Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (948)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (38)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (271)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Trái tim em, lồng ngực anh

 Trái Tim Em, Lồng Ngực Anh

Lê Hữu

Đây không phải là chuyện tình lâm ly, ướt át, mặc dù câu chuyện có thật và cảm động. Cô gái đã trao trọn trái tim mình cho chàng trai trẻ chưa một lần quen biết.

Một Mình Một Ngựa

Cô gái tên Abbey Conner, 20 tuổi. Chàng trai tên Loumonth Jack, 21 tuổi. Abbey đã từ biệt thế gian này để đi về một thế giới khác, thế nhưng trái tim cô mãi mãi thuộc về chàng trai, và chàng sẽ chẳng bao giờ quên được nàng suốt phần đời còn lại.

Câu chuyện từng được Bill Conner, ông bố của cô gái, kể lại nhiều lần cho nhiều người, những ai từng đọc được hàng chữ “Abbey’s Ride for Life” trên tấm biển gắn đàng sau chiếc xe đạp Trek của ông.

Ông Conner có hai người con, Abbey và anh trai cô là Austin, 23 tuổi. Trong chuyến vacation hơn 5 tháng trước đây, cả hai được tìm thấy nằm bất tỉnh, úp mặt sâu xuống nước trong hồ bơi của một khách sạn ở Cancun, Mexico. Người ta chỉ cứu được Austin, riêng Abbey bị tổn thương não nghiêm trọng. Cô được chuyển tới bệnh viện Broward Health Medical Center ở Fort Lauderdale, Florida. Tại đây, sau những cố gắng một cách tuyệt vọng, các bác sĩ tuyên bố cô đã chết não và đi tới quyết định giải phẫu để lấy nội tạng và các mô sinh học mà cô đã tự nguyện hiến tặng năm 16 tuổi khi cô mới thi lấy bằng lái xe.

Cũng vào ngày ông Conner choáng váng nhận được tin xấu về con gái mình thì cách đó 670 miles đường chim bay, tại Lafayette, Louisiana, bố mẹ của một thanh niên da màu cũng được các bác sĩ ngậm ngùi thông báo về số phận không may của con trai mình. Jack đang nằm chờ chết trên giường bệnh vì chứng suy tim trầm trọng sau hai lần trụy tim. Sự sống chỉ còn đếm được từng ngày trên những đầu ngón tay, ngoại trừ phép lạ.

Và “phép lạ” đến với anh thật. Trái tim còn tươi rói của Abbey được cấy ghép kịp thời vào trong buồng ngực của Jack. Anh như được tái sinh.

Một người chết đi cho một người được sống. Trái tim Abbey dọn về nơi cư ngụ mới. Không chỉ trái tim thôi, cô hiến tặng đến bốn nội tạng, giúp cho bốn người trong độ tuổi từ 20 – 60 giành lại được sự sống trong cuộc chiến đấu với tử thần. Cô còn tặng cả đôi mắt đẹp của mình cho người khiếm thị ngắm nhìn được cuộc sống tươi đẹp muôn màu muôn vẻ.

Trái tim còn đập nghĩa là vẫn còn sự sống. Ông Conner tin chắc như vậy. Abbey, con gái ông, vẫn đang sống ở một nơi nào đó. Bằng mọi giá, ông phải tìm gặp đứa con yêu của mình.

Ông muốn rời khỏi nhà, tìm đến một nơi nào đó thật xa xôi để mong làm nhẹ bớt được nỗi buồn phiền đè nặng trong lòng. Hơn thế nữa, ông còn muốn làm điều gì đó để tôn vinh cuộc sống ngắn ngủi và cao đẹp của con mình.

“Tôi muốn làm cách nào để mọi người nhận thức được ý nghĩa, sự cần thiết, tầm quan trọng và lòng nhân ái của việc hiến tặng nội tạng mình khi lìa đời.” Conner chia sẻ điều này với những người thân và nảy ra ý tưởng: với chiếc xe đạp Trek của mình, ông sẽ thực hiện chuyến đi suốt chiều dọc nước Mỹ, từ Madison, Wisconsin, quê nhà ông, đến tận Ft. Lauderdale, Florida, nơi ông nhìn mặt con gái mình lần cuối để quảng bá, vận động mọi người hưởng ứng việc làm tốt đẹp này.

“Tại sao không?” Conner nói. “Có gì ghê gớm lắm đâu, và chẳng thấm thía gì so với nghĩa cử của con gái tôi. Tôi thực sự mong muốn ngày càng có thêm nhiều người tham gia vào việc hiến tặng nội tạng như Abbey đã làm.”

Với ý chí mạnh mẽ và tình yêu không bờ bến của ông bố, Conner quyết định thực hiện cho   bằng được việc này. Một mình một ngựa (sắt), ông lên đường ngày 22 tháng Năm, ngay sau ngày dự lễ ra trường của Austin, con trai ông, tại University of Wisconsin-Milwaukee.

“Tôi tin rằng Abbey cũng muốn tôi làm điều ấy,” ông nói.

Tình Không Biên Giới

Khi Jack được Louisiana Organ Procurement Agency thông báo về cuộc hành trình “Abbey’s Ride for Life” của ông Conner, anh tìm cách liên lạc với ông và nói rằng gia đình anh rất vui mừng được đón tiếp ông trong chuyến đi miệt mài ấy.

Sau bốn tuần lễ rong ruổi, vượt 1.400 dặm đường, ông Conner đã gặp được Jack tại Baton Rouge Louisiana vào đúng ngày Chủ Nhật Father’s Day. Trước mắt ông là chàng thanh niên da màu, vóc dáng thư sinh, tóc tai cắt ngắn, quần áo chỉnh tề. Trông Jack có vẻ hiền lành, dễ mến và ông có cảm giác thật gần gũi như đã từng quen biết nhau tự bao giờ.

Cả hai như bị hút vào nhau trong cái ôm dài đến hơn một phút. Nước mắt họ ứa ra.

Jack lần lượt giới thiệu gia đình mình, ông bà, bố mẹ, anh chị em, những đứa cháu… Hai ông bố, da trắng và da màu, ôm chặt lấy nhau, rưng rưng dòng lệ.

Da màu, thì đã sao! Ngay lúc này đây, ông Conner và mọi người ở quanh ông không ai nghĩ tới chuyện da trắng, da vàng, da đen, da nâu. Hơn lúc nào hết, chuyện màu da, màu tóc, màu mắt… hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì. Điều thực sự có ý nghĩa là, trái tim Abbey trong lồng ngực Jack đã mang hai gia đình xa lạ lại gần với nhau.

Đấy không phải là tính cách của Abbey đó sao? Conner còn nhớ, cô bé từng kể ông nghe một cảnh trong cuốn phim mà cô xem đến hai lần, “To Sir, with Love”. Ông thầy giáo bị đứt tay và cô nữ sinh tỏ vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy máu của ông thầy da đen cũng màu đỏ tươi giống như máu cô vậy.

Trái tim Abbey và hình hài Jack cũng thế thôi, cũng cùng chung dòng máu.

“Happy Father’s Day!” Jack mỉm cười bước đến bên ông, trên tay cầm gói quà.

Conner đón lấy, mở ra. Một chiếc stethoscope – ống nghe của bác sĩ. Ông thoáng ngạc nhiên nhưng rồi hiểu ra.

“Cám ơn cháu. Cái này hay đấy.”

“Với cái này,” Jack nói, “Bác sẽ nghe rõ tiếng đập của con tim cô ấy.”

Conner lặng người đi mấy giây. Ông bật ra một tiếng nấc không giấu được, đưa cườm tay quệt ngấn nước mắt. Jack cởi tung nút áo để lộ vết sẹo dài chạy dọc trước ngực. Conner gắn ống nghe vào hai tai, áp đầu dây bên kia vào ngực Jack, đúng chỗ trái tim cậu. Không, trái tim con gái ông. Ông nhắm mắt lại, chăm chú lắng nghe… Lát sau, ông gỡ ống nghe, lặng im vài giây như cố trấn tĩnh, rồi buột miệng:

“Well, it’s working.”

“Oh yeah, definitely!” Jack đáp.

Không chỉ nghe rõ nhịp đập đều đều của trái tim, Conner còn nghe được cả tiếng thì thầm quen thuộc của Abbey, “Bố đến thăm con đấy phải không? Con vẫn ổn mà, Bố đừng lo cho con. Chỗ này, buồng ngực của Jack đấy, tốt lắm Bố à. Bố con mình vẫn gần nhau mà, phải không?”

Conner đã bao lần ôm chặt con mình vào lòng, bao lần nghe hơi thở con, nhịp tim con đập rộn ràng như thế này. Ông đã bao lần ôm ấp đứa con yêu, từ thuở cô còn bé bỏng, thuở mẹ cô còn sống, và cả những lần hai bố con xa nhau rồi gần nhau như thế này.

Conner cúi đầu thật sâu, hai mắt nhắm nghiền, nước mắt lại muốn ứa ra. “Đúng thế Abbey,” ông cũng thì thầm. “Bố đến thăm con đây. Bố đến thăm con để xem con đã ‘sống’ như thế nào kể từ ngày xa Bố. Sau cùng thì bố con mình đã gặp được nhau, phải không, ‘baby girl’ của Bố?”

“Baby girl”, ông Conner nhớ từng gọi con bé như vậy.

“Cám ơn cháu,” ông ngước lên, mỉm cười với Jack.

“Thật là một phép lạ,” Jack nói. “Abbey giống như là bà tiên có phép mầu trong chuyện cổ tích. Cháu đã chết đi, rồi được sống lại. Cháu mang ơn cô ấy nhưng không có cách nào để trả ơn.”

“Đừng nghĩ đến chuyện đền ơn đáp nghĩa,” ông Conner mỉm cười với chàng trai. “Cách trả ơn tốt nhất là hãy sống tốt. Đơn giản là vậy. Sống như Abbey vậy, giúp đỡ người khác và mang niềm vui đến cho mọi người.”

“Cháu hiểu,” Jack nói nhỏ. “Cháu còn phải cám ơn Bác nữa.”

“Bác phải cám ơn cháu chứ,” Conner lại mỉm cười. “Nhờ có cháu mà Bác được gặp lại Abbey. Bác thật hạnh phúc.”

Conner ngắm nhìn chàng trai trạc tuổi con ông. Ông nhìn xuống chiếc ống nghe vẫn cầm trên tay, món quà đặc biệt Jack tặng cho ông. Trong đời mình, quả là ông chưa bao giờ nhận được quà tặng Father’s Day nào ý nghĩa hơn thế.

Nhờ có Jack, ông Conner biết được rằng trái tim con gái ông chưa có phút giây nào ngừng đập, có điều là trái tim ấy đã dọn sang hình hài khác. Abbey đã cho không trái tim quý giá của mình. Cô đã cho không, không điều kiện, không có bất cứ sự lựa chọn nào. Dẫu cho hình hài ấy, da dẻ kia có như thế nào thì trái tim cô vẫn rộn ràng những nhịp đập yêu thương.

Tình yêu cô gửi vào trái tim là tình không biên giới.

* * *

Abbey lìa xa bố khi tuổi cô vừa tròn đôi mươi, tuổi tươi đẹp nhất của một đời người. Trái tim cô đang tràn đầy nhựa sống, tràn đầy ước mơ. Cô khao khát sống và thiết tha yêu đời. Cô theo đuổi ngành học Public Relations tại trường University of Wisconsin-Whitewater với ước mong có cơ hội mở rộng giao tiếp với nhiều người và cũng giúp được nhiều người.

Với Conner, con gái ông vẫn đang sống; hơn thế nữa, cô thực hiện được điều cô ước muốn là làm đẹp cho cuộc sống. Còn gì hơn thế nữa.

Với Jack, anh bắt đầu lại cuộc sống. Anh yêu cuộc sống hơn bao giờ. Jack sẽ trở lại trường học, sẽ nối lại những giấc mơ còn dở dang vì phải bỏ dở chuyện học hành. Anh sẽ đi tiếp con đường Abbey đã đi; hay, nói một cách nào đó, anh đi theo tiếng gọi của con tim nồng ấm đang nằm gọn trong lồng ngực anh.

Chia tay gia đình Jack, ông Conner lần lượt ôm hôn từng người một trong gia đình anh. Sau cùng, ông lại ôm chặt lấy Jack, gục đầu lên vai anh, ngỡ như đang ôm ấp đứa con yêu quý của mình.

Conner lại leo lên lưng chiếc xe đạp, lại tiếp tục chuyến độc hành trên lộ trình dài hun hút. Ông phải đi cho hết cuộc hành trình. Lần này, ông có thêm bạn đồng hành là băng ghi âm tiếng nhịp đập con tim của Abbey mà gia đình Jack gửi tặng ông. Conner như được tiếp sức, ông cảm thấy sung sức hơn bao giờ.

Conner dự kiến ngày 10 tháng Bảy tới đây sẽ chạm “mức đến”, Broward Health Medical Center tại Ft. Lauderdale, Florida, là nơi Abbey đã được các bác sĩ giải phẫu lấy nội tạng. Nơi đây, ông sẽ thực hiện nốt việc làm sau cùng là rải tro con mình xuống lòng biển khơi, như một dấu chấm hết cho cuộc hành trình ròng rã đến gần hai tháng trời.

Abbey yêu biển, cô sẽ về lại với thiên đường “biển xanh, cát trắng, nắng vàng” Florida.

Trả lời các phóng viên báo chí về cuộc “hành trình đơn độc” 2.600 dặm đường trên lưng con ngựa sắt, ông Conner nói, “Tôi không hề đơn độc. Lúc nào Abbey cũng ở cạnh tôi. Một khi bạn làm điều gì có ý nghĩa, bạn sẽ không cảm thấy đơn độc.”

Conner tin tưởng một cách mạnh mẽ sẽ có nhiều người cùng đồng hành với ông. Trong lá Thư Ngỏ gửi cho báo chí nói về cuộc hành trình “Abbey’s Ride for Life” nhằm vận động một phong trào ghi danh online để trở thành người hiến tặng nội tạng, có đoạn ông viết như là lời tâm tình:

“Thật là ích kỷ khi bạn nhất định chôn theo bạn những gì có thể cứu vớt được mạng sống con người. Bạn không mất gì cả trong lúc mang lại được hạnh phúc cho những kẻ xấu số. Vậy tại sao bạn lại từ chối hay ngần ngại? Sớm muộn gì thì bạn và tôi cũng phải chết mà, làm sao tránh khỏi. Vậy thì đừng để cho cái chết của mình trở thành vô nghĩa và phí phạm.”

“Nếu bạn muốn để lại một di sản,” ông chia sẻ thêm, “không có di sản nào quý giá hơn là giúp cho người khác được tiếp tục sống một cuộc đời đáng sống.”

Phần tôi, rất “tâm đắc” đoạn cuối lá thư của ông Conner:

“Bạn vẫn đến nhà thờ, nhà nguyện để cầu nguyện sau khi chết sẽ được lên thiên đường chứ gì? Vậy tại sao bạn lại không làm nghĩa cử hiến tặng ấy? Lời nguyện cầu của bạn nhiều phần sẽ được cứu xét sớm hơn. Hãy trao tặng lại người khác những gì thượng đế đã ban tặng cho bạn. Đấy là lẽ công bằng. Bạn đâu cần phải mang theo tất cả, một khi thân xác bạn nhẹ nhàng thì bạn cũng dễ dàng… bay lên tới thiên đường.”

Lê Hữu

Hồng Vân sưu tầm

Bộ sưu tập những hình ảnh bìa đẹp về tình yêu dễ thương cho Facebook. Ảnh bìa dễ thương về tình yêu được HinhAnhDepNhat tổng hợp từ nhiều nguồn trên Internet. Những ảnh bìa Facebook với nhiều hiệu ứng dễ thương và màu sắc lung linh sẽ làm cho Facebook của bạn trở nên độc đáo và phá cách hơn. Hãy chọn cho mình những ảnh bìa FB dễ thương nhất ở bên dưới đây nhé! - Ảnh Đẹp 24h. Mời các bạn thưởng thức và chiêm ngưỡng, và nhớ chia sẻ đến bạn bè nhé. Chúc bạn mọi điều tốt lành.

Xem thêm...

Lời tình yêu- Guy de Maupasant

Lời tình yêu


Truyện ngắn của Guy de Maupasant

Lê Ngọc Anh dịch

Chủ nhật.
Con gà trống to lớn yêu quý của em,
Anh chẳng viết cho em, em chả gặp anh nữa, anh chẳng bao giờ đến với em. Thế anh đã thôi yêu em rồi ư ? Tại sao ? Em đã làm gì ? Hãy nói em hay, em xin anh, người yêu quý giá của em ! Còn em, em vẫn yêu anh như thế, như thế, như thế ! Em muốn có anh luôn ở bên mình và ngày nào cũng ôm hôn anh, trao gửi anh, ôi trái tim của em, con mèo yêu dấu của em, mọi tên gọi dịu dàng đến với ý nghĩ của em. Em tha thiết yêu anh, tha thiết yêu anh, tha thiết yêu anh, ôi con gà trống đẹp mã của em.
Gà mái tơ của anh.
Sophie

Thứ hai.
Người bạn thân thiết của anh,
Em sẽ hoàn toàn không hiểu gì về những lời anh sắp nói. Mặc kệ. Nếu tình cờ bức thư của anh lọt vào mắt một người phụ nữ khác, nó có thể bổ ích với người ấy.
Nếu em câm và điếc, chắc chắn là anh sẽ yêu em lâu dài, lâu dài. Nỗi bất hạnh đến từ những lời em nói, tất cả là ở đó. Một nhà thơ đã nói :


Em chưa từng hiếm gặp nhất trên đời
Chỉ là nhạc cụ tầm thường dưới archet của anh đắc thắng,
Nơi khoảng trống tim em, anh khiến ước mơ mình hát
Như nơi miệng đàn guitar, một điệu nhạc ngân lên.



Trong tình yêu, em thấy không, người ta luôn khiến những ước mơ hát lên ; nhưng để những ước mơ hát lên, người ta không cần phải làm chúng đứt đoạn. Thế mà, khi người ta cất tiếng nói giữa hai nụ hôn, người ta luôn làm đứt đoạn ước mơ cuồng nhiệt mà những tâm hồn tạo ra, trừ phi nói những lời lẽ tuyệt vời, và những lời lẽ tuyệt vời không nảy nở trong những cái đầu bé nhỏ của những cô gái đẹp.

Em chả hiểu gì hết, có phải không ? Càng hay. Anh nói tiếp đây. Em chắc chắn là một trong những người phụ nữ quyến rũ nhất, đáng yêu nhất mà anh chưa thấy bao giờ. Liệu trên trái đất có cặp mắt nào chứa đựng nhiều mơ ước, nhiều hứa hẹn mới lạ, nhiều tình yêu bất tận hơn cặp mắt của em ? Anh không nghĩ thế. Và lúc miệng em cười với đôi môi đầy đặn phô ra hàm răng sáng, như thể từ cái miệng làm say lòng người ấy sắp sửa thốt ra một điệu nhạc khó tả nên lời, một cái gì đó ngọt ngào huyền hoặc, êm dịu đến thổn thức.

Thế rồi em bình thản gọi anh là : “Con thỏ to lớn yêu dấu của em”. Dường như anh bất ngờ xâm nhập vào đầu óc em, thấy sự vận hành của tâm hồn em, tâm hồn bé nhỏ của một người phụ nữ bé nhỏ xinh đẹp, xinh đẹp, nhưng điều đó làm anh khó chịu, em có biết không, rất khó chịu. Anh thà không thấy còn hơn.

Em vẫn không hiểu tí gì phải không ? Anh chắc thế.

Em có nhớ lần đầu em đến nhà anh không ? Em đột ngột bước vào với hương hoa violet tỏa ra từ váy áo ; chúng ta đã nhìn nhau thật lâu mà không nói một lời, rồi ôm hôn nhau như những kẻ điên cuồng… rồi… rồi đến tận hôm sau chúng ta cũng không hề nói.

Nhưng khi chúng ta từ biệt nhau, bàn tay chúng ta run rẩy và mắt chúng ta tự nói ra những điều, những điều mà người ta không thể diễn đạt bằng thứ ngôn ngữ nào cả. Ít ra là anh đã tưởng thế. Và vừa từ biệt anh, em vừa thì thầm thật khẽ : “Hẹn sớm gặp lại !” – Đó là tất cả những gì em đã nói ; và em sẽ chẳng bao giờ hình dung ra ước mơ ấp ủ nào mà em đã để lại, mọi điều mà anh thoáng thấy, mọi điều mà anh ước đoán trong ý nghĩ của em.

Em biết không, em bé đáng thương của anh, bởi vì con người ta không phải là những con vật, hơi tinh tế, hơi cao cấp, nên tình yêu là một nhạc cụ phức tạp đến nỗi chẳng có gì làm rối loạn được nó. Còn chị em, những người phụ nữ khác, chị em chẳng bao giờ nhận thức được cái nực cười của một vài thứ khi chị em yêu và cái lố lăng của những biểu đạt mà chị em trót buột miệng.

Tại sao một lời thích đáng ở miệng của một phụ nữ tóc nâu nhỏ nhắn lại hết sức lệch lạc và hài hước ở miệng của một phụ nữ tóc vàng to béo ? Tại sao cử chỉ mơn trớn của người này lại không thích đáng ở người kia ? Tại sao một số vuốt ve duyên dáng của người này lại gây khó chịu ở người kia ? Tại sao ? Bởi vì trong tất cả mọi việc, nhất là trong tình yêu, cần phải có một sự hòa hợp hoàn toàn, một sự hài hòa tuyệt đối giữa cử chỉ, giọng điệu, lời nói, biểu lộ dịu dàng với chủ thể hành động, nói năng, biểu lộ, với tuổi tác, mức độ tầm vóc, mầu sắc của đôi mắt và diện mạo nhan sắc người ấy. Một phụ nữ ba mươi tuổi, độ tuổi có những đắm say lớn lao mãnh liệt, người chỉ giữ lại chút ít sự màu mè mơn trớn của những mối tình của mình năm hai mươi tuổi, người không hiểu rằng cần phải biểu lộ khác đi, ôm hôn khác đi, rằng cần phải là một Didon chứ không còn là một Juliette nữa, chắc chắn sẽ làm chín trên mười người tình chán ngấy ngay cả khi họ không nhận thấy lý do chán ghét của mình.

Em có hiểu không ? – Không à ? – anh mong thế lắm !

Kể từ hôm em mở miệng tuôn ra những lời âu yếm, với anh thế là hết đấy, bạn gái ạ.

Có lần chúng mình ôm hôn nhau năm phút, một nụ hôn bất tận duy nhất, say đắm, một trong những nụ hôn làm mắt phải nhắm vào, như là chúng có thể băm nát bằng cái nhìn, như để giữ gìn chúng trọn vẹn hơn trong tâm hồn u sầu mà chúng tàn phá. Rồi khi chúng mình tách môi ra, em vừa cười một nụ cười trong sáng vừa bảo anh là : “ Tuyệt, con cún của em !” Thế là anh đã đánh em.

Bởi vì em đã liên tiếp đặt cho anh mọi tên gọi của thú vật và rau cỏ mà chắc chắn là em đã tìm thấy trong những cuốn Chị đầu bếp trưởng giảNgười làm vườn hoàn hảo và Những nhân tố lịch sử tự nhiên dùng cho những tầng lớp dưới. Nhưng chuyện đó chả là gì nữa.

Cái mơn trớn của tình yêu thật hung tợn, có thú tính và còn hơn thế, khi người ta nghĩ về nó. Musset (*1) đã nói :


Anh vẫn nhớ những co thắt khủng khiếp,
Những cơ bắp dữ dằn, Những nụ hôn câm lặng.
Của người bị thu hút, tái xanh và hàm răng nghiến chặt.
Nếu không phải tuyệt trần, những lúc ấy thật là kinh khủng.



Hay là lố lăng !... Ôi ! em bé đáng thương của anh, tài năng bông lơn nào, trí tuệ tai ác nào đã có thể gợi cho em những lời em nói ở đoạn kết vậy ? Anh đã chịu đựng chúng rất nhiều, nhưng vì tình yêu với em, anh đã không để lộ ra.

Và rồi em đã sai lầm thật đúng lúc, và em đã tìm được cách buông ra một “Em yêu anh !” cuồng nhiệt trong những dịp nào đó đặc biệt đến nỗi nó khiến anh phải kìm lại những cơn tức cười dữ dội. Có những lúc câu “Em yêu anh” này không đúng chỗ đến nỗi nghĩa rõ ràng của nó thành ra không tưởng tượng được.

Nhưng mà em chẳng hiểu anh đâu.

Nhiều phụ nữ cũng không hề hiểu anh và cho là anh ngu ngốc. Dù vậy, có hề chi. Những người phàm ăn ăn uống một cách tham lam, nhưng những người khó tính thì tế nhị, và họ thường ủng hộ ít món vì những nỗi chán ghét không sao cưỡng nổi. Chuyện tình yêu cũng như nghệ thuật nấu ăn vậy.

Điều mà anh không hiểu, chẳng hạn như những người phụ nữ nào đó, người mà biết rất rõ sự quyến rũ không sao cưỡng được của những đôi tất dài bằng lụa mịn màng có thêu thùa, sự lôi cuốn tuyệt vời của những sắc thái, sự mê hoặc của những dải đăng ten quý giá khuất sâu ở trang phục bên trong, sự thú vị khêu gợi của những bí mật xa xỉ của lớp lót tinh tế và mọi nét nhẹ nhàng tế nhị của vẻ duyên dáng nữ tính, lại chẳng bao giờ hiểu được nỗi ngao ngán không sao cưỡng nổi mà những lời không đúng chỗ hay những luyến ái ngớ ngẩn gây ra cho chúng tôi. Một từ thú tính đôi khi có tác dụng tốt, quất vào da thịt, làm con tim nẩy lên. Những từ ấy được phép trong thời chiến. Từ ấy của Cambronne (*2) không tuyệt vời sao ? Chẳng có gì gây chướng nếu đến đúng lúc. Nhưng cũng cần phải im lặng và tránh những lời nói kiểu cách của Paul de Kock (*3) trong những lúc nào đó.

Và anh ôm hôn em đắm đuối miễn là em đừng nói.
René.

Chú thích :
(*1) Alfred de Musset (11/12/1810 – 02/05/1857) là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà viết kịch Pháp.
(*2) Pierre Jacques Étienne Cambronne, còn gọi là Tử tước Cambronne (26/12/1770 – 29/1/1842), là một vị tướng của Đế chế Pháp. Ông đã chiến đấu trong suốt những cuộc chiến tranh Cách mạng và thời đại Napoleon. Người ta khẳng định rằng trước sự nài ép của người Anh, ông đã trả lời bằng cách văng ra từ mà ngày nay được biết đến như “Từ của Cambronne” : Merde! Việc này xảy ra sau khi đại tá Anh Hugh Halkett, người chỉ huy lữ đoàn Hanover số 3, bắt giữ Cambronne. Chuyện Cambronne lúc đó bị thương nặng và bị người Anh tống ngục sau trận chiến là đích xác. Còn chuyện “Từ của Cambronne” dù có thật hay không thì cũng đã trở nên liên đới tới ông một cách không thể gột rửa được do được đề cập đến trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của Victor Hugo và vở kịch “Đại bàng con” - chỉ Hoàng đế Pháp Napoléon II - của Edmond Rostand. Tuy nhiên trong phần còn lại của cuộc đời mình, Cambronne đã từ chối sử dụng từ này.
(*3)Charles Paul de Kock (21/5/1793 – 27/4/1871) là nhà tiểu thuyết Pháp và tác giả của nhiều libretto cho opera.

Hồng Anh st

Xem thêm...

Nghe Từ Công Phụng Tỏ Tình - Luân Hoán

Nghe Từ Công Phụng Tỏ Tình

Luân Hoán

******

 Thích nhạc, mê nhạc, ghiền nhạc không hề đứng gần khả năng am hiểu âm nhạc, lại càng không thể phát sinh chuyện điều khiển, sắp xếp những nốt nhạc, nói ngắn gọn là sáng tác. Đa số chúng ta nghe nhạc bởi sự cảm nhận tự nhiên. Sự cảm nhận này rất ít đến với chúng ta bằng sự lẻ loi của các nhạc cụ, dù chúng có cùng nhau cất tiếng. Âm nhạc vốn là cõi  cao xa, thường vượt tầm hiểu biết của nhiều người. Cứu được nhược điểm này, lời ca đã đóng một chức năng chủ yếu. Riêng với người Việt Nam, ca từ đúng là một nhu yếu phẩm cho tâm hồn, cho tinh thần. Ngày còn nằm nôi, ca dao, tục ngữ theo giọng hát ru con, ru em đến với chúng ta. Ấu thơ bây giờ có thể thiếu hẳn nguồn bổ dưỡng này, nhưng bù lại có những máy phát êm dịu đưa giấc ngủ. Nói chung lời ca chính là chìa khóa, là cây cầu đưa chúng ta đến gần âm nhạc hơn. Dĩ nhiên phần nhiều chúng ta vẫn mang đôi tai điếc đặc ngồi trong thính đường một buổi trình tấu nhạc cổ điển tây phương. Nhưng ít ra chúng ta cũng đã dễ dàng đến với những Chiều Về Trên Sông của Phạm Duy, Thu Vàng của Cung Tiến, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn, Nắng Chiều của Lê Trọng Nguyễn, Tóc Mây của Phạm Thế Mỹ, Cô Đơn của Nguyễn Ánh 9, Hòn Vọng Phu của Lê Thương, Dư Âm của Nguyễn Văn Tý, Ngọc Lan của Hoàng Trọng, Quê Mẹ của Thu Hồ, Khúc Ca Ngày Mùa của Lam Phương, Ghé Bến Sài Gòn của Văn Phụng, Xóm Đêm của Phạm Đình Chương, Trăng Mờ Bên Suối của Lê Mộng Nguyên, Nụ Cười Sơn Cước của Tô Hải,  hay Sơn Nữ Ca của Trần Hoàn... Dĩ nhiên còn rất nhiều, rất nhiều ca khúc vẫn sống tiềm ẩn trong lòng chúng ta. Có thể nói những ca khúc này, tám phần mười vượt thời gian nhờ ở ca từ. Đây quả thật là trình độ thưởng ngoạn âm nhạc của đại chúng người Việt chúng ta. Và từ những lời nỉ non, véo von không cần mất nhiều sự suy nghĩ này, một số trong chúng ta lần theo trình độ học vấn yêu thích những ca khúc trau chuốt, giàu hoa mỹ đượm chút ít triết lý về cuộc đời. Vẫn giữ căn bản giản dị, trong sáng, nhưng rõ ràng từ bàn tay của Từ công Phụng, Lê Uyên Phương, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Cung Tiến... ca khúc của họ có cái vẻ sang cả, trí thức hẳn lên.

          Tôi cũng là người yêu nhạc bình dân, không có khả năng am hiểu những trường canh, tiết tấu, hợp âm...gì gì đó. Tôi chỉ vịn lời ca mà đi cho cuộc đời mình thêm chút ít nhẹ nhàng, thanh thản. Hôm nay ngồi buồn, chẳng phải vì trời mưa, chẳng phải vì thất tình hay nhớ cố hương, mà bỗng thấy buồn khan thế mới lạ. Có lẽ có sự trống vắng nho nhỏ trong tâm hồn. Để nỗi bâng khuâng vô cớ không trở thành cô đơn, tôi mở nhạc. Và rất tình cờ, tôi nghe ông Từ Công Phụng tỏ tình.

  Hình như Thiếu nữ và mùa Thu thường có những nét tương đồng. Từ sự lộng lẫy, thanh tú của nhan sắc, đến cái dịu dàng, man mác lạnh của tính chất, đã hàng nghìn năm qua, hai đối tượng này vốn là đầu nguồn của nhiều dòng sáng tác. Nhiều nhạc sĩ, thi sĩ, thậm chí đến cả văn sĩ, họa sĩ đã từng vịn vào mùa thu, hoặc vịn vào một bóng hồng để đẩy những suy tưởng lẫn nhớ nhung của mình thoát xác thành những hình ảnh mới. Nhạc sĩ Từ công Phụng cũng không đi lệch con đường có sẵn này. Nhưng với ông, trong ca khúc Bài Cho Em, ranh giới giữa mỹ nhân và mùa thu chợt được xóa nhòa. Để nhường chỗ cho tình yêu và nỗi nhớ quấn quít bên chân những nốt nhạc tha thiết, trôi nổi, vang xa mong tìm lại một thời hoa bướm có đủ vui buồn. Tất cả dành cho em, gởi về em mênh mang như một dòng sông, chúng ta hãy cùng Từ Công Phụng dựa tình lên dòng sông, và để lòng trôi cùng âm nhạc :

 Chiều nay ngồi viết riêng cho em

Cho em bài hát êm đềm, trôi theo từng tiếng tơ mềm

Nhờ mây gửi đến riêng cho em

Cho em ngàn lời yêu thương, trôi trên nụ cười phong kín

Mùa Thu chợt đến trong cô đơn

Buồn bay lên mờ lấp khung trời chiều lạnh lùng

Trời còn gọi tiếng mưa đêm nay

Mưa ơi! Đừng làm buồn mắt em thơ ngây

Ô hay! Mùa Thu đến bao giờ

Mưa bay buồn giăng mắc khung trời

Người về từ trên đó để nhìn làn môi thắm

Cớ sao em còn buồn để mùa Thu đến rồi đi

Giòng sông nào vắng xa chưa em

Ru lên hồn tuổi thơ này, thêm một lần chuốc u buồn

Hồn lên ngàn phím tơ vương êm

Ru em bằng lời ca đêm, ru lên tuổi buồn em mang

Giòng sông rồi vắng xa thôi em

Đời trôi theo ngày tháng, mang nhiều kỷ niệm buồn

Tuổi thơ còn có mơ không em

Hay trôi miệt mài ngày tháng trong cô liêu

          Khi yêu chúng ta thường mất đi ý niệm về thời gian, hoặc ngược lại, từng giờ từng khắc có thể gói gọn được rất nhiều kỷ niệm. Ở ca khúc Bây Giờ Là Tháng Mấy, nhạc sĩ Từ Công Phụng, có lẽ có cả hai trạng thái khác nhau này. Trong ca khúc, ông có ít nhất 3 lần lên tiếng hỏi người yêu mình về một cái móc thời gian, không cần phân định là đang yêu nhau, gần nhau hay sắp sửa một cuộc chia xa. Hỏi cho có hỏi vậy thôi. Cái vẩn vơ thật thi sĩ của Từ công Phụng chỉ là cái bàn đạp để ông vẽ lại nỗi nhớ thương, cùng những nét đẹp độc đáo, tiêu biểu của người yêu mình. Em hờn dỗi đủ để cho anh phải đi tìm một loài hoa. Mắt em đẹp đủ cho anh thấy cả mùa xuân. Và ngay trong cái lạnh lẽo của mùa đông, tâm hồn những người yêu nhau cũng không lẻ loi. Cái thời gian Từ Công Phụng muốn hỏi, hay đúng hơn là muốn nhắc tới, chính là cái ổ tình, một thời ông đã cùng ấm áp bên một người, để có cơ hội mở ra một dòng tình ca rất gần với sự thưởng ngoạn của đại chúng :

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?

lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm

Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi,

trách nhau một lời thôi

Tâm hồn mình đâu lẻ đôi.

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?

Anh đi tìm màu hoa em cài

Chiều nay nhớ em rồi và nhớ

áo em đẹp màu thơ,

môi tràn đầy ước mơ

Mai đây anh đưa em đi về,

mưa giăng chiều nắng tàn

cho buốt lạnh chúng mình.

Em ơi, thôi đừng hờn anh nữa,

nhìn nhau buồn vời vợi,

để mùa đông buốt giá bờ vai mềm.

Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?

Anh đi tìm mùa xuân trên đời

Mùa đông chết đi rồi mùa xuân

mắt em đẹp trời sao

cho mình thương nhớ nhau.

          Trong một đồng tình gần như tuyệt đối với nhà thơ Du Tử Lê, khi xác nhận, minh định vị trí của người phụ nữ bên cuộc đời mình, nhạc sĩ Từ Công Phụng đã biến những lời thơ của ông Lê Cự Phách thành những dòng nhạc chân thành, tha thiết. Cảm tạ ơn em không phải là một thỏa thuận riêng rẻ giữa nhạc sĩ và thi sĩ, mà còn là sự đồng thuận của đám đông, của chúng ta khi lắng nghe. Giữ Đời Cho Nhau, như một lời dặn dò, nhắc nhở đơn giản, nhưng chân tình. Một hơi thở thoáng ấm chỗ nằm. Một vóc áo hờ hững bất ngờ, đã có thể là một sự ban ơn cho chúng ta, nếu tình cờ chúng ta được hạnh phúc biết rung cảm, biết nắm bắt, dù một thoáng. Hãy nghe Du Tử Lê và Từ Công Phụng nói hộ những gì đã lâu chúng ta muốn nói, mà chưa thành lời, chưa công khai:

Ơn em thơ dại từ trời

Theo ta xuống biển vớt đời ta trôi.

Ơn em dáng mỏng mưa vời

Theo ta lên núi về đồi yêu thương.

Tạ ơn em

Tạ ơn em.

Ơn em ngực ngải môi trầm

Cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan.

Ơn em hơi thoảng chỗ nằm

Dấu quanh dấu quẩn nỗi buồn một nơi.

Tạ ơn em

Tạ ơn em.

Ơn em tình những mù lòa

Như con sâu nhỏ bò qua giấc vùi.

Ơn em hồn sớm ngậm ngùi

Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.

Tạ ơn em

Tạ ơn em

          Trong cuộc sống, gần như không có gì vĩnh cửu. Riêng tình yêu, sự đánh giá cũng chẳng bao giờ giống nhau. Nhạc sĩ Từ Công Phụng, với một cảm hứng ông tìm thấy, ghi lại, đã phơi bày chút nào sự bi quan của ông. Những không vui này được lồng trong những nhận định không xa lạ và phảng phất những nét triết lý vốn đã có. Đã sống tất phải chết. Đã hợp ắt sẽ tan. Cuộc tình tuyệt vời đến đâu cũng sẽ kết thúc. Tất cả chỉ tùy thuộc vào sự phôi pha của tháng năm. Lặp lại và diễn đạt ý tưởng này bằng âm nhạc, không phải là việc dễ dàng. Nhưng Từ Công Phụng, không những chỉ làm được việc này. ông còn chứng tỏ được khả năng sử dụng ngôn ngữ rất thơ.“Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau” Không bí hiểm, xa lạ, nhưng không phải ai cũng dùng được những động từ đắc ý, giàu hình ảnh như họ Từ. Như Một Que Diêm là một ca khúc đã có khoảng cách khá xa với những thể loại phổ thông :

Như Chiếc Que Diêm

Đời anh sớm muộn gì

Đời em sớm muộn gì

Tình ta sớm muộn gì ...cũng hấp hối

Thôi cũng đành một kiếp trăm năm đời người sẽ qua

Cũng đành một thoáng chiêm bao tình người cũng xa

Cũng phôi pha những điêu ngoa, theo vết môi cười tàn tạ

Thôi cũng đành một kiếp phong ba lệ tình cũng xa

Xuống đời ta những nguôi ngoai rồi người cũng xa

Cũng xa ta, cũng xa ta theo dòng nghiệt ngã mù lòa

Vì lời em sớm muộn gì cũng một lần gian dối

 Tình anh sớm muộn gì cũng đưa vào tăm tối

 Đời anh sớm muộn gì, đời em sớm muộn gì

 Tình ta sớm muộn gì cũng hấp hối

 Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau

 Những men nồng tình sâu rã rời

 Thôi cũng đành như chiếc que diêm một lần lóe lên

 Thắp đời em sáng lung linh, buồn một cõi riêng

 Những đêm sâu, những canh thâu

 Nghe nước mắt nặng giọt sầu

 Thôi cũng đành như kiếp rong rêu một lần hóa thân

 Cuốn về phong kín tim ta một đời chói chang

 Những đam mê, những ngô nghê

 Với tình người nhỡ lời thề

Thôi cũng đành như tấm gương tan mờ phai vết xưa

 Xót dùm cho tấm thân ta ngựa bầy đã xa

 Những đêm mơ thấy tan hoang

 Hương tình vừa chớm muộn màng

          Nhạc sĩ Văn Cao từng thú thật ông đã yêu mùa thu rất đậm đà, vượt trên ba mùa còn lại của đất trời. Một nhạc sĩ khác, ông Đoàn Chuẩn cũng rất hết lòng với mùa thu. Từ Công Phụng chẳng thua gì những người viết nhạc có tuổi đời cao hơn.Ông đã dành cho mùa thu nhiều ca khúc. Chúng ta thử nghe Mùa Thu Mây Ngàn của tác giả. Buồn vương trên mây, trên tóc mỹ nhân. Mưa bay vừa ướt áo, vừa đủ cho một con phố chợt giàu những đôi vai, những gót chân. Tất cả những hình ảnh đó không có gì mới. Nhưng qua từng ký âm của Từ Công Phụng, chúng ta hẳn sẽ thấy được ông cho những cảnh sắc, hình vóc ước lệ muôn đời thở sống như thế nào:

Chiều nay có mùa thu đi về

Buồn vương mây ngàn giăng khắp lối

Mùa thu bơ vơ đến bên trời

Ru tóc em suối nguồn

Gọi hồn hong gió thu buồn

Ngày mai chúng mình xa nhau rồi

Cầm tay em nhìn sao không nói

Chiều nay mưa bay khắp phố nhỏ

Mưa ướt đôi vai mềm

Bùn lầy lấm gót chân em

đk:

Thu nay mây ngàn còn giăng mãi bên trời

Mùa thu lưu luyến bóng dáng anh đi

Đêm nay bên thềm cầm tay em khẽ nói

Ngày mai anh đi rồi

Anh có buồn gì không

Buồn không hỡi người đã đi rồi

Tìm đâu những ngày vui êm ấm

Người đi theo năm tháng không cùng

Thương mắt em hay buồn

Nhìn mùa thu chết bên sông

           Hình ảnh là một trong những yếu tố quan trọng trong chức năng làm trưởng thành một sáng tác. Dựa vào mùa thu để làm giàu thêm gia tài âm nhạc của mình, Từ Công Phụng đã rất thành công trong việc dùng hình ảnh để nói lên tâm cảm của mình. Nội dung ca khúc vẫn không ngoài tình yêu. Nhưng tình yêu sẽ có thể được mới ra, thi vị hơn với một người thơm tay và có trình độ diễn đạt, đã được đánh giá cao như Từ Công Phụng. Hãy lắng nghe Như Ngọn Buồn rơi thánh thót qua dòng nhạc Từ Công Phụng.

Như mùa thu trút lá vàng

ngậm ngùi em khóc cho tuổi thơ qua mau

hồn nhiên cũng rơi khỏi tầm tay với xa

trên từng thung lũng buồn

em lệ nhòa trên tóc

Trên từng thung lũng buồn

từng thung lũng buồn

mùa thu đã trở mình trên gót nhỏ

dìu em đến người

bằng vòng tay nâng niu hạnh phúc

Trên từng cơn lốc mềm

hồn em đã ngủ vùi trong tiếng thở

tình tôi cũng mù theo cơn lũ nào

lần em đã khóc cho tình yêu

Em như ngọn buồn rơi

tuổi thơ ngây đã xếp chân môi hồng

em rơi vào đời tôi

tình yêu em khôn lớn trong dịu dàng

ôi nỗi dịu dàng nào đã ngời sáng

trên môi người

trên từng cơn lốc xoay đời

thuyền tình đã đắm trong vòng tay u mê

ta có đi trên nghìn thu đắng cay

trên từng nỗi khốn cùng

nhưng tình đôi ta biết bao giờ nguôi...

          Mắt Lệ Cho Người Tình là một ca khúc góp phần tạo một chỗ ngồi khá riêng biệt cho Từ Công Phụng, trong gia đình âm nhạc Việt Nam. Vẫn long lanh những giọt bi quan về nhân sinh, về tình yêu. Nhưng cái buồn của tác giả, của những người đồng điệu với ông vẫn đứng cách xa với vực thẳm bi thảm. Chúng ta có cảm tưởng như tác giả biết buồn để làm tăng thêm sự đậm đà của tình yêu. Cuộc đời vô vọng và em đã đi qua đời tôi, nhưng những dấu vết cuộc tình để lại luôn luôn cần thiết cho một cuộc sống đầy đủ thi vị, nó sẽ bất tử như đôi mắt em, đôi mắt chúng ta cùng biết nhớ nhung.:

 Mưa soi dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi mang niềm đau.

Đời em đã khép .. đi vội vàng

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng

Như cánh chim khuất ngàn, như cánh chim khuất ngàn

Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu.

Mưa soi dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi mang niềm đau

Thời nào yêu hết trái tim buồn, lời nào yêu hết trái tim buồn

Xin giữ trong mắt lệ, xin giữ trong mắt lệ

Nhòa theo từng gót chân người xa vời.

Mưa âm thầm buổi chiều thổn thức

Sẽ nhạt nhòa từ ngàn năm nữa như em khóc hồn nhiên

Nỗi muộn phiền ngày tàn hơi thở

Em thấy không cõi đời vô vọng.

Xin em hãy cho tôi tạ tình, khi em đã đi qua khoảng đời tôi.

Dù một khoảng khắc sớm phai tàn

Và lệ em rớt trên môi nhạt

Đôi mắt em rất buồn, đôi chúng ta rất buồn

Vạn câu tình cũ, xin gửi cho đời.

          Chẳng phải Ngồi Lại Bên Cầu Thương Dĩ Vãng như nhà thơ Hoài Khanh, Từ Công Phụng ngồi xuống và khẩn khoản mời người yêu ngồi bên cạnh mình để nghe mùa xuân tình tự. Mùa Xuân, mùa của hy vọng, của đổi mới, chẳng ở đâu xa. Nó nằm giữa đất trời và ở ngay trong lòng những người biết yêu nhau, đang yêu nhau.Hoa lá cỏ cây là tiếng nói của mùa xuân đang tình tự.Âm nhạc là tiếng thở giải bày tâm sự của người nhạc sĩ biết yêu.Chúng ta hãy thử nghe trong thời khắc tuyệt vời của đất trời, người nhạc sĩ nói những gì với người yêu của mình.Biết đâu chính mỗi chúng ta là một người yêu của nhạc sĩ.

Em, lại đây với anh

ngồi đây với anh

trong cuộc đời này

nghe thời gian lướt qua

mùa xuân khẽ sang

chừng như không gian đang sưởi ấm những giọt tình nồng

tay này tay nắm tay

nhìn nhau đắm say

như chưa bao giờ

nghe chừng trong mắt nâu

hồn anh đã tan thành mùa xuân ngọt ngào phủ ấm thiên đường đôi ta ...

Đã qua đi ngày tháng uá môi sầu nhớ tình người buồn tênh ...

Em chút giọt lệ ấm, khóc mừng một ngày hạnh phúc miên man ...

qua ... ngày buồn đã qua

đã có em trong cuộc đời này

em, ngồi đây với anh

cùng nhau lắng nghe

giòng sông đang thầm thì trong đất những khúc nhạc tình ...

em, lại đây với anh

ngồi đây với anh

trong cuộc đời này

bên đàn chim hót ca

này em có hay

mùa xuân đang mờ toang trong mắt người tình... mênh mang

          Tuổi Xa Người là một ca khúc mang nhiều tính chất bi quan của Từ Công Phụng. Sự hoài nghi làm cho ông cảm thấy lạc loài. Tình yêu là điểm tựa tối cần cho đời người. Xa vắng nó, sự cô đơn tức khắc vây bủa khắp nơi. Lòng người sẽ tê lạnh, dù đâu đấy vẫn như nghe còn có người gọi tên. Nỗi buồn đi từ rộng lớn đến góc độ hẹp nhất, như từng chân tóc mà vẫn có thể nhận ra sự hiện hữu vô cùng của nó. Nỗi buồn không những phá phách vô tư trên dung nhan của tuổi thơ  mong manh, mà còn để dấu chân hằn sâu qua từng chặng đời. Mỗi ngày chúng ta thầm trừ đi một khoảnh khắc cuộc sống của mình. Khoảnh khắc quí giá nhất vẫn là thanh xuân. Khi tuổi trẻ bỏ xa người mỗi ngày một nhiều, chúng ta chắc sẽ không giữ nguyên vẹn mọi ước muốn, ngoài một nỗi buồn. Hiểu như vậy chúng ta hẳn thông cảm được với tác giả, và sự bi quan của ông cũng không có gì đáng ngạc nhiên:

Một chiều êm tay đan tay dìu nhau trên lối

Đưa em đi nhè nhẹ vào đời

Bằng vòng tay tôi nâng niu mùa thu thức giấc

Đưa em vào ngày tháng vỗ về

Kể từ em đem cô đơn mọc lên phố vắng

Khi em mang nụ cười khỏi đời

Từng chiều rơi nghe như cõi lòng mình tê tái

Ngỡ như đời còn gọi tên nhau

Ngày đó khi một lần, một lần tiếng hát

Đồng lõa đưa em vào vùng trời lấp lánh

Bằng những cánh sao trời đầy đôi mắt ngước trìu mến.

Em, em xa dần ngàn đời hoang vắng

tôi đi về buồn chưng kẽ tóc

bước chân này còn trọn kiếp hoang vu

Một mình đi lang thang trong mùa đông rét mướt

nghe bơ vơ hồn mình lạc loài

Buồn dậy lên trên dung nhan gầy xanh cuả tuổi

trên tháng ngày hằn vết đời mình

Trời mùa Đông hong khô đi niềm tin sỏi đá

trên đôi tay này mình còn gì

Và giòng sông trôi đi vô tình mang tất cả

cuộc đời này của người hay tôi

          Con Sóng Tình Vỗ mãi một âm quen hay con sóng tình vỗ mãi một âm quên. Cả hai chữ cuối cùng “quen” hay “quên” đều có cái hay riêng của nó. Vượt qua tất cả những biến động bên mình để vỗ lại, hát lại một âm điệu quen thuộc, xưa cũ đầy dấu yêu quả thật chân tình. Cũng gạt bỏ mọi chuyện để nhắc nhở lại một âm điệu đã quên từ lầu, nay bất ngờ có cơ hội nhắc lại, lặp lại, vỗ lại, như một thức tỉnh không phải thiếu thi vị. Chúng ta hãy lắng nghe Trên Ngọn Tình Sầu, và tự chọn cho mình một chữ thích hợp, trong ca khúc mà có nhiều bản viết không thống nhất hai từ Quen hay Quên.

Hạnh phúc tôi hạnh phúc tôi

Từ những ngày con nước về

Ngoài trời mưa mau ngoài trời mưa mau

Tay vuốt mặt không cùng

Bầy sẻ cũ hom hem

Chiều mái xám rêu xanh

Trời êm cao chân nhỏ

Cũng không về trên dòng sông tội lỗi

Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh

Môi thâm khô từ thuở định hôn người

Ngày tháng hạ khi không mà trở rét

Giọt nắng vàng lung linh màu lạnh ngắt

Sao khi không người ngoảnh mặt kiêu sa

Chiều qua đó chân ai còn ríu rít âm thưa

Lời ai ru như mơ cho trời xuống thật gần

Người trông ngóng hương đưa mùi mái tóc đêm mưa

Nhẹ theo lá oan khiên lả tả mái hiên người

Tôi nghe hắt hiu từ mắt em ngắt tạnh

Còn dế buồn tự tử giữa đêm sương

Bầy sẻ cũ cũng qua đời lặng lẽ

Em ở đó bờ sông còn ẩm cát

Con sóng tình vỗ mãi một âm quen

          Trên Ngày Tháng Đã Qua, như một hoan hỷ ca. Để chuẩn bị cho sự lạc quan, Từ Công Phụng đưa ra những giọt lệ của những cuộc tình không trọn. Đây chính là phó bản thường có của cuộc đời thường. Niềm tin lẫn âm nhạc sẽ là những cứu cánh, người nhạc sĩ đã cổ võ một cách tích cực, rút từ vốn sống của ông.

Rung một cánh nhạc buồn

Phím có hay người khóc trên cung đàn lẻ loi

Rơi một ngấn lệ sầu

Có ai hay người khóc cho duyên tình bẽ bàng

Rung một cánh nhạc buồn

Rơi một ngấn lệ sầu

Có ai hay người khóc trong tinh cầu lẻ loi

Ngoài kia mưa là những giòng lệ rơi

Theo cuộc tình khi cơn bão đi qua đời mình

Người ơi, người ơi tìm đâu thấy nửa đời xuân thắm

Với tình yêu chúng ta như giọt sương sớm mai

như giọt sương sớm mai long lanh trên cánh hoa vàng

Gom môt chút nắng vàng

Hát lên soi hạnh phúc trên tháng ngày đã qua

Em nhìn thấy chút gì

Có phải chăng rạn vỡ trong tâm hồn chúng ta

thôi còn ngấn lệ này với một chút nhạc buồn

Hát lên cho đời sống vơi đi niềm đớn đau

          Có lẽ cuộc sống trở nên xinh xắn hơn, đậm đà hơn nếu đời người có những lần được thất tình. Tôi ngờ rằng một số thi nhạc sĩ và những người sinh hoạt văn nghệ khác thường mong mỏi cho mình gặp được những cảnh ngộ thấm thía như thế.

          Nhạc sĩ Từ Công Phụng được bao nhiêu lần khóc vì người yêu. Có thể có và cũng có thể không. Nhưng ông vẫn viết những ca khúc đau lòng, vì nhiều người, vì chính chúng ta có thói quen tâm đắc với chuyện tan vở. Giọt Lệ Cho Ngàn Sau có lẽ sẽ còn được nhiều thế hệ sau cho tiếp tục chảy.

Lối rêu xưa sẽ mờ dấu chân người

người buồn cho mai sau, cuộc tình ta tan mau

Thoáng như chiếc là vàng bay

mùa thu qua, mùa thu qua hững hờ

Nhìn nhau cho thêm đau, nhìn nhau cho mưa mau

Mưa trên nụ cười mưa trên tình người

lệ nào em sẽ khóc ngàn sau

Với đôi tay theo thời gian tôi còn

một trời mây lang thang, một mình tôi lang thang

Lá vẫn rơi bên thềm vắng

từng thu qua, từng thu qua võ vàng

Nhìn nhau cho thêm đau, nhìn nhau cho mưa mau

Mưa trên cuộc đời mưa như nghẹn lời

lệ này em sẽ khóc ngàn sau ...

Một mai khi xa nhau

người cho tôi tạ lỗi

kiếp sống đã rêu phong rồi

Giọt nước mắt xót xa

nhỏ xuống trái tim khô một đời tôi tê tái

Lắng nghe muôn cung sầu hắt xuống đời

Một trời tôi thương đau, một trời em mưa mau

Sống buông xuôi theo ngày tháng

từng thu qua vời trông theo đã mờ

Lệ rơi trên tim tôi, lệ rơi trên đôi môi

Yêu nhau một thời xa nhau một đời

Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi

Yêu nhau một thời xa nhau một đời

Lệ này em nhỏ xuống hồn tôi...

          Nội dung của một bài thơ, một ca khúc có giá trị thật sự vốn không cần phải minh họa, phụ diễn hoặc ăn ké vài lời đẩy đưa. Nhạc Từ Công Phụng nói chung hay ca khúc Kiếp Dã Tràng nói riêng, có sức sống mạnh mẽ trong giới thưởng ngoạn. Nghe những lời ba hoa bên lề ca khúc không thể nào tịnh tâm đi cùng âm thanh mà Từ Công Phụng đã đem lại cho chúng ta. Lời giới thiệu lúc nào cũng đứng khiêm nhường trong cái duyên phải có rất khiêm nhường của nó. Xin hãy nghe Từ Công Phụng quan niệm về cuộc đời qua ca khúc Kiếp Dã Tràng :

Chiều vàng vương gót mỏi ta dừng chân phiêu du

Lặng nghe sóng gọi ngọt ngào

Hàng dừa nghiêng bóng ru nhau thầm thì lời âu yếm

Dìu nhẹ đôi cánh mềm rã rời

Đàn chim bé nhỏ ngập ngừng

Nhẹ hương gió đưa về khoảng trời cũ

Một mình ta đứng nhìn mối tình duyên tan theo

Ngàn con sóng gào bạc đầu

Nhẹ sầu lên dấu chân ghi cuộc tình nhòa trên cát

Lời người nghe đã chợt lạc loài

Trên thân dã tràng tủi phận

Hoài công tháng năm xe cát biển Đông

Thời gian như ngừng trôi giữa chiều tàn tạ

Thầm gọi tên người đã vắng xa phương trời

Cuộc tình như cơn lốc mang theo hồn người

vào trùng dương khép kín u mê ngàn đời

Tình người đâu có thấu cho ta?

Thân mang kiếp dã tràng đem đời xe tơ duyên

Trên bãi cát vàng hão huyền

Chợt nghe lớp sóng xô lên đời mình nhiều cay đắng

Cuộc tình trên tháng ngày muộn phiền

Còn in vết hằn đời mình

Người ơi hãy ru tình ta vùi quên

Thời gian như ngừng trôi giữa chiều tàn tạ

Thầm gọi tên người đã vắng xa phương trời

Cuộc tình như cơn lốc mang theo hồn người

vào trùng dương khép kín u mê ngàn đời

Tình người đâu có thấu cho ta?

Thân mang kiếp dã tràng đem đời xe tơ duyên

Trên bãi cát vàng hão huyền

Chợt nghe lớp sóng xô lên đời mình niềm cay đắng

Cuộc tình trên tháng ngày muộn phiền

Còn in vết hằn đời mình

Người ơi hãy ru tình ta ... vùi quên

          Với cuộc đời, trong một khoảnh khắc buồn bất chợt, Từ Công Phụng chợt nhận ra Đời Bỗng Phù Du. Và trên lưng của tháng ngày, có thể ông đã soi vào quá khứ lẫn tương lai, để kịp phát hiện mình là một người mộng du. Rồi buồn chán lẫn sợ hãi, ông nhìn chung quanh. Không gặp một cứu rỗi nào. Mà tìm thấy một loài cỏ dại buồn tênh, an phận với cuộc đời chênh vênh thầm lặng. Ám ảnh bởi sự sinh tồn mỏng mảnh của đời người, Từ công Phụng không thấy được sự thong dong của cỏ cây. Trong liên tưởng, ông nhận ra sự đồng cảnh với mình bởi những đam mê thường dẫn đến chia ly. Những cố gắng vươn sống cũng trở thành công dã tràng. Thê thảm hơn, ông còn chợt nhận ra mình là một dòng sông cạn, mệt nhoài bởi những nghiệt ngã của cuộc tình, cuộc đời. Rất may, trong phút giây ngã lòng đó, người nhạc sĩ kịp nhận ra cái phù du cũng chính là cái thiên thu của lẽ sống còn và không thể làm gì khác hơn là ký thác lòng mình, tình mình vào âm nhạc:

Tôi như người mộng du

sống cuộc đời bềnh bồng

ngó quanh đời quạnh hiu

buồn rơi theo năm tháng

chết trên lưng tháng ngày

tôi như loài cỏ dại

tôi như loài cỏ dại

suốt một đời chênh vênh

suốt một đời buồn tênh

em có thương thì xin

chút hiền ngoan thật lòng

cõi đời này là những đam mê

những chia ly

những đớn đau lẻ loi

nên vẫn hoài công đi se cát biển

nhớ mênh mông tình vẫn như không đời...đời

tôi như dòng sông cạn

uốn quanh đời mệt nhoài

cuốn theo dòng nghiệt ngã

buồn rơi theo năm tháng

úa trên lưng tháng ngày

tôi mang hồn cỏ dại

ngây ngô tự hỏi lòng

bỗng một ngày thiên thu

bỗng một đời phù du

          Tuy vậy, cánh tay cứu rỗi của giai điệu, âm thanh... chưa và có lẽ còn rất lâu, mới đủ khả năng loại bỏ con người bi quan, đang sống nhờ trong tâm hồn Từ Công Phụng. Và vì thế, ông vẫn còn phải tiếp tục dựa vào âm nhạc để trôi trên lưng ngày tháng của ông. Nhờ đó từ năm 1995 đến năm 1997, giới yêu nhạc Việt Nam tiếp tục sưu tập những ưu tư, phiền muộn của người nhạc sĩ sinh ra từ xứ trầm hương này, qua các sáng tác Vẫn Một Đời Quạnh Hiu (1995), Một Góc Đời Phôi Pha (1997), Bên Kia Đời Quạnh Quẽ (1997)...

          Hình như càng giàu tuổi đời, nỗi bi quan trước cuộc sống của Từ Công Phụng, càng phong phú. Nó giống như “tóc bạc, càng cắt càng dài ra” chăng ?... Khó có ai không thể không nghĩ về tuổi đời của mình. Ngày tháng trước mặt cứ tiếp tục hao đi. Thịt da thầm lặng thay đổi trong từng tí tắc, nhưng đâu dễ nhận ra. Càng ngó lui đời mình càng ngậm ngùi lo cho những ngày sắp tới. Cái lo, cái sợ đẻ ra cái cô đơn. Nếu may có chút tài vặt, viết chơi một đôi dòng, vẽ bậy vài hình ảnh... để lấp bớt khoảng trống. Còn không, đành phải đọc, phải nghe, phải nhìn.., nói chung là phải bám lấy một cái thích tình cờ nào đó.

          Nằm nghe Từ Công Phụng tỏ tình qua tiếng hát của chính tác giả và nhiều ca sĩ tên tuổi khác, tôi chợt thấy thèm xem tận mắt những ca khúc họ Từ đã cho in, cho phát hành.Dĩ nhiên, không quên tò mò tìm hiểu một chút tiểu sử của tác giả.

          Qua tài liệu của nhạc sĩ Trường Kỳ, và nhiều nguồn khác trên máy vi tính, tôi không tìm thấy năm sinh của Từ Công Phụng. Ở Tác Giả Việt Nam, Lê Bảo Hoàng ghi năm 1943 là năm đất Vân Lâm Ninh Thuận (thuộc Phan Rang), có ấu tử Từ Công Phụng ra đời trong nghi lễ Hồi Giáo hẳn hoi. Có thể chính xác và cũng có thể sai . Sai, đúng từ nguồn cung cấp. Nhưng điều chắc chắn là năm lên 18, Từ Công Phụng đã có ca khúc đầu tay. Và ca khúc trình làng đầu tiên rơi đúng vào năm thứ nhất của thập niên 60 với tên Bây Giờ Tháng Mấy ?... Từ đó đến nay, anh chàng tốt nghiệp cử nhân luật đại học luật khoa Sài Gòn, đã cho ấn hành bốn tuyển tập nhạc:  Tình Khúc Từ Công Phụng (1968, tái bản 1969), Trên Ngọn Tình Sầu (1970, tái bản 1994), Giữ Đời Cho Nhau (1983 tái bản 1993), Một Góc Đời Phôi Pha (1999).

             Lần mở từng tập nhạc có trong tay, chỉ cần dựa vào các tên bài (Bây gìờ tháng mấy 1 &2, Mùa xuân trên đỉnh bình yên, Mùa thu mây ngàn, Trời về đêm mưa, Còn một buổi chiều, Người về trên mây, Vùng trời kỷ niệm, Lời của thành phố, Đêm độc thoại, Tuổi xa người, Ngồi bên nhau, Vào mưa – Trên ngọn tình sầu, Kiếp dã tràng, Mưa trên ngày tháng đó, Từ khúc, Giọt lệ cho ngàn sau, Rời nhau, Như ngọn buồn rơi, Xứ thâm trầm, Lời của mẹ, Đêm không cùng, Lời Cuối, Mòn mỏi - Giữ đời cho nhau, Qua vùng biển nhớ, Hóa kiếp, Mắt lệ cho người tình, Nằm nghe em hát trên vùng biển, Một thoáng nhìn nhau, Tình tự mùa xuân, Một mình trên đồi nhớ, Thiên đường quạnh hiu, Trên tháng ngày đã qua, Như chiếc que diêm, Mùa xuân và tình yêu em – Khi tôi đến nơi đây, Đời bỗng phù du, Vẫn một đời hiu quạnh, Một góc đòi phôi pha, Bên kia đời quạnh quẽ, Mãi mãi bên em, Âm thầm mưa, Hóa thạch, Mây hồng, Giận hờn, Lối mòn thiên cổ, Đừng nữa nhé chia lìa), chúng ta quả có thể tin rằng: càng có thêm tuổi đời, Từ Công Phụng càng để mắt đến cuộc đời. Có lẽ vì vậy sự lạc quan trước cuộc sống ở trong ông vơi đi nhiều. Nhà thơ Ngu Yên, trong bài tựa cho tập Một Góc Đời Phôi Pha đã nghiệm thấy:

          “...Đối diện với sinh tồn mong manh, ly tán thường tình, người nghệ sĩ thỉnh thoảng vẫn ngạc nhiên. Ngạc nhiên, có lẽ là một trong những điểm khác biệt giữa nghệ sĩ và người thường. Hàng ngày, nghệ sĩ vẫn tiếp tục ngạc nhiên về những sự kiện chung quanh. Nhờ ngạc nhiên, họ tiếp tục sáng tạo một cách nhìn mới, một ý nghĩa mới, hay một cảm xúc cá biệt về một điểm rất quen thuộc, có khi rất nhàm chán. Ngạc nhiên là tín hiệu của cô đơn. Bởi vậy, dưới bất cứ một góc nhìn nào, nghệ sĩ mãi mãi là người cô đơn...”

          Từ Công Phụng càng ngày càng giàu cô đơn ra thật. Chuỗi cô đơn của ông có lẽ còn kéo dài vô cùng tận. Bởi như xác quyết của nhà thơ Du Tử Lê:

          “...Qua, dòng sông âm nhạc mang tên Từ Công Phụng, tôi chợt hiểu, âm nhạc khởi đi từ những trái tim tài hoa lớn, là một gắn bó vượt khỏi biên giới một không gian, xóa bôi được mọi lằn ranh hữu hạn vắn vỏi năm, tháng...”

          Du Tử Lê không quên quả quyết đánh giá, Từ công Phụng đã biến đời thường của ông thành “Đời nhạc Từ Công Phụng, khởi nguồn, đã tự mặc khoác lấy cho chúng tính bất biến của định mệnh. Định mệnh của/ đời trăng không già/mặt trời mãi thổn thức...”

          Còn rất nhiều nhận xét về nhạc Từ Công Phụng. Những nhận xét đã hiện thành chữ, đã in lên giấy. Những nhận xét vĩnh viển tiềm ẩn trong đầu, có hoặc không thể hiện thành động tác gật gù, nho nhỏ hát theo, hoặc trầm tư xa vắng...Những cảm nhận mặc nhiên là những đánh giá. Cảm nhận của anh, cảm nhận của chị, cảm nhận của tôi, cảm nhận của mỗi người trong chúng ta luôn luôn có thật, luôn luôn xảy ra. Không có chúng, chúng ta sẽ không tìm nghe lại, không tìm nghe thêm. Thích, mê, tâm đắc hay bất cứ một ràng buộc vô hình nào khác, cũng khởi từ cảm nhận, đánh giá. Riêng với Từ Công Phụng, nghĩ và viết về nhạc của ông còn rất nhiều người. Ở đây, tôi xin trích thêm một nhận xét, mà tôi tin rằng tương đối gần với trình độ thưởng ngoạn âm nhạc của đại đa số bình thường:

          “...Khởi đi từ Bây giờ tháng mấy, những tình khúc Từ Công Phụng như những đợt sóng biển tiếp nối nhau vỗ về cõi lòng của những người trẻ thuộc nhiều thế hệ. Chẳng có cuộc tình nào giống cuộc tình nào. Mỗi cuộc tình là một tế giới riêng lẻ. Mỗi ánh mắt là một tín hiệu âm thầm. Mỗi nụ cười là một hân hoan nhớ đời. Mỗi giọt nước mắt là một mất mát  khó quên. Tình ca Từ Công Phụng đã len lỏi vào từng thế giới thân thiết đó.Chúng không phải là những tình ca lướt trên da thịt mà đã luồn lách vào từng giòng máu, từng hơi thở của những người yêu nhau...Từ Công Phụng đã cho những tình nhân thứ ngôn ngữ đằm thắm, thâm trầm đầy trí tuệ...”

          Lời bạt của nhà văn Song Thao dành cho tập Một Góc Đời Phôi Pha, trích trên, quả thật sáng sủa và có giá trị chính xác cao.

          Để kết thúc những dòng tán gẫu này, thay vì cảm ơn Từ Công Phụng, tôi chợt quyết định bán cái cho ông cái quyền ngỏ lời cùng chúng ta. Thế mới thật thú vị:

          “Tình ca như những dòng sông hiền hòa chảy hoài từ ngàn kiếp. Đó là thứ hạnh phúc bắt gặp trong buổi sáng nắng dậy chan hòa, vcó bông hoa nở rộ và chim muông ngợi ca một ngày mới bắt đầu bằng nụ hôn nồng ấm của đôi tình nhân.

          Tình ca là những lời phủ dụ ngọt ngào của tình yêu như dòng suối róc rách từ thiên thu dành cho đôi tình nhân của bao miên man thế hệ, như một kẻ đồng lõa cho sự tồn tại của nhân loại.

          Xin cảm ơn Đấn Tạo Hóa đã ban cho loài người có trái tim biết rung động, có tâm hồn biết thổn thức để tình yêu và cuộc đời còn được thăng hoa bằng những bản tình ca.

          Nếu chim muông chỉ có một thời để ca hát, cỏ cây chỉ có một thời ssể xanh tươi, và loài người chỉ có một thời để sống và một thời để chết, thì xin hãy hát lên những bản nhạc tình để ngợi ca một thời để sống trước khi bước vào những nỗi khốn cùng buồn thảm của cái chết lẻ loi.

          Bởi vậy, tình ca là con đường tôi đã chọn và cưu mang một đời.Dù tôi có là chứng gian cho những cuộc tình không thực, nhưng ít ra tôi đã mang đến một chút hạnh phúc nhỏ nhoi, một chút kỷ niệm khó phai mờ cho những kẻ tình nhân của một thời yêu thương say đắm...

          Xin cảm ơn những kẻ tình nhân đã nâng niu những bản tình ca của tôi từ những thập niên qua như là nhân chứng cho tình yêu của mình, dù chúng có mang những nỗi hân hoan trong đôi mắt hay nụ cười, dù chúng có chứa chan những giọt lệ ngậm ngùi cho một đời tình ngắn ngủi.

          Xin các bạn hãy mở những trang tiếp theo, và hãy hát cho nhau nghe những lời tiếp tục ngợi ca tình yêu – cho tôi hay cho các bạn - vẫn mong là nỗi niềm của chúng ta một đời thủy chung dâng hiến”   

                                                 

Luân Hoán

Kim Phượng st

 

Xem thêm...

Tiếng Việt - Phạm Đình Lân

  *******

cungoanngam

Cung Oán Ngâm (Nguồn hình: internet)

Như tất cả các dân tộc khác trên thế giới, người Việt Nam có tiếng nói từ lúc bình minh lịch sử nhưng tiền nhân chúng ta không có chữ viết. Đó là tình trạng chung của các dân tộc sống ở miền Nam sông Dương Tử đến thung lũng sông Hồng, sông Mã và sông Cả cách đây 3000 năm. Ở Trung Hoa có lối 500 thổ ngữ khác nhau nhưng tất cả các tộc đều cùng chung một chữ viết.

Người Việt Nam học Hán tự từ các nhà cai trị Trung Hoa dưới thời Bắc Thuộc (111 trước Tây Lịch đến 938 sau Tây Lịch). Vào thế kỷ 13 Nguyễn Thuyên, Thượng Thơ Bộ Hình dưới triều Vua Trần Nhân Tôn (1225–1258), là người đầu tiên làm thơ bằng chữ Nôm. Ông được Vua nhà Trần cho đổi sang họ Hàn sau khi làm một bài Văn Tế khiến cho con sấu hung tợn trên sông Phú Lương bỏ đi. Sự kiện nầy giống như Hàn Dũ (768–823) đời Đường đặt Văn Tế cá sấu khi làm Thứ Sử ở Triều Châu. Tuy vậy chữ Nôm vẫn chưa phát triển. Các cuộc thi tam trường qua các triều đại ở Việt Nam đều bằng chữ Hán.

Điều đáng chú ý là chữ Nôm không giản dị như nhiều người lầm tưởng. Cách diễn đạt nôm na thì đơn giản. Thay vì nói “nhất nhân hành” ta nói “một người đi”. Nhưng cách viết chữ Nôm rất rắc rối vì nó đòi hỏi người học phải biết chữ Hán. Vào thế kỷ 8 dân chúng tôn Phùng Hưng là Bố Cái Đại Vương. Vào thế kỷ 10 Đinh Tiên Hoàng đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Danh hiệu Bố Cái Đại Vương hay quốc hiệu Đại Cồ Việt đánh dấu sự kết hợp của chữ Nôm và chữ Hán ngay từ thế kỷ 8 và 10.

Hoàng Đế Quang Trung là người mạnh dạn trong việc quảng bá chữ Nôm. Vào thế kỷ 19 những tác phẩm nổi tiếng như Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du và Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu đều được viết bằng chữ Nôm. Trước đó Đặng Trần Côn viết Chinh Phụ Ngâm Khúc bằng chữ Hán. Bà Đoàn Thị Điểm đã diễn Nôm tác phẩm nầy một cách đặc sắc đến nỗi nhiều người ngờ rằng bà là tác giả của áng văn tuyệt tác nầy.

Từ năm 1862 chữ Quốc Ngữ được giảng dạy ở ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường). Giáo Sĩ Pháp Alexandre de Rhodes (1591–1660) phát minh ra chữ Quốc Ngữ vào thế kỷ 17 để tiện việc giảng giáo lý ở Đàng Ngoài. Đến năm 1867 Pháp chiếm đóng toàn thể Nam Kỳ Lục Tỉnh nên thi Hương đương nhiên bị bãi bỏ ở Nam Kỳ. Kỳ thi Hương năm 1915 là kỳ thi cuối cùng ở Bắc Kỳ. Ở Trung Kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình chấm dứt vào năm 1918. Từ đó về sau toàn thể ba miền ở Việt Nam đều học chữ Quốc Ngữ hiện đang lưu hành trong nước. Như vậy Việt tự hiện hành ra đời do công lao của một Giáo Sĩ người Pháp gốc ở Avignon. Nó mới thịnh hành trên toàn thể nước ta vào đầu thế kỷ 20 mà thôi.

Đặc Điểm Của Tiếng Việt

1.- Tiếng Việt là một thứ tiếng độc âm. Các tiếp đầu ngữ (prefix) và tiếp vĩ ngữ (suffix) đều độc âm không giống như tiếng Pháp hay tiếng Anh. Thí dụ: hậu chiến (post-bellum hay post-war); bán quân sự (para-military); Việt Nam hóa (Vietnamization); Mỹ hóa (Americanization) v.v…

2.- Tiếng Việt tương đối thuần nhất. Dù cách diễn tả có phần khác nhau nhưng dân chúng ở ba miền vẫn có thể hiểu nhau. Ở miền Bắc người ta nói: “Nhặt hộ tôi quả bóng.”  Ở miền Nam, cũng ý nghĩa của câu nầy, người ta nói: “Lượm giùm tôi trái banh.”  Một vài khác biệt về cách dùng từ ngữ được tìm thấy ở ba miền. Khi nói đến xương mỏ ác, người miền Nam chỉ trên đầu, người miền Bắc chỉ trên ngực. Người miền Nam gọi đó là xương ức hay chấn thủy (stenum). Đối với người miền Bắc và miền Trung sầm uất là nơi ồn ào náo nhiệt. Ở miền Nam sầm uất là nơi vắng vẻ, âm u, có nhiều bụi bậm hay đầy dẫy bình vôi. Người miền Bắc gọi trái mãng cầu là trái na, cái muỗng là cái thìa, trái mận là trái roi, con heo là con lợn v.v… Ở miền Trung “không có răng” có nghĩa là “không có sao”.

3.- Tiếng Việt dồi dào âm thanh vì có nhiều dấu. Đọc sai dấu hay viết nhầm dấu có thể gây ra những hiểu lầm đáng tiếc. Chính vì có nhiều dấu mà việc học Việt ngữ trở nên khó khăn đối với người ngoại quốc vì họ khó phát âm đúng được.

Hình dung từ trong tiếng Việt rất phong phú và gợi hình. Con mèo đen được gọi là mèo mun. Con chó đen thì gọi là chó mực. Con gà đen thì gọi là con gà ô hay con gà quạ. Con ngựa đen thì gọi là ngựa ô. Con ngựa trắng thì gọi là con ngựa kim hay ngựa bạch (Bạch mã). Con chuột trắng thì gọi là chuột bạch.

Về giống ta có: đực, cái, trống  mái. Hình dung từ đực và cái dành cho các loài có vú và thú vật to lớn như chó đực, chó cái, bò đực, bò cái. Hình dung từ trống và mái dành cho loài thú nhỏ và loài cầm vũ như cá trống, cá mái, gà trống, gà mái, chim trống, chim mái v.v…

Hình dung từ chỉ về cảm giác thì có đau, nhức, lói, ê, thốn, tức, rim, tê, buốt.

Hình dung từ dốt trong tiếng Việt vừa khôi hài vừa gợi hình. Dốt là trạng thái không sống cũng không chín. Me dốt không phải là me chín cũng không phải là me sống. Bánh tráng dốt không hoàn toàn ướt nhưng chưa khô. Người dốt không phải là người mù chữ nhưng sự hiểu biết còn nhiều thiếu sót.

Động từ porter của Pháp tương ứng với bồng, bế, gánh, gồng, cõng, khiêng, khuân, vác, đội, mặc của Việt Nam. Chữ Ăn được xử dụng rộng rãi như ăn cơm, ăn tiệc, ăn Tết, ăn chịu, ăn chực, ăn mặc, ăn mày, ăn nằm, ăn nói, ăn mộng, ăn nhịp, ăn khách, ăn khớp, ăn ở, ăn thua, ăn trớt, ăn gian, ăn lận v.v

4.- Tiếng Việt phong phú nhưng không có qui luật văn phạm. Động từ ‘To Be’ hay ‘Etre’ mà ta dịch ‘Thì’ hay ‘Là’ thường vắng mặt trong các câu nói hay câu văn. Trong tiếng Việt không có chia động từ và không có thì trong động từ. Trần Trọng Kim soạn quyển Văn Phạm Việt Nam sau khi ông tiếp xúc với văn hóa Pháp. Article thì dịch ra là quán từ; conjonction: liên từ; verbe: động từ; préposition: giới từ; complément: túc từ; adjectif: tĩnh từ. Le, la, un, une, les, des thì tương đương với bên Việt ngữ cái, con, các, những. Quán từ cái dùng chỉ vật bất động như cái chén, cái khăn. Quán từ con dùng để chỉ thú vật hay vật có thể di động như con gà, con cọp, con đường, con sông. Nhưng người Việt Nam không nói cái cam, cái bưởi, cái núi mà trái cam, trái bưởi, trái núi. Đây là một phần của sự phức tạp của tiếng Việt. Không hẹn vẫn gặp. Đó là trường hợp không dùng quán từ trước những danh từ không đếm được (uncountable nouns) như vẫn thấy trong qui luật văn phạm Anh và Hoa Kỳ. Do đó người ta không nói cái thì giờ, cái tiền bạc, cái cảm tình mà nói: thì giờ, tiền bạc, cảm tình. Trên thực tế không biết có bao nhiêu người Việt Nam viết thơ văn tiếng Việt suôn sẻ nhờ thấu triệt văn phạm Việt Nam.
Tiền nhân chúng ta có câu:

Vua có khó thì thợ mới hay.
Mẹ chồng khó thì nàng dâu mới khéo.

Chế độ quân chủ và xã hội giai cấp thời phong kiến góp phần đáng kể vào việc phong phú hóa Việt ngữ. Ngày xưa chỉ có vua mới được dùng màu vàng và mặc áo vàng trên đó có thêu rồng với đầy đủ 5 móng. Một số từ ngữ chỉ dành cho vua và hoàng tộc mà thôi. Áo của vua được gọi là Long Bào hay Hoàng Bào. Thân thể của vua gọi là Long Thể. Mặt vua gọi là Long Nhan. Ý của vua gọi là Thánh Ý. Ấn của vua gọi là Ngọc Tỷ. Giường vua nằm gọi là Long Sàng. Chuối vua ăn gọi là Chuối Ngự. Vua bịnh thì gọi là vua se mình. Mồ mả của vua thì gọi là Lăng Tẩm. Vua chết thì nói là Vua Băng Hà. Hoàng Hậu sinh con thì gọi là Hoàng Hậu Lâm Bồn.

Không một thần dân nào dám gọi tên vua hay dùng tên vua để đặt tên cho con mình. Do đó trong tiếng Việt có những chữ đồng nghĩa nhưng không đồng âm vì phải đọc trại ra. Nghĩa trở thành ngãiđức: đước; đảm: đởm; phúc: phước; nhân: nhơn; hoa: huê; nhật: nhựt; hoàng: huỳnh; vũ: võ; uy: oai; dũng: dõng; tôn: tông; nhậm: nhiệm v.v... Thay vì nói: ăn ở cho có nhân có nghĩa và phải có đức độ người ta nói: ăn ở cho có nhơn có ngãi và phải có đước độ. Can đảm trở thành can đởm.

Điều này rất phổ cập từ thế kỷ 17 ở Đàng Trong, vùng ảnh hưởng của họ Nguyễn. Chữ phúc trở thành phước vì đó là chữ lót của các chúa Nguyễn bắt đầu từ chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đến các vua nhà Nguyễn sau nầy. Vua Gia Long tên là Nguyễn Phúc Ánh. Bảo Đại tên là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Đảm, Tôn, Nhậm là tên gọi của vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

Cách xưng hô của người Việt Nam thời phong kiến rất phức tạp vì tùy thuộc vào địa vị và tuổi tác của người xưng hô. Đại danh từ ngôi thứ nhất của Pháp là JE và của Anh là I. Trong tiếng Việt ta có: Trẫm, Thần, Thiếp, Lão, Ta, Tôi, Tao, Tớ, Con, Cháu, Em, Anh...

Tiếng Việt phong phú vì Việt Nam là giao điểm tiếp thu văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, văn hóa Hồi giáo và Thiên Chúa giáo. Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm nô lệ và hàng trăm năm dưới chế độ phong kiến và độc tài nên phải khéo léo trong lời nói và cách sử dụng từ ngữ mới sống yên ổn được.

Ngoại Ngữ Trong Tiếng Việt

Ngôn ngữ nào cũng có sự vay mượn ngôn ngữ nước ngoài. Hoa Kỳ là một nước hợp chủng nên sự vay mượn từ ngữ nước ngoài càng nhiều hơn. Những chữ bungalow, amigo, adios, coup d’etat, kindergarten, Salem, ahimsa… vay mượn từ tiếng Bengali, Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Do Thái, Ấn Độ.Nước ta trải qua một quá trình thuộc địa lâu dài nên sự vay mượn ngôn ngữ từ các quốc gia đô hộ rất nhiều. Ngay từ thế kỷ 2 sau Tây Lịch đã có người Việt đậu Hiếu Liêm hay Mậu Tài (1). Từ thế kỷ 11 đã có những kỳ thi tam trường trong nước ta. Tất cả sách vở mà các thì sinh học để dự các kỳ thi trên đều xuất phát từ Trung Hoa. Trên thế giới không có dân tộc nào say mê đọc truyện Tầu và hiểu trọn vẹn như người Việt Nam. Cho đến ngày nay các tu sĩ Phật giáo hay các thầy thuốc Đông Y đều phải học chữ Hán để nghiên cứu kinh Phật và Y Học cổ truyền Trung Hoa. Tất cả các từ ngữ triết học, luật học, mỹ thuật học, tôn giáo, văn chương, y học của Việt Nam đều vay mượn của Trung Hoa. Hoàng Xuân Hãn soạn quyển Danh Từ Khoa Học bằng cách dịch các danh từ khoa học của Pháp ra Việt–Hán. Hán tự giống như chữ La Tinh. Tất cả các loại thảo mộc hay dược thảo đều có tên Hán tự. Dây chùm bao (Passiflora) được gọi là lạc tiên; vỏ quít khô được gọi là trần bì; củ cỏ gấu (Cyberno Bulbosus) thì gọi là hương phụ; cây muồng trâu (Cassia Alata) là nam đại hoàng; cây sống đời (Kalanchoe Pinnata) là lạc diệp sinh căn.

Năm 1945 là năm những danh từ Việt–Hán được phổ biến sâu rộng trong quần chúng khiến cho người dùng tự tín và thích thú hơn mặc dù chỉ hiểu lờ mờ. Người ta dùng chữ phụ nữ thay thế cho chữ đàn bà vẫn thường được nghe trước đó. Trẻ em hay con nít được gọi là nhi đồng hay thiếu niên. Trai tráng được gọi là thanh niên. Khi hỏi tuổi người ta hỏi: “Anh được bao nhiêu niên kỷ?”  Khi hỏi tên người ta nói: “Quí danh anh là gì?”  Từ ngữ chánh trị và quân sự được đem ra ứng dụng. Ngôn ngữ chuyên môn và bác học được quảng bá trong quần chúng.

Trong thời ký chiến tranh cũng như khi có chánh quyền, người Cộng Sản không quan tâm đến chánh tả. Những chữ I và Y viết sao cũng đuợc miễn là đọc ra âm I là đủ rồi. Ông Nguiễn Ngu Í có vẻ thích thú về việc bãi bỏ chữ Y mà người Việt Nam nói là I dì-dách phát âm từ chữ Grec (Hy Lạp). Gạch nối không còn quan trọng nữa ngoại trừ bí danh Trường-Chinh của Đặng Xuân Khu. Vào thập niên 1960 chánh quyền miền Bắc luôn luôn nói đến sự trong sáng của tiếng Việt bằng cách tránh những từ Việt–Hán và đề cao những từ bình dân dễ hiểu như lối diễn nôm ngày xưa. Trực thăng được gọi là máy bay lên thẳng. Thủy quân lục chiến được gọi là lính thủy đánh bộ. Hội Hồng Thập Tự được gọi là Hội Chữ Thập Đỏ. Việc đề cao tiếng Việt trong sáng, việc đổi âm lịch vào năm 1967 và việc sửa bàn toán 5 nút ra 4 nút được hiểu như là một cóp nhặt sáng tạo và sự đối kháng ngấm ngầm với Trung Hoa.

Tỷ lệ người Việt Nam tin vào triết lý Phật giáo rất cao. Nhưng ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở Việt Nam không lớn. Lý do dễ hiểu là người Việt Nam học triết lý Phật giáo qua các sư tăng Trung Hoa chớ không qua các sư tăng từ Ấn Độ, Tích Lan hay Nepal. Phật giáo ở Việt Nam là Phật giáo đại thừa (Mahayana). Trên thực tế vai trò của đạo Phật rất nhỏ ở Ấn Độ nơì phần lớn dân chúng theo đạo Bà La Môn (Brahmanism) còn gọi là Ấn giáo (Hinduism).

Trong quá trình Nam tiến dân tộc Việt Nam tiếp xúc với Chiêm Thành và Chân Lạp là hai nước chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Ấn Độ. Tục hỏa thiêu của người Chiêm và Khmer do ảnh hưởng của người Ấn Độ mà ra. Từ thế kỷ 13 về sau người Chiêm Thành chuyển sang đạo Hồi (2). Một số khác vẫn còn theo đạo Bà La Môn. Người Khmer theo đạo Bà La Môn trước khi nghiêng theo Phật giáo tiểu thừa (Hinayana). Kiến trúc của đền Angkor Vat và Ankor Thom cho thấy ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở Cambodia.

Những từ Niết Bàn (Nirvana), sát na (đơn vị thời gian nhỏ nhất), Vệ Đà (kinh), Dhyana (Thiền), mật dà tăng (bột kim khí dùng làm thuốc), ưu bà di, ưu bà tắc (Nữ tu sĩ), karma (nghiệp chướng), swastika (chữ vạn), bồ đề (cây bodhi), xà tri (chetty)… đều là từ ngữ gốc Ấn Độ.

Người Việt Nam gọi thần nữ Chiêm Thành Po Nagor là bà Chúa Ngọc, vua Rudravarman III là Chế Cũ, Po Bin Swor là Chế Bồng Nga… Trong tiếng Việt không thấy nhiều vết tích của Chiêm ngữ. Tên các địa danh Chiêm Thành như Indrapura, Vijaya, Kauthara, Panduranga đã trở thành Đồng Dương, Qui Nhơn, Khánh Hòa, Ninh Thuận. Những địa danh như Phan Rí và Phan Thiết còn phảng phất những chữ Parik và Manthiet tức là tên cũ của hai địa danh nầy.

Nhiều địa danh ở miền Nam phảng phất ảnh hưởng của ngôn ngữ Khmer. Preikor (rừng gòn) đã trở thành Sài Gòn. Mỹ Tho, Sa Đéc, Bạc Liêu, Sài Mạt, Cà Mau đều được phiên âm từ chữ Khmer: Mề Sa (bà trắng), Psar Dec (chợ sắt), Po Loeuth (cây da cao); Banta Meas (Hà Tiên – thành bằng vàng). Tuk Khmau (nước đen). Những chữ ông lục (thầy tu), ốc nha (tổng trấn), Tầm Bôn (Katambon), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som), La Bích (Lovek) đều là tiếng Khmer phiên âm và Việt hóa.

Vào thế kỷ 18 quân Xiêm tấn công Hà Tiên. Lúc bấy giờ người ta thường dùng chữ phi nhã phiên âm từ chữ Phya của Xiêm La. Thời bấy giờ có một người Trung Hoa tên là Trịnh Quốc Anh làm phi nhã ở huyện Tak (Phya Tak – tri huyện Tak) lên làm vua ở Thonburi (3) sau khi đánh đuổi quân Miến Điện xâm lăng.

Dưới thời Pháp thuộc người Pháp du nhập nhiều loại rau cải, trái cây và các sản phẩm kỹ nghệ vào Việt Nam. Tất cả các vật nầy đều mới lạ đối với người Việt Nam. Tên gọi của chúng được phiên âm từ tiếng Pháp.

Dưới đây là một số từ ngữ vay mượn từ tiếng Pháp: xà lách (salade), cà tô mát (tomate), xà lách son (cresson), trái bom (pomme), bánh ga tô (gateau),  (beurre),  phó mát (fromage), ra gu (ragout), la ve (bière), cùi dìa (cuillère), cái tách (tasse), rượu vang (vin), áo sơ mi (chemise), áo bành tô (paletot), áo sú chen (soutien), áo py-ja-ma (pyjama), xe ô tô (auto), xe ô-tô-buýt (bus), ca rô (carreaux), dây lập lòng (fil à plomb), xăng (essence), xà bông (savon), đạo Gia Tô (Catholicisme), kí lô (kilogramme), ác xít (acide), dây sên (chaine), ghi đông (guidon), áp phe (affaire), lấy le (prendre l’air), phú lít (police), ma trắc (matraque), át bích (arbitre), ma sơ (ma Sœur), sút (soude), cây dên (bielle), cây láp (l’arbre), cái bu-gi (bougie), thịt cóc lét (cotelette), phi-lê (filet), di-văn (divan), xà lan (chaland), xà lúp (chaloupe), xe cam nhông (camion), xe bù-ệt (broette), nhà băng (banque), ông ách (adjudant), ông Cò (commissaire), con tem (timbre), con vít (vis), xe tăng (tank), súng cà-nông (canon), bột-dền (bordel), lô-cốt (blockhaus), nồi sốt-de (chaudière), cò mi (commis-assistant), thầy su (surveillant), đốc tơ (docteur), phạm-nhe (infirmière), rua (Bonjour), xừ lủy (Monsieur, lui), bà đầm (dame), cao su (caoutchouc), săm lốp (chambre, enveloppe thường dùng ở miền Bắc), ABC (anti-Bolchévic thường dùng trong thời kỳ chiến tranh Việt Pháp) v.v…

Nhìn chung các từ ngữ liên quan đến khoa học và kỹ thuật đều được phiên âm từ tiếng Pháp. Vài địa danh ở Việt Nam ngẫu nhiên bị Pháp hóa. Trên bản đồ Việt Nam thời Pháp thuộc Đà Nẵng được ghi là Touranne; Hội An: Faifo; Vũng Tàu: Cap St. Jacques. Địa danh Chí Hòa do người Pháp ghi từ chữ Ký Hòa và Đa Kao từ chữ Đất Hộ. Cho đến bây giờ Đa Kao hay Chí Hòa vẫn còn được lưu dùng trong khi hai chữ gốc Ký Hòa và Đất Hộ biến mất hẳn. Vũng Tàu còn gọi là Ô Cấp (Au Cap). Trong thành phố nầy có bãi Ô Quắn do chữ Au Vent của Pháp (vent: gió) mà ra.

Trong tiểu sử của Tướng Trần Văn Đôn người ta thấy ông sinh ở Pháp và học ở trường Võ Bị Tong nên liên tưởng ngay đó là một trường Võ Bị ở Pháp. Chữ Tong ở đây phát xuất từ chùa Thông ở Sơn Tây mà ra. Trong tiếng Pháp chữ H bị câm nên chữ Thông phát âm thành Tong.

Trên bản đồ sông Hồng được ghi là Rivière Rouge. Có bản đồ ghi là sông Koi (do chữ sông Cái mà người Pháp viết sai ra sông Koi). Sông Đà được ghi là Rivière Noire không phải vì nước đen mà vì bóng cây và núi rợp xuống mặt nước làm cho người ta thấy như nước đen ngòm vậy. Sông Lô được ghi là Rivière Claire. Nhiều nhà địa lý Việt Nam dịch ra là Thanh Giang. Mũi Ba Làng An bị ghi sai là Cap Batangan. Đèo Hải Vân được ghi là Col des Nuages v.v…

Những tên núi ở miền Bắc phần lớn do đồng bào thiểu số đặt tên. Các sông ở miền Tây Bắc Bộ thường mang chữ Nậm do ảnh hưởng của đồng bào thiểu số gốc Thái. Các sông ở miền cao nguyên Trung Bộ thường mang chữ Đa do ảnh hưởng của đồng bào Thượng trong vùng mà ra.

Các Giáo Sĩ Tây Ban Nha (dòng Dominican và Bồ Đào Nha (dòng Jesuit) truyền giảng đạo Thiên Chúa ở nước ta ngay từ thế kỷ 16. Vào thế kỷ 19 người Tây Ban Nha có tham dự các trận đánh ở Sài Gòn với người Pháp. Đại Tá Palanca đại diện Tây Ban Nha ký tên trong hòa ước 1862 với Bonard, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp. Nhưng không thấy ảnh hưởng của tiếng Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha trong Việt ngữ ngoại trừ vài tên Thánh như Francisco, Thomaso v.v..

Tiếng Anh xuất hiện ở Việt Nam ngay dưới thời Pháp thuộc. Hầu hết những từ ngữ liên quan đến thể thao đều vay mượn từ Anh ngữ. Trẻ em Việt Nam chơi oảnh tù tì (One, two, three). Những từ tơ nít (tennis), đá banh (football), giữ gôn (goal keeper), đánh bốc (boxing), nóc ao (Knock out), nóc đao (knock down), bê nanh ti (penalty), cọt ne (corner), nét (net), sẹt vít (service), câu lạc bộ (club), yên sĩ phi lý thuần (inspiration), vô-lây (volley ball), bát-kết (basket ball), banh bong (ping pong), bia (beer), bíp tết (beef steak) đều là những từ vay mượn từ tiếng Anh. Vào tiền bán thế kỷ 20, người ta không nói “Thi sĩ đi tìm nguồn cảm hứng” mà lại nói “Thi sĩ đi tìm yên sĩ phi lý thuần”.

Vài tên nhân vật, địa danh và tác phẩm Âu Mỹ được các học giả Trung Hoa phiên dịch ra Hán tự và được người Việt Nam dùng vào đầu thế kỷ 29. Quyển Esprit des Lois của Montesquieu được dịch là Vạn Pháp Tinh Lý và Contrat Social của Jean Jacques Rousseau là Xã Ước. Montesquieu được phiên dịch thành Mạnh Đức Tư Cưu, Jean Jacques Rousseau: Lư Thoa, La Fontaine: Lã Phụng Tiên, Paris: Ba Lê; Rome: La Mã; Honolulu: Đàn Hương Sơn; Hawai: Hạ Uy Di; New York: Nữu Ước; London: Luân Đôn; Singapore: Tịnh Châu; America: A Mỹ Lệ Gia; France: Pháp Lan Sa; Italy: Ý Đại Lợi; Belgium: Bỉ Lợi Thì; Luxemburg: Lục Xâm Bảo; Garibaldi: Gia Lý Ba Đích; San Francisco: Cựu Kim Sơn; Washington: Hoa Thịnh Đốn; Karl Marx: Mã Khắc Tư; Inukai: Khuyển Dưỡng Nghị; Meiji Tenno: Minh Trị Thiên Hoàng. Người Trung Hoa phát âm chữ D thành chữ T và chữ R thành chữ L giống như một số người Bình Dương phát âm chữ T không rõ, một số người ở Kiên Giang phát âm chữ R thành chữ G, chữ TR thành CH hay một số người miền Bắc phát âm chữ L thành N và chữ TR thành GI vậy. Vì vậy Paris phiên âm thành Ba Lê; Rome thành La Mã hay Rousseau trở thành Lư Thoa.

Các nhà cách mạng Việt Nam tìm hiểu tư tưởng Tây phương qua sách dịch của Trung Hoa. Khang Hữu Vi (Kang Yu-wei) và Lương Khải Siêu (Leang Ki-chao) quan tâm đến cuộc Duy Tân của Nhật. Hai ông giúp cho Hoàng Đế Quang Tự (Kuang Hsu) thực hiện cuộc cải cách bất thành năm 1898. Cuộc canh tân 100 ngày nầy được các nhà cách mạng Việt Nam như Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu đặc biệt lưu ý đến.

Tôn Dật Tiên (Sun Yat-sen) theo đạo Tin Lành, lúc ấu thời học ở Honolulu, sau học y khoa ở Hong Kong. Ông chịu ảnh hưởng văn hóa Anh và Hoa Kỳ cũng như tư tưởng của Karl Marx lẫn Henry George. Cuộc cách mạng Tân Hợi và chủ nghĩa Tam Dân do ông đề xướng được Phan Bội Châu và sau nầy Nguyễn Thái Học đặc biệt để ý đến.

Học giả Hồ Thích (Hu Shi) học ở Hoa Kỳ. Trần Độc Tú (Chen Duxiu), Châu Ân Lai (Chou Enlai), Trần Nghị (Chen Yi), Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) học ở Pháp. Dù thuộc tả khuynh hay hữu khuynh, các nhà chánh trị trên đều hấp thụ tư tưởng Tây phương. Ít nhiều họ cũng có ảnh hưởng với những đảng viên Cộng Sản Việt Nam thân Trung Hoa như Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Sơn, Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan.

Một số từ ngữ chánh trị mới như độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, bình đẳng, bình quyền, bầu cử, bãi miễn, tam quyền phân lập, ngũ quyền phân lập, duy tâm, duy vật, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa duy dân, chủ nghĩa vô chánh phủ, quân chủ cộng hòa, vạn lý trường chinh… lưu hành ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc do ảnh hưởng của Quốc Dân Đảng và một phần nhỏ của đảng Cộng Sản Trung Hoa.

Từ thập niên 1920 đến thập niên 1950 từ ngữ chánh trị ở Việt nam rất dồi dào. Một số do ảnh hưởng của Trung Hoa Quốc Dân Đảng (Kuonmintang) và Tam Dân Chủ Nghĩa (San Min Chu I). Một số khác do ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx-Lenin sau khi Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản (Comintern hay Third International) được thành lập ở Nga năm 1919.

Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh sau nầy gia nhập đảng Cộng Sản Pháp năm 1920. Ông là người du nhập chủ nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam từ Trung Hoa. Với Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (1925) và Việt Nam Cộng Sản Đảng (1930) sau đổi thành Đông Dương Cộng Sản Đảng và Đảng Lao Động Việt Nam, ông đưa ra một số từ ngữ chánh trị và Nga ngữ vào Việt ngữ. Những chữ xa hoàng (tsar), bôn-sê-vít (Bolshevik), men-sê-vít (Menshevik), Xô viết (Soviet – Ủy ban nhân dân), chế độ xa hoàng (tsarism), Xì-ta-ka-nốp (Stakanov, anh hùng lao động của Liên Sô), lựu đạn Mô-lô-tốp (lựu đạn xăng), Mát-cơ-va (Moscow), Lê-nin-gơ-rát (Leningrad), Xì-ta-lin-gơ-rát (Stalingrad), Tơ-rốt-ky (Trosky), Kom-xô-môn (Kommunistticheskii Soyuz Molodezhi – Thanh Niên Cộng Sản Đoàn) xuất hiện trên tờ Thanh Niên, cuốn Đường Kách Mệnh và những tài liệu tuyên truyền của đảng Cộng Sản và đảng Lao Động Việt Nam sau nầy.

Các từ ngữ dưới đây trở nên thịnh hành ở Việt Nam: cách mạng, tranh đấu, đấu tranh giai cấp, tư sản, vô sản, tư bản, công nông giai cấp, độc lập, bình sản, “người cày có ruộng”, giải phóng, cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng giải phóng giai cấp, trí, phú, địa, hào, áp bức, bóc lột, quốc Tế Cộng Sản (Comintern), Quốc Tế Ca(Internationale), cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa, phát xít, Mác xít, Lê-nin-nít, Xì ta lin nít, Xô viết v.v…

Hồ Chí Minh là người thay đổi chánh tả rất nhiều. Vào thập niên 1920, lúc còn ở Paris, ông viết cho các báo Cộng Sản và Xã Hội Pháp dưới bút ký Nguyễn Ái Quấc. Năm 1926 ông viết cuốn Đường Kách Mệnh. Trong chiến tranh Việt–Pháp chữ PH được thay thế bằng chữ F cho ngắn gọn. Thay vì viết PHÁP người ta viết FÁP. Khi Trần Đại Nghĩa dùng đường rầy xe lửa và lò rèn cổ truyền để làm ra một loại súng ba-zô-ka nội hóa lấy tên là SKZ tựa hồ như súng sản xuất ở Đức hay Liên Sô vậy. SKZ là chữ viết tắt của Súng Không Zật. (Zật thay vì Giật). Giống như Hoa Kỳ, Việt Minh thường dùng những chữ viết tắt. Việt Minh (VM) là chữ rút gọn và viết tắt của Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội; Thanh Niên (TN) là chữ rút ngắn của Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. VNDCCH là chữ viết tắt của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. TTS hay tạch tạch sè là chữ viết tắt và tiếng lóng của chữ tiểu tư sản, một giai cấp bị lên án là kẻ thù của giai cấp vô sản. ABC là chữ viết tắt của chữ Pháp anti-bolchéviste. UTQ là chữ viết tắt của uống trà quạu.

Sau năm 1954 chánh quyền Ngô Đình Diệm dùng chủ nghĩa nhân vị (personalism) của nhà triết học Pháp Emmanuel Mounier để chống lại chủ nghĩa Marx-Lenin. Tổng Thống Ngô Đình Diệm theo đạo Thiên Chúa, thấm nhuần Khổng giáo và chống Cộng mãnh liệt nên ông thường nhấn mạnh đến các từ vô thần, hữu thần, tam vô, duy tâm, duy vật, vô sản, hữu sản hóa nhân dân, cải tiến cần lao, đồng tiến xã hội, bài phong đả thực, nhân bản trong các bài diễn văn do bào đệ của ông là Ngô Đình Nhu viết. Theo gương các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ ông thường hay kết thúc các bài diễn văn của ông bằng câu: “Xin Ơn Trên phù hộ cho chúng ta.” (May God bless us).

Từ năm 1960 đến năm 1975 tiếng Anh có một vị trí đặc biệt ở miền Nam Việt Nam. Phần lớn học sinh chọn tiếng Anh. Nhiều người Việt Nam học tiếng Anh để làm việc cho các công ty Hoa Kỳ. Nhưng các từ tiếng Anh được Việt hóa vẫn như cũ. Vào thập niên 1980 con em những người còn trong trại cải tạo được ‘chọn’ học Nga ngữ như là một sự trừng phạt. Trái lại con em cán bộ A, cán bộ B hay gia đình cách mạng được học tiếng Anh. Từ năm 1990 về sau Anh ngữ có vai trò độc tôn ở Việt Nam khiến cho hội nghị các nước nói tiếng Pháp ở Hà Nội năm 1997 trở nên lạc lõng vì tỷ lệ người nói tiếng Pháp ở miền Bắc sau 1954 quá nhỏ.