Kim Quy

Kim Quy

Màu Tím trong thi ca

Màu Tím trong thi ca

Huỳnh Văn Hoa

Hình Internet

Màu sắc là một phương diện của cái nhìn nghệ thuật trong văn chương, làm nên thế giới nghệ thuật của một nghệ sĩ. Những nghệ sĩ có phong cách thường có kiểu sử dụng màu sắc theo một cách riêng, làm nên nét dộc đáo của tác phẩm, của tác giả.

Bài viết này, sẽ tìm đến nghệ thuật sử dụng màu tím trong thơ ca của số nhà thơ quen thuộc của Việt Nam.

Về phương diện hội họa, màu tím là sự pha trộn và hợp thành của màu xanh và màu đỏ. Tím là màu sắc thiên về các khía cạnh của nội tâm, không thích phô trương, tìm đến những ngõ ngách riêng tư của con người, diễn đạt những khung trời nhớ nhung, xa vắng, lẫn khuất đâu đó là những hoài niệm, hoài cảm.

Màu tím của hoa sim, hoa mua, hoa bằng lăng, hoa lục bình, hoa xoan, hoa súng,…đã đi vào thơ ca với những sắc điệu riêng của tâm hồn, với nhiều cách nhìn phong phú, đa dạng, độc đáo. Không ít bài thơ, câu thơ đã nhờ màu tím mà tồn tại với thời gian.

Màu tím là một gam màu ít được các nhà thơ cổ điển Việt Nam dùng.

Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều sử dụng có một lần màu tía (Muôn hồng nghìn tía đua tươi), ông không dùng màu tím.

Chinh phụ ngâm, “tác phẩm do hương cống Đặng Trần Côn soạn, nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh đao nổi dậy, người đi chinh thú phải lìa nhà, ông cảm thời thế mà làm ra“ (Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí ), với 408 câu, có màu xanh, màu trắng, màu vàng, màu hồng và chỉ một lần nói đến màu tía (Trước gió xuân vàng tía sánh nhau), lấy tích từ  “cành Diêu đóa Ngụy, hai giống hoa mẫu đơn quý một của họ Diêu màu vàng và một của họ Ngụy màu đỏ tía (Những khúc ngâm chọn lọc, NXB ĐH và THCN, HN, 1987, trang 55). Màu tía là màu đỏ thắm. Tía, theo Đào Duy Anh, là “sắc đỏ thắm“ (Từ điển Truyện Kiều, trang 363 ). Đặng Trần Côn vẫn không đưa màu tím vào thơ.

Trong Truyện Kiều, với 3254 câu , Nguyễn Du chưa một lần dùng đến màu tím.

Những điểm nêu trên là điều khá lạ lùng về tư duy nghệ thuật của văn học trung đại, về phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt. Trái lại, trong thơ hiện đại, nhiều nhà thơ sử dụng khá quen thuộc màu tím, thậm chí gắn liền tên tuổi của mình với sắc màu này. 

Nguyễn Bính có nhiều bài thơ hay viết về Huế. Đó là những bài: Giời mưa ở Huế, Vài nét Huế, Xóm Ngự viên, Thu rơi từng cánh. Tập Mười hai bến nước, còn có số bài thơ viết vào lúc thi sĩ ở Huế, như Hoa với Rượu, Xuân tha hương, Lửa đò,…

Trong số đóMàu tím Huế là bài thơ phản ánh nhiều cung bậc của Huế. Màu tím là màu có tính đặc trưng của Huế. Đây không phải là điều ngẫu nhiên. Huế vốn nằm gần với dãy Trường Sơn. Về mặt tự nhiên, nói như Xuân Diệu, khi “ngày chưa dứt hẳn” thì bóng chiều đã bắt đầu buông xuống. Giao thoa giữa hai thứ ánh sáng ấy, màu đỏ của hoàng hôn và màu sẩm của buổi chiều, đã tạo nên sắc tím đặc biệt của xứ Huế. Không gian chiều của xứ Huế là không gian của màu tím, nó không giống với bất cứ nơi nào trên nước ta, vì thế, người Huế yêu màu tím. Màu tím đi vào văn chương nghệ thuật của xứ thần kinh là vậy. Nguyễn Bính là người nhận ra nét tím của Huế:

Thôi thế là em cách biệt rồi
Đường đi mỗi bước một xa xôi
Tim tím rừng chiều tim tím núi
Tim tím chiều hôm, tim tím mai…

Màu tím nhuộm núi rừng, nhuộm chiều hôm, nhuộm ban mai, nhuộm nhớ mong, nhuộm lên trang giấy tình thư, nhuộm lên nét thương đau của nhớ nhung, của cát bụi kiếp người. 
Hai câu kết, vẫn màu tím ấy, cả rừng, cả núi, cả chiều hôm , tím một màu tím Huế rất Nguyễn Bính..          

Gần đây, trong Tặng người hát dân ca, với thể thơ tự do, Lê Nhật Ký, viết:

Núi Ngự Bình mặc áo tím lúc hoàng hôn. Chuông chùa Thiên Mụ 
ngân nga láy  vào nỗi nhớ. Sông Hương  chảy một  đời không tới
biển. Huế trong tôi là một chiếc áo dài...    

 

Hình Internet                            

Hữu Loan nổi tiếng với bài thơ Màu tím hoa sim. Bài thơ đứng vững hơn nửa thế kỷ, trở thành một trong những bài thơ tình hay nhất trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Màu tím hoa sim là tiếng lòng của anh Vệ quốc quân đối với cái chết của người vợ trẻ. Nguyên mẫu cuộc đời đã trở thành nhân vật nghệ thuật, thành thơ ca, thành âm nhạc. Có thể nói không ngoa rằng, nếu bài thơ ấy, tác giả không chọn gam màu chủ đạo là màu tím thì chắc gì đem lại sự rung cảm trong tâm hồn tác giả và người đọc.
Quả vậy, từ chỗ:

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim…

Cho đến những chiều mưa trên chiến trường Đông Bắc, nơi ba người anh “biết tin em gái mất, trước tin em lấy chồng” và “ đứa em nhỏ lớn lên, ngỡ ngàng nhìn ảnh chị“ , với  “gió sớm thu về gờn gợn nước sông“,  với “ cỏ vàng chân mộ chí ”,… là bao nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi của người chiến sĩ-thi sĩ :

Chiều hành quân 
Qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa…

Kiên Giang với bài thơ dài Hoa trắng thôi cài trên áo tím, 15 khổ, được nhiều người đọc yêu thích. Bài thơ kể về mối tình học trò. Ngày trước, ngôi trường người con trai theo học đối diện với ngôi giáo đường của người con gái thường đi lễ nhà thờ. Chuông nhạc đạo và chuông nhà trường hòa lẫn, khiến người con trai “làm thơ sầu mộng“, thầm muốn  “để nghe khe khẽ lời em nguyện - thơ thẩn chờ em trước thánh đường“:

Mười năm trước , em con đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh…

Mỗi lần tan lễ hồi chuông đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi…

Thế rồi, một ngày kia, em theo chồng: “Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo, Tiễn nàng áo tím bước vu quy". Dầu vậy, người con trai của mười năm trước: “Anh vẫn yêu em người áo tím, Nên tình thơ ủ kín trong lòng". Chiến tranh, loạn lạc, tình thơ cũng nhạt màu, nhưng than ôi, cũng chiếc xe hoa ngày ấy:

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang…

Vòng hoa trắng lạnh đó gửi cho người con gái áo tím, với ân tình ngày cũ , dù đã phôi pha nhưng trắng trong, tinh khiết, đẹp như một bài thơ buồn.

Kiên Giang là bạn thơ của Nguyễn Bính trong những năm kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ. Trong nhiều bài thơ của ông, người đời nhớ và yêu nhất bài thơ dung dị này.

Cũng màu tím ấy, vậy mà, với cái nhìn cá thể, một nhà thơ đã để lại trong gia tài văn chương dân tộc những bài thơ độc đáo, lưu giữ mãi với thời gian. Đó là Chế Lan Viên, ngọn Thi sơn của Việt Nam.

Cả tập Điêu tàn, màu sắc chủ đạo vẫn là màu trắng và màu đen. Điều này có lý do của nó về quan niệm thẩm mỹ. Sau Cách mạng tháng Tám, như nhà thơ đã nhiều lần phát biểu, ông đã đi từ “chân trời một người đến với chân trời tất cả“, đi từ “câu hỏi hư vô, thổi nghìn nến tắt ” để đến “bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh “. Bên cạnh một Chế Lan Viên triết luận, bàn về những vấn đề nóng hổi của thời đại và dân tộc, còn là một Chế Lan Viên của đời thường, của tâm hồn dân dã, gắn chặt với máu thịt cuộc sống. Màu sắc trong thơ ông là một con đường riêng, riêng mà lại chẳng riêng chút nào, gây xúc động lòng người một cách sâu lắng. Chế Lan Viên hay nói đến màu tím, đó là màu hoa của Hồ Tây mà nhiều lần thi sĩ tìm đến. Trong bài Hoa súng tím, Chế Lan Viên viết:        

Từ lúc mê súng tím
Mới hiểu hết sen hồng
Càng biết yêu mùa hạ
Dâng màu sắc song song…

Vẫn là cách so sánh của lòng yêu hoa, mê hoa. “Mê súng tím“ tức là yêu  một loài hoa bình dị, không kiêu sa, lặng lẽ nơi ao đầm quê ta. Tháng năm qua, loài hoa gắn với làng quê Việt ấy, trong một lần bừng thức, lòng hiểu thêm sen hồng, cũng một loài hoa thôn dã, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn“, hai thứ hoa có chung một tấm lòng, một trắng trong, dâng hiến cho đời. Chẳng thế mà nhà thơ mới viết: Dâng sắc màu song song một cách trang trọng, thâm tình. Yêu hoa để yêu đời, hiểu hoa để hiểu đời là vậy!

Cũng tên là Hoa súng tím,  viết vào thời điểm của cơn đau thì lại thê thiết hơn. Bài thơ này in trong tập Hoa trên đá (NXB Văn học - 1984), trước lúc mất vài năm:

Mỗi lần đau , anh lại đến Tây Hồ
Chữa lành anh là hoa súng tím...

Hồ đầy hoa, nhụy vàng hương kín, vậy mà, “cả một mùa qua hoa nở chả ai hay,… ngoài chú vịt trời xao xuyến“ . Không sao, còn có nhà thơ yêu hoa,  "suốt cả một ngày lưu luyến“  bên hoa. Bài thơ như một tâm sự, như một giãi bày, muốn tìm tri âm, chia sẻ. Vào những năm cuối đời, qua bao nỗi thăng trầm của thế sự, qua bao biến chuyển của cuộc đời, Chế Lan Viên nhận ra rằng, nhiều cái bình dị quanh ta, ta bỏ quên, như hoa súng tím khiêm nhường kia:

Hoa súng tím An Giang, hoa súng trắng Tây Hồ
Những cành hoa chưa ai làm thơ cả  
Tuổi 64, tôi mới biết màu hoa dân dã
Biết hoa rồi, tôi đã sáu mươi tư 
(Hoa súng An Giang )

Một chỗ khác, trước khi mất hai năm, như để cho người đời sau hiểu thêm mình, hiểu thêm những nỗi niềm sâu kín, riêng tư của mình, cũng là sự mong đợi, gửi gắm, nhà thơ viết:

Màu hoa súng ấy như cơn đau không dám khóc
Chỉ lặng im sắc tím để mà đau        
Người ta chỉ biết màu sen anh đỏ rực
Còn nỗi buồn hoa súng tím biết cho đâu

(Hoa súng, 1987)


Hình Internet

Xét đến cùng, cái màu tím kia trong những bài thơ ngắn của Chế Lan Viên là một góc khuất hết sức nhân văn, tìm về sự yên tĩnh của tâm hồn sau bao sóng gió của cuộc đời, cập đến bến bờ của thức ngộ. Dường như là, đằng sau của  "nỗi buồn hoa súng tím“ ấy, Chế Lan Viên muốn gửi gắm cho đời một thông điệp, rằng là, bên cạnh một Chế Lan Viên chính luận, còn một mặt nữa của tháp Bayon, mặt ấy, nhà thơ đau đáu bao nỗi niềm, bao tâm sự, cả những điều chưa biết giãi bày cùng ai ! Có lúc cũng ngậm ngùi khôn xiết !   

Cao Vũ Huy Miên có bài thơ Hoa tím ngày xưa, được Hữu Xuân phổ nhạc, nhiều ca sĩ hát và công chúng yêu thích. Đây là bài thơ tình nói về con đường của người bạn gái trong tuổi học trò thường đi về, làm nên cảm xúc thơ ca cho chàng trai:
 

Con đường em về ban trưa
Hoa tím nghiêng nghiêng đợi chờ
Tuổi em vừa tròn mười bảy
Tóc em vừa chấm ngang vai.

Cũng con đường đó, em về mưa bay, em về thơm hương, tiếng dương cầm rơi nơi đâu, lặng lẽ. Và rồi, tuổi 17 của em qua đi, qua đi chẳng biết bao giờ, để rồi:

Trường xưa chẳng còn học nữa…

Con đường em về năm xưa
Có biết hay chăng bây giờ
Hoa tím thôi không còn nữa
Chỉ còn ta đứng dưới mưa.

Bài thơ ngắn, dung dị, dễ thương của một thời vụng dại. Chắc là, hoa tím vẫn còn nơi con đường ngày cũ, chỉ có điều, con đường xưa ấy, người của một thời không qua nữa, nên  “hoa tím thôi không còn nữa, chỉ còn  ta đứng dưới mưa“.  

Nguyễn Sĩ Đại có bài thơ Mực tím viết theo thể thơ lục bát, cũng là một bài thơ đáng yêu, viết cho tuổi học trò ở thời điểm sắp rời ghế nhà trường phổ thông:

Bây giờ mực tím thôi vương
Mùa thi đã vãn, sân trường vắng hiu  
Tiếng ve kêu sốt nắng chiều
Cuốn  lưu niệm cũ, chữ xiêu xiêu buồn…

Bây giờ mực tím thôi vương
“Bậu về xứ bậu “, lời thương không đành
Bây giờ …
Thôi xếp áo khăn
Gửi hồn mực tím trên cành bằng lăng

Bài thơ ngắn chỉ 8 câu, có hai lần nói đến “mực tím thôi vương“ và ba lần nhấn mạnh đến “bây giờ “. Mỗi lần mỗi khác. Lần sau, mượn câu ca dao: “Rồi mùa tóoc rã, rơm khô /  Bậu về xứ bậu biết nơi mô mà tìm“ để bày tỏ nỗi niềm nuối tiếc, bâng khuâng. Tuổi học trò thời nào mà không có những phút giây xao xuyến ấy !

Hoa súng- hình Internet

Màu tím vương vương nơi nhiều bài thơ. Đoàn Phú Tứ có: Màu thời gian không xanh / Màu thời gian tím ngát(Màu thời gian), Anh Thơ, trong Chiều xuân, đã viết: Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên chòm xoan, hoa tím rụng tơi bời. Tố Hữu, với bài thơ Hoa tím, tặng Nguyễn Tuân, có câu: Thủy chung tình bạn chùm hoa tím. Hoàng Phủ Ngọc Tường với Dù năm dù tháng, được Nguyễn Công Dinh phổ nhạc với tên Cành phù dung cho em, có những câu:

Anh ngắt cành phù dung trắng
Tặng em niềm vui cầm tay
Màu hoa như màu tia nắng
Buổi chiều chợt tím không hay…

Phan Vũ trong Em ơi ! Hà Nội phố, Phú Quang phổ nhạc, là một Hà Nội của mùi hoàng lan, mùi hoa sữa, của “chiếc khăn quàng tím đỏ thoáng qua“, của những "con đường vắng, rì rào cơn mưa nhỏ“, của “tan lễ chiều, kinh cầu còn mãi ngân nga“ và nữa:  
 

Ta còn em cô hàng hoa
Gánh mùa thu qua cổng chợ
Những chùm hoa tím
Ngát mùa thu…

Hoàng Nhuận Cầm cũng có những câu thơ hay về mùa thu và hoa tím:

Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến
Chỉ tiếc mùa thu vừa mới đi rồi
Còn sót lại trên bàn bông cúc tím
Bốn cánh tàn, ba cánh sắp sửa rơi ! 
(Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến)

Hữu Thỉnh với Biển, nỗi nhớ và em, có câu thơ thật hay:

Em đâu phải là chiều
Mà nhuộm anh đến tím…

Ngô Văn Phú với Trời đã vào thu…, khi sông không đầy nước, khi mây làm khăn quàng qua vai núi, thì cũng là lúc:

Đôi bờ lau lách đìu hiu tím
Gom buồn lên ngọn gió heo may…

Có thể kể ra nhiều bài thơ, câu thơ có chứa màu tím. Cái màu tím ấy đã đem lại cho thơ ca tiếng Việt một sắc thái riêng, một nẻo về riêng của tâm hồn với  bao xao xuyến, bao tâm trạng nơi người đọc, góp phần làm nên những tác phẩm hay trong văn chương Việt Nam.

Huỳnh Văn Hoa

Nữ sinh áo tím

Hình Internet

Đọc bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” của thi sĩ Kiên Giang – Hà Huy Hà làm tôi nhớ đến chuyện các nữ sinh Gia Long (sau này là trường trung học Nguyễn Thị Minh Khai), vẫn thường tự hào một thời từng học trường này. Thi sĩ Kiên Giang cũng vậy nhưng ông lại nhớ người con gái năm xưa khi ông lên Sài Gòn viết báo. “Mười năm trước em còn đi học / Áo tím điểm tô đời nữ sinh / Hoa trắng cài duyên trên áo tím / Em là cô gái tuổi băng trinh”.

Trường Gia Long thuở thập niên 1960 Ảnh: Manhhaiflicks

Bài thơ viết khoảng năm 1955, khi ấy trường Collège de Jeunes Filles Indigènes đã đổi tên trường thành Trường nữ trung học Gia Long và đồng phục áo dài tím trước đó được thay thế bằng áo dài trắng với huy hiệu đoá mai vàng. Hẳn nhà thơ tiếc nuối thuở nữ sinh áo tím của cô gái đất Tây đô (Cần Thơ) cảm hứng viết ra bài thơ dành tặng mối tình đầu và sau này được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc, lại càng khiến công chúng yêu thích, nhất là các nữ sinh từng học trường Gia Long. Từ sau khi giành độc lập từ Pháp, Miền Nam đã đưa tiếng Việt vào giảng dạy trong các trường do Pháp xây dựng.

Ở giai đoạn này, việc giáo dục văn hoá dành cho nữ giới đã được mở rộng ra nhiều trường ở khắp Sài Gòn Gia Ðịnh. Tuy nhiên với ba bốn thập niên trước, vấn đề “nữ quyền” trong giáo dục thời Pháp chỉ giới hạn ở trường Nữ sinh áo tím tọa lạc trên đường Legrand de la Liraye tức Phan Thanh Giản sau này (Ðiện Biên Phủ hiện nay).

 

Tài liệu báo Phụ Nữ Tân Văn ngày xưa cho biết về việc xin mở trường Collège de Jeunes Filles Indigènes: “Trước thế kỷ thứ 20, nền giáo dục khoa bảng tại Việt Nam ít quan tâm đến việc giáo dục nữ sinh. Vào năm 1908, một số nhà giáo dục và trí thức Việt Nam khởi ý đề nghị và gửi thư yêu cầu chính quyền địa phương thành lập một ngôi trường đa cấp (mẫu giáo, tiểu học và trung học) dành riêng cho nữ sinh. Ðơn thỉnh nguyện được chấp thuận vào năm 1909 nhưng vì không đủ ngân khoản nên việc xây cất chỉ được khởi xướng vào năm 1913”.

Ảnh thầy cô dạy tại trường Nữ sinh áo tím, người xách bóp đứng thứ ba bên phải là cô Nguyễn Thị Châu

sau này làm hiệu trưởng trường Ảnh: Tài liệu của Tiến sĩ Dương Thanh Bình

Thực ra, vào thời gian đó, tại Ðakao và một ít trường học các tỉnh ở Nam kỳ đã có các lớp tiểu học dành cho nữ sinh. Nhưng xét ra việc học dành cho nữ sinh vẫn còn rất thấp ở bậc học trong khi nam sinh lại có đường dễ tiến thân trên con đường học vấn. Ở Sài Gòn, nhiều phụ huynh, đặc biệt các gia đình giàu có cùng nhau ký tên làm đơn thỉnh nguyện kêu gọi chính phủ cho lập trường sơ học cao đẳng cho con gái Annam được tiếp nhận nền giáo dục cao hơn theo từng cấp như nói ở trên.

Mường tượng lại việc mở rộng giáo dục cho nữ sinh vào thời gian đó chắc rầm rộ lắm. Nhiều cuộc kêu gọi quyên góp tiền của đầu tư xây trường của các quan chức, thương nhân, thậm chí dân chúng từ bên Pháp cũng sẵn lòng đóng góp. Cuộc quyên tiền do Tổng đốc Ðỗ Hữu Phương làm hội trưởng cùng với mấy bậc tri thức như các ông Nguyễn Văn Mai, Lê Văn Trung, Lê Quang Liêm, Diệp Văn Cương đã thu được kết quả ban đầu khá mỹ mãn. Báo Phụ nữ Tân Văn tổng kết sơ bộ: “Người Tây và người Nam ở Nam kỳ quyên được 25.000$. Mấy làng dưới tỉnh, có hơn 50.000$. Sổ công nho Nam kỳ xuất ra 10.000$. Người Pháp bên Pháp cũng gởi cho 3.000$”.=

Dãy nhà lớp đầu tiên được xây dựng lên bằng số tiền khiêm tốn quyên góp đã là một thành công lớn cho giới trí thức mong muốn dành cho nữ sinh Annam có sự học cao hơn. Thống đốc Roume đã cắt băng khánh thành và tuyên bố khai giảng niên học đầu tiên vào năm 1915. Trường mở lớp đồng ấu (tiểu học) cho tới trung học đệ nhất cấp, rồi thi lấy bằng Thành Chung (Diplôme). Nói chung, ai có được văn bằng Thành Chung lúc đó là oách lắm rồi, lại là phụ nữ nữa thì còn ai bằng. Trường còn mở lớp sư phạm dành cho học sinh có bằng Thành Chung, để đào tạo thành giáo viên dạy các lớp tiểu học.

Trường Collège de Jeunes Filles Indigènes (Nữ sinh áo tím năm 1918) Ảnh: Panoramio

Ngày khai giảng, trường vỏn vẹn chỉ có 42 nữ sinh tiểu học. Vị hiệu trưởng đầu tiên là cô Lagrange, người Pháp. Lúc đó, chánh quyền sở tại và ban giám học lấy làm lo ngại sợ nhà trường không có thu hút được nhiều học sinh. Nhờ báo chí vận động kêu gọi phụ huynh khắp nơi cho con gái đến trường được chăm lo giáo dục chu đáo. Học sinh ngoài Sài Gòn được ăn ở nội trú trong trường, được học nữ công gia chánh nên số học sinh mỗi năm tăng dần.

Phụ nữ Tân Văn năm 1926 viết: “Năm sau 1916, Trường Nữ học được 157 trò. Năm 1920 được 215 trò. Cứ tiến như thế mỗi năm cho đến số 400. Hiện nay trong trường học sinh ở trong và ở ngoài còn được lối ba trăm mấy. Lúc bấy giờ thấy rõ phụ nữ Annam “thèm” sự học như người đói khao khát, mới cất thêm lớp, thêm nhà cho số học sinh ở luôn tại trường. Mỗi năm, trường Nữ học phát ra vài chục nữ sinh tốt nghiệp. Ðến nay số nữ giáo viên tốt nghiệp từ Nữ học đường mà ra có đến hai trăm mấy. Ấy là chưa kể mấy cô giáo sơ học. Các chị em học trường này đang trông mong nơi Hội cựu học sinh Nữ học đường để làm một cơ quan chung cho mấy trăm người”.

Tuy nhiên, thời gian sau, trường không đủ kinh phí nên không đào tạo các lớp sư phạm nữa mà chỉ chuyên giảng dạy bậc học phổ thông từ tiểu học đến trung học. Cho đến năm 1954, trường chỉ nhận học sinh đệ nhất cấp, những học sinh muốn vào trường phải qua kỳ thi tuyển. Chuyện trường không đào tạo sơ học như ngày trước nữa là do khoảng thập niên 1950, các trường học công lập hoặc tư thục khắp nơi ở Sài Gòn bắt đầu mở các lớp tiểu học. Nhiều tầng lớp phụ huynh ý thức được cho con gái đi học mở mang kiến thức và tạo nền tảng theo học bậc cao hơn. Do đó số học sinh nữ tăng nhanh khiến ngành giáo dục phân cấp các lớp học lại cho phù hợp thời cuộc.

Lớp học thêu của trường Collège de Jeunes Filles Indigènes Ảnh: Manhhaiflicks

Cũng nên nhắc lại một chút về trường Nữ sinh áo tím cũng như một số trường học khác ở Sài Gòn vào thời gian quân Nhật chiếm đóng khi bắt đầu cuộc chiến tranh Ðông Dương vào thời Ðệ nhị Thế chiến. Các lớp học phải chuyển qua dạy tạm bên trường tiểu học Ðồ Chiểu ở Tân Ðịnh. Ðây là khoảng thời gian nữ sinh áo tím bỏ học rất nhiều do quân Nhật chiếm trường từ mùa hè 1940 cho đến khi quân Nhật đầu hàng đồng minh, sau đó quân Anh vào giải giáp quân Nhật, lại dùng nhà trường làm trại lính cho đến năm 1947. Trường không được bảo trì, hư hại  trầm trọng.

Hai năm sau, trường được chỉnh trang và xây mới thêm dãy lớp hai tầng dọc theo đường Bà Huyện Thanh Quan. Học sinh ghi danh vào học rất đông. Cũng chính trong năm này, một nữ giáo sư Việt được cất nhắc chuẩn bị làm hiệu trưởng trường Nữ sinh áo tím. Sang năm học mới 1950, cô Nguyễn Thị Châu chính thức nhậm chức thay cho vị hiệu trưởng người Pháp là cô Malleret. Cô Nguyễn Thị Châu không chỉ là nữ hiệu trưởng đầu tiên của trường mà còn là nữ hiệu trưởng trường trung học đầu tiên của cả miền Nam bấy giờ.

Xuất thân trong một gia đình quan lại, cha cô là quan huyện Nguyễn Ðịnh Trị, sau làm nghị viên thành phố Sài Gòn. Ông cũng chính là “ông bầu” của đội bóng tròn Ngôi sao Gia Ðịnh đình đám một thời. Cô còn có một người em gái tên Nguyễn Thị Kiêm nổi tiếng đấu tranh cho nữ quyền và là nhà thơ và là ký giả nữ đầu tiên của làng báo chí Sài Gòn với bút hiệu Manh Manh.

Trường Gia Long dùng làm điểm bỏ phiếu bầu cử

tổng thống đầu thập niên 1970 Ảnh: Manhhaiflicks

Cuộc đời và sự nghiệp của cô hiệu trưởng Nguyễn Thị Châu còn rất dài và rất ly kỳ, tôi sẽ nói ở một bài viết khác. Người đương thời lúc đó còn biết cô còn giữ trọng trách Tổng thư ký của Uỷ hội Quốc gia UNESCO Việt Nam. Và là nữ Ðại biểu đầu tiên của Việt Nam dự Hội Nghị Pan-Pacific and South East Asia Women’s Association (PPSEAWA) lần thứ 7 thảo luận về vấn đề phát triển nữ quyền tổ chức ở Manila, Philippines năm 1955. Sau năm 1975 cô sang Pháp định cư tại Montpelier và mất năm 1996, thọ 84 tuổi.

Một người bạn nữ đồng nghiệp lớn tuổi của tôi khi nghe tôi hỏi chuyện về trường Nữ Trung học Gia Long rất thích thú, cứ nhẩn nha lời hát: “Tôi yêu màu áo tím Gia Long / Tôi yêu trường mái ngói rêu phong / Tôi yêu bạn bè xưa thân ái / Và ghi ơn thầy cô giúp tôi nên người…”. Chị bạn từng là học sinh Gia Long năm 1971 tự hào cũng phải thôi vì lúc đó, có tới  khoảng tám ngàn thí sinh nhưng chỉ có tám trăm thi đậu.

Vào được Trung học Gia Long còn khó hơn thi vào đại học.

 Trang Nguyên

 

Kim Quy sưu tầm

Hoa Trắng Thôi Cài Lên Áo Tím

Tác Giả Kiên Giang

I.

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa xoá không gian
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím 
Em là cô gái tuổi băng trinh

Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay ! Chuông nhạc đạo
Rộn rã thay ! Chuông nhà trường

II.

Lần kia anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đỗ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi

III.

Sau mười năm lẽ anh thôi học
Nức nỡ chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
- Hoa trắng thôi cài lên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng 
Dù cách đò ngang, cách mấy sông
Anh vẫn yêu em người áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng

IV.

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ

Màu gạch nhà thờ còn đỏ thẫm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím tình thơ đã nhạt màu

V.

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng
Anh kết tình chung gởi xuống mồ

VI.

Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Những khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa thánh đường

"Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Trong lòng còn giữ màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi !"

Bến Tre, 14-11-1958
Kiên Giang
 
 

 

 

Truyện ngắn: Cây cầu biên giới

  • Đăng tại Truyện

Cây Cầu Biên Giới

Truyện Ngắn của Minh-Đạo và Nguyễn Thạch-Hãn

 

Ngày ấy đã xa lắm rồi.


Tôi mới đến vùng này,là một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập. Tiểu Đoàn mới, từ sĩ quan đến binh lính, hầu hết là những thành phần khó sài từ các đơn vị khác gởi về. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong thành phần bất hảo đó. Từ miền biển bị đưa lên miền núi và chỉ huy một đám quân gồm đủ mọi thành phần. Tôi còn đang buớc những bước đi chập chững của nghề chỉ huy thì phải tung ra chiến trường. Ngày ấy, cũng trên con lộ này, tôi dẫn hai con Gà Cồ Đại Pháo 105 ly để yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận tái chiếm quận lỵ Phú Nhơn mà Bắc Quân vừa mới tràn ngập đêm hôm trước.
Ngã ba này bình thường chỉ có vài quán cóc lèo tèo để bán đồ ăn thức uống cho xe đò chạy đường Pleiku - Phú Bổn hay Pleiku - Banmêthuot. Hôm đó dân chạy loạn từ Phú Nhơn ra rất đông, từ những làng Thượng, hoặc mấy khu dinh điền và dân làm ăn buôn bán chung quanh quận lỵ. Dân chúng thấy lính đi tái chiếm quận, họ rất mừng rỡ, người hỏi thăm, người cho quà bánh. Đổi lại, đám lính tặng dân chúng thuốc lá và những đồ hộp Quân Tiếp Vụ. Dân ở quận nhỏ xa xôi cũng nghèo khổ như lính vậy thôi.
1
Từ sáng sớm, lo đốc thúc tải đạn, sửa soạn xe cộ, đại bác, hàng trăm thứ phải làm cho một cuộc trực thăng vận, cho nên bao tử còn trống rỗng. Phi cơ câu súng đại bác phải xin từ căn cứ Mỹ Ớ Quy Nhơn lên, nên chờ cũng còn lâu. Tôi rủ anh chàng Chuẩn Uý Trung Đội Phó kiêm Đề Lô vào quán bên đường kiếm cái gì lót bụng. Dân quận lỵ bu lại hỏi thăm tình hình, chừng nào có thể về quận được ? Đánh nhau có lâu không ? Toàn những câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được.
- Mấy anh ấy đi giải toả quận Phú Nhơn phải không ông chủ.
- Tôi đoán vậy, cô thử hỏi mấy ổng coi.
Tôi quay lại, người vừa hỏi là một thiếu nữ độ đôi mươi, nàng mặc chiếc áo dài trắng học trò đang hỏi thăm người chủ quán, tôi hỏi lại cô gái:
- Sao cô đoán tụi này đi giải toả Phú Nhơn ?
- Em mới từ Tuy Hòa lên Pleiku hôm qua. Sáng nay đáp xe đò vô quận, không ngờ kẹt từ sáng đến giờ.
- Cô cũng ở quận Phú Nhơn sao ?
- Em dạy Ớ trường tiểu học Phú Nhơn, còn nhà em ở Tuy Hòa.
- Cô nên về Pleiku kiếm chỗ ngủ đỡ qua đêm nay.
- Em không có ai quen Ớ Pleiku cả, vả lại em nóng lòng không biết nhà cửa, trường ốc ra sao ?
- Cô có lo lắng thì cũng chẳng làm gì được, tốt hơn hết là kiếm chỗ nào nghỉ đỡ qua đêm nay, chờ giải toả xong mới về được.
- Đám học trò của em chạy ra đây cũng đông lắm, em không thể bỏ chúng được. À này các anh đừng pháo vào trường học nghe.
Tôi vỗ vai Châu Đề Lô vừa cười vừa nói:
- Cái đó cô phải nhờ ông Châu mới được, ổng chỉ đâu là nơi đó thành bình địa.
Châu vội lên tiếng:
- Trường của cô giáo tụi này không dám đụng tới.
Tôi chế diễu Châu:
- Bạn hứa một mình chứ không có tôi can dự trong đó đâu nghe. À nãy giờ mình nói chuyện mà quên giới thiệu. Tôi tên Lập, anh bạn này tên Châu. Thưa qúy danh cô là ...
- Em tên là Quỳnh Hoa, các anh hứa là phải giữ lời đó à nghe !
Tôi chọc ghẹo Quỳnh Hoa:
- Nếu tụi này giữ lời hứa thì Quỳnh Hoa phải đền cái gì mới được chứ ?
Tôi nhìn người con gái nước da trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc, đôi môi đỏ như cánh bích đào, cặp mắt to đen láy trông thật thông minh lanh lẹ, mái tóc thề phủ xoã ngang lưng, nụ cười tươi như hoa với hàm răng đều đặn như những hạt bắp vừa đủ lớn. Nhìn Quỳnh Hoa đứng giữa đám học trò nhà quê lem luốc bẩn thỉu, tôi có cảm tưởng nàng là bà tiên giáng trần, đang cầm cây đũa thần gõ trên đầu đám chúng sinh đầy đau khổ. Nàng rất bạo dạn tuy hơi lo lắng, nhưng không có cái e lệ như những cô gái xứ kinh kỳ. Tôi tự nhủ:
- Bông hoa vương giả này sao lại mọc ở chốn rừng hoang mông quạnh này nhỉ ?
Quỳnh Hoa thấy tôi nhìn cô chăm chú, có vẻ mắc cỡ đôi má càng hồng hào thêm, còn đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Châu vội đề nghị:
- Thôi bữa nào giải toả xong, đãi tụi này một bữa cơm nhà quê được không Qùynh Hoa ?
- Em nấu ăn dở lắm, nhưng em sẽ đãi các anh một chầu bún bò Huế, được không ?
Tôi làm bộ nuốt nước miếng:
- Ôi chao, chưa đánh mùi mà đã thèm nhỏ dãi rồi.

Hình minh họa


2
Có tiếng trực thăng từ xa vọng lại. Tôi từ giã Quỳnh Hoa rồi vội vã đốc thúc anh em binh lính để cuộc di chuyển được mau chóng. Bình, anh chàng tài xế xe jeep của tôi chạy lại hỏi:
- Mình cần về hậu cứ lấy thêm gì nữa không Ông Thầy ?
- Chắc đủ rồi, vả lại cũng không còn kịp nữa.
Tôi móc túi đưa cho Bình một ít tiền lẻ và nói:
- Em vào trong quán mua vài gói mì và một hộp trà, tối nay mình ăn mừng chiến thắng.
- Bình cầm tiền, nheo mắt chọc tôi:
- Cái cô hồi nãy coi bộ chịu đèn Ông Thày lắm rồi đó nghe.
Tôi thấy thích thú trong lòng nhưng cũng làm bộ chống chế:
Trời bắt đầu đổ mưa lâm râm khi trực thăng vừa bốc hai khẩu đại bác. Những cơn mưa trên miền núi thường dai dẳng và mang theo gío lạnh thấm đến tận xương tủy của những người lính Pháo Thủ, vừa thiếu ăn vừa phải làm việc cực nhọc. Tôi thầm hỏi liệu đêm nay trực thăng có kịp đổ quân để bảo vệ hai con gà cồ của mình không ?
Hai khẩu đại bác cùng với 4 túi đạn 105 li và chiếc xe Jeep được thả xuống một ngọn đồi trọc. Dưới cơn mưa tầm tã, đất đỏ lầy lội, đám pháo thủ thoăn thoắt làm việc: Hì hục đẩy hai khẩu pháo lại gần nhau, khuân vác đạn dược, dựng cây truyền tin, nhắm hướng súng. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, Những trái đạn đầu tiên đã được gởi đi liên tục để dọn bãi đáp cho hai tiểu đoàn Bộ Binh đổ bộ xuống mục tiêu.
Trận tái chiếm quận Phú Nhơn hôm đó đã thành công hoàn toàn nhưng Châu Đề Lô đã bị thương nặng, một mảnh đạn B40 của địch quân đã chọc một lỗ lủng lớn ở bụng của hắn. Tóan Pháo Binh được di chuyển về phía sau quận hành chánh để sãn sàng yểm trợ cho lực lượng bảo vệ quận.

Tỉnh Gia Lai VN


3
Một buổi sáng, sau khi sửa sang tuyến phòng thủ tạm ổn định, tôi ghé thăm Quỳnh Hoa. Ngôi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Anh em quân nhân trong quận đang gíup tay sửa sang những chỗ bị tàn phá. Tôi đến bên lớp học của Qùynh Hoa, nàng đang say sưa tập hát cho các em nhỏ. Có tiếng một em bé báo động:
- Thưa cô có Ông Lính tới kiếm.
Nàng quay lại, gật đầu chào. Tôi ướm thử xem nàng còn nhận ra tôi không:
- Ông Lính kính chào Cô Giáo, Cô Gíao còn nhớ Ông Lính này không ?
Nàng không thể nhịn cười được lối diễu cợt của tôi, nhưng cũng không chịu thua:
- Ông Lính đi đâu mà lạc vô đây ?
- Ông Lính đi lạc vào Thiên Thai đó ạ, không biết Tiên Nữ có cho Ông Lính xem rừng Đào Tiên không.
- Ông Lính tỉnh lại đi, đây là chốn phàm tục, đâu có nàng Tiên nào đâu.
- Chứ Quỳnh Hoa không phải là Tiên sao?
Nàng nghe tôi khen không khỏi e thẹn:
- Anh Lập làm Qùynh Hoa mắc cỡ quá hà! Người ta xấu như ma mà so sánh với Tiên, anh có mơ ngủ không đấy? Anh Châu có khỏe không anh Lập?
- Châu bị thương nặng đang nằm Ớ quân Y viện Pleiku.
- Trời ơi, có nguy hiểm lắm không anh?
Thấy mặt Qùynh Hoa biến sắc, tôi thấy hơi ganh với bạn mình, nhưng vội trấn an:
- Chắc không đến nỗi nào, nhưng phải nằm nhà thương một thời gian.
- Hôm nào anh có đi thăm anh Châu cho em đi theo với nghe.
Tôi tự nhủ thầm sao nàng dễ xúc cảm như vậy nên hứa đại cho xong chuyện:
- Cuối tuần tôi phải về hậu cứ nhân tiện ghé đón Quỳnh Hoa đi thăm Ông Châu luôn thể, cô có chịu không ?
- Gia đình ảnh đã biết chưa vậy anh Lập ?
- Gia đình ảnh Ớ Pleiku đã được thông báo rồi.
Tôi hỏi thăm qua loa về trường ốc và gia cảnh của nàng rồi vội vã cáo lui, hẹn gặp lại sáng thứ Bảy. Qùynh Hoa hiện Ớ trọ tại nhà bà Hiệu Trưởng, một người bạn cũ của gia đình nàng. Chồng Bà cũng là một cựu quân nhân giải ngũ, có tiệm tạp hóa ngoài chợ.
Sáng thứ Bảy, Tôi cho tập họp Trung Đội, giao doanh trại cho Ông Thượng Sĩ Thường Vụ rồi hối đám quân xa chuẩn bị xe cộ về hậu cứ lãnh lương thực và đạn được. Tôi gọi Bình vào văn phòng rồi dặn:
- Bình à, coi lại xe cộ, xăng dầu đầy đủ, bữa nay mình về hậu cứ đồng thời ghé thăm ông Châu luôn thể. À hôm nay có một người bạn xin qúa giang nữa nghe.
- Ai vậy Ông Thầy ?
- Cô giáo bữa mình gặp ngoài Ngã Ba Hàm Rồng đó nhớ không em.
- Ồ, vậy em phải rửa xe cho thật sạch mới được.
- Lính tác chiến mà chú mày làm như lính thành phố không bằng, không sợ tụi hậu cứ nó cười sao ?
- Sức mấy mà tụi nó dám cười Thầy Trò mình.
Tôi ghé lại nhà Quỳnh Hoa, nàng đã chờ sẵn, vẫn chiếc áo dài trắng hôm nào. Nét mặt vui vẻ, nụ cười tươi như hoa trông mới duyên dáng làm sao chứ ! Nàng bước ra cửa đón tôi:
- Chào anh, mời anh vào trong nhà uống miếng nước đã.
- Chào cô Qùynh Hoa, cám ơn cô để khi khác, thôi chúng ta lên đường kẻo trễ.
Đến hậu cứ, tôi nhận tiếp liệu rồi hẹn tất cả tập trung lúc 2 gìơ chiều để trở ra Phú Nhơn. Tôi chở Quỳnh Hoa vào bệnh viện. Châu vẫn còn thiếp trong giấc ngủ mê, khuôn mặt trắng bệch, hơi thở yếu ớt. Tôi có cảm tưởng thần chết đang lảng vảng đâu đây. Bà mẹ của Châu nhìn thấy chúng tôi thì không cầm nổi nước mắt. Bà bắt đầu thút thít khóc. Tôi tự hỏi trong những ngày qua người mẹ đau khổ này đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đứa con yêu dấu của mình. Chiến tranh thật tàn nhẫn ! Nó như một con qủy luôn luôn cười cợt trên sự đau khổ của con người. Nó lấy xác chết làm chiến lợi phẩm. Qùynh Hoa nhìn thấy Châu, bỗng hai hàng lệ tuôn trào. Tôi đưa chiếc khăn tay, nàng cầm lấy, che lên mắt và đi vội ra ngoài. Tôi không ngờ nàng qúa thương tâm như vậy đối với một người bạn mới quen. Tôi an uỉ Bà Mẹ của Châu mấy câu rồi vội vã đi tìm Qùynh Hoa. Nhìn nàng đứng dựa chiếc cột ngoài hành lang bệnh viện, đôi vai rung lên từng hồi, có lẽ nàng đã qúa xúc cảm. Tôi chẳng biết làm sao để an ủi nàng. Miệng lưỡi cứng đơ, chân tay thừa thãi, tôi lặng lẽ đến bên nàng, mắt tôi cũng bắt đầu nhòe lệ, tôi ôm lấy đôi vai bé bỏng của nàng. Qùynh Hoa quay mặt lại và úp mặt vào vai tôi khóc nức nở như một đứa con nít. Có lẽ những đau khổ thầm kín lâu nay được dịp tuôn ra đi theo dòng nước mắt. Tôi để mặc nàng khóc cho đã đời. Một vài người đi ngang dòm chúng tôi với đôi mắt dò hỏi rồi bỏ đi. Chuyện khóc lóc có lẽ qúa bình thường ở đây. Nàng khóc một lúc rồi bắt đầu im lặng, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi an uỉ nàng:
- Em đừng khóc nữa, anh Châu chắc không đến nỗi nào đâu, Mẹ ảnh nói Bác Sĩ cho hay ảnh đã qua cơn hiểm nghèo rồi chỉ chờ bình phục thôi.
Nàng thì thầm bên tai tôi:
- Em nhớ Ba em hồi đó, cũng nằm ở Bệnh Viện này, trong cơn hấp hối, nên không cầm nổi nước mắt, xin anh tha lỗi cho em.
- Anh xin lỗi em, không ngờ cuộc thăm viếng này đã gợi cho em những đau đớn như vậy.
- Anh đừng nói vậy, anh không có lỗi gì cả, chỉ vì em tủi thân đó thôi.
Khi đã tỉnh trí, nhìn thấy một bên vai áo tôi ướt đẫm nước mắt, có lẽ thấy hơi ngượng ngùng nên đẩy nhẹ tôi ra và lí nhí mấy lời xin lỗi. Tôi vội dìu nàng ra xe và rủ ra ngoài phố kiếm ăn. Tôi dẫn Quỳnh Hoa vào quán như một đôi tình nhân gắn bó bên nhau. Những cặp mắt nhìn soi bói của đám thực khách mà qúa nửa là lính tráng khiến nàng hơi bối rối. Tôi nhìn nàng với đôi mắt nồng nàn, thầm cám ơn Thượng Đế đã cho tôi có dịp làm quen với người con gái dễ thương và thùy mỵ như vậy. Sự hiện diện của nàng trong đời sống khiến tôi thấy những gánh nặng trên vai nhẹ nhàng hơn. Qùynh Hoa là một dòng suối ngọt, một bóng mát, một hy vọng, một nơi yên nghỉ êm đềm cho linh hồn thể xác mệt mỏi của tôi trong cuộc chiến tàn nhẫn đầy máu và nước mắt này. Tôi vẫn cảm thấy rằng sau nét mặt vô tư ngây thơ, Quỳnh Hoa có một sức thu hút kỳ lạ, giống như một vùng đất mới chứa đầy những bí mật quyến rũ đối với những nhà thám hiểm. Đúng vậy, nàng chính là sự thiêng liêng kỳ bí, một vườn Địa Đàng cho riêng tôi. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao nàng qúa thương tâm khi thăm Châu trong bệnh viện nên muốn tìm hiểu thêm:
- Qùynh Hoa ở Phú Nhơn lâu chưa ?
- Độ gần một năm thôi, em ra trường sư phạm cấp tốc rồi xin đổi về đấy ngay.
- Sao em không xin dạy ở gần nhà có phải tiện hơn không ?
- Ngày xưa, Ba em làm Quận Trưởng Phú Nhơn. Người đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng cái quận đèo heo hút gío này. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dân chúng từ miền ven biển và từ ngòai Bắc di cư lên đây lập nghiệp, đã được chính quyền tận tình giúp đỡ. Nhưng rồi trong một cuộc đi thăm đồn điền của một xã phía Tây Quận Lỵ, Ba em đã lọt vào ổ phục kích và bị sát hại. Em lớn lên, muốn tiếp nối cái hoài bão của Ba em là nâng cao dân trí để họ có thể hiểu được ý nghĩa của sự tự do, dân chủ, công bình và lẽ phải.
Tôi thầm nghĩ những danh từ tự do, dân chủ thật qúa mơ hồ đối với những người lính tác chiến, với đám dân quê nghèo thất học ở đây. Gia đình, vợ con, miếng cơm manh áo, mạng sống có lẽ gần gũi hơn. Tôi thấy vừa kính nể vừa thương hại người con gái mới lớn mang trong lòng một hoài bão qúa lý tưởng, qúa to lớn. Nàng đúng là một Tiên Nữ mà Thượng Đế đã gởi xuống cõi trần đầy khổ đau này.


4
Sau nhiều lần đi thăm Châu, chúng tôi thấy gần gũi nhau hơn. Tôi tìm thấy ở nàng một niềm vui, một ước mơ, một mái ấm gia đình cho tương lai. Vùng đất hoang vu này trở nên tươi mát đáng yêu bởi vì chỗ nào cũng thấy đoá Hoa Quỳnh nở rộn ràng.
Chúng tôi đã yêu nhau, có núi rừng và con sông nhỏ chảy qua quận lỵ làm chứng. Con sông thật hiền hoà và dễ thương như người tôi yêu. Bên bờ sông những hàng cây Phượng Vĩ nở đỏ rực mỗi mùa hè. Mùa mưa nước phù xa đỏ ửng từ trên ngàn chảy cuồn cuộn xuống ngập gần hết cây cầu sắt nhỏ bắc qua sông. Cây cầu nhỏ sơ sài có vài nhịp, bề ngang chỉ đủ cho một chiếc xe đò qua lại. Mùa nắng, nước cạn trơ những bãi cát trắng tinh. Người ta đào cát thành những vũng nước trong, gánh về để uống. Giữa lòng sông nước trong vắt nhìn thấy cát và sỏi tận dưới đáy, nước chảy lững lờ. Mấy chàng Pháo Thủ thường ra tắm sông để được chiêm ngưỡng những nàng thôn nữ cao nguyên ngực no tròn và rất tự nhiên. Tôi yêu núi rừng Cao Nguyên, mỗi buổi sáng thức dậy đứng trên đồi nhìn chung quanh chỉ thấy một màu xanh rì, mênh mông như biển cả. Tôi yêu con sông bé nhỏ, tôi yêu cây cầu sắt cũ kỹ đưa người qua sông, tôi yêu hàng cây Phượng Vĩ học trò, tôi yêu sân trường tiểu học Phú Nhơn, tôi yêu con đường nhựa bé bỏng chạy qua quận lỵ và băng qua núi rừng Cao Nguyên. Tôi yêu và yêu rất nhiều, bởi vì ở đâu cũng thấy hình bóng của nàng. Tôi yêu lắm những buổi chiều hai đứa dẫn nhau ra bờ sông, lang thang dưới những hàng cây xanh um, hoặc ngồi trên thành cầu nhìn dòng nước hững hờ trôi. Nàng ngồi bên tôi, đong đưa hai hàng chân trắng muốt, cười nói vô tư như một Thiên Thần. Trời Đất, Vũ Trụ, Thời Gian như ngừng hẳn, ôi đẹp đẽ và thanh bình đất nước tôi!
Ở đó, bấy giờ, không nghe tiếng súng nổ, không nghe tiếng gầm gừ của máy bay phản lực, không gian hoàn toàn yên tĩnh.
Chúng tôi đã dệt những giấc mộng tương lai đơn sơ và êm đềm.
- Qùynh Hoa ơi, mai này chiến tranh chấm dứt, anh sẽ cất một căn nhà bên bờ sông này, em sẽ tiếp tục dạy học, còn anh sẽ biến vùng đất màu mỡ này thành một đồn điền trù phú, em có chịu không ?
- Anh trồng cho em một vườn trái cây mít , ổi, xoài, đu đủ, mảng cầu nghe anh.
- Ừ, anh sẽ trồng bất cứ cây gì em muốn.
- Anh hứa thương em và chiều chuộng em như ngày xưa Ba yêu thương và chiều chuộng em nghe.
- Anh hứa.
- Anh đừng bỏ em, như Ba đã bỏ em một mình, em sợ lắm.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình.
- Nghe anh nói thơ mộng và sung sướng qúa, cám ơn Trời Phật đã cho em gặp anh. Có lẽ Ba đã run rủi em gặp anh đó. Lập ơi em thương anh lắm, anh biết không?
- Sao em thương anh nhiều dữ vậy ?
- Không biết nữa, có lẽ em thấy anh giống Ba em. Anh chiều chuộng em, anh là người lớn, bao dung, đại lượng, biết nhiều, hiểu nhiều. Anh biết không, hôm em gặp anh đi hành quân, em thấy anh oai hùng qúa, giống như Ba em ngày xưa. Mấy Ông Lính thương anh lắm phải không ?
- Không mấy ông ấy ghét anh lắm.
- Cái mặt xạo, ai mà ghét anh. Anh nhiều đào lắm phải không ? nói cho em nghe đi.
- Có mình em thương anh thôi, thiệt đó.
Tôi ngồi bên nàng, uống từng giọt tình yêu ngọt ngào, nghe trái tìm mình đập từng điệu nhạc run rảy trên lối vào Thiên Đường chỉ có hai đứa chúng tôi. Nàng đã dạy cho tôi biết mơ mộng, thấy đời đáng yêu hơn, những thứ đó tôi đã đánh mất từ khi mới lớn, từ khi bước chân vào quân ngũ, tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ của tôi đang đi vào ngõ cụt và chỉ còn những giấc mơ hãi hùng. Đời tôi thật trống rỗng nếu không có nàng. Tôi thấy yêu thương nàng qúa đỗi. Qùynh Hoa vẫn còn vẽ những giấc mơ của nàng nhưng tôi không còn nghe gì cả, chỉ thấy cánh môi hồng mấp máy, hơi thở thơm tho mùi mía lùi phà trên mặt tôi. Bất chợt, tôi ôm và hôn nàng say đắm, người nóng bừng như có dòng điện chạy ào ạt từ tim lên đầu. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:
- Coi kìa, người ta cười mình đó.
- Ai mà dám cười mình.
Nàng đánh trống lảng, bâng quơ hỏi tôi:
- Anh ơi, cây cầu này có tên không anh.
- Anh cũng chẳng biết nữa, hay là mình đặt cho nó một cái tên làm kỷ niệm nghe.
- Em cho anh đặt đó.
- Ừ, hay là mình gọi là Cây Cầu Biên Giới nghe em.
- Cái tên nghe cũng hay đấy, nhưng mà nghe có vẻ chia ly qúa. Giống như trong bài “Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu” của Nguyễn Văn Đông vậy.
Tôi phì cười:
- Mới thương nhau mà em đã nghĩ đến chuyện chia ly rồi.
- Nhưng mà em sợ lắm, thời buổi chiến tranh... Lỡ mai này, anh bỏ em ở đây một mình, em buồn lắm đó.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ xin với Mẹ để cưới em, chúng ta mãi mãi bên nhau.
Nàng reo lên sung sướng như một đứa con nít, mắt sáng ngời những tia hy vọng, rồi ôm lấy tôi. Ôi mùi thơm ngọt ngào, tôi làm bộ đẩy nhẹ nàng ra.
Thật không ngờ, nơi rừng rú hoang vu nguy hiểm này ai nghe đến cũng rợn tóc gáy. Bạn bè, người thân, lâu không gặp nhau, hỏi tôi bây giờ Ớ đâu, tôi trả lời ở quận Phú Nhơn tỉnh Cheo Reo, ai cũng lè lưỡi chọc tôi bộ hết đất rồi sao lên miền Thượng ở vậy, tôi chỉ cười khì. Bây giờ tôi đã có lý do để trả lời họ ... Bởi vì tôi mê hoa Qùynh, thế thôi.
- Anh làm gì ngồi thừ ra thế, hãy nói nữa về tương lai của chúng ta cho em nghe đi.
- Anh đang sung sướng qúa nên làm một bài thơ kỷ niệm.
- Ồ, anh biết làm thơ nữa sao? Hãy đọc em nghe đi, 
Chiều về thấp thóang bên sông,
Thấy Qùynh thơm ngát thấy lòng xôn xao.
Nàng cười rũ rượi, hai tay đánh liên hồi vào vai tôi. Một ngày như mọi ngày trôi qua, trong thung lũng tình yêu, bên cây câu biên giới, nỗi chết đã tạm chịu rút lui, để nhường chỗ cho tình yêu hoa bướm ngọt ngào. Tôi lấy con dao găm đeo bên mình khắc câu thơ trên thành cầu sắt để đánh dấu một chặng đường yêu đương…

Thành phố Gia Lai VN


5
- Anh muốn vào chợ hay đến nhà ai ở quận Phú Nhơn ?
Tiếng người tài xế kéo tôi về thực tại. Giấc mơ thật ngắn ngủi, như cuộc tình của chúng tôi.
- Anh cho tôi lại trường tiểu học.
Quang cảnh vẫn không thay đổi mấy, ngôi trường tiểu học vẫn như xưa. thời gian như ngừng trôi Ớ quận lỵ nhỏ bé này. Phố chợ đìu hiu vẫn còn kia, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn còn đó, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa Qùynh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Tôi hối người tài xế chạy ra phía cây cầu. Chiếc cầu sắt nhỏ bé đầy dấu kỷ niệm, tôi như trong giấc mơ, Chàng Tú Uyên ngày xưa khi tỉnh giấc không thấy người đẹp trong tranh đâu nữa, chắc cũng ngỡ ngàng như tôi hôm nay thôi. Tôi bước lên cầu, ngồi đúng vào chỗ ngày xưa chúng tôi đã từng có một thời mơ mộng. Tôi ngồi bệt xuống, hai chân đong đưa, mắt nhìn xa xăm trên những ngọn phượng vĩ bên sông, cố tìm chút nắng vàng ngày xưa của một buổi chiều tà. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu, không thấy một dấu tích gì của nàng. Nơi thành cầu này tôi đã hôn những nụ hôn đầu tiên trong đời, vẽ những giấc mơ .Đúng là cây câu chia ly như nàng đã nói. Bây giờ nàng ở đâu, hay đã bỏ xác trên tỉnh lộ Số Bảy trên đường di tản về Tuy Hoà. Ồ phải rôì, tôi phải tìm lại bài thơ có lẽ đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi với nàng. Tôi dò từng tấc sắt trên thành cầu, bài thơ còn đó nhưng đã dài hơn hai câu:
Chiều về chiều vẫn một mình,
Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ.
Tôi bay về Hoa Kỳ lòng buồn miên man, bao nhiêu háo hức của ngày trở lại Việt Nam đã tiêu tan đâu mất chỉ còn lại sự mệt mỏi và chán chường. Tôi đã đi mọi nơi, để tìm tung tích của Quỳnh Hoa nhưng cũng không có tin tức gì. Ngày ấy nếu tôi không bị kẹt ngoài Huế, chắc chúng tôi đã chết bên nhau hay cùng nhau lênh đênh trên con tàu vượt biên. Thời gian thấm thoát trôi đi, tóc tôi đã bắt đầu điểm bạc. Mỗi lần đi đâu, thấy bóng dáng mái tóc thề và chiếc áo dài trắng lòng tôi lại xôn xao như ngày nào bên chiếc Cầu Biên Giới.

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Những phát minh tình cờ

Những phát minh tình cờ

╭⊱ꕥ ❤️ ꕥ⊱╮

 

 

Trong suốt chiều dài lịch sử có nhiều sản phẩm rất hữu dụng và nổi tiếng lại ra đời theo một cách hoàn toàn bất ngờ.

Khoai tây lát chiên giòn (năm 1853)

Câu chuyệnvề sản phẩm này đến từ George Crum, một đầu bếp người Mỹ gốc Phi tại khu nhà nghỉ Moon’s Lake House Lodge ở Saratoga Springs (New York). Một ngày trong năm 1853, Crum đối mặt với một vị khách hàng cực kỳ khó tính. Theo nguồn tin thì danh tính của vị khách đó là ông trùm ngành đường sắt Cornelius Vanderbilt. Vị khách hàng luôn mồm chê món khoai tây của đầu bếp Crum rằng nó quá dày, nhũng nước và nhạt nhẽo, và đòi đổi món khác. Mặc dù đầu bếp Crum thừa sức để cắt các lát khoai tây mỏng hơn, nhưng ông khách vẫn không chịu, cho rằng ăn không ngon.

Không muốn lâm vào cảnh đấu khẩu, đầu bếp Crum quyết định “dạy” cho ông khách một bài học thú vị: Crum đã thái các lát khoai tây mỏng tang rồi chiên nó ngập trong chảo dầu cho đến khi khoai tây giòn đến độ chỉ cần đâm nĩa cũng đủ làm khoai tây nát bét, rồi phủ lên khoai tây một xíu muối bột. Vừa trông thấy món ăn, Cornelius Vanderbilt đã vớ lấy và đánh chén hết miếng này sang miếng khác, tấm tắc khen món ăn ngon tuyệt và gọi nhiều thêm. Tiếng lành đồn xa, đầu bếp Crum tóm lấy cơ hội quảng bá món “Khoai tây chiên Saratoga” và mở một nhà hàng cho riêng mình, chuyên bán món này.

Saccharin, chất làm ngọt nhân tạo (năm 1877)

Một đêm năm 1877, nhà hóa học người Nga Constantin Fahlberg bị lôi cuốn vào nghiên cứu của mình từ phòng thí nghiệm ở Đại học Johns Hopkins (Baltimore, Maryland). Fahlberg vội vã trở về nhà dùng bữa cơm tối quên luôn cả chuyện rửa tay.

Tại bàn ăn, Fahlberg cầm một khoanh bánh mì nướng, cắn một miếng nhưng bỏ nó xuống ngay. Chuyện khủng khiếp gì đã xảy ra? Khoanh bánh mì tự nhiên có vị ngọt. Fahlberg đột nhiên nhớ rằng ông quên rửa tay sau khi làm xong thí nghiệm. Thứ chất bí ẩn nào làm cho mọi thứ trở nên ngọt? Hào hứng với khám phá bất ngờ của mình, Fahlberg rời bữa ăn tối và hộc tốc quay trở lại phòng thí nghiệm, tỉ mỉ kiểm tra các thành phần của hắc ín. Fahlberg nhanh chóng nếm thử mọi thứ trên bàn làm việc của mình. Cuối cùng nhà hóa học đã tìm ra “anh bạn lạ”: một cái cốc bị đun quá lâu. Bạn đọc thử tưởng tượng mà xem, nếu như Fahlberg rửa sạch tay trước khi rời phòng thí nghiệm thì thế giới có lẽ mãi mãi sẽ chẳng ai biết đến chất tạo ngọt nhân tạo.

Coca-cola (năm 1886)

Trong lúc tìm cách để trị dứt bệnh đau đầu và cảm giác nôn nao, nhà hóa học John Pemberton đến từ thành phố Atlanta (tiểu bang Georgia, Mỹ) đã bất ngờ pha chế ra một ly sirô làm từ rượu vang và tinh chất coca và ông đặt tên món uống mới là “Vang coca Pháp của Pemberton”. Khoảng năm 1885, thành phố Atlanta cấm bán rượu, buộc nhà hóa học Pemberton phải nghĩ ra cách để sản xuất ra một món uống dạng si rô có thành phần coca được pha loãng.

Chuyện kể rằng, một nhân viên pha chế bất cẩn ngay tại vòi soda, thay vì dùng nước vòi thì người nhân viên dùng nước soda lạnh. Người ta tin rằng việc này là một dụng mưu của nhà hóa học Pemberton nhằm kiểm nghiệm quá trình nghiên cứu của mình. Nhiều người đã đem các mẫu nhỏ tới nguồn soda Willis Venables ở trung tâm thành phố Atlanta để thẩm định hương vị. Dù theo cách nào đi nữa thì cuối cùng một loại đồ uống thú vị cũng kịp chào đời.

Tia X (năm 1895)

Trong phòng thí nghiệm tối om vào một ngày của năm 1895, nhà vật lý người Đức – Wilhelm Conrad Rontgen đang bận rộn thử nghiệm các ống tia cực âm – tương tự như bóng đèn huỳnh quang của chúng ta ngày nay – nhằm điều tra xem cách truyền điện qua khí. Ông cẩn thận tháo 1 ống cực âm không khí rồi nhét một loại khí đặc biệt vào bên trong, rồi truyền một dòng điện cao áp qua ống. Trước sự ngạc nhiên khôn tả của Rontgen khi cái ống cực âm để cách ông vài mét bỗng đột nhiên phát ra thứ ánh sáng huỳnh quang xanh lục.

Quả là không bình thường khi mà thứ ánh sáng lại phát ra từ hộp các-tông màu đen dày được phủ lên ống cực âm. Thứ ánh sáng huỳnh quang xanh lục đó là tia X, được sinh ra thông qua một cách bí ẩn nào đó. Kêu vợ, bà Bertha, làm đối tượng thử nghiệm, nhà phát minh Rontgen khám phá ra rằng những tia X có thể đi xuyên qua các mô của cánh tay, nổi rõ hình xương tay. Việc Rontgen đột nhiên khám phá ra tia X đã trở thành một sự kiện chấn động toàn cầu. Cũng ngay trong năm 1895, người ta đã dùng tia X trong việc chẩn đoán gãy xương.

Nón kem (năm 1904)

Vào cuối thế kỷ 19, khi kem trở thành món ăn thông dụng đối với tầng lớp bình dân, các loại giấy, thủy tinh và kim loại thường được sử dụng để đựng kem. Những người bán hàng rong thường múc kem cho vào cốc và người mua chỉ cần trả vài xu là tha hồ liếm sạch kem trước khi trả lại cốc cho chủ quán. Cũng có khi khách hàng lấy luôn cốc hoặc quăng nó đâu đó.

Tại Hội chợ thế giới năm 1904 tổ chức ở St Louis (tiểu bang Missouri, Mỹ) có sự tham dự của hơn 50 tiệm kem và hàng tá các quầy kem. Kem tươi bán rất chạy vì thời tiết khá nực, nhưng một phần là do kem được đựng bên trong một lớp bánh lót! Người chủ tiệm kem Arnold Fornachou bán ra các tách kem bằng giấy, còn người chủ hàng bên cạnh – một người Syria tên là Ernest Hamwi, thì bán ra các miếng bánh lót để kem có thể cuộn gọn bên trong, khi ăn kem người ta ăn luôn cả lớp bánh lót đựng kem.

Peniciline (năm 1928)

Vào ngày 3/9/1928, trong lúc đang dọn dẹp phòng thí nghiệm tại Bệnh viện St Mary’s ở thủ đô London (Anh) sau khi trở về từ kỳ nghỉ, nhà Vi trùng học người Scotland-Alexander Fleming đã lờ mờ nhận ra có một chuyện rất lạ: một cái khuôn lên mốc xanh bị nhiễm vi khuẩn từ đĩa thí nghiệm nằm ngay trong một góc phòng thí nghiệm, đĩa đã không rửa khi Fleming rời phòng đi. Fleming có ý định vất bỏ cái đĩa ủ mầm vì ông nhận thấy rằng cái khuôn nấm mốc dường như đang hòa tan vi khuẩn tụ cầu trên đĩa, tạo ra một vòng tròn không mang mầm bệnh trên khuôn.

Bằng cách nào đó, một bào tử khuôn nấm mốc đã rơi vào trong đĩa ủ – có lẽ do cửa sổ phòng thí nghiệm mở toang, hoặc có lẽ là khi Fleming mở toang cửa nhà để đi xuống tầng dưới lấy cà phê – và bắt đầu sinh trưởng. Sau các xét nghiệm xa hơn, Fleming đã khám phá ra rằng có một số thứ trong khuôn đã làm chận lại sự sinh trưởng của vi khuẩn. Nếu không vội vàng đi nghỉ mát, có lẽ Fleming sẽ rửa sạch cái đĩa ủ và ngày hôm nay chúng ta cũng sẽ không có một trong những loại kháng sinh được sử dụng thông dụng nhất thế giới.

Lò vi sóng (năm 1946)

Trong lúc thử nghiệm vi sóng ngay trước một thiết bị radar vào năm 1946, kỹ sư kiêm chuyên gia về radar trong thời Chiến tranh thế giới thứ II, ông Percy Spencer (người bỏ học từ năm 12 tuổi) đã để thanh sôcôla trong túi áo và nó từ từ tan chảy. Cho rằng vi sóng là căn nguyên khiến sôcôla bị chảy thành nước, Spencer và các đồng nghiệp bắt đầu thử nghiệm đun nóng các thực phẩm khác nhằm tìm hiểu về tác động làm ấm tương tự có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Khi Spencer thử nghiệm với các hạt ngô thì ngay lập tức bỏng ngô văng khắp phòng. Kế đó, ông quyết định đun nóng 1 quả trứng. Bằng cách khoét một cái lỗ ở cạnh bên chiếc ấm đun nước, Spencer đã đặt quả trứng bên trong ấm và cho vi sóng đi lên mặt ấm. Quả trứng được nấu chín rất nhanh khiến ông Spencer không biết cách điều chỉnh nhiệt độ, và khiến cho quả trứng nổ tung vào mặt một đồng nghiệp khác khi người này đang dòm vào trong ấm. Cuối cùng đã có một giải pháp thay thế cho các loại lò điện và lò gas thông thường. Với lò vi sóng, thực phẩm được nấu chín cực nhanh, chiếc lò vi sóng đầu tiên trên thế giới đã ra đời như thế đó.

Khóa dán (năm 1955)

Hơn 60 năm trước, chiếc khóa dán đã được cấp bằng sáng chế. Loại móc nối và móc khóa là sản phẩm được cả thế giới sử dụng cho rất nhiều việc khác nhau, từ việc ngăn chặn áo khoác mở ra, cho đến ngừa miếng đệm rơi khỏi ghế. Phát minh này ra đời hết sức tình cờ. Khoảng năm 1955, sau khi dẫn chó đi dạo bộ trong cánh rừng, kỹ sư điện người Thụy Sỹ, ông George De Mestral, nhận thấy rằng các cạnh sắc của quả cây ngưu bàng bám dính lên quần áo của ông cũng như lông con chó.

Quan sát các cạnh sắc dưới kính hiển vi, ông De Mestral nhìn thấy có hàng ngàn cái móc nhỏ xíu có thể dễ dàng dính chặt lên các vòng nhỏ trong quần áo. Nguồn cảm hứng này khiến cho De Mestral nảy sinh ý tưởng tạo ra loại khóa 2 mặt, như sau này ông viết về phát minh của mình: “Một mặt có các móc cứng như cạnh sắc, mặt kia lại có các vòng mềm mại như các sợi vải trong quần của tôi”. Kỹ sư De Mestral đã thử nghiệm với đủ loại vật liệu nhằm giúp cho ông phát triển ra một loại khóa dán mạnh nhất. Cuối cùng, nylon là vật liệu hoàn hảo. Và thế là khóa dán – một sự kết hợp của “nhung” và “móc” – đã ra đời.

Giấy ghi chú (từ 1968 đến 1974)

Vào năm 1968, nhà hóa học Spencer Silver (làm việc tại Công ty sản xuất và khai khoáng Minnesota ở St Paul, tiểu bang Minnesota, Mỹ), người được cho là phát minh ra chất kết dính mạnh mẽ dùng cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ, nhưng cuối cùng ông đã phát minh ra một thứ ít tên tuổi hơn. Kỳ lạ thay, những khối cầu acrylic được tạo ra không dễ gì mà phá hủy, và độ dính nó rất cao ngay cả khi đã sử dụng vài lần. Buổi đầu, Silver muốn bán chất kết dính như một thứ bề mặt dính dùng cho bất kỳ ai muốn gắn nó lên bảng thông báo.

Ông hình dung cách người ta dán chúng lên bảng và lột ra sau đó mà không cần đụng móng tay vì có thể sẽ làm tan nát mảnh giấy dán. Ý tưởng này chỉ trở thành một sản phẩm thực sự cho mãi đến năm 1974, khi nhà hóa học Art Fry nảy ra một ý tưởng: tại sao không dùng chất kết dính “ít dính” của ông Silver dán trên các mảnh giấy? Fry bắt đầu cắt các mẩu giấy nhỏ và dán chúng lên nhau. Sau đó, một vài mẫu giấy dán được gửi tới cho công chúng và hiệu quả tức thì, ít nhất 90% số người được phát mẫu giấy ghi việc đã phản hồi và muốn mua thêm. Ngày hôm nay, loại giấy ghi chú vẫn thuần túy một màu vàng.

 

Hồng Anh sưu tầm

Theo dõi RSS này