Tản mạn về DANH CHÍNH NGÔN THUẬN

CHỨC DANH THẦY/CÔ TRƯỚC & SAU NĂM 1975
Trong thời-gian hệ-thống giáo-dục của nước ta chịu ảnh-hưởng của Pháp rồi Mỹ, việc sử-dụng ngữ-vựng về chức-danh Thầy/Cô có qui-định/qui-ước như trình-bày trong phần sau đây. Việc này đã và đang được thi-hành ở nhiều nước trong đó có Việt, Pháp, Anh, Mỹ:

Trong sách, báo, tài-liệu, văn-thư, danh-thiếp, trên đài phát-thanh/truyền-hình, cũng như trong học-đường, hội-nghị và trong đàm-thoại thường ngày ..., danh xưng Giáo-sư đặt trước tên người.  Nghĩa là, khi đọc thấy và/hoặc nghe nói “Giáo-sư Nguyễn Văn A, Giáo-sư Lê Thị B, Giáo-sư Trần Thị C...” thì mọi người hiểu ngay đây là những vị giáo-sư thực-thụ (professeur titulaire [Pháp]/full professor [Anh/Mỹ]) ở bậc đại học. Dưới giáo-sư thực-thụ là các thầy cô có chức-danh khác nhau (việc phiên-dịch qua tiếng Việt chưa thống-nhất, như phó giáo-sư, giáo-sư phụ-giảng, giảng-sư, giảng-nghiệm-viên ...)  Thầy cô ở dưới bậc Giáo-sư thực-thụ không có chức danh Giáo-sư đặt trước tên. Tuy nhiên, có thể nói rút gọn là Giáo-sư ..., Professor... trước tên người, mặc dù người đó mới là Phó Giáo-sư,..., Associate Professor,..., tương tự như chào một Lt. Colonel là Colonel. Trong tiếng Việt không chào Trung-tá là Đại-tá.
Riêng ở Pháp từ trước đến nay, và ở miền Nam trước năm 1975, thì Thầy Cô dạy ở bậc Trung-học có thể dùng chức-danh giáo-sư đặt sau tên người. Ví -dụ  như “Nguyễn Văn M, Giáo-sư,   Nguyễn Văn M, GS Trường XYZ, Nguyễn Văn M, Giáo-sư Trung Học Đệ Nhất Cấp*, “Nguyễn Văn M, GS THĐNC*”, “Trần Thị N, Giáo-sư Trung Học Nhị Cấp**”,  “Trần Thị N, GS TH Đ2C**” ... [Xem phần Ghi-chú dưới đây].
Sau năm 1975 thì tất cả các thầy cô dạy tiểu học và trung-học đều gọi chung là giáo-viên.


Ghi chú cho thời gian từ 1975 trở về trước:
Trung-Học Đệ Nhất Cấp (viết tắt THĐNC)*: gồm 4 lớp, từ Lớp Đệ Thất đến Đệ Tứ. Ở VN bây giờ gọi là Phổ Thông Cơ Sở.
Bạn trẻ sinh sau 1975 nghiên-cứu tài-liệu giáo-dục trước 1975 chú ý: Lớp Đệ Thất không tương-ứng với [not corresponding to] lớp 7. Lớp Đệ Tứ tương-ứng với Classe de Troisième chương-trình Pháp... Xem chi-tiết dưới đây:

─ Lớp Đệ Thất (tương ứng với Classe de Sixième, chương trình Pháp), bây giờ gọi là Lớp 6 ở VN và 6th Grade ở Mỹ.

─ Đệ Lục (Classe de 5è/ Lớp 7/7th Grade).

─ Đệ Ngũ (Classe de 4è/Lớp 8/8th Grade).

─ Đệ Tứ  (Classe de 3è/Lớp 9/ Riêng 9th Grade ở Mỹ đã thuộc vào Trung-Học Đệ Nhị Cấp)

Kế tiếp trên bậc Trung-Học Đệ Nhất Cấp là bậcTrung-Học Đệ Nhị Cấp** (viết tắt THĐ2C**) gồm có 3 lớp.  Ở VN bây giờ gọi là Phổ Thông Trung Học hay Trung Học Phổ Thông.

─ Lớp Đệ Tam (Classe de Seconde/Lớp 10/10th Grade)

─ Đệ Nhị  (Classe de Première/Lớp 11/11th Grade)

THI TÚ-TÀI PHẦN THỨ NHẤT, gọi tắt là Tú Tài 1. [kỳ thi bắt buộc]

─ Đệ Nhất (Classe Terminale)/Lớp 12/12th Grade)

THI TÚ-TÀI PHẦN THỨ HAI, gọi tắt là Tú Tài 2/Tú Tài Đôi.

Sau Trung Học Đệ Nhị Cấp là bậc Đại Học (4 năm) hay Cao Đẳng (2 năm)


Nói tóm lại, trong văn viết và văn nói ở nước ta có nhiều lúc việc đặt chức-danh Giáo-sư trước tên Thầy Cô dạy trung-học hình như là theo tình-cảm,  không theo qui-định/qui-ước quốc-tế. Đó là một vinh dự qúa lớn lao dành cho những Thầy Cô này (trong đó có tôi) được hưởng một cách không chính danh. Đành rằng ngôn-ngữ là một hàm-số của không-gian và thời-gian, nhưng có những hằng-số quốc-tế với giá-trị chung của nhân-loại nên duy-trì.
Còn việcđặt chức-danh giáo-sư ở sau tên Thầy Cô dạy trung-học thì ở những nước chịu ảnh-hưởng của Pháp là phổ-biến và được chấp nhận. Nhưng ở Mỹ, tôi chưa thấy người Mỹ nào viết và nói John Smith, Middle School/High School Professor (?)
Trân trọng,

 Với tinh-thần “Danh chính, ngôn thuận”, tác-giả bài này phải ghi chức-danh dưới đây như  đã trình bày. Mong qúy bạn đọc và Ban Biên Tập GNST thông cảm  hỉ xả cho những sai lầm có thể có trong bài này của tác giả.
LƯU NHƯ HẢI, GS THĐ2C**

Cựu giáo-viên, Viện Ngoại Vụ, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Hoa Thịnh Đốn

(Fmr. Instructor, Foreign Service Institute, U.S. Department of State, Wahsington, D.C.)

Chỉnh sửa lần cuối vào %PM, %14 %178 %2012 %22:%12
back to top