Không gian riêng

Không gian riêng (88)

Thiên nhiên qua ống kính nhạc sĩ Ngọc Chánh

 
Image result for nhac si ngoc chanh shotguns viet dzung photos
 
 
 

Thiên nhiên qua ống kính nhạc sĩ Ngọc Chánh

 
 
Nhiếp ảnh gia Ngọc Chánh giữa đồi hoa dại 
 
Ảnh bìa Việt Tide tuần rồi và tuần này đều của nhạc sĩ Ngọc Chánh, người vừa tròn 80 tuổi với số báo Thế Giới Nghệ Sĩ vinh danh hồi tuần trước cho những đóng góp trong kỹ nghệ ca nhạc giải trí vũ trường rất đa dạng, trải dài hơn nửa thế kỷ. Số báo tập trung vào sự nghiệp âm nhạc của ông và chưa có dịp đề cập nhiều vào một chuyên môn nghệ thuật khác, ngay cả khi là thú tiêu khiển, vẫn đòi hỏi sự nghiêm túc trau dồi kỹ thuật và mỹ thuật, mà nhạc sĩ Ngọc Chánh theo đuổi từ 10 năm qua: bộ môn nhiếp ảnh. Bức ảnh bìa tuần trước, nhiếp ảnh gia Ngọc Chánh ghi lại phong cảnh một hòn đảo với vách núi thẳng đứng soi mình trên biển Second Beach thuộc nhóm 3 bãi biển La Push dọc Thái Bình Dương ở tiểu bang Washington miền Tây Bắc Hoa Kỳ. Đây là một khu vực bảo tồn đời sống động vật hoang dã tên là Quillayute Needles National Wildlife Refuge. Đường đến Second Beach tương đối bằng phẳng hơn hai bãi biển kia, nhưng cũng đòi hỏi nhiều công sức của người đi săn ảnh từ miền Nam California. 
 
Ảnh Ngọc Chánh chụp trên bìa Việt Tide số báo phát hành ngày 10 tháng 3 năm 2017
 
 Bức ảnh bìa Việt Tide tuần này là một khoảng đồi hoa dại màu hồng tím với hậu cảnh là một ngọn đồi khác trên nền trời phơn phớt ánh cam mát dịu, nhiếp ảnh gia Ngọc Chánh vừa bấm máy trong tuần vừa qua. Ông lái xe mấy giờ đồng hồ qua những con đường ngoằn ngoèo để đến Anza Borrego thuộc Quận San Diego, nơi những trận mưa giông trong 2 tháng đầu năm đã khiến cho hoa dại nở rộ trên vùng sa mạc bát ngát. Các đài truyền hình và báo chí cho biết, đã 20 năm nay mới có một lần hoa dại nở đẹp và đều khắp như thế này. Hàng ngàn người đang đổ xô về đây để chiêm ngưỡng quà tặng thiên nhiên sau nhiều năm California bị hạn hán. Từ tháng 12, sa mạc San Diego hứng gần 6 inch nước mưa, gấp đôi năm ngoái. Giống hoa dại màu hồng tím trải rộng ngút mắt, có hương thơm ngọt dịu là loại Verbena mọc trên cát. Ngoài ra còn có Lily sa mạc trắng, Poppy vàng, Phacelia tím, Chicory sa mạc trắng nhụy vàng, Dandelion sa mạc, Lupine tím, Primrose sa mạc trắng… 
 
Ảnh Ngọc Chánh trên bìa Việt Tide số phát hành ngày 17 tháng 3 năm 2017

Nhưng hoa đẹp chóng tàn, nên nhiếp ảnh gia Ngọc Chánh nhắn nhủ các đồng nghiệp yêu thích chụp cảnh thiên nhiên cần lên đường thật nhanh trong tuần này, kẻo lỡ cơ hội không biết bao giờ mới được thấy lần nữa. Quý vị có thể vào trang www.abdnha.org/pages/03flora/report… để biết cập nhật tin tức hàng ngày về hoa dại vùng sa mạc Anza-Borrego, đồng thời tham khảo bản đồ để đến những nơi đang có hoa đẹp. Đi săn ảnh thiên nhiên thật không dễ. Nhiếp ảnh gia Ngọc Chánh nói với Thế Giới Nghệ Sĩ, ngày trước, khi kỹ thuật chưa tân tiến thì công lao đi một chuyến xem như 6, 7 phần “thua”, chỉ 3 phần “thắng”, tức là có được một hai tấm ảnh ưng ý. Ngày nay, sử dụng nhiều phương tiện tối tân thì có thể tính toán trước được 6 phần “thắng”, 4 phần “thua” do còn tùy vào “ý trời”, vì chẳng ai đoán chắc được thời tiết sẽ ra sao vào ngày chụp ảnh. Điều này thì những nhiếp ảnh gia đồng nghiệp như ca sĩ Linh Phương, Julayne Kiều Lưu… đều từng trải qua trong những chuyến săn ảnh xa. Nhiều khi cất công bay tới địa điểm, mướn khách sạn ngủ qua đêm để sáng hôm sau thức sớm, lội bộ thật xa, có khi phải leo trèo những địa hình nguy hiểm, trơn trợt, mới tới địa điểm bấm máy, nhưng trời lại kéo mây mù, ánh sáng không đủ để bắt lấy những tấm ảnh như ý, thì máy móc có tốt đến đâu cũng phải chào thua. Quả là một thú vui lắm công phu.

          Nhạc sĩ Ngọc Chánh – những kỷ niệm với trung tâm băng nhạc Shotguns thời Sài Gòn

 
Image result for nhac si ngoc chanh va nhac si viet dzung photos
 Năm đệ tam trung học, cậu học sinh Nguyễn Ngọc Chánh đã viết một cuốn sáchTự Học Guitar và bán bản quyền cho nhà xuất bản Mỹ Tín với giá 24 ngàn đồng vào năm 1957. Lúc đó ông Mỹ Tín có một tiệm bán đàn piano ở đường Võ Tánh và Ngọc Chánh đã mua một cây cũ với giá 22 ngàn đồng bằng cách đổi cuốn sách của mình và được ông chủ trả thêm 2 ngàn đồng. Đây có lẽ là một trong những cuốn sách dạy về guitar sớm nhất của làng nhạc thời đó và cũng là một thành tích đặc biệt thời trẻ tuổi của ông .
Từ lúc có cây đàn piano, Ngọc Chánh đi học đàn dương cầm và hòa âm sáng tác với thầy Dung ở đường Hiền Vương, góc đường Duy Tân trong nhiều năm. (Thầy Dung là một trong ít nhạc sĩ giỏi của Sài Gòn thời đó, đã từng dạy nhạc cho nhiều nhạc sĩ thành danh trong đó có nhạc sĩ Hồ Xuân Mai. Thầy Dung được con trai bảo lãnh định cư ở Canada vào thập niên 1980).
Năm 1960 Ngọc Chánh bắt đầu con đường âm nhạc với cây đàn dương cầm cùng ban nhạc chơi cho một vũ trường ở hồ tắm Cộng Hòa. Năm1962, ông về chơi cho vũ trường Melody, vũ trường Lai Yun và về làm trưởng ban nhạc vũ trường Mỹ Phụng ở bến Bạch Đằng với Xuân Mỹ ( Saxo), Hoàng Liêm ( Guitar ), một người gốc Hoa đánh trống.
Năm 1961, ca sĩ Minh Hiếu lúc đó là cô gái từ Bình Long lên Sài Gòn học may, biết hát đôi bài như Nỗi Lòng, Gợi Giấc Mơ Xưa và được người quen giới thiệu với ông. Ông có hướng dẫn thêm về nhạc lý và giới thiệu cô ta cho ông chủ vũ trường và từ đó Minh Hiếu thăng tiến rất mau, chỉ trong vòng chưa tới một năm đã trở thành ca sĩ nổi tiếng trong giới ca nhạc Sài Gòn. Đó là kỷ niệm đáng nhớ về việc đưa những tiếng hát từ bóng tối ra ánh sáng của nhạc sĩ Ngọc Chánh.
Năm 1964, Ngọc Chánh về làm trưởng ban nhạc cho vũ trường Eden Rock đường Tự Do, ông chủ là ba má của anh Quốc ( chủ vũ trường Majestic ở  Quận Cam), lương cả 100 ngàn mỗi tháng.
Tới năm 1968, xảy ra cuộc chiến Mậu Thân, các vũ trường Sài Gòn đóng cửa, Ngọc Chánh mặc dù đã 31 tuổi có vợ và 6 con nhưng phải nhập ngũ vì  luật tổng động viên và ông gia nhập Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương.
 
Related image
Trong thời gian này nhạc sĩ Ngọc Chánh thành lập ban nhạc Shotguns gồm những bằng hữu ca nhạc sinh hoạt trong Biệt Đoàn Văn Nghệ gổm Pat Lâm ( ca sĩ ), Hoàng Liêm ( ghi ta), Elvis Phương ( ca sĩ), Đức Hiếu ( trống), Duy Khiêm (Bass), Ngọc Chánh ( Keyboard) để chơi nhạc ngoại quốc cho các câu lạc bộ dành cho quân đội Mỹ. Theo ông thì thời đó ca sĩ Pat Lâm hát nhạc Mỹ rất tới, nhất là những bản mà Andy Williams đã thu đĩa. Vì trong thời chiến tranh cho nên dùng cái tên Shotguns đặt cho ban nhạc và cái tên này đã gắn liền với cuộc đời âm nhạc của nhạc sĩ Ngọc Chánh.
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có phòng trà Maxims mời ban nhạc Shotguns trình diễn một tiếng đồng hồ mỗi đêm những bản nhạc Mỹ . Kế đến ca sĩ Khánh  Ly rủ Shotguns về cộng tác vũ trường Queenbee chuyên hát nhạc Việt Nam. Lúc này Elvis Phương phải hát nhạc Việt Nam và bài hát đầu tiên mà Elvis Phương hát là bản Mộng Dưới Hoa.
Năm 1969, Ngọc Chánh thành lập trung tâm băng nhạc Shotguns. Hai cuốn băng nhạc đầu tiên là Shotguns 1 Nhạc Việt Nam và Shotguns 1 Nhạc Mỹ , thu âm ở một phòng thu ở đường Bùi Hữu Nghĩa của một chuyên viên từng làm đài phát thanh Sài Gòn. Nhạc đệm do ban Shotguns phụ trách ( Ngọc Chánh, Hoàng Liêm, Đức Hiếu, Duy Khiêm).
Ngọc Chánh có chọn bản Một Trăm Phần Trăm do Hùng Cường ca mở đầu cuốn băng. Mặc dù bài hát này rất nổi tiếng khi Hùng Cường trình diễn trên đài truyền hình và đài phát thanh nhưng khi đưa vào cuốn băng Shotguns1 thì gây nên sự thất bại. Đây là một kỷ niệm khó quên trong cuộc đời làm băng nhạc của Ngọc Chánh.
Khi cuộn băng Shotgun 1 Nhạc Việt Nam vừa phát hành thì Ngọc Chánh đã nghe những lời nhận xét rằng tại sao lại chọn một ca khúc phản chiến với bản Một Trăm Phần Trăm với tiếng hát ca sĩ Hùng Cường. Ông nhớ lại cả miền Nam chỉ bán được vài trăm cuốn và miền Trung thì hầu như không bán được cuốn băng nào.
Ngọc Chánh kể rằng một lần khi đi công tác ở Ban Mê Thuộc và mang theo 20 cuốn băng Shotguns 1, ông vào một câu lạc bộ dành cho quân đội và gời số băng này nhờ bán dùm. Bà chủ câu lạc bộ có ông chồng là Thiếu tá, ông này nghe xong cuốn băng này liền bảo bà vợ đem trả lại tất cả số băng cho Ngọc Chánh với lý do là không chấp nhận bản Một Trăm Phần Trăm do Hùng Cường ca. Và cuốn Shotguns1 Nhạc Mỹ cũng không bán được bao nhiêu.
Đụng với thực tế ê chề và cuốn băng Shotguns 1 bị lỗ mười mấy ngàn đồng, Ngọc Chánh tìm phương hướng mới.
Ông tiếp tục cuốn Shotguns 4 (không có cuốn số 2 và số 3 vì muốn tránh xa cuốn số 1 thất bại) và bắt đầu bán được nhiều, có lời.
Cho đến cuốn Shotguns 6 tức Băng Vàng Shotguns thì thành công rực rỡ với các ca sĩ nổi tiếng Hà Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Hoàng Oanh, Thanh Lan, Sĩ Phú, Elvis Phương, Giao Linh… và những ca khúc nổi tiếng thời tiền chiến. Thời đó bán được khoảng 20 ngàn cuốn vì phải có máy để chạy cuốn băng Reel to Reel này để nghe. Nhạc sĩ Lê Văn Thiện hòa âm cuốn băng này với những nhạc sĩ tăng cường như Nguyễn Ánh 9 ( Piano), Đan Thọ ( Violin), Duy Khiêm ( Bass), Cao Phi Long ( Trumpet), Xuân Tiên ( Saxo)….
 
Từ đó trung tâm băng nhạc Shotguns có chỗ đứng vững vàng trong làng băng nhạc Sài Gòn trước năm 1975.
Bên cạnh đó, Ngọc Chánh cộng tác với ca sĩ Thanh Thúy để thực hiện một số băng nhạc cho trung tâm Thanh Thúy, ông lo phần nhạc đệm và lời lỗ chia đôi.
Năm 1971 Ngọc Chánh thực hiện thêm một số băng Nhạc Trẻ gồm 7 cuốn và cũng thành công.
Cuốn cuối cùng của trung tâm Shotguns là cuốn 36, mang tên Hòa Bình Ơi Việt Nam Ơi thực hiện đầu năm 1975 gồm những ca khúc mang ước mơ hòa bình của nhiều nhạc sĩ và cũng không bán được nhiều vì chiến cuộc lan tràn.
Nhìn lại những năm tháng ở Sài Gòn với những cuốn băng Shotguns đã thực hiện từ năm 1969 tới đầu năm 1975, nhạc sĩ Ngọc Chánh bồi hồi và hãnh diện đã đóng góp một phần vào dòng sinh hoạt ca nhạc của Miền Nam trước năm 1975.
Ông vượt biển năm 1979, đến Hoa Kỳ, bỏ lại tất cả sản phẩm băng nhạc nhưng bây giờ có một số người ở hải ngoại đã sưu tập được toàn bộ các cuốn băng đó và họ bảo rằng rất thích.
Cái thời Sài Gòn trước năm 1975, các băng nhạc thu “Live”, nghĩa là ca sĩ và ban nhạc cùng chơi đàn và hát một lúc cho nên tiếng hát tiếng đàn quyện vào nhau và tạo nên sự truyền cảm và linh động và thu hút giới nghe nhạc sành điệu.
Nhạc sĩ Ngọc Chánh đã lăng xê những tiếng hát mới như Hương Lan, Thái Châu, Sĩ Phú , Duy Trác, Anh Khoa…
Những sáng tác mới mà trung tâm Shotguns giới thiệu đầu tiên gồm những ca khúc mới của Phạm Duy, bản Về Đây Nghe Em của Trần Quang Lộc, bản Gọi Người Yêu Dấu của Vũ Đức Nghiêm, bản Ru Con Tình Cũ của Đinh Trầm Ca. Bản này tên là Bài Cho Nàng nhưng Ngọc Chánh đề nghị đổi lại tên và giao cho Hải Lý ca.
Được hỏi có điều gì lẽ ra nên làm mà không làm thì Ngọc Chánh tiếc rằng thời đó đã không có dịp nghe tiếng hát của Từ Công Phụng để mời anh cộng tác với trung tâm Shotguns. Và ông nghĩ rằng mình nên giới thiệu một tiếng hát mới trong mỗi cuốn băng Shotguns ngày xưa.
Vì cộng tác chặt chẽ với nhạc sĩ Phạm Duy cho nên Ngọc Chánh có nhờ Phạm Duy đặt lời cho bản Bao Giờ Biết Tương Tư mà ông đã viết nhạc cho cuốn phim Điệu Ru Nước Mắt dựa theo tác phẩm của nhà văn Duyên Anh và ông giao cho ca sĩ Anh Khoa hát rất thành công, đúng ý tác giả nhất.
Nhạc sĩ Ngọc Chánh đã viết bản nhạc Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang cho cuốn phim cùng tên do đạo diễn Lê Hoàng Hoa thực hiện. Lúc đầu ông định nhờ nhà văn Duyên Anh viết lời ca nhưng sau đó chọn Phạm Duy viết lời.
Hãng Yamaha của Nhật có tổ chức cuộc thi âm nhạc và mời Việt Nam tham dự. Và Ngọc Chánh viết nhạc, Phạm Duy đặt lời thành bản Tuổi Biết Buồn nhờ Thanh Lan ca và vào chung kết giải này năm 1973.
 
Related image
 
Như vậy duyên văn nghệ giữa Ngọc Chánh và Phạm Duy tạo nên 3 ca khúc Bao Giờ Biết Tương Tư, Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang, Tuổi Biết Buồn; nhạc Ngọc Chánh và lời Phạm Duy.
Ban nhạc Ngọc Chánh thường chơi nhạc ngoại quốc cho các vũ trường, nhưng khi có trung tâm Shotguns thì ông đã thu băng mấy trăm ca khúc Việt Nam để người yêu nhạc thưởng thức. Và ông cũng đã nhờ nhiều người đặt lời ca cho các bản ngoại quốc và phổ biến trong các băng chủ đề Nhạc Trẻ của Shotguns. Đó là sự đóng góp của nhạc sĩ Ngọc Chánh trong dòng sinh hoạt ca nhạc Sài Gòn năm xưa.
Năm nay nhạc sĩ Ngọc Chánh được 80 tuổi, dáng người vẫn khỏe mạnh. Ông bảo là nhờ tập Hồng Gia Khí Công mỗi ngày và đã tập hơn mười năm nay. Câu chuyện ca nhạc thời Sài Gòn với trung tâm Shotguns khép lại. Hi vọng có lần tái ngộ để nghe ông kể câu chuyện tiếp tục sinh hoạt ca nhạc ở hải ngoại trong vòng mấy chục năm.
 

 Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns

Trích bài Trần Quốc Bảo trong tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ số 109 phát hành ngày 10 tháng 3 năm 2017

 Khi gọi điều gì đó bất tử, có nghĩa điều đó có sự sống đời đời hoặc rất dài lâu. Những vì sao được gọi bất tử, chắc chắn đó là những tinh tú mà hào quang lung linh chẳng bao giờ tắt cho dẫu hàng trăm năm trôi qua. 

     Trong số báo viết về Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns kỳ này, số báo mừng Ông với sinh nhật thứ 80 (13/3/1937), người viết muốn cùng với người yêu nhạc nhìn lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ mà người nhạc sĩ này đã có công xây dựng và phát triển từ hơn nửa thế kỷ trước, và hôm nay, sau gần 50 năm nhìn lại, tên gọi Shotguns của ban nhạc và những sản phẩm nghệ thuật, hầu như những người yêu nhạc năm xưa ở miền Nam, khó có ai mà quên được. Khởi đi là ban nhạc Shotguns, được thành lập từ năm 1968, và chấm dứt ngừng hẳn vào cuối tháng 12 năm 1998, có nghĩa, ban nhạc Shotguns đã trị vì trong vương quốc âm nhạc Việt – từ trong nước ra hải ngoại – tròn suốt 30 năm dài. 

 

ngocchanhTT26

 

       Nhớ về nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns là phải nhớ đến phòng trà Queen Bee (từ tháng 3 năm 1971 đến tháng 3 năm 1974) và sau đó là phòng trà Quốc Tế (từ tháng 3 năm 1974 đến 30/4/1975). Cả hai phòng trà với lối kiến trúc đẹp mắt ấm cúng và hấp dẫn nằm ngay giữa trung tâm Hòn Ngọc Viễn Đông. Ở đó, hàng đêm đã thu hút số đông rất lớn những khách  yêu thích ca nhạc. Nhà báo Lưu Khâm từng ca ngợi: “Người ta đến với vũ trường của nhạc sĩ Ngọc Chánh như tìm về một tổ ấm thân thương dưới ánh đèn màu, tiếng nhạc lời ca của những ca sĩ ưu hạng đương thời và đệ nhất ban nhạc Shotguns. Lắm người ghiền Queen Bee, mê Quốc Tế và sau này ra hải ngoại với Maxim (San Jose), Ritz (Quận Cam) cùng ban nhạc Shotguns như mê một nhân tình tài sắc, tâm vẹn toàn. Trong khung cảnh lãng mạn, thơ mộng hài hòa giữa nhạc và ca, thời gian như lắng đọng lại để người ta tạm quên những nỗi nhọc nhằn cơ cực của đời sống. Ở đây, tâm tình được dàn trải, thương yêu được gắn bó, ước mơ được nối liền, những trái tim cùng thưởng thức một nhịp đập trên cung điệu tài hoa của Shotguns, lắng nghe và ngắm nhìn những tiếng hát hàng đầu, bồng bềnh sương khói có khả năng dìu người ta về những bến đời hạnh phúc”. Và qua những lời của nhà báo Lưu Khâm vừa viết, chúng ta thấy ngay những Queen Bee, Quốc Tế  trước 75 và sau này ở hải ngoại, vũ trường Maxim (1980-1983), rồi Ritz (1984-1998).. nói chung là những vũ trường có bàn tay chỉ huy của nhạc sĩ Ngọc Chánh được ví như một tổ ấm và ban nhạc Shotguns là những cọng rơm đan kết âm thanh dịu dàng và nồng nàn nhất.     
     Chưa hết, điều đáng nói là những sản phẩm băng nhạc nghệ thuật của Shotguns được bắt đầu tung ra tại miền Nam từ tháng 9 năm 1969. Khách yêu nhạc trên mọi miền đất nước, nếu không thể đến vũ trường, vẫn có thể nghe được những giọng hát, lời ca, những nhạc khúc quen thuộc được thu âm và phát ra từ băng nhạc (cassette) mang danh hiệu Shotguns. Mỗi sản phẩm là một đúc kết vẹn toàn về nghệ thuật lẫn kỹ thuật. Hàng trăm sản phẩm giá trị như vậy đã khiến Shotguns trở thành một trung tâm băng nhạc được yêu thích nhất, được vồn vã đáp ứng nhất. Báo chí Saigon ngày đó gọi những băng nhạc do Shotguns thực hiện là món ăn tinh thần dự phần quan trọng trong đời sống con người chứa đầy buồn vui hờn giận. Đó là một cô đọng đầy chất nghệ thuật như một ánh lửa bập bùng, rồi âm ỉ của những tâm hồn mặn nồng yêu thương của nhiều thế hệ. 
     Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn có công lao nhiều lắm, khi đã giới thiệu (trực tiếp hoặc gián tiếp) những giòng nhạc mới của Phượng Hoàng (Lê Hựu Hà – Nguyễn Trung Cang), Vĩnh Điện, Trần Quang Lộc, Đynh Trầm Ca.. hoặc có công phổ biến những bài thơ của các thi sĩ Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Linh Phương, Phạm Văn Bình, Người Áo Tím.. được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc. 
     Và bây giờ xin mời bạn đọc bước vào câu chuyện về “Nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns – người đã vẽ lên bầu trời âm nhạc Sàigòn những vì sao lung linh bất tử” do Trần Quốc Bảo thực hiện.

      Nhạc sĩ Ngọc Chánh, tên họ thật Nguyễn Ngọc Chánh, sanh ngày 13 tháng 3 năm 1937. Khi ông ra đời, gia đình đang sống tại khu vực Nhà thờ Chí Hòa (Ngã Ba Ông Tạ, quận Tân Bình). Gia đình Ông ở đây cho đến năm 1968 mới dời đi chỗ khác. 
     Ông có tất cả 10 anh chị em, nhưng tất cả đã mất từ khi còn nhỏ, chỉ còn lại nhạc sĩ Ngọc Chánh (thứ sáu) và cô em út (thứ mười một) tên Ngọc Lan (tên giấy tờ là Nguyễn Thị Trí). Người em gái này đã có giấy tờ đi Mỹ định cư vào giữa tháng 10 năm 1989 nhưng chẳng may lại đột ngột qua đời hai tuần trước. Cô mất vào ngày 25 tháng 9 năm 1989 để lại sự bàng hoàng hụt hẫng và đau đớn cho người con trai tên Long (cũng là tay trống của ban nhạc Shotguns lúc bấy giờ) và cho người anh ruột là Ngọc Chánh. 
    Nhạc sĩ Ngọc Chánh mê nhạc và có năng khiếu từ thuở bé. Lúc lên 6 tuổi, Ông đã học ghi ta với một anh bạn lớn tên là Cổ Tấn Tịnh Châu, anh này có ngón đàn Flamenco tài giỏi (về sau mất năm 1967). Người nhạc sĩ tài danh vắn số này là em ruột của đại tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu (Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Rừng Sát) phu quân của ca sĩ Dạ Lý hiện sống tại Quận Cam (Cali). Sau đó Ông học thêm với một nhạc sĩ người Phi là Benito.. nhờ vậy mà ngay từ lúc nhỏ, Ông đã có một số kiến thức khá vững vàng về nhạc lý để từ đó soạn riêng cho mình 2 cuốn sách chỉ dẫn Tự Học Đàn Guitar từ lúc ông mới 13, 14 tuổi (sẽ nói rõ phần sau). 
    Năm 1945, khi Ông vừa 8 tuổi, gia đình xin cho Ông vào trường dòng Lasan Đức Minh (Tân Định), một nơi nổi tiếng về kỷ luật với các frères khá nghiêm khắc. Trong số các frères, Ông luôn nhớ hình bóng hiền từ nhân ái của Frère Aimé Nguyễn Văn Đức, người đã dậy cho Ông nhiều điều tốt đẹp thuở cắp sách đến trường.

    Người viết cũng một thời khoác áo Lasan, đầu tiên là Lasan Mossard, sau về Saigon năm 1975, có một năm học tại Lasan Taberd, đến khi trường bị giải thể, sang học 2 năm cuối tại Lasan Đức Minh. Khi sang bên Mỹ gặp nhạc sĩ Ngọc Chánh, ngoài tình cảm nghệ sĩ, còn là tình huynh đệ cùng trường. Khi người viết đứng ra tổ chức 4 chương trình Lasan Hội Ngộ: Nhớ  Ơn Thầy bắt đầu từ kỳ 1 (1986), kỳ 2 (1988), kỳ 3 (1990) và kỳ 4 (1992), những lần tổ chức này, nhạc sĩ Ngọc Chánh đều tạo điều kiện cho mượn vũ trường Ritz làm nơi gây quỹ. 

     Năm 1948, lúc 11 tuổi, Ông rời Lasan Đức Minh chuyển sang trường Lê Văn Hai học 2 năm. Ở đây, anh dành thì giờ học Pháp văn và học Việt văn với giáo sư Ngọc Thứ Lang (cũng là một tiểu thuyết gia và là người dịch truyện Bố Già). 
     Hai năm sau (1950), Ông được vào học tại Trường Kỹ Thuật Cao Thắng. Trong khoảng thời gian học tại đây, Ông viết 2 cuốn sách Tự Học về guitar và đến năm 1953 (khoảng 16 tuổi), Ngọc Chánh bán bản quyền 2 cuốn sách này cho nhà xuất bản Mỹ Tín, chủ nhân chuyên làm đàn violon (Tiệm đàn Mỹ Tín có tên trong tự điển Pháp về tài chế tạo đàn violon và ông này cũng là một kịch sĩ, giáo sư Kịch Nghệ của trường Quốc Gia Âm Nhạc trước 75). 
      Nhờ tiền bản quyền 2 cuốn sách, nhạc sĩ Ngọc Chánh lấy được 24 ngàn, mua đàn piano hết 22 ngàn, còn dư 2 ngàn, Ông dùng làm tiền học phí để học piano, hòa âm và sáng tác với Thầy Dung ở đường Hiền Vương.

      Năm 1957, ở tuổi tròn 20, nhạc sĩ Ngọc Chánh đến tuổi động viên. Trước ngày phải đi Thủ Đức, anh được nhận vào làm trong ban Công Dân Vụ. Ở tại nơi đây, anh gặp các nghệ sĩ Thanh Hoài, Thanh Việt, tài tử Kim Vui, kịch sĩ Cảnh (còn được bạn bè gọi thân mật là Cảnh Vịt, chủ nhân Phở Nguyễn Huệ ở Bolsa), Hoàng Long, Huyền Anh.. Làm ở Công Dân Vụ được 3 tháng, anh rời nơi này và bắt đầu ra ngoài tự tìm nơi chơi đàn để mưu sinh.

     Những ngày tìm việc thuở đầu đời đó, là những năm tháng khó quên của chàng trai tròn 21 tuổi. Năm 1958, chàng thanh niên rất vui khi có những công việc đầu tiên dù chỉ là chơi đàn trong những quán bé nhỏ, như nhà hàng An Lạc (ở Xa Cảng Miền Tây), sau đó vài tháng, Ông tìm thêm được những chỗ mới khá hơn, như nhà hàng Melody, nhà hàng Tàu Lai Yun.. 
     Ròng rã gần hai năm, năm 1960 – nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông Hoành, một người gốc Hoa, chủ nhân thầu ca nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa (cũng là chủ nhân vũ trường Văn Cảnh) mời về làm chef d’orchestre.. Một hôm, có một nhạc sĩ tên Tư giới thiệu Ngọc Chánh một nữ ca sĩ trẻ quê quán ở Bình Long lên Saigon trước tiên, cô dự tính học nghề may, đồng thời cô cũng  có một giọng hát lạ mong có dịp tham gia vào làng ca nhạc. Người nữ ca sĩ với khuôn mặt đẹp và tiếng hát khá ngọt ngào ấy – chính là nữ danh ca Minh Hiếu sau này – đã chinh phục ngay mọi người, từ ông chef d’orchestre cho đến người chủ nhân Hồ Tắm Cộng Hòa – ngay từ phút đầu tiên cô cất lên tiếng hát những bản Kiếp Nghèo, Nỗi Lòng, Gợi Giấc Mơ Xưa. Sau khi được nhận, Minh Hiếu còn được nhạc sĩ Ngọc Chánh dậy thêm về nhạc lý và chẳng bao lâu, người nữ ca sĩ này được nhiều vũ trường và phòng trà khác mời cộng tác. Thời gian này, tại Hồ Tắm Cộng Hòa, có những ca sĩ thường xuyên góp mặt, như Thanh Lan (vợ Ông Cao Xuân Vỹ)..

     Năm 1962, chủ nhân Hoành thay người kéo Ngọc Chánh về trình diễn tại vũ trường Văn Cảnh, lúc đó chef d’orchestre là nhạc sĩ Sáu Già. Chỉ một năm sau (1963), Ông được nhà hàng Mỹ Phụng mời về làm chef d’orchestre, trong ban nhạc bấy giờ có Hoàng Liêm guitar, Xuân Mỹ saxo, một người Hoa đánh trống.. 
      Năm 1964, nhạc sĩ Ngọc Chánh được ông bà Long (thân sinh anh Nguyễn Thành Quốc – chủ vũ trường Majestic và Blue Club tại hải ngoại sau này) mời về làm chef d’orchestre, thành phần cũng thế, ngoại trừ không có tay guitar Hoàng Liêm vì anh này bị một tai nạn lớn năm 1963 phải nghỉ làm việc một thời gian).

      Năm 1966, với tình hình tổng động viên, Ngọc Chánh tham gia vào Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Năm 1967, Ban Hoa Tình Thương do bà Tướng Cao Văn Viên thành lập, rút những nghệ sĩ có tài từ nhiều nơi khác về, chẳng hạn bên Công Binh có Khánh Băng, Phùng Trọng, Duy Khiêm, Nguyễn Ánh 9, bên Hải Thuyền có Elvis Phương, bên Địa Phương Quân có Hoàng Liêm, bên Biệt Đoàn Văn Nghệ có Ngọc Chánh, Pat Lâm, Đức Hiếu.. 
      Ngày 31 tháng 1 năm 1968, tức mùng 2 Tết, Cộng Sản tổng tấn công Sàigòn. Toàn bộ những chương trình ăn chơi giải trí ở các phòng trà, vũ trường đều bị đóng cửa đồng loạt. Giới nghệ sĩ lúc này thất nghiệp cả đám ngoại trừ một số hát được nhạc ngoại quốc thì còn có công việc làm tại các Club Mỹ.

Trong hoàn cảnh này, ca sĩ Pat Lâm được một người cha nuôi người Mỹ có chức quyền cao trong cơ sở USO đề nghị Anh và nhạc sĩ Ngọc Chánh quy tụ những nhạc sĩ có sẵn trong Ban Hoa Tình Thương lúc bấy giờ thành lập một ban nhạc để chơi hàng tuần (thứ bẩy tại U.S.O. Tân Sơn Nhất và mỗi Chủ Nhật tại U.S.O. 119 Nguyễn Huệ Saigon) cũng như chạy thêm show ở các Club Mỹ khác tại Biên Hòa, Long Bình, Vũng Tầu.. với số lương rất cao. 
     Theo một tài liệu, USO (viết tắt từ United Services Organizations, tổ chức phi lợi nhuận đưa các hoạt động giải trí tới phục vụ quân đội Mỹ đóng ở khắp nơi trên thế giới. Cơ sở là rạp hát – Nguyễn Huệ. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là cơ sở U.S.O.119 . Nguyễn Huệ).

      Trong lúc mọi người đang mất việc, thì lời đề nghị này của người cha nuôi Pat Lâm quả như những giọt nước quý trên sa mạc. Chỉ một tuần sau, ban nhạc được hình thành với Ngọc Chánh (piano), Duy Khiêm (bass), Đức Hiếu (trống), Hoàng Liêm (guitar) và 2 tiếng hát Pat Lâm, Elvis Phương. Một thời gian ngắn, Pat Lâm tăng cường thêm Ngọc Mỹ – một giọng nữ chỉ mới 22 tuổi mà đã được coi là một giọng ca vững vàng nhất về nhạc ngoại quốc, nhất là về nhạc Jazz, một loại nhạc nếu không có một căn bản nhạc lý vững chắc thì khó mà trình bày được. Khi vừa chơi trong Club Mỹ một thời gian ngắn, tay trống Lưu Bình vào thế Đức Hiếu và có thêm sự hiện diện của Quốc Hùng chơi bass, Duy Khiêm đánh guitare accord.

     Còn tên gọi Shotguns, không chỉ vì ban nhạc được thành hình sau cuộc chiến Tết Mậu Thân chỉ vài tuần – mà tên ban nhạc còn được bắt nguồn từ một bài nhạc chào có tên Shotgun rất ăn khách vào thời gian đó. Theo như một tài liệu: “Shotgun” là tên một dĩa đơn do Junior Walker & All Stars phát hành năm 1965; sáng tác do Walker viết lời và nhạc, sản xuất bởi Berry Gordy Jr. và Lawrence Horn. Trong bốn tuần liên tiếp, dĩa “Shotgun” đứng đầu danh sách các dĩa nhạc R&B Singles ở Hoa Kỳ và đứng hàng thứ tư trên Billboard Hot 100 vào cuối tuần 3 tháng 4 năm 1965. Nhạc sĩ guitar Jimi Hendrix từng trình diễn bản này trên sân khấu với ban All Stars. Ca sĩ Pat Lâm và nhạc sĩ Ngọc Chánh, hai linh hồn của ban nhạc, quyết định chọn tên Shotguns cho ban nhạc mới thành lập của mình.

     Năm 1969, khi tình hình chiến tranh có vẻ đã lắng dịu, sinh hoạt ca nhạc về đêm trở lại bình thường, nhạc sĩ Ngọc Chánh có khuynh hướng muốn về đóng đô trình diễn hàng đêm tại Sàigòn. 
    Theo nhà báo Nguyễn Việt, trong giai đoạn này, “Ngọc Chánh cùng Hoàng Liêm, Elvis Phương quyết định chuyển hướng từ một ban nhạc chuyên trình diễn loại nhạc Pop Rock kích động sang trình bày nhạc Việt. Bởi Ngọc Chánh có tâm tư, tại sao cứ phải trình diễn cho các Club Mỹ với loại nhạc kích động Pop Rock, Twist, Bebop.. ồn ào náo nhiệt, mà không trở về với cội nguồn cho khán giả Việt thưởng thức những nhịp điệu nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình như Slow, Boston, Rumba, Tango, Bolero… Một quyết định xem ra đơn giản nhưng không đơn giản vào thời đó, vì có một số anh chị em trong ban nhạc không đồng tình. 

      Thời gian này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ có lúc đã mời ban Shotguns về trình diễn Show mỗi đêm với thời lượng một tiếng đồng hồ. Khách tại Maxim rất yêu thích phong cách sống động của ban nhạc và lối trình diễn nóng bỏng của Ngọc Mỹ, Pat Lâm và Elvis Phương. 
     Cuối năm 1969, đầu 1970, khi Jo Marcel rời Queen Bee, Khánh Ly đã mướn lại và mời ban nhạc Shotguns về đóng đô mỗi đêm. Mỗi đêm, bên cạnh thành phần nhạc sĩ thường xuyên của Shotguns, khán giả đến Queen Bee còn nghe được tiếng đàn piano của Nguyễn Ánh 9 và tiếng trống Anh Thoại.

      Tết 1971, Khánh Ly cùng Ngọc Minh và cô em gái Ngọc Anh đi trình diễn tại Mỹ. Lúc trở về, Khánh Ly rời Queen Bee và khai trương chỗ mới ở phòng trà Tự Do. Riêng tại Queen Bee, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns quyết định “thầu” lại và mời tiếng hát nữ danh ca Thanh Thúy tái xuất giang hồ sau 5 năm cô giải nghệ đi lấy chồng. Không biết vô tình hay hữu ý, đêm khai trương của hai vũ trường Tự Do và Queen Bee đều cùng một ngày, ngày 16 tháng 3 năm 1971. 

       Bên phòng trà Tự Do, để cho có nét lạ, đích thân Khánh Ly đến nhà Mai Hương mời cô cộng tác với hợp đồng ký 6 tháng. Tuy chỉ thích hát trên truyền hình, truyền thanh, nhưng vì quý mến Khánh Ly, cho nên Mai Hương đã nhận lời mời. Do đó, trên tờ quảng cáo, Khánh Ly đã ghi: “Và lần đầu tiên, giọng ca chị em với Thái Thanh, “nữ ca sĩ Mai Hương” chịu đi hát phòng trà. Ngày cuối cùng mãn hợp đồng, đúng 6 tháng sau, ngày 16 tháng 9 năm 1971, trong buổi hát cuối cùng tại Tự Do, Mai Hương đã kêu gia đình đi xem rất đông, ai dè, đêm hôm đó, phòng trà Tự Do bị đặt chất nổ, một số người đã bị thương vong, trong đó có gia đình của ca sĩ Mai Hương, một vài người cháu đã bị thương khá nặng. 
      Còn bên phía phòng trà Queen Bee do Ngọc Chánh làm chủ thì đêm khai trương kết quả ra sao, nhất là khi Anh đã có công mời được giọng ca liêu trai Thanh Thúy tái xuất giang hồ. Mời bạn đọc bài viết của Ngọc Hoài Phương đăng trên tuần báo Hồng số 10 phát hành ngày 14 tháng 7 năm 1971:

Thanh Thúy ăn khách như thuở nào

Sau hơn 5 năm xa lánh ánh đèn màu sân khấu, khi tái xuất giang hồ, giọng hát liêu trai của Thanh Thúy vẫn còn ăn khách như thuở nào. Nàng vẫn được đón tiếp với trọn vẹn cảm tình của giới ái mộ dành cho một thần tượng. Và có lẽ ngay chính nàng cũng không thể ngờ được sau quyết định tiếp tục trở lại nghiệp cầm ca này, nàng lại được tiếp đón nồng hậu đến như vậy. 
    Nhắc đến Thanh Thúy thì bắt buộc phải nhớ lại thuở vàng son của nàng trong những năm 1963, 1964 đã qua. Tên tuổi nàng đã đạt tới tuyệt đỉnh danh vọng trong những năm đó. Và bây giờ, khi trở lại với đám đông trong khung cảnh Queen Bee này, tài nghệ của nàng còn có phần điêu luyện, vững vàng hơn xưa nữa là khác. Giọng ca khàn khàn, lê thê đó vẫn còn dư hấp lực để lôi cuốn người nghe. Và ngày nay nếu nàng vẫn còn được nhiều người ái mộ, thiết tưởng đó là chuyện dĩ nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên cả.
 
     Nàng đã chọn Queen Bee cho lần tái xuất hiện này. Đêm 16/3 vừa qua, giới yêu nhạc ở thủ đô đã chen chúc nhau tới đây để được nghe lại giọng ca Thanh Thúy, được nhìn lại vóc dáng quen thuộc của nàng. Vẫn khuôn mặt đó, vóc dáng đó và giọng ca đó, người ta không tìm thấy một sự thay đổi nào ở người ca sĩ này. Hình như, đối với Thanh Thúy, khoảng thời gian mấy năm qua chưa đủ để cho nàng có những thay đổi quan trọng, có chăng chỉ là tài nghệ của nàng vững vàng hơn mà thôi. Sự tái xuất hiện của Thanh Thúy được ghi nhận như một hiện tượng tốt trong sinh hoạt An Nam ta.
 Và kể từ buổi tối hôm đó, với sự góp mặt thường xuyên của Thanh Thúy, với dàn nhạc nổi tiếng Shotguns do Ngọc Chánh điều khiển cùng các nghệ sĩ tài danh khác, Queen Bee đã được giới yêu nhạc coi như một nơi giải trí ngon lành nhất, thích thú nhất. Thường thường các phòng trà rất buồn tình đối với các trận mưa vào buổi tối, bởi vì sẽ vắng khách. Nhưng đối với Queen Bee, mưa hay nắng không phải là một vấn đề quan trọng. Điển hình là trong đêm 1/7, khi bộ biên tập báo Hồng mở cuộc hành quân tại Queen Bee, trời cũng mưa. Vậy mà những khách tới trễ cũng khó khăn trong việc tìm chỗ ngồi. Đây là một điểm son của phòng trà này. 
     Trở lại với người ca sĩ mang tên Thanh Thúy, điều mà rất nhiều người đã công nhận rằng, mặc dầu đã từng là một giọng ca bậc nhất, đã từng chiếm được ngôi vị cao nhất trong những năm trước đây, và cho tới nay nàng vẫn được đón tiếp nồng hậu như xưa, nhưng không phải vì thế mà Thanh Thúy có bộ mặt kên kên khó chịu như một số nghệ sĩ khác. Nàng nói năng thật nhỏ nhẹ dễ thương và lúc nào cũng cởi mở với những người đã quen hoặc chỉ mới biết sơ sơ.
 Với tính tình hòa nhã như vậy, với tên tuổi và tài năng sẵn có, chúng tôi tin tưởng rằng Thanh Thúy sẽ còn gặt hát thêm nhiều thành quả trên bước đường ca hát mà nàng còn nặng nợ, không thể dứt bỏ được”.

       Trụ ở Queen Bee được hơn 3 năm, Ngọc Chánh dời phòng trà về ngay trên lầu Bộ Tư Lịnh Khai Sáng 91 ter Công Lý cho dễ sinh hoạt. Ban ngày bán băng nhạc, buổi chiều chuẩn bị vặn máy lên đèn và một ngày đẹp trời của tháng 5 năm 1974, phòng trà Quốc Tế do Ngọc Chánh, Thanh Thúy làm chủ được khai trương thật rầm rộ. 
    Nhìn lại thật công tâm một chặng đường dài 5 năm của Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns, từ Queen Bee cho đến Quốc Tế, ở đây đã là nơi quy tụ những nhạc sĩ tài danh hàng đầu của Saigon như: 
– Nhạc sĩ dương cầm Lê Văn Thiện: người đã hòa âm hàng ngàn nhạc khúc và được hàng trăm ca sĩ ưu hạng trình bày. 
– Nhạc sĩ Hoàng Liêm: người solo guitar được khách ái mộ phong tặng đệ nhất Đế Vương Tây Ban Cầm độc tấu. 
– Đức Phú, Lưu Bình, Hoàng Hải, Mạnh Tuấn: những tiếng trống cừ khôi đã tạo nên những vũ bão âm thanh với đôi dùi huyền nhiệm. 
– Saxo Trần Vĩnh, Xuân Tiên: Hai tiếng kèn như hai ngọn núi cao nhất, hú gió gọi mưa về làm mát lòng người. 
– Bass guitar Duy Khiêm: người nhạc sĩ được các ca sĩ ưu ái cho là hạt ngọc quý trong xâu chuỗi kim cương của dòng nhạc.
– Đan Thọ: nhà vĩ cầm với chiếc áo vàng trong cuộc đua violin cho tới nay chưa có người thay thế. 
– Nhạc sĩ Cao Phi Long: ngôi sao sáng chói trên vòm trời trompet Việt Nam.

     Đồng thời cũng tại hai phòng trà này, nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban nhạc Shotguns đã là nơi trình diễn lý tưởng cho những giọng ca nổi tiếng đương thời như Thái Thanh, Thanh Thúy, Elvis Phương, Khánh Ly, Lệ Thu, Mỹ Thể, Trúc Mai.. và là những bệ phóng tuyệt vời của những giọng ca trẻ ngời sáng như Thanh Lan, Dạ Hương, Thái Châu, Diễm Chi, Trọng Nghĩa, Nguyễn Chánh Tín.. 
     Riêng trong lãnh vực thực hiện băng nhạc, mặc dù ra đời sau những hãng băng Jo Marcel, Tú Quỳnh, cộng thêm một bất lợi, là tác phẩm Shotguns đầu tay phát hành ngày 22 tháng 7 năm 1969 được thực hiện ở phòng thu Bùi Hữu Nghĩa trong Chợ Lớn (chuyên viên thu thanh tên Hồng), Ngọc Chánh tin rằng anh sẽ thành công bởi có trong tay ca sĩ Hùng Cường hát 5 ca khúc đang nổi ồn ào, đó là Một Trăm Phần Trăm, Ông Lái Đò, Chiều Hoang Vắng, Kim, Đêm Trao Kỷ Niệm.. bên cạnh đó cuốn băng còn có những giọng ca ăn khách thời đó như Thanh Tuyền, Duy Khánh, Ban Sao Băng, Mai Lệ Huyền, Lệ Thu, Giao Linh, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm.. nhưng chẳng hiểu sao, cuốn băng không gây được tiếng vang như Ngọc Chánh mong muốn. 
    Nhà báo Nguyễn Việt đã nhắc lại câu chuyện này như sau: “Giới thưởng thức âm nhạc thời bấy giờ rất kén nghe ca sĩ hát, và ca khúc thuộc dạng lãng mạn trữ tình hay dành cho “sến nương” trong một nhãn hiệu băng nhạc nào đó. Hai trường phái này luôn đối nghịch, nếu nhãn băng có những Lệ Thu, Khánh Ly, Elvis Phương, Thanh Lan… thì sẽ không có những Chế Linh, Giao Linh, Trang Mỹ Dung, Chung Tử Lưu, Giang Tử, Duy Khánh v.v… Có các nhạc phẩm như Tình nhớ, Con thuyền không bến, Đêm đông, thì thường không nghe những bài thuộc dòng “nhạc sến” như Chuyện tình Lan và Điệp, Nhẫn cỏ cho em v.v… Khán thính giả đã phân chia các hạng bậc ca sĩ, nhạc phẩm như thế để thưởng thức nhằm thư giản tinh thần. 
    Cho nên khi Ngọc Chánh mở đầu cho nhãn hiệu băng nhạc Shotguns với bài “Một trăm phần trăm” do Hùng Cường hát, trong một cuốn băng có những giọng ca như Thanh Thúy, Thanh Lan, Xuân Sơn, Khánh Ly, Elvis Phương… đã không được giới thính giả chào đón, đi đến thất bại.
 
     Từ kinh nghiệm trên, nhạc sĩ Ngọc Chánh rất thận trong phong cách chọn bài hát, ca sĩ và cả về âm thanh. Đến khi cuốn “Băng Vàng Shotguns” được phát hành, một tờ nhật báo bán chạy nhất lúc bấy giờ viết đến kỹ thuật thu âm audio cao cấp của nhóm nhạc này, giới mộ điệu âm nhạc bắt đầu chú ý và từ đó trở thành nhãn hiệu băng được mọi người tin cậy, bán chạy nhất bấy giờ”.

     Thừa thắng xông lên, Ngọc Chánh tung thêm nhiều nhãn hiệu khác, tùy theo giòng nhạc, nếu là nhạc trẻ, Anh xếp vào tủ băng có tên Nhạc Trẻ, những cuốn đầu tiên do Kỳ Phát chăm sóc, chọn bài, ca sĩ chủ lực trong những cuốn băng này là Elvis Phương, Thanh Lan, Minh Phúc & Minh Xuân, Bích Loan và CBC, Julie Quang, Cathy Huệ, Thúy Hà Tú, Vy Vân, Thái Hiền, Duy Quang và ban Dreamers, Tuấn Dũng, Cao Giảng, Trung Hành (Mây Trắng), Paolo Tuấn, Tuấn Ngọc, Thanh Mai, Ái Ly.. và đôi khi mời những special guest như Ngọc Mỹ, Tuấn Ngọc, Carol Kim, Jennie Mai, Trọng Nghĩa..

      Bên cạnh tủ băng Nhạc Trẻ, còn có tủ băng Siêu Âm, tủ băng Chế Linh, tủ băng cải lương với nhãn hiệu Hồn Nước (do soạn giả Viễn Châu phụ trách). Cũng nói thêm tại đây, cách đây khá lâu, cô Sáu Liên chủ hãng dĩa Việt Nam có tìm cách liên lạc với nhạc sĩ Ngọc Chánh để xin phép sử dụng lại những cuốn băng cải lương mang nhãn hiệu Hồn Nước mà Ngọc Chánh đã thực hiện trước 75. Sau khi suy nghĩ, Ông đồng ý cho cô Sáu Liên sử dụng những sản phẩm Hồn Nước với điều kiện Bà trao số tiền 1000 dollars (xem như tiền sử dụng) đến tay nhạc sĩ Viễn Châu và một số tiền cũng như thế đến Hội Ái Hữu Tương Tế Nghệ Sĩ (lúc đó do nghệ sĩ Phùng Há chăm sóc). Người viết không rõ câu chuyện kết cuộc về đâu nhưng tấm lòng cao quý âm thầm của nhạc sĩ Ngọc Chánh vô cùng đáng quý. 
     Điều tiếc nuối của Ngọc Chánh là năm 1974, Ông dự tính một kế hoặc lăng xê những giọng hát trẻ có nhiều triển vọng như Hương Lan, Dạ Hương, Nguyễn Chánh Tín, Từ Công Phụng.. nhưng chưa kịp lăng xê thì bởi chiến cuộc lan rộng khắp miền Nam nên mọi kế hoạch đành hủy bỏ. 
     Biến cuộc 30/4 trờ đến. Cuối năm 1975, để được yên thân, anh nhận lời cộng tác với đoàn kịch Kim Cương vào cuối tháng 12. Những thành viên trong ban nhạc hầu hết là những nhạc sĩ cũ của ban Shotguns như: Ngọc Chánh, Lê Văn Thiên, Đan Thọ, Cao Phi Long, Duy Khiêm, Long Thoại Nguyên, Đức Hiếu, Xuân Tiên.. có thêm Văn Hạnh, Lê Tấn Quốc (chồng Họa Mi), Đặng Văn Hiền.. Những buổi diễn đầu tiên tại Rạp Kinh Thành vé bán hết sạch trong chớp nhoáng bởi những cái tên nạm vàng của miền Nam ngày trước: Lệ Thu, Thanh Tuyền, Thái Châu, Hà Thanh, Thanh Phong, Phương Đại, Họa Mi cùng với một ban nhạc toàn những tên tuổi lẫy lừng.

      Ẩn nhẫn chờ thời khoảng 3 năm, Ngọc Chánh cùng gia đình vượt biển đến đảo Pulau Tengah của Mã Lai vào đúng ngày 4 tháng 10 năm 1978. Ngày 1 tháng 4 năm 1979, gia đình Anh đến Mỹ do nhà thờ bảo lãnh. Ở San Pedro 1 tháng, cả nhà dời lên thành phố Van Nuys cư ngụ khoảng 6 tháng. Tháng 10 năm 1979, trong một dịp tình cờ Anh gặp lại Đinh Thành Châu – một  thân hữu giờ làm chủ một nhà hàng tại San Jose muốn giao cho Ngọc Chánh làm vũ trường với tiền cho mướn chỉ 2200$ một tháng. 
     Đêm khai trương của nhạc sĩ Ngọc Chánh và ban Shotguns cùng những tiếng hát Kim Anh (Mùa Thu Lá Bay), Huy Sinh, Hải Lý, Ánh Lệ vào cuối tháng 12 năm 1979 đã thu hút giới mê nhạc năm xưa ở Saigon. Những năm 1980-1981 dù bận nhưng Ông vẫn dành thì giờ đi học chụp ảnh nghệ thuật với nhà nhiếp ảnh Trần Cao Lĩnh.. và nhờ vậy, Ông đã có một số kiến thức về nhiếp ảnh để những năm sau này, khi từ giã thế giới phòng trà, Ông đã lao vào thú vui chụp hình như một đam mê cháy bỏng cuối đời. 
     Năm 1983, đang sinh hoạt nhộn nhịp, vũ trường Ông bị cháy. Đang dự tính tìm một nơi khác để mở lại thì bỗng một dịp xuống thăm Quận Cam, ông gặp được nhạc sĩ Vô Thường, lúc đó đang cùng Lê Đức Long (chủ một cây xăng) làm chủ một vũ trường và đang muốn sang lại. Chỉ nửa ngày sau, Ngọc Chánh đồng ý chồng tiền.

      Từ một diện tích nhỏ khi sang lại năm 1984, đến cuối tháng 12 năm 1989, chỉ 5 năm sau, vũ trường Ritz đã khuếch trương gấp 5. Lúc Trần Quốc Bảo tổ chức đêm ra mắt tờ báo Thế Giới Nghệ Sĩ ngày 8 tháng 12 năm 1989, thì trong vũ trường còn đang xây dựng một bên góc khá ngổn ngang. 
     Năm 1986, Ông cùng các con mở một nhà in thật lớn, có tên Perfect Printing, được sự yểm trợ của nhiều anh chị em nghệ sĩ và thân hữu xa gần. 
     Sau 19 năm làm chủ vũ trường, con cái Ông Bà giờ đây học hành cũng đã thành đạt, Ông quyết định giải nghệ và sang lại vũ trường này cho ông Phương. Đêm đầu tiên, đúng vào lễ Noel 1998, người viết và nhiều ca nhạc sĩ (cũng như khách hàng quen) bước chân vào vũ trường mới biết được giờ đây chủ nhân Ritz đã là người mới. 
     Sau ngày đó, nhạc sĩ Ngọc Chánh cùng vợ dành thì giờ đi du lịch rong chơi nhiều quốc gia. Thì giờ còn lại, Ông chơi tennis, rồi đánh golf, cũng như chuyên tập bộ môn Hồng Gia để giúp cho cơ thể có thêm sức khỏe. 
     Cách đây 10 năm, năm 2007, Ông bắt đầu đi vào chuyên môn nhiếp ảnh, và nhiều lần ghi danh dự thi, Ông cũng nhiều lần đoạt được những giải thưởng hạng đầu. Tuy nhiên với Ông, niềm vui duy nhất trong thú đam mê này, đó là làm sao tạo được những tác phẩm nghệ thuật mà mình và nhiều người nhìn vào sẽ yêu thích. Cũng như ngày xưa, biết bao giờ quên ăn, đêm không ngủ, để cố đi tìm những phương cách mới lạ cho bảng hiệu Shotguns.

      Kết thúc bài viết này, người viết xin trích một bài thơ ngắn mà ngày xưa thi sĩ Hoàng Trúc Ly từng viết về Shotguns: 
Em là người yêu có sắc
 
Em là người thương có tài 
Em là tình nhân có tâm
 
Ta si mê nên trở thành nô lệ
 
Suốt đời ta không hối hận một lần
    Kính chúc nhạc sĩ Ngọc Chánh, một sinh nhật thứ 80, mãi mãi tươi trẻ, mãi mãi nồng nàn, để cho thần Thời Gian phải cúi đầu khuất phục. Trần Quốc Bảo (ngày 7 tháng 3 năm 2017)

    Nhưng hoa đẹp chóng tàn, nên nhiếp ảnh gia Ngọc Chánh nhắn nhủ các đồng nghiệp yêu thích chụp cảnh thiên nhiên cần lên đường thật nhanh trong tuần này, kẻo lỡ cơ hội không biết bao giờ mới được thấy lần nữa. Quý vị có thể vào trang www.abdnha.org/pages/03flora/report… để biết cập nhật tin tức hàng ngày về hoa dại vùng sa mạc Anza-Borrego, đồng thời tham khảo bản đồ để đến những nơi đang có hoa đẹp. 
    Đi săn ảnh thiên nhiên thật không dễ. Nhiếp ảnh gia Ngọc Chánh nói với Thế Giới Nghệ Sĩ, ngày trước, khi kỹ thuật chưa tân tiến thì công lao đi một chuyến xem như 6, 7 phần “thua”, chỉ 3 phần “thắng”, tức là có được một hai tấm ảnh ưng ý. Ngày nay, sử dụng nhiều phương tiện tối tân thì có thể tính toán trước được 6 phần “thắng”, 4 phần “thua” do còn tùy vào “ý trời”, vì chẳng ai đoán chắc được thời tiết sẽ ra sao vào ngày chụp ảnh. Điều này thì những nhiếp ảnh gia đồng nghiệp như ca sĩ Linh Phương, Julayne Kiều Lưu… đều từng trải qua trong những chuyến săn ảnh xa. Nhiều khi cất công bay tới địa điểm, mướn khách sạn ngủ qua đêm để sáng hôm sau thức sớm, lội bộ thật xa, có khi phải leo trèo những địa hình nguy hiểm, trơn trợt, mới tới địa điểm bấm máy, nhưng trời lại kéo mây mù, ánh sáng không đủ để bắt lấy những tấm ảnh như ý, thì máy móc có tốt đến đâu cũng phải chào thua. Quả là một thú vui lắm công phu.

 ===============================================
 

Nhạc Sĩ Ngọc Chánh 
và ban nhạc Shotguns trong ký ức ca nhạc sĩ một thời

 

ngocchanhTT10

 

– CA SĨ THANH THÚY

 

     Thanh Thúy đã biết anh Ngọc Chánh từ những năm 1960-1961, khi ấy anh chơi nhạc tại Hồ Tắm Cộng Hòa. Khoảng năm 1964, Thanh Thúy đi lấy chồng quyết định giải nghệ.. Đến khoảng 5 năm sau, có một lần anh tìm gặp và mời Thanh Thúy trở lại, đầu tiên là thu băng,sau đó về cộng tác phòng trà Queen Bee nhân dịp anh sẽ khai trương vào tháng 3 năm 1971. 
     Ngày đó giữa Thúy và gia đình anh chị Ngọc Chánh gần gũi và thân thiết như gia đình. Dù bận cách mấy, mỗi sáng hết đi hát ở đại nhạc hội, Nha Xổ Số, thu Tivi hoặc thâu băng, đến chiều về là đã chuẩn bị son phấn quần áo để vào vũ trường. Anh em gặp nhau mỗi ngày, chưa kể là có những buổi tập dợt ban nhạc, ăn uống họp mặt gia đình, nên tình thân có thể nói là thâm sâu lắm. Năm 1974, khi dời phòng trà sang Quốc Tế, mấy anh em cũng làm chung với nhau. Thuở ấy, thành thật mà nói, Thanh Thúy không hề biết nghĩ đến chuyện tiền bạc, chỉ lo công việc hàng đầu là mặt nghệ thuật, chọn lựa bài hát.. mong sao khi thực hiện những tác phẩm băng nhạc Thanh Thúy (có anh Ngọc Chánh góp công phần lớn trong đó), sẽ luôn được khán giả hài lòng về chất lượng cũng như bài bản. 
     Thấm thoát mà nay cũng đã hơn 46 năm dài kể từ khi cộng tác với anh và ban nhạc Shotguns. Được biết Trần Quốc Bảo và tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ thực hiện một số chủ đề về ban nhạc Shotguns và mừng anh sinh nhật thứ 80, Thanh Thúy kính chúc Anh sức khỏe tràn đầy để còn có thể đi khắp nơi chụp ảnh nghệ thuật như anh yêu thích, cũng như luôn cầu mong gia đình Anh chị và các cháu bình an và luôn gặp nhiều may mắn.

– NHẠC SĨ DUY KHIÊM (tay bass của Shotguns)

 

ngocchanhTT11
 

     Anh Chánh, 
    Trần Quốc Bảo có nhờ Khiêm viết vài dòng những kỷ niệm về anh cho một bài báo sắp phát hành. Vài dòng làm sao nói hết những kỷ niệm, những hồi ức suốt mấy chục năm từ lúc có cơ hội gặp nhau và chơi nhạc thuở ban Shotgun thành lập năm 1968. 
    Những kỷ niệm đáng nhớ lúc thiếu thời đôi khi nó không là gì lớn lao nhưng là những dấu ấn hằn sâu trong suốt cuộc đời nhau. Có gì đâu anh Chánh, chiếc Vespa của anh không có cần đạp máy, bị gẫy hay là mất gì đó, điều đó không quan trọng, chỉ có là khi muốn chạy, anh lên ngồi sang số rồi một người đẩy, sau đó cười ngặt nghẽo, anh em mình là những nhạc sĩ nghèo mà vui quá phải không anh. 
    Anh và Khiêm là hàng xóm bao nhiêu năm mà không biết nhau. Ở xóm ông Tạ, Khiêm ở đầu hẻm, anh ở xóm trong. Sau khi lập ban, vô tình hỏi nhau mới biết, “Ủa, vậy hả!” thật đơn giản mà dễ thương làm sao. Anh có nhớ anh em mình gọi Pat Lâm là gì không? “Ông thầy Tàu”. Vậy đó, Pat Lâm vẫn vui với tên gọi đó. Sau 75, trong một chuyến vượt biên, tàu Pat Lâm bị bắn chìm, xác trôi vào bờ với đứa con trong tay, nhiều người chứng kiến nói lại, nhưng anh em mình không biết an táng nơi nào.
    Bao nhiêu năm trôi giạt nơi xứ người, mỗi người một nơi, kẻ còn người mất, tuổi ngày càng cao, những kỷ niệm một thời của ban shotgun, của anh Chánh, của Khiêm, của những anh em còn lại là một hoài niệm đẹp trong cuộc đời nhạc sĩ. 
     Vài dòng nhưng cũng đã dài, nhân có bài viết về ngày Sinh Nhật anh. Duy Khiêm Chúc anh Sinh Nhật thật vui, sức khỏe dồi dào và mong lại có dịp gặp nhau để nhắc lại một thời huy hoàng đã rất xa…

– CA SĨ NGỌC MỸ

ngocchanhTT12

      Saigon, năm 1968. Ngọc Mỹ hát chung với Pat Lâm, Elvis Phương, Ngọc Chánh, Hoàng Liêm, Duy Khiêm, Quốc Hùng và còn nhiều nghệ sĩ khác nữa trong Ban Văn Nghệ Hoa Tình Thương, hát cho các chiến sĩ ở tiền đồn. Trong thời gian bị tấn công dịp Tết Mậu Thân 1968, chúng tôi không thể sinh hoạt văn nghệ hay đi đâu cả, vì có lệnh giới nghiêm mỗi ngày. Chúng tôi họp nhau lại và thành lập ban Shotguns. Chúng tôi tập dợt, thu băng… và rồi khi hết lệnh giới nghiêm, chúng tôi đi hát ở những câu lạc bộ của lính Mỹ như USO… Chúng tôi gọi Ngọc Chánh là “ông bầu”, vì anh biết cách tính toán làm ăn. Elvis Phương gọi Pat Lâm là “ông thầy Tàu”. Chúng tôi vui đùa với nhau và sinh hoạt rất vui vẻ. Hoàng Liêm nổi tiếng với những màn nói đùa tục của anh ấy… ha ha… Ký ức về những bạn trong Shotguns tôi sẽ ghi nhớ mãi.

– NHẠC SĨ PHẠM DUY:

 

ngocchanhTT13

 

 

      Hiện tượng phòng trà và các quán cà phê của sinh viên và sự du nhập của nhạc rock vào Việt Nam khiến cho âm nhạc ở miền Nam phát triển trên cả hai phương diện sáng tác và ca diễn. Thêm vào đó là việc ấn hành bản nhạc và sản xuất băng nhạc làm cho âm nhạc được dễ dàng phổ biến tới ngang cùng ngõ hẻm, từ thành thị tới thôn quê. Rồi còn có thêm Đài Truyền Hình tiếp tay cho Đài Truyền Thanh trong việc giới thiệu sáng tác mới, ca sĩ mới. Theo Ngọc Chánh, người ấn hành nhạc bản và sản xuất băng nhạc thành công nhất Sai-gon, một bài hát nào mà dân chúng thích có thể được in ra không dưới 10.000 bản. Chương trình băng nhạc ngon lành có thể bán được 8.000 tapes reel-to-reel, 15.000 cassettes. Những người mua băng lớn lại dùng nó làm băng chính để sang qua tape hay cassette bán cho dân chúng, cho nên số băng nhạc tiêu thụ tăng lên gấp bội. 
      Đời sống của tôi trở nên phong lưu hơn trước. Hầu hết nhạc phẩm của tôi được cơ sở Shotguns của Ngọc Chánh in ra và thu băng. Nhưng tôi cần phải tâm sự với bạn đọc là, trong suốt hai mươi năm đứng ở đầu sóng ngọn gió của làng nhạc miền Nam, soạn ra nhiều loại ca nhưng nhạc yêu nước (!), nhạc chiến đấu (! !), nhạc xây dựng (! ! !) chẳng đem lại cho tôi số tác quyền nào đáng kể. Chỉ có loại nhạc tình hay nhạc ngoại quốc lời Việt mới giúp tôi có nhiều tiền tác giả. Có dịp ngồi soạn lại gia tài âm nhạc để tặng các con, mới thấy mình soạn quá nhiều lời Việt cho những bản nhạc ngoại quốc. Có tới hàng trăm bài ! Lời Việt của nhạc Âu Mỹ mới mẻ hơn lời nhạc Việt thuần túy của tôi nhiều ! Và có ảnh hưởng lớn trong dân chúng. Có lẽ nên in ra cuốn Ngàn Lời Ca khác chăng?

– CA SĨ PAULINE NGỌC

 

 

ngocchanhTT14

 

 

      Nhạc sĩ Ngọc Chánh là một ông anh giỏi , rất giỏi và sáng tạo. Rất nhiều ý kiến mới trong lãnh vực Văn Nghệ và gan dạ cùng mình. Từ đi làm công trong ban nhạc để trở thành chủ phòng trà và tinh mắt lúc nào cũng theo kịp thị hiếu cũng như sự yêu thích của khán thính giả. 
     Nhạc sĩ Ngọc Chánh từ làm băng Shotgun đến Nhạc trẻ đều thành công độc đáo. Lúc nào cũng đi tiên phong , không ngán thua cuộc hay lỗ vốn. Anh Ngọc Chánh đã đem Pauline Ngọc từ Club Mỹ Long Bình về hát phòng trà Queen Bee, cũng như thế với anh Elvis Phương. 
    Thời đó anh Đức Huy đóng đô ở phòng trà Mỹ Phụng bến Bạch Đằng, còn Duy Quang, Julie Quang – ban Dreamers ở Club Hai bà Trưng, Mây Trắng ở Key Hole, nhưng Queen Bees thì hỗn hợp Nhạc trẻ và giòng nhạc tình với nữ Hoàng sầu muộn Thanh Thúy rất tuyệt vời! 
    Nghệ sĩ về hát ở phòng trà Queen Bee của anh Ngọc Chánh và chị Thanh Thúy thì sướng lắm. Ba tháng đầu Pauline Ngọc được ký contrat hát độc quyền, khỏi chạy vòng vòng hát chỗ khác, và được chú Ngọc Hoài Phương cùng những ký giả khác thay phiên viết bài lancer mình qua sự hướng dẫn của anh Ngọc Chánh. Chị bắt đầu sự nghiệp là từ đó nên yêu quý anh Ngọc Chánh suốt đời. Cầu Chúa thương cho anh ấy sức khỏe và bình an để xách máy đi vòng Thế giới chụp ảnh dài dài!

– CA SĨ ANH KHOA

 

 

ngocchanhTT15

 

 

– Hỏi: Khi mới vào nghiệp ca hát, những ca khúc nào có thể coi là “tủ” của anh? Những bản nào khiến khán thính giả, nếu nghe lại, vẫn nhớ đến ca sĩ Anh Khoa? Và, nhạc sĩ nào đã có ảnh hưởng lớn đến anh? 
– Anh Khoa: Phải nói đến những “Bài không tên” của Vũ Thành An. Nhưng bài đã đưa tôi lên tên tuổi sáng chói nhất, chỉ có một bài thôi, là “Bao giờ biết tưong tư” (nhạc Phạm Duy, lời Ngọc Chánh). Sau này, có nhiều người ca bài đó, nhưng thật sự đa số khán giả vẫn đánh giá tôi hát bài đó là đạt nhất.

NHÀ BÁO NGUYỄN VIỆT

 

 

ngocchanhTT16

 

 

    Năm 1969, Ngọc Chánh thành lập Trung tâm băng nhạc Shotguns, thu âm ở một phòng thu trên đường Bùi Hữu Nghĩa. Vì cộng tác chặt chẽ với nhạc sĩ Phạm Duy nên Ngọc Chánh đã nhờ Phạm Duy đặt lời cho bản nhạc “Bao giờ biết tương tư” (năm 1972) ông đã viết cho phim “Điệu ru nước mắt” dựa theo tác phẩm của nhà văn Duyên Anh. Ca sĩ Anh Khoa đã hát rất thành công bản nhạc này đúng ý ông nhất. 
      Nhạc sĩ Ngọc Chánh còn viết bản nhạc “Vết thù trên lưng ngựa hoang” cho bộ phim cùng tên của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Lúc đầu, ông định nhờ nhà văn Duyên Anh viết lời, nhưng sau đó đã để cho Phạm Duy viết lời. Duyên văn nghệ giữa Ngọc Chánh và nhạc sĩ Phạm Duy còn mang lại cho nền tân nhạc Việt Nam một bài hát nữa là “Tuổi biết buồn” cũng do Phạm Duy đặt lời. 
     Ca khúc “Bao giờ biết tương tư” trong phim “Điệu ru nước mắt” là lời tâm tình của một chàng trai biết thế nào là nỗi sầu tương tư khi tình yêu đến. Mãi đến khi đã thật sự yêu nàng, chàng mới biết thế nào là nỗi nhớ da diết mà người ta thường gọi là nỗi tương tư của một người phải xa cách người yêu để từng ngày qua là một ngày mong chờ được nhìn thấy bóng dáng của nàng.

 

 

ngocchanhTT17

 

 

Những ngón tay lướt trên nòng Shotguns

Sgt. ROGER NEUMANN

SAIGON – Các nhà tổ chức từng đưa những tài năng vòng quanh thế giới đến những câu lạc bộ quân đội ở Việt Nam. Don Raymond chỉ cần tạt sang nhà bên là tìm được Pat Lâm và ban Shotguns. 
     Ban Shotguns ở ngay Saigon. Họ cũng phải có mặt tại đây; họ ở trong Quân Đội. Chính là Quân Lực Miền Nam Việt Nam. 
     Có một thành viên trong nhóm không ở trong Quân Đội. Cô là Ngọc Mỹ (người ta gọi cô là Mi-Mi), và nhìn cô cứ như một lối quảng cáo mời gọi đi lính tuyệt vời khi cô diện bộ trang phục rằn ri. Bộ trang phục thật tiện lợi khi Mi-Mi đi theo ban Shotguns đến những trung tâm giải trí nằm ngoài Tự Do như Qui Nhơn, Ban Mê Thuột và Đắk Tô. 
     Cô nói: “Tôi thích đi ra tiền đồn vì tôi cho là những gì chúng tôi làm giúp ích cho binh sĩ”.
     Quân Đội cho các nghệ sĩ này một hợp đồng dài hạn, nhưng họ không hẳn đi săn việc. Ngay cả đối với Quân Đội, sự nghiệp họ đang khá lắm cho đến trận tấn công của Việt Cộng dịp Tết Mậu Thân khi tất cả đều thất nghiệp, tuy không phải là nguyên nhóm cùng lúc, ở các phòng trà Saigon vì bị đóng cửa. 
     Pat Lâm, trưởng ban nhạc, nói: “Tôi đang hát ở phòng trà Quốc Tế. Tôi không hát nhạc soul, rock’n’roll, những loại nhạc chúng tôi hát lúc này, vì họ không ưa những loại nhạc như vậy ở đó. Những ca sĩ yêu thích của tôi là Frank Sinatra và Jack Jones, và tôi hát loại nhạc của họ. 
    “Đáng lý ra tôi giải ngũ năm nay, nhưng bây giờ thì tôi sẽ ở lại cho tới năm 38 tuổi hoặc tới khi hết chiến tranh. Ít nhất lúc này tôi được hát trở lại”. 
     Bẵng đi một thời gian, chẳng ai trong số họ hát hay chơi nhạc. Bọn họ làm việc cho những đơn vị tâm lý chiến cho tới sau Tết, một tổ chức mới ra đời lấy tên là Hoa Tình Thương bắt đầu gồm thu các tài năng để giải khuây cho binh sĩ. 
     Ngoài Pat Lâm và Mi-Mi, vốn có hợp đồng với Hội, những người khác tham gia Shotguns gồm có Elvis Phương, ca sĩ; Hoàng Liêm, lead guitar; Quốc Hùng, bass; Duy Khiêm, rhythm; Ngọc Chánh, organ; và Đức Hiếu, trống. 
    Khi họ không trình diễn cho binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa ở tiền đồn, người môi giới vẫn có việc cho họ. Ban Shotguns thích chơi cho các câu lạc bộ quân đội Mỹ quanh Saigon vì họ thích chơi loại nhạc người Mỹ thích và người Mỹ cũng thích lối trình diễn của họ. 
    Bài bản của họ đa dạng từ những ballad như “The Impossible Dream” Pat Lâm ca cho đến soul như “Chain of Fools” Mi-Mi hát cho đến những bản nhạc country và western được ưa chuộng như “Together Again” với cả hai giọng ca Mi-Mi và Pat Lâm. 
    Pat Lâm cho biết: “Chúng tôi thích chơi nhạc cho người Mỹ vì chúng tôi hát hầu hết nhạc Mỹ. Nhiều người Việt cũng thích loại nhạc này, nhưng hầu hết là những người trẻ, tuổi choai choai. Ngay cả khi họ không hiểu lời ca, họ thích tiết tấu của bản nhạc. Nhưng khi chúng tôi trình diễn cho người Mỹ, chúng tôi biết rằng chúng tôi đang chơi đúng loại nhạc của họ”. 
     Ban Shotguns trình diễn mỗi Thứ Bảy ở Tân Sơn Nhứt USO và Chủ Nhật ở câu lạc bộ Saigon. Cả hai chương trình bắt đầu lúc 12 giờ trưa.

 

 

ngocchanhTT18
 
 
 
 
Ban Shotguns trình diễn mỗi Thứ Bảy ở Tân Sơn Nhứt USO và Chủ Nhật ở câu lạc bộ Saigon. Cả hai chương trình bắt đầu lúc 12 giờ trưa.

Ban Shotguns và ông Webster

JOHN B. WILSON 

 

ngocchanhTT19

 

 

     Nhà làm tự điển Webster mô tả “shotguns” là võ khí “lợi hại có thể trúng hay trật trên một bình diện rộng”. Rõ ràng, ông Webster chưa bao giờ đặt chân tới Saigon, hay bất cứ nơi nào ở Việt Nam mà Pat Lâm đã đưa “những nòng Shotguns của anh ấy” đi tới thật đều đặn và vô cùng hiệu quả. 
    Ban Shotguns của Pat Lâm gom lại hơn 67 năm kinh nghiệm trình diễn nhạc, màu sắc quốc tế, do chính Pat sáng lập, và có đủ cá tính cũng như thiện chí để làm mất việc hầu hết các ngài đại sứ! 
     Những nòng “shotguns” này, như những cây mà ông Webster mô tả, là võ khí đấy. Kẻ thù của họ? Trầm cảm, cô đơn… tuyệt vọng. Mức độ chính xác trong tầm ngắm của họ? 100%. 
    Ban nhạc hầu hết là quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Elvis Phương bên Hải Quân, Shotguns làm việc dưới danh nghĩa của Ban Hoa Tình Thương. Họ là một nhóm ca sĩ và nhạc công chuyên nghiệp, nhiều kinh nghiệm, luôn luôn nở nụ cười và có vẻ hồn nhiên đối với khán giả say mê họ, luôn luôn thẩm định lại những điểm mạnh, điểm yếu trong công việc mỗi tuần khi tập dợt vào ngày nghỉ Thứ Hai để hoàn thiện hơn. Còn sáu ngày kia trong tuần. Chà… một ngày có thể có đến ba chương trình trình diễn cho binh sĩ nghe ở ba nơi khác nhau. 
     Một quân nhân gần đây bình phẩm: “Những người này nghe có vẻ như họ đã trình diễn với nhau suốt 10 năm”. Thực ra, ban Shotuns chỉ mới kết hợp có bảy tháng, nhưng với một người trưởng ban như Pat Lâm, có được sự trung thành và kính nể của cả nhóm, và Nguyễn Ngọc Chánh, với hai năm Quốc Gia Âm Nhạc, có vốn liếng để soạn hòa âm ăn khách cho những bài nhạc đã nổi tiếng, thì khó có ai nghi ngờ được lời của quân nhân đó. Sự thực thì có thêm nhiều người cùng cảm nghĩ như ông ta. 
     Elvis, binh sĩ Hải Quân duy nhất trong nhóm, có biệt hiệu này vì khả năng tuyệt vời bắt chước phong thái và giọng hát của “Ông Hoàng” của chúng ta. Xem ra rất nghiêm trang cho độ tuổi 24, Elvis Phương thường tạo ngạc nhiên với óc khôi hài của anh. Gần đây, sau một tràng pháo tay của khán giả, Phương thông báo: “Chúng tôi có rất nhiều yêu cầu tối nay, nhưng chúng tôi sẽ tránh xa!” Nhưng rồi khi anh mở đầu bài “Wait till the Midnight Hour” và “Blue Suede Shoes” thì chắc chắn ai cũng thấy bên dưới nụ cười hiền hòa đó là sự chuyên nghiệp chín chắn. 
     Pat Lâm, 33 tuổi, không phải là người cao tuổi nhất thôi, mà anh là trưởng ban. Không nghi ngờ gì. Một người hát nhạc swing và một cá tính nổi bật trên sân khấu, Pat cũng nghiêm trang và kỹ lưỡng không kém trên sàn diễn. Trong những tiết mục anh không tham dự, Pat lánh vào một góc để quan sát ban nhạc, cách trình diễn… và phản ứng của khán giả. 
    Hàng tuần họ tập với nhau một lần, mọi người đều lè phè. Hoàng Liêm, 32 tuổi, với bài hát Mễ Tây Cơ khiến anh có biệt hiệu “Paneho” cởi phăng áo và bỏ cả giày, tay cầm guitar, tìm một chốn thoải mái khẩy đàn. Anh chơi lead guitar cho Shotguns. Còn tay rhythm guitar Nguyễn Duy Khiêm, 25 tuổi, ở sau quầy nước soda, cúi đầu xuống cây guitar học một bản nhạc mới. Chân đất và cởi trần, Chánh đeo cặp tai nghe của Pat để lắng nghe một bản nhạc đang nổi trong tủ nhạc rất dồi dào của ban nhạc, đứng trước cây đàn organ điện, và một khuôn nhạc trắng, bắt đầu viết hòa âm cho phù hợp với lối trình diễn của nhóm. Lương Quốc Hùng, 22 tuổi, tay bass của Shotguns, ngồi trên một chiếc ampli lớn… trong khi Mi Mi, mà có lẽ chúng ta nghĩ chỉ đứng làm dáng, lại tất bật lo học lời ca của những bài hát mới.

1001 Khuôn Mặt Thương Yêu: 
Nhạc Sĩ NGỌC CHÁNH

bài viết: Nguyên Sa 

 

 

ngocchanhTT20

 

 

      Trong mắt người nghệ sĩ ngồi tâm sự với tôi có lãng đãng khói sương, những khói sương làm thành bởi những giấc mơ xưa, những cây dài bóng mát trong âm nhạc. 
    Đẩy một giọng ca lên đỉnh ngọn danh vọng là giấc mơ chạy dài suốt một cuộc đời Ngọc Chánh. 
     Năm 1960, giữ nhiệm vụ nhạc trưởng, chef d’orchestre ở Hồ Tắm Cộng Hòa, Ngọc Chánh đã đẩy giọng ca Minh Hiếu lên đỉnh ngọn danh vọng. Minh Hiếu khởi đầu cuộc đời đầy danh vọng của cô ở chính nơi Hồ Tắm Cộng Hòa đó. Với ban nhạc do Ngọc Chánh làm nhạc trưởng. Dưới sự hướng dẫn của Ngọc Chánh. Trước Hồ Tắm Cộng Hòa, Minh Hiếu chưa từng xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu. Sân khấu tài tử, sân khấu của lớp học, của trường học, có thể, nhưng sân khấu chuyên nghiệp, chưa bao giờ. Minh Hiếu chỉ hát cho Hồ Tắm Cộng Hòa trước sau có 6 tháng, mỗi đêm chỉ ca hai bài, ca bài Nỗi Lòng của Nguyễn Văn Khánh và ca bài Gợi Giấc Mơ Xưa của Lê Hoàng Long. Ca mỗi đêm hai bài không hơn không kém, ca chỉ cho một vũ trường duy nhất là Hồ Tắm Cộng Hòa, không có giao ước độc quyền gì cả, nhưng cũng không chạy vũ trường, chỉ Hồ Tắm Cộng Hòa thôi, mà cũng chỉ có hai bài vì nhiều ca sĩ, chia ra người vài bài một đêm, Minh Hiếu ca sĩ mầm non hai bài không phài là một con số đáng phiền muộn, ca sĩ phải ở lại nguyên đêm dù cho chỉ xuất hiện hai lần dưới ánh đèn sân khấu. Nhạc trưởng Ngọc Chánh để hết tâm sức chỉ cho Minh Hiếu vô, chỉ cho cô ca sĩ láy, chỉ cho kiểu cách out ra, vô có luật của vô, ra có luật của ra, láy và ngân có một chục cách thế riêng biệt. Minh Hiếu làm đúng những lời hướng dẫn bằng vàng của người nhạc trưởng và chỉ sáu tháng sau cô cất cánh bay. Những lời mời mọc bay đến từ tứ phía cho Minh Hiếu, từ Arc en Ciel, từ Văn Cảnh, từ Mỹ Phụng, và con chim cất những tiếng hót đầu tiên cất lên khi chiếc đũa của người nhạc trưởng Ngợc Chánh đưa lên, hạ thấp xuống khi chiếc đũa đưa thấp xuống, cất cánh bay. 
     Năm 1968, Shotguns ra đời. Ban nhạc của Ngọc Chánh xuất quân không chọn đúng ngày, chỉ hoạt động một thời gian ngắn là vũ trường và phòng trà bị đóng cửa nhất loạt vì vụ Mậu Thân, năm 1969, sinh hoạt vũ trường tái lập, Shotguns trở lại sân chơi có Lê Văn Thiện piano, Ngọc Chánh keyboard, Cao Phi Long trompette, Mạnh Tuấn trống, Duy Khiêm bass, Đan Thọ violon, Trần Vĩnh saxo, Hoàng Liêm guitare. 
     Chính trong bầu trời âm nhạc tuyệt vời đó, tiếng hát của Elvis Phương được, nói theo thành ngữ của Ngọc Chánh, “đẩy lên đỉnh ngọn”. Ngọc Chánh còn nhớ anh tập cho Elvis Phương bài ca tiếng Việt đầu tiên là bài Mộng Dưới Hoa. Là một học sinh của Chasseloup, sau đổi tên là Jean Jacques Rousseau, Elvis Phương biết ca, ca hay nữa chứ, nhưng chỉ biết ca toàn những bài Pháp. Năm 1969, tập dượt cho Elvis Phương và năm 1970, người Elvis của âm nhạc Việt Nam cất cánh bay, bay từ đỉnh ngọn này tới đỉnh ngọn khác, chưa một lần phải hạ cánh. 
     Cũng như tiếng hát của Elvis Phương, tiếng hát của Thanh Lan bay đi từ Shotguns mặc dù giông bão, đến từ nhân thế cũng như đến từ thời gian, vẫn bay lượn viên miễn trên bầu trời của những đỉnh ngọn. Ngọc Chánh tâm sự đáng lẽ đỉnh ngọn vị thần âm nhạc dành cho Thanh Lan cao hơn nhiều, đó không phải chỉ là một đỉnh ngọn quốc gia mà là một đỉnh ngọn quốc tế. Vị thần âm nhạc mang món quà trân quý lại cho Thanh Lan, nhưng vị thần tinh nghịch đó có hai tay, ông chỉ đưa bằng một tay, đưa tay này vừa xong đã, bàn tay kia, lấy lại. 
     Năm 1970, Ngọc Chánh đưa Thanh Lan đi dự thi một cuộc thi ca nhạc quốc tế. Trong nước, tên tuổi Thanh Lan đã lên. Nhưng dưới vòm trời âm nhạc Việt Nam nhiều giọng hát của ta được coi là lớn thì dưới vòm trời âm nhạc quốc tế vẫn chỉ là những hành tinh cách xa nhiều triệu năm ánh sáng, không ai thấy được, nếu không phải là hư vô. Đẩy một tiếng hát lên đỉnh ngọn của quả núi trước mặt là một giấc mơ, đẩy tiếng hát lên đỉnh ngọn trái núi cao nhất đứng tuốt phía xa của hàng giẫy núi cao lại là một giấc mơ khác. Ngọc Chánh muốn cùng Thanh Lan vượt qua đỉnh ngọn của rặng núi trước mặt, lên tới đó mới nhìn thấy đỉnh ngọn của những rặng núi cao vút phía sau và leo lên tuốt những đỉnh núi cao vút trời mây đó. Ngọc Chánh ghi tên cho Thanh Lan dự thi cuộc thi ca nhạc quốc tế có tên là Yamaha. Thanh Lan thắng. Cuộc thi hát có điều kiện ca sĩ phải trình bày một bài mới, Ngọc Chánh tìm gặp Phạm Duy, đưa ra vấn đề, Phạm Duy đồng ý, hai người âm nhạc cùng nhau soạn thảo hoàn toàn ca khúc Tuổi Biết Buồn cho Thanh Lan ca trong kỳ thi. Thanh Lan thắng. Công ty sản xuất băng đĩa Nhật Bản là J.V.C. mang tới cho Thanh Lan một giao kèo 3 năm, giao kèo để ca, đi “sô” ở nhiều nơi trên thế giới, và ca để thâu băng và đĩa. Thanh Lan không bao giờ lãnh được một đồng bạc của giao kèo quốc tế đầu tiên của ca sĩ Việt Nam đó và còn bị lỗi là không giữ đúng giao kèo vì lý do đơn giản là Bộ Thông Tin Dân Vận, lúc đó do Hoàng Đức Nhã cầm đầu, đã cản ngăn không cho Thanh Lan xuất ngoại. Tại sao Bộ Thông Tin Dân Vận thời đó lại làm như thế? Có thể vì lúc đó Bộ Thông Tin Dân Vận có một đoàn ca nhạc cơ hữu mà Thanh Lan từ chối gia nhập. Có thể vì một lý do nào khác. Đừng hỏi tại sao với nhà cầm quyền của một chế độ độc tài, dù cho độc tài ngắn hạn của ông Thiệu, hay độc tài dài hạn của ông Hồ. Nhân loại bình thường có cái lý của nhân loại, những nhà cai trị độc tài có cái lý của họ dù cho không giống cái lý của loài người. Trong mọi trường hợp, Thanh Lan mất cơ hội ngàn năm một thuở. Thanh Lan không bay lên tới đỉnh ngọn vút cao của bầu trời âm nhạc quốc tế. Ngọc Chánh không hoàn thành được giấc mơ đẩy lên tới đỉnh ngọn cao nhất của một giọng ca.

 

 

ngocchanhTT21

 

 

     Giọng Ngọc Chánh trầm hẳn xuống. Giấc mơ không thực hiện được xa cách đã hai mươi ba năm vẫn còn làm cho anh ngậm ngùi. Ngọc Chánh ngậm ngùi, rồi xót xa, xót xa rồi phẫn nộ cho những bất hạnh mà Thanh Lan đã gặp phải. Anh nói Thanh Lan bị Bộ Dân Vận của ông Nhã không cho đi thực hiện giao kèo của một đời người, đời người của một người ca sĩ một nước nhược tiểu không phải ai cũng có cơ may này, nói cho đúng không có ai cả, cơ may lại chỉ đến có một lần không bao giờ trở lại mà bị cản ngăn, phải gạt lệ mà gạt bỏ, đến như thế mà Thanh Lan còn bị dư luận đồn đãi cho rằng cổ là bồ của Hoàng Đức Nhã. Không thể có được. Chuyện này sai. Ngọc Chánh biết không có chuyện này. Và anh đưa ra những biện minh vững vàng như bàn thạch. Anh nghĩ coi nếu Thanh Lan là tình nhân của Hoàng Đức Nhã thì cổ phải được đi Nhật để thực hiện giao kèo với J.V.C. rồi. Đàng này cổ không được đi, bị cấm xuất ngoại, phải bỏ lỡ giao kèo. 
     Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí, năm 1975, Thanh Lan bị kẹt lại. Cô bị nhà cầm quyền Cộng sản kết án nặng nề vì lý do cô là.. “người tình của Hoàng Đức Nhã”.

 

 

ngocchanhTT23

 

 

     Đẩy một tiếng hát lên đỉnh ngọn, nói thì dễ, làm thì phải thiên nan vạn nan. Phải có lỗ tai để nghe thấy một tiếng hát thần thoại ngay từ khi giọng ca chưa vỡ ra. Giọng ca của một con người bằng xương bằng thịt không bất biến như âm thanh đã băng nhựa được bảo trì đúng mức, giọng ca của một con người không những đổi theo tuổi trẻ già, còn đổi từng năm, hơn thế, từng tháng. Một giọng ca có tôi luyện đều đặn vỡ dần ra, không những điêu luyện hơn, còn mạnh hơn, dầy hơn. Ngọc Chánh nói giọng ca của Ý Lan cách đây chừng hai năm không dầy như hôm nay, hồi đó giọng Ý Lan mong manh, sau hai năm Ý Lan làm việc với Ngọc Chánh giọng Ý Lan đã vỡ ra, đầy đặn khi lên không bao giờ đuối, khi xuống không thể mờ. Don Ho, trước khi hát cho Ritz và Don Ho sau khi ca cho vũ trường này là hai ca sĩ hoàn toàn khác biệt. Muốn đẩy một giọng ca lên đỉnh ngọn phải nghe thấy sự phong phú trong làn hơi còn non, phải nhận ra giọng ca có sức mạnh ghê gớm trong giọng ca còn mơ hồ, thấy được cái dầy cộm trong cái mỏng manh, tiếp nhận được nét tình tự ngàn đời trong vụng dại. Duy Quang lúc khởi đầu không ca. Duy Quang chơi bass cho vũ trường Tự Do của Bích Liên. Ngọc Chánh nhìn thấy viên ngọc quý trong lồng ngực ngươi nhạc sĩ, nghe thấy tiếng hót của con chim nằm trong cổ họng Duy Quang từ khi con chim mới chỉ là những hạt trứng đang được ấp ủ trong thời gian. Ngọc Chánh mời Duy Quang ca cho những cuốn băng Shotguns mà Ngọc Chánh khởi sự làm lại trong những ngày đầu đời tỵ nạn. Duy Quang sáng chói. Duy Quang bốc lên ngay. Từ dàn phóng Shotguns bồi thêm những cuốn Duy Quang – Hương Lan của Bích Liên, Duy Quang thâu cho Thanh Lan, Duy Quang bốc lên vút cao trên bầu trời danh vọng. Khi cuốn Ngọc Lan – Duy Quang ra đời, Duy Quang đã ở trên đỉnh ngọn. 

 

ngocchanhTT24

 


     Chính biệt tài nghe thấy âm ba từ thinh không đã giúp cho Ngọc Chánh tìm ra Elvis Phương, Thanh Lan, Minh Hiếu… hôm qua, những ngày tháng Việt Nam, và tìm ra những Duy Quang, Kim Anh, Ngọc Lan, Thiên Trang, Ánh Lệ, Delena, Ý Lan, Don Ho… hôm nay, nơi vùng đất Hải ngoại này. Hơn thế, Ngọc Chánh còn một thế võ chỉ những cao thủ biết khổ công tu luyện mới có được. Nhìn thấy viên ngọc trong những tảng đá khổng lồ là một chuyện, làm thế nào đập được tảng đá, lấy ra được viên ngọc mà không làm cho nó bị hư hao lại là một vấn đề khác. Những khách chơi sành điệu đều ghi nhận sự kỹ càng của Ngọc Chánh. Kỹ càng trong việc chọn lựa từng dàn đèn. Kỹ càng trong việc chỉnh đốn từ dàn máy khuếch âm đến dàn đèn. Những ca sĩ làm việc với Ngọc Chánh đều biết sự kỹ càng của người nhạc trưởng, cuối tuần ca, trong tuần có buổi tập, bài ca chưa mòn phải cùng ban nhạc tập bản mới rồi, tập luyện làm cho giữa ban nhạc và ca sĩ khi xuất hiện trước khán giả là sự ăn ý tuyệt đối, làm cho người ca sĩ trong khu dành riêng của nghệ sĩ nghe thấy nhạc “intro” bài của người nào người ấy nhận ra và từ từ tiến ra sân khấu không cần một ám hiệu, âm hiệu hay thủ hiệu nào khác. Nhưng sự kỹ càng trong công việc nghề nghiệp vũ trường của Ngọc Chánh chỉ kỹ càng một. Kỹ càng của Ngọc Chánh trong việc đẩy một giọng ca lên đỉnh ngọn kỹ càng mười. Ngọc Chánh ngậm tăm. Anh không nói một tiếng. Người nhạc sĩ lầm lỳ tính kế. Phải tập luyện cho giọng ca này như thế nào, phải chọn bài bản nào, phải “lăng xê” ra làm sao. Nhận thấy ngay bài Mùa Thu Lá Bay trong cuốn phim cùng tên, cuốn phim xây dựng trên tiểu thuyết của Quỳnh Giao, chiếu trên màn ảnh Sài Gòn năm 1973, Ngọc Chánh về rủ Nam Lộc đi coi cuốn phim khi thấy Nam Lộc cũng đồng ý với mình bản Mùa Thu Lá Bay trong phim quá hay, Ngọc Chánh nhờ Nam Lộc ghi nhận lấy bài ca và soạn lời Việt. Hương Lan đã ca Mùa Thu Lá Bay cho Ngọc Chánh ở Queen Bee. Ngọc Chánh đến Mỹ trước, anh biết Mùa Thu Lá Bay tung ra trên thị trường Mỹ phải thắng lớn. Ngọc Chánh đến Mỹ, Hương Lan chưa tới. Ngọc Chánh chờ Hương Lan. Kim Anh cô nữ ca sĩ hát được những bài ca Trung Hoa nhiều hơn bài Việt, Ngọc Chánh tập bài Việt cho Kim Anh ca ở Ritz, San José, trong số những bài Việt Ngọc Chánh tập cho Kim Anh có Mùa Thu Lá Bay, Nam Lộc soạn lời trước kia. Đầu thập niên 80, Kim Anh muốn thực hiện cuốn băng đầu đời Tiếng Hát Kim Anh, Ngọc Chánh góp ý, và Mùa Thu Lá Bay hi.

 


Nguyễn Ngọc Quang
 
Sưu Tầm Tổng Hợp
Ảnh minh họa
 
Xem thêm...

NHỮNG ĐOẢN KHÚC CHO ĐÊM

Image result for beautiful midnight moon photos

NHỮNG ĐOẢN KHÚC CHO ĐÊM

Bạn ơi, Đêm về, trằn trọc không tìm được giấc ngủ, đó là khoảng thời gian thuận tiện nhất để bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu sự việc xảy ra trong cuộc đời bắt đầu xuất hiện trong đầu như một cuộn phim. Phim càng dài khi tuổi đời càng cao, cái tuổi “thất thập cổ lai hy” đến tự bao giờ nên cũng coi như đã đủ để nhìn lại cuộc đời, phải không bạn. Kỷ niệm thời thơ ấu, thời thiếu nữ, tuổi trung niên… cho đến bây giờ cứ từ từ kéo đến với lối viết thật đặc biệt của bạn, không thể nhầm lẫn với ai được vì trong văn vần có văn xuôi và trong văn xuôi cũng lẩn quất đâu đó hình bóng của văn vần, cả hai hoà quyện với nhau để tạo nên nét đặc trưng, lôi cuốn người đọc.

Bạn nhắc đến khoảng thời gian sống bên cạnh cha mẹ cùng anh chị em làm tôi nhớ lại những lần tới thăm bạn tại đường Trần Hoàng Quân, nhớ đến bác trai, gương mặt hơi khắc khổ nhưng lúc nào cũng có nụ cười, bác gái đúng là mẹ hiền vẻ mặt thật phúc hậu. Cả hai bác đều vui vẻ và niềm nở với bạn của con gái mình dù tôi mới được gặp hai bác lần đầu tiên. Những lần sau đến thăm bạn, tôi không dám làm phiền hai bác đang bận lo việc trong tiệm nên tôi lén đi thẳng ra ngã sau để gặp bạn. Các em của bạn, tôi cũng vẫn còn nhớ tên cũng như nhớ từng khuôn mặt của các em lúc tuổi mười lăm mười sáu. H, em kế của bạn, tôi thường gặp nhiều hơn cả trong trường Gia Long (GL) vì H chỉ học thua bạn và tôi một vài lớp, L là bạn của CK, vẫn nghe CK nhắc đến và cuối cùng là cô em út xinh nhất nhà của bạn. Mới đó mà thoáng chốc đã nửa thế kỷ, bao nhiêu biến chuyển, bao nhiêu đổi thay, mỗi người một nơi, mỗi người một số phận, tuy nhiên cũng phải cám ơn trời đã cho chúng ta tìm lại được nhau, nối lại tình bạn để hôm nay ngồi viết ít hàng chia sẻ và cảm thông với bạn trong những đoản khúc về đêm.  (LTHK)                                                                                                      

0 ban 1

Đêm

Đêm khuya lỡ giấc, qua khung cửa. Ánh đèn đường  soi con phố nằm im vắng, thấy rõ những cánh hoa tuyết mỏng manh đang  khiêu vũ cùng gió… Đêm hiu hắt, đêm yên tĩnh, đêm khuya mênh mông lòng vũ trụ, chở về cơn gió lạnh đông. Đêm là khoảng thời gian ta nhìn thấy…Thoáng qua đời những giây phút chạnh lòng. Thấy buồn vui của chính mình. Thấy những mảnh đời lênh đênh dòng số phận

1- Đêm nhớ.

Đêm nhớ mẹ, cha, nhớ căn nhà cũ ở quê nhà. Đêm khuya lẻ loi thời tuổi mười tám, những đêm học bài thi mệt mỏi, lên sân thượng tìm chút gió, nhìn sao khuya lấp lánh tôi lẩm nhẩm hát một mình.

 “Nhìn sao, thề rằng yêu mãi người ơi. Dù nhiều ngang trái trong đời, dù cho ngàn sao đổi ngôi” *

Con đường mang tên An Bình đã cho tôi bình an ngày mới lớn, nằm im lặng trong đêm. Hàng đèn đường vàng nhạt yếu ớt. Phía xa, bên phải là nhà hàng Đồng Khánh đèn bảng hiệu xanh màu chớp tắt trong bóng đêm. Bên trái, kéo dài đến Bến Hàm Tử chìm trong bóng tối. Dù có nhiều nhà, nhưng căn nhà nầy ba má tôi tự tay xây cất. Tôi còn nhớ, những buổi chiều, sau giờ cửa tiệm đóng cửa, ba tôi đến đây đứng nhìn căn nhà đang xây, với ánh mắt mơ về một tương lai, được sống yên vui, được nhìn con cháu vây quanh, trút bỏ đàng sau những lo toan nhọc nhằn cuộc sống.

Vật liệu xây cất, do chính người lựa chon. Khi đổ móng nhà, tôi còn nhớ ba tôi có nói  phải đổ móng cho chắc, sau nầy các con đông, cứ vậy mà mình cơi lầu thêm…để ở. Đó là hai căn nhà. Tầng dưới, một căn dành làm garage, một căn là lối lên lầu, phía sau là nhà bếp rộng có giếng trời dọi xuống sàn nước đem ánh sáng cho cái bếp nầy. Trên lầu vì hai căn nhập một, thênh thang phòng khách, phòng ăn. Bộ sofa, bộ bàn ăn tám chỗ ngồi, bộ ván gõ chân quỳ, bàn thờ tổ tiên nạm xà cừ với bức tranh (hình như là khu rừng với dòng suối) và 2 câu đối “Nền phúc đức tổ tiên truyền để. Đạo hiếu trung con cháu kính thờ.” Ba phòng ngủ, giường nệm đều mới, do ba má tôi chọn và đặt mua trên những tiệm bán bàn ghế ở đường Minh Mạng thuở ấy…Mặt tiền nhà, cầu thang bằng đá mài cẩm thạch. Những vuông cửa sổ, cửa ra vào và cầu thang là những khung sắt hoa văn cầu kỳ…Sân thượng rộng, từ nơi đây, tôi có thể nhìn bao quát một khoảng trời bao la, nhìn trăng mà dệt mộng…Tâm hồn văn chương của tôi đã mọc mầm từ không gian nầy.

Ơi căn nhà mang ước vọng của ba má tôi! Đẹp và hoành tráng trong mắt tôi bấy giờ và mãi mãi. Ngôi nhà hoàn mỹ ấy lâu lâu hiện về trong hồi ức, trong giấc mơ của tôi. Tôi thấy lại hình ảnh ba má tôi hạnh phúc ngồi uống trà, đi khắp nhà săm soi từ chút, với niềm vui trong ánh mắt, vào những ngày cuối tuần.

Như đã nói, đó là ước mơ ngày nào về hưu, ngôi nhà nầy sẽ là nơi ba má tôi muốn nhìn thấy con cháu tụ hợp về những ngày cuối tuần, những ngày lễ tết. Nhưng khi nhà hoàn thành, thì các anh đi du học, gia đình chỉ còn bốn đứa con gái. Công việc làm ăn bận rộn, ba má tôi chưa thể dời về đây ở, lúc nầy chỉ có tôi, Huệ (đứa em kế tôi) về sống nơi đây cùng chị Không, người giúp việc, chạy qua lại giữa 2 nhà…Trong bốn đứa con gái, có lẽ tôi là đứa quậy nhất, hoang dã nhất…Những buổi tiệc sinh nhật vui vẻ, họp bạn náo nhiệt đều được tôi tổ chức nơi đây. Mười tám tuổi thi xong tú tài, tôi đòi học lái xe,  xe để trong garage tôi cũng lén lái…đi học hay chở Huệ  chạy lòng vòng thành phố về đêm…và còn nhiều chuyện làm phiền lòng ba má tôi không ít (bây giờ xin lỗi ba má có lẽ đã muộn màng)

Cây trúc đào hồng, giàn hoa giấy đỏ, cây chanh sai trái, bụi hoa lài tỏa hương…Tất cả được trồng trong những chậu lớn trên sân thượng, tất cả là nguồn vui của ba tôi…

Tôi hít thở hương đêm nồng nàn. Một ngày mới bắt đầu.  Sao mai phương đông vẫn còn lấp lánh đợi vầng dương.

2-Đêm hội ngộ tình yêu

0 ban 2

Tiếng cười vỡ ánh trăng, đêm bừng lửa ấm, bàn tay đan, môi cười mắt sáng, ngọt nụ hôn, thời gian ngắn và tình quá rộng.

Biển đêm rì rầm tiếng sóng, bờ cát dài nằm soải mình  chờ đón từng cơn sóng đến vỗ về. Ánh sáng bàng bạc dưới trăng mờ tỏ sau làn mây, bao dung cười với đất trời.

Tiếng đàn khuya cung bậc vui buồn, tiếng đàn lay động ánh trăng. Dáng anh…vẫn  dáng ngồi quen thuộc, đàn buông tiếng hát, bài dân ca trữ tình

“Thương nhau cởi áo cho nhau. Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay”

Tiếng đàn gửi ánh trăng, nhìn trăng, cười…nụ cười mới lớn. Tình yêu vươn tới trăng sao, gửi ước mơ đầu đời vào đêm rằm rạng rỡ.

Bước chân trên cát của tôi và anh, không nhìn rõ trong đêm, nhưng dấu tình yêu từ đôi bàn tay nắm chặt , nụ hôn…nhẹ thôi…như cơn gió, cũng làm cho lòng xao xuyến rưng rưng .

Dấu chân trên cát, sóng biển sẽ xóa đi, cái nắm tay, một ngày rồi sẽ buông lơi, nụ hôn sẽ phai theo cơn gió.

Cuộc đời này vốn dĩ không có gì là vĩnh hằng cả. Lúc nhỏ, trong lưu bút, bạn bè thường viết cho nhau.

“Hoa nở để rồi tàn. Bèo hợp để rồi tan.Trăng tròn để rồi khuyết. Người đời để ly biệt và kỷ niệm để nghìn thu”.  Những hình ảnh hoa, bèo, trăng, người và kỷ niệm…Với tôi trăng khuyết rồi sẽ tròn, trăng mờ rồi sẽ tỏ…Cho dù mai nầy, đời chia trăm ngả, nhưng trăng trăm năm vẫn là một vầng trăng. Tôi muốn gửi tình yêu nầy cho vầng trăng giữ hộ.

Lòng người…như sóng đưa gió cuốn, nhưng trăng nơi nào cũng một vầng trăng. Món quà của đất trời dành để, cất giữ cho tôi những mộng ước xanh xao. Có những đêm tôi lắng lòng tìm lại.

3-Đêm chờ.

0 ban 3

Đừng luyến tiếc những gì không còn nữa. Đừng quên rằng tất cả cũng duyên sinh. Đã bao ngày tôi tự nhủ mình như vậy. Nhưng trong đêm lại có tiếng thở dài của tôi.

Có ai nghe trong hương đêm lời độc thoại. Nước mắt ngậm ngùi, đau nhói con tim. Đêm của người xa người, buồn tênh, lệ ướt mi chờ đợi. Ước chi là gió bay đến hôn người, ngả đầu vào vai, nói với nhau những lời yêu dấu. Bỏ mặt thế gian. Trong mộng. Hồn mơ giây phút tương phùng. Ngày đoàn viên dù có mong manh như nắng lụa, vẫn là niềm hy vọng duy nhất để đợi chờ nhau.

“Xin đêm yên tĩnh thật đầy.

Cho trăng xô những bóng cây ngã dài.

Và ta nghe bước chân ai

Gõ buồn qua ký ức ngày đã yên”**

Rồi một ngày, như tin vui từ trời cao đưa xuống, anh đã đến, cùng với mùa xuân của đất trời nơi đây…Tôi cảm nhận hạnh phúc đã về với tôi từ cái ôm hội ngộ nơi phi trường khi đón anh, những ngón tay thân quen vuốt lại mái tóc, khẽ lau những giọt nước mắt vơi đầy, nụ cười và lời anh nói, như lời thì thầm của mùa xuân với cuộc đời mới của chúng mình…trong nắng xuân ấm áp quê người.

4- Đêm vợ chồng….

Anh Yêu dấu,

Ru anh sương khói cuộc đời, nâng niu giấc ngủ bên bờ buồn vui. Đời dẫu  xôn xao, lòng vẫn chứa chan hạnh phúc…Hạnh phúc như ân sủng của Thượng đế gửi xuống cho mình. Giữa dòng đời, niềm vui thật đơn giản…Nhìn con ngủ say, những khuôn mặt thiên thần, để quên đi nhọc nhằn cơm áo. Cho và nhận ta nương tựa vào nhau…Ngày đi làm về, có mâm cơm đoàn tụ, biết có người thương yêu đang đợi chờ, cùng chia nhau những câu chuyện buồn vui. Ta nhìn đàn con lớn dần…Ta nắm tay nhau vượt khó khăn, đi qua cùng năm tháng.

Đêm thả lòng trong lời tình tự, thêm nụ cười tưới cây đời trổ nhánh, vỗ về những cơn đau. Em thả vào đời nhau chút tình lãng mạn, những khoảnh khắc ngọt ngào, một tình yêu vợ chồng chua ngọt. Suốt một đời xin mãi là chiếc bóng, bên anh, đi cuối bãi đầu ghềnh.

{"source":"editor","total_effects_time":0,"total_draw_time":0,"total_effects_actions":0,"uid":"ED8E671D-EEA0-445E-B854-18FBEA4071EF_1493631945083","tools_used":{"crop":0,"perspective":0,"shape_crop":0,"stretch":0,"free_crop":0,"resize":0,"adjust":0,"clone":0,"selection":0,"flip_rotate":0,"tilt_shift":0,"enhance":0,"curves":0,"motion":0},"layers_used":0,"effects_tried":0,"subsource":"done_button","brushes_used":0,"photos_added":0,"effects_applied":0,"total_draw_actions":0,"height":425,"total_editor_time":103,"width":640,"origin":"gallery","total_editor_actions":{"text":0,"shape_mask":0,"border":0,"square_fit":0,"lensflare":0,"clipart":0,"frame":0,"callout":0,"mask":0}}

Đường sẽ vui hơn khi hai người cùng bước, hạnh phúc nhọc nhằn có chỗ để chia. Có người đã từng nói:

“Cuộc sống giống như hoa hồng, vẻ đẹp, hạnh phúc đi cùng với gai góc, khổ đau…Nên nhẹ lòng suy nghĩ thì sẽ thấy đời bình an . Mặc kệ dòng đời ngược xuôi, lòng người thay đổi, thì vẫn có một người  cho mình dựa vào, cùng mình già đi. Đến tận cuối đời vẫn thương nhau bằng nghĩa tình đẹp nhất.”

5-Nghĩ về con

0 ban 6

Cha mẹ yêu con không so đo toan tính, không đong đếm vơi đầy… vì một điều  rất giản dị…đó là con. “Một đời cha mẹ nên con. Trăm năm hai chữ vuông tròn ước mơ”.

Tuổi đời con dài ra thì đời sống của mẹ cha ngắn lại. Dù con bao nhiêu tuổi trong lòng cha mẹ con vẫn là đứa bé thơ, vẫn cần tay mẹ cha che chở. Dẫu biết cuộc sống vốn vô thường, nay có mai không, nghĩ đến khi bóng cha mẹ tàn trong chiều tà, con một mình tiếp quãng đi còn lại, lòng quặn đau.

Tuổi trẻ…Bầu trời là giới hạn… Con như những cánh đại bàng, muốn thử sức cùng phong ba. Con  bay cao, bay xa. Tìm đến ánh sáng của tương lai.

Tuổi trẻ…lòng các con muốn vươn tới trời cao, muốn vươn tới trăng sao, ước vọng đong đầy trong từng ngày làm việc. Mẹ đứng nhìn trời xanh và âm thầm cầu nguyện . Cuộc đời đâu chỉ màu hồng, con đường không phải lúc nào cũng trải thảm đón ta. Hạnh phúc từ tâm các con, không ai cho mình. Có trải nghiệm gian nan, con mới thấy giá trị của thành công. Có giọt nước mắt con mới thấy giá trị của nụ cười.

Những đêm khuya, nhìn cha con yên giấc, mái tóc bạc phơ, hơi thở nặng nề, khuôn mặt ẩn những vết hằn năm tháng.

Mẹ khẻ khàng mở cửa từng căn phòng các con, ký ức đi cùng qua những đồ vật trong phòng, nơi đây, mẹ chắt lọc những buồn vui…mẹ thấy như tuổi thơ cùng tính cách của từng đứa trở về, như khúc phim quay chậm.

Từ khi các con có nhà riêng, phòng ngủ của mỗi đứa vẫn giữ nguyên, hình ảnh, bằng khen, kỷ niệm của các con mẹ vẫn cẩn thận giữ gìn.

Tạ ơn trên đã tặng cha mẹ món quà tuyệt vời. Đó là ba đứa con với đôi mắt sáng và nụ cười thiên thần, hồn nhiên, những khi đi học về, bên mâm cơm chiều, các con bi bô kể cho mẹ nghe những câu chuyện trong trường, trong lớp. Các con biết thương yêu nhau, lo lắng chăm sóc nhau, giúp nhau trong chuyện học. Có những lúc xuôi ngược dòng đời, đắng cay vì những nghiệt ngã, nhưng cha mẹ vẫn mỉm cười, khi nghĩ về các con, những con chim non chờ mình về bú mớm. Yêu con nhất cũng chỉ là ba mẹ vì đứa con nào cũng do ba mẹ sinh ra.

Mới đây thôi mà các con đã trưởng thành rồi…tốt nghiệp ra trường có việc làm và lập gia đình. Ba mẹ về hưu,  giúp các con trông sóc các cháu, nhìn nụ cười, nghe cháu nói mà liên tưởng đế con mình khi xưa . Các con đã lớn…Hình như, cha mẹ chưa hiểu hết về các con. Chỉ mong con, đường đời suông sẻ. Niềm vui của các con được nhân đôi nhưng  nỗi buồn  của con sẽ nhân gắp ngàn lần trong lòng cha mẹ.

Đêm nay, nghĩ về các con, những hồi ức xưa khi gia đình ta đến đây lập nghiệp. Các con chỉ là những đứa trẻ, bé lắm nhưng các con là sức mạnh, là niềm tin là chỗ dựa tinh thần của ba mẹ… Lời cuối mẹ muốn nhắn nhủ…Hãy cứ đi, dù đường đời khi bằng phẳng nhưng cũng lắm chông gai…Lỡ một mai, đời thiếu vắng cha mẹ, cứ bước tiếp…nắm tay người bạn đời, và tình yêu con cái để vượt qua…Trong đời hãy yêu mình, yêu người. “Sống trên đời không thể nào vạn sự như ý, có khiếm khuyết là lẽ thường tình ở đời, nếu chăm chăm cầu toàn thì sẽ bị cái cầu toàn làm cho khổ sở. Chẳng thà thản nhiên đối mặt với hiện thực thế nào cũng xong.”

6- Đêm của tôi

0 ban 7

Lời trùng dương và tiếng sóng lòng tôi hạnh ngộ. Giữa tịnh yên, đêm tĩnh, đêm say. Đêm…tôi bỏ từng dòng cảm xúc, ngậm ngùi trên con chữ, lặng lẽ gửi hương vào đời, biết làm sao, khi đời người vốn một dòng trôi.

Ngày mai, nắng lên, buồn vui theo nhịp sống.

Một mình tôi và bóng in trên tường, lắng đọng .

Tôi nhủ tôi…hãy  ngủ. Kéo chăn đắp. Tôi như cái kén, tơ tằm cuộn quanh.

Phạm Thị Trí

Hình : nguồn Net

Bích Chiêu sưu tầm

Xem thêm...

Một vé về tuổi thơ

Những trò chơi một thời tuổi thơ dần bị lãng quên trong thời hiện đại

Nhìn những hình ảnh dưới đây, chắc hẳn ai cũng sẽ tìm thấy mình trong đó...

ky-uc-tuoi-tho,tre-em,tro-choi-tre-em,tro-choi-tuoi-tho,tuoi-tho
Image result for Một vé về tuổi thơ photos

bruehel-st-zabawy-dzieci-1559-60-1464062400138.jpg

Đây là bức tranh của họa sĩ người  Hà Lan -  Pieter Bruegel the Elder có tên "Children's Games" - Trò chơi trẻ em vào năm 1560. Có thể bạn không ngờ nhưng có tới 200 trẻ em trong bức tranh này với hơn 100 trò chơi dân gian quen thuộc. Trong số đó, trang Brightside đã rút ngắn thành 15 trò chơi phổ biến nhất.

 ‘Một vé về tuổi thơ’ với những trò chơi mộc mạc đang dần biến mất

Những trò chơi tự chế thời tuổi thơ 

Khi kí ức chợt ùa về, nhớ quay quắt những trò chơi mộc mạc mà thời trẻ trâu ta tự chế vui đến độ cười cả trong giấc mơ trưa: súng bằng thân chuối, chuồn chuồn cắn rốn, trò con quay, bắn bi, súng cao su bằng dây nịt, chơi khăng (ngày xưa nghịch dại ^^), đánh chuyền, nhảy dây,...

trò chơi tuổi thơ
 
Cuộc sống thiếu thốn, rất nhiều người thuộc thế hệ 8X đã lớn lên cùng những trò chơi, những món đồ chơi cực kỳ mộc mạc. Đôi khi chỉ với những chiếc lá, mẩu gỗ, viên sỏi, mảnh sành, đôi dép và cái lon sữa bò..., mà 8X thời ấu thơ cũng có thể chơi cả ngày không chán.
 
súng nổ bằng thân tàu lá chuối
Tuổi thơ thiếu thốn, không có gì chơi, có thể ra vườn cắt tàu lá chuối về làm “súng” nổ lốp bốp
chơi đồ hàng

Chơi đồ hàng. Đóng vai bố, mẹ, con thành một gia đình nhỏ xíu. Lấy lá dâm bụt làm tiền. Hái một xấp tiền rồi đi chợ mua đồ ăn, cũng trả lại tiền...

lia ống bơ
Cười giòn tan với trò lia ống bơ (nhiều nơi gọi là tạt lon)
chơi con quay
Những con quay (con vụ) không thể thiếu trong kỷ niệm tuổi thơ 
súng dây chun
Súng cao su (ná) loại làm bằng dây chun
chơi cỏ gà
Cỏ gà và chọi cỏ gà
chơi nhảy dây
Ấu thơ trong phần lớn những cô nàng 8X sẽ có trò chơi nhảy dây
bắn bi
Còn của các anh chàng 8X chắc chắn có trò bắn bi
diều giấy
Làm diều bằng sách vở cũ. Không có keo dán, dùng cơm nguội để dán diều
khoanh số
Trò chơi tìm số cực kỳ phổ biến trong lớp học
súng tre đạn giấy
Súng phốc làm từ ống tre nhỏ. Cho quả xoan non hoặc giấy vụ ướt vo trò vào làm “đạn” bắn đau điếng, "tức muốn chết"!
kéo ko  bằng nhị hoa phượng
Kéo co bằng nhị hoa phượng (có nơi dùng hoa dâm bụt)
chơi  bài quệt nhọ nhồi
Chơi bài tiến lên bôi nhọ nồi
đồng hồ lá dừa
Đồng hồ tự chế từ lá dứa, cũng có nhiều nơi làm bằng lá dừa
chuồn chuồn cắn rốn
Cho chuồn chuồn cắn rốn vì "niềm tin bất hủ": chịu đau rồi sẽ biết bơi
đua mo cau
Đua tốc độ theo cách của 8X
chọi dế
Đi bắt dế, chơi trò đá dế
chơi tung dép
Trò tung dép, các nàng 8X hay chơi hơn các chàng
trồng nụ trồng hoa
Trồng nụ trồng hoa
chấm song
Lấy que tính nhựa chơi trò chấm song
ô ăn quan
Chơi ô ăn quan
chơi đá
Cũng bằng những viên sỏi, có thể tạo ra rất nhiều trò chơi
bắn chun
Gẩy vòng chun (bắn chun). Nếu vòng chun này đè một phần lên vòng chun kia
thì thắng
đánh chuyền
Đánh chuyền. 10 que tre cùng trái banh nỉ là hội con gái có thể ngồi chơi cả chiều không chán...
đèn lồng tự chế
Đèn lồng tự chế từ những lon nước ngọt đã xài qua. Đây cũng là sản phẩm trong một bài học của môn Kỹ thuật thời tiểu học
bóp nổ
Bóp nổ tanh tách những tấm nilon chống sốc cũng là một trò tiêu khiển rất được các teen 8x khoái
 
Tuổi thơ thiếu thốn của thế hệ 8X khác tuổi thơ đầy đủ của em, của con, của cháu, của những thế hệ sau họ rất nhiều. Nhưng dù thiếu thốn, bao nhiêu người 8X vẫn lớn lên, vẫn trưởng thành và cảm thấy trân quý, "rưng rưng" với tuổi thơ mộc mạc ấy.

Những trò chơi đơn giản, ngây ngô mà "vui thả ga" của ngày xưa có lẽ sẽ còn in sâu trong ký ức của thế hệ 8X. Để mỗi khi nhớ về, họ thấy lòng thanh thản, bồi hồi và mỉm cười với "1 vé đi tuổi thơ"...

Cuộc sống luôn hội nhập những điều mới mẻ và thay đổi mỗi ngày. Hiện đại hóa, công nghiệp hóa khiến đời sống tuổi thơ bây giờ bị ảnh hưởng bởi những công nghệ tân tiến hơn. Hình ảnh ipad, iphone gắn liền với trẻ con bây giờ khi mà chỉ cần các “bảo bối” đó là có thể khiến chúng ngồi lì hàng giờ. Nhìn những hình ảnh đó, thấy tội nghiệp hơn là thương. Mỗi lần như vậy, chúng ta lại nhớ về một tuổi thơ đầy màu sắc với những trò chơi vận động này đây: Có rất nhiều trò chơi dân gian đơn giản nhưng luôn đem lại hiệu quả tuyệt vời cho trẻ, tuy nhiên có thể nó đã không còn duy trì được qua nhiều thế hệ. Đây là lúc để chúng ta hướng về và chơi lại các trò chơi ưa thích từ ngày xưa đồng thời cập nhật các thứ chơi mới.

1. Bắn Bi

Chắn chắn tuổi thơ ai cũng gắn liền với trò chơi này, với cách chơi đơn giản vui nhộn, thú vị , náo nhiệt các bé không chỉ vui chơi hăng say mà còn học được tính cách hòa đồng, đoàn kết, tự tin và giao tiếp. Mỗi buổi tan trường các đứa trẻ nô nức trong xóm quây quần tạo ra những trò chơi vui nhộn.

Trò chơi tuổi thơ dữ dội gắn liền với biết thế hệ.

Bắn bi số người chơi từ 2 đến 5 người, chỗ bằng phẳng trên sàn nhà hay khu đất trống chỉ cần diện tích hẹp là có thể chơi. Sau khi đã phân định rõ ai là cái và những người tiếp theo sau đó, mỗi người từ 1 vạch quy định từng lượt mỗi người bắn bi vào lỗ. Nếu chưa vào lỗ thì tiếp tục bắn đến khi  bi vào lỗ là người chiến thắng.

Trò chơi cổ đại dần lãng quên trong tương lai.

2. Ô ăn quan

Là trò chơi dân gian Việt Nam khá quen thuộc. Sự hào hứng, náo nhiệt khi tham gia vào những ván đấu vui nhộn và bất ngờ điều mà bạn khó có thể quên được.  Để chơi game ô ăn quan chúng ta chỉ cần bãi đất nhỏ, với những viên đá viên sỏi, như vậy là đã trở thành một trò chơi chiến thuật lý thú.

Trẻ con ngày xưa cái gì cũng thiếu thốn nhưng đời sống tinh thần luôn vui vẻ, lạc quan.

Ô ăn quan buộc người chơi phải nghĩ ra cách đi thông minh nhất để giành được nhiều quân hơn đối phương. Trò chơi chưa biết nguồn gốc và bắt đầu từ thơi điểm bao giờ có thể lấy cảm hứng từ những đứa trẻ từ cánh đồng lúa. Không chỉ thể hiện trí tuệ, vui nhộn, năng động tạo niềm vui hứng thú trong giao tiếp cho các trẻ.

Trò chơi huyền thoại sẽ là một phương pháp dạy trẻ trong tương lai.

3. Trò chơi nhảy bao bố.

Trò chơi cộng đồng đơn giản dành cho cả cộng đồng dành cho nhiều lứa tuổi khác nhau, không chỉ phổ biến ở Việt Nam mà còn là trò chơi trong buổi sinh hoat của cộng đồng thế giới. Trò chơi thể hiện tinh thần tập thể, vui nhộn nháo nhiệt, rèn luyện sự khéo léo, nhanh nhẹn, thể lực cho người chơi.

Trò chơi rộn ràng bao thế hệ.

Trước khi bắt đầu trò chơi có thể chia thành  2,3 tùy số lượng thành viên, mỗi đội có khoảng 5 đến 7 người. Khi chơi, có bao nhiêu đội tham gia thì kẻ bấy nhiêu hàng dọc và kẻ hai vạch ranh giới ở hai đầu các hàng dọc, cách nhau khoảng 5m, một vạch là mốc xuất phát và một vạch làm điểm quay đầu. Khi hiệu lệnh xuất phát các thành viên chuẩn bị, khi có hiệu lệnh nhảy thật nhanh đến vạch và quay lại vạch xuất phát và đưa cho người thứ 2 cứ thế tiếp tục tìm ra đội chiến thắng nhanh nhất. Rèn luyện sức khỏe, sự tin trong giao tiếp, tính tập thể cộng đồng, tìm hiểu những nét văn hóa dân gian của dân tộc.

Trò chơi dân gian nét đặc trưng văn hóa trong lễ hội.

 4. Trò chơi chi chi chành chành.

Trò chơi vui nhộn, náo nhiệt, thể hiện sự thích thú hào hứng, thể hiện tinh thần đoàn kết của trẻ em. Người chơi có thể từ 3 người trở lên. Chọn một người đứng ra trước xòe bàn tay ra các người khác giơ ngón trỏ ra đặt vào long bàn tay vào. Người xòe bàn tay đọc thật nhanh:

Chi chi chành chành.

Cái đanh thổi lửa.

Con ngựa chết chương.

Ba vương ngũ đế.

Chấp chế đi tìm

Ù à ù ập.

Đọc đến chữ “ập” người xòe tay nắm lại, những người khác cố gắng rút tay ra thật nhanh, ai rút không kịp bị nắm trúng thì vào thế chỗ người xòe tay và vừa làm vừa đọc bài đồng dao cho các bạn khác chơi.

Trò chơi là sự kết nối tinh thần đoàn kết, yêu thương của các bé.
Các trò chơi dân gian là phương án giáo dục trong thời đại hiện đại.

 5. Nhảy dây

Trò chơi không chỉ là sự đồng điệu về nhịp độ giữa người chơi còn thể hiện sự đoàn kết, vui vẻ, hoạt náo tạo hứng thú cho trẻ còn rèn luyện sức khỏe sự dẻo dai tinh thần thoải mái.

Trò chơi là sự kết hợp sáng tạo đồng điệu giữa những người chơi.

Hai tay người chơi cầm 2 đầu dây, dang rộng tay, dây để sau lưng. Người chơi vừa quay hai tay cầm dây vừa nhảy thẳng chân sao cho dây đi qua đầu rồi đi qua chân. Cứ chơi tiếp tục như vậy.
Ngoài ra, có thể chơi nhảy cặp đôi. Hai người chơi quay mặt vào nhau, một người cầm dây như cách chơi có 1 người và quay dây sao cho dây qua đầu và chân cả hai người.

Trò chơi rèn luyện sức khỏe và giúp thư giản vui vẻ tinh thần cho các bé.
Là phương án bài tập rèn luyện sức khỏe sự dẻo dai trong thời hiện đại.

 6. Mèo đuổi chuột.

Trò chơi gồm từ 7 đến 10 người. Tất cả đứng thành vòng tròn, tay nắm tay, giơ cao lên qua đầu. Rồi bắt đầu hát.

Mèo đuổi chuột

Mời bạn ra đây

Tay nắm chặt tay

Đứng thành vòng rộng

Chuột luồn lỗ hổng

Mèo chạy đằng sau

Thế rồi chú chuột lại đóng vai mèo

Co cẳng chạy theo, bác mèo hóa chuột

Một người được chọn làm mèo và một người được chọn làm chuột. Hai người này đứng vào giữa vòng tròn, quay lưng vào nhau. Khi mọi người hát đến câu cuối thì chuột bắt đầu chạy, mèo phải chạy đằng sau. Tuy nhiên mèo phải chạy đúng chỗ chuột đã chạy. Mèo thắng khi mèo bắt được chuột. Rồi hai người đổi vai trò mèo chuột cho nhau. Trò chơi lại được tiếp tục.

Trò chơi thể hiện tinh thần đồng đội, sự đoàn kết yêu thương lẫn nhau.
Trò chơi dân gian là phương pháp dạy nhân cách làm người 

 7. Kéo co

Kéo co hay kéo dây là một môn thể thao và một trò chơi thông dụng đơn giản trên thế giới hiện nay. Mang tính đồng đội và là môn trọng vào sức mạnh, kéo co không chỉ là môn thể thao rèn luyện sức khỏe, mà còn là trò chơi thể hiện tinh thần và mang tính đồng đội cao, đem lại niềm vui, sự thoải mái cho mọi người. còn là một trò chơi dân gian truyền thống.

Trò chơi la sự giao thoa giữa tinh thần đồng đội và sức mạnh cá nhân.

Cách chơi: chia điều số thành viên ở 2 đội, mỗi phe dùng sức mạnh khéo léo tinh thần đoàn kết để kéo dây về phía mình. Các thành viên phải lien kết chặt chẽ dùng sức mạnh đồng đội, 2 bên ra sức khỏe làm sao để dây nghiêng về phía mình la người chiến thắng.

trò chơi kéo co là nét đặc trưng của văn hóa dân tộc.
Trò chơi vui nhộn rèn luyện sức khỏe trong mắt các bạn bè quốc tế.

 8. Ném lon

Trò chơi đơn giản dễ chơi chỉ cần 2 đến 4 người , một cái lon không, một không vửa đủ hoặc một chỗ đất trống. Đây là trò chơi dân gian hay nhất để dạy các bé về sự phối hợp giữa tay và mắt. Trẻ em rất thích trò chơi có yếu tố cạnh tranh, vì thế bé sẽ không bao giờ thấy mệt khi phải ném dép hay ném tất vào trong vòng tròn hay cố gắn túm được một người chơi khác. Đây là một trò chơi được các trẻ ở nông thôn hay chơi nhưng ở thành thị trò chơi này đã bị lãng quên vào quá khứ.

Trò chơi dân gian như tiếng kêu gọi hãy nhìn về kí ức của nền văn hóa dân loại.
Đã đến lúc tìm về kỉ niệm tuổi thơ dữ dội, là trò chơi bổ ích, trí tuệ cho các bé, thanh thiếu nên trong thời hiện đại.

 Trong cuộc sống hiện đại những trò chơi dân gian truyền thống tinh hoa của nhân loại dường nhữ đã bị quên lãng. Con người ngày càng ù lì, thụ động, ngại giao tiếp, trẻ bị tự kỉ trầm cảm ngày càng gia tăng do những trò chơi công nghệ hiện đại. Trò chơi dân gian Việt Nam là một kho tàng đời sống tinh thần phong phú, bổ ích. Còn là nét đặc trưng văn hóa dân gian của dân tộc, nét đẹp trong lễ hội truyền thống. Vì vậy giới trẻ thanh thiếu niên cần giữ gìn và lưu truyền truyền thông quý báu này.

Tê Hát Sưu tầm

Xem thêm...

304 bài hát để nhớ ngày 30 tháng 4

 

304 bài hát để nhớ ngày 30 tháng 4

2017 Cao-Đắc Tuấn 

- Tóm Lược:

Âm nhạc miền Nam trước ngày 30-4-1975 là một kho tàng nghệ thuật phong phú của Việt Nam, cho thấy mức sáng tạo tuyệt vời, tinh thần tự do và nhân bản, phản ảnh tình người, củng cố niềm tin, nhắc nhở tình thương yêu, và tô điểm lòng ái quốc của người miền Nam. Tôi lựa ra 304 bài hát mà tôi rất ưa thích và dùng nhan đề và các trích dẫn ngắn của những bài hát này, lồng vào câu chuyện về cuộc đời, tình người, và quê hương, để đánh dấu ngày 30 tháng 4. Tôi chỉ chú trọng đến nội dung qua nhan đề của các bài hát và không đề cập đến các khía cạnh âm nhạc (thí dụ, giai điệu, tiết tấu), lời ca (thí dụ, cách dùng chữ, kỹ thuật), và tác giả. Một số rất ít bài được viết trước năm 1954 ở miền Bắc, nhưng được lưu hành rộng rãi ở miền Nam, và do đó được coi như thuộc về âm nhạc miền Nam. Hẳn nhiên tôi có nhiều thiếu sót, nhưng tôi nghĩ những ca khúc này thể hiện sức mạnh vô bờ bến tiềm tàng trong âm nhạc miền Nam. Sức mạnh này vẫn còn mãi, nếu không muốn nói là ngày càng lớn mạnh.

Hầu như bất cứ ai sinh sống trong miền Nam trước ngày 30-4-1975 cũng nhận ra những ca khúc miền Nam thời ấy nói lên cuộc sống họ trên các giai đoạn và khía cạnh của cuộc đời trước ngày cộng sản chiếm đóng miền Nam vào ngày 30-4-1975. Đó là vì lời ca tiếng nhạc miền Nam trước ngày 30-4-1975 là bài Hương ca vô tận ru vào lòng người "những lời yêu đương," "chuyện tình gãy gánh giữa đường," "nỗi buồn quê hương," hay "mưa giăng thác đổ đêm trường." Âm nhạc miền Nam còn có những tình ca quê hương diễn tả "quê hương tôi ấp ủ Trường Sơn, quê hương tôi là đây nước chảy xuôi nguồn, sông cát dài biển xanh Thái Bình." Tiếng hò của hội trùng dương kết hợp tiếng sông Hồng, tiếng sông Hương, và tiếng sông Cửu Long, "ba chị em là ba miền, nhưng tình thương đã nối liền, gặp nhau bên trời biển Đông thắm duyên."
 
Tôi không bao giờ quên những ngày xưa thân ái trong quãng thời gian tôi sống trong miền Nam, từ tuổi thơ, tuổi học trò, tới tuổi yêu đương và tuổi trưởng thành trong thời chiến tranh.
 
Ba mẹ tôi là người Bắc. Khi ba tôi gặp mẹ tôi, thấy mẹ tôi là cô Bắc Kỳ nho nhỏ và có nét hiền lành, nên có lòng thương yêu, và hai người lấy nhau. Ba mẹ tôi di cư vào Nam vào năm 1955, khoảng 6 tháng sau ngày hiệp định Geneva năm 1954. Như những gia đình theo chuyến đò vĩ tuyến hoặc con tàu khổng lồ chuyên chở dân di cư vào Nam, gia đình chúng tôi là một phần của đoàn người lữ thứ trốn chạy cộng sản vì "miền Bắc giờ đau thương tràn khắp đồng sâu." Đối với ba mẹ tôi, nỗi lòng người đi của hai người bấy giờ là chỉ muốn thoát ly chế độ cộng sản tìm cuộc sống thanh bình tự do cho gia đình. Sau này, ba mẹ tôi rất ngạc nhiên khi biết có những người vợ ở trong miền Nam khắc khoải trong giấc ngủ cô đơn hàng đêm trông chờ chồng tập kết ra Bắc trở về, kêu gọi "người bên vĩ tuyến, xin nhớ quay về khung trời miền Nam sống trong tình thương."

Ba mẹ tôi không vào thẳng Sài Gòn, lúc đầu cư trú ở Đà Nẵng, Nha Trang, sau cùng mới định cư ở Sài Gòn cho tới tháng 4 năm 1975. Vì còn quá nhỏ, tôi có rất ít trí nhớ về Đà Nẵng và Nha Trang, "miền quê hương cát trắng." 
 
Mẹ tôi là một cô gái quê không được cho đi học, nhưng mẹ tôi đã cho chúng tôi, và nhất là tôi, một mối tình ca sâu đậm về tiếng Việt, khiến "tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời." Nếu tôi có chút khả năng và ý thích về nghệ thuật, văn chương, và thi ca, đó là có từ mẹ tôi. Ba tôi rất nghiêm trong việc dậy dỗ con cái trong khi mẹ tôi lúc nào cũng chiều các con, và lo lắng cho các con mọi chuyện từ quần áo, ăn uống, thuốc men, đến học hành, sách vở. Nếu anh em chúng tôi có được chút gì ngày nay, đó cũng là do ơn nghĩa sinh thành vĩ đại của ba mẹ tôi. Tôi không nhớ tuổi đời mẹ tôi chồng chất như thế nào, nhưng qua bao năm tháng, nhất là từ khi sang định cư ở Hoa Kỳ, tôi càng biết rõ mẹ tôi "tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày," và "bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại, cầu mong con mình có một ngày mai." Mỗi lúc dưới ánh đèn khuya, tôi "nhớ khi mẹ lo sớm chiều, nhớ nụ cười khi nâng niu, đôi tay run run ánh mắt dịu hiền." Mẹ tôi tuổi con gà, lại càng làm tôi nghĩ đến hình ảnh bà mẹ quê với "vườn rau, vườn rau xanh ngắt một mầu; có đàn, có đàn gà con nương náu; mẹ quê, mẹ quê vất vả trăm chiều; nuôi đàn, nuôi một đàn con chắt chiu." 
 
Ba mẹ tôi và tôi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1975 khi tôi đã trưởng thành, nhưng tôi nhớ mãi những kỷ niệm với mẹ tôi những ngày tôi còn bé ở Việt Nam. Tôi thường tưởng tượng hình ảnh quê mẹ "nơi chốn xưa có người mẹ hiền, tóc màu hoa bạc chiều chiều mắt ngấn lệ vì con" và vui mừng khi còn bông hồng cài áo. Giờ đây bông hồng không còn trên áo nữa nhưng tôi không thể nào quên được lòng mẹ "bao la như biển Thái Bình dạt dào" với tình thương yêu con cháu vô bờ bến. 
 
Khi tôi lớn hơn, ý nghĩa chữ "mẹ" không còn hạn hẹp trong căn nhà tôi ở, mà còn bao trùm toàn thể đất nước. Lối về đất mẹ là "đường xưa còn ấp ủ bóng trăng gầy" và "mẹ ơi chỉ còn đất mẹ mà thôi." Tôi rất thích nghe mẹ tôi ru vì nghe như tám điệp khúc với lời thề "Mẹ Việt Nam ơi! con xin ghi xin khắc nguyện lời thề." Những đóa hoa cài mái tóc khiến "Mẹ Việt Nam mắt ngời sáng quắc." Mẹ Việt Nam không chỉ là mẹ sông hồ, mẹ núi non, mà còn là Mẹ trùng dương "cho con luôn luôn tôm to cá lớn tươi ngon đầy thuyền." Ngay cả tên nước Việt Nam! Việt Nam! cũng gắn bó với nôi bên mẹ vì "Việt Nam Việt Nam nghe từ vào đời, Việt Nam hai câu nói bên vành nôi." Càng lớn lên trong miền Nam, tôi càng phát huy niềm hãnh diện về đất nước Việt Nam quê hương ngạo nghễ với những hình ảnh kiêu hùng của "máu ta từ thành Văn Lang dồn lại, xương da thịt này cha ông ta miệt mài."
 
Tuổi thơ quả là một thiên đường. Dù không sống ở vùng quê, tôi thường vẽ ra cảnh tượng tôi là em bé quê, ngất ngưởng trên mình trâu nghêu ngao, "ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ." Tết trung thu là dịp vui đùa, khi đêm đến, tôi và mấy đứa bạn rước đèn tháng tám quanh xóm, chỉ chỏ lên thằng cuội trên trời, "bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng cuội già ôm một mối mơ." 
 
Từ lúc còn nhỏ, tôi đã biết đến những chuyện cổ tích và huyền thoại về đất nước Việt Nam. Một mẹ trăm con là "truyện cũ trong tích xưa" với "năm mươi con vượt đồi non" và "năm mươi con dọc Trường Sơn." Tôi bị mê hoặc bởi tích Hòn vọng phu về người vợ "bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về" và những câu chuyện kỳ bí như chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ và thiếu phụ Nam Xương. Các câu chuyện lịch sử ghi khắc trong tâm khảm tôi mạnh mẽ. Tôi nhớ các trận trên Bạch Đằng Giang, con sông "hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng." Vào lớp Nhất tiểu học (lớp 5), trường tôi tổ chức một buổi văn nghệ trong đó có màn nhạc kịch về Hội Nghị Diên Hồng với diễn viên là học sinh trong trường. Tôi hừng chí khi nghe mấy đứa bạn trên sân khấu đồng thanh quát to "Hy sinh" sau câu hỏi "Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?" 
 
Học đường là nơi dậy dỗ tôi nên người và giúp tôi phát huy trí tuệ, đạo đức, và tình yêu thương đất nước. Trong suốt các năm tiểu học, chúng tôi hát Quốc ca, bài "Tiếng gọi công dân" với giai điệu hùng hồn và lời kêu gọi thiết tha. Lên trung học, chúng tôi chào cờ và hát quốc ca ngay giữa sân trường mỗi sáng thứ hai cho những lớp học buổi sáng. Lá cờ vàng ba sọc đỏ in đậm trong tâm khảm tôi từ đó. Tinh thần yêu nước được củng cố vào giờ thể dục khi chúng tôi đồng ca bài "Khỏe vì nước" với lời kêu gọi: "Thanh niên ơi, hồn thiêng núi sông đợi chờ! Nơi tay ta toàn dân ngóng trông từng giờ." Khi lên trung học, trong cảnh chiến tranh nhiều đứa bạn tôi bỏ học, gia nhập quân đội. Có nhiều kỷ niệm trường cũ tình xưa, khi trở về trường cũ để biết "bạn cũ xa rồi, có người về đất buông xuôi, năm ba đứa bạt phương trời, hai thằng chờ đầu quân năm tới."
 
Học đường còn là nơi tôi có những mối tình nhỏ bé. Thực ra, ở tuổi học trò, tình yêu thường được chớm nở trong tuổi dậy thì cho tới Đại học. Ở tuổi mười ba, cũng có thể có tình yêu khi "áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường." Hầu như ai cũng có dịp đi qua con đường tình ta đi và các chàng trai kêu lên "hỡi người tình Văn Khoa," "lá đổ để đưa đường cho người tình Trưng Vương," và "hỡi người tình Gia Long."
 
Thực ra, với tôi, mối "tình" đầu của tôi không xảy ra ở trung học hay đại học, mà xảy ra ở tiểu học. Tôi "yêu" một cô gái lúc tôi 9 tuổi. Tôi gặp em khi đi học lớp hè. Giây phút đầu tiên tôi gặp em trong lớp, tôi ngây ngất vì em có tóc mai sợi vắn sợi dài và làn da trắng. Tôi không bao giờ dám nói chuyện với em, một phần vì em học trên tôi một lớp, một phần vì tôi quá nhút nhát. Một hôm, khi thầy cho tan học sớm, tôi lẽo đẽo đi theo em về nhà để điều tra nhà em ở đâu, y như trong cảnh ngày xưa Hoàng thị. Quãng đường dài độ hai cây số. Khi sắp về đến nhà, em rẽ vào một khu cư xá, nhưng tôi nhát quá nên không dám đi theo vào khu cư xá. Thế rồi, lớp học hè mau chóng hết. Ngày cuối cùng, ông thầy cho phép đám học trò ăn uống ca nhạc. Em hát bài "Nếu hai đứa mình." Tôi cứ nghĩ đến câu "nếu hai đứa mình không về cùng chung lối đường" trong bài mà cảm thấy rộn niềm vui. Sau buổi tíệc cuối cùng đó, tôi không còn gặp em nữa. Trong suốt hơn mười năm sau đó, tôi thường đi trên con đường xưa em đi và qua khu cư xá, hy vọng gặp em đi ra, nhưng cho tới ngày tôi rời Sài Gòn, con đường còn đó, mà bóng dáng em vẫn bặt tăm. Tôi nhớ mái tóc em dài quá vai và tự hỏi về đâu mái tóc người thương. Ngay cả cho đến bây giờ, quá nửa thế kỷ, nghìn trùng xa cách, thỉnh thoảng tôi vẫn thắc mắc không biết em bây giờ ra sao.
 
Nhà tôi ở trong một ngõ rẽ từ một đại lộ. Tôi có được diễm phúc là hàng xóm quanh nhà tôi có nhiều cô gái đẹp. Có cô láng giềng tuyệt đẹp có làn da trắng bóc đã khiến "tôi mơ trời xuân bao tươi thắm, đôi mắt trong đen màu hạt huyền, làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng." Thế rồi, thời gian trôi qua, gia đình cô dọn đi nơi khác, khiến anh em chúng tôi tiếc rẻ vô vàn. Các cô khác trong xóm rồi cũng dần phai mờ, có người có bồ, có người dọn đi. Ngoài các cô hàng xóm, tôi cũng để ý các cô hàng nước, cô bán cuốn bò bía đầu ngõ nhà bạn tôi. Tuy tôi chẳng có chuyện tình nào với họ, các cô gái xinh đẹp này cho tôi những xúc cảm đậm đà đầu tiên về tình cảm trai gái.
 
Khi ba tôi cho tôi lái xe gắn máy, tôi bắt đầu nổi loạn. Tuy nhiên, ban đầu tôi vẫn nhút nhát, chỉ dám gác cổng các trường nữ nhìn các cô nữ sinh tan học mà không dám tán tỉnh. Thế rồi, tôi thay đổi dần dần và trở nên bạo dạn hơn. Tôi theo đuổi một cô nữ sinh trường Nguyễn Bá Tòng, sau này chuyển sang trường Lê Văn Duyệt. Nàng không thật đẹp, không có cặp mắt như đôi mắt người Sơn Tây "u uẩn chiều luân lạc," nhưng nàng có nét dịu dàng thùy mị của một cô gái miền Nam thuần túy. Tôi lẽo đẽo theo nàng cả tháng trời đến độ ghi nhớ bảng số xe gắn máy của nàng cho đến bây giờ, mê mệt tự hỏi bao giờ biết tương tư. Nàng biết tôi đi theo nhưng gặp nhau làm ngơ dù nàng và tôi "chung một đường, kẻ trước, người sau" cả tháng trời. Sau cùng, tôi thu hết can đảm chận xe nàng tại góc gần nhà nàng, cạnh con đường nhà nàng thơ mộng rạp lá, lắp ba lắp bắp ngỏ lời đầu tiên với nàng. Có lẽ sự vụng về của tôi động được lòng nàng. Thế là từ đó, nàng là người yêu chính thức của tôi và con đường nhà nàng trở thành con đường mang tên em.
 
Trong giai đoạn đầu, những chuyện hẹn hò với nàng khiến tôi than vãn, "Hẹn chiều nay mà sao không thấy em, gió hiu hiu, lòng bỗng nghe lạnh thêm." Tôi vẫn thường bước những bước chân âm thầm "khi người yêu không đến, tuổi xuân buồn lặng căm." Dần dà, chúng tôi thân thiện với nhau và gần gũi nhau nhiều hơn, nhưng mối tình tôi với nàng rất ngây thơ trong trắng, không có chuyện qua cầu gió bamà như giấc mộng dưới hoa khi chúng tôi "gặp nhau yêu chẳng hạn kỳ, mây ngàn gió núi đọng trên mi." Nàng và tôi yêu nhau một cách hiền lành, như hai người bạn. Tôi chẳng bao giờ thắc mắc hỏi ai nói yêu em đêm nay hoặc đặt giả thiết nếu ta đừng quen nhau. Chúng tôi yêu nhau trong sự kính trọng và không cần phải có những hứa hẹn hoặc điều kiện trăng sáng vườn chè như "anh chưa thi đỗ thì chưa thì chưa động phòng."
 
Như những người bạn thân, chúng tôi chở nhau đi học, hẹn nhau sau giờ học, đùa nghịch với nhau vô tư, hỏi nhau những câu hỏi ngu ngơ bây giờ tháng mấy "rồi hỡi em?" hoặc đố nhau những câu đố ai cắc cớ, "đố trăng mấy tuổi trăng già, để em để em lên tiếng mặn mà mặn mà yêu anh," hoặc dựa đầu bên nhau dưới gốc cây, ru em từng ngón xuân nồng với "bàn tay em năm ngón anh ru ngàn năm." Có những hôm nàng đến nhà tôi trong chiếc áo dài trắng và nón lá mang hình ảnh người em không đợi khiến tôi xao xuyến. Tôi không nhất thiết yêu nàng với đủ mười thương, nhưng chỉ cần "một thương tóc xõa mơ màng, hai thương em ăn nói mặn mà có duyên" cũng đủ làm tôi hạnh phúc. Chúng tôi cũng đề cập đến chuyện hôn nhân, đến cảnh gia đình hạnh phúc dướtúp lều lý tưởng và hai trái tim vàng, nhưng chỉ nói chuyện đó cho vui, chứ thực ra chúng tôi không dự tính hôn nhân quá sớm. Thuở đầu tiên trong cuộc tình thật hạnh phúc, như dư âm xa xưa "hẹn em từ muôn kiếp trước, nhớ em mấy thuở bạc đầu." Tôi yêu em "vì ta ghét buồn, yêu em vì ta ghét hờn, yêu em vì ta khinh khi dối gian." Với tôi, những tháng ngày đầu tiên của cuộc tình thật nên thơ khi ngày đó chúng mình "có anh mơ lại mộng ngời, và se tơ kết tóc giam em vào lòng thôi." Lúc ấy, tôi nghĩ tôi sẽ yêu nàng suốt đời và thường nói niệm khúc cuối, "dù cho mưa tôi xin đưa em đến cuối cuộc đời." 
 
Nhưng rồi, một thời gian sau, khoảng 1-2 năm, tôi cảm thấy có thay đổi trong tình cảm tôi dành cho nàng, và dằn vặt không hiểu tôi có ngộ nhận tình yêu hay không. Những cảm xúc nồng nàn lúc ban đầu bớt dần. Tôi có cảm tưởng mối tình tôi với nàng như tình là sợi tơ "mong manh." Thỉnh thoảng có lúc tôi muốn gửi nàng một tình khúc cho em "như hoa đem tin ngày buồn, như chim đau quên mùa xuân" để cho nàng biết tôi muốn thoát ra khỏi vũng lầy của chúng ta. Vào những tháng ngày cuối của chuyện tình không suy tư, tôi nhận ra "tình yêu mới vừa hôm qua, mà nay mắt trông mắt cay." Có những buổi trưa chờ nàng tan học bên bàn bi-da, tôi ngậm ngùi nghĩ đến "nắng chia nửa bãi chiều rồi, vườn hoang trinh nữ khép đôi lá rầu." 
 
Tôi và nàng không bao giờ chính thức nói lời xa nhau, nhưng hai người ít gặp nhau hơn, cho tới ngày tôi và gia đình rời Sài Gòn. Tôi không rõ lý do tại sao có sự xa nhau, nhưng có lẽ là lỗi của tôi, vì nàng là người em sầu mộng, "là gái trong song cửa," trong khi tôi "là mây bốn phương trời" và "theo cánh gió chơi vơi." Trong những tháng ngày không liên lạc với nàng, tôi nghĩ tới nàng và muốn nói với nàng về chuyện chúng mình. Có những đêm tôi thao thức, tự hỏi đêm nay ai đưa em về và mơ đến dạ khúc cho tình nhân vào "ngày em thắp sao trời, chờ trăng gió lên khơi." Thỉnh thoảng, tôi coi mối tình với nàng như trong ca khúc "Bài không tên số 2" vì "kỷ niệm xưa đã chết, cơn mê đã chiều," và "tình yêu đã hết," nhưng không đến nỗi "xót xa đã nhiều." Tôi cũng vui là đối xử với nàng tốt đẹp, như trong ca khúc "Bài không tên số 4" vì "đời con gái cũng cần dĩ vãng. mà em tôi chỉ còn tương lai," và không để cho ngày em hai mươi tuổi là ngày khiến em phải "tay cắt mái tóc thề, giã từ niềm vui nhé, buồn ơi hãy chào mi."
 
Tuy chuyện tình giữa nàng và tôi chẳng có gì đẹp đẽ, nó cũng không tệ hại như nhiều chuyện tình khác. Ít ra tôi nghe theo lời khuyên đừng nói xa nhau, hoặc không van xin ai cho tôi tình yêu. Ngoài ra, tôi không bị đau buồn vì người yêu đi lấy chồng, khiến mình tưởng như tôi đưa em sang sông, hoặc lên cơn sầu tím thiệp hồng, luyến tiếc nhìn những tà áo cưới. Tôi còn may mắn hơn nhiều người than khóc cho cuộc tình như trong ca khúc "Bài không tên cuối cùng," dằn vặt với câu hỏi "mưa bên chồng, có làm em khóc, có làm em nhớ những khi mình mặn nồng," hoặc than thở cho duyên kiếp mình, "Em ơi nếu mộng không thành thì sao, non cao đất rộng biết đâu mà tìm." 
 
Cũng may, cuộc tình hai ba năm đó của tôi không đến nỗi là hai năm tình lận đận, và không có những hận thù chua chát, muốn giết người trong mộng, tự trách mình là ta yêu em lầm lỡ, nuối tiếc cho cuộc tình lỡ, hoặc than khóc cho tình đầu tình cuối "khi một ngày một người đã ra đi," hoặc đau khổ tê tái với nửa hồn thương đau và "nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt." So với các chuyện tình của thiên hạ, tôi thấy nàng và tôi rất may mắn, không đưa đến những kết cục bi thương như chuyện tình người trinh nữ tên Thi, chuyện tình Lan và Điệp, hoặc Thúy đã đi rồi. Đôi khi tôi nghĩ nàng và những cô gái khác là những mối tình xa, khi "từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ." Họ là những người đi qua đời tôi "trong những chiều đông sầu" và cho tôi cái ảo ảnh "yêu cho biết sao đêm dài, cho quen với nồng cay" để rồi "cũng theo hư không mà đi."
 
Nói đến tình yêu là phải nói đến phong cảnh và thiên nhiên. Tình người ăm ắp chứa chan một phần vì miền Nam có phong cảnh hữu tình, đồng ruộng mênh mông, bờ biển bát ngát, sông ngòi, rừng núi, vùng cao nguyên, và vùng ̣đồng bằng. Mây, gió, mưa, nắng, trăng, sao đóng góp thêm cho nét thơ mộng của đất nước miền Nam. 
 
Hàn Mặc Tử là người đầu tiên tự nhận là sở hữu chủ của mặt trăng và rêu rao, "Ai mua trăng, tôi bán trăng cho; trăng nằm im trên cành liễu đợi chờ." Ánh trăng hiền hòa thể hiện trăng thanh bình vẽ ra hình ảnh "một đêm ánh trăng thanh rọi xuống khắp đồng quê bao la." Trăng còn thường được coi là nhân chứng cho các lời thề thốt có lẽ do bởi nét huyền bí của ánh trăng mơ màng trong đêm tối. Do đó, lời trăng thề thường được nhắc nhở trong cuộc tình vào "một đêm trăng sáng lung linh, bên đồn canh vắng im lìm." Tại miền quê miền Nam, trăng còn có ý nghĩa đặc biệt, thường được liên kết với mùa màng và tình yêu. Với tình lúa duyên trăng, khung cảnh trở nên thơ mộng: "mây bay qua, ánh trăng chiếu dần vào ruộng đồng bao la; nghe xa xa, mấy câu hát vè vọng từ đầu thôn đưa về."
 
Những cảnh có vật di động trôi chảy như như mây, nước, sông hồ, suối, biền làm tăng phần thơ mộng hoặc cảm xúc cho con người. Còn gì thơ mộng hơn cảnh trăng mờ bên suối, ngắm suối mơ, hoặc ngẩn ngơ nhìn những con thuyền không bến. Tại những nơi hẻo lánh xa xôi, có những con đò chiều là "đò của người thôn nữ, chờ đưa người viễn xứ." Bãi biển bao la tạo nên nỗi biển nhớ "tên em gọi về, gọi hồn liễu rũ lê thê, gọi bờ cát trắng đêm khuya." Trong những cơn mưa hồng, ta có thể cảm nhận "trời ươm nắng cho mây hồng," và "mây âm thầm mang gió lên." Tất cả những cảnh vật thiên nhiên đó tạo nên tình yêu thương quá Việt Nam nhẹ nhàng và đơn giản như "em nghe gì không hỡi em, con chim nó hót vang đầu hè."
 
Khi tôi có dịp đi tới vùng đồng quê miền Nam, tôi mới biết được cảnh đẹp miền Nam qua những con sông nhỏ, ruộng lúa phì nhiêu, và những cô thôn nữ xinh tươi ca hát những khúc ca ngày mùa và tiếng hò miền Nam, và các em bé ca hát về tía em má em. Tôi có dịp lái xe gắn máy qua những con đường quê chật hẹp, băng qua mấy nhịp cầu tre, rẽ vào đường về hai thôn, trải qua chiều làng em, đi qua những mái tranh trong xóm khi nắng lên xóm nghèo, hoặc đi vào lối về xóm nhỏ nơi có "vài cô gái nhỏ to vui chuyện trò." Đêm về, cuộc sống ruộng đồng trở nên mê hoặc, với ánh trăng về thôn dã và hình ảnh gạo trắng trăng thanh với "tiếng chày khua" văng vẳng đâu đây. 
 
Tôi nghe kể những mối tình của các chàng trai và các cô gái trong miền quê qua những dịp gặp nhau nơi đồng ruộng. Những mối duyên quê thật đơn sơ, chỉ cần "dăm miếng trầu cay một buồng cau trắng" mà nên vợ thành chồng, hoặc tình thắm duyên quê với "tình nồng thắm xuyên qua bao mái tranh," dẫn đến đám cưới trên đường quê, với "cô dâu con con y trang mỹ miều, cô dâu non non dung nhan mặn mà." Có lần, sau cuộc tình với nàng, tôi đến quê bạn tôi, nó có cô em gái thật dễ thương, khiến lòng tôi xao xuyến, thầm ca khúc hát ân tình, mơ tưởng đến "tình Bắc duyên Nam," và lo lắng đến nụ tầm xuân, sợ lỡ duyên khi nàng trách "sao anh không hỏi những ngày em còn không?" 
 
Ngoài khoảng thời gian ngắn sống ở Đà Nẵng và Nha Trang lúc tôi còn bé, tôi có đến miền Trung vài lần. Tôi đến thăm viếng thành phố buồn Đà Lạt khi tôi 17 tuổi, và ngây ngất với những cô nữ sinh đi học có cặp má đỏ hồng hồng trông thật dễ thương. Nhưng ấn tượng mạnh mẽ nhất là cảnh Đà Lạt hoàng hôn khi ánh chiều tà rải nhẹ trên đồi thoai thoải. Tôi không biết có ai lên xứ hoa đào "dừng chân bên hồ nghe chiều rơi" nhưng tôi biết chắc tôi "nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má ai." Lúc bấy giờ tôi không biết đến đồi thông hai mộ nên không ghé thăm để trải qua "một chiều rừng gió lộng một chiều rừng." 
 
Tôi chưa từng bao giờ đến Huế, nhưng biết đến Huế qua văn chương thi ca và nỗi đau thương trong Tết Mậu Thân năm 1968. Những lời kêu gọai ra xứ Huế cho biết "bến Vân Lâu còn sâu thương nhớ, thuyền Bến Ngự còn đợi anh về." Có người thơ mộng hóa cơn mưa trên phố Huế, cho biết "tiếng mưa còn vương kỷ niệm ngày quen nhau dưới chân Thiên Mụ, anh còn nhớ không?" 
 
Tôi đã tới Vĩnh Long, Cần Thơ, Thốt Nốt, nhưng chưa đến Hà Tiên, và các tỉnh cao nguyên miền Trung. Tôi chỉ biết những nơi đó qua trí tưởng tượng, nhìn cảnh Hà Tiên thật đẹp với "những bóng dừa xanh mát biển khơi," nghe văng vẳng tiếng hát Mường Luông, ngắm nụ cười sơn cước, lắng nghe sơn nữ ca, thưởng thức chiều lên bản Thượng, tiếc thương mối hận Đồ Bàn, và trân quý còn một chút gì để nhớ tới Pleiku.
 
Tuy nhiên, cho dù Đà Lạt mộng mơ, Huế thùy mị, và vùng đồng quê dễ thương, Sài Gòn vẫn ghi đậm trong tâm khảm tôi. Khi tôi có dịp đi khắp nơi trong Sài Gòn, tôi mới ý thức được tại sao Sài Gòn được mệnh danh "Hòn Ngọc Viễn Đông" bấy giờ. Thật vậy, Sài Gòn đẹp lắm. Có những ngày tôi "dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai, từ xa thấp thoáng muôn tà áo tung bay." Những con đường thơ mộng, bùng binh đông xe cộ, biệt thự im lìm tạo nên những tương phản độc đáo. Tôi say mê với đêm đô thị khi "màn đêm xuống dần, muôn ánh đèn đột nhiên như ngời sáng," và nhớ mãi những buổi chiều Sài Gòn thứ bảy "ngàn hoa trên đường."
 
Sài Gòn là thành phố lớn, đông dân. Nhiều người thuê mướn phòng hoặc gác ở trọ mang nặng nỗi buồn gác trọ vì "gác lạnh về khuya cơn gió lùa, trăng gầy nghiêng bóng cài song thưa," hoặc có căn nhà ngoại ô, "một căn nhà xinh có hoa thơm trái hiền; gần kề lối xóm, có cô bạn thân sớm hôm lo sách đèn." Như tại các thành phố lớn khác, Sài Gòn có đủ mọi hạng người và có những thay đổi trắng đen bạc tình bạc nghĩa. Nhưng người miền Nam không lấy làm chua chát hoặc có thái độ tiêu cực về thói đời gây ra "đường thương đau đày ải nhân gian," mà có một cái nhìn lạc quan bảo nhau hãy ngước mặt nhìn đời và kêu gọi "cười lên đi em ơi, dù nước mắt rớt trên vành môi." 
 
Tình cảm con người nhiều khi thay đổi theo sinh hoạt ngoài đường và thời gian trong một ngày. Buổi sáng, khi rạng đông, ta thường có ý chí phấn đấu, tưởng chừng nghe "cung kèn rạng đông, đang uy linh lừng vang trên không, đang thiết tha hùng hồn, khơi chí gan Lạc Hồng." Buổi chiều thường diễn ra chậm chạp trong ngày, ngắn dài tùy theo mùa. Đối với một người lữ khách, buổi chiều có thể tạo nên một nỗi buồn man mác nào đó, "trên đường về nhớ đầy, chiều chậm đưa chân ngày, tiếng buồn vang trong mây." Buổi chiều của mùa thu còn gây nhiều xúc cảm, vang lại tiếng xưa. Khi trời trở tối, sau một ngày mệt mỏi, ta cảm thấy cô đơn khi đi trong xóm đêm hoặc buồn ngủ trong phố đêm. Nhưng không phải ai cũng muốn ngủ vào ban đêm. Thực vậy, hoa nở về đêm là dịp để những người đang yêu tìm ra được chân lý của tình yêu: "tình yêu đẹp nghìn đời là tình yêu khi đơn côi."
 
Sống trong miền Nam, nhất là Sài Gòn, mà không nhắc đến chuyện mưa nắng là một việc thiếu sót. Ở miền Nam thực ra chỉ có hai mùa: mưa và nắng. 
 
Mưa ở Sài Gòn thường là những cơn mưa xối xả, nhưng không kéo dài. Tôi không biết mẹ tôi, khi nhìn trời mưa, có so sánh mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội hay không. Tôi chẳng bao giờ hỏi và chỉ thưởng thức cơn mưa Sài Gòn theo ý thích tôi, nhất là nghe những giọt mưa thu "thánh thót rơi" ngoài hiên, những giọt mưa trên lá "bỡ ngỡ, xôn xao, cuống quít, dạt dào," hoặc tiếng mưa rơi trong "nhịp mưa rơi nhuộm tím bầu trời, gió đêm vi vu muôn ngàn lời." Nhiều khi, tôi thấy chẳng thà như giọt mưa còn sướng, vì chẳng phải lo âu gì, mà lại được tự do, reo hò với lá cây. Tuy nhiên, mưa thường không gợi ra niềm vui hạnh phúc, như trong ca khúc "Tuổi đá buồn" khi "trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang, từng ngón tay buồn, em mang em mang." Mưa cũng khiến nhiều chàng trai nhớ đến người yêu, như trong ca khúc "Diễm xưa" khi "mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ." 
 
Có những cơn mưa đêm ngoại ô tầm tã, hoặc những cơn mưa nửa đêm, khiến nhiều người "đêm chưa ngủ nghe ngoài trời đổ mưa từng hạt rơi." Có người tưởng tượng mưa rừng có linh hồn của chính nó, và kêu gọi "Mưa rừng ơi! Mưa rừng! Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên." Cơn mưa cũng là dịp các chàng trai thú tội với người em hiền như ma sœur khi "đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa." Những cơn mưa lại càng làm nhiều người đau buồn với kiếp nghèo, khi bước đi trên "đường về đêm nay vắng tanh," lắng nghe "rạt rào hạt mưa rớt nhanh." 
 
Nếu mưa làm nhiều người bực bội vì bị ướt át, thì những tia nắng luôn luôn đem lại sức sống vui tươi. Thực vậy, nắng đẹp miền Nam không những tô điểm miền Nam mà còn đem sức sống và tình cảm cho con người miền Nam. Những tia nắng chiều gợi lại chuyện tình ngày nào khi "qua bến nước xưa lá hoa về chiều, lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa." Những buổi chiều nhạt nắng làm tăng tình yêu thương miền quê khi "hoàng hôn phai nắng, chân trời xa vắng, còn đâu tiếng tiêu buông." Những người lãng mạn tưởng tượng giọt nắng hồng là "giọt nắng đi hoang vào mắt em buồn" và nắng thủy tinh có "màu nắng hay là màu mắt em." Những kẻ thất tình, chơi vơi riêng một góc trời nào đó nhưng vẫn ví von "tình yêu như nắng, nắng đưa em về, bên giòng suối mơ." Nhiều chàng trai lãng mạn nhớ người yêu, khi "nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông." 
 
Tuy nhiên, người miền Nam không bao giờ chịu nhận miền Nam chỉ có hai mùa: mưa và nắng. Đất nước miền Nam thơ mộng quá, con người miền Nam dễ thương quá, thì làm sao chỉ có hai mùa được? Nhiều người tưởng tượng miền Nam có đủ cả bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông.
Mùa Xuân dường như lúc nào cũng liên quan đến Tết nhất. Mùa xuân miền Nam thật thơ mộng, lãng mạn. Trong không khí vui nhộn của những ngày Tết, mọi người cùng nhấc ly rượu mừng, "chúc người binh sĩ lên đàng, chiến đấu công thành," đánh tan lũ giặc Bắc cộng xâm lăng. Người dân miền Nam kể câu chuyện đầu năm, khi người người "trên đường đi lễ Xuân đầu năm, qua một năm ruột rối tơ tằm." Có người hứa với người yêu rằng anh cho em mùa Xuân khi "nụ hoa vàng mới nở," và mơ tưởng mộng chiều xuân, tự hỏi, "mối tình đầu xuân ai thấu chăng?" Nhiều người gửi những cánh thiệp đầu Xuân hỏi nhau, "xuân đến rồi đây nào ai biết không?" Mùa Xuân cũng là mùa thiên hạ cưới nhau. Có những đám cưới đầu xuân thật dễ thương, của những đôi uyên ương là bạn từ bé. Một tục lệ người dân miền Nam không quên là đi coi bói, hỏi về chuyện tình tài tương lai, nhất là các cô muốn biết thiên duyên tiền định thế nào.
 
Trong cảnh chiến tranh, nhiều chiến sĩ đón mừng xuân với nỗi niềm bâng khuâng thiếu thốn, đón Xuân trong phút giao mùa, tiếc với người tình rằng "quà xuân anh chẳng có, gác giặc từng giờ, đời lính chiến lấy gì gửi về em?" Người lính nơi tiền đồn, trong phiên gác đêm Xuân, "đón giao thừa một phiên gác đêm, chào xuân đến súng xa vang rền." Người xa gia đình, viết thư cho mẹ cho biết xuân này con không về hoặc viết lời cảm ơn về những món quà Tết như "bánh chưng mẹ già tự tay gói gửi cho con." 
 
Mùa hè là mùa vui tươi nhưng cũng là mùa buồn cho tuổi học trò vì xa trường trong ba tháng. Mỗi độ hè về, hoa phượng rực nở, trong khi mọi người vui vẻ vì "trời hồng hồng sáng trong trong," có những cô cậu học trò mang nặng nỗi buồn hoa phượng. Có những thương ca mùa hạ, khi "tiếng ve nức nở chan chứa, sân trường còn lại hai đứa." Vào những ngày cuối năm học, các cô cậu học trò thường ghi lại cảm nghĩ trong quyển lưu bút ngày xanh trước khi xa nhau. Thế rồi, ngày họp mặt lần cuối đến, bạn bè bắt tay từ giã. Ngày tạm biệt là ngày buồn cho mọi học sinh khi "bên xác hoa âu sầu vì tả tơi, ngàn ve buông tiếng nỉ non như thương cho người đi." Trong cảnh chiến tranh, mùa hè có nhiều ý nghĩa. Có người muốn đưa em vào hạ, hứa với người tình "mùa hè năm nay anh sẽ đưa em rời phố chợ đôi ngày." Mùa hè còn là mùa nắng ngập, trắng xóa thiên nhiên, gợi những cuộc tình dở dang. Nhiều chàng trai thương nhớ hạ trắng, "gọi nắng, trên vai em gầy đường xa áo bay."
 
Từ mùa hè qua mùa thu có sự thay đổi của sắc hoa màu nhớ khi "hoa phượng rơi đón mùa thu tới." Mùa thu thường đem lại nỗi buồn vì cảnh lá rơi ngập đường và màu sắc tàn úa của hoa lá. Có người nhớ mùa thu chết khi "ngắt đi một cụm hoa thạch thảo." Tuy nhiên, có người không đồng ý, tin rằng mùa thu còn đó, và kêu gọi, "Xin đừng nói, xin đừng nói thu chết rồi! Không, thu vẫn sống, đem hình bóng cho cuộc đời." Cho dù mùa thu sống hay chết, vẫn có những giọt nước mắt mùa thu "khóc ai trong chiều," hoặc tiếc nuối thu sầu, khi "mùa thu thưa nắng gió mang niềm nhớ, trời chiều man mác buồn nát con tim." Buổi chiều mùa thu dễ tạo ra hoài cảm đến nỗi "lòng cuồng điên vì nhớ, ôi đâu người, đâu ân tình cũ?" Cảnh thu vàng gợi nhiều cảm xúc khi "lang thang trên đường; hoàng hôn xuống, chiều thắm muôn hương." Tình cảm do ngọn trúc đào còn ví von "mùa thu lá rụng bay vào sân em."
 
Nhưng không phải mùa thu nào cũng gợi đến buồn thương, chia ly, tang tóc. Người miền Nam là người yêu đời, vì vậy thiên nhiên buồn bã không làm mất đi tinh thần vui tươi và lạc quan. Mùa thu đem đến ước mơ đoàn tụ, khi chàng trai tặng mùa thu cho em, với những lời ngọt ngào lãng mạn, và ao ước "hai chúng ta sẽ cùng chung lối, em với anh mơ mùa thu ấy tình ta ngát hương." Mùa thu còn được gọi là mùa thu yêu đương khi chàng trai muốn "đôi ta mãi như người tình, vui đời hẹn hò, khi trên giòng suối, khi trên đồi buồn." 
 
Cho dù mùa thu đem lại nỗi buồn chia ly hay vui đời lãng mạn, nó luôn luôn được đi theo bởi mùa Đông lạnh lẽo khiến nhiều người cảm thấy cô đơn. Có người day dứt với chuyện tình dang dở, than thở mối sầu đông. Có người tiếc nuối mùa đông của anh và luyến tiếc mối tình chết theo mùa đông. Mùa đông cũng là mùa tiễn biệt và mong chờ hội ngộ, khi sương lạnh chiều đông "vương tiếng thở của người nguyện đợi chờ nghẹn ngào giờ tiễn đưa." Thời tiết lạnh lẽo làm nhiều người lãng du cô liêu nhớ đến người thương yêu trong cảnh đêm đông
 
Tuy nhiên, mùa đông còn là dịp lễ Giáng Sinh khi mọi người, bất kể tôn giáo, hân hoan mừng ngày Chúa sinh ra đời. Tuy gia đình tôi theo Phật Giáo, tôi vẫn thường cùng các bạn đi tới các nhà thờ quanh Sài Gòn, nhìn đám đông người, nhất là các cô gái xinh xắn, đi dự lễ trước buổi ăn réveillon, ngắm nhìn cảnh vật thu nhỏ trưng bày của hang Bê Lem, nơi "đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa," và lắng nghe bài thánh ca buồn, khi "Noel năm nào chúng mình có nhau."
 
Thiên nhiên và khí hậu có ảnh hưởng đến tình cảm và cuộc sống người miền Nam. Nhưng cho dù mưa nắng, xuân hạ thu đông, đa số người miền Nam có tinh thần lạc quan, và nhẫn nại để vượt qua những khó khăn của cuộc đời. Đối với họ, sức mấy mà buồn, và khi nỗi buồn đến, họ chỉ nhún vai, "buồn ơi bỏ đi Tám," hoặc nghèo mà không ham, "nghèo mình nghèo mà mình không ham." Ngoài ra, người miền Nam ưa chuộng cuộc sống tự do, nghệ sĩ. Chỉ cần có một cây đàn là cuộc sống trở nên Ô mê ly "đời sống với cây đàn, tình tính tang dạo phím rồi ca vang." Có người thích cuộc sống lãng tử, không ràng buộc, để rồi ngày nào đó, dừng bước giang hồ. Có người thích sống với thiên nhiên, rừng núi, đốt ngọn lửa bừng sáng trong "màn đêm chơi vơi buông lơi, gió rừng reo xuyến xao khung trời." Những tay giang hồ anh chị với cuộc đời phóng đãng có vết thù trên lưng ngựa hoang vì họ là những con "ngựa hoang nào dẫm nát tơi bời, đồng cỏ nào xanh ngát lưng trời." Những thiếu nữ miền Nam còn được biểu hiện qua thiên nhiên tạo nên huyền thoại người con gái với "loài ngọc đá mang tên em," "loài hoa trắng mang môi em," hoặc "loài rêu biếc mang mắt em."
 
Trong khi gia đình, học đường, tình yêu, con người, đất nước, và thiên nhiên là những hình ảnh thơ mộng và tốt đẹp của miền Nam hiền hòa, cuộc chiến tranh tạo bởi cộng sản Bắc Việt là một thảm kịch bi thương cho cả hai miền Nam Bắc. Hàng chục ngàn thanh niên miền Bắc rời bỏ gia đình quê nhà, theo lệnh đám lãnh đạo cộng sản dưới sự điều khiển của cộng sản Nga Tàu, xâm lăng miền Nam bắt đầu từ cuối thập niên 1950 và leo thang dần dần, gieo rắc máu lửa kinh hoàng và tàn phá đất nước khắp nơi. 
 
Cực đỉnh của cuộc chiến có lẽ là Tết Mậu Thân năm 1968. Tại Sài Gòn, quân cộng sản bị đẩy lui, trà trộn vào khu dân cư, khiến cuộc phản công của quân lực miền Nam Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) thật khó khăn. Nhà cửa cháy, dân bồng bế chạy thoát nơi giao chiến trên khắp tám nẻo đường thành. Đó là lần đầu tiên tôi nghe tiếng trực thăng quần trên không cả đêm và thấy những đóm mắt hỏa châu "bừng lên trong màn tối." Sự tàn ác dã man của những người cộng sản được kể lại qua câu chuyện một đêm, khi lũ quân cộng sản bắn giết đứa bé thơ, để bà mẹ đau thương "đưa môi hôn trán con yêu giá lạnh, vuốt ve lần cuối trước khi xa con suốt đời." Trận chiến tại Huế là trận khốc liệt nhất và cho thấy bản chất dã man vô nhân đạo của cộng sản Bắc Việt qua cuộc thảm sát hàng ngàn người dân hiền lành vô tội. Có người ngã vào cơn mê chiều khi lũ cộng sản là "đàn con nay lớn khôn mang gươm đao vào xóm làng" khiến "đồi Ngự Bình thịt xương khô sườn đá, Kim Long ơi, bờ lau ngóng, chuông chùa tắt rồi." Người dân Huế không quên câu chuyện một chiếc cầu đã gẫy khiến cho "cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi, nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài."
 
Sau cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân, lệnh Tổng động viên được ban hành. Tôi có những người anh họ gia nhập quân đội trước đó. Một người anh trong nhà tôi gia nhập quân đội dưới lệnh Tổng động viên. Ba mẹ tôi không muốn anh đi chiến dịch nhưng không làm sao hơn được. Trong những tháng ngày anh ở trong trung tâm huấn luyện, gia đình chúng tôi thăm anh đều đặn và biết đến vườn Tao ngộ qua những lần thăm viếng đó. Rồi sau đó, qua mấy năm, những đứa bạn ngày nào cùng lớp trong trung học lần lượt gia nhập quân đội, trong khi một số lớn khác, kể cả tôi, có hoãn dịch vì lý do học vấn. Những cô gái có người yêu đi lính viết những bức tâm thư "nói rằng nước non đang mong, đi quân dịch là thương nòi giống." Chiến tranh đã cho người vào cuộc chiến, những thanh niên phải gác bút thư sinh, giã từ những người thân yêu và nhất là người tình, trả lại em yêu "khung trời đại học, con đường Duy Tân cây dài bóng mát." 
 
Các người anh và các bạn tôi đi theo đủ mọi binh chủng và các ngành đặc biệt và ở rải rác khắp nơi trên lãnh thổ miền Nam. Những cô gái có người yêu đi lính thường hỏi giờ này anh ở đâu? Nhưng dù họ thuộc binh chủng nào, họ là những người trai xếp áo thư sinh, nguyện trên đầu súng "ta đi tổ quốc đã vươn mình, trên lưỡi lê căm hờn hờn căm như triều sóng."
 
Một đứa bạn tôi đi Hải quân. Đối với nó, cuộc đời chỉ là tình ca người đi biển, "chiều nay ra khơi, thoáng thấy mắt em nhuốm buồn." Con tàu lênh đênh trên đại dương vẽ ra nhưng cụm hoa biển trắng xóa. Khi người yêu trách móc không viết thư, nó bào chữa lính mà em vì "tàu lắc lư làm sao viết thư tình." Những chàng phi công phản lực còn thấy tuyết trắng trên không khi con chim sắt "vượt cao vút cao, mây trời kết thành một vùng tuyết trắng ngần." Những phi công lãng mạn lái phi cơ trong một chuyến bay đêm mơ màng tưởng tượng sứ mạng mình là "níu áo hằng nga, ngồi bên dẫy ngân hà." Những chiến sĩ lục quân có lẽ thực tế hơn có thể vì họ đối diện quân thù gần gũi hơn. Một người anh họ của tôi là sĩ quan nhảy dù, nhưng anh rất hiền, nói năng nhỏ nhẹ. Tôi không thể hình dung anh là thiên thần mũ đỏ "với áo hoa mũ đỏ chân mang bốt đờ sô, khi sa trường khi trong thành phố," như nhiều lính dù lên điểm vì "là thiên thần giữa trời mây." 
 
Có người đóng quân ở các tỉnh biên giới là kẻ ở miền xa, trải qua những đêm trên vùng đất lạ, đối diện vùng trước mặt của quê hương thân yêu đang bị giày xéo bởi đoàn quân xâm lăng từ miền Bắc. Cảnh tượng nửa đêm biên giới khiến nhiều chiến sĩ trẻ nhớ đến người mẹ hiền. Có người thức khuya qua đêm tiền đồn cô đơn, lạnh lẽo, nghĩ đến gia đình và người yêu. Có người đi hành quân trên các vùng núi non, gần làng quê gia đình, ngồi ôm súng gác trong không khí dày dặc sương trắng miền quê Ngoại, và nhớ đến những ngày họ ở bên người tình, ngồi bên nhau trong quán nhỏ tâm tình hoặc nằm trên bãi cỏ đầy bông cỏ may, nhìn bầu trời trong xanh. Trong những cuộc quân hành, họ "qua vùng khô cặn, mồ hôi thành biển mặn trên môi," hoặc qua những khu rừng lá thấp với "rừng lá xanh xanh cây phủ đường đi." Với những người có bạn gái, họ có vài lời tình viết vội cho người yêu trong những lúc nghỉ ngơi trong cuộc hành quân. Vì đi xa lâu ngày, nhiều người lo âu người yêu sẽ quên mình. Họ thường hỏi người yêu sao chưa thấy hồi âm và bày tỏ nỗi âu lo, khiến người yêu vội viết thư để trả lời một câu hỏi "Anh vắng nhà hoài em có nhớ?" 
 
Các anh, các bạn tôi, và những người chiến sĩ VNCH, tham gia nhiều trận đánh kinh hồn trên bốn vùng chiến thuật. Là lính trận xa nhà, họ rất nhớ gia đình, bạn bè, người tình, và mong mỏi được nghỉ phép về thăm nhà. Họ không vui mỗi khi bị cấm trại một trăm phần trăm không được đi phép. Họ khao khát những ngày nghỉ phép và "mong những khi gần nhau dù không lâu là bao nhưng sẽ đẹp bằng chuyện thần thoại hoang đường." Có người được 24 giờ phép về thăm gia đình và bạn gái như người xa về thành phố. Có người được ở lâu hơn, độ một tuần. Nhưng rồi, ngày vui qua mau, các bạn tôi lại trở về chiến trường, bỏ lại thành phố sau lưng. Trước khi các bạn tôi giã biệt Sài Gòn, chúng tôi thường gặp nhau biệt kinh kỳ tại các quán cà phê và uống ly cà phê cuối cùng vì không biết chuyện gì sẽ xảy ra khi tụi nó trở lại chiến trường. Với những người có người yêu hoặc vợ, mỗi lần ra đi là quyến luyến nói lời tạ từ trong đêm và hứa hẹn không bao giờ ngăn cách. Có đứa chia sẻ tâm sự người lính trẻ với người yêu rằng "từ khi anh thôi học, từ khi đôi lứa đôi đời, từ sông ngăn núi trở, tạ từ không nói nên lời."
 
Có những lúc trăng tàn trên hè phố tôi thấy những "người trai nơi chiến tuyến, súng trên vai bước lê qua đường phố." Nhiều người là bạn thời còn đi học và tình cờ mười năm tái ngộ tại đơn vị, vui mừng "suốt đêm không ngủ bên tách cà phê đen chúng ta ôn chuyện đời." Những cảnh gặp nhau trước khi các người lính lên đường làm đậm đà tình anh lính chiến. Họ không cần phải nhắc nhở nhau xin anh giữ trọn tình quê vì ai cũng thề không phản bội quê hương.
 
Đa số chiến sĩ VNCH có người yêu thường có hai mối tình: tình yêu tổ quốc và tình yêu trai gái. Nhiều người tự hào về người tình và quê hương và tính chất đa tình trong cuộc tình họ. Nhưng chuyện tình của những người chiến sĩ VNCH thường có chuyện buồn thương vì xa cách và những hậu quả đau thương của chiến tranh. Có những cặp vợ chồng khi hội ngộ thường trộm nhìn nhau vì bỡ ngỡ ngại ngùng sau thời gian xa cách, và người vợ "mơ thấy một ngày con níu chân cha." Có người băn khoăn hỏi người tình, nếu em không là người yêu của lính, thì "em sẽ nhớ ai Chủ Nhật trời xinh?" Những người đi hành quân thường nghĩ đến người yêu dọc đường, khi đi qua những đồi hoa sim "tím chiều hoang biền biệt," hoặc hái hoa trinh nữ khi "qua một rừng hoang gió núi theo sang rũ bụi đường trên vai." Nhiều khi, trong cuộc chiến, người ra đi không phải là người lính trận mà là người em gái hậu phương của họ, từ cô vợ trẻ khâu vá áo anh sứt chỉ đường tà cho tới người hôn thê trong mối tình thiên thu
 
Những lá thư viết từ KBC (Khu Bưu Chính) còn là nhịp cầu tri âm móc nối những người lính và những người em gái hậu phương. Những mối tình anh tiền tuyến em hậu phương nhiều khi dẫn đến hôn nhân với đám cưới nhà binh khi "em sẽ là cô dâu đẹp tuyệt vời." Đôi khi, cuộc sống hôn nhân với người lính có những chuyện ghen tuông, đưa đến cảnh hờn anh giận em, khiến anh chồng lính phải van xin, "Anh đi lâu lâu mới về, yêu thương cho nhau dài nhé, mười lăm ngày phép đi vèo buồn nhớ mang theo."
 
Trong khi những người chiến sĩ VNCH chiến đấu nơi tiền tuyến chống lại quân cộng sản xâm lăng, thì những người thân yêu nơi hậu phương lo âu đêm ngày. Nhiều cô gái xa vắng chồng hay người yêu đi ra ngoài chiến trường, nhớ thương người yêu, "ngày anh xa vắng em không trang điểm đợi chờ, những đêm gió lạnh đầu hè, khuê phòng phủ kín tâm tư," hoặc bày tỏ tình chàng ý thiếp, "từ chàng xa vắng, lên đường ruổi rong chiến chinh." 
 
Nhờ những người vợ, người yêu, người em nơi hậu phương, những chiến sĩ VNCH trở nên cứng cáp và có niềm tin mạnh mẽ. Những cô gái hậu phương, có người yêu là lính hay không, thường ca ngợi lính, cho biết tôi nhớ tên anh bằng cách "viết tên anh trên lá trên hoa," "trong trái tim tôi," "trên đá, trên vôi," hoặc "ngập nẻo đường đi ngàn lối." Có người bày tỏ nỗi lòng thương anh qua lời tri ơn,"non sông cho sức trai xây đắp, đi lên người chiến binh đất nước," hoặc khẳng định tình yêu anh đâu em đó. Trong những dịp đơn vị trở về thủ đô, những cô gái hậu phương vui mừng đón chào anh về thủ đô "chúng tôi chờ mong, với vạn niềm tin với muôn tình thương." Những người em hậu tuyến này là những cánh hoa thời loạn tô điểm những "câu chuyện tình người hùng và giai nhân." Do đó, tuy tay cầm súng, những chiến sĩ VNCH vẫn hiểu sức mạnh của tình yêu và phải thốt lời đa tạ, "Tôi xin đa tạ ngày nao súng phải thẹn thùng, ngày nao súng phải lạnh lùng."
 
Không ai muốn là người chết trở về cho dù "từ ngục tối hay mộ sâu," nhưng đó không là một sự lựa chọn. Rất may là những người anh và bạn bè tôi vẫn còn nguyên vẹn sau cuộc chiến, trừ người anh họ đi lính Nhảy dù tử trận. Có rất nhiều người không được may mắn. Có người tặng kỷ vật cho em "là hòm gỗ cài hoa," hoặc "trên chiếc băng ca," hoặc "đôi nạng gỗ." Có người trở thành thương binh khi ngày trở về, "bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre." Nhiều người nhớ người thương binh khi "chàng về, chàng về nay đã cụt tay." Nhiều người là những chiến sĩ vô danh, hoặc trở thành người tình không chân dung "để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này." Có những người vợ tưởng như còn người yêu cho dù "ngày mai đi nhận xác chồng."
 
Cuộc chiến đã đưa nhiều người vào lịch sử. Bài hát "Huyền sử ca một người mang tên Quốc" ghi nhớ phi công Phạm Phú Quốc. Ca khúc "Người ở lại Charlie" tưởng nhớ trung tá Nguyễn Đình Bảo, tử thủ tại chiến trường Charlie. Ca khúc "Anh không chết đâu anh" vinh danh "người anh hùng mũ đỏ tên Đương."
 
Trong cuộc chiến tranh khốc liệt, chính phủ VNCH đặt ra chương trình Hồi Chánh kêu gọi ngày về của những người lầm đường lạc lối theo cộng sản, "tung cánh chim tìm về tổ ấm," và đón chào họ về dưới mái nhà, "người ơi, mau về đây, về bên bếp hồng tay cầm tay." Chương trình này đã đem lại hạnh phúc cho hàng trăm ngàn người cộng sản trở về với chánh nghĩa quốc gia.
 
 
Những ước mơ của người miền Nam rất đơn giản. Có người chỉ mơ ước cho tôi được một lần "nhìn hoa giăng đầu ngõ." Có người biểu lộ ý tôi muốn "tìm đến thiên nhiên," hoặc "sống như loài hoa hiền." Có người nguyện cầu qua lá thư trần thế cầu mong "an vui cho người đầu tuyến, trẻ thơ yên tâm sách đèn, để mẹ hiền con hết ưu phiền." Cho dù đất nước khốn khó và chiến tranh gây cảnh điêu tàn, ai cũng xin chọn nơi này làm quê hương vì "ta còn những người thật yêu nhau biết bao thiết tha." Các người anh, các bạn tôi, và tôi mong mỏi ngày nào qua cơn mê đời để trở về cuộc sống bình an. Khi hiệp định Paris được ký vào năm 1973, ai cũng mơ ước một mai giã từ vũ khí để "trả súng đạn này, ôi sạch nợ sông núi rồi." Nhưng cuộc chiến cứ tiếp tục, ngày càng khốc liệt. Tôi đã gặp những người chiến sĩ như các anh các bạn của tôi "trên khắp nẻo đường đất nước mến yêu" và ai cũng có cùng một tinh thần chiến đấu bảo vệ đất nước như nhau và mơ ngày đất nước thanh bình. 
 
Nhưng giấc mơ thanh bình đó tiêu tan vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi cuộc chiến tranh súng đạn chấm dứt, chỉ để nhường lại những năm tháng đen tối nhất của người dân Việt Nam trong ngục tù cộng sản. Những bài hát miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 là những ngọn nến soi sáng ngục tù tăm tối đó và khơi dậy sức mạnh vĩ đại của tình yêu và tổ quốc Việt Nam. 304 bài hát ở trên được chọn để nhớ ngày 30 tháng 4.
 
8/4/2017
 
 
 
Nguyễn Ngọc Quang
 
Sưu tầm
Xem thêm...
Theo dõi RSS này