Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1141)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (52)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (321)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

NHẠC TRẺ MỘI THỜI CỦA SÀI GÒN “TRƯỜNG KỲ”

NHẠC TRẺ MỘT THỜI CỦA SÀI GÒN

Ông Vua Nhạc Trẻ “TRƯỜNG KỲ”

Một thời để nhớ ,một thời để yêu ,nay chúng ta cùng nhìn lại nền tân nhạc Việt Nam và phong trào Hippie trước và sau 75, vua nhạc trẻ và phong trào Hippy tại Saigon đó chính là “Trường Kỳ” ra đời ngày 29 tháng 3 năm 1946 tại Hà Nội, con của ông Vũ Ngọc Trân và bà Phạm Thị Trọng Yêm, được người bác vốn là soạn giả nhiều bộ sách giáo khoa Pháp văn, không tức cảnh sinh tình, mà vịn vào chữ nghĩa phổ biến của thời đại “trường kỳ kháng chiến” đặt cho cái tên có tuổi thọ đáng nể: Trường Kỳ.

Chương 1 Đôi dòng về ông


Trường Kỳ đã sớm mất tình mẫu tử. Ngay trong ngày ngấp nghé ba tháng tuổi, cuộc tình giữa cha mẹ đã đổ vở, Trường Kỳ được đưa về làng Đồng Nghĩa tỉnh Nam Định cho ông bà nội nuôi dưỡng. Sáu năm ấu thơ đi qua, thằng cháu đích tôn, chưa hề dám đuổi một con ruồi, sống trong tình thương yêu của bố, của ông bà nội thật ấm áp, tuyệt vời. Vườn rau, chái hiên, vuông sân, bờ ao, gốc đa… thay nhau rủ rê, dìu dắt cậu đi khắp thôn, khắp làng, đi dần đến những ước mơ chập chờn, chưa định hình trong đầu óc.

Cứ thế mà anh lớn lên cho đến ngày được trở về Hà Nội, được đưa vào trường Puginier và ở đây cùng văn hoá Pháp cho đến lớp 11è, năm 1954, song song với các trò chơi sưu tầm tem thư, sưu tập truyện bằng hình mua từ hội quán Coeur Vaillant, Trường Kỳ chơi âm nhạc bằng cách mở radio nghe đều đặn các chương trình Tuyển Lựa Ca Sĩ của đài Phát Thanh Sài Gòn. Âm nhạc từ đó, từng bước đi vào cuộc sống Trường Kỳ. Anh đã được các ông chú, bà cô đưa vào phòng trà Anh Vũ, đến rạp Kim Chung và không bỏ sót những chương trình Đại Nhạc Hội.

Trường Kỳ sớm biết mê những tiếng đàn, tiếng trống của Khánh Băng, Phùng Trọng, ban nhạc The Blue Jean Boys… Cuối cùng, thời kỳ trực tiếp chạm tay vào âm nhạc cũng đến. Trường Kỳ theo học đàn accordéon từ nhạc sĩ Vũ Lung. Với cái đàn khá nặng trước lồng ngực hẹp của thân thể nhỏ con, nhưng Trường Kỳ đã cùng người bạn mới này, lần lượt đi qua các ca khúc Thoi Tơ, Dừng Bước Giang Hồ, Cumparsita, La Paloma, Come Back To Sorrren to, Blue Danube…

Những tên tuổi trong giới nghệ sĩ chưa hề gặp cũng cảm thấy gần gũi hơn, nào là Phạm Duy, Văn Phụng, La Hối, Nguyễn Hiền, Canh Thân, nào là Thái Thanh, Thái Hằng, Mộc Lan, Hà Thanh, Châu Hà, Kim Tước… Giữa giai đoạn chăm chỉ rèn luyện, Trường Kỳ bỗng tình cờ có cơ hội biểu diễn lần đầu tiên trong đời. Bục diễn của anh nằm trong sân trường Lạc Hồng. Khán giả của anh là vô số học sinh cấp tiểu học cùng đầy đủ mẹ cha của họ.

Các nhạc sĩ trong phong trào nhạc trẻ. Từ trái, Từ trái, Nam Lộc,

Tùng Giang, Thanh Lan, Trường Kỳ, Kỳ Phát. (Hình: Kỳ Phát cung cấp)

Trường Kỳ đã trổ tài cùng với giọng ca Phương Lan, Quốc Thắng, Kim Chi… Cuộc biểu diễn được chính Trường Kỳ cho là non tay, nhưng phần thưởng anh nhận khá lớn, đó là sự quen biết giữa anh và thần đồng Phương Lan, sau mấy lời ngợi khen của cô ca sĩ tí hon này. (Phương Lan tên thật Võ Thị Nhi), từ một cậu bé nhút nhát, thường “cúi gầm mặt khi đối diện với người lạ” thằng “ Kỳ Đen ” rủ thằng “ Kỳ Lùn ” tiến đến những biệt danh “Vua Nhạc Trẻ”, “ Lãnh Tụ Hippy” không phải là những tình cờ ngẫu nhiên. Đó là cả một quá trình sinh hoạt văn nghệ với nhiều bộ môn, thơ, truyện, âm nhạc… rất phong phú của Trường Kỳ.

Nhưng âm nhạc, tài nghệ tổ chức, lẫn ký giả văn nghệ mới chính là những trọng điểm giúp cho cậu thanh niên không lớn con, không xấu trai này thành danh, Với bản tính hiền hòa, cởi mở, năng động, Trường Kỳ biết cách kết nối thành công những tài năng có chung một một chí hướng, một sự yêu mê nghệ thuật lại với nhau. Trong gần suốt hai thập niên 60, 70 anh cùng một số bạn trong giới nghệ sĩ như Jo Marcel, Tùng Giang, Nam Lộc, vv…đã đứng ra tổ chức thành công nhiều cuộc trình diễn ca nhạc qui mô tại những địa điểm rộng lớn ở thủ đô Sài Gòn.

Bước khởi đầu vào sân chơi âm nhạc rộng lớn của Trường Kỳ và các bạn chính thức mở màn trong năm 1964. Thị dân SàiGòn, nhất là lớp trẻ của một thời tự do hẳn khó quên những : Đại Nhạc Hội Nhạc Trẻ Taberd liên tiếp từ năm 64 đến năm 1973 ( trừ năm 68 ).

Ngoài ra còn các chương trình nhạc trẻ hàng tuần “Hippies À Go Go” được tổ chức tại những vũ trường ỏ Sài Gòn từ năm 67 đến 71 như: Chez Jo Marcel, Queen Bee và Ritz”, gia tài ca khúc nhạc trẻ thời bấy giờ tại Việt Nam còn khá nghèo nàn so với sự ra đời thật náo nhiệt của những ban, nhóm chơi nhạc kích động như : ( danh xưng này được đổi thành Nhạc Trẻ do chính Trường Kỳ nêu ra và được dùng từ năm 1965) : Les Fanatiques, Les Vampires, The Teddy Bears, The Daltons, Les Faucons Noirs, Les Tridents, The Rockin’ Stars, The Black Caps, The Hard Stones, Les Penitents , The 46 , The Spotlights , Phượng Hoàng , The Strawberry Four, , The Apple Three , The CatsE2 Trio, The Hammers, The Dreamers, The Crazy Dogs, The Teen Sound , The Peanuts Company , The Enterprise , The New Flintsones Corporation , The Hard Stones , The Fighters, The Starling Show , The Blue Stars , The Free Ones , v / v… Vì lẽ này, Trường Kỳ liền xắn tay áo chuyển ca khúc ngoại quốc thành lời Việt, đồng thời cho phát hành những bộ sưu tậpTình Ca Nhạc Trẻ đánh số từ 1 đến 7 trong khoảng thời gian 1972-1973.

Những ca khúc Trường Kỳ viết lời Việt được in thành từng bản rời phát hành rộng rãi và thu thanh trên các băng nhạc Tình Hồng (thực hiện cùng Nam Lộc 1973), Tình Ca Nhạc Trẻ, Thế Giới Nhạc Trẻ (ca sĩ trình bày gồm: Elvis Phương, Duy Quang, Minh Xuân, Minh Phúc, Thanh Lan, Julie, Thanh Mai, Paolo…) Được đón nhB An nhiều nhất là các bản: Tình Yêu Trong Đời (Sealed With A Kiss), Rồi Mai Đây (Lo Mucho Te Quiero), Thú Yêu Thương (The Godfather), Khi Ta Hai Mươi (All I Have To Do Is Dream), Thương Nhớ Trong Mưa (The Rhythm Of The Rain), Mùa Tình Yêu (Le Temps De L’Amour), Mùa Đông Em Đi (I Started A Joke), Điện Thoại Tới Anh (Téléphone-moi)…

Kể từ Tình Ca Nhạc Trẻ 2, còn có thêm những nhạc phẩm được gọi là Việt Hóa của nhiều nhạc sĩ khác như : Phạm Duy, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang, Nam Lộc, Tuấn Dũng, Trung Hành, Cao Giảng, vv…Ngoài ra anh còn viết lời cho một số sáng tác của Tùng Giang như : Biết Đến Thuở Nào, Cuộc Tình Xưa, Ta Hôn Nhau Trong Công Viên, vv…,danh tiếng của Trường Kỳ mỗi ngày một nổi, bởi cùng với âm nhạc, anh biết chen vào lãnh vực báo chí.

Nghề làm ký giả, tưởng chỉ đóng vai trò ph=E 1 nhưng chính cái viết lách tùy hứng này đã giúp tên tuổi Trường Kỳ đứng vững đến hôm nay. Cũng như nhiều bạn trẻ sính văn nghệ, Trường Kỳ làm thơ và thành lập thi văn đoàn lấy tên Hội Hoa Cương. Không rõ anh chơi thơ được bao lâu. Bài Xuân Nhớ Em của anh đăng trên nhật báo Ngôn Luận, có thể nói lên được tuổi thọ của thi văn đoàn do anh lập.

Nghề thơ không thành công nhưng nghề viết phóng sự của Trường Kỳ sớm có đất dụng võ. Anh dùng tên Johnny Kỳ cho một số bài phóng sự âm nhạc của mình trên báo Kịch Ảnh từ năm 1964. Bài viết đương nhiên được ông chủ nhiệm Quốc Phong trả nhuận bút hẳn hoi. Về sau Trường Kỳ còn được mời viết ở tuần báo Màn Ảnh, rồi phụ trách trang nhạc trẻ trên nhật báo Sống của nhà văn Chu Tử. Phóng sự hoặc nhữngbài viết có liên quan đến âm nhạc của Trường Kỳ còn xuất hiện trên nhiều tuần báo, nhật báo tại thủ đô như Tinh Hoa, Chính Luận, Tiền Tuyến… Phóng sự ăn khách của Trường Kỳ lúc bấy giờ có tên “36 Kiểu Cua Đào” đi trên tạp chí Thứ Tư, trước sự phát triển mạnh mẽ của nhạc trẻ, những trang báo của người khác chủ trương có phần không đủ chỗ cho Trường Kỳ múa bút, nên anh đã bàn với một số bạn chí thân để khai sinh một vùng đất mới, chuyên đề về âm nhạc.

Báo của Trường Kỳ mang tên Nhạc Trẻ, khổ nhỏ như tạp chí, 100 trang, phát hành 300 số. Báo có tòa soạn hẳn hoi trên đường Trương Công Định. Nhưng rất tiếc, tiền rửa hình, tiền đánh máy, tiền đóng gáy, dán bìa… chỉ cho phép Nhạc Trẻ trình diện một lần duy nhất. Trong nghiệp viết của Trường Kỳ, ngoài phóng sự anh còn viết tiểu thuyết. Cuốn Tuổi Choai Choai của anh được Jo Marcel và chính anh cùng Nam Lộc góp tay thực hiện thành phim Vết Chân Hoang, một phim màu scope khá thành công. Trước phim này, Trường Kỳ và Jo Marcel cũng thực hiện được phim Thế Giới Nhạc Trẻ.

Đời sinh hoạt nghệ thuật của Trường Kỳ quả thật sôi động, phong phú, nhờ đó anh tiếp xúc, quen biết với nhiều nhân vật trong nhiều lãnh vực văn học, nghệ thuật, quân sự, chính trị như Mai Thảo, Duyên Anh, Chu Tử, Phạm Duy, Viên Linh, Lê Hoàng Hoa, Phạm Huấn, Đỗ Kiến Nhiễu, Nguyễn Cao Kỳ.. Nhưng tuyệt vời nhất, đây là cơ hội ngàn vàng tạo cho gia tài tình nhân của anh trở nên vô cùng giàu có. Khởi từ tuổi mười ba, Trường Kỳ đã biết cái thú của nhà thơ Nguyễn Bính dù không có hàng dậu mùng tơi nào nơi anh cư ngụ.

Anh cũng sớm nhận ra mùi hương của một thịt da, được cấu tạo có chút khác biệt với phái nam, khi anh được một cô giáo ôm tiễn chân sang trường khác. Tình yêu nằm trong khoảnh khắc dậy thì thật là tuyệt vời. Trường Kỳ đã ghi lại giúp chúng ta những náo nức, rạo rực một thời, rất tinh tế, thành thật, trước năm 1975.

Trường Kỳ ngoài việc phát hành nhạc bản, tuyển tập nhạc trẻ, anh còn cho in các tập phóng sự: Mặt Trái Của Nữ Sinh Sài Gòn (1968), 36 Kiểu Cua Đào (1969), Tuổi Choai Choai (phóng sự tiểu thuyết, 1971).Chỉ cần đọc tên sách, chúng ta đã có thể biết nhBng cuốn sách của Trường Kỳ rất ăn khách.

Anh đánh hơi thật rõ thị hiếu của lớp trẻ thành phố, đánh những phát trúng ngay mục tiêu. Tuổi nữ sinh là thời kỳ tinh hoa nhất của mọi người thiếu nữ, ở đó còn đủ e lệ, thẹn thùng, còn đủ những ngây thơ dễ thương và cũng có cả những ranh mãnh lẫn những táo bạo khi bắt đầu biết nhớ nhung biết yêu thương, Đó là lúc mọi người thiếu nữ đều xinh đẹp, lộng lẫy.

Năm 2002 tại hải ngoại, Trường Kỳ cho xuất bản tập bút ký ưng ý nhất của anh, cuốn Một Thời Nhạc Trẻ. Sách dày 384 trang bìa mầu được trình bày bởi Lê Phan Lân, một giọng ca tài tử rất được mến mộ tại Montréal. Một Thời Nhạc Trẻ được chia làm 4 chương. Mỗi chương mang m9t tên riêng. Chương 1: Một Thuở Ham Vui. Chương hai: Một Thời Nhạc Trẻ. Chương ba: Những Ngày Tháng Hippy. Chương kết: Một Chốn Bồng Lai.

Danh từ Nhạc Trẻ cũng do chính Trường Kỳ đề nghị đưa ra dùng thay cho tên gọi Nhạc Kích Động, hơi gần với bạo động. Nhạc Trẻ đem lại không khí tươi vui, hoạt náo, năng động. Nhưng với mắt nhìn của xã hội, nhất là trong giai đoạn có máu thịt đổ ra, tan nát từng giây phút tại các mặt trận không xa Sài Gòn bao nhiêu, không thể không có những phê phán.

Phong trào nhạc trẻ Sài Gòn, theo tôi , là một hình thức phản chiến cao cấp nhất và đã có kết quả khả quan. Cũng là thủ đô trong thời chiến, nhưng Hà Nội khác hẳn. Cái hơn của miền Nam là tự do. Nhưng những bước chân quá đà của những người thụ hưởng tự do nhiều khi rất tai hại, và tai hại đã xảy ra thật.

Sự thất thủ của Sài Gòn một phần do giới lãnh đạo, nhưng quần chúng không thể hoàn toàn phủ nhận sự góp tay gián tiếp của mình. Trường Kỳ một thanh niên yêu âm nhạc, yêu tự do và đương nhiên rất cần thiết hòa bình, anh theo đuổi, thực hiện tận tình nguyện vọng, sở thích của anh đó là một ưu điểm. Nhưng không thể hoàn toàn biện minh cho anh trước những nghi ngờ. chỉ trích của một số nhân vật chính quyền lẫn báo giới. Trong Một Thời Nhạc Trẻ, Trường Kỳ đã nhắc lại đủ những điều này, thật đáng quí. Cũng phải cảm ơn Trường Kỳ cho chúng ta biết tường tận những khởi đầu của những tên tuổi trong làng nhạc Việt Nam, khởi đi từ thập niên 60, 70 như Thanh Lan, Trung Hành, Duy Quang, Ngọc Bích, Tuấn Ngọc, Đức Huy, Nam Lộc, Tùng Giang .v.v…

Ông vua nhạc trẻ “Trường Kỳ” đã vĩnh viễn ra đi lúc 1 giờ trưa ngày 22 tháng 3 năm 2009 tại thành phố Toronto, Canada. Ký giả Kỳ Phát nhận được tin đầu tiên và kế đó là tôi từ ca sĩ Quốc Anh đang đi lưu diễn tại Canada, Kỳ Phát, và Nam Lộc đều bàng hoàng khi nghe tin. Tôi liền gọi điện thoại về Việt Nam cho anh Tiến Chỉnh (tay bass guitar của ban nhạc Strawberry Four, cũng là người bạn rất thân với Trường Kỳ để nhắn giùm chị Huyền là hiền thê của anh trở về Canada gấp, để lo công việc). Tôi vẫn còn bàng hoàng và thương tiếc người anh thân yêu của tôi mà đã bao lần cùng anh dấn thân vào con đường viết lách, và say mê âm nhạc đến tột độ.

Chương 2 

-Phong Trào Hippie nhạc phản chiến theo mô hình Woodstock 1969 và Đại hội nhạc trẻ Hoa Lư & Trường Lasan Taberd.

Vào những năm cuối thập niên 60’s khi văn hóa và nhạc trẻ của Pháp dần lùi về quá khứ thì lúc này đang nổi lên phong trào Hippy của những người Mỹ (Hoa Kỳ) ,khi mô hình này đang dần hòa nhập với thế giới và đương nhiên lúc này đã lan tới giới trẻ Sài Gòn rất nhanh, chắc quý vị đều biết trước biến cố tháng 4/1975, nhạc nhẹ nói chung và nhạc rock nói riêng gần như chỉ có ở duy nhứt ở Miền Nam, kể từ sau ngày 30/04/1975, làn sóng nhạc nhẹ tràn ra miền Bắc và dấy nên một trào lưu nhạc nhẹ rộng khắp, thu hút đông đảo thanh niên vốn trước đó chỉ tiếp xúc với những ban nhạc theo kiểu thính phòng hoặc các ban “nhạc nhẹ” đánh theo tổng phổ, năm 1954, dù người Pháp rút khỏi Việt Nam, nhạc Pháp vẫn còn hằn sâu trong sinh hoạt âm nhạc xã hội, nhưng khi người Mỹ đổ quân đến miền Nam thì nhạc Pháp cũng lùi dần nhường bước cho làn sóng văn hóa Mỹ, cuối thập niên 1950 – đầu thập niên 1960 là của nhạc Pháp còn từ năm 1967 trở lên có thể nói nhạc trẻ Sài Gòn đã hình thành, nhưng nó thật sự gây được ấn tượng mạnh mẽ với công chúng trẻ là từ năm 1963 với phong trào lập dị nhưng rất ấn tượng thời đó là “HIPPY”

Cũng từ cái mốc năm 1963 cho đến trước ngày 30/4/1975, Sài Gòn nhộn nhịp với những đại nhạc hội. Đại nhạc hội thời ấy có hai loại: đại nhạc hội dành cho giới bình dân, biểu diễn tại rạp Quốc Thanh và rạp Hưng Đạo vào mỗi buổi sáng Chủ nhật với sự tham gia của các ca sĩ nổi tiếng thời đó như: Chế Linh, Duy Khánh… Hát nhạc kích động “bình dân” tiêu biểu có Hùng Cường – Mai Lệ Huyền, Khánh Băng – Phùng Trọng với những bản nhạc twist, agogo như Một trăm phần trăm, Gặp nhau trên phố… mà những ban nhạc rock “tinh tuyền” gọi là rock “dởm”. Ngoài ra, có một đại nhạc hội khác gọi là đại nhạc hội kích động nhạc, tiền thân của nó là những ban nhạc học sinh của trường Taberd (nay là trường Trần Đại Nghĩa – 20 Lý Tự Trọng, quận 1).

Đại nhạc hội kích động thường được tổ chức tại trường Taberd, Thảo cầm viên hoặc sân vận động Hoa Lư. Đây là nơi trình diễn của những ban nhạc trẻ không hát những loại nhạc “bình dân” và trong đó có những ban nhạc rock thực thụ, giai đoạn đầu các ban nhạc trẻ nói chung chủ yếu là hát nhạc ngoại quốc bằng tiếng Anh hoặc Pháp, các ban nhạc rock thì cover lại những bản nhạc chủ yếu của Anh, Mỹ.

Thời gian cuối thập niên 1960 và nhất là vào đầu thập niên 1970, nhạc trẻ Sài Gòn có một sự chuyển biến đáng chú ý: đó là trào lưu “Việt hóa” các ca khúc Âu – Mỹ. Mở đầu cho trào lưu này có thể nói đến nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng, anh đã chuyển soạn lời Việt cho các ca khúc được nhiều người yêu mến như: Búp bê không tình yêu (Poupée De Cire, Poupée De Son), Gõ cửa 3 tiếng (Knock Three Times), Chuyện Phim Buồn (Sad Movies), Lãng du (L’Avventura), Anh thì không (Toi Jamais) v.v…

Sau đó nhiều ban nhạc, nhiều nhạc sĩ khác cũng đã soạn lời Việt cho nhiều ca khúc ngoại quốc khác, trong đó có cả nhà báo Trường Kỳ…,nhưng trong trào lưu “Việt hóa” có lẽ điều đáng chú ý nhất là các nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà, với ban nhạc Phượng Hoàng, đã đi một bước xa hơn là sáng tác những ca khúc nhạc trẻ Việt Nam đầu tiên với những bài hát đi vào lòng người như Hãy ngước mặt nhìn đời, Tôi muốn… đặt nền móng đầu tiên cho những ca khúc nhạc trẻ Sài Gòn, về các ban nhạc trẻ, một trong những ban nhạc gây ấn tượng nhất đó là Strawberry Four gồm Tuấn Ngọc (guitar), Đức Huy (guitar), Tiến Chỉnh (bass, trước đó là Billy Chane), Tùng Giang (trống). Đây được xem là ban nhạc “nhà giàu” với những chiếc đàn, amplie Fender làm “lé mắt” dân chơi nhạc, trên sân khấu họ toàn bận complet lịch lãm và nhất là tạo được “danh giá” khi Trawberry Four là ban nhạc Việt Nam đầu tiên và duy nhất được lên đài truyền hình Mỹ (phát tại Sài Gòn).

Nhạc rock đã xuất hiện trong bối cảnh của nhạc trẻ Sài Gòn như trên. Tuy nhiên, lịch sử nhạc rock Sài Gòn có liên hệ mật thiết đến sự có mặt của quân đội Mỹ, những club mọc lên như nấm của người Mỹ tại Sài Gòn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành lực lượng nhạc rock, nhất là từ năm 1965 khi người Mỹ có mặt thật đông đảo tại “hòn ngọc Viễn Đông” và các tỉnh phụ cận.

Đây cũng là giai đoạn chuyển hướng mạnh mẽ nhất của nhạc trẻ Sài Gòn, và là thời điểm xuất hiện khá nhiều ban nhạc chơi rock Mỹ, khác với trước đó dân chơi nhạc và nghe nhạc vẫn còn yêu chuộng những ca khúc trữ tình của các nhạc sĩ Việt Nam như Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước… và các ca khúc Pháp, tuy nhiên dấu mốc phát triển của rock có thể kể đến sự kiện đại nhạc hội kích động nhạc do”Trường Kỳ-Nam Lộc- Tùng Giang” tổ chức sau khi lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Đại hội kích động nhạc này được tổ chức tại Đại Thế giới (nay là Trung tâm Văn hóa Q.5) vào năm 1963, qui tụ hầu hết các ban nhạc trẻ đang hoạt động tại Sài Gòn thời ấy và đây cũng là một tiền đề để sau đó những đại hội kích động nhạc được tổ chức thường xuyên ,những ban nhạc “thuần” rock như “The Peanuts Company,The Black Caps, The Rockin’ Stars, The Interprise, Les Pénitents, The Crazy Dog, CBC…” ,trong đó The Rockin’ Stars và The Black Caps được xem như những ban nhạc rock đầu tiên của Sài Gòn, thì hai ban nhạc “The Peanuts Company và CBC được xem là 2 ban nhạc “đệ nhất kích động nhạc” thời ấy”.

Ca sĩ Elvis Phương thành viên của Rockin’ Stars cho biết: “Ban nhạc thành lập năm 1960 với thành viên: Nguyễn Trung Lang (bass guitar), Nguyễn Trung Phương (rythm guitar), Jules Tampicanou (lead guitar), Đặng Hữu Tòng (tenor saxophone), Lưu Văn Hùng (trống) và Elvis Phương (ca sĩ). Năm 1961 có thêm 2 thành viên mới là Jean jacques Cussy va Nicole.

Cuối năm 1961 có thêm ca sĩ Billy Shane. Ban nhạc The Black Caps ra đời vào cuối năm 1960 với: Thanh Tùng (guitar), Paul Doãn (ca sĩ)… Phong trào nhạc trẻ hình thành trong giới học sinh của trường trung học Jean Jacques Rousseau (nay là trường cấp 3 Lê Quý Đôn), vì vậy hai ban nhạc này đa số là học sinh của Jean Jacques Rousseau chỉ có Nicole là của Marie Curie và Billy Shane là của Taberd”.

Các ban nhạc rock trước giải phóng chủ yếu là cover các bản nhạc rock Mỹ, cũng có một số ca khúc được những “rocker” Việt sáng tác, nhưng chủ yếu là viết lời bằng tiếng Anh để trình diễn trong những club của Mỹ”. Ban nhạc Phượng Hoàng của Nguyễn Trung Cang và Lê Hựu Hà ra đời khá trễ (1970).

Tuy nhiên đây có thể nói là một ban nhạc “Việt hóa” triệt để: sáng tác ca khúc Việt cho rock, hát lời Việt và cái tên cũng “thuần Việt” giữa vô vàn các tên ban nhạc bằng tiếng Anh đang hiện hành. Ca khúc rock viết bằng tiếng Việt của Nguyễn Trung Cang, được nhiều người biết đến đó là bản Mặt trời đen, đây có thể xem là bản nhạc rock Việt đầu tiên khá tiêu biểu của giới rock Sài Gòn.

Qua bài viết này các bạn trẻ biết thêm về Trường Kỳ và tại sao Trường Kỳ được mệnh danh là ông vua Nhạc Trẻ ..Vĩnh Biệt ông vua nhạc trẻ mội thời của Sài Gòn “Trường Kỳ”

 

 

 

Biết Đến Thuở Nào

Sáng tác: Tùng Giang

 

*♫♪‘°*♫♪‘°

phút đầu gặp em, tinh tú quay cuồng

Lòng đang giá băng, bỗng ngập tràn muôn tia nắng 

Nghe bao xót xa, vụt bay theo cánh chim ngàn 
Dừng bước nơi này, chỉ còn em với ta... 

Ngỡ ngàng nhìn em... như đã quen rồi 
Hỏi em biết chăng, những bàng hoàng giăng vây kín 
Như muôn tóc mây quyện vương đôi mắt nhung huyền 
Mộng ước đây rồi... sao ngại ngùng vương trong ta... 

Bao đêm cô đơn, miên man với niềm thương nhớ 
Suy tư âu lo, men thuốc đắng trên môi 
Đã xót xa nhiều mà sao nói không nên lời 
Đành xin ôm trọn mối u hoài trong tâm tư... 

Biết thuở nào quên, quên hết ưu phiền 
Để thôi xót xa, để bàng hoàng không vây kín 
Bao nhiêu ước mơ rồi đây sẽ kết nên lời 
Mộng ước một ngày thôi đợi chờ... ta có nhau...

 

`’*♫♪ ()♫♪*¸.’´¯)

 

Phỏng Vấn Nam Lộc- phong trào nhạc trẻ

Thực hiện: Hoàng Lan Chi (Virginia) 
Hình ảnh: Nam Lộc
Trò chuyện với nghệ sĩ Nam Lộc về phong trào nhạc trẻ thập niên 60-70

(Bài này do Khôi An ghi lại từ chương trình “Câu Chuyện Âm Nhạc” của Đài Phát Thanh Tiếng Nước Tôi – Houston – do Hoàng Lan Chi phụ trách và đã được nghệ sĩ Nam Lộc hiệu đính lại. Các hình ảnh trong bài cũng do nghệ sĩ Nam Lộc cung cấp. 
 
 
LC:  Xin hỏi một vài câu liên quan nhóm quý ông. Nhắc đến nhạc trẻ thập niên 60-70 là nhắc đến (Trường Kỳ- Tùng Giang và Nam Lộc).  Xin ông vui lòng cho biết mối quan hệ của bộ ba quý ông, xuất phát từ đâu, thời gian nào và từ khi nào ý tuởng thành lập nhóm nhạc trẻ thành hình?
 
NL: Thưa cô, thực sự công lao để phát triển nhạc trẻ VN thì gồm có nhiều người lắm, nhưng theo tôi, một trong những người có công lao rất lớn là nam ca sĩ Jo Marcel. Ông là người tổ chức các phòng trà đầu tiên để các bạn trẻ có nơi trình diễn hoặc thi thố tài nghệ Lúc đó phong trào trình diễn nhạc ngoại quốc ở các câu lạc bộ (club) của Mỹ cũng đang phát triển. Chắc cô còn nhớ là khi quân đội Hoa Kỳ và đồng minh đến VN khoảng năm 1963 thì nhu cầu sinh hoạt về âm nhạc cuả họ đã tăng lên rất nhiều, vì thế các câu lạc bộ ở những nơi đóng quân cần nhiều ban nhạc để trình diễn cho những người lính viễn chinh giải trí. Một trong những người đầu tiên đứng ra lập ra các ban nhạc như thế là nhạc sĩ Tùng Giang và sau đó các bạn trẻ cũng tự lập ra các ban nhạc và đi trình diễn khắp nơi. 
 

 

 Tùng Giang, Trường Kỳ & Jo Marcel – 1967

Nhưng người gom góp các ban nhạc trẻ lại để cùng sinh hoạt lại là nhạc sĩ Trường Kỳ. Với tâm hồn yêu văn nghệ cùng các sinh hoạt nhạc trẻ, Trường Kỳ nghĩ rằng ngoài những lúc chơi nhạc cho các clubs ngoại quốc thì cũng nên họp lại để có những buổi trình diễn cho khán giả VN, nhất là giới trẻ. Anh Trường Kỳ đã dùng phòng trà cuả ca sĩ Jo Marcel để tổ chức những buổi nhạc Hippy-AGoGo với mục đích phục vụ khán giả VN. Anh Tùng Giang cũng là một nhạc sĩ, và khi tán thành ý định cuả anh Trường Kỳ thì anh Tùng Giang đã mời các ban nhạc trẻ cùng cộng tác với chương trình cuả anh Trường Kỳ. 


 
 

Tùng Giang-Tuấn Ngọc - Minh Phúc 1966


 Sau khi Tùng Giang và Trường Kỳ cộng tác đuợc một năm thì cá nhân tôi đã đi tìm đến hai anh đó vì tôi nhìn thấy cả hai anh đều là những người có khả năng, đồng thời vào thời điểm đó, nhu cầu phổ biến nhạc trẻ đòi hỏi rất mạnh mẽ, do đó nếu chỉ trình diễn trong phòng trà cuả anh Jo Marcel hay các night club khác mỗi tuần một lần thì chắc không thể nào đủ để thỏa mãn nhu cầu cuả khán giả. 
 
Tôi là người có được bộ óc tổ chức, tôi rất thích tổ chức từ khi tôi còn trẻ, ngay từ thời trung học tôi đã thích và đã làm việc xã hội. Chính động lực đó đã đưa đẩy tôi đã đến gặp các anh TK, TG cũng như JM, trước hết để đề nghị, nên tổ chức rộng rãi hơn ở những điạ điểm rộng lớn hơn; Thứ hai, nên tạo cơ hội để các bạn trẻ được đóng góp vào các hoạt động xã hội, vô vụ lợi nhằm phục vụ cho người dân cũng như cho quân đội. Vì thế, anh em chúng tôi đã gặp nhau vào cuối thập niên 60, chính xác là vào năm 1967. 
 
Như vậy cách đây 42 năm, anh em chúng tôi đã gặp nhau. Riêng lý do khiến cho chúng tôi thân thiết hoặc gần gũi và cũng làm cho người ta hay nhắc đến “bộ ba” Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang hơn là các bạn khác là bởi vì các bạn khác thuờng là nhạc sĩ, chẳng hạn các anh Đức Huy, Tuấn Ngọc, Paolo hay Elvis Phương v.v. họ bận đi hát hay chơi đàn, còn anh Jo Marcel thì bận kinh doanh, làm phòng trà, thu âm v.v., chỉ có ba đứa chúng tôi cùng hợp tác với nhau để đứng ra tổ chức các buổi đại hội nhạc trẻ ngoài trời có tính cách rộng lớn và khá vĩ đại, có lẽ vì thế việc nên nguơì ta thường nhắc tới tên của ba anh em chúng tôi, chứ thật ra thì nhạc trẻ có sự đóng góp công sức cuả rất nhiều người.

 


 Jo Marcel-Tùng Giang-Trường Kỳ-Nam Lộc – 1995


 LC: Thưa ông, những điều ông vưà nói có giải đáp một phần sự tò mò cuả tôi, nhưng tôi vẫn chưa rõ vì sao chỉ Truờng Kỳ được xưng tụng là “vua nhạc trẻ” trong khi TK không biết đàn và cũng không biết hát?
 
NL: Người ta thường gọi anh Trường Kỳ là “vua nhạc trẻ” bởi vì anh sinh hoạt với giới yêu nhạc trẻ, nhạc ngoại quốc, nhạc kích động, từ khi anh còn rất trẻ, từ khi anh còn học trung học ở truờng Taberd. Mặc dù không đàn guitar và cũng không lên sân khấu trình diễn, nhưng anh TK không những sinh hoạt với các ban nhạc mà còn có các Teenagers’ Clubs hoặc các Fans Club. Có thể anh TK đã rập khuôn cuả các bạn trẻ ngoại quốc thời đó.

Theo tôi, anh TK là người duy nhất đã đứng ra cổ vũ phong trào với các sinh hoạt liên quan tới nhạc trẻ. Từ trường Taberd, Marie Curie hoặc Jean Jackques Rousseau đến Gia Long, Trưng Vương … đều có những Teenagers’s Club, mỗi club có một người trưởng nhóm để kêu gọi các bạn trẻ. Từ khi Trường Kỳ kêu gọi như thế thì anh đã có nhiều fans ở khắp nơi, không hẳn là fans của TK mà là fans của các ban nhạc, các ca sĩ ngoại quốc, v.v… 


 
 Trường Kỳ & Fans Club

Anh TK là ngươì có công phát triển phong trào đó cũng như gom góp những fan yêu nhạc. Có thể nói anh TK là người đi tiên phong trong lãnh vực sinh hoạt này. Bên cạnh đó anh cũng là người viết các bài tuờng thuật trên báo chí VN thời đó về những sinh hoạt của giới trẻ. Do đó, mỗi khi nhắc đến nhạc trẻ là người ta nghĩ ngay đến TK. 
 

 

 Trường Kỳ & Fans Club

Thêm vào đó, anh TK có hình ảnh rất đặc biệt: một người đeo cặp kính rất dầy, da ngăm đen, đầu tóc lúc nào cũng dài, một người mà khi nhìn thấy nguơì ta nghĩ ngay đến một nhân vật biểu tuợng cho giới Hippy. Tôi và anh Tùng Giang thì không có đuợc hình ảnh đó, cho nên khi nhắc đến nhạc trẻ, đến Hippy thì ngươì nghĩ ngay đến ông vua nhạc trẻ, ông vua Hippy Trường Kỳ.

Những tên đó có tính cách như một thứ danh xưng mà ngươì ta đặt cho TK, chứ con ngươì thật cuả anh ấy cũng không Hippy lắm đâu (cười). Đó chính là lý do mà anh TK dù không phải là Hippy thực thụ, không phải là người đàn nhạc trẻ hay ca sĩ nhạc trẻ nhưng đuợc gọi là “vua nhạc trẻ”. Có thể nói đó là kết qủa của những sinh hoạt cùng sự đóng góp lớn lao mà anh TK đã thực hiện, và đã cống hiến cho nền nhạc trẻ VN, thưa cô.
 
 
LC: Cám ơn ông đã giải thích rất cặn kẽ, rõ ràng. Qua những điều ông vưà kể, tôi không ngạc nhiên khi biết rằng mấy chục năm sau cố nhạc sĩ Truờng Kỳ đã bay từ Canada sang Houston để tham dự buổi gặp gỡ cuả nhóm CTY do chị Hồng Vân của báo Thế Gìới Nghệ Sĩ tổ chức. Xin cám ơn ông đã nhắc tới một thời vưà qua mà các vị thính giả cuả chúng ta được gợi nhớ lại, tức là thời phong trào nhạc trẻ đã bắt đầu từ các trường Tây và lan qua các trường Việt như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Gia Long, Trưng Vương v.v.
 
Bây gìờ xin phép hỏi một câu không vui lắm, Thưa ông nhạc trẻ thời đó điển hình là nhóm quý ông đã thường bị chỉ trích. Ông có thể cho biết ai đã chỉ trích và vì sao?
 
NL: Thưa cô, những lời mà cô gọi là “chỉ trích” thì phải nói rằng cũng là những điều hợp lý mà thôi. Lúc đó đất nước đang trong thời chinh chiến, nhiều người trẻ đã phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung”. Trong khi đó có “một lũ” thanh niên thiếu nữ khác lúc nào cũng “hoa hoè hoa sói”, tóc dài, đi “gào thét” âm nhạc trong hoàn cảnh như vậy thì cũng quả là hơi…. khó coi.

Nhưng đó chỉ là nhìn từ bề ngoài, và những người chỉ trích có lẽ họ không hiểu, hay không biết! Họ quên rằng trong “đám nhạc trẻ” cuả anh em chúng có rất nhiều người đến tuổi nhập ngũ đều gia nhập quân đội. Ngay cá nhân tôi cũng như anh Đức Huy, Tiến Chỉnh, Elvis Phương, hay Jo Marcel v.v. đều là những người đi lính. Có thể mỗi người phục vụ ở một đơn vị khác nhau, như chúng tôi thì theo đơn vị Báo Chí sau đó chuyển sang ngành Chính Huấn. 
 

 Nhạc trẻ gia nhập quân đội


 

Cũng có những người khác (trong Tâm Lý Chiến) như anh Lê Hựu Hà, anh Nhật Trường viết nhạc… Nói chung tôi tin rằng nếu chúng ta xử dụng những nguời nghệ sĩ trong đúng vị trí thì họ cũng là những người chiến sĩ can trường và chiến đấu rất hữu hiệu. Thay vì cầm súng họ có thể cất tiếng hát, lời ca hoặc cầm bút sáng tác những lời nhạc sắc bén và tôi nghĩ rằng hành động của họ cũng có giá trị không thua gì người cầm súng. 

Trường Kỳ-Nam Lộc & nghệ sĩ tại Sư Đoàn 5 Bộ Binh

Thế nhưng nếu chỉ nhìn bề ngoài thì rất dễ tạo ra sự hiểu lầm, và như tôi vừa nói, thật ra chúng tôi cũng là những nguơì trẻ, cũng đáp lời sông núi và làm tròn bổn phận cuả người thanh niên trong thời chiến. Tuy nhiên, những lời chỉ trích – nếu có – về việc tóc dài hay nghe nhạc ngoại quốc thì tôi cũng không thấy có gì đáng buồn phiền cả.

Thực sự những lời chỉ trich nặng nề nhất mà cô LC cũng như quý vị thính giả có thể đã nghe qua, thí dụ như “đây là bọn Hippy, phản chiến, vô trách nhiệm với quê hương, đất nước v.v.”, những lời phê phán nặng nề đó thuờng phát xuất từ các động lực chính trị. Bởi vì trên nguyên tắc thì không có lý do nào để chỉ trích khi chúng tôi chơi nhạc và có đông đảo nguời tham dự, chúng tôi đóng góp công sức, tiền bạc, và những số tiền đó đều do các sĩ quan cao cấp thuộc cục Tâm Lý Chiến điều hành và quản thủ. 

Phu nhân tướng Trần Văn Trung & Đại tá Cao Tiêu
chủ tọa một buổi Đại Hội Nhạc Trẻ Ngoài Trời


Tuy nhiên, thời gian đó đất nước chúng ta đang ở trong một hoàn cảnh chính trị rất nhiễu nhương – tôi phải dùng chữ đó – giữa hai vị nguyên thủ lãnh đạo quốc gia là ông Nguyễn Cao Kỳ và ông Nguyễn Văn Thiệu. Lúc đó ông NCK đang có khuynh huớng ra tranh cử chức tổng thống với ông NVT, vì thế phe ông NVT và phe ông NCK tìm đủ mọi cách để triệt hạ nhau. Chúng tôi lúc đó đuợc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị hỗ trợ mà tổng cục này ở dưới quyền chỉ huy cuả tổng thống đuơng thời là ông NVT nên được chính phủ NVT yểm trợ. Phiá ông NCK tìm cách chống đối, công kích và nêu lên lý do rằng chúng tôi là “bọn” Hippy, phản chiến.

Ông NCK đã nhờ các thanh niên trong một nhóm tên là Thanh Niên Trừ Gian đi xé các bản poster quảng cáo đại nhạc hội, đồng thời có một số người viết báo, lên án chỉ trích việc làm cuả anh em chúng tôi. Ngoài ra cảnh sát quốc gia dưới sự chỉ huy của tướng Không Quân Nguyễn Ngọc Loan (đàn em của tướng Kỳ) còn được lệnh “hớt tóc” tất cả các thanh niên để tóc dài! Nói tóm lại, chúng tôi là nạn nhân cuả cuộc tranh dành chính trị giữa phe ông NCK và phe ông NVT. 

 

Bản tin: Nhạc Trẻ bị cạo đầu

Cho tới nay, chưa bao giờ tôi nhắc đến điều này một cách công khai, nhưng hôm nay nhân buổi phỏng vấn cuả cô Hoàng Lan Chi, và những sự kiện này đã trở thành lịch sử nên tôi cũng xin công khai trình bày. Tôi tin chắc rằng có một số rất đông nhân chứng còn sống, có những nguơì hiện đang làm việc trong lãnh vực báo chí, truyền thông, truyền thanh cũng đã từng tham dự phong trào Thanh Niên Trừ Gian, cũng có người đã từng lên án hoặc chỉ trích chúng tôi.

Bây giờ, thỉnh thoảng anh em chúng tôi ngồi lại với nhau, gặp nhau ôn lại những sự kiện đó rồi ôm bụng cuời vì nhìn thấy cả một hậu trường chính trị ở miền Nam thời đó mà chúng tôi, ở cả nhóm nhạc trẻ hay nhóm “Thanh Niên Trừ Gian”, có thể nói là chỉ những người bị kẹt giữa hai lằn đạn, thưa cô (cười)!

Nam Lộc-Trường Kỳ & Thiếu tá Hà Huyền Chi, 
Đại Hội Nhạc Trẻ Cuối Cùng

LC: Vâng, xin ông cho hỏi sau khi nghe những lời chỉ trích, hẳn là quý ông đã ngồi lại với nhau để đề ra cách giải quyết. Lúc đó chỉ có quý ông bàn thảo hay là có sự hỗ trợ cuả cấp trên, chẳng hạn như là từ nội các của TT Thiệu thời đó, thưa ông? 
 
NL: Thưa cô, phải nói một cách thành thật là chắc chắn phải có sự can thiệp cuả những người trong chính quyền ông NVT thời đó. Bởi vì có những chuyện chúng tôi không thể làm được như ngăn cản nhóm Thanh Niên Trừ Gian hay những nguời được thuê đi xé các posters. Chỉ có quân cảnh hay cục Tâm Lý Chiến mới có thể phản lại những việc này, chứ chúng tôi đâu dám xuất hiện, vì lạng quạng có thể bị bắt, không biết phe nào là ủng hộ, phe nào là chống đối (cười).

Cho nên, có thể nói chúng tôi chỉ là những người phụ trách chương trình mà thôi, còn những vấn đền giao tế, public relation hay đối phó với dư luận thì hoàn toàn do cục Tâm Lý Chiến đảm nhiệm, chúng tôi không can dự vào những việc đó, ngoại trừ đưa ra một số ý kiến. Tuy nhiên, dù muốn dù không, tinh thần chúng tôi cũng bị xao động và thường phải ngồi lại với nhau đề bàn thảo, theo dõi tình hình để ứng phó tùy theo thời thế (thế thời … phải thế!). 
 
 Nhưng dù sao đi nữa, tôi cũng rất hãnh diện là lúc đó các anh em nhạc trẻ đã biết ngồi lại với nhau và cùng quan niệm rằng “Nếu chúng ta làm một công việc trong sạch, có ý nghĩa thì chúng ta không sợ gì cả. Khi nguời ta bảo chúng ta phản chiến mà chúng ta không phản chiến thì chúng ta không sợ. Khi người ta bảo chúng ta là kẻ gian dối mà chúng ta không gian dối thì chúng ta không sợ. Chúng ta chỉ sợ khi chúng ta thực sự là nguơì gian dối. Nếu không thì ai có nói gì chúng ta cũng đừng bận tâm”. Đó chính là lý do mà chúng tôi vững lòng tiến tới, chứ không phải chúng tôi vì sợ hãi nên phải làm hay vì bị ép buộc mà phải làm.

Chúng tôi làm chỉ vì luơng tâm và ý nghĩa cuả công việc. Đó là quan niệm mà chúng tôi vẫn áp dụng cho tới sau này. Bây giờ thì tôi đã trưỏng thành và còn vững chãi hơn, cho nên những lời nào nói không đúng về mình, nhất là trong hoàn cảnh tự do phát ngôn hiện nay thì mình lại càng nghe nhiều điều bịa đặt hơn nữa. Nhưng tiêu chuẩn vẫn là: mình làm những điều ý nghĩa, đúng với lương tâm và lý tưởng của mình thì chẳng có gì để sợ cả, thưa cô.
 
LC: Tôi muốn đuợc hỏi cụ thể, rõ ràng hơn. Ý tôi muốn hỏi là về các đại nhạc hội nhạc trẻ gây quỹ cho Cây Muà Xuân Chiến Sĩ thì mục đích gây qũy đã có ngay từ đầu hay chỉ có sau khi bị chỉ trích, thưa ông?


NL: Thưa cô, chúng tôi có mục đích gây quỹ cho các việc làm có tính cách từ thiện ngay từ đầu, ngay từ khi bắt đầu tổ chức là đã nhằm vào các mục đích đó, nhưng những người chỉ trích thì họ có thể dùng bất cứ lời nào hoặc luận cứ nào để tấn công. Nói tóm lại mục đích gây quỹ giúp cây mùa Xuân chiến sĩ và cô nhi quả phụ là mục đích từ những ngày khởi đầu tiên.

Chính vì mục đích đó nên chúng tôi mới làm, nếu không có mục đích đó thì chúng tôi đã không cộng tác. Thế nhưng nhóm chỉ trích lại bảo là chúng tôi lợi dụng quả phụ tử sĩ để tổ chức đại hội nhạc trẻ, họ có thể dùng bất cứ lời nào, và noí thế nào cũng được! Tôi nghĩ rằng đôi khi vì động lực chính trị làm cho người ta có thể bỏ qua bất cứ ý nghĩa nào, dù đó là những việc làm có tính cách từ thiện để yểm trợ QLVNCH.

♪♫*¨*Kim Quy Sưu Tầm¸¸.*¨*♫♪

Xem thêm...

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA WALTER SCHNAFFS

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA WALTER SCHNAFFS
Văn hào GUY DE MAUPASSANT

*********

 

(Maupassant là con trai của một gia đình Lorraine cao quý.1850. Ông học luật một thời gian ở Paris, tham gia Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870-1871 và từ 1871 làm việc chính thức tại các Bộ của Paris. Kể từ năm 1891, Maupassant sống trong sự xáo trộn tinh thần và qua đời 1893 tại Paris)
1
Từ khi đặt chân lên đất Pháp cùng với đội quân xâm lược, Walter Schnaffs cho rằng anh là người bất hạnh nhất trên đời. Anh ta mập mạp, đi bộ cũng thấy khó khăn, luôn thở phì phò và chịu đựng đôi chân núc ních và to bè của mình một cách ghê gớm.
Ngoài ra, anh là người hiếu hòa và tử tế, không hề vênh váo hay khát máu. Anh lấy một người đàn bà tóc vàng, mà mỗi tối anh luôn luyến tiếc một cách tuyệt vọng những cử chỉ âu yếm, những sự săn sóc vặt vãnh, và những nụ hôn của chị. Anh có được bốn con và rất mực chiều chuộng chúng. Anh thích dậy trễ và đi ngủ sớm, thích ăn chậm rãi những của ngon vật lạ, và uống bia ở các quán. Ngoài ra, anh nghĩ rằng tất cả thứ gì dịu dàng trong đời sống thì sẽ mất đi cùng với cuộc đời; và anh luôn giữ trong lòng một mối thù khủng khiếp, vừa có tính chất bản năng vừa có tính chất lý trí, đối với đại bác, súng trường, súng ngắn và gươm đao, nhưng nhất là đối với lưỡi lê, vì anh cảm thấy không thể sử dụng đủ linh động thứ vũ khí này để bảo vệ cái bụng phệ của mình.

1 Trạm cứu thương trong chiến tranh.

Và ban đêm, khi nằm ngủ trên mặt đất, anh co người trong chiếc áo măng tô bên cạnh những đồng đội ngáy như sấm, anh nghĩ ngợi miên man đến người thân ở nhà, và đến những mối hiểm nguy reo giắc trên đường đi của anh. Nếu anh bị giết, thì bọn trẻ ở nhà sẽ ra sao? Vậy thì ai sẽ nuôi nấng và dạy dỗ chúng? Ngay bây giờ chúng sống không thoải mái lắm, mặc dù trước khi đi, anh để để lại cho chúng ít tiền mà anh đã vay được. Và thỉnh thoảng Walter Schnaffs lại khóc.
Khi bước vào các trận đánh, anh cảm thấy đôi chân mình yếu ớt đến nỗi anh có thể bị quật ngã bất cứ lúc nào, nếu anh không nghĩ rằng cả đội quân sẽ giẫm lên mình anh.Tiếng đạn rít làm anh nổi da gà.
Cứ thế, từ nhiều tháng nay anh sống trong nỗi khiếp đảm và khắc khoải.
Cánh quân của anh tiến về hướng Normandie, và một ngày nọ anh được cử đi trinh sát cùng với một phân đội ít ỏi, chỉ để thăm dò một phần đất của vùng này, và rút về ngay. Ở nông thôn, mọi thứ dường như êm ả; không một dấu hiệu nào cho thấy có sự chuẩn bị cho một cuộc kháng cự.
Thế rồi, những người lính Phổ lặng lẽ đi xuống một thung lũng nhỏ, có những khe suối sâu cắt ngang, thì một tràng súng máy dữ dội chặn họ lại ngay lập tức, làm họ thiệt mạng hơn hai chục người; và một toán du kích bỗng tủa ra từ một khu rừng nhỏ như bàn tay, và lao lên phía trước, súng ống giương lê tua tủa.
Ban đầu, Walter Schnaffs đớ người ra, ngạc nhiên và thất kinh đến nỗi thậm chí anh không kịp nghĩ đến chuyện chạy trốn. Rồi một mong muốn điên rồ là tháo chạy, xâm chiếm đầu óc anh; nhưng anh cũng nghĩ ra ngay rằng mình chạy như rùa, so với những binh lính Pháp mảnh mai, họ chạy nhảy như một đàn dê. Rồi nhận thấy trước mặt khoảng sáu bước có một cái hố rộng, mọc đầy bụi rậm, lá khô, anh chụm chẩn nhảy xuống đó, thậm chí anh không nghĩ đến chiều sâu của nó, như người ta nhảy từ cầu xuống sông vậy.

Như một mũi tên, anh lướt qua một lới dày đặc dây leo và cỏ gai nhọn, chúng cào cấu vào mặt, vào tay anh, và anh té ngồi nặng nề xuống lòng đá.
Anh liền ngước mặt nhìn lên, thấy bầu trời qua cái lỗ anh vừa rơi xuống. Cái lỗ chứng cớ ấy có thể tố cáo anh, và anh thận trọng trườn người dưới đáy hố dưới lớp cành cây chằng chịt, anh tiến nhanh hết cỡ, để tránh xa nơi vừa xảy ra chiến sự. Đoạn, anh dừng lại, và ngồi dậy, ngồi lom khom như một con thỏ rừng ở giữa đám cỏ khô cao.
Một hồi sau, anh vẫn còn nghe tiếng súng nổ, tiếng thét la, và tiếng rên rỉ. Rồi âm thanh hỗn độn của chiến tranh yếu dần, và tắt hẳn. Tất cả lại trở nên lặng lẽ và tĩnh mịch.
Chợt một vật gì chạm vào người anh. Anh đánh thót người vì kinh hãi. Đó là một con chim nhỏ, đậu trên một cành cây, làm những chiếc lá khô lay động. Trong gần một giờ đồng hồ, ngực của Walter Schnaffs vẫn còn đập thình thịch và liên hồi.
Đêm đến, làm khe suối tràn ngập bóng tối. Và anh lính bắt đầu suy nghĩ. Anh phải làm gì bây giờ? Anh sẽ ra sao đây? Trở lại đơn vị?... Nhưng bằng cách nào? Bằng lối nào? Và anh sẽ phải bắt đầu lại cuộc sống khủng khiếp trong khắc khoải, hoảng sợ, mệt mỏi, và đau đớn mà anh đã chịu đựng từ khi chiến tranh bùng nổ? Không anh cảm thấy không còn đủ can đảm để chịu đựng được nữa. Anh sẽ không còn đủ nghị lực cần thiết để chịu đựng những cuộc hành quân và đương đầu với những hiểm nguy từng phút từng giây. nghị lực cần thiết để chịu đựng những cuộc hành quân và đương đầu với những hiểm nguy từng phút từng giây.

3 Những tù nhân chiến tranh Anh giúp quân lính Đức tìm kiếm người chết.

Nhưng làm gì bây giờ? Anh không thể ngồi mãi trong khe đá này, không thể ẩn náu ở đây cho đến khi chiến tranh kết thúc được. Không, chắc chắn như thế. Giá mà anh không cần phải ăn, thì viễn cảnh này sẽ không giày vò anh đến thế; nhưng anh phải ăn, phải ăn hàng ngày.
Và anh ở đó một mình, trên đất địch, mang trên người vũ khí và bộ đồng phục, xa cách với những người có thể bảo vệ anh. Những cơn rung mình cứ chạy trên da thịt anh.
Chợt anh nghĩ “Giá mà ta chỉ bị bắt thôi!”. Và lòng anh rung lên vì mong muốn, một niềm mong muốn dữ dội và ào ạt, được làm tù binh của quân Pháp. Tù binh! Anh sẽ được sống, được cho ăn, cho ở, được che chở khỏi làn tên mũi đạn, trong một nhà tù được canh gác cẩn thận, không còn lo sợ gì cả. Tù binh! Giấc mơ tuyệt vời làm sao!
Và giải pháp ấy được chọn lựa ngay tức khắc.
“Ta sắp ra đầu hàng đây”.
Anh đứng lên, nhất quyết thực hiện chương trình này, không để chậm trễ một phút. Nhưng anh bỗng đờ người vì bị những suy nghĩ bắng nhắng và những nỗi khiếp đảm mới tấn công dồn dập.
Anh ra đầu hàng ở đâu? Bằng cách nào? Về phía nào? Và những hình ảnh ghê tởm, những hình ảnh chết chóc đổ xô đến tâm hồn anh.
Anh sẽ gặp những mối nguy hiểm khủng khiếp nếu anh một mình mạo hiểm đi trên cánh đồng, với chiếc mũ sắt có chõm nhọn.
Nếu anh gặp những người nông dân thì sao? Khi trông thấy một tên lính Phổ đi lạc, một tên lính Phổ không vũ khí, họ sẽ giết như giết một con chó hoang! Họ sẽ tàn sát bằng mỏ sãy, cuốc, liềm, xẻng! Họ sẽ biến anh thành nước xúp; thành thức ăn gia súc, trong cơn hung hăng của những người chiến bại điên tiết.
Còn nếu gặp quân du kích? Những du kích quân này, những kẻ hung hăng, không pháp luật, không kỷ cương, sẽ xử bắn anh để tiêu khiển, để cười cợt. Và anh tưởng chừng như mình đang đứng tựa lưng vào tường, mặt đối diện với mười hai họng súng trường và dường như những lỗ tròng nhỏ và đen ngòm của chúng đang nhìn anh.

Nếu gặp chính quân đội Pháp? Những toán đi tiên phong sẽ cho anh là do thám, là một tên lính gan dạ và lém lỉnh nào đó, đang đi trinh sát một mình, và họ sẽ bắn anh ngay. Và bên tai anh như vang lên những tiếng nổ bất thường của bọn lính đang nằm trong các bụi rậm, trong lúc anh đang đứng giữa cánh đồng, anh khuỵu xuống, mình mẩy bị bắn thủng như một cái rổ và anh cảm thấy viên đạn như đang ngoáy sâu vào da thịt anh.
Anh lại tuyệt vọng ngồi xuống. Tình thế của anh lúc này có vẻ như bế tắc.
Màn đêm câm lặng và đen tối đã phủ kín hoàn toàn. Anh không động đậy nữa, và anh rùng mình mỗi khi có một tiếng động lạ và khẽ khàng trong bóng đêm. Một chú thỏ đập đít xuống miệng hang, suýt làm Walter Schnaffs bỏ chạy. Tiếng chim cú kêu xé nát lòng anh, xuyên thấu vào da thịt anh bằng những cơn sợ hãi bất ngờ và đau đớn, như những vết thương vậy. Anh mở to đôi mắt để cố nhìn trong bóng đêm; và lúc nào anh cũng cảm thấy có tiếng bước chân đang đi bên cạnh mình.


2
Sau những giờ phút dài dằng dặc, và những khắc khoải của tên tội đồ, qua lớp cành cây, anh chợt nhận ra rằng trời đã sáng. Lúc ấy, anh cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng; tứ chi anh chợt thư thái và duỗi ra; lòng anh cảm thấy yên ổn, mắt anh nhắm nghiền lại. Anh ngủ thiếp đi.
Khi anh tỉnh giấc, mặt trời đã ở khoảng đỉnh đầu; có lẽ đã trưa rồi. Không một tiếng động nào quấy phá sự yên tĩnh buồn thảm của đồng quê; và Walter Schnaffs cảm thấy bụng đói cồn cào.
Anh ngáp, miệng ứa nước dãi khi nghĩ đến khúc thịt dồi, một thứ thịt dồi ngon lành của bọn lính; và bao tử anh lại quặn lên. Anh đứng dậy, bước đi vài bước, và cảm thấy rằng đôi chân đã yếu ớt, anh lại ngồi xuống để suy nghĩ. Trong suốt hai ba tiếng đồng hồ sau đó, anh phân vân giữa cái nên và cái không nên làm anh luôn thay đổi giải pháp, anh luôn bị đuối lý, đau đớn, giằng xé bởi những lý lẽ hoàn toàn trái ngược nhau.
Cuối cùng, một ý nghĩ có vẻ hợp lý và tiện lợi, là phải rình người dân làng nào đi một mình, không vũ khí, không dụng cụ lao động nguy hiểm, rồi chạy thẳng đến trước mặt anh ta và nộp mạng, vừa ra hiệu cho anh ta hiểu rằng mình đầu hàng.
Rồi anh bỏ mũ sắt, vì cái chõm nhọn của nó có thể phản bội anh, và anh nhô đầu lên bờ miệng hố, với sự thận trọng vô biên.
Không một người nào xuất hiện lẻ loi ở chân trời. Đằng kia, phía bên phải, một ngôi làng nhỏ đang tỏa khói từ mái nhà lên trời; khói bếp còn đằng kia, bên trái anh thấy một tòa lâu đài lớn chung quanh có những tháp canh bao bọc, vươn lên trên các ngọn cây ven đường.
Anh chờ cho đến tối, anh đau đớn kinh khủng, anh không thấy gì ngoài những chú quạ lượn lờ, không nghe gì ngoài những tiếng kêu réo trong lòng anh.
Và màn đêm lại phủ xuống quanh anh.
Anh nằm dài dưới đáy hầm trú ẩn và thiếp ngủ, một giấc ngủ hâm hấp, đầy những ác mộng, một giấc ngủ của những người đói lả.
Bình minh lại hiện lên trên đầu anh. Anh lại tiếp tục quan sát. Nhưng cánh đồng vẫn trống trải như ngày hôm qua; và một nỗi sợ hãi mới lại xâm chiếm đầu óc Walter Schnaffs, nỗi sợ bị chết đói. Anh nằm dài dưới hố, mặt ngửa lên trời, đôi mắt nhắm nghiền. Rồi những con thú, những loài thú bé nhỏ đủ loại tiến lại gần anh và bắt đầu gậm nhấm anh, cùng một lúc tấn công anh khắp nơi, chúng chui vào quần áo anh để cắn da thịt lạnh ngắt của anh. Và một con quạ to tướng mổ vào mắt anh bắng chiếc mỏ dài ngoằng.
Thế là anh bỗng nổi khùng lên, và nghĩ rằng mình sắp kiệt sức và không cưỡng đi được nữa. Và rồi anh chực lao mình về phía ngôi làng, anh quyết làm tất cả bất chấp tất cả, bỗng anh thấy ba người nông dân vai vác mỏ sãy đang đi ra đồng, và anh lại chúi vào chỗ nấp.
Nhưng khi màn đêm đã phủ kín cánh đồng, anh từ từ chui ra khỏi hố, anh khom người xuống, mặt mày lấm lét, tim đập nhanh, anh tiến về hướng tòa lâu đài xa xa, vì anh thích vào đấy hơn là vào làng, vì làng mạc đối với anh thật đáng sợ như là hang hùm…
Các cửa sổ phòng dưới sáng rực. Thậm chí có một chiếc mở toang; và một mùi thịt chin nóng nực bốc ra vào tận bụng của anh; làm anh co dúm, thở hổn hển, nó quyến rũ anh không gì cưỡng lại được, và tiếp thêm cho anh một sự gan dạ tuyệt vọng.
Và thình lình, anh xuất hiện bên khung cửa, đầu đội mũ sắt, mà không suy nghĩ gì.
Tám gia nhân đang ăn tối bên cạnh một chiếc bàn lớn. Bỗng một chị miệng há hốc, đánh rơi chiếc ly đang cầm trên tay, đôi mắt nhìn đăm đăm. Mọi ánh mắt khác hướng theo ánh mắt chị!
Họ nhận ra kẻ thù!
Chúa ơi! Quân Phổ tấn công lâu đài!
Ban đầu, đó chỉ là tiếng kêu, một tiếng kêu duy nhất do tám cái miệng cùng thốt ra, bằng tám cung bậc khác nhau, một tiếng kêu khủng khiếp vì kinh hoàng, sau đó là một sự náo động, một trận chen lấn, một cơn hỗn loạn, một cuộc tháo chạy tán loạn về phía cửa sau. Bàn ghế ngã đổ, đàn ông hất văng đàn bà, và giẫm lên trên. Trong hai giây đồng hồ, căn phòng trở nên trống rỗng, hoang tàn, trên bàn thì thức ăn ngổn ngang, Walter Schnaffs kinh ngạc đứng nhìn sau khung cửa sổ.
Sau khi do dự trong giây lát, anh trèo qua bức tường và tiến đến các đĩa thức ăn. Cơn đói dữ dội làm anh run lên như người bị sốt rét. Nhưng nỗi kinh hoàng giữ chân anh lại, nó còn làm anh tê liệt tứ chi. Anh lắng nghe. Cả gian nhà dường như rung lên; các cửa nẻo được đóng sầm lại, những bước chân dồn dập chạy trên tầng trên. Anh lính Phổ lo lắng dỏng tai nghe tiếng ồn ào hỗn độn này; đoạn anh nghe những tiếng bình bịch như thể có người ngã xuống đất mềm, dưới chân tường, khi có người nhảy từ trên tầng lầu xuống đất.
Rồi mọi cử động, mọi xáo trộn ngưng bặt, và tòa lâu đài to lớn trở nên im ắng như một nhà mồ.
Walter Schnaffs ngồi xuống một đĩa thức ăn còn nguyên, và anh bắt đầu ăn. Anh ăn ngấu nghiến như thể sợ bị ngăn chặn quá sớm, sợ không thể tọng được đầy thức ăn. Anh dùng hai tay ném thức ăn vào cái mồm há rộng như cái thùng; và từng nắm thức ăn lần lượt rơi vào dạ dày của anh làm cổ họng anh trương lên sau mỗi lượt thức ăn đi qua. Đôi khi anh dừng lại, vì cuống họng chực nổ tung ra như một đường ống quá căng. Anh chộp lấy bình rượu táo lên men và thông ống thực quản như ta thông một đường ống bị tắc nghẽn.
Anh vét sạch tất cả các đĩa, tất cả món ăn, và tất cả chai rượu, đoạn, ngất ngây vì rượu và thức ăn, anh đờ đẫn, mặt đỏ bừng, lại giật nẩy bởi những cơn nấc cục, đầu óc anh rối mù, và miệng anh bóng mỡ, anh cởi nút bộ đồng phục để dễ thở hơn, vì không thể đi được một bước nào. Đôi mắt anh nhắm nghiền, đầu óc rã rời; anh gục chiếc đầu trĩu nặng xuống đôi cánh tay bắt chéo trên bàn, và dần dần anh mất đi khái niệm về mọi sự vật chung quanh.
Mảnh trăng lưỡi liềm cuối tháng tỏa ánh sáng mờ mờ xuống chân trời, trên những hàng cây trong vườn. Đó là khoảng thời gian lạnh lẽo trước bình minh.
Những bóng người lặng lẽ luồn lách trong bụi rậm; và thỉnh thoảng ánh trăng làm một mẩu thép lấp lánh trong bóng đêm.
Tòa lâu đài tĩnh mịch vẫn vươn cao bóng dáng đen đúa của nó. Chỉ còn hai cửa sổ có đèn sáng ở tầng trệt.
Bỗng một giọng vang như sấm gào lên:
“Tiến lên! Mẹ kiếp! Xung phong! Quân sĩ!”
Rồi thì chỉ trong một chốc, các cửa nẻo, các tấm sáo và các cửa kính bị một đợt sóng người tràn vào, họ đập phá, đâm thủng tất cả và ùa vào ngôi nhà. Chỉ trong một chốc, năm mươi binh lính võ trang đầy mình, lao vào nhà bếp, nơi Walter Schnaffs đang yên ổn nghỉ ngơi, và họ chĩa năm mươi họng súng đã lên đạn vào ngực Walter Schnaffs, quật anh ngã xuống, xô anh lăn long lóc, rồi túm lấy anh, và trói anh từ đầu đến chân.
Anh thở khó nhọc vì kinh hoảng, đầu óc thộn ra nhưng không hiểu chi cả, anh bị đánh đập, bị nện bằng sung, và điên lên vì lo sợ.
Và chợt một người mặc quân phục to béo, mang đầy huy hiệu vàng rực trên ngực, nện bàn chân vào bụng anh và quát:
“Anh đã bị bắt làm tù binh, hãy đầu hàng đi”.
Anh lính Phổ chỉ nghe được một tiếng duy nhất: “tù binh” và anh rên lên: “Ya, ya, ya”.
Anh bị dựng dậy, bị cột chặt vào ghế, và bị xoi mói bởi một sự tò mò sôi nổi của những người chiến thắng, bây giờ họ đang thở phì phò như ống bễ. Nhiều người phải ngồi xuống vì rã rời do xúc động và mệt mỏi.
Anh mỉm cười, bây giờ anh mỉm cười, vì an tâm rằng cuối cùng anh đã trở thành tù binh!


3
Một viên sĩ quan khác bước vào và nói:
“Thưa Đại tá, quân địch đã tháo chạy; nhiều tên dường như bị thương. Chúng ta đã làm chủ chiến trường”.
Người mặc quân phục mập đưa tay lau trán, và gào lên: “Chiến thắng!”
Và ông ta móc túi ra một quyển sổ tay bán hàng và viết:
“Sau một cuộc chạm trán ác liệt, quân Phổ phải rút lui, mang theo nhiều đồng bọn bị giết và bị thương khoảng năm mươi tên bị loại ra khỏi vòng chiến. Nhiều tên khác bị bắt làm tù binh”.
Viên sĩ quan trẻ nói tiếp:
“Thưa Đại tá, bây giờ ta phải làm sao đây?”
Viên Đại tá trả lời:
“Chúng ta chuẩn bị rút lui, để tránh cuộc phản công có pháo binh và quân tiếp viện đông đảo”.
Và ông ta ra lệnh rút lui.
Đoàn người lại tập hợp hàng ngũ trong đêm tối, dưới chân tường tòa lâu đài, và lên đường, vừa đi vừa vây quanh Walter Schnaffs bị trói chặt, bị canh giữ, bởi sáu chiến sĩ súng ngắn lăm lăm trong tay.
Họ cử lính trinh sát đi dò đường trước. Họ thận trọng tiến lên, chốc chốc lại dừng quân.
Khi trời vừa hừng sang, họ tiến về thị trấn La Roche-Oysel, địa phương có đơn vị vệ quốc quân vừa hoàn thành chiến công ấy.
Đám dân chúng xôn xao và bị kích động, đang đứng đợi họ. Khi mọi người nhận ra chiếc mũ sắt của tên tù binh, nhiều tiếng reo hò khủng khiếp vang lên. Cánh đàn bà vung tay lên; các bà cụ thì khóc; một ông lão ném chiếc nạng vào tên lính Phổ và làm mũi một anh lính canh bị thương.
Viên Đại tá gào lên:
“Hãy bảo đảm an toàn cho tù binh”.
Cuối cùng, mọi người cũng đến được tòa thị chính. Cửa nhà tù mở ra, và Walter Schnaffs được cởi trói, và bị ném vào trong đó. Hai trăm người vũ trang đầy đủ canh gác chung quanh nhà giam.
Lúc ấy, mặc cho triệu chứng khó tiêu hóa đang hành hạ anh lính Phổ từ hôm qua đến nay, anh vẫn nhảy múa, lòng điên lên vì sung sướng, anh nhảy múa điên cuồng, vừa huơ chân múa tay, vừa la hét cuồng nhiệt, cho đến lúc anh kiệt sức ngã xuống dưới chân tường.
Anh bị bắt làm tù binh! Thoát rồi!
Lâu đài Charnpignet được giành lại từ tay kẻ thù như thế đấy, chỉ sau sáu giờ bị chiếm đóng.
Đại tá Ratier, thương gia bán chăn màn, người chỉ huy đội vệ quốc quân của thị trấn La Roche-Oysel, được ban tặng huân chương.


TRẦN THANH ÁI dịch

Kim Kỳ sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Đôi điều về cách xưng hô của người Việt

ĐÔI ĐIỀU VỀ CÁCH XƯNG HÔ CỦA NGƯỜI VIỆT 

Trần Văn Giang

*******

  Tiên Học Lễ Hậu Học Văn - Sơ Lược Cách Xưng Hô Của Người Việt [VNCH] :-)
 

 Hiện nay, số người Việt sinh sống ở hải ngoại cũng khá đông -có đến 4 triệu người (?) - Có nhiều gia đình đã có 3-4 thế hệ sống bên ngoài Việt Nam. Vấn đề là các thế hệ trẻ ở hải ngoại rất lúng túng trong cách xưng hô khi phải cố gắng dùng tiếng Việt trong các giao tiếp gia đình và xã hội.

Nếu đã nói tiếng Việt trôi chảy, chúng ta thấy ngay trong cách xưng hô tiếng Việt, chẳng hạn qua sự đối thoại trò chuyện giữa hai người, chúng ta có thể biết qua mối quan hệ, sự tôn trọng, thái độ, giới tính và tình cảm giữa họ; trong khi trong Anh ngữ, sự hiêu biết về các tương quan như vậy rất khó mà biết ngay được!

 Bài sưu tập nhỏ này có hai mục đích:

1- Nêu lên vài cách xưng hô cần thiết, đã được chấp nhận và dùng rộng rãi bởi số đông.
2- Người viết mạo muội đề nghị một vài phương cách đơn giản hóa và dân chủ hóa sự xưng hô với mục đích giảm thiểu sự lầm lẫn, khinh miệt vô cớ…

Người viết, ở tuổi 68, trông cậy vào sự chỉ giáo và sửa sai của các độc giả uyên bác về vấn đề “văn hóa” nặng ký này.

TVG

*******

Gần đây, trong một buổi họp báo tại thành phố Westminster, Orange County, California của Ông Tạ Đức Trí, đương kim Thị trưởng Mỹ gốc Việt, 44 tuổi sinh năm 1973 (?) có một ông người Việt trung niên muốn nếu lên một câu hỏi và gọi Ông Tạ Đức Trí là “Anh Thị Trưởng (?)” Dù là vô tình hay cố ý, đây là một sự xưng hô cẩu thả rất đáng trách; nhất là khi chúng ta luôn miệng nói rằng Việt cộng (v-xi) là “vô văn hóa / kém văn hóa v..v..” Theo tôi, Ông Tạ Đức Trí là một người đáng kính, với chức vụ Thị Trương dân cử của một thành phố khá lớn (Thành phố Westminster có 92,000 dân, trong đó 47.5% là gốc Á châu), không thể “được” một công dân thành phố gọi một cách hỗn hào là “Anh” - ngoại trừ em trai của Ông Trí có thể làm như vậy thôi…

Tương tự, chúng ta không thể đứng ngay giữa công đường (không phải bàn nhậu) mà gọi “Anh Tổng thống này” hay “Anh Thống đốc nọ…” nghe chẳng những rất kỳ cục mà còn chứng tỏ người nói có một tư cách thiếu hẳn giáo dục tối thiểu. Nên biết vi-xi thường gọi “Thằng Diệm,” “Thằng Thiệu,” “Thằng Kỳ,” “Thằng Ních-xơn,” “Thằng Dơn-sơn…” đồng thời vi-xi gọi “Bác Hồ,” “Bác Tôn,” “Bác Mao…” Nhưng bây giờ, vì gió đã đổi chiều, vi-xi lại quay đầu 180 độ khúm núm trơ trẽn gọi Ông Ted Osius dù chỉ là Đại sứ Hoa kỳ ở Việt Nam là “Ngài Đại sứ?!” (Người viết xin nhắc là “Ngài Đại sứ” còn bé / rất nhỏ bé so với “Thằng Tổng Thống” đấy các “bác vi-xi” à!)

Một vài thí dụ nho nhỏ được nêu ra ở trên để cho chúng ta thấy vấn đề xưng hô bằng tiếng Việt hôm nay cần phải được nhắc nhở sao cho đúng cách, không thể gọi tùy hứng bừa bãi; cũng có nghĩa là xưng hô vừa phải không cao quá đáng kịch cỡm; mà cũng không quá thấp đến mức độ thiếu giáo dục.

Đây là cả vấn đề văn hóa Việt chứ không riêng cho tiếng Việt. Đã đề cập đến văn hóa thì rất tinh tế. Xưng hô cho đúng không phải là chuyện dễ dàng, không cần học hỏi, bởi vì tiếng Việt dùng nhiều danh từ (nouns) khác nhau tùy theo quan hệ quen biết, tuổi tác, chức vụ, nghề nghiệp, tôn giáo, và tình trạng hôn nhân để gọi nhau thay vì chỉ dùng một số “đại danh từ” (pronouns) như trong tiếng Anh (You/me – Mày / Tao; Bạn / Tôi) và tương tự trong tiếng Pháp (Je/moi/tu/toi)… Ngoài ra, trong văn viết, đơn từ, thư tín v..v.. vấn đề xưng hô còn phức tạp hơn nhiều; không thể nói hết ra ở bài viết ngắn này.

Tôi đã đọc qua nhiều bài khảo cứu khá công phu của nhiều học giả khác nhau về vấn đề xưng hô. Tôi xin phép được trích ra từ một số tài liệu đã có sẵn rồi thu gọn lại cộng với một ít kinh nghiệm bản thân để đem đến cùng quý vị quan tâm suy gẫm, khuyên bảo nếu cần.

 
I- Danh xưng và cách xưng hô trong gia đình Việt nam

Khi nói chuyện với người lớn tuổi hơn mình, tốt hơn là phải luôn luôn dùng cách “thưa gửi” và “gọi dạ bảo vâng” chứ không bao giờ nói trống không với người trên, lớn tuổi, cao cấp hơn. Người Việt chúng ta thường dùng tiếng “thưa” trước khi xưng hô với người ở vai trên mình, chẳng hạn như: “Thưa mẹ con đi học…” Đồng thời khi trả lời hoặc thưa điều gì với người lớn hơn mình bắt đều với chữ “Dạ, Vâng, Ạ” ” để tỏ vẻ kính trọng và lễ phép. Thí dụ: “Chào Cô ạ!” “Vâng ạ!”

Trong cách xưng hô với người ở vai trên, chúng ta tránh không gọi tên tục (tên cha mẹ đặt cho) của ông bà, cha mẹ, cô cậu, dì dượng, và chú bác. Chúng ta chỉ xưng hô bằng danh xưng ngôi thứ trong gia đình mà thôi. Chẳng hạn, ta chỉ nói đơn giản là: “Mời Chú ăn cơm…” mà không gọi tên tục của Chú ra trong lời mời.

Trong cách xưng hô với anh chị em, chúng ta có thể dùng chữ Anh, Chị hay Em trước tên hay ngôi thứ. Thí dụ: “Anh Tuấn đi vắng… “ v..v.. Các em nhỏ không được phép gọi anh chị bằng tên trống không. Tuy nhiên, anh chị có thể gọi các em bằng tên trống không hoặc tên có thêm chữ ngôi thứ vào. Thí dụ “Em An đi lấy cho anh cây viết” hay “An lấy cho anh cây viết” đều được cả.

Những người con trong gia đình gọi nhau bằng “mày” và xưng “tao” là do lỗi của bố mẹ không dạy bảo các con ngay từ khi chúng còn nhỏ. Các con gọi nhau bằng mày xưng tao mãi rồi thành thói quen. Khi đã thành thói quen thì chúng không thể đổi cách xưng hô cho đúng phép được.

Cha mẹ nên dạy con cái về cách xưng hô ngay từ khi con trẻ còn nhỏ. Muốn chúng chào ai, cha mẹ phải nói cho chúng biết cách chào và bắt chúng lập lại nhiều lần khi bắt đầu.

 
A- Bậc Trên Cấp Cha Mẹ

Người sinh ra ta được gọi là Cha Mẹ. Cha mẹ của Cha mẹ, Cô, Dì, Chú, và Bác của chúng ta được gọi là Ông Bà. Cha mẹ của Ông bà được gọi là Cụ. Cha mẹ của Cụ được gọi là Kỵ. Các Ông cha đời trước nữa được gọi là Tổ Tiên. Cha Mẹ sinh ra Các Con.

- Bậc bề trên trên cha mẹ nói chung: Ông bà tổ tiên.
- Theo thứ tự thời gian: Ông-Bà-Cố-Tổ, Tằng tổ, Cao tổ.
- Cha mẹ của Cha hoặc của Mẹ: Ông, Bà (nội hoặc ngoại).

Xưng hô với các bậc trên cấp Cha Mẹ này thì dùng chữ Cháu.
Ở ngôi thứ ba, tương quan với bậc từ Cố trở lên thì gọi là Chắt.
Ở một vài tỉnh miền Trung Ông Bà còn được gọi là "Ông Mệ.”

B- Cha Mẹ, Con Cái, Anh Chị Em, Vợ Chồng

1) Cha Mẹ Ruột
Cha Mẹ ruột được gọi rộng rãi qua nhiều danh từ như:
Bố mẹ, Cha mẹ, Ba má, Tía Má, Thầy U, Song thân…
Trong trò chuyện thân mật ở ngôi thứ ba thì gọi là “Ông Bà già tôi,” Các Cụ chúng tôi, Ông Bà Nội các cháu (hoặc Ông Bà Ngoại các cháu) v..v..
- Cha: Cả 3 miền Bắc Trung Nam đều gọi là Cha, Ba. Ttrong văn chương và ngôi thứ ba còn gọi là Thân phụ, ông Cụ Thân sinh… trong trò chuyện thân mật ở ngôi thứ ba thì gọi là “Ông già”;
Bắc: Bố, Thầy, Cậu. Ngôi thứ ba thì gọi “Ông Cụ nhà tôi”;
Nam: Tía;
Trung: một vài nơi gọi Cha bằng Chú.
- Mẹ: Cả 3 miền gọi là Mẹ. Trong văn chương và ngôi thứ ba còn gọi là Thân mẫu, Bà Cụ Thân sinh, Bà Cụ chúng tôi... “Bà già”;
Bắc: Me, Mẹ, U, Bu, Đẻ, Cái, Mợ;
Nam: Má; Vú, Bầm.
Trung: Mạ, Mệ
Trước đây trong chế độ đa thê, người con ruột gọi mẹ mình bằng Chị (?) nhưng gọi bà vợ chính của cha mình bằng Mẹ.
- Cha mẹ gọi con ruột mình là Con. Nhưng người Bắc thường xưng hô với con trai và con gái đã lớn tuổi, hay có gia đình rồi, của mình bằng Anh và Chị.

2) Cha Kế / Mẹ Kế
- Chồng của Mẹ (mà không phải cha ruột mình) gọi là Dượng; người Trung còn gọi là Trượng.
- Vợ của Cha (mà không phải mẹ ruột mình) gọi là Dì (ghẻ); Nếu là vợ chính của cha, trong chế độ gia đình xưa thì gọi là Mẹ.

3) Cha Mẹ Vợ
Cha mẹ vợ gồm có: Ông Bà Nhạc, Ông Nhạc, Bà Nhạc, Cha Mẹ vợ, Cha vợ, và Mẹ vợ, v.v.
Tiếng gọi Cha Vợ khi nói chuyện với bạn bè thân gồm có: Nhạc Phụ, Nhạc Gia, Bố Vợ, Ông Nhạc, Ông Ngoại các cháu, v.v.
Tiếng gọi Mẹ Vợ khi nói chuyện với bạn bè gồm có: Bà Nhạc, Bà Ngoại các cháu, Nhạc mẫu, v.v


4) Anh Chị Em Ruột
- Anh: Cả 3 miền đều gọi Anh. Trong văn chương ở ngôi thứ ba là Bào huynh.
Trung: một vài nơi gọi là “Eng” (?)
Người anh đầu lòng người Bắc gọi là Anh Cả, người Nam gọi là Anh Hai.
- Chị: Cả 3 miền gọi là Chị.
Trung: một vài vùng gọi là Ả.
- Em trai, Em gái: Cả 3 miền gọi là Em. Trong văn chương gọi là bào đệ, bào muội.
Trung: Út. Nếu người Trung gọi em là Út, thì chữ Út nầy được người Nam và người Bắc hiểu là người em cuối trong gia đình. Người Trung dùng chữ “Tui” (là chữ Tôi nhưng âm hưởng là Em) để xưng hô với anh chị mình.

5) Anh Chị Con Cháu Qua Hôn Phối (in-laws)
- Chồng Chị và Chồng Em gái gọi là Anh Rể và Em Rể. Vợ anh và Vợ em trai gọi là Chị Dâu và Em Dâu.
- Vợ con trai mình gọi là Con Dâu, chồng con gái mình gọi là Con Rể.
- Cha, mẹ, anh, chị, em (của) chồng gọi là Cha chồng, Mẹ chồng, Chị chồng, Anh chồng, Em chồng. Cha, mẹ, anh, chị, em (của) vợ gọi là Cha Vợ, Mẹ Vợ, Anh Vợ, Chị Vợ, Em Vợ.
Nên biết thêm: Khi xưng hô với nhau giữa hai người thì các chữ Rể, Dâu, Chồng, Vợ sẽ mất đi (Ví dụ Con Dâu nói với Mẹ Chồng: " Con xin phép Mẹ"; hoặc Cha Vợ với con Rể: “Cha nhờ con việc nầy") - Khi nói với người thứ ba thì thêm “Rể... tôi”: Con Rể tôi, Con Dâu tôi, Cha Chồng (vợ) tôi, Mẹ Chồng (vợ) tôi.

Cách xưng hô trong quan hệ vợ chồng của người Việt - 1
6) Vợ Chồng
Tình vợ chồng người Việt rất đằm thắm, chân tình. Họ đối đãi với nhau rất lịch sự và tương kính.
Tiếng xưng hô của Chồng với Vợ trong gia đình gồm có: Em, Cưng, Mình, Bu nó, Má mày, Má nó, Má thằng cu, Mẹ nó, Bà, Bà nó, Mợ, Mợ nó, Mình, Bậu, v.v.
Tiếng Chồng gọi Vợ trong khi nói chuyện với người khác gồm có: Nhà tôi, Bà nhà tôi, Má tụi nhỏ, Má sắp nhỏ, Má bày trẻ, Tiện nội, Nội tướng tôi, Bà xã, Bà xã tôi, Vợ tôi, v..v..
Tiếng xưng hô của Vợ với Chồng trong gia đình gồm có: Anh, Cưng, Anh nó, Ba, Ba nó, Bố, Bố nó, Bố mày, Bố thằng cu, Ông xã, Cậu, Cậu nó, Ông, Ông nó, Mình, v.v.
Tiếng Vợ gọi Chồng trong khi nói chuyện với người khác gồm: Nhà tôi, Ông nhà tôi, Ba tụi nhỏ, Ba sắp nhỏ, Phu quân tôi, Ông Xã, Ông Xã tôi, Ông Chồng tôi, Anh ấy, v.v.

Nên biết thêm: Tại một vài nơi ở miền Trung người ta gọi Cha hoặc Mạ và thêm tên đứa con đầu: chẳng hạn đứa con đầu tên Long thì vợ gọi chồng là “Cha thằng Long”; chồng gọi vợ là “Mạ thằng Long”; và người ngoài xung hô là “ông Long,” “Mụ Long” chứ không gọi tên thật (còn gọi là tên tục).

Những cặp vợ chồng đứng đắn, có giáo dục không bao giờ gọi nhau bằng “Mày,” “Thằng đó,” “Con đó” và xưng “Tao.” Họ tìm những lời lẽ dịu dàng đầy tình cảm yêu thương để gọi nhau. Chính vì thế mà tiếng xưng hô giữa vợ chồng người Việt có rất nhiều, hơn xa tiếng xưng hô của vợ chồng người Tây phương.

C- Anh Chị Em của Cha Mẹ, Anh Chị Em Họ
- Anh của cha: Cả 3 miền gọi là Bác.
- Vợ của anh cha: Cả 3 miền gọi là Bác.
- Em trai của cha: Cả 3 miền gọi là Chú.
- Vợ em trai của cha: Cả 3 miền gọi là Thím.
- Chị của cha: Bắc gọi là Bác; Trung, Nam gọi Cô (hoặc O)
- Chồng chị của cha: Bắc gọi là Bác; Trung, Nam: Dượng (hoặc Trượng)
- Em gái của cha: Bắc, Nam gọi Cô; Trung gọi O.
- Chồng em gái của cha: Bắc gọi Chú; Nam, Trung gọi Dượng (hay Trượng)
- Anh trai của mẹ: Bắc gọi Bác; Nam, Trung gọi Cậu - người Trung còn gọi “Cụ” (?)
- Vợ anh trai của mẹ: Bắc gọi Bác; Trung, Nam gọi Mợ - người Trung còn gọi là Mự (?)
- Em trai của mẹ: Cả 3 miền gọi là Cậu - người Trung còn gọi là Cụ.
- Vợ em trai của mẹ: Cả 3 miền gọi là Mợ - người Trung còn gọi là “Mự.”
- Chị của mẹ: Bắc gọi Bác; Trung, Nam gọi Dì.
- Chồng chị của mẹ: Bắc gọi Bác; Trung, Nam gọi Dượng (Trượng).
- Em gái của mẹ: Cả 3 miền gọi là Dì.
- Chồng em gái của mẹ: Bắc gọi Chú; Trung, Nam gọi Dượng (Trượng)
- Anh chị em họ: Cả 3 miền vẫn gọi là Anh, Chị, Em như anh chị em ruột. Nhưng cấp bậc anh chị họ có nơi dựa trên tuổi tác cá nhân, có nơi, đặc biệt ở miền Trung, thì tùy vị thế trên dưới của các bậc cha mẹ. Chẳng hạn người con của chú mình dầu lớn hơn mình cả 20 tuổi nhưng vẫn gọi mình bằng Anh và mình gọi lại bằng Chú (tức là Chú em).
- Bác, chú cô dì... gọi các con anh em mình bằng Cháu.

Trong cách xưng hô với anh chị em của cha mẹ, người Bắc ưu tiên tuổi tác khi gọi anh, chị cha và mẹ là Bác, và cấp nhỏ là Chú Cậu Cô Mợ và chứ không dùng chữ “Dượng.”
Nên biết thêm: Người Nam và Trung ưu tiên về nội ngoại, thân sơ. Dì thì luôn bên ngoại dù tuổi cao hay thấp, Cô (hoặc O) thì luôn bên nội dù là chị hay em của cha. Chú thì chỉ dùng cho em cha, thuộc bên nội thôi. Người không thuộc dòng máu cha mẹ thi gọi là Dượng (hay Trượng), Mợ, Thím để phân biệt với Bác Trai, Chú, Cô, Cậu là anh em ruột thịt. Chỉ có cách gọi Bác Gái (vợ anh trai của cha) là một ngoại lệ.



II- Xưng Hô ngoài xã hội

Ngoài xã hội, cách xưng hô từ trường học, cơ quan chính phủ, sở làm cho đến chợ búa thực ra không có một quy tắc, nguyên tắc hay định luật nào nhất định viết trên giấy tờ. Cách tốt (và an toàn) nhất là dù ở hoàn cảnh nào, vị trí nào, mình luôn luôn khiêm tốn, lịch sự, lễ phép, tình cảm và tế nhị; tránh làm phật lòng, xúc phạm người khác. Kết quả của sự cẩu thả, tủy tiện có thể gây đổ vỡ thiệt hại cho bản thân mình và người khác. Nên nhớ là “Golden Rules” (“So in everything, do to others what you would have them do to you” - Matthew 7:12” - Đừng làm cho người khác những gì mình không muốn người khác làm cho mình”) sẽ là chân lý cần thiết muôn đời: Tôn trọng người thì người sẽ tôn trọng mình là vậy.
1) Xưng hô ở nơi công cộng, chợ búa

Đây là hoàn cảnh dễ gây lúng túng nhất cho chúng ta bởi vì đối tượng là người xa lạ. Trường hợp này chúng ta phải tùy thuộc vào sự quan sát và ước đoán về tuổi tác và giới tính mà xưng hô. Điều cần nhất vẫn là phải khiêm tốn lễ phép và tế nhị. Tôi đề nghị một điều “Nếu mình ở thế kẹt, không biết phải xưng hô như thế nào cho phải phép, cho thỏa đáng thì cứ mạnh dạn hỏi người mình đang phải nói chuyện là mình nên gọi họ như thế nào?” Người Mỹ họ hay làm như vậy (“What should I call you?”); rất an toàn.

2) Xưng hô ở Trường Học

Văn hóa Việt Nam đề cao việc học hành và sự giáo dục; đồng thời kính trọng người dạy dỗ; xếp hạng và nâng cao bậc “Thầy, Cô” lên trên cả cấp sinh thành (bậc cha mẹ). Thành ra, lễ phép trong việc xưng hô với Thầy Cô là chuyện phải làm. Kể ra, xưng hô với Thầy Cô cũng đơn giản: “Thưa Thầy,” “Thưa Cô…” không gọi Thầy Cô bằng tên tục. Chúng ta có thể xưng Em (hay Con) là đủ. Ngay cả trường hợp ở dưới quê, học trò đi học trễ tuổi nên tuổi tác gần như suýt soát với Thầy Cô nhưng vẫn phải xưng hô với Thầy Cô như các học trò nhỏ khác. Ở bậc Đại học thì có vẻ thông thoáng hơn. Sinh viên còn có thêm thông lệ xưng hô với Thầy Cô qua học hiệu như “Thưa Giáo Sư,” Thưa Tiến sĩ…” Sinh viên lớn tuổi có thể xưng “Tôi” thay vì “Em” hay “Con.”

3) Xưng hô ở sở làm, tại các cơ quan chính quyền

Sở làm, nhất là công sở, không phải là gia đình do đó các nhân viên nam hay nữ phải thẳng thắn dùng đại danh từ cho ngôi thứ nhất là “Tôi” - không có ngoại lệ. Ngôi thứ hai (đối tượng được gọi) có thể được gọi là Ông, Bà hay Ông, Bà cộng thêm chức vị (Thí dụ: Ông Giám đốc, Bà Chủ Tịch Ban Quản Trị…). Tuyệt đối không dùng các danh xưng có tính cách thân mật quen thuộc của gia đình như Chú, Bác, Cô, Dì, Cậu Mợ, Thím, Anh, Em, Con, Cháu v.v.. Chuyện đáng buồn là ngày nay cách gọi thiếu dân chủ, thiếu đứng đắn, thiếu chuyên nghiệp loại này đã lan tràn qua mọi ngõ ngách lớn nhỏ của công sở đến cả các cấp cao nhất của chính phủ cộng sản và cả ngoài xã hội dân sự.
Tôi xin trích một đoạn đối thoại trong một cuộc họp báo tầm quốc gia về vấn đề lớn (đó là “cá chết / môi trường”) có tính cách quốc tế giữa ông Võ Tuấn Nhân, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên Môi Trường của vi-xi và một phóng viên báo chí trong nước như sau:

Phóng viên:
- Không. Không. Em chỉ hỏi là mình nên đưa ra một cái mốc thời gian…
Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường Võ Tuấn Nhân ngắt lời:
- Không. Không. Để cho anh nói hết. Nói riêng với em…

Trới đất! “Anh-Anh/Em-Em” cái nỗi gì ở chỗ đang nói chuyện đứng đắn và chuyên nghiệp này… Đây đâu có phải là lúc nói chuyện thường tình mà cứ phải dùng cái “văn hóa du kích” khi còn đắp mô đặt mìn chặn xe đò trong sự nghiệp “chống mĩ cứu nước,” hay lúc tình cờ gặp nhau khi đang khiêng tải đạn dược, chuyển quân dụng ở trên “đường mòn hồ chí minh” dưới “địa đạo củ chi?!” Tương tự, một vấn đề đã nêu ở trên của một ông người Việt tị nạn gọi Thị Trưởng Tạ Đức Trí là “Anh Thị trưởng” cũng sai trái y hệt như vậy thôi: Hoàn toàn thiếu đứng đắn và rất chướng… Nghe rất bịnh.

III- Vài đề nghị thay đổi cách xưng hô

Qua sự phát triển nhanh chóng của khoa học và kỹ thuật, nhất là kỹ thuật tin học, chúng ta có cơ hội tiếp cận với các văn hóa lớn ngoài Việt Nam chỉ qua vài cái “bấm” trên “con chuột điện tử.” Có nhiều cái hay của họ mình nên học hỏi; đồng thời những cái gì tốt, những cái có tính cách cá biệt bản sắc dân tộc Việt Nam, chúng ta cần phải duy trì và phổ biến đến họ. Chúng ta sẵn sàng hòa nhập và hội nhập nhưng nhất định không chịu (để) văn hóa 4000 năm của mình hòa tan (melting) vào những văn hóa lớn rồi bị tiềm thực. Tuy vậy, không nên quá bảo thủ: Cái hay cần học hỏi; cái dở nên bỏ bớt đi. Chúng ta không cần một cuộc cách mạng văn hóa mà chỉ cần một sự thay đổi thận trọng để thích hợp; nhất là cần một sự dân chủ hóa các lối gọi, xưng hô ở cơ quan chính quyền và ngoài xã hội. Người dân đen yếu nhỏ bé thiếu quyền lực, cũng như giới trẻ thiếu kinh nghiệm không thể bị gọi người lớn, cấp trên một cách thấp cấp khinh miệt như “Mày, “Chúng mày,” “Em,” “Cháu…”
“.. còn trời còn đất còn non nước,
có lẽ ta đâu mãi thế này.”
(NCT)
“… lời nói không mất tiền mua,
lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”
(Ca dao)

Trần Văn Giang
Orange County, ngày 24 thàng 2 năm 2017
___________
Tham khảo

-“Xưng Hô Trong Gia Đình Việt Nam” – Nguyễn Đăng Trác
-“Cách Xưng Hô Trong Gia Đình Việt Nam” – Cao Thu Cúc
-“Quan hệ Gia Đình Làng Xóm của Người Quảng Ngãi” - Địa Dư Chi Quảng Ngãi
-“Cách Xưng Hô và Quan Hệ Trong Gia Đình Dòng Họ” - Đinh Khắc Thiện

 Kim Phượng st

 

Bài văn mẫu giải thích câu tục ngữ tiên học lễ hậu học văn  

 
 

 

Xem thêm...

Nguyễn Du và Tình yêu - Vũ Khắc Khoan

Nguyễn Du và tình yêu 

 Vũ Khắc Khoan,

… Ta cũng nòi tình… 
(Chu Mạnh Trinh)

Tôi thường ao ước được đọc một thiên tình sử kể lại tóc tơ những cuộc tình duyên của tác giả Đoạn trường tân thanh. Tôi linh cảm rằng Nguyễn Du đã yêu, phải biết yêu, đã có nhiều suy nghĩ về tình yêu. Nhưng cho đến bây giờ, cả một phần sống – phức tạp nhất, dễ thương nhất – của một trang phong lưu công tử “văn chương nếp đất” “người mẫu” và đồng thời người sáng tạo những nét hào hoa Kim Trọng, cả phần sống đó vẫn còn im lìm lên bụi, mờ loãng trong thời gian xa thẳm không bao giờ trở lại. Người tình nhân họ Nguyễn đã tự lâu nhượng chỗ cho một pho tượng thi bá với một nhãn hiệu “Hoài niệm Lê triều” (làm như bình sinh, Nguyễn Du chỉ có một hoài niệm Lê triều!)

Nhưng đọc Đoạn trường tân thanh, đọc lại nhất là những vần mô tả tình yêu, theo dõi những cuộc tình duyên trong tác phẩm, rồi chắp nối, hàn gắn, tưởng tượng, tôi tự an ủi có thể một phần nào tìm thấy dấu vết những suy tư của họ Nguyễn về một thứ duyên nợ của kiếp làm người: Tình yêu. Những suy tư đó – hay cho đúng danh từ thời thượng – luyến ái quan đó chắc là phức tạp, chắc là phong phú.

 Người được yêu nhiều nhất trong cuộc đoạn trường đến nỗi mang tiếng là “mắc điều Tình ái…” chính thị nhân vật của tác phẩm: Thuý Kiều. Đó là điểm trung tâm của rất nhiều quay cuồng ham muốn, nạn nhân của biết bao là vật lộn tranh giành, đó cũng lại là đầu mối của tình yêu hiện ra muôn hình vạn trạng, tùy theo từng trường hợp, tùy theo từng nhân vật nhập cuộc. Lấy tình yêu làm tiêu chuẩn, đọc Đoạn trường tân thanh, tôi thấy rõ được làm khán giả một vũ khúc mà người vũ nữ Thuý Kiều phải dấn bước cho tới nhịp nhạc Bạc mệnh cuối cùng. Mỗi bước của nàng tiêu biểu cho một bộ mặt của Tình yêu: từ bước tình đầu e ấp chàng Kim, qua bước tình hám [1] nhầy nhụa sa lầy họ Mã, bước tình si [2] Thúc Sinh, những bước dập dìu ong bướm, bước tình hiệp [3] người trượng phu Từ Hải, bước tình hèn quay quắt viên đại tướng họ Hồ, đến bước mơ hoảng lão Thổ quan.

Đến đây vũ khúc chợt ngừng: ngọn triều Tiền Đường đã trùng trùng nổi sóng. Bản nhạc Bạc mệnh giữ một phút yên lặng để bắt đầu đi vào khúc chót, ý nhạc chuốt giáng vươn tới một âm giai chót vót. Thuý Kiều bước những bước cuối cùng của vũ khúc, những bước trinh nữ đăng đàn cầu nguyện. Dáng điệu cuối cùng của vũ khúc Tình yêu là một dáng điệu mặc niệm.

tranh kiều6

Nguyễn Du trình bày khách quan một thực tại. Trong cái thực tại đa dạng đó Nguyễn Du đã chọn lựa riêng cho mình một quan niệm. Quan niệm này tất nhiên chung đúc trọn vẹn vào mối tình đẹp nhất, mối tình gây được nhiều thiện cảm nhất trong tác phẩm. Mối tình nào?

Loại trừ tất cả những gặp gỡ bất đắc dĩ với Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Hạnh, Hồ Tôn Hiến và lão Thổ quan, chỉ còn lại 3 mối tình đáng kể: Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải với Kiều. Tôi có thể loại nốt cả hai mối tình sau. Như vậy là vì nhiều cớ. Cớ thứ nhất là do cái lý thông thường hiểu nghĩa chữ yêu. Tình yêu không thể đơn độc một chiều. Tình yêu chỉ có nghĩa khi người trong cuộc cùng đồng thanh xướng hoạ. Thúc Sinh có thể say mê Thuý Kiều, nhưng đáp lại Thúc, Kiều chỉ cảm thấy cái ý nghĩa lứa đôi. Từ Hải có thể thành thật yêu Kiều, nhưng đối với Từ, Kiều chỉ có lòng kính phục. Cớ thứ hai là do sự bất bình đẳng của người trong cuộc. Đối với Thúc và Từ, Kiều luôn luôn phải mang mặc cảm hàm ơn. Cớ thứ ba là do sự vắng mặt của một điều kiện căn bản của Tình yêu: sự tự do. Trong cái cảnh địa ngục lầu xanh tù hãm, Thuý Kiều không thể không hưởng ứng lời đề nghị của Thúc và Từ. Nói một cách khác, Thuý Kiều không có quyền chọn lựa bởi không thể từ chối.

Ba cái cớ vừa nêu lên lại là ba điều kiện tất yếu để tình yêu nảy nở. Ba điều kiện đó tôi nhận thấy đầy đủ trong mối tình Kim Kiều. Vậy theo dõi những bước tiến triển của mối tình này, ta chắc chắn sẽ gặp được những suy tư của Nguyễn về tình yêu.

tranh kiều4

Trước hết, về mọi phương diện phải công nhận rằng hai bên Kim Kiều đã rất xứng đôi vừa lứa. Tài ngang nhau, sắc ngang nhau, gia thế xấp xỉ như nhau, cả hai thẳng thắng vô tư đối diện: điều kiện bình đẳng đã trọn vẹn. Thế rồi hai bên ngẫu nhiên gặp gỡ. Sự lựa chọn hoàn tất trong một không khí tự do không ràng buộc hoàn cảnh, không ảnh hưởng tinh thần…

Người ta có thể nghĩ rằng Kim Trọng đã lưỡng lự khi nhận thấy:

Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai…

nhưng trong khoảng thời gian từ lúc:

Khách đà xuống ngựa…

đến lúc:

… tới nơi tự tình.

Nhưng trong thời hạn tâm lý giữa hai vần thơ liên tiếp:

Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai, 
Người quốc sắc, kẻ thiên tài…

thì Kim đã phải thôi do dự, Kim đã chọn, Kim đã yêu. Bởi Kiều cũng đã chọn, và Kiều cũng đã yêu. Cả ba điều kiện tất yếu họ Nguyễn đề ra thật đã hiện diện đầy đủ trong bước đầu Kim Kiều chập chững đi vào tình yêu. Tình yêu nở hoa trong yên lặng, trong tự do, trong sự đồng tình, giữa đôi lứa xứng đôi:

Người quốc sắc, kẻ thiên tài, 
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e. 
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê…

Chiều đã xuống tự lâu, có thể đêm đã bảng lảng bắt đầu. Nhưng trời đất chợt rung động trước mối tình vừa bén:

Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha…

Như đã nói ở trên, bước đầu chập chững đã qua. “Tiếng sét ái tình” giờ đây chỉ còn lại dư âm. Người trong cuộc có thể nhớ nhung canh cánh bên lòng, “nhớ cảnh, nhớ người”, “nhớ nơi kỳ ngộ” lại cũng có thể thẫn thờ ngắm một ngọn hải đường lả ngọn, lặng nghe những giọt sương đêm gieo nặng ngoài trời, gieo nặng trong lòng bề bộn, thẫn thờ tự hỏi:

Người đâu gặp gỡ làm chi…

Nhưng nếu người trong cuộc không có cơ hội gặp nhau, gần nhau, hiểu nhau, nếu bước đầu tình yêu bồng bột không được tiếp nối bởi những bước xây dựng tiếp theo, kết tinh qua một thời gian thử lửa thì… tình yêu mặc dầu có nở hoa, hoa tình yêu rồi ra cũng phải thui chột. Một tâm hồn đa tình như Nguyễn tất phải biết đến điều đó cho nên liền ngay cuộc gặp gỡ ngày hội Đạp thanh – giai đoạn thứ nhất – sẽ liên tiếp là 4 lần gặp gỡ.

Bốn lần gặp gỡ này hợp thành giai đoạn thứ hai của tình yêu tiến triển, giai đoạn đôi bên xây dựng tình yêu, giai đoạn của tình yêu kết tinh.

Lần thứ nhất là lần gắn bó: hai bên đối thoại, nói lên với nhau hai chữ yêu nhau:

Rằng trăm năm cũng từ đây…

Lần thứ nhì gây cơ hội phô tài để hai bên đi sâu vào sự hiểu nhau. Chàng Kim có dịp phô tài hội hoạ, Thuý Kiều cũng nhân dịp đáp lại, đã để cho người yêu chính mắt nhìn thấy mà thầm phục cái tài “nhả ngọc phun châu” của mình:

Tay tiên gió táp mưa sa…

tranh kiều3

Cũng trong lần này, Kim Trọng lại còn hiểu thêm người yêu trong tận cùng tiềm thức: Kim biết Kiều luôn luôn bị ám ảnh bởi một mặc cảm: mặc cảm đoạn trường:

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn, 
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà hay…

Lần thứ ba là lần thử lửa: người trong cuộc sẽ cùng nhau cảm thông trọn vẹn. Lúc bấy giờ đêm đã vào khuya, trăng xế đầu cành, thư phòng vắng vẻ, Kim Kiều đối diện. Bản đàn Bạc mệnh vừa buông tiếng cuối cùng: dư âm còn ngân vang, còn đọng lại nơi đầu mày cuối mắt của cả người gẩy đàn lẫn kẻ nghe đàn:

Hoa hương càng tỏ thức hồng, 
Đầu mày cuối mắt càng nồng tấm yêu. 
Sóng tình dường đã xiêu xiêu…

Và cả hai bên đều cảm thấy xiêu xiêu đến rợn người trước cơn lốc thu hút của vực sa ngã, lòng vực đen thẳm sẽ là nấm mồ của tình yêu, nếu người trong cuộc không kịp cầm lòng: họ đều biết rõ như vậy. Nhưng… trăng vẫn còn sáng, đêm vẫn còn khuya, men tình nồng nàn, men nhạc ngân lên đến tận ngọn núi Thần Châu, đến tận đỉnh hòn Vũ Giáp… cả hai muốn quên tất cả để lặng chuồi xuống dốc.

Nguyễn Du – chính Nguyễn, tôi chắc thế – cũng cảm thấy chóng mặt. Nguyễn nhận thấy cần phải chấm dứt cuộc thử lửa. Nguyễn dằn lòng hạ bút:

… đừng lấy làm chơi! 
Dẽ cho thưa hết một lời đã nao…

Kiều vụt tỉnh và cố gắng cầm lòng, cố gắng dìu Kim Trọng để cả hai cùng cố gắng dìu nhau vượt qua miệng vực sa ngã.

Nhưng Định mệnh đã lảng vảng từ lâu, chăm chú rình mò. Và giữa lúc tình yêu vừa qua cơn thử lửa để thăng hoa tới tuyệt đỉnh thì Định mệnh phũ phàng lên tiếng:

Tin đâu đã gõ cửa ngăn gọi vào…

Cũng vì vậy mà lần gặp gỡ thứ tư là lần ly biệt: gặp gỡ ngắn ngủi nhưng ly biệt dài tới mười lăm năm.

No automatic alt text available.

Thường thường sau khi kết tinh đến mực chín muồi, tình yêu sẽ bước sang giai đoạn cuối cùng: giai đoạn thể hiện, giai đoạn hôn nhân. Nhưng Nguyễn Du lại nghĩ rằng hôn nhân sẽ hạ thấp tình yêu – sự thể hiện nào mà có thể sánh kịp những ý tưởng còn đang tiềm tàng trong tâm não? Đối với Thuý Kiều, Kim Trọng không thể là một người chồng. Đối với Kim Trọng, Thuý Kiều không thể là một người vợ. Đối với nhau, cả hai chỉ có thể mãi mãi là những người yêu.

Cho nên với Nguyễn Du, giai đoạn thứ ba của mối tình Kim – Kiều không phải là giai đoạn hôn nhân. Giai đoạn thứ ba là đêm tái hợp, là đêm Kim Kiều thoả thuận:

Đổi duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ.

*

Đêm tái hợp nhắc đến đêm năm xưa hội ngộ. Bản đàn cũ khoan nhặt lại vang lên, nhưng để rồi tắt ngấm. Không khí nay đã khác hẳn. Người trong cuộc mang nặng thêm mười lăm năm quá khứ, nay cũng đã đổi thay. Người gảy đàn tự nhủ:

Cuốn dây từ đấy, về sau cũng chừa…

Và cả hai chợt hiểu: đối với họ, đối với mối tình của họ, giai đoạn thứ ba không thể là giai đoạn hôn nhân. Mối tình đầu đã thăng hoa đến chỗ tuyệt vời. Giai đoạn thứ ba chỉ có thể là giai đoạn mặc niệm. Trắng đêm lần tái ngộ, người trong cuộc tìm ra một lối thoát:

Duyên đôi lứa đổi làm duyên bạn bầy.

Và một thái độ: thái độ của một đôi giáo sĩ cùng chung một niềm thông cảm trước bàn thờ, nơi yên vị tự mười lăm năm cũ, một mối tình đầu thăng hoa đã đến tuyệt vời.

 

VŨ KHẮC KHOAN

[1] Chữ mượn trong cuốn Tình sử Trung Hoa
[2] Chữ mượn trong cuốn Tình sử Trung Hoa
[3] Chữ mượn trong cuốn Tình sử Trung Hoa

 

Kim Phượng st

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này