Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1388)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (370)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Ma Quỷ Trong Văn Học Việt Nam - Trần Minh Thương

Ma Quỷ Trong Văn Học Việt Nam 

Trần Minh Thương

I. Đi tìm một khái niệm về ma, quỷ 
 
Có thể nói ngay rằng ma, quỷ là những từ khá phổ biến trong ngôn ngữ của các dân tộc. Mặc dù vậy, để đi tìm định nghĩa cho nó không phải là việc dễ dàng. Ma quỷ thuộc thế giới tâm linh của con người, vì thế, khu biệt rõ ràng khái niệm của các từ này là điều gần như không thể. Khi tìm tư liệu cho bài viết, chúng tôi cũng gặp không ít cách hiểu, cách giải thích về ma quỷ. Trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình, chúng tôi chỉ tập trung vào: 
 
1. Ma quỷ trong từ điển 
 
Từ điển Hán Việt của Nguyễn Văn Khôn viết, ma: ma, quỷ [trang 572]; quỷ: Ma, quỷ. Nham hiểm, quỷ quyệt. Mưu hại người [trang 764].

Gần với ma, quỷ còn có tinh: loài yêu quái, quỷ thần [trang 867] 

Việt Nam tự điển của nhóm Lê Văn Đức – Lê Ngọc Trụ soạn và hiệu đính, thì ma có ba nghĩa:

Thứ nhất, ma là hồn người chết không được cúng giỗ, không nơi nương tựa, hiện ra phá quấy người sống.

Thứ hai, ma tức là ý xấu, phần vô hình trong con người giục làm bậy.

Thứ ba, dùng chỉ lễ chôn cất người chết: đám ma. 

Các loại ma được tự điển liệt kê gồm: Ma gà: Thứ ma hay theo những cô gái đẹp (theo quan niệm của dân tộc Tày – Nùng)/ Ma xó: theo tục người Mường, khi có người chết, đem dựng đứng ở xó nhà, sau thành ma/ Mai lai: thứ người ban đêm hóa ma đi ăn phần người khác./ Ma men: người say chết thành ma thường hay lôi cuốn người khác say sưa tới chết/ Ma cà rồng: thứ ma thường hay nhập vào đi hút máu người khác/ Ma thần vòng: ma những người thắt cổ chết (sau giục người khác tự tử chết như họ)/ Ma trành: ma cọp dữ, thường tìm dẫn cọp bắt ăn người khác để nó được đầu thai, …

maquy

Cũng theo Việt Nam tự điển thì với tư cách danh từ quỷ là hồn kẻ tiểu nhân, kẻ dữ, hung ác, hoặc người chết oan hiện ra. Còn với chức năng tính từ thì quỷ chỉ sự tinh nghịch, sâu sắc: Mưu thần chước quỷ, … 
 
Các loại quỷ thường được dùng trong lời ăn tiếng nói như quỷ sứ, quỷ sa tăng, quỷ nhập tràng, quỷ truyền kiếp, quỷ kiếm sầu, … Tự điển Tiếng Anh thì: ma là ghost, còn quỷ là devil.
 
Thường thì hai chữ ma quỷ hay được dùng chung như từ kép. 
 
Yêu là loài tinh quái, thú hay cây cối sống lâu năm biết hiện hình người và giả người để phá quấy thiên hạ. 
 
2. Ma quỷ trong dân gian 
 
Trong truyền khẩu dân gian, ma thường được miêu tả là một dạng người (hiếm khi đề cập tới ma động vật), mà thường có màu "trắng bạc", "cái bóng lờ mờ", "nửa trong suốt", hay "tựa như sương mù", "đống đen thùi lùi", “đầu tóc bù xù, rũ rượi”, …
 
Ma chỉ là hình bóng, là linh hồn của người đã khuất, đúng như câu "hồn ma bóng quế", nên khó thể xác định rõ hình dáng của nó. Thêm nữa, ma hay bay lơ lửng, chân không chấm đất, không có bóng, tới lui nhẹ nhàng như làn gió lạnh thoảng qua. Ma không có cơ thể sống như con người. Xã hội của ma theo nhiều người là "âm phủ" còn chỗ ở của ma là cái mộ (sống cái nhà thác cái mồ). Ma cũng có thể vương vất ở những nơi tăm tối, vắng vẻ nơi có liên quan đến khi họ còn sống.
 
Dân gian cho rằng thì chỉ có người có "duyên" với linh hồn đó mới có thể nhìn thấy ma hoặc người có khả năng đặc biệt như các nhà ngoại cảm mới “giao tiếp” được với ma quỷ.
 
Nhiều người cho rằng ma có khả năng biết tất cả nhưng gì người sống nghĩ, có khả năng biết được các việc đã, đang và sắp xảy ra, hoặc có khả năng tác động lên thể xác, lời nói của người sống như hiện tượng lên đồng, tác động lên cảm quan người sống như dắt người sống đi lạc vào bụi, xúi người sống ăn đất mà tưởng ăn bánh hoặc ma có thể tác động lên vật chất như tạo ra tiếng động, rung cây, xô lệch bàn ghế... 
 
Trong dân gian Trung Quốc, ma không có bóng và không được phản chiếu lên gương. Ngoài ra, đa số ma còn sợ ánh sáng Mặt Trời và các thần thánh. Do đó người ta thường dùng các loại bùa và dấu hiệu như bát quái, thánh giá, máu chó, tỏi, củ hành, cây dâu, cây đồng đình, vôi bột, cây xương rồng... để trừ ma. Nhưng không ai giải thích được vì sao ma sợ các thứ đó mà không sợ thứ khác,… 
 
Quỷ thuộc loại “đầu đội trời, chân đạp đất”, được hình dung gắn cho một người nào đó có tính quỷ quyệt, nham hiểm, xấu xa, vì thế quỷ… thật hơn ma và cũng chẳng khiến người ta sợ hãi bằng sợ ma! 
 
Linh hồn ma quỷ "chết trôi" trong văn hóa Nhật Bản
 
3. Ma quỷ theo tôn giáo 
 
Kinh Bát Đại Nhơn Giác có câu nói: Tồi phục tứ ma, xuất ấm giới ngục. Nói bốn loại ma đó là: Phiền não ma, ngũ ấm ma, thiên ma và tử ma. Bốn loại ma này, làm chướng ngại cho người tu hành rất lớn. 
 
Phiền não ma là ma trong tâm của mỗi người. Chính nó là nguyên nhân gây ra cho người ta phải đau khổ triền miên. Ngũ ấm ma gồm có: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Tại sao gọi 5 thứ nầy là ma? Vì 5 thứ nầy không thật có mà người ta cố chấp cho là thật có, rồi từ đó mà tạo nghiệp thọ khổ nên gọi nó là ma. Thiên ma là loại ma vương ở cõi trời Dục giới. Chúng có khả năng biến hóa khuấy phá nhiễu loạn làm trở ngại sự tiến đạo của hành giả. Loại ma nầy, khuấy phá Phật khi Phật sắp thành đạo. Vì bọn chúng không muốn cho ai thoát khỏi ngũ dục. Chúng thấy ai tu hành tinh tấn, không còn mê đắm ngũ dục lạc thế gian, thì chúng thường hay khuấy phá. Tử ma là ma chết. Con người sau khi chết thành loài ma quái yêu tinh khuấy nhiễu làm người ta sợ hãi sanh bệnh v.v… Hoặc người đang tinh tấn tu hành, bỗng bị vô thường xảy đến bệnh hoạn hay tai nạn rồi ngã ra chết làm trở ngại dở dang sự tu hành đó cũng thuộc về tử ma.
 
Nói tóm lại, bốn loại ma nầy, lực dụng của chúng đều làm chướng ngại lớn trên bước đường tu tiến của hành giả, vì bọn chúng làm cho người tu hành khó được giải thoát. 
 
Quỷ xuất phát từ tiếng Hán Gwei (), dùng để gọi linh thể của những người đã chết. Theo quan điểm của người phương Đông, sau khi chết đi, linh hồn của con sẽ đầu thai chuyển thế vào kiếp khác. Nhưng vì một lý do nào đó, linh hồn không thể đầu thai mà vẫn lưu lai trên thế giới vật chất thì được gọi là quỷ. 
 
Đạo Phật, và cả đạo Hindu, đều quan niệm rằng: mọi sinh vật qua quá trình khổ tu và tuân theo các drama (pháp) đều đạt được thần thông. Nếu theo phe thiện thì được gọi là thần, nếu là ác thì gọi quỷ. Tuy nhiên, không có sự phân biệt rõ ràng giữa thần và quỷ. Trong Phật giáo có nhắc đến một số loại quỷ: Atula, Yaksha (Dạ Xoa), La Sát... Quỷ cũng là một phần trong lục đạo luân hồi giống như người và súc vật. Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, các vị bồ tát cũng có lúc hiện thân thành Quỷ tùy theo chúng sinh cần được giáo hóa. 
 
Trong Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, …, tiếp thu những lời dạy của nhà tiên tri Abraham, do đó khái niệm về quỷ có phần tương tự nhau: Quỷ (devil) là các thiên thần lạc lối (fallen angels). Ngày thứ 6 của tuần đầu tiên trên thế giới, một thiên thần tên là lucifer đã nổi dậy cùng 1/3 thiên thần khác để giành quyền thống trị với thượng đế. Cuộc nổi dậy đã bị đánh bại bởi các thiên thần thiện, dẫn đầu là michael. Sau đó, lucifer và số thiên thần nổi dậy đã bị đuổi khỏi thiên đàng và phải sống dưới địa ngục (hell). Lucifer trở thành vua quỷ (Satan) 
 
Linh hồn ma quỷ "chết trôi" trong văn hóa Nhật Bản - Ảnh 2.
 
4. Ma quỷ trong quan niệm của các nhà khoa học 
 
Tất nhiên đây là vấn đề thuộc về chuyện “tin hay không tin”, sức hấp dẫn của nó đã được nhiều nhà khoa học, các nhà tâm lý, các nhà văn hóa, … chú ý nghiên cứu. Nhiều ý kiến luận giải đã đưa ra. Song không phải tất cả những ý kiến ấy đều đồng thuận. Trong phạm vi bài viết của mình, chúng tôi chỉ dẫn lại một số quan niệm nhằm khẳng định rằng: dù muốn nói “không có ma” thì ma vẫn có, chỉ có điều nhìn nhận nó ở góc độ nào mà thôi!
 
Không đề cập đến ma quỷ, nhưng qua Cơ sở văn hóa Việt Nam, viện sĩ Trần Ngọc Thêm khẳng định: “Chết tức là cơ thể chuyển từ trạng thái động trở thành tĩnh, cho nên theo triết lý âm dương thì hồn đi từ cõi Dương (Dương gian, Dương thế) sang cõi Âm (Âm ti, Âm phủ). Đó là một “thế giới bên kia. Niềm tin rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối (cửu tuyền), tin rằng tuy ở nơi chín suối nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Nó có mặt ở nhiều dân tộc Đông Nam Á và là nét đặc thù của vùng văn hóa này. Ở người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo (nhiều nơi gọi là đạo Ông Bà), ngay cả những gia đình không tin thần thánh cũng đặt bàn thờ tổ tiên ở trong nhà”. 
 
Nguyễn Đăng Duy viết: “có phần thiêng liêng trong ý thức con người, và niềm tin tâm thức cũng là niềm tin thiêng liêng. (…). Mọi biểu tượng thiêng liêng đều chứ đựng những giá trị cao cả và giá trị thẩm mỹ. ( Văn hóa tâm linh - Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội, 1996) 
 
GS.TS Trần Lâm Biền - nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa truyền thống cho rằng: “Chuyện ma quỷ chỉ là do con người không thể giải thích được tại sao có ma, đó là do con người yếu vía, sợ hãi trước những “thế lực siêu nhiên”, nó không có thực nhưng được dân gian hư cấu mà ra, tức là ma quỷ chỉ do con người tưởng tượng mà ra. Nếu người có thẩm quyền, trí tuệ lên tiếng dẹp bỏ chuyện ma quỷ nói trên sẽ tự nhiên mà mất đi theo thời gian”… 
 
II . Ma quỷ trong văn học Việt Nam 
 
Cũng như các nền văn học, văn hóa khác trên thế giới, hiện tượng ma quỷ, yếu tố ma quỷ, nhân vật ma quỷ, hình tượng ma quỷ, … cũng xuất hiện phổ biến trong văn học Việt Nam Từ những câu chuyện, những giai thoại, thành ngữ, tục ngữ ca dao, … đến văn học thành văn với hơn 1000 năm phát triển, “ma quỷ” thường xuyên góp mặt và để lại nhiều dấu ấn trong tâm thức người đọc, người nghe, ...
 
Linh hồn ma quỷ "chết trôi" trong văn hóa Nhật Bản - Ảnh 3.
 
1. Ma quỷ trong văn học dân gian
 
1a. Ma quỷ trong truyền thuyết, cổ tích, giai thoại, … 
 
Lĩnh Nam chích quái là tập sách ghi chép lại những truyền thuyết và truyện cổ dân gian, “xuất hiện rất sớm, có lẽ từ thời Trần” (Lời giới thiệu Lĩnh Nam chích quái, Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb Văn học, 1990). Theo đó, một số truyện dân gian đã có hình ảnh yêu tinh ma quái. Lạc Long Quân trước khi gặp nàng Âu Cơ đã giúp dân diệt trừ Ngư tinh, Mộc tinh, Hồ tinh, … để cứu dân. Truyện Rùa Vàng, ghi nhận hình ảnh thần Kim Quy giúp An Dương Vương diệt trừ gà tinh để dựng Cổ Loa Thành. 
 
Bên cạnh đó còn rất nhiều chuyện mang yếu tố hoang đường, kỳ bí, … nhưng nó nằm ngoài phạm vi của bài viết nên chúng tôi không đề cập ở đây. 
 
Trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập), Nguyễn Đổng Chi dành hẳn phần IV (ông phân truyện cổ tích Việt Nam thành 10 loại) để kể truyện “Thần tiên, ma quỷ, phù phép”. Ngoài ra, khảo sát những phần khác, chúng tôi thấy, yếu tố ma quỷ vẫn xuất hiện, chẳng hạn như Người cưới ma (Ở phần IX: Tình yêu và nghĩa vụ), …; Thạch Sanh chém chằn tinh, Sự tích cây huyết dụ, Tinh con chuột, Cô gái với hai cục bướu, … đều thấp thoáng bóng dáng của ma quỷ, yêu tinh, … tham gia vào. 
 
Do khuôn khổ hạn chế chúng tôi chỉ đề cập hai truyện cổ tiêu biểu: 
 
Sự tích cây nêu ngày Tết là cuộc xung đột quyết liệt giữa quỷ và người. Cuối cùng người được Phật giúp đã thắng được quỷ, đuổi chúng ra tận biển Đông. Nhân vật quỷ trong truyện gần như là hình ảnh ẩn dụ chỉ con người nham hiểm, độc ác, giàu có, tham lam, quỷ quyệt, … cuối cùng đã bị trừng trị. 
 
Truyện Con ma báo thù, kể ngày xưa ở Gia Định có một tên cướp bị án tử hình. Hắn chạy vạy đút tiền cho quan xử án để thoát chết. Quan án tên Đặng nhận tiền rồi, nhưng không lo cho hắn. Hắn bị chém. Quan Đặng cũng tìm cách đổi về kinh đô. Hồn ma của hắn hiện lên giúp một ông Cử trong Nam ra thi Hội. Ma và người cùng lội suối trèo đèo, cốt là để hồn ma nhờ người nọ chỉ nhà quan Đặng cho nó báo thù. Hồn ma đã bắt con quan Đặng trở nên điên loạn, quan Đặng gần tán gia bại sản, …
 
Thể loại truyện cười, dân gian kể chuyện thầy pháp đi cúng đuổi ma ở làng bên, khi thầy về, bị bà vợ giả làm ma trơi, chọc thầy, thầy quăng cả oản xôi, tay nãi, bỏ chạy mà mồm vẫn “Úm ba la! Úm ba la, ma đuổi thầy!” 
 
Về giai thoại, chúng tôi tìm thấy trong Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển V trang 217 có chép như sau: Tương truyền ngày trước người con gái nhà giàu, tuổi cập kê, mê người học trò họ Nguyễn, mà người học trò thì người nhà nghèo, không dám nhờ mối lái nói việc kết hôn, vì thế người con gái mắc bệnh tương tư trầm trọng rồi chết; cha mẹ cô rất đỗi thương tiếc, không nỡ chôn vội, bèn làm cái rạp sau nhà làm chỗ quàn; vì cô gái đã chết, cậu học trò bèn thắt cổ chết ở cạnh chỗ quàn, người ta quàn chung họ lại với nhau. Do đấy âm khí kết tụ lâu ngày thành yêu tinh. Sau đó cha mẹ cô gái ấy đều chết, không ai chôn cất thành ra chỗ quàn xác 2 người, cây cối mọc lên như rừng, yêu khí càng ngày càng thịnh, người ta khó chịu, bèn gọi chỗ ấy là xứ Song Ma (Đôi Ma), để bảo nhau xa tránh. Sau quân Tây Sơn đánh chiếm cứ khu vực này cho thiêu hủy nhà quàn, yêu quái mới hết hẳn".  Vàm Đôi Ma, sông Đôi Ma hiện thuộc địa phận huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
 
Người dân vùng Tiền Giang, nơi nghĩa quân Trương Công Định làm căn cứ đánh Pháp còn truyền rằng sau khi cuộc khởi nghĩa bị đàn áp, tại Đám lá tối trời, nơi có những con rạch bần mọc um tùm, chen lẫn là những rừng dừa nước ngút ngàn, những đêm thanh vắng, người ta thường nghe những tiếng giáo gươm khua, tiếng người đi đi lại lại rầm rập như tiếng của nghĩa quân ngày trước,… Người cao niên cho rằng đấy là âm hồn của các liệt sĩ đã hy sinh vì nước, vẫn một lòng một dạ quyết tập rèn võ nghệ …, đánh Tây đến cùng! 
 
Ma quỷ phá phách và ma quỷ có nhân tính trong văn học Việt - Tác giả -  ZINGNEWS.VN
 
1b. Ma quỷ trong tục ngữ, ca dao 
 
Trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, từ ma, quỷ, ma quỷ được dân gian dùng khá phổ biến. Với nhiều nét nghĩa đa dạng chứ không chỉ dừng lại trong nội hàm của từ điển. 
 
Chỉ người lười tắm gội, với cách nói so sánh: Bẩn như ma lem. Khi gia cảnh có người chết, dù chu đáo thế nào chăng nữa, tang gia thường bối rối nên dễ để xảy ra những sơ suất khiến người ta chê bai nên có câu “ma chê cưới trách”, bởi biết sao làm vừa được lòng người! Họ sẵn sàng lấy chuyện đám ma nhà giàu ra để so sánh: Ăn cơm không rau như đám ma nhà giàu không nhạc. Liên quan đến kèn trống trong đám ma, giới tài tử truyền nhau: Rủng rỉnh đám ma, là đà đám cúng, nghĩa là theo họ “làm công” cho đám ma sẽ có… tiền, còn đi “phục vụ” đám cúng thì tha hồ mà… say xỉn!
 
Ma cũ ăn hiếp ma mới: câu thành ngữ vừa mang nghĩa thực trong tập tục. Khi cúng người mới chết (ma mới) người ta để chén cơm cúng và cả đôi đũa, còn hai chén cúng ma cũ, mỗi chén chỉ một chiếc đũa mà thôi. Có vậy, ma mới (là ông, bà, … của gia chủ) mới ăn kịp…! Khi di quan, tục rải vàng mã cũng là để ma cũ có cái mà xài, không níu kéo quan tài người mới chết lại! Nghĩa phát sinh của thành ngữ này thì không dừng ở đó, nó còn dùng để ám chỉ cảnh “người cũ ăn hiếp người mới” trong cùng một cơ quan, đơn vị, … 
 
Ma bắt coi mặt người ta: tương tự như câu trên, nó có hai nét nghĩa: ma chỉ có thể “bắt” người sợ nó, còn ai “mạnh” hơn, nó cũng khôn mà dùng cách “tránh voi chẳng xấu mặt nào!”, hàm ý có lẽ còn dùng để nói đến những mối quan hệ giữa người với người trong một tập thể, cộng đồng, chỉ có điều là người tốt hay người xấu mà thôi! 
 
Liên quan đến tập tục ngày trước, dân gian có câu ma quàn, cưới chịu để miêu tả những người có gia cảnh khó khăn, túng thiếu, khi người thân chết không có tiền mổ bò, làm heo đãi dân làng, đành nhờ một vài người thân khiêng xác người chết đi chôn, như vậy gọi là ma quàn, … 
 
Để chỉ cảnh hoang vu, mông quạnh người ta nói nơi ấy là chốn ma thiêng nước độc, có khi đưa cả địa danh vào một cách hẳn hoi: Cọp Khánh Hòa ma Bình Thuận, đồng bằng Nam Bộ ngày đầu khẩn hoang ai mà chẳng thuộc câu: Chèo ghe sợ sấu cắn chưng chân/ Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma, … 
 
Dùng phê phán hạng người hay đàng điếm, không đứng đắn có thành ngữ ma chê quỷ chọc, nhắc nhở con người phải biết thích nghi cho đúng lúc, hay chê tính “ba phải” a dua cũng được, dân gian nói: Đi với Bụt mặc áo cà sa đi với ma mặc áo giấy! 
 
Xã hội ngày trước có những người chuyên làm nghề trừ tà yểm quỷ, ở trên chúng tôi đã nhắc đến chuyện thầy pháp sợ… ma trơi! Trong ca dao, dân gian dùng “ma” để cảnh báo chuyện trái khoáy trong đời. Bởi đó, như là điều hiển nhiên: Nhiều thầy lắm ma, nhiều cha con khó lấy chồng. Hình ảnh những tay pháp sư, bói ra ma quét nhà ra rác, xuất hiện trong tiếng cười mỉa mai: 
 
Sống thì thầy cứu người ta
Đến khi thầy ốm chẳng ma cứu thầy
 
Thế là một bài học được đưa ra kịp thời: 
 
Ốm đau chạy chữa thuốc thang
Đừng đi coi bói mua vàng cúng ma
Trời cao bể rộng bao la
Việc gì mà phải cầu ma cầu tà.
 
Với nét nghĩa dùng ma để chỉ một đối tượng nào đó được nhắc đến, bằng giọng điệu cười cợt châm biếm, ta gặp những hình ảnh của kẻ “ăn không ngồi rồi” chờ… hưởng thụ, cuối cùng không được như ý, người trong cuộc bật thành tiếng: 
 
Bực mình chẳng muốn nói ra
Muốn đi ăn cỗ giỗ chẳng ma nào mời
 
Chân tướng của người vô tích sự:
 
Đi đâu lả cả là cà
Như chim lạc tổ như ma lạc mồ 
 
Kẻ cầm quyền trị dân hay đi đêm thì có khác gì là người của thế giới cõi âm: 
 
Ban ngày quan lớn như thần
Ban đêm quan lớn tần mần như ma 
 
Không chỉ có cường quyền áp bức bị lên án, nhân dân lao động sẵn sàng vạch mặt chỉ tên những kẻ “miệng nam mô mà bụng một bồ dao găm”, loài quỷ ma mặc áo cà sa che mắt thế gian: 
 
No ra bụt đói ra ma
Đó là cái thói người ta thường tình
Tưởng là chùa rách Phật vàng
Hay đâu chùa rách chứa đàn quỷ ma
 
Lên án kẻ quỷ quyệt, lừa phỉnh, còn đó lời thơ:
 
Cái cân có quỷ có ma
Gạo vào một lối, gạo ra một đường
Thẻ tôi ba mươi sáu ký rõ ràng
Về nhà khảo lại chỉ còn ba mươi 
 
Đọc câu ca trên hẳn trong mỗi chúng ta đều nhớ đến câu chuyện cổ tích về Cái cân thủy ngân ma quái của hai vợ chồng xảo quyệt nọ! Tất nhiên cái giá mà họ phải trả cho việc làm bất chính kia cũng không phải nhỏ chút nào! 
 
Tiếng lòng của người bình dân cất lên trên cánh đồng, thửa ruộng, than cho hoàn cảnh của mình: 
 
Có con mà gả chồng xa
Ba phần ruộng xéo chẳng ma nào cày
 
Bởi có chồng thì phải theo chồng, bao đời nay vẫn thế, người phụ nữ biện bạch: Sống quê cha, ma quê chồng, biết làm sao khác hơn được. 
 
Ma được xem là đối tượng của thế giới bên kia, như trong câu ca: 
 
Chính chuyên chết cũng ra ma
Lẳng lơ chết cũng khiêng ra ngoài đồng 
 
Từ sự chê trách phường mặt người dạ ma, đến cách so sánh để cho người đời thấy được nổi khổ của chuyện không hòa hợp mà ai đó chẳng may gặp phải: 
 
Chồng già vợ trẻ như hoa
Vợ già, chồng trẻ như ma lạc mồ 
 
Hay: 
 
Khốn nạn thay nhạn ở với ruồi
Tiên ở với cú, người cười với ma
Thân anh như ngọc như ngà
Vợ anh ở nhà như thể ma trơi, …
Đừng về với nó anh ơi!
Vợ anh nửa người mà lại nửa ma 
Linh hồn ma quỷ "chết trôi" trong văn hóa Nhật Bản - Ảnh 5.
 
2. Ma quỷ trong văn học trung đại 
 
Nói đến ma quỷ trong văn học Việt Nam trung đại chúng ta nghĩ ngay đến thể loại truyền kỳ. Truyền kỳ là một loại truyện ngắn, có nguồn gốc từ Trung Hoa, dùng yếu tố kỳ ảo làm phương thức nghệ thuật để phản ánh cuộc sống. Các motif kỳ ảo thường gặp trong truyền kỳ là nằm mộng đi xuống âm phủ, người lấy ma, người lấy tiên, hàng phục yêu quái, luân hồi báo ứng, tu luyện thành tiên, thi thố pháp thuật, kêu mưa gọi gió, biến hóa khôn lường, … 
 
Ở Việt Nam thời trung đại, thể loại này để lại nhiều tác phẩm nổi tiếng: Thánh Tông di cảo, (tương truyền của Lê Thánh Tông, thế kỷ XV); Công Dư tiệp ký (Vũ Phương Đề, thế kỷ XVI); Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm, thế kỷ XVIII); Tân truyền kỳ lục (Phạm Quý Thích, thế kỷ XIX); … 
 
Với hàng trăm truyện có sự tham gia của các yếu tố kỳ quái, hoang đường, … một số tiêu đề có thể kể đến: Chuyện Chức Phán sự đền Tản Viên, Chuyện yêu quái ở Xương Giang; Chuyện tướng Dạ Xoa (Truyền kỳ mạn lục – Nguyễn Dữ); Dì ghẻ bị quả báo; Khách chôn của (Nam thiên trân dị tập – Khuyết danh); Ma trành; Ma thắt cổ; Hài cốt nữ hiệp dưới gốc hồng mai (Vân nang tiểu sử - Phạm Đình Dục); Biết chuyện kiếp trước (Thoái thực ký văn – Trương Quốc Dụng); Thác oan (Vũ trung tùy bút – Phạm Đình Hổ); Kim quy hiến kế giết yêu tinh; Liệt nữ giấu kín vết nhơ, … (Tân đính Lĩnh Nam chích quái – Gia Cát thị); Điềm báo trước; Nhớ được ba kiếp; Yêu quái trên cây; Đánh nhau với quỷ, … (Lan Trì kiến văn lục – Vũ Trinh, thế kỷ XIX); … 
 
Để minh chứng, chúng tôi dẫn lại lời ở cuối Chuyện cây gạo (Truyền kỳ mạn lục), Nguyễn Dữ nhận xét: Than ôi, cái giống ma quỷ, tuy từ xưa không phải cái nạn đáng lo cho người thiên hạ, được kẻ thất phu đa dục thì thường khi mắc phải. Trung Ngộ là một gã lái buôn không có trí thức, không đủ trách vậy. Vị đạo nhân kia vì người trừ hại, công đức lớn lao; nhà bình luận sau này phải nên biết đến. Không nên lấy cớ huyễn thuật mà cho là chuyện nhảm, bảo rằng dị đoan mà dìm mất cái hay, ngõ hầu mới hợp cái ý nghĩa “người quân tử trung hậu đối với người khác”. 
 
Riêng người viết bài này thì cho rằng: thông qua chuyện nói về ma nhưng kỳ thực đó là chuyện con người. Ma làm sao có được những hành động và lời nói như trong truyện. Nếu người ta mà như nàng Nhị Khanh thì có khác gì là ma quỷ! Thật đúng như nhận định: Truyền kỳ Việt Nam mang đậm yếu tố hiện thực và chất nhân văn. (trang 80, Ngữ Văn 10, tập 2, Trần Đình Sử tổng chủ biên) 
 
Bên cạnh truyện truyền kỳ, các truyện thơ Nôm cả bình dân lẫn bác học, yếu tố ma quái, thần kỳ cũng không ít lần góp mặt. Trong truyện thơ Phạm Công, Cúc Hoa, hình ảnh hồn ma bóng quế của Cúc Hoa hiện về chăm sóc cho Nghi Xuân, Tấn Lực, rồi chỉ đường cho hai con đi tìm cha và ngoại đã gây xúc động qua biết bao thế hệ độc giả, … Truyện thơ Nôm Bạch Viên Tôn Các dù không phải là chuyện ma quái nhưng nó cũng không kém phần ly kỳ bởi Bạch viên cởi bỏ lốt vượn, hóa thành thiếu nữ xinh đẹp, để kết duyên cùng chàng Nho sinh Tôn Các, sinh được hai con trai. Nhưng Bạch viên phải tuân lệnh Thiên đình, mãn số ở trần gian, từ giã chồng con về cõi tiên, …  
 
Kiệt tác Đoạn trường tân thanh, Tố Như đã xây dựng nhân vật Đạm Tiên bằng hình ảnh: 
 
Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chồng 
 
Bóng ma ấy luôn ám ảnh Thúy Kiều, kể từ khi cả hai hội ngộ ở bãi tha ma cho đến khi nàng thoát khỏi kiếp đoạn trường. 
 
Đào Duy Anh trong Từ điển truyện Kiều viết: theo tín ngưỡng xưa, hồn người chết vẫn còn trên thế gian này gọi là ma, nếu không được thờ cúng thì hay quấy phá người sống. Ông giải thích thêm: Theo Phật giáo, người có tình dục là theo ác ma xúi giục bắt đi theo những con đường nguy hiểm. 
 
Ma đưa lối quỷ đưa đường
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi 
 
Có trường hợp dùng trong tổ hợp từ đặc biệt để diễn tả sự… mất mát, Tú Bà thốt lên: 
 
Màu hồ đã mất đi rồi
Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma 
 
Đến Văn tế thập loại chúng sinh, ma được hiểu là những cô hồn oan thác, … cần có nơi nương tựa, cần được bao dung: 
 
Thương thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người 
 
Đó là những con người bạc mệnh, bất hạnh: 
 
Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan 
 
Và kết thúc trong ước nguyện siêu thoát về cùng với đất Phật 
 
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ? 
 
Bản dịch Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đoàn Thị Điểm cũng thấp thoáng … bóng ma: 
 
Hồn sĩ tử gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi 
 
Công chúa Ngọc Hân khi khóc vua Quang Trung đã nguyện để “hồn phách” theo cùng chồng: 
 
Vậy nên nấn ná đòi khi,
Hình tuy còn ở, phách thì đã theo
(Ai Tư Vãn) 
Bí ẩn thuyết ma quỷ,lý do không nên huýt sáo khi đêm - Báo Gia Lai điện tử  - Tin nhanh - Chính xác
 
Thế kỷ XIX, ở Nam Bộ, cụ Đồ Chiểu trong tác phẩm Lục Vân Tiên, ngoài việc xây dựng các nhân vật thầy bói, thầy pháp trổ tài ba hoa để lừa lấy sạch bạc tiền của công tử họ Lục, khi chàng từ trường thi hồi quê và khóc thương mẹ đến mù lòa, nhà thơ còn trực tiếp viết những dòng thơ với nội dung tả cách trừ khử phép thuật của binh hùng Cốt Đột, gần cuối tác phẩm đó: 
 
Một mình nhắm trận xông vô
Thấy người Cốt Ðột biến đồ yêu ma
Vội vàng trở ngựa lui ra
Truyền đem máu chó đều thoa ngọn cờ
Ba quân gươm giáo đều giơ
Yêu ma xem thấy một giờ vỡ tan 
 
Tuồng cổ San Hậu gây ấn tượng cho người xem từ những năm giữa thế kỷ XIX đến tận thời hiện đại. Đáng chú ý hơn là việc tác giả xây dựng hình tượng của bóng ma Khương Linh Tá, khi bị Tạ Ôn Đình chém đầu rơi khỏi cổ, đã hiện hồn về làm ngọn đuốc soi đường để Kim Lân ẵm ấu chúa vượt vòng vây Tạ tặc về đến San Hậu thành bình an, … 
 
Về câu đối trong văn học Việt Nam trung đại, chúng tôi giới thiệu câu đối liên quan đến từ “quỷ”. Khi Mạc Đĩnh Chi vâng lệnh vua Trần đi sứ sang Bắc quốc, thấy ông mồm rộng, mũi tẹt, trán dồ, người Nguyên tiếp sứ bộ ta bằng giọng khinh bỉ với vế xuất: Ly, Mỵ, Võng, Lưỡng tứ tiểu quỷ (Các chữ ly , mỵ ; võng ; lưỡng  là bốn con quỷ nhỏ. Bốn chữ này đều có bộ quỷ ).
 
Câu đối còn hàm ý mỉa mai dáng mạo của Trạng Nguyên nước Việt.
 
Không chờ lâu, Mạc Đỉnh Chi đối lại ngay: Cầm , sắt , tỳ , bà , bát đại vương. 
 
Có tám chữ vương  lớn ở trên và cũng là ba loại nhạc khí cổ. Hàm ý còn bật lên từ chỗ các người coi ta là tiểu quỷ nhưng ta lại chính là đại vương đấy! Thật là ăn miếng trả miếng, chữ chọi tuyệt vời. 
 
Hồ Xuân Hương, ngoài tài năng thơ ca, bà còn trổ tài viết câu đối:
 
Tối Ba Mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại kẻo ma vương bồng quỷ tới;
Sáng Mồng Một Tết, lỏng then tạo hóa, mở toang ra cho thiếu nữ bế xuân vào. 
 
Một câu đối khác không dùng từ ma, tiếng quỷ nhưng lại liên quan đến tục trừ ma quỷ. Ngày cuối năm, vào thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Tú Xương hạ bút: 
 
Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi 
 
Hình ảnh bôi vôi miêu tả tục lệ ngày xưa, khi tết đến, xuân về, người ta thường rắc vôi bột trước nhà, ngoài sân thành hình cánh cung, cái nỏ, giáo mác, … để chống ma quỷ! Gắn liền với tục này là câu chuyện “Sự tích cây nêu ngày Tết” đã kể ở trên. 
 
Điểm như vậy mới thấy hồn ma của Cúc Hoa, hồn ma của Khương Linh Tá, … hiện về làm những việc nhân nghĩa và trung liệt. Hồn ma trong Văn chiêu hồn thật đáng xót thương, nó chẳng hại ai lại cần được con người cảm thông, chia sẻ, … Có lẽ chiều sâu của văn hóa Việt Nam là sự bao dung, lòng vị tha, nhân hậu, … Điều đó biểu hiện ngay cả trong hình tượng của ma quỷ – loài mà trong tâm thức nhiều người chỉ toàn kẻ ác độc. 
 
3. Ma quỷ trong văn học hiện đại 
 
3a. Ma quỷ trong văn học từ đầu thế kỷ XX đến 1945 
 
Chúng tôi theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử văn học Việt Nam, cho rằng văn học Việt Nam hiện đại bắt đầu từ đầu thế kỷ XX đến nay. Trong văn học hiện đại Việt Nam lúc manh nha, “ma” đã xuất hiện trong cả các tác phẩm trong Nam lẫn ngoài Bắc. “Ma” thỉnh thoảng “ghé thăm” trong các bộ tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, của Nguyễn Bửu Mọc, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, …

Namhaidinhan

 
Khi nó đến yếu tố thần kỳ, không thể không nhắc đến Phan Kế Bính với Nam Hải Dị nhân. Nhưng nói ma với đúng nghĩa mà đề tài bài viết đặt ra thì ký ức của nhà biên khảo Vương Hồng Sển trong Sài gòn năm xưa không thể không trích dẫn: 
 
Sau trận giặc 1782, theo Trịnh Hoài Đức thuật lại, số binh sĩ và thường dân Tàu bị chết đâm chết lụi kể trên số muôn, thậm chí thây ma lớp nằm chật đất, ngổn ngang từ vàm Bến Nghé đến tận kinh Chợ Lớn, lớp khác bị chuồi xuống nước, xác ma da, thằng chỗng kẹo lềnh một khúc sông, làm cho ngót ba bốn tháng trường, dân nghe nhắc mà ớn xương sống không dám rớ đến miếng xương thịt cá! 
 
Ở một đoạn khác, cụ Vương viết về hình ảnh của danh tướng Lê Văn Duyệt:
 
(…) Cứ ngày Mồng Sáu tháng Giêng, thì Tả quân làm lễ “xuất binh”(muốn gọi “ra binh”, “hành binh” đều được). (…) Lễ này diễn ra để thị oai với các nước lân bang (Cao Miên, Xiêm La…) vừa để võ an dân tâm, vì thuở ấy dân tình chất phác vẫn tin tưởng quỷ thần và hiểu rằng đầu năm có diễn oai lực binh quân làm vậy thì trong xứ suốt năm dân sẽ được bình an vô bịnh, bởi tà ma quỷ mỵ đều khiếp sợ oai võ của Tả quân. 
 
Quá trình hiện đại hóa, văn học Việt Nam phát triển với tốc độ “một năm ở xứ ta bằng ba mươi năm xứ người” (ý của Vũ Ngọc Phan), từ những năm 1930 – 1945 văn học Việt Nam phân hóa thành nhiều xu hướng: văn học lãng mạn với phong trào Thơ Mới và nhóm Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, xu hướng văn học hiện thực, xu hướng văn học cách mạng. 
 
Nói đến ma trong Thơ Mới, người đọc không lạ các thi phẩm: Trút linh hồn; Say chết đêm nay (Hàn Mạc Tử); Sọ người (Bích Khê); Đêm đông xem truyện quỷ; Nửa truyện Hồ ly (Vũ Hoàng Chương); Rằm tháng bảy; Đám ma (Anh Thơ); Đưa ma; Đám chết nghèo (Tế Hanh); Chiều mưa trên mộ địa (Phan Văn Dật); Đám ma đi (Lan Sơn); v.v… 
 
Sẽ là thiếu xót nếu không dừng lại với thơ của Đinh Hùng. Nhà thơ sinh năm 1920 mất 1967, quê ở Hà Tây này tạo dấu ấn riêng của mình trong phong trào Thơ Mới bằng cách dùng những hồn ma để biểu đạt tâm cảm: 
 
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm đáy mộ sâu
(…)
Ta gởi bài thơ cho anh linh
Hỡi người trong mộ có rùng mình
Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
Bộ ngực bi thương vẫn gợn tình
(Gửi Người Dưới Mộ) 
 
Ở Tìm bóng tử thần, nhà thơ bộc bạch: 
 
Trời ơi! Đây nguyệt vô biên
Trong lòng người đẹp nằm quên dưới mồ
Ta cười trong suốt trang thơ
Gặp hồn em đó ngỡ là yêu ma 
 
Đúng là giữa hư và thật, giữa người và ma, dường như ở ngòi bút Đinh Hùng không còn là ranh giới nữa. 
 
Thương ôi! Thơ lạc hồn phong nhã
Ta đi gọi bóng ma sầu trong núi hoang vu,
(Thoát Duyên Trần Cấu) 
 
Gần như bài thơ nào của tác giả này viết trong thời kỳ của Thơ Mới đều có bóng của yêu ma, quỷ quái, … Những bài thơ Lạc hồn ca; Cầu hồn; hay Mê hồn ca, …, là minh chứng xác thực. 
 
Trường hợp của Chế Lan Viên với những bóng ma Hời luôn ám ảnh trong tập Điêu tàn cũng xứng đáng được chọn làm điển hình cho nội dung bài viết. Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh cho rằng: “Điêu tàn dựng lên một thế giới đầy sọ người cùng xương máu và yêu ma”. 
 
Rồi lấy ra một khớp xương rợn trắng
Nút bao dòng huyết đẫm khí tanh hôi 
 
Nơi khác, chàng trai khi ấy mới 17 tuổi đã kêu lên: Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.  Đến Cái sọ người vẫn là hình tượng rợn người: 
 
Mi nhớ đến cảnh pháp trường ghê rợn
Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?
Hay mi nhớ những đêm mơ rùng rợn
Hồn mi bay trong đám lửa ma trơi? 
 
Đến đây, một lần nữa chúng tôi mượn lời của Hoài Thanh thay phần tiểu kết về chuyện ma quỷ trong Thơ Mới: Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ XX, nó (tức ma quỷ - người viết mượn để diễn ý) đứng sừng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật. 
 
Chuyện ma quái hấp dẫn nhất trên các trang nhật báo lúc bấy giờ là tác phẩm của những cây bút chuyên viết truyện đường rừng: Thế Lữ, Lan Khai, Tchuya (Đái Đức Tuấn), và “yêu ngôn” của Nguyễn Tuân, … Qua các truyện ngắn, tiểu thuyết cùng thời, chúng ta nhận ra khá nhiều tác phẩm có hình ảnh của ma quỷ, chí ít cũng là sử dụng tiếng ấy trong lời trần thuật hay phát ngôn của nhân vật. 
 
Thế Lữ, ngoài một nhà thơ mới trứ danh, góp phần khẳng định vị thế của Thơ Mới,  ông còn là tác giả của gần 40 truyện vừa, truyện ngắn khác. Truyện kinh dị có: Vàng và máu, Bên đường Thiên Lôi, truyện trinh thám: Lê Phong và Mai Hương, Gói thuốc lá, Đòn hẹn, Tay đại bợm..., và truyện lãng mạn núi rừng với Gió trăng ngàn, Trại Bồ Tùng Linh. 
 
 
Tập Vàng và máu (1934), với Vàng và máu; Một đêm trăng; Con châu chấu tre; Ma xuống thang gác, được đánh giá cao ở lối kể chuyện hấp dẫn, li kỳ, gây tò mò và xúc động cho độc giả, xây dựng giản dị, có kết giải, lối văn gọn gàng, thanh thoát, trí tưởng tượng và khiếu phân tích phong phú, những đoạn tả cảnh vừa tỷ mỉ lại rùng rợn mà có thi vị là tác phẩm tiêu biểu và thành công nhất của ông ở thể loại kinh dị, đã trở thành một hiện tượng mới lạ ngay từ khi ra đời và để lại dư âm đến nhiều năm sau. Phan Trọng Thưởng đánh giá Thế Lữ là "tác giả đạt đến đỉnh cao nghệ thuật" của loại truyện ly kỳ rùng rợn, Lê Huy Oanh gọi đây là "một trong những tác phẩm thuộc loại truyện rùng rợn có giá trị lớn trong kho tàng tiểu thuyết Việt Nam". 
 
Trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam trước Cách mạng, Lan Khai được xem là một cây bút sung mãn, một nhà văn "đường rừng" sáng giá. Tác phẩm có Tiếng gọi của rừng thẳm (1939); Suối đàn (1941); Truyện đường rừng (tập truyện, 1940) ... Từ điển Văn học (bộ mới) nhận định: Ở mảng truyện đường rừng, Lan Khai thường miêu tả rất kỹ, nhiều khi rề rà…, rồi sau đó mới để cho các sự kiện xảy ra, tạo cho tác phẩm một không khí hoang đường, căng thẳng từ đầu đến cuối. 
 
Một nhà văn nữa chuyên viết về ma quỷ là Tchya - Đái Đức Tuấn. Tác phẩm tiêu biểu: Thần hổ (1937); Linh hồn hay xác thịt (1938); Kho vàng Sầm Sơn (1940); Ai hát giữa rừng khuya (1942). 
 
 
Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, cho rằng: Cái giống ma ở hai tập tiểu thuyết thần quái của Tchya là ma trành và cái loại thần trong đó là thần Hổ, những con hổ đã ăn thịt hơn trăm người, trong tai nổi lên hơn trăm tia máu đỏ, nghe được ngàn dặm, và nếu có chạm mình vào lá cũng không quên. Vị thần Hổ đây là con hổ xám, hổ vàng, và khi họp hội đồng cơ mật dưới gốc một đại thụ, vị thần Hổ thường trút bỏ bộ lông trắng, biến thành một ông già đầu râu tóc bạc đường bệ. Bị hổ vồ là có số, những kẻ bị giống mãnh thú ấy xơi đã có tên trong quyển sổ do thần Hổ giữ. Thật là một sự định mệnh, không sao trốn thoát được. (...) Bọn ma Trành phải hầu hạ Thần Hổ rất là khổ sở, cho nên muốn có kẻ thế chân mình bọn họ phải dun dủi những kẻ có số bị bổ vồ vào nanh vuốt thần Hổ để họ được sống cái đời ma độc lập, gần gụi với gia đình, với họ mạc. Peng Slao trong Thần Hổ chính là một cô ma trành, sau thoát được sự hầu hạ thần Hổ.
 
Và Vũ Ngọc Phan trích dẫn từ văn bản của Tchya: Em chết dưới vuốt nhọn của thần Hổ xám. Rồi em hóa ra Ma trành. Anh có biết thế nào là Ma trành ? Ma trành là những thứ ma bất đắc kỳ tử, hoặc bị hổ ăn, hoặc bị dìm đuối hoặc vì thắt cổ, hoặc vì bị chẹt xe, vân vân. Những thứ ma đều bị nhốt vào vòng oan nghiệt. Cái nghiệt trường của họ xui ra vậy. Chết như thế thì linh hồn vất vưởng bị đầy đọa không đi đầu thai được mà không được tự do. Muốn thoát khỏi vòng kìm hãm, cũng phải tìm kẻ thế cho mình. Nếu không thì mãi mãi, mình sẽ phải làm ma trành, đói khát, khổ sở. 
 
Đến đây, người viết cảm thấy có lỗi khi chưa đề cập đến tác phẩm Chùa Đàn của Nguyễn Tuân. Chùa Đàn là truyện ma quỉ được viết vào năm 1945, một số nhà phê bình coi như tác phẩm đặc sắc nhất, có thể nói đã đạt tới tột đỉnh của nghệ thuật cũng Nguyễn. Tóm tắt câu chuyện như sau: Tại ấp (đồn điền) Mê Thảo, chủ ấp là Lãnh Út còn trẻ, vợ bị chết trong một tai nạn xe lửa. Quá đau buồn trước cái chết của vợ, Lãnh Út đâm thù oán cơ khí, máy móc, bỏ cả công việc làm ăn, uống rượu sáng đêm và ngày càng gàn dở.
 
Mọi công việc trong ấp bấy giờ do Bá Nhỡ quán xuyến. Bá chịu ơn Lãnh Út nên hết sức trung thành, nhờ vậy mà ấp Mê Thảo mới tồn tại. Bá có tài đàn, bữa rượu nào của Lãnh Út cũng có Bá ngồi hầu, bình văn, ngâm thơ, dịch tích Tây Hán, Đông Chu, …
 
Ngày giỗ vợ, Lãnh khóc, cho đào cả tửu phần lên uống. Sau ngày ấy, Lãnh càng thê thảm, ngày đêm ngôi như nhà sư nhập định. Bỏ rượu cả năm, rồi trong đêm mưa, Lãnh Út lại đòi rượu và nhớ đàn hát. Lãnh sai Bá Nhỡ đi tìm cô Tơ – một danh ca, mời cô về để vui say. Từ ngày ông Chánh Thủ chồng cô mất, cô Tơ đã giải nghệ. Cô không nhận lời với cớ là không có người đàn cho xứng. Bá dạo đàn cho cô nghe, cô Tơ khâm phục và nói thật cô đã thề với Tổ bỏ ca hát, hơn nữa ai cầm đến cây đàn đáy của chồng cô sẽ gặp tai biến hay vong mạng. Đàn làm bằng nắp ván quan tài của cô gái đồng trinh, có yểm bùa gì đấy. Bá Nhỡ đòi xem đàn, nhưng khi đến gần thì có tiếng nổ, dây đàn đứt.
Linh hồn ma quỷ "chết trôi" trong văn hóa Nhật Bản - Ảnh 7.
 
Về nhà trằn trọc mãi, Bá đến xin cô Tơ cho được đánh đàn và chịu mọi oan khiên. Cậu Lãnh Út cũng đến để cầm chầu. Bá đàn, cô Tơ hát nghe nhức nhối, ngậm ngùi. Bá nhận ra mình đang chết dần, mười đầu ngón tay chảy máu, quần áo dài đỏ như vóc đai hồng, mỗi tiếng đàn là một miếng thịt nẩy ra. Bỗng đàn đứt, có tiếng cười trên bàn thờ Chánh Thủ. Bá Nhỡ gục xuống đàn lạnh ngắt, cô Tơ òa khóc, đỡ xác và vuốt mắt cho Bá. Chiếc đàn nổ tung. Lãnh Út ngủ ngồi cạnh xác đến sáng hôm sau, Lãnh đưa thi thể Bá về Mê Thảo. Chôn cất Bá Nhỡ xong, Lãnh Út thề bỏ rượu, bỏ đàn hát.
 
Một năm sau, chùa Đàn mọc lên ở ấp, cô Tơ lo kệ kinh. Lãnh Út bán ấp nhưng giữ lại hai mẫu nơi dựng chùa. 
 
Để tránh lan man, dài dòng chúng tôi mượn lời của nhà giáo Hoàng Như Mai nhận xét về Chùa Đàn, rằng: “. . . Tất nhiên, Chùa Đàn là một hiện tượng độc đáo và phức tạp. Đọc Chùa Đàn phải thấy Lãnh Út,. . . Bá Nhỡ hay Cô Tơ, những nhân vật tài hoa nghệ sĩ ấy, tất cả đều là Nguyễn Tuân”
 
Để lý giải vì sao Nguyễn Tuân đến với… ma quỷ, chúng tôi dẫn lời của Nguyễn Đăng Mạnh khi nhận xét về tập Yêu ngôn của Nguyễn Tuân, do ông tuyển chọn, để lý giải và cũng để kết thúc phần ma trong văn học lãng mạn Việt Nam trước 1945: “Nguyễn Tuân tìm vào thế giới yêu ma có lẽ còn do một yêu cầu khác. Con người này luôn thèm khát những cảm giác mới lạ và mãnh liệt.... những cảm giác ấy, Nguyễn Tuân không thể tìm được trong cái môi trường vẫn vây bọc lấy ông trong cuộc sống hàng ngày mà ông chỉ thấy là lèm nhèm, lẹt đẹt và xám xịt”. 
 
Dòng văn học hiện thực Việt Nam, tuy không dựng cốt truyện hay nhân vật ma quái, nhưng Vũ Trọng trong Bộ răng vàng, Bà lão lòa, … đều dùng những tiếng ma quỷ để trần thuật. Chúng ta không thể quên được chân dung của Thị Nở (Chí Phèo) khi Nam Cao so sánh ngoại hình của thị với thành ngữ quen thuộc ma chê quỷ hờn, ở nhiều truyện ngắn khác, từ ma, ma quỷ, …, cũng rất hay xuất hiện trong lời văn miêu tả của nhà văn này. Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, … đều không dưới một vài lần dùng ma quỷ để ám chỉ tính cách con người, … 
 
3b. Ma quỷ trong văn học 1945 – 1975 
 
Một trong những đặc điểm cơ bản của văn học 1945 – 1975 là Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. 
 
Khuynh hướng sử thi đòi hỏi người cầm bút nhìn con người và cuộc đời không chỉ bằng con mắt của cá nhân mình mà chủ yếu bằng con mắt có tầm bao quát của lịch sử, dân tộc và thời đại. Cảm hứng lãng mạn là cảm hứng khẳng định cái tôi đầy tình cảm, cảm xúc và hướng tới lí tưởng. Cảm hường lãng mạn trong văn học từ năm 1945 - 1975 chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. 
 
Chính vì thế, yếu tố ma quỷ được dùng để nói đến tập tục trong dân gian, hay chỉ người… chết, thế thôi. 
 
Trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài ta gặp hình ảnh “cúng ma”, đấy là tập tục của đồng bào dân tộc Mông. Cha con thống lý Pá Tra lợi dụng vào đó để trói buộc những người nghèo buộc họ làm nô lệ suốt đời cho nhà nó. 
 
 
Kim Lân miêu tả nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu trong Vợ nhặt như sau: Những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp liều chợ. Người chết như ngả rạ. Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây ma nằm còng queo bên đường. Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người. 
 
Ông già Nam Bộ Sơn Nam cũng để lại ấn tượng đặc biệt khi viết về những hồn ma bị sấu ăn thịt trong tập truyện Hương rừng Cà Mau. Hãy đọc lại lời khấn của nhân vật Năm Hên cầu cho oan hồn siêu thoát, khi chuẩn bị ra tay bắt sấu dữ: 
 
Hồn ở đâu đây?
Hồn ơi! Hồn hỡi!
Xa cây xa cối,
Xa cội xa nhành,
 
Ðầu bãi cuối gành,
Hùm tha, sấu bắt,
Bởi vì thắt ngặt,
Manh áo chén cơm,
 
U Minh đỏ ngòm,
Rừng tràm xanh biếc!
Ta thương ta tiếc,
Lập đàn giải oan... 
 
Tiếng như khóc lóc, nài nỉ. Tiếng như phẫn nộ, bi ai. Ghê rợn nhứt là khi thấy ông đi ra khỏi mé rừng, áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay. 
 
Ma cũng gần như vắng bóng trong thơ ca Cách mạng, có chăng cũng chỉ là hình ảnh liên quan đến cái chết, với chức năng gợi lên tình yêu thương hoặc lòng căm thù giặc sâu sắc:
 
Mới đến đầu ao tin sét đánh
Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
(Núi đôi – Vũ Cao) 
 
Hay: 
 
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có phần xương thịt của em tôi
(Quê Hương – Giang Nam) 
 
Tóm lại, trong dòng văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn yếu tố ma quỷ có xuất hiện trong các tác phẩm, nhưng không nhiều. Chủ yếu nó được các nhà văn, nhà thơ dùng làm phương tiện để đối sánh với bản chất xấu xa trong con người (thường dùng để xây dựng chân dung các nhân vật phản diện) mà thôi! Truyện kỳ quái, huyền ảo, hay những câu thơ đầy xác, máu, sọ người, … dường như không xuất hiện trên văn đàn chính thống. 
 
3c. Ma quỷ trong văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới 
 
Sẽ thiếu sót nếu đã đề cập văn học Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ các tác phẩm rất ít khi nói đến chuyện tâm linh, ma quỷ, thì ở văn học thời đổi mới, con người tâm linh là một trong số các biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người. 
 
Ngoài những tác phẩm như Mảnh đất lắm người nhiều ma được Nguyễn Khắc Trường ẩn dụ chỉ những việc làm xấu xa, những “lệ làng” kỳ quái do những con người đội lốt ma quỷ gây ra, thì Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Nguyễn Minh Châu đã để cho nhân vật Quỳ tự nói thầm với anh linh các tử sĩ, … 
 
Phan Đức Thuận có truyện ngắn Quỷ sống cũng chứa đựng nhiều tình tiết ly kỳ. Ma quỷ là từ phổ biến trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, …. nhưng có lẽ gây tiếng vang mạnh mẽ trong thời gian qua là Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, … 
 
Vấn đề này rất phức tạp và còn nhiều luồng ý kiến trái chiều, chúng tôi hy vọng sẽ đề cập sâu hơn ở dịp khác. 
 
Linh hồn ma quỷ "chết trôi" trong văn hóa Nhật Bản - Ảnh 6.
 
3. Kết luận 
 
Chưa biết trong thực tế ra sao, ma có thật hay không? Nhưng trong văn học, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, gần ta nhất là Trung Quốc với những bộ tiểu thuyết ma quái, thần kỳ đã trở thành kiệt tác, mẫu mực: Tây du ký (Ngô Thừa Ân), Liêu trai chí dị (Bồ Tùng Linh), …
 
Ma quỷ hiện hữu trong đời sống tâm linh của con người. Chừng nào còn những hiện tượng kỳ bí trong đời sống mà con người chưa thể giải thích được, chừng ấy sẽ còn … ma quỷ! Văn học là tiếng nói từ trái tim tình cảm, là nơi bộc lộ cảm xúc, … như vậy văn học và ma quỷ có điểm tương đồng, và tất nhiên là nó “tựa vào nhau” cùng tồn tại, phát triển. 
 
Người ta xếp Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò để thấy rằng ma còn tinh nghịch, phiền phức, rắc rối hơn cả học trò nhưng chưa thấy chứng cớ nào về sự tinh nghịch của ma hơn sự tinh nghịch của con người. 
 
Chỉ có con người là có khả năng biến thành quỷ dữ để giết con người chứ không có quỷ biến thành Phật để diệt quỷ. Chỉ có con người là tạo ra ma để dọa con người nhưng chưa thấy ma tạo ra con người để dọa ma. 
 
Trong văn mạch ấy, xin được kết thúc bằng câu chuyện trong Cổ học tinh hoa của Trung Quốc vừa để hầu mong bạn đọc gần xa xem như đó là tâm tư của tác giả bài viết này, vừa để chúng ta cùng nhìn thấy sự tương đồng trong văn học nói riêng và văn hóa nói chung giữa các dân tộc trên thế giới: 
 
Ma nói chuyện
 
Có người trốn tránh quân thù nghịch, đi ẩn núp ở chốn núi thẳm hang cùng.
Một đêm, gió mát trăng thanh, người ấy bỗng thấy con ma vẩn vơ, quanh quẩn dưới gốc cây dương liễu, sợ quá anh ta nằm phục xuống, không dám trở dậy. Ma thấy thế, nó đến tận nơi, bảo:
- Sao không ra đây mà chơi?
Người kia run rẩy trả lời: Thưa, con sợ lắm!
Ma nói: Sao anh gàn thế! Việc chi mà sợ! Kể ra nếu đáng sợ thì chỉ có giống người mới đáng sợ hơn cả. Anh nghĩ lại xem, vì ai mà anh đảo điên cơ cực thế này! Vì đồng loại của anh hay vì tôi? Vì người hay vì ma?
Ma nói xong, cười rồi biến mất. 
 
Trần Minh Thương
 
Tài liệu tham khảo:
 
1. Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989.
2. Phan Kế Bính, Nam hải dị nhân, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, 1988.
3. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên), Truyện truyền kỳ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999
4. Lê Văn Đức, Việt Nam tự điển, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1970
5. Đỗ Đức Hiểu - Nguyễn Huệ Chi - Phùng Văn Tửu - Trần Hữu Tá (chủ biên), Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội, 2003.
6. Nguyễn Văn Khôn, Hán Việt từ điển, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1960.
7. Nguyễn Văn Ngọc - Trần Lê Nhân, Cổ học tinh hoa, (quyển hạ), Sách giáo khoa Tân Việt xuất bản, Sài Gòn, 1970.
8. Hoàng Ngọc Phách - Kiều Thu Hoạch (sưu tầm và biên soạn), Giai thoại văn học Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.
9. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1994.
10. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999.
11. Nguyễn Khắc Thuần, Việt sử giai thoại, (8 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997.
 
Nam Mai sưu tầm
 
Linh hồn ma quỷ "chết trôi" trong văn hóa Nhật Bản - Ảnh 4.

 

Xem thêm...

Lệ Khánh, Em là gái trời bắt xấu – Nguyễn Mạnh Trinh

Lệ Khánh, Em là gái trời bắt xấu 

Nguyễn Mạnh Trinh

Lệ Khánh, Em là gái trời bắt xấu – Nguyễn Mạnh Trinh

Có một thi sĩ nổi danh viết về một người thơ nữ đã in những tập thơ có thể nói là tạo thành một hiện tượng thi ca: “Khi những người tuổi trẻ yêu, đừng bắt họ nhân danh Nghệ Thuật hay Chân Lý để làm thơ! Chính Lệ Khánh chẳng đã từng thú nhận: Lệ Khánh làm thơ, in thơ bán thơ, nhưng Lệ Khánh không “bán tim”… và hẳn Lệ Khánh không hề có tham vọng làm một nữ sĩ “chuyên nghiệp” chiếm riêng một chỗ ngồi trong Văn Học Sử ngày mai. Lệ Khánh chỉ muốn làm một người tình nhân bé nhỏ, ngày hôm nay, có riêng một chỗ ẩn náu kín đáo ở… trong trái tim người yêu cho tiếng thơ thành khẩn của mình được một tấm lòng mến thương đón nhận, cho linh hồn bé bỏng của mình được một vòng tay khăng khít bao dung. Mà như vậy thì, dù muốn dù không, Lệ Khánh cũng đã tự nhiên là một thi sĩ! Một thi sĩ của tình yêu, hòa đồng chính đời sống cùng số phận mình vào Thơ, cũng như đem tất cả hoa hương mộng ảo của thơ dâng hiến cho Tình”.

Thi sĩ nổi danh trên là Đinh Hùng viết về một nhà thơ nữ mang tên Lệ Khánh, tác giả của những tập thơ với nhan đề gây thật nhiều ấn tượng mạnh “Em là Gái Trời Bắt Xấu”. Tập thơ đã gây xôn xao dư luận một thời và sau đó là 4 thi tập khác tiếp theo do nhà xuất bản Khai Trí in mang cùng nhan đề đã có số bán kỷ lục trên toàn miền Nam thời ấy.

Đặc biệt, ở Đà Lạt, thành phố sương mù, nơi sinh sống của Lệ Khánh, thì những người hâm mộ yêu thích thơ Lệ Khánh cũng rất nhiều, nhất là những người lính trẻ của các quân trường thời đó.

Tôi đã gặp một cựu sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt khóa 16 kể về tập thơ đầy kỷ niệm này với ông và đã đọc hai bài thơ mà ông đã thuộc đến nằm lòng thời trước và đến nay là hơn nửa thế kỷ, qua bao nhiêu biến cố thời thế dập vùi, mà vẫn còn nhớ không sót một câu. Chính ông cũng tâm sự rằng ông không phải là người độc nhất như thế mà còn rất nhiều người cùng khóa đều mang chung ý nghĩ như vậy.

Ở Sài Gòn, năm 1962 có một sự kiện thơ văn khá lạ. Nhà văn Duy Năng kể:

“Khoảng cuối năm nhâm dần, một loạt sáu bài thơ của Lệ Khánh được đăng cùng trên một trang báo Văn Nghệ Tiền Phong. Không phải từ lúc ấy thơ Lệ Khánh mói bắt đầu xuất hiện, nhưng những tác phẩm khép nép, nhỏ nhoi kia của “người con gái trời bắt xấu” đã được nhiều người đọc đến từ lâu và cũng từ đó về sau này.

Khi 6 bài thơ được chăm sóc giới thiệu cùng một lúc tôi hiểu rằng đã có một cái gì khởi đầu. Tôi không nghĩ là thiên tài cũng không dám nghĩ là một vinh quang rồi sẽ rạng ngời và hiện tượng T.T.KH. của văn học mà tác giả chỉ được chiêm ngưỡng trong ảo tưởng hay như vì sao chợt sáng rồi chợt mờ, đã xui tôi dậy lòng lo âu để nghĩ rằng đừng bắt Lệ Khánh là vừng trăng mười sáu của một địa cầu bất động tuy với những bài thơ khai nguyên từ năm 15 tuổi tôi được nhận đọc, không chỉ với tâm hồn thi sĩ mà còn với tấm lòng thương yêu cháu gái.

Nhưng tôi hiểu, đã có một cái gì bắt đầu với lời thú nhận nghẹn ngào “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” ghi trong ngoặc dưới những bài thơ thảm trạng đó”

Trong thời giam ấy, đã có người nhận xét: “Lệ Khánh ở Đà Lạt “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” ra đời ở vùng Cao nguyên lạnh như băng này… Rồi tiếng thơ Lệ Khánh bay xa khỏi miền Cao Nguyên về vùng thành thị, tiếng nức nở ấy làm cho người thưởng ngoạn chợt bâng khuâng không biết ví von ra làm sao để diễn tả nổi cái buồn đau của Lệ Khánh… Nhưng khi ai đã đi một mình trong màn mưa phùn lâm râm, đang thèm khát một ly cà phê hay cảnh một gia đình, lúc ấy nhạc Chopin vọng tới, buồn vô cùng.. thì đấy thơ Lệ Khánh như vậy”.

Nửa thế kỷ, sau, những bài thơ dung dị, viết mà không muốn xác định vai trò của một người muốn chen chân vào ghế ngồi văn học sử, của “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” vẫn còn hiện hữu và vẫn còn sức sống. Ghé qua các trang mạng của tuổi học trò, những Hoa Cô Đơn, những Hạt Nắng, những Áo Trắng, những Cổng Trường Xưa,… vẫn thấy những câu hỏi về Lệ Khánh, hay chép cho nhau những bài thơ của “Em là gái trời bắt xấu”. Một thời gian dài như thế, thơ vẫn còn sức sống, vẫn còn được đọc, và ngôn ngữ thi ca của một thời còn hiển hiện. Tại sao lại có hiện tượng như vậy? Nếu có ai phân biệt thơ bình dị và thơ trí tuệ thì giải thích giùm sự kiện ấy? Hay là, có phải thơ gây được cảm xúc cho lòng người sẽ còn tồn tại lâu dài cho người yêu thi ca?

Đọc trên mạng những dòng chữ để thấy tâm tình của những người thế hệ sau: ”Dĩ nhiên ”nhan sắc” vẫn muôn đời là “nhan sắc” là cái vỏ bề ngoài do người ta tạo dựng lên bằng cái “ngôn ngữ của kẻ thống trị”. Mà kẻ ”thống trị” từ xưa đến nay có phải chỉ là quý ông?

Hãy nói về Lệ Khánh và “tiếng kêu thảng thốt” từ bên kia cực của Nhan Sắc. Tiếng kêu bi thảm “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” ngày ấy đã làm tôi thắc mắc và đã trợn tròn mắt hỏi chị “Em có thấy chị xấu đâu mà tại sao…”. Tại sao… chị đã chẳng trả lời, chị? Cúi đầu cảm nhận để cho những “kẻ thống trị” đánh giá mình bằng cái vẻ xấu đẹp theo những quan niệm và những nhận định phiến diện của riêng họ.

Và hãy nói về Nguyễn Thị Hoàng với cực bên này của Nhan Sắc là tứ đại, ngũ đại, thập đại… giai nhân. Chưa gặp cô, hình ảnh cô trong tôi là hình ảnh của cô Tôn Nữ Kim Phuợng “với ánh nắng mai lấp lánh trên áo len lông màu hoàng yến nhảy múa theo bước chân cô từ văn phòng đến lớp” và là hình ảnh của cô Kỳ Hương”..với nụ cười hiền hậu..” vậy mà khi gặp cô, rất gần, rất thật, chỉ cách một hàng ghế và nghe cô nói hơn một tiếng đồng hồ, những hình ảnh ấy vụt biến đi dù tôi đã cố giữ…

Tại sao tôi không hề thấy hay cảm được cái gọi là “ma lực” của cô Nguyễn Thị Hoàng mà lại bị ma lực của chị Lệ Khánh quyến rũ?

Cái gọi là Nhan Sắc vì thế có phải chăng chỉ là ảo ảnh, không hơn không kém. Cũng như “người yêu của đấng trời”, cũng như con cá đi lạc ra ngoài hồ nước của con bé lên ba… và có phải chị có niềm tin mới biến những ảo ảnh có đấy mà không có đấy để rồi niềm tin chính nó cũng chỉ là những ngụy biện không hơn không kém…”

Lệ Khánh đã in tập thơ đầu tiên “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” lúc vừa 20 tuổi. Và sau đó từ năm 1964 đến 1966 nhà xuất bản Khai Trí đã in liên tục từ tập 1 đến tập 5 và thơ của bà đã được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Nhà văn Thế Phong đã nhận xét: có thể nói Lệ Khánh được nhiều độc giả đọc nhiều, thuộc nhiều, nhắc nhở nhiều chẳng kém gì Nguyễn Bính thời tiền chiến. Tập thơ “Em là gái trời bắt xấu” cả 5 tập có thể nói bán chạy nhất, hơn cả thi sĩ Nhất Tuấn thời ấy được coi là tác giả lục bát có thơ bán chạy”

 Một bài thơ cũ: Nhà thơ Lệ Khánh

Thơ của Lệ Khánh có nét riêng biệt ra sao và lý do gì mà thơ của bà được yêu thích nhất là đối với những chàng sinh viên sĩ quan Võ bị Đà Lạt thời gian ấy? Lệ Khánh làm thơ về những mối tình ngang trái về tâm tư đau buồn đầy nước mắt đầy bi lụy. Tình yêu của bà là những mối tình không thành tựu của những nhớ nhung luôn dằn vặt đời sống. Với tâm sự như thế, thơ của bà là những biểu hiện của nỗi đau có thực của tâm tư luôn đau khổ vì yêu. Trong cuộc đời thực, đã có lỡ làng, đã có chia phôi và kỷ niệm lúc nào cũng vẫn là những nỗi đau của vết thương tâm không liền da, liền thịt. Thơ cuả Lệ Khánh ngôn ngữ bình dị đời thường, hình ảnh biểu tượng thi ca cũng không có gì đặc biệt nhưng chính vì những nét đơn sơ bình dị của một người làm thơ nữ đã tạo ra được không gian thi ca tuy có nét hiện thực gần gũi cuộc sống nhưng lại có nét mong manh sương khói của những người có trái tim luôn đập nhịp dồn dập khôn nguôi để tạo thành một biển trời cảm giác.

Tôi đọc lại những bài thơ cũ trong “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” để cùng có chung cảm giác với những người đã một thời yêu những vần thơ của kỷ niệm, của những người có tình nhân là lính chiến, là những mơ mộng và những đớn đau trộn lẫn. Ai cũng yêu quý và trân trọng kỷ niệm của riêng mình, dù là những hằn dấu đớn đau hay có khi ngập tràn nước mắt.

Thí dụ như bài Áo Tím Ngày Xưa:

“Con đường này… kỷ niệm
ngày xưa (anh của em)
vẫn khung trời thương mến
và nhớ nhung trong tim
đó rừng xưa chơ vơ
đây hồn em cô quạnh
màu áo tím ngày xưa
sao giờ nghe buốt lạnh
bao năm rồi trở lại
Đà Lạt buồn lối quanh
Thương thương màu áo tím
Của ngày xưa… đâu anh?
Con đường Hồ Than Thở
Hoang sơ nấm mộ sâu
Người em áo tím nhỏ
Đi tìm anh… anh đâu?”

Những ai đã là sinh viên sĩ quan trường Võ Bị chắc không lạ gì với con đường Lâm Viên và mồ cô Thảo, một nơi chốn chứa đựng cả một trời tình sử. Lệ Khánh viết Đường Vòng Lâm Viên như một trao gửi đến người xưa về cảnh cũ:

“Em tìm đến con đường Lâm Viên nhỏ
nhớ ngày xưa… “đại lộ của thương anh”
vẫn quân phục với màu alpha đỏ
em vui cười sao nước mắt dâng nhanh
Đây chứng tích của ân tình đổ vỡ
Mộ hoang sầu cô Thảo ngủ thiên thu
Không nhang khói không cành hoa dại nở
Bên ven hồ hương tử khí âm u
Khi em chết cũng xin về an nghỉ
Cạnh bên nàng để rõi bước chân anh
Đường Lâm Viên …buồn như chiều phố thị
Mai anh về khi tắt lửa chiến tranh
Anh nhớ nhé về thăm thành phố cũ
Đường Lâm Viên cỏ úa mọc ven rừng
Nhiều kỷ niệm mà nói sao cho đủ
Đợi anh về em sẽ nói nhiều hơn”

Lệ Khánh sống ở Đà Lạt, có mối tình đầu với một sinh viên sĩ quan Võ Bị. Với bà, thành phố sương mù này là thành phố của tình yêu nhưng lại là nơi chốn của những mối tình đau khổ. Tràn đầy yêu thương, chất ngất cảm xúc nên đã viết được những bài thơ mang tâm trạng của mình nhưng gợi lại đến những kỷ niệm của nhiều người khác mà có người vì quá yêu thích nên đã gọi là những “bài thơ để đời”. Có thể có cả những người xuất thân từ Trường Võ Bị Quốc Gia nữa.

Có người không tin là nữ thi sĩ Lệ Khánh không có dung nhan khiêm nhường như bà đã tả trong thơ? Theo như nhà văn Hồ Nam thì: ”Điều làm mọi người kinh ngạc là Lệ Khánh xuất bản thơ với tựa đề “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” nhưng thật ra tác giả năm tập thơ mang nhan đề như trên lại là một cô gái Huế xinh đẹp từng làm nhiều chàng trai đất Quảng ngẩn ngơ chứ chẳng xấu một chút nào cả…”

Những mối tình của nữ thi sĩ ra sao mà có người như La Ngạc Thụy đã cho rằng vào những năm thập kỷ 60, trên diễn đàn văn nghệ xuất hiện một nhà thơ gây xôn xao dư luận có thể nói là ngang tầm với hiện tượng TTKH. là nhà thơ Lệ Khánh?

Theo nhà văn Hồ Nam thì: ”Người ta đồn rằng người tình đầu của Lệ Khánh là nhà thơ Nhất Tuấn nhưng Nhất Tuấn không xác nhận cũng chẳng phủ nhận tin đồn chỉ im lặng. Nhưng sự thực không phải như lời đồn đại. Người tình đầu thấp thoáng những khổ đau ly biệt dở dang trong thơ Lệ Khánh chính là Phạm H.Th., sinh viên sĩ quan khóa 17 Võ bị Đà Lạt sau khi mãn khóa đã được thuyên chuyển về binh chủng Biệt Động Quân. Mối tình dang dở gây ra cho Lệ Khánh khổ đau vì TH. đã lập gia đình với một người bạn gái của cô khiến cho Lệ Khánh có rất nhiều bài thơ về mối tình sướt mướt này. Một thời gian sau khi chia tay với người tình đầu Lệ Khánh có một mối tình với nhà văn nhà thơ Mũ Đỏ Hoàng Ngọc Liên. Thời gian đó Hoàng Ngọc Liên thường hay bay đi bay lại Sài Gòn – Đà Lạt hàng tuần và khi ông viết bài thơ “Kỷ Niệm Sinh Nhật Em” thì Lệ Khánh có ngay bài “Kỷ Niệm Sinh Nhật Anh” để đáp lại. Hai người cặp nhau một thời gian dài nhưng thời gian này Hoàng Ngọc Liên rất bay bướm có nhiều bồ nhí ở Sài Gòn, một ngày kia Lệ Khánh bắt gặp tại trận nên chia tay nhau. Sau đó người ta lại thấy Lệ Khánh có quan hệ tình cảm với nhà thơ kiêm nhạc sĩ Thục Vũ (Trung Tá Vũ Văn Sâm) một trong những nhà thơ quân đội khá nổi tiếng và cuộc tình này khá bền bỉ, bền tới khi Thục Vũ rời khỏi cõi hồng trần vẫn chưa dứt…”

Lệ Khánh, “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” - Văn Học - Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nhạc sĩ Thục Vũ đã phổ bài thơ của Lệ Khánh, bài “Tình Người Hậu Tuyến” rất nổi tiếng. Có lẽ vì tâm đầu ý hợp chăng? Cô công chức Tòa Hành Chánh thị xã Đà Lạt sau đổi về Tòa Tỉnh Gia Định, có những câu thơ đơn sơ được chuyển thành cung bậc âm thanh đi thẳng vào tâm tư thính giả:

“Hôm nay trời vào thu
Đà Lạt lắm sương mù
Cây khô buồn trút lá
Gió ven hồ bay xa
Mây thu lờ lững trôi
Lồng lộng gió lưng đồi
Xin anh đừng giận dỗi
Viết thư về thăm em…”

Cuộc đời tình ái của Lệ Khánh nhiều truân chuyên bi lụy nên có người đã ví TTKH như Đạm Tiên và Lệ Khánh như Thúy Kiều. Lệ Khánh yêu hết mình và đã để lại trong tâm những vết thương để có một hồn thơ thích hợp với khuôn trời thơ mộng mù sương Đà Lạt. Tình yêu đã tạo thành những câu thơ mà độc giả, dù đương thời hay về sau này, cũng cảm và thấy được nỗi bi thương của một người không may có những mối tình không bao giờ trọn vẹn. Thơ tình buồn thường hay gây ấn tượng cho người yêu thơ từ thuở xa xưa đến giờ…

Vào thời kỳ giữa thập niên 60, lúc Lệ Khánh bắt đầu nổi tiếng, tôi còn là một cậu học sinh trung học. Dù đang ngồi ghế nhà trường nhưng vẫn hay thường mộng mơ vói qua ngoài cửa lớp. Những bài thơ của tuổi học trò ngây thơ, của những thời xôn xao mới lớn hay đăng trên những phụ trang văn học của các tờ nhật báo được chúng tôi cắt dán hoặc chép lại trong những cuốn sổ bìa cứng và cứ thế suốt mấy năm trung học đã thành cuốn sách gối đầu giường vô cùng trân quí. Ở những bài thơ, mường tượng những người tình, có khi chỉ là thoáng qua, có khi chỉ là ảo tưởng, nhưng cũng tạo trong tâm tư những kỷ niệm khó quên. Giở lại những trang thơ ấy, là cảm giác đi về một chốn nào đã xa nhưng lại thật gần gũi. Ở đó, có tuổi trẻ, có kỷ niệm.

Với những nữ sinh, có lẽ thơ của Lệ Khánh có sức lôi cuốn và hấp dẫn nhiều hơn. Và, 5 tập thơ “Hoàng Ngọc Liên” cùng 2 tập “Vòng Tay Nào Cho Em” và “Nói Với Người Yêu” đã có số lượng độc giả khổng lồ là chính nhờ ở thành phần người đọc này.

Trúc Giang, Lệ Khánh. “Em là gái trời bắt xấu”SàiGòn Weekly Online - Văn  Hóa – Chính Trị - Xã Hội – Kinh Tế

Lệ Khánh có những người tình là lính nên ở trong thời buổi chiến tranh những cuộc tình ấy đầy chia ly và không có đoạn kết là chuyện dĩ nhiên.

Đề tài của tất cả 7 tập thơ đều nhất quán là chuyện lòng của người thiếu nữ thanh tân, lúc nào cũng đầy những khát vọng yêu đương. Ngôn ngữ cũng không lạ, cũng chỉ loanh quanh chữ buồn, chữ nhớ, chữ tủi, chữ sầu, nhưng dung lượng tình cảm thì nói hoài chưa đủ và nhắc hoài chưa hả. Hình như thơ Lệ Khánh là để giành riêng cho những kẻ yêu nhau bởi vì khi trái tim mở rộng theo nhịp dồn dập thì cả đất trời cũng nhỏ và trong thế gian dường như chỉ chứa đựng duy nhất khuôn mặt người tình. Thơ như bị cuốn vào trong cơn cuồng vọng của Tình Yêu và ngôn ngữ của tình yêu ấy dù là ngôn ngữ của sáo mòn, của những điều mà trước đây ngàn năm và sau này triệu năm những tình nhân đã thuộc nằm lòng. Yêu nhau, người ta mới hiểu được cái mênh mông của ý tình qua ngôn ngữ mà người chưa yêu hoặc không yêu chẳng thể nào hiểu thấu. Tôi nghĩ thơ Lệ Khánh đã vượt qua được cái cửa ải của thời gian nhờ sự thành thực bày tỏ tấm lòng đang yêu và dù đau khổ vẫn trân quí những điều mình bày tỏ. Thơ “Hoàng Ngọc Liên” không có một kỹ thuật nào để thăng hoa thi ca, không có một mới lạ được tìm kiếm nào cho con đường nghệ thuật. Những tập thơ vẫn là những phác họa chân thành của nỗi buồn tình yêu.

Nhà thơ Đinh Hùng cách nay hơn nửa thế kỷ đã nhận xét về Lệ Khánh và tới nay đã phần nào giải thích được tại sao “Hoàng Ngọc Liên” tới giờ này vẫn còn vị trí trong lòng những người yêu thi ca:

”Qua những tập thơ kế tiếp nhau như những phân đoạn của một khúc trường ca chưa dứt, trước sau, Lệ Khánh vẫn chỉ là một con người duy nhất, với một tâm trạng duy nhất, một giọng nói duy nhất. Chính đó là điều đáng quý, đối với một người thơ thuộc lứa tuổi trẻ dễ dàng giao động dễ dàng chuyển mình theo theo cái nhịp sống nhiều biến thái bất ngờ hiện thời. Giữa cái vô thường của cuộc sống và của lòng người, Lệ Khánh đã dám có một lẽ sống thường trụ, một thái độ không đổi rời. Lẽ sống của riêng mình và thái độ cũng của riêng mình mặc cho dòng đời luân lưu và lòng người chuyển biến.

Nếp sống tình cảm trước sau như một đó và thái độ chuyên nhất kia, có lẽ Lệ Khánh không dụng ý tạo nên nhưng từ trong bản chất người con gái “trời bát xấu” không ngờ chính đó lại là cái “duyên thầm” riêng biệt của Lệ Khánh, cái phong phú khác người của kẻ làm thơ mà cũng chính là cái vẻ đẹp riêng của người thiếu nữ tự nhận mình là xấu”.

Nguyễn Mạnh Trinh

 Kim Phượng sưu tầm

30+ Ảnh bìa đẹp về phong cảnh thiên nhiên | Landscape, Facebook cover,  Linkedin background

Xem thêm...

Hoa Đồng Nội

Hoa Đồng Nội
 

Mỗi lần về thăm quê nội, vừa băng qua đường ray xe lửa, chạy vào con đường rợn ngợp những bụi chè xanh tôi đã hét toáng lên: "Mệ ơi!" Mệ ra đón tôi tận ngoài ngõ, giang rộng đôi tay gầy guộc run run ôm chầm lấy cháu .
Không hiểu sao, trong những đứa cháu nội, mệ thương tôi nhất. Có lẽ vì tôi ở xa mệ, ít có diễm phúc đêm đêm gối đầu trên cánh tay nhăn nheo vì năm tháng để nghe mệ thủ thỉ đọc truyện thơ, để được hít hà mùi trầu ngai ngái mà mệ thường nhai bỏm bẻm. Có thứ gì ngon mệ cũng giấu để dành cho tôi . Nhưng món ăn mà tôi thích nhất là món cá kho khế chính tay mệ nấu .
Sau vườn nhà mệ có một cây khế chua, bốn mùa đều sum suê quả. Tuổi của nó tôi không thể nào tính được. Nghe kể lại, khi mệ còn là một thiếu nữ khế đã có mấy mùa trái . Có tôi về, mệ vội ra chợ Xép lựa những con cá bống thệ còn tươi cong đem về, xắt từng lát khế mỏng bỏ lên trên kho kẹo, thơm phức. Mệ hạnh phúc nhìn cháu ăn ba đến bốn chén cơm. Tôi mong ước sao mùa hè kéo dài để tôi được tận hưởng niềm ngọt ngào của tuổi thơ .
Nhưng rồi mùa hè cũng trôi qua mang theo cả niềm ước mong của tôi . Tôi lại phải xa mệ thôi . Tôi không bao giờ quên được hình ảnh mệ nhỏ nhoi xiêu xiêu giữa bầu trời tím thẫm, đưa vạt áo chậm nước mắt nhìn hút theo đoàn tàu đưa mang đứa cháu thân yêu ra đi . Lòng tôi lại thổn thức gọi: "Mệ ơi!"
 
Cỏ hoa đồng nội
 
Tôi xa Huế, xa mệ . Huế trong lòng tôi là kỷ niệm tuổi thơ ngọt ngào nhưng phảng phất nỗi buồn man mác.
Rất lâu lắm, không biết khế rụng hoa, đậu trái bao nhiêu mùa, tôi mới có dịp ghé lại đất Thần Kinh. Vào ngõ nhà nội, tôi không reo mừng như những lần trước nữa . Không còn bóng dáng gầy còm lưng của mệ đứng đón tôi . Không còn phảng phất mùi trầu nồng cay . Toàn căn nhà cổ kính tràn ngập mùi trầm hương đến nghẹt thở.
Tôi ra sau vườn nhặt từng trái khế gom lại, lòng nghe thiếu vắng mênh mông. Cắn một miếng khế sao chua quá! Không ngon như những lát khế kho với cá bống. Khế sống nhiều năm vẫn đứng trơ trơ với trời đất. Sao mệ tôi đã vội đi về miền vĩnh hằng.
Buồn. Một cảm giác lẻ loi, cô độc ập vào hồn. Tôi lê gót chân qua những con đường nhỏ. Mùa này xứ Huế mưa bay . Dưới màn mưa đan xéo vào nhau khung trời chẳng xám trắng mà mênh mang một màu tím nhạt. Màu tím trinh nguyên. Chính màu tím ấy đã làm nên màu áo thướt tha, mềm mại của những nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa khiến khách viễn du cứ mãi ngẩn ngơ, thương nhớ...
Chiều dần lên, mưa cũng nặng hạt hơn. Theo những vệt mưa lấp loáng trên mặt đường, bàn chân tôi bước vào một quán cà phê ven sông Hương. Hơi lạnh cũng theo vào làm buốt nhẹ làn da . Giá như đêm nay mưa ngừng và ánh trăng ló dạng, du khách sẽ tận hưởng hết cảnh thơ mộng êm đêm của dòng sông. Mưa vẫn dai dẳng, triền miên nghe rưng rưng chi lạ như tiếng lòng thổn thức của ai như một câu thơ chất chứa u hoài:

"Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên"
 
Tháng Mười và những gánh hoa rong đẹp lung linh ở thành Nam
 
Giọt cà phê đặc sánh, môi chưa kịp ngưng đọng vị đắng tôi giật mình bởi một tiếng rao trẻ trung, ngọt ngào:
"Ai ăn chè bột lọc không?"
Một bóng người nhỏ nhắn, trùm áo tơi gánh đôi thúng khá nặng. Nước mưa đục ngầu chảy thành từng dòng làm ướt cả đôi guốc gỗ của cô gái . Hình ảnh mệ tôi từng bán chè đêm hiện về khiến tôi nhói lòng. Tôi vội vàng kêu:
- Cô bé!
Nón lá rời khỏi mái tóc, một đôi mắt đen, sâu thẳm nhìn tôi . Một thoáng ngỡ ngàng. Chao ôi, đôi mắt ấy . Giống hệt tia nhìn ấm ấp, dịu dàng của mệ tôi . Em nhẹ nhàng đặt quang gánh, khéo léo múc từng viên chè nhỏ vào chén. Tôi gợi chuyện "Mưa lạnh như ri mà em cũng bán ư ?"
- Trời mưa bán chè bột lọc mới đắt! Cô bé khe khẽ cười - Mẹ em nấu đó. Ăn được không anh?
- Tuyệt! - Tôi cho từng viên bột lọc bọc đậu phộng vào miệng, vị ngọt lẫn vị cay của gừng khiến tôi nóng dần lên quên cả lạnh.
 
Family-friendly activities after sunset | Local Life Viet Nam

Lần đầu tiên tôi được nếm vị chè này ngay bên dòng sông vốn bình yên với lớp rêu xanh. Và cũng chính giây phúy ấy tôi biết thế nào là chữ "nợ" và chữ "duyên". Em ngồi lặng lẽ đếm từng hạt mưa để chờ "vị khách" ăn xong và rồi vội vàng gánh đôi thúng đi không chịu lấy tiền để tôi ngồi ngẩn người lắng nghe tiếng rao của em xa dần.
Trước kia, tôi từng mơ ước, khi trở lại xứ Huế tôi sẽ tình cờ gặp một cô Tôn Nữ dịu dàng rũ mái tóc thề soi bóng Hương Giang. Giữa mùa hè lắm cơn mưa, chưa kịp tìm bóng dáng yêu kiều tim tôi thoáng một chút rung động khó hiểu bởi đôi mắt và dáng trầm tư của cô bán chè.
 
 

Đêm ấy, tôi thấy mình nằm ngủ dưới gốc cây khế. Khế đang mùa trổ hoa . Từng cánh hoa tím rung rinh rung rinh. Có ai đó nhặt từng bông hoa thả nhẹ trên mặt tôi . Là em. Chúng tôi rượt nhau . Cô bé lanh lẹ chạy vòng quanh thân khế. Bỗng một hòn đá vướng chân tôi, tôi ngã nhoài và mở choàng mắt. Chỉ là giấc mơ . Nhưng tiếng cười lanh lảnh của cô bé như vẫn còn quanh quẩn đâu đây . Cố dỗ lại giấc ngủ, không được. Tôi dậy thắp hương cho mệ . Từ trong bức hình, đôi mắt mệ nhìn tôi âu yếm như ngày nào tôi còn thơ dại .
Chiều . Bước chân lại đưa tôi tới quán cũ. Nhắp từng giọt cà phê đen không đường tôi cầu mong mưa cứ giăng giăng dưới màn mây tím mãi để tôi có thể gặp lại cô bé. Không biết em còn nhớ người con trai được em tặng chữ "nợ" không?
Tiếng rao chè lảnh lót dứt tôi ra khỏi dòng suy nghĩ miên man. Đúng cô bé rồi . Trong trí tôi chợt hiện lên câu nói xưa như trái đất "Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ". Trời ạ! Ai xui chi cho tôi vừa có nợ vừa có duyên với em.
Em lại đến ngồi lặng lẽ bên tôi . Tôi lại được nếm vị chè ngọt và cay . Điều gì làm chúng tôi dễ thân nhau . Đối với tôi: chính là đôi mắt em - Còn em, có lẽ thấy được nơi tôi niềm yêu kỳ lạ đối với dòng sông hay tâm sự u uẩn khi ngắm mưa rơi cũng như em. Im lặng nhưng hiểu nhau . Có dòng Hương Giang làm chứng cho tình bạn giữa tôi và em. Em cho tôi biết tên. Trinh Nữ - tên một loài hoa hay mắc cỡ, e thẹn - Tôi gọi em là "Hoa đồng nội". Em đang học năm thứ II khoa Văn. Cơn mưa dai dẳng làm mẹ em ngã bịnh, em phải bán thay . Nhà em ở gần cầu Gia Hội, cách khá xa nhà mệ tôi . Nhưng không sao . Một gã con trai như tôi khi đi chơi với bạn gái lại thích con đường cứ xa diệu vợi .
 
Tím khùng - Truyện ngắn Nguyễn Quốc Trầm - Hội Nhà Văn Thành Phố Hồ Chí Minh
 
Một sáng tinh sương, trời se se lạnh, tôi đã có mặt ở ngõ nhà em. Trinh Nữ tròn xoe mắt "Anh đi mô mà sớm dữ rứa ?" "Đưa em đi dạo chơi!" "Bây chừ à?" "Chứ sao!". Thấy vẻ trịnh trọng của tôi, em biết không phải chuyện đùa, em vào xin phép mẹ .
- Đi bộ nhé! - Tôi hỏi em.
- Ừ! - Em khẽ khàng đáp và dịu dàng đi bên tôi .
Chúng tôi lang thang qua khắp nẻo đường. Tôi muốn đưa em đi tìm ước mơ chung của cả hai . Buổi sáng không khí tĩnh mịch một cách lạ lùng. Tôi và em rẽ vào đường Lê Lợi, con đường "hương thầm" của Huế. Trước mặt chúng tôi cầu Tràng Tiền màu trắng ẩn hiện trong màn sương bàng bạc. Chúng tôi ngồi bên kè đá có nhiều bông xuyến chi mềm mại . Em nghiêng đầu, rủ mái tóc xuống đôi chân thon duỗi thẳng, "Chao ôi! Em mỏi chân ghê . Răng hôm nay anh đưa em đi nhiều chỗ rứa ?"
Khó khăn lắm tôi mới thốt nên lời "Chiều anh phải xa Huế rồi!" Em thảng thốt "Thật vậy ư ? Chẳng phải Huế là quê hương của anh sao ?" Em quay người cố dấu những giọt lệ trên khóe mắt. Tôi nghe giọng mình cũng nghẹn đắng "Anh phải đi . Nhưng anh sẽ trở lại".
- Chắc chắn chứ!
- Chắc chắn! Làm sao anh quên được miền đất đã đem đến cho anh những ký ức đẹp.
Chúng tôi ngồi im lặng bên nhau rất lâu . Em ngắt hai chiếc lá thả xuống dòng sông và thì thầm bên tai tôi . "Dòng sông sẽ mang mơ ước của anh và em đến một nơi bình yên và thơ mộng". Tôi bóp nhẹ bàn tay em "Nơi ấy có cây khế ngọt và có hoa Trinh Nữ và..." Em e thẹn cúi mặt "Vậy ước mơ của anh là gì?"
Dù không nói ra, em vẫn biết tôi với em cùng chung một điều ước. Cám ơn trời, sáng ấy đã không đổ mưa, nếu không hai chiếc lá sẽ bị vùi dập mất. Nhưng đến chiều, khi em đưa tôi lên tàu, cơn mưa từ đâu lại kéo về. Những giọt mưa lành lạnh che giấu giúp em đôi má ướt nhòe vì nước mắt. Sống mũi tôi cay xè... Tàu chuyển bánh, tôi vẫn cố nhoài người ra cửa dõi mắt theo bóng hình nhỏ bé của em mất hút dần sau đoàn tàu, lòng thầm nhủ: "Anh sẽ trở lại!"
Ngày xưa, tôi không quên được Huế vì có mệ đưa tôi vào thế giới huyền thoại với cây khế già. Bây chừ tôi yêu Huế vì có em "Hoa đồng nội" của lòng tôi.


Thạch Thảo
 
Kim Kỳ sưu tầm
Ý nghĩa hoa Cúc Họa Mi - loài hoa đón đông mong manh tinh khôi
 
Xem thêm...

Truyện ngắn Hoa vông vang *** Đỗ Tốn ***

Truyện ngắn Hoa vông vang   

*** Đỗ Tốn ***

 Cay co viet nam
Nhà văn Đỗ Tốn sinh năm 1921 mất năm 1973 khi ông đang làm Phó Quản Đốc đài Tiếng Nói Quân Đội tại Sài Gòn, với cấp bậc Thiếu Tá.

Xuất bản lần đầu năm 1945 và được tái bản vào năm 1961, Hoa vông vang là truyện ngắn đầu tay của Đỗ Tốn. Cũng như hầu hết các sáng tác thời kỳ ấy, cái chất lãng mạn Tây học với cách nhìn phóng khoáng về cuộc sống của các nhân vật là hiện trưng của truyện.

Nhất Linh rất thích truyện Ðỗ Tốn, có lần so Ðỗ Tốn với Thạch Lam: “Tôi thấy hai nhà văn này có nhiều chỗ giống nhau và tôi tin Ðỗ Tốn sẽ là một Thạch Lam thứ hai trong văn giới nước ta.” 

Ảnh NTC

Ngày ấy Đẩu là một chàng trai mười tám, lòng đang tưng bừng mới nở, trông ai cũng đẹp. Suốt ngày vui cười, sẵn sàng yêu-đương, chàng thấy tương lai toàn mầu rực-rỡ. Đang đầy tin tưởng thì một hôm chàng gặp Phượng Trinh, một nữ sinh tóc còn cặp sau gáy. Tuy không biết nàng bao nhiêu tuổi nhưng Đẩu cứ cho là mười sáu, và chàng nhủ thầm: “Chỉ mười sáu mới có thể có được cặp mắt sáng thế”.

Lúc ấy là một buổi trưa mùa đông; dưới gió qua vòm cây, Phượng-Trinh đang cười trong ánh nắng rung-rinh cùng mấy chị em bạn học. Đẩu có mộng ước gì đâu thế mà sao khi vừa gặp, chàng đã vội ngây người đứng ngắm rồi kêu khẽ: “người trong mộng của ta đây rồi”. Tay xách cặp, chân đi đôi guốc phi-mã gót cao, lúc ấy Trinh mặc chiếc áo mầu xanh gió thổi tung bay thấp thoáng ánh mặt trời. Thế là lòng chàng trai mới mẻ vội chọn nàng giữa trăm bông thắm; Đẩu đi xa xa theo Trinh về,… thì ra Trinh đi qua nhà chàng, nàng ở phố gần đấy.

Từ đấy mỗi ngày hai buổi học tan, Đẩu vội vàng đạp xe thật nhanh về để ngắm Trinh qua, và những chiều nào được nghỉ sớm thì chàng đi bộ lên gần trường Trinh học đứng đợi nàng về để lẳng lặng đi theo sau. Song vì quá yêu chàng đâm nhút nhát nên chỉ dám nhìn thôi, vả lại Đẩu e Phượng-Trinh cho lẫn mình vào con nhà phường-phố bậy bạ nên chàng chỉ theo xa xa. Theo đến gần nhà mình thì Đẩu đi sang bờ hè bên kia rảo bước về cửa nhà đứng đợi. Lần nào chàng cũng nhìn Trinh đi ngang qua với đôi mắt si-ngây… và cũng đã nhiều lần chàng theo đến tận nhà Trinh. Cứ như thế mãi, dần dần Trinh cũng hiểu, vì có nhiều bận Đẩu thấy Trinh đã vào trong sân rồi vừa đóng cổng vừa đưa lén mắt ngượng ngập trông trộm lại chàng. Phượng-Trinh cũng đã để ý tới chàng trai si mê mình. Mỗi chiều đi học về nàng thường đi thật chậm vui chuyện ríu rít cùng hai chị em bạn về cùng đường – có bận Đẩu thấy giữa truyện vui Trinh đứng lại vui thú cười rũ-rượi để rơi cả cặp sách; như một con chim non say nắng mới, Trinh luôn luôn ríu rít cười nói rả-rích làm vui cả lòng, Đẩu đứng nhìn.

***

Tuổi trẻ có một lần mới mẻ nhất: Đẩu yêu không có tận cùng bờ bến. Sách học của chàng chỉ nhằng những tên Phượng-Trinh viết đủ các kiểu.

Rồi một buổi đầu xuân Đẩu hỏi Tân, một cô bạn học của Phượng-Trinh, thì Đẩu mới biết Trinh là tên gọi ở nhà, chứ “ở trường chỉ gọi nàng là Phượng thôi”. Tân nói lại cho Đẩu biết là các bạn ở lớp đã biết chuyện Đẩu theo Phượng và trêu chế Phượng nhiều lắm… nhưng Phượng không hề cãi lại mà chỉ đỏ mặt cười chạy trước những dịp cười của các bạn…

– Phượng yêu Đẩu rồi đấy…

Tân nói thế làm Đẩu sung sướng ngây cả người rồi hỏi:

– Thật à?… Thế thì tôi chết mất!

Chàng trai mới có mười chín, mỗi khi sung sướng quá là chỉ kêu chết.

Từ đấy Đẩu là người sung sướng. Có khi chàng đứng nói chuyện một mình với bờ thang là thường.

Rồi Đẩu viết một lá thư mà chàng đã tốn bao công nắn nót gọt rũa. Hồi hộp đợi mấy hôm cũng không thấy Phượng-Trinh giả lời, Đẩu suốt ngày băn khoăn trông ngóng người đưa thư! Rồi có một buổi kia Đẩu gặp Tân, nàng nói:

– Đẩu bỏ một lá thư vào xe Phượng phải không? Phượng nhờ tôi nói với Đẩu từ rày đừng làm thế, lỡ người ngoài người ta trông thấy thì người ta coi Phượng vào hạng người gì !… có muốn nói gì cứ nói thì hơn…

Nghe xong Đẩu tươi tỉnh đưa tay lên gãi gáy bừng-bừng sung sướng rồi đáp:

– Lúc ấy còn nói thế khỉ gì được mà nói!

Không biết Phượng-Trinh có hiểu cho anh như thế ?… Chỉ biết sau đó, Đẩu luôn luôn viết thư nhờ Tân đưa thì Trinh nhận. Tuy Trinh có trả lại(*) song ít lắm, chẳng đủ lấp một chút trong không gian to tát của lòng Đẩu. Trinh đã trả lại ít hay chính Đẩu đòi mong quá nhiều !… Nhưng lấp sao được lòng anh thuở ấy, lấp sao được biển cả đương lúc sóng tình dồn dập gào thét.

Có một ngày chủ-nhật Đẩu cùng cha đi săn bắn về mệt, nên hôm sau Đẩu nằm nghỉ ở nhà rồi viết một lá thư cho Tân, trong thư chàng nói: “Thế nào, Tân đã xin hộ Trinh cho tôi một tấm hình chưa, cố vào nhá, trăm sự nhờ Tân đấy ! À, hôm qua tôi vừa đi săn về, mệt và mệt, phải nằm nhà nghỉ… nhưng nhớ Trinh lắm…”. Và hôm sau Tân nói nàng có cho Phượng xem mảnh thư ấy, và mặc dầu nó nguệch ngoạc nhỏ bé, Phượng cũng đã xin lấy mảnh thư đó. Và Đẩu sung sướng đến ngạt thở khi Tân bảo:

– Thư nào của Đẩu, Phượng cũng giữ cất đi cả…

Thôi, hồn Đẩu phơi phới như lên tới trời xanh !… và những lúc ấy, những lúc quá tin tưởng ấy, anh đã tưởng đời anh sẽ theo một con đường nhất định…

Nhưng tính Đẩu cũng rất trẻ con, trong thư luôn luôn chàng viết những câu không đâu, chẳng hạn: “Cái mũi của Trinh trông ngon như viên kẹo đraa-giê ấy” hoặc “tôi thích bắt Trinh mang thả trên đồi cỏ để xem Trinh ca hát chạy nhẩy như một con sơn ca”. Tuy thế Trinh cũng vẫn chỉ trả lời: “Thư Đẩu viết vớ-vẩn lắm”… nhưng Trinh sung-sướng.

 

Ảnh NTC

Đã mấy tháng trời theo đuổi mà vẫn chưa lần nào Đẩu được Trinh hẹn hò cho gặp riêng một lần. Người thiếu nữ ngoan ngoãn vẫn tin ở tình chàng trai, nhưng chỉ sẵn lòng đợi chàng đến hỏi làm vợ. Tình yêu mà nàng hiểu là thành thực chỉ có thể đưa tới cuộc hôn nhân,… mà Đẩu cũng thành thực muốn thế, song mới có mười chín tuổi chàng đã tính đến chuyện vợ con sao được ! Vả lại chưa được cùng nhau hẹn hò một câu, chàng trai chưa dám chắc gì mà giạm hỏi,… tuy đã bao lần trong mắt Phượng-Trinh chàng tưởng được thấy hạnh phúc, chàng đọc thấy, nhận thấy một vẻ gì dịu dàng xô đẩy lòng chàng.

“Hay đó chỉ là một hạnh phúc đơn sơ khó kiếm”. Đẩu vẫn băn khoăn tự hỏi thế những lúc không hiểu.

“Ừ, sao không hẹn với nhau một câu, sao không thả hết tình yêu ?” Nhưng duyên số…

Rồi một ngày chủ nhật mà gió đã nóng, Đẩu đang lang thang ở phố thì gặp một giọng nói vui vẻ bay đến tai hỏi:

– Phượng đâu ? Sao lại đi chơi một mình thế ? Không đi với Phượng à ?…

… Tiếp theo là một dịp cười. Đẩu ngơ ngác nhìn lên thì ra Tuyết, cô bạn học cùng lớp với Phượng-Trinh đang đứng trên bao lơn tươi cười nói xuống. Đẩu mỉm cười cảm ơn. Độ năm phút sau bất ngờ Đẩu gặp Phượng-Trinh thật. Nàng mặc áo mầu tím, đang đi mua hàng may áo nực cùng hai chị. Gặp Đẩu, Trinh bẽn lẽn không dám nhìn, nhưng có một lần Đẩu bắt gặp mắt Trinh ghé qua gáy chị nhìn trộm mình làm chàng sung sướng run cả người. Hôm sau Đẩu vội nhờ Tân đưa cho Trinh một lá thư, trong có đoạn:

“Hôm qua đi phố chơi, tôi đang lang thang thì nghe thấy một giọng nói từ trên trời bay xuống hỏi “Phượng đâu ? Sao lại đi chơi một mình thế, không đi với Phượng à ? Tôi nhìn lên thì ra Tuyết, Trinh ạ – Đấy, đối với tất cả thì Phượng là của tôi đấy, thế mà tôi cứ chưa dám chắc ! Trinh thử hỏi hộ cô Phượng, cô Phượng có cái mũi xinh xinh ấy mà, xem cô Phượng có phải là của tôi không ?”.

Tuy thế Trinh cũng chỉ trả lời lại Đẩu: “Thư Đẩu viết vớ vẩn lắm”.

***

Ảnh NTC

 Những giấc mộng đẹp sao hay ngắn ngủi, tuổi trẻ vô tình qua mau như đàn mòng khoang vun vút bay qua cánh đồng rộng để vội vã lẩn biến vào cảnh trời đông u ám; nghỉ hè năm sau đã lại tới, rồi tới mùa thu ! Một hôm đương ở rừng quê thì Đẩu được bạn viết thơ cho biết Trinh đi lấy chồng. “Cưới chạy tang, bố chết,… trông Trinh chẳng vui gì sốt cả v.v…”.

Như những vết thương đứt quá mạnh làm ta tê đi không thấy đau, mấy ngày đầu Đẩu không thấy buồn ; nhưng sau, nhiều lúc tự nhiên chàng thấy như mất một mục-đích trong đời, chàng cảm thấy chán nản. Tuy thế chàng vẫn yêu Trinh như trước và vẫn mang máng tin là Trinh yêu mình. Đẩu vẫn nói một mình: “Cứ để mặc anh tin em nhá.”

Chàng trai muốn quên mau, song những ngày buồn nản qua không vội-vã nên có lúc ngừng ngựa mơ màng ngắm lá vàng bay giữa rừng vắng chàng lại đau thương nhắn hỏi:

– Gió ơi, sao làm tình chóng đứt ?…

Hoa tình rụng rời, bình tĩnh cũng dần dần trở lại, nhưng trong lòng Đẩu đã bớt tin-tưởng !

Khá lớn lên, chàng trai sớm vội đua theo các bạn vào cuộc đời chơi bời phóng đãng; dần dần chàng đã trở thành khôn khéo; quen ra vào nơi tửu-điếm(**) nên chàng nói dối đã không ngượng lời, mắt đầy gian trá, nhưng lúc ấy thì người đời lại tin chàng. Từ một đứa trẻ, Đẩu đã trở thành một người,… và những mối tình dễ dãi ở mọi chốn chơi bời cứ tiếp tục mà qua mãi. Giữa cái cuộc vui nhả nhớt, chàng đắm say tươi cười ; thật lòng trai quên sầu cũng dễ như yêu,… nhưng lòng anh đã kém trong sạch, bây giờ khó tìm đâu cho thấy được vẻ sợ-sệt nhút-nhát si ngây thuở mười tám: một ít vẻ đẹp đã mất.

Đẩu đã yêu khắp nơi đến nấc cùng, đâu chàng cũng yêu đến si-dại, tuy thế vị ngọt hoa tàn của chuyện qua vẫn mang-mang ủ-ấp lòng Đẩu một nỗi nhớ thương nhẹ nhàng như làn gió thoảng qua của một buổi sớm nào êm dịu xa-xôi. Đẩu vẫn chẳng thể quên được người xưa, luôn luôn lòng chàng như nhớ tiếc mối tình ngây thơ cũ, như thiếu chút nắng dịu, thiếu vẻ nồng-nàn mà mắt Trinh chiếu lại. Đã bao lần yêu, đã bao lần sóng gió trong lòng, thế mà khi lắng hết chỉ riêng hình Trinh còn lại như vẫn còn sau cơn bão táp một cây cổ-thụ. Chuyện qua đã ăn rễ sâu vào tận thớ tim Đẩu.

Sau đó ít lâu, Đẩu thôi học và về ấp ở với cha mẹ. Hồn Đẩu phức tạp, chàng yêu đồng núi quê hương nhưng chàng cũng không quên làn không khí say sưa của cuộc đời chơi bời; từ nơi ấy Đẩu luôn luôn trở về thủ đô. Một hôm gặp Tuyết nàng nói cho Đẩu biết:

– Phượng khen Đẩu bây giờ ngoan lắm, về quê làm ăn rồi, lần nào đến nhà tôi chơi, Phượng cũng nhắc đến Đẩu.

Ngây cả người, Đẩu không hiểu sao Phượng Trinh lại biết mình về quê làm ăn, “mà mình có làm ăn gì đâu !”… Nhưng Tuyết đã nhìn chàng nói nhỏ:

– Phượng vẫn yêu Đẩu lắm…

Trời, Đẩu muốn khóc lên được! Thấy Đẩu ngây đờ yên lặng, Tuyết mỉm cười nói tiếp:

– Lần nào gặp tôi Phượng cũng nhắc đến Đẩu, cũng như Đẩu gặp tôi cứ hỏi chuyện Phượng ấy mà… Sao hai người không lấy nhau nhỉ…

… Rồi Tuyết kể:

– Ngày sắp cưới Phượng ấy, Phượng có chạy đến tôi; tôi có sao không lấy Đẩu có hơn không thì Phượng nói: “Tại Đẩu không đến hỏi… mà đợi thì biết Đẩu có ý định lấy Phượng không mà đợi cơ !… Phượng bảo “Chả lẽ em lại mang trầu cau đến hỏi Đẩu à ?…”

Nghe xong, Đẩu đau đớn hỏi trách:

– “Sao Tuyết không nói cho tôi biết ngay từ ngày ấy”… thì Tuyết trả lời:

– Ngày ấy tôi cũng có ý tìm Đẩu, nhưng hình như Đẩu ít khi có mặt ở Hà-nội thì phải…

Khẽ gật đầu, Đẩu yên lặng bâng khuâng…

Từ đấy chàng chỉ biết mang câu duyên-số ra để tự an-ủi và cũng từ đấy chàng càng tin chắc rằng chẳng bao giờ nữa Phượng-Trinh quên chàng, Đẩu vẫn nhủ thầm:

– Ai quên được những ngày đẹp đẽ trong đời…

Chuyện qua Đẩu vẫn giữ quý như một kho vàng. Lắm lúc bâng khuâng nghĩ lại, Đẩu vẫn thường cau có tự hỏi: “Sao lại cứ nhớ, sao không quên đi cho tâm hồn được thư thái”… nhưng rồi chàng lại nói ngay: “Không, đừng bắt ta quên… Ở đời có những vết thương êm ái. Như ta lúc này ai dám bảo nhẹ buồn là khổ khi đó là dư âm của một thời rạo-rực trở về vang lại trong hồn”. Những khi ở Hà-nội, Đẩu vẫn hay đi nhà thờ, nhưng nay không phải vì ai nữa mà tin tưởng ở đạo giáo. Vả lại xuân đầu chỉ có một lần, chàng không muốn bỏ một cái gì của những ngày tuổi trẻ tươi thắm đã qua.

Ảnh NTC

Một hôm vô tình Đẩu đi xe ngang qua nhà vợ chồng Trinh. Nhìn vào, chàng thấy Trinh đang đứng trong căn vườn nhỏ như mơ màng. Có thế thôi mà về tới nhà chàng cũng sung sướng mãi và cả ngày nhắc nhở”: Có lẽ phút này Trinh đang nghĩ đến ta, có lẽ… có lẽ!”. Rồi trên quyển sổ tay biên trăm thức lặt vặt, chàng viết mấy dòng: “Có lẽ như ngày nào đôi mày hơi đưa lên, em nhìn vào nơi nào không định. Nghĩ gì thế em? Em, trông gì ở nơi xa ấy, có phải là anh ? Em sao chẳng đáp lại tiếng gọi của lòng anh?”

Bất ngờ một hôm Đẩu gặp lại Tuyết, hai người vui vẻ trò chuyện xa gần, nhưng rồi cũng nhắc đến Phượng-Trinh… Đẩu hỏi:

– Vừa rồi mới gặp, tôi trông Trinh như có vẻ buồn ấy… gia đình Trinh có chuyện gì không vui không?

Tuyết cười đáp:

– Sao Đẩu lại hỏi thế. Phượng-Trinh ngoan lắm, chồng Phượng chẳng trách Phượng điều gì cả… Bố mẹ chồng cũng vậy.

Đẩu nhíu đôi mày, nói:

– Không biết tại sao tôi trông Phượng như không được vui; Phượng có được sung sướng không?

Tuyết thoảng cười:

– Đẩu cũng biết tính Phượng trẻ trung vui đùa là thế, mà chồng thì tính nết như ông cụ ấy…

Tuyết ngừng lại, mắt chớp bâng khuâng rồi mỉm cười nhìn Đẩu nói tiếp:

– Lấy Đẩu thì cố nhiên là vui hơn… À, ngày xưa ấy mà, dạo Phượng chưa đi lấy chồng ấy, một lần Phượng thấy trong sách ảnh của tôi có tấm ảnh của Đẩu chụp ngồi ở đống rơm, thế rồi Phượng cứ lấy, làm tôi phải đòi mãi.

Đẩu đứng yên lặng bùi ngùi trong sung-sướng! Thấy bạn có vẻ buồn tiếc, Tuyết hạ giọng:

– Thôi chả cần Đẩu ạ, hình Đẩu ở trong tim Phượng tôi tưởng cũng đủ rồi.

Từ đấy mỗi lần gặp người yêu cũ là Đẩu thấy như mình đang sống lại thời mê say thuở mười tám. Trong mắt Phượng-Trinh chàng thấy lại một ít tuổi nhỏ, một chút nắng sưởi cho lòng chàng ấm dịu, chút nắng thừa của một thời xa xôi. Những lúc đó, Đẩu chỉ biết đứng nhìn theo cho tới nẻo đường đã khuất mà tà áo Trinh còn phấp phới bay, rồi chàng bàng hoàng ngẩn ngơ nói một mình:

– Trời ơi, đôi mắt đen quá, sáng quá, phải chăng là những tấm gương phản chiếu mầu tươi sắc thắm của những ngày rực rỡ…

Đến một hôm chẳng hẹn trước, Tuyết rủ Đẩu đến nhà Phượng-Trinh chơi. Gặp lại bao nỗi ngượng ngùng, Trinh cười sung sướng, song bẽn lẽn cũng ruộm hồng đôi má; còn Đẩu thì ngày ngất cảm động ngắm bạn lòng cũ. Trước mặt chàng trai giọng Trinh nói chuyện với Tuyết mất cả tự nhiên; Đẩu ngồi nhìn lòng lâng lâng sung sướng; có một lúc Trinh mỉm cười e lệ quay sang hỏi Đẩu:

– Hình như dạo này không hay gặp ông đi lễ.

Phượng Trinh gọi Đẩu bằng “ông”! Nhưng làm thế nào, nàng đã có chồng! Nghe Trinh gọi mình như thế, Đẩu thấy nhói vào tim, nhưng hiểu tình thế mới, chàng vội trả lời:

– Độ này tôi ở nhà quê luôn… thỉnh thoảng mới về Hà-nội, thành ra Trinh không gặp.

Ngừng một giây, Đẩu mỉm cười nói tiếp :

– Với lại ngày xưa tôi có đi lễ bao giờ đâu,… từ ngày biết Trinh tôi mới đi nhà thờ đấy chứ… Trinh đã cứu vớt một linh-hồn mà Trinh không biết.

Răng trên khẽ cắn lên môi dưới e-thẹn, Trinh mỉm cười đỏ hồng cả má rồi đưa ngón tay lên miệng cắn cắn cảm động, đoạn nàng nhìn Tuyết cười ngượng nghịu cất tiếng bảo:

– Đi lễ thế thì chả… được phúc.

Blog Thơ văn Thanh Trắc Nguyễn Văn: Thơ 0063: Hoa vông vang 

Nhưng mắt nàng sáng ngời, phải chăng vì duyên cũ! Ánh sáng ấy cũng đủ khêu lại lòng Đẩu ngọn lửa đã gần tàn; và trông Trinh cười đắm say. Đẩu thấy nụ cười tươi thắm ấy như đưa chàng vào một vườn thắm nhẹ gió vừa. Đẩu ra về với ít hoa nở lại trong lòng, với ít tin tưởng rằng sẽ chẳng bao giờ hương tình cũ đến nỗi tan bay hết. Đời còn tươi đẹp và tươi lại vườn tình đang úa. Đẩu sung sướng trở lại nơi đồi núi quê hương và mang theo trong tim đôi mắt tươi cười của Trinh, đôi mắt trong sáng như tráng làn nước trong đã bao lần làm anh ngây ngất khi buổi đầu dịu dàng nhìn lại…

Vài hôm sau, một chiều vừa cưỡi ngựa đi chơi núi về thì Đẩu nhận được một phong thư, trong Tuyết viết: “Hôm qua Phượng lại nhà tôi chơi và bảo: “Bữa nọ, lúc vào tới phòng tiếp khách, thoạt trông thấy Đẩu, Phượng choáng váng ngạc nhiên đứng dừng lại…”.

Thôi thế cũng đủ làm Đẩu sung sướng đến rưng rưng nước mắt. Tay vẫn cầm lá thư, lơ đãng, chàng lững thững đưa bước ra phía đồi sau nhà. Trời mát! tóc thoảng nhẹ bay phất phơ trên trán… bâng khuâng vô tình đứng trông mấy bông vông-vang phất phơ lên bụi cỏ đương kín đáo cúp lại trong gió chiều êm đềm, Đẩu lại thấy lòng bỗng tràn đầy tin tưởng như buổi mới,… và man mác hy-vọng, chàng nhủ khẽ:

– Hoa còn có loài chiều hôm cúp vào để sớm mai nở lại em ạ, thì tình ta sao chả có lúc nối theo…

HẾT

(*): Hồi âm (lời người chép truyện trú thích)

(**): Quán rượu (lời người chép truyện trú thích)

 

Ra Mắt Tập Truyện ‘Hoa Vông Vang” Của Nhà Văn Đỗ Tốn

Nhà Văn Đỗ Tốn | Chân Trời Mới Media

Ra mat sach Do Ton (2)Quang cảnh trong hội trường buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang.” Trong hình, người ngồi hang đầu bên trái là nhà văn Trúc Chi.(Photo VB) Ra mat sach Do Ton (3)

4 người con của nhà văn Đỗ Tốn và Như Băng. Từ trái, Đỗ Hạc Tuyền, Đỗ Duyên, Đỗ Thăng, và Đỗ Huân trong buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang”.(Photo VB)

Ra mat sach Do Ton (4)

Trưởng nữ của nhà văn Đỗ Tốn là bà Đỗ Hạc Tuyền ký sách tặng. Đứng bên phải của Hạc Tuyền là giáo sư Nguyễn Văn Sâm.(Photo VB)

 WESTMINSTER (VB) – Buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang” của nhà văn Đỗ Tốn đã diễn ra tại hội trường Nhật Báo Việt Báo, trên đường Moran, thành phố Westminster, vào trưa Chủ Nhật, ngày 25 tháng 8 năm 2019, với sự tham dự đông đảo của các văn nghệ sĩ, các cơ quan truyền thông báo chí, và giới mộ điệu văn chương.

Hoa Vông Vang' của nhà văn Đỗ Tốn tái bản, ra mắt độc giả Little Saigon

MC chính của chương trình là ông Nguyễn Đình Cường và 2 MC cho chương trình văn nghệ là Uyển Diễm và Đại Dương.

Trưởng nữ của nhà văn Đỗ Tốn là bà Đỗ Hạc Tuyền, trong lời mở đầu buổi ra mắt sách nói rằng sự hiện diện đông đảo của quan khách đã nói lên sự quan tâm đối với tập truyện “Hoa Vông Vang” của thân phụ bà. Bà Tuyền cho biết thân phụ bà là nhà văn Đỗ Tốn sinh năm 1921 tại Hà Nội và mất năm 1973 tại Sài Gòn. Cố nhà văn Đỗ Tốn, theo bà Tuyền, đã phục vụ trong Cục Tâm Lý Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc Thiếu Tá.

Bà Tuyền cũng cho hay rằng “Hoa Vông Vang” là tập truyện ngắn đầu tay của thân phụ bà. Bà kể rằng khi nhà văn Nhất Linh viết lời giới thiệu cho tập truyện đã viết rằng, “Xem những chuyện trong tập “Hoa Vông Vang” tôi không thể không đem Đỗ Tốn ra so sánh với một nhà viết truyện ngắn khác là Thạch Lam. Tôi thấy hai nhà văn này có nhiều chỗ giống nhau và tôi tin Đỗ Tốn sẽ là một Thạch Lam thứ hai trong văn giới nước ta.”

blank

Theo bà Đỗ Hạc Tuyền, khi viết “Hoa Vông Vang” nhà văn Đỗ Tốn mới có 21 tuổi và tập truyện này đã được ra mắt lần đầu tiên vào năm 1945 tại Hà Nội. Sau năm 1954 vào Nam, nhà văn Đỗ Tốn đã viết thêm các truyện khác và cho in chung vào tập truyện “Hoa Vông Vang.”

Trong tập truyện “Hoa Vông Vang” còn có phần Hồi Ký của phu nhân của nhà văn Đỗ Tốn là bà Nguyễn Thị Như Băng, bút hiệu Như Băng.

Bà Tuyền cho biết rằng thân mẫu của bà sinh năm 1925 tại Lạng Sơn. Năm 14 tuổi bà Như Băng đã qua Trung Quốc vì cuộc chiến tranh đã đưa đẩy. Sau đó bà Như Băng đã theo học trường quân sự về ngành vô tuyến điện do chính phủ Tưởng Giới Thạch chủ trương. Bà Tuyền kể thêm rằng thân mẫu của bà là một trong 2 sinh viên tốt nghiệp tại trường này ở TQ và sau đó về Việt Nam làm việc. Bà Như Băng thông thạo tiếng Quan Thoại, tiếng Quảng Đông, biết chữ Hán. Bà Tuyền nói rằng thân phụ và thân mẫu của bà đã kết hôn vào năm 1945.

Bà Đỗ Hạc Tuyền nói rằng sở dĩ in lại tập truyện “Hoa Vông Vang” của nhà văn Đỗ Tốn là vì để bảo tồn văn chương Việt Nam không bị mất đi. Bà nói lâu nay nhiều người đi tìm tác phẩm này mà không thấy. Bà cũng nói thêm rằng việc tái bản tập truyện còn là cách bày tỏ lòng biết ơn và yêu kính đối với bậc sinh thành.

 Văn Lan - 'Hoa Vông Vang' của nhà văn Đỗ Tốn tái bản, ra mắt độc giả Little  Saigon - Tin Thơ và Thơ - Bạn Văn Nghệ

Buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang” còn có phần thuyết trình của nhà văn Trúc Chi, giáo sư Võ Kim Sơn, và nhà thơ Trịnh Y Thư nói về nhà văn Lỗ Tốn và tập truyện “Hoa Vông Vang.”

Trong cuộc chuyện trò bên lề buổi ra mắt tập truyện “Hoa Vông Vang” của nhà văn Đỗ Tốn, anh Đỗ Huân, người con trai thứ của nhà văn Đỗ Tốn, cho phóng viên Việt Báo biết rằng Hồi Ký của bà cụ thân mẫu của anh đã được viết sau này ở Mỹ và là lần đầu tiên ra mắt tại Quận Cam.

Anh Bạch Thái Dũng, cựu giáo viên Việt ngữ Trường Trung Học La Quinta, thành phố Westminster, nơi có đông đảo học sinh Việt Nam, cho phóng viên Việt Báo biết rằng mẹ anh là em ruột của nhà văn Đỗ Tốn. Anh Dũng nhớ lại năm anh 11 tuổi, lúc đến nhà bác Đỗ Tốn và leo lên gác thì thấy tập truyện “Hoa Vông Vang” in bằng giấy lụa cũ, với tựa màu vàng. Anh nói rằng lúc đó có đọc qua nhưng vì còn quá nhỏ để có thể nhận biết truyện hay đến mức nào. Anh nói sau mấy chục năm, bây giờ mới có cơ hội để đọc lại tập truyện này.

Hoa Vông Vang' của nhà văn Đỗ Tốn tái bản, ra mắt độc giả Little Saigon

Buổi ra mắt sách còn có phần trình diễn văn nghệ rất đặc sắc với các tiếng hát được nhiều người mến mộ như ca sĩ Kim Tước, ca sĩ Hồng Tước, ca sĩ Thu Vàng, ca sĩ Kiều Loan, ca sĩ Nam Trân, v.v…

Được biết nhà văn Đỗ Tốn và Như Băng có 4 người con, 2 trai, 2 gái, gồm Đỗ Hạc Huyền, Đỗ Thăng, Đỗ Duyên, và Đỗ Huân, tất cả đều cư ngụ tại Hoa Kỳ.

“Hoa Vông Vang” kể chuyện tình của chàng trai mười tám tên Đẩu yêu người con gái mười sáu tên Phượng Trinh. Đó là mối tình đầu ngây thơ, trong trắng, lãng mạn và rụt rè. Chàng trai rụt rè đến đỗi yêu người ta mà không dám biểu lộ chỉ biết mỗi ngày tan học thì lẽo đẽo theo sau. Tấm chân tình của chàng rồi có lúc được cô nàng đón nhận và hai người chính thức yêu nhau. Nhưng rồi, một ngày nọ, người con gái kia đã cất bước sang ngang và chàng trai si tình này bị cú sốc vỡ tim nhoi nhói. Vậy mà, hình ảnh của người yêu Phượng Trinh vẫn không phai nhạt trong trái tim của chàng.

Nhà văn Đỗ Tốn khi miêu tả tâm trạng của Đẩu hay tin Phượng Trinh đi lấy chồng đã hạ bút như sau:

“Như những vết thương đứt quá mạnh làm ta tê đi không thấy đau, mấy ngày đầu Đầu không thấy buồn; nhưng sau, nhiều lúc tự nhiên chàng thấy như mất một mục đích trong đời, chàng cảm thấy chán nản. Tuy thế chàng vẫn yêu Trinh như trước và vẫn mang máng tin là Trinh yêu mình. Đầu vẫn cứ nói một mình: “Cứ để mặc anh tin em nhá.” (Hoa Vông Vang, Việt Tide 2019, tr. 79)

Rồi ngày nọ, khi nhận được thư của bạn Trinh là Tuyết kể khi Trinh gặp lại Đẩu nàng xúc cảm đến choáng váng, Đẩu “sung sướng đến rưng rưng nước mắt.” Đến đây, nhà văn Đỗ Tốn nhắc đến hoa vông vang.

“Trời mát! Tóc thoảng nhẹ bay phất phơ trên trán… bâng khuâng vô tình đứng trông mấy bông vông vang phất phơ bên bụi cỏ đương kín đáo cúp lại trong gió chiều êm đềm. Đẩu lại thấy lòng bỗng tràn đầy tin tưởng như buổi mới… và man mác hy vọng, chàng nhủ khẻ:

“- Hoa còn có loại chiều hôm cúp vào để sớm mai nở lại em ạ, thì tình ta sao chả có lúc nối theo…” (Hoa Vông Vang, tr. )

 

Người Việt

 

HOA VÔNG VANG

Em sắp xa thành phố
Về lại đất hương tràm
Hỏi em thích gì nhất?
Em cười: Hoa vông vang.

Ta qua bao góc phố
Ta đến bao tiệm hoa
Hỏi mua, mua chẳng có
Hỏi tìm, tìm không ra.

Tên hoa quen mà lạ
Như người lạ giờ quen
Hẳn là hoa cũng đẹp
Hiền dịu như mắt em?

Kẻ nói hoa màu đỏ
Kẻ mách hoa màu vàng
Người cho hoa là cỏ
Người bảo hoa mọc hoang!

Ta tìm, đi tìm mãi
Mang nỗi buồn lang thang
Giữa thị thành hoa lệ
Tìm đâu hoa vông vang?

Ngày tiễn em mưa trắng
Ta lặng nhìn mây trôi
Vông vang trong tay với
Hay xa tận chân trời?

1995
(Tập thơ Hoa Sứ Trắng - NXB Đà Nẵng 1997)

Thanh Trắc Nguyễn Văn

Hồng Vân sưu tầm

Truyện ngắn Hoa vông vang của tác giả Đỗ Tốn

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này