Xe Xích-lô với dòng lịch sử

Chiếc xích-lô chạy chậm dần và dừng bên một quán nhỏ, người lao phu bước xuống vươn mình như mình như vứt bỏ tất cả những sự uể oải sau một ngày lao động. Chốt lát, người lao phu và chiếc xích-lô chậm rãi tiến về phía trước và khuất dần trong bóng đêm. Và cứ như thế, mỗi buổi sáng sớm con người ấy và chiếc xích-lô lại phải quần quật làm việc cho đến tận khuya. Vòng bánh xe xích-lô lăn tròn theo chiều dài của đất nước từ Nam ra Nắc, theo chiều dài của lịch sử Việt Nam từ ngày người Pháp đặt ách thống trị cho đến nay. Hình ảnh xe xích-lô đã đi vào tâm trí, vào cuộc sống hàng ngày của người Việt.

Với kỹ thuật hiện đại vận chuyển bằng cơ giới ngày nay, người ta dường như hồi tưởng thời xa xưa khi con người ta dùng ngựa hoặc xe kéo (xe lôi) cho sự đi lại. Xe kéo có dáng dấp nhỏ duyên dáng và thẩm mỹ. Chiếc xe lướt đi nhẹ nhàng bởi một người Nhật Bản lực lưỡng. Người lao phu này mặc những bộ đồ bông hoa thoe phong cách cổ truyền và vừa chạy vừa nhảy theo một điệu nhạc du dương trong gió. Xe kéo là loại phương tiện duy nhất người xưa dùng tại Viễn Ðông. Nó xuất xứ từ Nhật, xe có tên ngyên thủy là "Jinriekishaw" nghĩa là người-sức-mạnh-xe. Có nhiều giả thuyêt khác nhau về người đầu tiên phát minh. Có một nguồn tin cho rằng, chiếc xe kéo được chế tạo bởi ông già người Nhật bị liệt chân vào khoảng năm 1868. Một giả thuyết khác cho rằng, ông Akika Daicouke ở Tokyo chế tạo vào năm 1970. Một giả thuyết nữa được thuật lại bởi một người Anh nói rằng ông mục sư người Mỹ tên là Goble chế tạo vào năm 1867. Cho dù giả thuyết nào đi nữa, một thời gian ngắn sau có khoảng 42,000 xe kéo lưu hành tại Tokyo.

Sự phát minh xe kéo như là một cuộc cách mạng về vận chuyển thời bấy giờ. Vài năm sau nó được du nhập vào Tàu, bán đảo Ðông Dương, Mã Lai và được người dân bản xứ các nước này ưa chuộng. Từ ngày có sự xuất hiện xe kéo, những người nghèo có thêm việc làm và xe kéo hoạt động từ thành thị đến thôn quê. Theo thời gian, chiếc xe kéo đưọc cải tiến về cấu tạo như bánh xe được bọc vỏ cao su, đặt lò xo giữa bánh xe và ghế ngồi, trang trí cho dáng dấp thêm sang trọng...

Trong khi xe kéo lưu hành phổ biến thì vào khoảng 1934 có sự đột biến trong phương tiện di chuyển; đó là sự xuất hiện của xe xích-lô tại Sài Gòn và số lượng xe tăng nhanh vào khoảng năm 1939; còn tại Hà Nội xe xích-lô vẫn chưa thông dụng. Xe xích-lô từ Nam Vang (Campuchia) du nhập vào Sài Gòn. Xe xích-lô được chế tạo bởi một người Pháp tên P.Coupeaid và lưu hành đầu tiên tại thủ đô Campuchia. Có lẽ xe xích-lô là tổng hợp về cơ học vận chuyển giữa xe kéo và xe đạp. Chiếc xích-lô có 3 bánh xe, hai bánh trước và một bánh sau. Vị trí của 3 bánh xe tạo nên một thế vững chắc trên mặt đất khi di chuyển. Hai bánh trước có chức năng chịu trọng lượng khách ngồi và điều khiển xe dễ dàng khi quẹo sang trái hoặc sang phải. Với sự áp dụng kỹ thuật của xe đạp đã góp rất nhiều vào sự tiết kiệm sức lực dùng xe cũng như tăng tốc độ xe chạy. Về mặt cơ học vẩn chuyển, xe xích-lô được thiết kế như mô hình xe đạp với 2 vòng bánh răng và dây xích, tại giữa những vòng bánh xe có ổ bi. Với những kỹ thuật mới này xe xích-lô chạy qua mặt xe kéo và người thì dùng sức ít hơn.

Thời gian đầu lưu hành, người khách sợ nguy hiểm vì họ phải ngồi phía trước gánh tất cả mọi sự rủi ro. Sau đó người ta lại ưu chuộng vì độ an toàn và xe có thể chở hai người cùng với hành lý. Xe xích-lô nó không gây ồn ào như các loại xe có động cơ, nó giữ môi trường trong sạch so với xe ngựa cùng thời. Xe được phổ biến rộng rãi và lan truyền ra các tỉnh phía bắc. Người Việt Nam sử dụng xe xích-lô nhiều hơn xe kéo bởi lẽ với xe kéo người lao phu đứng phía trước, bao nhiêu sự khổ nhọc hành khách đều được chứng kiến. Ðối với xe xích-lô, người lao phu ngồi sau đạp, hành khách không cảm giác tội lỗi khi người lao động nghèo khổ bỏ sức lực ra đổi lấy sự sống.

Một thời gian sau, xe xích-lô máy xuất hiện do hãng Peugeot của Pháp chế tạo để chạy ở Sài Gòn, và sau đó tràn ngập qua Lào và Campuchia. Xe xích-lô máy được cải tiến mọi mặt và được trang bị động cơ. Người điều khiển loại xe này mang kính đen và đội nón. Họ là những người tương đối có địa vị trong xã hội bởi vì họ trực tiếp làm việc với kỷ nguyên máy móc. Khi đó người chạy xe xích-lô đạp bị khinh chê coi như là cu-li!

Trở lại với hiện tại ngày nay, nghề đạp xích-lô vẫn còn lưu hành. Người đạp xe xích-lô ắt phải chịu nhiều đắng cay hàng ngày, phải dầm mưa phơi nắng, lướt qua gió bụi đêm ngày. Người đạp xích-lô chắc cũng tường tận chuyện phố chuyện phường, giá gạo lên xuống, công ty làm ăn thua lỗ, chủ hụi giựt nợ... Người đạp xích-lô như thể cái nhìn cái nghe trung thực trong một xã hội đầy những xáo trộn. Nghề đạp xích-lô là nghề không có địa vị và còn bị xã hội coi như là những người thấp kém. Nhưng cái nghề ấy vẫn mem theo lề của xã hội mà sinh tồn. Trong hoàn cảnh nghèo túng, lắm người đi vào nghề đạp xích-lô để lo cái ăn, cái mặc đang ùa đến. Tại thành phố Sài Gòn vào những năm khó khăn 80-82, đội ngũ chạy xe xích-lô gồm mọi thành phần trong xã hội từ trí thức đến công nhân, nông dân hay người nghèo. Những ai không có việc làm chỉ cần bỏ ra một ít vốn nho nhỏ mua xe và đạp qua ngày. Có nhiều người đã chạy xe xích-lô trên 10 năm ròng rã. Thấy thế, tôi mới ngạc nhiên và hỏi "Có phải bác yêu nghề chạy xích-lô không ?" Bác cao niên cười để lộ một xã hội thực trạng trên khuôn mặt và nói: "Những người như tui không học hành, không kiến thức thì sao chen chân vào nơi nhà máy. Nhà chúng tui nghèo không có tiền nhiều để mà nghĩ đến chuyện buôn bán, vậy chỉ có thể đạp xích-lô mà thôi". Tuy câu trả lời mang ý niệm "nghèo" nhưng nó đảm bảo được cuộc sống của người đạp xích-lô. Thời gian hiện nay, trung bình người chạy xích-lô tìm được 1,000,000 đồng VN (tương đương 91 USD) trong một tháng, so với một người công nhân bình thường là 700,000 - 800,000 đồng trong một tháng.

Theo báo Tuổi Trẻ số ra ngày 18 tháng 7, 1996 có đăng, “Sau khi cấm xích-lô vào 34 tuyến đường trung tâm, cùng với sự phát triển cuả xe buýt, taxi, số lượng xích-lô ở TP.HCM có chiều hướng giảm. Nghiệp đoàn xích-lô quận 1 giảm 400 người, quận 3 và quân 4 giảm khoảng 400 người. Thu nhập của anh em từ 30,000 - 40,000 đồng/ngày nay chỉ còn lại 10,000 - 15,000 đồng/ngày và phải chạy tuyến đường xa. Ðược biết, tuy UBNDTP đã giao cho sở GTCC và công an TP nghiên cứu đề xuất chính sách xã hội nhằm giải quyết việc chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng cho đến nay vẫn chưa có biện pháp giải quyết căn cớ nào - Phạm Oanh".

Nhu cầu xã hội ngày càng cao về thời gian cũng như về phương thức vận chuyển. Xe xích-lô không thể đáp ứng những yêu cầu này. Hơn nữa mỗi gia đình tại thành phố ít nhất cũng có một xe Honda và những dịch vụ xe taxi và xe buýt lần lượt ra đời. Có lẽ nghề đạp xích-lô đã bắt đầu đi vào một ngoặc cảnh mới - có tồn tại trong xã hội được hay không? Câu trả lời cũng khó mà đoán được vì cũng nhiều người thích cái nhẹ nhàng khoang dung của chiếc xích-lô.

Xe xích-lô có mặt mọi nơi, mọi thời gian, chứng kiến bao nổi thăng trầm của đất nước trong giai đoạn lịch sử Việt Nam hiện đại. Bóng dáng xe xích-lô giản dị tựa người Việt, xe xích-lô như hiện thân của cuộc sống người Việt hay đồng nghĩa với sự nghèo túng. Sự tiến hóa của xã hội đòi hỏi phải thay đổi xe xích-lô để xe hóa thân thành những phương tiện cực nhanh lao vào phục vụ xã hội, để người ta quên lãng "hình tượng" xe xích-lô kéo lê phía sau cái thực tế xã hội Việt Nam chậm chạp.

 Sưu tầm

Chỉnh sửa lần cuối vào %AM, %29 %732 %2012 %11:%12
back to top