Kim Quy

Kim Quy

Năm Tý nói chuyện Chuột

Năm TÝ Nói Chuyện CHUỘT
 
 
 
 
Nguồn gốc loài chuột:

Không ai biết được nguồn gốc của chuột phát sinh từ đâu mà ra. Tất cả thế giới đều cho đó là hiện tượng do thiên nhiên tạo dựng nên các sinh vật trên trái đất, giống như chuyện trong kinh thánh nói về việc tạo dựng nên vũ trụ và con người phát xuất từ đất bùn, Chúa nặn lên tổ tiên của loài người là Adam và Eva.

Có một câu hỏi đặt ra, mà cho đến ngày nay vẫn chưa có câu giải đáp. Tại sao tổ tiên của chúng ta lại chọn loài chuột đứng đầu cho 12 con giáp? Mà lại không chọn con vật khác?? Chưa có câu trả lời chính xác.

Nhưng có giả thuyết cho rằng: Sở dĩ chuột được đứng đầu trong 12 con giáp, vì theo các khoa học gia cho biết vào giờ Tý khoảng từ 23 giờ khuya đến 02 giờ sáng là giờ chuột hoạt động rất mạnh, đi cắn phá và kiếm ăn. Giờ đó chúng rất tỉnh táo và bén nhậy.
 
Lồng trong thời điểm đó, đa số các cặp vợ chồng chọn là giờ để ân ái, giao hợp với nhau. Giờ này yên tịnh, những người thân hoặc con cái trong gia đình đang yên giấc ngủ. Lợi dụng giờ giấc này, các cặp vợ chồng thức dậy, khều nhau cùng diễn trò mây, mưa, “trùm mền múa lân”. Nên phụ nữ thường hay cấn thai vào giờ Tý.
 
Do đó mới có sự phát sinh ra nhân loại lan tràn trên trái đất. Vì vậy chuột được coi là con vật làm chuẩn đứng đầu 12 con giáp. Đây chỉ là một giả thuyết thôi, không có sự xác minh chính thức.

Đã có sự thống nhất ở một số quốc gia Á châu, trong đó có người Việt Nam. Cha ông chúng ta đã chọn 12 con vật tiểu biểu cho 12 con giáp. Có 7 con vật là loại chăn nuôi: Trâu, mèo, ngựa, dê, gà, chó, heo.

Còn 4 con vật khác thuộc loại hoang dã: Chuột, hổ, rắn, khỉ và 1 con vật coi như là thần linh, đó là Rồng.


Các loại chuột và họ nhà chuột:

Chuột sinh sống ở khắp nơi trên thế giới, có nhiều loại khác nhau, riêng chuột (Rattus) có tới 570 loại giống, đó là một số lượng giống vật nhiều loại nhất, so với bất cứ loại động vật có vú nào. Chuột nhắt (Mus) cũng có khoảng 370 loại. Cũng theo ước tính của các nhà khoa học thì hiện nay trên thế giới có khoảng trên 4 tỉ con chuột, nghĩa là bằng khoảng 2/3 dân số loài người trên thế giới..

Chuột đàn rất mắn đẻ, sau khi giao cấu, chuột cái có bầu từ 19 đến 22 ngày, khoảng 3 tuần là đẻ. Chúng đẻ rất nhiều, mỗi năm chuột cái sinh sản từ 5 đến 7 lứa và mỗi lứa đẻ từ 6 đến 10 con. Chuột cái con (female), lớn chừng 3 tháng tuổi là có thể giao cấu, thụ thai và sanh con. Cứ 3 tháng chuột cái lại sanh một lần. Tuổi thọ của chuột sống tối đa khoảng từ 3 đến 4 năm.

Theo thống kê cho biết: Chuột cái, nếu cứ mỗi lần sanh sản “mẹ tròn, con vuông” thì khoảng sau 3 năm, nó sẽ có đến 5 đời: Con, cháu, chắt, chút, chít có thể lên đến hàng triệu con. Nếu không có loài người và những sinh vật sát hại chúng như: Mèo, chó, rắn, diều hâu, chồn, cáo. .vv.. Giết và ăn thịt chuột, thì chẳng bao lâu chuột sẽ sinh nở kín trái đất.

Chuột thuộc loại gặm nhấm và sinh sản nhiều, cho nên chúng được xếp vào loại động vật có quân số đông nhất trên địa cầu. Chuột có nhiều loại:

-Chuột Bạch -Chuột Cống (hay chuột Na Uy) -Chuột Chù -Chuột Đại thử (hay còn gọi chuột Kangaroo) -Chuột Đồng -Chuột Giunea pig -Chuột Nhà -Chuột Nước -Chuột Nhảy -Chuột Sạ -Chuột Sao -Chuột Sóc -Chuột Túi -Chuột Vòng..v.v.. Chuột vòng và chuột bạch nuôi làm cảnh trong nhà.
 


Chuột cũng biết ghen:

Theo các nhà nghiên cứu cho biết: Khi chuột nhà gặp một con chuột lạ xuất hiện, trưởng bày chuột sẽ xua đuổi hoặc chiến đấu với tên chuột lạ cho tới khi chuột lạ biến mất, hoặc tiêu diệt tên đó. Chuột tiết ra một mùi riêng để chúng dễ nhận diện ra bà con.
 
Trong trường hợp chuột chồng phải đi xa kiếm ăn, hoặc vắng nhà. Chuột vợ ở nhà cho chồng mọc sừng. Hoặc có tên chuột đực nào gian manh đến tán tỉnh, tằng tịu với chuột cái, chuột chồng về, sẽ trừng trị chuột cái cho đến khi cái mùi của tên chuột đực dê xồm được gió cuốn bay đi hết khỏi lông của chuột vợ, thì chuột vợ mới được chồng tha…
 


Thực phẩm của chuột:

Chuột ăn được các loại thực phẩm mà con người, hay bất cứ sinh vật nào trên trái đất có thể ăn được. Chúng ăn, gặm nhấm và phá hoại mùa màng, lương thực của dân gian khoảng 42.5 triệu tấn trong một năm, từ ngoài cánh đồng vào đến các kho dự trữ.
 
Số lượng lương thực này được Hội Lương Nông Quốc Tế LHQ ước tính bằng tổng sản lượng lương thực của 25 nước nghèo trên thế giới cộng lại. (trong đó có VN).

Cứ mỗi vụ mùa, một con chuột tha về hang, ổ khoảng từ 3 đến 5 kílô thóc gạo. Chuột ăn một ngày khoảng 100gr thức ăn, bằng 50 hay 80% trọng lượng toàn thân của nó. Các nông gia ước tính, cứ mỗi hecta ruộng, rẫy, có khoảng 20 hang chuột.


Qua một cuộc nghiên cứu và thí nghiệm, trong phòng Lab. Người ta bắt một con chuột nhắt thả vào trong một hũ gạo. Kết quả ghi nhận được như sau: Chuột nhắt ăn một năm hết 18.2kg gạo và bài tiết ra 25,000 cục phân, tổng cộng nặng 1.8kg và xả ra khoảng 4,640cm khối nước tiểu. Lượng gạo bị nhiễm bẩn, hư hại không dùng được, nhiều gấp 10 lần số gạo chuột đã ăn.


Thịt chuột:

Thịt chuột là món đặc sản của người dân miền Tây Việt Nam. Ai về miệt dưới, hướng Rạch Giá, Long Xuyên Châu Đốc, đi qua hai đầu cầu bắc, bến phà Vàm Cống đều nhìn thấy những quán cơm bán thịt đồng quê, nơi đây có những quán bán thịt chuột đã lột da, được xếp trong những cái khay, hoặc xiên thành từng vỉ, treo lủng lẳng trước quán để cho khách lựa chọn.
 
 
Khách chỉ cần mua về, chặt thịt ra từng mảnh, ướp gia vị, nướng rôti hay kho sả ớt, ăn cũng rất thú vị. Trước khi làm món thịt chuột, người ta bắt chuột còn sống, cầm cái đuôi, dốc đầu chuột xuống, quay vài vòng cho chuột chóng mặt, rồi đập đầu chuột vào vật cứng như gỗ, đá hay đất cho chết.
 
Chặt bỏ đầu, chân, đuôi và lột da vất đi. Mổ bụng, bỏ ruột, chỉ lấy độc nhất cái thân mà thôi. Rửa thịt cho sạch, sau đó chặt ra làm 4 hay 6 miếng tùy theo món chế biến, ướp gia vị với hành, tỏi, sả, ớt cho thơm…đem xào, chiên hay kho cũng ngon.

Bắt chuột miền quê:
 
Năm 1954 di cư vào Nam, chúng tôi thấy những người dân miền Nam bắt rắn, bắt chuột về ăn thịt. Lúc đầu chúng tôi nhìn thấy họ làm thịt rắn và chuột. Nghĩ tới lúc ăn, sao tôi thấy ơn ớn. Nhưng về sau được những người bạn miền Nam cho ăn thử, thấy ngon và có lý, nên chúng tôi cũng học theo, đi săn bắt chuột và rắn về mần thịt.

Khởi đầu dân Bắc Kỳ di cư vào Nam được chính phủ Ngô Đình Diệm đưa đi định cư nơi vùng dinh điền Cái Sắn, nằm giữa liên tỉnh lộ Long Xuyên - Rạch Giá.

Cái Sắn là một cánh đồng hoang vu ngập nước từ tháng 5 đến tháng 12, cỏ dại mọc cao khoảng từ 2 tới 3 mét, đồng ruộng thẳng cánh cò bay. Đến mùa khô, chính phủ gửi một đội quân máy cày, có Mã Lực mạnh, kéo loại giàn cày 3 chảo, khoảng vài chục chiếc xuống dinh điền Cái Sắn, giúp dân chúng phá hoang lập ấp.
 
 
Đội máy cày, kéo giàn cày chạy trước, chúng tôi dẫn chó chạy theo sau, để săn bắt những con chuột đồng bụ bẫm và những chú rắn hổ hành bự, trông rất dự tợn. Bày chó giúp chúng tôi bắt chuột, rắn và rùa rất nhanh chóng, gọn gàng và hữu hiệu.
 
Chó rượt theo chuột, cạp ngang lưng con chuột hay đuôi rắn kéo về, chúng tôi chỉ cần lấy cây đập đầu rắn hoặc tóm cổ chuột, bỏ vào bao hay rọ là xong ngay.

Chúng tôi thường đem theo những cái bao bố (empty bags) đã được Cơ Quan Viện Trợ Mỹ dùng để đựng gạo và bột mì phát cho dân chúng, để nhốt chuột và rắn. Chúng tôi dẫn chó theo đoàn máy cày chừng vài tiếng đồng hồ là có một vài bao chuột, rùa và rắn đem về mần thịt.

Ở miền Tây vào mùa nước lớn chúng tôi dẫn chó theo lên xuồng, chống sào vào các bụi tre hay các bụi rậm, lấy đòng đâm chuột, nhiều chú chuột bị động, sợ nhẩy xuống nước trốn, chó rượt theo bắt lại.
 
Vào mùa khô chúng tôi dẫn chó ra cánh đồng, thấy hang, ổ nào nghi là có chuột, chúng tôi đốt nùi rơm, hun khói thổi vào trong hang, chuột, rắn bị ngộp chui ra, phóng chạy, chó thoải mái rượt theo, cạp lưng chuột mang về giao cho chúng tôi. Ở miền Tây, người ta thường ra đồng bắt chuột đem về làm mồi nhậu với rượu đế, nấu gạo nếp than Bắc kỳ, nhậu tuyệt cú mèo, xỉn vút cần câu.


Trước 1975 ở Cần Thơ có quán Bảy Rùa nằm kế Bến Xe Mới gần Lộ 20. Quán này chuyên nấu các món nhậu thịt đồng quê như: Rùa, rắn, cua đinh, cua đơ và thịt chuột khá ngon.
 
Dân nhậu Miệt Vườn thường hay ghé vào quán Bảy Rùa để lai rai thưởng thức các món thịt hoang dã đồng quê. Cần Thơ còn có thêm quán Vĩnh Ký và vài quán nữa cũng nấu các món đồng quê thuộc loại số dách.

Bây giờ hồi tưởng lại qúa khứ, vẫn còn thấy thèm “Món Nhậu Đồng Quê”. Ông bạn miệt vườn của tôi ở Cái Răng có treo trên tường 4 câu thơ:

Bao giờ bạn đến thăm nhà

Thưởng thức đặc sản đậm đà tình quê

Mùa đông tôi đón bạn về

Ăn món thịt Chuột hương quê tự hào


Nhậu thịt Chuột 7 Món:

1. Chuột luộc ướp lá chanh. Thịt chuột luộc, ép với lá chanh. Sau khi luộc vớt thịt ra, lấy 2 cái kẹp bằng tre, ép cho ra hết nước, rồi chặt thành từng miếng nhỏ vừa ăn, bày ra đĩa, rắc lá chanh thái chỉ và hành ngò lên trên, ăn ngon như thịt gà…

2. Chuột xào. Thịt chuột chặt thành miếng cỡ bằng 3 ngón tay, cho vào chảo xào chín với nước sốt. Đậu phộng giã nhỏ, rau thơm, hành, ngò, lá răm thái nhỏ, rắc lên trên, món này ăn với bún hết xẩy.
 


3. Chuột chiên dòn, rắc ngò gai, ngò ôm, ớt thái mỏng trộn với chanh trên dĩa thịt, chấm với nước mắm pha lạt, dầm với củ kiệu, cà rốt thái mỏng, món này nhậu bí tỷ. Ngoài ra còn có mục:

4. Thịt Chuột nấu đông

5. Thịt Chuột giả cầy

6. Thịt Chuột xào chua ngọt

7. Thịt Chuột sốt cà chua

Nghe đồn, ở miền Bắc có 2 tỉnh nổi tiếng về chợ bán thịt chuột và nấu món ăn thịt chuột là tỉnh Hưng Yên và Bắc Ninh. Nhất là làng Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh có quán thịt chuột 7 món. Giá thịt chuột vào những ngày gần Tết ở vùng này khoảng từ 12,000 đến 15,000 đồng VN/ kg.(Phỏng theo hành trình văn hóa VTV4)


Theo khách du lịch kể lại, bên Trung Quốc ở tỉnh Vũ Hán có một khách sạn lớn, chuyên nhận chiêu đãi du khách đặc sản thịt chuột 10 món. Những món thịnh soạn này được các chú Ba biến chế từ 100 con chuột đồng.
 
Món Fillet chuột được nhiều thực khách ưa chuộng. Chợ tỉnh Quảng Tây bán chuột sống, chợ Quảng Đông bán thịt chuột đóng hộp. Dân Phúc kiến cho rằng, thịt chuột có cái lườn là ngon nhất.

Trung Quốc cũng còn món thịt chuột độc đáo nữa là thịt “Chuột Bao Tử”. Món này được chế biến từ loại chuột đồng baby, được bắt đem về nuôi từ lúc còn nhỏ, cho chúng ăn bằng gạo trộn lẫn với trứng gà và các vị thuốc bắc, uống nước sâm và nước ép trái lê. Khi chuột đủ lớn, thụ thai vừa sanh con, chuột con còn sống được cột chặt, cho vào làm nhân bánh, như nhân bánh bao.
 
Khi người ăn đưa bánh vào miệng cắn ăn, sẽ nghe tiếng kêu của chuột nhí còn sống bên trong. Đây là một trong 7 món đặc biệt mà Từ Hy Thái Hậu đã chiêu đãi các sư thần vào đêm giao thừa khoảng năm 1877 Tân Tý. (Trích theo hội thi chuyên gia nấu ăn Trung Quốc)

Thịt Chuột là một món ăn thú vị nhất của Mèo.

Tôn Giáo Chuột:

Bên Ấn Độ có một tôn giáo thờ Chuột. Trong một đêm khuya, tôi tình cờ mở TV coi đài số 2 ABC, chương trình Thế Giới chung quanh chúng ta, tường thuật thời sự bên Ấn Độ có đạo thờ chuột. Nguyên một làng thờ chuột, tôi không nhớ rõ tên làng này.
 
Đạo Trưởng cấm các tín đồ không được nuôi những gia súc sát hại chuột, vì chuột là thần thánh, mọi người phải nuôi chuột và cho chúng ăn. Tôi nhìn thấy chúng sống và chạy nhầy luẩn quẩn chung với người. Hàng hàng, lớp lớp chuột chạy khắp mọi nơi trong nhà ngoài ngõ, nhìn thấy mà nổi da gà. Có lẽ đây là một tôn giáo có tín ngưỡng hơi quái đản.
 
Theo tạp chí National Geographic, ngôi đền của đạo Hindu có tên là Karni Mata ở Rajasthan còn được gọi là “Đền Chuột” (Rat Temple). Nơi đây có khoảng 25.000 con chuột sinh sống và được mọi người “tôn kính”. Đó là “thiên đường” của chuột. 
 
 
“Dân số chuột” ở đền Karni Mata ngày càng phát triển mạnh. Chúng sinh sống một cách “tự nhiên như ở nhà” mà lại còn được… tôn kính vì thờ phượng chuột vốn là một trong những truyền thống của đạo Hindu từ thế kỷ thứ 15. 
 
Karni Mata  là tên của một vị nữ thần, bà ước muốn có một ngôi nhà cho loài chuột mà kiếp trước là “những người hành nghề kể chuyện” (storytellers). Vào năm 1900, một ngôi đền được xây dựng để vinh danh thần Karni Mata và… những con chuột. Một đội ngũ nhân viên hơn 500 người có nhiệm vụ hàng ngày nuôi chuột bằng hạt ngũ cốc và sữa, đồng thời họ cũng có trách nhiệm làm vệ sinh trong đền. 

Chuột Trong Kinh Thánh (trích theo các sách)

Lê Vi - Chương 11 -29Trong số các loài vật nhỏ lúc nhúc trên mặt đất, các ngươi phải coi những loài này là ô uế: Chuột chũi, chuột nhắt, mọi thứ thằn lằn,

Samuel I - Chương 6 -4Người Phi-li-tinh hỏi: “Của lễ đền tội chúng tôi phải nộp cho Người là gì?” Họ đáp: “Năm cái khối u bằng vàng và năm con chuột bằng vàng, tính theo số các vương hầu người Phi-li-tinh, vì cũng một tai hoạ đã giáng xuống trên tất cả anh em và trên các vương hầu của anh em”.

Samuel I - Chương 6 -5Anh em hãy làm những hình ảnh các khối u của anh em, và hình ảnh các con chuột đang phá phách xứ sở, và hãy tôn vinh Thiên Chúa Ít-ra-en. May ra Người sẽ nhẹ tay với anh em, với các thần của anh em và xứ sở anh em.

Samuel I - Chương 6 -11Chúng đặt hòm bia Đức Chúa lên xe, cùng với cái tráp đựng các con chuột bằng vàng và hình ảnh các khối u của chúng.

Samuel I - Chương 6 -18Ngoài ra còn có các con chuột bằng vàng, tính theo số tất cả các thành người Phi-li-tinh thuộc về năm vương hầu, từ thành kiên cố cho đến làng bỏ ngỏ. Tảng đá lớn trên đó người ta đã đặt hòm bia Đức Chúa là bằng chứng cho đến ngày hôm nay, trong cánh đồng ông Giơ-hô-su-a người Bết Se-mét.

Isaia - Chương 2 -20Ngày đó, con người sẽ ném cho chuột chù, cho dơi những tà thần bằng bạc, tà thần bằng vàng của họ mà họ đã làm ra để thờ.

Isaia - Chương 66 -17Những kẻ tự thánh hiến và tự thanh tẩy để vào các khu vườn sau một người đứng ở giữa, những kẻ ăn thịt heo, thịt các thú vật kinh tởm và thịt chuột, đều sẽ chết cả lũ.

-Sấm ngôn của Đức Chúa.

Như vậy lược sơ qua các bộ kinh thánh, chúng ta chỉ tìm thấy có Chuột được nói đến trong kinh thánh Cựu Ước. Còn kinh thánh Tân Ước thì không hề đá động gì đến loài chuột cả.

Tục Ngữ Chuột

Chuột sa hũ gạo. Mèo vờn chuột. Loắt choắt như chuột nhắt. Hôi như chuột chù. Lù đù như chuột cống. Thúi như chuột chết. Lấm lép như chuột ngày.

Nghệ thuật chuột: Bên VN, vào những ngày Tết, người ta hay bày bán những bức tranh Đồng Hồ vẽ cảnh “Đám Cưới Chuột” “Mèo Vờn Chuột”.vv.

Tại làng Mái, tỉnh Bắc Ninh, miền Bắc, nổi tiếng về nghệ thuật sáng tác tranh Đông Hồ, đặc biệt là Bức tranh dân gian “Đám Cưới Chuột” toàn cảnh bức tranh diễn tả một chú Rể chuột thi đỗ làm quan, vinh quy bái tổ về quê cưới vợ “Võng anh đi trước, võng nàng theo sau” Chuột xếp thành 2 hàng đi rước Dâu.
 
 
Chú Rể chuột bảnh chọe, oai phong, đội mũ cánh chuồn, trông ra dáng vẻ quan tước, cưỡi ngựa đi trước đoàn rước Dâu, đang ngoảnh mặt lại, nhìn cô Dâu chuột ngồi trong cỗ kiệu hoa, cùng đi với bầu đoàn thê tử nhà chuột, có che lọng vàng, tán hoa.

Hàng rước thứ 2 của đoàn chuột kế bên phía trong tranh là đại diện cho gia tộc nhà chuột với những thanh nam và nữ tú chuột, ăn mặc chỉnh tề, đang xếp hàng đi đến trước mặt chú Mèo ngồi bệ vệ chặn đường.
 
Hai họ nhà chuột khúm núm đến lễ Mèo, đút lót, hối lộ. Kẻ thì bưng chim gáy, người thì xách cá. Theo sau là một ban kèn chuột đang hòa tấu khúc nhạc, ca tụng mèo. Chú Mèo ngồi chễm chệ chặn đường, phùng má, trợn mắt, vênh râu, múa vuốt ra oai, hù dọa đám rước Dâu chuột.

Nhìn kỹ bức tranh có ghi câu đối:

“Thử bối đệ ngư: Chí! Chí! Chí!”

“Miêu nhi thủ lễ: Mưu! Mưu!Mưu!”

Hai câu đối này có nghĩa là:

“Bày Chuột dâng cá kêu: Chí! Chí! Chí!”

“Chú Mèo giữ lễ kêu: Meo! Meo! Meo!”

Thêm mấy hàng chữ nhỏ góc trên, phía bên trái: “Tác Lạc” nghĩa là: “Mua vui” với câu:

“Khôn khôn đá co dễ. Đỗ cao cưới vợ tiếng rằng hời”

Theo các cụ ngày xưa cho biết: Thì bức tranh này gợi ý qua câu chuyện ngụ ngôn “Đám Cưới Chuột”. Nội dung câu chuyện được kể như sau: Một hôm giòng họ nhà Chuột quyết định làm đám cưới cho hai con.
 
Chuột mẹ tất tưởi lo mọi công việc chuẩn bị cho đám cưới, kể cả việc đi coi tuổi cho cô Dâu, chú Rể, rồi định ngày lành tháng tốt để cưới hỏi. Có một việc quan trọng, cả họ phải lo, là lỡi ngãi hối lộ quan bác Mèo Già để tránh bị phiền hà, Mong sao quan Mèo làm ngơ cho đám cưới được diễn tiến tốt đẹp.
 
Đến ngày cưới, họ hàng nhà chuột, quần áo chỉnh tề, trong nghi thức cổ truyền dân tộc đầy hân hoan rạng rỡ. Hôn lễ cử hành trong nghi thức đơn giản, không rườm rà, đã được quan bác Mèo thông cảm cho hoàn tất êm đẹp.
 
Thế nhưng một bi kịch đã không xảy ra trong ngày đám cưới chuột, mà lại xảy ra vào ngày vợ chuột sinh con đầu lòng. Vợ chuột vừa qua cơn đau đẻ “Vượt biển một mình” cứ tưởng sẽ được “Mẹ tròn, con vuông”. Nào ngờ đâu, bất chợt quan Mèo già xuất hiện, bắt trọn ổ cả nhà chuột đem đi hành hình xơi tái, kết liễu tang thương một gia đình trẻ nhà chuột.

Thơ Đám Cưới Chuột


Trạng Chuột ơn vua cưới vợ làng

Kiệu sơn lộng lẫy, lọng hoa vàng

Nàng Dâu xứ Chuột đi chân đất

Ngón nhỏ, bùn đen vẫn dính chân

Có con Mèo mướp ngồi trên trốc

Chồm hổm, vênh râu, đợi để dâng

Chú chuột thổi kèn, chân rúm lại

Con Chép đồng quê, vẩy ngấn vàng

Không biết quan Mèo có chịu yên,

Có đòi lễ vật phải nhiều thêm?

Mà bao năm tháng, trên tranh Tết

Tiếng trống vinh qui vẫn rộn ràng

Ngựa hồn, quan trạng giong cương bước

Chuột vợ chưa hay mình đã quan

Một bước lên bà là thế đấy,

Khối cô Chuột khác, nghĩ mà thèm!

Chao ôi! Chuyện học xưa nay thế!

Đời trước, đời sau vẫn ước mơ,

Hoa tay dân giã, người không vẽ

Vẽ Chuột nhung nhăng đến tận giờ!


(Văn Phú)
 

Chuột và Khoa Học Y Khoa

Công dụng của chuột: Chuột hầu hết được các nhà khoa học sử dụng trong các phòng thí nghiệm để theo dõi các dịch vụ thử nghiệm y tế như: Thử nghiệm y dược, để biết công hiệu của từng loại dược phẩm trước khi áp dụng chữa trị cứu sống con người.

Chuột truyền dịch hạch:

Chuột cống là loại chuột nguy hiểm nhất. Chúng truyền dịch bệnh sang người qua các ký sinh trùng bám trên lông của chúng. Các loại bọ chuột này là những vi trùng: Dịch hạch, đậu lào, sốt ban nóng. Chuột còn tiềm ẩn 5 hay 6 loại giun ký sinh trùng, dễ lây lan sang loài người. Cần phải phòng ngừa và tiêu diệt chúng.

Diệt chuột trên đảo Pulau Bidong

Năm 1979 chúng tôi vượt biển đến trại tỵ nạn Pulau Bidong, vào thời điểm này dân số tỵ nạn của trại lên đến 50,000 người. Thực phẩm được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc cho tàu chở tới tấp sang đảo tiếp tế.
 
Đây cũng là dịp cho các bày chuột phát triển sinh sôi nảy nở. Chúng xâm nhập vào các nơi để đồ ăn của dân tỵ nạn, thừa hưởng các thức ăn, rác rến dư thừa do dân tỵ nạn thải bừa bãi xuống gềnh núi, lạch suối chung quanh trại, nên chẳng bao lâu chuột đã sinh sản tràn lan, hằng hà sa số khắp mọi nơi trên đảo.
 
Cao Ủy LHQ và Ban Điều Hành trại phải phát động phong trào vệ sinh phòng dịch bằng cách khuyến khích và cổ động dân chúng diệt chuột thường xuyên.

Khi nghệ sĩ Hùng Cường vượt biên đến đảo Bidong, anh gia nhập khối thông tin văn nghệ và đã sáng tác ra bản nhạc Diệt Chuột. Cứ vài tiếng đồng hồ thì Ban Thông Tin trại lại cho phát thanh bản nhạc Diệt Chuột do Hùng Cường hát, mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ:

Bắt con chuột đó! Bắt con chuột đó!

Không bắt được, nó sẽ chui vô hang,

gây mầm bệnh giết hại chúng ta


Sau đó Ban Điều Hành trại phát cạm bẫy và thuốc diệt chuột cho từng gia đình trong trại. Mỗi sáng Ban Vệ Sinh thu gom xác chuột bị chết hoặc mắc cạm, dồn vào bao cho xuống xà lan rác, kéo ra giữa biển ngâm tôm, cho cá ăn. Có nhiều bà con tỵ nạn, ban đêm đang ngủ ngon giấc thì bị những chú chuột lén vô gặm, cạp chân, đau chết cha, chết mẹ.

Phương pháp diệt chuột tự nhiên:

Có một nông gia đề nghị ra một phương pháp diệt chuột bằng cách “Lấy độc trị độc” không tốn tiền.

Bắt sống một vài tên chuột bự, rồi lấy chỉ khâu chặt đít chuột lại, đem ghìm chặt đuôi của chúng xuống đất hay cột chân chúng vào cọc với một sợi dây dài, nơi khu vực nào có nhiều bọn chuột xuất hiện. Hãy cho mấy tên chuột bị khâu đít, ăn thật no. Mấy ngày sau khi bị khâu đít, chuột không “ị” được, khó chịu, sẽ bực tức đuổi theo bất cứ tên chuột nào đến gần, cắn xé đến chết cho bõ ghét. Như vậy các tên chuột đang tự do ở ngoài sẽ sợ, không dám đến gần.

Những đội quân sát thủ, giết chuột phải kể đến: Mèo, chồn, cầy hương, diều hâu, cú, chim lợn, rắn.

Ngày nay người ta còn chế ra nhiều phương cách bắt chuột và diệt chuột. Quốc gia nào cũng có các cơ xưởng sản xuất cạm, bẫy bắt chuột, hoặc chế tạo thuốc diệt chuột. Một phát minh mới, là một loại Keo để trên điã.
 
Chuột bước vào đĩa kiếm mồi ăn, chân đạp lên keo, sẽ bị keo dính chặt, giữ lại. Chủ nhà chỉ việc bắt, rồi đập chết hoặc đem đi thiêu hay cho mèo ăn, khỏi phải mất công đi tìm những con chuột chết thúi đâu đó, vì bị ăn trúng bả thuốc.

Ngoài miền Bắc Việt Nam trước kia, những làng quê toạ lạc bên bờ sông Lam, tỉnh Nghệ Tĩnh thường tổ chức ngày Lễ Hội Xuất Quân Diệt Chuột vào đầu năm, với một chương trình văn nghệ đặc sắc, diễn các hoạt cảnh bắt chuột, diệt chuột, để dân chúng trong các làng noi gương, thi đua diệt chuột bảo vệ mùa màng..

Viết về chuột thì còn vô số chuyện, không sao kể hết..( Jos. Vĩnh)

 

Phương Tây cũng “khoái” chuột qua nhân vật của Walt Disney (1901-1966). Ông là “cha đẻ” của chuột Mickey nhí nhảnh, duyên dáng đã chiếm trọn cảm tình của mọi người. Đúng ra thì ngành công nghiệp giải trí của Disney chỉ khởi đầu vỏn vẹn có 2 con chuột và 2 con vịt. Ấy thế mà doanh thu hàng năm lên đến hơn 2,2 tỷ đô la!

Mickey chính thức ra “chào đời” năm 1928 qua phim hoạt họa “Mickey Mouse”. Trước đó, nhiều người sợ chuột nhưng chuột Mickey đã chiếm được cảm tình, từ trẻ em cho đến người lớn đều ưa thích. Xét ra, cái công “vinh danh loài chuột” của Mickey là không nhỏ.

Ngôi sao chuột Mickey cho đến ngày nay vẫn sáng chói trên Đại lộ Danh vọng Hollywood bên cạnh tên tuổi của những tài tử nổi tiếng khác.

 

Nói đến Mickey ta phải nhắc đến cô bạn gái của chàng là Minnie. Nàng có một nhan sắc “chim sa, cá lặn” với cái nơ trên tóc và bộ váy màu đỏ điểm những chấm trắng. Nhìn cặp “nhân tình” quấn quýt bên nhau ai dám bảo là… đời chuột nhiều gian nan, khổ cực?

Cuộc sống ngày càng văn minh, hiện đại và chuột cũng đi vào lịch sử của máy tính với “computer mouse”, tiếng Việt gọi là “con chuột máy tính”. Đây chính là “thiết bị ngoại vi” giúp người sử dụng có thể theo dõi sự di chuyển trên màn hình.

Douglas Engelbart phát  minh ra nó năm 1963, ông gọi là “con chuột” chỉ vì cái đuôi có dây nối với máy vi tính giống như… con chuột. Ngày nay còn có “chuột không dây” nhưng vẫn bị gọi “chết tên” là… con chuột!

Để chấm dứt bài viết “Năm Tý nói chuyện Chuột” chúng tôi mời các bạn thưởng thức một bức tranh vui kể lại cái thời mới có máy vi tính. Chuyện kể cậu con trai gửi cho bố mẹ một cái máy vi tính, dặn rằng phải có “con chuột” mới sử dụng được. Khốn nỗi lại quên gửi “con chuột” đi kèm.

Thế là ông bố tìm cách bẫy được một con chuột và bà mẹ điện thoại cho con: “Bố mày đã bắt được một con chuột rồi nhưng không biết dùng như thế nào?”

 

Nhân dịp năm mới Canh Tý 2020, xin chúc mọi người

và mọi nhà sung túc, đầy đủ tựa như… “chuột sa hũ nếp”!

 

PS: Sau khi bài viết này được post lên, có một bạn đọc nhắc nhở “Sao không thấy nói về “Tom and Jerry”?

 

Quả thật người viết có quên chú mèo Tom và chú chuột Jerry trong một cuộc đối đầu mà phần thông minh của chuột Jerry vượt trôi hơn hẳn mèo Tom. Thường thì Tom hiếm khi bắt được Jerry vì dù “lớn xác” nhưng vẫn không thể sánh được với trí thông minh của chuột.

 

Theo một thống kê trong 163 tập phim, Jerry đã giành chiến thắng 123 lần còn Tom giành chiến thắng chỉ có 10 lần. Có 32 lần cả hai bắt tay nhau để chiến đấu với nhân vật khác với 20 lần giành chiến thắng và 12 lần thất bại.

 

Truyện dài Mèo-Chuột diễn ra từ những năm 1940 do William Hanna và Joseph Barbera sáng tác và hãng phim MGM sản xuất. Chú mèo Tom cùng chuột Jerry đã đoạt giải Oscar đến 7 lần cho thể loại “phim hoạt hình ngắn”. Đến năm 2000, tạp chí Time của Mỹ còn bầu chọn “Tom and Jerry” là một trong những show truyền hình “hay nhất mọi thời đại”. (NNC)

---------

Hình Internet

 

  = Kim Quy st tổng hợp  =

 

 

CHÙM HOA TÍM

  • Đăng tại Truyện

CHÙM HOA TÍM

 Truyện ngắn của Nguyễn Minh Phúc

Mãi đến sau nầy, khi tất cả qua đi và tôi bình tâm lại thì mọi chuyện đã chấm dứt. Cái ga xép cạnh thị trấn heo hút hàng ngày xì xịch đoàn tàu tỏa khói đen ngòm đã thay bằng nhiều ngôi nhà lầu hai tầng khang trang, rọi mấy ô cửa kính màu trà từ xa đã nhìn thấy.

Những cây hoa dại màu tím sẩm rải rác mọc từng chùm theo lối đi dọc đường ray. Không biết tên nó là gì, làm sao chúng có thể sống và nở hoa được dưới ánh nắng gắt mùa hè đầy bụi bặm ở đây. Mùi ngai ngái khó chịu ở sân ga thường giống nhau xộc vào mũi làm tôi thoáng rùng mình, chỉ muốn thoát khỏi không gian ngột ngạt của buổi trưa cháy nắng không cơn gió thổi qua…
 

***

… Lần đầu tôi đến thị trấn nhỏ nầy khi tốt nghiệp xong khóa sư phạm ngắn ngày mà người ta bắt học chỉ mấy tháng. Mớ kiến thức chấp vá như bọt xà phòng nên tôi chỉ nhận dạy các lớp tiểu học mà đám trò lớn tồng ngồng gần như thầy giáo.

Mười đồng nghiệp trạc tuổi tôi suốt ngày quẩn quanh trong mấy lán trại lơ thơ, nhếch nhác như đám học trò ham đi rẫy và uống rượu hơn là đi học. Không hiểu sao tôi lại trụ đây được gần ba năm mặc dù đến cuối khóa, đếm đi đếm lại chỉ còn non nửa giáo viên ở lại trường.

Trong các cô giáo đồng nghiệp, tôi thân với Thơ. Cô ở gần nhà và chung khóa ra trường trở về đây dạy học một lúc với tôi. Thơ không đẹp nhưng có duyên, nhất là giọng nói có sức cuốn hút kỳ lạ. Mái tóc cô cắt ngắn tôn lên vầng trán thông minh nhưng bướng bỉnh, miệng cười tươi tắn, ánh mắt luôn nhìn thẳng người đối diện.

Những ngày nghỉ dạy, phần vì buồn, phần không làm gì, tôi thường rủ cô lang thang ra thị trấn cách vài cây số. Chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng, quẩn quanh ở mấy quán nước, ghé vào chợ chỉ nhóm vài tiếng đồng hồ buổi sáng và sau cùng là đến ga xép, chờ con tàu từ xa lừng lững về ga cùng bánh xe nghiến trên đường ray và tiếng còi tàu kéo lên hồi dài trước khi dừng lại. Không biết tôi đợi gì ở con tàu kia nhưng cứ hướng mắt vào những người xuống sân ga. Thơ cũng vậy. Hình như trong chúng tôi ai cũng có niềm riêng nào đó chỉ mình hiểu.

Chúng tôi ngồi ở ghế phòng chờ, mắt đuổi theo những người khách. Chuyến tàu chỉ dừng lại ga một lát, lơ thơ vài người lên xuống rồi nhanh chóng rời bến, bỏ lại sân ga chúng tôi cùng những người bán rong. Nắng chang chang hắt vào mặt, trên các quầy vé và trần nhà đầy bụi bám.

Chúng tôi im lặng hồi lâu, không ai nói với ai câu gì. Chỉ sau khi con tàu nặng nề phun một làn khói trắng từ đầu toa và từ từ chuyển bánh rời ga, tôi nhìn sang Thơ, bất giác thấy mắt cô nhòa lệ. Còn tôi.. Một cõi lòng trống rỗng, nặng nề, tựa như hy vọng nào đó bị đánh rơi, cố dấu tiếng thở dài thất vọng và cuối cùng hai đứa đứng lên lầm lũi đạp xe về.

Thật ra, Thơ với tôi chỉ là bạn, một tình bạn đúng nghĩa. Cô ấy đã có người yêu. Ba năm trời dạy chung trường, tôi biết cô đang chờ Thiệp. Mối tình với Thiệp nghe đâu nhiều bất trắc nhưng cuối cùng, cô vượt qua được. Thiệp đang chờ làm xong thủ tục ly dị người vợ cũ sống không hạnh phúc và hứa ngày nào sẽ đến với cô. Có lẽ, cô chờ những chuyến tàu là vậy. Không biết ngày nào nhưng cô chắc chắn anh ấy sẽ đến.

Tình yêu làm cho người ta vững tin, chờ đợi, thiết tha hy vọng dù có thể dau khổ, mỏi mòn. Tôi biết điều nầy vì trong mắt Thơ, Thiệp là người duy nhất không ai thay thế. Tình yêu là điều mà không phải ai cũng giải thích được. Tại sao người nầy chứ không phải người khác trong tim Thơ. Tôi chịu…

Càng ngày, hình như tôi càng nghĩ nhiều về Thơ. Chúng tôi gập nhau thường xuyên, khi thì ở lớp, khi họp hội đồng và những ngày nghỉ đèo nhau ra thị trấn đợi tàu về. Có ai đó trong trường nói về mối quan hệ này. Tôi bối rối nhưng Thơ tỉnh bơ, xem như không chuyện gì xảy ra. Có lần tôi hỏi Thơ.

-Anh nghe người ta đồn đại về chúng ta? Em ngại không?

- Kệ người ta, mình là bạn đâu phải gì phải sợ, phải phân bua! Hay anh sợ? Thơ ngoặc lại.

Tôi cố dấu tiếng thở dài:

-Không! Nhưng dẫu sao… mình… không nên ra thị trấn nữa… Ở đó… đám học trò của anh… hay chĩa mũi vào chuyện của người khác…

-Tùy anh. Thơ nhìn tôi, mắt ánh lên vẻ coi thường. Khi nào Thiệp đến, em sẽ giới thiệu cho anh biết người em yêu. Anh ấy không nhút nhát như anh…

Tôi nghe lòng đau nhói và hỗ thẹn nhưng làm như không chuyện gì xảy ra. Trong mắt Thơ, tôi là người bạn yểu điệu thậm chí yếu ớt. Nhưng biết làm gì hơn khi tôi không có sự can đảm, mạnh mẽ như Thơ muốn. Ngay từ nhỏ tôi đã rụt rè, do dự về mọi thứ. Chắc đó là nhược điểm của một thằng đàn ông, tôi biết nhưng không khác được vì tính tôi vốn thế. Tình cảm tôi với Thơ cũng vậy. Yêu cô ấy nhưng không hề dám mở miệng.

Từ ngày không còn đèo cô ra thị trấn để đón những chuyến tàu, tôi như đánh mất thứ gì, hụt hẫng, trống vắng, tựa như đã lầm lẫn và ân hận về những gì đã nói với cô. Ngày nghỉ dài lê thê. Tôi nằm thượt trong phòng, buổi cơm cũng không buồn ăn, thơ thẩn trong cảm giác vừa cay đắng vừa tiếc nuối.

Thời gian trôi đi, chậm và buồn trong thị trấn heo hút, ngôi trường nhếch nhác, học sinh đi học ngày càng ít. Hình như chẳng ai quan tâm đến chúng tôi. Với lại, trường vắng tênh, lèo tèo dăm bảy chục học sinh thì có gì đặc biệt. Thi thoảng, tôi vẫn vào thị trấn nhưng một mình.

Sân ga vắng vẻ chỉ nhốn nháo một chút khi con tàu dừng lại rồi trở về với cơn ngái ngủ thường lệ. Những chùm hoa vẫn nở tím ngắt như run lên mỗi lần bánh xe sắt chạy qua tạo thành đợt sóng, lấp loáng nắng trưa trên sân ga buồn man mác.

Có hôm tôi đến sân ga từ rất sớm. Khi con tàu nặng nề chuyển bánh, một cô gái từ phòng đợi bước ra và tôi nhận ra ngay là Thơ. Cô đang lấy khăn tay chầm chập lau nước mắt và nhìn quanh quất. Tôi muốn chạy lại nói điều gì đó nhưng hai chân nặng như chì và cuối cùng, hình như có gì ngăn lại, tôi quyết định không gập cô lần nữa, lên xe đi thẳng. Tối ấy, tôi uống rượu say mèm. Trước mặt, chập chờn trong ánh sáng của cây đèn cầy cháy dở, tôi thấy cô đứng trước mặt đôi mắt buồn đẫm nước.

Thiệp cuối cùng rồi cũng tới trong chuyến tàu tôi không hề mong đợi. Anh chàng trông vẻ bề ngoài cao lớn, miệng rộng, khá hoạt bát, nghe nói làm chức gì đó bên xuất khẩu, kiếm được khá nhiều tiền. Tạng đàn ông như vậy nhiều cô mê là phải. Tôi mừng thầm cho Thơ, cố dấu nỗi thất vọng riêng mình.

Từ ngày có Thiệp, Thơ vui hẳn, gương mặt lúc nào cũng đẹp ra. Cô và Thiệp ở hẳn trong khu nhà tập thể. Họ như đôi chim cu, lúc nào cũng quấn quýt, say đắm bên nhau. Hạnh phúc của người nầy đôi khi lai là nỗi buồn của người kia, tôi trong tâm trạng ấy. Thôi thì mình chấp nhận, tôi tự an ủi và làm vui khi họ đến nhà hoặc thi thoảng gập hai người sánh vai đi đâu đó,

Cuộc sống cứ trôi đơn điệu và buồn tẻ. Những ngày nghỉ, chỉ một mình, tôi ra ga mà không biết làm gì. Tôi có hẹn đưa đón ai đâu, thơ thẩn đi trên con đường ray sau khi tàu chạy, nhìn những cây hoa dại mọc trên những lối đi.

Những bông hoa nở tím thẩm từng chùm, mọc hai bên đường ray như cố vươn ra, quấn vào tôi theo mỗi bước chân. Thỉnh thoảng tôi cúi xuống, hái một vài bông, vò nát ra. Chúng có mùi ngai ngái, cay xè hắt vào mặt mũi làm nước mắt tôi ưá ra. Tôi buồn và nhớ Thơ.

Ở ga xép nầy, không biết bao lần, tôi và em ngồi đây đợi chuyến tàu về, cùng lang thang trên con đường ray, hái những chùm hoa dại. Giữa nắng rát và bụi mịt mờ, không hiểu sao chúng vẫn nở hoa, bướng bỉnh lê dài cành ra dù mỏng manh, yếu ớt. Tôi tự hỏi mà không thể trả lời. Giá mà có Thơ ở đây. Cô ấy biết nhiều chuyện, thế nào cũng tìm cách giải thích cho tôi. Lúc nầy, với tôi, em cần thiết biết chừng nào.

Ít lâu sau khi chung sống với nhau, khu tập thể thường nghe tiếng cãi vã, tiếng mắng mỏ và tiếng vỡ rổn rảng vang từ phòng Thơ ngày càng nhiều. Hình như cô và Thiệp có chuyện. Có hôm họp hội đồng, tôi thấy mặt Thơ đậm vết bầm, mắt cô hoe đỏ. Nhiều lời bình phẩm đoán già đoán non từ đám giáo viên chúng tôi nhưng không ai biết chuyện gì. Một hôm, sau cuộc họp, Thơ kêu tôi ra nói nhỏ:

-Lát nữa em muốn gặp anh! Về chỗ anh nhé!

-Ừ! Cũng được… Tôi đồng ý, trong thâm tâm cũng rất muốn gặp cô.

Chúng tôi ngồi cạnh nhau trong phòng tôi. Thơ nói trong tiếng khóc:

-Em khổ lắm, anh ơi! Chưa bao giờ em tuyệt vọng bằng lúc nầy…

-Em cứ kể anh nghe… Tôi bùi ngùi nói. Dù sao em cũng nhẹ bớt khi tâm sự với bạn bè…

Như không còn chịu nổi sự nín nhịn lâu ngày, Thơ gục đầu vào vai tôi nức nở:

-Anh Thiệp… Anh ấy… Thực ra, Anh ấy không hề yêu em…

-Có chuyện ấy sao? Không phải đâu. Một người từ thành phố thôi vợ, bỏ tất cả công việc về đây với em, sao laị có chuyện ấy được. Nhưng sao em lại nói thế, anh không tin. Tôi nói và ngồi thừ ra.

Thơ nhìn tôi, cái nhìn của ngày chúng tôi còn thân nhau, thường đèo nhau ra ga đón tàu vào những hôm nghỉ dạy, ám ảnh tôi nhiều đêm không ngủ. Cô nói trong những giọt nước mắt đọng lại quanh mi:

-Em biết diều ấy. Trái tim em mách bảo em biết rõ về Thiệp. Hình như tính tình, cách sống em không hợp với Thiệp thì đúng hơn. Em đã cố chịu đựng nhưng rồi không thể. Chúng em lúc nào cũng xào xáo. Thiệp bắt em phải nghỉ dạy, về thành phố với anh ấy… Mà em lại thích ở đây. Không ai có thể bắt em rời bỏ nơi nầy được.

Tôi thật sự không biết nói gì để an ủi Thơ. Tốt hơn hết, với cô gái bướng bỉnh và đầy cá tính nầy thì nên im lặng vì trước sau gì, cô ấy cũng tìm cách giải quyết chóng vánh những vướng mắc. Theo tôi, cuộc hôn nhân của Thiệp và cô ấy xuất phát từ tình yêu, chắc sau những sóng gió tạm thời, mọi việc sẽ đâu vào đấy.

Nghĩ vậy nhưng không phải. Mỗi ngày qua, mâu thuẫn giữa họ càng gay gắt. Tôi biết được điều nầy vì mỗi lần xảy ra chuyện, Thơ đều kể tôi nghe. Phụ nữ họ có cách nói chuyện sao đó mà ta không dứt ra được. Ngồi nghe Thơ tâm sự hàng giờ những điều không liên quan gì đến mình để cuối cùng, trước khi chi tay, tôi đành xuôi tay buông tiếng thở dài bất lực.

Họ chia tay đột ngột như lúc nồng nàn chờ đợi nhau theo những chuyến tàu. Thiệp bỏ đi bất ngờ giống như anh đến. Người ngỡ ngàng nhất không phải Thơ mà là tôi. Tình yêu sao lại dễ cắt đứt nhanh chóng và đột ngột như vậy? Họa có Thơ điên. Sống với một anh tráng điển trai, có sự nghiệp, tương lai như vậy mà đùng một cái lại chia tay, quả tôi không hiểu.

Kể từ ngày Thiệp đi, Thơ thường hay lại chỗ tôi chơi, không nói gì chuyện cũ. Cô muốn quên Thiệp và cuộc tình nông nổi kia. Chúng tôi lại cùng đèo nhau ra thị trấn và vào ga vào những ngày nghỉ. Bên Thơ, tôi như tìm lại được niềm vui, hạnh phúc mà có lúc tưởng mất đi mãi mãi.

Chúng tôi lần theo đường ray nóng bỏng giữa nắng trưa đầy bụi mù, hái những chùm hoa tím đầy dưới chân và tranh nhau xem ai hái nhiều hơn. Chúng tôi đuổi bắt, chạy nhảy và tung lên trời những chùm hoa, chán chê nô đùa và sau cùng vào quán quen uống nước rồi đèo nhau về. Không biết Thơ nghĩ gì nhưng ánh mắt cô lấp lánh, đôi má hồng đỏ và nụ cười tươi tắn.

Có hôm tôi và Thơ còn đi xa hơn. Sau cái nhà kho vắng tênh của sân ga, tôi ôm cô, đắm đuối trên miệng, trên môi. Thơ ngã người vào tôi, nhắm mắt lại trao những chiếc hôn nóng bỏng. Chiếc áo cô mặc trễ xuống đủ cho tôi thấy làn da trắng mịn, nõn nà hiện ra trên bờ ngực mẩy.

Tôi dúi mặt vào đó, say đắm hít hà. Mùi vị nồng nàn của da thit và hương thơm quyến rũ từ người Thơ làm tôi ngây ngất. Tình yêu diệu kỳ, thơ mộng quá. Tôi như bay lên cùng hạnh phúc của mình. Trước mặt tôi ánh nắng nhún nhảy trên sân ga và những chùm hoa tím dường như rực rỡ hơn trên đường ray dài tít tắp.

Tôi và Thơ yêu nhau được một năm và vẫn thường ra ga vào những ngày nghỉ. Sân ga buồn tênh, ngột ngạt trong nắng trưa khi đoàn tàu đi ngang qua tỏa khói mịt mù. Những cánh hoa tím dại vẫn mọc cạnh đường ray ngày càng nhiều. Chúng vẫn sống mặc nắng rát và gió bụi.

Nhưng mối tình tôi thì không. Thơ chỉ xem tôi như một điều gì đó lấp khoảng trống tuyệt vọng mình khi tình yêu đổ vỡ. Chỉ thời gian sau, Thiệp xuất hiện trở lại và họ làm lành với nhau. Thơ đồng ý theo anh về thành phố. Tôi như người bị đánh cắp tình yêu (hay tôi lấy cắp tình yêu của họ ) hụt hẫng, chán chường. Ngày Thơ đi, tôi tiễn cô ra ga. Chúng tôi hầu như không nói gì. Lúc tàu sắp chạy, tôi chỉ nói với cô một câu:

-Dù thế nào, anh cũng không quên sân ga buồn tẻ nầy. Cả em nữa… Thơ ơi…

Đôi mắt cô đẫm nước nhưng gương mặt thì hân hoan. Có trời mà hiểu phụ nữ. Tình yêu làm họ đau xót, ngậm ngùi nhưng nhanh chóng phôi pha khi lấy chồng. Hay họ giấu đâu đó trong cõi lòng ngàn ngăn kéo khép mở, làm sao biết được.

Tôi đứng chôn chân trên sân ga khi con tàu mang Thơ đi chỉ còn một chấm đen nhỏ xíu. Và về ngang qua đường ray. Những bông hoa tím vươn dài theo bước chân. Tôi cúi xuống hái, vò nát trong lòng bàn tay. Ôi, những bông hoa thời yêu nhau say đắm của chúng tôi. Kỷ niệm đâu đó ùa về. Chiếc tàu mang tình yêu đi mãi, chỉ còn tôi trên sân ga và những chùm hoa tím buồn tênh.

Tôi rời trường mấy năm sau đó. Công việc ở nơi làm mới cuốn tôi ngày này đến ngày khác, thị trấn bé nhỏ và sân ga buồn tênh năm xưa lãng quên dần trong trí nhớ. Thơ giờ đang sống bên chồng hạnh phúc ở thành phố, sát chỗ làm của tôi.

Thỉnh thoảng tôi vẫn thường gặp họ trên đường. Cô và Thiệp đèo nhau trên chiếc xe gắn máy, mặt mày hớn hở, vui tươi. Chạnh nhớ tình yêu xa xưa và chiếc xe đạp lọc cọc ngày nào, tôi nghe lòng chùng xuống.
 

 

…Mới đây, tôi có dịp ngang qua thị trấn. Giờ nó thay đổi quá nhiều sau thời đất nước mở cửa. Nhà cao tầng, khách sạn, nhà hàng bung ra như nấm sau mưa khiến không còn nhận ra nơi cũ. Sân ga hiu hắt buồn tẻ đã dời đi và thay vào đó là những căn biệt thự mới xây nằm rải rác trên sườn đồi.

Chẳng hiểu sao những đường ray là còn nguyên vẹn nằm chỏng chơ, đứt khúc trên lối đi ghồ ghề, trơ ra những thanh tà vẹt đoạn còn đoạn mất. Tôi bùi ngùi nhìn vào sân ga. Bây giờ là chỗ người ta đang xây dựng chung cư mới.

Ánh nắng chói chang, nóng hổi tỏa xuống buổi trưa ngột ngạt đầy nắng. Tiếng động cơ, tiếng máy nổ, tiếng người hò hét vang động trên sân ga đìu hiu vắng vẻ ngày nào.

Dưới nắng trưa, những chùm hoa tím sẫm vươn theo đường ray, ánh lên sắc màu rực rỡ. Chúng vẫn nở hoa dưới cái nóng như thiêu đốt và đầy bụi mùa hè.

Không hiểu sao lòng tôi cứ bồi hồi nhớ bao kỷ niệm ngày xưa đầy ấp ứ ./.

 

Ngọc Lan st

 

NGÀY XUÂN, NGHE LẠI “LY RƯỢU MỪNG” nhớ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

NGÀY XUÂN, NGHE LẠI “LY RƯỢU MỪNG”

nhớ Phạm Đình Chương

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương

 

“Ly Rượu Mừng” không chỉ cất lời chúc đầu năm, mà còn thổ lộ những nguyện cầu thiêng liêng và sâu thẳm, cho một nước Việt không còn cảnh tang thương, để người mẹ già “từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa” sớm thấy lại được “bước con về hòa nỗi yêu thương”.


Đó là câu hát mở đầu trong bản "Xuân khúc" được coi là kinh điển nhất trong lịch sử Tân nhạc Việt Nam: “Ly rượu mừng”. Ngay đã có người cho rằng, trong danh sách mấy trăm bài hát tự cổ chí kim của Việt Nam về ngày Tết, cần phải nhớ “Ly rượu mừng” “trước hết và hơn cả”, vì vắng nó, sẽ không có Tết, và nó phải là giai điệu mở đầu mọi chương trình Xuân.

Tác giả của bài hát, ca nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương, là một trong những tên tuổi hàng đầu của Tân nhạc Việt Nam. Ông sinh năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội trong một gia đình nghệ thuật mà song thân đều là những nghệ sĩ chơi nhạc cổ truyền. Chị của ông là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy, và em gái của ông là Phạm Thị Băng Thanh, tức danh ca Thái Thanh.

 


Ngoài ra, ông còn có một người anh cùng cha khác mẹ là Phạm Đình Viêm, về sau là ca sĩ Hoài Trung của Ban Hợp Ca Thăng Long nổi danh từ giữa thập niên 50 thế kỷ trước tại đất Sài Gòn hoa lệ, gồm Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh và sau đó, thêm Khánh Ngọc, vợ ông. Nhận định về giọng ca Phạm Đình Chương, nhà văn Mai Thảo từng viết:

Bao nhiêu năm vẫn chỉ một con người, vẫn chỉ một phong cách. Ở giữa Hợp Ca Thăng Long lẫy lừng như vì sao ở giữa, hoặc cây Tây-ban-cầm ôm trước ngực ngoài tiền trường mênh mông lỗi lạc một mình, Phạm Đình Chương với những ca khúc ở mãi cùng lòng người, và Hoài Bắc với tiếng hát nam tôi cho là hay nhất, vẫn là Hoài Bắc Phạm Đình Chương của một con đường, một cõi nhạc riêng”.

Phạm Đình Chương đa phần tự học nhạc từ năm 13 tuổi và trên cương vị một nhạc sĩ, ông bắt đầu sáng tác năm 18 tuổi với ca khúc đầu tay “Ra đi khi trời vừa sáng” (năm 1947) khi đó ông cùng các anh em đang tham gia kháng chiến và gia nhập Ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV. Năm 1951, đại gia đình ông di cư vào Sài Gòn và bắt đầu tham gia đời sống văn nghệ cùng Ban Hợp Ca Thăng Long nổi tiếng.
 


Trong cả sự nghiệp âm nhạc, Phạm Đình Chương chỉ sáng tác trên dưới sáu mươi ca khúc, nhưng theo nhận xét của nhà thơ Du Tử Lê, “nếu tính phần trăm số lượng ca khúc trở thành bất tử của ông, từ sáng tác đầu tay, tới sáng tác sau cùng, tỷ lệ đó, không dưới tám mươi phần trăm tổng số sáng tác”. Và đó là “những viên kim cương âm nhạc, bất hoại; hầu hết đã được thời gian thực chứng”.

Sáng tác của Phạm Đình Chương, ngay từ giai đoạn đầu, đã bao gồm nhiều ca khúc để đời như “Ly Rượu Mừng”, “Xuân Tha Hương”, “Thuở Ban Đầu”, “Tiếng Dân Chài” và đặc biệt, “Trường ca Hội Trùng Dương” với bộ ba “Tiếng Sông Hồng”, “Tiếng Sông Hương” và “Tiếng Sông Cửu Long” cuồn cuộn và đầy chất hào sảng, hứng khởi về ba con sông lớn tượng trưng cho ba miền của quê hương. 

Cùng “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Duy, “Hội Trùng Dương” là biểu hiện đẹp nhất của dòng nhạc “tình ca quê hương, tình tự dân tộc” nửa đầu thập niên 50 thế kỷ trước, theo cách phân loại của Phạm Duy. Thời gian sau đó, Phạm Đình Chương tiếp tục tỏa sáng với những bản tình ca vẫn được hát thường xuyên tới ngày nay, mà như lời nhạc sĩ Cung Tiến, là “những khúc hát làm thăng hoa ái tình”.
 

Đặc biệt, Phạm Đình Chương còn được coi là một “phù thủy” trong việc phổ nhạc cho những vần thơ, biến chúng thành bất tử, như “Mộng Dưới Hoa” (thơ Đinh Hùng), “Nửa Hồn Thương Đau”, “Ngợi Ca Tình Yêu”, “Dạ Tâm Khúc” và “Đêm Màu Hồng” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “Mắt Buồn” (thơ Lưu Trọng Lư), “Màu Kỷ Niệm” (thơ Nguyên Sa), “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ) hay “Đôi Mắt Người Sơn Tây” (phổ thơ Quang Dũng).

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, khi được hỏi, đã cho rằng Phạm Đình Chương bên cạnh Phạm Duy và Cung Tiến là những người phổ thơ xuất sắc nhất của Tân nhạc Việt Nam. Sau này, khi định cư tại Cali vào năm 1979, trong những sáng tác cuối cùng, ông vẫn tiếp tục phổ thơ:
 
“Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”, “Quê Hương Là Người Đó”, “Khi Tôi Chết, Hãy Đem Tôi Ra Biển”  của Du Tử Lê, hoặc “Hạt Bụi Nào Bay Qua” của Thái Tú Hạp.

Không chỉ sáng tác, Phạm Đình Chương còn “đích thực là linh hồn của Ban Hợp Ca Thăng Long, từ buổi đầu tới phút cuối”, như lời nhạc sĩ Phạm Duy khẳng định lúc ông ra đi. Đặt hết tâm huyết và tài tổ chức, điều hợp vào Hợp ca này, Phạm Đình Chương đã “có công đầu trong nỗ lực dẫn dắt nghệ thuật ca diễn của nền tân nhạc Việt, từ sông lạch đơn ca, chảy ra đại dương hợp ca nhiều giọng”, vẫn theo đánh giá của Du Tử Lê. 

Phạm Đình Chương qua đời vào mùa hè 1991 tại Hoa Kỳ, hưởng dương 62 tuổi. Năm 1998, tro cốt của ông, cùng của người anh Hoài Trung Phạm Đình Viêm đã được gia đình rải ngoài biển, có lẽ theo ý nguyện của ông khi phổ nhạc thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ Du Tử Lê:
 
 “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển - Nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi - Bên kia biển là quê hương tôi đó - Rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì...”.
 
Thái Thanh cùng Hoài Trung (trái) và Hoài Bắc trong Ban Hợp Ca Thăng Long 
 
Trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Đình Chương, “Ly Rượu Mừng” là một ca khúc có vai trò và số phận đặc biệt. Được sáng tác năm 1952 ngay sau khi tác giả vừa cùng gia đình di cư vào Sài Gòn, chắc chắn đây là bài hát được vang lên nhiều nhất của Phạm Đình Chương, nhất là trong những dịp Tết đến, Xuân về, nhưng ở trong nước, nó đã bị cấm ngặt kể từ sau biến cố tháng 4-1975, cho tới tận đầu năm nay, tức là gần 41 năm.

Không phải ngẫu nhiên, khi ca khúc được cấp phép trở lại cách đây ít ngày, nhiều người đã thốt lên, đây là ly rượu mừng xuân mà sau hơn bốn thập niên mới được rót và chúc tụng nhau.
Cũng là tròn một phần tư thế kỷ sau khi tác giả qua đời, ước vọng: “Nước non thanh bình - Muôn người hạnh phúc chan hòa - Ước mơ hạnh phúc nơi nơi - Hương thanh bình đang phơi phới” mới được chính thức cất lên trên quê hương ông.

Khác với hai ca khúc nổi tiếng cùng chủ đề mùa xuân của tác giả - “Đón Xuân” với tiết tấu nhanh, vui tươi, ước vọng một mùa xuân thái hòa không còn buồn khổ, và “Xuân Tha Hương” bâng khuâng, day dứt và luyến nhớ quê mẹ .
“Ly Rượu Mừng” rộn ràng, tưng bừng với giai điệu valse sống động. Nhạc phẩm dễ hát, ca từ cũng không có gì cao siêu, nhưng mang đậm tính ký ức, yêu thương và dịu dàng, khát khao và đằm thắm.

Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó
Nhấp chén đầy vơi
Chúc người người vui
Muôn lòng xao xuyến duyên đời...


Chỉ trong một vài câu ngắn gọn, lời chúc lành đầu xuân đã được vang lên với nhiều giai tầng trong xã hội, và ở những đoạn tiếp tới, tác giả đã không quên một ai. Ca khúc chỉ hàm chứa một chữ “Xuân” ở câu mở đầu, và tất cả phần sau chỉ toàn những lời chúc và mong mỏi, cho con người và cho quê hương. Đặc biệt, cả bài hát không hề có những biểu tượng hay hình ảnh ngày tết thường gặp trong mọi ca khúc về ngày tết.
 

Ca khúcLy rượu mừng - Phạm Đình Chương- Ban hợp ca Thăng Long

Trong “Ly Rượu Mừng”, không hề thấy tả quang cảnh ngày tết với hoa đào, hoa mai, tràng pháo tết. hay bánh chưng xanh như lệ thường. Không có gì gợi nhớ hình ảnh “cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng”, “nhìn xác pháo bên thềm”, hay cảnh phố phường đông đúc với những cặp nam nữ tay trong tay “khăn san bay lả lơi trên hai vai” như của Đoàn Chuẩn trong “Gửi người em gái miền Nam” sáng tác sau đó vài năm. 

Điểm đặc biệt và cũng là đặc sắc này, có lẽ trong toàn bộ lịch sử Tân nhạc Việt Nam, chúng ta chỉ có thể tìm trong một ca khúc khác về mùa xuân, đó là "Mừng Xuân của Phạm Duy", sáng tác sau Phạm Đình Chương 22 năm.
 
Cả hai nhạc phẩm, tựu trung, không có gì khác ngoài những mong mỏi của con người được sống bình yên, được yêu thương, và cao hơn, xa hơn thế, đất nước được phú cường, tránh cảnh bom rơi đạn lạc:

Mừng Xuân tới bằng tiếng sáo vui 
Với tiếng cười yêu mến đời. 
Mừng Xuân tới bằng tiếng vỗ tay 
Vang khắp trời mây. 

Xin mừng anh chiến sĩ nơi tiền phương 
Giữ đất cho Việt Nam hùng mạnh. 
Nơi đồng xanh chúc bác dân cầy luôn 
Lúa tốt, hoa mầu tươi suốt năm 

Xin cho phố xá nơi thành đô 
Giới bán buôn làm to lời nhiều 
Chúc cho một nước dân đủ no 
Chúc cho một nước luôn tự do. 

Mừng Xuân tới bằng tiếng hát vang
Dưới mái trường hay giữa đàng 
Lời ca hát từ núi xa xăm 
Ra tận đại dương...


Ra đời trong bối cảnh chiến tranh và được hát lên liên tục trong hơn hai thập niên sau đó, khi cuộc chiến Việt Nam ngày một leo thang, lòng người ly tán, “Ly Rượu Mừng” không chỉ cất lời chúc đầu năm, mà còn thổ lộ những nguyện cầu thiêng liêng và sâu thẳm, cho một nước Việt không còn cảnh tang thương, để người mẹ già “từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa” sớm thấy lại được “bước con về hòa nỗi yêu thương”:

Bạn hỡi, vang lên
Lời ước thiêng liêng
Chúc non sông hòa bình, hòa bình
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
đợi anh về trong chén tình đầy vơi.

Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hoà
ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh bình đang phơi phới.


Mùa xuân 1975, “Ly Rượu Mừng” đã có mặt chính thức lần cuối cùng tại quê hương Việt Nam trong cuộn băng tuyển chọn các ca khúc đặc sắc về xuân phát hành thường niên do cơ sở băng đĩa nhạc của ca sĩ Ngọc Chánh tuyển chọn. 
Để rồi, như đại đa số các tác phẩm của giới văn nghệ sĩ miền Nam, bài hát đã phải có một giấc ngủ dài bốn thập niên, trong khi nó vẫn được thầm thì trên khóe môi nhiều người khi xuân về.

Những ai còn sở hữu hoặc có dịp nghe “Ly Rượu Mừng” trong bản thu âm dạo ấy, còn nhớ nó chính là nhạc phẩm mở đầu cuốn băng với phần trình diễn của Ban Hợp Ca Thăng Long, sau những âm giai còn đọng lại trong ký ức nhiều người:
 
Tiếng pháo nổ tại phòng trà Đêm Mầu Hồng; tiếng trống của đội lân Nhân Nghĩa Đường Chợ Lớn; tiếng Đại Hồng Chung của Viện Hóa Đạo; tiếng chuông Nhà Thờ Đức Bà...”.

Bên thềm năm mới, hãy cùng nhau nghe lại những giai điệu của ký ức ấy, nhớ về những mùa xuân năm ấy, và cùng nhau “nhấc cao ly này” để cùng mỏi mong cho một nước Việt “ngày mai sáng trời tự do”, khi “muôn người hạnh phúc chan hòa”, và “hương thanh bình đang phơi phới”, như tâm nguyện của Phạm Đình Chương, người nhạc sĩ lớn, đã từ giã chúng ta vào một ngày cách đây tròn một phần tư thế kỷ...(Nguyễn Hoàng Linh)

Phạm Đình Chương, Quê Hương Một Niềm

~~<><><><>~~

Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cả hai thân sinh ra ông đều chơi nhạc cổ truyền.

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947, khi 18 tuổi, với tác phẩm đầu tay là ca khúc “Ra đi khi trời vừa sáng”. Năm 1951 ông và gia đình chuyển vào miền Nam. Với các anh em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng ông thành lập ban hợp ca Thăng Long danh tiếng.

Trong thập niên 50, ông đã viết những tác phẩm thành công và để đời như Ly Rượu Mừng, Xuân tha Hương, Thủa Ban Đầu, Tiếng Dân Chài v.v.. Đáng kể nhất là trường ca bất hủ Hội Trùng Dương mà ông viết về đất nước Việt Nam hoa gấm, qua ba bài ca nói về con sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.

Vào mùa hè năm 1991, ông lâm bệnh và mất đi vào ngày 22 tháng 8 năm 1991 tại quận Cam, California, hưởng thọ 62 tuổi. Theo như gia đình ông kể lại, sau khi người anh của ông là nghệ sĩ lão thành Hoài Trung qua đời tám năm sau đó. 

Năm 1998, vào một buổi sáng nắng ấm tại miền nam Cali, gia đình ông đã đem cốt của hai ông và rải ngoài biển, như trong một ca khúc ông viết trong thời gian cuối cùng, nhan đề “Khi Tôi Chết, Hãy Đem Tôi Ra Biển”, phổ từ thơ thi sĩ Du Tử Lê.

Nếu còn ở với chúng ta, Tháng Mười Một vừa qua, Phạm Đình Chương đã 85 tuổi.

Ông mất vào một ngày Tháng Tám, năm 1991. Gia đình và bè bạn ghi nhớ rằng ông thọ có 62 tuổi, nhưng văn học nghệ thuật có lẽ phải nhìn ra một tuổi thọ khác của Phạm Đình Chương, qua mấy trăm ca khúc về tuổi thanh xuân, tình yêu và quê hương.

Hãy nói về tiếng hát, vì ngày nay nhiều người đã có thể quên hoặc không biết.

Hoài Bắc là một trong những giọng nam điêu luyện và xuất sắc của nhạc Việt trong hạ bán thế kỷ XX, từ những năm 1950 đến 1975 và sau đó nữa. Tiếng hát Hoài Bắc đậm đặc chất giang hồ, của men rượu hòa trong khói thuốc. Nhưng có lẽ Phạm Đình Chương đã hy sinh tiếng hát ấy cho sự lẫy lừng của ban Thăng Long, mà ông là linh hồn, là con chim đầu đàn và tay hòa âm tuyệt vời.

 

Phòng trà Sài Gòn trước 1975 đã chẳng có nét văn nghệ rất phong lưu nếu không có tiếng hát và cây đàn Hoài Bắc cùng ly rượu và tiếng nhạc Phạm Đình Chương. Sài Gòn ngày nay thì chưa biết đã vội quên, thật đáng tiếc cho thính giả.

Quê ngoại Phạm Đình Chương là Sơn Tây, và hai bài thơ bi hùng của Quang Dũng là “Đôi Bờ” và “Đôi Mắt Người Sơn Tây” được ông đưa lên đỉnh cao của thi ca, khi phổ vào nhạc thành ca khúc “Đôi Mắt Người Sơn Tây”, có lẽ là ca khúc quen thuộc nhất của ông ở miền Nam trước đây.

Người trình bày tác phẩm này với nét trượng phu bi hùng nhất lại chính là Hoài Bắc, những khi ấy, đôi mắt ông còn long lanh hơn ly rượu trong tay!

Nhớ lại Phạm Đình Chương và những chuyến lưu diễn cùng ông ở nhiều nơi sau 1975, Quỳnh Giao nghĩ rằng từ đầu và mãi mãi về sau, Phạm Đình Chương không đi theo đám đông mà tự tạo một thế giới âm thanh riêng, ông không viết cho thị hiếu quần chúng hay trào lưu của xã hội. Ông mở ra trào lưu riêng. Phạm Đình Chương chỉ biết buồn và viết nhạc buồn khi viết về tình yêu.

Ngoài Quang Dũng với các thính giả miền Nam, nhiều thi sĩ thực ra có món nợ với Phạm Đình Chương khi ông phả thơ của họ vào cõi nhạc để đọng mãi trong hồn người. Nhiều người yêu nhạc đã tìm đến thơ cũng nhờ thanh âm Phạm Đình Chương.

Ông nắm lấy cái hồn của bài thơ và vẽ ra một không gian khác, một tâm tư khác, bằng nhạc. Phải chăng vì những bằng hữu chí thiết nhất của ông là những nhà thơ, nhà văn, những người cầm bút?

Hoài Trung, Thái Thanh, Hoài Bắc Phạm Đình Chương 

Nhưng, bản tình ca tuyệt diệu nhất của Phạm Đình Chương “Nửa Hồn Thương Đau” ông đã viết nhạc và phần lớn lời ca với một chút ý từ bài thơ Lệ Đá Xanh của Thanh Tâm Tuyền, trong một phút xuất thần.

Ông nhận lời Quốc Phong – chủ tịch Liên Ảnh Công Ty & nhà văn Văn Quang sẽ soạn một ca khúc riêng cho phim “Chân Trời Tím” nhưng bạn bè làm ông quên bẵng, cho tới khi men rượu lay ông tỉnh vào đêm cuối cùng trước kỳ hạn với bạn!

Đấy là phút giây kỳ diệu của sáng tác.

Sau khi ra khỏi Việt Nam, Phạm Đình Chương tiếp tục ôm đàn và viết nhạc. U uẩn hơn, ray rứt hơn. Nếu bài “Xuân Tha Hương” được viết tại Sài Gòn mà làm ta nhớ Hà Nội thì gần 40 năm sau, tại hải ngoại, Phạm Đình Chương lại viết một khúc bi ca nữa về quê hương.

Lần này, bài ca làm ta nhớ Sài Gòn. Phổ thơ Du Tử Lê, bài “Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn” có thể là một nhắc nhở nồng nàn nhất về Phạm Đình Chương, trong những năm cuối đời.(NV)

 •♬•♫•❤️•♬•♫•❤️•♬•♫•.

 

Từ “Ly rượu mừng” đến “Nửa hồn thương đau”

Có thể nói, cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đượm nhiều uẩn khúc và nhiều bi kịch. Năm 1953 ông lập gia đình với ca sĩ và sau này là diễn viên nổi tiếng, Khánh Ngọc. Những người thuộc lứa đầu bạc chắc không thể nào quên ca sĩ Khánh Ngọc của thập niên 50 trong bản nhạc Pháp “Cerisier Roses et Pommiers Blances” với lời Việt “Vườn xuân ong bướm, ngất ngây ngất ngây lòng ta…” .

Vào năm 1955, một đoàn làm phim Mỹ-Phi đến Sài Gòn để tìm diễn viên cho bộ phim “Ánh sáng miền Nam” và Khánh Ngọc đã được chọn đóng vai chính. Cuộc đời tình ái của đôi trai tài-gái sắc Phạm Đình Chương-Khánh Ngọc tràn trề hạnh phúc… cho đến khi xảy ra chuyện “loạn luân” trong đại gia đình nhạc sĩ. 

Bi kịch có liên quan đến nhiều thành viên: Nhạc sĩ Phạm Duy là chồng của Thái Hằng, Thái Hằng là chị của Phạm đình Chương và cũng là chị của Thái Thanh. Khánh Ngọc là vợ của Phạm đình Chương, Phạm Duy trong vai trò anh rể lại “tằng tịu” với Khánh Ngọc, em dâu của mình.

Ca sĩ Khánh Ngọc

Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh dư luận. Với tình yêu nồng thắm buổi ban đầu, ông không thể nào tin vào sự ngoại tình đã được đồn thổi. Điều thương tâm nhất là ông vẫn yêu thương, tin tưởng vợ và bỏ ra ngoài tai những điều không tốt lành của giới văn nghệ sĩ tại Sài Gòn.

Cho đến một buổi tối “định mệnh”, Phạm Đình Chương cùng với những người bạn thân "bắt tại trận" cuộc tình vụng trộm của đôi tình nhân tại quán chè ở Nhà Bè - Gia Định. Sáng hôm sau, một loạt bài phóng sự đều tra nóng bỏng được tung ra trên tờ nhật báo “Sài Gòn Mới" của bà Bút Trà. Vụ "ăn chè Nhà Bè" khiến cả Sài Gòn đều biết.

Cho dù Phạm Duy cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng các bài điều tra, phóng sự nhưng "hoạ vô đơn chí", trong cuộc đời này, cái gì càng dấu diếm bao nhiêu, càng được "bùng nổ" và thêu dệt bấy nhiêu. Suy cho cùng, các cụ ta thường nói, và nói rất đúng: “Xướng ca vô loại”!

Nỗi đau dày xe tâm can và sự tan nát của một đại gia đình nghệ sĩ đã "đánh gục' nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi ông phát hiện chuyện vượt ra ngoài luân lý. Đã có lúc Phạm Đình Chương nghĩ đến chuyện tự tử nhưng tiếng khóc của đứa con trai đưa ông về hiện tại. Ông gạt nước mắt đau thương, nộp đơn ly dị lên toà án. Vụ việc kết thúc và Phạm Đình Chương được quyền nuôi đứa con trai lúc bấy giờ khoảng 5 tuổi.

 

Biến cố đó là một động lực cho sáng tác “Nửa hồn thương đau” với những ca từ như nức nở:

“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa.

Cho tôi về đường cũ nên thơ.

Cho tôi gặp người xưa ước mơ.

Hay chỉ là giấc mơ thôi.

Nghe tình đang chết trong tôi.

Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời…”

“Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau

Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau

Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào?

Anh ở đâu ?

Em ở đâu ?”

............ 

“Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt.

Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất.

Và tiếng hát và nước mắt. 

Đôi khi anh muốn tin.

Đôi khi anh muốn tin.

Ôi những người, ôi những người.

Khóc lẻ loi một mình...”

“Nửa hồn thương đau” chính thức ra đời năm 1970 để chấm dứt một thời kỳ sáng tác u uẩn và quạnh quẽ của một người chồng vẫn một lòng thương yêu người vợ đã phản bội mình. Bản nhạc như rút ruột lòng người và bản nhạc cũng đánh dấu một giai đoạn sáng tác của người nhạc sĩ tài hoa nhưng bạc phận.

Khi ra nước ngoài, Phạm Đình Chương vẫn sáng tác một số ca khúc mang tính cách hoài niệm: “Bên trời phiêu lãng”, “Cho một thành phố mất tên”, “Đêm, nhớ trăng Sài Gòn”… Và trong khi “Ta ở trời tây” Phạm Đình Chương có lời nhắn nhủ:  “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”.

 

✧✧✧✧

Hình Internet

Kim Quy sưu tập 

 

 

 

Theo dõi RSS này