Không gian riêng

Không gian riêng (92)

KÝ ỨC NHỮNG NGÔI TRƯỜNG CŨ TÌNH XƯA TRƯỚC NĂM 75

 
 
KÝ ỨC NHỮNG NGÔI TRƯỜNG CŨ TÌNH XƯA TRƯỚC NĂM 75
 
Sao Mai - Đà Nẵng, là một ngôi trường rất đẹp nằm nghiêng bóng bên dòng sông Hàn thơ mộng. Từ nơi đây, ươm trồng biết bao nhiêu là thế hệ học sinh và cũng là bệ phóng cho những ước mơ được vươn cao, bay xa. .. nhiều người đã thành danh, thành đạt. Trong một dịp công tác, tôi trở về đây, trường xưa giờ chỉ còn là trong ký ức, tiếc nuối, bàng hoàng.. . tôi ngẩn ngơ đến lặng người. Kính mời quý thầy cô và các bạn, cùng chúng tôi bước vào một khoảng lặng nhỏ.. . cùng chúng tôi ôn lại những kỷ niệm đẹp của một thời áo trắng. .. Xin chân thành cảm ơn bạn Trần Ngọc Quý, lớp 12A3 - NK: 73 - 74 đã ghi hình đoạn film này, cảm ơn các nhiếp ảnh. .. chuyên hoặc không chuyên, đã ghi lại những bức ảnh hết sức tuyệt vời, trong từng góc phố con đường, để chúng tôi có thể thực hiện đoạn video ngắn, có giá trị thời gian và giàu ý nghĩa trên. Rất mong được quý thầy cô, các bạn và tất cả mọi người dân Đà Nẵng nhiệt tình đón nhận.

Trường Sao Mai, Đà Nẵng (1959 - 1975)

Trường thành lập năm 1959, có một dãy lầu ba tầng (dành cho trung học). Dãy nhà trệt (dành cho tiểu học). Hiện trường đã đổi thành trường PTTH Trần Phú.
 
















* Video Sao Mai Trường Xưa & Đà Nẵng thập niên 60 - 70*

 
 

TRƯỜNG NỮ TRUNG HỌC HỒNG ĐỨC, ĐÀ NẴNG (1967 - 1975)

Trường được lập ra vào cuối năm 1967, sau khi niên khóa 67-68 đã bắt đầu, từ niên khóa 1973-1974 đổi thành trường nữ trung học Hồng Đức. Sau 1975 trường đổi thành trường Đại học sư phạm.
 
























 

TRƯỜNG PTTH PHAN CHU TRINH, ĐÀ NẴNG (1952 - 2012)

Những hình ảnh của trường PTTH Phan Chu Trinh suốt 60 năm qua
 

 
Trường Phan Châu Trinh những năm đầu thành lập, chưa có tường rào cổng ngõ, sân trường là nền cát tự nhiên.



Hình ảnh trường năm 1954



Hình ảnh trường năm 1961



Đội bóng rổ của trường, vô địch miền Trung năm 1961.
Đến niên khóa 1974 – 1975, trước ngày đất nước thống nhất, trường đã có 68 lớp đệ Nhất cấp (THCS) và đệ Nhị cấp (THPT). 





Hình ảnh, kỷ vật, kỷ yếu các khóa học của trường





Hình ảnh lễ kỷ niệm 60 năm thành lập trường (1952 - 2012).
 

TRƯỜNG TRUNG HỌC CHÂN PHƯỚC LIÊM, SÀI GÒN (1961 - 1975)

Trường thuộc quận Gò Vấp, sau 30-4-1975 đã bị đổi tên thành Trường Cấp 3 Gò Vấp
 


















TRƯỜNG TRUNG HỌC TƯ THỤC PHAN THANH GIẢN, ĐÀ NẴNG (1969 - 1975) 

Sau năm 1975 trường đổi tên thành trường chuyên Lê Quý Đôn
 






Khung cảnh trường

























Hình ảnh các khóa trước 1975

TRƯỜNG TRUNG HỌC THỌ NHÂN, ĐÀ NẴNG (1949 - 1975)

Trường trung học Thọ Nhân (còn gọi là Thọ Nhơn), là trường dành cho học sinh người Hoa ở Đà Nẵng, được thành lập khá sớm, khóa đầu tiên tốt nghiệp năm 1949. Sau 1975, đổi thành trường cấp 3 phổ thông Thọ Nhơn, hiện nay là trường THCS Trần Hưng Đạo
 























  





TRƯỜNG TRUNG HỌC ĐÔNG GIANG, ĐÀ NẴNG (1963 - 1973)

Trường thành lập tháng 9/1963. Sau 1975, trường đổi tên thành trường cấp 2, cấp 3 Hoàng Hoa Thám, và hiện tại là trường THPT Hoàng Hoa Thám, thành phố Đà Nẵng.
 


Cắm trại trên sân trường (1964)



Trung học Đông Giang, tháng 6/1967



Lớp 6E liên hoan tết Tân Hợi tại lớp (1970 - 1971)



Đông Giang sau cơn bão Hester (1971)



Lớp 9A-K6 bị phạt ngồi ngoài sân trường sau nghi án đốt xe Gobel của thầy Nguyễn Vân

























\

Tham gia đại hội thể thao học sinh Đà Nẵng (1972)
 





































Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập trường (tháng 9/1973)
 

TRƯỜNG TRUNG HỌC VÕ TRƯỜNG TOẢN, SÀI GÒN (1955 - 1975)

Nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1, ngay kế bên trường nữ trung học Trưng Vương, trường được thành lập năm 1955, chỉ dành cho nam học sinh. Hiện nay trường vẫn giữ tên là trường THCS Võ Trường Toản, dạy cả nam lẫn nữ.
 






Quang cảnh trường





Tập thể giáo viên học sinh trường



 

Thẻ học sinh



Trường THCS Võ Trường Toản ngày nay

TRƯỜNG NỮ TRUNG HỌC GIA LONG, SÀI GÒN (1913 - 1975)

Trường Nữ trung học Gia Long được thành lập từ năm 1913, còn gọi là trường nữ sinh Áo Tím nay là trường trung học phổ thông Nguyễn Thị Minh Khai tọa lạc tại 275, Điện Biên Phủ, Q3, là một trong những trường trung học có lịch sử lâu đời nhất ở Sài Gòn.
 






















 



 



Hình ảnh trường và hoạt động các khóa (1913 - 1969)



Hình ảnh trường thời VNCH trước 1975
Hiện tại trường đã đổi thành trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai
 

TRƯỜNG TRUNG HỌC QUANG TRUNG, BÌNH ĐỊNH (1970 - 1974)

Trường Trung học Quang Trung, hay còn gọi là trường Trung học Quang Trung Bình Khê, thuộc tỉnh Bình Định.
 


Toàn cảnh trường



Năm 1970





Năm 1972



































1973 - 1974

TRƯỜNG NỮ TRUNG HỌC TRƯNG VƯƠNG, SÀI GÒN (1954 - 1975)

Nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q1, trường được thành lập năm 1954 khi một số giáo viên học sinh trườngTrưng Vương Hà Nội di cư vào Sài Gòn theo Hiệp định Genève . Sau 1975, trường đổi tên thành trường THPT Trưng Vương, nhận cả nam học sinh vào học.
 

































Hàng năm, trường đã chọn ra 2 nữ sinh đẹp nhất đóng vai Hai Bà Trưng để diễu hành trong ngày giỗ 6 tháng 2 âm lịch
 


Trường Trưng Vương ngày nay

TRƯỜNG TRUNG HỌC TƯ THỤC HUỲNH THỊ NGÀ, SÀI GÒN (1947 - 1975)

Được thành lập vào năm 1947, Trường mang tên người sáng lập là Bà Huỳnh Thị Ngà và do chính bà làm Hiệu Trưởng. Sau bà Ngà ra nước ngoài sinh sống, trường bị chuyển đổi mục đích sử dụng nhiều lần, hiện tại là Trung Tâm Điều Hành Chương Trình Chống Ngập Nước.
 


































 

TRUNG HỌC THỦ ĐỨC (1965 - 1975)

Trung học Thủ Đức thuộc thành phố Sài Gòn
 

Học sinh khóa 1 chụp hình kỷ niệm cùng thầy Nguyễn Trang Quốc (1965)



Trại Tết của khóa 1 (1968)



Học trò lớp 12 đi picnic với thầy Hồ Vạn Chung ở bờ sông Đồng Nai (1970)









 

TRƯỜNG TRUNG HỌC BUÔN MÊ THUỘT (NIÊN KHÓA 1968 - 1975)

Trường Trung học Buôn Mê Thuột nay thuộc thị xã Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk
 


















































 

TRƯỜNG TRUNG HỌC THÁNH GIUSE, VŨNG TÀU (NIÊN KHÓA 1968- 1973)

Hiện nay trường vẫn còn tồn tại nhưng không dạy học nữa mà chỉ làm các công tác về tôn giáo
 


























 
 

TRƯỜNG TRUNG HỌC QUANG TRUNG, SÀI GÒN (NIÊN KHÓA 1968 - 1975)

Hình ảnh của trường trước 1975
 




























































































 
  

TRƯỜNG TRUNG HỌC BỒ ĐỀ, ĐÀ NẴNG (NIÊN KHÓA 1967 - 1974)

Trường được thành lập và quản lý bởi trung tâm văn hóa xã hội Phật giáo Đà Nẵng
 


Lễ tổng khai giảng



Tiền sảnh trường Trung học Bồ Đề



Hình ảnh lưu niện của thầy trò lớp 10B2 năm 1972



Thầy giám học Thích Minh Đàm và các học sinh tham quan biển Nam Ô





Thăm chùa Thiên Mụ (Huế)





Trên bãi đá Nam Ô



Từ trái quacác bạn Minh Phượng, Lan Hương, Trần Thị Thu và Kim Hoa



Chụp hình lưu niệm hè trong sân trường







Lễ tổng khai giảng niên khóa 1967 - 1974


Kỷ niệm lớp 1/6



Hình chụp tại chùa Tỉnh Hội



Học sinh Võ Thị Thu





Học sinh Nguyễn Thị Long



Các bạn Minh Phương, Võ Thị Thu, Minh Hoa, Văn Thọ







 












Một số gương mặt học sinh của trường, niên khóa 1967 - 1974
  

TRƯỜNG TRUNG HỌC THOẠI NGỌC HẦU, LONG XUYÊN (GIAI ĐOẠN 1948 - 1973)

 
Ngày 12 tháng 11 năm 1948, trường khai giảng khóa đầu tiên, có 76 học sinh chia thành 2 lớp, nam nữ học riêng: lớp Nhất niên "A" và lớp Nhất niên "B". Tất cả học sinh được miễn đóng học phí.


Chân dung ông Trương Văn Đức, người thành lập trường



Thẻ học sinh của trường, năm 1949



Phòng học vách lá, mái lá năm 1951



Thầy Lê Xuân Kính - Hiệu trưởng đầu tiên của trường, ảnh chụp 1954



Học sinh trung học Thoại Ngọc Hầu năm 1954.



Thầy trò trước cổng trường năm 1954.



Trước cổng chùa Niệm Sư - 1954.



Cổng trường Thoại Ngọc Hầu khoảng năm 1956.



Thầy Đỗ Văn Hách và học trò khoảng  năm1954 -1956





Thầy trò trước chùa Niệm Sư khoảng năm 1956



chùa Niệm Sư khoảng năm 1956



Buổi sinh hoạt học tập được tổ chức tại hội trường của Trường trung học Chưởng Binh Lễ - 1968.



Học sinh tích cực trong sinh hoạt học tập được thưởng.


 
Các "diễn giả" trong một buổi sinh hoạt học tập của khối lớp đệ ngũ - lớp 8 (năm học 1968-1969).
Chủ toạ: thầy Huỳnh Phú Hạnh.
Các học sinh (từ trái sang): Huệ, Thế Phượng, Tính, Nương.



Nữ sinh lớp đệ nhị A năm học 1967-1968 chụp ảnh lưu niệm với
thầy Hiệu trưởng Võ Vĩnh Khiêm và thầy Giám học Lê Tấn Kiệt.


 
Chuyến dã ngoại tại cồn Phó Ba khoảng năm 1969.
Các thầy (ngồi, từ trái sang): Lê Phú Hạnh, Đinh Quốc Hùng, Đặng Trung Thành, Lê Văn Nhường.
Thầy Lê Tấn Gòi (đứng bìa trái).

Năm nữ sinh lớp đệ tứ P1 trong đoàn du khảo núi Sam do nhà trường tổ chức.



Học sinh Thoại Ngọc Hầu lãnh thưởng - năm học 1970-1971.



Lớp đệ tứ P1 (năm học 1969-1970) chụp ảnh lưu niệm
với thầy Đinh Quốc Hùng



Thầy Huỳnh Phú Hạnh.



Bùi Ngọc Thuấn (thứ hai từ trái sang) năm học 1971-1972 làm Tổng thư ký Ban chấp hành HS TNH.



Mừng Ngày kỷ niệm Hiến chương các nhà giáo 20.11.1972.


Học sinh xuất sắc của năm học 1972-1973 chụp ảnh lưu niệm với thầy hiệu trường Lê Tấn Kiệt (bên trái) và thầy Giám học Lê Tấn Bộ (bên phải).



Lễ dựng tượng Thoại Ngọc Hầu - 1973.

TRƯỜNG TRUNG HỌC HẢI LONG - PHAN BỘI CHÂU, PHAN THIẾT (1975 )

 
 














 
Hình ảnh tổng hợp từ cựu học sinh các khóa của trường
Xin chân thành cảm ơn các anh chị!
 
Tê Hát tổng hợp 
 
 
Photo:
 


 
 




 
 
 
 

 

Xem thêm...

Trường Sao Mai, Thầy, Bạn Và Tôi, Một Thời...

Trường Sao Mai,
Thầy, Bạn Và Tôi, Một Thời...

***Phan Xuân Sinh***

 



Trường Sao Mai tọa lạc trên đuờng Ðộc Lập (cổng trước), và đường Lê Ðình Dương (cổng sau) thuộc làng Nại Hiên Tây, Ðà Nẵng. Trước khi xây dựng trường, đây là một đồn lính Tây, đã xẩy ra một biến cố thật lớn lao cho dân Ðà Nẵng vào đầu thập niên 1950. Những người lớn tuổi cho biết, trong khoảng thời gian nầy nghe theo lời xúi giục của một số cán bộ Việt Minh kích động lòng yêu nước của toàn dân chống Pháp, một số đàn bà và trẻ con tập trung đến trước cổng đồn để đòi chồng con đi lính cho Tây về. Ðoàn biểu tình nầy nhào vô đồn để uy hiếp tinh thần các lính người Việt đang đồn trú tại đây, nên bị lính gác cổng bắn hạ vài ba người. Biến cố nầy gây nên một cuộc biểu tình rộng lớn. Hầu hết dân chúng Ðà Nẵng lúc đó tham gia đông đảo, mang xác những người chết đến Tòa Thị Chính để đòi bồi thường. Ðồn lính nầy đến đời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thì giao cho lính Bảo An. Sau đó thì bỏ trống vài năm. Lính Bảo An lại tập trung tại đồn lính lớn trước vườn hoa Diên Hồng.



Trước khi trường Sao Mai xây dựng vào khoảng cuối thập niên năm 1950, noi đây là sân đá banh của bọn con nít chúng tôi. Bất kỳ sáng, trưa, chiều, trời nắng hay trời mưa, những ngày nghỉ học trên bãi đất trống đầy con nít. Choai choai thì đá banh lớn, con nít như tụi tôi thì đá banh tennis, dễ chi có đuợc trái banh da. Từ lớn tới nhỏ đều đá banh bằng chân đất, làm gì có giày như bây giờ. Kể cả chuyện tranh cúp đá banh liên trường cung chỉ bằng chân đất. Rách thịt xước da thì lấy cát tấp vô cầm máu, không cần phải band aid, sát trùng, thuốc cầm máu chi cho mệt, mà cung chẳng thấy đứa nào chết vì vi trùng tétanos cả. Chính trên sân nầy đã xuất hiện nhiều cầu thủ nổi tiếng như Ðược, Minh Ðen (Chức) cho Ðà Nẵng về sau. Ðội banh Quân Cụ, đội banh Quan Thuế ở Sài Gòn ( anh Có, hậu vệ) hồi đó cung có mặt cầu thủ đá banh Nại Hiên, mà hầu hết họ đều xuất thân tại sân banh đó. Sau truờng Sao Mai đuợc xây dựng trên mảnh đất nầy, tôi không nhớ chính xác, có lẽ vào khoảng 1957.


Trước trường Sao Mai có một vườn hoa nhỏ, vườn hoa có tên là Dân Chủ. Có một cây cổ thụ thật lớn, sau nầy cây quá già, cằn cỗi và bị cháy. Vườn hoa buổi tối vào mùa hè, sinh hoạt thật nhộn nhịp. Các gánh chè đi lại bán cho khách ngồi hóng mát, và những cặp tình nhân ngồi tâm sự.

Trường Sao Mai tổng khai giảng năm 1959, lúc đó tôi mới vào đệ thất. Linh Mục Lê Văn Ấn làm Hiệu Trưởng (sau nầy ông lên Giám Mục và phụ trách địa phận Xuân Lộc). Khi khai giảng thì trường có từ đệ thất đến đệ tam.

Tôi còn nhớ các thầy dạy tôi hồi đó: Nguyễn Thanh Kim (vạn vật), Lưu Như Hải (toán), Lê văn Hung (ly hóa), Lê Thăng (lý), Lê Chương (Việt văn), Nguyễn Ngọc Rao (Anh văn), Phạm Ngọc Vinh (Công dân), Thái Tú Bình (nhạc, vẽ). Thầy Bình là người anh của nhà thơ Thái Tú Hạp, vẽ rất đẹp. Hồi đó Thầy Bình làm bản nhạc Sao Mai hành khúc. Khi trường có buổi lễ gì đó mời ban nhạc Quân Ðội đến giúp vui, bản nhạc nầy đuợc giao cho ban nhạc chơi. Cả ban nhạc ngẫn người vì họ không biết chơi ra sao cả. Hình như Thầy Bình không rành mấy về nhạc (sở di tôi biết chuyện nầy, vì gần nhà tôi có ông thổi kèn cho ban nhạc đó nói cho tôi biết. Không biết có đúng hay sai cung mong Thầy Bình tha lỗi). Thầy Bình hiện thời đang ở Santa Ana. Khi thầy đọc đuợc chuyện nầy chắc thầy cung cười thôi. Bài Sao Mai Hành Khúc sau nầy đuợc Cha Thuần (Giám Thị) soạn lại hoàn chỉnh hơn.

saomaidannang
Thầy Lưu Như Hải dạy toán, lúc đó có xuất bản tập thơ "Khơi Vơi". Khi lớp tôi làm tờ bích báo treo ở phòng Khánh Tiết của trường, Thầy Hải có đọc qua thơ của mấy ông thi si nhỏ. Nên đến giờ dạy, Thầy gọi lên tặng cho mỗi đứa một tập (trong đó có tôi). Thầy Hải có cái tật là đứa nào làm phật lòng Thầy, là Thầy mở sổ điểm cho zéro cả tháng. Mấy đứa học giỏi không may gặp trường hợp nầy, là kể như đi đời tháng đó, từ hạng nhứt, hạng nhì trở thành hạng gần chót. (Thầy Hải sau nầy đi học Ðại Học Sư Phạm và có dạy ở Trần Quý Cáp, hiện đang cu ngụ tại Texas). Tôi có gặp Thầy một vài lần ở California.

Lúc đó đi học còn đội nón cối trắng, nón cối đuợc để trên ghế bên chỗ ngồi. Tôi thuộc loại nhỏ nhất lớp và cung tinh nghịch. Mấy anh lớn tuổi ngồi bên tôi chỉ vài ngày sau là nón cối dẹp nát. Mỗi lần giáo sư vào lớp là học sinh phải đứng dậy chào, tôi đẩy nón cối ngay vào chỗ ngồi của anh đó. Thế là vài lần cái nón cối đi đời. Có anh bực quá tát cho một bạt tai, rồi đi mua cái nón khác. Sau chẳng có ai dám ngồi gần tôi cả.

ngmientnh
Học sinh trường tư, phải trả học phí từ đầu tháng (từ 1 tây tới 5 tây). Quá hạn đó là Cha Thuần Tổng Giám Thị mang sổ vào tận lớp kêu tên và đuổi ra ngoài. Khi nào có tiền trả học phí mới đuợc vào lớp. Khi Cha Thuần qua lớp khác, những đứa bị đuổi lại nhảy cửa sổ vào học lại. Các thầy dạy xem cảnh nầy cung thường tình, nên chẳng thèm quan tâm tới. Cung lạ là cha mẹ học sinh có người khi con bị đuổi học mới cho tiền trả học phí.


Năm 1963 (mới lên đệ tam), có phong trào bãi khóa của học sinh chống chính phủ Ngô Ðình Diệm. Trường Sao Mai vẫn đi học tinh bơ (vì là trường Công Giáo), đoàn biểu tình nhảy vào trường lôi các học sinh ra ngoài. Tụi tôi cung khoái vì đuợc nghỉ học, có cơ hội đi choi, nên cung ùa ra cổng. Tôi học phòng tầng trệt, nên xớn xác chạy ra cổng sau và mở cổng cho học sinh bên trong túa ra ngoài trước. Không ngờ có một ông công an đứng ngoài đuờng trông thấy và chụp hình tôi. Nửa đêm ngày hôm sau Cảnh Sát đến bố ráp nhà tôi, bắt tôi đi xuống Ty Cảnh Sát (lúc đó ở tại góc đuờng Yên Báy và Phan Ðình Phùng). Người Cảnh Sát hỏi cung tôi ở tổ chức nào, tôi ú ớ chẳng biết chi hết, họ biết tôi còn con nít chỉ ham vui. Họ tát cho tôi mấy bạt tai rồi nhốt vào xà lim cho bỏ cái tật tranh đấu. Hai ngày sau họ gọi tôi lên văn phòng, tôi thấy Cha Ấn và Ba tôi đứng chờ. Cha Ấn tới hỏi tôi có bị đánh đập gì không? Tôi nhìn một nhân viên đang ngồi làm việc sau lưng Cha Ấn. Nhân viên nầy lắc đầu cố ý bảo tôi là không bị đánh đập chi hết, tôi cung nói với Cha Ấn là không. Thời đó các Cha có uy quyền ghê lắm. Các cấp chính quyền cung phải nễ sợ. Cha Ấn ký giấy bảo lãnh cho tôi về, ngồi trên chiếc xe jeep của Cha, tôi mới nói thật là họ có đánh tôi. Cha lắc đầu, rồi an ủi tôi, mấy bạt tai chưa có nghĩa là bị tra hỏi. Cảnh Sát lúc đó, tra hỏi bằng những đòn tra tấn dã man lắm, nên mấy bạt tai thì chỉ là chuyện giỡn chơi thôi.

 
Ðệ tam, đệ nhị ban A, nên lớp tôi con gái đông nhất, lớp học 120 người thì con gái chiếm 80 người. Các chị học giỏi thì không đẹp bằng các chị học dở. Nói vậy thì hơi mất lòng cả hai, nhưng theo nhận xét của cá nhân tôi là vậy, chẳng biết có đúng không, mong các chị thông cảm. Tính tôi thì không tế nhị, ăn nói ba cục ba hòn, không đuợc bằng như anh Luân Hoán ăn nói rất dễ thương. Anh đã từng nói là: "Có thể nói hầu hết những nữ sinh thuộc các trường trung học tại Ðà Nẵng, đều là những trang nhan sắc..." Ðúng vậy, trời sinh con gái ai cung đẹp hết, chỉ có mình không có mắt thưởng thức thôi. Trường Sao Mai có hai loại phòng học, phòng chiếc và phòng đôi. Phòng đôi dành cho những lớp quá đông, hoặc những giờ các lớp học chung. Khi mà con gái đông hon con trai thì mới thấy tinh nghịch không thua gì con trai cả, cung phá dữ lắm.



Có người hỏi tôi, suốt mấy năm học ở Sao Mai mà không có mối tình nào cả sao? Thú thật là có yêu thầm nhớ trộm thì nhiều, yêu chỉ một chiều. Gái sắc hương nhiều như vậy mà không yêu sao đuợc chứ. Nhưng miệng câm như hến, không dám tỏ bày cùng ai, nhút nhát như thỏ đế. Tướng tá thì khù khờ, ngô nghê làm sao vào đuợc mắt xanh của các người đẹp, đành phải chịu vậy thôi.

Sau khi đọc xong trang Ðà Nẵng của anh Luân Hoán thực hiện, tôi nẩy ra ý muốn viết vài hàng về kỷ niệm một thời ở Sao Mai, ngôi trường ấp ủ tôi suốt thời trung học, nhưng ý tưởng tôi lại lộn xộn, nhớ gì viết đó. Kính mong bạn đọc lượng tình tha thứ. Nhìn lại công trình anh Luân Hoán thực hiện, bỗng dưng tôi thấy cái thành phố nhỏ đó thật là dễ thương, thật là quý mến hết sức. Cám ơn anh Luân Hoán đã cho tôi đuợc dịp trở về miền đất chôn nhau cắt rốn, đuợc thấy lại những kỷ niệm, nhớ lại từng khuôn mặt của bạn bè.

Boston, hè 2001
Phan Xuân Sinh

HÌNH ẢNH XƯA CŨ TRƯỜNG SAO MAI ĐÀ NẴNG
 
 
Trường thành lập năm 1959, có một dãy lầu ba tầng dành cho trung học, dãy nhà trệt dành cho tiểu học. Hiện trường đã đổi thành trường PTTH Trần Phú. Hình ảnh xưa cũ ngôi trường năm nào, còn đâu, còn đâu, trường nay không còn vết tích xưa khiến cho ai bao cảm giác nuối tiếc.
   





truongxuatrencao







Kim Phượng sưu tập

 

 

 

 

 

Xem thêm...

VIỆT DZŨNG TRONG LÒNG NGƯỜI Ở LẠI - Tưởng nhớ ca nhạc sĩ Việt Dzũng 20 tháng 12, 2013.

VIỆT DZŨNG TRONG LÒNG NGƯỜI Ở LẠI

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC VIỆT DZŨNG

Việt Dzũng tên thật là Nguyễn Ngọc Hùng Dũng, sinh ngày 8 tháng 9 năm 1958 tại Sàigon, Việt Nam. Anh là con trai thứ 3 trong gia đình. Ba của anh là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, cựu Dân Biểu của Nền Đệ Nhị Cộng Hoà Việt Nam và cũng là Thiếu Tá Y sĩ trưởng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Mẹ của anh là bà Nguyễn Thị Nhung, giáo sư trường nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn. Từ nhỏ, anh đã là một học sinh xuất sắc của trường Lasalle Tabert ở Sài Gòn, cũng như anh trai và đứa em trai kế của anh. Người chị lớn của anh thì đang du học bên Nhật Bản về ngành giáo dục. Việt Dũng đã yêu thích âm nhạc từ khi còn rất trẻ và được các sư huynh ở trường Lasalle Tabert chỉ dạy rất tận tình. Trong lúc gia đình mong cho anh sau này trở thành Bác sĩ để nối nghiệp cha, thì Việt Dzũng lại đam mê ca hát, văn nghệ. Anh thường cùng các bạn học trình diễn ca nhạc ở những buổi văn nghệ liên trường. Việt Dzũng đã từng chiếm giải nhất ở cuộc thi văn nghệ của trường Tabert và đại diện trường đi tham dự các buổi hát ủy lạo chiến sĩ VNCH, cũng như tham dự vào những đại hội nhạc trẻ khắp nơi bên cạnh những tên tuổi nổi danh thời bấy giờ như Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang, Đức Huy, Elvis Phương.v.v.. Đó là khoảng thời gian từ năm 1971 cho tới tháng tư năm 1975.

image

image

Biến cố 30 tháng tư năm 1975 cùng với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đưa Việt Dzũng rời xa quê hương mà cho đến nay chưa một lần nào anh đặt chân trở lại. Cùng với 36 người chen chúc nhau trên một chiếc tàu nhỏ bé, mong manh, Việt Dzũng và bà ngoại của anh đã vĩnh viễn rời xa gia đình và đất nước Việt nam. Sau 22 ngày trên biển khi không còn thức ăn, nước uống, cũng như phải chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đau thương trên biển cả, tàu của họ mới cập được bến Singapore. Nhưng liền sau đó, tất cả lại bị chuyển qua một chiếc tàu khác và thẳng đường tới trại tị nạn Subic ở Phi Luật Tân. Tại trại tạm cư Subic, chàng thanh niên trẻ Việt Dzũng tạm quên đi những kỷ niệm thật đẹp ở quê nhà mà bắt tay ngay vào đời sống mới. Với số vốn Anh ngữ học được ở trung học và tính tình hoạt bát, Việt Dzũng liền tham gia hoạt động trong ban tổ chức và điều hành trại, đón tiếp và giúp đở nhiều chuyến tàu tị nạn lần lượt cặp bến Subic cho đến khi trại này đóng cửa. Rời trại tị nạn này, Việt Dzũng cùng bà ngoại được đưa sang đảo Guam, rồi chuyển sang trại Ft. Chaffee ở tiểu bang Arkansas. Trong thời gian này Việt Dzũng hoạt động không ngừng nghỉ, từ việc đón tiếp đồng bào tị nạn mới tới, sinh hoạt trong hội Hồng Thập Tự, hội USCC, cộng tác với tờ báo của trại, chương trình phát thanh của trại, làm thông dịch viên giúp đỡ rất nhiều người chung quanh. Chính những kinh nghiệm sống trên đường vượt biển tìm tự do này đã khiến cho anh sáng tác rất thành công các ca khúc để đời sau này, mà tiêu biểu nhất vẫn là “Lời Kinh Đêm” với những câu ca: “Thuyền trôi xa … về đâu ai biết ? Thuyền có về …ghé bến tự do ? Trời cao xanh … hay trời oan nghiệt Trời có buồn … hay trời vẫn làm ngơ ?…Người buông xuôi về nơi đáy nước Người có mộng một nấm mồ xanh ? Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ …?”

Ở lại trại gần đến ngày cuối cùng trước khi trại đóng cửa, anh được Đức cha Bernard Law, Giám Mục địa phận Springfield, Missouri, bảo trợ và gởi đến tạm trú trong một gia đình người Mỹ. Năm 1976, Việt Dzũng tiếp tục học lớp 11 ở trường trung học St. Agnes, Missouri và tự trau dồi thêm về âm nhạc theo như sở thích và đam mê từ nhỏ của anh. Tại đây, anh bắt đầu sinh hoạt ca hát với các anh chị em thuộc cộng đồng Việt Nam. Anh cũng từng xuất hiện trên đài truyền hình KOZK21 ở Springfield. Một năm sau (1977), Việt Dzũng được đoàn tụ với gia đình ở Wood River, tiểu bangNebraska. Năm đó anh tốt nghiệp trung học tại trường Wood River.

Năm 1978, Việt Dzũng chính thức bước vào lãnh vực âm nhạc khi cùng một người bạn học chung trường tên là Vernon Larsen lập ban song ca để hát theo lối du ca (troubrador) của Mỹ, tên “Firebirds” (Chim Lửa). Đôi song ca này chuyên hát nhạc đồng quê của Hoa Kỳ (American country music). Việt Dzũng sử dụng tây ban cầm và cùng người bạn Mỹ đi trình diễn khắp nơi ở vùng Trung Mỹ, kể cả các club nhạc của dân địa phương. Nhiều người Mỹ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy một thanh niên Á châu hát nhạc đồng quê rất thành thạo, trôi chảy nên đã dành cho anh thật nhiều thiện cảm.

image

Cũng năm 1978 này, Việt Dzũng đoạt giải nhất về sáng tác nhạc country music tại cuộc thi Iowa Grand Old Orphy. Thật ngạc nhiên khi anh là người Việt Nam đầu tiên, mà cũng là người Á châu đầu tiên chiếm giải nhất về bộ môn sáng tác country music với bài hát hoàn toàn bằng Anh ngữ. Ngay sau đó, một hãng dĩa về country music đã mời anh cộng tác để thực hiện một Album nhạc đồng quê, nhưng anh đã từ chối vì muốn tiếp tục học ở Đại học theo ý muốn của song thân. Cũng trong năm này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt với bài hát đầu tiên là “ Sau Ba Năm Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ”, viết về thân phận người dân xa xứ với những đau đớn chia lìa. Bài hát thứ hai là “Một Chút Quà Cho Quê Hương” đã trở thành một ca khúc lẫy lừng nhất của Việt Dzũng,được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay. Đó là thời gian người Việt tỵ nạn bắt đầu gửi quà về cho thân nhân ở quê nhà, chia sẻ những khổ đau chất ngất, đọa đày dưới chế độ mới như những lời ca sau đây “Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay … Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đày. Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn ….Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình …”

Năm 1979, trong Hội Chợ Tết Nguyên Đán được tổ chức tại San Antonia, Texas, Việt Dzũng đã lên sân khấu, ôm đàn guitar trình bày hai ca khúc mà anh vừa sáng tác mang tên “Lời Kinh Đêm” và “Một chút quà cho quê hương”. Khi hát xong, nhìn xuống khán giả thì mọi người đã đầm đìa nước mắt và túa ra ôm ấy anh khi anh rời sân khấu. Việt Dzũng đã chinh phục bà con đồng hương nơi đây kể từ lúc này.

image

Năm sau 1980, Việt Dũng trình diễn tại một đại nhạc hội ở Omaha, Nebraska với Sĩ Phú và Mai Lệ Huyền. Sau đó anh đã hát với Khánh Ly, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh ở Denver, Colorado những bài hát do anh sáng tác. Ngay lúc đó, Khánh Ly đã chọn ba bài hát của anh là: “Lời Kinh Đêm, Mời Em Về, Một Chút Quà Cho Quê Hương” đem về California thâu vào băng nhạc “Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa”. Ba bài hát này đã là những bài hát nằm lòng của hàng triệu người Việt nhiều năm sau đó (kể cả ở trong nước).

Thập niên 1980 cũng là năm mà số người Việt bỏ nước ra đi cao nhất, Việt Dzũng đã cho ra mắt cuồn băng nhạc đầu tay “Kinh Tỵ Nạn” do Trung Tâm Nhã Nhạc tại Houston, Texas thực hiện. Ngay tuần lễ đầu, băng nhạc này đã được đón nhận nhiệt liệt từ California đến tận Canada, số bán sau đó đã lên đến cả trăm ngàn ấn bản. Lúc đó, Việt Dzũng đã quyết định chính thức di chuyển qua California sinh sống và sinh hoạt văn nghệ để có thể phát triển tài năng của anh nhiều hơn. Đầu tiên, anh được nhạc sĩ Ngọc Chánh mời hát cho đại nhạc hội ở Orange County và tiếp tục lưu diễn khắp nơi. Anh cũng đã hoàn thành cuồn băng nhạc thứ nhì tên là “Lưu Vong Khúc” vào giai đoạn này.

Trước đó, vào năm 1978 anh đã gặp ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh tại Đại Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt tại thủ đô Washington DC và hai người liền kết nghĩa chị em. Cả hai cùng sáng tác và kết hợp thành một đôi song ca trình diễn khắp nơi trên thế giới, chỉ trừ các nước cộng sản mà thôi. Tại Mỹ, họ đã lưu diễn hầu hết 50 tiểu bang, kể cả những tiểu bang có rất ít người Việt sinh sống. Tại Á châu, họ đã hát ở Nhật hơn ba lần, hát cho các phái đoàn ngoại giao, tòa tổng lãnh sự, sứ quán Mỹ ở nhiều nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.v…Nhưng chuyến lưu diễn ở Âu Châu của Việt Dzũng và Nguyệt Ánh phải coi là một chuyến lưu diễn lịch sử.

image

Đã có hàng ngàn người Việt từ khắp nơi đón xe lửa đến gần địa điểm trình diễn, cắm trại nằm chờ trước hai ba ngày khai mạc để gặp hai thần tượng của họ. Ở Úc Châu khán giả cũng nhiệt liệt đón chào Việt Dũng và Nguyệt Ánh. Họ đã đi hết những thành phố có người Việt cư trú kể cả những nơi hẻo lánh như Perth và Darwin. Đã có nhiều bài báo và cả hai cuốn sách xuất bản ở Úc được viết ra để ca tụng cho lý tưởng đấu tranh chống cộng và ước mơ ngày về quang phục quê hương của đôi nghệ sĩ này. Ngay lúc đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam liền lên án Việt Dzũng và Nguyệt Ánh là hai kẻ phản động số một, tuyệt đối cấm phổ biến tất cả các nhạc phẩm của họ trong nước. Trong một phiên tòa sau đó, CSVN đã kết án tử hình khiếm diện hai nghệ sĩ này. Ngày 1 tháng Tư năm 1985, hai nghệ sĩ này đã kết hợp với những ca nhạc sĩ khác để thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, dùng âm nhạc làm vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù. Cho đến nay, Phong Trào Hưng Ca Việt Nam vẫn còn hoạt động đều đặn với những tên tuổi khác như Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương, Xuân Nghĩa, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo..v.v..Trong suốt thời gian hơn 25 năm này, Việt Dzũng vẫn tiếp tục có những hoạt động đều đặn, liên tục và bền bỉ để tranh đấu cho người tị nạn Việt Nam. Từ những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D’Anamur, chương trình SOS Boat People, vận động chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương người tị nạn, tranh đấu với quốc tế tại Genève, Thụy Sĩ, tại Liên Hiệp Quốc…Có thể nói, bất cứ nơi nào có người tị nạn Việt Nam là có bước chân Việt Dzũng mang tiếng đàn, tiếng hát của anh để binh vực cho họ, sưởi ấm tấm lòng của họ, mang niềm tin yêu và hy vọng cho họ vượt qua những khổ cực, đau buồn và mất mát trên đường vượt biên. Anh đã có mặt hầu hết các trại tị nạn ở vùng Đông Nam Á để thăm viếng, ủy lạo đồng bào, giúp đở trẻ em không thân nhân và hàng ngàn công tác xã hội khác mà không hề biết mệt.

Cũng trong năm 1985 này, Việt Dzũng đã cho ra đời một băng nhạc hoàn toàn bằng Anh ngữ “Children of the Ocean”. Đây cũng là album nhạc đầu tiên của người Việt hải ngoại bằng tiếng Anh. Các tờ báo Orange County Register, Los Angeles Times, Washington Post đều có những bài viết khen ngợi cuốn băng này. Riêng tờ Austin-American- Stateman đã gọi Việt Dzũng là “người nghệ sĩ nổi tiếng nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và là một tấm gương sáng giá, chứng tỏ là người tỵ nạn có thể hội nhập vào đời sống mới, trong khi vẫn giữ được nguồn gốc của quê hương mình.”

Về báo chí, Kể từ năm 1980, anh đã cộng tác với tờ Người Việt (trang song ngữ Tuổi Trẻ). Sau đó anh về làm Tổng Thư Ký cho tờ Nhân Chứng năm 1982. Tờ Tay Phải (của Du Tử Lê) năm 1983. Về Houston làm Tổng Thư ký cho tờ Việt Nam Thương Mại năm 1988. Trở lại California làm thư ký cho tờ Sài Gòn Nhỏ một thời gian và sau đó cộng tác với tờ tuần báo Diễm từ năm 1990. Năm 1992 trở thành Thư ký toà soạn cho tờ nguyệt san Hồn Việt cho đến bây giờ. Việt Dzũng cũng là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông khắp nước Mỹ như tờ Phố Nhỏ (Washington DC), Thế Giới Mới (Dallas, TX), Phương Đông (Seattle, WA), Mõ Magazine (San Jose, Sacramento, San Francisco & Oakland), Làng Văn (Canada), Nhân Quyền (Úc), Tin Điển (Đức) .v.v.

Viet Dung, tinh ca

Về truyền thông, Việt Dzũng đã mở ra một cánh cửa khác để cho thấy một tài năng thiên phú và đa dạng ở anh. Sau một thời gian dài làm báo, tháng 7 năm 1993 Việt Dzũng được mời làm xướng ngôn viên chính cho chương trình phát thanh tiếng Việt đầu tiên ở Nam California, phát thanh 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày là đài Little Saigon Radio. Cũng cần nhắc lại là trước đó các đài phát thanh đều làm chương trình theo kiểu ngày xưa, nghĩa là thâu thanh trước đàng hoàng, kỹ càng từng tiết mục và tới giờ là cho phát thanh lên. Nhưng lần đầu tiên, Việt Dzũng đã tạo ra một phong cách mới: anh đưa ra những chương trình trực tiếp truyện trò cùng thính giả  trong buổi phát thanh nên không khí rất vui nhộn và hào hứng, náo nhiệt vô cùng. Sau này các đài phát thanh ở Mỹ và ngay cả ở bên Việt Nam cũng bắt chước theo lối này. Kể cả các đài BBC, VOA phát thanh về Á Châu, cũng thay đổi cách làm việc như cho xướng ngôn viên được phép đùa giởn với thính giả chớ không đọc tin một cách nghiêm trang như ngày xưa.

image

Ngoài việc phổ biến tin tức, âm nhạc, thể thao cuối tuần, giải trí cuối tuần, tin tức Hollywood …Việt Dzùng còn thực hiện chương trình đặc biệt, nhất là chương trình “Tâm tình với nghệ sĩ” được rất nhiều thính giả ưa thích. Trong tất cả các chương trình phỏng vấn này, nóng bỏng nhất và đặc biệt nhất phải nói là chương trình phỏng vấn nữ ca sĩ Ngọc Lan. Vì từ trước tới nay, Ngọc Lan không nhận lời cho ai phỏng vấn cả (vào thời điểm đó), chỉ có một lần cô trả lời trên đài VOA; và Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được Ngọc Lan vào tháng 10 năm 1994.

Năm 1996, Việt Dzũng cùng các bạn đứng ra thành lập một chương trình phát thanh độc lập, đó là đài Radio Bolsa, phát thanh trên ba làn sóng khác nhau ở Nam California, Bắc California và Houston, Texas. Hiện nay , Radio Bolsa đang phát sóng trên 106.3 FM, 1190 AM (Nam California) và 1430 AM (San Jose) với Việt Dzũng và Minh Phương là hai xướng ngôn viên chủ lực cùng với các xướng ngôn viên khác như Nguyễn Phú, Uyên Thy, Mai Trang, Hoàng Trúc, Bích Huyền, Uyển Diễm.v.v. Việt Dzũng đã tạo sự gần gũi, thân mật giữa xướng ngôn viên với thính giả từ già đến trẻ, ở nhà cũng như đang lái xe đi làm với những chương trình đa dạng và phong phú hàng ngày.

Về mặt sáng tác âm nhạc, cho đến nay Việt Dzũng đã sáng tác hơn 450 bài hát về đủ mọi thể loại. Những bài hát về tỵ nạn đã được phổ biến rộng rãi trong hai tập nhạc “Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982). Những bài hát này được viết ra như một thôi thúc về những điều phải nói ra trong những năm lạc lõng của đời lưu vong nơi xứ người. Sau đó là các ca khúc đấu tranh, quang phục quê hương. Nhưng nhiều nhất vẫn là tình ca, sáng tác rất nhiều nhưng chưa phổ biến hết. Những bản tình ca nổi tiếng của Việt Dzũng có thể kể ra như Bài Tango Cuối Cùng, Thung Lũng Chim Bay, Khóc Ru Đời Trinh Nữ, Bên Đời Hiu Quạnh, Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Và Em Hãy Nói Yêu Anh, Tình Như Cây Cà-Rem…

Năm 1990, Việt Dzũng thành lập riêng cho mình Trung Tâm Việt Productions, chuyên sản xuất các CD nhạc với tiếng hát của anh và bằng hữu như các CD: Ru Em Sông Núi Đợi Chờ, Thánh Ca Vào Đời, Hùng Ca Quật Khởi, Quê Hương Và Em, Mình Ơi Đưa Em Về Quê Hương, Thắp Lửa Yêu Thương, Lên Đường, Bên Em Đang Có Ta, Tuổi Trẻ Về Nguồn, Hát Cho Tự Do, Thắp Lửa Tự Do, Trái Tim Ở Lại, Anh Vẫn Còn Thương, Vuốt Mặt, Bên Bờ Đại Dương …Sau hai mươi năm hoạt động không ngừng nghỉ trên mọi lãnh vực và được nổi danh khắp nơi, được hàng triệu người ái mộ, nhưng cũng có lúc Việt Dzũng cảm thấy rất cô đơn. Anh đã từng bày tỏ cảm nghĩ của riêng anh trong một lần phỏng vấn năm 1995 với nhà báo Trường Kỳ như sau “Nhìn vào đời sống nghệ sĩ, ai cũng cũng chỉ thấy những rực rỡ của ánh đèn sân khấu, của những tràng pháo tay và của nhữNg rộn rịp âm thanh. Đời sống của nghệ sĩ không phải chỉ có vậy. Còn có những giọt nước mắt âm thầm mỗi đêm, những đắng cay tủi nhục và những cám dỗ chập chùng đi kèm. Cá nhân Việt Dzũng không bao giờ muốn trở thành ca sĩ. Chỉ muốn làm một nhạc sĩ ghi lại những nỗi suy tư của một đời người, và những rung động mà mình bất chợt tìm thấy. Vì thế, nên khi nghe một ca khúc, khi thưởng thức một nhạc phẩm nào, hãy nghe bằng sự rung động của chính tâm hồn mình. Bạn sẽ thấy người nhạc sĩ đó đang mang trái tim của họ trải rộng cho bạn nhìn, như một tấm tranh vẽ. Có thể bạn sẽ bắt kịp những nét chấm phá trong tranh. Có thể bạn chỉ ơ hờ lướt mắt qua rồi thôi. Nhưng dù gì đi nữa, mỗi ca khúc hay mỗi bức tranh vẫn là một hiện diện trong đời sống. Và hãy cảm ơn sự hiện diện đó, vì nếu không cuộc đời sẽ chỉ là những vô nghĩa kéo dài. (Việt Dzũng trong “Tuyển Tập Nghệ Sĩ”, 1995)

http://gocnhosantruong.com/images/photos/83/241/40da6bfe471dd34f29537aee.jpg

Thực ra, nỗi cô đơn ấy cũng chỉ thoáng qua mà thôi. Những dự án, kế hoạch vẫn được anh theo đuổi càng lúc càng nhiều, choáng ngộp. Việt Dzũng tâm sự là anh mong cho một ngày dài thêm 48 tiếng đồng hồ, thay vì chỉ có 24 giờ để anh có thể hoàn thành bao nhiêu công việc đang vây bủa lấy anh. Ngày tháng vẫn trôi nhanh, trôi nhanh. Những hoạt động của anh gần đây thì nhiều vô số kể. Chỉ nói riêng về sinh hoạt với Phong Trào Hưng Ca Việt Nam thôi, thì những lần công tác nổi bật nhất là:

Phát động chiến dịch “Tưởng Niệm 50 năm Hiệp Định Genève (1954-2004)”, biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Genève (Thụy Sĩ) ngày 3-4-2004.

Đại nhạc hội Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Katrina tổ chức ở Houston (17.9.2005), sau chương trình “Chén Gạo Tình Thương” do Phong Trào Hưng ca phát động từ ngày 9.9.2005.

Đại nhạc hội “Đêm Tình Thương” phối hợp với cộng đồng người Việt ở Dallas Fortworth va Trung Tâm ca nhạc Asia (tháng 9-2005).

Chương trình vận động cho Dân Oan và Hoà Thương Thích Quảng Độ tại quê nhà năm 2008.

Những chương trình Đại Nhạc Hội gây quỹ giúp Thương Phế Binh VNCH ở khắp nơi.

image

Đặc biệt là Chương trình Đại Nhạc Hội Cảm Ơn anh do Hội HO và Thương Phế Binh phối hợp cùng SBTN tổ chức trong suốt 7 năm liên tiếp, không hề vắng mặt anh, đã gây quỹ lên đến hang chục triệu mỹ kim cho những Thương Phế Binh bất hạnh tại quê nhà. Trong những chương trình gây quỹ từ thiện và văn nghệ đấu tranh đó, Việt Dzũng đã đến với đồng hương bằng cung cách rất bình dị thân thương. Luôn luôn có những bạn trẻ vây quanh, tíu tít thăm hỏi, chụp hình chung với anh. Có những bà mẹ già vẫy tay gọi anh lại gần chỉ để được nắm tay anh, nói vài ba câu thăm hỏi với niềm rưng rưng cảm xúc.

Nhưng tài năng đặc biệt nhất và nổi bật của anh là kể từ năm 1996, Việt Dzũng chính thức được mời về cộng tác với Trung Tâm Ca Nhạc Asia để biên soạn chương trình và đảm trách vai trò MC trong các chương trình video và đại nhạc hội trực tiếp thu hình. Rất nhiều chương trình Video của Asia có các chủ đề đầy tình người, không nhằm mục đích thương mại, nhưng rất thành công như “Người Lính”, “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến”, “Tình Ca Anh Bằng”. Vài năm gần đây lại có những chương trình Asia video thật giá trị như “Âm Nhạc Vòng Quanh Thế Giới”, “Tiếng Hát Trái Tim”, “Mùa Hè Rực Rỡ 2005″. Nhưng đặc biệt nhất là video “Hành Trình Tìm Tự Do”, khán giả đã thực sự xúc động khi thấy Việt Dzũng trở lại các đảo tị nạn ở Đông Nam Á để làm phóng sự video, gợi nhớ cảnh vượt biển của những thuyền nhân tỵ nạn liều chết ra đi tìm tự do ngày xưa.

image

Cũng chính những chương trình video này, khi được chuyển về Việt Nam cùng với các DVD khác như “Cuộc Đổi Đời Bi Thảm, Triệu Đóa Hồng Cho Người Phụ Nữ VN, Cuộc Khổ Nạn của Người VN (Dạ Lan), đặc biệt là Asia 50 “Vinh Danh Nhật Trường” và Asia 51 “Nhạc Vàng, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến” … đã khiến nhà cầm quyền Việt Nam vô cùng tức tối, khi nhìn thấy Việt Dzũng vẫn tiếp tục xuất hiện trong vai trò làm MC. Nên vào ngày 18/9/2006 tờ báo Công An Thành Phố HCM đã bắt đầu đăng hai bài viết với đủ thứ ngôn từ hạ cấp nhằm mạ lỵ, phỉ báng và bôi nhọ cá nhân Việt Dzũng thật nặng nề. Có thể nói lần này là lần anh bị những người Cộng Sản VN “đánh” nặng nhứt từ trước đến nay. Nhưng cũng chính những bài báo này đã khiến cho mọi người càng thấy rõ bộ mặt nham hiểm, quỷ quyệt của Cộng Sản VN như thế nào và cũng làm cho nhiều người thông cảm, yêu mến và chia sẻ những oan khiên, thống khổ của người nghệ sĩ này nhiều hơn. Với tất cả những mũi tên tẩm thuốc độc bắn thẳng vào anh, Việt Dzũng chỉ im lìm, không lên tiếng biện minh hay viết bài đính chính. Anh vẫn âm thầm tiếp tục thực hiện những dự án và càng hăng say hoạt động, cống hiến tài năng của mình cho đồng hương như anh đã làm suốt hơn ba mươi năm nay. Anh vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền và quang phục quê hương trong niềm tin rằng chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần.

image

Năm 2000, Việt Dzũng là một trong những sang lập viên của đài truyền hình Việt ngữ đầu tiên phát hình 24 giờ/ngày tại hải ngoại, SBTN, trong vai trò đào tạo xướng ngôn viên, phóng viên và ban biên tập tin tức hàng ngày của đài. Từ đó cho đến nay, Việt Dzũng đảm nhận vai trò chính trong việc biên soạn tin tức hàng ngày của đài SBTN.

Trong những năm tháng gần đây, dù phải đương đầu với căn bệnh tim và bệnh tiểu đường ngày càng trầm trọng, Việt Dzũng luôn sát cánh cùng nhạc sĩ Trúc Hồ, giám đốc SBTN trong các cuộc vận động cho nhận quyền cho Việt Nam qua các chiến dịch vận động ký thỉnh nguyện thư đến Toà Bạch Ốc và phong trào Triệu Con Tim-Một Tiếng Nói, nhằm kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc, lên tiếng yểm trợ cho các nhà đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam

http://gocnhosantruong.com/images/photos/83/241/09909597b0e7de5101ca062c.jpg

Suốt hơn ba mươi năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở hải ngoại, kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh. Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhất là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu. Nhưng người nghệ sĩ và chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền này vẫn mạnh dạn vượt qua tất cả những khổ nạn chập chùng, oan khiên chất ngất và càng ngày anh càng được nhiều người yêu mến anh thêm.

Image

Ngày 20 tháng 12 năm 2013 vào lúc 10:35 sáng, Việt Dzũng đã đột ngột từ trần, hưởng dương 55 tuổi, Anh ra đi mang theo sự thương tiếc của hàng triệu người Việt tại hải ngoại và tại quê nhà.

Biên soạn: Phan Anh Dũng

image

Xem thêm...

CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

 
Image result for Cái tôi lớn dẫn đến thất bại lớn albert einstein photos

Einstein đã từng nói: “khi con người ta có càng nhiều kiến thức và hiểu biết thì cái "TÔI " của họ giảm. Ngược lại, khi càng ít kiến thức thì cái "TÔI " lại tăng lên”. Điều này chứng tỏ người thành công là người có nhiều kiến thức và hiểu biết đồng thời cái "TÔI " của họ rất nhỏ bé.

 CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT

 

 
Tại sao cái tôi, cái ‘’ égo ‘’ của người Việt lớn thế ? Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân. Không phải chỉ vỗ ngực, còn trèo lên nóc nhà gào khản cổ : tôi giỏi quá, tôi phục tôi quá, tại sao tôi tài ba đến thế ?
Một lần ngồi nhậu với 5 ông, có cảm tưởng ngồi với 5 giải Nobel văn chương. Những ông như vậy, nhan nhản. Nói ‘’ ông ‘’, vì hầu như đó là một cái bệnh độc quyền của đàn ông. Như ung thư vú là bệnh của đàn bà.
 
In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo. Làm vài bài thơ, câu trên vần (hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Beaudelaire, Nguyễn Du tái sinh. Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ , ăn nói như lãnh tụ, đi đứng , tắm rửa như lãnh tụ.. Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên ( hay đi xuống ). Học gạo được cái bằng ( chưa nói tới chuyện mua được cái bằng ), nghĩ mình đã kiếm ra điện và nước nóng.

TÔI, TÔI, TÔI
Một ông bạn in một tấm danh thiếp khổ lớn, dầy đặc những chức tước, trong đó có ‘’ nhà nghiên cứu ‘’. Những người quen không biết ông ta nghiên cứu cái gì, lúc nào. Tôi đáng nhận là nhà nghiên cứu hơn, vì thỉnh thoảng vẫn vào Google tìm mẹo trị mắc xương cá, hay cách nấu canh hẹ tầu hũ.
Nghĩ cũng lạ, cái TÔI to tổ bố ở một xứ như VN. VN, xứ của văn hoá Phật giáo, một tôn giáo coi cái ngã là hư cấu, cái tôi không có thực. Nơi chịu ảnh hưởng Lão giáo, những người đã ra suối rửa tai khi nghe thiên hạ nhắc tới tên mình. Nơi người công giáo thực hành đạo nhiệt thành, và Công giáo coi vị tha, nghĩ tới người khác, là đức tính hàng đầu.
Không lẽ người Việt không hiểu tôn giáo mình đang theo ?
Có ai đã gặp một người Nhật vỗ ngực : tôi, tôi, tôi. Nói chuyện với người Nhật, trong những cơ hội hơi chính thức, chưa gì họ đã mang giấy bút ra ghi chép. Làm như những điều bạn nói là khuôn vàng, thước ngọc.
TÔI LÀ CHÂN LÝ
Nước Việt nghèo , chậm tiến, lạc hậu. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình. Nhưng không, trong tự điển cá nhân của người Việt không có chữ khiêm tốn. Nhiều lần tôi gân cổ cãi với bạn bè, về nhà nghĩ : không chừng nó có lý. Tại sao không nhìn nhận ngay ? Bởi vì cái tôi nó lớn quá.
Ở đâu cũng có những cái tôi, nhưng ở người Việt, nó đạt một tỷ số đáng ngại. Mỗi lần, hiếm hoi, gặp một người đồng hương có khả năng nhưng khiêm tốn, tôi nghĩ bụng : ông nội này mất gốc rồi.
Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm ông ta, xúc phạm Chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo , chụp mũ.
Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm ? Trong cái kiêu hãnh lố bịch của người ‘’ mang dép râu mà đi vào vũ trụ ‘’ có cái tự ti của những người vẫn mang dép râu ở thế kỷ 20, 21.
Trong y học,  égocentrisme là một cái bệnh, pathologie . Và trong 9 trên 10 trường hợp, những người có mặc cảm tự cao, tự đại ( complexe de supériorité ) là để che đậy tự ti mặc cảm ( complexe d’infériorité ).
Những người có thực tài rất khiêm nhượng, vì họ không so sánh với người khác. Họ so sánh mình với mình, so sánh mình hôm nay với mình hôm qua, so sánh tác phẩm mới với tác phẩm cũ của chính mình.  Và thường thường thất vọng.
Khi một nghệ sĩ thoả mãn với tác phẩm của mình, anh ta hết là nghệ sĩ. Anh ta không tìm tòi nữa, anh ta về hưu. Như một công chức, một tài xế xe đò về hưu.
ĐÈN DẦU VÀ ĐÈN ĐIỆN
Thomas Edison nói nếu hài lòng với đèn dầu, tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra đèn điện. Người Việt ta dễ thoả mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ ‘’ tự sướng’’ quá. Hậu quả là cái gì của ta nó cũng nho nhỏ. Cùng lắm là xinh xắn, dễ thương, nhưng đồ sộ, vĩ đại thì không có. Không thể có. Tham vọng nhỏ, thành quả nhỏ.
Pablo Picasso khi thành công, được ca tụng ở ‘’période rose ‘’ ( thời kỳ hồng ), nếu thỏa mãn, sẽ không có ‘’période bleue’’, thời kỳ xanh. Nếu thoả mãn với ‘’période bleue ‘’ sẽ không có tranh trừu tượng, đưa hội họa đi vạn dặm. Một giai thoại : Picasso mời bạn bè ăn tiệm. Cuối bữa ăn, gọi tính tiền. Chủ tiệm nói xin miễn chuyện tiền bạc, được tiếp Picasso là hân hạnh rồi. Pablo vẽ vài nét trên tấm khăn phủ bàn, tặng chủ tiệm. Ông này nói xin maître ký tên. Picasso trả lời : tôi chỉ trả bữa cơm, không muốn mua tiệm ăn.
Nếu Picasso là người Việt, sẽ thấy đời mình đã quá đủ để thoả mãn : vua biết mặt, chúa biết tên,  chữ ký đáng ngàn vàng, chỉ việc ngồi hưởng và chiêm ngưỡng dung nhan mình.. May mắn cho hội họa, ông ta  là người Tây Ban Nha, hỳ hục tìm tòi cho tới chết.
Mỗi lần nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn chương.
Họ khiêm nhượng, ngập ngừng, do dự, gần như cáo lỗi sắp sửa nói những điều tào lao.
Le Clézio, Nobel 2008, khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay. Modiano, Nobel 2014, tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói : thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông ta thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải. Ông ta nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ.
 
Image result for Cái tôi lớn dẫn đến thất bại lớn albert einstein photos
 
 
NGƯỜI VÀ TA
 
Những năm đầu ở Pháp, có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris. Bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy, bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện. Thỉnh thoảng ông mời vào nhà, uống trà, hỏi chuyện về Phật giáo mà ông nói đọc nhiều, nhưng có điều không hiểu. Thí dụ ông muốn so sánh khái niệm về Niết bàn của Phật giáo với thiên đàng của Thiên Chúa giáo. Ông là một người công giáo thuần thành, nhưng muốn tìm hiểu về những tôn giáo khác.
Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV , chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất 7 lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.
 
Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu , như Pierre Boulez, Iannis Xenakis hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opéra ‘’Saint-Francois d’Assise‘’ của ông được trình diễn trên khắp thế giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven.
Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo. Tiền bản quyền nhạc đem tặng- một cách kín đáo- các hội từ thiện, hay giúp trùng tu nhà thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót. 
 
Ai biết hai ông bà già, lễ độ, gần như vụng về, đang xếp hàng mua ổ bánh mì, là những nhân vật chiếm chỗ lớn trong bất cứ một tài liệu nào về âm nhạc cổ điển cận đại , tuần trước còn là thượng khách của hoàng gia Thụy Điển.
Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien- chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn – VN sẽ là một dân tộc trưởng thành. Trong khi chờ đợi, chúng ta tiếp tục leo lên nóc nhà, gào : tại sao tôi tài giỏi quá như vậy. Khi gào mỏi, leo xuống, đóng áo thụng vái nhau.
Đó cũng là một trò vui, nếu hậu quả không nghiêm trọng. Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn. Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau, vì cái TÔI nó lớn quá. Lớn hơn cả vận mệnh dân tộc.
 
Từ Thức
 
( Paris, tháng 10. 2017 )
***Tiếng Pháp có câu : ´´ Le moi est haissable´´
                      
 
───░░ ♪♫ ☆¸.✨¸.•´¯`.•*¨✨ ..•´¯¸♪♫.░░ ─────░░ ♪♫ ☆¸.✨¸.•´¯`.•*¨✨ ..•´¯¸♪♫.░░ ─────░░ ♪♫ ☆¸.✨¸.•´¯`.•*¨✨ ..•´¯¸♪♫.░░ ──
 
 
Chúc các bạn thành công !
 

"Cái tôi" của người Việt Nam qua một giai đoạn phát triển

 

 
Những nghiên cứu về “cái tôi”, “tôi - không tôi”, “tôi - chúng ta”, “tôi - tôi”, cũng như tính cộng đồng và tính cá nhân đã được tiến hành trong lĩnh vực tâm lý học, nhưng đây mới chỉ là bước đi đầu tiên. Bằng phương pháp phân tích các cứ liệu ngôn ngữ(*), tác giả đã chỉ ra “cái tôi” - sự tự ý thức của mình trong quan hệ với người xung quanh. Qua đó, chúng ta cũng hiểu thêm về nhân cách người Việt.
 
“Cái tôi” của con người là một hiện tượng tâm lý, một hiện tượng xã hội. Về cơ bản, “cái tôi” có liên quan đến tự ý thức về những khác biệt giữa bản thân mình với những người xung quanh. “Cái tôi” nổi lên trước hết với tư cách là một chủ thể ý thức, chủ thể của các hiện tượng tâm lý trong một chỉnh thể thống nhất. Những đặc trưng nổi bật của “cái tôi” là chủ thể, tính ý thức, tính khẳng định. Đó là khởi nguyên, là sự bắt đầu của quá trình điều hoà hành vi bởi hệ giá trị, bởi các hiện tượng tâm lý và hoạt động tâm lý. Đó cũng là hạt nhân, là cái cốt lõi đầu tiên của con người, của động cơ người: Tại sao tôi hành động? Tôi hành động vì mục đích gì và tuân theo những giá trị gì?
 
Từ “cái tôi” bị che khuất…
Người Việt Nam từ khi biết nói đến khi trưởng thành ít xưng “tôi”. Phải chăng như thế là không có “cái tôi” và những người ở các nước khác do dùng đại từ nhân xưng “tôi” mà nghiễm nhiên đã có “cái tôi”. ở đây, chúng tôi muốn từ cách tiếp cận ngôn ngữ học để tìm hiểu những biểu hiện đặc thù của “cái tôi” ở người Việt Nam và sự phụ thuộc của nó bởi các quan hệ xã hội, các quan hệ người - người.
 
Từ lúc tập nói - theo truyền thống và giáo dục gia đình, đứa trẻ không tự xưng tôi, mà xưng và gọi người khác bằng vị trí và vai trò có trong quan hệ với nó. Đứa trẻ xưng là con, cháu, em… trong quan hệ với các thành viên trong gia đình. Với bạn bè cùng lứa tuổi, ở phạm vi gia đình, đứa trẻ mới xưng là “tao”, “tớ”, “choa” và gọi đối tượng giao tiếp là “bạn”, “cậu”, “mày”… Đằng sau vị trí và vai trò mà đứa trẻ tự nói ra là những quy tắc, quy phạm của hành vi ứng xử xã hội tương ứng. Đã là con, là em, là cháu thì phải ứng xử với vai trò, vị trí, vị thế đã được quy định trong quan hệ với mọi đối tượng. Giao tiếp với các thành viên trong gia đình, cũng như ngoài họ mạc, đứa trẻ được thừa hưởng những tình cảm yêu thương, đùm bọc, nâng niu dưới nhiều hình thức. Mặt khác, đứa trẻ cũng phải chấp nhận những thứ bậc được quy định theo huyết thống và bậc thang xã hội của nó, của bố - mẹ nó. Là con trưởng hay con thứ, là nam hay nữ, là cháu đích tôn hay không, là thành viên của chi trên hay chi dưới trong dòng họ…, tất cả đều gắn liền với quan hệ huyết thống và liên quan với nó là những quyền và lợi ích cụ thể. Thứ bậc huyết thống và xã hội đè nặng lên “cái tôi”. “Cái tôi” gửi gắm, phó thác và tan biến vào các quan hệ huyết thống, quan hệ xã hội, nên bị che khuất và lu mờ.
 
Những quan hệ giữa chủ thể và khách thể mang tính huyết thống không chỉ được mở rộng trong phạm vi một họ, một làng mà cả dân tộc. Trong giao tiếp với nhau, người Việt thường lấy danh từ chỉ họ hàng như bố, mẹ, chú, bác… để thay thế cho đại từ nhân xưng. Cách xưng hô bằng danh từ quen thuộc chứ không phải bằng đại từ được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn xã hội. Điều này có tác dụng làm thân thiết hoá, gần gũi hoá các quan hệ người - người. Vậy là mô thức ứng xử trong ra đình được mở rộng và kéo dài đến phạm vi toàn xã hội. Người ta tự xưng hô và tự gọi nhau một cách tự nhiên bằng những từ bố, mẹ, chú, dì, anh, chị… Quan hệ giữa tướng và lính được ví như cha - con. Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, các chiến sỹ đi khắp mọi miền của Tổ quốc, đến đâu họ cũng có các bà mẹ, các ông bố, các chị, các anh… Tình hình đó cho thấy, “cái tôi” dường như đã lẫn vào các quan hệ “máu thịt” của cộng đồng, vào khối đoàn kết của dân tộc. “Cái tôi” thiên về tình cảm hơn là về lý trí, thiên về phong tục tập quán hơn là về pháp luật, thiên về tâm lý xã hội hơn là hệ tư tưởng. Với quan niệm “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, với nếp nghĩ “một người làm quan, cả họ được nhờ”, người ta ít ý thức về “cái tôi” của mình, do đó trở thành mờ nhạt, thấp thoáng trong quan hệ người - người trong xã hội.
 
Related image
 
Một xu hướng đã hình thành như là một nét truyền thống trong giao tiếp của người Việt từ xa xưa là các chủ thể thường tự gọi mình bằng các từ chỉ một vị thế thấp hơn với nghĩa khiêm nhường. Không kể quan hệ bất bình đẳng về vị thế, mà ngay trong giao tiếp rất thân mật, rất bình đẳng không quy định đẳng cấp xã hội và đẳng cấp huyết thống, người ta không muốn bộc lộ mình ở vị thế xã hội cao. Những người hát quan họ ở những làng kết chạ, kết nghĩa với nhau, khi tiếp xúc đều gọi nhau là “liền anh”, “liền chị” và ai cũng là “liền em” từ hai phía giao tiếp. Ngay cả những trí thức, những học giả ở những thập niên đầu của thế kỷ XX, trong ngôn ngữ giao tiếp, trong những bức thư gửi cho nhau, họ vẫn theo xu hướng khiêm nhường, thông qua cách gọi khách thể bằng “đại ca”, “đại huynh” và tự xưng mình là “tiểu đệ”, “kẻ mạo muội này”… Trong cách xưng hô ấy, người Việt muốn biểu thị sự tôn kính, sự lễ độ và lòng khiêm nhường, đôi khi là sự khúm núm, nhu nhược, sợ hãi. ở đây, “cái tôi” (đã hình thành trong chủ thể ở một mức độ nào đó) vẫn không dám tự khẳng định trong đại từ “tôi” mà vẫn muốn hoà tan vào cộng đồng những người ở cạnh, không dám tách bạch để phân biệt với “mọi người”, theo châm ngôn “xấu đều còn hơn tốt lỏi”.
 
Hiện tượng gọi nhau bằng một tên chung vẫn duy trì cho đến ngày nay và chắc chắn sẽ còn được bảo lưu trong một thời gian lâu dài. Người ta đã lấy con số để gọi tên cho mỗi người. Tất cả những người con thứ đều được gọi theo thứ tự, chẳng hạn bằng chú Ba, dì Ba, và cứ như thế cho đến bác Mười, thím Mười… bên cạnh tên thật vốn có. Với cách giao tiếp đó, quan hệ người - người đã được “huyết thống hoá” trên một phạm vi rộng lớn của xã hội, một mặt nó làm thân mật hoá quá trình tiếp xúc, xoá đi bức rào về đẳng cấp, thứ bậc, tâm lý; mặt khác, nó cũng dẫn đến tính chất gia đình chủ nghĩa, làm cho “cái tôi” trở nên không xác định, không tách bạch. Chúng ta hẳn chưa quên tục gọi đứa trẻ bằng một tên gọi chung. Tất cả những bé trai khi sinh ra đều có sẵn một cái tên giống nhau là thằng “Cu”, thằng “Cò”. Tất cả những bé gái cũng có một tên chung không phân biệt để gọi là con “Thẽm”, cái “Hĩm”. Cái tên chung đó không chỉ được sử dụng trong giao tiếp cho mọi đứa trẻ, mà còn được dùng để gọi cả bố - mẹ chúng (anh Cu, chị Thẽm). Mặc dù đã có tên riêng từ lúc khai sinh nhưng đến khi bắt đầu lớn, đứa trẻ mới được gọi là tên chính thức, tên thật của mình. Tuy nhiên, tên thật đó cũng không hẳn là tên riêng của nó, vì nó còn dùng để gọi cả cha - mẹ, ông - bà nó. Đứa trẻ tên là Thành thì bố - mẹ được gọi là ông Thành, bà Thành; ông - bà nội thì được gọi là cụ Thành. “Cái tôi” như thế còn mang nặng tính cộng đồng và trở thành “cái tôi - nhà”. Về mặt sinh học, đứa trẻ đã là một thực thể liên đới và phụ thuộc ở một mức độ rất lớn. Thế nhưng “cái tôi” của nó vẫn chưa thực sự là “tôi”.
 
Chính sự hoá thân vào cái “ta” nói trên đã tạo ra sự giáo hoán dễ dàng trong nhận thức của người Việt giữa “tôi” và “ta”, “mình” và “ta” và sự phân tích khúc triết đâu là chính mình với cái ta ngay ở trong một tiếng “mình”, xa hơn là tiếng “ai” đang đòi hỏi được giải đáp. Đó là trường hợp cả chủ thể và khách thể đều lấy từ “ai”, từ “mình” để tự biểu hiện. Chẳng hạn như: “Ai về Đồng tỉnh, Huê cầu/Để thương để nhớ để sầu cho ai” hoặc “Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai”. Người ngoài cuộc giao tiếp chỉ có thể căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể mà xét đoán ai là chủ thể, ai là khách thể. Còn người trong giao tiếp thì dựa vào chỗ ai là người nói, ai là người nghe mà tự hiểu lấy. Đây cũng là một biểu hiện không xác định của “cái tôi”.
 
“Cái tôi” của chủ thể còn được thể hiện bằng vật đối xứng này trong quan hệ với đối xứng kia. Đó là những trường hợp như “trúc - mai”, “thuyền - bến”, “rồng - mây”, “mận - đào”. Thậm chí cả những cặp trạng từ chỉ địa điểm như “đây - đấy”, “bên này - bên kia”, “đằng này - đằng ấy”, “tấn - tần”… cũng được sử dụng để biểu trưng cho quan hệ chủ thể - khách thể. “Cái tôi” ở đây được bộc lộ một cách thi vị, một cách tế nhị, nhưng vẫn ở một vị trí đằng sau, bị che khuất, không muốn đứng soi đôi, không muốn cùng đối diện. Ngay cả quan hệ đã được thừa nhận cả về mặt tình cảm đạo đức và pháp lý như quan hệ vợ chồng, mà người ta vẫn không dám đi cùng với nhau ở những chỗ đông người.
 
Tuy vậy, “cái tôi” với cá tính và nhân cách của mình cũng được người Việt khai thác trong những tình huống giao tiếp nhất định, phần lớn là giao tiếp không chính thức. Chẳng hạn, khi cãi lộn, đánh chửi nhau, một đứa trẻ chưa hề được ai gọi là “bố”, là “ông”, là “cụ” nhưng nó vẫn nói kiểu như: “Lại đây bố mày bảo!”, “Đến đây ông mày dạy!”, “Để cụ mày dạy cho mày một bài học!” - những vị trí mà trên thực tế trẻ không có, nhưng chúng vẫn sử dụng để đề cao vị trí của mình. Hồ Xuân Hương cũng từng viết: “Lại đây chị dạy làm thơ” hay như Nguyễn Trãi từng nói: “Cho biết rõ cái thằng tao”. Đó chính là tự sự khẳng định lâm thời, có điều kiện, thiên về tình huống chứ không mang tính xã hội của “cái tôi” ở vị thế cao hơn hoặc ngang bằng. “Cái tôi” của người Việt trong quá khứ vẫn chủ yếu được gửi gắm, phó thác vào “cái ta” và “cái mọi người”. Không bộc lộ cá nhân, người ta nói: “Xấu đều còn hơn tốt lỏi”; không muốn tách biệt khỏi cộng đồng, người ta cho rằng: “Chết một đống hơn sống một người”; thiếu trách nhiệm cá nhân, đổ lỗi cho tập thể, người ta biện bạch: “Toét mắt là tại hướng đình/Cả làng toét mắt chứ mình tôi đâu”… Còn biết bao nhiêu nếp nghĩ, nếp cảm nói lên sự hoà tan, cào bằng - nhân cách trong cộng đồng. “Cái tôi” chỉ biết phục tùng cái mà cộng đồng tuân thủ, chỉ biết bảo vệ cái mà mọi người giữ gìn, chỉ biết bắt chước cái mà các thành viên khác đang làm. Đó chính là dấu hiệu của cái tôi chưa phát triển.
 
Image result for Cái tôi lớn dẫn đến thất bại lớn albert einstein photos
 
Đến “cái tôi” tự khẳng định hơn
Với ảnh hưởng của các cuộc vận động xã hội của cách mạng, “cái tôi” ở người Việt Nam hiện nay đã có những biến đổi sâu sắc, được biểu hiện khá rõ rệt và rất đa dạng. Quá trình xã hội hoá cá nhân ngày càng nhanh, quá trình dân chủ hoá xã hội càng sâu sắc thì “cái tôi” ngày càng vững vàng và tự khẳng định mạnh mẽ.
 
Văn học Việt Nam từ thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã bắt đầu đề cao cá nhân và đề cao sự giải phóng con người. Ngôn ngữ văn học, bên cạnh những đại từ nhân xưng vốn là những danh từ ngôi thứ ba như “chàng”, “nàng”, “anh”, “em”, “ta”, “mình”… đã bắt đầu xuất hiện bóng dáng của “cái tôi”. Qua câu thơ: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn”, có thể thấy một sự quá độ từ cộng đồng sang cá nhân, từ chỗ chưa xác định đến chỗ xác định. Với nhiều tiểu thuyết và thi ca khác, “cái tôi” xuất hiện nhiều hơn và rõ hơn. Cho đến câu thơ của Chế Lan Viên: “Đường về thu trước xa xa lắm/Mà kẻ đi về chỉ một tôi” thì “cái tôi” ở đây mới được biểu hiện ra một bản chất đích thực của nó: tự ý thức, tự chủ, tự thân, tự khẳng định, độc lập, khác với người xung quanh, với đồng loại, đứng đối diện với mọi người, chứ không phải nép vào bên cạnh, đứng đằng sau người khác như trước đây. Từ chỗ chỉ dám dùng những từ “mình”, “ta”, “ai” không tách bạch, không xác định giữa chủ thể và khách thể đến chỗ “mà kẻ đi về chỉ một tôi” là một bước ngoặt lớn, một bước tiến trên con đường tự khẳng định, tự xác định, tự chủ của “cái tôi”. Như vậy, tự khẳng định, tự xác định, tự chủ, tự thân, tự ý thức về chính mình, về cá tính của mình đã có những biểu hiện rõ ràng hơn trong sự tiến hoá từ cá thể đến con người, đến cá nhân, đến cá tính và nhân cách. Đó cũng chính là nội hàm của khái niệm nhân cách.
 
Một số đặc điểm về “cái tôi” của người Việt
 
- “Cái tôi” hiện hữu không chỉ trong mỗi chủ thể cá thể, mà cả trong chủ thể tập thể. ở Việt Nam, có thể thấy các tầng bậc phát triển của “cái tôi - cá thể” và “”cái tôi - tập thể”. Nói cách khác, “cái tôi - cá thể” ở người Việt Nam không tách rời với “cái tôi - nhà”, “cái tôi - họ”, “cái tôi - làng”, “cái tôi - nước”. Đó là bốn chủ thể tập thể đại diện cho mỗi người cá thể. Chủ thể tập thể càng nhỏ thì tác động của nó lên mỗi thành viên càng lớn, càng trực tiếp và tính không chính thức càng nhiều. Sự thiếu hụt của “cái tôi - cá thể” được bù đắp bởi “cái tôi - tập thể”. Vị thế của “cái tôi - cá thể” lớn dần thì vị thế của “cái tôi - tập thể” nhỏ dần.
 
- “Cái tôi” ở người Việt Nam với tư cách là một chủ thể cá thể thường xuất hiện chậm. Nó chỉ là một cá thể mảnh mai, yếu ớt, bé nhỏ như cây sậy biết nói, như từng chiếc đũa trong một bó đũa. Nó bị che khuất, bị giấu kín, bị nhạt nhoà, ẩn nấp đằng sau những nhóm xã hội gần gũi nhất. Nó phải phụ thuộc, phải nương nhờ, phải trông cậy vào “cái tôi - nhà”, “cái tôi - họ”, “cái tôi - làng”. Các chủ thể tập thể này hình thành càng sớm, tồn tại càng lâu thì tính cách của nó càng ổn định, càng bền vững và sự chi phối, sự chế ước của nó đối với từng chủ thể cá thể càng mạnh, càng lớn, xét về mặt tích cực cũng như tiêu cực.
 
- Sự tồn tại lâu dài của “cái tôi - nhà”, “cái tôi - họ”, “cái tôi - làng”, “cái tôi - nước” là tất yếu và không thể tránh khỏi. Thiên tai và địch hoạ xảy ra liên tục từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ là những lý do khách quan làm cho “cái tôi cộng đồng” ưu trội hơn “cái tôi cá nhân”. Dẫu rằng từ trong bản chất, mỗi cá nhân đã là một đơn vị cuối cùng, là một đơn vị không thể cắt chia, nhưng nó vẫn chỉ là một thành viên của cộng đồng. Nó luôn được chủ thể tập thể động viên, khích lệ, duy trì, củng cố một tình cảm, một ý chí, một năng lực, một tính cách cộng đồng, nhân sức mạnh của mỗi cá nhân lên gấp bội trong cuộc sống và trong hoạt động cộng đồng.
 
- Những tiêu cực của “cái tôi - nhà”, “cái tôi - họ”, “cái tôi - làng”, “cái tôi - nước” bộc lộ ở chỗ nó kìm hãm, làm chậm sự phát triển của cá nhân, của “cái tôi - cá thể”. Do vậy, dẫn đến thiếu tự chủ, tự lập, trách nhiệm, sáng kiến, dũng cảm, quyết đoán cá nhân, luôn ỷ vào sức mạnh của số đông… là những đặc trưng mang tính phổ biến trong xã hội nông nghiệp cổ truyền. “Cái tôi” đích thực của mỗi con người, do đó xuất hiện chậm chạp, muộn mằn. Chỉ những khi không còn lối thoát, những lúc cùng quẫn như “con giun xéo lắm cũng quằn”, “cái tôi” của những người bị áp bức, bị bóc lột đến cùng cực mới vùng dậy, “một sống, một chết” với kẻ thù.
 

 
Image result for Cái tôi lớn dẫn đến thất bại lớn albert einstein photos
 
 
───░░ ♪♫ ☆¸.✨¸.•´¯`.•*¨✨ ..•´¯¸♪♫.░░ ─────░░ ♪♫ ☆¸.✨¸.•´¯`.•*¨✨ ..•´¯¸♪♫.░░ ──
 
Cái tôi lớn dẫn đến thất bại lớn
 
 
 
───░░ ♪♫ ☆¸.✨¸.•´¯`.•*¨✨ ..•´¯¸♪♫.░░ ─────░░ ♪♫ ☆¸.✨¸.•´¯`.•*¨✨ ..•´¯¸♪♫.░░ ─────░░ ♪♫ ☆¸.✨¸.•´¯`.•*¨✨ ..•´¯¸♪♫.░░ 
 

10 chia sẻ về chìa khóa thành công từ những người thành công nhất thế giới

 
Những người thành công dưới đây luôn sống bằng lẽ sống của riêng họ, và đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự thành công trong cuộc sống. Họ không thành công nhờ vào sự may mắn mà họ làm việc để hướng tới mục đích của riêng họ.
 
nhan vat richard branson 10 chia sẻ về chìa khóa thành công từ những người thành công nhất thế giới

Richard Branson: Luôn thử thách bản thân

“Động lực lớn nhất của tôi là gì? Chính là luôn thử thách bản thân. Tôi xem cuộc đời như hệ giáo dục đại học dài hạn mà tôi không bao giờ có được – mỗi ngày trôi qua tôi lại học thêm được nhiều điều mới mẻ.”

Oprah Winfrey: Tin tưởng chính mình

“Mỗi khi nói ra những điều bạn muốn hoặc tin tưởng, bạn chính là người đầu tiên nghe những điều đó. Nó là một thông điệp cho chính bản thân bạn và người khác về những gì bạn nghĩ hoàn toàn có thể xảy ra. Đừng tự kìm hãm khả năng của mình.”

Steve Jobs: Đừng lãng phí thời gian.

“Thời gian là có hạn, vì vậy đừng bao giờ làm lãng phí thời gian bằng cách sống một cuộc sống không phải của mình. Đừng nghe theo những giáo điều – đó là bạn đang sống theo suy nghĩ của người khác. Đừng để quan điểm cá nhân bị chi phối bởi ý kiến của những người khác. Và điều quan trọng nhất, hãy dũng cảm nghe theo tiếng nói của trái tim và lý trí. Chúng chính là điều bạn mong muốn nhất. Tất cả những thứ khác chỉ là thứ yếu.”
 
nhan vat bill gates 10 chia sẻ về chìa khóa thành công từ những người thành công nhất thế giới

Bill Gates: Đừng sợ thay đổi

“Con người ta luôn sợ thay đổi. Họ sợ hãi khi thấy điện được phát minh, phải không nào? Họ sợ động cơ chạy bằng than, bằng khí đốt… Sự thiếu hiểu biết luôn luôn tồn tại và điều đó dẫn đến sự sợ hãi. Nhưng cùng với thời gian, con người ta dần chấp nhận những thay đổi do trí thông minh của họ tạo ra.”

Mark Twain: Hãy làm trước khi quá muộn

“Hai mươi năm sau, bạn sẽ hối hận vì những gì mình đã không làm hơn là hối hận về những gì bạn đã làm. Vì vậy, đừng chần chừ, hãy ném quả bóng đó đi. Hãy thoát ra khỏi vùng an toàn của mình. Hãy đón những cơn gió mới. Hãy thám hiểm. Hãy khát khao. Hãy khám phá.
 

Vince Lombardi: Chăm chỉ

“Cái giá của thành công chính là sự chăm chỉ, hãy cống hiến hết mình cho những gì bạn làm, hãy xác định rằng dù thành công hay thất bại thì vẫn phải cố gắng hết sức mình.”
 
nhan vat napoleon hill 10 chia sẻ về chìa khóa thành công từ những người thành công nhất thế giới

Napoleon Hill: Thất bại là điều khó tránh khỏi

“Trước khi thành công đến với bất kỳ ai, họ đều gặp phải rất nhiều trở ngại và cả thất bại nữa. Khi bị đánh bại, điều dễ dàng và hợp lý nhất mà một người có thể làm chính là từ bỏ. Đó là việc mà phần lớn mọi người thường làm.”

Albert Einstein: Sáng tạo

“Tôi có đủ tư chất của một họa sỹ để tự do vẽ theo trí tưởng tượng của tôi. Trí tưởng tượng quan trọng hơn nhiều so với sự hiểu biết. Kiến thức là có hạn còn trí tưởng tượng rộng lớn hơn cả thế giới này.”
 
nhan vat thomas edison 10 chia sẻ về chìa khóa thành công từ những người thành công nhất thế giới

Thomas Edison: Hành động

“Bận rộn không có nghĩa là làm một công việc thực sự. Làm việc nghĩa là sản xuất hay hoàn thiện và bên cạnh đó là sự tính toán trước, phương pháp, dự định, trí thông minh, mục tiêu chân thật và cả mồ hôi nữa. Dường như làm việc thực chất là không làm gì cả.”

Winston Churchill: Chấp nhận những lời chỉ trích

“Chỉ trích có lẽ không dễ chịu gì, nhưng đó là điều cần thiết. Nó đóng vai trò như một cơn đau trong cơ thể con người. Nó nhắc nhở ta chú ý đến tình trạng không khỏe mạnh của một bộ phận nào đó trong cơ thể.”  
 
Image result for Cái tôi lớn dẫn đến thất bại lớn albert einstein photos

Related image
 

Sưu tập by Nguyễn Ngọc Quang ... 
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này