Kim Quy

Kim Quy

Giáng Sinh đặc biệt của Ông Panov

Giáng Sinh đặc biệt của Ông Panov

 

“Giáng sinh đặc biệt của ông Panov” là một truyện ngắn do Leo Tolstoy phóng tác thành văn xuôi từ vở thoại kịch có tựa đề là ‘Le père Martin’ của Ruben Saillens. Từ câu chuyện Ông Panov này, ngày nay đã có hàng ngàn phiên bản bằng văn, thơ, kịch khác phổ biến trong văn học thế giới như một thông điệp về nhân ái và hạnh phúc, nhất là trong dịp Lễ Giáng Sinh hàng năm.

Dù trời mới chiều mà đèn đã bật sáng trong các cửa hiệu và các ngôi nhà trong làng, một làng quê nhỏ của nước Nga, báo hiệu những ngày đông ngắn ngủi sắp kết thúc. Những đứa trẻ phấn khích nô đùa trong nhà và chỉ còn nghe thấy những tiếng nói cười rúc rích sau những cánh cửa đóng.

Ông Panov một người thợ giày già nua trong làng, bước ra khỏi cửa hiệu và nhìn quanh. Những thanh âm vui vẻ, đèn nhấp nháy sáng và mùi thức ăn Giáng Sinh ngon lành gợi nhắc Ông về những mùa Giáng Sinh qua, khi người vợ và những đứa con bé nhỏ của Ông còn sống. Nhưng giờ tất cả họ đã ra đi. Khuôn mặt từng rất tươi tỉnh của Ông đã xuất hiện những nếp nhăn sau cặp kính tròn, trở nên buồn bã. Nhưng Ông đã bước vào trong nhà với những bước đi vững chãi, kéo các cửa chớp lên và hâm nóng cafe trên bếp than. Rồi Ông thở dài, ngồi trong chiếc ghế bành lớn.

Ông Panov không hay đọc sách, nhưng đêm nay Ông đã lấy cuốn Kinh Thánh gia đình cũ ra, chậm rãi lần từng dòng bằng đầu ngón tay trỏ, đọc lại câu chuyện Giáng Sinh. Ông đọc Mary và Joseph mệt mỏi trong hành trình tới Bethlehem không tìm được phòng nghỉ trong quán trọ, để đứa con bé bỏng của Mary phải hạ sinh trong chuồng bò.

“Ôi, con yêu ơi, con yêu!” Ông Panov kêu lên “Giá mà họ đến đây nhỉ! Mình sẽ nhường họ cả cái giường và có thể ủ ấm đứa bé bằng cái chăn đùm vá của mình”.

Ông đọc về gã đàn ông khôn ngoan, người đã trông thấy Chúa Giê-su lúc sơ sinh, mang cho Chúa những món quà đẹp đẽ. Khuôn mặt Ông Panov sụp xuống. “Mình chẳng có món quà nào cho Chúa bé cả”, Ông rầu rĩ nghĩ bụng.

Nhưng Ông bỗng trở nên tươi tỉnh hơn. Ông đặt Kinh Thánh xuống, đứng dậy và vươn tay với lên cái kệ cao trong căn phòng nhỏ. Ông lấy xuống một cái hộp nhỏ, đầy bụi và mở nó ra. Bên trong là một đôi giày da bé xíu. Ông Panov mỉm cười mãn nguyện. Ðúng vậy, Ông nhớ rằng đó là một loại tốt – đôi giày đẹp nhất Ông từng làm. “Mình sẽ tặng cho Chúa nhỏ đôi này”, Ông quả quyết, nhẹ nhàng xếp đôi giày lại và ngồi xuống.

Ông đã mệt rồi và càng đọc Ông càng buồn ngủ. Những con chữ bắt đầu nhảy múa trước mắt Ông và chỉ một lát sau đó, Ông đã gấp sách lại. Không lâu sau Ông Panov đã thiếp đi.

Trong giấc ngủ Ông mơ thấy có người ở trong phòng và Ông đã biết ngay người đó là ai. Ðó chính là Chúa Giê-su.

“Ta biết ông ước được gặp ta, Ông Panov à.” Chúa nhẹ nhàng nói, “Hãy tìm ta vào ngày mai. Ðó là lễ Giáng Sinh và ta sẽ tới thăm ông. Nhưng chú ý nhé, bởi ta sẽ không nói với ông ta là ai đâu.”

Lần cuối khi Ông Panov thức dậy, chuông đã reo vang và những tia sáng mỏng manh đã lọt qua những ô cửa chớp. “Hãy ban phước cho con!” Ông Panov nguyện cầu. “Ngày Giáng Sinh đã tới!”

Ông đứng dậy vươn vai bởi thân hình Ông khá cứng. Khuôn mặt Ông vẫn còn tràn ngập niềm vui khi nhớ tới giấc mơ đêm qua. Ðây hẳn là một lễ Giáng Sinh rất đặc biệt vì Chúa Giê-su sẽ tới thăm ông. Trông Chúa sẽ ra sao nhỉ?  Liệu có phải hiện thân là một đứa trẻ sơ sinh như lễ Giáng Sinh đầu tiên không? Hay là một người đàn ông trưởng thành, một thợ mộc – hay là một Ðức Vua vĩ đại, con của Thượng đế? Cả ngày hôm đó Ông đã quan sát rất kỹ để có thể nhận ra đúng là Chúa đã đến.

Ông Panov đặt một bình cafe đặc biệt cho sáng Giáng Sinh, kéo cửa chớp xuống và nhìn ra ngoài cửa sổ. Ðường phố hoang vắng, không tiếng ồn ào. Không một ai ngoài người quét rác. Trông người đó thật khốn khổ và bẩn bụi, có thể là Chúa lắm chứ! Ai lại muốn làm việc vào ngày lễ Giáng Sinh, trong buổi sớm sương mù lạnh lẽo và đắng đót này?

Ông Panov mở cửa tiệm, một luồng không khí lạnh tràn vào. “Mời vào!” Ông hét lên vui vẻ khắp con phố. “Hãy tới đây và thưởng thức chút cafe nóng xua tan cơn giá!”

Người lao công ngước lên, dường như không tin vào tai mình. Ông hẳn rất vui khi buông cây chổi xuống và bước vào căn phòng ấm áp. Bộ quần áo cũ của ông như bốc hơi nhè nhẹ cạnh lò sưởi và hai tay cóng đỏ nắm chặt quanh chiếc cốc ấm nóng dễ chịu khi uống.

Ông Panov nhìn ông trìu mến, nhưng thỉnh thoảng đôi mắt Ông lại liếc ra ngoài cửa sổ. Ý nhắc không được bỏ lỡ các vị khách đặc biệt.

“Ông đang đợi ai đó?” người lao công hỏi. Ông Panov kể với ông ta về giấc mơ của mình.

“Ồ, hy vọng ông ấy sẽ tới”, người lao công nói, “ông đã cho tôi một Giáng Sinh thật tuyệt  mà tôi chưa bao giờ dám mơ. Tôi muốn nói rằng ông xứng đáng biến giấc mơ thành sự thực.” Rồi người đó mỉm cười mãn nguyện.

Khi người đàn ông đi, Ông Panov đặt nồi súp bắp cải cho bữa trưa, rồi lại đi ra cửa, nhìn quanh đường phố. Ông không thấy ai cả. Nhưng Ông đã nhầm. Một người đang đến.

Cô gái lặng lẽ đi tới, bám lấy bức tường các ngôi nhà và cửa tiệm trước khi Ông nhận ra cô. Cô trông rất mệt mỏi và đang mang theo một thứ gì đó. Khi cô tiến tới gần hơn, Ông có thể nhận thấy đó là một đứa trẻ sơ sinh, được quấn trong một lớp tã mỏng. Có vẻ gì đó thật buồn bã trên khuôn mặt cô và khuôn mặt nhỏ bé của đứa trẻ, khiến trái tim của Ông Panov tan chảy.

“Cô sẽ vào đây chứ,” Ông gọi, bước ra ngoài để gặp họ. “Cả hai đều cần được nghỉ ngơi cạnh một lò sưởi ấm áp.”

Người mẹ trẻ để Ông dẫn vào trong nhà và ngồi xuống trong chiếc ghế bành. Cô thở dài nhẹ nhõm.

“Tôi sẽ hâm nóng sữa cho bé nhé,” Ông Panov nói, “Tôi cũng từng có con – Tôi sẽ giúp cô chăm sóc nó.” Ông lấy sữa ra khỏi lò và cẩn thận cho đứa trẻ ăn bằng muỗng, cùng lúc đó xoa ấm chân nó cạnh lò sưởi.

“Nó cần phải mang giày,” người thợ giày nói.

Nhưng cô gái đáp, “Tôi không đủ tiền mua giày, tôi không có chồng giúp cho tiền bạc. Tôi đang trên đường tới làng bên để kiếm việc làm.”

Một ý nghĩ chợt lóe lên trong tâm trí Ông Panov. Ông nhớ tới đôi giày nhỏ xíu Ông đã ngắm vào đêm qua. Nhưng Ông đã giữ nó cho Chúa Giê-su. Ông nhìn xuống đôi chân bé nhỏ lạnh lẽo một lần nữa và quyết định.

“Hãy mang đôi giày này cho đứa nhỏ”, Ông nói, đưa em bé và đôi giày cho người mẹ. Ðôi giày nhỏ xinh vừa vặn đến không ngờ. Cô gái mỉm cười hạnh phúc và đứa trẻ cũng rúc rích cười thích thú.

“Ông tốt với chúng tôi quá,” cô gái nói, rồi cùng đứa trẻ tiếp tục đi. “Mong tất cả những ước nguyện Giáng Sinh của ông sẽ thành sự thực!”

Nhưng Ông Panov bắt đầu tự hỏi ước muốn một Giáng Sinh thật đặc biệt thành sự thực thế nào. Có khi nào Ông đã bỏ lỡ vị khách của mình chăng? Ông lo lắng nhìn dọc con phố. Có rất nhiều người nhưng họ đều là những gương mặt Ông quen. Có những người hàng xóm đang gọi người thân của họ. Họ gật đầu mỉm cười và chúc Ông Giáng Sinh vui vẻ! Rồi những người ăn xin tới – Ông Panov vội vã vào trong lấy súp nóng và ổ bánh mì cho họ, luôn vội vã lo lắng sẽ bỏ lỡ mất Vị Khách Quan Trọng của Ông.

Trời mùa đông tối sớm. Khi Ông Panov lại bước tới cửa và căng mắt nhìn quanh, Ông không thể tìm ra manh mối gì từ những người qua lại. Mọi thứ vẫn như cũ. Cuối cùng Ông chậm rãi bước vào phòng, kéo cửa chớp lên, uể oải ngồi xuống chiếc ghế bành.

Vậy là sau tất cả, đó chỉ là một giấc mơ. Chúa Giê-su đã không tới.

Rồi ngay sau đó Ông biết rằng mình đã không còn cô đơn trong phòng nữa.

Ðó không phải một giấc mơ vì Ông biết rằng mình đang tỉnh. Ban đầu, dường như trước mắt Ông hiện ra dòng người dài đã tới với Ông ngày hôm đó. Ông lại nhìn thấy người quét đường già nua, thiếu phụ trẻ và đứa con cùng những người ăn xin Ông đã bố thí. Khi họ lướt qua, mỗi người đều thì thầm nói: “Ông có thấy ta chứ, Ông Panov?”

“Ai vậy?” Ông bối rối gọi to.

Rồi có âm thanh khác đáp lại. Ðó chính là giọng nói trong giấc mơ của Ông – giọng của Chúa Giê-su.

“Ta đói và ông đã cho ta ăn,” Chúa nói “Ta ở trần và ông đã mặc quần áo cho ta. Ta lạnh và ông đã sưởi ấm cho ta, hôm nay ta đến với ông trong hình dạng của mỗi người mà ông đã giúp đỡ và chào đón.”

Sau đó tất cả trở nên yên tĩnh. Chỉ có âm thanh của chiếc đồng hồ tích tắc. Một sự bình an và hạnh phúc tuyệt đẹp tràn ngập căn phòng, tràn ngập trái tim của Ông Panov đến nỗi Ông muốn hát vang, cười thích thú và nhảy múa.

“Cuối cùng thì Ngài cũng tới!” Ông nói.

 

Rubens Saillens

Nguyễn Thị Thùy Linh 

dịch từ  bản tiếng Anh Papa Panov’s Special Christmas

 

 

 

YÊU THƯƠNG NƠI BĂNG GHẾ NHỎ

YÊU THƯƠNG NƠI BĂNG GHẾ NHỎ

~~~~<❤️>~~~~

Hình minh họa

Đôi khi, điều duy nhất chúng ta cần làm đơn giản chỉ là lắng nghe.

 

Đó là một chiếc ghế dài rất rất bình thường. Chẳng có điều gì đặc biệt về nó cả. Chỉ là một băng ghế gỗ ở công viên với cái lưng cong, các thanh gỗ màu xanh da trời đã xỉn lại và mục. Nó được đặt ngay cạnh con đường mòn chạy bộ nhìn ra một chỗ trũng nhỏ dẫn đến một cái ao, cũng chẳng có gì đáng lưu ý đến việc nó có quan trọng hay không.

Có một ông lão vẫn đến đây và ngồi trên chiếc ghế ấy hầu hết vào mỗi sáng thứ 7 và Chủ nhật. Thỉnh thoảng ông ta sẽ mang đến một bữa ăn nhẹ để ăn trưa, và ông luôn mang theo một chai nước, một túi hạt cho những chú sóc, và một chút bánh mì cho mấy con vịt bầu. Ông ấy cũng đem đến những thứ mà bạn không thể nào nhìn ra được: từ bi, trí tuệ, lòng tốt, sự hài hước và những trải nghiệm được hình thành bởi thời gian. Ông đã sống cuộc đời này lâu nhất một cách có thể và yêu thương tất cả những gì ông có thể dành tình cảm đó cho chúng.

Ông ơi, sao ông ngồi đây được cả ngày trời vậy?"

Một cậu bé khoảng 12 tuổi cất tiếng. Cậu ta nhìn thấy ông lão mỗi lần cậu đến công viên này chơi trượt ván. Hôm nay là lần đầu tiên cậu nói gì đó với ông lão.

Ông lão mỉm cười.

"Vậy cháu thì sao? Làm thế nào mà cháu có thể trượt ván được cả ngày thế?"

"Bởi vì nó vui, và cháu thì chơi nó rất giỏi."

"Ồ, đó là lý do vì sao ta ngồi ở đây. Nó cũng vui và ta cũng rất giỏi về nó."

"Cái quái gì chứ," cậu ta thầm nghĩ, "Đừng nói là ngồi trên ghế cả ngày cũng vui đấy chứ?"

"Ông lẩn thẩn mất rồi! Không đời nào ngồi đó mà lại vui vẻ, thoải mái được."

"Ta lẩn thẩn ư? Cháu là người làm được những thủ thuật đáng kinh ngạc trên rào chắn rồi bị văng ra khỏi ván trượt, lăn trên nền xi măng không cần một tí sự bảo vệ nào. Một cú kinh điển như thế mà cháu không hề nhớ gì về nó sao?"

Cậu bé vừa tự hào vừa tức giận. Cậu ta vui vì ông lão đã nhận ra được kĩ xảo đó khó đến mức nào, nhưng cậu ta cũng tức giận quá chừng vì cậu biết cú ngã đó làm cậu đau đớn ra sao, và cũng bởi cậu chẳng thể nhớ ra được thủ thuật mình.

"Cháu vẫn chưa nhớ ra được."

"Cứ từ từ thôi". Ông lão cười.

"Ông có nghĩ là cháu bị chấn động hay là bị gì đó không?"

"Không. Ta biết rằng cháu sẽ bị chấn động. Chỉ là ta không biết nó tệ ra sao thôi."

"Ông biết gì đó về trượt ván không?"

"Không nhiều, nhưng ta biết Tony Hawk đội mũ bảo vệ. Ta biết Mullen, Gonzalez và Burnquist , đều đội mũ bảo vệ. Và ta biết, cháu cũng nên thế."

Cậu bé đá bật tấm ván của mình lên, bước tới bên chiếc ghế dài và nói chuyện cùng ông lão. Cậu ta đã rất ngạc nhiên rằng ông lão biết rất nhiều những người trượt ván nổi tiếng. Cậu rất ghét một nửa chiếc bánh sandwich cá ngừ ông lão mang theo.

Trong suốt hai giờ sau đó, cậu ta đã thú nhận với ông lão rằng cậu không học được, cậu có hai người anh trai, và mẹ cậu thì làm hai công việc, và mua một chiếc nón bảo vệ là điều không thể. Cậu còn không đủ khả năng chi trả cho những chiếc bánh xe mới của tấm ván.

"Cháu sẽ đến đây vào ngày mai chứ?"

"Chắc chắn rồi, cháu luôn trượt ván vào Chủ nhật."

"Được thôi, vậy gặp lại cháu sau."

Ngày hôm sau, Chủ nhật, ông lão vẫy cậu bé lại bên băng ghế.

"Đây. Ta nghĩ cháu có thể thích những thứ này."

Trong túi là một chiếc mũ bảo hiểm, một bộ đầy đủ bánh xe, và 5 tấm đề can của những người trượt ván nổi tiếng mà họ đã chuyện trò về chúng vào ngày hôm qua.

"Ôi chúa ơi, cháu cảm ơn ông nhiều lắm. Wow. Thật là bá cháy!"

" Ồ, ta còn muốn cháu đưa thứ này cho mẹ cháu nữa."

Ông lão chìa ra một chiếc túi khác. Trong chiếc túi này, có một hộp sô-cô-la siêu bự, và một tấm thiếp.

"Cái này để làm gì vậy ông? Ông không biết mẹ cháu."

"Không. Nhưng ông thì chẳng bao giờ thiếu sô-cô-la cho phụ nữ. (cười hóm hỉnh) Nếu mẹ cháu đang một mình nuôi ba người con cùng lúc, bà ấy sẽ không nhận được nhiều niềm vui. Với hộp lớn sô-cô-la này, bà ấy có thể chọn những cái bà ấy muốn ăn, khi nào ăn, tin ta đi, điều đó sẽ giúp mẹ cháu thư giãn. Còn tấm thiệp này dành cho bà ấy, không phải cho cháu."

"Dù sao đi nữa... Cháu sẽ đưa cho mẹ. Cháu cảm ơn ông ạ."

Một vài tuần sau đó, cậu bé trượt ván nhìn thấy ông lão trên băng ghế, và cậu đến ngay cạnh ông nói chuyện.

"Mẹ cháu nhờ cháu cảm ơn ông về hộp bánh, mẹ cháu đã khóc khi đọc tấm thiệp của ông. Mẹ giữ chặt nó trong lồng ngực và bảo cháu chắc chắn phải nói lại với ông điều này."

Ông lão cười mỉm rồi gật đầu từ tốn.

"Ông đã viết gì trong tấm thiệp thế? Mẹ cháu không nói cho cháu biết. Mẹ chắc hẳn đã phải đọc nó 5 lần vào ngày đầu tiên."

"Ồ, không nhiều. Ta nói với bà ấy rằng bà ấy là một người mẹ vĩ đại, bà ấy đang nuôi nấng một đứa trẻ ngoan, một vận động viên tài năng, và xin đừng lo lắng về tương lai của cháu. Ta nói với bà ấy rằng cháu sẽ trở thành một người giỏi. Khi cháu tìm ra được thứ gì đó thú vị cũng như trượt ván, thì cháu sẽ tiến bộ."

Cậu bé sửng sốt.

"Ông nói với mẹ tất cả những điều đó sao? Làm sao mà ông biết được những thứ vớ vẩn đó sẽ xảy ra chứ? Ông thực sự nghĩ cháu là một vận động viên tài năng à?"

Ông lão cười.

"Cháu có kĩ năng, sự cân nhắc, biết tính toán thời gian, tính nhẫn nại và sức mạnh, ta cho rằng đó là tất cả những điểm nổi bật của một vận động viên. Cháu cũng không được bỏ cuộc, cháu học được từ những khuyết điểm của mình, hoặc những mánh khóe không nên thực hiện, và cháu tìm ra được cách sửa chữa chúng thế nào, hay là làmđược những cú kỹ xảo tuyệt vời. Những phẩm chất đó, là những điều xứng đáng với cháu khi cháu lớn hơn một chút. Cháu sẽ làm được một cách tốt nhất trong cuộc đời này."

Năm năm sau, mọi thứ mà ông lão từng nói, đã thành sự thật. Đứa bé ngày ấy không bao giờ trở nên giàu có, nhưng cậu ta đã mở được một cửa hàng ván trượt nhỏ,và sau này thậm chí cho những trận giao hữu và những người thích trượt ván. Anh ta đã làm đủ tốt để mua được một căn nhà nhỏ tặng mẹ và những người anh trai. Và anh vẫn thường dành thời gian ngồi với ông lão trên băng ghế đó.


Cô gái đó mới 22, mái tóc bông màu cam, và cơ thể đầy những hình xăm. Cô ta chỉ ngồi xuống băng ghế bởi vì cô thấy mệt. Những giọt nước mắt lặng lẽ rơi, và thành thực mà nói, cô ta thậm chí còn chẳng biết có người đàn ông ngồi cạnh đó.

"Buổi sáng tốt lành, cô gái. Cô ổn chứ?"

"Gì kia? Tôi chẳng sao cả, mà thế thì liên quan quái gì đến nhà ông?"

"Ồ, khi mà tôi nhìn thấy một thiếu nữ xinh xắn thế này, lại có sức nổi bật thế này, nhưng cô ấy lại òa khóc cứ như thể ai đó vừa mở vòi nước, ừm, tôi nghĩ cô ấy có thể muốn được giãi bày."

"Vì sao chứ, ông thì có thể nói được điều gì hay ho với tôi?Ông thậm chí còn không biết tôi!"

"Tôi có thể bắt đầu với sự thật đơn giản thế này rằng cô là họa sĩ và cô độc thân. Tôi có thể bắt đầu với sự thấu hiểu rằng cô muốn chứng tỏ mình với thế giới, nhưng thế giới lại phũ phàng chứng tỏ nó với cô. Hoặc, tôi có thể đơn giản nói cho cô rằng một người xinh đẹp như cô, càng đẹp hơn ở bên trong, cô nên thể hiển nó ra bên ngoài nhiều hơn, chứ không phải che giấu nó đi."

Cô gái nhìn chằm chằm vào ông lão. Bạn có thể thấy được trong ánh mắt cô ta những tia xao động dường như cô đang bị chìm trong từng lời ông lão nói, như thể một người cô độc lang thang trên sa mạc hoang vắng sau nhiều hành trình cuối cùng cũng tìm thấy được những giọt nước đầu tiên.

Chưa có một ai gọi tên được vẻ đẹp của cô.Chưa có một ai nói với cô rằng cô xinh đẹp. Còn làm sao mà ông lão biết rằng cô làm nghệ thuật? Cô không bao giờ cho ai đó thấy được nghệ thuật của mình – chưa từng. Làm thế nào mà ông ta biết cô cảm thấy cô đơn? Làm thế nào mà ông ta biết cô muốn chứng minh rằng cô không cần bất cứ ai, trong khi mọi lúc cô ước có ai đó ở bên.

"Ông thực nghĩ tôi xinh đẹp?" , cô gái bẽn lẽn hỏi.

"Ôi trời, dĩ nhiên rồi, chỉ có cháu nghĩ là mình xấu thôi."

"Cháu nghĩ vậy ư?"

"Đúng vậy. Đó là lý do tại sao cháu buồn."

"Hừm, nếu ông giỏi như vậy, thì ông hãy nói xem cháu nghĩ gì."

"Được thôi, cháu nhìn thấy cái đẹp xung quanh mình, đúng chứ? Nó hiện hình trong nghệ thuật của cháu, trong thơ của cháu."

"Làm thế nào mà ông biết được cháu làm nghệ thuật và làm thơ?"

"Bởi vì những người thông minh, tốt bụng, đánh bại nỗi đau bằng qua cách nhìn thấy cái đẹp mà họ giấu đi khỏi thế giới."

Cô gái bắt đầu nức nở. Ông lão nhấn vào tây cô một chiếc khăn tay. Cô gái ôm mặt thổn thức.

"Cháu là một tên vô dụng, một kẻ thấy bài. Những bức vẽ của cháu đều tào lao, thơ cháu viết đều vô nghĩa,và cháu xa lánh những người cháu yêu thương."

 

Ông lão không nói gì cả. Chỉ ngồi bên cô gái lặng lẽ, và mặc cho cô khóc. Cô gái nói với ông lão mọi thứ. Sự căm ghét đối với cha mình. Sự khinh bi của cô với đồng tính, nhưng nhận ra rằng cô làm điều đó chỉ khiến mẹ mình tổn thương. Cô cho ông lão biết cô ghét đại học đến mức nào, và vì sao cô bỏ học. Cô kể cô làm việc ở Waffle House ra sao, và cô ghét nó. Cô nói với ông cô luôn muốn một chú mèo,nhưng cô lại sợ mình không đủ tốt với nó. Mèo là ước mơ cô chỉ dám nói, chứ không dám thực hiện.

Ông lão đợi cho đến khi cô gái bình tĩnh lại. Ông nói: "Cháu có gương trang điểm chứ?"

"Vâng, ở ngay đây trong bóp của cháu."

"Ta có thể mượn nó không?"

"Ồ, ta không thể đoán được nếu

"Đây ạ, ông muốn làm gì với nó thế?"

"Ồ, ta không thể đoán ra được là nét mặt cháu lúc này giống một ban nhạc rock hơn hay là gấu trúc hơn, hay là trông giống một con sói nữa."

"Gì cơ ạ?"

Ông lão cầm chiếc gương lên. Cô gái nhìn thấy chính mình trong đó, tiếc cười phá ra mà chẳng cần sự nỗ lực nào. Đã lâu lắm rồi cô không biết cười là thế nào nữa. Một nụ cười chân thực. Cái loại cảm giác này đau tận vào trong, và bạn như muốn ngừng thở. Cô lúc này thực giống như đến từ một nhóm nhạc rock của những năm 80, hoặc có thể là một con gấu trúc có khát khao trở thành một ngôi sao rock. Cô lại bật cười. Ông lão cùng cười với cô.

"Đến đây vào ngay mai nhé, cô gái. Ta sẽ có cái này cho cháu."

"Được ạ."

Ngày hôm sau, cô gái đến và ông lão đã ngồi đó với một người phụ nữ khoảng 40. Họ nói chuyện với nhau đầy thân mật, và cô gái tóc cam với những hình xăm cảm thấy nhói lên vì ghen tị. Cô muốn ông lão chỉ nói chuyện với mình. Thêm nữa, họ trông thật thoải mái, tự nhiên khi ngồi cùng nhau trên chiếc ghế. Cô không muốn làm phiền họ. Những gì cô biết lúc này chỉ là có thể người phụ nữ kia là em gái của ông lão. Vì thế cô di chuyển thật chậm trên con đường nhỏ tới băng ghế.

Ông lão nhìn thấy cô, ông cười tươi, vẫy tay gọi cô lại. Người phụ nữ ngoái lại nhìn. Cô gái tóc cam ngạc nhiên khi thấy gương mặt bà ấy thoáng một tia mừng rỡ. Bà ta cũng vẫy tay với cô.

"Ta rất vui khi cháu đã đến. Đây là Amanda Warrick. Bà ấy dạy vẽ tại trường Nghệ thuật. Ta đã bảo bà ấy mang đến một tập giấy vẽ phác thảo. Cháu có phiền không nếu cháu vẽ thứ gì đó cho chúng ta xem?"

"À vâng, cháu bất ngờ quá. Cháu không mang theo bút vẽ. Và cháu cũng không nghĩ ra nên vẽ cái gì nữa."

Amanda mỉm cười, và rút ra từ túi một tập giấy vẽ, một hộp bút chì, và một giá vẽ cầm tay rồi nói:

"Tại sao cô không thử vẽ hai bức tranh? Một cái là hồ nước nhỏ ở đằng kia, trên đường đi chắc cô đã nhìn thấy nó. Và cái con lại là cho những chú mèo con?"

"Dạ? Nhưng cháu không nuôi mèo."

 

Ông lão thò tay vào chiếc túi giấy bên cạnh mình. Ông bế ra một chú mèo con Calico , đặt nó vào tay cô gái. Cô gái nhẹ nhàng nhận lấy cục bông nhỏ xíu chỉ lớn hơn lòng bàn tay cô, và ôm nó trong lồng ngực mình. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, chú mèo khẽ động đậy rồi nhắm mắt. Ngắm nhìn cuộc sống nhỏ bé đang nằm ngủ trong tay mình, cô gái hỏi ông lão:

"Tên nó là gì vậy ạ?"

"Tùy cháu. Giờ nó là của cháu."

"Cháu sẽ gọi nó là... Palate."

Nhiều năm sau, mèo con giờ đã lớn hơn, mái tóc màu cam của cô gái giờ đã là một mái tóc đen dài với vài sợi tím điểm xuyết, Amanda giờ vừa là cộng sự, vừa là tri kỉ của cô. Ngày ấy, cô đã vẽ ông lão ngồi trên ghế, và bức tranh đó đã giúp cô nổi tiếng. Ông lão đã đến New York, nơi trưng bày một tuyệt tác. Cô gái đứng bên cạnh ông khi ông quay sang cô trong đôi mắt mờ nước.

"Cảm ơn cháu." Đó là tất cả những gì ông có thể nói, và đó cũng là tất cả những gì cô gái muốn nghe. Cô nắm lấy bàn tay già nua của ông khi ông quay lại nhìn bức tranh thêm nhiều lần nữa. Amanda đã chụp được tấm ảnh của thời khắc đó. Nó đã trở thành một bức ảnh nổi tiếng cùng với bức tranh kia.

 

Băng ghế dài vẫn còn đó. Nó vẫn chỉ là một chiếc ghế có dáng vẻ rất rất bình thường, với những tấm gỗ màu xanh. Ông lão không còn ở đó nữa. Thay vào đó là một bức tượng đồng ngồi trên chiếc ghế. Một tấm ván trượt đồng dựa vào nó. Một con mèo nhỏ nhắm mắt nằm trên đùi bức tượng. Tay bức tượng cầm một chiếc khăn tay đồng như muốn đưa cho ai đó ngồi bên cạnh mình, trên mặt ông, là một nụ cười cởi mở, hiền hậu, ấm áp. Một nửa chiếc bánh sandwich cá đang ăn dở, một chút hạt, và một con sóc. Tất cả đều bằng đồng được đặt ngay cạnh ông lão trên băng ghế.

Trên bức tượng mang tên ông lão ấy là chữ ký của hơn nghìn con người đã từng ngồi đó và nói chuyện cùng ông. Biết bao người nữa vẫn đã đến. Ngồi đó. Và nói những điều gì... không ai có thể biết được.

 

Huyền Văn dịch

 

Kim Kỳ sưu tầm

Chân dung những người đoạt giải Nobel năm 2018

Chân dung những người

đoạt giải Nobel năm 2018

Một lần nữa các nhà khoa học Mỹ lại thống lĩnh giải thưởng Nobel. Dưới đây là chân dung những người đoạt giải danh giá này vào đầu tháng 10/2018.

Nhà khoa học James Allison – người đoạt giải Nobel Y học 2018 với công trình nghiên cứu về protein có tác dụng phanh hãm hệ miễn dịch và cản trở các tế bào miễn dịch (T-cell) tấn công khối u một cách hiệu quả. Allison là giáo sư tại Đại học Texas, Mỹ.

Chân dung nhà miễn dịch học Tasuku Honjo (bên phải) đồng đoạt giải thưởng Nobel Y học 2018 cho công trình về yếu tố hãm hệ miễn dịch. Phát hiện của Honjo (người Nhật) và Allison tạo ra đột phá trong việc giải phóng năng lực của cơ thể chống lại tế bào ung thư.

Gerard Mourou - nhà khoa học người Pháp nhưng cũng mang quốc tịch Mỹ, đoạt giải Nobel Vật lý 2018 với công trình về laser cường độ cao. Nghiên cứu này tạo tiền đề cho các công cụ chính xác sử dụng trong phẫu thuật mắt và trong công nghiệp.

Donna Stricklan là người cùng có công trình về laser cường độ cao và đoạt giải thưởng Nobel 2018 tương ứng. Stricklan là người phụ nữ thứ 3 đoạt giải Nobel Vật lý.

Arthur Ashkin thuộc Phòng thí nghiệm Bell, Mỹ, giành nửa còn lại của giải Nobel Vật lý 2018. Công trình của ông là về “nhíp quang học”.

Nhà khoa học George P. Smith thuộc Đại học Missouri (Mỹ) nghe điện thoại sau khi hay tin ông nằm trong nhóm 3 người đoạt giải Nobel Hóa học 2018. Ông nghiên cứu về việc tạo ra protein mới từ các vi khuẩn nhiễm virus.

Gregory Winter (thuộc Đại học Trinity trong Đại học Cambridge, Anh) nằm trong cùng ê-kíp nghiên cứu của Smith. Công trình của hai ông giúp tạo ra các loại thuốc chống một số loại ung thư và bệnh viêm khớp mãn.

Chân dung nhà khoa học Frances Arnold (Viện Công nghệ California, Mỹ). Bà là phụ nữ thứ 5 đoạt giải Nobel Hóa học. Bà nghiên cứu về enzyme, tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển các loại chất hóa học công nghiệp và các loại dược phẩm.

Bác sĩ Denis Mukwege được trao giải Nobel Hòa bình 2018 vì ông giúp các nạn nhân bạo lực tình dục ở Cộng hòa Dân chủ Congo. Ông đã phẫu thuật cho rất nhiều phụ nữ sau khi bị các tay súng cưỡng hiếp.

Nadia Murad – một nhà hoạt động nhân quyền người Yazidi, cùng được trao giải Nobel Hòa bình 2018. Cô từng là nô lệ tình dục của khủng bố IS. Giống Mukwege, cô cũng được tôn vinh vì các nỗ lực chấm dứt tình trạng sử dụng bạo lực tình dục làm vũ khí thời chiến tranh.

Chân dung nhà kinh tế học Mỹ William Nordhaus – người đoạt giải Nobel Kinh tế 2018 nhờ vào công trình nghiên cứu về "tích hợp thay đổi khí hậu vào phân tích kinh tế vĩ mô dài hạn" (ảnh: Elespanol).

Chân dung Paul Romer – nhà khoa học người Mỹ đoạt giải Nobel kinh tế  2018 với công trình về “tích hợp các tiến bộ công nghệ vào phân tích kinh tế vĩ mô dài hạn” (ảnh: Wall Street Journal).

 

Ngọc Lan sưu tầm   * • • ◕◕════

 

 

Theo dõi RSS này