Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1388)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (370)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

25 nhà khoa học lừng danh nói về Thiên Chúa

 

25 nhà khoa học nổi tiếng nói về Thượng Đế (Thiên Chúa)

Ngày nay, người ta vẫn cho rằng khoa học và đức tin không thể đội trời chung. Tuy nhiên, theo tiến sĩ Harriet Chad Zuckerman của trường Đại học Columbia nước Mỹ, năm 1977 trong tài liệu thống kê nổi tiếng “Anh tài khoa học – những người đoạt giải Nobel nước Mỹ”, từ năm 1901 khi thiết lập giải Nobel đến nay, trong 286 nhà khoa học đã đạt giải khoa học của nước Mỹ, 73% là tín đồ Chúa Ki-tô, 19% là tín đồ Do Thái.
Dưới đây là 25 nhà khoa học nổi tiếng nói về Thượng Đế/ Thiên Chúa/ Đấng Sáng Tạo.

  1. Johannes Kepler (1571–1630)

Ông là một trong những nhà thiên văn vĩ đại nhất:

“Thiên Chúa thật vĩ đại. Quyền năng Ngài vĩ đại và sự khôn ngoan thì vô hạn. Hãy ca tụng Ngài bằng ngôn ngữ của mình, hỡi trời và đất, mặt trời và mặt trăng, các tinh tú. Lạy Thiên Chúa và là Đấng Tạo Dựng nên con! Với trí khôn giới hạn của con, con muốn loan báo sự kỳ diệu của các công trình Ngài cho mọi người hiểu được”.

  1. Nicolaus Copernicus (1473–1543)

Ông là nhà thiên văn học và là người đề xuất thuyết nhật tâm (heliocentrism):

“Ai có thể sống cận kề với một trật tự hoàn bị nhất và trí năng siêu vượt của Thiên Chúa mà không cảm thấy dâng trào những cảm hứng cao quý? Nào ai không thán phục vị kiến trúc sư của tất cả các công trình này?”


  1. Isaac Newton (1643–1727) – xem thêm chú thích

Nhà sáng lập vật lý lý thuyết cổ điển:

“Điều ta biết được chỉ là một giọt nước, điều ta chưa biết là cả một đại dương bao la. Những xếp đặt và hài hòa của vũ trụ chỉ có thể xuất phát từ bản vẽ của một Đấng toàn năng và toàn tri”.


  1. Carl Linnaeus (1707–1778)

Nhà sáng lập môn thực vật học hệ thống:

“Tôi đã thấy Thiên Chúa toàn năng, vô hạn và vĩnh cửu đi ngang qua rất gần, và tôi quỳ xuống bái lạy Ngài”.


  1. Alessandro Volta (1745–1827)

Người khám phá ra các ý niệm cơ bản về điện: 

“Tôi tuyên xưng Đức tin Công Giáo Roma, thánh thiện và tông truyền. Tôi tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi đức tin này, nhờ đó mà tôi có một ý hướng vững chắc để sống và chết”.


  1. Andre-Marie Ampere (1775–1836)

Người khám phá ra các định luật cơ bản về điện:

“Thiên Chúa vĩ đại biết bao và khoa học của chúng ta chỉ là chuyện vặt vãnh!”.


  1.   Augustin Louis Cauchy (1789–1857)

Nhà toán học kiệt xuất và nhà sáng lập môn Toán phân tích phức tạp (complex analysis): 

“Tôi là Kitô hữu, có nghĩa là tôi tin vào thần tính của Đức Kitô, giống như tất cả các nhà thiên văn vĩ đại khác cũng như các nhà toán học lớn trong quá khứ”.

 


  1. Carl Friedrich Gauss (1777-1855)

Ông được cho là “Ông hoàng của các nhà toán học” vì đã đóng góp nhiều vào lãnh vực toán học và khoa học:

“Khi giờ cuối cùng đã điểm, chúng ta vui sướng hân hoan vì sẽ nhìn thấy Đấng mà chúng ta chỉ có thể thấy lờ mờ trong tất cả những khám phá của chúng ta”.

 


  1. Justus von Liebig (1803–1873)

Nhà hóa học lừng danh:

“Sự vĩ đại và trí khôn vô tận của Đấng Tạo Hóa sẽ chỉ được nhận thấy bởi những người cố công rút ra những ý tưởng của mình từ cuốn sách vĩ đại mà chúng ta gọi là thiên nhiên”.


  1. Robert Mayer (1814–1878)

Nhà khoa học tự  nhiên (Định luật bảo tồn năng lượng):

“Tôi đang dần kết thúc cuộc đời mình với sự quả quyết rằng: khoa học thật sự và triết học thật sự không là gì khác ngoài là môn dẫn nhập cho Kitô giáo”.


  1. Angelo Secchi (1803–1895)

Nhà thiên văn học lừng danh:

“Từ chiêm ngưỡng đất trời đến Thiên Chúa chỉ là một khoảng cách ngắn”.

  1. Charles Darwin (1809–1882)

Thuyết tiến hóa:

“Tôi không bao giờ từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tôi nghĩ thuyết tiến hóa phù hợp với niềm tin vào Thiên Chúa. Tôi cho rằng bằng chứng mạnh mẽ nhất về sự hiện hữu của Thiên Chúa đó là ta không thể giải thích hay hiểu được vũ trụ mênh mông vượt xa mọi phép tính toán và không thể giải thích được rằng con người là kết quả của ngẫu nhiên”.


  1. Thomas A. Edison (1847–1931)

Nhà sáng chế nắm giữ 1200 bằng sáng chế:

“Tôi tôn trọng và ngưỡng mộ tất cả các kỹ sư, đặc biệt là người kỹ sư vĩ đại nhất: Thiên Chúa”.


  1. Carl Ludwig Schleich (1859–1922)

Nhà phẫu thuật nổi tiếng, người tiên phong của phương pháp gây tê tại chỗ (local anesthesia):

“Tôi trở thành tín hữu qua kính hiển vi và quan sát thiên nhiên, và tôi muốn đóng góp theo khả năng mình vào sự hòa hợp giữa khoa học và tôn giáo”.

 


  1. Guglielmo Marconi (1874–1937)

Nhà sáng chế vô tuyến điện thoại, giải Nobel 1909:

“Tôi hãnh diện tuyên xưng rằng mình là một tín hữu. Tôi tin vào quyền năng của sự cầu nguyện, và tôi tin không chỉ như là người Công giáo mà còn là một nhà khoa học”.


 


  1. Robert Millikan (1868–1953)

Nhà vật lý Hoa Kỳ, giải Nobel 1923:

“Tôi có thể khẳng định rằng việc từ chối đức tin là thiếu nền tảng khoa học. Theo quan điểm của tôi, không có bất kỳ sự mâu thuẫn nào giữa đức tin và khoa học”.


  1. Arthur Eddingtong (1882–1946)

Nhà thiên văn học người Anh, nhà toán học và vật lý thiên thể:

“Trong số những người sáng tạo nên thuyết vô thần thì không có ai là nhà tự nhiên học. Tất cả họ đều là những triết gia tồi”.

 


  1. Albert Einstein (1879–1955)

Người đặt nền cho vật lý hiện đại (Thuyết tương đối), giải Nobel 1921:

“Những ai nghiêm túc nghiên cứu khoa học đều chắc một điều là trong tất cả những định luật của vũ trụ đều có bóng dáng của một thần linh siêu vượt lên trên con người và chúng ta phải cảm thấy mình thật thấp kém”.


  1. Max Planck (1858–1947)

Người sáng tạo nên vật lý lượng tử (quantum physics), giải Nobel 1918:

“Do xung lượng của kiến thức đòi hỏi, không gì ngăn cản chúng ta liên kết trật tự của vũ trụ với Thiên Chúa của tôn giáo. Đối với người tin, Thiên Chúa đứng ở đầu câu chuyện; đối với nhà vật lý, Thiên Chúa ở cuối câu chuyện”.

 

 


  1. Erwin Schrödinger (1887–1961)

Người khám phá ra cơ học sóng (wave mechanics), giải Nobel 1933:

“Kiệt tác tinh vi nhất là tác phẩm của Thiên Chúa, theo các nguyên tắc cơ học lượng tử (quantum mechanics)…”.

 


  1. Howard H. Aiken (1900-1973)

Người tiên phong trong lãnh vực máy tính:

“Vật lý hiện đại dạy tôi rằng thiên nhiên không thể tự xếp đặt mình theo trật tự. Vũ trụ là một khối trật tự khổng lồ. Vì vậy, nó đòi hỏi một “Nguyên Nhân Đầu Tiên” thật vĩ đại và không phụ thuộc vào định luật biến đổi năng lượng hai và vì thế đó là Đấng Siêu Nhiên”.


  1. Wernher von Braun (1912–1977)

Kỹ sư tên lửa và kiến trúc sư không gian:

“Trên hết mọi sự là vinh quang Thiên Chúa, Đấng mà con người và khoa học khám phá và tìm kiếm mỗi ngày với sự tôn kính thẳm sâu”.


  1. Charles Townes (1915)

Nhà vật lý cùng nhận giải Nobel 1964 vì đã khám phá ra các nguyên tắc của tia laser:

“Là người có tôn giáo, tôi cảm thấy được sự hiện diện và can thiệp của Đấng Sáng Tạo ở cách xa tôi nhưng luôn rất gần … một trí năng góp phần sáng tạo nên các định luật của vũ trụ”.


 


  1. Allan Sandage (1926-2010)

Nhà thiên văn Hoa Kỳ, người tính toán tốc độ giãn nở của vũ trụ và tuổi của nó bằng cách quan sát các vì sao xa:

“Thuở thiếu thời tôi là người vô thần. Khoa học đã đưa tôi đến kết luận rằng thế giới này phức tạp hơn tôi tưởng. Tôi chỉ có thể giải thích mầu nhiệm hiện hữu bằng cách nại vào một Đấng Siêu Nhiên”.


  1. Luis Pasteur

Tấm danh thiếp và sự ngạc nhiên:

Một sinh viên trẻ ngồi cùng toa xe lửa với một ông già đang lần hạt. Anh mạnh dạn bắt chuyện với ông: “Thay vì lần hạt, tại sao ông không dành thời gian học hỏi và tự đào luyện bản thân đôi chút nhỉ? Tôi có thể gởi cho ông một cuốn sách hướng dẫn”.

Ông già đáp: “Anh làm ơn gởi cuốn sách đến địa chỉ này”, và ông trao cho anh sinh viên tấm danh thiếp. Tấm danh thiếp ghi là: Luis Pasteur, Viện khoa học Paris. Anh sinh viên cảm thấy xấu hổ vô cùng. Anh định khuyên nhủ một học giả lừng danh nhất của thời đại mình, nhà sáng chế ra vaccines, được cả thế giới ca tụng và là một người siêng năng lần hạt.

Hy vọng bài viết này có thể củng cố niềm tin của các bạn trẻ và khích lệ các bạn đào sâu khoa học cũng như đức tin của mình. Đồng thời, bài viết này cũng là một lời khẳng định chắc chắn với những ai cho mình chỉ tin vào khoa học mà loại bỏ đức tin.

 

Một điều đáng nhắc tới là Newton – nhà vật lý học lỗi lạc, là một Ki-tô hữu thành kính. Trong nền giáo dục nhồi nhét, một số sách giáo khoa cố ý nói rằng những năm cuối đời Newton đã dấn thân vào tôn giáo và do vậy không có thêm sáng tạo gì, khiến con người hiểu lầm rằng rất nhiều phát hiện khoa học những năm đầu được dẫn dắt bởi thế giới quan của “Thuyết vô Thần”, còn những năm cuối đời, tín ngưỡng tôn giáo đã gây trở ngại cho việc sáng tạo khoa học. Nhưng sự thực là Newton đã sớm là một Ki-tô hữu trước khi theo đuổi nghiên cứu khoa học, mà cả đời ông tin vào Thiên Chúa không hề thay đổi.

Khi Newton còn học tại trường Cambridge, ông đã sớm là một Ki-tô hữu thành kính. Ông thường hay viết những lời cầu nguyện của mình vào những chỗ trống trong sổ tay hay sách vở, thậm chí đến nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều trong viện bảo tàng Anh. Ông cũng thường cùng với người bạn cùng phòng tên là Andrew Wiggins ra ngoài phân phát Thánh kinh cho người nghèo, gửi Phúc Âm tới cho họ.

Thậm chí những suy xét về khoa học của Newton cũng có mối quan hệ không thể tách rời với những lời cầu nguyện trong cuộc sống của ông. Ông thường nghĩ tới khoa học trong dòng suy nghĩ về tín ngưỡng, trong dòng suy nghĩ về khoa học ông cũng nhớ tới tín ngưỡng. Đến nỗi sau này giáo sư Manuel khoa lịch sử trường đại học New York trong cuốn “Newton truyện” của mình đã nói: “Khoa học cận đại khởi nguồn từ những mặc niệm của Newton về Thiên Chúa.”

 

Đức tin Công Giáo

 Ngọc Lan sưu tầm

https://hinhanhdep.org/wp-content/uploads/2016/07/hinh-nen-dep-thien-nhien.jpeg

Xem thêm...

Khúc Mùa Thu - Nhạc sĩ Phú Quang

    Tóm tắt tiểu sử nhạc sĩ Phú Quang    

Nhạc sĩ Phú Quang tên đầy đủ là Nguyễn Phú Quang

Nơi sinh: Phú Thọ

Ngày tháng năm sinh: 13/10/1949

 
Đêm nhạc Phú Quang "Hà nội ơi, còn mãi một tình yêu"
 
 
Nhạc sĩ Phú Quang là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng.

     Lê Dung - Khúc Mùa Thu    

Nhạc sĩ Phú Quang năm nay 71 tuổi, là tác giả của hàng trăm ca khúc để đời: Khúc mùa thu, Em ơi! Hà Nội phố (thơ: Phan Vũ), Đâu phải bởi mùa thu, Nỗi nhớ mùa đông, Dương cầm lạnh (thơ Dương Tường), Biển nỗi nhớ và em, Mơ về nơi xa lắm, Im lặng đêm Hà Nội, Hà Nội ngày trở về, Về lại phố xưa, Nỗi buồn, Thương lắm tóc dài ơi, Mẹ, Chiều phủ Tây Hồ, …
Ông còn sáng tác khí nhạc (nổi tiếng bài Khát vọng) và nhạc phim (Bao giờ cho đến tháng mười). Ông từng phát hành hơn 15 album: Cho một người tình xa; Một dại khờ, một tôi; Trong ánh chớp số phận; Mơ về nơi xa lắm; Điều giản dị; Về lại phố xưa; Ngoảnh lại, 13 chuyện bình thường; Phố cũ của tôi, Mùa hạ còn đâu, Có một vài điều anh muốn nói với em…
 
Theo thông tin mới nhất về nhạc sĩ Phú Quang được vợ ông - chị Trịnh Anh Thư –  cho biết: "Hiện tại, nhạc sĩ Phú Quang đang được điều trị tích cực trong bệnh viện, sức khỏe của nhạc sĩ Phú Quang đang rất yếu và đang điều trị tại bệnh viện Việt Đức (Hà Nội). Nhạc sĩ vẫn đang phải thở máy và lọc thận. Khi người thân vào thăm, anh ấy nhận ra được qua ánh mắt. Vì yêu cầu của bệnh viện khá nghiêm ngặt, ngay cả người thân vào thăm cũng khó nên gia đình hạn chế không muốn thông báo rộng rãi".
Sức khoẻ của nhạc sĩ Phú Quang hiện tại: "phải thở máy và lọc thận" - Ảnh 2.

Nhạc sĩ Phú Quang và vợ Trịnh Anh Thư

  Tiết lộ về những người con gái trong tình khúc Phú Quang  

NSND Lê Khanh là nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ Phú Quang ra mắt "Điều giản dị"

Nhạc sĩ Phú Quang bật mí đằng sau mỗi ca khúc nổi tiếng của mình đều mang một nỗi niềm riêng của nhạc sĩ dành cho người con gái.

Nhạc sĩ của ca khúc “Điều giản dị” bật mí về câu chuyện tình trong ca khúc, anh thừa nhận chính người con gái trong Điều giản dị là anh viết về Lê Khanh. “Và anh biết một điều thật giản dị càng xa em ta càng thấy yêu em….” Lời ca khúc phải chăng là nỗi niềm Phú Quang muốn nói với Lê Khanh? Trước câu hỏi liệu nữ xinh đẹp tài năng này có là một trong số kỷ niệm, bí mật “bây giờ mới kể” của nhạc sĩ?

“Tôi đã nói thẳng với đạo diễn Phạm Việt Thanh rằng, ca khúc Điều giản dị là tôi viết về Lê Khanh đấy. Nhưng không phải bởi tình yêu mà tôi lấy cảm hứng từ sự xúc động trước vai diễn của cô cùng câu chuyện tình trong bộ phim Có một tình yêu như thế”, nhạc sĩ nói.

Với Khúc mùa thu (năm 1990) thì lại là một kỷ niệm đẹp khác của Phú Quang với ca sĩ Lê Dung và nhà thơ Hồng Thanh Quang. Nữ ca sĩ gạo cội và nhà thơ khi đó giữ một thiên tình sử đẹp và gợi sự tò mò cho mãi đến tận bây giờ. Được chứng kiến mối tình lãng mạn giữa hai người và vô tình đọc được bài thơ đăng báo của Hồng Thanh Quang, nhạc sĩ Phú Quang đã phổ nhạc thành nhạc phẩm cùng tên.

Một chút tiếc nuối, một chút tình buồn về một tình yêu chia xa, lỗi có do người ra đi hay người ở lại, hoặc có thể cả hai. Hoặc do hoàn cảnh, số phận xô đẩy. “Đâu phải bởi mùa thu” Phú Quang viết tặng cho người tình đầu tiên ở Sài Gòn đã vượt biên năm 1977 ra đời trong hoàn cảnh đấy.

Và ít ai biết rằng nguồn cảm hứng tạo nên tình khúc lãng mạn Biển nỗi nhớ và em được vị nhạc sĩ dáng vẻ phong trần này cho ra đời ở Vũng Tàu năm 1986, khi đọc được bài Thơ viết ở biển của nhà thơ Hữu Thỉnh. “Gió âm thầm không nói mà sao núi phải mòn. Em đâu phải là chiều mà nhuộm anh đến tím””, nhạc sĩ Biển nỗi nhớ và em bộc bạch chia sẻ.

“Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố bỗng thấy mình chẳng nhớ nổi một con đường” tếu tằng rằng bản thân đã sáng tác vài trăm ca khúc về tình yêu thì không thể có từng ấy cuộc tình với vài trăm cô được, chỉ là những đúc kết về cuộc đời trải qua những mất mát, buồn vui đau khổ trong công việc cũng như trong tình cảm.

Phú Quang cũng thẳng thắn thừa nhận rằng những cay đắng mình nhận phải khi trót dấn thân vào con đường nghệ thuật là cho đến thời điểm này ông “vẫn chưa được người ta công nhận”.

       Khúc Mùa Thu      
 

Sáng tác:  NS Phú Quang
NSND Lê Dung
Thơ: Nhà thơ  Hồng Thanh Quang

Vẫn biết ta giờ không trẻ nữa
Sao thương ai ở mãi cung hằng
Lời nguyện cũ,,, trên đầu như nguyệt quế
Đâu chịu nhòa khi tới giữa mùa trăng
Tôi đã yêu, đã yêu như chết là hạnh phúc
Tôi đã quên mình, chỉ để nghĩ về em
Người đàn bà dấu đêm vào trong tóc,,,
Còn điều chi em mải miết đi tìm,,,
Tôi đã đến cùng em và tôi biết
Em cũng là như mọi người thôi
Nhưng chưa hết cuộc yêu tôi đã hiểu
Em ám ảnh tôi trọn một kiếp người
Ngay cả nếu, âm thầm em hóa đá
Bầu trời lặng yên cũng đã vỡ rồi
Mênh móng quá khoảng trống này ai lấp,,,
Khi thanh âm cũng bất lực như lời
Sẽ chỉ còn quầng thu thuở ấy
Nỗi cô đơn văng vắng giữa trời
Người đàn bà dấu đêm vào trong tóc

Em tìm gì khi thất vọng trong tôi!!

    Khúc Mùa Thu -Phú Quang -Hồng Thanh Quang    

NSND Lê Dung
 
Lê Dung yêu để chết, để đốt cháy mọi thứ như chính những gì chất chứa trong giọng hát của cô. Giọng hát ấy sẽ còn mãi bởi nó chạm đến tận cùng cảm xúc, nơi mà con người bất lực không thể diễn đạt được. "Ôi! Ta đã yêu ta đã yêu. Ta đã yêu… " Khi nói về âm nhạc người ta thường chỉ nói về những gương mặt đang hiện hữu và sự sống còn của họ với thị trường nhạc mà ít ai nhắc tới những gương mặt đã là "tượng đài" trong lòng công chúng nghe nhạc. Có lẽ nhịp sống đôi khi cuốn đi quá nhanh, người mới đến càng nhiều và trong cơn sóng đó, người không còn hiện hữu nữa dần bị "quên đi".
 
Nhắc đến Lê Dung, người ta nhắc tới một con chim sơn ca đầu đàn của thanh nhạc Việt Nam. Những gì cô có được cho đến nay vẫn là cái đích chưa  ai vượt qua. Một giọng hát duy nhất, thành công cả trên hai lĩnh vực nhạc nhẹ và nhạc thính phòng cổ điển. Được công nhận ở đẳng cấp quốc tế. Lê Dung, người đã có công khai phá cho khán giả một dòng nhạc rất kén người nghe, nhạc thính phòng cổ điển. Trên cái thiểu số người hâm mộ ấy, Lê Dung đã đến để đem đến cái nhìn khác cho dòng nhạc này. Và đồng thời cô cũng tạo nên một ảnh hưởng sâu sắc tới các thế hệ ca sĩ đi sau. Trước khi giọng hát Lê Dung xuất hiện thì có rất nhiều người ngại nghe nhạc thính phòng. Bởi giai điệu nhạc thì xa lạ, các ca sĩ thì quá chú tâm về kỹ thuật, làm cho người nghe có cảm giác như bị đẩy ra xa khỏi không gian đó và kết quả là... không thể thấm được. Nhưng Lê Dung thì khác. Có lẽ cũng như bao ca sĩ thính phòng khác, cô đã phải dày công luyện tập, giọng hát của cô rất điêu luyện, rất kỹ thuật đến độ hoàn hảo nhưng điều đáng nói là, khi hát, Lê Dung đã truyền được sự rung cảm mãnh liệt, sự say mê, xúc động của tâm hồn đến người nghe.
 
                                                     
Ngay cả nếu âm thầm em hóa đá.
Bầu trời lặng yên cũng đã vỡ rơi.
Mênh mông quá khoảng trống này ai lấp.
Khi thanh âm cũng bất lực như lời…”

Mọi căng cứng của kỹ thuật dường như đã không còn trọng một giọng hát đầy cảm xúc. Khi cô cất tiếng hát thì tâm hồn cô đã là chất hòa tan vô giá. Bởi ở cô có sự nhạy cảm, sự hiểu biết, vừa nắm vững kỹ thuật, vừa truyền cảm điêu luyện với một làn hơi tuyệt vời mà trời phú cho… thật tuyệt vời! Khó để có được một giọng hát như thế lặp lại trên cuộc đời này. Khi nghe Lê Dung hát, dù nhạc nhẹ hay nhạc thính phòng, chúng ta sẽ thấy được sự khác biệt với khi nghe các ca sĩ khác hát, bởi hòa trong đó là chiều sâu tâm hồn của cô cũng như chiều sâu của một chất giọng trữ tình tuyệt vời. Mỗi ca từ, mỗi nốt nhạc khi giọng hát ấy cất lên là những chất chứa tâm hồn khiến người nghe không thể bỏ qua bất cứ một ca từ hay ngay cả một nốt nhạc đệm nào. Không bó hẹp, giọng hát Lê Dung mang đến cho người nghe một biên độ cảm xúc mở rộng đến vô tận. Khiến người nghe có cảm giác khi thì như phiêu lơ lửng trên những tầng mây ở những nốt nhạc cao vút, khi thì như chênh vênh, như lặn sâu xuống đáy vực ở những nốt giáng, nốt trầm; khi thì dồn dập như thác cuốn ở những biến tấu; khi thì như trống rỗng, hư vô ở những dấu lặng. Nhưng để có được những gì đem đến công chúng qua giọng hát đó, Lê Dung cũng đã phải nếm trải qua rất nhiều những thăng trầm cuộc đời. "Lê Dung hát không có cảm xúc!" Đó là câu nói của Phú Quang khi lần đầu cô hát cho ban nhạc của ông vào thời sinh viên. Nhưng cũng chính từ lần gặp gỡ đó mà số phận của giọng hát Lê Dung đã gắn chặt với nhạc Phú Quang, ngoài dòng nhạc thính phòng mà cô theo đuổi.
 
(Lê Dung - người đàn bà hát)

Ngày ấy Lê Dung còn quá trẻ, chưa biết “yêu” và “đau khổ” vì yêu nên khi hát những bản tình ca cô chưa truyền tải hết cảm xúc của bài hát muốn nói, cũng vì vậy Phú Quang chối bỏ cô. Nhưng sau những năm đi học tu nghiệp thanh nhạc ở Liên Xô về, và đặc biệt là chịu nhiều đổ vỡ trong tình cảm. Cô đã thực sự là “Người đàn bà hát”. Khi cô đã yêu, … và nếm trải những đắng cay của tình yêu cũng là khi giọng hát của cô trở nên quý giá. Cô mang hết sự đắm đuối của mình vào những tác phẩm cô hát. Khiến chúng trở nên khắc khoải da diết đến cồn cào, gai người. "…Nhưng chết được lại là hạnh phúc!" Ai đã yêu, đã khát khao cho tình yêu thì khi nghe Lê Dung hát sẽ nếm trải được những giằng xé mãnh liệt trong giọng hát ấy. Người ta hay nói đến kỹ thuật, nhưng ở Lê Dung giọng hát đã quyện được kỹ thuật đỉnh cao vào cảm xúc khiến những khuôn thước cứng nhắc kia tan biến đi cho cảm xúc tràn ngập tâm hồn người nghe.

“Vẫn biết ta giờ không trẻ nữa.
Sao thương ai ở mãi cung Hằng.
Lời nguyện cũ trên đầu như nguyệt quế.
Đâu chịu nhòa khi tới giữa mùa trăng. T
ôi đã yêu đã yêu như chết là hạnh phúc.
Tôi đã quên mình chỉ để nghĩ về em.
Người đàn bà giấu đêm vào trong tóc.
Còn điều chi em mải miết đi tìm. …
Ngay cả nếu âm thầm em hóa đá.
Bầu trời lặng yên cũng đã vỡ rơi.
Mênh mông quá khoảng trống này ai lấp.
Khi thanh âm cũng bất lực như lời…”

"Khúc mùa thu",
Khúc hát cho chính số phận của cô, nghe và thấm nó để thấy Lê Dung, người đàn bà mãnh liệt nhưng cũng rất yếu đuối trong tình yêu. Để tiếng hát ấy len lỏi vào từng ngõ ngách trong tâm hồn để rồi nó mang đến cho ta một chiếc cầu nối giúp ta khám phá thêm một thế giới khác cho tâm hồn mình. Lê Dung đắm đuối, và đắm đuối hơn ai hết. Khi yêu là yêu cho đến tận cùng, cho đến phút cuối. Sau giọng hát ấy chất chứa một tâm hồn đầy đa cảm. Bởi như bà nói: Người nghệ sĩ hát hay thật sự phải có tâm hồn. Nếu không, chỉ hát ra một âm thanh vô hồn thì người ta chỉ gọi là con hát. Trong suốt những năm dài đứng trên sân khấu, chưa bao giờ tiếng hát Lê Dung bị chai sạm đi. Nó vẫn vậy, như ngày nào và ngày càng đa cảm bởi sự trải nghiệm ngày càng lớn của người hát. Công chúng đón nhận giọng hát Lê Dung sau bằng ấy năm, nhưng cứ mỗi đêm khi giọng hát đó cất lên thì lại là bao đêm trên gương mặt của biết bao người đã lăn dài những giọt nước mắt.
Kết quả hình ảnh cho Lê Dung
"Em ra biển lớn, biển đã cạn.
Em vào rừng sâu, rừng chỉ còn lá rụng.
Em về với anh để nghe lời giã biệt...
Rồi mai em chết, còn gì trên đời?".

Họ như tìm thấy số phận của chính mình trong tiếng hát ấy, những nỗi cô đơn giằng xé,... đã được truyền tới họ để  tâm hồn họ chạy theo những biến ảo cảm xúc mà cuộc đời thăng trầm của mình đã trải qua. Lê Dung mang trong mình một tình yêu, như có người nói: Yêu để chết! Chính vì thế cô sống và hát như để đốt cháy mọi thứ. Mỗi câu hát ấy nó như vận vào số phận cô. Cả cuộc đời cô luôn đi tìm mải miết một điều gì đó hư vô và để rồi cuối cùng "Em ra biển lớn, biển đã cạn. Em vào rừng sâu, rừng chỉ còn lá rụng. Em về với anh để nghe lời giã biệt... Rồi mai em chết, còn gì trên đời?".
 
Tiếng hát ấy sẽ còn mãi! Bởi nó chạm đến tận cùng cảm xúc, nơi mà con người bất lực không thể diễn đạt được. Lê Dung - người đàn bà hát đã vĩnh biệt chúng ta tròn mười năm, tính đến mùa xuân này. 10 năm, khoảng thời gian đủ để những đứa trẻ lớn lên và tự hỏi: Lê Dung là ai, và những khán giả yêu mến chị thì đủ trải nghiệm, thậm chí là đủ già để hiểu rằng, cái khoảng trống mênh mông mà Lê Dung để lại ấy vẫn chưa thể có ai lấp đầy. Thời gian cũng đã cuốn trôi đi biết bao thứ bọt bèo của đời sống văn nghệ vốn dĩ nhiều thật giả lẫn lộn, như một tất yếu của thời buổi kinh tế thị trường, riêng giọng hát Lê Dung vẫn còn mãi đấy, ngày càng đẹp hơn, lung linh hơn trong cảm nhận của khán giả. Hình ảnh một Lê Dung sang trọng trên sân khấu, như con chim họa mi kiêu hãnh cất tiếng hót làm rung động trái tim của hàng triệu khán giả vẫn như thổn thức trong ký ức của biết bao người yêu mến chị. Giọng hát hoàn hảo, nhạc cảm đặc biệt, sự nhập cuộc và làm chủ tác phẩm đến nhuần nhuyễn của Lê Dung đã trở thành một biểu tượng.
 
Kết quả hình ảnh cho Lê Dung
Những cảm nhận về Lê Dung
  • - Nhạc sĩ Lê Khắc Thanh Hoài: Sau gần 30 năm chờ đợi một giọng hát như mình mong muốn, tôi đã gặp được Lê Dung, hy vọng tràn trề, niềm vui sướng tột cùng khi tiếng hát và tiếng đàn quện vào không gian. Nhưng bất hạnh thay niềm vui đó thật là mong manh. Nhưng cũng là may mắn khi đã có được 10 tình khúc để lại đời… Lê Dung lìa khỏi cõi đời này để lại muôn vàn tiếc nuối…
  • - Nhạc sĩ Phú Quang: NSND Lê Dung là ca sĩ có học nhất của Việt Nam trong quan niệm của tôi và những học vấn mà chị có đã được truyền vào trong giọng hát để chị trở thành một ca sĩ có học và hát hay. Chị dồng thời cũng còn là một ca sĩ có xúc cảm âm nhạc rất tốt. Với những bài hát của tôi thì chị đạt được hai điều: Một là hát rất kỹ thuật, hai là đầy cảm xúc.
  • - Ca sĩ Ngọc Anh: Khi hát Khúc mùa thu, Ngọn nến, Romance 01... nỗi nhớ thương hai cô giáo đã nâng bước tôi trên suốt quãng đường dài theo học Nhạc viện Hà Nội, trong đó có cố nhạc sĩ nhân dân Lê Dung với sự ra đi quá sớm luôn khiến tôi thấy lòng trĩu nặng 
  • -Ca sĩ Mỹ Linh: Ở Việt Nam có NSND Lê Dung là xứng đáng với danh hiệu Diva thôi. Cô là một người hát rút ruột rút gan và gây một ảnh hưởng lớn cho các thế hệ ca sĩ sau này. 

   Nhạc sĩ Phú Quang bị biến chứng từ bệnh tiểu đường, tiên lượng xấu    

Nhạc sĩ Phú Quang. Ảnh: NV
 
Nhạc sĩ Phú Quang. Ảnh: NV

Nghệ sĩ piano Trinh Hương cho biết nhạc sĩ Phú Quang bị bệnh tiểu đường hơn 30 năm và trở nặng vài tháng nay.
Theo thông tin từ gia đình, từ vài năm nay, sức khỏe nhạc sĩ Phú Quang đã yếu, hầu như năm nào cũng nhập viện vài đợt điều trị. Con gái đầu của nhạc sĩ là nghệ sĩ piano Trinh Hương chia sẻ, ông đã chung sống với bệnh tiểu đường hơn 30 năm, vài tháng nay gần đây nặng hơn nên thỉnh thoảng ông có thể trò chuyện khi tỉnh táo.
Nghệ sĩ Trinh Hương cho biết: "Ông nằm trong phòng vô trùng được điều dưỡng, y tá chăm nom, bệnh viện quy định người nhà chỉ có thể thăm vào một số giờ nhất định. Gia đình không chia sẻ thông tin sớm vì biết nhiều người yêu mến bố muốn vào thăm, gây bất tiện cho bệnh viện, các bệnh nhân khác".
Trên trang cá nhân, nhạc sĩ Vũ Duy Cương - Ủy viên Ban Chấp hành, nguyên Chánh Văn phòng Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã chia sẻ về bệnh tình của nhạc sĩ Phú Quang: "Tác giả của nhiều nhạc phẩm nổi tiếng viết về Hà Nội được đông đảo công chúng mến mộ, hiện đang phải trải qua những ngày giành giật sự sống quyết liệt nhất, biến chứng từ bệnh tiểu đường, tiên lượng xấu. Cầu mong có phép màu nào giúp anh vượt qua, về với… Hà Nội phố". 
 
Nhạc sĩ Phú Quang. Ảnh: NV
Nhạc sĩ Phú Quang trở bệnh nặng. Ảnh: NV
 
Trước khi nhập viện, dù sức khỏe không tốt, nhạc sĩ Phú Quang vẫn miệt mài làm việc. Ông đôi lúc đãng trí những việc thường nhật nhưng nhớ như in từng câu chuyện âm nhạc. Ông vốn không thích ai hát sai lời, nhạc của mình nên rất kỹ tính. 
Nhạc sĩ Phú Quang có kho tàng đồ sộ hơn 600 bài hát, đa số sáng tác viết về Hà Nội với nhiều tình khúc bất hủ. Nhiều bài thơ được ông phổ nhạc trở thành ca khúc nổi tiếng gắn liền với Hà Nội như "Em ơi, Hà Nội phố" (thơ Phan Vũ), "Hà Nội ngày trở về" (thơ Thanh Tùng), "Im lặng đêm Hà Nội" (thơ Phan Thị Ngọc Liên), "Một dại khờ, một tôi "(thơ Nguyễn Trọng Tạo)...

CHIỀU HOANG

Ca sĩ: Ngọc Anh Sáng tác: Phú Quang
 
 

  Thuyền và Biển - Quang Lý & Bảo Yến  

    Dạ khúc - nhạc Phú Quang    



Có chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như cơn mưa

Có chiều nào như chiều qua
mang cả tình yêu đến
em nói lời thề dâng hiến
cho anh trọn một đời người

chiều nào người bỏ vui chơi
cho tôi chiếc hôn nồng cháy
nối đau bắt đầu từ đây
ngọt ngào như trái nho tươi

chiều nào như là chiều nay
căn phòng anh bóng tối tràn đầy
âm thầm một lối đi về
hoa tàn 1 mình
nào em có hay

   Tiểu sử nhạc sĩ Phú Quang   

Nhạc sĩ Phú Quang là người nhạc sĩ tài năng chuyên viết bản tình ca, những bài hát trữ tình về Hà Nội. Ngoài ra, ông còn sáng tác khí nhạc và nhạc phim. Người ta nhớ đến Phú Quang không chỉ với những bài hát mà còn cả hình ảnh với nụ cười hiền và là người hết mình vì âm nhạc. Cùng tìm hiểu kỹ hơn về người nhạc sĩ tài hoa này.

    Tóm tắt tiểu sử nhạc sĩ Phú Quang    

Nhạc sĩ Phú Quang tên đầy đủ là Nguyễn Phú Quang

Nơi sinh: Phú Thọ

Ngày tháng năm sinh: 13/10/1949

Tiểu sử nhạc sĩ Phú Quang

Con đường sự nghiệp của nhạc sĩ Phú Quang

Nhạc sĩ Phú Quang sinh ra ở Thái Nguyên. Năm ông lên 5 tuổi, ông theo gia đình về Hà Nội. Đến năm 37 tuổi, ông vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và cho đến năm 2008 (59 tuổi) trở lại Hà Nội.

Năm 1967: Ông tốt nghiệp hệ Trung cấp kèn cor tại Nhạc viện Hà Nội. Và sáng tác nhạc phẩm đầu tay bản Ballad "Niềm tin" viết cho violoncello và piano.

Từ năm 1967 đến 1978: Công tác tại Nhà hát Giao hưởng - Hợp xướng - Nhạc vũ kịch Việt Nam.

Năm 1978: Học tại Nhạc viện Hà Nội, chuyên ngành chỉ huy dàn nhạc.

Năm 1982: Tốt nghiệp, về công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam.

Năm 1986: Chuyển về Phòng ca múa nhạc, Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1994: Chuyển về Nhà hát Giao hưởng Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2004: Thành lập Công ty Hỗ trợ và Phát triển Nghệ thuật Phú Quang.

Các nhạc phẩm do Phú Quang sáng tác

Niềm tin

Bâng quơ

Biển nỗi nhớ và em (Thơ Hữu Thỉnh)

Mẹ

Chiều đông Moskva

Chiều phủ Tây Hồ

Chiều sóng và em

Chuyện kể về tình yêu

Em ơi Hà Nội phố (Thơ Phan Vũ)

Đâu phải bởi mùa thu (Thơ Giáng Vân)

Điều giản dị

Gió và hoa hồng (Nhạc ngoại)

Khúc mùa thu

Im lặng đêm Hà Nội (Thơ Phan Thị Ngọc Liên)

Thương lắm tóc dài ơi

Trong ánh chớp số phận

Tình khúc 24

Mơ về nơi xa lắm

Nỗi buồn

Nỗi nhớ

Nỗi nhớ mùa đông (Thơ Thảo Phương)

Hà Nội ngày trở về (Thơ Thanh Tùng)

Ngày mai

Khúc mưa

Sinh nhật đen

Lãng đãng chiều đông Hà Nội (thơ Tạ Quốc Chương

Rock buồn

Về lại phố xưa

Với tất cả tình yêu (Nhạc ngoại)

Khúc mưa (thơ Đỗ Trung Quân)

Một dại khờ một tôi (thơ Nguyễn Trọng Tạo)

Dương cầm lạnh (thơ Dương Tường)

Có một ngày (thơ Nguyễn Khoa Điềm)

Danh sách đĩa nhạc của Phú Quang

Album phòng thu

Album 1: Cho một người tình xa (1996) - với Mỹ Linh

Album 2: Một dại khờ, một tôi (1997)

Album 3: Trong ánh chớp số phận (1997)

Album 4: Mơ về nơi xa lắm (1999)

Album 5: Về lại phố xưa (2001)

Album 6: Điều giản dị (2003)

Album 7: Ngoảnh lại (2003)

Album 8: 13 chuyện bình thường (2004)

Album 9: Cha & con (2005) - với Quang Lý, Thanh Lam, Ngọc Anh và Trinh Hương

Album 10: Phố cũ của tôi (2005)

Album 11: 69'59'' (2005) - với Ngọc Anh

Album 12: Mùa hạ còn đâu (2006)

Album 13: Cho em và cũng là cho anh (2006) - với Quang Lý

Album 14: Có một vài điều anh muốn nói với em (2007)

Album 15: Em & anh (2008) - với Phú Ân

Album biên tập

Bảo Yến - Giọt Thu Buồn - Tình khúc Phú Quan

Nỗi nhớ - Kasim Hoàng Vũ

Lãng Đãng Chiều Đông Hà Nội - 12 Tình khúc Phú Quang (2001)

Tình khúc Phú Quang - Dòng Sông Không Trở Lại (2005)

Tình khúc Phú Quang - Nỗi Nhớ Mùa Đông (2006)

30 Tình khúc Phú Quang

CD Phú Quang (2010)

Tình khúc Phú Quang Vol 1 + 2 (2000)

The Best Of Phú Quang: Gửi Một Tình Yêu (2010)

Mới thôi… mà đã một đời - Phần 2: Hà Nội ngày trở về (2013)

Thời gian có bao giờ trở lại - với Minh Chuyên (25/03/2018)

TẤN MINH & HÀ NỘI - NHỮNG TÌNH KHÚC PHÚ QUANG (VOL. 3, CD) (2010)

Lớn lên cùng Hà Nội Acoustic (Born in Hanoi) (tháng 6/2014) - với Ngô Quang Vinh

Tình ca Phú Quang 1 - với Tuấn Ngọc, Ý Lan, Mỹ Hạnh, Thu Phương, Thanh Hà, Quang Dũng, Nguyên Khang và Anh Tú (2003)

Album tuyển tập

Còn tuổi nào cho em - với Lê Dung, Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Ngọc Anh, Thanh Long và Ngọc Quỳnh (1997)

Có một chiều như thế - với Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh và Thanh Long(1997)

Thương một người - với Lê Dung, Thanh Lam, Hồng Nhung, Thu Hà, Phương Thảo và Ngọc Anh (1998)

Liveshow

Phú Quang - Dương cầm lạnh (2014)

    Đời tư của nhạc sĩ Phú Quang    

Phú Quang có 3 đời vợ: Kim Chung, Hồng Nhung và Anh Thư. Ông có 3 người con: giảng viên piano Trinh Hương, Giáng Hương, và cậu út Phú Vương sinh năm 1990, tốt nghiệp ngành thiết kế đồ họa ở Singapore. Chồng Trinh Hương là nghệ sĩ volin nổi tiếng Bùi Công Duy. Trong đó, người vợ hiện tại kém ông hơn 20 tuổi.

Tiểu sử nhạc sĩ Phú Quang

  Một số hình ảnh của nhạc sĩ Phú Quang  

Tiểu sử nhạc sĩ Phú Quang
Tiểu sử nhạc sĩ Phú Quang
Tiểu sử nhạc sĩ Phú Quang
Tiểu sử nhạc sĩ Phú Quang
 
Kim Phượng sưu tầm và tổng hợp

Ảnh minh họa
Xem thêm...

TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG

 
Tình Khúc Bất Hủ - Tôi Đưa Em Sang Sông ( pre 75 ) - YouTube

TÔI ĐƯA EM SANG SÔNG - LỆ THU

 
2 hoàn cảnh sáng tác khác nhau của "Tôi Đưa Em Sang Sông" theo lời ...

* Nhạc sĩ Y Vũ với bài ca “Tôi Đưa Em Sang Sông”

Nhạc sĩ Trịnh Hưng

Tôi là bạn thân với nhạc sĩ Y Vân - anh ruột của nhạc sĩ Y vũ - từ ngày chúng tôi còn lang thang đi kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954, và cùng thọ giáo nhạc sư Tạ Phước ở Hậu Hiên, Thanh Hóa.
Chúng tôi đều bỏ kháng chiến về Hà Nội, nhưng tại đây tôi không được gặp Y Vân lần nào vì lý do sau đó ít lâu tôi theo gia đình vào miền Nam. Tới ngày chia đôi đất nước, sau cuộc di cư vĩ đại của đồng bào miền Bắc ồ ạt vào miền Nam, trốn chạy làn sóng đỏ, hai chúng tôi mới gặp lại nhau tại đài phát thanh Sàigòn.
Mừng rỡ khi gặp lại nhau, Y Vân rủ tôi về nhà chơi, ăn cơm, hàn huyên, ôn lại những kỷ niệm hồi còn ở vùng kháng chiến, hỏi thăm các bạn cùng học với thầy Tạ Phước để biết ai đã vào Nam và ai còn ở lại miền Bắc. Anh giới thiệu mẹ anh và em trai là Y Vũ. Anh sáng tác nhạc, lấy tên hiệu là Y Vân, tên trên giấy khai sinh của anh là Trần Tấn Hậu, và em là Trần Gia Hội (Y Vũ). Y Vũ nhỏ hơn Y Vân 9 tuổi, được anh dạy kèm môn âm nhạc.
Y Vân hợp tác với nhiều ban nhạc của đài phát thanh Sàigòn. Bài “Ngăn Cách” là bản nhạc đầu tay anh sáng tác. Y Vân rất nổi tiếng với bài “Lòng Mẹ” ... Còn tôi (Trịnh Hưng), phần lớn sáng tác dân ca quê hương, cũng được mọi người mến mộ. Tình bạn giữa tôi và Y Vân ngày thêm thắm thiết. Tháng 4 năm 1975, gia đình tôi và gia đình nhạc sĩ Y Vân không có điều kiện di tản, kẹt lại ở Sàigòn. Tôi tiếp tục sinh sống bằng cách dạy nhạc tại gia. Y Vân vẫn tiếp tục làm cho đài phát thanh, vì anh là nhạc sĩ có tài, chuyên viết về phối khí cho các ban nhạc ở đài phát thanh Sàigòn cũ, nên khi quân Cộng sản Bắc Việt chiếm miền Nam vẫn phải “lưu dụng” anh. Anh làm cho Việt Cộng chỉ cốt được yên thân, khỏi bị đuổi đi vùng kinh tế mới, bởi vì thù lao chẳng có gì ngoài mấy kí gạo hàng tháng ăn cầm hơi. Thỉnh thoảng, hai chúng tôi gặp nhau, rủ nhau ra quán uống cà phê, nhìn nhau mà ngao ngán cho cuộc sống hiện tại.
 
Năm 1982, tôi bị công an Cộng sản bắt đi tù 8 năm, vì tội lén lút sáng tác mấy bản nhạc chửi Già Hồ. Đến năm 1990, mãn án, ra tù, được gia đình bảo lãnh qua Pháp nên không gặp Y Vân thêm lần nào nữa. Năm 1991, ở Pháp, tôi được tin nhạc sĩ Y Vân mất. Anh mất vào năm lục tuần, thọ 60 tuổi. Tôi tiếc thương anh vô hạn và nghĩ rằng bài ca”Sáu mươi năm cuộc đời” do anh sáng tác, khá nổi tiếng, là lời tiên báo về thời gian tại thế của anh.
Năm ngoái, tôi có dịp về thăm lại quê hương, trước là thăm phần mộ cha mẹ và anh em.... mà tôi đã xa từ năm 1945, đã trên nửa thế kỷ chưa có dịp về thăm. Cũng trong dịp này, tôi may mắn gặp lại một số bằng hữu trong giới âm nhạc cũ, như vợ chồng ca sĩ Nguyễn Hữu Thiết và Ngọc Cẩm, các nhạc sĩ Thanh Bình, Huyền Linh, Hoài An, Châu Kỳ, Khánh Băng, v. v... Các nhạc sĩ miền Nam còn ở lại đa số đều nghèo cả. Nguyễn Hữu Thiết và Khánh Băng đã mù vì bệnh tiểu đường, không có tiền thuốc thang, chữa chạy.
Nhớ tới nhạc sĩ Y Vân, người bạn thâm niên cũ đã mất, tôi muốn tìm đến nhà vợ con anh để thăm hỏi và thắp nén nhang trên bàn thờ anh. Hỏi thăm người này, người nọ mãi mới tìm gặp được người em của Y Vân là nhạc sĩ Y Vũ.
Y Vũ làm cho nhà hàng Arnol, 176 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Sàigòn, được chủ nhà hàng Lê Văn Danh cấp cho một căn phòng nhỏ ở tạm qua ngày. Căn phòng của người nghệ sĩ độc thân bừa bãi như cái ổ chuột. Đồ đạc trong phòng chẳng có gì đáng giá ngoài mấy cây đờn làm phương tiện tối đi chơi nhạc kiếm cơm.
Tôi tâm sự với Y Vũ rằng tôi ở Pháp, nay tuổi đã già, chẳng làm ăn gì được nửa cả. Nhạc Việt Nam ở Pháp không có môi trường sinh hoạt như bên Mỹ. Nhưng tôi được chính phủ Pháp cấp dưỡng tiền già, cũng đủ xài và cuộc sống tự do thoải mái. Tuổi trẻ thì sống cho tương lai, người già sống với kỷ niệm quá khứ. Ở bên Pháp người già cả như tôi, không có thể làm được một công việc gì mà hàng tháng có tiền đủ ăn, nếu không có trợ cấp của chính phủ. Bên Pháp, thành phố rất đẹp, rực rỡ ánh đèn, đường sá sạch sẽ, không có ruồi muỗi như ở Việt Nam, ít thấy xe gắn máy và xe đạp. Xe Honda hai bánh thì tuyệt nhiên không thấy ở bên ấy. Người dân đi làm bằng xe hơi, xe bus, hoặc xe métro. Người dân có công ăn việc làm có thể mua xe hơi trả góp háng tháng. Mùa đông giá rét, tuyết trắng xóa, tôi ở nhà buồn không biết làm gì cho hết thời giờ, bèn làm thơ, viết báo Việt ngữ ở khắp nơi. Tôi là nhạc sĩ có chút tên tuổi nên các chủ báo đề nghị tôi viết về kỷ niệm và sinh hoạt của giới ca nhạc sĩ trước đây mà tôi biết, hoặc viết về các tác phẩm thơ nhạc nổi tiếng đã từng làm rung động và đi vào lòng người.
Ở hải ngoại, sống xa quê hương, người Việt tị nạn ưa thích được nghe lại những bản nhạc của Sàigòn xưa. Các hãng sản xuất băng Video, CD, Karaoké khai thác thị hiếu, đáp đúng tâm trạng người Việt xa xứ đua nhau hốt bạc làm giàu.
 
-Tôi nghĩ nếu mọi người biết được xuất xứ của những bản nhạc, trong trường hợp nào nhạc sĩ đã khai nghén và sáng tác ra nhạc phẩm thời danh ấy, chẳng hạn như Bến Xuân của Văn Cao, Dư Âm của Nguyễn Văn Tý, Hồn Vọng Phu của Lê Thương, hoặc Thu Quyến Rũ của Đoàn Chuẩn – Từ Linh, vân. vân... Và các bài ca được ưa chuộng của chú, như “Tôi Đưa Em Sang Sông”, “Tình Yêu Phù Thủy”. . .
Lần này về thăm quê, tôi muốn được đến thắp nhang trên bàn thờ của anh Y Vân, một người bạn thân lâu đời của tôi. Hôm nay may mắn được gặp chú. Chú có thể vui lòng kể cho tôi biết tâm sự và cảm xúc đã khiến chú sáng tác bản nhạc “Tôi Đưa Em Sang Sông”!
 
Y Vũ ngậm ngùi tâm sự:
- Đó là nhạc ghi lại mối tình đầu của em. Dạo đó, em còn là học sinh trường trung học tư thục Hàn Thuyên ở phố Cao Thắng, gần nhà và lớp nhạc của anh, yêu một nữ sinh cùng lớp tên là Thanh. Đó là mối tình học trò, trong trắng. Tình yêu chúng em chỉ cảm nhận qua ánh mắt trao đổi chứ chưa một lần nắm tay nhau. Nhà nàng giàu sang, có cây xăng ở Ngã Bảy Lý Thái Tổ, còn em thì nghèo, chỉ có chiếc xe gắn máy hiệu Bromic do anh Y Vân mua cho. Nàng dặn em, mỗi ngày cứ vào buổi chiều, canh đúng giờ nàng ra thay thế cho cha mẹ nàng về nhà nghỉ ngơi, thì tới để nàng đổ đầy bình xăng cho, không phải trả tiền. Và cứ thế, rồi bẵng đi một tuần, không thấy Thanh đi học và ra cây xăng. Em nhớ Thanh quá, mới lấy hết can đảm tới nhà nàng, hỏi thăm cô em gái nàng, thì được biết mấy hôm nay nhà bận rộn vì phải tiếp nhận lễ hỏi cưới chị Thanh do cha mẹ gả cho một ông bác sĩ cũng hơi lớn tuổi. Được tin nàng lấy chồng, em buồn quá, lủi thủi ghé nhà một người bạn ở một xóm nghèo, gần nghĩa trang. Tối đó, lần đầu tiên em uống rượu say. Mãi đến khoảng 2 giờ sáng mới tỉnh rượu, em mở cửa sổ, nhìn ra thấy mưa rơi hiu hắt trên những nấm mộ, em bèn cầm cây đàn guitar và ứng khẩu hát như người ứng tác:
 
“Nếu như trời không mưa
“Đường vắng đâu cần tôi đưa
“Nàng đã quên cả lối về, quên cả người trong gió mưa....!”
 
Từ đó đến sáng, em đã hoàn thành bài nhạc một cách không ngờ. Và chỉ trong vòng 3 tháng, ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” trở nên thịnh hành, được hát liên tục ở các đại nhạc hội ca nhạc và đài phát thanh Sàigòn với tiếng hát ngọt ngào của ca sĩ Lệ Thu.

Hôm đám cưới nàng, em có nhận thiệp mời tới dự, bàn tiệc chẳng có ai quen ngồi chung cả. Ra về với tâm trạng buồn tủi, em sáng tác ngay bản nhạc “Ngày Cưới Em”, với những câu:
“Hân hoan tay em mang đến tôi cây đàn
“mà rằng để mừng xin hát cho một lần
Ngượng ngùng tôi mới ca rằng:
Ngày xưa đưa em sang sông
Ngày nay đưa em bước sang ngang....”
 * Ngày Cưới Em   
 
Tôi cảm ơn Y Vũ đã tâm sự cho biết và hỏi thêm: “Còn bài “Kim” cũng khá nổi, chú sáng tác trong trường hợp nào?”
Y Vũ kể rằng: “Vào năm 1969, em làm việc ở Vũng Tàu, tối tối thường đi chơi ở vũ trường Blue Star, em quen rồi yêu một vũ nữ tên là Kim. Nàng có một hoàn cảnh đáng thương. Em sáng tác bài ca để động viên tinh thần Kim:
“Cớ sao buồn này Kim
Cớ sao sầu này Kim
Em như hoa nở giữa mùa mưa
Sống giữa khi trời đất giông tố
Anh đem yêu thương xóa muôn áng mây mờ . . .”
 Kim    
 
Y Vũ sáng tác không nhiều, nhưng bài nào cũng được mọi người yêu thích. Và mỗi ca khúc đều thấp thoáng hình ảnh một thiếu nữ đã đi qua và để lại những tình cảm tha thiết trong đời tác giả.
Tôi hỏi Y Vũ: “Chú có nhớ một vài kỷ niệm riêng về mấy ca khúc của Y Vân?”
- Nhạc sĩ Y Vân sinh năm 1931. Anh mất năm 1991, ứng với bản nhạc anh sáng tác, anh chết năm vừa tròn 60 tuổi. Y Vân bỏ kháng chiến, trở về thành, chơi đại hồ cầm cho mấy ban nhạc ở Hà Nội rồi Sàigòn sau năm 1954. Anh sáng tác nhạc rất sớm. Ca khúc Ngăn Cách là sáng tác đầu tay của anh, ghi lại những kỷ niệm về mối tình đầu trắc trở của anh ấy với một cô gái Hà Nội tên là Tường Vân. Năm 1954, di cư vào Nam, nhà nghèo quá, anh phải đi đàn đêm cho vũ trường đến 1 giờ sáng, và phải ở nhờ cư xá Chí Hòa, nơi giam giữ phạm nhân. Một buổi tối, anh đi làm về khuya như thường lệ, bà cụ dọn cơm cho anh ăn. Ăn xong, anh đi ngủ, bà cụ em thì ít ngủ và hay đỡ đần các con. Tối đó, vào gần 2 giờ sáng, bà cụ em mang áo quần của cả nhà ra máy nước công cộng ngồi giặt. Chẳng may, cảnh sát đi tuần, thấy bà cụ lom khóm đang giặt đồ, bèn bắt bà cụ lên xe chở về bót cảnh sát giam giữ vì tội không tuân hành lệnh giới nghiêm. Em đánh thức anh dậy, báo tin mẹ bị bắt. Anh thương mẹ già vất vả, buồn và khóc nức nở, làm em cũng khóc theo. Anh lấy cây đàn Guitar, vừa khóc vừa viết ca khúc “Lòng Mẹ” (1956) mà đồng bào Việt Nam ta ngày nay không ai là không biết:
 
“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào
Thương con thao thức bao đêm dài
Lặn lội gieo neo mái tóc trót đành đẫm sương ...”
 
Anh Y Vân là người con chí hiếu và ca khúc “Lòng Mẹ” quả thật là một bài nhạc bất hủ....
Khi chia tay, Y Vũ còn nói với tôi tâm trạng của người nghệ sĩ rằng: “Em muốn về một vùng quê xa để sống bình dị, vui thú điền viên với bà con chòm xóm chân chất, quên đi những bước thăng trầm vinh nhục của đời nghệ sĩ. Nhưng có lẽ cũng khó mà dứt được những gì đã tơ vương, anh ạ!”

Paris

Nhạc sĩ Trịnh Hưng
 
=============================================
 
Y Vũ - Nhật Ngân và “ Tôi Đưa Em Sang Sông “
 
Tôi đưa em sang sông, chiều xưa mưa rơi âm thầm
Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em
Nếu xưa trời không mưa, đường vắng đâu cần tôi đưa
Chẳng lẽ chung một lối về mà nỡ quay mặt bước đi.
Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần
Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim
Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen
Đừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn.
Rồi thời gian lặng lẽ trôi
Đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời
Mà đời em là ước mơ
Đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ 
Hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền
Giờ phút cuối đến tiễn em, nhìn xác pháo vướng gót chân
Gót chân ngày xa xưa sợ lấm trong buồn khi mưa
Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa.
  
Tôi đưa em sang sông là một bài hát  rất quen thuộc với người nghe nhạc trong thập niên 60. Tuổi học sinh sinh viên với những mối tình đầu đời dang dở ai cũng thích bài nầy vì giai điệu tha thiết , lời hát trữ tình giản dị gây nhiều  xúc cảm.. Hai  tác giả  ghi tên trên bài hát là hai nhạc sĩ Y Vũ và Nhật Ngân. nhưng khi chúng ta đọc những bài viết nói về nguồn cảm hứng để sáng tác bài hát này, đã được hai nhạc sĩ trình bày trong những dòng tâm sự, lại thấy có nhiều điều rất khác biệt.Vậy không biết sự ra đời của bài hát bắt nguồn từ đâu? Và ai mới là tác giả thực sự của bản nhạc “Tôi đưa em sang sông” nổi tiếng này ? Xin mời các bạn hãy đọc  những dòng tâm sự của hai nhạc sĩ Y Vũ và Nhật Ngân dưới đây. Câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ ….cả hai nhạc sĩ Y Vân và Nhật Ngân đều đã không còn nữa..
 
Lời tâm sự của Y Vũ
Nhạc sĩ Y Vũ
 
Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng lớn lên tại đất Sài Gòn náo nhiệt. Những ngày tháng thơ ngây tại trường trung học có lẽ không bao giờ phai mờ trong trí nhớ của tôi, bởi ở đó tôi đã để trái tim mình rung động trước cô bạn chung lớp tên Thanh. Tình yêu học trò trong sáng lắm, chỉ cảm nhận qua ánh mắt, nụ cười chứ đâu có dám ngồi gần, dám nắm tay. Những khi tan trường sóng bước bên nhau cũng không biết nói câu gì, chỉ biết... đá cái lon sữa bò khua vang đường phố.

                                               * Chuyện Loài Hoa Dang Dở 

Thanh là con một gia đình khá giả, có cây xăng ở ngã bảy Lý Thái Tổ. Còn tôi hồi đó chỉ có chiếc "xế nổ" hiệu Roumie ngày ngày đi học. Mỗi chiều khi thay ba ra trông cây xăng, Thanh lại nhắc tôi ra đổ xăng... chùa. Những ngày tháng đó với tôi thật hạnh phúc, lãng mạn. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, Thanh biến mất khỏi cuộc đời tôi vì một đám cưới ép gả với chàng bác sĩ. Hụt hẫng, chơi vơi, tôi uống chén đắng đầu đời và nếm trải mùi vị của "thất tình". Tỉnh cơn say vào 2 giờ sáng, tôi ôm guitare và thế là “Tôi đưa em sang sông” ra đời. Bài hát với giai điệu buồn da diết được coi là tài sản chung cho nhiều chàng trai lâm vào cảnh như tôi thời đó.

 

                                                                                  * Chuyện Tình Đầu                           
Mối tình đầu làm tôi trắng tay, nhưng nỗi bất hạnh ấy đem lại cho tôi xúc cảm để có được hai bài hát tâm đắc. Sau Tôi đưa em sang sông gắn liền với tiếng hát Lệ Thu, ca khúc Ngày cưới em lại thành công vang dội: "Hôm nay ngày cưới em, nào men nồng nào hoa thơm, nào môi hồng nào da phấn, khăn áo muôn sắc đua chen...".
Tôi là kẻ đa tình nhưng cũng rất chung tình. Trong đời tôi chưa lần nào phụ người. Khi yêu ai đó, tôi đều yêu hết lòng, sống hết mình. Nhưng rồi không hiểu sao tôi cứ bị ruồng bỏ. Tại tôi vụng về chăng? Tôi cũng tự vấn mình rất nhiều, nhưng rồi cũng không thể trả lời câu hỏi ấy được. Chỉ biết rằng, đời nghệ sĩ như tôi long đong, lận đận đến tận bây giờ, ngoài 60 tuổi mà vẫn chưa có một mái ấm gia đình. Sau mỗi đêm tại nhà hàng Arnold với công việc phụ trách âm nhạc, tôi lại cô đơn trở về căn phòng trọ. Nhưng dù thế nào thì cuộc sống vẫn tiếp nối; dù thế nào tôi cũng vẫn phải làm việc, sáng tạo và yêu thương.
Mỗi tác phẩm của tôi đều in dấu ấn của kỷ niệm, của nỗi niềm riêng. Ca khúc Kim được nhiều người yêu thích chính là ca khúc tôi viết tặng cô gái tên Kim có gương mặt buồn và gia cảnh thật đáng thương. Một năm sau ngày bài hát được tung ra, Kim đã mất vì bệnh tim.

                                                                                   * Mầu Hoa Trắng

Tôi là người sống thiên về tình cảm, có lẽ vì thế mà dễ gặp trắc trở trong cuộc sống đời thường. Tôi mơ có một mái nhà, nhưng có lẽ đó mãi mãi chỉ là giấc mơ vì đến giờ này tôi không hề có tài sản gì. Thôi thì đành quanh quẩn phố thị, đêm đêm miệt mài phím đàn mua vui kiếm chút tiền còm sống qua những năm tháng còn lại trên đời…

Lời tâm sự của Nhật Ngân                                              
Trần Nhật Ngân, sinh năm 1942 tại Thanh Hóa và là con út trong một gia đình sáu người con. Vì thân phụ là một công chức thường phải di chuyển nhiều, nên Nhật Ngân cũng đã từng sống ở nhiều nơi: Huế và Ðà Nẵng.
Vào khoảng cuối thập niên 50, bố ông đã qua đời, Nhật Ngân cùng mẹ vào Sài Gòn, theo chân các anh chị đã vào đây từ trước. Sau khi học hết trung học ở trường Võ Trường Toản và lấy được mảnh bằng tú tài, ông trở ra Ðà Nẵng dạy nhạc và Việt văn tại trường Phan Thanh Giản. Trước đó, tại Ðà Nẵng và Huế, Nhật Ngân đã đến với âm nhạc qua sự chỉ dẫn của các linh mục và sau đó ở Sài Gòn, qua sự hướng dẫn của những người thân trong họ là giáo sư âm nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng như Ðỗ Thế Phiệt và Nhật Bằng.
                                                                                                 Nhạc sĩ Nhật Ngân
 
Theo lời tâm sự của Nhật Ngân, đáng lẽ ông đã trở thành một nhạc công vĩ cầm như người em họ là Nhật Hiền, nhưng vì gia đình ông quá nghèo, không mua nổi cây đàn cho ông. Do đó, ông đành quyết định thôi học. Vì lòng đam mê âm nhạc và nhất là nhờ ở khả năng thiên phú của mình, Nhật Ngân đã hoàn thành nhạc phẩm đầu tay khi ông mới vừa 18 tuổi vào năm 1960. Ðó là một ca khúc tình cảm mang tên Tôi đưa em sang sông.
Về trường hợp ra đời ca khúc này, Nhật Ngân cho biết: khi trở về dạy học ở Ðà Nẵng, ông có yêu một người. Thời đó đối với các gia đình ở miền Trung là phải có chức phận thì họ mới gả con gái cho mình. Ông chỉ là người dạy học thôi, nhất là còn trẻ lắm, nên gia đình cô ấy không chịu gả. Và cô ấy đi lấy chồng. “Thật sự là ngẫu hứng thôi, tôi làm bài hát đó".
Mặc dù chưa có phương tiện phổ biến rộng rãi trong thời gian đầu, nhưng Tôi đưa em sang sông đã trở thành một ca khúc được giới học sinh, sinh viên Ðà Nẵng rất ưa thích, chép tay truyền cho nhau hát.
 
Sau đó Nhật Ngân gửi ca khúc này vào Sài Gòn nhờ nhạc sĩ Y Vân phổ biến dùm, với sự sửa đổi một vài chữ trong bản nhạc cho hợp với đường lối của Bộ Thông tin lúc đó không cho phép phổ biến những nhạc phẩm ủy mị, ướt át. Câu "Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là cánh mây trôi bốn phương trời. Và đời em là cánh hoa thì bao người ước mơ, đưa đón trông chờ" được nhạc sĩ Y Vân đổi thành "Rồi thời gian lặng lẽ trôi, đời tôi là chiến binh đi khắp phương trời. Mà đời em là ước mơ đẹp muôn ngàn ý thơ, như ngóng trông chờ" cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh của đất nước.
Câu kết của bản chính là "Nàng đã thay một lối về, thay cả bàn tay đón đưa" cũng đã được Y Vân đổi thành "Nàng đã thay một lối về, quên cả người trong gió mưa." Sự thay đổi lời ca này đã khiến cho cảm thấy "hẫng" đi một chút, như lời ông nói, vì không đúng với tâm trạng của mình khi đến lúc đó, chưa hề trải qua đời sống trong quân ngũ.
Hơn nữa, vì tác giả còn là một người chưa có tên tuổi nên cần nhờ tới một nhạc sĩ nổi tiếng đứng chung tên để Tôi đưa em sang sông đến với quần chúng dễ dàng hơn. Khi được phát hành, Tôi đưa em sang sông được ký tên bởi hai người là Trần Nhật Ngân và Y Vũ.
 
Theo Trường Kỳ
 
======================================

Nhật Ngân là tác giả duy nhất của “Tôi Đưa Em Sang Sông”

Cao-Đắc Tuấn (Danlambao) – Tóm Lược: Dựa vào ca khúc “Ngày Cưới Em” của nhạc sĩ Y Vũ và ca khúc “Vẫn Mơ Về Đà Nẵng” của nhạc sĩ Nhật Ngân cộng thêm với “chữ ký” đặc thù của nhạc sĩ Nhật Ngân và các chi tiết phù hợp khác, ta có thể kết luận với xác suất gần như chắc chắn rằng Nhật Ngân là tác giả duy nhất của ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông.” Lời phủ nhận của nhạc sĩ Y Vũ về cảnh tượng sông, bến, thuyền mô tả trong bài hát là cái tát vào mặt giới nhạc sĩ và văn chương nghệ thuật. Việc nhạc sĩ Y Vũ tự nhận là tác giả có thể do bởi sự thay đổi bản chất con người dưới chế độ cộng sản tại Việt Nam, đi ngược với sự công minh trung thực của người dân Việt thuộc miền Nam Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa.
****
Dạo gần đây có nhiều tin tức và bài vở về vụ ai là tác giả thực sự của ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông,” một ca khúc rất thịnh hành trong miền Nam Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Xem, thí dụ như, HTV 2017, Nguyễn 2009, Nguyễn Dư 2017, Nguyễn Hằng 2017, Trần 2017, Võ 2017, Vương 2013). Lý do cho việc tranh cãi là bìa nhạc ghi tên hai nhạc sĩ Y Vũ và Nhật Ngân, nhưng cả hai nhạc sĩ đều tuyên bố họ là tác giả duy nhất.
Nhạc sĩ Nhật Ngân có giải thích lý do tại sao tên của nhạc sĩ Y Vũ được ghi trên bìa nhạc. Đó là vì nhạc sĩ Y Vân, anh của nhạc sĩ Y Vũ, muốn giúp Nhật Ngân hoặc em mình có tên tuổi nên cho cả hai làm đồng tác giả. Nhạc sĩ Nhật Ngân cho biết ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” nói về chuyện tình của ông với một cô nữ sinh khi ông ở Đà Nẵng. Câu chuyện đó được đăng tải rộng rãi nhiều năm trước ngày nhạc sĩ Nhật Ngân mất vào năm 2012 tại Hoa Kỳ. Nhạc sĩ Y Vũ, sống tại Việt Nam, kể chuyện tình của ông với cô bạn gái tại trường trung học tại Sài Gòn đưa đến cảm hứng viết bài hát. Vào tháng 11 năm 2017, nhạc sĩ Y Vũ qua nhiều cuộc phỏng vấn trên truyền hình tại Việt Nam tuyên bố ông là tác giả duy nhất, và ông công bố bản thảo viết tay của ca khúc đó ghi ngày 5-6-1962 (Xem, thí dụ như, Anh 2017, Dạ 2017, HTV 2017, Tạ 2017).
 
Sau khi đọc xong bài của anh Trần Trung Đạo (Trần 2017), tôi mới biết đến vụ tranh cãi này lần đầu. Khi nhạc sĩ Y Vũ tuyên bố ông là tác giả duy nhất sau khi nhạc sĩ Nhật Ngân (và cả nhạc sĩ Y Vân) không còn sống để đối chất, nhạc sĩ Y Vũ gián tiếp nói rằng nhạc sĩ Nhật Ngân nói láo. Vì lòng kính trọng nhạc sĩ Nhật Ngân và vì muốn bảo vệ tính chất công minh chính trực của người Việt không cộng sản, tôi quyết định tìm tòi sự thật.
Đã có nhiều bài phân tích về những lý do, về các câu trong bài hát, về sự im lặng của nhạc sĩ Y Vũ trong nhiều năm khi ông có dịp đối chất với nhạc sĩ Nhật Ngân khi nhạc sĩ Nhật Ngân còn sống, so sánh lời ca giữa hai bài “Tôi Đưa Em Sang Sông” và “Ngày Cưới Em,” về tính chất hợp lý của bản thảo của nhạc sĩ Y Vũ, và vài chi tiết khác (Xem, thí dụ như, Nguyễn Dư 2017, Trần 2017). Tôi sẽ không nhắc lại những phân tích này và sẽ chỉ trình bày những bằng chứng khác dựa vào lời tuyên bố của nhạc sĩ Y Vũ, lời ca của các bài hát liên hệ, và những chi tiết phù hợp với câu chuyện.
 
A. Hai ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” và “Ngày Cưới Em” nói về hai mối tình khác nhau và không thể là một câu chuyện phù hợp:
Trong một tài liệu ghi cuộc phỏng vấn với nhạc sĩ Y Vũ tại buổi quay hình “Ca Sĩ Bí Ẩn” (ngày phỏng vấn không biết rõ, nhưng tài liệu đó được đăng vào ngày 31-7-2017), có đoạn sau:
 
Tại buổi quay hình “Ca sĩ bí ẩn” mới đây, nhạc sĩ Y Vũ tiết lộ người con gái trong ca khúc “Tôi đưa em sang sông” chính là người mà ông luôn nhức nhối và khó quên nhất. Dù Y Vũ đã trao trọn tình cảm, sự yêu thương cho người yêu nhưng cô gái vẫn quyết sang ngang với người đàn ông khác tốt hơn và có cuộc sống đầy đủ hơn. “Cô người yêu đi lấy một ông bác sĩ rất giàu”, ông nhớ lại. Vì quá đau lòng, ông đã viết ca khúc “Tôi đưa em sang sông”.
 
Nhạc sĩ Y Vũ chia sẻ thêm, sau đó 6 tháng, ông lại nhận được thiệp hồng mời đến dự đám cưới của người yêu cũ. Ông ngồi trong sảnh cưới chỉ có một mình với tâm trạng buồn, lẻ loi. Sau khi về, vì quá tủi thân, nhạc sĩ đã cho ra đời ca khúc “Ngày cưới em” để nói lên tâm trạng cô đơn lúc bấy giờ của mình.
Trong cuộc phỏng vấn trên truyền hình (HTV 2017), nhạc sĩ Y Vũ kể lại câu chuyện có cùng diễn tiến. Ông nói người yêu ông có đám hỏi khiến ông đau khổ và trở về nhà sáng tác ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” trong đêm đó. Vài tháng sau, ông được mời dự đám cưới của nàng, dẫn đến ca khúc “Ngày Cưới Em.”
Tuy nhiên, thứ tự tình tiết đó không phù hợp với lời ca trong bài “Tôi Đưa Em Sang Sông.” Lời bài hát có các đoạn sau:
Tôi đưa em sang sông, bàn tay nâng niu ân cần
Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim
. . .
Hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền?
Giờ phút cuối đến tiễn em, nhìn xác pháo vướng gót chân.
Do đó, tác giả rõ ràng kể lại câu chuyện tình trong đó chuyện tình tan vỡ và hai người chia tay (“tôi đưa em sang sông”) và sau đó cô gái làm đám cưới lấy chồng (“Hôm nao em sang ngang, bằng xe hoa thay con thuyền?… nhìn xác pháo vướng gót chân”). Ai cũng biết xe hoa và xác pháo là hình ảnh của đám cưới, không phải là đám hỏi.
Làm sao có chuyện vì quá đau lòng, nhạc sĩ Y Vũ đã viết ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” và sau đó 6 tháng nhận được thiệp hồng mời đến dự đám cưới của người yêu cũ? Câu chuyện nhạc sĩ Y Vũ kể phù hợp với ca khúc “Ngày Cưới Em” nhưng không phù hợp với ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông.” Bài “Ngày Cưới Em” có đoạn sau:
Ngày xưa đưa em sang sông
Ngày nay đưa em bước sang ngang
 
Ta thấy ngay đoạn đó cho thấy ca khúc “Ngày Cưới Em” không thể nào là “hiệp sau” của ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông.” Hai bài “Tôi Đưa Em Sang Sông” và “Ngày Cưới Em” kể hai chuyện tình khác nhau. Trong bài “Tôi Đưa Em Sang Sông,” cô gái “sang sông” và “sang ngang” trong cùng bài hát. Trong bài “Ngày Cưới Em,” cô gái “sang sông” trước bài hát và “sang ngang” trong bài hát.
Sẽ có người cãi rằng, việc “sang ngang” trong bài “Tôi Đưa Em Sang Sông” là việc tác giả tưởng tượng trong tương lai. Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng thêm, trình bày sau đây, xác định rõ ràng việc “sang ngang” đó là việc thực sự xảy ra lúc ấy.
 
B. Ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” có “chữ ký” đặc thù của nhạc sĩ Nhật Ngân:
Tác giả ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” mô tả cảnh tượng rất rõ và cụ thể là việc đang xảy ra vào thời hiện tại: vào giờ phút cuối tiễn nàng và chàng nhìn xác pháo vướng gót chân. Ngoài ra, đó là đặc điểm lời ca của nhạc sĩ Nhật Ngân.
Ta nên nhận ra một nét độc đáo của tác giả với cách dùng “cho thấy, đừng kể” và “chú trọng vào chi tiết rõ rệt” và các từ ngữ dùng rất đơn giản, không sáo rỗng, qua các nhóm chữ “thấm ướt chiếc áo xanh,” “đẫm ướt mái tóc em,” “bàn tay nâng niu,” “bến đất lấm gót chân,” “bến gió buốt trái tim,” “bước chung một lối mòn,” “xác pháo vướng gót chân,” và “lấm trong bùn khi mưa.” Đặc biệt, “lấm,” “gót chân” là các chi tiết đặc thù và tạo ấn tượng mạnh, nhất là tác giả dùng đi dùng lại nhiều lần. Các kỹ thuật đó là đặc điểm của nhạc sĩ Nhật Ngân như trong bài “Một Mai Giã Từ Vũ Khí” (Cao-Đắc 2014).
Ngược lại, nhạc sĩ Y Vũ dùng chữ thiên về “kể” nhiều hơn “cho thấy” và tổng quát thay vì chi tiết đặc thù, và thường dùng từ ngữ sáo rỗng, cầu kỳ chải chuốt qua những nhóm chữ trong ca khúc “Ngày Cưới Em” như “men nồng nào hoa thơm,” “môi hồng nào giá phấn,” “áo muôn sắc đua chen,” “ngời ánh đêm,” “nụ cười ngát hương,” “ly rượu mừng tơ duyên,” và “dĩ vãng là bóng mây.”
Một nhạc sĩ, thi sĩ, và văn sĩ thường có có lối diễn tả ý tưởng, cách dùng chữ đặc biệt, tình tiết câu chuyện, bố cục, và cách dàn xếp ý tưởng phản ảnh các tính chất đặc thù của tác giả, và có thể coi là “chữ ký” của tác giả trên tác phẩm của họ. Đặc biệt, khi một nhạc sĩ, thi sĩ, và văn sĩ viết một tác phẩm là phần tiếp theo của tác phẩm trước, họ luôn luôn giữ các chi tiết trong câu chuyện phù hợp. Lý do đơn giản là không ai muốn làm lẫn lộn độc giả, và hủy hoại câu chuyện và các nhân vật trong câu chuyện của mình.
Vẫn sẽ có người cãi rằng một tác phẩm nghệ thuật có khía cạnh tưởng tượng, và không nhất thiết đi theo đúng một câu chuyện thật. Tuy nhiên, không ai bắt nhạc sĩ Y Vũ tuyên bố ca khúc “Ngày Cuới Em” là phần tiếp theo của ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông.” Ông nói rõ rằng ông quá đau lòng khi người yêu “sang sông” mà viết “Tôi Đưa Em Sang Sông” rồi sau đó khi nàng “sang ngang” mới viết “Ngày Cưới Em.” Chính ông tự khai ra.
 
C. Ca khúc “Vẫn Mơ Về Đà Nẵng” cho biết thêm chi tiết và phù hợp với câu chuyện tình của nhạc sĩ Nhật Ngân:
Quan trọng hơn, có thêm một bằng chứng hùng hồn cho thấy nhạc sĩ Nhật Ngân là tác giả duy nhất của ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông.” Đó là nhạc phẩm tiếp theo ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông.” Đó là bài “Vẫn Mơ Về Đà Nẵng” do nhạc sĩ Nhật Ngân viết (Nhật Ngân).
 
Bài “Vẫn Mơ Về Đà Nẵng” có đoạn sau:
Ôi Đà Nẵng, Đà Nẵng của tôi ơi
Nơi cho tôi những mơ mộng đầu đời
Nơi cho tôi hạnh phúc tình lên hương
Phan Chu Trinh đón đưa chiều tan trường
Ai nỡ đành vội vàng sang sông.
 
Ta nhận ra đoạn này cho thấy rõ ràng ca khúc “Vẫn Mơ Về Đà Nẵng” là phần tiếp theo của ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông,” nhưng tiếp theo sau một quãng thời gian khá xa. Câu chuyện thật phù hợp và ăn khớp từng ly từng tý. Câu “Nơi cho tôi những mơ mộng đầu đời” cho thấy đó là mối tình đầu của ông. Câu “Ai nỡ đành vội vàng sang sông?” xác định rằng người yêu đầu tiên của ông vội vàng sang sông. Đặc biệt, nhạc sĩ Nhật Ngân tiết lộ một chi tiết lý thú: cô gái đó là nữ sinh trường Phan Chu Trinh (“Phan Chu Trinh đón đưa chiều tan trường”). Chi tiết này không bất ngờ lắm, vì nhạc sĩ Nhật Ngân là cựu học sinh trường Phan Chu Trinh. Do đó, việc ông có người yêu học cùng trường là có vẻ hữu lý.
Tại sao chi tiết cô gái là nữ sinh trường Phan Chu Trinh lý thú? Vì nó xác định thêm nữa sự phù hợp giữa lời ca trong bài “Tôi Đưa Em Sang Sông” và cuộc đời của nhạc sĩ Nhật Ngân.
Thứ nhất, ta hãy tìm hiểu thêm về vị trí địa lý của trường Phan Chu Trinh vì vị trí này liên hệ tới các chi tiết trong bài hát. Bài hát có câu “Sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim.” Khung cảnh đó có phải là khung cảnh gần trung học tư thục Hàn Thuyên ở phố Cao Thắng hoặc ngã bảy Lý Thái Tổ, nơi mà nhạc sĩ Y Vũ kể về mối tình của ông, không? Tôi sống trong Sài Gòn trong thời niên thiếu trong thập niên 1960 và không nhớ có con sông nào thơ mộng hoặc có “bến đất” hay “bến gió.” Ngoài ra, ở Sài Gòn có thể có “gió buốt trái tim” không? Gió buốt tim là phải lạnh lắm, nhưng theo trí nhớ tôi, khó mà có cảnh gió buốt tim. Nhiệt độ trung bình ở Sài Gòn là 25oC – 27oC. Ngược lại, tại Đà Nẵng, vào cuối tháng 11 cho tới tháng 2, nhiệt độ trung bình là 18oC. Gió bên sông ở nhiệt độ đó dư sức làm buốt tim.
Trước khi tới Sài Gòn, tôi cũng sống ở Đà Nẵng, nhưng lúc ấy còn quá bé nên không nhớ có sông, bến nào. Tuy nhiên, khi ta xác nhận cô gái trong bài “Tôi Đưa Em Sang Sông” học ở trường Phan Chu Trinh thì việc trở nên dễ dàng. Việc này có lẽ phải nhờ độc giả nào sinh sống tại Đà Nẵng trong khoảng thập niên 1960 cho biết ý kiến rõ rệt hơn. Nhưng ta có thể coi bản đồ và hình ảnh trên Internet.
 
Theo Website của trường Phan Chu Trinh thì “[n]ăm học 1954 – 1955, trường được xây dựng tại 167 Lê Lợi (cơ sở cũ của trường hiện nay) và chính thức được mang tên trường trung học Phan Châu Trinh. Từ năm học 2004 – 2005, trường xây dựng thêm cơ sở mới tại 154 Lê Lợi.” (Trường THPT Phan Chu Trinh). Dựa vào bản đồ trên Google, trường Phan Chu Trinh ở gần sông Hàn, cách độ 700 mét, đủ ngắn để cặp tình nhân bách bộ “chung một lối về” hoặc “bước chung một lối mòn.” Tôi không rõ khoảng thập niên 1960, đường xá từ trường Phan Chu Trinh tới sông Hàn hoặc một bến nào gần đó như thế nào. Nhưng việc “bến đất lấm gót chân” và “[g]ót chân ngày xa xưa sợ lấm trong bùn” rất có thể xảy ra vào thập niên 1960 khi đường xá chắc chỉ là đường đất đầy bùn.
Thứ nhì, bài hát có câu “Để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em.” Câu đó cho thấy cô gái đi học mặc áo xanh, tạo ấn tượng mạnh vào tâm não người nhạc sĩ. Lúc ấy đồng phục nữ sinh trường Phan Chu Trinh màu gì? Té ra đồng phục các cô là áo dài trắng và quần trắng trong các ngày (trừ thứ hai) một tuần, và “[á]o dài màu thiên thanh dành cho ngày thứ hai mỗi tuần để chào cờ, để chăm chú hát Quốc ca và khúc khích trong Hiệu Đoàn ca” (Phước Khánh 2012).
Như vậy, cô gái quả thực mặc áo xanh, dù chỉ có một ngày một tuần. Tại sao tác giả chọn màu xanh thay vì màu trắng? Có thể vì lý do vần. Giai điệu trong đoạn ấy cần âm không dấu (vần bằng) nghe xuôi tai hơn dấu sắc (vần trắc). Tuy vần điệu là lý do chính đáng, theo tôi, lý do ý nghĩa màu xanh quan trọng hơn. Với kiểu diễn tả “cho thấy, đừng kể” và “chú trọng vào chi tiết rõ rệt,” nhạc sĩ Nhật Ngân muốn ghi nhận một khía cạnh đặc biệt nào đó. Áo dài trắng khá thông thường và có thể không vẽ ra một hình ảnh nên thơ bằng màu xanh.
 
D. Nhạc sĩ Y Vũ phủ nhận sông và đò trong lời ca, cho thấy ông coi thường giới nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ, và khán giả:
Như trình bày ở trên, các chi tiết trong lời ca về bến sông, gió buốt hoàn toàn tương phản với cảnh trường Hàn Thuyên ở Sài Gòn trong chuyện tình nhạc sĩ Y Vũ, nhưng phù hợp khít khao với cảnh trường Phan Chu Trinh ở Đà Nẵng trong chuyện tình nhạc sĩ Nhật Ngân.
Tuy nhiên, nhạc sĩ Y Vũ phủ nhận ngay chính lời ca trong bài về sông và đò. Trong chương trình “Hát Câu Chuyện Tình” vào khoảng giữa tháng 11 năm 2017 (HTV 2017), về bức tranh trong tờ nhạc vẽ hình người lái đò chở cặp tình nhân trên chiếc đò qua sông (Hình 1), nhạc sĩ Y Vũ nói, “Bức ảnh do họa sĩ Duy Liêm ngày xưa vẽ. Vẽ là theo cái tựa của đề ‘Tôi Đưa Em Sang Sông. ‘ chỉ nghĩ rằng đưa sang sông là đưa một con đò, nhưng mà sự thật sau khi tôi đau khổ mối tình, đêm về tôi nghĩ hai câu thơ của Thâm Tâm là ‘Đưa người, ta không đưa qua sông. Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng.’ Tôi viết bài này là theo sự trừu tượng chứ không phải hình ảnh thế này. Không có bến nước và con đò nào hết.”
Ông nói thêm về sông ở Sài Gòn, “Không có sông. Nhà ở giữa trung tâm Sài Gòn. Làm sao có sông? Có mỗi sông Bạch Đằng nó đi xa lắm.”
Hình 1: Bức tranh minh họa trang bìa của tờ nhạc bài “Tôi Đưa Em Sang Sông.”
 
Câu phủ nhận đó của nhạc sĩ Y Vũ quả thực là lời bào chữa dễ dàng và giúp ông thoát khỏi những căn vặn, thắc mắc về quang cảnh sông đò, bến, đường bùn, và gió buốt tim. Nhưng việc đó dẫn đến một lỗ hổng còn to khủng khiếp hơn, vì nó lả cái tát vào mặt giới nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ, và các nhà nghệ thuật.
Khi nhạc sĩ Y Vũ phủ nhận sự hiện hữu các hiện thực trong lời ca, ông biến những tác phẩm nghệ thuật nghiêm trang thành những bức hí họa, những trang điểm trơ trẽn vô hồn, những lời giả tạo vô tình, và những lớp son phấn vô nghĩa. Nhạc sĩ Y Vũ coi thường cái giá trị cao cả và thiêng liêng nhất của nghệ thuật, nhất là nghệ thuật của ngôn ngữ, phương tiện trao đổi ý tưởng và biểu lộ tâm hồn sâu đậm nhất của con người.
Cái giá trị đó là sự thật.
 
Sự thật là mục tiêu tối thượng của nghệ thuật. Bên cạnh sự thật là sắc đẹp. Nghệ thuật là mô tả sự thật bằng sắc đẹp. Sự thật, do đó, là cứu cánh, và sắc đẹp là phương tiện. “Trí tưởng tượng con người có cách độc đáo để diễn tả sự thật và thực tế. Nó dùng ngôn ngữ của những hình ảnh và cảm giác cụ thể để ghi nhận một ý thức cho cuộc đời và kinh nghiệm con người” (UMHB). Người nhạc sĩ, thi sĩ, hoặc văn sĩ dùng ngôn từ để biểu lộ ý tưởng và cảm xúc qua những diễn tả của sự thật. Cách diễn tả có thể do trí tưởng tượng, nhưng đối tượng luôn luôn là sự thật. Chính cái tương tác giữa các hiện vật, cảnh thiên nhiên với con người nói lên nỗi bi thương, cơn đau khổ, niềm hạnh phúc, lòng can đảm, của con người với Tạo Hóa. Mối liên quan giữa sự thật và cách diễn tả sự thật được gói ghém sâu sắc nhất qua câu nói bất hủ của Jean Couteau, văn sĩ Pháp: “Thi sĩ là kẻ nói láo luôn luôn nói thật.”
Bạn không thể diễn tả một mối tình ngây thơ trong trắng bằng những hiện vật tưởng tượng, vì những hiện vật, cảnh tượng ghi nhận những gì thực sự xảy ra, và đó là cái thiêng liêng cao quý mà bạn muốn ấp ủ và nhớ lại những gì tốt đẹp trong quá khứ. Bạn không thể kể tình yêu của mẹ bạn bằng những tưởng tượng về cảnh một con trâu xả thân, hy sinh tánh mạng mình trước mong vuốt sư tử để cứu con.
 
Những câu “để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em,” “sợ bến đất lấm gót chân, sợ bến gió buốt trái tim,” “bằng xe hoa thay con thuyền,” “gót chân ngày xa xưa sợ lấm trong bùn khi mưa” là những diễn tả mộc mạc nhưng chân thành của tình yêu chàng trai dành cho cô nữ sinh trẻ. Tác giả chắt chiu ghi nhận nỗi lo sợ vu vơ về bùn đất lấm gót chân người yêu và làn gió lạnh bên con sông làm buốt giá tâm hồn. Tác giả làm sống lại nỗi ngại ngùng, e dè, thương yêu, và trìu mến qua những hình ảnh đơn sơ nhưng đem lại cảm xúc mạnh mẽ.
Làm sao những hình ảnh đó chỉ là cách diễn tả “theo sự trừu tượng”?
 
E. Chế độ cộng sản tại Việt Nam có thể đã thay đổi bản chất con người đi theo gian dối bất chấp đạo đức và lương tri:
Câu chuyện của Y Vũ nhận mình là tác giả duy nhất của ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” làm tôi liên tưởng tới câu chuyện Án Anh (người nước Tề) ứng đối với vua Sở. Câu chuyện như sau (Kipkis).
Án Anh (tức Án Tử) là con một vị tướng nước Tề thời Chiến Quốc. Ông nổi tiếng là có tài ứng đối giỏi. Trong dịp Án Anh sang thăm nước Sở, vua Sở muốn làm nhục Án Anh. Khi Án Anh đến nơi, vua Sở đãi tiệc trọng thể. Trong lúc uống rượu thì quân lính Sở áp giải một người bị trói vào.
Vua Sở hỏi, “Tên kia có tội gì mà phải trói?”
Một tên lính thưa, “Tên này là người nước Tề phạm tội ăn trộm.”
Vua Sở mỉm cười chế nhạo, nói với Án Anh, “Người quý quốc hay trộm cắp nhỉ?”
Án Anh bình tĩnh trả lời, “Người ở nước Tề chúng tôi không quen trộm cắp, nhưng sang nước Sở lại sinh ra ăn trộm có lẽ cũng là vì thủy thổ giữa bản quốc và quý quốc khác nhau chăng?”
 
Án Anh muốn chế giễu ngược lại rằng tập quán hoặc lối sống ở nước Sở đã biến đổi một người lương thiện thành kẻ trộm cắp.
Câu chuyện Án Anh có thể được áp dụng cho trường hợp nhạc sĩ Y Vũ. Chế độ cộng sản có thể biến đổi bản chất con người. Trước năm 1975, nhạc sĩ Y Vũ không hề phát biểu ý kiến gì cả, khi còn sống trong miền Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa, và dường như hài lòng với việc đồng tác giả cho ca khúc. Chỉ sau khi cộng sản chiếm đóng miền Nam, ông mới dần dần thay đổi. Trước đây, ông kể chuyện tình của ông, nhưng không nhận mình là tác giả duy nhất ngay. Sau đó, ông thay đổi thái độ và tuyên bố ông là tác giả duy nhất vào tháng 11, 2017 và ông còn tiện nghi có được bằng chứng cụ thể qua tờ bản thảo viết tay có ghi tên và ngày tháng.
Ông nói, “Nghe nói tiền bản quyền ca khúc bên Mỹ cao lắm, mà hàng chục năm qua tôi không được một đồng.” (Anh 2017). Ông cho biết lý do tại sao ông tuyên bố ông là tác giả duy nhất. “Tiền tôi cũng rất cần nhưng điều tôi cần hơn là danh dự. Thời gian qua tôi đã phải mang nỗi buồn này quá lớn rồi. Tôi biết Nhật Ngân mất rồi mình không nên làm lớn, nhưng đây là danh dự của bản thân tôi. Ở tuổi này rồi tôi còn bon chen gì nữa đâu.” (Dạ 2017).
Điểm lạ lùng là ông vẫn không giải thích lý do tại sao ông không tuyên bố sớm hơn, khi nhạc sĩ Nhật Ngân còn sống? Nếu danh dự là việc quan trọng với ông, thì tại sao ông không nghĩ danh dự cũng là việc quan trọng với nhạc sĩ Nhật Ngân? Lời tuyên bố của ông là lời buộc tội nhạc sĩ Nhật Ngân nặng nề nhất.
Tuy nhạc sĩ Y Vũ nói ông chỉ muốn lấy lại danh dự, nhưng ông không phủ nhận việc ông sẽ đòi chia tiền bản quyền. Do đó, việc lấy tiền bản quyền là một lựa chọn. Ai hiện đang sở hữu bản quyền tác phẩm có thể muốn thương lượng với ông, hoặc ông có thể kiện cáo. Tuy nhiên, nếu nhạc sĩ Y Vũ xúc tiến việc thương lượng cho tiền bản quyền với người sở hữu bản quyền, xác suất thành công sẽ rất nhỏ như được trình bày sau đây.
 
F. Học Thuyết Ngăn Chận sẽ cản trở nhạc sĩ Y Vũ trong việc đòi tiền bản quyền:
Về khía cạnh luật pháp, tôi không rõ có những dàn xếp về bản quyền của nhạc sĩ Y Vũ thế nào tại Việt Nam trước ngày 30-4-1975. Do đó, tôi không rõ mọi việc sẽ thế nào nếu có kiện cáo. Tuy nhiên, dựa vào những gì được biết, tôi nghĩ nhạc sĩ Y Vũ có xác suất thành công rất ít trong việc đòi tiền bản quyền cho ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” tại Hoa Kỳ.
Tôi đã trình bày vấn đề này trong một bài khác (Cao-Đắc 2015). Đại khái, trong luật pháp, một học thuyết căn bản về việc bị mất quyền lợi là “Học Thuyết Ngăn Chận” (Doctrine of Estoppel). Một cách vắn tắt, Học Thuyết Ngăn Chận không cho phép một người chối bỏ cái gì đã được thiết lập là sự thật qua hành động ngay chính của người đó, rõ rệt hoặc hiểu ngầm (Cao-Đắc 2015, Wikipedia 2017). Học Thuyết Ngăn Chận dựa vào im lặng có thể được giải thích như sau. Khi B làm những hành động dựa vào sự tin tưởng lầm lẫn rằng quyền nào đó của A là thuộc về B; và A, biết đến hành động này của B, giữ im lặng và không đòi lại quyền của mình, thì A bị mất quyền đó nếu B chịu thiệt thòi khi phải trả lại A quyền đó (Xem, Cao-Đắc 2015).
Áp dụng học thuyết này vào trường hợp nhạc sĩ Y Vũ, vì ông giữ im lặng trong suốt thời gian bản nhạc ra đời và sau khi nhạc sĩ Nhật Ngân định cư ở Hoa Kỳ, mặc cho việc nhạc sĩ Nhật Ngân đã kể câu chuyện của mình trên các phương tiện truyền thông rộng rãi, nhạc sĩ Y Vũ coi như bị mất bản quyền, thí dụ ông có. Nhạc sĩ Y Vũ chỉ có thể mong có được một luật sư giỏi để thương lượng người hiện sở hữu bản quyền, nhưng có thể lệ phí luật sư rất cao và nhiều khi có thể mất tiền thêm.
Đó là không kể nhạc sĩ Y Vũ có thể sẽ phải đương đầu với vụ kiện về việc ông phỉ báng hoặc bôi nhọ thanh danh của nhạc sĩ Nhật Ngân. Khi ấy, những bằng chứng, vật chứng, lời khai, sẽ được đưa ra và xem xét kỹ lưỡng, kể cả việc giám định giấy tờ bằng các phương pháp khoa học.
 
G. Kết Luận:
Việc tranh cãi về tác giả của ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông” đã kéo dài nhiều năm. Tôi nghĩ việc đó nên chấm dứt.
Nhạc sĩ Nhật Ngân đã tuyên bố ông là tác giả duy nhất và câu đó được truyền bá rộng rãi. Nhạc sĩ Y Vũ biết đến việc đó, nhưng giữ im lặng. Chỉ đến khi nhạc sĩ Nhật Ngân qua đời, nhạc sĩ Y Vũ mới tuyên bố rầm rộ chính ông là tác giả duy nhất. Tuy nhiên, những chứng cớ hùng hồn gồm có hai bản nhạc tiếp theo “Ngày Cưới Em” của nhạc sĩ Y Vũ và “Vẫn Mơ Về Đà Nẵng” của nhạc sĩ Nhật Ngân, và những chi tiết và nét đặc thù trong lời ca cho thấy nhạc sĩ Nhật Ngân quả thật là tác giả duy nhất của ca khúc “Tôi Đưa Em Sang Sông.”
 
CẢM TẠ
Tôi xin cảm tạ chị Mỹ Thanh có lời khích lệ và cho tôi biết đến video clip trên YouTube về cuộc phỏng vấn nhạc sĩ Y Vũ trên truyền hình trong chương trình “Hát Câu Chuyện Tình.”
 
Tài Liệu Tham Khảo:
Anh Thư. 2017. Nhạc sĩ Y Vũ: Tôi mất trắng tiền bản quyền ‘Tôi đưa em sang sông’ ở hải ngoại. 17-11-2017. https://thanhnien.vn/van-hoa/nhac-si-y-vu-toi-mat-trang-tien-ban-quyen-toi-dua-em-sang-song-o-hai-ngoai-901044.html (truy cập 3-12-2017).
Cao-Đắc Tuấn. 2014. “Một Mai Giã Từ Vũ Khí”. 22-8-2014. http://danlambaovn.blogspot.com/2014/08/mot-mai-gia-tu-vu-khi.html (truy cập 3-12-2017).
_________. 2015. “Tiếng Gọi Công Dân”. 15-5-2015. http://danlambaovn.blogspot.com/2015/05/tieng-goi-cong-dan.html (truy cập 3-12-2017).
Dạ Ly. 2017. Nhạc sĩ Y Vũ: ‘Muốn lấy lại danh dự từ Tôi đưa em sang sông’ 19-11-2017. https://thanhnien.vn/van-hoa/nhac-si-y-vu-muon-lay-lai-danh-du-tu-toi-dua-em-sang-song-901511.html (truy cập 3-12-2017).
HTV Entertainment. 2017. Nhạc sĩ Y Vũ 34 lần “đưa em sang sông”. 18-11-2017. https://www.youtube.com/watch?v=ZnFgRHP6RpY (truy cập 3-12-2017).
Kipkis. Không rõ ngày. Vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Thay đổi chót: 1-8-2016. https://vi.kipkis.com/V%E1%BB%8F_qu%C3%BDt_d%C3%A0y_c%C3%B3_m%C3%B3ng_tay_nh%E1%BB%8Dn
Nguyễn Duyên (sưu tầm). 2009. Ai mới thật sự là tác giả bài hát Tôi Đưa Em Sang Sông? 6-7-2009. http://nguyenquocdong.vnweblogs.com/a168590/ai-moi-that-su-la-tac-gia-bai-hat-toi-dua-em-sang-song.html (truy cập 3-12-2017).
Nguyễn Dư. 2017. Lên tiếng cho một nhạc sĩ tài hoa đã khuất. 24-11-2017. http://danlambaovn.blogspot.com/2017/11/len-tieng-cho-mot-nhac-si-tai-hoa-khuat.html (truy cập 3-12-2017).
Nguyễn Hằng. 2017. Tác giả “Tôi đưa em sang sông” đã đưa 34 người tình…. đi lấy chồng. 31-7-2017. http://mautam.net/forum/viewtopic.php?p=852576&sid=89022f985f2a82847d57a0f36acd60b4 (truy cập 3-12-2017) hoặc 22-8-2017. https://cafevannghe.wordpress.com/2017/08/22/nguoi-nhac-si-voi-34-nguoi-tinh/ (truy cập 3-12-2017).
Nhật Ngân. Không rõ ngày. Vẫn Mơ Về Đà Nẵng. Không rõ ngày. http://lyric.tkaraoke.com/18446/van_mo_ve_da_nang.html (truy cập 3-12-2017).
Phước Khánh. 2012. Một Thời Làm Nữ Sinh Phan Châu Trinh. 5-7-2012. http://truongxua.phanchautrinhdanang.net/index.php/khu-vu-n-phan-chau-trinh/d-i-h-i-pct-th-gi-i-ii/33-m-t-th-i-lam-n-sinh-phan-chau-trinh (truy cập 3-12-2017).
Tạ Ban. 2017. Nhạc sĩ Y Vũ tung bằng chứng khẳng định tác quyền ‘Tôi đưa em sang sông’. https://thanhnien.vn/van-hoa/nhac-si-y-vu-tung-bang-chung-khang-dinh-tac-quyen-toi-dua-em-sang-song-900779.html (truy cập 3-12-2017).
Trần Trung Đạo. 2017. Hãy để “Em sang sông”. 2-12-2017. http://danlambaovn.blogspot.com/2017/12/hay-e-em-sang-song.html (truy cập 3-12-2017).
UMHB (University of Mary Hardin-Baylor). Không rõ ngày. Statement of Artistic Expression. Không rõ ngày. https://undergrad.umhb.edu/cvpa/statement-artistic-expression (truy cập 4-12-2017).
Võ Anh Dũng. 2017. Ai là tác giả của “Tôi Đưa Em Sang Sông”? 11-2017. http://ptgdn.com/poems/voanhdung/toiduaemsangsong.htm (truy cập 3-12-2017).
Vương Uyên. 2013. Tôi Đưa Em Sang Sông, một bản nhạc hai cuộc tình – Ai thật sự là tác giả? 18-1-2013. http://nguoivietatlanta.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1081%3Atoi-a-em-sang-song-mt-bn-nhc-hai-cuc-tinh-ai-tht-s-la-tac-gi (truy cập 3-12-2017).
Wikipedia. 2017. Estoppel. 8-11-2017. https://en.wikipedia.org/wiki/Estoppel (truy cập 3-12-2017).
4/12/2017
 
 
Tôi đưa em sang sông (Y Vũ & Nhật Ngân)- Ngọc Lan
 

Tôi đưa em sang sông- Nhật Ngân & Y Vũ-Vũ Khanh

 
Tê Hát sưu tầm và tổng hợp

Ảnh minh họa

 
Xem thêm...

Tiếng Guốc -- Phạm Thảo Nguyên

 

Tiếng Guốc

Phạm Thảo Nguyên

Hồi ký một thời đi guốc

Ôi vừa đọc bài viết “ Guốc mộc ” của Nguyễn Quang Thiều, tôi rất thích vì tôi cũng có những kỷ niệm rất riêng về guốc. Tuy bây giờ, guốc đã rất xa, nhìn quanh nhà, không còn thấy một đôi guốc nào cả. Nhưng những đôi guốc kỷ niệm lại về rất gần, đầy thân ái. Những đôi guốc xưa của tôi không còn là “ guốc mộc ” trong nhân chủng học của Nguyễn Quang Thiều, mà là những đôi guốc sơn, đẹp mỹ miều, đã cùng tôi đi suốt thời non trẻ.

Guốc mộc – Vẻ đẹp mộc mạc, duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam ...

Tôi sinh ra ở Hà Nội, hồi nhỏ đi học trường nữ tiểu học Thanh Quan, thường được gọi là trường “ Hàng Cót ”, vì nằm trên phố cổ Hàng Cót. Tôi còn nhớ, chúng tôi từ các cô bé liu xiu lớp năm đến các chị lớn lớp nhất (lớp 1 tới lớp 5 ngày nay), ai ai cũng mặc áo dài đi học, với đủ kiểu đủ màu, bồng vai, xẹp vai, ngắn, dài, mà thường là lôi thôi lốc thốc, tay, áo, mặt mũi lem nhem mực tím và cùng đội nón lá. Tại bất cứ lớp học nào trong trường, ở phía góc trên, mỗi ngày cũng có ít ra là hai kim tự tháp nón, thành lập bởi vài chục chiếc nón chồng khít lên nhau. Cả trường tôi không ai đội mũ bao giờ, và chúng tôi gần như đều đi guốc, chỉ một số rất ít đi dép cao su, hoặc dép da.

UserPostedImage

Chiều chiều khi tan học về, tiếng guốc của chúng tôi vang lừng inh ỏi khắp Hà Nội, nhất là trên con đường Hàng Điếu, từ trường Hàng Cót tới chợ Hàng Da. Tôi đi trong dòng guốc ấy, mà còn thấy đinh tai bởi hàng trăm tiếng guốc gõ thả dàn trên vỉa hè. Chúng giòn tan, rời rạc từng tiếng nhưng kết lại thành một âm thanh râm ran dài không dứt, như một con sông đang trôi, họp thành bởi từng hạt nước riêng lẻ chảy từng dòng không ngừng nghỉ. Bây giờ, lâu lâu nhớ về, thì biết rằng chả bao giờ ở bất cứ nơi nào trên trái đất còn nghe thấy tiếng vang ầm của cả trăm đôi guốc gõ loạn xạ lên hè đường cùng một lúc như thế nữa… Ôi chao, cái thời còn bé síu, sao mà dễ thương !

Xã hội dần dần thay đổi, dân khắp nước ta từ Hà Nội tới Sài Gòn, dân chúng ăn diện hơn lên. Những đôi guốc mộc dần đã trở thành những đôi guốc quang dầu màu vàng, màu đỏ, rồi thành guốc sơn đủ mầu. Từ thời còn mồ ma báo Phong Hóa đã thấy quảng cáo guốc Phi Yến, chẳng nhớ guốc đó thế nào, nhưng chắc là đã đẹp lắm. Khi tôi lớn lên đã thấy xuất hiện những đôi guốc “ điệu nghệ ” được khoét hơi lõm xuống cho dịu bàn chân dẫm lên, được đẽo bớt phần gót cho cong cong chiếc guốc, cho nho nhỏ cái gót, cho yểu điệu dáng người đi. Có guốc được vẽ hoa lá cành đầy màu sắc, rồi có guốc đánh véc ni, có guốc lắp gót sắt nhọn !!! Ôi, kinh hoàng những đôi guốc có gót sắt nhọn hoắt được vặn đinh vít vào thân guốc, với những chuyện thời sự đăng trên nhật trình thời đó : Các bà đánh ghen rút guốc đánh nhau đã nổi tiếng một thời. Còn quai guốc, có cả mấy chục kiểu, không biết ai đã “ phát minh ”, đã làm ra những chiếc guốc điệu, những cái quai đẹp này thế nhỉ ? Mà chỉ có dân Việt mình đi ! Cô bé con thấy thật đáng thán phục, phải có cả kỹ nghệ guốc, với những xưởng mộc chứ chẳng chơi !

Bây giờ còn ai đi guốc mộc? - Báo VietnamNet

Mỗi khi đi tới hàng guốc là cô nào cũng ngơ ngẩn, không phải riêng gì tôi. Thường được mẹ cho tự do chọn lựa, guốc là món đồ dùng cá nhân, các cô bé con mua lấy một mình sớm nhất trong đời. Đó là một bài kinh tế học áp dụng đầu tiên để tập bước vào thế giới người lớn. Với một số tiền có hạn mẹ cho, muốn có đôi guốc đẹp, phải biết giá trị của từng đôi guốc, phải biết để dành tiền bù thêm, phải biết thích cái đẹp, thích được đi guốc đẹp !

Những hàng bán guốc thường để guốc và quai riêng. Khi khách đã chọn xong vừa quai lẫn guốc, giá cả “ đồng thuận ”, còn phải xếp hàng chờ bà hàng đo chân, đóng quai cho. Đó là một nghệ thuật khác. Nhìn chiếc búa chim be bé đập đập lên chiếc đinh tí tẹo hoặc đinh kiểu đầu bọc đồng phồng cao, để đóng quai vào chiếc guốc, thật thích thú. Chúng tôi cứ “ dương mắt bé ” lên theo dõi, ngưỡng mộ. Bà hàng làm rất gọn, bà lấy sẵn mấy cái đinh một lúc, giữ trong miệng, giữa hai hàng răng (!) sau đó lấy ra từng cái, đóng vào guốc liên tiếp thoăn thoắt không ngừng. Tay nghề bà hàng phải khéo lắm, chuyên nghiệp lắm, thì chiếc quai mới thuận, mới ôm lấy bàn chân nhỏ xinh, không cứa vào da thịt khi đi, không làm đau người diện đôi guốc mới. Rồi còn mục đóng miếng đệm vào đế guốc, cắt sửa những chỗ dư thừa bằng một con dao thợ giầy sắc như nước, được bà hàng đưa đi nhẹ như tên ! Thỉnh thoảng có người tới mua hộ ai đó đôi guốc, thì bà chỉ đóng đinh hờ, đóng giả, để người sử dụng đôi guốc đó thử lại, sẽ đóng thật chặt lại sau.

Image result for guoc moc | Ultimate gadgets, Sandals, How to make ...

Tại mỗi chợ nước ta, hình như đều có một dẫy hàng guốc, nhưng chúng tôi luôn luôn có những nơi mua đặc biệt riêng. Tại Hà Nội tôi mua tại tiệm guốc tên là… Phúc Khánh (?), trong ngõ Yên Thái trước cửa chợ Hàng Da. Nơi đây có guốc rất đẹp, rất “ mỹ thuật ”, giá phải chăng. Trong tiệm có một cái giếng, nước lúc nào cũng trong mát và đầy ắp gần tới miệng. Cứ mở nắp giếng ra, cầm lấy cái gầu là múc nước lên được, y như múc trong chum ấy ! Tôi mê lắm, mỗi lần đến mua là xin phép vào sân trong rửa chân đi guốc mới. Chúng tôi thích đi guốc hơn giầy dép da vì guốc thoáng gió, bàn chân không bị ép chặt, và tha hồ rửa chân. Cũng vì nước ta xứ nóng, đường sá nhiều bụi bậm, bùn lầy, đang đi giữa đường mùa hè rừng rực, qua cái máy nước công cộng, hoặc cái ao có cầu bắc xuống nước, là ta có thể bước tới thò chân khoắng ngay cả guốc vào nước được ! Ôi mát lạnh cả người ! Nhưng guốc chóng mòn, chóng hỏng hơn dép da. Khi guốc mòn rồi, tiếng guốc quét lên vỉa hè xi-măng xoèn xoẹt nghe ghê lắm, lại hết đẹp nữa !

Giới thiệu - Aodai Phuong Nam

Tán rộng thêm một chút, không biết có phải nhờ đi guốc, nên bàn chân luôn luôn được thở tự do thoải mái, mà chân người Việt chúng ta không bị hôi, bị vặn vẹo như các sắc dân đi giầy bó sát, bịt kín suốt đời không ? Nói cho đúng ra thì cái gì được “ tự nhiên, không bị chèn ép ” cũng nẩy nở hoàn mỹ hơn ! Những đôi giầy da thon nhỏ, bó sát vào chân của các bà quý phái, mặc áo đầm dạ hội hay áo veste, váy công sở… trông thì sang lắm, lúc trẻ thì đẹp lắm. Nhưng sống lâu ở những xứ này mới biết, chân các bà đầm Âu Mỹ có rất nhiều “ vấn đề ” lắm. Y học Mỹ có hẳn một chuyên ngành riêng về chân. Tôi có những người bạn đồng nghiệp Âu Mỹ bị mổ bàn chân nhiều lần vì xương ngón chân mọc thòi ra, cho chân vào giầy cũ không được nữa, hoặc mấy ngón chân nhỏ bị dồn ép lại, có khi đè lên nhau rất đau đớn… Dân Việt mình khi sống lâu ở ngoại quốc, bỏ guốc, quen dần với giầy khép kín, cũng đã bắt đầu có người đi thăm bác sĩ chân…

em về đi guốc mộc, lộc cộc khua khoắng... - Thôn nữ & Bông Bụp ...

Còn “ bàn chân giao chỉ ”, bàn chân có ngón cái và ngón thứ hai giao nhau hình chữ V, nổi tiếng của dân ta. Có phải do vì đời đời dân ta đi trên mặt đất thịt, đất sét, lầy lội trơn trượt của đồng bằng sông Hồng không ? Khi chưa có đường cái khô ráo, những người đi chân đất phải bám chặt bàn chân xuống đất ướt, phải ra sức trên từng ngón chân, nên chúng xòe dần ra ? Tôi cho rằng hành động này tạo nên những bàn chân cứng cát, bước vững vàng trên đất nước của tổ tiên chúng ta. Bạn đọc đã bao nhiêu người nhìn thấy bàn chân giao chỉ thực sự ? Tôi đã nhìn thấy vào khoảng những năm giữa thế kỷ 20, khi gặp những người sống ở làng quê, bây giờ chắc là hiếm lắm. Bạn có quan sát thấy những tấm ảnh thời Pháp thuộc, những người lính khố xanh khố đỏ đều đi chân đất không ? Lúc đó guốc hãy còn rất ít. Điều suy luận này cần một nghiên cứu chính xác, rõ ràng hơn.

Guốc mộc quê hương - Vườn CVA 5461 - HAQH

Nhớ lại những năm học trung học (phổ thông), tôi gần như chỉ đi guốc. Tại trường nữ chúng tôi, guốc không thuộc diện “ đồng phục ”, nên tha hồ mỗi người mỗi kiểu. Có những kiểu nổi tiếng do người đi đầu tiên quá đẹp, nên nhiều cô bé học trò khác đua nhau mua theo. Tôi còn nhớ một kiểu guốc thấy rất nhiều trong sân trường là guốc sơn trắng, có quai ngang giản dị bằng nylon mềm trong suốt, điểm chấm tròn xinh xinh màu đỏ, đi với áo dài đồng phục trắng rất nổi. Còn các cô bạn học cũ của tôi, vừa được hỏi đến guốc, là cô nào cô ấy cũng xuýt xoa nhớ đôi guốc đẹp mình từng có ngày xưa. Có cô, như Lan, còn say sưa kể tỉ mỉ từng chi tiết, về đôi guốc cao gót màu tím nhạt, quai nhị. Sao mà đẹp thế không biết !

 Khoảng những năm 50-70, tại Saigon có nhiều tiệm guốc nổi tiếng như Đa Kao, Như Ý, Phúc Khánh… với những đôi guốc rất sang, rất đắt, chỉ dành cho những ai thật diện và có tiền. Đám học trò lau nhau chúng tôi hay rủ nhau đến mua guốc tại một nơi đặc biệt nằm lọt trong một chung cư công chức, một phần vì địa điểm này gần trường, một phần vì giá nới, hợp với túi tiền học trò. Lâu dần chúng tôi thành khách quen, cứ đến tiệm là vòi vĩnh, trêu đùa chọc ghẹo nhau đủ thứ, bà chủ tiệm cũng hay hăng hái tham dự cuộc đấu láo với chúng tôi.

Vì em lụa là: Guốc mộc với áo dài

Riêng tôi, kể cả những năm học Sư phạm và Khoa học (bây giờ là ĐHKH Tự Nhiên) không có bạn gái cùng lớp để khoe guốc, vẫn không theo “ mode ” nào cả, mà trung thành với kiểu guốc Nhật mầu đỏ huyết dụ đậm, quai nhung hai mầu đỏ đen cũ. Có lẽ vì được bà hàng “ nịnh ” : “ Cô mà đi đôi này vào trường, là các cô bạn lại đến đây mua rào rào cho mà xem ! ”. (Tôi chỉ cười, nhịn, không kể cho bà nghe là lớp tôi học toàn con trai, kẻo bà lại hết hy vọng !).

 Một cô bạn tôi vừa nhắc lại chuyện năm học đệ tam (lớp 10) : Tất cả các lớp cùng khóa chúng tôi đều toạ lạc trên tầng ba, tầng cao nhất trường. Chắc là vì các bà Giám Hiệu nghĩ rằng : đệ tam là lớp không phải đi thi cuối năm, học trò nghịch ngợm phá phách nhất, “ đày ” chúng lên tầng cao cho khuất mắt. Nhưng không dè khi ở trên cao, chúng tôi nện guốc loạn xà ngầu, làm điên đầu tất cả những người làm việc tầng dưới. Cuối cùng, bà Hiệu Trưởng phải ra lệnh cho toàn thể học sinh học tầng ba đều phải đi dép da, ai đi guốc phải phạt đi học chủ nhật ! Mỗi ngày đều có một bà giám thị đứng dưới chân thang kiểm xoát guốc dép từng cô ! Thế nhưng, vẫn có hàng loạt các cô điệu đà lại cần đi guốc (vì guốc cao gót thon, làm người cao hơn, thanh hơn, dáng đi đẹp hơn ! Bỏ đi sao đành !). Các cô bèn đi chân đất lên thang, dấu guốc vào trong cặp sách, lọt qua cặp mắt sắc như dao của bà giám thị ! Mà cứ lọt thoát được lên đến trên gác, là lăn ra cười ! Vào đến trong lớp hãy còn giấm giúi cười, mãi vẫn không nhịn được ! Cho nên cứ thấy các cô nàng túm năm tụm ba cười rúc rích là biết ngay : Không đi guốc trộm, thì cũng ăn quà vụng !

Đi guốc lâu năm, chúng tôi thỉnh thoảng lại gập cảnh dở khóc dở cười, vì “ guốc đứt quai ” thình lình giữa đường ! Thường ra, khổ chủ phải xách chúng lên, đi chân đất về nhà, áo dài lướt tha lướt thướt, thảm hại vô cùng. Đã thất thểu đi về xấu hổ muốn chết với người đi đường, với hàng xóm láng giềng, lại hay dẫm phải sỏi, đá, đau điếng người ! Những lúc ấy, nếu có thêm “ cây si ” lẽo đẽo đằng sau, thì thật không biết “ Đi làm sao, đứng làm sao bây giờ ! ”

Hơn nữa, guốc còn theo tôi đi vào nhiều kỷ niệm riêng, với những xúc động chỉ một mình tôi biết, một mình tôi hay.

Giá "bèo", nghề làm guốc mộc sắp mai một | Lao Động Online ...

Tại Hà Nội, đường tắt về nhà tôi qua ngõ Lagiqué, sau đổi tên Việt là Châm Cầm. Một con ngõ nho nhỏ, rộng gần bằng một đường phố cổ, hai đầu thông ra hai phố lớn. Ngõ này thẳng tắp, phẳng phiu, luôn được giữ sạch sẽ, vắng lặng. Hai bên vỉa hè hẹp gần như không có cửa hàng, không có người qua lại, những ngôi nhà có cửa mở ra ngõ đều luôn luôn đóng kín (Bây giờ sự vắng vẻ đó mất rồi ! ). Mỗi khi đi đâu về một mình, tôi thích đi qua ngõ này. Tôi chạy lon ton chân sáo, không hiểu sao lúc bé gần như tôi chỉ chạy, ít khi đi chịu đi chầm chậm như đi thiền hành bây giờ ! Đôi guốc của cô gái nhỏ chạy về nhà, gõ liên hồi trên vỉa hè ngõ Châm Cầm, vang lên một loạt âm thanh “ tanh tách, tanh tách… ” đều đặn, nhanh, gọn, giòn tan, vang vọng sang tận hè đường phía bên kia, vui tai và thân ái vô cùng. Tôi còn nhớ, sau này khi đã dời xa Hà Nội, trong nhiều năm tiếng guốc gõ trong ngõ vắng vẫn thường trỗi dậy trong tôi, âm thầm luyến tiếc. Âm thanh thân quen ấy, tôi chỉ có trong lòng, không ghi chép cất giữ vào đâu được, theo ngày tháng cứ mòn dần đi, tưởng như mất hẳn, không còn đâu dấu vết… Rất lâu sau, mấy chục năm có lẻ, tôi sống ở nước ngoài, đang hồi hộp làm đơn xin visa về thăm quê. Một đêm kia, tôi bỗng mơ thấy đang chạy một mình giữa ngõ Châm Cầm, trong tiếng guốc giòn tan ngày cũ : “ lách tách lách tách… lách tách ”. Chuỗi dài âm thanh lanh chanh, thân quen đó vừa dứt, tôi bừng tỉnh dậy, bật kêu lên : “ Sắp được về nhà rồi ”. Thế ra, trong tiềm thức sâu thẳm của tôi, tình cảm nhớ nhà có cả tiếng guốc gõ liên thanh trên vỉa hè đó ư ?

 Mà này, còn một tiếng guốc khác nữa, tiếng guốc của thế kỷ trước, của thời đang đi học Toán, thời “ chưa yêu ”, có ghi lại trong một bài thơ xưa của tôi :

?? Việt phục (越服) thời Nguyễn: áo Ngũ thân (Vietphuc ...

Lâu lắm hôm nay anh đến chơi
Ngọc lan ngoài ngõ hoa đón búp mời
Guốc ai lách cách rộn rã reo vui

 Ôi, thôi chết tôi rồi ! Hoá ra tiếng guốc đã biểu lộ tình cảm vui buồn rõ hơn tôi tưởng ! Tiếng gõ trên cầu thang gạch reo nhanh thoăn thoắt “ Cờ lách cách, lách cách lách cách… lách-ta-cách…”, rồi thang gác tới chỗ ngoặt chỉ còn dăm ba bậc gạch cuối cùng, tiếng gõ chậm lại, ngập ngừng rời rạc từng tiếng, như ngại ngùng, như e dè, … tôi hãy còn như đang nghe thấy đây... Nhưng mà, tiếng giòn tan nhanh chậm đó là âm điệu, là tiếng hát riêng của guốc, diễn tả linh hồn riêng của guốc ! Như vậy là, hôm đó, chính guốc đã lách cách, đã rộn rã, đã reo vui, đã e lệ… đấy chứ ! Nào đâu có phải tôi !

Vậy mà, nửa thế kỷ qua đi, tôi vẫn còn rưng rưng nhớ tiếng guốc trên thang gạch, với những kỷ niệm thời xa xưa ấy.

 

Phạm Thảo Nguyên

 

"Guốc Mộc" Vẻ Đẹp Mộc Mạc Duyên Dáng Của Người Phụ Nữ Việt Nam

Guốc Mộc Sài Gòn

 

Đôi guốc mộc nhỏ bé là một vật dụng gắn bó mật thiết trong đời sống của người Việt Nam. Cũng như áo dài và nón lá, đôi guốc mộc bé nhỏ, đơn sơ là thế mà đã in dấu bền bỉ suốt hàng ngàn năm trong hành trang văn hóa dân tộc, tạo nên một vẻ đẹp mộc mạc, duyên dáng của người phụ nữ Việt Nam.

Song song hai chiếc thuyền tình
Đầu rồng đuôi phượng đóng đinh hai hàng
Một chiếc em chở năm chàng
Hai chiếc em chở mười chàng ra đi

Trách người quân tử lỗi nghì
Ăn trên ngồi trốc chẳng nghĩ gì đến em!


Nguồn gốc và sự độc đáo của guốc mộc Việt
 
Thich Nu Tinh Quang: Bây giờ còn ai đi guốc mộc?
Khó có thể định rõ mốc ra đời cũng như chủ nhân đã sáng tạo nên di sản văn hóa giản dị, mộc mạc này nhưng chắc đó là sản phẩm văn hóa do người Việt sáng tạo nên từ rất xa xưa. Truyền thuyết dân gian “Chín chúa tranh ngôi” của Cao Bằng hay sách cổ Giao Châu ký của Trung Quốc (thế kỷ III) đã nhắc đến đôi guốc.

Trước khi có các loại giày, dép bằng nhựa, bằng da như hiện nay, người Việt thường dùng tre, gỗ để làm guốc đi. Hình ảnh áo the, khăn xếp, đôi guốc mộc đã thành quen thuộc với người dân Việt. Vào những ngày giá rét, phụ nữ và đàn ông khi dự hội hay vào đám thường đi guốc gộc tre, còn trong nhà thì đi guốc gỗ mũi cong, quai tết bằng mây.

Từ đôi guốc bằng gộc tre, quai mây cốt để bảo vệ đôi chân khỏi mưa nắng thuở ban sơ, đến các loại bằng gỗ trong vườn nhà như de, mỡ, dàng dàng rồi mít, tràm, cao su, xoan, thông… những người thợ tài hoa đã không ngừng cải tiến về kiểu dáng và chất liệu để đôi guốc ngày càng bền hơn, gọn và có tính thẩm mỹ hơn.

Quai guốc thay đổi từ dây mây sang vải rồi cao su và để có được một chiếc guốc hoàn chỉnh, đôi bàn tay của người thợ phải rất kỳ công, từ khâu cưa lộn mặt để ra hình thù chiếc guốc đến xử lý gỗ, tiếp đó là chà nhám, sơn, đánh bóng, vẽ, đế, quai...

Guốc mộc cấu tạo đơn giản, bất cứ ai, dù hoàn cảnh nào đều có thể lựa cho mình một đôi guốc phù hợp. Người nghèo đi guốc gỗ xoan, mỡ, dàng dàng mộc mạc với một chiếc quai bằng da trâu vắt từ bên này qua bên kia và thân guốc chỉ được đẽo đơn giản cho vừa bàn chân. Những bậc giàu sang quyền quý thì guốc không đơn thuần chỉ là vật dụng để bảo vệ đôi chân mà nó thực sự trở thành một thứ phục trang để tôn thêm phong cách, biểu đạt gu thẩm mỹ của chủ nhân. Họ thường dùng guốc gỗ mít, gỗ tràm hương hay gỗ thông có sơn son thếp vàng, khảm trai, bịt quai gấm, đế lót cao su mỏng để bước đi thêm quý phái, thanh cảnh...

Lộc cộc khắp ngõ dưới làng trên, đôi guốc mộc đã thành một dấu ấn thiêng liêng khó phai mờ trong tâm hồn của nhiều thế hệ người Việt. Từ tiếng guốc loẹt quẹt của mấy cụ già mắt kém; tiếng guốc khua chẵn nhịp, đĩnh đạc của ông đồ; đến tiếng thả bước lách cách, thẹn thùng của các chị, các cô rồi tiếng guốc vang rộn ràng, huyên náo của lũ trẻ hiếu động... tất cả tạo nên hơi thở thân quen của cuộc sống làng quê tự bao đời.
 
?? Vietphuc - Vietnamese Traditional Clothes (Việt phục thời ...

Từ truyền thống đến hiện đại

Từ cuối thế kỷ XIX, guốc mộc mới trở nên thịnh hành và bắt đầu có những thay đổi rả nệt về kiểu dáng và chất liệu. Đôi guốc mộc đã được gọt đẽo thanh thoát hơn bởi những người thợ tài hoa. Quai guốc thay đổi từ dây mây sang vải rồi cao su, đế đệm miếng cao su mỏng nên bước chân của chị em êm ái, mơ màng hơn. Khoảng những năm 40 của thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện những đôi guốc sơn màu sắc sặc sỡ, nhất là dành cho phụ nữ và phải đến sau năm 1975, guốc mộc thực sự bước vào một cuộc cách mạng về kiểu dáng và chất liệu, khẳng định là thời trang ưu ái cho phái đẹp, cùng với váy áo. Guốc mộc đã vượt qua khuôn khổ của “mộc” và sự đơn điệu về kiểu dáng với sự xuất hiện của chất liệu nhựa…

Từ sản phẩm “tự cung tự cấp” đến sản phẩm hàng hóa, đôi guốc mộc đã đi một bước dài trong lịch sử, kéo theo sự ra đời của nghề làm guốc, nổi tiếng với làng nghề Bình Nhâm (Thuận An, Bình Dương), Làng Đơ Đồng (Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội), Kẻ Đày (Liên Trung, Đan Phượng, Hà Nội). Đôi guốc bé nhỏ là thế nhưng là sự hội tụ tinh hoa của các làng nghề mộc, sơn mài, tơ lụa, đính hạt thêu tay… Đôi bàn chân chị em lung linh, được nâng niu hơn vì sự biến đổi linh hoạt của guốc.

Bước sang thế kỷ XXI, guốc lên ngôi với sự bùng nổ về kiểu dáng, màu sắc và chất liệu. Quy trìn lõm của lòng bàn chân, trọng lực hợp lý không làm tổn hại đến cột sống và còn có thể mát – xa các huyệt đạo của người mang guốc. Quai thì đủ loại, từ loại đơn đến quai kép hoặc xỏ ngón, đủ hình dạng, màu sắc và chất liệu, từ nhựa, simili đến nhung, vải, ni lông, thêu và đính cườm, cẩn đá, chạm bạc... Guốc đã đi gần đến với xăng đan và giày khi có thêm quai hậu. Dáng guốc đa dạng với mũi vuông, nhọn, tù...; đế thì đủ hình đủ dạng, đặc hay rỗng, eo hay thóp nhưng thường là gót rời, từ thấp đến cao. Vui hơn nữa, guốc mộc Việt đã hội nhập với thời trang thế giới, tham gia vào cuộc cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường nên mẫu mã phong phú, đẹp hơn, nhất là đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.

Duyên thầm guốc mộc

Cùng với việc sản xuất là văn hóa dùng guốc mộc với sự in dấu đầy kiêu hãnh của guốc trong các loại hình nghệ thuật, thơ ca, hội họa, trong ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ và quê hương của biết bao thế hệ người Việt. Đôi guốc đã làm cho chị em nữ tính hơn, duyên dáng hơn bởi khi đi guốc, phải nhẹ nhàng, khéo léo, không thể vội vàng hấp tấp, không thể cẩu thả lê quẹt. Bỏ đôi dép lê trong nhà, lau đôi bàn chân trắng xinh chỉn chu đầu tóc, trang phục, chị em điệu đà nhiều hơn với guốc mộc. Guốc mộc ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại nên cũng thuận tiện hơn cho việc chọn lựa khi mặc các loại trang phục khác nhau của các cô, các chị hay quý bà hôm n
h sản xuất guốc là thiết kế mẫu với độ dốc như thế nào để đảm bảo đường cong mặt guốc phù hợp với phần lõm của lòng bàn chân, trọng lực hợp lý không làm tổn hại đến cột sống và còn có thể mát – xa các huyệt đạo của người mang guốc. Quai thì đủ loại, từ loại đơn đến quai kép hoặc xỏ ngón, đủ hình dạng, màu sắc và chất liệu, từ nhựa, simili đến nhung, vải, ni lông, thêu và đính cườm, cẩn đá, chạm bạc... Guốc đã đi gần đến với xăng đan và giày khi có thêm quai hậu. Dáng guốc đa dạng với mũi vuông, nhọn, tù...; đế thì đủ hình đủ dạng, đặc hay rỗng, eo hay thóp nhưng thường là gót rời, từ thấp đến cao. Vui hơn nữa, guốc mộc Việt đã hội nhập với thời trang thế giới, tham gia vào cuộc cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường nên mẫu mã phong phú, đẹp hơn, nhất là đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.
 

Duyên thầm guốc mộc

Cùng với việc sản xuất là văn hóa dùng guốc mộc với sự in dấu đầy kiêu hãnh của guốc trong các loại hình nghệ thuật, thơ ca, hội họa, trong ký ức đẹp đẽ của tuổi thơ và quê hương của biết bao thế hệ người Việt. Đôi guốc đã làm cho chị em nữ tính hơn, duyên dáng hơn bởi khi đi guốc, phải nhẹ nhàng, khéo léo, không thể vội vàng hấp tấp, không thể cẩu thả lê quẹt. Bỏ đôi dép lê trong nhà, lau đôi bàn chân trắng xinh chỉn chu đầu tóc, trang phục, chị em điệu đà nhiều hơn với guốc mộc. Guốc mộc ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại nên cũng thuận tiện hơn cho việc chọn lựa khi mặc các loại trang phục khác nhau của các cô, các chị hay quý bà hôm nay.

Từ làng quê, guốc mộc Việt đã lên ngôi với sự hiện diện trên khắp các nẻo đường, trên các sàn diễn thời trang, trong túi quà của người xa xứ. Cùng với áo dài, nón lá, guốc mộc Việt, từ cổ đến kim đã tạo nên vẻ đẹp rất Việt của phái đẹp, cái đẹp của sự dịu dàng, duyên dáng, nét duyên thầm không chỉ đọng lại trong ánh mắt, mà cả ở sự cảm nhận.

Đôi guốc là một vật dụng gắn với sinh hoạt của người Việt đã in dấu bền bỉ suốt hàng ngàn năm trong hành trang văn hóa dân tộc. Có thời gian việc dùng guốc (kéo theo việc sản xuất guốc) đã bị lắng xuống và tưởng chừng sẽ ngày càng mai một đi. Đáng mừng thay sự phục hưng của đôi guốc những năm gần đây chứng tỏ quan niệm về cái đẹp đang ngày càng đa dạng hơn, và cũng phần nào thể hiện được sự gìn giữ và trân trọng những vật dụng giản dị của lớp trẻ ngày nay.
 
Nguồn: quehuongonline
 
GUỐC GỖ ƠI !

Guốc gỗ ơi !
Cứ khỏ vào tôi nhé
Để quay nhìn mướt mát tuổi học sinh
Nhớ hành lang trưa
lộp cộp
dựng tim mình
Chân líu quíu?
Bóng áo dài thoáng qua cửa sổ
Những đầu ngón tay
Đã dập bầm trên đôi guốc gỗ
Chẳng có gì…
chỉ một cánh phượng rơi
Miệng xuýt xoa
Và ai đó đứng cười
Có định nghĩa gì hơn là hạnh phúc

Giừa đường vắng
Nắng trưa
Giờ tan học
Mồ hôi ơi, sao lại chỉ một mình
Luống cuống, ngại ngùng
Hai mắt rưng rưng
Tôi xin được cầm tù trong mắt ấy
Dũng cảm có thừa
Mà đôi chân cứ run đến vậy
Giả tảng ngó lơ?
Để người ta khỏi thẹn thùng
Miệng ngậm bùn chẳng biết nói gì hơn
Ai cứ đứng, cứ ngồi
Thương dễ sợ!

Cho tôi về tháng Năm nhặt màu phượng đỏ
Trên hành lang còn dấu cỏ lặng thinh
Tiếng guốc ai cứ xói giữa tim mình

Huỳnh Văn Mười
 
 Về đâu đôi guốc mộc? - Đà Nẵng Online

 

Áo Tơ ! guốc mộc


O mang guốc mộc đi đâu
Áo tơ trắng quá ! Chở sầu trao tôi
Chợ xuân bên ấy mở rồi
Nhớ mua chậu cúc đơm trồi, vàng hoa

Ngày xuân nụ nở thơm nhà
Hương lan thơm tóc, thơm tà trước sau
Cho thơ tôi chữ đan nhau
Cho hồn tôi đắm má đào nghe O




Cố Quận

 

Mùa Xuân và Chiếc Guốc

Guốc không phải của anh
Guốc là của con gái
Mùa xuân em mang tới
Làm xôn xao thềm nhà
Anh sợ chiếc guốc già
Nên chở ra vườn trẻ
Tụi mình như đứa bé
Khi bước vào sân chơi
Guốc là của một người
Sân chơi dành đôi lứa
Nếu không có mùa xuân
Thềm anh, ai gõ cửa?
Ai xôn xao đầu ngõ
Ai nhịp gót rộn ràng?
Xin cảm ơn đôi guốc
Yếu lòng người không mang !

Bùi Chí Vinh
 
Kim Phượng st.
 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này