Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1166)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (52)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (327)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Buổi Trình Diễn Áo Dài Truyền Thống của HAVN-Houston

Buổi Trình Diễn Áo Dài Truyền Thống

của Hội Ảnh Việt Nam - Houston

 

.✿•• .✿•.•❤•.✿•.✿•

Theo thông lệ tốt đẹp từ nhiều năm, cứ gần đến Tết Nguyên Đán, Hội Ảnh Việt Nam Houston lại tổ chức sinh hoạt triển lãm tranh của các hội viên. Hội Ảnh Việt Nam Houston được thành lập cách đây 26 năm và đây là lần thứ 20 Hội tổ chức triển lãm nhiếp ảnh nghệ thuật tại khuôn viên Hong Kong City Mall, một trung tâm mua bán lớn nhất của cộng đồng người Việt tại thành phố Houston. Lồng trong những sinh hoạt nghệ thuật là buổi trình diễn thời trang áo dài truyền thống Việt Nam do quý hội viên, quý thân nhân và thân hữu đảm trách. Kim Phượng may mắn được sánh vai cùng các chị em khác hiện diện trong buổi trình diễn này.
 
Xin kính gởi Diễn Đàn GNST vài hình ảnh do anh Trần Đào Khôi ghi lại.
 
Xin cám ơn chị Hồng Vân đã giúp thực hiện 1 video clip rất công phu và đầy nghệ thuật.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 

 

Tà áo em bay bay bay bay trong gió nhẹ nhàng.
Tà áo em bay bay bay bay trên phố dịu dàng.
Áo bay trên đường như mây xuống phố,
áo tung sân trường tựa cánh chim câu.
Đẹp xiết bao, quê hương cho ta chiếc áo nhiệm màu.
Dù ở đâu, Paris, Luân Đôn hay ở những miền xa.
Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố,
sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó ... em ơi!
Tung bay tà áo tung bay, xôn xao một trời nắng đỏ.
Tung bay tà áo tung bay, áng mây trắng đầu ngọn gió.
Tung bay tà áo tung bay, tím biếc những chiều hoàng hôn,
Tung bay tà áo tung bay xanh xanh đồng cỏ quê hương.
Ta nghe từng bước chân em, xôn xao đường về phố nhỏ.
Tung bay tà áo thân quen, cánh chim vẫy chào ngọn gió.
Ta nghe từ trái tim em tiếng hát ngập tràn yêu thương.
Mai đây dù có đi xa trong tim là cả quê hương
 
Từ Huy - Thanh Tùng
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 

Xem thêm...

Hoa Đào Ngoài Đời Và Trong Thi Ca Phạm Thị Nhung

Hoa Đào Ngoài Đời Và Trong Thi Ca

 Phạm Thị Nhung

 

Mùa xuân ở nước Việt ta, nhất là vào dịp Tết Nguyên Đán, là lúc muôn hoa rộ nở, hồng tía khoe tươi. Giống như hoa mai vàng ở miền Trung và miền Nam, hoa đào màu hồng thắm ở miền Bắc nổi bật giữa các loài hoa và được chưng bày khắp mọi nhà, nó tạo cho ngày Tết một màu sắc, một phong vị đặc biệt, và nghiễm nhiên trở thành loại hoa Tết chính thống của dân tộc. 

Tục lệ chơi hoa đào ngày Tết ở xứ Bắc đã có từ lâu đời, vì chẳng những hoa đào có màu hồng rực rỡ là màu "hỉ tín", rất phù hợp với không khí vui tươi, tràn trề hy vọng của những ngày đầu năm mới mà người xưa còn tin là cây đào trị được ma quỉ. Tích xưa kể rằng, dưới gốc cây đào già nơi núi Độ Sóc có hai vị thần Trà và thần Lũy cư ngụ, họ giữ trọng trách cai quản đàn qủi, qủi nào làm hại dân gian thì ra tay trừng phạt ngay. Mỗi khi Tết đến, lợi dụng cơ hội các vị hành khiển trông nom việc dưới thế phải lên chầu trời để trình tấu mọi việc thế gian, bọn quỷ liền ra quấy phá. Do đó, vào dịp này người ta thường trưng một cành đào trong nhà, để bọn quỷ tưởng là nơi hai vị thần Trà thần Lũy trấn giữ, sợ, không dám bén mảng. 

Ở ven đô Hà Nội, phía Tây Bắc Hồ Tây là làng Nhật Tân, nổi tiếng về nghề trồng bích đào và đào phai.

 

Trước năm 1954, tám mươi phần trăm dân làng ở đây chuyên nghề trồng đào, họ khai khẩn đến gần trăm mẫu đất, trồng hàng vạn cây đào mới đủ cung ứng nhu cầu thị hiếu chơi hoa đào vào dịp Tết của dân Hà thành. 

Loại bích đào hoa to, mỗi cụm chỉ độ dăm bông, mỗi bông có 12 hay 14 cánh nhưng cũng có loại 32 cánh (loại bông kép), loại này ít trồng vì không mấy được ưa chuộng. Cánh hoa bích đào dầy, màu hồng thắm, xếp thành nhiều lớp, nhị vàng tua tủa; lá có hình mũi mác, màu xanh biếc, cành thì vươn thẳng. Bích đào là loại hoa đẹp nhất, hiếm, quí vì khó trồng và phải có thổ ngơi thích hợp.


Bích đào và đào phai (đào ăn quả) xưa lấy giống từ Trung Quốc. Theo các nhà khảo cổ học về cây cỏ thì người Trung Hoa biết trồng đào ít nhất từ bốn ngàn năm. Đào từ Trung Quốc truyền vào Trung Á (Asie Centrale), vào Ba Tư (Perse tức Iran). Một thế kỷ trước công nguyên, ông Alexandre Le Grand mang giống đào từ xứ Perse vào Rome và mãi đến thế kỷ XVII, cây đào mới được du nhập vào Mỹ Châu. Các nhà thực vật học đầu tiên tưởng Perse là quê hương của đào, nên đặt cho nó cái tên khoa học là Prunus persica. Sau người ta biết là nhầm nhưng đã quen gọi lâu đời nên vẫn để nguyên tên đó., thay vì phải đổi là Prunus sinensis, họ Rosacées. 

Ở Việt Nam ta từ thời xa xưa đã biết trồng đào phai để ăn quả, loại này cánh hoa mỏng, thưa, màu hồng nhạt, còn lá thì màu xanh nõn. Đào phai dễ trồng và sức sống của nó rất mạnh. Thị trấn Sa Pa thuộc vùng Hoàng Liên Sơn là xứ sở của đào phai. Dân làng Nhật Tân mua cây đào phai còn non về trồng, một năm sau cây đủ mạnh, họ sử dụng làm gốc ghép. Trước tháng 11, họ cắt một nhánh bích đào ghép vào gốc cây đào phai, chờ đến Tết là họ có một cành đào bích tươi tốt đem bán. Mỗi năm mỗi gốc đào phai chỉ dùng ghép được một cành bích đào, thế nên gốc đào phai có bao nhiêu mấu là cây đó bấy nhiêu tuổi.
Quê hương của bích đào và đào phai là Trung Quốc, nhưng quê hương của hoa anh đào lại là nước Nhật Bản. Người Nhật gọi hoa Anh Đào là "quốc hoa", tức là loài hoa đại diện cho dân tộc của họ. Nước Nhật còn được mệnh danh là "xứ hoa anh đào", vì hoa anh đào dược trồng khắp nơi trên dải đất Phù Tang, nhất là ở những vùng đồi núi hẻo lánh, nơi có những ngôi chùa cổ kính. Nhìn từ xa người ta chỉ thấy mái chùa ẩn hiện thấp thoáng dưới những lùm đào cổ thụ um tùm. Mỗi độ xuân về, hoa nở hồng ngát cả một phương trời, tạo cho chốn thiền môn một vẻ thanh tịnh, nhuốm đầy đạo vị. 

Năm 1912, Nhật Bản gửi tặng Hoa Kỳ 3.000 cây anh đào, gồm nhiều loại khác nhau, nhưng hai loại chính là Yoshimo và Kwanzan. Những cây này phần lớn đem trồng dọc hai bên bờ sông Potomac tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Kể từ năm 1934, nhà cầm quyền nơi đây cũng bắt chước dân Nhật mở Hội Hoa Anh Ðào. Nhưng thay vì đi dạo ngắm hoa, ngồi thiền trà hay ca hát dưới hoa thì ở Mỹ người ta tổ chức các cuộc diễn hành, thi xe hoa và có các ban nhạc từ các tiểu bang khắp nước gửi về tham dự. 

Hoa đào mỗi năm nở sớm hay muộn tuỳ theo thời tiết, người ta phải đoán trước để định ngày lễ hội cho đúng dịp hoa nở. Năm nào chẳng may gặp những trận mưa đá hay mưa tuyết bất thường làm hoa tàn tạ sớm thì đám người dự hội chỉ còn nước ngắm cảnh cành trơ với những cánh hoa tan tác bên đường. 

Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản cũng đã gửi tặng nước Pháp nhiều cây anh đào. Số cây anh đào trồng tại Jardin des plantes tuy chỉ vài chục cây nhưng có đủ loại, từ loại cánh hoa đơn dến cánh hoa kép, có hương hay không hương, mầu trắng phớt hồng đến hồng đậm rồi tới đỏ thẫm.

hoa-anh-dao-dep-21
Riêng tại vườn đào trong Parc de Sceaux, hiện đếm được 147 cây, những cây cổ thụ trồng từ đầu thế kỷ nay còn lại độ một phần ba, những cây chết được thay thế ngay bằng những cây mới nên tới mùa hoa, vườn hoa anh đào bao giờ cũng xum xuê. Tất cả những cây đào trồng ở đây đều thuộc loại anh đào, cây cao chừng 3-4 mét có hoa mọc thành chùm, cánh hoa mỏng như lụa , màu phấn hồng ngọt ngào. Tới mùa, hoa nở chi chít, ngọn lả xuống tận mặt đất, trông như những lẵng hoa thiên nhiên khổng lồ đặt trên nền thảm cỏ non, xanh mướt. Ngồi từ dưới gốc cây nhìn lên thấy cả một trời hoa lồng lộng, nhìn ra tứ phía, một màu hồng bát ngát bao phủ khắp không gian. Đúng là cảnh Thiên Ðàng hạ giới! 

Kiếp hoa đào thật mỏng manh, từ lúc hoa nở đến lúc hoa tàn chỉ trong khoảng ba ngày ngắn ngủi, cả mùa hoa cũng chỉ kéo dài được ba tuần. Từ đầu tháng tư dương lịch, những đoá hoa khai mùa bắt đầu nở đến hết tuần thứ ba là những cánh hoa cuối mùa rụng hết. Nhưng dù ở thời điểm nào, vườn đào vẫn có một vẻ hấp dẫn riêng. Tươi mát, mơ màng khi những nụ hoa đầu tiên vừa chúm chím môi cười sau bao ngày im lìm trong băng giá. Tưng bừng, rực rỡ khi cả ngàn hoa rộ nở. Man mác, nên thơ khi những cánh hoa rơi bay tơi tả khắp không gian rồi trải thảm trên nền cỏ biếc. 



Phải chăng vì màu hoa đào thắm tươi, nồng nàn, quyến rũ, hay vì kiếp hoa đào mỏng manh bạc mệnh; hay vì vườn hoa đào đẹp một cách thanh thoát, thần tiên v.v… đã khiến gây được nhiều mỹ cảm cho người đời, nhiều thi hứng cho các tao nhân mặc khách? Chẳng thế trong kho tàng thi ca phong phú của Nhật Bản, của Trung Hoa cũng như của Việt Nam đã không hiếm những áng thơ văn tuyệt mỹ, những trang tình sử diễm lệ có liên quan tớí hoa đào. 

Nước Nhật, ai cũng biết, có một đường lối giáo dục nghiêm khắc, một quân đội hùng mạnh, can cường, từng đi chinh phục được nhiều dân tộc trên thế giới, vậy mà dân họ lại có một cái nhìn rất bi quan về kiếp người khi đem cuộc đời ngắn ngủi của hoa đào ra so sánh, như hai câu thơ tiêu biểu dưới đây: 


- Anh đào nở ba ngày đã rụng 
Khác chi người một kiếp phù du.

Trong một bản dân ca Nhật Bản đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc và chế lời Việt, cũng mang một quan niệm yếm thế không kém: 

- Rượu nồng ta uống, uống, uống say một đêm ngất ngây 
Thả hồn theo gió heo may, đến hôn hoa, những cánh hoa anh đào say 
Nhạc nghe xa vắng những tiếng buồn, đường tơ héo hon, đường tơ héo hon 
Chạy theo ánh sáng lung linh, ánh trăng thanh đến mơn man cuộc tình trinh. 
Trời xuân man mác những mối sầu, tình theo gió mau 
Cánh hoa tươi tốt không lâu, một đêm nào sẽ rớt mau về đời sau. 
Rượu nồng ta uống choáng cõi đời để quên nắng phai, để quên nắng phai 
Đời người mỏng quá đi thôi, hỡi ai ơi hãy quên đi, rượu đầy vơi...

hoa-anh-dao-dep-20

 Trong khi đó, người Trung Hoa và người Việt Nam lại có cái nhìn rất phong phú và yêu đời về hoa đào, về cây đào. 
Người Trung Hoa xưa ví nhân tài như cây đào, cây mận. Địch Nhân Kiệt làm Tể Tướng đời Đường, thu dụng được nhiều nhân tài nên có người bảo "cây đào, cây lý trong nước ở cả cửa tướng công". 

Nói về thi ca Trung Hoa, kinh thi, tập thơ dân gian cổ nhất của họ, do đức Khổng Tử san định khoảng giữa thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, mục Chu nam, thơ Ðào Yêu có câu: 

- Đào chi yêu yêu 
Chước chước kỳ hoa 
Chi tử vu qui 
Nghi kỳ thất gia.
........... 
Nghĩa là: 

- Mơn mởn đào tơ 
Rực rỡ nở hoa 
Cô nàng lấy chồng 
Êm ấm cửa nhà.

Ở đây, cây đào non đã được ví với người thiếu nữ trẻ trung đến tuổi dậy thì, tuổi lấy chồng. 

Trong Tả truyện, chương thập tứ niên, hoa đào lại được biểu hiệu cho người phụ nữ có nhan sắc diễm lệ. 
Truyện kể, nàng Tức Vỉ, vợ Tức Hầu đời Xuân Thu, có sắc đẹp tuyệt trần. Sở Văn Vương mê nàng tìm cách diệt Tức Hầu rồi đem nàng về phong làm phu nhân. 

Tức Vỉ chẳng những có dáng hình tha thướt, yểu điệu mà đặc biệt hai má lúc nào cũng đỏ au như cánh hoa đào, vì thế nàng được người đương thời tặng cho biệt danh "Đào Hoa Phu Nhân". 

Bài Đào Nguyên ký của Đào Tiềm cho hay: Vào đời Tấn (245-419) có người thuyền chài ở Vũ Lăng, một hôm chèo thuyền đi ngược dòng suối, thấy có nhiều hoa đào trôi theo dòng nước đổ xuống, sau lạc vào nơi trồng cơ man là cây đào, ở đây người ta sống rất an vui hạnh phúc. Sau đó, chữ "động đào", hay "đào nguyên", hay "nguồn đào" được dùng chỉ nơi tiên ở.

hoa-anh-dao-dep-1
Trong huyền thoại Trung Hoa có nói đến vườn đào của Tây Vương Mẫu ở thiên giới. Nơi đây, hoa nở quanh năm, trái đủ bốn mùa. Ai được ăn trái đào tiên này sẽ trường sinh bất lão (truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân cũng có nhắc tới). 
Bởi vậy, ta thường thấy trong những bức tranh hay tượng tam đa, (hình ba ông Phúc-Lộc-Thọ) ông Thọ bao giờ trên tay cũng cầm trái đào, còn trong tranh Tết thì hình thằng bé mũm mĩm, giang tay ôm trái đào tiên khổng lồ vào lòng, là có ý chúc trường thọ. 

Còn về chuyện ái tình thì không thể không nhắc tới giai thoại Hoa Ðào Thôi Hộ, vì hoa đào ở đây đã làm nền cho một câu chuyện tình lãng mạn nhất trong văn chương thi phú Trung Hoa. 
Thôi Hộ, một danh sĩ đời Đường (618-907), nhân dự hội Đạp Thanh, chàng lạc bước đến Đào Hoa Thôn rồi ghé vào Đào Hoa Trang gõ cổng xin nước giải khát. Một thiếu nữ ra mở cổng, rụt rè đưa nước cho chàng. Nàng rất đẹp, vẻ mặt e lệ, hai má đỏ hây như càng đỏ hơn dưới bóng cây hoa đào. Chàng cũng ngượng ngập, đỡ bát nuớc uống rồi vội vã từ giã ra về. 

Nhớ người, nhớ cảnh, năm sau đến ngày hội xuân, Thôi Hộ háo hức trở lại Đào Hoa Trang, nhưng nơi đây cửa đóng then cài, người xưa vắng bóng, chỉ có ngàn hoa đào vẫn rực rỡ đang mỉm cười trước gió đông. Quá xúc cảm, chàng đã phóng bút đề bài thơ tứ tuyệt trên cổng nhà nàng:

- Khứ niên, kim nhật, thử môn trung 
Nhân diện, đào hoa tương ánh hồng 
Nhân diện bất tri hà xứ khứ 
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Dịch: 

- Cửa này, năm ngoái, cũng hôm nay 
Mặt ngọc hoa đào, ánh đỏ hây 
Mặt ngọc đi đâu mà chẳng biết 
Hoa đào năm ngoái vẫn cười tươi.


Xế chiều, người thiếu nữ và thân phụ đi viếng chùa xa trở về, chợt nhìn thấy mấy câu thơ trên cổng, nét bút bay bướm, tình ý nồng nàn thì nàng đoán ngay của khách du xuân năm ngoái, lòng xiết bao cảm động. Từ đó ngày ngày nàng có ý ngóng trông... Nhưng hết mùa hoa đào này đến mùa hoa đào khác trôi qua, ai kia vẫn bặt vô âm tín. 
Hoàn toàn tuyệt vọng, người thiếu nữ sầu khổ, bỏ ăn quên ngủ, dung nhan mỗi ngày một tiều tuỵ võ vàng. Thân phụ nàng hết lòng tìm thầy cứu chữa, nhưng vô hiệu vì: 

- Nhược hữu lương y viên tuyệt mạng 
Tùng lai vô dược liệu tương tư.

(Ví có thầy giỏi cứu được mạng sống con người 
Nhưng chưa từng có thuốc chữa được bệnh tương tư)

Rồi tới một mùa hoa đào sau đó vài năm, biết không thể sống nổi, người thiếu nữ thú thật tâm sự cùng cha già và xin cha tha cho tội bất hiếu. 
Nhìn con gái đang hấp hối trên giường bệnh, xót con nóng lòng, ông lão chạy vội xuống đường mong tìm cho ra người đề thơ trên cổng đến nỗi đâm bổ vào một chàng văn nhân. Nhìn nét mặt lão hốt hoảng, nước mắt đầm đìa, chàng hỏi cớ sự, hiểu ra liền oà lên khóc và thú nhận mình chính là Thôi Hộ, kẻ đã đề thơ thuở nào. Ông lão mừng rỡ, cuống quít kéo chàng vào nhà… thì cũng vừa lúc người thiếu nữ trút hơi thở cuối cùng. 
Quá thương cảm, Thôi Hộ quì xuống bên giường, cầm lấy tay nàng, áp mặt vào mặt nàng, nức nở khóc. Kỳ lạ thay, nước mắt chàng Thôi vừa nhỏ xuống mặt người thiếu nữ thì nàng từ từ mở mắt, sống lại. 
Sau đó, chuyện gì phải đến đã đến và thiên tình sử Hoa Đào Thôi Hộ đã khép lạ ở đây, nhưng dư âm của nó vang vọng mãi đến muôn đời sau.


Riêng ở nước ta, hoa đào đã đi vào lịch sử, ngôn ngữ hàng ngày và thi ca một cách đậm đà ý vị. 
Về lịch sử, vào Tết Kỷ Dậu (1789), Vua Quang Trung sau khi đem đoàn quân tốc chiến từ Nam ra Bắc, đại phá được 20 vạn quân Thanh xâm lược, liền sai quân sĩ chọn lấy một cành bích đào đẹp nhất Thăng Long, cho ngựa phi gấp mang vào Phú Xuân để tặng Công Chúa Ngọc Hân, thay cho thiếp báo tin mừng chiến thắng. 

Trong ngôn ngữ hàng ngày thi - màu đào, dùng để tả màu hồng thắm hay đỏ tươi như: má đào, lụa đào, cờ đào, máu đào 

Qua thi ca, thành ngữ

- "đào tơ mơn mởn" chỉ người thiếu nữ đang tuổi dậy thì, có vẻ đẹp tươi mát, đầy sức sống

- "Liễu yếu đào tơ" chỉ người thiếu nữ có vẻ đẹp yểu điệu mảnh mai

- "Số đào hoa" là số có duyên, được nhiều người khác phái ưa thích

- ‘Kiếp đào hoa’ cũng như ‘Số hoa đào‘, nói như Nguyễn Du trong truyện Kiều: ‘Chém cha cái số hoa đào Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi’ (c.2151-2152) chỉ số phận hẩm hiu, bạc mệnh của kiếp gái giang hồ. 

Tục ngữ:

- "Một giọt máu đào, hơn ao nước lã" ý nói, bà con có chung một huyết thống, dầu xa nhưng còn hơn người dưng.v.v... 

Trong truỵện cổ tích Từ Thức, động Bích Đào ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn, gần núi Thần Phù, là di tích một câu chuyện thần tiên. Tích xưa kể rằng, Từ Thức nguyên là Tri Huyện Tiên Du (Bắc Ninh), vào ngày hội hoa mẫu đơn tại ngôi chùa sở tại, chàng đã cởi áo khoác cầm cố để giải cứu cho người thiếu nữ chót đánh gãy cành hoa quý. 
Ít lâu sau, Từ Thức treo ấn từ quan, ngày ngày ngao du sơn thủy. Một hôm chàng chèo thuyền ngoài cửa bể Thần Phù, ghé vào bờ núi đề thơ rồi lạc đến một động tiên, chàng được phu nhân tiên chủ gả con gái yêu là Giáng Hương cho, để đền cái ơn đã cứu nàng thuở nào.

hoa-anh-dao-dep-23

 Sống ở Đào Nguyên tuy vui sướng nhởn nhơ nhưng Từ Thức không nguôi lòng nhớ cố hương, bèn xin trở về. Biết không thể lưu giữ được lâu hơn, phu nhân ban cho vân hạc đưa chàng về trần, còn Giáng Hương trước phút từ biệt, trao cho chàng một phong thư, dặn khi tới nhà hãy đọc. 

Từ Thức về đến quê, xiết bao bỡ ngỡ vì cảnh cũ đã hoàn toàn thay đổi mà người xưa cũng không còn. Chàng hỏi thăm ông già bà cả trong xóm thì có người cho biết, cụ tổ ba đời của ông ta tên là Từ Thức, đi vào núi không thấy về, nay đã trên 60 năm. 

Quá bơ vơ, lạc lõng, chàng Từ Thức tính quay lại níu lấy cánh hạc để trở về tiên động, nhưng cánh hạc đã bay vút trời cao. Chàng mở thư vợ ra xem mới hay ‘tình duyên trần tiên đã đoạn, muốn tìm lại động xưa chẳng còn được nữa’. 
Sau đó ít lâu, Từ Thức đi vào núi Hoành Sơn (gần Thanh Hoá), không thấy trở lại. 

Thi sĩ Tản Đà, giữa đầu thế kỷ XX, cảm hứng chuyện cũ, sáng tác nên bài từ khúc 

Tống Biệt: 

- "Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai 
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi 
Nửa năm tiên cảnh, 
Một bước trần ai 
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi! 
Đá mòn, rêu nhạt 
Nước chảy, huê trôi. 
Cánh hạc bay lên vút tận trời 
Trời đất từ nay xa cách mãi. 
Cửa động đầu non, đường lối cũ 
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi."

Khác với bài hát Thiên Thai của Văn Cao, nhằm ca ngợi cảnh đẹp và hạnh phúc mà hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu trong truyện thần tiên Trung Hoa, được vui hưởng khi lạc tới Đào Nguyên đến quê cả đường về; sau hai chàng trở lại trần gian vẫn còn luyến tiếc mãi không thôi:



- Thiên Thai, chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian 
Có một mùa đào cùng ngày tháng chưa tàn phai một lần 
…… 
Đào Nguyên trước, Lưu Nguyễn quên đường về 
…… 
Nay tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?

Bài từ khúc của Tản Đà lại hướng về quê hương hạ giới, cốt làm nổi bật hai khía cạnh trong đời sống tâm lý muôn thuở của thế nhân: 
Con người ta sống ở nơi nào, dù được sung sướng đến đâu (như ở chốn thiên tiên) vẫn không thể quên được cố hương, và sẽ có ngày tìm về. 
Trái lại, dù được sống ở quê hương, nhưng một khi người xưa, cảnh cũ không còn, tất cả đã hoàn toàn đổi thay thì con người lại cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, ắt có ngày sẽ tính chuyện bỏ xứ ra đi. 

Lại như trong thi ca bác học cổ điển của ta, vì chịu ảnh hưởng văn học Trung Hoa nên các màu sắc, hình ảnh: màu đào, hoa đào... thường được sử dụng để tả nhan sắc của người phụ nữ (có tính cách ước lệ). Song chắc chắn chưa một tác phẩm nào lại ca ngợi sức quyến rũ phi thường của đôi má đào người đàn bà như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, sáng tác cuối thế kỷ XVIII:

- Áng đào kiểm đâm bông não chúng 
Khoé thu ba dợn sóng khuynh thành. 
Bóng gương lấp ló trong mành 
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa. (c.15-18)

- Má đào không thuốc mà say 
Nước kia muốn đổ, thành này muốn long. (c.167-168)

Đôi má đỏ au như hoa đào của người cung phi ở đây không phải bùa mê thuốc ngải mà có sức hấp dẫn mê hồn, có khả năng làm say đắm lòng người đến độ có nhiều vị trấn thành, trị quốc mê mệt tới sao lãng cả công vụ, đưa đến tình trạng mất thành mất nước như chơi.

 

Riêng Nguyễn Du, trong truyện Đoạn Trường Tân Thanh viết hồi đầu thế kỷ XIX, thì mượn cây đào làm bối cảnh cho cuộc tình của đôi tài tử giai nhân Kim Trọng - Thuý Kiều. 
Sau buổi được tao ngộ cùng Thúy Kiều trong ngày hội Đạp Thanh, Kim Trọng trở về không lúc nào quên được nàng. Chàng say mê Kiều đến độ giả danh du học, thuê hiên Lãm Thuý để mong có cơ hội gặp lại người tình trong mộng của mình. 
Cây đào ở cuối vườn nhà Kiều, bên kia tường là hiên Lãm Thúy, Kim Trọng ngày ngày ghé mắt nhìn sang. Lần đầu tiên Kim thoáng nhìn thấy Kiều dưới tàng cây đào: 

- Cách tường phải buổi êm trời 
Dưới đào dường có bóng người thướt tha.

Kim đã với được chiếc kim thoa của nàng vướng trên một cành đào: 

- Lần theo tường gấm dạo quanh 
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa 
Giơ tay với lấy về nhà.

Nhờ đó Kim Trọng đã được gặp lại Thuý Kiều. 
Nhân một hôm cha mẹ và hai em vắng nhà, Kiều khẽ hắng giọng làm hiệu gọi Kim cũng ở bên gốc cây đào này: 

- Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng 
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.

Thì ra Kim Trọng lúc nào cũng loanh quanh luẩn quẩn ở gần cây đào để chờ Kiều. 
Như thế, cây đào đã gắn liền với những kỷ niệm về mối tình đầu giữa Kim và Kiều. 
Sau nửa năm xa vắng (Kim phải về Liêu Dương thọ tang chú), Kim trở lại vườn Thúy, chàng thấy mọi vật đều đã đổi thay, riêng có cây đào năm xưa vẫn tưng bừng nở hoa như ngày nào, như muốn trêu ghẹo nỗi cô đơn của chàng.

Hình ảnh, hình nền hoa đào đẹp ngày tết

Tâm trạng Kim Trọng lúc này chẳng khác nào Thôi Hộ khi trở lại Đào Hoa Trang, không được gặp lại người thiếu nữ đã cho chàng bát nước giải khát trong ngày hội xuân năm trước. Thế nên, Nguyễn Du đã mượn ý hai câu thơ cuối trong bài tứ tuyệt của Thôi Hộ để tả cảnh ngộ và tâm trạng Kim Trọng: 

- Trước sau nào thấy bóng người 
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Có ai ngờ câu chuyện tình Hoa Đào Thôi Hộ vẫn còn để lại dư âm đến tận ngày nay? 
Vào mùa hoa đào năm 1991 tại Parc de Sceaux, nhìn thấy vườn đào rực rỡ với muôn ngàn đoá hoa đang lung linh trong nắng xuân hồng, chúng tôi lại nhớ đến khung cảnh thơ mộng trong cuộc tao ngộ giữa danh sĩ Thôi Hộ và người em gái Đào Hoa Trang thuở nào, lòng bỗng dạt dào cảm xúc. 
Thay vì thương cảm cho tình cảnh của chàng Thôi khi trở về chốn cũ không gặp lại người xưa như Nguyễn Du trong truyện Kiều, hay hầu hết các vị nam nhân khác mỗi khi nhắc đến câu chuyện tình thơ mộng này; chị em phụ nữ chúng tôi lại thường xót xa cho cảnh ngộ của người em gái Đào Hoa Trang, chỉ vì đôi lời thơ hoài cảm của ai kia mà mang lụy vào thân, đã bao tháng năm phải chờ đợi trong cô đơn, âm thầm, vô vọng… nên đã sáng tác nên mấy vần thơ, thác lời Người Em Đào Hoa Trang để làm kỷ niệm.

- Trong vườn hoa đào rộ nở 
Lung linh dưới nắng xuân tươi 
Cô em má hồng ửng đỏ 
Chợt chàng Thôi Hộ ghé chơi. 

Bốn câu thơ viết theo thể phú, mô tả cộc tao ngộ giữa danh sĩ Thôi Hộ và người em gái Đào Hoa Trang. 

- Gặp nhau chỉ dám thoáng nhìn 
Sông chờ, bến hẹn tưởng nghìn kiếp xưa. 
Cổng ngoài có mỗi bài thơ 
Hoa đào vẫn nở, người mơ chẳng về.


Hai câu năm sáu, viết theo thể hứng; nhân cuộc gặp gỡ nẩy sinh tình yêu. Rồi dùng thể tỉ để diễn tả tâm tình người đẹp: 
Nàng vừa gặp chàng là bị trúng ngay tiếng sét ái tình. Nàng yêu liền và tưởng chừng hai người đã thương nhau, đã chờ đợi nhau từ nghìn kiếp trước, nay bất ngờ gặp lại hẳn sẽ không bao giờ còn lìa xa nữa. 
‘Sông chờ’, ‘bến hẹn’ dùng phép tỉ, vừa nhân cách hóa, vừa mượn hình ảnh thơ để diễn tả tình cảm tha thiết đợi chờ của hai kẻ yêu nhau, hay ít ra cũng có trong tưởng tượng, trong mơ ước của nàng. 
Hai câu kết, người em gái Đào Hoa Trang lộ vẻ đau đớn, vừa tủi thương cho mình, vừa hờn trách đối tượng. Tưởng chàng yêu nàng tha thiết thế nào, ngờ đâu chỉ vẻn vẹn có một bài thơ rồi bỏ đi chẳng một âm hao; trong khi tình yêu của nàng dành cho chàng là cả một niềm thủy chung như nhất, chẳng khác nào những bông hoa đào hàng năm vẫn nở mỗi độ gió đông về (gió đông tức gió xuân, vì mùa xuân mới có gió từ phương Đông thổi tới). 

Để kết thúc bài ‘Hoa Ðào Ngoài Ðời Và Trong Thi Ca’, chúng tôi xin tóm tắt như sau: 

Hoa đào là một thực tại, không ai có thể phủ nhận. Nhưng thực tại đó hiện hữu như thế nào còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố, nhất là môi trường nó xuất hiện và cảm quan của người tiếp nhận. Như hoa đào tả chốn Bồng Lai thì người ta cho nó có vẻ đẹp xinh tươi, nở chốn thiền môn thì có vẻ đẹp thanh tịnh, xuất hiện trước mắt những kẻ đang yêu thì có vẻ đẹp rực rỡ, nồng nàn. Lại như khi đi qua một vườn hoa đào, có người thấy đẹp, cảm thấy rất an vui hạnh phúc, có người lại không. Như vậy đủ rõ, qua cái nhìn của mỗi cá nhân, thực tại không còn là thực tại mà đã được chuyển hoá. Có thể bị bi quan hoá như cái nhìn của người Nhật về hoa anh đào, nhưng thường là được thi vị hoá gấp năm, gấp mười lần, đặc biệt qua thi ca còn được thăng hoa gấp trăm, gấp ngàn lần, như bài thơ tứ tuyệt của Thôi Hộ, như bài hát Thiên Thai của Văn Cao v.v…

Nhận xét như vậy, chúng tôi không có ý gì khác hơn là tha thiết mời quí vị vào mỗi mùa hoa đào, khoảng đầu tuần thứ hai trong Tháng Tư, hãy nán chút thì giờ đi thăm vườn đào, để cả thân tâm mà tận hưởng tất cả các vẻ đẹp của nó. Này nhé, như thoạt nhìn từ xa, ta sẽ thấy màu hoa, rồi gần hơn, cây hoa, cành hoa, gần hơn nữa, cánh hoa, nhị hoa, và nếu biết nhìn một cách sâu sắc, chúng ta còn có thể thấy, chỉ một cánh hoa cũng đủ hàm chứa cả sự mầu nhiệm của vũ trụ, vì trong đó không những có sự hiện diện của ánh nắng mặt trời, ánh sáng trăng, sao mà còn cả gió, mưa, sương, tuyết, đất, nước, cả người làm vườn và nhất là sự hiện diện của chính chúng ta. Thực thế, nếu chúng ta không có ý thức về cánh hoa đó, thì nó đối với chúng ta như chưa từng hiện hữu, có cũng như không, nói chi đến sự mầu nhiệm kia.

Hoa đào quả là một ân sủng của Thượng Đế ban cho loài người… Vườn đào quả là một Thiên Đường mà chúng ta có thể tới được dễ dàng ngay trong cuộc sống hiện tại. Ít nhất cảnh đẹp tinh khiết, tươi thắm của vườn đào cũng làm cho ta mát mắt, tâm trí thư giãn; ngoài ra nó còn nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng, tươi trẻ của chúng ta, và biết đâu còn gợi cho chúng ta nhiều cảm hứng, thi tứ, trên văn đàn Việt Nam, nhờ đó mà nảy sinh thêm biết bao kỳ hoa dị thảo? 

Phạm Thị Nhung Giáo sư Gia Long 

Tài liệu tham khảo: 

Bùi Sỹ Thành: Hoa Ðào Trong Truyện Kiều - Thuyết trình nhân dịp lễ Thánh Đản làng Hành Thiện, tháng 10 - 1991 tại Paris. 
Đào Duy Anh: Tự Điển Truyện Kiều, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1987. 
Nguyễn Tử Quang: Điển Hay Tích Lạ, Khai Trí xuất bản, Saigon1964. 
Đào Nhật Tân Hà Nội, Mai Vàng Huế, Phụ Nữ Diễn Đàn, Giai Phẩm Xuân Ất Hợi, số 131, California-1995 
Tìm Hiểu Phúc Âm: Hoa Anh Ðào, Văn Nghệ Tiền Phong số 274, California 1990. 
*** 
1- Thuyết trình văn hoá Tháng Tư 1999 do Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN tổ chức, tại hội trường Thư Viện Diên Hồng, Paris 5. 
2- Thuyết trình văn hóa Ngày Đại Hội QuốcTế Y Nha Dược Sĩ Việt NamTự Do, Paris 30-7-2000, tại Hôtel Sofitel, Salon Auditorium, Paris 14. 

 Kim Phượng st

Xem thêm...

Truyện Ngắn: MỘT CHUYẾN VỀ QUÊ ĂN TẾT

MỘT CHUYẾN VỀ QUÊ ĂN TẾT

Truyện Ngắn của Nguyễn thị Thanh Dương 

Từ ngày đặt mua vé máy bay để cả nhà cùng về Việt Nam ăn Tết, anh Bông thấy lòng lâng lâng, vui vẻ, anh nôn nao chờ đợi từng ngày. Anh sẽ về Việt Nam vào đúng ngày 23 Tết, kịp đưa ông Táo về trời, rồi hưởng 3 ngày Tết, những điều thật cũ mà bỗng mới trong anh, rồi anh sẽ đi thăm bà con, lối xóm, bạn bè gần xa, phố cũ thân quen…

Chỉ có mấy tuần lễ ở Việt Nam, mà anh sẽ sống lại cả một phần đời ròng rã mấy chục năm đã qua. Bao nhiêu kỷ niệm sẽ sống lại trong anh như chưa hề xa cách10 năm nay. Thấy người ta về chơi Việt Nam nhiều quá, anh cũng ham, nhưng mãi tới bây giờ vợ chồng anh mới có đủ điều kiện.Từ ngày được người chị ruột anh bảo lãnh sang Mỹ, vợ chồng anh miệt mài làm việc và sanh con đẻ cái, thì giờ đâu, tiền bạc đâu mà về Việt Nam như thiên hạ? Bởi chị muốn, thà không về thì thôi, đã về phải cho đích đáng.

Cứ ngày nào rảnh là chị Bông lại đi mua đồ, lúc thì ở Mall đang on sale, lúc thì ở chợ Wal-Mart, chỉ còn vài ngày nữa là ngày lên đường, thì mấy cái va ly đã đầy ngắc.

Buổi tối, thấy chị đang xem xét lại các món quà, anh hỏi chị : 
- Xong hết rồi hả em?
- Coi như…tạm xong!
- Ủa! còn thiếu món gì nữa?
- Đây nè, đọc đi thì biết! Chị đưa cho anh lá thư của má chị, từ Việt Nam gởi sang. Và anh đọc:“ Hai con và hai cháu yêu quý của má, Được tin gia đình con sẽ về Việt Nam vào dịp Tết này, má mừng quá trời. Má vốn hay mất ngủ, có tin vui này má càng mất ngủ hơn (vậy con nhớ mang về cho má ít thuốc ngủ).

Các con về đây má sẽ nấu các món ăn ngày Tết Việt Nam như cá lóc kho nước dừa, khổ qua nhồi thịt hầm, gỏi cuốn tôm thịt, bánh tráng cuốn tai heo, dưa giá, dưa món.. v..v. Lâu lâu mới có dịp về Việt Nam, vậy con mua cho má đủ loại mỹ phẩm từ A tới Z, để nhà xài, và biếu tặng bà con lối xóm làm quà.…

Đọc tới đây, anh quay ra phàn nàn với chị:
- Cái điệu này, em phải…bê luôn cả chợ Wal-Mart về cho má xài quá!

Rồi anh lại đọc thư tiếp: “Đó là phần quà lặt vặt. Sau đây là ba mục tiêu chính:


- Thứ nhất là khi về tới Việt Nam, con mua cho thằng em con một cái xe gắn máy, để nó có chạy với người ta.
- Thứ nhì là em gái con sắp lấy chồng, con cho má tiền để làm đám cưới và cho nó ít vốn để về nhà chồng làm ăn, buôn bán, có của thì họ đỡ khinh nhà mình con à!
- Thứ ba là con mua cho má đôi bông tai, sợi dây chuyền và chiếc vòng cẩm thạch đeo tay. Hồi nào tới giờ mang tiếng là có con gái ở nước ngoài mà má đơn sơ quá cũng kỳ. Má đeo vàng bạc lên người là làm tăng giá trị…cho con. Người ta sẽ khen con hiếu thảo biết lo cho má, biết thương yêu má…”

Anh Bông càng đọc càng toát mồ hôi như đang đọc một …truyện ma! Chịu không nổi, anh lại ngừng đọc thư:


- Em ơi, bộ má tưởng em vừa trúng số độc đắc hả? má có hiểu tụi mình đang phải trả góp tiền nhà không? Trả góp tiền hai cái xe không? Cả nhà mình toàn xài đồ on sale không?
- Em không nói làm sao má biết? Mà ngu gì nói ra cho mất…thể diện!

Anh Bông đọc tiếp lá thư “Thôi, má chỉ đơn sơ có bấy nhiêu. Chúc gia đình con lên đường bình an và đoàn tụ với má trong dịp Tết này. Má đang trông chờ các con từng giây từng phút.
Ký tên,
Mẹ hiền của các con.
Tái bút: À quên, con nhớ mua cho má vài chục mét vải “soa” để má may đồ bộ, vải soa ngoại mặc mới sang, nhìn vô là biết đồ “ngoại” liền.”

Anh Bông lại phê bình:


- Lạ lùng ghê! Ở Việt Nam đòi vải vóc,quần áo ngoại, trong khi người ở Mỹ lại thích về Việt Nam mua sắm quần áo, khen rẻ và đẹp.
- Người đời ai chẳng thích của lạ ! Chị bênh vực cho má chị.

Tưởng đã hết lá thư, ai dè vẫn còn một đoạn nữa :“Tái bút đợt hai: À quên,ngoài ít thuốc ngủ như má đã dặn ở trên, con mua thêm vài thứ thuốc Tây khác như thuốc nhức đầu, đau bụng, thuốc cảm, cúm,thuốc ho, tiêu chảy, thuốc giảm đau, và…nhiều loại nữa mà bây giờ má chưa kịp nghĩ ra. Để phòng khi ốm đau là có thuốc uống liền, mà lại thuốc thứ thiệt nữa, bảo đảm sẽ khỏi bịnh, ở Việt Nam thuốc tây cũng làm giả nữa con ơi.

Tái bút đợt ba: À quên, Mấy lần trước con nói chuyện với má, khen nước mắm ở bển ngon lắm, toàn đồ xuất khẩu từ Thái Lan, từ Việt Nam qua. Nào nước mắm mực, nước mắm hai con cua, nước mắm cá cơm Phú Quốc.Vậy con có thể mang về cho má, mỗi nhãn hiệu vài chai để Tết này má ăn thử cho biết không?.Con sướng thiệt! đồ ăn nào cũng ngon, cũng rẻ, chứ má ở Việt Nam thứ gì cũng giả được hết, có ngày chết vì ngộ độc ăn uống không biết chừng! Thôi, hẹn được nếm thử nước mắm cao cấp của con mang về. Nếu còn thiếu gì thì má sẽ gởi thư sang bổ sung sau”.

Anh Bông buông rơi tờ thư xuống bàn:
- Trời ơi, một lá thư tái bút tới ba đợt, mà còn e chưa đủ. Má em tưởng từ đây về Việt Nam gần như Sài Gòn -Chợ Lớn vậy đó, đòi xách về mấy chai nước mắm!! Lên máy bay, thời buổi chiến tranh, khủng bố này, ngửi mùi nước mắm là cả máy bay phải di tản khẩn cấp ngay.

Chị Bông than thở:
- Tội nghiệp má quá! Đến chai nước mắm cũng ước ao, vì ở Việt Nam món gì cũng rổm, cũng giả, bất chấp mạng sống của con người..

Anh Bông lẩm nhẩm tính toán:
- Không kể tiền máy bay, tiền quà cáp đáp ứng theo những yêu cầu của má em chắc cũng lên đến chục ngàn đô chứ ít gì!

Chị Bông gạt đi:
- Nhiêu thì nhiêu! Cả chục năm nay mới về, xài cho đáng, cho thật hoành tráng, người ta còn cho cha mẹ, anh em vài chục ngàn đô, xây nhà cao cửa rộng kia kìa.
- Người ta khác, mình khác May mà gia đình anh ở cả bên này.

Nếu không, hãy thử tưởng tượng má anh cũng ra một cái list như má em thì chắc mình phải…bán nhà để lo tròn chữ hiếu cho đôi bên ?
- Bởi biết vậy nên em mới dám dốc hết sức lực cho má em. Anh à, mình còn làm ra tiền, hãy vui vẻ để ăn một cái Tết Việt Nam và người nhận quà cũng vui vẻ nghe anh.
Chị dịu dàng năn nỉ, đó là những lúc chị cần đến anh, chứ bình thường, chị là người được anh năn nỉ. Vợ đã tính rồi thì làm sao anh cãi lại được?

Xếp lại gọn gàng kẹo bánh quà cáp xong, chị Bông quay ra xếp quần áo của chồng con và tới phần chị, chị lôi từ trong closet ra đủ loại áo quần, váy ngắn, váy dài, quần jean, quần tây, áo xanh, áo đỏ…Cái nào chị cũng ngắm nghía rồi bỏ vào valy.

Anh ngạc nhiên:
- Sao em mang nhiều quần áo thế? Em có phải là người mẫu đi trình diễn thời trang đâu? mình về Việt Nam có ba tuần, mang vài bộ là đủ rồi.

Chị lườm nguýt anh:
- Để người ta cười em hả? Việt kiều gì có ba bộ quần áo?
- Nhưng cái áo lạnh lông xù to kềnh to càng kia em mang theo
làm gì? Chật cả va li
- Em sẽ mặc cái áo này. Chị khẳng định.
- Tết ở Việt Nam nắng ấm, mà em mặc áo lạnh? Anh kêu lên.
- Dĩ nhiên, ai mà không biết điều đó, nhưng cái áo lạnh lông xù đẹp thế này không mang về cũng uổng. Nếu không đời nào người ta biết rằng ở bên đây em đã mặc cái áo mùa Đông lộng lẫy như tài tử Hollywood này.
- Và đời nào người ta biết rằng em đã mua cái áo này ở tiệm đồ cũ có mười đồng bạc?
- Suỵt! Về bên Việt Nam anh đừng có lỡ miệng nói ra nhé. Nếu không đừng trách em.

Chỉ nhìn chị lúi húi xếp ra xếp vào hết bộ nọ đến bộ kia, anh cũng thấy hoa mắt và nhức cả đầu, thà lên giường, dù mất ngủ cũng còn sung sướng hơn .Tới khuya, chị vào giường thấy anh vẫn còn thao thức, chị ngạc nhiên:
- Tưởng anh ngủ rồi chứ? Bộ nôn nóng về Việt Nam nên chưa ngủ được hả?

Anh nói lẫy:
- Phải, nôn nóng quá nên lòng dạ nào mà ngủ được!
Trong bóng đêm chị không nhìn thấy khuôn mặt kém vui của anh, bởi chính lòng chị đang vui, đang nôn nóng thật sự, chị tưởng anh cũng thế. Chị âu yếm ôm lấy anh, thủ thỉ:
- Thôi ráng ngủ đi, mai còn đi làm, để dành sức khoẻ vài ngày nữa về Việt Nam chơi vui…

Chợt chị cao giọng vì chợt nhớ ra:
- Anh nè, em báo anh một tin vui nữa là dì Ba và dì Tư ở dưới quê Cần Thơ sẽ dẫn đàn con, đàn cháu lên Sài Gòn ăn Tết với tụi mình đấy, nên em cũng cần một ít tiền mặt để tặng hai dì và lì xì cho xấp nhỏ.

Anh giật cả mình:
- Lại thêm một món tiền chi phí nữa hả? Dì ba, dì Tư nào? Có phải hai bà Dì có ông bố ghẻ là anh em con chú con bác với bà ngoại kế của em đó không?
- Chứ còn ai vào đây nữa.Vòng vo tam quốc thế mà anh nhớ không sai tí nào! Chị tấm tắc khen anh.

Anh cố phân bày:
- Xét ra hai dì đâu có dính líu máu mủ ruột thịt gì với nhà mình đâu em.
- Dù sao cũng là liên hệ, là tình cảm bấy lâu. Mấy lần em gởi quà về, má cao hứng về quê chơi và cho hai dì chút tiền. Bây giờ nghe tin mình về Việt Nam ăn Tết, hai dì lên chơi đáp lễ.

Thấy anh không hào hứng, chị đề nghị:
- Hay là…em gọi phone về cho hai dì, nói đừng lên thành phố nữa, nghe?

Anh mừng quá, nói như reo lên:
- Đúng đó em, đường xá xa xôi, từ quê lên tỉnh tội nghiệp mấy dì quá.
- Nhưng bù lại tụi mình… sẽ về quê thăm họ để bày tỏ nhiệt tình, cũng vẫn biếu họ tiền và lì xì xấp nhỏ. Vậy anh chọn cách nào?

Anh cụt hứng:
- Cách nào cũng tốn tiền như nhau, có gì đâu mà lựa chọn?
Chị vẫn cao hứng:
- Khác chứ anh, nếu mình về quê, sẽ được nhìn lại cảnh làng quê êm đềm. Em sẽ nói hai dì nướng gà bọc đất sét cho anh thưởng thức món đặc sản đồng quê.
- Êm đềm cái gì? Trầy da tróc vẩy mới đến được ngôi làng khỉ ho cò gáy đó. Anh nhớ thuở mới cưới em, theo em về quê ngoại, mang tiếng ở Cần Thơ, tưởng đâu ngay bến Ninh Kiều, ai dè trong một ngôi làng hẻo lánh ở thị xã Long Tuyền, mấy lần xe, mấy lần đò, mấy lần đi bộ qua cánh đồng hoang mới tới… một con rạch, đứng bên này bờ phải hò hét lên thật to, cho người bên kia bờ nghe thấy mà đem ghe ra chở mình sang. Lúc đó mới thật sự tới được nhà hai bà dì của em. Cho nên anh chẳng ngu gì chịu gian khổ lần nữa để ăn món gà bọc đất sét nướng của dì em trong mùa đại dịch cảm cúm này.
- Ừ nhỉ, em quên mất đang dịch cúm gà. Khổ quá, Tết nhất người Việt mình cần có món gà để cúng quẩy, để làm cỗ, món nọ món kia, thế mà phải nhịn.Vậy thôi, cứ để hai dì lên thành phố cho mình đỡ mệt, bù lại, mình cho hai dì tiền rộng rãi để chi phí xe cộ đường xa.


Chị lại cao giọng lần nữa, và làm anh giật mình lần nữa:
- Anh nè ! Thấy anh nằm im, chị hỏi:
- Ủa, anh ngủ rồi hả?
- Em cứ “Anh nè” hoài làm sao anh ngủ nổi ? Mỗi cái “Anh nè”
là thêm một chi phí, cũng như thư của má, mỗi lần tái bút má lại “À quên” là thêm những món cần gởi. Hai má con em giống nhau y chang.
- Anh nè, em mới nghĩ ra một điều vô cùng tuyệt vời, mình phải đi Đà Lạt nữa, mùa Xuân Đà Lạt chắc là đẹp lắm? thành phố của các loài hoa mà . Ngày tư ngày Tết bao cả nhà một chuyến du Xuân cho vui và thuê thợ quay phim, chụp hình làm kỷ niệm. Mình sẽ thuê một cái xe van lớn nghe anh. Nghĩ cho cùng, hồi còn ở Việt Nam, vợ chồng mình nghèo, đâu dám mơ đi Đà Lạt chơi, nay có điều kiện, tội gì không hưởng?
- Trời ơi! Không phải chỉ má em tưởng em trúng số độc đắc. Mà chính em, làm như em đang xài tiền trúng số vậy đó. Em có biết là sau chuyến đi Việt Nam ăn Tết này, vợ chồng mình sẽ sạt nghiệp không?
- Nhằm nhò gì! Người ta năm nào cũng về, mình 10 năm mới về thì tốn kém mấy cũng chơi luôn. Anh hờn mát quay mặt vào trong tường. Chị lại gọi:
- Anh nè…
Anh cảm tưởng như đang bị chị “khủng bố”, anh kinh hòang gắt :
- Gì nữa? Em có biết mỗi lần em gọi “Anh nè” là anh giật bắn người lên như vừa dẫm chân vào gai nhọn hay cục than đỏ hồng không?
Chị nũng nịu:
- Anh nè, lần này em chỉ muốn chúc anh ngủ ngon thôi mà. Good night anh !

Nói xong chị ôm hôn anh, dịu dàng và dễ thương quá, làm lòng anh mềm lại. Cái trò “mỹ nhân kế” của chị không bao giờ cũ đối với anh. Nhưng nghĩ tới sắp sửa phải ra bank rút cả chục ngàn đô cho một chuyến về Việt Nam ăn Tết, anh thấy xót xa quá!

Dĩ nhiên đi chơi là phải tốn kém, phải quà cáp cho người thân, nhưng cái giá này quá đắt, thậm chí vô lý, trong khi ở đây, cuộc sống hàng ngày có bao nhiêu lo âu tính toán, vậy mà về Việt Nam cứ tiêu xài vô tư, thoải mái, cho đẹp mặt đẹp mày. Rồi về lại méo mặt méo mày.

Anh cố tìm giấc ngủ, mấy đêm trước anh còn đi vào giấc ngủ với bao nhiêu là hình ảnh vui tươi, tuyệt vời của ngày Tết Việt Nam. Vậy mà đêm nay những hình ảnh đẹp đẽ ấy biến đi đâu hết?
Anh mong sao sáng mai thức dậy, đọc báo thấy tin chính quyền Việt Nam vừa…ra lệnh cấm không cho Việt Kiều về quê ăn Tết nữa. Chắc lòng anh sẽ…vui như Tết. Khỏi phải đi đâu cả.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

Hình Internet

Ngọc Lan sưu tầm

 

Xem thêm...

Nghệ thuật xăm mình

Nghệ thuật xăm mình

Sean Bảo

Nhận xác vua Anh Quốc Harold II.

Theo Lĩnh Nam Chích Quái (phần Hồng Bàng Thị Truyện) thì người dân Bách Việt đã có tục xăm mình hình thủy quái để tránh thuồng luồng gây hại khi xuống nước đánh bắt cá. Các binh sĩ thời nhà Trần cũng xăm lên tay 2 chữ “Sát Thát” chống quân xâm lược Nguyên Mông. Cũng theo các nhân vật huyền thoại đầy ly kỳ của Kim Dung, các bí kíp võ lâm thường được xăm lên da, vĩnh viễn theo thân xác chủ nhân khát vọng bá chủ thiên hạ.

 

Xăm mình có từ ngàn xưa ở mọi tầng lớp. Người La Mã xưa xăm mình để đánh dấu giúp nhận dạng các nô lệ, tù nhân, kẻ đào ngũ. Họ dùng vỏ cây, rỉ đồng và acid sulfuric làm mực xăm. Xăm mình phổ biến bắt đầu từ trong quân đội, nơi các binh sĩ đối diện với các chết, nơi chốn đấu trường nhận dạng phe phái và cả nhận dạng khi bị giết.

Trong một trận chiến xưa năm 1066, vua Anh Harold II khi chống trả quân Norman xâm lăng, bị chém lột áo quần không còn nhận dạng được, phải nhờ vết xăm hàng chữ: Edith và England trên ngực, thì hoàng hậu mới nhận ra.

Từ xăm mình theo tiếng anh Tattoo, dựa theo tiếng thổ dân các quần đảo nam Thái Bình Dương gọi là Tatau, khi thuyền trưởng James Cook đến vào năm 1769, nhìn thấy các hình xăm đầy trên cơ thể thổ dân.

Ở Mỹ thời hoang sơ, trước khi các nhà thám hiểm và thương buôn Châu Âu đến, người thổ dân da đỏ cũng xăm mình vằn vện, vừa ngụy trang, đe dọa kẻ thù và tín ngưỡng thần linh. Người Châu Âu ghi chép sổ sách, đặt tên và nhận dạng họ qua các vết xăm. Khi cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, giữa các quốc gia Anh, Pháp và người Mỹ ở thuộc địa, thì sổ sách tuyển binh cũng dựa vào các vệt xăm và phân định các bộ lạc, các nhóm lính.

Ðến khi cuộc chiến 7 năm 1754-1763 giữa Pháp và Anh tranh giành thuộc địa ở Bắc Mỹ, quân đội Hoàng gia Anh ép nhập ngũ các thủy thủ Mỹ, mặc dù họ có “Sailor Protection Certificate”, giấy xác nhận thủy thủ năm 1796 là công dân Mỹ đều bị phớt lờ và xé bỏ. Ðể tránh nhập ngũ họ phải xăm mình làm dấu mình là thủy thủ Mỹ. Cánh tay phải có xăm hình chiếc tàu, tay trái là năm sinh. Ngoài ra còn có quê quán, người thân…

Thủy thủ Mỹ xăm mình vào tay để xác minh mình có Sailor Protection Certificate năm 1796

Trong mắt người Mỹ trắng thì xăm mình là “tội phạm”, “mọi rợ”, không khai hóa và văn minh. Quan niệm này thay đổi khi Nội Chiến nổ ra. Các lính hải quân là những người đầu tiên xăm mình trong các binh chủng. Họ xăm mình để nói lên cá tính đặc thù và của cả nhóm. Họ cũng tin rằng xăm mình sẽ hù dọa, làm kẻ thù hoảng sợ khi đối diện trận chiến.

Những hình xăm thường là lá cờ Mỹ, Con Ó, Chú Sam, Nữ thần Columbia tượng trưng cho nước Mỹ mới khai sanh, tướng George Washington… Chiến tranh lan rộng thì xăm mình cũng lan đến các kỵ binh và bộ binh. Dù trước đó các hình xăm đã được xăm từ các bàn tay vô danh trong khắp chốn dân dã, nhưng Martin Hildebrandt được xem là nghệ nhân xăm mình đầu tiên được sử sách ghi lại.

Năm 1846 Hildebrandt di cư từ Ðức đến mở tiệm xăm đầu tiên ở New York. Từ năm 1846 và đến những năm đỉnh điểm của nội chiến, Hildebrandt đã trổ tài xăm mình lên hàng ngàn binh sĩ Union khi ông gia nhập Quân đoàn Potomac của Union.

Hình xăm phổ biến là con heo và con gà trên chân, vì chúng là 2 con vật sống sót khi tàu đắm, bởi gà heo thường nhốt trong cũi gỗ, khi tàu đắm nổi trên sóng nước. Hình xăm còn mô tả các trận chiến, các chiến hạm Monitor và Merrimac, Alabama và Kearsage… Một nhóm thủy thủ tự xưng là “Star Gang” đã xăm trên trán ngôi sao để thể hiện lòng ái quốc với chiến hạm Alabama.

Ngoài sự thể hiện cá tính qua nét xăm, binh lính xăm mình hầu hết cho việc nhận dạng cá nhân trong cuộc chiến tranh kinh hoàng, mà cái chết là điều tất yếu. Nét xăm với các hình vẽ, ký hiệu, màu sắc đặc trưng là một tấm thẻ bài trong quân ngũ. Cái neo cho hải quân, đầu ngựa cho kỵ binh, súng dài cho bộ binh…

Các vạch thêu cấp bậc, các lon quân hàm đều bị rách nát, bị lột, nhưng các hình xăm trên thân hình các chiến binh thì còn mãi. Binh lính còn xăm mình để tưởng nhớ các kỷ niệm với các huynh đệ cùng vào sanh ra tử, những người thân yêu nơi xa, những kỷ niệm khó quên trong đời, với các chữ cái, ký tắt tên gọi hay quê nhà…

Dụng cụ kim xăm thô sơ

Hildebrandt không chỉ xăm mình cho phe Union mà còn cho các binh sĩ của phe Confederate. Với các chiến sĩ phe miền Nam, ông thường lấy giá thấp hơn, bởi lẽ họ không có tiền… Thời đó, phương thức xăm mình rất cổ điển, đau đớn và thiếu an toàn vệ sinh.

Khi Robert Sneden, một lính Union bị bắt làm tù binh và nhốt trong trại giam khét tiếng Andersonville của Confederate, Sneden đã chứng kiến một tay xăm mình tên Old Jack đã dùng 6 đến 12 cây kim nhỏ 0.35mm, cột lại và xăm cho các tù binh. Giá từ 1 đến 5 đô (chừng 30-150 đô ngày nay). Old Jack nhúng kim vào mực đen, đỏ. Mực được trộn với bột thuốc súng. Kim được châm vào da ở góc nghiêng 45 độ, hơn 1 giờ để hoàn thành một hình xăm. Máu và mực được lau rửa bằng nước lã, nước tiểu. Ít khi có cồn hay rượu rum hoặc brandy để sát trùng. Da thịt sưng vù, tấy đỏ, đau nhức vài ngày trời.

Xăm mình trở nên phổ biến, và các lều trại đều có các amateur hành nghề, bởi các binh sĩ ngày ấy đều không muốn bị chôn cất trong các huyệt mộ vô danh. Các hình xăm thông dụng là trái tim, lá cờ, súng, lá chắn, tên họ, binh chủng… đến các vị thần Vệ nữ, đôi khi các phụ nữ đẹp khỏa thân một nửa.

Một thủy thủ đoàn trên tàu sau chiến trận đã xăm hình ngôi sao trên trán. Nhưng các nét xăm này lại là mối nguy cho họ ở trận chiến sau này. Trong một trận giáp lá-cà, một pháo thủ xăm hàng chữ Fort Pillow trên cánh tay (nơi quân Union bị thảm sát). Phe Union khi thấy nét xăm đã giận dữ vây quanh. Lưỡi lê và các viên đạn ghim nát chàng lính này.

Maud Wagner, phụ nữ Mỹ trắng đầu tiên xăm mình

Martin Hildebrandt, nghệ nhân xăm mình đầu tiên cho lính Mỹ

Phải đến năm 1880 khi O’Reilley phát minh ra máy xăm bằng điện, dựa theo cây bút chạy bằng điện của Thomas Edison, thì xăm mình mới được nâng lên thành nghệ thuật bằng các họa tiết sắc màu tinh tế, gọi là tattaugraph. O’Reilley mở studio xăm mình năm 1875 ở New York và dạy nghề, ông tuyên bố: “Một thủy thủ không có hình xăm cũng giống như con tàu thiếu rượu mạnh, không thể ra khơi được”.

 Khách hàng xăm mình không chỉ là binh sĩ mà còn có các sĩ quan. Ngay cả phụ nữ. Ở các bến cảng và đô thị đều mọc lên các studio xăm mình. Vết xăm theo các thủy thủ lênh đênh sóng nước đi khắp thế giới.

Xăm mình đã phổ biến ở các đoàn xiếc, các gánh trình diễn các show kỳ dị, quái đản… vào những năm 1850. Nổi bật là gánh xiếc P.T. Barnum gây tiếng vang quốc tế. Ngoài các tiết mục xiếc và thú vật, còn có các người da đỏ, đàn bà, người lùn, thú vật được xăm mình.Maud Wagner, được xem là phụ nữ Mỹ trắng đầu tiên xăm mình.

Những năm đầu 1900, bà làm diễn viên xiếc, nhào lộn và uốn dẻo ở Hội chợ Quốc tế St. Louis. Ở đó bà gặp Gus Wagner, một nghệ nhân xăm mình nổi tiếng. Từ một nét xăm trên cánh tay, dần dà bà xăm luôn toàn bộ thân thể. Họ cưới nhau và Wagner trở thành tay xăm chuyên nghiệp.

Các mẩu xăm của thủy thủ

Trong một thời gian dài, xăm mình vẫn đứng bên lề dòng chảy văn hóa nghệ thuật chính thống của Mỹ, chỉ phổ biến ở binh sĩ, các băng đảng, các nhóm bikers, rạp xiếc… Phải đến sau 1970, khi các phong trào phản chiến, trào lưu phản văn hóa, các hoạt động và xu hướng nổi loạn thể hiện sự độc lập cá tính, thì các ban nhạc, các ngôi sao thể thao, các diễn viên điện ảnh đã xăm mình dù ở chỗ kín hay phơi trần.

Xăm mình đã hòa nhập trở thành nghệ thuật body art trong mắt người dân Mỹ. Xăm mình cũng chịu nhiều thăng trầm trong lịch sử, quân lính bị cấm đoán mang họa tiết phụ nữ khỏa thân trong Thế chiến 2, cũng như giới hạn kích thước và một số nơi trên cơ thể. Do nguy cơ lây bệnh viêm gan siêu vi mà tiểu bang New York đã cấm các nghệ nhân hành nghề xăm mình cho đến năm 1997; Massachusetts cấm đến năm 2000.

Theo thống kê gần đây thì 38% người dân Mỹ ở độ tuổi từ 18 đến 29 có ít nhất một hình xăm. 17% trong số đó hối tiếc là đã xăm mình. Và phần lớn lý do là đã xăm tên người yêu muôn thuở. Nay cái thuở “thiên thu” đẹp ngời ấy không còn nữa.

“Xa quê hương, nhớ mẹ hiền”. “Hận đời đen bạc, hận kẻ bạc tình”. Những hình xăm trái tim yêu quê hương, yêu người tình, nhớ mẹ, thương con…không nằm trong lá thư từ tiền tuyến mà còn nằm trên làn da sậm màu chinh chiến, nằm trên lồng ngực oai hùng, nơi tuổi trẻ và chí lớn mang hoài tình yêu bất tử cho quê hương đất nước. Ðó là những hình ảnh chàng lính trẻ trong bất kỳ cuộc chiến tang thương nào.

Khám phá thế giới hình xăm truyền thống ở Nhật Bản

෴෴ ❤️෴෴

Một nghệ nhân xăm mình Nhật Bản đã dành cả đời để bảo quản và truyền bá văn hóa xăm truyền thống của đất nước qua những hình vẽ rồng, hiệp sĩ và samurai.

Một phụ nữ Nhật Bản với hình xăm kín lưng. Dù xăm mình đã trở thành một loại hình nghệ thuật ở nhiều nước phương Tây, ý nghĩa của nó đang dần mai một ở Nhật Bản.

Nhiều người Nhật Bản xem hình xăm là dấu hiệu của sự đe dọa, hoặc biểu hiện mối liên kết với xã hội đen.  Thị trưởng Toru Hashimoto của thành phố Osaka từng cấm công chức địa phương này xăm trổ từ năm 2012.

Hình xăm từng là biểu tượng lịch sử của Nhật Bản. Một người có thể chọn xăm kín toàn thân hoặc trên một số bộ phận cơ thể nhất định. Vào thời Edo (1603 - 1868), xăm là một hình thức trừng phạt tù nhân trong các trại giam. Đến thế kỷ 18, phần lớn vũ nữ trong phố đèn đỏ đều xăm mình. 

Nghệ nhân Horiyoshi đời thứ 3 đã dành phần lớn cuộc đời để bảo quản và lưu truyền giá trị nghệ thuật của truyền thống xăm mình tại Nhật Bản, với những hình vẽ rồng, hiệp sĩ và samurai. "Những hình chạm trổ đều phải gắn với bối cảnh lịch sử.

Tuy nhiên, ý nghĩa này không còn nguyên vẹn trong thời hiện đại. Phần lớn mọi người chỉ thích những hình vẽ trông thật 'ngầu' hoặc dữ tợn, nhưng nó vô nghĩa", ông Horiyoshi nói. 

Nghệ nhân Horiyoshi đời thứ 3 đã dành phần lớn cuộc đời để bảo quản và lưu truyền giá trị nghệ thuật của truyền thống xăm mình tại Nhật Bản, với những hình vẽ rồng, hiệp sĩ và samurai. "Những hình chạm trổ đều phải gắn với bối cảnh lịch sử.

Tuy nhiên, ý nghĩa này không còn nguyên vẹn trong thời hiện đại. Phần lớn mọi người chỉ thích những hình vẽ trông thật 'ngầu' hoặc dữ tợn, nhưng nó vô nghĩa", ông Horiyoshi nói. 

Những người muốn xăm tại cơ sở của ông phải đặt chỗ từ rất sớm. Ông không nhận học viên và luôn tự mình chạm trổ cho khách.

Người nghệ nhân kỳ cựu cũng thành lập một trung tâm lưu trữ vào năm 2000, bảo quản những hình ảnh, tài liệu liên quan đến hình xăm theo lịch sử.

 

Kim Quy st và tổng hợp

  

Xem thêm...
Theo dõi RSS này