Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

THI SĨ và THẾ GIỚI

  • Đăng tại Thơ
  • Viết bởi

THI SĨ THẾ GIỚI

Diễn văn Nobel 1996 Wislawa Szymborska

Nguyễn Quốc Trụ

 

Người ta nói, câu mở đầu bất cứ một bài diễn văn luôn là câu khó nhất. Như vậy là, tôi đã bỏ được cái khó đó ở phía sau mình rồi. Nhưng tôi có cảm giác, những câu sắp sửa - câu thứ ba, thứ sáu, thứ mười, và cứ thế, cho tới dòng cuối - cũng khó chẳng thua, bởi vì, ở đây, tôi muốn nói tới thi ca. Tôi có nói một tí, cứ kể như là chưa nói gì, về nó. Và cứ mỗi lần tính nói, tôi lại nghi, rằng, mình biết gì mà thưa thốt. Vì vậy mà bài nói chuyện của tôi sẽ ngăn ngắn. Ngắn chừng nào dễ giấu được cái dở của mình chừng đó.

Những nhà thơ đương thời thường tỏ ra bi quan - và ngay cả, hồ nghi, và có lẽ, đặc biệt - về chính họ. Họ rất ngần ngại, khi công khai thú nhận, rằng mình là thi sĩ, như thể họ có chút xấu hổ, nhục nhã, vì là nhà thơ. Nhưng vào những lúc ồn ào bát nháo như lúc này, thật dễ nhận cái dở của bạn, nếu chúng được gói ghém thật quyến rũ, hơn là nhìn ra cái hay của chính mình, khi nó lặn sâu đến nỗi chính bạn cũng chẳng còn tin vào nó nữa. Khi phải kê khai lý lịch, điền đơn từ, hoặc khi trò chuyện với người lạ - nghĩa là khi chẳng thể nào tránh nổi chuyện nói về nghề nghiệp của mình - những nhà thơ thường ưa dùng từ chung chung là "người viết", "writer", hoặc, thay thế từ "thi sĩ" bằng tên của bất kỳ công việc 'làm thêm’ của người đó. Những nhân viên bàn giấy, và những hành khách xe buýt thường đáp ứng bằng một cái nhướng mày hồ nghi, hay hoảng hốt, khi họ khám phá ra họ đang đối diện với một nhà thơ. Tôi nghĩ, những triết gia cũng gặp phản ứng tương tự. Tuy nhiên, triết gia dù sao cũng ở trong một hoàn cảnh khá hơn, bởi vì, họ có thể xưng danh, thay vì triết gia, thì là, “giáo sư triết”. Giáo sư triết, nghe có vẻ đáng kính đấy chứ!

Nhưng làm gì có “giáo sư thơ”. Sự việc nó như thế này, theo tôi: Thi ca là một công việc đòi hỏi một nghiên cứu đặc biệt, những thường xuyên kiểm tra, những bài viết có tính lý thuyết kèm tiểu sử và chú dẫn, và sau hết, những văn bằng với những lễ nghi của chúng. Và điều này, tới lượt nó, lại đẻ ra một sự kiện, là, không phải bạn cứ bôi thơ, cho dù là thơ hay, đầy, hết trang giấy này tới trang khác, là thành nhà thơ! Điều mà bạn cần, là một cái mộc của nhà nước chứng nhận bạn là thi sĩ. Bạn chắc còn nhớ, niềm kiêu hãnh của thi ca Nga, nhà thơ sau này được Nobel, Joseph Brodsky, đã từng bị lưu đầy nội xứ, là dựa trên nền tảng nói trên. Nhà nước gọi ông là “một tên ăn hại”, bởi vì ông thiếu giấy chứng nhận của nhà nước cho phép ông là thi sĩ.

Cách đây vài năm, tôi có vinh dự được gặp nhà thơ Brodsky, bằng xương bằng thịt, trước mắt tôi. Và tôi nhận ra là, trong số tất cả những nhà thơ mà tôi được biết, ông là người độc nhất rất khoái “tớ tự coi tớ là một thi sĩ”. Ông nói lên từ này một cách rất ư là vô tư, thoải mái, không tỏ ra bị ức chế, mà đúng ra, ngược hẳn lại: Ông nói tớ là thi sĩ theo cái kiểu tự do mà thách đố. Như thể, sự thể nó phải như vậy, bởi vì ông nhớ lại những đối xử tàn nhẫn mà ông đã từng trải qua khi còn trẻ.

Ở những xứ sở may mắn hơn, một khi phẩm giá con người không bị hiếp đáp, làm nhục những nhà thơ bèn mong được in thơ, đọc thơ, và hiểu thơ, lẽ tự nhiên là như vậy, phải không bạn? Nhưng họ làm ít, và có lẽ phải nói, chẳng làm gì, ấy là nói về cái việc, coi mình hơn hẳn đồng bọn, hoặc vượt lên khỏi sự nghiệt ngã thường ngày. Tuy nhiên, cũng chẳng lâu la gì, vào thập niên đầu thiên kỷ, mấy ông thi sĩ đã gây sốc cho chúng ta, bằng cách ăn mặc lố lăng, bằng cách cư xử hợm hĩnh. Nhưng tất cả những trò đó, là chỉ mong được công chúng để ý đến đám tụi mình một tí mà thôi. Luôn sẽ xẩy ra, là, vào một thời điểm nào đó, nhà thơ sẽ đóng sập cửa phòng của mình lại, tụt áo choàng, cân đai, mũ mãng, luôn cả ba trang bị thơ ca khác, và đối diện – lặng lẽ, kiên nhẫn đợi chờ con người thực của mình - với trang giấy trắng, và chỉ cái điều sau cùng này mới đáng kể.

Cũng không phải là chuyện ngẫu nhiên, tiểu sử bằng phim ảnh của những khoa học gia và nghệ sĩ được sản xuất theo kiểu qui mô. Những nhà giám đốc nhiều tham vọng tìm cách tái tạo, một cách thật là thuyết phục, tiến trình sáng tạo đưa đến những khám phá khoa học quan trọng, hay sự xuất hiện của một kiệt tác nghệ thuật. Và người ta có thể nhận ra rằng có sự thành công ở trong một số hình thức lao động khoa học. Những phòng thí nghiệm, những dụng cụ, máy móc này nọ, chúng “làm ra” đời sống: những cảnh tượng như thế đó, trong một lúc, có thể gây được sự quan tâm ở nơi khán thính giả. Nhưng còn những lúc khác, thì sao? Liệu một thí nghiệm, được làm đi làm lại hàng ngàn lần, sẽ đưa đến kết quả như mong đợi? - Một câu hỏi như thế có khi thật là đáng sợ. Phim về họa sĩ có thể thật ngoạn mục, chúng tái tạo gần như mọi tình huống, mọi công đoạn của một họa phẩm nổi tiếng, từ nét chì đầu tiên cho tới cú cọ chót. Âm nhạc, như những ngọn trào, ở trong những cuốn phim, về những nhà soạn nhạc. Từ nhịp đầu một giai điệu, ở nơi tai người nhạc sĩ, sau cùng bật ra một tác phẩm chín mùi, dưới dạng đại hòa tấu. Lẽ dĩ nhiên, điều này quá đỗi ngây thơ, và chẳng giải thích được, phút linh cầu, trạng thái tâm linh thường gọi là “hứng khởi”, nhưng ít ra có một điều gì đó, cần nhìn, và cần nghe, ở đây.

Nhưng với thi sĩ, là những gì tệ hại nhất. Hãy coi kìa, thảm làm sao! Chàng ngồi nơi bàn, hay nằm nơi trường kỷ, mắt lim dim, bất động, như không nhìn đâu đâu, hoặc ngó vách tường, trần nhà. Lâu lâu, chàng vạch một hai dòng, vài con chữ, chỉ để xoá đi, chừng mươi lăm phút sau đó, và thế là, một giờ trôi đi, chẳng để lại một chút gì, chẳng có gì xẩy ra… Ai có thể ngồi coi một thứ khùng điên như thế?

Trên tôi có nói tới hứng khởi. Những nhà thơ đương thời thường trả lời theo kiểu tránh né, khi được hỏi, nó là cái chi vậy, hoặc thực sự có cái gọi là hứng khởi. Không phải là chúng ta không hề biết tới cú huých, từ xó xỉnh nào ở bên trong con người chúng ta, đột nhiên bật ra, và phước lành mà nó mang lại. Nhưng đâu có dễ dàng gì, khi phải giải thích một điều gì cho một người nào đó, rằng, chính tôi đây, cũng không hiểu.

Khi bị hỏi, tôi cũng nói quanh nói quẩn. Nhưng tôi trả lời như thế này: hứng khởi không phải là một thứ đặc quyền, chỉ dành cho nhà thơ, hay nghệ sĩ. Và có, và sẽ luôn luôn có, một số người mà hứng khởi mò tới thăm viếng. Số người này, đủ thứ trong bàn dân thiên hạ, những con người dám chọn điều mà họ dám chọn, và sau đó, làm công việc của mình, với tình yêu và sự tưởng tượng. Họ có thể là bác sĩ, thầy giáo, người giữ vườn – và tôi có thể kể hàng trăm thứ nghề nghiệp khác. Việc làm của họ trở nên một cuộc phiêu lưu liên luỷ, chừng nào mà họ còn loay hoay tìm cho ra, khám phá cho bằng được, những thách đố mới mẻ ở trong công việc làm của họ. Khó khăn, trở ngại chẳng hề làm họ hết tò mò. Cả chục, cả trăm câu hỏi mới mẻ bật ra từ bất cứ một vấn đề mà họ vướng vào và cố giải đáp. Bất cứ hứng khởi chi chi, là đều đẻ ra từ một thường xuyên, liên luỷ: “Tôi không biết”.

Những người như thế, thật cũng không có nhiều. Hầu hết cư dân trên trái đất này, đều làm việc theo kiểu cho hết, cho qua thời giờ, cho đời mình cứ thế trôi đi. Họ làm việc bởi vì họ phải làm. Họ không bập vào nó, do đam mê; những hoàn cảnh, những tình huống trong đời họ, đã chọn việc làm đó cho họ. Việc làm không yêu thương, thích thú; việc làm chỉ làm buồn, làm chán; việc làm được đánh giá qua ánh mắt thèm thuồng của những người khác, của những người không làm sao có được, cho dù chán nản, cho dù buồn phiền tới cỡ nào: đây đúng là một trong những nỗi khốn khổ, khốn nạn nhất nhất, của con người. Và ngó ngược ngó xuôi, ngó những thế kỷ sắp mò tới, cũng chẳng lộ ra một tín hiệu cho thấy, sẽ có sự thay đổi, rằng sự tình sẽ khấm khá hơn.

Và, mặc dù có thể không ban những nhà thơ độc quyền hứng khởi, tôi vẫn xếp họ vào loại người được tuyển chọn, và có tên là mhững con người đáng yêu của Vận Hội [Fortune].

Tới đây, chắc là có người tỏ ra nghi ngờ. Bởi vì đủ thứ nhà tra tấn, nhà độc tài, nhà cuồng tín, và những tên mị dân tranh thủ, chiếm đoạt quyền lực bằng đủ thứ hô hào, đủ thứ khẩu hiệu, họ cũng thưởng thức việc làm của họ, và họ cũng hoàn tất nhiệm vụ của họ, với hân hoan, với nhiệt tình. Vâng, đúng như vậy, nhưng đám này, họ đều “biết”. Họ biết, và bất cứ là biết thứ chi chi, như vậy là đủ, cho họ, một lần và tất cả. Họ đâu cần tìm hiểu về bất cứ chuyện chi khác, bởi vì, một khi làm như vậy, là giảm đi sức mạnh của những luận cứ của họ. Và bất cứ một tri thức nào mà không dẫn tới những câu hỏi mới, đều là đồ vứt đi, đều khó thọ, vừa ló ra là ngỏm liền: nó thất bại, trong cái việc làm, là gìn giữ, cưu mang, ấp ủ, ngọn lửa đời, hơi nóng đời. Trong những trường hợp thái quá - cũng đầy rẫy trong lịch sử nhân loại, từ cổ cho tới kim – nó đúng là một lưỡi dao, kề ngay cổ họng xã hội.

Chính vì lý do đó mà tôi đánh giá thật cao, câu nói ngắn, “Tôi không biết”. Tuy cụt thun lủn như vậy, nhưng nó bay bằng đôi cánh đại bàng. Nó mở rộng những cuộc đời của chúng ta, và ôm trọn những không gian ở bên trong chúng ta cũng như bên ngoài, những không gian mà Trái Đất nhỏ bé của chúng ta treo tòng teng trong đó. Nếu Isaac Newton không nói với chính mình, “Tôi không biết,” thì những trái táo trong khu vườn nho nhỏ của ông cứ thế rớt đánh bịch xuống mặt đất như những cục mưa đá, và may lắm, sẽ xẩy ra trường hợp như vầy: ông ta cúi xuống, nhặt chúng lên, và đợp chúng một cách thật là ngon lành! Nếu người đồng hương của tôi, là Marie Sklodowska-Curie, chẳng bao giờ nói với chính bà, “Tôi không biết”, có thể bà sẽ học hành xong xuôi, và làm một bà giáo dậy môn hóa học, tại một ngôi trường tư dành riêng cho mấy cô con gái nhà lành, hoặc đi hết đời mình bằng một nghề hoàn toàn đáng kính trọng khác. Nhưng bà cứ tiếp tục nói với bà, “Tôi không biết”, và những tiếng nói đó dẫn bà, không chỉ một, mà hai lần, tới Stockholm, nơi những đầu óc không chịu nghỉ, không chịu ngưng tìm tòi, đôi khi được thưởng công bằng Giải Nobel.

Những nhà thơ, nếu là thứ thiệt, cũng phải lập đi lập lại hoài, bùa chú trên, “Tôi không biết”. Mỗi bài thơ là một cố gắng nhằm trả lời câu hỏi đó, nhưng ngay khi giai đoạn chót vừa chạm mặt giấy, nhà thơ tính reo lên hài lòng, là anh ta bắt đầu băn khoăn, ngần ngại, bắt đầu nhận ra rằng, câu trả lời đặc thù của anh ta đó, chỉ là đồ vá víu, tạm thời, không thể nào làm được cái việc cất cánh kia. Thế là nhà thơ lại tiếp tục thử nghiệm, tìm tòi, và chẳng chóng thì chầy, những kết quả của một chuỗi những tự hài lòng với chính mình như thế đó, chúng được nhà thơ kẹp vào với nhau, cùng với cái kẹp giấy khổng lồ, của nhà sử văn, và được gọi là "tác phẩm" của anh ta.

Đôi khi, tôi mơ những tình huống không làm sao biến thành hiện thực. Tôi đã dám tưởng tượng, giả như mình có dịp trò chuyện, tán gẫu với Người Truyền Đạo, tác giả lời than van rất ư là mùi mẫn về sự vô thường của mọi cố gắng của con người. Tôi sẽ cúi thật thấp mình, trước ông ta, bởi vì, nói cho cùng, đây là một trong những thi sĩ lớn lao nhất, ít ra là đối với tôi. Cúi mình rạp xuống đất, chào thiên tài thi ca, xong xuôi rồi, tôi sẽ nắm tay ông ta mà bảo rằng, “‘Chẳng có gì mới, dưới mặt trời’, đó là điều ông viết, thưa Người Truyền Đạo. Nhưng chính ông, sinh ra, mới, dưới mặt trời. Và bài thơ ông sáng tạo ra đó, nó cũng mới, dưới mặt trời, bởi vì chưa từng có ai trước ông, viết nó ra. Và tất cả những độc giả của ông, cũng mới, dưới mặt trời, bởi vì những người sống trước ông, làm sao đọc thơ ông? Và, kể từ thuở bình minh của thời gian, cây tùng mà ông đang ngồi dưới nó, nó không hề tăng trưởng. Nó ra đời, là nhờ một cây tùng tương tự dưới nó ông đã ngồi, nhưng không y hệt là một. [Nhờ bài thơ của ông, cây tùng ông đã từng có lần ngồi dưới nó, trở thành bất tử. CTND]. Và Người Truyền Đạo, tôi muốn hỏi ông, điều mới nào, dưới mặt trời, ông đang tính làm, vào lúc này? Bàn thêm một tí, về những gì ông đã diễn tả? Hay là, có thể, ông đang tính phản biện, một vài điều, ở trong đó? Trong tác phẩm của ông, ở giai đoạn đầu, ông có nói tới niềm vui - vậy thì đã sao, nếu nó chỉ là thoáng chốc? Nếu như vậy, có thể, một bài thơ-mới-dưới-mặt-trời, của ông, sẽ là về niềm vui? Ông đã làm những ghi chú? Đã viết bản nháp? Tôi sợ rằng, ông sẽ nói, ‘Ta còn có gì để thêm vô, hay là bớt đi nữa đâu? Ta đã viết ra mọi điều’. Chẳng có một nhà thơ nào trên thế gian có thể nói như vậy, một nhà thơ lớn lao như ông lại càng không thể nói như vậy.”

Thế giới là ngạc nhiên. Cho dù chúng ta có thể nghĩ như thế nào về nó, vào những lúc quá khiếp sợ trước sự lớn rộng của nó, và sự bất lực của chúng ta. Hay vào những lúc cay đắng bởi sự lạnh lùng dửng dưng của nó, đối với những con người, những loài vật, và có thể, ngay cả với những cây cối, bởi vì, làm sao chúng ta dám chắc chắn, cây cối không đau? Cho dù chúng ta nghĩ gì, về sự triển nở của thế giới, xuyên qua những tia sáng từ những vì sao, và xung quanh những vì sao này, là những hành tinh mà chúng ta vừa mới khám phá ra, những hành tinh này đã chết rồi? Vẫn đang chết? Chúng ta đâu biết. Cho dù chúng ta nghĩ gì về cái nhà hát lớn lao không làm sao đo lường nổi đó, nơi mà chúng ta đã mua vé trước rồi, bằng những tấm vé mà cuộc đời của chúng mới ngắn ngủi tức cuời làm sao, như co rúm lại giữa hai ngày tháng bất kỳ. Cho dù chúng ta nghĩ gì, thì gì, thế giới là ngạc nhiên.

Nhưng “ngạc nhiên” là một từ giấu trong nó một cái bẫy luận lý. Nói cho cùng, chúng ta ngạc nhiên, bởi những điều đi lệch ra khỏi mẫu mực được nhiều người biết, mang tính phổ cập; lệch ra khỏi, điều mà chúng ta coi là hiển nhiên, do đã quá quen thuộc với nó trong cuộc sống. Và bây giờ, vấn đề là như thế này: Chẳng làm gì có một thế giới hiển nhiên như thế. Sự ngạc nhiên của chúng ta, tự nó [per se] hiện hữu, không dựa vào sự so sánh, với bất cứ một điều nào khác.

Phải như vậy thôi. Vì nó là như vậy. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta đâu có uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói ra một điều gì. Chúng ta quen miệng nói, thí dụ, “thế thường” [ordinary world], đời thường [ordinary life], “chuyện thường”… Nhưng trong ngôn ngữ thơ, nơi mỗi từ là mỗi cân đo đong đếm, đắn đo chọn lựa, làm gì có chuyện thường thường bậc trung ở trong đó. Làm gì có, chỉ một cụm mây, chỉ một hòn đá, ở trên nó. Làm gì có, chỉ một ngày, chỉ một đêm, sau nó. Và trên hết, chẳng hề có, chỉ một hiện hữu, chỉ một hiện diện của bất cứ con người nào, trong thế giới này.

Có vẻ như, những nhà thơ sẽ luôn luôn có việc để làm, cắt ra từ đó.

[Stanislaw Baranczak và Clare Cavanagh dịch từ tiếng Ba Lan qua tiếng Anh]


Nguyễn Quốc Trụ dịch

 

(Nguồn:Tin Văn)

 

(¯`·._.·[ Kim Quy st ]·._.·´¯)

Xem thêm...

Thơ : Chế Lan Viên

  • Đăng tại Thơ
  • Viết bởi

Thơ: Chế Lan Viên 

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1920 (tức ngày 9 tháng 9 năm Canh Thân) tại xã Cam An, huyện Cam Lộ , tỉnh Quảng Trị.

Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành Chung (THCS hay cấp II hiện nay) thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem Quy Nhơn và Bình Định là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.

Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn". Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là "Bàng thành tứ hữu" của Bình Định.

Năm 1939, ông ra học tại Hà Nội. Sau đó Chế Lan Viên vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942  ông cho ra đời tập văn Vàng Sao, tập thơ triết luận về đời với màu sắc siêu hình, huyền bí.

Cách mạnh tháng tám nổ ra, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, rồi ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh. Thời kỳ này, Chế Lan Viên viết bài và làm biên tập cho các báoQuyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực

Sau 1975, ông vào sống tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh Viện Thống Nhất thành Phố Hồ Chí Minh, ông thọ 69 tuổi.

Ông được nhà nước Việt Nam truy tặng Giải Thưởng về văn học nghệ thuật (1996).

Con gái ông, bà Phan Thị Vàng Anh cũng là một nhà văn nổi tiếng.

Ngoài bút danh Chế Lan Viên (được hiểu là tác giả tự nhận mình là bông hoa lan trong khu vườn nhà họ Chế- dòng họ vua chúa của dân tộc Chàm ở nước Chiêm Thành xưa) nổi tiếng, trong bài giới thiệu tập tiểu luận Những bước đường tư tưởng của tôi của Xuân Diệu, đăng trên báo Văn học tháng 9 năm 1958, ông ký bút danh Thạch Hãn (tên một con sông tỉnh Quảng Trị quê ông). Nhiều bài báo in trên báo Thống Nhất, xuất bản ở Hà Nội trước tháng 5 năm 1975, ông cũng ký bằng bút danh này.

Từ năm 1959 đến năm 1963, trong thời gian làm biên tập báo Văn học, phụ trách chuyên mục Nói chuyện văn thơ, trả lời bạn đọc, ông ký bút danh Chàng Văn. Năm 1961, Nhà xuất bản Văn học đã cho xuất bản hai tập Vào nghềNói chuyện văn thơ của tác giả Chàng Văn.

( Theo Wikipedia )

Tập thơ:

- Gửi các anh (1955)
- Ánh sáng và Phù sa (1960)
- Hoa ngày thường, Chim báo bão (1967)
- Những bài thơ đánh giặc (1972)
- Ðối thoại mới (1973)
- Hái theo mùa (1977)

Những nấm mồ

 

Thơ Chế Lan Viên

 

Hãy chôn sâu nụ cười trên môi thắm
Hãy giết đi lời hát đáy hầu người
Đừng tìm nữa, của hoa tươi, sắc thắm
Của muôn chim, tiếng ngọc bạn lòng ơi!



Vì mỗi phút vui tuổi thêm nhắc tới
Những điên cuồng chôn tận đáy hồn mơ
Những sầu muộn trong thành tim u tối
Trong mắt buồn, hình ảnh buổi ngây thơ

Cả Dĩ Vãng là chuỗi mồ vô tận
Cả Tương Lai là chuỗi huyệt chưa thành
Và Hiện Tại, biết cùng chăng hỡi bạn
Cũng đương chôn lặng lẽ chuỗi ngày xanh!

Trong nắng hè lá tươi đà đổi sắc
Dệt mùa thu sắp đến. Tựa đời ta
Chuỗi ngày xanh hùa theo nhau phai nhạt
Dệt tấm màn quàng liệm tấm hồn ta!



 

Trà Nha sưu tầm

 

Xem thêm...

THƠ VÀ NHÀ THƠ - MORTON MARCUS

  • Đăng tại Thơ
  • Viết bởi

THƠ NHÀ THƠ

MORTON MARCUS

(1936~)

Morton Marcus là một nhà thơ Hoa-kỳ. Ông cũng sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết. Ông đã xuất bản mười tập thơ và một cuốn tiểu thuyết. Năm 1999 ông được trao tặng danh hiệu Santa Cruz County Artist of The Year, và năm 2007 ông được trao tặng giải thưởng Gail Rich Award vì những cống hiến văn hoá của ông cho Santa Cruz County. Hơn 450 bài thơ của Morton Marcus đã được đăng trên những tạp chí văn học, và tác phẩm của ông (gồm thơ và truyện ngắn) đã xuất hiện trên hơn 85 tuyển tập ở Hoa-kỳ, châu Âu và châu Úc. Ông đã đọc thơ và điều khiển các workshops sáng tác thơ tại rất nhiều trường đại học. Ông đã dạy Văn chương Anh và Điện ảnh tại Cabrillo College suốt 30 năm, cho đến khi ông về hưu năm 1998. Tập thơ gần đây nhất của ông là Pursuing The Dream Bone (Quale Press, 2007).

 Một bài thơ nên làm điều gì?

Một bài thơ thành công thì không chỉ nói với cái đầu và trái tim mà nói với cả các tế bào của người đọc, nơi những hạt giống của mục đích của vũ trụ đã được gieo từ nguyên thuỷ, như thể các nhiễm thể của chúng ta đã được xếp đặt như những viên đá lát đường, viên này tiếp theo viên khác, tạo nên những con đường im lặng và vững chắc bên ngoài sự hiểu biết của lý trí. Bài thơ thành công, vì thế, với một loại tri kiến đặc thù, chạm vào từng tế bào khiến từng tế bào ngân lên như một chiếc chiêng đồng, cho đến khi hàng triệu tế bào trong cơ thể người đọc, trong một khoảnh khắc, trở thành một dàn hoà tấu rung động và dâng cao với âm nhạc của nhận thức, một dàn giao hưởng phong phú và nhất quán của vũ trụ.

 Một bài thơ tạo nghĩa như thế nào?

Các nhà thơ nhận thức rằng ngôn ngữ thì bất xứng để diễn tả những gì họ muốn nói, tuy nhiên, một cách nghịch lý, họ lại chọn ngôn ngữ như phương tiện của họ. Có lẽ vì họ không muốn nói gì cả. Họ chỉ muốn gợi lên bất cứ điều gì họ có thể gợi lên được, chẳng hạn, một tâm trạng, một kinh nghiệm, thậm chí một ý tưởng. Chính nhận thức này khiến họ khởi sự sử dụng ngôn ngữ để diễn tả những gì không thể nói.

Kỹ năng của thi ca là thứ kỹ năng mà qua đó các nhà thơ sử dụng chữ để truyền tải kinh nghiệm: họ không nói bài thơ có ý nghĩa gì, họ cũng không giáo huấn. Họ chỉ trình bày, và đón nhận (hoặc mời gọi) độc giả tham dự vào tác phẩm ngay trong khi đọc.

Thoát khỏi những câu chữ sáo mòn, ngôn ngữ của các nhà thơ bám sát vào những cảm quan: các nhà thơ quan sát thế giới xuyên qua thân thể của họ, bởi vì họ nắm bắt được cái hồn của nhãn giới bên trong làn da của họ. Vì thế, họ sử dụng ngôn ngữ đầy những ấn tượng cảm quan gọi là những hình tượng.

Hình tượng không bao giờ nên dùng để trang trí. Nó phải luôn luôn chứa đựng cái nhìn, luôn luôn uyên áo và dẫn dắt độc giả đến cái kiến quan toàn thể của bài thơ.

 Chức năng của nhà thơ là gì?

Tôi cho rằng nhà thơ là một kẻ dùng chữ để mang hoan lạc đến cho mọi người. Nhưng nhà thơ cũng giữ một vai trò mang tính xã hội và tinh thần, qua đó, nhà thơ vừa ban phát hoan lạc vừa nhắc nhở cho chúng ta những gì quan trọng trong cuộc sống của chúng ta, nhiều khi đó là những gì chúng ta đã quên hay đã đánh mất từ các truyền thống văn hoá và trong cảm quan về vị trí của chúng ta giữa vũ trụ.

Trong bài thơ, nhà thơ cho phép chúng ta tái khám phá bản ngã tâm linh của mình. Chức năng của nhà thơ là giúp chúng ta nối kết lại với những cảm nhận của chúng ta, hay, trong một ý nghĩa sâu sắc hơn, khai mở cho chúng ta một lần nữa cái “cảnh giới nguyên sơ” — tức là những mục đích của tâm/thân của cả chủng loại con người và của chính cuộc sinh tồn, mà từ căn nguyên đã nằm sẵn trong các nhiễm sắc thể của chúng ta. Có thể nói, không phải chỉ như một giả thuyết, các nhà thơ là những lương y. Bài thơ là phương thuốc của họ. Trong ẩn dụ này, căn bệnh của người đọc là họ không biết, hay đã quên, tại sao họ có mặt trong thế giới này và họ sẽ đi về đâu. Như những lương y của tinh thần, các nhà thơ dùng những bài thơ của mình để trả lời cho những câu hỏi của người đọc, và trong khi làm vậy họ cho phép người đọc trải qua cái kinh nghiệm mà trong đó người đọc có thể bằng tâm linh, một lần nữa, trở về với hoà điệu của vũ trụ.

 ----------

Trích dịch từ “Writings On Writing: Musings From Notebooks And Articles” của Morton Marcus, trên website mortonmarcus.com STwritings html Nhan đề “Thơ và nhà thơ” do người dịch đặt ra.
 
Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn
 
Kim Quy st

 

 

 

Xem thêm...

GỬI MẸ CỦA CON

  • Đăng tại Thơ
  • Viết bởi

HAPPY MOTHER'S DAY

Nguyên tác: Cryssy Gambrill

Chuyển Ngữ: Tâm Minh Ngô Tằng Giao

GỬI MẸ CỦA CON

Vài hàng kính gửi Mẹ yêu
Mỗi khi con nói Mẹ chiều Mẹ nghe
Mẹ là người bạn cận kề,
Suối nguồn tình Mẹ không hề cạn vơi.
Đôi khi lòng Mẹ tơi bời,
Thâm trầm tình Mẹ không lời thốt ra.

Mẹ thời trẻ mãi không già,
Tình con dâng Mẹ chan hòa ngàn trang.
Trong con tình cảm thênh thang
Mẹ thời khai mở nhẹ nhàng cảm thông,
Cho dù biển rộng mênh mông
Con bơi tìm Mẹ mà không ngại ngùng.

Con yêu Mẹ, yêu vô cùng
Con luôn kiêu hãnh nói sung sướng rằng:
“Mẹ vĩ đại không ai bằng
Mẹ thời tuyệt hảo, vĩnh hằng, Mẹ ơi!”
Mẹ hy sinh cả một đời,
Bàn tay xoa dịu con thời khó quên.

Mẹ coi con ở cạnh bên
Mãi còn bé bỏng lành hiền thơ ngây,
Con dù lười biếng đôi ngày
Mẹ luôn thương mến la rầy gì đâu.
Con luôn thành thật hàng đầu,
Noi gương Mẹ quý trước sau giữ lời.

Mẹ thường cầu nguyện đất trời
Thiết tha, nồng thắm, muôn đời thành tâm.
Chính bàn tay Mẹ dự phần
Nuôi con lớn dậy khôn ngoan nên người
Dù con Mẹ đã có thời
Bước chân lầm lạc rong chơi lỡ làng.

Mẹ ơi con muốn thưa rằng
Khó ai mà lại sánh ngang Mẹ hiền,
Con ân hận, con muộn phiền
Nếu “Ngày Hiền Mẫu” lại quên năm này.
Con mong ôm Mẹ trong tay
Thốt lời âu yếm giọng đầy tri ân
Vì rằng Mẹ đã bao lần
Yêu con, không chấp lỡ lầm của con.
Và lòng mẹ đã chẳng buồn
Cảm thông chia xẻ chuyện con hoang đàng,

Nụ cười Mẹ mãi rỡ ràng
Phô ra nét đẹp huy hoàng khắc sâu
Trong con ấp ủ dài lâu
Tận cùng tâm khảm rạng màu thương yêu.
Mẹ là tặng phẩm mỹ miều
Trời cao ban phát với nhiều hồng ân.
Mẹ là tiên nữ giáng trần
Nữ hoàng lộng lẫy trong tầm mắt con,
Con yêu Mẹ, yêu thật lòng
Tình con dâng Mẹ mãi không phai tàn!

Con yêu Mẹ nhất trần gian
Nhân “Ngày Hiền Mẫu” ngập tràn niềm vui
Con ghi ơn Mẹ suốt đời
Được làm con Mẹ tuyệt vời biết bao.
Những điều Mẹ ước từ lâu
Bao ngày chất chứa thầm sâu trong lòng
Con cầu chúc, con ước mong
Năm nay Mẹ sẽ đạt xong vẹn toàn,
Tình gây cảm hứng dâng tràn
Không bao giờ tắt, ngày càng đẹp thêm
Hướng đàn con nối gót liền
Theo đường rực rỡ dấu in chân tình.
Mẹ là kho báu thiên đình
Trời cao ban xuống cho mình con thôi!

Tâm Minh Ngô Tằng Giao
(chuyển ngữ / Mother’s Day 2016)

  

TO MY MOM

To My Mom
who’s a listener and a friend,
To My Mom whose love never ends.
To My Mom whose heart is sore broken,
To My Mom whose love
is unspoken.

To My Mom
who never really ages,
To My Mom I could fill up pages.
To My Mom who unwraps my emotions,
To My Mom,
I’d swim over oceans.

To My Mom
I’m proud to express,
“You’re the greatest and the best.”
To My Mom who sacrificed much,
To My Mom
I love your sweet touch.

To My Mom
I’m still her sweet little baby,
To My Mom who loves me
though sometimes I’m lazy.
To My Mom I can be the most honest,
To My Mom who keeps her promise.

To My Mom
who prays from her heart.
To My Mom who has had a great part,
In shaping and making me into the child
who once was confused and
often too wild.

To My Mom,
there’s only one you,
To miss Mother’s Day
I’d feel real blue.
I love to hold you and
express my thanks
For loving me
in spite of my pranks.
And to share all our stories
though wild and far-fetched,

Your beautiful smile
will always remain etched
In My memory
of people I love.
You’re surely a gift
sent from above.
To My Mother,
a queen in my eyes,
My special love for you
never dies!

So Happy Mother’s Day
to the dearest of ladies,
I’m so thankful I could be
one of your babies.
May this year bring you
your heart’s hidden desires,
And never quench the love
that inspires
Your children
to walk in the path of real love.
You’re truly
a treasure
sent from above!

Cryssy Gambrill

Xem thêm...
Theo dõi RSS này