo nên bất cứ một áp lực nào cho luật sư N. Mình chỉ mong luật sư N. hiểu được tâm trạng của người chờ đợi để thỉnh thoảng, ít nhất là mười ngày hoặc nửa tháng nên chủ động phone cho mình biết tin tức một lần. Chỉ thế thôi là mình vui rồi. Hơn nữa, nếu mình biết được sự việc tiến triển đến đâu, nhiều khi mình cũng có thể góp ý với luật sư N. những điều bổ ích, bởi dù sao mình cũng là người trong cuộc, là vai chính trong việc khởi kiện mà. Thú thật, mình hơi thất vọng về sự im lặng nầy.

09.9.2020 – Ngồi buồn, cứ suy diễn mãi về sự chờ đợi và diễn tiến vụ kiện, hôm qua mình đã lên Facebook và đã đăng vài hàng về hai chữ LƯƠNG TÂM. Sau khi những dòng ý tưởng mình hiển thị trên FB, được khá nhiều Anh Chị Em trong gia đình FB tán đồng ủng hộ - “ LƯƠNG TÂM là vô giá. Làm người có thể mất đi bất cứ thứ gì, nhưng nhất thiết không được để mất LƯƠNG TÂM “. Vâng, chỉ vài dòng đơn sơ như thế thôi, nhưng đã khiến mình suy nghĩ khá nhiều, nhất là khi mình đang trên con đường đi tìm CÔNG LÝ. Trước đây, trong đời sống hằng ngày, hễ ai nói đến hai chữ LƯƠNG TÂM, sao mình thấy bình thường quá. Sở dĩ nó bình thường vì nó gần như một nhật tụng của người dân lương thiện chất phác, nó tuy vô hình nhưng thực chất nó lại hữu hình. Nó xác định câu nói của tiền nhân cao kiến – nhân chi sơ, tính bản thiện. Đồng thời nó mặc định luôn trong đầu con người, như là phải có, nếu đúng nghĩa là CON NGƯỜI. Mình nói vậy chắc bạn có đôi điều thắc mắc? Bạn thắc mắc cũng phải, vì nghe như nó tự mâu thuẫn nhau? Đúng thế, đúng là mâu thuẫn. Mình đồng ý với bạn điều nầy. Nhưng bạn cũng thừa biết đấy, con người hơn con vật ở chỗ lý trí, con vật thì chỉ sống bằng bản năng. Nếu con người không có lý trí thì hóa thành con vật còn gì? Phải không bạn? Vậy LƯƠNG TÂM nằm ở đâu? Là…gì? Thưa, LƯƠNG TÂM là năng lực mang tính tự giác của con người, tự giám sát bản thân, tự đề ra cho mình nghĩa vụ đạo đức phải hoàn thành, tự đánh giá hành vi của mình. Đó là tiếng nói thầm kín bên trong, bảo cho ta biết cái gì đúng, cái gì sai. LƯƠNG TÂM có mọi lúc mọi nơi, mọi ngõ nghách trong đời sống con người. Sở dĩ mình nổi hứng mổ xẻ li ti về vấn đề nầy với bạn vì mình đang trong hoàn cảnh rất cần đến LƯƠNG TÂM. Vâng, LƯƠNG TÂM của những vị đang thực thi công lý. Mình

sợ nhất là sự vô cảm ( insensivity ) trước sự cô thế và sự đau khổ của người khác. Sự vô cảm trong tình thế “ đa kim ngân, phá luật lệ “ lại càng đáng sợ hơn nữa bạn ơi !

15.9.2020 – Tính từ ngày mình gởi Đơn Khởi Kiện bổ sung cho đến nay là đúng 25 ngày. Hai mươi lăm ngày với biết bao cung bậc cảm xúc trong sự chờ đợi. Không biết trạng thái nầy có khi nào luật sư N. đã bắt gặp chưa? Hoặc suy diễn rộng hơn, nó có nằm trong phạm vi LƯƠNG TÂM của luật sư N. không? Ôi, chuyện nầy thì chỉ có Trời mới biết được ! Thú thật với bạn, mình không phiền trách cơ quan thẩm quyền Tòa án, vì đôi khi họ còn nhiều việc quan trọng cần phải giải quyết hơn cả việc của mình. Mình cũng không dám đánh giá luật sư N. không rành khoa tâm lý, vì tâm lý cũng cần cho ngành luật lắm chứ. Chỉ tiếc là luật sư N. không xem việc của khách hàng như là việc của chính mình nên không thấy sốt ruột giùm cho mình, có lẽ vậy (?) Phải thế không bạn hiền?

Chút nữa đây, vào lúc 9h00 mình có hẹn uống cà phê với chú Bùi Tấn Vinh, tiện thể gởi tiền công cho chú ấy về việc đã thực hiện xong video clip bài nhạc Thu Nhớ mà mình đã phổ nhạc cho khách hàng. Bây giờ mới 8h30, mình tranh thủ vài phút để trao đổi với cô học trò cũ ( người đã lo giùm mình 100 triệu để đóng tiền Hợp Đồng cho luật sư N. ) về vấn đề ủy quyền cho cô ấy.

Bạn ơi, cả chiều và tối qua, mình thấy trong người hơi khó chịu. Phía ngực trái của mình thỉnh thoảng nhói từng cơn. Mình vội lấy 1/2 viên thuốc BETALOC ZOK 50 và 1 viên IMDUR 60 uống ngay. Thường thì trong toa bác sĩ Thiện cho là chỉ uống phân lượng 2 loại thuốc nầy buổi sáng thôi,nhưng trong trường hợp đặc biệt như tối nay, mình đánh liều uống thêm. Mình cũng đã từng thực hiện biện pháp liều nầy nhiều lần mỗi khi tim gặp sự cố bất thường bạn à. Ơn Trời Phật, mọi sự luôn qua an lành.

À, mình xin nói lại vấn đề ủy quyền cho bạn nghe. Như bạn thấy đấy, vào tuổi mình thì nay đau mai ốm là chuyện bình thường. Không thể nói trước được một điều gì cả. Bởi vậy, mình muốn ủy quyền cho cô học trò cũ và cậu con trai thứ ba của mình trong việc thay mặt mình xử lý mọi vấn đề liên quan đến vụ việc khởi kiện nếu lỡ xui rủi mình bị đau ốm bất thường không thể đi được. Đây chỉ là biện pháp phòng xa thôi. Tính của mình xưa nay vốn cẩn thận nên mình hay lo trước vậy mà!

16.9.2020 – Đêm qua mình không ngủ được, mình suy nghĩ hoài về chặng đường dài thưa kiện có thể tiếp diễn xa hơn, lâu hơn. Mình đang trong tình thế phóng lao buộc phải theo lao. Mình ráng đợi xem Tòa án huyện Đơn Dương, mà cụ thể là

thẩm phán V.T.L và luật sư D. Đ.N có tiến hành việc thuê Công Ty thẩm định giá như nội dung bản thông báo mà Tòa án huyện Đơn Dương đã gởi cho mình hay không? Mà chẳng lẽ không thuê? Mình đã đóng 20 triệu đồng cho thẩm phán V.T.L rồi mà!

( CÒN TIẾP )

Tuyền Linh

Tranh Ảnh/ album: Sung Ki Jeon.

 

 

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này