Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1387)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (370)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM -Truyện ngắn của PHAN XUÂN SINH

Nhờ các em SAO MAI chuyển lời thăm cuả tôi đến anh PHAN XUÂN SINH và chúc mọi người an bình hạnh phúc.
Câu chuyện hay và cảm động của nhà văn PHAN XUÂN SINH, cựu học sinh SAO MAI ĐÀ NẴNG.

Thầy Tạ Quốc Bảo
-------------------------------------------------------------------------
From: Ta Quoc Bao
Sent: Wednesday, August 26, 2020, 12:27:20 PM PDT
Subject: ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM.

 
<@> BBT-GNST xin chân thành cảm ơn Thầy đã email đến đến chúng em.
Kính chúc Thầy cùng gia đình nhiều niềm vui, sức khoẻ, hạnh phúc và an lành.

Kính mến,
BBT-GNST
Sao Mai
 
 
  ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM  
 
 Truyện ngắn của PHAN XUÂN SINH
 
2010_07_17_PhanxuanSinh_ThiSiVG_03
Sau khi lên ngồi phía sau xe taxi, Hiền nói với người tài xế: “Tôi muốn đi tìm nhà người quen ở Thanh Khê. Lâu quá rồi tôi không đến đây nên chỉ còn nhớ mang máng. Từ ngã ba Thanh Khê vào một con hẻm lớn chừng hai trăm thước, rồi lại quẹo phải chừng năm mươi thước, căn nhà đó nằm bên phải. Người bạn tôi tên Lượm, dân cố cựu vùng nầy. Nhờ anh tìm giùm. Anh đừng lo, tôi sẽ bồi dưỡng cho anh hậu hỉ”.
 
Người tài xế hỏi lại: “Thế chị không tới đây từ bao lâu rồi?”
Hiền trả lời, hình như đã tính trước: “Chừng mười lăm năm”
 “Mười lăm năm, biết bao nhiêu vật đổi sao dời, sợ rằng mọi vị thế đều thay đổi, nhận không ra. Hy vọng anh ấy là dân sống ở đây lâu năm thì hàng xóm láng giềng biết sẽ chỉ cho chị, hy vọng không khó lắm”.
 
Người tài xế cho xe chạy ra đường Hùng Vương, con đường huyết mạch của Đà Nẵng ngày xưa, xe cộ tấp nập nhưng chị không để ý, suy nghĩ miên man. Chị quyết tâm gặp lại Lượm và đứa con gái của chị, sau mười lăm năm chị vượt biên biệt tích, không có một tin tức nào về cha con họ. Dù Lượm có xỉ vả mắng nhiếc chị, có xua đuổi thì chị cũng phải gặp họ để nói một lời xin lỗi, để nhìn lại đứa con gái mà khi chị ra đi nó chỉ mới bốn tuổi. Đứa con mà bao nhiêu năm sống cơ cực ở quê nhà, chị không gửi một đồng bạc nào về cho con bởi lòng ích kỷ vì sợ Lượm sẽ bắt liên lạc, gây khó khăn cho chị.
Trong lúc chị muốn tránh tất cả, để mọi người nghĩ rằng chị đã chết. Khi ra đi trong lúc Lượm còn trong trại cải tạo, gia đình nghèo khổ, tất cả đồ đạc trong nhà đều bán sạch.
 
Cũng vừa lúc đó có những chuyến vượt biên bán chính thức dành cho người Hoa, chị được một người đàn ông quen biết đề nghị giúp chị với điều kiện chỉ một mình chị đi, con phải để lại. Chị đắn đo bao nhiêu ngày, nếu ở lại với tình trạng nầy mẹ con đều chết đói, chi bằng gửi con về bên nội rồi qua đến Mỹ chị gửi tiền về nuôi con.  Chỉ có một con đường nầy giải quyết ổn thỏa bức bách về sự sống còn của chị và con. Thế nhưng oan nghiệt thay…
 
Xe ngừng trước một con hẻm, tài xế quay qua nói với chị: “Đã đến nơi, chị cứ ngồi trên xe, để tôi xuống hỏi những người quanh xóm nầy có biết ông Lượm còn ở đây không?”
 
Chị nhìn quanh nhưng không thể nhận ra có cái gì quen thuộc mà trước đây chị sinh sống. Mọi vật đều thay đổi xa lạ. Tự nhiên chị hồi hộp, tim chị đập mạnh không biết chuyện gì sẽ xẩy ra với chị khi đứng trước mặt anh. Bây giờ chị mới thật sự thấy lo lắng. Chị lấy kính đen ra mang để mọi người trong xóm nầy không ai nhìn ra được chị, người đàn bà có một thời gian dài sống ở đây. Làm sao chị có thể bước xuống xe đi bộ vào con hẻm trước bao nhiêu cặp mắt soi mói nhìn mình. Có phải chăng đây cũng là một hình phạt về cái chuyện mình đã gây ra cho cha con họ. Vì sự ích kỷ của mình, vì gặp một hoàn cảnh nhục nhã mà mình không muốn cho cha con họ biết, nên mình đã cắt đứt liên lạc với chồng con, để bây giờ mọi chuyện đều ngỡ ngàng, cảm thấy xấu hổ.
 
Người tài xế trở ra nói với chị: “ Anh Lượm còn ở đây, nhưng không có ở nhà, đang bán phở ngoài đường cái. Tôi đưa chị ra đó”.
Xe chạy ra đầu hẻm thì ngừng, quán phở nằm bên kia đường. Chị ngồi trên xe nhìn qua quán phở nhận ra anh ngay. Anh đang đứng phía sau nồi nước lèo đang bỏ bánh phở vào tô cho khách. Vẫn bộ râu mép rậm rạp, vẫn nụ cười luôn luôn trên môi mà ngày xưa anh đã chinh phục chị. Chỉ khác một điều là ngày xưa anh là một phi công, còn bây giờ anh là người bán phở. Chị ôm mặt cúi đầu khóc nức nở, thương cho anh quá nhưng bây giờ làm sao đây. Tóc anh nhuốm bạc, da sạm, đôi gò má hóp đủ biết anh sống trong cơ cực, bần hàn, thế mà bao nhiêu năm nay chị không chi viện một đồng bạc nào cho anh và con để sống. Nghĩ tới sự bạc tình của mình, chị cảm thấy xấu hổ. Làm sao cha con anh không oán trách?
 
Người tài xế hỏi chị:
 “Chị xuống xe, hay còn đi đâu khác?”
 “Anh cho tôi xuống đây”. Rồi chị móc ví trả tiền xe, không quên gửi tiền thêm cho tài xế.
Chị vào một quán nước đối diện với tiệm phở của anh bên kia đường, tìm một chỗ ngồi thích hợp để nhìn qua. Chị phân vân không biết làm cách nào để gặp anh, trong lúc khách khứa còn ra vào. Chị gọi một ly café đá rồi hỏi chuyện người bán quán:
 “Tiệm phở bên kia đường bán có khá không chị?”
 “Phở bình dân rẻ tiền, bán cho khách lao động quen biết, kiếm đủ sống?”
Chị muốn hỏi về đứa con gái của chị, nhưng không biết cách nào chị phải hỏi một cách lòng vòng, mông lung:
 “Có một mình anh đó đứng bán, không có ai giúp anh ấy sao?”
 “Trước đây thỉnh thoảng có đứa con gái phụ với cha, bây giờ nó đi học xa chỉ một mình ổng làm”.
Chị ngạc nhiên:
 “Bộ ở đây không có trường sao mà phải đi học xa?”
 “Con bé học giỏi lắm. Lên đại học, ở đây không có ngành đó, nên nó phải vào Sài Gòn”.
Chị cuối mặt thoáng một vẻ vui mừng. Chị nói một cách bâng quơ:
 “Bán phở bình dân mà nuôi con lên đại học, giỏi thiệt”.
Người bán quán dừng tay pha café, nhìn chị như soi mói và trách móc một cách nhẹ nhàng:
 “Ông đó có vợ đi Mỹ nhưng biệt tích, nghe nói bà ta có chồng khác không giúp gì cho cha con ông ấy hết. Tệ thật”.
Một lời cố ý hay vô tình đã làm cho chị thấm đau. Một người dưng bên ngoài không ở trong cuộc, nhưng thấu hiểu được hoàn cảnh của cha con anh, lời của họ như muối xát vào mặt chị, huống gì cha con anh làm sao tránh được sự phẩn nộ? Chị tự hỏi có nên gặp anh ngay bây giờ không? Chị có chịu nổi sự chửi bới nặng nề của anh giữa lúc tiệm đang có khách, có mặt những người lạ.
 
Chị hỏi người bán café:
 “Quán phở bên kia mấy giờ mới đóng cửa?”
 “Sắp đóng cửa bây giờ. Quán chỉ bán buổi sáng và trưa, hai giờ chiều đóng cửa để ông ấy đi chợ lấy hàng về nấu, chuẩn bị cho sáng mai. Ngày nào cũng vậy, tội nghiệp”.
 “Anh ấy không lấy vợ khác sao?”
 “Ông ấy bảo rằng mình nghèo quá không lo cho người ta trọn vẹn, làm khổ thêm một người nữa, mình không đành. Thôi ở vậy nuôi con. Ông ấy cũng có nhiều bà thương, cũng có bà lắm của nhiều tiền, nhưng ông không màng tới, hình như ông sợ chuyện lấy vợ. Một con chim bị thương nên sợ hãi tiếng bật của cung”.
Chị cuối xuống, khóc nức nở như có ai thọc trúng yếu huyệt. Sau cơn giằng xé con tim,  chị gỡ kiếng đen ra lấy khăn lau nước mắt. Ngày xưa anh đẹp trai, một trung úy phi công bay bướm. Nhưng khi kết hôn với chị, anh từ bỏ tất cả các thú vui về sống với vợ con. Lương trung úy của anh cộng với lương giáo viên của chị, hai vợ chồng không giàu có nhưng sống thoải mái. Những ngày sống với nhau thật hạnh phúc, buổi chiều anh chở vợ con trên chiếc xe lambretta đi hóng mát trên bờ sông Hàn. Thứ bảy gửi con cho bà ngoại, vợ chồng đi xem ciné hay nhảy đầm. Một khoảng thời gian ngắn đó đã cho chị hiểu được thế nào là hạnh phúc, mà suốt cuộc đời sau nầy chị không thể nào tìm lại được. Chính chị là người đánh rơi mất cái hạnh phúc tuyệt vời đó, chối bỏ chồng con, chạy theo một thứ danh lợi phồn hoa. Đày ải anh và con lâm vào cảnh bần cùng tồi tệ.  
 
Chị nói thật với người bán café:
 “Tôi là vợ của anh Lượm trước đây và là mẹ của cháu Hậu. Không ngờ rằng tôi đã gây ra nhiều oan nghiệt cho cha con họ quá. Chính tôi cũng không thể tha thứ cho lầm lỗi của mình, thì làm sao tôi đòi hỏi chồng và con tôi tha thứ cho tôi được”.
 “Tôi không ngạc nhiên, vì Hậu giống bà như đúc. Khi nghe bà hỏi thăm ông Lượm là tôi có linh tính đoán ra được bà là vợ của ông ấy trước đây. Bà cứ qua đó gặp ổng, chắc ông mừng lắm”.
 “Không đâu. Tôi nghĩ anh ấy có thể giết tôi cho hả giận, nhưng tôi không sợ. Có lẽ như vậy tôi cảm thấy thanh thản hơn”.
 
Chị trả tiền café, đứng dậy, cám ơn, rồi băng qua đường. Người bán hàng nhìn theo chị vừa lo lắng, vừa thương hại, và cũng vừa có chút trách móc. Anh đang chuẩn bị đóng cửa tiệm, chị bước tới đứng phía sau, gọi khẻ:
 “Anh Lượm”.
Anh quay lui, sững sờ, mắt anh sáng rực, đôi mày anh nhíu lại, rồi anh thốt lên:
 “Hiền đó à, khỏe không em?”
Em không muốn anh hỏi em như vậy. Hãy tát vào mặt em, chửi rủa hành hạ em và nếu cần có con dao thái thịt trên bàn, anh có thể chém em một nhát. Em sẳn sàng tất cả rồi, phải dùng những phương tiện tồi tệ nhất đối với em chứ đừng nhỏ nhẹ với em như vậy. Em không có quyền nhận sự mềm mỏng, sự tha thứ nào của Anh và con…
 
 “Hiền vào quán, anh khóa cửa. Chúng ta nói chuyện không có ai quấy rầy”
Chị nhìn quanh cửa tiệm, vỏn vẹn có năm cái bàn nhỏ, một quày tính tiền, hai bếp lò than kê sát vách tường. Một quán phở bình dân dành cho dân lao động. Tài sản sơ sài của anh khoảng chừng một trăm dollars, thế mà nuôi con ăn học đàng hoàng. Chị kéo ghế ngồi vào bàn, hai tay chống trên bàn mặt cúi xuống, chị gỡ kính ra lau nước mắt, nhưng nước mắt cứ trào. Chị khóc cho ai, cho chị hay cho anh? Chị không còn phân biệt được, nhưng có một điều nước mắt sẽ làm cho người đàn ông phấn chấn và xiêu lòng. Anh kéo ghế ngồi đối diện, không nói một lời, nhìn chị khóc cho hả bớt sự tức tối, đay nghiến chính mình.
 
Sau một hồi lâu, anh mới lên tiếng:
 “Em đừng chống tay lên bàn dơ tay áo. Hôm nay anh chưa lau bàn”.
 “Anh đừng lo, cái dơ bẩn nầy nhằm nhò gì cái dơ bẩn của em đang mang trong người. Mọi người biết chuyện đều xa lánh khinh bỉ em, chửi rủa mắng nhiếc em. Còn anh, sao anh lại tiếp em, không hành xử thô bạo với em, để cho hả dạ mà em đã gây ra cho anh…”
Anh nhìn chị rồi cười:
 “Như vậy thì ích gì cho anh? Thú thật với em, từ lâu anh không còn biết giận hờn là gì cho nên lòng anh mới được thanh thản. Nếu cứ mang hận thù mãi trong người, chồng chất cái nầy lên cái kia, đến bây giờ chắc nó đã dìm anh chết mất. Nhưng thôi, lâu quá mới gặp em, nói chuyện khác cho vui”.
 “Chuyện gì với em cũng không thể vui được. Từ khi ngồi trên máy bay em khóc mãi cho đến bây giờ. Em nghĩ gặp anh, em sẽ bị xua đuổi, sẽ bị nguyền rủa thậm tệ. Em đã chuẩn bị những tình huống xấu nhất. Dù thế nào, dù có chết em cũng phải gặp anh và con, để cho em thấy được mặt, rồi sau đó ra sao cũng mặc”.
“ Cái gì mà ghê gớm đến thế. Tụi mình cũng đã bắt đầu mấp mé đến tuổi già, không bằng lòng cái gì thì nói với nhau, gây cho nhau khó khăn để làm gì? Con Hậu nó đi học ở Sài Gòn, em cần thì anh cho địa chỉ để vào gặp nó. Còn anh bao giờ cũng vậy, tà tà sống qua ngày, không còn bị ràng buộc những bon chen, những tranh giành. Bây giờ anh không còn gì để mất, một cơn bão đã bật tung cội rễ, một canh bạc đã làm khánh tận. Có ngồi than thân trách phận cũng chẳng được gì. Chi bằng mình gạt bỏ tất cả để sống cho mình, cho con. Đủ rồi”.
 
Chị ngồi trước mặt anh, cách nhau một cái bàn, có thể nắm lấy tay nhau được. Thế nhưng sao hai người có một khoảng cách rộng lớn quá. Anh sống cho mình, cho con, nhưng chị cứ nghĩ anh đang sống cho tha nhân, lòng anh mở toang. Anh rộng lượng như Bồ Tát, tính tình anh thay đổi một cách lạ kỳ. Ngày xưa chị khiếp sợ trước cơn giận dữ của anh, đôi mắt anh sáng quắc nhìn chị như ăn tươi nuốt sống. Chị tránh nhìn vào đôi mắt đó, hình như nó có một cái gì đó làm cho chị khiếp sợ, thuần phục. Thế nhưng sau cơn giận, bao giờ anh ôm chị rồi xin lỗi chị trước. Còn bây giờ cũng đôi mắt đó sao nó có vẻ lung linh dịu hiền, có một thần lực sâu kín, một cái nhìn vị tha. Còn chị, chỉ biết bo bo sống cho mình, hẹp hòi, ích kỷ. Luôn luôn nghĩ tới lợi ích, chà đạp lên tất cả, bất chấp dư luận. Chị đã ruồng bỏ  chồng con, xem như họ không có mặt trên cuộc đời nầy. Chị quên họ để dễ bề tái lập một cuộc sống mới cho đở hổ thẹn với lương tâm. Mà làm gì có lương tâm khi con người không còn tình thương yêu đồng loại, đừng nói gì đến tình máu mủ ruột thịt. Anh đang ngồi bên kia đối diện. Cái áo thun cũ mèm, chiếc quần tây mốc thếch, đôi dép Nhật mòn lẳng. Vẫn đôi lông mày rậm rạp, mái tóc muối tiêu bềnh bồng một chút phong trần, vẫn hồn nhiên tươi cười, thanh thản. Một tấm lòng rộng lượng. Trông anh sao oai vệ, lớn lao quá. Còn chị, trong bộ áo quần đắt tiền, sang trọng. Khuôn mặt hồng hào trắng trẻo. Sao chị vẫn cảm thấy mình thấp hèn và u tối quá.
 “Anh thù ghét em, khinh bỉ em, phỉ nhổ em… anh làm đi, hãy làm đi để em được thấy mình bị trừng phạt, bị nguyền rủa. Em không mong anh và con tha thứ, mọi thứ nầy em không xứng đáng nhận lãnh. Về đây, em chỉ mong thấy được anh và con, rồi em có chết cũng thỏa lòng”.
 
 “Tại sao em phải đày ải mình như vậy để làm gì? Được em còn nhớ tình xưa đến thăm cha con anh, đó là diễm phúc lắm rồi. Chúng ta không còn nợ gì với nhau, hãy để mọi chuyện yên nghỉ. Nếu em còn ở đây thỉnh thoảng đến thăm anh, còn vào Sài Gòn thì đến thăm Hậu, nếu em có thì giờ. Cuộc sống của cha con anh như một cổ máy vận hành đều đặng, mười mấy năm không ngơi nghỉ. Em về, tự nhiên anh cảm thấy có một chút giao động, cuộc sống như chựng lại. Hy vọng mọi chuyện sẽ trở lại như cũ”.
 “Có phải chăng đó là lời cảnh cáo? Đừng làm phiền anh phải không?”
Anh nhìn đi chỗ khác:
 “Em nghĩ sao cũng được, bây giờ không phải lúc tranh cãi những chuyện vu vơ. Anh không nói như vậy. Nhưng nếu em nghĩ như vậy thì cũng chẳng sao. Từ lâu anh sống trong cô đơn quen rồi, em về khuấy động lòng anh không ít. Dù có dửng dưng thì cũng bị một cái ”sốc”. Anh thấy tủi thân. Hay là em đừng tới nữa, để anh yên vị với cách sống xưa nay của mình”.
 
Chị bật khóc nức nở, anh đã thẳng thừng đuổi chị nhưng chị cảm thấy như vừa lòng. Bây giờ chị mới nhận được một chút hất hủi, ít ra nó phải mang một cái gì đó thể hiện sự trừng phạt. Mười lăm năm, anh đã đắng cay trong cực khổ, chờ vợ thương tình gửi cho một ít tiền nuôi con, vợ lờ đi. Anh bữa đói bữa no, hy sinh cho con. Những nhọc nhằn trong thời kỳ khó khăn đó, anh không quên được. Bây giờ đời sống đã tạm ổn dù vẫn nghèo khó, vẫn chật vật, nhưng không ở trong tình trạng bức bách như hồi trước. Anh tự cảm thấy bằng lòng với mình. Mỗi tháng gửi cho con một ít tiền ăn học, dặn dò con cố gắng dè xẻn trong số tiền ít ỏi đó. Tội nghiệp con bé, biết cha khổ cực nên không dám tiêu một đồng bạc nào phung phí. Con bé nói với cha nhiều lần là nó phải học. Chỉ có học sau nầy mới giúp được cha thoát khỏi cái cảnh nghèo khó. Con bé khôn lanh từ nhỏ, đã lăn lóc với cha trong mưu sinh, trưởng thành trong chật vật, nên hiểu cái giá trị đồng tiền tạo ra từ mồ hôi, từ khổ nhọc. Chính vì vậy nên anh cũng yên lòng khi phải xa con.
 
Sau khi những xúc động, những ngỡ ngàng gặp lại nhau trôi qua. Bây giờ anh nhìn chị một cách kỹ càng, để xem một con người hiền hậu, thương yêu chồng con của thủa nào, sau một thời gian ngắn đến Mỹ, đã chối bỏ quá vãng của mình một cách dễ dàng, ruồng bỏ chồng con. Anh lắc đầu, không thể hiểu nỗi lòng dạ con người, khéo léo che đậy bên trong một sự phản phúc thối tha. Cái nhận xét của anh có trung thực không? Có cay nghiệt không? Hay anh là một nạn nhân của hoàn cảnh nên phán xét sự việc nghiệt ngã như vậy. Anh đã cố quên đi những uất hận, những khổ đau của một con người sống cô thế nghèo hèn, bằng lòng với những gì mình tạo ra được, cuốn mình trong cô đơn. Từ lâu đã quen sống trong một môi trường chật vật, không còn tha thiết đến chuyện lập lại gia đình. Anh ngán ngẩm với lòng người. Khi mới học tập trở về, nghe tin vợ đến Mỹ, anh mừng lắm. Như vậy đời sống của cha con anh có một tia hy vọng, sẽ được vợ trợ cấp, rồi một ngày nào đó sẽ được vợ bảo lãnh. Thế nhưng năm nầy qua năm khác, trông ngóng dài cổ vợ vẫn biệt vô âm tín. Cha con anh sống trong khổ cực, trong thiếu thốn phải cắn răng chịu đựng. Tất cả các ước mong trong anh đều tan biến, không còn một tia hy vọng nào. Cũng may, giữa lúc khó khăn như vậy thì một người bạn được gia đình bảo lãnh đi Mỹ, bán lại tiệm phở bình dân nầy bằng cách trả góp. Một cái phao vớt anh ra khỏi sự ngụp lặn trong bon chen, dù nó không đắt khách lắm nhưng sau khi trang trải mọi thứ, cha con anh cũng có một cuộc sống tạm ổn.
 
Anh nói với chị:
 “Con Hậu giống em như tạc, nhưng nó không hiền hậu khéo léo bằng em. Nó sống với cha từ nhỏ nên tính tình của nó cứng rắn, dứt khoát”.
Không hiền hậu khéo léo bằng em, sao anh không nói nó không điêu ngoa, không lừa lọc như em. Để em dễ dàng nhận thấy mình còn được một diễm phúc, là con em ít ra nó khác xa mẹ nó về tính nết, về xử sự, về nhân tính…Anh đã ném cho em một cục đường, mà khi nuốt vào mắc ngang cổ họng. Cái đau của sự ngọt ngào nầy như một chất cường toan thiêu đốt em. Sao anh vẫn còn đối xử với em nhẹ nhàng để làm gì? Khi mà em muốn mọi người phải hành hạ em, phải chửi rủa em. Mười lăm năm nay em chưa thấy mặt con, nhưng em biết nó là một đứa bé ngoan, một mình đi xa trọ học, quyết tâm thay đổi cuộc sống khá hơn sau nầy, để giúp cha thong thả trong tuổi già sức yếu. Nội cái suy nghĩ đã đượm cả một nhân sinh quan đạo đức đó thôi, đủ biết nó sống hết mình với thân thuộc. Hậu là con em, nhưng bỏ xa một khoảng cách dài trong quan niệm sống của em. Nó rộng rãi với người thân bao nhiêu thì em nhỏ nhen ích kỷ bấy nhiêu. Quả thật em không còn xứng đáng một người mẹ, nhưng cũng may cho em, an ủi được em là con em đang là một thiên thần, trong lúc em đã là một quỷ sứ.
 
 “Em à, anh phải đi chợ chiều nay, rồi về nhà nấu, để ngày mai dậy sớm bán hàng. Bây giờ đã trễ quá rôi, sợ người ta không chờ mình được”.
 “Anh có thể đóng cửa vài hôm được không? Em năn nỉ anh, cho em xin một cơ hội được gần anh với con vài ngày. Rồi sau đó em sẽ ra đi không còn làm phiền lòng anh nữa”.
 
“Anh nghĩ, chúng ta đã trao đổi với nhau đủ rồi, cái gì cần thì đã nói. Không cần phải kéo dài ra thêm để làm gì. Chân đã bước qua khỏi lằn ranh, không rút lại được. Tiếc nuối làm gì thì cũng vậy thôi”.
Chị gục xuống bàn khóc. Cũng tiếng khóc nầy, cũng con người nầy mà ngày xưa khi giận dỗi chị vào buồng lên gường nằm khóc, dù có tức giận cách mấy nghe chị khóc anh không làm sao chịu được, nó rưng rức, nghẹn ngào đã làm cho anh xốn xang. Bao giờ anh cũng thua cuộc trước. Lấy khăn lau nước mắt, dỗ dành chị. Còn bây giờ, cũng tiếng khóc đó nhưng sao anh cảm thấy xa lạ. Nó không đánh động được lòng anh. Sao vậy? Mười bảy năm từ khi anh vào trại cải tạo, anh không còn được nghe chị khóc. Bao nhiêu năm xa nhau đã làm cho con người anh chai lì, không còn biết rung động, ngược lại anh thù ghét tất cả. Cũng may anh còn đứa con gái là chiếc phao cuối cùng anh vịn vào đó để sống. Những năm đầu, anh oán hận chị nhưng dần dần về sau nguôi ngoai, mang làm gì cái đó trong người cho thêm nặng nề. Tự nhiên cuộc sống được bảo hòa, anh cố quên đi tất cả để sống thoải mái an lạc.
 “Thôi được, anh treo bảng đóng cửa vài ngày vì bận việc gia đình, để khách khỏi phải đợi”.
Anh vẫn chìu chị, anh cứng rắn lắm kia mà, sao lạ vậy? Anh cũng không biết tại sao mình lại mềm lòng như thế. Chỉ vài ngày rồi chị ra đi, anh không nở khi chị trở qua bên kia mà còn mang trong lòng u uất, dù điều nầy xứng đáng với hình phạt bỏ bê chồng con của chị. Thôi, mọi chuyện đâu vào đấy. Gây thêm làm gì những rắc rối cho người khác. Anh phân vân có nên gọi Hậu về thăm mẹ, hay để mẹ vào Sài Gòn rồi đến thăm con. Hậu là đứa con gái cứng đầu, thù ghét dai dẳng chắc gì nó tiếp mẹ, mặc dù nó cần có mẹ. Anh đề nghị với chị nên đánh điện tín gọi Hậu về, dù gì có anh bên cạnh nó cũng không dám đay nghiến mẹ hay lở lời với mẹ. Anh về nhà tắm rửa thay đồ rồi lấy chiếc xe honda cà tàng của mình chở chị ra bưu điện. Chiếc xe nầy thuộc loại cũ mèm, khi qua tay anh nó chưa có hân hạnh chở người, mỗi ngày anh dùng nó chở thịt, bánh phở, rau v.v.. mọi thứ cho tiệm phở của anh. Đây là lần đầu tiên chở người. Sau khi suy nghĩ, anh đánh điện tín cho Hậu với nội dung: “Hậu, Ba đau nặng. Mua vé máy bay về gấp”.
Sau hơn mười bảy năm, bây giờ chị mới ngồi phía sau xe anh chở. Chị cảm thấy thật hạnh phúc, tay chị ôm ngang lưng anh, đầu tựa vào vai, chị được ngửi lại mùi da thịt quen thuộc của những ngày êm ả thủa nào. Chị cảm thấy thương quá, thân hình anh ốm o, vóc dáng như nhỏ lại. Ước gì hai tay chị được ôm siết anh thật chặt như ngày xưa, cái mơ ước thật nhỏ bé, thật đơn giản, đang ở trong vòng tay chị. Thế nhưng nó quá xa vời, chị không đủ can đảm tiến tới thêm, hình như nó đang có một lực cản mà chị không tiến tới được, vừa xấu hổ vừa quý trọng đang âm ĩ trong người chị.
 “Em có cần đi đâu nữa không?”
 “Anh chở em đi vòng thành phố một chút được không? Em muốn nhìn thấy lại thành phố”.
Anh không thấy gì ở chị một sự thay đổi, vẫn nhỏ nhẹ như ngày nào, vẫn còn thùy mị mà sao trong lòng chị thay đổi nhiều như vậy. Anh không muốn hỏi về gia đình của chị ở Mỹ, vì anh sợ đụng tới một sự thật phủ phàng. Thôi hỏi để làm gì, khi mà mọi thứ đều nằm ngoài tay với, biết để rồi ấm ức chứ ích gì. Anh đưa chị đi những nơi mà ngày xưa vợ chồng hay lui tới, khung cảnh tuy có đổi khác, nhưng trong lòng của hai người vẫn còn đọng những dấu ấn. Chị xin anh cho chị về nhà ở vài ngày được không, để chờ con Hậu về rồi tính sau. Anh phân vân, lại làm khó cho anh nữa rồi. Cũng may căn nhà anh mới xây lại năm vừa qua, tuy không tiện nghi nhưng cũng có nơi để chị nghỉ. Ghé qua khách sạn để chị lấy đồ đạc. Anh ngạc nhiên, đi bao lâu mà mang đồ nhiều quá vậy, bốn cái va-li và một cái xách tay, phải nhờ khách sạn gọi taxi chở đồ.
Khi xe về tới đầu hẻm, cả xóm chạy ra nhìn chị. Chị cảm thấy thẹn thùng, cúi đầu đi nhanh vào nhà. Chị còn nghe tiếng trằm trồ: “Bà đẹp quá, giống con Hậu như đúc”. Hàng xóm phụ anh mang va-li vào nhà, không quên chúc mừng anh đoàn tụ. Anh nghe như có cái gì mỉa mai, thấm đau. Có ai biết được nội tình của anh bây giờ. Vợ sờ sờ ở đó mà không phải của mình. Xa nhau lâu ngày khi gặp lại mà trong lòng vẫn bình lặng. 
 “Tối rồi, em muốn ăn gì anh chở đi”.
 “Em ăn chay, mười lăm năm nay”.
Anh nghe như có cái gì đó chói tai. Ăn chay mười lăm năm nay để rồi bỏ bê chồng con như vậy sao? Con người nầy càng gần càng thấy khó hiểu. Những người có tâm nguyện ăn chay thì phải hướng về những điều lương thiện. Việc của chị đối xử với cha con anh mười lăm năm nay không có chút lương thiện tí nào. Anh không thể nào hiểu nổi lòng dạ đàn bà.
 
Hai ngày sau, Hậu về tới nhà. Bước vào cửa, Hậu nhìn thấy chị, kinh ngạc và biết ngay người đó là mẹ mình. Hậu quay mặt vào vách khóc nức nở, tiếng khóc mang nhiều suy nghĩ lẫn lộn: trách móc, thù ghét, mừng tủi v.v.. chị lại gần ôm con. Mười lăm năm bao giờ chị cũng nghĩ tới con, chính vì nó mà chị giữ lại mạng sống nầy. Ai hiểu được cái đau khổ tột cùng của chị. Nước mắt chị rơi trên vai con.
Hậu nói trong nước mắt:
 “Từ lâu con cứ nghĩ mẹ đã chết”.
 “Vâng, chính mẹ cũng nghĩ rằng mẹ đã chết. Hãy tha thứ cho mẹ”.
Khi ra đi, con mắt của con cứ đau đáu trông chờ chị. Mỗi ngày qua đi là mỗi ngày chị cầu nguyện cho chồng con chóng quên chị, xem như chị đã bỏ thây trên biển đông. Chị không liên lạc để cho chồng con nghĩ rằng chị đã chết. Nhưng mỗi lần toan tính quyên sinh là mỗi lần chị thấy đôi mắt của đứa con hốt hoảng nhìn chị, nên chị phải dừng lại ý định nầy. Thế mà chị không đủ can đảm bắt liên lạc với chồng con. Chị sợ rằng sẽ gây cho họ một sự đau khổ, một nhát chém trên lưng mà không bao giờ lành được. Mười lăm năm, chị không thể chờ thêm được nữa. Phải trông thấy được mặt con, mặt chồng rồi qua lại Mỹ quyết định mọi chuyện”.
Chị ôm vai Hậu lay nhẹ:
 “Hậu à, cho mẹ xin lỗi. Về đây mẹ mới biết được một điều là ba và con hận mẹ, nhưng không xua đuổi mẹ. Rồi đây con sẽ hiểu mẹ hơn. Cho đến bây giờ mẹ vẫn ở vậy, không có gia đình. Làm sao mà tái giá được khi mà lòng mẹ bao giờ cũng nghĩ về ba và con. Nhưng thôi chuyện nầy sẽ nói với con sau”.
Anh giật mình nhìn sửng chị. Hậu nín khóc ngay, quay lui nhìn mẹ. Tất cả chờ đợi.
Chị thong thả nói với con:
 “Mẹ không nói dối con. Mười lăm năm nay mẹ chỉ biết đi làm, về nhà tụng kinh rồi đi ngủ, ngày nào cũng vậy. Chỉ có cuối tuần đi chợ mua thức ăn. Mẹ nghĩ rằng Ba bây giờ đã có vợ khác. Không ngờ mọi chuyện không như vậy. Tội nghiệp, tất cả đều do mẹ”.
 “Thật hả mẹ, con mừng quá”.
Chị ôm con vò đầu:
 “Trong bốn cái va-li mẹ mang về, áo quần của con và Ba. Còn mẹ đồ dùng chỉ trong xách tay. Qua lại Mỹ dần dần mẹ sẽ chuyển tất cả tiền về cho con và Ba tùy nghi. Đó là số tiền dành dụm mười lăm năm của mẹ”.
 
                                                                        ********
    Thay đoạn cuối    
 
Thưa chị Hiền,
 
Chị đã kể cho tôi nghe câu chuyện của đời chị. Chuyện quá sức thương tâm của một người đàn bà bị dày vò bởi những nghịch cảnh trên biển đông, trong lúc vượt biển. Mà sau nầy không dám nhìn lại chồng con. Luôn luôn bị dằn vặt, ám ảnh bởi những hình ảnh dã man của một lũ người mọi rợ, dày xéo trên thân thể của những người đàn bà cô thế, vô tội.  Làm cho nhiều người xem mình như đã chết, không dám nhìn lại những người thân, trong đó có chị. Có một điều, sau mười lăm năm chị mới tỉnh người và có một quyết định sáng suốt trở về gặp lại chồng con.
 
Tôi không đủ chữ nghĩa để mô tả lại cái đau khổ tột cùng của chị, cái chờ đợi mỏi mòn của chồng con chị. Tôi là người ghi nhận vô cùng thiếu sót, mong chị lượng tình tha thứ. Song tôi nghĩ dù sao đi nữa câu chuyện nầy cũng làm cho nhiều người cùng hoàn cảnh thấy được chính mình, cho người khác thông cảm những mảnh đời oan ức của những người đàn bà bị làm nhục, bị dày xéo, đọa đày. Tôi nghĩ, tất cả mọi người nghiêng mình kính phục những người như chị. Đó là vấn nạn khổ đau chung của dân tộc chúng ta, trong một hòan cảnh bi đát của đất nước. Thế giới phải sửng sốt, lương tâm của những con người được đánh động và tình thương đã thắng.
 
Tôi mong rằng chị sẽ được sống thanh thản với chồng con, với cộng đồng loài người và tự hào tình thương đã đùm bọc lấy nhau, san sẻ cho nhau và tương kính nhau để sống.
 
Chúc chị và gia đình thành công trên bước đường còn lại.
 
Dallas, ngày 29 tháng 9 năm 2008.
Phan xuân Sinh
Xem thêm...

ĐÀ NẴNG CỦA TÔI - Phan Xuân Sinh

ĐÀ NẴNG CỦA TÔI

- Phan Xuân Sinh

Xin trân trọng giới thiệu cùng DĐ bài viết của nhà thơ, nhà văn Phan Xuân Sinh, người con của đất "Ngũ Phụng Tề Phi", cựu học sinh Sao Mai Đà Nẵng.

Đôi dòng tiểu sử

PhanXuanSinh1_e

Sinh ngày 02 tháng 01 năm 1948 tại Nại Hiên Tây – Đà Nẵng

Định cư tại Hoa Kỳ 01-6-1990

Có bài đăng trên các tạp chí: Văn, Văn Học, Hợp Lưu,Thế Kỷ 21, Làng Văn,

Phố Văn, Chủ Đề, các báo chí hải ngoại, và các website Talawas, Da Màu v.v..

Các tác phẩm đã xuất bản:

– Chén Rượu Mời Người (thơ) cùng với Dư Mỹ – 1996. Tác giả xuất bản.

– Đứng Dưới Trời Đổ Nát (thơ) – 2000. Tạp chí Văn xuất bản.

– Bơi Trên Dòng Nước Ngược (văn) – 2004. Sông Thu xuất bản.

– Khi Tình Đang Ru Đời (thơ) – 2008. Văn Nghệ xuất bản.

– Sống Với Thời Quá Vãng (văn) – 2009. Tạp chí Hợp Lưu xuất bản.

- Tát cạn đời sông (Thơ) - 2013. Văn Chương xuất bản

 

ÐÀ NẴNG CỦA TÔI

Phan Xuân Sinh

Từ lâu tôi chờ đợi một người nào đó viết về quê tôi, như Phan Nhự Thức viết về Quảng Ngãi, Nguyễn xuân Hoàng viết về Nha Trang, Trần Doãn Nho viết về Huế. Thế nhưng chẳng có ai làm điều nầy giùm tôi, hoặc có người viết rồi mà tôi chưa được đọc, thôi thì bây giờ tôi viết về Ðà Nẵng của tôi vậy. Thật tình thì Ðà nẵng cũng không có nhiều danh lam thắng cảnh, cũng ít nơi thơ mộng. Người dân chúng tôi nòi văn chương chữ nghĩa cũng ít, nhưng nói ” móc họng” thì nhiều. Danh nhân thì đếm trên đầu ngón tay các ông Thái Phiên, Án Nại, mà những người chính tông Ðà Nẵng cũng ít người biết. Còn ông Phan Châu Trinh, Trần Quý cáp, Nguyễn Duy Hiệu v.v.. tiểu sử các ông ai ai cũng biết…

Thường thì Ðà Nẵng-Quảng Nam là một, nó dính liền với nhau cùng một thân một gốc, từ phong tục, tập quán, văn hóa, xã hội và nhất là “cãi lộn” cũng đều y chang như nhau. Trong thời kỳ Pháp thuộc họ chia anh em chúng tôi ra làm hai cho dễ cai trị, nhưng chỉ mỗi một việc là hành chánh còn tất cả chỉ là một. Tôi còn nhớ khi học tiểu học, tôi học trường Hòa Vang, trường nầy thuộc tỉnh Quảng Nam mặc dù tôi là dân Ðà Nẵng, nhà tôi cách trường chừng bảy trăm mét. Họ chấp nhận cho tôi vào học tức là họ xem tôi là thành phần con cháu của Quảng Nam. Nói thế để quý vị các tỉnh khác biết rằng nói đến Ðà Nẵng tức là nói đến Quảng Nam. Chớ dại thấy mấy ông Quảng Nam ngồi đó mà đụng chạm đến Ðà Nẵng thì quý vị sẽ bị phản ứng ngay lập tức, “cãi” cho tới cùng.

Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi !-Trần Trung Đạo | ĐỒNG HƯƠNG KONTUM

Tôi sinh ra và lớn lên tại làng Nại Hiên Tây thuộc trung tâm của Ðà Nẵng, (Ðà nẵng lúc ấy chỉ có 7 làng tại trung tâm: Bình thuận, Phước Ninh, Nam Dương, Thạch Gián, Thạch Than, Hải Châu, Nại Hiên Tây), ranh giới phía tây là ngã ba Huế, Phía nam là Chợ Mới, đông bắc đều giáp biển. Làng tôi nghèo nhất thị xã, dân chúng phần đông sống bằng nghề khuân vác bến tàu hoặc các kho hàng, một số ít buôn gánh bán bưng. Tôi lớn lên giữa một phố nghèo xơ xác. Có ai đó nói rằng quê hương như vậy thì chẳng có chi là thơ mộng nên làm sao mà viết được. Bây giờ tôi mới hiểu ra được một phần, tôi có quá nhiều điều để viết về quê tôi, từ con người đến con đường, từ mái nhà đến góc phố v.v. trong lòng tôi tất cả đều khác những nơi tôi đã đi qua, nó dễ thương hơn, đẹp đẽ hơn, mật thiết hơn, vì đó là quê hương của tôi. Nó là hiện thân những cái gì trân quý nhất chất chứa trong lòng tôi, “Quê hương mỗi người chỉ một..” câu hát khi còn ở Việt Nam tôi thấy nó rất “sáo” làm sao ấy, thế mà qua Mỹ thỉnh thoảng nghe lại bỗng dưng tôi ray rứt, cuống cuồng. Mỗi lần nghe bài nầy là Ðà Nẵng hiện ra trước mắt tôi, giòng sông Hàn đang lững lờ trong đầu tôi, khuôn mặt của những thằng bạn nhỏ chập chờn ẩn hiện. Như vậy mới biết quê hương luôn luôn nằm trong trái tim, luôn luôn chực chờ, phục kích đâu đó sẵn sàng tràn ngập khi có dịp.

ĐÀ NẴNG QUÊ TÔI - Ký ức khó quên

 

Nhà hàng nổi trên sông Hàn đường Bạch Đằng

 Name:  nusinhxua.jpg
Views: 2103
Size:  38.7 KB

   Trên đường Bạch Đằng trước mặt Hội Việt Pháp

77 hình ảnh quý giá về Đà Nẵng trước 1975 P1 | Hình ảnh, Hình, Quần đảo

Nhà hàng nổi trên sông Hàn đường Bạch Đằng

Nhà tôi gần Cổ Viện Chàm, những buổi trưa hè oi bức rủ vài thằng bạn vào đây ngồi dưới tượng Chàm mát rượi, chạy trốn cái nóng của gió Lào đang vật vã quê tôi, mỗi lần vào đây tôi thấy trong người lâng lâng, những hình tượng đầu voi, mặt khỉ không làm cho tôi sợ mà tôi lại thấy thân quen. Tôi thường hay ra ngồi những bậc tam cấp dưới những hàng sứ già nhìn ra sông Hàn, những con thuyền buồm trắng qua lại dọc trên sông thật thơ mộng. Hình như khi tôi biết những hình ảnh qua trước mắt tôi “thơ mộng” thì chính lúc đó tôi cũng bắt đầu làm thơ. Những câu thơ “con cóc” đầu tiên ra đời chuyên chở những thứ lãng mạn tưởng tượng. Hồi học lớp nhất đăng được một bài thơ trên báo Tuổi Xanh ở Sài Gòn mang vào lớp khoe với chúng bạn đến tai cô giáo, cô gọi tôi lên đưa tờ báo cho cô xem, cô không cho tôi một lời khen nào mà phán một câu: “Học hành chẳng ra chi mà bày đặt thơ với thẩn”. Cô giáo đã bóp chết tài năng của tôi vừa chớm nở. Từ đấy vì quá mắc cở với bạn bè tôi không dám làm thơ, không làm thơ nhưng học hành cũng chẳng ra chi, thi trượt vào đệ thất trường Phan Châu Trinh, đành phải mài lũng đít quần ở trường Tây Hồ và Sao Mai. Ðây là khoảng thời gian đẹp nhất của tôi, để lại cho tôi biết bao kỷ niệm buồn vui nhất trong đời, cái thuở học trò vừa mới lớn, yêu thầm nhớ trộm, mơ mộng viễn vông.

Name:  truongtranphu.jpg
Views: 3551
Size:  32.2 KB

Tòa Thị Chính và trụ sở Cty Shell  thành phố Đà Nẵng 

Trừơng Trung Học Sao Mai ĐÀ NẲNG - Trang chủ | Facebookg

Cũng như những thành phố khác Ðà Nẵng cũng có những con đường dễ thương, tình tứ, một bờ sông nên thơ mà những kẻ yêu nhau để lại ở đó biết bao kỷ niệm. Thuở còn đi học thỉnh thoảng trong lớp thường tổ chức những cuộc picnic bằng xe đạp, từng đoàn học sinh đạp xe lượn vòng trên các con đường đi Sơn Chà, Tiên Sa, Mỹ Thị, Non Nước, Nam Ô, Khuê Trung, Cẩm Lệ, những địa danh thân thuộc mà mấy chục năm xa rời Ðà Nẵng tôi vẫn nhớ rành rọt từng gốc cây, con đường, bãi cát. Những quán cà phê Diệp Hải Dung, Cà phê Hạ, cà phê Ngọc Lan, cà phê Thông Tin, mà tôi đã ngồi hàng giờ để nhìn những giọt cà phê rơi xuống đáy ly. Kiosque bên kia đường của cà phê Thông Tin là tiệm bán kính đeo mắt, có một người con gái rất đẹp tên là Ðông, đã làm điêu đứng biết bao thằng học sinh trồng những gốc ”si” tổ bố, hình như lúc ấy tôi cũng ở trong nhóm lóc nhóc nầy. Rồi một ngày nào đó nghe tin Ðông lấy một ông sĩ quan Hải quân và vắng mặt ở tiệm kính bên kia đường, lúc ấy tụi tôi cũng không còn thích thú uống cà phê ở góc đường Thông Tin nữa.

Một số hình ảnh Đà Nẵng thời kỳ 1975


Làm sao tôi quên được những cái tên Trương Thị Ngọc Thật, Lâm Thị Sâm, Phan Thị Sách, Nguyễn Thị Thy, những người một thời đã làm rướm máu trái tim “mới lớn” của tôi, đã nâng tôi lên chín tầng mây rồi nửa chừng thả tôi rơi xuống hố thẳm, cho tôi nếm thử mùi vị ngọt ngào, cay đắng của một thứ tình yêu tưởng chừng như không thật, cho tôi những tháng ngày buồn vui rộn rã, bơm cho tôi no tròn nhưng cũng đâm cho tôi xì hơi xẹp lép và cũng bắt đầu từ đó tôi sợ hãi những người con gái có chút nhan sắc nhưng lại tính toán chi li trong tình yêu, đem tình yêu làm trò tung hứng nô đùa. Ðà Nẵng giết mòn mỏi tôi của những ngày mới lớn, đẩy tôi đến tận cùng bờ tuyệt vọng của cuộc đời. Thế mà với tôi luôn luôn và bao giờ tôi cũng trân quý, thương nhớ đến thành phố nầy. Ngoại trừ bài học đầu tiên về tình yêu còn tất cả nơi đây đã tập và dìu dắt tôi từ bước đi đến lời ăn tiếng nói, từ một tấm lòng dành cho tha nhân đến căn bản đạo đức làm người, nghĩa là Ðà Nẵng là một biểu tượng cao quý nhất chiếm hầu hết những suy nghĩ của tôi.

Đà Nẵng phố xưa - Tòa Thị Chính Đà Nẵng ngày xưa (năm... | فيسبوك

Chợ Cồn

Xa Ðà Nẵng gần 30 năm, mỗi lần gặp ai đó cùng quê nhắc lại hai chữ Ðà Nẵng là tự nhiên lòng tôi quay quắt muốn trở về. Tự nhiên những hình ảnh những người thân của tôi hiện lên. Ba tôi, một thầy giáo hiền hòa, suốt đời tận tụy với nghề nghiệp, suốt đời sống trong bần cùng nhưng trong sạch, người dân làng Nại Hiên quý trọng ông, ước ao của ông cũng bình dị như những người dân nghèo quê tôi là mong cho con cháu nên người, còn cái khổ cực của bản thân ông không đáng kể. Khi tôi vừa đặt chân đến Mỹ vài tháng thì được nghe tin Ba tôi mất, ông chưa kịp hưởng được những đồng đô-la do tôi gởi về thì ông vội vàng ra đi, sống trong nghèo khổ chết trong thanh bạch. Ba tôi trước đây có một người bạn thân thiết như anh em ruột. Chú đúng là hình ảnh người Quảng Nam chân chính. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ hình ảnh của chú, mỗi lần trong quê ra Ðà Nẵng dự đám giỗ kỵ, Chú mang khăn đóng áo dài, đôi guốc mộc bao giờ Chú cũng kẹp nách chứ không mang. Vào đến nhà ngồi trên ghế đàng hoàng, bắt đầu Chú phủi hai bàn chân vào nhau rồi nhè nhẹ đặt chân vào guốc, nếu xỏ mạnh như sợ đôi guốc bị đau. Từ bến xe về nhà tôi cũng xa, trưa nắng như đốt đường cái nóng sôi, thế mà chú Kết của tôi không sợ da chân bị lột, bị bỏng, mà sợ đôi guốc bị mòn. Có lần đến bên Chú hỏi về điều nầy, Chú mộc mạc trả lời, đi chân đất quen rồi mang guốc khó đi, hơn nữa đi xa sợ guốc mau mòn. Ðó là hình ảnh tiết kiệm cố hữu của những người dân quê tôi.

Chợ Hàn Đà Nẵng Xưa và Nay

Name:  tranphu.jpg
Views: 2254
Size:  54.8 KB

Ba tôi thường ngồi kể cho tôi nghe những chuyện về con người, tập quán, phong cách, ăn uống của người Quảng Nam Ðà Nẵng qua cái nhìn mang chút hài hước của ông. Có lần nhìn chú Kết, ông nói với tôi, các thư sinh Quảng Nam ngày xưa ra Huế đi thi, làm sao mà mang guốc lội bộ qua năm cái đèo, phải đi bằng chân đất như Chú Kết bây giờ vậy, ra đến Huế thì đoàn thư sinh Quảng Nam không giống ai hết, quần thì ống cao ống thấp, áo thì vắt vai, guốc thì kẹp nách, giọng nói rổn rảng khó nghe có phần cộc cằn, đôi lúc “móc họng” người ta. Thế mà các tiểu thư Huế lại chịu cái loại đàn ông nầy, đàn ông thật thà chất phát, ăn cục nói hòn nhưng trong bụng đầy kinh thư chữ nghĩa. Bằng chứng là năm ông quan đầu triều Nhà Nguyễn được phong” Ngũ Phụng Tề Phi”. Người Quảng đi đâu, ở đâu mỗi lần nhắc nhở về quê hương, họ cũng đều hãnh diện, sướng rân lên với cái xứ sở ” Ngũ Phụng Tề Phi” của họ. Ðể an ủi cho cái nghèo, cái thiếu ăn, họ cho rằng đất của họ ” nhân tài mọc nhiều quá lúa mọc không nổi”, nên cái chuyện quanh năm không đủ gạo phải ăn độn là chuyện bình thường. Nói đến cái ăn thì quê tôi “kỵ” nhất là đồ ăn có nước nhiều lỏng bỏng mau đói, mì Quảng thì rau phải xắt nhỏ để chứa được nhiều, nước lèo chan vừa đủ thấm. Không có nơi nào ăn mặn bằng dân Quảng Nam, mắm phải mặn cho đỡ hao. Mít thì thích ăn mít ướt để ăn được nhiều còn mít ráo vài múi thì đã ớn. “Ăn chắc mặc bền” đó là câu thực dụng nhất cho quê tôi. Khi còn ở Sài Gòn tôi có một cơ sở làm ăn nhỏ, thỉnh thoảng cũng làm mì Quảng, bánh đập để đãi công nhân. Theo thói quen mì chan ít nước giống như ngoài mình, nhưng dân Nam Kỳ ăn như vậy không quen họ phải chan nước cho đầy như bún bò hay phở, còn bánh đập họ không chấp nhận được vì bánh đập trong Nam có thịt bò nướng kẹp vào, bánh tráng bánh ướt trống trơn chấm mắm thì chẳng có chi hấp dẫn. Có một lần về lại Ðà Nẵng các bạn tôi dẫn đi Cẩm Lệ để ăn bánh tráng cuốn thịt heo, khi chấm vào chén mắm cái, tôi mới giật mình vì mắm quá mặn, khẩu vị của tôi không còn thích hợp vì mấy chục năm sống trong Nam tôi quen với mắm nêm có vị lạt hơn, ngọt hơn.

image119

Đường Độc Lập 1965. Nơi đây có rạp chiếu phim Kinh Đô.

Name:  sontra.jpg
Views: 2297
Size:  22.0 KB

  Toàn cảnh bán đảo Sơn Trà

Một lần về thăm Ðà Nẵng, ngồi trước nhà người bạn ở đường Ðộc Lập, một chuyện thật tức cười làm tôi thấy thương và tội nghiệp cho quê tôi. Ðường Ðộc Lập xưa nay chỉ chạy một chiều, xe đang chạy thuận giòng bỗng dưng có một thanh niên từ đâu chạy ngược chiều và tông vào một xe khác. Hai bên thả xe ra giữa đường to tiếng cãi nhau suýt ấu đả, phải trái gì không biết cứ cãi nhau, đúng ra chỉ một lời xin lỗi thì mọi chuyện đều xong, vì hai xe chẳng thấy hư hại gì, thế mà họ “tiết kiệm” một lời xin lỗi và dùng thoải mái lắm lời cho việc cải vả. Ðúng là xứ Quảng Nam hay cãi của tôi, về Sài Gòn kể lại chuyện nầy với anh Tường Linh, bằng cái giọng lý sự rất Quảng Nam của ảnh vừa nói chơi vừa nói thật: ” ông bà của mình ngày xưa tội đồ của Triều đình bị đày vào xứ Quảng Nam, trên đe dưới búa, thấp cổ bé họng, sự uẩn ức lâu ngày đè nén nên khi tràn ra được thì cứ tràn, cãi nhau không cần phải trái trắng đen, miễn sao cho hả được giận. Nên tụi mình có cái “gen” nầy.” Người xứ khác làm sao hiểu được cái “kỳ cục” nầy của người ngoài mình, họ chỉ thấy sự ương ngạnh ngang ngược, câu nói mang hai ba nghĩa mạt sát, thọc gậy, móc họng đối phương. Họ làm sao hiểu được cái bản tính dứt khoát, chịu đựng, chung thủy của mình. Yêu, ghét, bạn, thù phân minh. Hồi còn nhỏ tôi sợ nhất là những ngày giỗ kỵ hay chạp mã, thế nào trong bữa ăn cũng có cãi lộn, cũng to tiếng, cũng nói móc, xỉa xói với nhau, hình như đây là cái tật và đúng dịp để mọi người tự do phát biểu, nói ra được các điều u uất trong lòng cho vơi đi chút tự ái, thua thiệt.

Nhìn lại thành phố Đà Nẵng ngày xưa

Bến An Hải

Bạn bè của tôi phần đông ở các quận Ðại Lộc, Ðiện Bàn, Duy Xuyên, Hội An nên nhà tôi ở Ðà Nẵng là trung tâm vãng lai của bạn bè. Hạ Ðình Thao, Lê văn Trung, Vũ Ðức Sao Biển, Kiều Uyên, Ngô Thi, Ðỗ Hơn, Nguyễn Thang, Thái Tú Hòa. Ðó là những người khách thường xuyên nhất của tôi khi còn học sinh, chúng tôi có với nhau những kỷ niệm sâu đậm của thuở hàn vi, các “thi hào” nầy dần dần rụng mất sau cái thời Tiểu Thuyết tuần san của ông Nguyễn Thiện Dzai đình bản, chỉ có một hai người còn đeo đuổi nghiệp viết lách như Vũ Ðức Sao Biển, Lê Văn Trung. Cái thời học sinh thật dễ thương, mang nhiều mộng mị, thư tình viết tràng giang đại hải không biết mệt, thuốc lá hết điếu nầy sang điếu khác hút không kịp thở. Ở Sài Gòn nhà tôi sau nầy cũng trở thành nhà khách cho các bạn cũ ở Ðà Nẵng vào và thêm các anh Hà Nguyên Thạch, Ðinh Trầm Ca, Phan Nhự Thức, Uyên Hà. Tôi có dự đám cưới của anh Phan Nhự Thức hồi còn ở Sài Gòn, ngồi cùng bàn với Anh Chị Hồ Thành Ðức và Bé Ký (nhưng lúc ấy tôi không quen với anh chị và cũng chẳng có ai giới thiệu cho tôi biết). Anh Tường Linh sau 75 cùng làm việc với tôi ở một tổ hợp sản xuất Bột trẻ Em Ðông Phương ở đường Bạch Ðằng Bình Thạnh. Còn anh Ðinh Trầm Ca cùng làm với tôi ở kem đánh răng Mimosa. Ðó là những khuôn mặt văn nghệ của xứ Quảng mà tôi đã quen và thân thiết.

Ký ức khó quên qua bộ ảnh Đà Nẵng xưa | Anh Đức Digital

Tôi lập gia đình tại Sài Gòn, vợ tôi là người Bắc, khi quen nhau không biết rằng vợ tôi trước đây sống và lớn lên ở Ðà Nẵng, xuất thân từ Trường Pascal. Khi hai đứa đến hồi “gở không ra” thì tôi mới phát hiện vợ tôi biết quá nhiều về quê tôi, kể vanh vách cho tôi nghe từ con đường góc phố, từ ly chè Ngã Năm đến tô bún bò Bà Ðào, từ bánh bèo chén trường Nam Tiểu Học đến bánh xèo đường Lê Ðình Dương, từ bến đò Hà Thân đến bãi biển Thanh Bình. Và cuối cùng phán cho một câu: “Em sợ cái xứ đó quá rồi chạy vào đây mà cũng không tránh khỏi”, lời trách móc đáng yêu đó tôi nhớ suốt đời. Con gái Bắc tế nhị, khéo léo bao nhiêu thì con trai Quảng Nam cộc cằn, độc đoán bấy nhiêu, họ kín đáo, thầm lặng bao nhiêu thì mình hoạch toẹt, ồn ào bấy nhiêu. Ôi cái xứ mình tạo ra những con người như thế, quá thẳng thắng, quá cứng rắn, mà cái gì “quá” thì nó cũng căng dễ đứt, không hay. Vừa phải chừng mực thì tốt hơn. Thế nhưng người Quảng thì không chịu thái độ không dứt khoát nầy, chấp nhận tràn đầy chứ không thể lưng chừng. Ðó là một đức tính rất tốt nhưng khi xử thế rất ít thành công. Một lần về thăm lại Ðà Nẵng chở vợ đến nhìn lại ngôi trường Pascal, đứng trước cổng trường vợ chồng tôi xúc động ghê gớm, không ngờ một ngôi trường đẹp đẽ hiền hòa đã bị tàn phá thô bạo như vậy, thảm cỏ xanh mướt ngày nào bây giờ thành bãi chất cây cối ngổn ngang, những lớp học ngày xưa biến thành chổ sản xuất. Vợ tôi không còn can đảm đứng nhìn thêm, cúi đầu rưng rưng nước mắt. Tới trường Sao Mai đứng ở cổng sau (đường Lê Ðình Dương) nhìn vào, ngôi trường hằng mấy chục năm không được tu bổ, tường rêu phong loang lổ, học sinh ăn mặc lếch tha lếch thếch, thầy cô giáo cũng chẳng hơn gì. Nhớ ngày xưa các thầy của tôi đứng trên bục giảng oai phong biết mấy, quần áo tươm tất, cà vạt hẳn hoi. Làm sao tôi quên được hình ảnh đó của các thầy cô: Trương Thị Thúy, Mai văn Bộ, Hoàng Vinh, Hà Thúc Lễ, Vĩnh Linh, Lâm sĩ Hồng, Hồ Sĩ Hùng, Lê văn Nghĩa, Phạm Xuân Hương, Nguyễn Tàu, Lê Chương, Ðức Cha Lê Văn Ấn, Cha Vũ Như Huỳnh, những người dìu dắt tôi cho tôi những kiến thức để sống với đời, những căn bản đạo đức để sống với người. Bao giờ trong tôi các thầy cũng để lại một sự kính trọng không thể phai nhạt được. Sau một vòng thăm lại các trường cũ trở về, vợ chồng tôi ngậm ngùi đau xót, Ðà Nẵng của tôi tang thương như vậy sao, tâm trạng vợ chồng tôi lúc ấy giống như Trần Doãn Nho đã viết: ” Tôi đi trên thành phố thân thương mà như đang phiêu du ở vùng đất xa lạ”, hoặc ”Tôi sống giữa quê hương mà như người khách lạ.”. Nơi đó cũng còn lại những người bạn học cùng tôi thuở nào: Liêu, Ký, Bích, Dũng, Quang, Kim Sơn, Hường, Trang , Thùy Dương, Nga,Thư. Mỗi lần có dịp về lại Ðà Nẵng họ tiếp đón tôi như một người thân. Bạn trai, bạn gái trong tiệc rượu nâng ly cụng với nhau chẳng nệ hà, sống lại với nhau những ngày xa cũ.

Name:  raptrungvuong.jpg
Views: 2169
Size:  32.7 KB
Rạp hát Trưng Vương

Tôi ở vùng ngoại ô Boston, bạn của tôi là mấy ông Quảng Nam rất cực đoan ở cách xa nhau, họ cho tôi là thứ Quảng Nam mất gốc bởi cái tính ba phải cả nể của mình, “thằng mô không phải là chưởi dô mẹt hắn, chớ đừng nhân nhượng ốt dột như rứa”. Chỉ có Trần Trung Ðạo hay bênh vực cho tôi, không có bao nhiêu người mà mỗi lần gặp nhau cãi nhau như mỗ bò. Thế nhưng tuần nào có làm món ăn Quảng Nam là gọi nhau ơi ới, nhà anh Dư Mỹ hay nấu những món đặc sản Quảng Nam và vợ chồng tôi là khách thường xuyên. Nhà anh Nguyễn Ngọc Thanh thì hay sưu tầm các loại mắm Quảng Nam, cho đến bây giờ tôi cũng không biết làm cách nào mang các thứ ấy vào Mỹ, những thứ mắm cái cá nục, cá cơm còn nguyên con đỏ au mùi vị y chang như mắm ở ngoài mình, quý lắm thân thiết lắm như tôi với anh Dư Mỹ mới được xớt một chút ít. Ở quê mình vài con mắm một trái ớt là xong bữa cơm, chẳng cần chi cao lương mỹ vị, quả thật dân mình quá khổ. Ði xa càng thấy nhớ và càng thương cho những con người không thể rời bỏ quê cha đất tổ, mồ mã ông bà. Những con người suốt cả cuộc đời bám chặt với ruộng vườn, không màng đến vật ngon của lạ, khoai sắn là chất độn trường kỳ. Ngồi đây mỗi lần nghe tin bên quê nhà gặp thiên tai bão lụt là lòng tôi thóp lại, cái cảnh màn trời chiếu đất khi còn nhỏ đã chứng kiến tự nhiên hiện lên trước mắt tôi, chỉ còn biết cách cầu trời khẩn phật cho quê tôi sống bình yên. Ðó là điều rất khó bởi lẽ giãi đất Miền Trung nơi chịu nhiều tai họa, chỉ có nhiều hay ít, chứ không thể nào có bình yên thật sự.

SƠN TRÀ ĐÀ NẴNG - buithienvinhson

 Ðà Nẵng của tôi, làm sao tôi trang trải hết được tấm lòng của đứa con xa xôi, nghĩ về quê me.?rên những giòng chữ làm sao tôi mô tả sự dấu yêu, thương cảm, mà tôi đã dành hết cho giãi đất chôn nhau, cắt rốn thân yêu nầy. Chữ nghĩa của tôi cũng hạn hẹp, không đủ, thì làm sao tôi diễn đạt những điều ray rức của nhớ mong trên những trang giấy. Thôi thì, có viết thêm cũng không thể nào viết hết. Ðà Nẵng cho tôi xin cúi đầu từ biệt.

Boston, mùa hạ 1998.

 Chợ Hàn Đà Nẵng Xưa và Nay

 

Trường Sao Mai,
Thầy, Bạn Và Tôi, Một Thời...

***Phan Xuân Sinh***



Trường Sao Mai tọa lạc trên đuờng Ðộc Lập (cổng trước), và đường Lê Ðình Dương (cổng sau) thuộc làng Nại Hiên Tây, Ðà Nẵng. Trước khi xây dựng trường, đây là một đồn lính Tây, đã xẩy ra một biến cố thật lớn lao cho dân Ðà Nẵng vào đầu thập niên 1950. Những người lớn tuổi cho biết, trong khoảng thời gian nầy nghe theo lời xúi giục của một số cán bộ Việt Minh kích động lòng yêu nước của toàn dân chống Pháp, một số đàn bà và trẻ con tập trung đến trước cổng đồn để đòi chồng con đi lính cho Tây về. Ðoàn biểu tình nầy nhào vô đồn để uy hiếp tinh thần các lính người Việt đang đồn trú tại đây, nên bị lính gác cổng bắn hạ vài ba người. Biến cố nầy gây nên một cuộc biểu tình rộng lớn. Hầu hết dân chúng Ðà Nẵng lúc đó tham gia đông đảo, mang xác những người chết đến Tòa Thị Chính để đòi bồi thường. Ðồn lính nầy đến đời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thì giao cho lính Bảo An. Sau đó thì bỏ trống vài năm. Lính Bảo An lại tập trung tại đồn lính lớn trước vườn hoa Diên Hồng.


Trước khi trường Sao Mai xây dựng vào khoảng cuối thập niên năm 1950, noi đây là sân đá banh của bọn con nít chúng tôi. Bất kỳ sáng, trưa, chiều, trời nắng hay trời mưa, những ngày nghỉ học trên bãi đất trống đầy con nít. Choai choai thì đá banh lớn, con nít như tụi tôi thì đá banh tennis, dễ chi có đuợc trái banh da. Từ lớn tới nhỏ đều đá banh bằng chân đất, làm gì có giày như bây giờ. Kể cả chuyện tranh cúp đá banh liên trường cung chỉ bằng chân đất. Rách thịt xước da thì lấy cát tấp vô cầm máu, không cần phải band aid, sát trùng, thuốc cầm máu chi cho mệt, mà cung chẳng thấy đứa nào chết vì vi trùng tétanos cả. Chính trên sân nầy đã xuất hiện nhiều cầu thủ nổi tiếng như Ðược, Minh Ðen (Chức) cho Ðà Nẵng về sau. Ðội banh Quân Cụ, đội banh Quan Thuế ở Sài Gòn ( anh Có, hậu vệ) hồi đó cung có mặt cầu thủ đá banh Nại Hiên, mà hầu hết họ đều xuất thân tại sân banh đó. Sau truờng Sao Mai đuợc xây dựng trên mảnh đất nầy, tôi không nhớ chính xác, có lẽ vào khoảng 1957.

v
Trước trường Sao Mai có một vườn hoa nhỏ, vườn hoa có tên là Dân Chủ. Có một cây cổ thụ thật lớn, sau nầy cây quá già, cằn cỗi và bị cháy. Vườn hoa buổi tối vào mùa hè, sinh hoạt thật nhộn nhịp. Các gánh chè đi lại bán cho khách ngồi hóng mát, và những cặp tình nhân ngồi tâm sự.

Trường Sao Mai tổng khai giảng năm 1959, lúc đó tôi mới vào đệ thất. Linh Mục Lê Văn Ấn làm Hiệu Trưởng (sau nầy ông lên Giám Mục và phụ trách địa phận Xuân Lộc). Khi khai giảng thì trường có từ đệ thất đến đệ tam.

Tôi còn nhớ các thầy dạy tôi hồi đó: Nguyễn Thanh Kim (vạn vật), Lưu Như Hải (toán), Lê văn Hung (ly hóa), Lê Thăng (lý), Lê Chương (Việt văn), Nguyễn Ngọc Rao (Anh văn), Phạm Ngọc Vinh (Công dân), Thái Tú Bình (nhạc, vẽ). Thầy Bình là người anh của nhà thơ Thái Tú Hạp, vẽ rất đẹp. Hồi đó Thầy Bình làm bản nhạc Sao Mai hành khúc. Khi trường có buổi lễ gì đó mời ban nhạc Quân Ðội đến giúp vui, bản nhạc nầy đuợc giao cho ban nhạc chơi. Cả ban nhạc ngẫn người vì họ không biết chơi ra sao cả. Hình như Thầy Bình không rành mấy về nhạc (sở di tôi biết chuyện nầy, vì gần nhà tôi có ông thổi kèn cho ban nhạc đó nói cho tôi biết. Không biết có đúng hay sai cung mong Thầy Bình tha lỗi). Thầy Bình hiện thời đang ở Santa Ana. Khi thầy đọc đuợc chuyện nầy chắc thầy cung cười thôi. Bài Sao Mai Hành Khúc sau nầy đuợc Cha Thuần (Giám Thị) soạn lại hoàn chỉnh hơn.

Trường Sao Mai, Thầy, Bạn Và Tôi, Một Thời...

Thầy Lưu Như Hải dạy toán, lúc đó có xuất bản tập thơ "Khơi Vơi". Khi lớp tôi làm tờ bích báo treo ở phòng Khánh Tiết của trường, Thầy Hải có đọc qua thơ của mấy ông thi si nhỏ. Nên đến giờ dạy, Thầy gọi lên tặng cho mỗi đứa một tập (trong đó có tôi). Thầy Hải có cái tật là đứa nào làm phật lòng Thầy, là Thầy mở sổ điểm cho zéro cả tháng. Mấy đứa học giỏi không may gặp trường hợp nầy, là kể như đi đời tháng đó, từ hạng nhứt, hạng nhì trở thành hạng gần chót. (Thầy Hải sau nầy đi học Ðại Học Sư Phạm và có dạy ở Trần Quý Cáp, hiện đang cu ngụ tại Texas). Tôi có gặp Thầy một vài lần ở California.

Lúc đó đi học còn đội nón cối trắng, nón cối đuợc để trên ghế bên chỗ ngồi. Tôi thuộc loại nhỏ nhất lớp và cung tinh nghịch. Mấy anh lớn tuổi ngồi bên tôi chỉ vài ngày sau là nón cối dẹp nát. Mỗi lần giáo sư vào lớp là học sinh phải đứng dậy chào, tôi đẩy nón cối ngay vào chỗ ngồi của anh đó. Thế là vài lần cái nón cối đi đời. Có anh bực quá tát cho một bạt tai, rồi đi mua cái nón khác. Sau chẳng có ai dám ngồi gần tôi cả.


Học sinh trường tư, phải trả học phí từ đầu tháng (từ 1 tây tới 5 tây). Quá hạn đó là Cha Thuần Tổng Giám Thị mang sổ vào tận lớp kêu tên và đuổi ra ngoài. Khi nào có tiền trả học phí mới đuợc vào lớp. Khi Cha Thuần qua lớp khác, những đứa bị đuổi lại nhảy cửa sổ vào học lại. Các thầy dạy xem cảnh nầy cung thường tình, nên chẳng thèm quan tâm tới. Cung lạ là cha mẹ học sinh có người khi con bị đuổi học mới cho tiền trả học phí.

KỶ NIỆM 60 NĂM NGÀY THÀNH LẬP TRƯỜNG SAO MAI ĐÀ NẴNG 1958 - 2018
Năm 1963 (mới lên đệ tam), có phong trào bãi khóa của học sinh chống chính phủ Ngô Ðình Diệm. Trường Sao Mai vẫn đi học tinh bơ (vì là trường Công Giáo), đoàn biểu tình nhảy vào trường lôi các học sinh ra ngoài. Tụi tôi cung khoái vì đuợc nghỉ học, có cơ hội đi choi, nên cung ùa ra cổng. Tôi học phòng tầng trệt, nên xớn xác chạy ra cổng sau và mở cổng cho học sinh bên trong túa ra ngoài trước. Không ngờ có một ông công an đứng ngoài đuờng trông thấy và chụp hình tôi. Nửa đêm ngày hôm sau Cảnh Sát đến bố ráp nhà tôi, bắt tôi đi xuống Ty Cảnh Sát (lúc đó ở tại góc đuờng Yên Báy và Phan Ðình Phùng). Người Cảnh Sát hỏi cung tôi ở tổ chức nào, tôi ú ớ chẳng biết chi hết, họ biết tôi còn con nít chỉ ham vui. Họ tát cho tôi mấy bạt tai rồi nhốt vào xà lim cho bỏ cái tật tranh đấu. Hai ngày sau họ gọi tôi lên văn phòng, tôi thấy Cha Ấn và Ba tôi đứng chờ. Cha Ấn tới hỏi tôi có bị đánh đập gì không? Tôi nhìn một nhân viên đang ngồi làm việc sau lưng Cha Ấn. Nhân viên nầy lắc đầu cố ý bảo tôi là không bị đánh đập chi hết, tôi cung nói với Cha Ấn là không. Thời đó các Cha có uy quyền ghê lắm. Các cấp chính quyền cung phải nễ sợ. Cha Ấn ký giấy bảo lãnh cho tôi về, ngồi trên chiếc xe jeep của Cha, tôi mới nói thật là họ có đánh tôi. Cha lắc đầu, rồi an ủi tôi, mấy bạt tai chưa có nghĩa là bị tra hỏi. Cảnh Sát lúc đó, tra hỏi bằng những đòn tra tấn dã man lắm, nên mấy bạt tai thì chỉ là chuyện giỡn chơi thôi.

 
Ðệ tam, đệ nhị ban A, nên lớp tôi con gái đông nhất, lớp học 120 người thì con gái chiếm 80 người. Các chị học giỏi thì không đẹp bằng các chị học dở. Nói vậy thì hơi mất lòng cả hai, nhưng theo nhận xét của cá nhân tôi là vậy, chẳng biết có đúng không, mong các chị thông cảm. Tính tôi thì không tế nhị, ăn nói ba cục ba hòn, không đuợc bằng như anh Luân Hoán ăn nói rất dễ thương. Anh đã từng nói là: "Có thể nói hầu hết những nữ sinh thuộc các trường trung học tại Ðà Nẵng, đều là những trang nhan sắc..." Ðúng vậy, trời sinh con gái ai cung đẹp hết, chỉ có mình không có mắt thưởng thức thôi. Trường Sao Mai có hai loại phòng học, phòng chiếc và phòng đôi. Phòng đôi dành cho những lớp quá đông, hoặc những giờ các lớp học chung. Khi mà con gái đông hon con trai thì mới thấy tinh nghịch không thua gì con trai cả, cung phá dữ lắm.



Có người hỏi tôi, suốt mấy năm học ở Sao Mai mà không có mối tình nào cả sao? Thú thật là có yêu thầm nhớ trộm thì nhiều, yêu chỉ một chiều. Gái sắc hương nhiều như vậy mà không yêu sao đuợc chứ. Nhưng miệng câm như hến, không dám tỏ bày cùng ai, nhút nhát như thỏ đế. Tướng tá thì khù khờ, ngô nghê làm sao vào đuợc mắt xanh của các người đẹp, đành phải chịu vậy thôi.

Sau khi đọc xong trang Ðà Nẵng của anh Luân Hoán thực hiện, tôi nẩy ra ý muốn viết vài hàng về kỷ niệm một thời ở Sao Mai, ngôi trường ấp ủ tôi suốt thời trung học, nhưng ý tưởng tôi lại lộn xộn, nhớ gì viết đó. Kính mong bạn đọc lượng tình tha thứ. Nhìn lại công trình anh Luân Hoán thực hiện, bỗng dưng tôi thấy cái thành phố nhỏ đó thật là dễ thương, thật là quý mến hết sức. Cám ơn anh Luân Hoán đã cho tôi đuợc dịp trở về miền đất chôn nhau cắt rốn, đuợc thấy lại những kỷ niệm, nhớ lại từng khuôn mặt của bạn bè.

Boston, hè 2001
Phan Xuân Sinh

HÌNH ẢNH XƯA CŨ TRƯỜNG SAO MAI ĐÀ NẴNG
 
 Trường thành lập năm 1959, có một dãy lầu ba tầng dành cho trung học, dãy nhà trệt dành cho tiểu học. Hiện trường đã đổi thành trường PTTH Trần Phú. Hình ảnh xưa cũ ngôi trường năm nào, còn đâu, còn đâu, trường nay không còn vết tích xưa khiến cho ai bao cảm giác nuối tiếc.
   











Kim Phượng sưu tập

 

 

 

 

Xem thêm...

Tiếng Rao

 

TIẾNG RAO

Beautiful Aerial Photos of Vietnam's Street Vendors

Chút cảm nhận về “nét đẹp của những mảnh đời nghèo” giữa mùa đại dịch.

Không biết tự bao giờ mà người dân ở thành phố có cái kiểu buôn bán, làm việc với “tiếng rao”
Tiếng rao được coi là loại “đặc sản”của thành phố. Trước đây ở Sài Gòn chỉ nghe tiếng rao về đêm, nhưng dạo này tiếng rao lanh lảnh đã bắt đầu từ tờ mờ sáng – không để bán những thức ăn nhanh, tiện lợi còn để bán cá, thịt, rau củ quả… cả những dụng cụ : chổi lau bụi, lau nhà, chiếu, chăn…

Trước đây, giữa đêm khuya tiếng rao của những người phụ nữ nghe buồn đến não lòng. Bao nhiêu con đường, ngõ hẻm đều in những dấu chân nhọc nhằn của họ. Tiếng rao, lúc trầm bổng khi lắng dịu của những người mẹ, người chị tần tảo kiếm miếng cơm manh áo. “Bánh mì nóng giòn đê”, “Cháo sườn đê”, “Bánh bột lọc đê”, “Bắp xào, trứng lộn đê…”. Có bao nhiêu thứ hàng rong thì có bấy nhiêu tiếng rao gọi mời. Mùa đông giá buốt hay mùa hè nắng cháy đều không thiếu những tiếng mời rao.

Chợt nhớ những tiếng rao xưa | Văn hóa xã hội

Gần đây, tiếng rao lại mang âm giọng của những người đàn ông “Ai mài kéo, mài dao” “Mua điện thoại hư, ti vi hư, tủ lạnh hư, đầu đĩa….”

Và những tiếng chào hàng kiểu mới của những chàng thanh niên giọng miền Tây Nam Bộ đặc sệt “Hành, hành tây, cà chua, cà pháo, củ cải xanh đỏ, chanh… mười nghìn một bịch  đổ ghẻ luôn” nó cứ lập đi lập lại, chạy loanh quanh khắp phường.

Marchand ambulant dans le vieil Hanoi : Transport : Hanoi : Hanoi ...

Tôi nhận ra tiếng rao của mỗi người đến từ vùng miền hoàn toàn khác nhau. Lúc tiếng rao mời mua ti vi, tủ lạnh hư… của chàng thanh niên giọng Hà Tĩnh, khi tiếng rao bán đồ ăn vặt của cô mang giọng “Nẫu” Bình Định, khi thì tiếng rao để bán “la ghim” của người đàn ông nghe giọng tận đâu Cần Thơ Rạch Gía… Dù họ đến từ miền đất nào tiếng rao ấy vẫn mang bản lĩnh của một người chăm chỉ, một người sáng tạo không để đời mình như một kẻ lười “ăn bám xã hội”. Tiếng rao khát khao đạt đến một tương lai hoàn hảo, một cuộc sống ổn định, bình an, mạnh khỏe cho người thân ở quê nhà.

Marchand Ambulant Vietnamien à Hanoï Image stock éditorial - Image ...
Mỗi âm giọng của tiếng rao là một hoàn cảnh, là một mảnh đời, một số phận… Những tiếng rao trong đêm khuya vắng lặng hay giữa ban ngày cháy nắng luôn mang một mơ ước: Ước mơ đổi đời cho đứa con đang học đại học, kiếm thêm chút tiền thuốc men cho đứa nhỏ mang bệnh nan y. Tìm thêm chút tiền trang trãi cho cuộc sống quá cơ cực ở nhà quê, muốn sắm thêm cái gì kha khá mang chút sắc màu tiện nghi…

The Street Vendors of Hanoi

Vì đại dịch Covid-19, lệnh cách ly kéo dài – người người không ra đường, nhà nhà đóng kín cổng, tiếng rao càng thêm não lòng. Phương tiện truyền thông, báo chí thì không ngừng khuyên người dân“Thực hiện cách ly xã hội là cần thiết và là một trong những cách tốt nhất để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, vì thế hãy cân nhắc phương án mua hàng trực tuyến thay vì đích thân đi mua. Đối với các bao bì, túi xách chứa hàng hoá, thực tế là chạm vào chúng có thể khiến bạn có nguy cơ nhiễm bệnh nếu có virus. Theo các chuyên gia, những trường hợp như vậy có thể được giải quyết bằng cách lấy thực phẩm ra và vứt bỏ bao bì đúng cách, sau đó rửa tay cẩn thận. 

Street Vendors in Vietnam

Tiếng rao bán lúc này như hụt hơi đứt đoạn, lưa thưa hơn mọi ngày. Không biết có ai dám mua đồ ăn thức uống họ tự chế biến (không tên tuổi nhãn hiệu) hoặc những loại “la ghim” tự tay họ trồng mang tận dưới quê lên (không nguồn gốc xuất xứ) có ai dám “đi ra” mua giúp họ như mọi ngày chăng ! Có ai dám “gọi vào” để bán cái gì đó đã hư không còn dùng được đang để chật kho của mình lúc này hay không !

Cả hơn tuần rồi, giữa chục tiếng rao “bán – mua” đủ loại, tiếng rao “ Xô-ô-ôi cúc, Xô-ôi xôi đậu xanh, đậu phụng, đậu đe-đen đê” của chị “gì đó” dường như không nghe thấy.

Cảm giác thiếu vắng tiếng rao của chị khiến tôi nghĩ suy những chuyện không may lành giữa đỉnh cao của đại dịch. Chị đâu rồi, chị có mệnh hệ gì không? Lặng lội hết đường này sang hẻm nọ kiếm sống lẽ nào chị bị nhiễm Covid ?

Street vendors in Vietnam

Suy nghĩ mang chút âu lo, thương cảm cho nhóm người lao động tự do trong đại dịch. Tôi thầm cầu nguyện, xin Chúa cho họ được mạnh khỏe mình an.

Tờ mờ sáng nay, văng vẳng tiếng rao quen thuộc của chị… lại xuất hiện.
Chạy ra đầu ngõ, chờ chị,  
Gọi mua hộp xôi, kiếm cớ hỏi thăm.
Đôi tay xương xương thao tác thật nhanh cho xôi vào hộp xốp, vừa trả lời câu hỏi mang chút tò mò quan tâm của tôi. Chị cảm được điều đó nên – cười.
Chị cười, nụ cười thật bình an. Cám ơn, cám ơn cô, tuần rồi chị phải sang phường khác bán, phường này bảo vệ làm căng… nên.

Top Food in Vietnam: The 50 Best Vietnamese Food in Vietnam

Âm thanh của tiếng rao đã trở nên thân thuộc đến nỗi khi chưa được nghe, hay lúc thiếu vắng lòng tôi nhơ nhớ. Thỉnh thoảng mua giúp họ hộp xôi, ổ bánh mì, gói chanh… Cô là ma sơ hả, cảm ơn Cô, xóm tôi cũng có người đi đạo như Cô!

Những cuộc chuyện trò ngắn ngủi thân thương, tôi phần nào hiểu được hoàn cảnh của họ. Nhìn thấy họ tưởng chừng bắt gặp hình ảnh của mẹ, của anh – chị mình ở quê. Cũng khuôn mặt gầy gò, rám nắng, bóng dáng tần tảo. Một đời “dầm mưa dãi nắng”, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” cho tôi những phút bình yên, cho tôi thảnh thơi hoàn thành mọi chương trình học tập và cả đến hôm nay. Họ dành hết tình cảm, ôm bao khổ cực lặng lội gió sương cho tôi kiếm cái chữ, để không bị chân lấm tay bùn như họ. Cuộc sống ngày càng phát triển, càng hiện đại, tiếng rao mời còn nhắc nhở bản thân, tôi đang sống nhờ bao lao công của mẹ cha của thân bằng quyến thuộc và của anh chị em trong cộng đồng nhân loại. Tôi đang mắc nợ họ về tình thương của sự tần tảo, hy sinh!

Vietnam, Hanoi, street vendors, people Stock Photo - AlamyNhững tiếng rao nhiều âm sắc dường như đã trở thành bản đồng ca không thể thiếu trong khu phố. Cho dù  âm thanh của tiếng rao cho tôi cảm giác không vui. Cho tôi nhiều suy nghĩ về kiếp sống, phận người từ quê nghèo lên phố mưu sinh… Tận thâm tâm, tôi cảm phục sâu xa về họ, họ là những người lao động chân chính, lao động bằng cả con tim, khối óc và sức lực của mình.

Cầu mong cho họ luôn được bình an mạnh khỏe,
Cầu mong cho đại dịch mau chấm dứt để họ không phải chạy nhiều từ quận này sang quận khác, mua nhanh bán tốt,
Cầu mong cho đại dịch sớm kết thúc để cuộc sống của họ được ổn định, yên vui.
Cầu mong đừng ai coi thường họ, nghề nào cũng đáng quý và đáng được trân trọng.

Tiếng rao còn cho tôi bài học quý giá:“Hãy lao động như thể mình sẽ sống cả trăm năm. Hãy cầu nguyện như thể ngày mai mình sẽ chếtBenjamin Franklin.

Tác giả bài viết: Nt. Anne Lê (Dòng MTG Qui Nhơn)

 

 

Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn

 

Vietnamese street vendors act and sell their vegetables and fruit ...

 Hổng biết từ hồi nào mà những tiếng rao chân phương của người bán hàng rong ở Sài Gòn đã trở thành một thứ âm thanh thân thuộc của phố thị. Để rồi mỗi khi đi xa, người ta lại thấy nhớ, thấy thương, da diết.

Tan sở làm, tôi chen mình trong dòng người xe đông nghẹt giờ tan tầm, miệng không khỏi lầm bầm bực bội. Đèn đỏ, mọi người dừng xe lại, bỗng nhiên bên vệ đường có một người đàn ông la lớn: “Trời ơi ngứa gì mà ngứa quá, ngứa chịu không nổi. Mua liền cây gãi ngứa, 10 ngàn, cây gãi ngứa 10 ngàn bà con ơi…”

Tôi bật cười, bao nhiêu khó chịu của kẹt xe, của khói bụi tự nhiên chạy đi đâu hết trọi. Người đàn ông vẫn cất tiếng rao, vừa đi vừa gãi rồi hòa vào dòng người xe phía trước. Tôi không biết ngày hôm đó chú đã bán được bao cây gãi ngứa, nhưng chắc chắn đã bán cho tôi một niềm vui, thật bình dị.

Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 1
Vietnamese Women Street Vendors Hanoi Editorial Photo - Image of ...
 
 
Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 4Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 2
 Vietnamese Street Vendor In Hanoi Editorial Stock Image - Image of ...

Nhiều lúc ngồi nghĩ vu vơ: dân marketing học hành bài bản còn phải xách tập đi học hỏi cô chú hàng rong Sài Gòn dài dài. Nói đâu xa ngay cái chuyện trưng bày giá sản phẩm là cả một nghệ thuật. Như bữa nọ chạy từ xa thấy ghi bảng giá: “Ổi bao ngon 10.000/1 ký”, rẻ hú hồn. Ai dè chạy lại gần mới thấy số 2 nhỏ xíu nằm dưới số 1. Thì ra là ½ ký 10.000 đồng. Đúng là “một cú lừa” nhưng đáng yêu.

Tháng trước tôi chạy ngang qua chợ Bà Chiều, giữa trăm ngàn âm thanh náo nhiệt của khu chợ, giọng nói thánh thót của anh thanh niên bán nồi niêu xoong chảo vẫn vượt trội khiến không ít người chú ý.

Anh thanh niên tay phải cầm cái xoong, tay trái cầm cái chảo, rao liên hồi: “Xoong chảo sáng bóng đây! Chu cha! Phải nói là sáng gì mà sáng thế, sáng mê sáng muội, sáng đến tận cùng, sáng chui vô mùng mà vẫn còn sáng. Quẹo lựa, quẹo lựa bà con ơi!”

Woman Fruits Basket Walking High Resolution Stock Photography and ...

Hay như cô bán quần áo ở chợ Hạnh Thông Tây thì sắm hẳn cái loa cầm tay cho vang vọng: “Xả hàng, xả hàng, quần áo rẻ như cho đây chị em ơi! Chỉ bán một ngày duy nhất. Nay bán, mai nghỉ, mốt đi Mỹ. Nhanh chân quẹo lựa, nhanh chân thì còn mà chậm chân thì hết nhen chị em ơi!”

Kế bên là xe bán kẹo kéo của ông bác người miền Trung. Từ chiếc loa điện tử phát ra lời rao: “Kẹo kéo đi. Cô nào chồng bỏ chồng chê, ăn cây kẹo kéo chồng mê tới già”. Lát sau lại có cô gánh chè đi qua: “Ai chè đậu đen, đậu đỏ, đậu xanh, bánh lọt nước cốt dừa hông”.

Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 5
 
Life of street vendors in Vietnam | Nadova Tours

Ngoài hình thức mời gọi dồn dập, thì người Sài Gòn còn nhiều kiểu cũng độc lạ không kém. Như hai anh mù bán vé số ở Gò Vấp, cứ bữa nào bán ế thì lời rao nó sầu kiểu như vầy: “Ba giờ rồi, ủng hộ một tờ vé số cho hai thằng mù đi bà con. Trời ơi nó ế, ế chỏng gọng, ế té ghế. Mù mà bán ế muốn mù thêm luôn”. Người ta vừa buồn cười, vừa thấy thương quá chừng.

Còn chú bán xoài thì không biết vì lý do gì mà rao bất cần đời như vầy: “Ai mua Xoài không? Xoài chua lè chua lét luôn. Ai mua thì bán, không mua thì thôi”. À, chắc chú bán vì đam mê.

Tổng thể âm thanh hòa quyện, tạo nên một đặc trưng rất riêng của Sài Gòn, náo nhiệt. Thú thật là đôi lúc lời rao có hơi ồn ào, thế nhưng phải gật gù là rất “đáo để”. Thử bữa nào mà Sài Gòn thiếu tiếng rao, chắc buồn chịu hổng nổi luôn.

Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 6
Durien street vendor, Hanoi, Vietnam photo - Long Bach Nguyen ...
 Sống ở Sài Gòn lâu, nhiều thứ dần trở nên thân thuộc. Tiếng rao của cô bác hàng rong cũng vì vậy mà thân thương. Hôm nọ, ngồi ở cà phê bệt bỗng có xe bán kem chạy ngang qua, tiếng nhạc phát lên: ten tén tèn, ten tén tèn, ten tén tèn tèn ten tén ten. Tự nhiên trong đầu nhảy lên câu hát: không có tiền, không có tiền, không có tiền thì không có kem. Ừ, rồi tự nhiên cười hì hì nhớ cái thời còn nhỏ mè nheo với má ba. Nhớ quá chừng.

Rồi “Bánh mỳ Sài Gòn đặc biệt thơm bơ, 2 ngàn một ổ” không biết từ lúc nào cứ in đậm trong ký ức. Để rồi mỗi khi nghe, lại thấy thèm thèm. Hay nhắc đến keo dính chuột là người ta lại nhớ đến câu rao:

“Trung tâm công nghệ hóa màu vừa cho ra đời một sản phẩm đó là keo dính chuột... Keo dính chuột không độc hại với môi trường, đặc biệt có thể tái sử dụng nhiều lần... Keo dính chuột còn có thể bẫy được các loại côn trùng như ruồi, muỗi, kiến, gián, và các loại côn trùng khác”.

“Keo dính chuột đặc biệt của Trung tâm ứng dụng công nghệ mới của chúng tôi diệt được chuột Tây, chuột ta, chuột Nga, chuột Mỹ, chuột Thổ Nhĩ Kì, chuột Tuynidi, chuột gì cũng chết”.

 Life of street vendors in Vietnam | Nadova Tours
 
Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 8
 
Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 9
 
Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 10
 
Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 11
 
Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 12
 
Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 14
 Ở bất kỳ vỉa hè, góc chợ nào của Sài Gòn người ta cũng có thể bắt gặp những tiếng rao rộn ràng và có phần vui nhộn như vậy. Tuy nhiên, ít ai biết đằng sau sự hài hước của những tiếng rao là biết bao trăn trở về cơm áo gạo tiền nơi đất khách quê người.

“Ai ve chai bán không?” - là câu rao mà chị Thương phải gào đến khản cả giọng trong suốt một ngày mưu sinh. Thức dậy từ sáng sớm, chị cùng chiếc xe đạp cũ mèm đi qua từng con phố, nhặt nhạnh, thu mua từng món đồ phế liệu. Nào xoong, nào radio cũ, vỏ chai nhựa, lon bia... chị đựng trong hai bao tải to đùng cột bên hông xe. Nắng cũng như mưa, chưa ngày nào chị ngơi nghỉ. “Vì nghỉ thì tiền đâu gửi về quê cho ông bà, nuôi các cháu hả em?” - chị xót xa nói.

File:Hanoi Vietnam Street-vendors-in-Hanoi-02.jpg - Wikimedia Commons

Chị Thương quê ở tận miền Trung, mấy năm liền mất mùa do thiên tai, chị đánh liều tìm vào Sài Gòn, mưu sinh bằng nghề ve chai. Thu nhập tuy không bao nhiêu, nhưng ăn uống tằn tiện cũng dư đôi triệu gửi về quê.

Tôi còn nhớ câu chuyện của bác Chánh - người đàn ông mặc áo dài đỏ nhảy múa trên đường để bán từng bịch bánh ống. Chú kể có nhiều hôm bán ế, phải ráng bán đến 1-2 giờ khuya, gần sáng vì quá buồn ngủ, chú ngủ luôn trên vỉa hè. Vất vả là thế nhưng chú Chánh chưa bao giờ than vãn, ngược lại chú luôn cảm thấy hạnh phúc vì chăm lo cho con cái ăn học nên người.

Tiếng rao của những người cha, người mẹ tần tảo vẫn vang lên giữa phố thị dẫu có bao nhiêu khó nhọc, gian truân. Họ cũng như Sài Gòn, mang vỏ bọc náo nhiệt nhưng sâu bên trong luôn chất chứa tâm tư và lo lắng cho những đứa con của mình.

Quẹo lựa! Quẹo lựa! Ở đây có bán những tiếng rao hay nhứt Sài Gòn - ảnh 15
 
 
  Kim Phượng sưu tầm & tổng hợp
 
Life of street vendors in Vietnam – Trips in Vietnam

 

 

 

 

Xem thêm...

25 nhà khoa học lừng danh nói về Thiên Chúa

 

25 nhà khoa học nổi tiếng nói về Thượng Đế (Thiên Chúa)

Ngày nay, người ta vẫn cho rằng khoa học và đức tin không thể đội trời chung. Tuy nhiên, theo tiến sĩ Harriet Chad Zuckerman của trường Đại học Columbia nước Mỹ, năm 1977 trong tài liệu thống kê nổi tiếng “Anh tài khoa học – những người đoạt giải Nobel nước Mỹ”, từ năm 1901 khi thiết lập giải Nobel đến nay, trong 286 nhà khoa học đã đạt giải khoa học của nước Mỹ, 73% là tín đồ Chúa Ki-tô, 19% là tín đồ Do Thái.
Dưới đây là 25 nhà khoa học nổi tiếng nói về Thượng Đế/ Thiên Chúa/ Đấng Sáng Tạo.

  1. Johannes Kepler (1571–1630)

Ông là một trong những nhà thiên văn vĩ đại nhất:

“Thiên Chúa thật vĩ đại. Quyền năng Ngài vĩ đại và sự khôn ngoan thì vô hạn. Hãy ca tụng Ngài bằng ngôn ngữ của mình, hỡi trời và đất, mặt trời và mặt trăng, các tinh tú. Lạy Thiên Chúa và là Đấng Tạo Dựng nên con! Với trí khôn giới hạn của con, con muốn loan báo sự kỳ diệu của các công trình Ngài cho mọi người hiểu được”.

  1. Nicolaus Copernicus (1473–1543)

Ông là nhà thiên văn học và là người đề xuất thuyết nhật tâm (heliocentrism):

“Ai có thể sống cận kề với một trật tự hoàn bị nhất và trí năng siêu vượt của Thiên Chúa mà không cảm thấy dâng trào những cảm hứng cao quý? Nào ai không thán phục vị kiến trúc sư của tất cả các công trình này?”


  1. Isaac Newton (1643–1727) – xem thêm chú thích

Nhà sáng lập vật lý lý thuyết cổ điển:

“Điều ta biết được chỉ là một giọt nước, điều ta chưa biết là cả một đại dương bao la. Những xếp đặt và hài hòa của vũ trụ chỉ có thể xuất phát từ bản vẽ của một Đấng toàn năng và toàn tri”.


  1. Carl Linnaeus (1707–1778)

Nhà sáng lập môn thực vật học hệ thống:

“Tôi đã thấy Thiên Chúa toàn năng, vô hạn và vĩnh cửu đi ngang qua rất gần, và tôi quỳ xuống bái lạy Ngài”.


  1. Alessandro Volta (1745–1827)

Người khám phá ra các ý niệm cơ bản về điện: 

“Tôi tuyên xưng Đức tin Công Giáo Roma, thánh thiện và tông truyền. Tôi tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi đức tin này, nhờ đó mà tôi có một ý hướng vững chắc để sống và chết”.


  1. Andre-Marie Ampere (1775–1836)

Người khám phá ra các định luật cơ bản về điện:

“Thiên Chúa vĩ đại biết bao và khoa học của chúng ta chỉ là chuyện vặt vãnh!”.


  1.   Augustin Louis Cauchy (1789–1857)

Nhà toán học kiệt xuất và nhà sáng lập môn Toán phân tích phức tạp (complex analysis): 

“Tôi là Kitô hữu, có nghĩa là tôi tin vào thần tính của Đức Kitô, giống như tất cả các nhà thiên văn vĩ đại khác cũng như các nhà toán học lớn trong quá khứ”.

 


  1. Carl Friedrich Gauss (1777-1855)

Ông được cho là “Ông hoàng của các nhà toán học” vì đã đóng góp nhiều vào lãnh vực toán học và khoa học:

“Khi giờ cuối cùng đã điểm, chúng ta vui sướng hân hoan vì sẽ nhìn thấy Đấng mà chúng ta chỉ có thể thấy lờ mờ trong tất cả những khám phá của chúng ta”.

 


  1. Justus von Liebig (1803–1873)

Nhà hóa học lừng danh:

“Sự vĩ đại và trí khôn vô tận của Đấng Tạo Hóa sẽ chỉ được nhận thấy bởi những người cố công rút ra những ý tưởng của mình từ cuốn sách vĩ đại mà chúng ta gọi là thiên nhiên”.


  1. Robert Mayer (1814–1878)

Nhà khoa học tự  nhiên (Định luật bảo tồn năng lượng):

“Tôi đang dần kết thúc cuộc đời mình với sự quả quyết rằng: khoa học thật sự và triết học thật sự không là gì khác ngoài là môn dẫn nhập cho Kitô giáo”.


  1. Angelo Secchi (1803–1895)

Nhà thiên văn học lừng danh:

“Từ chiêm ngưỡng đất trời đến Thiên Chúa chỉ là một khoảng cách ngắn”.

  1. Charles Darwin (1809–1882)

Thuyết tiến hóa:

“Tôi không bao giờ từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tôi nghĩ thuyết tiến hóa phù hợp với niềm tin vào Thiên Chúa. Tôi cho rằng bằng chứng mạnh mẽ nhất về sự hiện hữu của Thiên Chúa đó là ta không thể giải thích hay hiểu được vũ trụ mênh mông vượt xa mọi phép tính toán và không thể giải thích được rằng con người là kết quả của ngẫu nhiên”.


  1. Thomas A. Edison (1847–1931)

Nhà sáng chế nắm giữ 1200 bằng sáng chế:

“Tôi tôn trọng và ngưỡng mộ tất cả các kỹ sư, đặc biệt là người kỹ sư vĩ đại nhất: Thiên Chúa”.


  1. Carl Ludwig Schleich (1859–1922)

Nhà phẫu thuật nổi tiếng, người tiên phong của phương pháp gây tê tại chỗ (local anesthesia):

“Tôi trở thành tín hữu qua kính hiển vi và quan sát thiên nhiên, và tôi muốn đóng góp theo khả năng mình vào sự hòa hợp giữa khoa học và tôn giáo”.

 


  1. Guglielmo Marconi (1874–1937)

Nhà sáng chế vô tuyến điện thoại, giải Nobel 1909:

“Tôi hãnh diện tuyên xưng rằng mình là một tín hữu. Tôi tin vào quyền năng của sự cầu nguyện, và tôi tin không chỉ như là người Công giáo mà còn là một nhà khoa học”.


 


  1. Robert Millikan (1868–1953)

Nhà vật lý Hoa Kỳ, giải Nobel 1923:

“Tôi có thể khẳng định rằng việc từ chối đức tin là thiếu nền tảng khoa học. Theo quan điểm của tôi, không có bất kỳ sự mâu thuẫn nào giữa đức tin và khoa học”.


  1. Arthur Eddingtong (1882–1946)

Nhà thiên văn học người Anh, nhà toán học và vật lý thiên thể:

“Trong số những người sáng tạo nên thuyết vô thần thì không có ai là nhà tự nhiên học. Tất cả họ đều là những triết gia tồi”.

 


  1. Albert Einstein (1879–1955)

Người đặt nền cho vật lý hiện đại (Thuyết tương đối), giải Nobel 1921:

“Những ai nghiêm túc nghiên cứu khoa học đều chắc một điều là trong tất cả những định luật của vũ trụ đều có bóng dáng của một thần linh siêu vượt lên trên con người và chúng ta phải cảm thấy mình thật thấp kém”.


  1. Max Planck (1858–1947)

Người sáng tạo nên vật lý lượng tử (quantum physics), giải Nobel 1918:

“Do xung lượng của kiến thức đòi hỏi, không gì ngăn cản chúng ta liên kết trật tự của vũ trụ với Thiên Chúa của tôn giáo. Đối với người tin, Thiên Chúa đứng ở đầu câu chuyện; đối với nhà vật lý, Thiên Chúa ở cuối câu chuyện”.

 

 


  1. Erwin Schrödinger (1887–1961)

Người khám phá ra cơ học sóng (wave mechanics), giải Nobel 1933:

“Kiệt tác tinh vi nhất là tác phẩm của Thiên Chúa, theo các nguyên tắc cơ học lượng tử (quantum mechanics)…”.

 


  1. Howard H. Aiken (1900-1973)

Người tiên phong trong lãnh vực máy tính:

“Vật lý hiện đại dạy tôi rằng thiên nhiên không thể tự xếp đặt mình theo trật tự. Vũ trụ là một khối trật tự khổng lồ. Vì vậy, nó đòi hỏi một “Nguyên Nhân Đầu Tiên” thật vĩ đại và không phụ thuộc vào định luật biến đổi năng lượng hai và vì thế đó là Đấng Siêu Nhiên”.


  1. Wernher von Braun (1912–1977)

Kỹ sư tên lửa và kiến trúc sư không gian:

“Trên hết mọi sự là vinh quang Thiên Chúa, Đấng mà con người và khoa học khám phá và tìm kiếm mỗi ngày với sự tôn kính thẳm sâu”.


  1. Charles Townes (1915)

Nhà vật lý cùng nhận giải Nobel 1964 vì đã khám phá ra các nguyên tắc của tia laser:

“Là người có tôn giáo, tôi cảm thấy được sự hiện diện và can thiệp của Đấng Sáng Tạo ở cách xa tôi nhưng luôn rất gần … một trí năng góp phần sáng tạo nên các định luật của vũ trụ”.


 


  1. Allan Sandage (1926-2010)

Nhà thiên văn Hoa Kỳ, người tính toán tốc độ giãn nở của vũ trụ và tuổi của nó bằng cách quan sát các vì sao xa:

“Thuở thiếu thời tôi là người vô thần. Khoa học đã đưa tôi đến kết luận rằng thế giới này phức tạp hơn tôi tưởng. Tôi chỉ có thể giải thích mầu nhiệm hiện hữu bằng cách nại vào một Đấng Siêu Nhiên”.


  1. Luis Pasteur

Tấm danh thiếp và sự ngạc nhiên:

Một sinh viên trẻ ngồi cùng toa xe lửa với một ông già đang lần hạt. Anh mạnh dạn bắt chuyện với ông: “Thay vì lần hạt, tại sao ông không dành thời gian học hỏi và tự đào luyện bản thân đôi chút nhỉ? Tôi có thể gởi cho ông một cuốn sách hướng dẫn”.

Ông già đáp: “Anh làm ơn gởi cuốn sách đến địa chỉ này”, và ông trao cho anh sinh viên tấm danh thiếp. Tấm danh thiếp ghi là: Luis Pasteur, Viện khoa học Paris. Anh sinh viên cảm thấy xấu hổ vô cùng. Anh định khuyên nhủ một học giả lừng danh nhất của thời đại mình, nhà sáng chế ra vaccines, được cả thế giới ca tụng và là một người siêng năng lần hạt.

Hy vọng bài viết này có thể củng cố niềm tin của các bạn trẻ và khích lệ các bạn đào sâu khoa học cũng như đức tin của mình. Đồng thời, bài viết này cũng là một lời khẳng định chắc chắn với những ai cho mình chỉ tin vào khoa học mà loại bỏ đức tin.

 

Một điều đáng nhắc tới là Newton – nhà vật lý học lỗi lạc, là một Ki-tô hữu thành kính. Trong nền giáo dục nhồi nhét, một số sách giáo khoa cố ý nói rằng những năm cuối đời Newton đã dấn thân vào tôn giáo và do vậy không có thêm sáng tạo gì, khiến con người hiểu lầm rằng rất nhiều phát hiện khoa học những năm đầu được dẫn dắt bởi thế giới quan của “Thuyết vô Thần”, còn những năm cuối đời, tín ngưỡng tôn giáo đã gây trở ngại cho việc sáng tạo khoa học. Nhưng sự thực là Newton đã sớm là một Ki-tô hữu trước khi theo đuổi nghiên cứu khoa học, mà cả đời ông tin vào Thiên Chúa không hề thay đổi.

Khi Newton còn học tại trường Cambridge, ông đã sớm là một Ki-tô hữu thành kính. Ông thường hay viết những lời cầu nguyện của mình vào những chỗ trống trong sổ tay hay sách vở, thậm chí đến nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều trong viện bảo tàng Anh. Ông cũng thường cùng với người bạn cùng phòng tên là Andrew Wiggins ra ngoài phân phát Thánh kinh cho người nghèo, gửi Phúc Âm tới cho họ.

Thậm chí những suy xét về khoa học của Newton cũng có mối quan hệ không thể tách rời với những lời cầu nguyện trong cuộc sống của ông. Ông thường nghĩ tới khoa học trong dòng suy nghĩ về tín ngưỡng, trong dòng suy nghĩ về khoa học ông cũng nhớ tới tín ngưỡng. Đến nỗi sau này giáo sư Manuel khoa lịch sử trường đại học New York trong cuốn “Newton truyện” của mình đã nói: “Khoa học cận đại khởi nguồn từ những mặc niệm của Newton về Thiên Chúa.”

 

Đức tin Công Giáo

 Ngọc Lan sưu tầm

https://hinhanhdep.org/wp-content/uploads/2016/07/hinh-nen-dep-thien-nhien.jpeg

Xem thêm...
Theo dõi RSS này