Không gian riêng

Không gian riêng (120)

TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH -( 1990/12-03/2019 )-

Tưởng nhớ
Cố Linh Mục Antôn Vũ Như Huỳnh
 
( June 12, 1930 - March 12, 1990 ) 
 
 Thứ Ba, ngày 12 tháng 3 năm 2019, là ngày kỷ niệm 29 năm, Cha Cố Anthony Vũ Như Huỳnh được Thiên Chúa yêu thương gọi về. Trong tâm tình " Uống nước nhớ nguồn ", " Tri ân tiền nhân ". Nguyện xin Thiên Chúa thương ban cho linh hồn Cha Cố Anthony chóng được hưởng nhan thánh Chúa. Trong tâm tình tưởng nhớ Cha xin cầu nguyện cho linh hồn cố  Lm. Anthony.  Xin mọi người chúng ta hợp ý cầu nguyện xin Chúa ban phúc trường sinh cho linh hồn Lm. Anthony Vũ Như Huỳnh trong nước của Ngài mãi mãi ...
  
Tưởng nhớ và tri ân cố Linh mục Antôn Vũ Như Huỳnh ( 1990 - 2018 )
Ảnh KTSM
 
Tưởng nhớ CHA ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH
 
 
 
Tưởng nhớ Cha Antôn Vũ Như Huỳnh
 
**** Hiệp Nhất - Yêu Thương - Tha Thứ ****
Linh Mục Anthony Vũ Như Huỳnh.
Hiệu Trưởng Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
( June 12, 1930 - March 12, 1990 )
 

────────────────────────────────☀ 
 
Image result for TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH photos
 
Kính Thưa Quý Thầy Cô cùng toàn thể cựu học sinh Sao Mai trên khắp các nẻo đường thế giới,
 
“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý làm người được đúc kết từ bao đời nay. Đối với học sinh chúng ta, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi là cách đền ơn thiết thực nhất với công lao của Cha Mẹ, Thầy Cô và xã hội.
 
Thấm thoát đã 29 năm trôi qua (1990-2019) kể từ ngày Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh được Chúa thương gọi về. Trong tâm tình thương tiếc, quý mến, chúng ta bày tỏ lòng tri ân đến Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh, Hiệu Trưởng trường Trung Tiểu học Sao Mai Đà Nẵng - Việt Nam từ 1965 đến 1975 .
Chúng ta cùng nhớ về hình ảnh người Cha kính yêu, người Cha đã cho chúng ta trọn niềm vui của thời thanh xuân, của tuổi học trò dưới mái trường thân thương Sao Mai Đà Nẵng. Ở đây, chúng ta đã được Cha cùng quý Thầy Cô hướng dẫn,dạy bảo và luôn đồng hành trên con đường học vấn, để chúng ta có thể tự tin bước vào những cuộc hành trình mới.

Biến cố lịch sử thăng trầm của đất nước khiến chúng ta phải chia tay nhau mỗi người một hướng theo dòng đời trôi. Sau bao nhiêu năm thất lạc, chúng ta đã có Duyên may được gặp lại nhau trên trang Góc Nhỏ Sân Trường yêu thương này để nối kết lại tình Thầy Trò, nghĩa Bạn bè đã một thời bên nhau...
Và hôm nay,chúng ta cùng hướng lòng về người Cha kính yêu - Cố LM. Antôn Vũ Như Huỳnh nhân ngày Giỗ lần thứ 29.

Tri Ân - Tiếc Thương và Tưởng Nhớ đến Ngài, chúng con tha thiết nguyện xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho Linh Hồn Cha Cố Antôn qua những công lao sâu nặng Ngài đã dành cho chúng con là đoàn con học sinh của Ngài.

 Chúng con tin tưởng rằng Chúa Nhân Lành đoái thương nhậm lời nguyện cầu của chúng con, đón nhận Linh Hồn vị Cha Cố đáng kính Antôn vào hưởng hạnh phúc Nước Trời.
 
 
 
─────── ※ Gia đình GNST ※  ───────
────── Peace & Love always ───── 
 
 

✬▬▬▬▬ஜ۩ ۩ஜ▬▬▬▬✬

 

 

 

 

 

Tìm Hiểu Tên Thánh Của Người Công Giáo Việt Nam

 
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?
Nguồn Gốc Tên Thánh 
Tên mà người Công Giáo Việt Nam gọi là tên thánh thì đó là tên riêng, tên gọi thường nhật của người Công Giáo Tây Phương. Trong tiếng Anh, có ba danh từ để chỉ tên riêng. Một là tên rửa tội (baptismal name), hai là tên Kitô Giáo (Christian name), ba là tên thứ nhất hay tên đặt (first or given name). Cả ba danh từ này đều có nghĩa là tên chính hay tên riêng (first name hay given name) của một người.
Tên chính của người Tây Phương được đặt trong lễ rửa tội nên gọi là tên rửa tội . Và tên chính của người Tây Phương được gọi là tên Kitô Giáo vì các nước Tây Phương chịu ảnh hưởng văn minh Kitô Giáo, tuân theo lời khuyến cáo của Giáo Hội, đã lấy tên các thánh để đặt tên cho các cá nhân. Do vậy, mới có từ ngữ tên thánh. 
Tục lệ lấy tên thánh bắt nguồn từ tục lệ đặt tên trong Do Thái Giáo. Sau khi sinh con được một tuần, cha mẹ người Do Thái bế con tới giáo đường để cử hành nghi lễ đặt tên. Với con trai, nghi lễ đặt tên diễn ra trong nghi lễ cắt da quy đầu gọi là Bris. Tên được đặt gọi là tên thánh (sacred name) lấy từ các tên trong kinh thánh của Do Thái Giáo. Khi bị lưu đầy, người Do Thái bỏ tục lệ đặt tên thánh. Đến thế kỷ 12, các giáo sĩ Do Thái thấy cần duy trì căn tính dân tộc đã buộc các tín hữu đặt tên thánh như tục lệ cổ truyền. Nhờ đó mà ngày nay người Do Thái mới có một tên thứ hai là tên thánh. 
Từ điển Bách Khoa Công Giáo, cho rằng tục lệ đặt tên thánh bắt nguồn từ quan niệm tình trạng con người được thay đổi. Nhận lãnh bí tích rửa tội là biến đổi sang con người mới. Do vậy, nhận tên thánh là chứng tích biến đổi về mặt tâm linh. Trường hợp cụ thể là vị tông đồ Paul của Kitô Giáo, sống vào thế kỷ thứ I sau Công Nguyên, trước đây có tên là Saul, khi theo đạo Công Giáo đổi tên là Paul mà người Công Giáo Việt Nam gọi là thánh Phaolô. 
Tên Thánh Qua Giáo Luật
Không có tài liệu nào nói người Công Giáo bắt đầu đặt tên thánh từ bao giờ. Chỉ biết vào thời giáo hội sơ khai người Công Giáo tây phương có tục lệ lấy tên thánh làm tên riêng. Do vậy công đồng Nicaea họp năm 325 cấm người Công Giáo dùng tên các thần thánh không phải của Kitô Giáo để đặt tên. Đến thời Công Đồng Tridentino họp năm 1563, Giáo Hội Công Giáo buộc giáo dân khi đặt tên phải chọn tên thánh. Công đồng lưu ý các linh mục khi làm phép rửa tội, gặp trường hợp cha mẹ cố tình đặt tên không hợp tinh thần Kitô Giáo, thì vị linh mục đó tự động thêm vào một tên thánh, coi đó là tên thứ hai và ghi vào sổ rửa tội giáo xứ. 
Theo Bách Khoa Từ Điển Britannica, quyết định trên của công đồng Tridentino nhằm chống lại tục lệ của Giáo Hội Tin Lành, đặc biệt của Thanh Giáo. Các giáo hội Tin Lành cho phép tín hữu nhận tên các nhân vật trong Cựu Ước làm tên chính, như các nhân vật Abraham, Samuel, Jacob. Rachel. Do vậy các nhà tính danh học Âu Châu kết luận: Những người có tên riêng là nhân vật trong Cựu Ước thông thường thuộc giáo phái Tin Lành, người có tên riêng là các nhân vật thuộc Tân Ước là người Công Giáo.
Đến bộ giáo luật năm 1917, qua điều khoản số 761, Giáo Hội nhắc lại khoản luật cũ từ thời Công Đồng Tridentino buộc người Công Giáo phải lấy tên thánh . Nhưng vào năm 1972, vì thấy việc đặt tên thánh không thích hợp cho tiến trình hội nhập văn hóa, nên thánh bộ Phụng tự đã bãi bỏ luật buộc người Công Giáo phải lấy tên thánh. Do vậy, đến bộ giáo luật năm 1983, người ta không thấy có điều khoản nào buộc người Công Giáo phải lấy tên thánh, mà chỉ quy định tên riêng của người ấy phải phù hợp với ý nghĩa Kitô Giáo. Điều 855 của bộ giáo luật 1983 quy định: Cha mẹ, người đỡ đầu và Cha Sở phải lo liệu để đừng đặt một tên không hợp với ý nghĩa Kitô Giáo. 
Lý Do Đặt Tên Thánh
Tại sao Giáo Hội Công Giáo đã quyết định lấy tên các thánh để đặt tên cho tín hữu? Giáo Hội đưa ra quyết định trên vì 2 lý do: 
Thứ nhất, giáo hội tiếp tục duy trì truyền thống của giáo dân thời sơ khai. Những giáo dân đầu tiên là dân nô lệ, không phải công dân La Mã và theo tục lệ, khi người nô lệ được giải phóng, trở thành công dân La Mã, thì họ lấy tên riêng của chủ nhân thuộc giai cấp quý tộc làm tên mình. Tuy nhiên, với tín đồ Kitô Giáo thời đó, họ không thiết tha với các tên của các ông chủ cũ vì họ là nạn nhân của giai cấp quý tộc trong các cuộc cấm đạo. Ðồng thời khi một quý tộc trả tự do cho hàng trăm người nô lệ thì hàng trăm người đó có cùng tên với chủ cũ. Kết quả là tập tục này không đáp ứng được nhu cầu phân biệt vì thời gian đó, người Âu Châu chưa biết đến tên họ. Tên họ của người Âu Châu mới xuất hiện vào thế kỷ thứ 10. Do nguyên nhân này nên các người nô lệ được giải phóngđã lấy tên những người mà giáo hội Kitô Giáo nhận là thánh để đặt tên cho mình. Ví dụ: Thimotheus, Stephanos, Laurentius là các vị thánh đầu tiên. Đang khi Kitô Giáo phát triển, lan tràn cả Âu Châu thì đế quốc La Mã bước vào giai đoạn suy tàn. Hệ thống tên của La Mã mai một đi, tên thánh trở nên phổ thông hơn. 
Thứ hai, Giáo Hội Công Giáo muốn tôn trọng phẩm giá con người. Khi xưa số tên người Âu Châu còn ít, hệ thống tên họ chưa xuất hiện, thì để phân biệt, người Âu thường dùng tên mà người Anh Mỹ gọi là Nickname, người La Mã gọi là Agnomen, còn Việt Nam gọi là tên lóng, tên tục. Khi xưa tên lóng thường được đặt cho những người thuộc giai cấp nô lệ tại La Mã. Ví dụ các tên như Crassus nghĩa là người béo, Varus: người què, Baldie hay Calvin: người trọc đầu, Cecil: người mù, Claude hay Gladys: người què. Vì tên có nội dung hạ thấp phẩm giá con người nên giáo hội đã ban hành luật buộc các linh mục khi làm phép rửa tội, gặp các trường hợp tên có ý nghĩa tiêu cực, phải lấy một tên thánh đặt thêm vào. Giáo dân Việt Nam cũng như giáo dân ở nhiều nơi trên thế giới vẫn nhận tên thánh vì còn giữ tinh thần bộ giáo luật cũ. Ngày nay, người công giáo Tây Phương không còn giữ tập tục lấy tên thánh để đặt tên riêng mà lấy bất cứ từ ngữ nào, có nghĩa hay vô nghiã, để đặt tên riêng. 
Ý nghĩa tên thánh đối với người Công Giáo Việt Nam
Sở dĩ người Công Giáo Việt Nam, Ðại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa và các nước truyền giáo khác trên thế giới có thêm tên thánh mà người Tây Phương không có, là vì các giáo sĩ Tây Phương đến Việt Nam cũng như các nơi khác truyền đạo, đã áp dụng tinh thần giáo luật cũ, đặt tên thánh cho giáo dân như đã làm cho giáo dân ở Tây Phương. Trái lại, đọc tiểu sử hàng giáo phẩm Công Giáo Tây Phương, ta không thấy vị nào có hẳn một tên thánh riêng như kiểu tên người Công Giáo Việt Nam. Nếu đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn có hẳn một tên thánh là Gioan Baotixita, thì đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI không có tên thánh riêng. Tên ngài là Joseph Ratzinger. Joseph là tên riêng vừa là tên thánh. Một ví dụ điển hình khác là thánh Gemma. Vì bố mẹ Ngài già rồi mới sinh con nên quý hóa đặt tên ngài là Gemma, có nghiã là ngọc. Trước đó, không có vị thánh nào tên Gemma cả. Tại San Jose, California vị linh mục chính xứ của tôi là Kevin Joyce. Kevin là tên riêng, là biến thể của tên Kelvin. Kelvin là tên con sông ở Tô Cách Lan. Joyce là tên họ. Linh mục Kevin Joyce không có tên thánh. Do đó người Công Giáo Tây Phương không có tục lệ mừng lễ thánh quan thầy. 
Vậy quyết định của các giáo sĩ thừa sai đặt tên thánh cho người Công Giáo Việt Nam là đúng hay sai? Nếu đặt vào bối cảnh hiện nay thì đó là điều không chấp nhận được vì tên người Việt Nam hiện nay không hề được đặt ra để hạ phẩm giá con người như kiểu người Hy Lạp, La Mã ngày xưa, mà được lựa chọn từ những từ ngữ có ý nghiã tốt đẹp nhất để đặt tên cho con cái. Tuy nhiên, nếu đặt vào bối cảnh Việt Nam trong thế kỷ 16 thì quyết định của các thừa sai có thể tạm chấp nhận vì phong tục dân gian lúc đó còn dùng những tên có nghiã xấu, gọi là tên tục, để đặt cho những đứa trẻ mới sinh ngõ hầu tránh tà ma. Ví dụ các tên như Bùn, Sẹo, Chó v.v…
Mặc dù giáo luật hiện nay không bắt buộc tín hữu phải có tên thánh, nhưng việc đặt tên thánh có mục đích rất đáng trân trọng vì 2 lý do: thứ nhất, để người đó bắt chước gương sáng thánh bổn mạng mà sống cuộc đời đạo đức; thứ hai, để tín hữu đó được phù trợ nhờ lời cầu bầu của thánh bổn mạng. Hai mục đích trên được nói trong bộ giáo luật năm 1983, khoản 1186: 
Với mục đích cổ võ việc nên thánh của dân Chúa, Giáo Hội khuyến khích mọi tín hữu, lấy tình con cái, tôn kính đặc biệt Đức Maria hồng phúc trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa đã được Đức Kitô đặt làm Mẹ của loài người, cũng vậy, Giáo Hội cổ động lòng tôn kính chân chính và thành thực đối với các thánh, vì lẽ các tín hữu được kiên vững nhờ gương sáng và được nâng đỡ bởi lời bầu cử của các ngài .
Hiện nay, người Công Giáo Việt Nam thường chọn tên các thánh nam giới cho phái nam và thánh nữ giới cho phái nữ. Ngoài ra, vì sự hiểu biết của giáo dân còn hạn chế về các thánh nên người ta thường chọn các thánh thời Chúa Giêsu như Phêrô, Phaolô, Gioan, Maria, Anna làm tên thánh. Ngày nay, Giáo Hội Việt Nam có cả trăm vị thánh tử đạo. Tuy nhiên, giáo dân Việt vẫn chưa quen nhận các thánh Việt Nam làm tên bổn mạng.
Nguyên Tắc Xưng Hô Tên Thánh
Trong giao tế xã hội, người Âu Mỹ không lấy tên riêng mà lấy tên họ của một người để xưng hô. Người ta gọi Tổng Thống Obama, không ai gọi là Tổng Thống Barack. Obama là tên họ, Barack là tên riêng. Khi chưa lên ngôi Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, người ta dùng tên họ Ratzinger để gọi ngài, không ai gọi ngài bằng tên đẻ là ĐHY Joseph. Chỉ trường hợp thân thiết lắm, người ta mới dùng tên riêng để xưng hô. Ở Việt Nam, để tỏ lòng tôn kính, giáo dân có tục lệ dùng tên thánh để gọi một vị Giám Mục, Linh Mục. Ví dụ Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh được gọi là Đức Cha Giuse. Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn được gọi là Đức Hồng Y Gioan Baotixita. 
Ở Việt Nam người Công Giáo có tục lệ mừng lễ bổn mạng là ngày mà toàn thể Giáo Hội Công Giáo trên thế giới tưởng nhớ tới vị thánh đó. Khi chết, người Công Giáo không dùng tên húy hay tên riêng mà dùng tên thánh để cầu nguyện cho người quá cố. Như vậy, xét về mặt hội nhập văn hóa, tên thánh cũng có chức năng như tên thụy, tên hèm hay tên cúng cơm là các tên mà các người không phải là Công Giáo đã dùng để cầu nguyện cho người đã chết.
Nguyễn Long Thao
 PS: – Xin Quý Vị chuyển và phổ biến điện thư (email) này đến những người thân quen Sao Mai. 

 

Xem thêm...

Tuổi Heo Có Phước !?

Related image

   Tuổi HEO có PHƯỚC ?   

 
Cứ mỗi độ Xuân về Tết đến, có lẽ điều đầu tiên ai cũng muốn biết, đó là “Năm mới sẽ là con (giáp) gì?” Các bà, các cô nào dự định có em bé thì thường “canh me” tính toán sao cho bé trai sẽ chào đời vào các năm “Nhâm”, còn bé gái thì vào những năm “Quý”. Bởi ông bà mình có câu “Nam Nhâm Nữ Quý”, nghĩa là nếu sinh vào những năm này thì cuộc đời của các bé trai, gái sẽ rất thuận lợi hanh thông. Nếu là trai, ba mẹ thường muốn con trai mình sinh vào năm Nhâm Thìn, bởi Nhâm là tốt, còn Thìn là Rồng, biểu tượng của quyền uy và dũng mãnh.
Trong 12 con giáp thì gia đình tôi chiếm hơn một nửa rồi. Mà sao thấy con nào cũng cực. Ba tôi, tuổi Quý Dậu, làm ca một, nên ngày nào cũng phải thức dậy từ tờ mờ sáng. Má tôi – Giáp Tuất, cả đời bà phải tính toán chắt chiu lắm mới nuôi nổi 5 chị em tôi. Bà chị cả – Nhâm Dần nên cao số. Lấy chồng trễ nên nay tuổi cũng cao rồi mà vẫn còn phải lận đận nuôi con nhỏ. Cô em kế tôi – Mậu Thân, tuy khá giả về tiền bạc, nhưng cứ lục đục cả ngày với chồng. Cậu em trai út – Nhâm Tý, tốt nghiệp kỹ sư nhưng không kiếm được việc làm ổn định, cứ phải nhảy hết hãng này đến xưởng nọ.
 
Image result for Tuổi Hợi color photos
 
Nhưng nếu hỏi con giáp nào cực nhất thì chính là tôi đây. Bính Ngọ, chào đời 8 giờ sáng, đó là giờ ngựa ta phải rời chuồng đi kéo xe. Bởi vậy cả đời tôi chẳng lúc nào được nhàn nhã. Lúc nhỏ thì cắm đầu cắm cúi học. Ra trường tôi lao vào làm 2, 3 job. Tiền thì có, mà cực vẫn hoàn cực.
À mà quên, có một con giáp lúc nào cũng sướng. Là cô em gái tôi – Tân Hợi. 
 
Related image
 
Cả ngày con heo có làm gì đâu, cứ ăn uống rồi ủn a ủn ỉn đi ra đi vô. Tuổi heo, nên cô em sướng thiệt. Từ nhỏ đến lớn, Hợi cứ vô tư ăn, học và tung tăng với bạn bè. Hợi học không giỏi, nên khi trưởng thành không có một nghề gì chắc chắn hầu có thể tự nuôi thân, như các chị em khác. Trong nhà Má tôi lo cho Hợi nhất, vì các đứa con khác đều tốt nghiệp đại học, hay có một nghề chuyên môn, khả dĩ có thể tự sinh sống.
 
Hợi cũng đi làm, nhưng lương ba cọc ba đồng chẳng bao nhiêu. Má tôi vì thương con gái út nên “Thôi cứ ở chung với Má, Má nuôi”. Rảnh rổi nên Hợi bắt đầu đi chùa, làm công quả. Mà nó nhiệt tình lắm. Chùa nào, lễ nào, Phật đản, Vu lan, nó cũng đều có mặt. Phụ bếp, nấu ăn, rửa chén, việc gì nó cũng làm. Mỗi dịp Tết là Hợi đều xung phong đến các chùa, chuẩn bị các trái quít treo lên nhành mai ở chánh điện. Cả nhà bảo nhau “Tuổi Heo thiệt là có Phước!”.
 
Có mấy lần Hợi rủ chị em tôi đi nghe pháp, hình như có ông sư nào đó sang giảng. Cậu Tý nhíu mày “Ai rảnh như chị mà đi?”. Hợi hỏi tiếp “Vậy có ai muốn cúng dường hôn, em cúng phần em, sẵn em đưa dùm luôn cho”. Bà chị Dần trợn mắt ” Mày có tiền cúng à? Lương mày nuôi thân còn chưa xong, tiền đâu mày cúng?”. Hợi cười cười “Thì có ít cúng ít”.
 
Related image
 
Một thời gian sau hình như Hợi còn tham gia nhóm phật tử gì đó, cứ chiều tối là thấy nó đi tụng kinh, niệm Phật. Giai đoạn này Hơi đang làm cashier trong một cửa hàng, mà cũng chỉ làm part time, tối tối và cuối tuần thì lại đi đến đạo tràng. Nhớ có một lần ai đó hấp hối, thế là Hợi gọi xin “call sick” mấy ngày, sáng trưa chiều tối có mặt ở bệnh viện để hộ niêm. Cả nhà biết chuyện xúm lại la. Má tôi rầy “Vào bệnh viện tiếp xúc với người sắp chết rất dễ lây lan vi trùng mà mắc bệnh”. Bà chị Dần lớn tiếng ” Sao mà “quỡn” dữ vậy, ăn cơm nhà mà đi vác ngà voi”. Cô Thân góp ý ” Hay Hợi đi học một nghề nào đi. Mai này Má chết, thì làm sao tự sống?” Tôi thì lắc đầu. Còn Hợi thì cứ ngồi im thin thít.
Thời gian đó, cô em Thân lục đục với chồng dữ lắm, cãi nhau suốt ngày, đòi đâm đơn ly dị. Hợi thủ tha thủ thỉ với chị Thân, khuyên chị “vợ chồng một câu nhịn chín câu lành”, thôi chị bớt cằn nhằn, bớt gây khẩu nghiệp để gia đình êm ấm”.
 
Có một khoảng thời gian, bà chị Dần và chồng đều thất nghiệp, nên cuộc sống vợ chồng chị ngày càng khó khăn. Vì vậy chị càng tính toán từng li từng tí trong việc tiêu xài. Một hôm Hợi “rủ” chị Dần giúp tiền cho người nghèo ở Việt nam. Chị cự ngay “Tiền đâu mà giúp?”. Thế là Hợi giảng ‘moral”: “Càng không có tiền mới càng phải giúp, chị cho ra đi, dù chút ít, cũng sẽ giúp chị chuyển Nghiệp”.
Rồi một ngày đẹp trời, Hợi về nhà báo tin “sẽ lấy chồng”. Mọi người ngạc nhiên. Mà nó nói thật. Hợi dẫn về ra mắt gia đình một anh chàng dễ thương, gương mặt hiền từ, có nghề nghiệp vững chắc đàng hoàng. Hóa ra 2 đứa quen nhau ở chùa, trong một khóa tu gì đó. Dĩ nhiên là cả nhà ai nấy đều đồng ý. Còn mừng nữa là khác. Hổng mừng sao được, bởi nhẹ gánh quá chừng, tự dưng ở đâu có một anh chàng xuất hiên lo cho con Hợi.
 
Image result for Tuổi Hợi photos
 
Ngày đám cưới, bà con cô bác ai cũng gật gù “Tuổi Heo thiệt là có Phước!”. Lấy chồng về, Hợi tuyên bố sẽ không có con, để dành thời giờ … TU. Anh chồng cũng chịu. Rồi cuối tuần nào Hợi cũng lại tiếp tục “khăn gói áo tràng” đến chùa tụng Kinh niệm Phật. Ông xã của Hợi chẳng những không cằn nhằn mà còn khuyến khích vợ đi nghe pháp, hộ niệm nữa chứ. Quả thật “Tuổi Heo thiệt là có phước!”.
Những năm 2007 – 2009 là khoảng thời gian tôi đau khổ nhất. Số là sau cả chục năm cật lực đi cày, dành dụm được một số tiền, tôi quyết định đầu tư, chơi chứng khoán. Thấy thiên hạ mua nhà, bán nhà, ngon ăn hơn nên tôi liền nhảy vào thị trường địa ốc – lúc đó đang sôi sùng sục. Nào ngờ … bong bóng bể. Mất nhà, mất tiền, tôi suy sụp hoàn toàn. Thấy vậy, Hợi đưa tôi quyển sách “Niệm Phật thế nào để được vãng sanh?”, bảo ráng đọc đi. Tôi thờ ơ cầm lấy cho có lệ. Tình cờ một bữa nọ, khi sắp xếp lại bàn làm việc, vô tình đụng phải cuốn này, tôi liền mở ra lướt mắt đọc sơ. Nào ngờ quyển sách thu hút tôi từ trang đầu đến trang cuối. Xếp lại trang cuối cùng, tâm tôi bừng mở. Thì ra có một con đường giúp tôi thoát Khổ. Cám ơn em Hợi!
 
Image result for Tuổi Hợi temple photos
 
Từ đó Ngọ tôi thay đổi hẳn. “Kéo xe” hằng ngày tôi không còn than vãn. Sáng thức dậy tôi lạy Phật, tối về tôi niệm Phật. Cuối tuần tôi đến chùa nghe pháp. Tôi tập bố thí, cúng dường. Tôi và Hợi đã có niềm vui chung.
 
Rồi vợ chồng Hợi mua căn nhà mới. Chiều 24 Tết, Hợi mời cả gia đình đến chơi cho biết nhà. Sau khi dẫn mọi người đi tham quan một vòng ngôi nhà đẹp và ấm cúng, Hợi mở cửa một căn phòng, giới thiệu đây là phòng để niệm Phật. Hợi trang trí bàn thờ Phật thật đẹp và trang nghiêm, tượng Phật A Di đà ở chính giữa, Quan Thế âm và Đức Phật Dược sư ở 2 bên. Tôi đứng chiêm ngưỡng tượng của các Ngài không chớp mắt. Bỗng nghe tiếng cô em Thân và chị Dần thì thầm “Cũng mừng cho nó. Mà lạ thiệt. Nhà mình ai cũng có nghề nghiệp vững chắc, nhưng sao số ai cũng cực. Giờ rốt cuộc nhìn lại trong gia đình không ai sướng bằng con Hợi. Nhà cao, cửa rộng, chồng quý trọng thương yêu, cuộc đời hạnh phúc. “Tuổi Heo thiệt là có Phước!”.
Tôi im lặng. Nhưng trong thâm tâm, tôi hiểu Phước của Hợi từ đâu mà đến …
 
Image result for 12 beautiful chinese zodiac moving photos
 
Phước không phải tự nhiên sinh ra, cũng không phải do ông trời ban cho. Phước lại càng không phải do ta may mắn chào đời vào năm một con giáp nào đó (năm Hợi, năm Thìn). Bởi nếu quả vậy thì cả trăm triệu người sinh vào năm Hợi đều sung sướng hết hay sao?
Tôi quay sang Thân và chị Dần “Nhìn lại mà xem, những gì Hợi làm đều là những điều Phật dạy: đi chùa, làm công quả, nghe Pháp, niệm Phật, bố thí, cùng dường, hộ niệm, chia sẻ Kinh Pháp cho em, khuyên Thân nhịn chồng bớt khẩu nghiệp, khuyên chị Dần phát  tâm giúp người khổ hơn mình. Đây là những việc mang lợi ích cho người khác. Khi mình tặng cho ai một thứ gì, thì sớm hay muộn mình cũng sẽ nhận lại những quả tốt lành. Hợi vô tư giúp rất nhiều người, bởi vậy nên nó có Phước …”.
 
Thế là tự dưng cả nhà xúm nhau bàn bạc về Phước. Cậu Tý hỏi “Vậy làm gì mới có Phước như chị Hợi ?”. Tôi nói ” Thì làm tất cả những gì nhự Hợi đã làm”. Chị Dần thắc mắc “Thử nhắc lại xem”. Hợi cười ” Có gì đâu nè, ví dụ như:
– bố thí, cúng dường, giúp người nghèo, người khó khăn hơn mình
– xây chùa, xây chánh điện để phật tử có nơi tu tập
– đúc các tượng Phật (Phật Thích ca, Phật Dược sư, Phật Quan Âm…) để nhiều người có thể đến chiêm bái lễ lạy
– niệm Phật, lạy Phật, tụng kinh,
– bớt tham, sân, si.
– sống hòa đồng giúp đỡ người khác
– cẩn trọng lời nói, hành động, đừng hại hay làm tổn thương ai
Má tôi, nãy giờ đứng mãi mê ngắm các tượng Phật, bỗng nhiên quay lại, cất tiếng ” Như Má già yếu rồi, nếu má cúng dường đúc tượng Phật Dược sư, thì Má sẽ có phước được sức khỏe dồi dào phải không mấy con?”
 
Hợi giải thích ” Phật Dược sư có lời nguyện chữa lành mọi bệnh tật khổ đau cho chúng sanh. Ngài nguyện giúp họ tăng trưởng sức khỏe về Thân và Tâm. Ngài nguyện cầu cho những ai đang chịu đau khổ vì đói, vì khát sẽ đều được cung cấp mọi thứ cần thiết: thức ăn, đồ uống và quần áo, giải phóng họ khỏi những bận tâm để họ có thể bắt đầu làm lợi ích cho người khác”.
Tôi khuyến khích ” Má nên cúng dường đúc tượng Phật Dược sư, và đồng thời Má cũng nên niệm Phật nữa. Như vậy Má vừa được thân khỏe mà tâm lại an. Mỗi tháng Má ráng nhín chút tiền cúng dường các chùa xây chánh điện, cúng dường tăng ni, hay giúp người nghèo. Ba chục, năm chục đồng không làm Má nghèo đi, nhưng Má sẽ được phước báu, không những đời này mà khi sang đời sau, Má sẽ hưởng…”
 
Cô Thân reo lên “Cho em đóng góp nữa!”
Cậu Tý la to “Em nữa!”
Chị Dần hồ hởi “Vậy cả nhà ráng làm theo những điều Phật dạy, để ai cũng có Phước … như Hợi nhà mình !” (Mọi người vỗ tay)
 
Ngước lên bàn thờ Phật, tôi thấy dường như các Ngài đang mĩm cười.
 
.
 
Ngoài kia làn gió Xuân thoang thoảng. Năm cũ qua đi. Năm mới cận kề. Cuộc sống là một chu kỳ tuần hoàn, như vòng tròn Nhân quả. Gieo hạt lành, hưởng trái ngọt.
PHƯỚC – Niềm mơ ước của mọi người.
PHƯỚC – Nỗi cầu mong của chúng ta mỗi lần Tết đến Xuân sang.
PHƯỚC – Lời chúc không thể thiếu trong những ngày đầu năm mới
Phước đến từ Tâm.
Phước có tự lòng thành.
Phước do việc thiện lành mang lại.
Hãy sống tốt, sống vì người khác, mang hạnh phúc niềm vui đến cho mọi người, thì dù sinh vào con giáp nào, bạn cũng đều sẽ có PHƯỚC !
 
  Hoàng Thanh  
Xuân Kỹ Hợi 2019

  3 con giáp được trời ban nhiều phước đức, may mắn đường con cái

Tử vi học có nói, trong số 12 con giáp, có 3 con giáp được trời ban nhiều phước đức, đặc biệt là có số may mắn trong đường con cái.
Bước qua năm Kỷ Hợi 2019 tới đây, nếu như 3 con giáp này sinh con vào đúng năm Hợi thì gia đình không những hưng thịnh rực rỡ, mà cuộc sống của bố mẹ lẫn con cái đều thăng hoa.
 
1. Tuổi Dần
 
 Related image
 
Trời sinh tuổi Dần là những người mạnh mẽ, kiên định và luôn sẵn sàng đối mặt với mọi thử thách để gây dựng cuộc sống đầy đủ, sung túc.
 
Tử vi học có nói, nếu như bố mẹ nào thuộc tuổi Dần sinh con vào năm Hợi thì vô cùng may mắn. Hợi - Dần vốn hợp nên mệnh của bố mẹ và mệnh con vô cùng hòa hợp.
Em bé tuổi Hợi có bố mẹ tuổi Dần khi sinh ra sẽ được quý nhân che chở, thượng đế ban nhiều phước lành. Đồng thời bé cũng mang đến nhiều may mắn cho bố mẹ, thậm chí đón lộc vào nhà.
 
2. Tuổi Tý
Người tuổi Tý vốn thông minh, lanh lợi và biết nắm bắt cơ hội để xây dựng cuộc sống đầy đủ sung túc. Tử vi học có nói, trong số 12 con giáp, chỉ cần bố hoặc mẹ thuộc tuổi Tý thì con sinh vào năm tuổi Hợi sẽ vô cùng may mắn và gặp nhiều phước lành.
Vốn dĩ tuổi Hợi và tuổi Tý không những không xung khác mà còn bổ trợ cho nhau. Vì vậy, con cái của tuổi Tý mà ra đời vào năm Hợi tới đây thì xác định gia đình thịnh vượng thăng hoa, vận may của em bé có khả năng rước lộc vào nhà.
Bé đem lại may mắn cho bố mẹ, bất kể làm việc gì cũng dễ dàng thành công, bản thân em bé cũng có vận may và số sướng trong tương lai.
 
3. Tuổi Mão
Người tuổi Mão vốn là những người tình cảm, hiền lành và luôn xử sự mọi chuyện theo cảm tính. Trong cuộc sống cũng như hôn nhân gia đình, tuổi Mão luôn được trời ban nhiều phước lành.
Theo tử vi, nếu bố mẹ tuổi Mão sinh con vào năm Hợi thì xác định cả nhà vui vẻ, hạnh phúc, không những thế công việc làm ăn của bố mẹ thăng hoa như diều gặp gió. Bên cạnh đó, em bé tuổi Hợi có bố mẹ tuổi Mão khi sinh ra sẽ hưởng được nhiều phúc phần vì Mão Hợi thuộc Tam hợp.
Lớn lên, bé không những thành tài mà còn hiếu thảo giúp bố mẹ có cuộc sống an nhàn, thảnh thơi. Điều quan trọng là bé sẽ mạnh mẽ, kiên cường vượt qua mọi sóng gió cuộc đời.
* Thông tin trong bài chỉ mang tính tham khảo, chiêm nghiệm.
 
   Tuệ Minh sưu tập   
Xem thêm...

Tưởng nhớ Thầy Lưu Như Hải

Tưởng nhớ Thầy Lưu Như Hải

(1941-2018)

 Giáo Sư Lưu Như Hải

Thầy Hải theo học Trường Chu Văn An Hà Nội

Thầy Lưu Như Hải sinh năm 1941 tại Kiến An tỉnh Hải Phòng di cư vào nam 1954 ngày xưa học trường Chu Văn An Hà Nội.
Vào Nam dạy trường Sao Mai Đà Nẵng, Trường Trần Quý Cáp Hội An, Trường Nữ trung học Hồng Đức, Trường Kỹ thuật, Phan Chu Trinh, Nguyễn Công Trứ (tại Rạch Giá). Sau khi định cư tại Hoa Kỳ và làm trong bộ ngoại giao. 
 
Giáo Sư Lưu Như Hải dạy môn Sinh ngữ Anh Văn tại Trường Trung Tiểu Học Sao Mai Đà Nẵng là môn sinh ngữ chính của ban C từ lớp: 10C, 11C và 12C cho đến năm cuối cùng 1975 của thời VNCH .
 
Sau năm 1990 định cư, Thầy thường tham gia những buổi họp mặt của Trường Sao Mai và Thầy cũng về thăm lại những người bạn giáo sư tại Đà Nẵng một thời cùng giảng dạy tại trường SM. 
Dưới đây là những hình ảnh Thầy trò hội ngộ mừng vui bên xứ người:
 
 
 Thầy trò Sao Mai hội ngộ tại California
 
 
Thầy trò hội ngộ tại Houston, TX (2013)
 
 
Chị Dư Ngọc Hạnh, Thanh Hương, Thầy Hải và Bố Mẹ chị Thanh Hương
 
  
 
Chị HV sang thăm Hoa Kỳ được gặp Thầy tại nhà anh chị Khôi & Kim Phượng
 
Thầy đánh đàn Accordion tại tư gia anh Khôi và KP
 
 
Hội ngộ Thầy Hải và Cô Phương tại Houston, Texas Oct. 2018
 
Hình nhận từ anh Kim Tiến ( HS Sao Mai ĐN)
 
Sau đây là những hình ảnh Thầy về VN thăm những Giáo Sư đồng môn và các học trò tại Đà Nẵng: (saomaidanang.com)

Kính thưa quý thầy cô và quý anh chị: Thầy Lưu Như Hải sau một thời gian gần hai mươi năm định cư ở Mỹ, đã trở về quê hương thăm gia đình ở Đà Nẵng đã có buổi gặp mặt với quý thầy cô và một số cựu học sinh Trung Học Sao Mai Đà Nẵng.

Đến dự buổi gặp mặt gồm có: 

-Thầy Nguyễn Đắc Lợi và phu nhân 
-Thầy Phan Thanh Kế và phu nhân 
-Thầy Nguyễn Văn Pháp và phu nhân 
-Thầy Ngô Khôn Liêu 
-Thầy Lê Văn Ngãi 
-Thầy Lê Nhưt Sanh 
-Thầy Tôn Thất Chân Tu 
-Thầy Phạm Xuân Tú 
-Thầy Lê Văn Thôi 
-Thầy Võ Văn Thông 
-Thầy Nguyễn Thanh Ngọc 

Ngoài ra anh chị Phạm Phú Thương từ Mỹ, chị Huỳnh Thị Tuyết Nhung ở Sài Gòn về thăm gia đình cũng đến tham dự buổi gặp mặt.

Trân trọng kính báo 
Phan Gia Hiền

 
(July 29, 2010)
 
 
 
 
 
 
  Anh Phan Gia Hiền và Thầy Hải   
 
                         Chị Khánh Hòa ( bên trái) và Thầy Hải
 
Sau những năm tháng Thầy sinh hoạt với trang web Góc Nhỏ Sân Trường, Thầy đã chia sẻ những bài viết mang nhiều kiến thức giáo dục dạy bảo cùng tâm tình của Thầy trò thật đáng kính mến. Trang GNST đăng nhiều bài của Thầy :
 

Nhân dịp Lễ Tạ Ơn (năm 2015), tôi hân hạnh gởi bài "Lời Cảm Ơn" đến Góc Nhỏ Sân Trường thân thương.

Cảm ơn tất cả quý anh chị em về tấm hảo tình đã dành cho tôi, một dư ảnh từ thời hoàng kim xa xưa ở các trường Sao Mai, Hồng Đức, Trần Quý Cáp, Ngô Đình Khôi (Đại Lộc), Nguyễn Dục (Tam Kỳ), và ĐHCĐ Quảng Đà...

Lưu Như Hải..." 

"Lời cảm ơn như một phép màu; người nói ra bày tỏ được lòng tri ân, người tiếp nhận cảm thấy vui hơn cả người nói ra; như vậy cuộc đời chẳng tươi đẹp hơn sao?"

 -Tiếng Việt tuyệt vời. Thầy Lưu Như Hải http://gocnhosantruong.com/doi-song-xa-hoi/vui-cuoi/1891-tieng-viet-tuyet-voi-tha%CC%80y-luu-nhu-ha%CC%89i

"..Thành ngữ "Chơi đẹp." Những nhóm chữ tương ứng (chưa hẳn là tương đương) trong tiếng Pháp "franc jeu" và tiếng Anh "fair play".

-Hồi ức: QUẢNG NAM ─ ĐÀ NẴNG: MỘT TRỜI HOA MỘNG  http://gocnhosantruong.com/chia-se/chia-vui/3428-chuc-mung-sinh-nhat-thay-luu-nhu-hai

"....Bây giờ Rewind cuốn phim đang xem, ngược dòng thời gian về mùa hè năm 1953 khi tôi được song thân cho về thăm Đà Nẵng lần đầu tiên bằng đường thủy. Từ Hà Nội chúng tôi đi xe taxi về Hải Phòng để đáp thương thuyền Ville de Hai Phong của hãng Pháp Denis Frères chạy tuyến Hải Phòng - Sài Gòn có ghé qua Đà Nẵng. Tàu thủy lớn nên không vào sông Hàn mà đậu ở phía ngoài cửa biển. Hành khách đi ca-nô vào, đậu ở bờ sông. Suốt chuyến hải hành đầu đời và trong thời gian nghỉ hè ở quê nội, chú bé tuổi choai-choai là tôi cứ như là đang nằm mơ trong một câu chuyện thần-tiên.

Đà Nẵng - Quảng Nam hiện ra trước mắt với cảnh sắc sơn thủy hữu tình. Nhìn ra khơi là đại dương trong xanh điểm xuyết bằng đôi ba con tàu sắt đang mê-man trên đường viễn-xứ; rải rác đó đây là những chiếc thuyền * với cánh buồm mê-hoặc gợi ra chuyện tình ngang trái Tristan và Iseult (Isolta). Đảo mắt vào đất liền thì không khỏi sững-sờ trước đỉnh núi Tiên Sa với huyền- thoại tiên giáng trần. Ngược dòng Hàn Giang với hậu cảnh Ngũ Hành Sơn, người đa cảm sẽ tưởng mình là đang trên đường đi vào chốn Thiên Thai!

 Nhờ vậy mà tôi được cả ba vị Hiệu-trưởng thâu-nhận, cho phụ-trách môn Toán ở một số lớp từ lớp Đệ Lục đến lớp Đệ Tứ. Vì ba ngôi trường ở ba địa-phương xa nhau cho nên tôi phải "chạy" quanh mà dạy ở mỗi nơi hơn hai ngày (kể cả ngày thứ bảy trong tuần), gần giống như các ca-sĩ "chạy show" sau này. Từ Đà Nẵng lên Đại Lộc tôi đi bằng xe gắn máy Goebel, và từ Đà Nẵng đi Tam Kỳ bằng xe lửa. Bắt đầu niên-khóa 1959-1960, trước hết tôi đến trình diện LM Hiệu-trưởng rồi Thầy Giám-học Phạm Ngọc Vinh ở trường Sao Mai. Thầy Giám-học đưa tôi đến lớp và ân-cần giới-thiệu với học-sinh.


Vào thời đó thì học-sinh chỉ thua các thầy cô trẻ vài ba tuổi cho nên tôi bị khớp sân-khấu (stage fright) mất mươi phút, mặc dù là đêm hôm trước tôi đã tập dượt kỹ-càng trước tấm gương soi để điều-chỉnh dung nhan mùa thu. Về phần môn-đệ thì trong "thủa ban đầu" các em quan-sát và lắng nghe rất kỹ để xem ông thầy "mới ra lò" biểu-diễn ra làm sao. Nếu theo đúng lời một vị giáo-sư đại-học mà tôi không nhớ qúy danh "Một thầy/cô giáo được coi là thành-công nếu trong suốt giờ học không có môn-sinh nào ngủ gục" thì tôi có thể tạm được coi là thành-công. May mắn là ở Đà Nẵng - Quảng Nam tôi chưa phát-hiện ra em nào ngủ gục trong giờ học của tôi cả. Một lần nữa tôi lại phục tôi quá.

Sau đó tôi đi Đại Lộc đến trường Bán công Ngô Đình Khôi trình-diện Thầy Hiệu-trưởng Trần Thuyên.  Thầy tiếp-đãi niềm-nở với tình-cảm đặc-biệt và cho tôi trú ngụ ngay tại trường sau giờ tan học. Ở gần trường là một quán cơm nhỏ mà bà chủ dáng nông-dân chân-chất, phúc- hậu, có một cô con gái học trong lớp tôi phụ-trách. Nghe con gái chào tôi là Thầy, bà dọn bữa cơm tươm tất, tính giá rất bình-dân so với gía cả ở Đà Nẵng. Tôi tế-nhị đưa thêm gọi là phụ tiền chợ, nhưng bà nhất định không nhận, mà còn nói rằng: “Các thầy cô từ xa về miền nông-thôn là quý rồi, đáng lẽ tôi không tính tiền mới phải. Cô con gái cũng nói thêm: “Thầy đừng ngại, gà và rau là nuôi, trồng trong vườn, lúa thì gặt ngoài ruộng đem về nhà xay, giã thành gạo, chỉ phải mua thịt heo ngoài chợ thôi.”
 

Tôi rất biết ơn gia-đình này cho nên thỉnh-thoảng mua vài thứ qùa ở Đà Nẵng đem lên tặng ông bà chủ. Tết Nguyên Đán năm đó, một cậu học-sinh lớp Đệ Tứ mà tôi biết rõ gia-cảnh rất khó-khăn, từ quê trên Đại Lộc về Đà Nẵng đến thăm tôi, đem theo một món quà rất đặc-biệt, ít ai có thể đoán ra: Đó là một ổ gà mái đẻ với con gà mẹ và mươi cái trứng con so!
 

Ôi, dân Quảng Nam chân-tình qúy-trọng thầy cô giáo theo một cách riêng rất độc-đáo!
 

Sau trường Đại Lộc, tôi đi vào Tam Kỳ trình-diện tại trường Bán-công Nguyễn Dục, nhưng rất tiếc không được diện kiến Thầy Hiệu-trưởng Lê Ấm vì Thầy ở Đà Nẵng, ít khi vào Tam Kỳ với lý do sức khỏe ở tuổi cao-niên. Ông Giám-học trung-niên tiếp tôi vui-vẻ rồi bàn giao ngay trong lớp Toán Đệ Tứ mà ông đang dạy cho tôi. Tôi còn nhớ bài học hôm đó là Đường Tròn Lượng Giác với Sin, Cosin, Tang, Cotang… Ông lịch-sự cáo lui để đi lo việc hành-chánh, sau khi nói nhỏ cho tôi biết lớp này có một trò quậy lắm, tên của cậu ta là …Sau khi vào lớp, tôi nhờ đúng trò quậy đó lên văn-phòng mượn giùm tôi cái com-pa to bằng gỗ để vẽ đường tròn trên bảng đen (hồi đó bảng còn sơn màu đen). Một lát sau, cậu ta về lớp cho tôi biết là không tìm ra cái com-pa. Tôi vẫn cảm ơn theo phép lịch-sự, rồi bắt đầu giờ Toán theo đúng trình-tự trong sách giáo-khoa.

Điều gay-go bây giờ là phải vẽ trên bảng đen một vòng tròn sao cho thật … tròn! Nghe qua có vẻ dễ vì ai cũng vẽ được vòng tròn huống hồ là thầy giáo dạy Toán. Có lẽ nhờ Tổ đãi, hoặc là ngáp phải ruồi cho nên tôi đột xuất (lại đột xuất) vẽ được một vòng tròn thiệt tròn hết ý đến nỗi chính tôi cũng phải phục tôi huống chi là các em học-sinh! Nhưng có một điều bí-mật mà các em không hiểu tại sao là suốt trong giờ học hôm đó tôi chỉ vẽ độc nhất có một đường tròn và chỉ một mà thôi:

Anh chỉ vẽ một đường tròn lượng giác
Anh cho em nên đã … thác rồi!   (Đã thác rồi làm sao mà vẽ thêm được nữa.)

 Vì qúa tin tưởng vào “thiên-tài” của sư-phụ cho nên các đệ-tử quên rằng nếu vẽ thêm thì thầy sẽ chỉ vẽ ra được hình qủa trứng gà!

Bây giờ Fast Forward đến thời-gian 1965-1975  khi tôi theo thứ-tự phục-vụ ở các trường Trung-học Trần Qúy Cáp, Hội An, đồng thời làm thêm ở trường Sao Mai (65-67), Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá (67-68), Hòa Vang và Sao Mai (69-74), Hồng Đức, Sao Mai và ĐHCĐ Quảng Đà (74-3/75) với một thời-gian gián-đoạn là đi lính (nói cho oai là Binh 2/Khóa-sinh Dự-bị Sĩ Quan [Trừ-bị] Khóa 8/68.) Trích trong :http://gocnhosantruong.com/chia-se/chia-vui/3428-chuc-mung-sinh-nhat-thay-luu-nhu-hai  (Hồi ức: QUẢNG NAM ─ ĐÀ NẴNG: MỘT TRỜI HOA MỘNG -Lưu Như Hải)"

-Thầy đã hoàn thành tác phẩm : CUỘC TÌNH THỜI CHIẾN TRANH đã được bán trên amazaon.com <http://amazaon.com> 
      
 http://www.amazon.com/Wartime-Love-Story-Lou-High/dp/1462639364

-Thầy cũng sáng tác nhiều nhạc phẩm:

-Ode to the Morning star. Sao Mai,Em và Tôi. Mùa Thu Năm Xưa và Dạ Khúc Trường Xưa.

 

  • ●▬▬▬▬▬▬▬▬▬●

 

 Ngày 31 tháng 12 năm 2018 Trang Góc Nhỏ Sân Trường đã nhận được hung tin :

Thầy Lưu Như Hải đã từ giã bạn bè đồng môn và các học trò thân thương để trở về cõi vĩnh hằng  

 

THÔNG BÁO TIN BUỒN:

GNST rất đau buồn nhận được hung tin Thầy Lưu Như Hải cựu Giáo Sư Trường Trung học Sao Mai Đà Nẵng vừa đột ngột từ trần. Theo em Hằng, thứ nữ của Thầy Lưu Như Hải tại Houston cho biết, Thầy và Cô dịp cuối năm tới Florida thăm gia đình trưởng nữ, tối ngày 31/12/2018 Thầy chợt lên cơn đau tim, xe cứu thương của 911 đưa gấp vào bệnh viện nhưng không kịp. Thầy đã qua đời tại bệnh viện. Linh cửu sẽ được chuyển về Houston trong vài ngày tới.

Xin hiệp lời cầu nguyện cho Thầy mau về chốn vĩnh hằng.
Mọi chi tiết BCH sẽ thông báo sau.

BCH-GNST

 

 ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Trước sự mất mát lớn lao nầy chúng tôi BBT-GNST xin thành kính chia buồn cùng Tang Quyến Thầy Lưu Như Hải. Nguyện hương linh Thầy Lưu Như Hải sớm vãng sanh Phật Quốc.

Kính thưa Thầy Yêu Thương của chúng em - Trang Góc Nhỏ Sân Trường

Thế là chúng em phải xa Thầy mãi mãi rồi.Thầy ra đi bất ngờ làm chúng em cảm thấy hụt hẫng như mất đi một người thân yêu kính mến mà chúng em rất ngưỡng mộ.
Trong những năm qua,Thầy đã luôn đồng hành cùng trang Góc Nhỏ Sân Trường với những bài vở thú vị,những bài thơ dịch nhiều cảm xúc , những bản nhạc hay ...Một số anh chị GNST cũng có dịp được gặp gỡ Thầy với nhiều niềm vui thắm thiết nghĩa tình Thầy Trò.

Giờ đây chúng em chỉ còn biết thương nhớ , tìm lại những kỷ niệm với Thầy qua những chia sẻ yêu thương và từng tấm ảnh Thầy với học trò Sao Mai xưa.
Chúng em xin chân thành tri ân và cám ơn những đóng góp của Thầy cho trang GNST thêm phong phú.Chúng em cũng luôn nhớ về Người Thầy hiền lành,dễ mến,tài giỏi - Người Nghệ sĩ tài hoa với nụ cười ấm áp đàn giỏi hát hay của một thời ...

Thầy nghỉ ngơi thanh thản bình yên nhé!
Chúng em nguyện cầu Hương Linh Thầy được an nghỉ nơi Cõi Vĩnh Hằng.

VĨNH BIỆT THẦY
Góc Nhỏ Sân Trường

 

Trang Góc Nhỏ Sân Trường đã nhận những lời chia buồn từ trang web saomaidanang

cùng các anh chị học sinh Sao Mai và Thầy Tạ Quốc Bảo đồng thành kính phân ưu:

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Được tin buồn, Thầy Lưu Như Hải, Giáo Sư Anh Văn trường trung học Sao Mai Đà Nẵng đã từ trần ngày 31 tháng 12 năm 2018 tại Florida.

-GĐSM Thành Kính Phân Ưu cùng tang quyến! Nguyện xin cho Hương Hồn Thầy được an nghĩ nơi Cỏi Vĩnh Hằng.
GĐSM Đà Nẵng 

-Xin cho tôi gửi lời chia buồn này trong GNST; Đột ngột hay tin bạn ra đi, tôi rất buồn lại mất thêm một người bạn thân,vừa là đồng nghiệp, vừa là đồng môn ĐHSP . Chúc bạn sớm siêu thăng về Cõi Vĩnh Hằng .
Tạ Quốc Bảo (Cali.)


---------------

-Tin buồn đầu năm và cũng là tin quá bất ngờ đối với các học trò của Thầy Lưu Như Hải.
Xin nguyện cầu linh hồn Thầy sớm về chốn Vĩnh Hằng

Cám ơn BCH GNST đã đưa tin.
TuongVy (VN)


--------------------


-Thành kính phân ưu đển cùng gia quyến...thầy Lưu Như Hải.
Cảm tạ đã thông báo.
Lê Văn Phương (TX)

 

 Dưới đây là những hình ảnh ngày tang lễ Thầy Lưu Như Hải:

 

 Anh Trần Đào Khôi đang đọc bài Điếu văn

Bài Điếu văn của anh Trần Đào Khôi đại diện cho GNST:

Kính thưa quý Chư Tăng, kính thưa Cô Phương cùng tang quyến và kính thưa chư liệt vị,

Đại diện cho BCH và toàn thể 220 thành viên của Diễn Đàn GNST, tôi xin được gởi lời thành kính phân ưu tới tang quyến trước sự ra đi của thầy Lưu Như Hải.

Diễn Đàn GNST được thành lập vào tháng 12 năm 2012 tại Hoa Kỳ do một nhóm cựu học sinh Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng. Theo thời gian DĐ được mở rộng với sự tham gia của các Thầy Cô và các cựu học sinh từ nhiều trường, nhiều quốc gia khắp nơi trên thế giới. DĐ GNST đã được sự ưu ái đặc biệt với lòng thương mến và sự quan tâm nhiệt tình của người thầy kính yêu Lưu Như Hải từ những ngày đầu thành lập. Qua hơn 6 năm sinh hoạt, với những chia sẻ yêu thương của Thầy qua những bài viết mang tính giáo dục, nghệ thuật lẫn kiến thức, cũng như những tâm tình thầy trò, đã để lại nhiều dấu ấn và lòng cảm kích kính yêu nơi tất cả các thành viên,dù rằng có rất nhiều thành viên chưa từng được diễm phúc làm học trò của Thày.

Nhận được tin buồn Thầy đột ngột ra đi, cả DĐ đều bàng hoàng , đau xót.Thật là một mất mát lớn cho Cô Phương và tang quyến, cũng là mất mát lớn cho gia đình GNST chúng tôi. Xin được chia sẻ nỗi đau buồn thương tiếc của Cô và tang quyến.

Kính thưa thầy Lưu Như Hải,

Trước linh cửu của Thầy, đại diện cho tất cả các Thầy Cô và anh chị em của Gia Đình GNST, chúng em xin kính cẩn chào Thầy lần cuối. Từ đây chúng em không còn nhận được những lời dạy dỗ, những tâm tình thương mến từ Thầy trong DĐ, nhưng hình ảnh và tấm gương sáng ngời Thầy để lại sẽ luôn sống mãi trong chúng em.

Hợp ý cùng tang quyến và tất cả bằng hữu của Thầy kính mến, chúng em dâng lời nguyện cầu cho Hương Linh Thầy được an nghỉ nơi Cõi Vĩnh Hằng.

Xin Ơn Trên luôn an ủi , nâng đỡ cô Phương và tang quyến trước sự mất mát lớn lao này.

Kính chào vĩnh biệt Thầy kính yêu.

Thành Kính Phân Ưu cùng Cô Phương và tang quyến. 

 

Các học trò Sao Mai tiễn Thầy lần cuối

Học trò Sao Mai thắp nén nhang cầu nguyện Thầy an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng

Chị Thanh Hương và KP đưa tiễn Thầy 

 

Bài điếu văn của anh Phan Xuân Sinh : Anh Nguyễn Văn Ba đại diện cho Trường Sao Mai

Kính Thầy,

Chúng em là những môn sinh trường Sao Mai của Thầy từ ngày Thầy mới đỗ tú tài, môn dạy đầu tiên lúc đó là toán học, niên khoa đầu tiên cũng là năm trường mới bắt đầu khai giảng 1959, nghĩa là vừa đúng 60 năm. Sau vài năm Thầy mới vào trường đại học sư phạm Huế. Rồi Thầy trở lại trường với môn Anh văn. Nói thế để biết rằng 60 năm một chu kỳ của cuộc đời, dài thăm thẳm, biết bao nhiêu vật đổi sao dời, biết bao nhiêu thế hệ khác ra đời, và cũng biết bao nhiêu thế hệ khác ra đi nhưng hình ảnh người Thầy đáng kính của chúng em vẫn mãi mãi in sâu trong lòng chúng em.

Sau ngày 30.4.1975 học trò và Thầy có người gặp nhau ở trại cải tạo. Thầy vẫn là người đáng kính dù phải nhọc nhằn, khổ sở trước bạo quyền. Chúng ta nhìn nhau nhưng không giúp gì nhau được.

Sau năm 1990. Tại Hoa Kỳ Thầy trò gặp lại nhau lúc đó mái tóc của Thầy trò mình đã bạc trắng như nhau, Thầy vẫn còn phong cách chững chạc. Mỗi lần có dịp gặp nhau thày trò kể lại cho nhau nghe bao nhiêu chuyện cũ. Ở Đà Nẵng Thầy còn dậy các trường Nữ trung học Hồng Đức, Phan Chu Trinh, Nguyễn Công Trứ v..v.. Và ngoài Đà Nẵng Thầy còn dậy Trần Quý Cáp Hội An, Nguyễn Trung Trực Rạch giá các môn sinh của Thầy khá nhiều khá đông, biết tin Thầy ra đi hôm nay mọi người phải cúi đầu tưởng nhớ tới Thầy. Một người Thầy đáng kính và đáng trân trọng.

Một lần nữa trong giờ phút thiêng liêng này, chúng em đại diện cho học sinh của Thầy nói chung và trường Sao Mai nói riêng hân hạnh được chia tay với Thầy lần cuối. Kính chúc Thầy ra đi với lòng thanh thản nơi Chín Suối, được sự phù trợ của Chư Phật, được yên giấc trong vóng tay thương yêu của gia đình và người thân. Thầy vẫn sống mãi trong lòng các em.

Thay mặt cho những môn sinh của Thầy khắp nơi không có dịp chia tay Thầy. Thay mặt cho các chị học sinh trường Sao Mai kính cẩn nghiêng mình trước Linh cửu Thầy, nguyện cầu sự ra đi của Thầy được thanh thản, sớm tiêu diêu nơi miền Cực Lạc.

Nam mô A Di Đà Phật.

Vẫy tay vĩnh biệt Thầy

Các cựu học sinh Sao Mai

 

 ~~~~~~~

 

 Cám ơn chị Hồng Vân đã thực hiện một video cho Thầy Lưu Như Hải,

một tác phẩm giá trị cho tất cả học sinh Sao Mai

Lời nhạc hay, cảm động và hình ảnh người Thầy kính yêu. 

 

 

THƯƠNG NHỚ NGƯỜI THẦY KÍNH MẾN

LƯU NHƯ HẢI 

▬▬▬▬ BCH - GNST ▬▬▬▬

  Đồng Thành Kính Phân Ưu 

Xem thêm...

GIÁ TRỊ CỦA THỜI GIAN

"Thời gian là một ngọn lửa thiêu đốt ta. 
                                         Nhưng chính ta là ngọn lửa." 
                                                    Jorge-Luis Borges

 

Image result for thoi gian photos

 

   Yesterday    The Beatles   

 

Từ lâu tôi vẫn bị ám ảnh bởi vấn đề thời gian.

Nhưng gần đây, khi bắt đầu "trông tuổi già bóng xế", tôi bỗng cảm thấy vấn đề trở thành gay go và cấp bách. Mình không còn lại bao nhiêu thời gian nữa, tôi tự bảo, cho nên phải cố gắng tận dụng tất cả thời gian còn lại. Để làm gì? Để suy nghĩ về một số vấn đề hệ trọng, bắt đầu bằng vấn đề thời gian...

Thử tưởng tưởng trong một vũ trụ không có loài người, ta làm sao có thể hình dung được lúc đó thời gian sẽ trôi chảy như thế nào giữa một khoảng không bao la vô tận chỉ toàn là các thiên thể vô hồn? 

Từ xa xưa, thời gian vẫn được tính toán căn cứ vào chuyển động của các thiên thể. Cứ trải qua 365 chu kỳ xuất hiện và lặn tắt của mặt trời, thì ta gọi đó là một năm. Thử tưởng tượng một ngày nào đấy, mặt trời nguội dần đi, trái đất chuyển động chậm lại, thì thời gian sẽ ra sao? Hiện nay tuổi thọ 100 năm của con người được xem như ứng với 100 chu kỳ quay của trái đất quanh mặt trời. Nếu như trái đất chuyển động chậm lại bằng một nửa tốc độ hiện nay, thì lúc đó chúng ta vẫn sống được với 100 chu kỳ mới hay chỉ 50 chu kỳ? Lúc đó, nếu như con người sống 100 tuổi (theo thời gian mới) thì có thể xem là thọ hơn bây giờ không, hay tất cả chỉ là tương đối, nghĩa là biến thiên theo một tỷ lệ như nhau? Nếu như trái đất ngừng quay quanh mặt trời, và các thiên thể đều ngưng chuyển động thì phải chăng ý niệm về thời gian không còn tồn tại nữa? Và nếu không có ý niệm về thời gian thì làm gì có ý niệm về Vĩnh cửu? 

Here Comes The Sun - The Beatles



Nhưng trái đất vẫn quay. Mặt trời vẫn mọc lên và lặn tắt từng ngày. Nghĩa là thời gian vẫn trôi trong cái thế giới hiện tượng đầy sai biệt này, nơi mà con người vẫn luôn khao khát đến một cõi phi thời gian đầy huyền mật. Có lẽ câu hỏi cuối cùng đặt ra cho nhân loại vẫn là:”Phải mất bao nhiêu thời gian, ta mới tìm ra vĩnh cửu?”. Và có thể dùng câu nói của Angelus Silesius (1624-1677) - nhà thơ thần bí xứ Silesia - thay cho đáp án: “Time is as Eternity is, and Eternity as Time, only if you yourself make no difference between them” (Thời gian hiện hữu như Vĩnh cửu, và Vĩnh cửu cũng hiện hữu tựa Thời gian, nếu như bạn đừng sinh tâm phân biệt)? 

  [Triết Học Tuổi Trẻ] Lãng Phí Thời Gian – Căn Bệnh Của Tuổi Trẻ  

“Tích tắc, tích tắc,…” tiếng đồng hồ kêu miên man không ngừng luôn gợi lên cảm thức về thời gian với những người đang ở độ tuổi thanh xuân như tôi, bánh xe cuộc sống ngoài kia vẫn tiếp diễn như vòng quay vốn có của nó, còn ở trong này, tuổi trẻ của chúng ta đang trôi qua không ngừng. Người ta nói chẳng sai: tuổi trẻ có sức khỏe, thời gian nhưng thiếu đi vốn sống và kinh nghiệm, khi lớn khôn từng trải thì lại tiếc vì không còn sức khỏe và thời gian. Ở độ tuổi này, có bao giờ bạn nghĩ về những thứ đã trôi qua mà không thể lấy lại được, những thứ nghĩ lại chỉ còn là những kỷ niệm đẹp nhưng không thể một lần chạm tay với tới, những ước mơ dang dở hay những lời thủ thỉ với người bạn thích mà chưa đủ bản lĩnh để bộc bạch. Trong 1-2 năm, thậm chí 1-2 tuần trở lại đây, chúng ta đều có những niềm nuối tiếc nhất định vì đã bỏ qua cơ hội, vì lãng phí thời gian đang là căn bệnh của tuổi trẻ.
Nhiều bạn sẽ lý luận với tôi rằng tuổi trẻ còn dài, còn nhiều thời gian để làm điều mình thích. Đồng ý là như vậy, nhưng nếu cứ nói như thế thì bạn mãi để tuổi trẻ trôi qua với niềm tin ngày mai sẽ tươi đẹp, khi ngày mai đến sẽ tặng bạn một cái tát và cuốn phăng bạn đi cùng tương lai đen tối mịt mờ. Ở tuổi 18 khi bước chân vào trường đại học, ta lại tiếc những việc đã không thực hiện thời phổ thông, khi ở tuổi 22 chông chênh giữa đời, cầm tấm bằng đại học mà cảm thấy tiếc vì đã không trau dồi các kỹ năng để chọn lấy cho mình một nghề phù hợp, đến khi đi làm 1-2 năm, chúng ta lại tiếc vì đã không theo đuổi đam mê của mình, để mỗi ngày làm việc là 8 tiếng sống rệu rã uể oải. Và đến ngưỡng cuối của tuổi thanh xuân, nhìn lại mới thấy nuối tiếc, mới nói “giá như”. Cái vòng quay luẩn quẩn ấy đang tồn tại trong chính xã hội của chúng ta, cướp đi bao giấc mơ tươi đẹp, cướp đi bao tuổi xuân ngập tràn, và cũng là thứ cản bước tiến của xã hội: sự lãng phí thời gian
Tuổi trẻ thường dễ thỏa hiệp, dễ bằng lòng với những sở thích nhỏ nhặt của mình. Nghĩ lại mà xem, đã bao giờ bạn dự định học tiếng anh, nhưng lại trì hoãn để xem nốt bộ phim mình yêu thích, 1 tháng 30 ngày còn dài, mai học cũng không muộn. Và cứ thế, sau khi xem hết tập 29 thì cũng đã hết tháng, thôi thì lại ừ hữ để tháng sau. Và cứ như vậy, cả 1 năm không nhét nổi một chữ tiếng anh vào đầu. Bạn đã từng mong muốn có một công việc part-time sau khi trở thành anh chị sinh viên ngay từ năm nhất, và bạn lại được nhồi vào đầu tư tưởng năm nhất hãy cứ thỏa sức vui chơi sau 3 năm cày cuốc để vào được ngôi trường danh giá này. Và rồi đến năm thứ 2, thứ 3 mong ước giản đơn ấy vẫn chưa thể thực hiện được, đến khi ra trường, mục kinh nghiệm làm việc chỉ toàn những lời “chém gió” cóp nhặt trên mạng. Tôi đã từng ngại ngùng khi nói lời yêu với cô bạn cùng lớp, để khi cô ấy sánh bước bên người khác, cảm giác buồn bã u uất lại nhói lên trong tôi. Thói quen trì hoãn luôn làm bạn thoải mái và hài lòng trong ngắn hạn, còn trong dài hạn nó đem đến một tương lai mịt mờ u ám. Cả một tuổi xuân màu hồng trở nên xám xịt bởi thói quen trì hoãn, thời gian chẳng đợi chờ ai, còn trì hoãn thì níu giữ ước mơ.
 
Cảm thức về thời gian thực sự không dễ để nhận ra khi còn trẻ. Họ thường bỏ qua những định hướng của thế hệ đi trước, với lý do tôi sống cuộc sống của tôi, đừng ai xen vào cuộc đời tôi, tôi làm những gì tôi thích,… với những dại khờ khát khao của tuổi trẻ, họ sống một cách bản năng thái quá. Điều đó dĩ nhiên tốt, nhưng cần phải xem những cách thể hiện “khát khao, dại khờ” ấy là gì? Nếu chỉ là ngồi lướt facebook đọc những giật gân, tin showbiz, nếu chỉ là ngồi café trà đá chém gió hết một ngày, nếu chỉ là xách xe lên và đi “check-in” với những bức ảnh nhạt nhẽo vô hồn, khát khao được ngủ xuyên màn trưa hay chôn mình trong những cuộc vui vô bổ đầy chất kích thích, thì thật sự quá lãng phí. Người ta chỉ nhận ra sai lầm khi đã trải qua sai lầm, và nhận ra sai lầm khi nhận được những lời khuyên mình từng coi là sai lầm. Và khi nhận ra cái sai, thì một tuổi xuân sai đã qua.

Điều nuối tiếc nhất là không làm được những điều mình thích, là đã không sống trọn vẹn tuổi thanh xuân. Tuổi trẻ chúng ta thật nhiều hoài bão: có một thu nhập thật cao, trở thành ông chủ ở tuổi 25, được vinh danh với những cống hiến cho xã hội, làm những thứ mình thích, yêu người mà mình yêu, đi khám phá thế giới bao la rộng lớn ngoài kia,… Đó chắc hẳn là ước mơ về cuộc sống màu hồng của thế hệ trẻ hiện nay, nghe thì có vẻ giản đơn nhưng thói quen trì hoãn và sự lãng phí thời gian bấy lâu nay đang cản bước chúng ta. Muốn thu nhập cao ư? Nhưng suốt thời đi học lại không chăm lo học hành, toàn tiếp thu những thứ ba lăng nhăng, có thể phán như thánh về những tin showbiz, thuộc vanh vách các bài hot-hit, nhưng lại chẳng thể phân tích nổi một báo cáo tài chính, chẳng thể gõ nổi một dòng code, ròng rã một ngày trời không bán nổi một sản phẩm,… Vậy ai trả thu nhập cao cho một người như thế? Muốn đi phượt qua những cung đường đẹp nhất Việt Nam? Vậy lấy chi phí ở đâu khi vừa ra trường và trên khuôn mặt non troẹt đang hiển hiện hai chữ “thất nghiệp”? Dám yêu ai khi mà đến tương lai của chính mình còn đang không lo nổi? Không có nền tảng cơ sở chính là kết quả của sự lãng phí thời gian khủng khiếp nhất, đến khi bạn nhận ra điều ấy, thì đã muộn. Nhìn bên cạnh những người cùng trang lứa đang có những thành công nhất định lại cảm thấy càng u uất chán nản, tiếc cho một tuổi thanh xuân không trọn vẹn. Nhưng hãy chấp nhận, vì lúc bạn đang thỏa mãn với những sở thích cá nhân tầm thường, thì họ đang chăm chỉ học hành, đọc sách trau dồi kiến thức, lúc bạn vùi mình trong chăn ấm đệm êm sau buổi tối cày phim với ước mơ được như nhân vật chính thì là lúc họ vừa đi làm thêm về với cái dạ dày trống không. Suy cho cùng tất cả đều là trải nghiệm, bạn trải qua sự hài lòng của bản thân, thì họ trải qua những vất vả của cuộc sống, tuy nhiên những vất vả này mới là nền móng cho sự thành công sau này, sử dụng thời gian để tích lũy kinh nghiệm, học tập, làm việc chính là một cách để thành công trong tương lai.
 
Như đã nói ở trên, lãng phí thời gian là căn bệnh của tuổi trẻ, đã là bệnh thì cần thuốc chữa:
 
Mục đích cuộc sống của bạn là gì? Đến năm 30 tuổi bạn sẽ thành người như thế nào? Đã bao giờ bạn tự hỏi câu hỏi này? Tôi cá là nếu hỏi 1000 người thì số lượng người trẻ đáp lại một cách nghiêm túc chỉ đếm trên đầu ngón tay. Phần đông chúng ta sống bản năng và không có mục đích, hoặc chỉ có những mục tiêu trong ngắn hạn: hôm nay phải làm xong bài tập nhóm, tối nay phải đi uống trà sữa, cuối tuần phải đi đâu đó để thỏa mãn đam mê xê dịch… Những mục tiêu đó đương nhiên là tốt, nhưng chúng không có tính tổng thể. Thay vào đó chúng ta nên tự hỏi: Trước năm 30 tuổi tôi sẽ là người như thế nào? Trước năm 30 tuổi tôi sẽ đặt chân đến 100 quốc gia? Tôi sẽ tự do tài chính và mở một nhà hàng vào ngày sinh nhật lần thứ 30 của tôi? Trước năm 30 tuổi tôi sẽ trở thành chuyên gia giỏi nhất trong lĩnh vực của mình? Nếu chỉ đặt mục tiêu trong ngắn hạn sẽ vô tình cản trở tầm nhìn và năng lực của bạn, bạn sẽ chỉ làm những công việc tủn mủn hàng ngày để đạt được mục tiêu hàng ngày, và cứ ngày này qua ngày khác bạn chỉ có tầm nhìn ngắn hạn mà không thể có bước đột phá trong tương lai. Việc xác định được mục tiêu tổng thể, từ đó phân chia ra các mục tiêu nhỏ sẽ khoa học và logic hơn, từ đó thấy được lộ trình cuộc đời, biết được chúng ta đang ở đâu, cần phải nỗ lực như thế nào để đạt được mục đích đề ra. Hãy nhìn xa hơn một chút, đặt mục tiêu cao hơn một chút để phấn đấu, cố gắng, cuộc sống này là của bạn, thời gian của bạn do bạn quản trị, thiết lập trình tự cuộc đời gắn với thời gian là một cách để tránh lãng phí thời gian. Tôi đã chia sẻ điều này với những người thuộc thế hệ mình và nhận được những lời phản biện sáo rỗng như: ngày mai còn chưa biết ra sao huống hồ 10 năm nữa, cần gì nhìn xa thế làm gì hãy sống hết mình ngày hôm nay đã,… Không ai hiểu mình bằng chính mình, nếu bạn không thể mường tượng được mình của những năm tiếp theo thì không ai có thể giúp bạn, bạn sống hết mình ngày hôm nay với những mục tiêu nhỏ bé thì bạn cũng sẽ sớm hết thanh xuân một cách lặng lẽ. Bạn muốn giàu có  hay nổi tiếng, bạn muốn trở thành ông nọ bà kia nhưng bạn lại không dám ước mơ, kể cả cuộc sống hiện tại quá khó khăn nhưng ước mơ không bị tính thuế. Không dám mơ mộng, không dám tưởng tượng, không dám đặt mục tiêu dài hạn là bạn đang vô trách nhiệm với chính tương lai của mình.
 
Thay đổi thói quen là điều không dễ, nhưng bắt buộc phải làm
 
Sống gần xóm trọ sinh viên nên tôi nắm được kha khá về thị hiếu của tầng lớp thế hệ trẻ tri thức ngày nay. Bên cạnh những bạn chăm học, chăm làm, chăm đọc sách, thì không ít bạn trẻ đang tự giết mình bằng những thói quen vô bổ. Có nhiều đám tụ tập ngồi lỳ cả ngày trong nhà đánh điện tử, niềm vui được nhen nhóm trong vài tiếng mà vô tình dập tắt cả tương lai phía trước. Tôi cam đoan vài năm sau khi nếm trải khó khăn của cuộc sống, họ sẽ nghĩ đến những giờ phút chơi game sung sướng ấy và lại nói “giá như”. Có thật nhiều những thói quen xấu đang ngấm ngầm diễn ra và là yếu tố đang hủy hoại tương lai của thế hệ trẻ. Nghĩ về tương lai một cách có trách nhiệm, nhìn vào hiện tại một cách chân thật nhất, thói quen nào tốt, xấu đang ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện mục tiêu cuộc đời, tạo dựng thói quen với tinh thần phấn chấn nhất bằng cách lặp đi lặp lại một việc gì đó trong 3 tuần là có thể trở thành thói quen. Bỏ được thói quen xấu không dễ, nhưng phải làm ngay nếu không muốn tiếp tục lãng phí thời gian. Một số thói quen nên hình thành và duy trì:
  • Duy trì văn hóa đọc. Đọc có 2 loại: Đọc sách để tăng cường tri thức, vì sách chứa đựng những tinh hoa về mặt thông tin được chọn lọc, đọc sách giúp chúng ta hiểu biết hơn. Đọc báo là để tăng cường thông tin, báo khác với sách ở chỗ đọc sách là để nắm được tri thức, đọc báo là để nắm được thông tin ngắn hạn về cuộc sống thường nhật đang diễn ra xung quanh. 2 loại hình bổ trợ cho nhau giúp ta tăng lượng tri thức và thông tin đáng kể.
  • Xê dịch: Đi phượt, đi du lịch khám phá là một cách để học hỏi về văn hóa, các giá trị sống của cộng đồng, cũng là khám phá chính bản thân mình, giao lưu kết bạn, mở rộng quan hệ xã hội, thay đổi môi trường giúp làm tươi mới cuộc sống thành thị.
  • Viết lách: Không hẳn là viết một bài dài mấy nghìn từ, mà đơn giản hãy ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ của bạn vào facebook hoặc cuốn sổ nhỏ, để lưu lại những kỷ niệm vì cảm xúc luôn dẫn lối cho ngòi bút, tư duy ngôn ngữ ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng giao tiếp, thuyết trình trước đám đông.
  • Tìm cách giải quyết mọi vấn đề: Không biết phải hỏi, nhưng trước khi hỏi, hãy tự tìm hiểu, hãy phát huy tính tự lập trong tư duy, chỗ nào khó quá thì hãy hỏi, từ đó ta nắm chắc vấn đề hơn do đã có sự tìm hiểu trước đó, thậm chí còn tìm ra giải pháp tốt hơn để giải quyết vấn đề.
  • Related image
“Just do it!”
Khi mục tiêu tổng thể đã được thiết lập, những mục tiêu con đã được hoạch định. Thì bước tiếp theo “Just do it!”. Hãy thực hiện nó. Tôi quen một chị khóa trên có đam mê làm bánh nhưng lại chọn công việc văn phòng 8 tiếng/ngày vì mong muốn của gia đình, chị đặt mục tiêu mở được một cửa hàng bánh trước khi về hưu. Bằng ước mơ và tài năng, chị bỏ ngang công việc nhàm chán và tự kinh doanh riêng, mở hiệu bánh của riêng mình ngay ở độ tuổi 26 đầy khó khăn do thiếu kinh nghiệm và vốn, nhưng với suy nghĩ cứ làm là tới. Đáp lại những vất vả khi theo đuổi đam mê, năm 30 tuổi chị không chỉ duy trì một cửa hiệu có tiếng, mà đã phát triển thành một chuỗi các cửa hàng trên khắp Việt Nam, hiện đang hoàn thiện nốt một số thủ tục để xuất khẩu ra thế giới. Muốn hưởng quả ngọt bùi ngày mai thì phải trải qua sự cay đắng hôm nay, đặt mục tiêu thì dễ nhưng khi thực hiện mới nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, cần trải nghiệm và kiến thức để vượt qua khó khăn. Nhưng đừng ngại ngần mà không làm tới, trưởng thành là cả một quá trình lao động và tích lũy giá trị sống, còn tuổi trẻ thì hữu hạn, hãy xông pha, dám làm hết sức, dám làm tới để thực hiện ước mơ, hoàn thành, thậm chí rút ngắn thời gian để đạt được mục tiêu ấy. Muốn tỏa sáng vào ngày mai, thì hôm nay bạn phải lấp lánh rồi.
 
 
Sử dụng thời gian một cách hiệu quả, câu nói này đã có quá nhiều người nói. Nhưng tôi vẫn muốn lặp lại và nhắc các bạn trẻ hãy sống, hãy yêu, hãy vui chơi và làm việc hết mình vì tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất, để khi nhìn lại chúng ta không hối tiếc vì những gì đã qua. Ngay hôm nay, hãy đặt cho mình những mục tiêu dài hạn, chia nhỏ chúng ra, thực hiện bằng tất cả đam mê và nhiệt huyết của tuổi trẻ, bằng mọi cách phải thực hiện cho kỳ được ước mơ của mình. Dừng mọi thói quen xấu và tập những thói quen tốt. Dẫu có khó khăn thì phải vượt qua, không chạy được thì đi, không đi được thì lết, bằng mọi giá phải tiến về phía trước. Tuổi thanh xuân ngày càng thu hẹp lại, chúng ta ngày càng lớn khôn, sống vội, sống gấp để mỗi ngày trôi qua là một ngày đẹp, để cả tuổi xuân tràn ngập hạnh phúc và thành công.
 
Tác Giả: Antonov,
 
Related image

"Thời gian là một ngọn lửa thiêu đốt ta. 
                                         Nhưng chính ta là ngọn lửa." 
                                                    Jorge-Luis Borges

Image result for Thời Gian photos

  Phiếm Luận Về Thời Gian 

Từ lâu tôi vẫn bị ám ảnh bởi vấn đề thời gian.

Nhưng gần đây, khi bắt đầu "trông tuổi già bóng xế", tôi bỗng cảm thấy vấn đề trở thành gay go và cấp bách. Mình không còn lại bao nhiêu thời gian nữa, tôi tự bảo, cho nên phải cố gắng tận dụng tất cả thời gian còn lại. Để làm gì? Để suy nghĩ về một số vấn đề hệ trọng, bắt đầu bằng vấn đề thời gian.

Bởi vì nếu hiểu được thời gian, thì biết đâu...

Biết đâu đó chẳng phải là một chìa khóa mở rộng ra bao nhiêu cánh cửa, bao nhiêu con đường, bao nhiêu chân trời mới? Và nếu giải đáp được bài toán trong những bài toán, vén được màn bí mật trong những bí mật của cuộc đời, thì biết đâu chẳng có hy vọng tự đưa mình... thoát khỏi thời gian?

Tôi biết đó là một điều không tưởng, một hành trình mạo hiểm mà trên đó đã bao nhiêu người vấp ngã và đắm chìm.

Một người bạn đã nhìn tôi ái ngại: "Mày mà suy nghĩ về thời gian thì có ngày phát điên mất. Tao bắt đầu lo cho mày..."

Tôi cảm ơn anh bạn, nhưng cũng thầm nghĩ: Cần gì phải lo? Cùng lắm thì phát điên, nhưng điên vì một lý do vô cùng chính đáng, một vấn đề đã từng ám ảnh bao nhiêu thế hệ thi sĩ, triết gia và khoa học, một vấn đề mấu chốt nằm giữa lòng cuộc sống. Còn nếu hiểu được rõ hơn thời gian, thì biết đâu mình sẽ làm chủ được phần nào thời gian, hay ít ra làm bạn được với thời gian, trong mình?...

  Thời Gian là gì ?  

Mỗi giây phút trôi qua là thời gian. Trong khi tôi viết hay đọc những giòng này, thời gian đã đi qua. Có thời gian thì mới có di chuyển, động tác, nhưng ngay cả im lìm, bất động cũng cần có thời gian. Phải có thời gian mới có hiện hữu.

Người ta vẫn quen nhìn thời gian như một định luật đưa tới già nua, tàn tạ, hủy diệt, nhưng không mấy ai nghĩ rằng chính nhờ có thời gian nên mới có tác động, hiện hữu, nẩy sinh. Nếu không có thời gian, thì sẽ không bao giờ có sự sống. Không có sự hình thành của trái đất, hơn mười tỷ năm sau tiếng "Big Bang", không có sự kết hợp của các phân tử thành các cơ thể đơn bào, rồi đa bào, không có sự xuất hiện của các loài cỏ cây, cầm thú, không có sự tiến hóa liên tục cho tới loài người, với bộ óc tinh vi, sáng tạo. Đó là những thành quả của sự tiến hóa không ngừng của vạn vật, tức là những thành quả của thời gian.

Và chỉ cần có một sự đổi thay vô cùng nhỏ bé trong định luật thời gian, cũng đủ đưa tới muôn ngàn đảo lộn trong cuộc sống hàng ngày: xe cộ đâm nhau, tiếng nói lắp bắp, tim đập loạn xạ, hình ảnh nháo nhào, tư tưởng lộn xộn, v.v.... Không thể nào tưởng tượng nổi không có một định luật bất di bất dịch của thời gian. Phải chăng đặc điểm của thời gian chính là điều đó, vừa biến động, vừa bất biến, biến động trong hiện tượng, nhưng bất biến trong nguyên lai?

Nếu có một đấng Thần linh Tối thượng, thì tôi nghĩ không phải là thần Sấm, thần Chớp, thần Mưa, thần Sinh nở, v.v... mà là thần Thời gian, bởi vì chỉ có thời gian mới bao trùm và chế ngự tất cả. Thay vì chúng ta than vãn, ca cẩm thời gian mỗi ngày đục phá, gậm nhấm cuộc đời, thì có lẽ chúng ta nên ca tụng Thời gian chính là đấng Tạo hóa, là tác giả tối hậu của mọi hiện hữu trong thế giới này. Có thời gian là có tất cả. Nếu có thời gian, tôi có thể làm được mọi thứ, kể cả trở thành bất tử !

Thật ra, thời gian không phải là một, mà là hai: đó vừa là một định luật tự nhiên, khách quan, bao trùm thế giới, vừa là một khái niệm chủ quan của con người đơn độc. Bởi vì chỉ có con người mới có ý thức về thời gian. Con người là sinh vật duy nhất biết rằng mình sẽ chết, và biết rằng thời gian liên tục trôi qua.

Nhưng cái khổ của con người cũng nằm trong ý thức về thời gian đó, hay đúng hơn trong ý thức về khoảng cách giữa hai loại thời gian. Thời gian vật lý thì vô tình, giá lạnh, đi trên một con đường thẳng tắp, đều đặn như một cái máy (tuyệt hảo bởi vì không bao giờ hư!), tạo tác và phá hủy mọi sinh vật, mọi hiện hữu. Trong khi đó thời gian tâm ly ù lại hữu tình, nóng bỏng, quay theo một hình tròn, lúc nhanh lúc chậm, với bao nhiêu kỷ niệm nhớ thương về dĩ vãng, cũng như bao nhiêu dự trù lo lắng cho tương lai. Chúng ta hãy lắng nghe tiếng vang của thời gian trong tâm hồn người thi sĩ.

 

Vậy thời gian là gì nhỉ? Làm thế nào hiểu được thời gian? Có thể nào hiểu được thời gian?

Bởi vì còn gì dễ cảm thấy hơn thời gian, nhưng cũng còn gì khó hiểu hơn thời gian!

Thời gian có mặt ở khắp nơi, nhưng cũng không tìm thấy ở nơi nào. Trong mỗi tia nắng, trong mỗi tiếng chim, trong từng ngọn cỏ, đều có thời gian. Trong mọi niềm vui, trong từng nỗi nhớ, trong mỗi ước mơ, đều có thời gian. Thời gian vừa ở bên ngoài, vừa ở trong lòng ý thức.

Có thể nói rằng đâu đâu cũng có mặt thời gian, cũng như đâu đâu cũng có mặt không gian. Nhưng thời gian mới thực là vô cùng bí hiểm. Bởi vì không gian nằm sờ sờ ra đấy, chỉ cần mở mắt ra là nhìn thấy, giơ tay ra là nắm bắt được, tha hồ tác động vào. Nhưng còn thời gian? Tìm thời gian ở đâu, dù đập tan bình cát đo thời gian hay tháo hết những đinh ốc đồng hồ, cũng không thể nào tìm thấy thời gian trong đó. Thời gian bàng bạc khắp nơi, nhưng cũng không trú ngụ nơi nào.

Related image

 Thời gian đối với nhà thi sĩ 

Related image

Chúng ta thử tự hỏi: nếu không có thời gian, thì liệu còn có bao nhiêu vần thơ và bao nhiêu nhà thi sĩ? Nói một cách khác: giả sử các nhà thi sĩ quên đi mọi kỷ niệm, thì liệu còn có lý do gì để làm thơ?

Tôi chắc rằng lúc bấy giờ chỉ còn lại một loại thơ: đó là thơ Thiền. Bởi vì chỉ có nhà thơ Thiền mới làm thơ về hiện tại, còn đa số các nhà thơ đều sống về dĩ vãng, về kỷ niệm, về tuổi thơ, với bao nhiêu nhớ nhung, tiếc nuối.

Là thi sĩ, theo tôi, không phải là "Say với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây", như lời của Xuân Diệu. Là thi sĩ, chính là mang trong tiềm thức một bồ kỷ niệm, và một bầu cảm xúc đi đôi với những kỷ niệm đó. Và lời thơ, chính là nguồn cảm xúc dâng trào, quyện vào với kỷ niệm, dội lên thành thơ.

Để ý kỹ, chúng ta sẽ thấy đa số những từ ngữ, khái niệm, hình ảnh trong các bài thơ đều liên quan tới dĩ vãng như: "nhớ nhà ... quên lãng ... kỷ niệm ... xa xưa ... cố hương ... dấu chân ... lần cuối ... dở dang ... lỗi hẹn ... bến cũ ... biệt ly ... vấn vương ... bụi thời gian ... thuở nào ... xa vắng ... nhớ nhung ... nắng cũ ... mòn mỏi ... phai màu ... ước hẹn ... hao mòn ... ngừng trôi ... chia phôi ... hoài cảm ... ấu thơ, v.v..."

Chẳng hạn như bài văn đầy âm điệu sau đây của Đinh Hùng, cũng mang bao nhiêu hình ảnh của quá khứ, của thời gian: "Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này, nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng cung nữ đời xưa, và trong vườn nhà ai thấp thoáng hoa phù dung buổi sáng nở trắng như một tâm hồn còn tre û. Nắng ở đây vẫnlà nắng ngày xưa, và linh hồn tôi vẫnlà linh hồn năm trước. Đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và may cũng thấy thu về để nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đằng kia hay đó chỉ là gió thoảng mong manh, và gió nào vương vấn hồn tôi hay đó chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ?"

Cũng như trong những vần thơ của Apollinaire, vẫn còn phảng phất hương vị của thời gian, của một mùa thu thương nhớ:

"J'ai cueilli ce brin de bruyère, 
L'automne est morte souviens-t'en. 
Nous ne nous verrons plus sur terre, 
Odeur du temps brin de bruyère, 
Et souviens-toi que je t'attends."

(Anh đã hái một cành hoa thạch thảo, 
Mùa thu đã chết em nhớ chăng. 
Thế giới này đôi ta vĩnh biệt, 
Hương thời gian hoa thạch thảo, 
Em ơi hãy nhớ, anh chờ em.)

Nếu không phải là nhớ thương, thì nhà thơ cũng mang nặng trong mình một mối sầu vạn cổ, cũng như TrầnTử Ngang đã không ngăn được xúc động khi ngẫm tới thời gian, tới không gian vô tận, bên cạnh kiếp người ngắn ngủi, nhỏ bé vô cùng:"Tiền bất kiến cổ nhân, 
Hậu bất tri lai giả. 
Niệm thiên địa chi du du, 
Độc thương nhiên nhi thế hạ."

(Ai người trước đã qua? 
Ai người sau sắp tới? 
Ngẫm trời đất không cùng. 
Một mình rơi giọt lệ.)

Và thời gian đối với nhà thi hào Lý Bạch cũng như giòng nước lạnh lùng trôi qua, không làm sao ngăn chận được, cũng như nỗi buồn của số phận làm người không thể nào làm tan đi trong men rượu:"Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu. 
Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu."

(Rút gươm chém nước, nước trôi, 
Tiêu sầu nhấc chén, lại dôi nỗi sầu.)

"Quân bất kiến, Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai, 
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi. Hựu bất kiến 
Cao đường minh kính bi bạch phát, 
Triêu như thanh ti mộ thành tuyết..."

(Bác chẳng thấy, con sông Hoàng lưng trời tuôn nước, 
Xuống biển rồi có ngược lên đâu? Lại chẳng thấy 
Đài cao soi gương buồn tóc bạc, 
Sáng xanh tơ mà tối đã như sương...)

Sinh ra, già đi, chết đi ... Con người như một chiếc thuyền mỏng manh, lênh đênh trên biển cả, không biết trôi dạt nơi đâu, mà cũng không thả neo được giờ phút nào, cũng như lời năn nỉ của Lamartine khi muốn níu kéo lại những khoảnh khắc êm đẹp nhất của cuộc đời:"Ainsi, toujours poussés vers de nouveaux rivages, 
Dans la nuit éternelle emportés sans retour, 
Ne pourrons-nous jamais sur l'océan des âges, 
Jeter l'ancre un seul jour? 
(...) Ô temps! suspends ton vol, et vous, heures propices! 
Suspendez votre cours. 
Laissez-nous savourer les rapides délices 
Des plus beaux de nos jours !

(Thuyền vô định lênh đênh trôi mãi 
Trên biển đời trong suốt đêm thâu 
Biết chăng trong kiếp sống này 
Bao giờ mới được có ngày thả neo? 
(...) Thời gian hỡi, ngừng ngay cánh lại! 
Giờ phút êm, xin hãy ngừng trôi. 
Hãy cho ta hưởng một thôi, 
Những ngày tươi đẹp nhất đời của ta!)

Ôi, nhà thi sĩ mới ngây thơ làm sao, bởi vì chỉ cần hỏi lại câu: "Muốn thời gian ngừng lại trong bao nhiêu lâu?" là đã thấy mình vô lý đến sượng sùng! Nếu thời gian ngừng lại, thì không có thời gian. Mà nếu không có thời gian, thì làm gì có ai mà tận hưởng, có cái gì mà tận hưởng? Chỉ còn cách xin thời gian trôi qua, nhưng riêng ta thì vẫn như vậy, không chút đổi thay. Ôi vẫn cái ta, vẫn cái thường là nguồn gốc của mọi khổ đau...

Và liệu có gì là thường còn? Trong bầu không khí hừng hực đấu tranh cho tự do tín ngưỡng, nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã kêu lên:

 "Rồi đây... rồi mai sau còn...chi? 
Ngọc đá cũng thành tro, lụa tre dầu mục nát. 
Với thời gian lê vết máu qua đi, 
Còn mãi chứ, còn trái tim Bồ Tát. 
Dội hào quang xuống tận chốn A Tỳ,(...)"Tất cả rồi cũng sẽ trở thành tro tàn, cát bụi. Tác phẩm nào tuyệt tác đến đâu chăng nữa cũng sẽ bị thời gian phá hủy, ngoại trừ... Ngoại trừ tấm gương hy sinh cao cả của các đấng Bồ Tát, bởi vì được truyền tụng từ thế hệ này qua thế hệ khác, nên đã vượt khỏi thời gian.

Nói tóm lại, thời gian đối với nhà thi sĩ là một điều chủ quan tới tột độ, vừa là một mối sầu vạn cổ, một nỗi nhớ thương man mác, và một niềm đau ray rứt đê mê (une douleur exquise). Đó không phải là một cái gì trừu tượng mà là một sự thực sống động, không ngừng vang dội trong chiều sâu tâm thức. Nhà thơ biết mình không tránh khỏi thời gian, chịu đau cái nỗi đau thời gian, nhưng không thể nào từ bỏ được nó. Bởi vì nỗi đau thời gian đó chính là mình, nó đã trở thành mình...

Image result for thoi gian photos

  Thời gian đối với nhà triết học  
Thời gian không phải chỉ là một nỗi đau, mà còn là một câu hỏi không ngừng dằn vặt con người, qua bao nhiêu thế hệ.

Câu hỏi đó không chỉ nằm trong phạm vi những lý luận siêu hình của nhà triết học, cũng như lời của Bachelard : "Suy nghĩ về thời gian là công việc đầu tiên của mọi siêu hình học". Nó bắt nguồn từ chiều sâu tâm thức của mỗi người, như một ngọn lửa âm ỉ nhưng cũng có thể bùng cháy lên bất cứ lúc nào, thúc đẩy bởi một sự bức thiết nội tâm. Cũng như trước "cái chết", và "sự sống", con người không thể nào thoát ra khỏi sự ám ảnh của "thời gian"...

Từ cổ xưa, người ta đã ý thức về thời gian qua những quan sát về sự đổi thay trên thế giới. Đối với người Trung Hoa, mọi sự vật đều biến chuyển theo những định luật tự nhiên, tức là luật biến hóa của vũ trụ, được Khổng Tử chép lại trong Kinh Dịch : từ Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi, sinh ra Tứ tượng, Bát Quái, cho tới 64 Quái, với Ngũ Hành tương sinh tương khắc, sinh ra vạn vật. Lão Tử trong Đạo Đức Kinh, cũng vạch rõ những biến chuyển tự nhiên của vũ trụ, nhưng khuyến cáo con người không nên cưỡng lại mà nên thuận với những biến đổi tự nhiên đó.

Ảnh hưởng của đạo Lão và Phật đã mang lại cho nền văn minh Trung Hoa một lối nhìn siêu thoát về thời gian, cũng như trong bài Tiền Xích Bích Phú của Tô Thức : "...Bác có biết nước và trăng không ? Nước chảy thế kia mà chưa từng đi bao giờ, mặt trăng khi tròn khi khuyết như vậy mà chưa từng thêm 
bớt bao giờ. Bởi vì ta tự ở nơi biến đổi mà xem ra, thì cuộc trời đất cũng chỉ ở trong một cái chớp mắt ; mà nếu ở tự nơi không biến đổi mà xem, thì muôn vật cùng với ta đều không bao giờ hết cả..."

Tại Tây phương, triết lý ngay từ ban đầu đã luôn luôn dao động giữa hai khuynh hướng của tư tưởng cổ xưa Hy Lạp : giữa "tất cả đổi thay" theo Héraclite, và "tất cả bất biến" theo Parménide.

Đối với Héraclite, đặc tính của cuộc sống là sự lưu chuyển không ngừng của sự vật ( panta rhei ) : "Người ta không bao giờ tắm hai lần ở một giòng sông". Điều đó nằm trong định luật chung của vũ trụ gọi là logos, bao trùm và tác động trên tất cả mọi hiện tượng trên thế gian. Tất cả luôn luôn biến 
đổi, cái này đưa tới cái kia, vừa chống đối nhau vừa nẩy sinh ra nhau, như "sáng / tối", "nóng / lạnh", "ngày / đêm".

Ngược lại, Parménide cho rằng sự có mặt (être) là vĩnh cửu, và tất cả đổi thay chỉ là những vẻ bên ngoài. Cũng trong chiều hướng này, Platon chủ trương bên cạnh thế giới hiện tượng đổi thay, còn có thế giới của Tư Tưởng, của Linh Hồn, một thế giới vĩnh cửu bất biến, vượt khỏi thời gian. Thời gian đương nhiên trở thành "hình ảnh chuyển động của sự vĩnh cửu bất động" (image mobile de l'éternité immobile).

Đối với Aristote, thời gian cũng như sự chuyển động mang một tính chất vĩnh cửu, vô thủy vô chung. "Thời gian là thước đo của sự chuyển động (mesure du mouvement), giữa trước và sau ; thời gian liên tục, bởi vì thuộc vào sự liên tục". Chỉ có thời gian hiện tại mới là thời gian thực sự.

Theo trường phái Khắc Kỷ (Stoiciens), thời gian không có thực chất, nhưng "mọi sự vật hiện hữu và chuyển động chính ở trong thời gian". Thời gian nằm trong cuộc sống của thế giới, tức là của Tạo Hóa, bởi vì vũ trụ chính là Thiên Nhiên, là Tạo Hóa. Do đó, nhà hiền triết khắc kỷ tuân theo và chấp nhận thời gian, sống phù hợp với thời gian, để hòa đồng với Tạo Hóa. Trong một lá thư cho học trò mình, Sénèque viết : "Không có gì thuộc về ta cả, Lucilius ạ. Chỉ có thời gian là của ta. Cái tài sản thoáng qua và trơn tuột đó là điều duy nhất mà Tạo Hóa đã tạm trao cho chúng ta"...

Ngược lại với quan điểm này, Epicure định nghĩa thời gian như "tai nạn của những tai nạn" (accident des accidents). Khác với không gian, thời gian tự nó không là gì, nó không thuộc vào cấu trúc của thế giới, mà là do những nguyên tử và không gian tạo thành. Thời gian không phải là một thực thể, và 
sở dĩ con người cảm thấy thời gian là nhờ ở những biến đổi của sự vật. Do đó, người ta có thể tránh né thời gian được, bởi vì luôn luôn có khả năng thoát khỏi bằng cách nhớ tới một khoảng thời gian khác. Ngay trong khi bị tra tấn hành hạ, người ta cũng có thể cảm thấy hạnh phúc bằng cách nhớ tới những giây phút hạnh phúc trong quá khứ. Thời gian không xâm phạm được vào nhà hiền triết, bởi vì chỉ là một cái gì lướt qua và không tồn tại được.

Related image

Vào thời kỳ Trung cổ, Thánh Augustin đã đưa ra những nhận định sâu sắc về thời gian :

"Thời gian là gì ? Nếu không ai hỏi tôi về thời gian, thì tôi biết rõ ; nhưng khi cần phải giải thích thì tôi không còn biết thời gian là gì.

Tuy vậy, tôi dám mạnh bạo quả quyết rằng, nếu không có gì xảy ra, sẽ không có thời gian đi qua ; nếu không có gì xẩy đến, sẽ không có thời gian sắp tới ; nếu không có gì hiện hữu, sẽ không có thời gian hiện tại.

Nhưng hai thời gian này, quá khứ và tương lai, làm sao chúng có mặt được, nếu quá khứ không còn nữa và tương lai chưa tới ? Ngay cả hiện tại, nếu luôn luôn còn đó, không mất đi trong quá khứ, nó sẽ không phải là thời gian ; nó sẽ là vĩnh cửu. Vậy, nếu hiện tại muốn là thời gian, phải mất đi trong quá khứ, thì làm sao chúng ta có thể khẳng định rằng nó cũng có mặt, khi mà lý do duy nhất của sự có mặt này chính là sự không còn nữa ? Thành thử thực ra nếu chúng ta có thể nói rằng thời gian có mặt, thì chính là bởi vì nó đi vào không-có mặt".

Đó chính là nghịch lý của thời gian : quá khứ không còn bởi vì đã qua rồi, tương lai không có bởi vì chưa tới, chỉ có hiện tại là có thật, nhưng hiện tại phải biến mất ngay mới là hiện tại, bởi vì chỉ cần kéo dài một chút đã trở thành quá khứ ...

Như vậy, theo Augustin, không hề có 3 loại thời gian (quá khứ, hiện tại vàtương lai), mà chỉ có 3 thể của thời gian, đồng thời có mặt trong ý thức con người. "Cả 3 thể của thời gian đó đều có mặt trong ý thức, và tôi không thấy chúng ở nơi nào khác". Ông cũng nêu lên một câu hỏi mấu chốt : "Làm sao tôi có thể vừa có mặt trong hiện tại, vừa có đủ tầm nhìn để thấy rằng thời gian trôi qua ?".

Đối với Pascal, thời gian thuộc vào những gì không thể định nghĩa được, vàdù thế nào định nghĩa cũng vô ích. Leibniz cho rằng thời gian cũng như không gian, là những gì hoàn toàn tương đối, không có thực thể : không gian là "trình tự của những gì có khả năng cùng có mặt" (ordre des coexistences possibles), trong khi đó thời gian là " trình tự của những gì có khả năng kế tiếp nhau" (ordre des successions possibles), nhưng có liên hệ với nhau. Đó chính là một vấn đề nan giải của thời gian, bởi vì làm thế nào giải thích được tính chất đôi của thời gian, vừa là kế tiếp vừa là liên tục, vừa phân biệt vừa bao gồm những giây lát hình thành nó? Nếu tôi bị thời gian cuốn đi theo dòng hiện tượng, thì làm sao tôi nghĩ được về thời gian ? Nhưng nếu tôi chỉ là người đứng nhìn bàng quan, thì tôi đã bị tách ra khỏi thời gian mất rồi.

Kant, triết gia của thế kỷ Ánh Sáng, cho thời gian đóng một vai trò quan trọng hơn, vì là một hình thái phổ biến cho phép con người nhận biết được các hiện tượng. Kant quan niệm rằng thời gian không phải là một khái niệm xuất phát từ kinh nghiệm, nhưng đã có trước kinh nghiệm, cũng như không gian. Cả hai là những hình thái tiên nghiệm ( a priori ) của cảm giác, thuộc về trực giác và phát xuất từ chủ thể. Chỉ với giả thuyết đó người ta mới có thể cảm thấy được sự đồng thời hoặc kế tiếp của mọi hiện hữu. Thời gian không phải là một ý niệm, mà là một trực giác thuần túy, bởi vì chỉ có một không gian và một thời gian, vô biên và bao gồm tất cả các không gian vàthời gian đặc biệt. Kant coi không gian và thời gian là những "thực thể theo kinh nghiệm", bởi vì vừa có hậu quả khách quan, vừa là chủ quan, bởi  vì chúng là những hình thái của trực giác. Sự chủ quan này chính là một "tính lý tưởng siêu nghiệm" (idéalité transcendantale), điều khiển tất cả các tri thức nói chung và là điều kiện của sự hiểu biết.

Đối với Hegel, thời gian có ba kích thước : 1. quá khứ, là sự hiện hữu như bị xóa bỏ, như không có mặt ; 2. tương lai, là sự không-có-mặt, nhưng tất định có ; 3. hiện tại, là sự trở thành lập tức, và sự kết hợp của hai cái trên. "Chỉ có thời gian khi có lịch sử, tức là có sự hiện hữu của con người... Con người ở trong thời gian, và thời gian không có ngoài con người ; do đó con người chính là thời gian và thời gian chính là con người".

Nhưng bám sát chiều hướng lịch sử một cách quá đáng cũng có hại cho cuộc sống, theo Nietzsche : "Con vật sống một cuộc đời không có lịch sử... Ngược lại con người vì tựa mình vào gánh nặng mỗi ngày một gia tăng của quá khứ, nên bị nó đè lên mình và đẩy xiêu hướng đi, làm chậm bước như một gánh nặng vô hình của bóng tối".

Thời gian cũng có thể bao gồm tất cả. Đó là quan điểm của Bergson, người đã xây dựng nên một triết lý hoàn toàn dựa lên thời gian. Đó không phải là thời gian của khoa học, của vật lý, của máy móc, của đồng hồ, không phải thời gian được đo tính, phân tích, mổ xẻ, chuyển đổi thành không gian. Mà là thời gian được con người sống và cảm nhận. Thời gian thực sự là thời gian của chiều sâu tâm hồn, một khoảng thời gian có bề dầy, co giãn linh động, mang tới những cảm giác mạnh mẽ, có chất lượng và không thể thay bằng số lượng. Đó là một dữ kiện trực tiếp của ý thức (donnée immédiate de la 
conscience), vượt khỏi ngôn từ, lý luận, và chỉ có thể cảm nhận bằng trực giác. Đối với Bergson, "Thời gian là sáng tạo, hoặc không là gì hết".

Thời gian tính (temporalité) giữ một vị trí trung tâm trong triết lý của Heidegger. Bởi vì con người trước hết là "có mặt ở thế gian" ( être-au-monde ) cho nên tự định nghĩa là sự lo lắng, và sự lo lắng chỉ có 
thể có trong thời gian, tức là điều kiện tối hậu. Thời gian tính là bản chất sủa sự hiện hữu chân thực. Thời gian đối với con người không phải ở bên ngoài, nó không phải là một cái gì bên ngoài đâm bổ vào chúng ta, để bắt chúng ta phải tuân theo luật của nó, và hủy hoại chúng ta nếu cần. Và sự có mặt, bởi vì chính nó là thời gian tính, cho nên cũng là lịch sử tính (historicité).

Jules Lagneau cho rằng không gian và thời gian không thể tách rời nhau được, trừ khi bằng cách trừu tượng hóa. "Không gian và thời gian là sự chuyển động được trừu tượng hóa". Nhưng nếu không gian và thời gian đều là bằng chứng của sự tùy thuộc của ta vào sự vật, thì cũng có những sự khác biệt giữa hai khái niệm này : "Không gian là dấu hiệu của quyền lực của ta. Thời gian là dấu hiệu của sự bất lực của ta". Bởi vì, theo Alain, học trò của ông, "Cảm nhận thấy không gian, tức là biết mình đang ở đâu, và sẽ tới đâu lát nữa, nếu muốn. Trong khi đó, nếu mình muốn tới ngày hôm sau, thì chỉ có một cách là chờ đợi. Vì vậy cho nên không có sự cảm nhận về thời gian".

Như vậy, quan niệm của triết học về thời gian mỗi ngày một thêm phức tạp, và có lẽ đã đi tới một ngõ cụt không thể nào tiến xa hơn được. Triết học ngày nay quanh đi quẩn lại, nghĩ tới nghĩ lui, rồi rốt cuộc cũng như thể "con rắn tự cắn đuôi mình", hay "con kiến mà leo cành đào"... trong câu ca dao nọ.

Không tìm thấy giải đáp nơi triết học, con người hiện đại thường quay về phía khoa học, với hy vọng vén được màn bí mật về thời gian, nhờ những khám phá mới nhất của vật lý và sinh học.

 Thời gian dưới mắt nhà khoa học. 
* Đo tính thời gian.

Từ lâu, người ta đã tìm cánh đo tính thời gian, là một yếu tố quan trọng trong sự giao tiếp giữa những con người.

Ví dụ như nếu muốn có một đứa bé một ngày kia chào đời, thì ít ra cũng phải có một cuộc hẹn hò giữa một cặp tình nhân, ở một thời điểm nào đó. Nếu không đo tính được thời gian, thì làm gì có hẹn hò, có gặp gỡ, có nên vợ nên chồng, sinh con đẻ cái. Làm gì có những sinh hoạt xã hội, như mua bán, hội hè, thi cử, thể thao, ca nhạc và ngay cả luộc một quả trứng gà cũng không xong !

Ngay từ cổ xưa, con người đã biết dùng những phương tiện giản dị, gần thiên nhiên để đo tính thời gian : bằng bóng mặt trời xoay quanh nhật bàn (cadran solaire), những giọt nước chảy tí tách trong lậu hồ (clepsydre), hay những hạt cát trôi dần trong bình cát (sablier). Thuở ấy, thời gian được đo tính một cách mơ hồ, nhưng đầy thơ mộng.

Đến khi đồng hồ xuất hiện tại Âu châu vào thời kỳ Phục Hưng, thì thời gian bắt đầu trở nên máy móc và khô khan. Lúc đầu còn nghe tiếng "tích tắc" của đồng hồ quả lắc, tiếng chuông đánh "boong", tiếng chim kêu "cú cu". Nhưng chẳng bao lâu đồng hồ đã im tiếng, đã mất cả những chiếc kim lân tinh, những chiếc rubis quí giá, và chỉ còn là một bản số điện tử trống rỗng, không hồn.

Nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đo tính thời gian đã trở thành mỗi ngày một thêm chính xác. Với đồng hồ cơ khí và đồng hồ tự động, người ta có thể nhanh chậm một vài giây trên một ngày, trong khi đó đồng hồ quartz chỉ còn sai một vài giây trên một tháng, và đồng hồ nguyên tử một giây trên một 
triệu năm ! Thời kế tự động, rồi thời kế quartz đã cho phép đo được những khoảng cách vô cùng ngắn ngủi, cho tới một phần triệu giây (nanoseconde). Và bắt đầu từ năm 1967, một giây được định nghĩa như "thời hạn của 9192631770 chu kỳ sóng từ điện được phát hoặc hấp thụ bởi một nguyên tử césium 133 khi chuyển từ một mức độ năng lượng này tới một mức độ khác " ! Và từ năm 1983, một mét được định nghĩa như "chiều dài của con đường mà ánh sáng đi qua khoảng trống trong thời gian 1/299792458 giây" !

Còn gì chính xác hơn là định nghĩa khoa học, nhưng đo được thời gian, dù chính xác tới đâu chăng nữa, vẫn chưa phải là hiểu được thời gian...

Image result for thoi gian photos

* Liên hệ giữa không gian và thời gian.

Thực ra, phải đợi đến Galilei con người mới bắt đầu đi vào khoa học, nhờ sự khám phá những định luật nối liền sự chuyển động với thời gian. Với lòng tin sắt đá rằng "thiên nhiên viết bằng ngôn ngữ toán học", Galilei đã khai phá cho con người con đường tìm hiểu thiên nhiên, qua những áp dụng toán 
học vào vật lý học.

Với định luật "vạn vật hấp dẫn" (gravitation universelle), Newton mở ra cho khoa học một kỷ nguyên mới, một hệ thống cơ khí mà trong đó mỗi chuyển động trong không gian đều phải tuân theo định luật một cách chính xác, từ một trái táo tới một ngôi sao. Cơ khí của Newton dựa lên giả thuyết có một 
không gian độc nhất, cùng tính chất khắp nơi, và một thời gian tuyệt đối, độc nhất. Thế giới của Newton như vậy có bốn chiều : ba chiều để tả không gian, và một chiều là thời gian. Đặc điểm của chiều thời gian là người ta không thể nào di chuyển được trong đó, và cũng như không gian, không thể 
nào suy tư được trên đó, bởi vì cả hai là những định nghĩa tiên nghiệm (définitions a priori ) làm nền tảng cho vật lý học.

Einstein không đặt vấn đề thời gian như một điều tiên nghiệm, nhưng lưu ý tới khoảng thời gian đo giữa hai sự kiện, bởi những quan sát viên ở những hệ quy chiếu (référentiels) khác nhau. Ông cho thấy rằng những khoảng thời gian đó khác nhau. Thời gian như vậy tùy thuộc vào hệ quy chiếu được chọn, 
và không còn được coi là tuyệt đối.

Người ta thường lấy câu chuyện hai anh em sinh đôi của Langevin để minh họa tính chất tương đối của thời gian : một trong hai người phiêu du trong không gian trong một không thuyền với một tốc độ gần tốc độ ánh sáng, trong khi người kia ở lại trái đất. Thời gian đối với người đi nhanh sẽ chậm hơn người ở lại tại chỗ, và sau một thời gian, người đi xa trở về sẽ trẻ hơn người ở lại. (Như vậy, biết đâu chẳng giải thích được một cách khoa học câu chuyện Từ Thức gặp Giáng Hương, hay Lưu Nguyễn lạc Đào Nguyên, khi trở về hạ giới, chỉ còn gặp những cháu chắt của mình !).

Trong thuyết tương đối hẹp (relativité restreinte) của Einstein, thời gian gắn liền với hệ quy chiếu, nhưng còn thuộc vào hệ thống bốn chiều, cùng với không gian, để miêu tả sự chuyển động. Trong một hệ quy chiếu nào đó, thời gian và không gian cùng đóng một vai trò, đó là thời gian và không gian tuyệt đối của Newton.

Trong thuyết tương đối tổng quát (relativité générale), thì lại khác hẳn. Không gian-thời gian trở thành bản chất của vũ trụ, một hình học (géométrie) bị méo mó bởi luật hấp dẫn. Vũ trụ không phải chỉ ở trong không gian và thời gian, mà cũng chính  không gian và thời gian. Thời gian là một phần tử của vũ trụ, nó thuộc vào cấu trúc của vũ trụ.

Related image

* Thời gian, một ảo tưởng ?

Đối với một nhà khoa học như Einstein, quan niệm thời gian như một sự nối tiếp (continuité), một sự một chiều (irréversibilité), chỉ là một ảo tưởng. Vũ trụ có mặt, nhưng không trở thành. Theo Einstein, "mũi tên thời gian" chỉ là một ảo tưởng cần phải gạt bỏ, phải vượt qua. Trong những trao đổi thư từ với Michele Besso, một người bạn thân thường gạn hỏi ông : "Vậy sự nối tiếp, sự một chiều của thời gian, mày để ở đâu ?", ông trả lời một cách kiên nhẫn : "Làm gì có sự một chiều ? Mũi tên thời gian không hề có trong thiên nhiên. Đó chỉ là một quan niệm hoàn toàn xuất phát từ con người, hoàn toàn tương đối". Và khi Besso chết, Einstein viết thư cho chị của ông : "Michele đã đi trước tôi để lìa bỏ thế giới lạ lùng này. Nhưng điều đó không quan trọng lắm. Đối với chúng tôi, những nhà vật lý học vững lòng 
tin, sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một ảo tưởng , dù nó rất dai dẳng".

Sau này, nhà vật lý thiên văn Stephan Hawking cũng quan niệm như vậy trong tác phẩm "Một câu chuyện ngắn về thời gian". Ông đề nghị thay thế thời gian bằng thời gian tưởng tượng , và nhờ đó có thể không gian hóa (spatialiser) thời gian, bằng cách đổi dấu (+) bằng dấu (-). Theo thuyết tương đối hẹp 
của Einstein, không gian và thời gian liên hệ với nhau, nhưng vật chất vẫn còn độc lập. Khoảng cơ bản không còn là một khoảng không gian như trong hình học Euclide, mà là một khoảng không gian-thời gian. Song, thời gian đóng một vai trò khác trong khoảng này, nó không có cùng một dấu. Như người 
ta thường viết trong khoảng (ds2), thời gian mang dấu (+) và không gian mang dấu (-).

So với thuyết tương đối hẹp, thì thuyết tương đối tổng quát của Einstein đưa tới một sự tổng hợp vĩ đại hơn nhiều. Không gian vừa có liên hệ với thời gian và vật chất. Và sự liên hệ đó có là nhờ độ cong của không gian-thời gian, và cái độ cong này tùy thuộc những gì chứa đựng trong vật chất. Nhưng thuyết tương đối tổng quát vẫn còn là một thuyết theo Newton, bởi vì vẫn còn mang những điều xác thực, và vẫn không có mũi tên thời gian.

* Mũi tên thời gian và luật nhiệt động.

Vào thế kỷ thứ XIX, Sadi Carnot, trong khi nghiên cứu về các máy chạy hơi nước, nhận thấy rằng sự biến đổi sức nóng thành cơ năng bị hạn chế bởi tính chất một chiều của những dời chuyển sức nóng (chỉ có thể đi từ nóng sang lạnh), dường như sức nóng mang trong mình một tính chất đặc biệt liên quan 
tới một chiều.

Những suy nghĩ đó sẽ làm khởi điểm cho nguyên tắc thứ hai của nhiệt động (deuxième principe de la thermodynamique), do Clausius trình bày dưới hình thức hoàn chỉnh : trong mỗi hệ thống vật lý đều có một đại lượng gọi là entropie, biểu thị mức độ hỗn độn hoặc ngẫu nhiên có mặt trong hệ thống đó. 
Số lượng entropie trong một hệ thống cô lập chỉ có thể tăng lên mỗi khi có một hiện tượng vật lý nào đó. Lấy ví dụ, entropie của một tách cà phê và của một viên đường họp lại, thấp hơn entropie của một tách cà phê ngọt, cho nên viên đường chỉ có thể tan trong tách cà phê, chứ không bao giờ có thể 
lấy ra được từ một tách cà phê ngọt. Một cách đơn giản hơn, nếu chúng ta ném một cái chén xuống đất, chén đó (trên nguyên tắc) sẽ vỡ. Entropie của chén lành thấp hơn chén vỡ, nên không bao giờ chén vỡ sẽ lành trở lại. Mọi sinh vật chết đi không thể nào sống trở lại, cũng như chiếc lá vàng đã lìa cành, không bay lại được lên trên cành và xanh tươi trở lại.

Trong kinh nghiệm sống hàng ngày, chúng ta thấy những đổi thay thường đi từ thứ tự (ordre) tới hỗn độn (désordre), từ sự khó xảy ra (improbable) tới sự dễ xảy ra (probable). Đó chính là "mũi tên nhiệt động" áp dụng vào thời gian.

YÙ thức về những nghịch lý của thời gian bắt nguồn từ những công trình của Boltzman. Boltzman bị ảnh hưởng mạnh của Darwin, và là nhà vật lý học đầu tiên quan niệm sự tiến hóa của vũ trụ như là một sự suy rộng của thuyết Darwin. Nhưng trước những lời chỉ trích trách ông đi ngược lại với định luật hai chiều của Newton, ông đã đắn đo và chùn lại. Ông vừa muốn một đằng tin vào quan niệm tiến hóa của vũ trụ, vào mũi tên thời gian, một đằng giữ trung thành với định luật của Newton. Đó là một nghịch lý mà ông đã không giải quyết nổi, và có thể là một lý do đã khiến ông tự tử.

* Sự sống, một cuộc tranh đấu chống lại entropie.

Theo nguyên tắc thứ hai của nhiệt động, mọi sự vật không thể nào tránh được bị tiêu hủy dần mòn, nhưng tất cả không chống đối lại sự tiêu hủy đó một cách giống nhau. Đối với vật chất không sinh động, thời gian chỉ là tiêu mòn và tàn phá.

Ngược lại, sự sống là một ngoại lệ duy nhất và tạm thời trước luật entropie, điều đó đã được các nhà sinh học vạch rõ. Các sinh vật có khả năng dùng một khoảng thời gian nào đó, để phát triển theo định luật của chính mình và dùng những dự trữ năng lượng của mình. "Sự sống, theo Lévy-Valensi, là một cuộc đấu tranh thường trực chống lại entropie. Nó phải, trong mỗi giây phút, theo cách nói của Bergson, "nâng cái gánh nặng đang rơi xuống", và làm chậm đi những đổi thay không thể nào ngăn cản được. 
Dường như, trong một thế giới không thể nào tránh được quay về sự chết, sự sống cố gắng tận dụng tất cả năng lượng đang tiêu dần của mình, để làm được một cái gì, trong một khoảng thời gian nào đó."

Ngoài ra, sự sống còn dùng một phương pháp hữu hiệu để chống lại sự phá hủy của thời gian, đó là sự sinh sản. Nhờ sự sinh sản, cuộc sống được tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác, qua sự trao truyền thông tin mang bởi những gien, cũng như một ngọn lửa truyền từ ngọn đuốc này qua ngọn đuốc khác, để không bao giờ ngừng cháy.

* Chronos và tempus : thời gian vật lý và thời gian tâm lý.

Có thể nói rằng cho tới thế kỷ thứ XVIII, không có sự cách biệt giữa triết học và khoa học, vì một lý do giản dị : các nhà triết học đồng thời là những nhà khoa học. Từ Platon, Aristote cho tới Descartes, Leibniz, Kant, tất cả đều là những nhà bác học "văn võ song toàn", nghĩa là vừa là triết gia, vừa là toán học, vật lý học, thiên văn học, sinh học...

Nhưng bắt đầu từ thế kỷ thứ XIX, những kiến thức của nhân loại trở thành mênh mông và phức tạp đến nỗi các nhà học giả bắt buộc phải lựa chọn một ngành chuyên môn, để mỗi ngày tiến sâu vào ngành đó. Chẳng hạn như Bergson, khi còn là một học sinh xuất sắc thi tuyển vào trường Cao đẳng Sư phạm, đã phải chọn lựa giữa văn chương và khoa học, và ông đã chọn lựa văn chương. Như vậy, dần dần triết học và khoa học đã rời xa nhau, cho tới khi không còn nói với nhau cùng một thứ tiếng, không còn dùng những khái niệm giống nhau.

Ví dụ khái niệm "thời gian" chẳng hạn. Liệu "thời gian" của nhà khoa học có phải là "thời gian" của nhà triết học ? Đó là câu hỏi đặt lên trong cuộc đối thoại tại Paris năm 1922 giữa Bergson và Einstein, về "Thời gian và thuyết tương đối".

Để trả lời câu hỏi của Bergson : "Ông có chắc rằng thời gian của ông là thời gian của con người tầm thường không ?", Einstein khẳng định : "Thời gian của nhà triết học và thời gian của nhà vật lý học là một. Không có thời gian của triết học. Chỉ có thời gian tâm lý khác với thời gian của vật lý học. Chỉ có khoa học mới nói được sự thật". Câu trả lời độc đoán này làm Bergson vô cùng thất vọng, có lẽ vì ông đã quá mong đợi ở khoa học một sự xác nhận về trực giác của ông về thời gian.

Nhưng thật ra, nếu cuộc đối thoại này, giữa hai nhà trí thức nổi tiếng thời bấy giờ, đã thất bại hay chỉ là hai cuộc độc thoại, có lẽ là vì "ông nói gà, bà nói vịt". Einstein và Bergson mỗi người chỉ nói về thời gian của mình.

Thời gian của Einstein là thời gian vật ly ù , thời gian khoa học, không màu sắc hương vị, thời gian của cả vũ trụ, không phải của riêng con người. Thời gian đó chỉ là ảo tưởng, bởi vì không có thực chất, không có bề dày, không chia ra làm quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời gian đó chính là không gian, nó có mặt trong mỗi sự vật, nó là sự vật. Con người không làm gì được trên nó, bởi vì nó chính là con người, là một sự vật.

Thời gian của Bergson là thời gian tâm ly ù. Đối với ông, nó bao trùm tất cả, nó chính là sự sống, sự tiến hóa trong sáng tạo. Là thời gian được sống và cảm nhận trực tiếp bởi con người, với những cảm xúc của quá khứ, với bề dày của hiện tại và khả năng sáng tạo của tương lai. Thời gian đó có thể co giãn, ngưng lại, rút ngắn hay kéo dài, quay vòng trở lại. Con người có khả năng ảnh hưởng được vào nó, nhưng nó cũng có thể chế ngự con người. 

Để phân biệt hai loại thời gian này, người ta đã đề nghị gọi thời gian vật lý là chronos (tiếng Hy lạp), và thời gian tâm lý là tempus (tiếng La tinh). Mỗi người sẽ gọi thời gian là chronos hay tempus tùy theo quan niệm của mình về thời gian.

* Prigogine, giữa thời gian Poincaré và thời gian Lyapounov.

Trong cuốn sách "Giữa thời gian và vĩnh cửu", Ilya Prigogine đưa ra một câu trả lời dứt khoát : thời gian hiện hữu trong vũ trụ, nó có mặt trong vật chất, và mang tính chất một chiều.

Lý luận của Prigogine dựa lên sự so sánh giữa hai loại thời gian : thời gian Poincaré và thời gian Lyapounov. Nhà toán học Henri Poincaré chứng minh rằng, trong một hệ thống cô lập với những tiểu thể (corpuscules) tác động lẫn nhau, sau một thời gian hệ thống đó sẽ đi qua trở lại trạng thái ban đầu. Thời gian giữa hai lượt đi qua cùng một trạng thái gọi là thời gian Poincaré, và thời gian đó dĩ nhiên rất dài. Lấy một ví dụ, một quả bóng bị xẹp, nếu không có tác động bên ngoài, thì một ngày kia sẽ căng trở lại. Không cần bơm, chỉ cần đợi, nhưng phải đợi rất lâu ! Lyapounov ngược lại chứng minh rằng trong sự tiến triển của một hệ thống, độ nhạy (sensibilité) của nó đối với những điều kiện ban đầu tăng lên không ngừng. Đó là "hiệu ứng bướm" (effet papillon) : một cái vỗ cánh của một con bướm có thể gây nên một cơn bão tố cách đó cả ngàn cây số trong vài tháng nữa. Sau một khoảng thời gian, một hệ thống sẽ trở thành hỗn độn (chaotique), không thể nào tiên đoán được một cách khoa học, và thời gian đó gọi là thời gian Lyapounov. Prigogine, trong khi so sánh thời gian Poincaré với thời gian Lyapounov, nhận thấy rằng thời gian Lyapounov ngắn hơn thời gian Poincaré nhiều, và như vậy có nghĩa rằng một hệ thống sẽ trở thành hỗn độn trước khi trở lại trạng thái ban đầu. Trên thực tế, định lý Poincaré không 
áp dụng được, bởi vì hệ thống sẽ trở thành hỗn độn trước, và sẽ biến hóa theo muôn vàn phương thức khác nhau. Điều đó giải thích rõ rệt những nhận xét thường xuyên của chúng ta về cuộc đời : quả bóng sẽ không bao giờ tự căng trở lại, tương lai không thể nào tiên đoán được, và thời gian bắt buộc phải một chiều.

* Thời gian sâu thẳm (thời gian địa chất) ; thời gian thẳng dọc, thời gian chu kỳ.

Theo nhà cổ sinh vật học Stephen Jay Gould, còn có một loại thời gian gọi là thời gian sâu thẳm (temps profond), tức là thời gian địa chất (temps géologique), thời gian đó kéo dài trên hàng tỷ năm từ lúc hình thành trái đất, và mới được con người ý thức được từ chưa đầy hai thế kỷ nay. Nếu lấy chiều cao của tháp Eiffel để tả thời gian sâu thẳm, thì tất cả lịch sử loài người chỉ bằng bề dày của lớp sơn trên chóp tháp mà thôi !

Và cũng có hai quan niệm về thời gian đã in sâu vào truyền thống Tây phương, đó là thời gian thẳng dọc (temps linéaire ou sagittal) vaø thời gian chu kỳ (temps cyclique), được biểu tượng bằng mũi tên và vòng tròn.

Theo quan niệm thời gian thẳng dọc, lịch sử được coi như là sự nối tiếp một chiều của những sự kiện chỉ có mặt một lần. Mỗi khoảnh khắc đứng một địa vị riêng trong chuỗi thời gian, và toàn thể những khoảnh khắc thời gian chuyển vận theo một chiều hướng nhất định.

Ngược lại, theo quan niệm thời gian chu kỳ, những sự kiện không còn tính chất riêng rẽ, nhưng thể hiện những điều căn bản luôn luôn có mặt và bất biến. Mọi biến chuyển nằm trong những chu kỳ được lập lại, và những khác biệt trong quá khứ sẽ trở thành những thực hiện trong tương lai. Thời gian như vậy không có chiều hướng.

Cả hai quan niệm đó về thời gian đều có mặt trong Thánh Kinh :

Một ngày kia, Thượng Đế tạo ra trái đất và con người, Ngài chỉ cho Noé phương pháp thoát khỏi một trận lụt lớn bằng một chiếc tàu đặc biệt, sau đó ngài trao cho Moĩse những điều giới luật vào một thời điểm nào đó, rồi ngài phái đứa Con của Ngài xuống trần, chịu đóng đinh tại một nơi và vào một lúc 
nào đó, để rồi sống lại vào ngày thứ ba. Đó là quan niệm thời gian thẳng dọc.

Ngược lại, trong phần Ecclésiaste (Qohéleth), thời gian mang tính chất chu kỳ: "Mặt trời mọc, mặt trời lặn, và mặt trời mọc trở lại. Gió thổi quanh, quay đi và trở lại. Tất cả các giòng sông chẩy về biển cả, và biển vẫn không đầy. Cái gì đã có sẽ có, cái gì đã thực hiện sẽ thực hiện trở lại, và không có gì mới mẻ dưới ánh mặt trời".

Chỉ cần quan sát thiên nhiên, người ta cũng thấy rõ tính chất chu kỳ của những biến đổi trong cuộc sống. Từ hơi thở, nhịp tim, sự co giãn bắp thịt, kinh nguyệt, cho tới sự bài tiết nội tuyến, những làn sóng điện trong não, dường như tất cả mọi sinh vật đều sống theo nhịp một chiếc đồng hồ sinh lý, theo luật thời gian chu kỳ. Nhìn rộng hơn, ngay cả trong thế giới khoáng chất, trái đất với bốn mùa, nước thủy triều, nắng mưa, gió bão, các vì sao và các hành tinh, đều vận chuyển theo thời gian chu kỳ.

Nếu không có thời gian chu kỳ thì sẽ không có gì trở lại, không tiên đoán được việc gì xảy ra (mặt trời liệu còn có mọc ngày mai ?), không có khoa học với các định luật, phương trình. Không có xe đạp, xe hơi, bởi vì không có bánh xe quay vòng, không có máy bay cánh quạt. Cũng không có âm nhạc, 
bởi vì sẽ không có nốt nhạc trở lại, không có điệp khúc. Không có thi văn, bởi vì sẽ không có vần thơ, không có lời văn...

Nhưng thật ra chính quan niệm thời gian thẳng dọc mới là động cơ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại Tây phương từ thế kỷ thứ XVII. Bởi vì quan niệm thời gian thẳng dọc bao hàm khái niệm tiến hóa và tiến bộ. Có thời gian thẳng dọc mới có khám phá, đả phá, xây dựng, phát triển. Nếu "không có 
gì mới mẻ dưới ánh mặt trời", thì việc gì phải mệt sức đặt lại vấn đề và cố gắng gia tăng sự hiểu biết của con người ? Theo Mircea Eliade, sự chú trọng tới tính chất "mới lạ" và "một chiều" của lịch sử là một khám phá tương đối mới trong đời sống nhân loại. Ngược lại, nhân loại cổ xưa cố hết sức tự bảo 
vệ chống lại tất cả những gì mới lạ và một chiều của lịch sử.

Nếu quan niệm thời gian thẳng dọc phát triển mạnh mẽ trong văn minh Tây phương, thì quan niệm thời gian chu kỳ lại chế ngự văn minh Đông phương một cách rõ rệt. Chúng ta có thể tự hỏi rằng phải chăng một trong những lý do chậm trễ về khoa học kỹ thuật của Đông phương nằm chính trong quan niệm 
thời gian chu kỳ trội hẳn đó ?

Thật ra, hai quan niệm thời gian thẳng dọc  thời gian chu kyø , dưới hai ẩn dụ mũi tên và vòng tròn, đều đúng và sai như nhau. Đó chỉ là một cách nhìn nhị đối (dichotomie) quen thuộc của người Tây phương. Cũng như nhiều sự phân đôi khác ("linh hồn/thể xác" ; "sáng tạo/tiến hóa" ; "nhất nguyên/đa 
nguyên" v.v.) cách nhìn đối chiếu này đều sai lầm hoặc thiếu sót, bởi vì chỉ thể hiện được một phần nào của thực tế vô cùng phức tạp. Đó chỉ là những phương tiện do con người chế tạo ra để làm sáng tỏ những suy nghĩ của mình.

Hình ảnh thích hợp nhất về thời gian, theo tôi nghĩ, có lẽ là vòng xoắn (spirale), bởi vì vừa mang tính chất thẳng dọc vừa mang tính chất chu kỳ. Những gì xẩy ra cũng trở lại, nhưng không hoàn toàn như trước. Mặt trời mọc và lặn trở lại, bốn mùa quay trở lại và các thế hệ nối tiếp nhau, nhưng không có ngày nào giống ngày nào, và không có người nào giống người nào. Cũng như câu trả lời của nhà sư Nagâsena (Na Tiên) khi vua Milinda hỏi cái "ta" là gì. "Cũng như một ngọn lửa, đổi thay trong từng giây phút, không phải cùng là một ngọn lửa, nhưng không phải là một ngọn lửa khác" ( na ca so na ca anno).

Và biết đâu trong đạo Phật đều có cả hai ẩn dụ mũi tên và vòng tròn. Vòng luân hồi chẳng là vòng tròn, và con đường giải thoát chẳng là mũi tên đó hay sao ?

Related image

  Thời gian trong đạo Phật.  
* Vô thường, tính chất căn bản của hiện tượng.

Đức Phật Thích Ca là người đầu tiên nhấn mạnh vào vô thường, tức là tính chất không thường còn của sự vật, là sự biến đổi không ngừng của thế giới hiện tượng. Đối với đạo Phật, không có hiện hữu, chỉ có trở thành (bhava). Vô thường (anicca), cùng với vô ngaõ (anatta), và khổ (dukkha), là ba đặc tính của đời sống (tilakkhana). Ba đặc tính làm cho con người trầm luân trong vòng luân hồi (samsàra), do cái nghiệp (karma) của mình gây nên. Nhưng chính nhờ cái nghiệp đó, cùng cái Phật tâm (bodhichitta) sẵn có trong mình, mà con người có thể, bằng cách kiên trì tu tập, giữ giới (sỵla), định tâm (samâdhi), để đạt tới trí tueä siêu việt (prajnâ), và tự giải thoát (moksha) ra khỏi vòng sinh tử, khổ đau.

Vô thường có thể xuất hiện dưới ba hình thức :

Sát na vô thường, là sự chuyển biến liên tục của sự vật trong từng sát na (theo danh từ Phật, mỗi sát na là một khoảnh khắc rất nhỏ của thời gian). Sự vô thường này rất cần thiết cho sự sống, và có thể nói là gắn liền với sự sống, chính nó là sự sống.

Nhất kỳ vô thường là sự chuyển biến nhanh chóng của sự vật theo một chu kỳ nào đó, đưa tới một sự thay đổi trạng thái rõ rệt. Chẳng hạn như khi nước sôi biến thành hơi, khi nước lạnh đông thành băng, khi hoa biến thành quả, khi lá vàng rụng, hay khi người bệnh nặng qua đời.

Tai nạn là những điều xảy ra một cách đột ngột, không hề báo trước, biến đổi cuộc đời, theo chiều hướng xấu nhiều hơn là tốt.

* Thái độ của người Phật tử trước vô thường.

Thay vì lấy một thái độ thụ động trước vô thường, đạo Phật chủ trương lấy một thái độ sáng suốt và tích cực. Đầu tiên, con người phải ý thức rằng vô thường (sát na vô thường) là điều cần thiết cho sự sống, cho sự hiện hữu, và chính nhờ vô thường mới có sự chuyển đổi theo chiều hướng tốt, mới có hy vọng một ngày mai tươi sáng hơn, cho những người đang khổ đau. Sau đó phải quán chiếu sự vô thường trong mọi sự vật, để không còn lo ngại, sợ hãi những biến chuyển do nhất kỳ vô thường một ngày kia có thể xảy đến, chẳng hạn như khi mất một người thân trong gia đình, khi lâm bệnh nặng, khi mất tài của, hay khi bị tai nạn. Tất cả những điều đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, và người Phật tử phải cố gắng tu tập để xem vô thường là một chuyện tất nhiên và thường tình.

Cũng vì hiểu rõ rằng mọi sự vật đổi thay trong từng giây phút, cho nên người Phật tử biết quí trọng và sống trọn vẹn mỗi giây phút hiện tại, mỗi vẻ đẹp của cuộc đời, mỗi tình cảm của những người thân thương, để không bao giờ lo sợ và tiếc nuối. Và cũng nhờ ý thức rằng tất cả là vô ngaõ, là điều gắn liền với vô thường, cho nên người Phật tử không màng tới sự chấp chặt, trì kéo lại cho mình những của cải, những giây phút vui tươi, cũng như mọi ảo tưởng trong cuộc đời.

* Những quan điểm khác biệt về thời gian trong các tông phái Phật giáo.

Trong lịch sử tư tưởng đạo Phật, quan niệm về thời gian không phải là luôn luôn đồng nhất, không có tranh luận. Hơn hai trăm năm sau khi đức Phật Thích Ca viên tịch, đoàn thể tăng già chia rẽ ra làm nhiều tông phái, trong đó có phái Sarvâstivâda ( Nhất Thế Hữu ) và phái Sautrântika ( Kinh Lượng ), 
chống đối nhau trên nhiều điểm, đặc biệt về thời gian :

- Theo phái Sarvâstivâda (sarva=tất cả, asti=hiện hữu), tất cả đều có mặt : quá khứ, hiện tại cũng như tương lai. Mọi pháp (dharma) hữu vi đều không sinh, không diệt, chúng có mặt từ vô thủy, và chỉ chuyển đổi từ một trạng thái tàng ẩn tới một trạng thái rõ rệt. Chẳng hạn như một người đàn bà đồng 
thời là một đứa bé gái và là một bà mẹ, một cây cam vừa là một hạt cam và một trái cam. Nước vừa là băng tuyết vừa là hơi nước, tùy theo nhiệt độ, nhưng trong bản thể vẫn là nước.

- Phái Sautrântika (sùtra=kinh điển) lại cho rằng chỉ có hiện tại mới thực sự có mặt, và thời gian chỉ là một ảo tưởng gây nên bởi những giây lát liên tục kế tiếp nhau. Căn bản của cuộc sống con người ngụ tại một tâm thức cao siêu, được trường tồn từ kiếp này sang kiếp khác.

Những phái này sẽ có ảnh hưởng trên sự xuất hiện của hai tông phái quan trọng của Đại thừa, là phái Trung quán (Mâdhyamika) và phái Duy thức (Vijnnânavâda hay Yogâchâra).

- Phái Trung quán, dưới sự hướng dẫn của ngài Long Thoï (Nâgârjuna), quan niệm rằng tất cả trong thực chất đều là Không (shunyâta). Nhưng Không không có nghĩa là trống không, là hư vô, là không có gì, Không có nghĩa là Sự Thực tuyệt đối (paramârtha-satya), là Chân Như, là Bản Thể của sự vật 
(tathata). Do đó, thời gian không phải là một vấn đề, bởi vì chỉ có mặt trong thế giới hiện tượng, tức là cái Sắc, cái Tướng, chứ không có trong cái Không, nếu đi sâu vào bản thể.

- Phái Duy thức, dưới sự hướng dẫn của ngài Vô Trước (Asanga) và ngài Thế Thân (Vasubandhu), quan niệm rằng mọi hiện tượng là sản phẩm của ý thức, rằng tất cả là ý thức. Ngoài 6 thức thông thường ra, còn một ý thức sâu thẳm gọi là A-lại-da thức (alaya-vijnnâna), là nơi chứa đựng tất cả những 
nhân của nghiệp trước, và nguồn gốc của mọi hành động. Trong chiều sâu của A-lại-da, cũng có những cái nhân tinh khiết, có thể được xem như chân như, như bản thể của vũ trụ. Như vậy, theo Duy thức học, thời gian cũng thuộc vào hiện tượng, vào ý thức, và tự nó cũng không có thực thể.

* Vũ trụ quan trong đạo Phật.

Thời gian trong đạo Phật được đo bằng sát na tức là một khoảng thời gian rất ngắn (một phần nhỏ của giây), cho tới kalpa tức là một khoảng thời gian rất dài (hàng triệu năm).

Đạo Phật quan niệm rằng vũ trụ không có giới hạn, trong không gian (có tới "tam thiên vạn thiên thế giới") cũng như trong thời gian (tất cả đều "vô thủy vô chung"). Thế giới không có điểm khởi đầu, mà cũng không có điểm kết thúc, cũng như quan niệm chung "không sinh, không diệt" của Bát Nhã Ba La 
Mật Đa (Prajnâparamitâ). Nếu dùng danh từ khoa học ngày nay, thì chúng ta sẽ nói rằng đạo Phật quan niệm không có "Big bang" mà cũng không có "Big crunch". Hình ảnh phù hợp nhất với đạo Phật có lẽ là vũ trụ co giãn, đi từ tăng tới giảm, rồi từ giảm tới tăng, không bao giờ bắt đầu và không bao giờ 
hết. Thật ra điều này cũng không đi ngược lại với vật lý hiện đại, bởi vì nếu đa số các nhà khoa học chấp nhận quan niệm "Big bang" như một biến cố hình thành vũ trụ từ 20 tỷ năm trước, thì họ cũng quan niệm không có giây phút "ban đầu", bởi vì 20 tỷ năm, cũng như 300000 km/giây cho tốc độ ánh 
sáng và -273°C cho nhiệt độ của một vật thể, chỉ là một điểm số giới hạn không thể nào vượt qua được.

Image result for thoi gian photos

  Thời gian trong cuộc sống hàng ngày.  
* Thời gian qua nhanh thật !

Còn nhận định nào thông thường hơn là những câu :

"- Chóng thật ! Mới dạo nào... 
- Nhìn con cháu mình lớn lên, mới thấy thời gian qua quá nhanh... 
- Mới ngoảnh đi ngoảnh lại, đã thấy mình già nua đi nhiều...

Những câu chuyện về thời gian, cũng như về thời tiết (tiếng Pháp gọi cả hai là "le temps"), là những câu chuyện thường tình người ta vẫn nói với nhau hàng ngày, trong nhà cũng như ngoài chợ. Nhưng khi nói về thời tiết, nắng mưa, người ta thường nói chuyện bâng quơ, tầm phào, trong khi nói về thời 
gian, người ta bỗng thấy dâng lên một nỗi buồn man mác, kèm theo tiếng thở dài .

Quả thật, thời gian băng qua nhanh như mũi tên, và con người chỉ có thể nhìn theo bất lực !

Có lẽ chỉ có những nhà khoa học lẩm cẩm mới đặt ra vấn đề có "mũi tên thời gian" hay không, thời gian đi một chiều hay hai chiều. Đối với người thường, chỉ cần mở mắt ra đã thấy rõ rằng thời gian không bao giờ đi ngược trở lại. Cũng như hạt cát lùa qua kẽ tay không làm sao ngăn bắt được, như 
đóa hoa tàn úa không bao giờ tươi lại được, như mái tóc đốm bạc không bao giờ đen lại được. Người ta không bao giờ đi ngược lại được thời gian, dù rằng có thể gây nên những ảo tưởng đó, bằng cách chiếu ngược lại những phim ảnh, với những tài tử đi giật lùi trông đến buồn cười ! Cuộc đời như một cuốn phim đặc biệt chỉ chiếu có một lần, hay như một cuốn sách đặc biệt mỗi trang chỉ lật qua một lần. Đó là cái giá (quá đắt chăng?) phải trả cho sự hiện hữu...

* Ảo tưởng níu kéo lại thời gian.

Nhưng ít người dám thẳng nhìn sự thật như vậy. Người ta tìm đủ mọi cách để nuôi dưỡng ảo tưởng níu kéo lại được thời gian.

Biết bao người đã rời bỏ cuộc sống tầm thường, để đi tìm một con đường đưa tới Vĩnh cửu, tới Tuyệt đối. Faust đã không ngần ngại bán linh hồn mình, là cái gì quí giá nhất, cho Quỷ, để mong trở thành bất tử. Từ trái đào tiên trong vườn Thánh mẫu cho tới viên hoàn đơn của Thái thượng Lão quân, từ con 
nhân sâm cho tới bình Thánh Graal, đã có bao nhiêu huyền thoại về những phương pháp màu nhiệm để con người cải lão hoàn đồng. Đã có bao nhiêu vị hoàng đế, bao nhiêu nhà lãnh tụ ra đi để lại một chiếc xác ướp, với ảo vọng được tiếp tục sống vĩnh viễn bên thế giới bên kia ! Và cũng đã có bao nhiêu 
chuyện tưởng tượng như của H.G. Wells với "cái máy đi ngược lại thời gian", chỉ cần ngồi vào trong đó, bấm một vài nút là đã thấy mình quay trở lại vài thế kỷ về trước.

Hỡi ôi, tất cả chỉ là ảo tưởng, hoang đường ! Ngoài khoa học ra, với những tiến bộ gần đây của y học đã tương đối kéo dài cuộc sống của con người, không có gì ảnh hưởng được vào thời gian. Tất cả những liều thuốc "mang lại trẻ trung", như nhân sâm, sừng tê giác, hải mã, cao hổ, mật gấu, mật rắn, sinh tố, mélatonine, v.v. đều là những món hàng tung ra bởi những kẻ lợi dụng những ảo tưởng của con người. Và mới đây, các nhà sinh học vừa mới thành công trong việc cấy dòng vô tính (clonage) trên các con vật, khơi dậy lên bao nhiêu ảo mộng bất tử của con người. Rốt cục tất cả chỉ là "hão huyền trong những hão huyền" (vanitas vanitatum), cũng như lời Ecclésiaste...

* Thời gian ngắn, dài.

Người ta thường chú trọng tới thời gian khi đã bắt đầu "có tuổi", tức làkhi bắt đầu đếm ngược thời gian còn lại. Hồi bé, người ta thường ao ước thời gian qua mau để chóng thành "người lớn", nhưng về già người ta chỉ cầu mong thời gian đi chậm hơn một chút. Một năm đối với người trẻ không là bao nhiêu, nhưng đối với người già là một khoảng thời gian vô cùng quí báu.

Trong cuộc sống hàng ngày, thời gian còn có một khả năng co giãn lạ lùng. Đối với mỗi người, thời gian không đi qua đều đặn như chiếc kim đồng hồ, trái lại lúc thì lướt nhanh vùn vụt, lúc thì chậm chạp đến phát điên. Trong khi chờ đợi, trong lúc chán chường, chúng ta thấy sao thời gian đi quá chậm ! Trong lúc vui tươi, trong khi hồ hởi, chúng ta tiếc thời gian qua quá nhanh ! Và trí nhớ của con người để làm chi, nếu không phải là để kéo dài thời gian trong khi tưởng nhớ ? Khả năng quên đi của con người để làm chi, nếu không phải là để xóa bỏ một phần nào thời gian ?

Tôi thường so sánh tốc độ của đời người với tốc độ của một vật rơi vào khoảng trống, tức là mỗi ngày một nhanh. Càng về sau, chúng ta càng cảm thấy cuộc đời trôi qua nhanh. Cũng như trong một chuyến du lịch, những ngày đầu qua chậm, nhưng những ngày cuối lướt qua nhanh vô cùng. Bởi vì tất cả đều mới lạ lúc ban đầu, trong khi đó, vào cuối chuyến du lịch cũng như cuối cuộc đời, tất cả dường như đã quá quen thuộc, và chúng ta chỉ còn nhai đi nhai lại một số kỷ niệm xa xưa.

Thời gian trong khi đang học hỏi bao giờ cũng dài hơn thời gian khi đã quen biết rõ. Sự học hỏi, cũng như sự sáng tạo, làm cho thời gian đầy đặn hơn, phong phú hơn. Nói như Malraux, tác phẩm nghệ thuật có tính chất "vượt qua thời gian" (intemporalité), bởi vì giá trị của nó vượt qua các thời đại, nó không bị lệ thuộc vào lịch sử, nó đã trở thành gia tài của nhân loại. Do đó, "nghệ thuật là một sự chống đối định mệnh" (l'art est un anti-destin), và trong một chừng mực nào đó, một sự chống thời gian.

* Chạy đua với thời gian. Nghịch lý của thời gian.

Vào thế kỷ trước tại các nước Tây phương, người ta còn có thời giờ lâu lâu dừng chân lại, rút trong túi ra chiếc đồng hồ quả lắc, chậm rãi nhìn giờ, rồi bỏ lại vào túi, thong dong bước đi. Ngày nay, người ta vội vã đến nỗi chỉ còn kịp liếc mắt vào chiếc đồng hồ trên bảng xe hơi, rồi nhấn ga, vọt lẹ.

Cách đây chưa đầy chục năm, khách du lịch sang thăm nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa thường để ý thấy mọi người ung dung đạp xe đạp, chậm rãi dạo chơi trong đường phố, hay suốt ngày ngồi chơi sơi nước trong các cơ quan. Ngày nay, với "kinh tế thị trường" và cuộc sống "đổi mới", mọi người đã bắt đầu vội vã, tăng tả, vọt lẹ trên những chiếc Honda, bất kể những người qua đường. Ngày xưa, người ta còn nghèo nhưng thừa thời giờ, ngày nay đã có tiền nhưng lại ít thời gian. Ai bảo "thời giờ là vàng bạc" ? Liệu có đổi chác được thời giờ thành tiền bạc, hay dùng tiền bạc mua lại được thời gian?

Người ta thường chạy theo thời gian, vừa muốn níu kéo lại, vừa muốn vượt nhanh hơn, thật mới buồn cười làm sao. Chỉ chờ đợi vài phút trước đèn đỏ, đã lên tiếng càu nhàu, và đèn vừa xanh thì đã vụt lên, phóng nhanh chạy ẩu. Nhanh để làm gì ? Để được thêm thời gian ư ? Làm gì có thời gian mà thêm... Chờ đợi lâu mất thời giờ ư ? Làm gì có thời giờ mà mất...

Trong cuộc chạy đua với thời gian, con người chắc chắn chỉ có thể thua chứ không bao giờ thắng. Thời gian luôn luôn đuổi kịp mình, cũng như bóng với hình, không làm sao chạy thoát, và mọi sinh vật bị thời gian bủa vây như một cái lưới, dù vùng vẫy tới đâu cũng vô ích. Trong thần thoại Hy lạp, thời gian được biểu tượng bằng người khổng lồ Cronos, không ngừng ăn thịt những đứa con mình do người vợ Rhéa, Trái đất, sinh ra. Dưới nhật bàn, người ta thường thấy viết câu : "Những mũi đầu gây tổn thương, mũi cuối cùng kết liễu", để so sánh thời gian với những mũi tên không ngừng bắn vào mạng sống con người.

Điều nghịch ly ù với thời gian, là càng nắm chặt thời gian thì lại càng bị thời gian vuột mất, càng buông thả thì lại càng kéo lại được thời gian. Càng vội vàng hấp tấp thì lại càng bị thời gian đuổi riết, càng thư thả khoan thai, không màng tới thời gian, thì lại càng được thời gian quên đi, lại càng thừa thãi thời gian.

Và không có gì làm con người lệ thuộc thời gian hơn là chờ đợi. Người ta không khỏi nôn nóng, sốt ruột trong khi chờ đợi, nhất là khi chời đợi người yêu ! Ngược lại, khi chú tâm vào một việc gì, dù vô ích (như chơi ô chữ, chơi cờ phá trận), người ta thường quên đi thời gian, nên gọi là "giết" thời gian (nhưng ai giết ai ?). Nói tóm lại, chạy theo thời gian thì lại bị thời gian đuổi, quên đi thời gian thì lại được thời gian quên...

Cố tổng thống Pháp Mitterrand đã có một câu nổi tiếng : "Il faut laisser le temps au temps" (Phải để thời gian cho thời gian). Hồi bị bắt giam bên Đức, ông đã phải vượt tù ba lần mới thành công, rồi đến khi ứng cử tổng thống, cũng phải đợi lần thứ ba ông mới đắc cử, và sau đó cầm đầu nước Pháp trong 14 năm trời ! Biết kiên nhẫn chờ đợi tức là tự cho mình thời gian, là điều kiện của thành công. Và biết chờ đợi mới là chiến thắng thực sự, trên thời gian và trên chính mình...

* Thời gian có thể nào ngừng lại ?

Thời gian không thể nào ngừng lại được, vì một lý do giản dị là thời gian không bao giờ đi, không bao giờ chẩy. Miêu tả thời gian bằng hình ảnh con người ngồi trong xe lửa nhìn phong cảnh lướt qua, hay đứng bên bờ sông nhìn giòng nước trôi qua đều là sai lầm. Con người thuộc vào phong cảnh, thuộc vào giòng sông, và đối với thời gian con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể.

Trong một cuốn sách mới ra, tựa đề "Ngày mà thời gian ngừng lại", giáo sư Jean Bernard đưa ra một giả thuyết hoàn toàn tưởng tượng : vào một giờ phút nào đó, thời gian bỗng nhiên ngừng lại, gây nên muôn vàn xáo trộn trong xã hội, và đặt ra những câu hỏi triết học và khoa học vô cùng nan giải. Nhưng thật ra, nghĩ cho cùng, đó chỉ có thể là kim đồng hồ ngừng lại, hoặc là thời gian ngừng lại cho một số sinh hoạt thôi, chứ không thể nào tất cả thời gian trong vũ trụ ngừng lại được. Bởi vì nếu thời gian ngừng lại sẽ không còn gì hết, sẽ là tận thế. Hơn nữa, sẽ không còn ai để mà nhận định được đó là tận thế !

* Làm gì với thời gian ? Làm thế nào quản lý được thời gian ?

Nhà văn Saint-Exupéry kể lại một hôm ông đáp máy bay xuống sa mạc, và trước khuôn mặt ngơ ngác của một người Maure bản xứ, ông giải thích : "Ông biết không, với chiếc máy bay này, tôi chỉ mất hai tiếng đồng hồ trong khi các ông với đoàn lạc đà phải đi suốt hai tháng".

"- Nhưng như vậy, người Maure trả lời, ông làm gì với thời gian còn lại ?"

Vấn đề có lẽ là như vậy: làm gì với thời gian còn lại ? Hay nói một cách thời thượng, làm thế nào quản lý được thời gian ?

Phần lớn những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm mang lại cho con người ngày hôm nay nhiều thời gian hơn. Người ta đi lại nhanh hơn, thông tin nhanh hơn, làm việc nhanh hơn, ăn uống nhanh hơn, nội trợ nhanh hơn. Nhờ những tiện nghi cơ giới và điện tử mỗi ngày một thêm hữu hiệu, những công tác hàng ngày trở nên mỗi ngày một thêm nhẹ nhàng, nhanh chóng. Từ tuần làm việc hơn 40 giờ vào đầu thế kỷ, nay sắp giảm đi còn 35 giờ, và sẽ có triển vọng xuống dưới 30 giờ trong thế kỷ sắp tới. Người ta sẽ có nhiều thời giờ hơn để thể thao, để học hỏi, để giải trí, để dậy dỗ con cái.

Đó là trên lý thuyết, nhưng trên thực tế, tại sao con người mỗi ngày một sống vội vàng hơn, phù phiếm hơn, tại sao tinh thần càng ngày càng căng thẳng hơn, giáo dục gia đình càng lỏng lẻo hơn ? Tại sao càng thừa thời gian, người ta lại càng cảm thấy thiếu, cũng như càng kiếm nhiều tiền, người ta lại càng cảm thấy thiếu tiền ?

Những câu nói hay về thời gian

Hiện nay tất cả thế giới đang hướng về xã hội công nghiệp và kinh tế tư bản (hay "kinh tế thị trường"), với hiệu quả kinh tế tối đa làm chủ đích. Đa số mọi hoạt động trong xã hội đều nhắm vào tăng gia sản xuất, mỗi ngày một nhiều hơn và nhanh chóng hơn. Vì "thời giờ là tiền bạc", cho nên người ta không có quyền mất những giây phút quí báu. "Fast foot, Quick service, Speedy, Express..." đã trở thành những nhãn hiệu thời thượng. Và đương nhiên, stress trở thành căn bệnh của thời đại, với trăm ngàn chứng bệnh, như nhức đầu, đau lưng, táo bón, mất ngủ... Đó là chưa kể tới những tai nạn xe hơi, những trường hợp tự tử, đặc biệt trong giới trẻ, những trạng thái suy sút tinh thần, những đổ vỡ gia đình, nạn ma túy... tất cả những vấn đề ít nhiều liên quan tới stress, do áp lực gây nên bởi thời gian.

Nhưng may thay, đã bắt đầu có những phản ứng xuất hiện, chống lại sự "chuyên chế" của thời gian. Thay vì hối nhau : "Magne-toi !" (Lẹ lên), người ta đã bắt đầu khuyên nhủ lẫn nhau : "Relax and enjoy !" (hãy buông xả và hưởng đời), "Cool !" (bình tĩnh), "Don't worry, be happy !" (đừng lo nghĩ, hãy sung sướng), "Soyez Zen !" (hãy Thiền). Người ta đã bắt đầu chấp nhận làm việc ít hơn, với tiền lương ít hơn, hay nghỉ hưu sớm hơn, với viễn tượng hưởng được nhiều hơn thời gian còn lại.

Nghĩ cho cùng, không bị áp lực của thời gian, tức là sự thảnh thơi thần trí, rốt cục quí hơn vàng bạc. Nhiều người đã chối bỏ cuộc sống xô bồ của thành thị để trở về sống giữa thôn quê, theo nhịp sống của thiên nhiên. Người thì quay về với những phương pháp cổ truyền như Dưỡng Sinh, Thiền hay Thái Cực Quyền, ngưới thì dùng thể thao, âm nhạc, nghệ thuật để tìm lại sự thăng bằng thần trí. Không ai bảo ai, con người của cuối thế kỷ 20 đang tìm một lối thoát ra khỏi áp lực của thời gian, bằng cách dùng thời gian một cách khôn khéo hơn, cho một hạnh phúc bền bỉ hơn.

   Kết luận   
Thời gian quả thật là một đề tài vô tận. Tôi ý thức được điều đó trong khi đi sâu vào trận địa..., hay rừng rậm..., hay sa mạc... của thời gian.

Có lẽ cống hiến cả cuộc đời cho đề tài này cũng không hết, huống chi chỉ quan tâm đến nó trong một khoảng thời gian ngắn ngủi.

Nhưng, như một bức tranh cũng có ngày phải vẽ xong vì màu đã khô, một bức tượng phải nặn xong vì đất đã nứt, một bài thi phải trả vì chuông đã reo (cũng lại vấn đề thời gian !), bài phiếm luận này rồi cũng phải chấm dứt.

Vậy làm thế nào kết luận, và liệu có cần kết luận ?

Nếu quả đề tài này thật là vô tận, thì không cần gì đến kết luận. Còn nếu muốn kết luận tạm thời, thì chỉ xin đưa ra một nhận xét : thời gian rất đa dạng và mang đầy nghịch lý.

Thời gian có muôn hình vạn trạng : thời gian của nhà thi sĩ, thời gian của nhà triết học, thời gian của nhà khoa học, thời gian của người Phật tử, thời gian vật lý, thời gian tâm lý, thời gian sâu thẳm, thời gian địa chất, thời gian thẳng dọc, thời gian chu kỳ, thời gian ngày xưa và ngày nay, thời gian xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường, thời gian đô thị và thôn dã, thời gian cá nhân và tập thể... và còn bao nhiêu thời gian khác nữa. Chúng ta sống nhiều loại thời gian đan díu với nhau, cũng như một sợi giây thừng gồm nhiều sợi giây khác, mỗi sợi giây lại gồm nhiều sợi khác nữa, dài ngắn, to nhỏ, màu sắc khác nhau.

Vậy câu hỏi : "Thời gian là gì ? YÙ nghĩa của thời gian là gì ?" không thể nào trả lời một cách đơn thuần, giản lược.

Thời gian có thể vừa không là gì (theo đạo Phật, Epicure và Einstein), vừa là tất cả (theo Bergson và các nhà thi sĩ). Thời gian nằm ở trong mỗi vật thể của vũ trụ và trong sự sâu thẳm của tâm hồn. Thời gian có mặt trong mỗi phân tử, mỗi tế bào, mỗi giây thần kinh, mỗi suy tư, mỗi cảm xúc.

Cũng như lời của Marcel Proust : "Một giờ không phải một giờ, đó là một chiếc bình đầy hương vị, âm thanh, dự kiến và hoàn cảnh". Hay lời của Jorge-Luis Borges : "Thời gian là một ngọn lửa thiêu đốt ta. Nhưng chính ta là ngọn lửa".

Những câu nói hay về thời gian

Ngọn lửa thiêu đốt, nhưng cũng vừa chiếu sáng và sưởi ấm cuộc đời. Nếu chúng ta sợ hãi thời gian, thù ghét thời gian, thì cũng phải trân trọng nó, yêu thương nó. Bởi vì nó là sự sống, là tất cả. Tại sao không nhìn nó một cách bình thản, không xúc động, như thể là chính nó, như Chân Như...

"- Này, ông bạn tôi bỗng lên tiếng, suy nghĩ bàn luận lâu dài về thời gian làm gì, chỉ mất thời giờ vô ích. Triết lý mà không đưa tới hành động thì cũng chỉ là "hão huyền trong những hão huyền", chẳng đáng một đồng xu !" 

Tôi giật mình bừng tỉnh : ông bạn tôi có lý !

Điều quan trọng không phải là hiểu được thời gian là gì, mà là làm gì được trên thời gian, hay đúng hơn với thời gian. Nghệ thuật sống có lẽ là nghệ thuật dùng thời gian, làm thế nào điều khiển được thời gian, mà không bị thời gian điều khiển. Và nếu không làm chủ được thời gian (vật lý), thì ít ra cũng không bị nô lệ bởi thời gian (tâm lý), cũng làm bạn được với thời gian trong mình...

Điều quan trọng có lẽ là ý thức được giá trị của thời gian, tận dụng từng giây phút, không lãng phí thời giờ, luôn luôn quí trọng nó, nhưng cũng đồng thời không chấp chặt vào nó.

Làm thế nào cho mỗi giây phút cuộc đời thêm ý nghĩa, cho bản thân cũng như gia đình và xã hội. YÙ nghĩa của thời gian có lẽ là : làm thế nào cho thời gian thêm ý nghĩa, tuy rằng trong tuyệt đối tự nó không có ý nghĩa. Đối với Albert Camus, chính vì cuộc đời phi lý, cho nên mới phải đem lại cho nó một ý nghĩa.

Xin nhường lại câu cuối cho con chồn nói với "Hoàng tử Bé" của Saint-Exupéry : "Chính thời gian ta chăm sóc hoa hồng làm cho hoa hồng trở thành quan trọng".

                          Viết xong tại Olivet, mùa thu 1997, 
        với ước mong đã không làm mất quá nhiều thời giờ của độc giả.

                                                         Trịnh Nguyên Phước.

Những câu nói hay về thời gian

  Sưu tầm tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang  

Xem thêm...
Theo dõi RSS này