Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1221)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (53)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (339)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Nghệ thuật trang trí nội thất của Pháp từ thời vua Louis XIV đến Louis XVI

Nghệ thuật trang trí nội thất của PHÁP

từ thời vua Louis XIV đến Louis XVI

Sau khi bỏ ra 26 triệu euro và hơn chín năm xây dựng, phòng triển lãm nghệ thuật trang trí mới của Bảo tàng Louvre dành riêng cho ba thế hệ, từ thời “vua mặt trời” Louis XIV qua vua Louis XV tới vua Louis XVI, với bộ sưu tập giới thiệu một thế giới đầy màu sắc, cho phép người xem quay trở lại kỷ nguyên huy hoàng của nghệ thuật nước Pháp khiến cả thế giới phải mê mẩn.

Trong lĩnh vực nội thất cổ điển, Pháp là quốc gia có ảnh hưởng nhất trong lịch sử đồ nội thất châu Âu. Từ giữa thế kỷ 17 đến thế kỷ 18, đồ nội thất của Pháp mang những kỹ năng tiên phong và phi thường về phong cách, công nghệ, trang trí và vật liệu, là đỉnh cao mà hiện đại ngày nay khó có thể đạt tới.

Từ giữa thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18 (từ thời Louis XIV đến thời Louis XVI) là thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật trang trí Pháp. Nghệ thuật hội họa và điêu khắc phồn vinh, kỹ thuật chạm khắc bằng vàng và bạc tinh xảo, đồ sứ Pháp sang trọng và lộng lẫy, những ý tưởng độc đáo mang đến sự tưởng tượng khéo léo cùng một lối sống mới, thể hiện rất rõ tài năng của các nghệ nhân từ mọi tầng lớp.

Đồ nội thất và nghệ thuật từ khoảng năm 1730 đến năm 1755.

(Ảnh: RMN-GPmusée du Louvre/Olivier Ouadah)

Phòng triển lãm mới được thiết lập trên tầng hai của tòa Sully Pavilion nằm trong cung điện kiêm bảo tàng Louvre nổi tiếng. Hơn 2.000 món đồ được trưng bày trong khu vực rộng 2.183 mét vuông – từ những đồ gỗ trang trí và tường đá cẩm thạch, đồ nội thất bằng đá cẩm thạch hoặc sơn mài, thảm tinh xảo, đồ trang sức bằng vàng và bạc, các dụng cụ khoa học, đồ gốm và sứ.

Tất cả hiện vật là để giới thiệu về sự đa dạng trong phong cách từ thời Louis XIV, không chỉ giúp giữ gìn vẻ đẹp sáng tạo và chân thực của từng thời kỳ, mà còn phản ánh những đặc trưng của nghệ thuật trang trí thế kỷ 18 của Pháp.

Đồ nội thất theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1775 đến năm 1785.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Olivier Ouadah)

Bảo tàng này đã xây dựng một tuyến tham quan để mọi người có thể cảm thụ bằng trực giác, cùng với việc trưng bày hiện vật theo ba giai đoạn lịch sử khác nhau theo thứ tự thời gian: từ triều đại của vua Louis XIV từ năm 1660 đến năm 1725, thời kỳ Regency (bắt đầu sau năm 1715); vua Louis XVI đã rất thành công trong thời kỳ đầu của triều đại Công tước xứ Orleans với phong cách Rococo 1725-1755, thời kỳ tân cổ điển 1755-1790 của triều đại của Louis XVI.

Chuyến tham quan này có thể đưa mọi người vào một hành trình cảm xúc của người Pháp qua thời gian, cho phép người xem theo dõi và trải nghiệm sự phát triển liên tục của các phong cách và kỹ thuật tạo tác đồ dùng gắn liền với nghệ thuật.

(Ảnh: Musée du Louvre, dist.RMN/Thierry Ollivier)

Phòng triển lãm tủ kính

Ngay từ thế kỷ thứ 18, cung điện Versailles luôn là tâm điểm của đời sống văn hóa châu Âu. Nhờ sự huy hoàng của triều đình Pháp, sự thịnh vượng của Paris được đảm bảo, nền kinh tế của thủ đô nước Pháp được phát triển và từng bước trở thành trung tâm sáng tạo nghệ thuật châu Âu.

Sau này, với sự mở rộng của thành phố, sự trỗi dậy của một giai cấp tư sản có giáo dục và xu hướng làm giàu các tinh hoa văn hóa, việc sáng tạo nghệ thuật đã được thúc đẩy.

Vào thế kỷ thứ 18, giới trí thức tinh anh của xã hội thường đến tham gia các cuộc tụ họp của những người nổi tiếng, và những chiếc ghế sa-lông cũng từ đây mà được sáng tạo ra. Những chốn hẹn hò và nhà ở sang trọng gia tăng, không thể tách rời việc đi kèm với  những đồ nội thất xa xỉ.

Các cửa hàng đồ nội thất khác nhau chắc chắn là nơi biểu hiện sự tinh tế của thời đại và nghệ thuật phục vụ cuộc sống. Phòng triển lãm tủ kính “Period rooms et salles de vitrines” tái hiện lại những gian đồ nội thất và những đồ trang trí nhỏ xinh xắn cùng với một số bố cục kết cấu của phòng khách thời đại này.

Căn phòng của Isaac de Camondo
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Olivier Ouadah)

Trên bức tường trong căn phòng của Isaac de Camondo (1851-1911), chủ ngân hàng và nhà sưu tập người Pháp, có treo bức tranh của họa gia Le Perche từ phòng khách lớn của lâu đài Château de Voré.

Ngoài ra còn những bức tranh bình dị của Jean-Baptiste Oudry (1686-1755, họa sĩ người Pháp kiêm thợ khắc in): phong cảnh mùa xuân được điểm xuyết bằng những chú chim và hoa lá với những hình vẽ ngọt ngào.

Bên trong căn phòng còn trưng bày chiếc ghế của nữ hoàng do nghệ nhân Nicolas Heurtaut (1720-1771) chế tác. Các bức tường được trang trí theo một kiểu hiếm có trong giai đoạn giữa thế kỷ 18,  phản ánh sự tuyệt đỉnh của phong cách Rococo. Khách tham quan được đắm chìm trong một sắc thái hài hòa của màu xanh tinh khiết điểm xuyết màu vàng kim lấp lánh.

Đồ nội thất với nghệ thuật tinh xảo từ khoảng năm 1750
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Olivier Ouadah)

Gần như trong cùng thời kỳ này, phòng khách lớn của lâu đài “Grand duâtâteau d’ Aboboant” với những bức tường màu xanh, giống như một dòng suối róc rách trong rừng, bức tranh trang trí trên khung cửa phản ánh những đồ sứ mang phong cách Trung Hoa đã phổ biến trong đồ nội thất đương thời, với hình ảnh một nhóm trẻ em chơi các trò chơi: nghe nhạc, nhảy múa, chơi cờ và chơi trên thuyền đánh cá.

Đi dọc các phòng triển lãm được sắp xếp theo thứ tự thời gian, khách tham quan sẽ thấy trước mặt họ những quang cảnh còn lại vào giữa và cuối thế kỷ 18: “Palais Bourbon” với tác phẩm bức tranh trên mái vòm trong phòng khách nhỏ, được vẽ vào năm 1774, đã xuất hiện lại lần đầu tiên trước công chúng sau khi được tu bổ và sửa chữa.

Bức tranh trên mái vòm phòng khách nhỏ của “Palais Bourbon”, được vẽ năm 1774.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Thierry Ollivier)

Sau đó, phong cách tân cổ điển đã nổi lên ở cuối thời Louis XV. Sau khi cháu trai Louis XVI kế vị ngai vàng, xu hướng này ngày càng rõ ràng hơn.

Đồ nội thất tân cổ điển từ 1765-1780.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Olivier Ouadah)

Căn phòng phía tây của lâu đài là “Piranèse salle” thì lại tràn ngập một bầu không khí Hy Lạp. Từ bức tượng cổ của Léon Dufourny (1754-1818), cũng như những mảng đá cẩm thạch của Ý được thu thập vào thế kỷ 18 trên những bức tường màu hồng nhạt, những chiếc bình hoa được đặt trên các đế bằng đồng, đặc biệt là đồ nội thất của Công tước Duc d’ Aumont làm nổi bật nguồn gốc của xu hướng tân cổ điển này.

Đồ nội thất và bộ sưu tập của
Nữ hoàng Marie Antoinette của vua Louis XVI.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Olivier Ouadah)

Từ những căn phòng có nền màu hồng đến màu trắng như tuyết, những khách tham quan đã bước sang phòng trưng bày của Marie Antoinette. Những thợ mộc nổi tiếng vào thời điểm đó như Adam Weisweiler và Jean-Henri Riesener  đã được tập hợp tại cung điện Palais des Tuileries để hoàn thành một kiệt tác được thiết kế bởi Château de Saint-Cloud. “Thời khắc đỉnh cao” này cũng là vinh quang cuối cùng của nghệ thuật cổ điển nước Pháp trước tác động tàn phá của cuộc cách mạng cuối thế kỷ 18.

Trong Bảo tàng Louvre, một phòng triển lãm nghệ thuật đồ nội thất phong cách Pháp đầy màu sắc, tinh tế và thanh lịch, đa dạng, từ các tủ lớn với những đường cong mang phong cách vào giữa thế kỷ 17 đến những hình dáng đường thẳng vào cuối thế kỷ 18, mỗi món đồ nội thất được trưng bày giống như một tác phẩm nghệ thuật thực thụ.

Tủ quần áo gỗ veneer mun của Boulle

Trong thời kỳ Louis XIV và Regency (Régne staff de Louis XIV et Régence, 1660-1725), bậc thầy vĩ đại nhất của nghề thợ mộc là André-Charles Boulle (1642-1732). Năm 1672, ông được trao hàm tước cao nhất về lĩnh vực chế tạo tủ gỗ. Sự đổi mới và phong phú trong sáng tạo nghệ thuật của ông đã bổ sung rất nhiều kỳ tác vào Cung điện Versailles của Louis XIV.

Boulle thường sử dụng các miếng gỗ nhỏ trong đồ nội thất là để khảm nạm ra các mẫu thiết kế với nhiều chất liệu khác nhau: gỗ quý, đá quý, men, ngà voi, vỏ sò, kim loại, đá cẩm thạch v.v.

Ngoài ra, để thể hiện phong cách của hoàng gia, Boulle đã sử dụng một số lượng lớn đồng mạ vàng trên đồ nội thất, như trang trí móng hổ, trang trí đường viền gương, trang trí hình lá v.v. tất cả đều do ông tự thiết kế, đúc và khắc, chúng cũng có chức năng bảo vệ các bộ phận dễ vỡ nhất của đồ nội thất, tạo nên một phong cách trang trí đặc biệt thời Louis XIV.

Tủ quần áo từ kho lưu trữ đồ nội thất hoàng gia được André-Charles Boulle
sản xuất từ khoảng 1700-1720.
(Ảnh: Musée du Louvre,dist.RMN-GP/Martine Beck-Coppola)

Tủ quần áo này được sản xuất bởi Boulle từ năm 1700 đến 1720, là một kiệt tác sang trọng của đồ nội thất Louis XIV. Tủ cao 226cm và rộng 136cm, khung gỗ sồi áp dụng công nghệ mới đến từ Đức: một lớp gỗ mun quý làm lớp ngoài, bao bọc lấy cấu trúc gỗ sồi và che giấu cấu trúc gỗ nguyên bản. Mặt gỗ mun với màu sắc kỳ lạ mang màu đen được khảm hoa văn bằng men và đồng thau.

Boulle cũng thay thế mẫu tủ bốn cửa giống như nhà thờ trước đây bằng cấu trúc hai cửa, một khuôn gỗ đen thay thế cho giá đỡ dạng chân trước đây. Sự kết hợp của khảm và trang trí mạ đồng trên bề mặt của tủ kết hợp với tay nghề tinh xảo vô song phản ánh sự sáng tạo của thời kỳ đỉnh cao của nước Pháp dưới thời Louis XIV.

Ngăn kéo màu đỏ của Cressent

Thời kỳ trị vì sau này của Công tước xứ Orleans, người đã rời cung điện Versailles sang Paris, những người thợ gỗ bắt đầu thiết kế đồ nội thất phù hợp với kích thước của căn hộ dành cho tầng lớp quý tộc và tư sản ở Paris. Phong cách kiểu Pháp đã thay đổi từ sự cao quý, trang nghiêm của Louis XIV sang theo đuổi sự thoải mái và hoa lệ.

Các nhà cung cấp trang sức và phục trang cũng đã bắt đầu đóng một vai trò mới, họ tương đương với nhà trang trí nội thất hiện đại, cung cấp lời khuyên mới về việc sử dụng đồ nội thất. Nội thất vừa thanh lịch vừa thiết thực và tiện dụng.

Thời kỳ này là sự kết hợp giữa các nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhà trang trí và thợ thủ công lành nghề đánh dấu một sự xuất hiện của thiết kế tân thời.

Đồ nội thất Pháp thời kỳ này đầy trí tưởng tượng và tự do, đường viền được thay đổi từ những đường thẳng ban đầu thành đường cong, một số đồ nội thất còn cài đặt cơ chế, có thể được ứng dụng trong nhiều trường hợp.

Tủ ngăn kéo do Charles Cressent (1685-1768) sản xuất năm 1740.
(Ảnh: 2012 Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Thierry Ollivier)

Chiếc tủ lá cọ và hoa này là tác phẩm của bậc thầy đồ nội thất uy tín nhất – Charles Cressent (1685-1768) trong nửa đầu thế kỷ thứ mười tám, cũng là một kiệt tác của Charles Cressent. Vào thời điểm đó, ngăn kéo hai ngăn được ốp mặt trên bằng đá cẩm thạch trở nên rất phổ biến, chiều cao của chân tủ thanh mảnh và thanh lịch hơn trước.

Chiếc tủ được thiết kế vào năm 1740, cao 90,5 cm, dài 149 cm và rộng 67 cm. Nó được làm bằng khung gỗ óc chó và gỗ tím Cayenne. Cressent sử dụng khảm gỗ đơn giản để tạo ra một cấu trúc khảm hình học đơn giản, bổ sung bởi những họa tiết trang trí bằng đồng mạ vàng tinh xảo – những lọn lá uốn, cây thường xuân, hoa văn và đồ trang trí hình móng hổ ở bốn chân càng làm tôn lên hình dáng xinh đẹp của chiếc tủ.

Ngăn kéo màu xanh của Criaerd

Ngoài việc khảm nạm bên ngoài đồ gỗ, hương vị phương Đông cũng vô cùng thịnh hành, người châu Âu bị mê hoặc bởi đồ sơn mài đến từ Viễn Đông, họ nghĩ rằng đồ sơn mài là thể hiện sự sang trọng và tinh tế.

Người ta sử dụng sơn mài Trung Quốc hoặc Nhật Bản nhập khẩu để làm các đồ nội thất kiểu Pháp, sau đó sử dụng vàng bạc, mạ đồng để trang trí chân bàn ghế, tạo thành một hương vị độc đáo kết hợp giữa phương Đông và phương Tây.

Nhưng chi phí sản xuất đồ nội thất với những phiến gỗ sơn mài từ Trung Quốc và Nhật Bản khá đắt đỏ. Vào những năm 1730, anh em Martin của Đức đã phát minh ra một loại sơn mài của Pháp có tên Vernis Martin, chiết xuất từ cây Zanzibar và Madagascar, cùng với nhựa cứng được hòa tan trong dầu hạt lanh và nhựa thông trong nhiệt độ 320 ° C để cho ra một sắc thái phong phú.

Matthieu Criaerdc chế tác vào năm 1742.
(Ảnh: Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Thierry Ollivier)

Chiếc tủ ngăn kéo này của Matthieu Criaerd (1689-1776) là một tác phẩm rất hiếm trong đồ nội thất Rococo Pháp thế kỷ 18. Nó thuộc về phu nhân Louise-Julie de Mailly -Nesle (1710 – 1751), được xây dựng trong phòng ngủ màu xanh lam của điện thất Château de Choisy.

Tủ được làm bằng khung gỗ sồi, cao 85 cm, dài 132 cm và rộng 63,5 cm. Thiết kế tổng thể mang màu sắc mát mẻ, khác biệt hơn những nội thất có màu vàng. Với chân đế màu trắng, sơn Martin tông màu xanh và trang trí mạ bạc kiểu Rococo thanh lịch.

Sự khéo léo tinh tế của chiếc tủ này là một ví dụ hoàn hảo của một họa sĩ người Paris, người đã bắt chước công nghệ véc-ni Viễn Đông (chỉ phần phía đông Châu Á). Trên nền khổ lớn, những cây cỏ, công và các loài chim tạo lên bầu không khí rất phương Đông.

Ghế bành của Nữ Hoàng

Ghế bành là một kiểu ghế rất phổ biến trong thế kỷ 18. Đường cong từ tay vịn của ghế lướt xuống tới chân, nhỏ về phía sau, các đường phía sau ghế đều nằm được bao bởi một đường cong hoàn hảo. Tay vịn chạm rỗng cùng phần lưng ghế dành để sử dụng cho nữ hoàng La reine. Chiếc ghế được sử dụng khi gặp những người quan trọng hoặc những dịp quan trọng, phần lưng thẳng rất trang trọng và nghiêm túc.

Ghế bành của nữ hoàng.
(Ảnh: RMN-GP (musée du Louvre)/René-Gabriel Ojéda)

Chiếc ghế bành kiểu nữ hoàng này được chế tạo bởi Nicolas Heurtaut (1720-1771) cho Giám mục Marvail-Louis Beaupoil de Sainte-Aulaire. Chiếc ghế của mô hình Eldo này được gọi là phong cách “Đối xứng cổ điển Rococo”, đó là một thành công lớn trong thế kỷ 18, cơn sốt ghế bành này kéo dài trong một thời gian dài cho đến thế kỷ 19.

Chiếc ghế được đặc trưng bởi một đường cong năng động và trơn tru có thể tinh chỉnh phong cách Rococo hơi lỗi thời, gây ra một mối quan tâm mới trong phong cách Hy Lạp và La Mã cổ đại.

Các đường cong của phần vai và cánh tay cùng với phần tựa lưng hình chữ nhật rất vững chắc và bắt mắt. Chân ghế hình con lăn, gỗ đặc chắc chắn, vỏ sò và chạm khắc hình hoa được sắp xếp hoàn hảo và phân bố cân đối.

Bàn làm việc tự động của Riesener

Từ năm 1755, đồ nội thất của Pháp đã phát triển theo hướng khác. Việc phát hiện ra thành phố cổ Herculaneum và Pompeii đã thúc đẩy sự theo đuổi văn hóa La Mã và Hy Lạp cổ đại, những đường cong được giản lược, truyền cảm hứng cho sự ưu nhã và tân cổ điển.

Phong cách nội thất của Louis XVI (1774-1791) đã thiết lập một kỷ nguyên nghiên cứu sáng tạo ở Đại Thành, theo định hướng phục cổ, chú trọng hơn về tính năng.

Jean-Henri Riesener (1734-1806) là bậc thầy về đồ nội thất trong giai đoạn này. Ông có những tác phẩm nổi tiếng nhất. Để lưu trữ các tài liệu quan trọng, Quốc vương Pháp đã đặt hàng đồ nội thất vào năm 1760, nhưng ông phải đợi đến 9 năm sau mới có thể nhận hàng, giá phải trả là 62.800 bảng Anh (khoảng 5 triệu euro so với tỉ giá hiện nay).

Chiếc bàn dưới đây làm bằng gỗ quý được lựa chọn cẩn thận, được chế tác tinh xảo và trang trí phức tạp với nhiều hình ảnh trang trí khác nhau cho thấy cảnh từ lửa trại đến khu vườn thơ mộng, sự kết hợp giữa đồng mạ vàng và đường viền.

Đặc biệt là việc thiết kế cơ khí khéo léo, các cạnh của bàn được trang bị cơ chế tự động thêm giấy vào máy in mà không cần mở hộp ngăn kéo. Khi đóng bàn, nó sẽ tự động khóa và việc mở lại đơn giản khi chỉ cần nhấn một nút.

Jean-Henri Riesener sản xuất năm 1784.
(Ảnh: RMN-GP (musée du Louvre)/Martine Beck-Coppola)

Bàn làm việc cao 103 cm, dài 113 cm và rộng 64 cm. Có ba ngăn kéo ở phía trước bàn, tất cả được đặt bằng các miếng gỗ dập nổi mạ đồng vuông để lưu trữ văn phòng phẩm. Phần giữa của lớp phủ bề mặt di động hình vòng cung là một khung hình elip bên trong có hình ảnh hoa, cành nguyệt quế và vòng hoa ruy băng.

Bàn nhỏ của Weisweiler

Bàn viết nhỏ của Adam Weisweiler năm 1784.
(Ảnh: 2014 Musée du Louvre, dist.RMN-GP/Thierry Ollivier)

Năm 1785, Nữ hoàng Marie Antoinette đã mua lâu đài Château de Saint-Cloud của Công tước xứ Orleans và sắp xếp lại đồ đạc theo sở thích của mình. Bàn viết nhỏ có giá sách này được chế tác bởi Adam Weisweiler vào năm 1784, cao 73,7 cm, dài 81,2 cm và rộng 45,2 cm. Nó được làm bằng gỗ mun và sơn mài Nhật Bản, khảm nạm ngọc trai, đồng mạ vàng.

Chiếc bàn này là một tác phẩm tiêu biểu của Weisweiler, các đường nét và đồng thau mạ vàng rất tinh tế và trang nhã, thanh mảnh, được trang trí với bốn trụ hình thiếu nữ. Có ba ngăn kéo ở phía trước bàn: một ngăn kéo lớn ở giữa và hai ngăn nhỏ hai bên, trung tâm của mặt bàn có một giá để sách được hỗ trợ như một bàn đọc vát. Bên trong phần giá có hình bầu dục được trang trí bằng các tấm sơn mài gỗ mun Nhật Bản và được bao quanh bởi một khung đá vàng.

Hộp nữ trang của Vương Hậu Anna

Nổi bật nhất trong số này là một chiếc rương vàng làm thủ công, đặc biệt, được sử dụng trong hoàng gia Pháp để bảo quản trang sức của nhà vua và hoàng hậu. Kiệt tác này được gọi là “Hộp trang sức của vương hậu Anna”, được chế tác bởi thợ kim hoàn Jacob Blanck vào năm 1676.

Chiếc hộp này cao 25,2 cm, dài 47,5 cm và rộng 36,2 cm. Toàn bộ chiếc hộp được phủ bằng vàng và hình vẽ hoa hồng, hoa tulip, hoa cẩm chướng, hoa ly và hoa cúc.

Hộp bằng vàng do thợ kim hoàn Jacob Blanck
làm cho hoàng gia Pháp năm 1676, KT: 25,2 x 47,5 x 36,2 cm.
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Stéphane Maréchalle)

Những họa tiết hoa bằng vàng tinh xảo này, thông qua việc mài và đánh bóng, tăng cường độ sáng cùng độ mềm mại, thân và lá của hoa được cuộn tròn thành những hoa văn tinh mỹ tuyệt đẹp, không gì có thể sánh bằng.

Người ta cho rằng chủ của chiếc hộp là vương hậu của Louis XIII “Anne d’Autrich” (1601-1666), mẹ của vua Louis XIV); bà là một người rất yêu thích đồ trang sức bằng vàng.

Hoa tơ khảm nạm là một kỹ thuật sử dụng phương pháp hàn điểm hoặc những vòng nhỏ như tơ để cố định dây kim loại trơn hoặc cuộn nhằm tạo hình trên khung kim loại; những hình dạng xoắn ốc hay dây leo được tạo bằng các sợi kim loại nhỏ như tơ này.

Xuyên qua các trang trí lá vàng bên ngoài hộp, lớp lụa màu xanh đậm bao phủ bên trong vẫn có thể nhìn thấy. Kỹ thuật trình bày các hiệu ứng khảm nạm độc đáo cùng kỹ thuật rèn tinh tế đã được ưa chuộng trong thế kỷ 17.

Hộp đựng thuốc bằng vàng

Hộp đựng thuốc có hình ảnh vua Louis XV.
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Jean-Gilles Berizzi)

Hộp đựng thuốc này được làm từ khoảng năm 1726 đến năm 1727, cao 2,8 cm, dài 8,2 cm và rộng 6,2 cm, được làm bằng vàng, trang trí bằng ngọc lục bảo và kim cương bởi người thợ kim hoàn Paris – Daniel Govers trong nửa đầu thế kỷ thứ 18. Bên trong nắp hộp là bức chân dung thu nhỏ của vua Louis XV được vẽ bởi Jean-Baptiste du Canel.

Chiếc hộp này được coi như một món quà ngoại giao cho vua Louis từ vị quan chức địa phương của Geneva – Louis Le Fort (1668-1743). Tại trung tâm của nắp hộp là hình vẽ Apollo tượng trưng cho mặt trời và ánh sáng, được phản chiếu bởi 56 viên kim cương và 26 viên ngọc lục bảo xen kẽ.

Vỏ hộp được bao quanh bởi trang trí hình dây leo, hoa và ruy băng, mặt trước được gắn một viên kim cương lớn. Bên dưới tấm pha lê ở mặt trong nắp hộp là chân dung bán thân của vua Louis XV trẻ trung, mặc áo giáp và áo choàng da lộn có họa tiết hoa huệ.

Hộp đựng thuốc này, với các vật liệu sang trọng, đường cong rực rỡ và hoa văn mặt trời làm nổi bật các đặc điểm của hoàng gia, báo hiệu phong cách Rococo sắp phổ biến. Kỹ thuật chạm khắc vàng và bạc tinh xảo và kỹ thuật gắn đá quý khéo léo của nó cũng vô cùng ấn tượng.

Bộ đồ ăn của Nữ hoàng Leczinska

Bộ đồ ăn này ban đầu được đặt trong tủ quầy đựng chén đĩa trong cung của nữ hoàng, được vua Louis XV tặng cho Nữ hoàng Marie Leczinska (1703-1768) để tưởng nhớ Hoàng tử Louis-Ferdinand (1729-1765) (chết trước khi được lên ngôi). Đây cũng là bộ đồ ăn theo phong cách Rococo duy nhất của hoàng gia Pháp thế kỷ 18.

Trà, cà phê, sô cô la v.v.. được coi là đồ uống rất thời thượng trong hoàng cung, vì vậy bộ dụng cụ ăn uống này có mạ vàng trên những ấm trà, bình cà phê, bình đựng sô cô la, hộp đựng gia vị (vào thời điểm đó hương liệu thường được thêm vào sô cô la nóng), máy xay cà phê, chân nến, dụng cụ lọc trà, phễu, kẹp đường, thìa dài và chuông.

Bộ đồ ăn này được sản xuất bởi Henri-Nicolas Cousinet (người sau này trở thành nhà điêu khắc của Hoàng tử Condé).

Bình sô cô la của Nữ hoàng Leczinska,
được sản xuất vào năm 1730 bởi Henri-Nicolas Cousinet.
(Ảnh: RMN-GP musée duLouvre/Jean-Gilles Berizzi)

Trong số đó, bình đựng sô cô la được sản xuất vào năm 1730 là đặc biệt nhất, có gắn kèm một hệ thống đun nhỏ dưới đáy bình. Món đồ thủ công này, với các hoa văn trang trí đẹp mắt theo hình hoa, vỏ sò, lau sậy, hình sóng, lá cọ v.v.., phản ánh hoàn hảo các đặc điểm hay thay đổi của phong cách Rococo. Vòi và ba chân bình có hình cá heo, đại diện cho hoàng tử (dauphin, đồng âm với từ cá heo).

Phần còn lại của bộ đồ ăn này là đồ sứ: một ấm trà, hai đĩa đựng trà, hai chén có giá đỡ mạ bạc và một chén đựng đường. Một số trong đó đến từ Trung Quốc và Nhật Bản, một số được sản xuất bởi nhà máy sứ Meissen. Các hoa văn trên sứ mang đậm dấu ấn của văn hóa Trung Quốc, phản ánh sự yêu chuộng các đặc trưng phương Đông ở châu Âu vào đầu thế kỷ thứ 18.

Cặp bình hoa màu hồng

Cặp bình hoa màu hồng của quý bà Pompadour.
(Ảnh: Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Thierry Ollivier)

Quý bà Pompadour (1721-1764) là một phụ nữ hiếm hoi đóng vai trò nòng cốt trong các lĩnh vực chính trị, nghệ thuật và văn hóa của Pháp trong thế kỷ 18. Một trong những đóng góp lớn nhất của người phụ nữ này là cống hiến cho việc bảo trợ nhà máy sứ hoàng gia (Sevres).

Cặp bình hoa màu hồng này được làm vào năm 1758, cao 31,2 cm, được trang trí với họa tiết thiên thần kiểu Boucher ở trung tâm; ngoài ra bên dưới bình có một đế vuông bằng gỗ mun được trang trí bằng đồng mạ vàng. Tay cầm của chiếc bình có hình dạng như đôi tai ngược, được chế tạo bởi Jean-Claude Dupres.

Chiếc bình được làm bằng sứ mềm – một đặc trưng kỹ nghệ nổi tiếng của nhà máy sứ Sevres. Nó có kết cấu vân da giống như phô mai kết hợp khéo léo với sắc tố để tạo thành một phong cách đặc biệt không thể thay thế.

Ngoài ra, chiếc bình có nền màu hồng tuyệt đẹp. Màu hồng này của Sevres được lấy cảm hứng từ màu hồng phấn thời nhà Thanh, nhưng lộng lẫy và sang trọng hơn, rất phù hợp với phong cách Rococo phổ biến thời bấy giờ. Tại triển lãm năm 1758, những chiếc bình như thế này được ca ngợi là sản phẩm mới nhất và tuyệt vời nhất.

Chai nước hoa hình con thuyền

Chai nước hoa hình con thuyền màu hồng của quý bà Pompadour
(Ảnh: Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Thierry Ollivier)

Sự theo đuổi táo bạo của quý bà Pompadour về lối sống đã thuyết minh cho kỷ nguyên xa xỉ đó. Chai nước hoa hình con thuyền màu hồng này được đặt hàng bởi Pompadour từ dinh thự Hôtel d’Evreux, hiện nay là dinh Tổng thống Pháp.

Chai nước hoa bằng sứ mềm được sản xuất vào khoảng năm 1760 đến năm 1761, cao 39 cm và dài 36 cm. Được làm theo mô hình của Jean-Claude Duplessis (1747-1819): đáy chai được làm dưới dạng một chiếc bình, ở giữa là một chiếc thuyền màu hồng với một bức tranh trang trí của Charles Nicholas Dodin (1734-1804).

Duplessis là giám đốc nghệ thuật của Nhà máy sứ Sevres từ năm 1748, chịu trách nhiệm thiết kế khuôn. Ông đã đưa công nghệ của các nghề thủ công truyền thống đối với đồ kim loại, như đồ đồng và đồ bạc mang phong cách nghệ thuật Rococo, vào để thiết kế và sản xuất đồ sứ, là nhân vật quan trọng cho sự thành công của nhà máy sứ. Chai nước hoa màu hồng này là sản phẩm có hình dáng độc đáo nhất của Sèvres.

Cối xay cà phê bằng vàng

Cối xay cà phê bằng vàng của quý bà Pompadour
(© RMN-GP (Ảnh: musée du Louvre) / Daniel Arnaudet)

Cà phê có nguồn gốc từ khu vực Ả Rập được đưa đến Paris vào năm 1670, dần trở thành xu hướng thời thượng trong cung đình và giới thượng lưu. Đến thế kỷ 18, việc tiêu thụ cà phê đã trở nên phổ biến đến mức Diderot và D’Alembert đã viết hẳn một chương về cách pha chế cà phê trong cuốn sách tuyệt vời của ông. Chiếc cối xay cà phê này được sản xuất vào năm 1756 đến năm 1757 phù hợp với mô tả về cối xay cà phê cầm tay nhỏ trong cuốn sách nói trên.

Cối xay hình trụ có chiều cao 9,5 cm và đường kính 5,2 cm; Phần trung tâm hơi có hình nón. Cối bao gồm ba phần: phần trên là một tay quay và phần dưới có thể được tháo ra để loại bỏ bã cà phê.

Tác phẩm nghệ thuật nổi bật này được trang trí sang trọng với các bề mặt được chạm nổi trang nhã trong ba loại màu vàng khác nhau: lần lượt mô tả cành nhánh cây cà phê và lá bằng vàng màu xanh, quả mọng bằng vàng màu hồng, trên nền vàng kim.

 Chiếc cối xay này được sản xuất bởi Jean Ducrollay (khoảng năm 1708-1776), thợ kim hoàn nổi tiếng nhất Paris thế kỷ 18, dành riêng cho quý bà Pompadour, người say mê các đồ vật bằng vàng và bạc.

Tấm thảm của Boucher

Tấm thảm của nữ công tước xứ Bourbon (1750-1822)
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Daniel Arnaudet)

Tấm thảm treo tường này dài 4,4 mét và rộng 3 mét, được sản xuất vào khoảng năm 1775. Đó là một tấm thảm mùa đông treo ở nhà Công tước xứ Bourbon (1750-1822), là một trong bốn tấm thảm mềm mượt để trong phòng ngủ.

Nhóm tấm thảm này được gọi là tình yêu của các vị thần, thể hiện những cảnh tượng trong thần thoại La Mã. Ba câu chuyện khác được tả trong những tấm thảm này là: Vertumnus (vị thần của bốn mùa) và Pomona (nữ thần của cây trái), Venus (nữ thần tình yêu và sắc đẹp) được sinh ra từ những con sóng, nữ thần Aurore và thợ săn Céphale.

Tấm thảm này được trang trí hoa văn tinh tế và thanh lịch trên nền màu hồng sẫm ưu nhã; tranh trên thảm là lấy từ bức tranh của Maurice Jacques, mô tả cảnh tượng trong câu chuyện về “Cuộc so tài giữa Cupid và Psyche”, do François Boucher (1703 – 1770) thiết kế; ông là giám đốc nghệ thuật của nhà máy dệt hoàng gia Gobelin từ năm 1755.

Tấm thảm là sự kết hợp giữa tranh của Jacques và Boucher, được coi là tác phẩm quý giá và thành công nhất của Nhà máy dệt Gobelin. Tấm thảm này vẫn giữ được màu sắc rực rỡ ban đầu và rất ngoạn mục; đây là một ví dụ hoàn hảo về kỹ nghệ dệt thảm của thế kỷ 18.

Đôi lạc đà bằng đồng

Đội lạc đà bằng đồng mạ vàng của Nữ hoàng Mary Antoinette
được sản xuất vào năm 1777.
(Ảnh: 2013 Musée du Louvre, dist. RMN-GP/Thierry Ollivier)

Nữ hoàng Marie-Antoinette có một đôi lạc đà bằng đồng xanh mạ vàng trong phòng theo phong cách Thổ Nhĩ Kỳ, cao 32,5 cm, dài 25,5 cm và rộng 11 cm. Đóng vai trò như một đồ trang trí cho lò sưởi, cặp lạc đà này là sự gợi nhớ tuyệt vời về phong cách Thổ Nhĩ Kỳ phổ biến trong triều đình vua Louis XVI. Nữ hoàng cũng sở hữu những đồ vật quý khác như chiếc lư hương làm bằng mã não, được làm vào năm 1784. 

Lư hương bằng mã não của Mary Antoinette, được sản xuất vào năm 1784.
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Martine Beck-Coppola)

Chỉ qua một số vật phẩm đặc biệt mà thấy nghệ thuật trang trí nội thất của nước Pháp từ giữa thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 18 thật đáng để các thế hệ đi sau học tập và ngưỡng mộ.

Đĩa trang trí đặt trên bàn trà
(Ảnh: RMN-GP musée du Louvre/Daniel Arnaudet)

Theo epochtimes

Kim Quy sưu tầm


Musée du Louvre Paris France

 

Xem thêm...

ALEXANDRE -Truyện ngắn Guy de Maupassant

 

ALEXANDRE
 
Truyện ngắn của Guy de Maupassant
 
 
 
Đúng là ngày hôm đó, vào lúc 4 giờ như mọi ngày, Alexandre đẩy đến cửa căn nhà nhỏ của gia đình Maramballe chiếc xe lăn ba bánh, từ đấy, theo toa bác sĩ, ông sẽ đưa bà chủ già yếu và bại liệt đi dạo cho đến 6 giờ.
 
Khi ông đưa chiếc xe nhẹ hều này vào bậc cấp, đúng vào chỗ ông có thể dìu bà già to béo bước lên dễ dàng, ông đi vào trong nhà, và ngay lúc đó, bên trong nghe có tiếng nói giận dữ, giọng khàn đục của cựu chiến binh, đang gào thét chửi rủa, chính là giọng của ông chủ, cựu đại uý pháo binh hưu trí, Joseph Maramballe.
 
Sau đó là tiếng cửa đóng dập mạnh, tiếng ghế bị xô đẩy, tiếng chân bước vội vã, rồi không còn gì. Một lát sau, Alexandre xuất hiện nơi ngưỡng cửa ra đường, cố hết sức dìu bà Maramballe đã mệt lữ vì xuống cầu thang. Khi bà đã yên vị, chẳng phải là không khó khăn, trong chiếc xe lăn, Alexandre đi lui sau, nắm lấy thanh quay dùng để đẩy xe, cho xe đi về hướng bờ sông.
 
Ngày nào họ cũng đi qua thành phố nhỏ này giữa những lời chào hỏi tôn kính có lẽ gởi đến người giúp việc cũng như bà chủ, bởi nếu bà chủ được mọi người yêu quý, nể trọng, thì người lính già râu bạc, râu lão này vẫn được xem như là gương mẫu trong số gia nhân.
 
Mặt trời tháng bảy dữ dội đổ trên đường, nhấn chìm những ngôi nhà thấp dưới ánh sáng ảm đạm do quá chói chan và gay gắt. Mấy con chó nằm ngủ trên những vỉa hè dưới bóng râm các bức tường, và Alexandre thở dốc rảo bước để nhanh tới đại lộ dẫn ra sông.
 
Bà Maramballe đã thiu thiu ngủ dưới chiếc dù trắng có đầu mũi nhọn đôi lúc hờ hững chạm vào gương mặt thản nhiên của người đàn ông.
Khi họ đi tới ngõ Tilleuls, trong bóng cây bà già tỉnh hẳn, bà cất giọng ân cần:
" Đi thong thả thôi, ông bạn tội nghiệp, nắng thế này ông sẽ đuối đấy."
 
Bà lão hiền lành, với thói ích kỷ ngây thơ, đâu có nghĩ là, nếu bà muốn đi chậm hơn, là chỉ vì bà vừa mới tới nơi khuất dưới tán lá cây xanh.
Gần con đường bao phủ bởi những cây đoạn già cắt tỉa thành vòm, dòng sông Nanterre chảy quanh co giữa hai hàng liễu.
 
Tiếng nước xoáy ồng ộc, tiếng nước đổ trên đá, tiếng nước ngoặt dòng đột ngột, hoà thành khúc ca êm dịu của nước và không khí mát lành ướt át trong suốt cuộc dạo chơi này.
Được hít thở và tận hưởng sự ướt át dễ chịu của nơi này một lúc lâu, bà Maramballe thì thầm:
" Bây giờ khá hơn rồi. Nhưng hôm nay ông ấy thức dậy không được khoẻ."
Alexandre đáp:
" Ồ, vâng, thưa bà."
 
Đã ba mươi lăm năm ông phục vụ gia đình này, ban đầu là lính hầu cận sĩ quan, sau đó là người hầu đơn thuần không muốn rời xa chủ, và sáu năm trở lại đây, mỗi chiều ông đẩy xe đưa bà chủ quanh các con đường hẹp của thành phố.
Từ việc chăm sóc tận tuỵ lâu ngày này, sau đó, từ việc giáp mặt tay đôi hàng tuần như thế này, giữa bà già và người giúp việc đã nảy sinh tình cảm thân mật, trìu mến ở bà, kính trọng ở ông.
 
Hai người nói về việc trong nhà như cách nói của những người bình đẳng. Ngoài ra, chủ đề chuyện vãn và bận tâm chính của họ là tính xấu của ông đại uý, nặng nề dần vì sự nghiệp lâu dài bắt đầu khá hiển hách, rồi trôi đi không thăng tiến, và kết thúc chẳng vẻ vang.
Bà Maramballe nói tiếp:
" Sáng thức dậy, ông ấy có tâm trạng không thoải mái. Điều này thường xảy ra từ khi ông thôi công tác."
 
Alexandre thở dài nói tiếp ý bà chủ:
" Ôi! Bà muốn nói là chuyện ấy xảy ra hàng ngày và xảy ra cả trước khi ông rời quân ngũ."
" Đúng vậy đó. Nhưng ông ấy cũng là người kém may mắn. Ông khởi nghiệp với một chiến công nên được thưởng huy chương khi mới hai mươi, thế mà từ hai mươi đến năm mươi tuổi, ông không thăng cao hơn cấp đại uý, trong khi từ đầu ông cứ nghĩ lúc về hưu ít ra ông cũng phải đại tá."
 
Bà vẫn có thể nói rằng dẫu sao cũng chỉ là lỗi do ông thôi. Nếu ông đừng tỏ ra lúc nào cũng mềm mỏng như cái roi ngựa thì cấp trên của ông đã quý mến và bảo bọc ông hơn. Cứ cứng cỏi có được gì đâu, cũng phải chiều ý người khác để gây thiện cảm chứ. Còn chuyện ông đối xử với chúng ta như thế này, cũng là lỗi của chúng ta thôi vì chúng ta thích ở bên ông, nhưng đối với mọi người, thì khác đấy.
 
Bà Maramballe suy nghĩ. Ôi! Bao nhiêu năm nay rồi, mỗi ngày bà cứ nghĩ như thế đến thói thô bạo của ông chồng mà xưa kia bà đã cưới, lâu lắm rồi, bởi hồi đó ông là sĩ quan đẹp trai, còn trẻ đã có huy chương, và đầy triển vọng, như mọi người nói. Ở đời cũng lắm khi lầm lẫn!
Bà nói nhỏ nhẹ:
" Dừng lại một chút đi, Alexandre đáng thương của tôi, và đến cái ghế của ông mà nghỉ. "
 
 
Đấy là một ghế băng nhỏ bằng gỗ, mục mất một nửa rồi , đặt ở chỗ rẽ lối đi dành cho những người dạo chơi ngày chủ nhật. Mỗi lần đi đến góc này, Alexandre thường ghé đến chiếc ghế đó ngồi thở vài phút.
Ông ngồi đấy, và với một cử chỉ quen thuộc, đầy tự hào, hai tay vuốt chòm râu bạc xoè ra như cánh quạt, nắm lấy rồi khép ngón tay lại mà vuốt nhẹ từ trên xuống dưới và ép vào trước rốn một lát như thể muốn gắn dính nó ở đó và thêm một lần cảm nhận được rằng cái thứ còn có thể phát triển nữa này giờ đã dài lắm.
 
Bà Maramballe nói tiếp:
" Tôi thì tôi đã lấy ông ấy, thật ra chuyện tôi phải chịu đựng những bất công của ông ấy cũng phải lẽ và tự nhiên thôi, nhưng điều tôi không thể nào hiểu được là chính ông cũng phải chịu đựng như thế, là sao vậy, ông Alexandre trung hậu của tôi?"
Ông khẽ nhún vai và nói bâng quơ:
" Ôi, tôi mà... thưa bà."
 
Bà nói thêm:
" Thật vậy. Tôi thường nghĩ đến điều đó. Ông đã là lính hầu cận của ông ấy khi tôi kết hôn và ông chẳng làm gì khác ngoài việc chịu đựng ông ấy. Tại sao ông cứ ở với chúng tôi, lương thì thấp, đối đãi lại tệ, trong khi ông có thể làm như mọi người, lập nghiệp, lấy vợ, có con, tạo một mái ấm?"
 
Ông lặp lại:
" Ồ, thưa bà, với tôi thì khác chứ." Rồi ông im bặt, nhưng lại kéo chòm râu như thể muốn gõ cho tiếng chuông trong lòng ông ngân lên, như thể cố giật chòm râu ra, đảo tròn đôi mắt hốt hoảng của một người đang cơn bối rối.
Bà Maramballe vẫn theo đuổi ý nghĩ của mình:
" Ông đâu phải là nông dân. Ông có học thức mà."
 
Ông kiêu hãnh ngắt lời:
" Tôi có học làm nhân viên đo đạc địa hình, thưa bà."
" Vậy cớ sao ông cứ ở với chúng tôi, hỏng cả cuộc đời mình? "
 
Ông ấp úng:
" Chuyện là thế thôi! Chuyện là thế thôi! Do tại bản tính tôi thôi."
" Sao ạ? Do bản tính ông? "
" Vâng, tôi đã gắn bó là gắn bó mãi, không còn gì khác."
 
Bà bật cười.
" Ôi chao, ông đừng cố thuyết phục tôi rằng những cách đối xử tử tế và dịu dàng của Maramballe đã khiến ông gắn bó suốt đời với ông ấy."
Ông cựa quậy trên ghế, vẻ luống cuống thấy rõ và lầm bầm qua hàng râu mép:
" Không phải ông ấy, mà là bà!"
 
Bà chủ già với gương mặt hiền lành viền bên trên, giữa vầng trán và mái tóc, bởi một vành tóc xoăn màu tuyết được uốn cẩn thận hàng ngày và sáng bóng như lông thiên nga, nhích người trong xe lăn và nhìn người giúp việc với đôi mắt ngạc nhiên.
" Ôi, Alexandre đáng thương của tôi, thế là thế nào? "
 
Ông đưa mắt nhìn lên trời, rồi nhìn sang bên, nhìn ra phía xa, đầu quay lại, như kiểu người nhút nhát vẫn thường làm khi bị buộc phải thổ lộ những bí mật đáng xấu hổ. Cuối cùng, ông bày tỏ, với sự can đảm của người lính được lệnh ra mặt trận:
" Chuyện như vậy đó. Lần đầu tiên tôi mang thư của trung uý đến cho cô nương và cô cho tôi hai mươi xu và còn mỉm cười với tôi, chuyện coi như đã định đoạt xong."
 
Bà không hiểu, khẩn khoản:
" Nào, ông hãy giải thích đi."
Thế là ông buột miệng, với nỗi lo sợ của kẻ khốn khổ phải thú nhận tội lỗi và hoàn toàn rối trí:
" Tôi đã có cảm tình với bà, thưa bà. Thế đấy! "
 
Bà không nói lại gì, thôi không nhìn ông nữa, cúi đầu xuống và suy nghĩ. Bà vốn có từ tâm, thẳng thắn, dịu dàng, đầy lý trí và nhạy cảm.
Trong giây lát, bà nghĩ tới sự tận tuỵ vô hạn của con người khốn khổ này, người đã từ bỏ mọi thứ để được sống cạnh bà mà chẳng bao giờ hé môi. Bà chợt thấy muốn khóc.
Rồi, lấy vẻ mặt nghiêm trang, nhưng không chút giận dữ, bà nói:
" Ta về thôi."
 
Ông đứng dậy, đến sau chiếc xe lăn và bắt đầu đẩy.
Khi về gần làng, họ nhìn thấy ngay giữa đường đại uý Maramballe tiến về phía họ.
 
Ngay khi bắt kịp họ, ông nói với vợ, vẻ muốn tỏ ra nổi cáu thấy rõ
" Chúng ta ăn tối món gì đấy?"
" Gà giò nấu đậu."
 
Ông nổi khùng:
" Gà giò, lại gà giò, mấy cũng gà giò, mẹ kiếp! Tôi chán ngấy gà giò của bà rồi! Bộ đầu óc bà không có ý tưởng gì ngoài việc ngày nào cũng bắt tôi ăn có một thứ?"
 
Bà nhẫn nhục trả lời:
" Nhưng mà, mình biết là bác sĩ cho toa vậy mà. Đó cũng là thứ tốt nhất cho dạ dày của mình. Nếu mình không đau dạ dày, tôi sẽ cho mình ăn nhiều món mà tôi không dám dọn cho mình."
 
Thế là, ông nổi giận đứng sững ngay trước mặt Alexandre:
" Tôi đau dạ dày cũng bởi cái tên súc vật này. Ba mươi lăm năm nay hắn đầu độc tôi với cái kiểu bếp núc tệ hại của hắn. "
 
Bất chợt bà Maramballe quay đầu lại hẳn để nhìn người giúp việc. Hai đôi mắt của họ gặp nhau và người này lẫn người kia đều nói: "Cám ơn" chỉ bằng tia nhìn như thế thôi.
 
 
THÂN TRỌNG SƠN
 
dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
( Alexandre )
 
Hình minh họa
 
Kim Kỳ sưu tầm
Xem thêm...

Con người đất Nam Kỳ

Con người đất Nam Kỳ

** Lâm Văn Bé **

Nam Kỳ là lãnh thổ cực Nam của nước Đại Nam triều Nguyễn, là một trong ba kỳ hợp thành nước Việt Nam. Tên gọi này do vua Minh Mạng đặt ra năm 1832. Sau khi Việt Nam giành được độc lập năm 1945, Nam Kỳ bắt đầu được gọi là Nam Bộ, trong giai đoạn 1948-1954 thường gọi là Nam Việt.

Quốc gia Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa cũng dùng tên gọi Nam phần, vốn đã được sử dụng từ năm 1947 trong giai đoạn sau của Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Diện tích Nam Kỳ là 67.293,1 km2.

Người dân miền Thuận Quảng, sau gần 400 năm tiếp cận với nền văn hóa bản địa Phù Nam – Chân Lạp, với người Minh Hương, người Pháp, tác động bởi một môi trường thiên nhiên khắc nghiệt thuở ban đầu nhưng trù phú về sau đã tạo cho họ những nét đặc thù mà từ ngôn ngữ đến tâm tình lẫn tâm tính có nhiều khác biệt với tổ tiên của họ ở đàng ngoài.

Văn hóa dân Nam kỳ xưa

Trước tiên, ngôn ngữ là một đổi thay lớn và nhanh chóng, chỉ một thế hệ, Nguyễn Ðình Chiểu, con của Nguyễn Ðình Huy gốc người quận Phong Ðiền ở Huế được bổ nhiệm vào Gia Ðịnh phò tá Lê Văn Duyệt, đã viết ra Lục Vân Tiên, một tác phẩm tiêu biểu của miền Nam với những lời văn nôm na, bình dân trái với văn phong Hán Học của ông cha:

Tiên rằng bớ chú cõng con,
Việc chi nên nỗi bon bon chạy hoài.

hay:

Phong Lai mặt đỏ phừng phừng,
Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây.

Nhiều nhà chánh trị, văn hóa nổi tiếng của Việt Nam và miền Nam vào thế kỷ 19 đa số là người Thuận Quảng hay người Minh Hương. Thí dụ Gia Ðịnh Tam gia gồm có Trịnh Hoài Ðức gốc người Phước Kiến (định cư ở Biên Hòa, tác giả bộ địa phương chí Gia Ðịnh Thành Thống Chí), Lê Quang Ðịnh gốc người Thuận Quảng (tác giả bộ Hoàng Việt Nhất Thống Ðịa Dư Chí), Ngô Nhân Tịnh gốc người Quảng Ðông. Nhiều gia đình danh gia vọng tộc ở miền Nam, đặc biệt ở Gò Công, cũng là con cháu những người Thuận Quảng đã theo các đàn ghe bầu xuôi Nam lập nghiệp vào thế kỷ 17, như bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Ðức là con của đại thần Phạm Ðăng Hưng, bà Ðinh Thị Hạnh, thứ phi của vua Thiệu Trị. Ðến vùng đất mới, lưu dân Thuận Quảng mang theo những câu hò, điệu hát đàng ngoài nhưng lại được cải biên theo địa danh mới.

Bắp non mà nướng lửa lò
Ðố ai ve được con đò Thuận An
(Huế)

Bắp non mà nướng lửa lò
Ðố ai ve được con đò Thủ Thiêm
(Gia Ðịnh)

Ru em théc cho muồi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Bát Nhị mua trầu Hội An
Hội An bán gấm bán điều
Kim Bồng bán cải, Trà Nhiêu bán hành
(Quảng Nam)

Ðố ai con rít mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Dinh mây người
Chợ Dinh bán áo con trai
Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim
(Gia Ðịnh)

Chiều chiều ông Lữ đi câu
Bà Lữ đi xúc, con dâu đi mò
(Thuận Quảng)

Chiều chiều ông Lữ đi câu
Sấu tha ông Lữ biết đâu mà mò
(Nhà Bè)

Chiều chiều ông Lữ đi câu
Trâu tha gảy ách ngồi bờ khoanh tay

Ngoài chuyện cải biên tiếng Việt, sự cộng cư giữa lưu dân Việt từ Ðàng ngoài với người Tàu, người Miên đã tạo thành một thứ ngôn ngữ pha trộn. Biết bao địa danh Nam Kỳ là nói trại từ tiếng Miên (Sốc Trăng, Trà Vinh, Bải Xàu, Chắc Cà Ðao…) danh từ tiếng Việt Miên ghép lại: cầu Mây Tức ở giữa Trà Vinh và Vĩnh Long (Mây: tiếng Việt, Tức: tiếng Miên=nước) hay Việt Miên Tàu: sáng say, chiều xỉn, tối xà quần… hay là nóp, bao cà ròn (tiếng Miên) thèo lèo, xá, gật, hủ tiếu, mì… (tiếng Tàu) và tiếng quần xà lỏn, hay tà lỏn (pantalon, Pháp).

Văn hóa dân Nam kỳ xưa

Bàn về bản chất của người Nam Kỳ, tôi mượn hai tài liệu xưa:

Trong Gia Ðịnh Thành Thống Chí của Trịnh Hoài Ðức viết vào khoảng 1820 có đoạn:

Vùng Gia Ðịnh nước Việt Nam đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ. Nhà nào tục nấy… Gia Ðịnh có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trọng nghĩa khinh tài…

John White, sau khi thăm viếng Sài Gòn trở về Luân Ðôn có viết trong quyển hồi ký “A voyage to Cochinchina” năm 1824 như sau:

Chúng tôi rất thỏa mãn với tất cả những gì chúng tôi nhìn thấy, mang theo cảm tưởng tốt đẹp nhứt về phong tục và tánh tình của dân chúng. Những sự ân cần, lòng tốt và sự hiếu khách mà chúng tôi thấy đã vượt quá cả những gì mà chúng tôi đã quan sát đến nay tại các quốc gia châu Á…

Tôi cố gắng tìm hiểu những đặc tính của người dân miền Nam mà hai tác giả đã nhận định như trên qua cái nhìn lịch sử và xã hội.

Sự cộng cư giữa người Việt với người Tàu và người Miên đã khiến người Việt học được bản chất hiếu khách của hai sắc dân tộc nầy. Hơn thế, bản chất hiếu khách còn là một nhu cầu sinh tồn của mọi lưu dân trong vùng đất mới. Trước những khắc nghiệt của thiên nhiên, của bất trắc, lưu dân cần sống có nhau, tương trợ nhau. Tính hiếu khách chẳng qua là một sự lo xa, phòng thân bởi lẽ nếu hôm nay tôi giúp anh thì tôi hy vọng ngày mai anh sẽ giúp tôi khi tôi gặp khó. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi mới gặp nhau, dù chưa quen biết nhau, dân miền Nam đều cơm nước trà rượu như đã là bà con cật ruột.

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi
Khó đi mượn chén ăn cơm
Mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi

Có người còn giải thích tính hiếu khách, hào phóng của dân Nam Kỳ là do sự trù phú, màu mỡ của ruộng vườn và tài nguyên dễ kiếm được, kiểu làm chơi mà ăn thiệt của miền Nam. Giải thích như vậy có phần đúng, nhưng chưa đủ, bởi lẽ không phải ai giàu cũng hào phóng nếu không sẵn có lòng hào phóng.

Biểu hiện của tính hiếu khách là các tiệc tùng, hợp bạn. Dân Nam Kỳ hay ăn nhậu, đờn ca xướng hát. Nhưng phải hiểu rằng dân Nam Kỳ hôm nay là dân Thuận Quảng khi xưa. Xa quê cha đất tổ, người lưu dân, sau những giờ lao động cực lực hay sau những cơn hiểm nguy, cần có những phút giây để tâm sự hàn huyên với nhau, kể cho nhau nghe những kỹ niệm xưa để vơi phần nào nỗi sầu ly hương.

Từ những chung rượu cay ở bờ rừng đến những buổi tiệc linh đình ở đám cúng đình, đám giỗ có đờn ca xướng hát, người dân Nam Kỳ tìm trong những dịp gặp gỡ ấy để giải khuây, để kết bạn. Tiệc rượu là dịp bàn chuyện làm ăn, chuyện thế sự, do đó chúng ta không lấy làm lạ cái tiệm nước, quán rượu đầu làng là nơi tụ hợp quen thuộc của mọi người dân trong làng, từ ban hội tề cho đến thứ dân.

Văn hóa dân Nam kỳ xưa

Sơn Nam trong cá tánh của miền Nam đưa ra thêm một lý giải khác về bản tánh hiếu khách, tứ hải giai huynh đệ của người miền Nam. Theo đó thì Thiên Ðịa Hội tạo ra một nếp sanh hoạt sâu đậm khá hấp dẫn, thực tế: ăn cơm nhà lo chuyện ngoài đường, sống chết nhờ anh em, tận tình giúp đỡ bạn. Trút tất cả tâm sự với bạn kết nghĩa thì không có gì đáng ngại, đã là bạn với nhau rồi thì làm sao có chuyện phản bội. Gặp chuyện bất bình, hoặc như bạn nào bị kẻ khác ăn hiếp thì nổi nóng, trả thù cho bạn vô điều kiện, đó là đạo nghĩa giang hồ, là điệu nghệ giữa anh em kết nghĩa, tứ hải giai huynh đệ.

Tưởng cũng nói thêm Thiên Ðịa Hội, là một thứ hội kín người Tàu phò nhà Minh, liên kết nhau với một kỹ thuật chặt chẽ để giúp đỡ nhau (những chùa miễu, xí nghiệp Tàu đều có tiền của Thiên Ðịa Hội) ảnh hưởng nhiều đến dân Minh Hương và cả dân Việt Nam trong suốt thế kỷ 19 từ thành thị đến nông thôn, là một đồng minh của các nhà ái quốc Việt Nam chống Pháp.

Những khía cạnh tiêu cực của bản tánh hào phóng là sự thiếu cần kiệm, hoang phí, mà Trịnh Hoài Ðức phê là thói bốc rời. Hiện tượng những Cậu Hai, Cậu Ba, Công tử Bạc Liêu, con của những đại phú hộ, thay vì dùng tiền rừng bạc biển để kinh doanh, thì lại đắm chìm trong việc ăn chơi cho đến khi sạch túi. Kết quả là đa số dân Nam Kỳ bị chôn chân ở ruộng vườn, ít bon chen trong thương trường, để nền kinh tế cho người Tàu thao túng.

Bản chất đôn hậu mộc mạc là một đức tính khác của dân Nam Kỳ và cũng bắt nguồn từ điều kiện sinh sống. Bản chất nầy cũng là một nhu cầu cần thiết trong cuộc cộng cư của dân tha phương. Trong một cộng đồng nhỏ, mọi người trước lạ sau quen tạo thành một đại gia đình quần tụ với nhau, do đó họ phải cư xử với nhau bằng tình nghĩa. Những hành động bất tín, bất nghĩa sẽ đưa đến một hình phạt nhục nhã là bị loại trừ ra khỏi cộng đồng, phải bỏ xứ mà đi. Người dân Nam Kỳ vì vậy nhớ ơn và trung thành chẳng những với người sống mà cả với người chết. Thông thường thì có đám giỗ, ngoài việc dọn mâm cơm cúng ông bà cha mẹ còn có mâm cơm bày ra trước cửa nhà để cúng đất đai, cúng những người đã ra đi trong công cuộc vở đất mới, cúng thần linh đất đai để những người nầy phù hộ.

Nói về sự phù hộ thì dân Nam Kỳ có không biết bao nhiêu thần hộ mạng bởi trên con đường lập nghiệp, họ gặp không biết bao nhiêu hiểm nghèo. Một con thú dữ, một con sông, một tiếng trời gầm, tất cả đều gieo cho họ sự sợ hãi. Trong nỗi bơ vơ, họ luôn cầu nguyện đất trời để phù hộ họ.

Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh

Ðạo Phật vô Nam vì vậy mà biến thể, mang thêm bản chất dị đoan, bùa chú, cộng thêm với bản chất mê tín của Phật giáo Théravada của người Miên và tục thờ cúng nhiều ông Thần, ông Thánh của người Tàu.

Dân Nam Kỳ do đó không phải là những tín đồ Phật giáo thuần thành. Việc đi chùa, hành hương, làm công quả, ngoài chuyện cầu nguyện, van vái còn mang thêm bản chất xã hội. Ðó là những dịp để bạn bè thân thích gặp gỡ nhau trong một khung cảnh linh thiêng. Chùa chiền trong Nam đa số không uy nghi, cổ kính như chùa miền Bắc và miền Trung, mà trái lại thường khiêm tốn, thu mình trong những tàng cây cổ thụ, có khi diện tích cây trái xung quanh lớn hàng chục lần ngôi chùa (các ngôi chùa Miên lại là giang sơn của các loài chim muông). Ði chùa, đi hành hương đối với dân Nam Kỳ, đặc biệt với phụ nữ còn là dịp đi vãn cảnh…

Không lấy làm lạ, là các ngày lễ hội truyền thống như Lễ Hội Bà Chúa Xứ (vía Bà) ở núi Sam Châu Ðốc (25 tháng tư), Lễ Hội Ðền Bà Ðen ở Tây Ninh (rằm tháng giêng), Lễ Hội Cúng Cá Voi ở các vùng ven duyên hải (ngày giờ tùy vùng), Lễ Hội Thánh Ðịa Hòa Hảo ở làng Hòa Hảo Long Xuyên (18 tháng năm âm lịch) … đã diễn ra trong nhiều ngày thu hút hàng trăm ngàn người, không những là tín đồ mà còn là du khách.

Văn hóa dân Nam kỳ xưaSông nước bao la, kinh rạch chằng chịt và đồng ruộng cò bay thẳng cánh lại là những yếu tố qui định cá tánh của dân miền Nam.

Trái với dân cư vùng châu thổ sông Hồng bị bao vây bởi một hệ thống đê điều, làng mạc miền Bắc được thiết lập từ lâu đời nên bị bao bọc bởi những hàng rào, lũy tre, thân tộc liên kết chặt chẽ nhau qua các thế hệ, làng xã ở miền Nam thường thiết lập ven sông, chạy dài theo kinh rạch, không có lũy tre, hàng rào ngăn cách, dòng họ thân tộc chưa phát triển chằn chịt như ở miền Trung, miền Bắc. Nếu nói văn minh sông Hồng là văn minh đê điều thì văn minh đồng bằng sông Cửu Long là văn minh sông rạch.

Sông rạch đã qui định đời sống kinh tế, chính trị của Nam Kỳ. Chúng ta không ngạc nhiên khi người Pháp bắt đầu thiết kế các thành phố trong Nam, các dinh Chủ Tỉnh, hay các câu lạc bộ để ông tây bà đầm ra hứng mát đều được cất hướng ra sông, rồi chung quanh đó là trường tiểu học, nhà thương, trại lính và khám đường.

Sông rạch lại qui định tâm tính và tâm tình của dân miền Nam.

Ông Nguyễn văn Trung đã viết: Do đó về phương diện xã hội, miền Nam không có chị Dậu trong tắt đèn của Ngô Tất Tố, bị chà đạp ép bức mà vẫn chịu trận. Trái lại giai cấp điền chủ ở miền Nam không thể áp bức hay áp bức dễ dàng nông dân như ở Bắc Kỳ vì nếu không chịu nổi và nếu muốn, vợ chồng chị Dậu chỉ việc xuống ghe thuyền đi tìm một miền đất hứa khác. Ðầm lầy, ruộng hoang còn thiếu gì sẵn sàng đón nhận người đến vỡ đất lập nghiệp

Sông rạch và đất nước bao la vì vậy đã tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn. Tính lửa rơm, giận thì nói ngay, có khi hung hăng, nhưng rồi cơn giận cuốn đi theo sông nước, đồng ruộng bao la. Cái cá tính sẵn có ấy lại được tác động thêm bởi những ý niệm trung hiếu tiết nghĩa qua các truyện Tàu đã ảnh hưởng sâu đậm trong tâm tính của dân miền Nam vào suốt tiền bán thế kỷ 20 và truyện Tàu là một đặc thù của mảng văn học Nam Kỳ Lục tỉnh.

Nhưng bản chất cứng rắn nầy có khi là một khí giới yếu trong những hoàn cảnh cần sự dẻo dai, uyển chuyển, nhất là trong các sinh hoạt chính trị. Người ta thường nhắc đến ông Trần văn Hương với tất cả hai khía cạnh của đặc tánh nầy.

Một khía cạnh tiêu cực khác của sự bộc trực là tánh thiếu cẩn mật và thiếu tế nhị. Sự thẳng thắn đôi khi là một thất lợi trong cách ứng xử, làm vơi đi sự nể trọng của người khách khi người khách không cần biết hết tuốt tuột chuyện trong, chuyện ngoài của người chủ.

Ngoài ra, trong dân gian còn lưu truyền câu Ăn mặn nói ngay để diễn tả sự bộc trực của dân Nam Kỳ. Lịch sử di dân và cuộc sống của lưu dân giải thích phần nào cái bản tính nầy. Lưu dân trên đường xuôi Nam thường phải dùng ghe thuyền để vượt biển và chất mặn của nước biển đã thấm sâu vào huyết quản của lưu dân. Họ quen với múi mặn nên họ thích ăn mặn, thường trong bữa ăn thường có món kho và khô mặn. Chất mặn cần thiết cho họ có nhiều sức lực để dãi dầu mưa nắng, để chịu đựng với sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Nhưng làm một phương trình giữa ăn mặn và nói ngay thì có lẽ còn phải phân giải.

Dân Nam Kỳ không những nói ngay mà còn hay nói lớn tiếng, thiếu trau chuốt. Phải hiểu rằng trên biển cả với sóng vổ ì ầm khi xuôi Nam, trong rừng sâu cây cối dầy đặc khi khẩn đất hay trên khoảng đất rộng người thưa, cò bay thẳng cánh, lưu dân khi cần phải nói với nhau phải nói ngắn gọn và nói to để vượt các chướng ngại cách trở. Nhu cầu truyền thông trong một khung cảnh thiên nhiên khắc nghiệt như vậy đã thay đổi phong cách truyền thông của người Thuận Quảng xưa.

Trong công tác khai hoang vở đất, thiên nhiên khắc nghiệt không phân biệt giới tính.

Người phụ nữ Thuận Quảng vào miền Nam phải gánh chịu tất cả những thử thách cam go y như nam giới. Người phụ nữ Nam Kỳ do đó đã được đào tạo và trưởng thành trong cùng một môi trường với nam giới. Tính khí, diện mạo, y phục của người phụ nữ miền Nam vì vậy có phần nào khác với người phụ nữ miền Trung và Bắc. Họ rắn rỏi hơn trong các sinh hoạt, từ gia đình đến xã hội, từ tình cảm đến tâm tình. Cách ăn mặc của họ cũng đơn sơ hơn, ít màu sắc hơn (người bán hàng rong ở đất Bắc, đất Trung vẫn mặc áo dài, còn đại đa số người đàn bà Nam Kỳ quần đen, áo bà ba đen, có khi còn quàng qua vai một cái khăn bàng hay khăn rằn theo kiểu người Miên).

Chuyện Nam Kỳ tính chắc còn nhiều điều phải nói, phải lý giải. Nhưng điều tôi muốn xin thưa với quý vị hôm nay là nếu xã hội miền Bắc và miền Trung đã thành hình và phát triển lâu đời thành những khuôn khổ chặt chẽ, đó là những môi trường tĩnh, thì đất Nam Kỳ vì là một vùng đất mới, vì là một môi trường động nên còn dễ dàng biến chuyển đổi thay.

 

Tác giả: Lâm Văn Bé

 
 ************************

Văn chương tỏ tình mộc mạc của người Nam!​

Rỗi rảnh, cùng nhau đọc những câu tỏ tình mộc mạc của dân quê miền Nam, vui vui, nhẹ nhàng mà ngọt ngào.

 

Tóc em không bới thì cài,

Em cứ gỡ hoài, bối rối dạ anh...

 Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề trau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành ‘liều mạng’:

Dao phay kề cổ, Máu đổ không màng
Chết thì chịu chết .
Buông nàng anh không buông

Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình ‘hú vía’ vì kịp thời nhận ra ‘chân tướng’ đối tượng:

May không chút nữa em lầm

Khoai lang khô xắt lát , em tưởng sâm bên Tàu

Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:

Tôi xa mình hổng chết cũng đau,

Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền.

Họ là những người lao động chơn chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc. Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:

 

Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này

Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái ‘thật thà tội nghiệp’. Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:

Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa, giở giò không lên

có khi là:

 Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:

Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối,
tưởng bạn mình, em ơi!

Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:

 

Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều

Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng ‘xạo’ cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.

 Lại có một chàng trai đang thời kỳ o bế đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:

Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh,

Đội ơn bà ngoại đẻ má,

má đẻ mình dễ thương

Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen ‘mình dễ thương’ mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên – trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời – tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ – rồi mới bước qua thế giới của loài người – trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính – ‘mình’. Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết ‘chuyện gì đây’, cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ… Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh! Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:

 

Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái ‘quệt’, biểu ưng cho rồi

Những người nghe câu ‘xúi bẩy’ này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài... Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi ‘rầu thúi ruột’ mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:

 

Thác ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn,
đậu nhánh tùng chờ em

Quả là ‘khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan’, nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!

Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:

 

Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần,
ổng hổng se

 Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy mãnh liệt. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!

 

Chẳng thà lăn xuống giếng cái ‘chũm’
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách,
biết đứng ngồi với ai?

Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:

Nếu mà không lấy đặng em 

Anh về đóng cửa cài rèm đi tu

Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:

 

Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa

Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng – ‘Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường’ – đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu – ‘Mà có chắc là tu được không đấy?’. Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.

Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột trao nhau mang về

Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ… sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại ‘nhát gan’ đến bật cười:

 

Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái,
nước lớn đầy… tôi chèo vô

Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ – Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người:

Ra đi gặp vịt cũng lùa;

Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu…

 

Kim Phượng st.

 Nhà nước hỗ trợ 1 triệu đồng/ha/năm đất trồng lúa nước

 

 

 

Xem thêm...

Nàng Thơ Xứ Huế - Ẩm Thực Xứ Huế

Image result for nu sinh gai hue dep hd photos

❤️ Nàng Thơ Xứ Huế | Thùy Chi |   YOUTUBE

 
Thì thôi, quên một chuyện tình... Chôn vùi kỷ niệm yêu thương năm nào... Mùa thu, lá rụng xa cành... Phố xưa, ngõ nhõ phai dần nhớ nhung... Mùa thu, có nắng hanh vàng... Thu này, màu nắng không còn yêu thương... Mùa thu, dấu kín lòng em... Mùa thu nức nở, thở dài hằng đêm..

   YÊU GÁI HUẾ VÀ CÁC MÓN NGON HUẾ   

Có những buổi chiều rảnh rỗi tôi thường dạo vài vòng dọc bờ sông Hương để ngắm nhìn không gian mặc trầm của Huế, những cô gái Huế, những con người Huế và cảm nhận sự yên thanh, bình lặng, vấn vương, xao xuyến.
 


Sau một thời gian dài quan sát thông qua những cô bạn gái người Huế, đọc những bài viết về người con gái Huế. Tôi lại thấy nếu để lựa chọn, tốt nhất đừng yêu một cô gái Huế, sau đây là 6 lý do tại sao không nên yêu con gái Huế.

1- Con gái Huế nấu ăn ngon và nấu được nhiều món

Vì vậy, nếu như dạ dày bạn không tốt, bạn sẽ đứng trước nguy cơ bị bội thực sau mỗi giờ tan làm.. Làm sao cưỡng lại nổi khi mà đối mặt với một đống đồ ăn bày ra trước mắt mỗi khi bị đói.
Yêu con gái Huế, tức là mỗi ngày phải đứng trước khả năng đầy bụng khó tiêu cao cộng với nguy cơ bị béo lên trông thấy vì ăn quá nhiều.

2 - Huế là đất lũ, đất bão, chỉ mưa và mưa

Con gái Huế lại hay lo nghĩ, dù ở xa hay gần, cứ mỗi năm mùa lũ đến lại chỉ có một nỗi lo canh cánh về gia đình, về ngày nước dâng. 

Yêu con gái Huế, nghĩa là bạn phải cùng gồng gánh nỗi lo đó. 
Huế lại mưa quanh năm suốt tháng, tức là bạn nếu muốn hẹn hò thuân lợi ở Huế rất khó, vì cứ gặp nhau là trời mưa, biết đi đâu bây giờ? 
Có khi lại biến bạn trở thành kẻ xấu xa vì những lúc suy nghĩ túng quẫn trong lúc mưa giông.

3 - Con gái Huế sống nề nếp và gia phong

Bộ ảnh cô gái mặc áo dài tím Huế thật đẹp
Từ lâu đời, những phép tắc trong đời sống hàng ngày đã in đậm và trong suy nghĩ của con gái Huế. 

Tức là yêu một cô con gái Huế, bạn cũng đối mặt luôn với một đống quy củ và cách hành xử với gia đình người yêu. 
Bạn có thể mất tận 15 phút chỉ để chào tạm biệt thành viên trong gia đình bạn gái từ người ông cho đến chú cún cưng trong nhà. 
Dĩ nhiên, viêc đưa đón hẹn hò sau 21h là nhiệm vụ bất khả thi.

4 - Con gái Huế sống trầm lặng lại kín đáo

Yêu một người trầm tính, thật khó để được họ cùng chia sẻ tất cả mọi chuyện. 
Bạn phải thật sẵn lòng lắng nghe, phải thật sự quan tâm mới có thể hiểu được cô gái Huế nghĩ gì, mong muốn gì. 

Đâu phải ai cũng có thời gian để quan tâm và dành thật nhiều thời gian cho nhau phải không?

5 - Con gái Huế sống chắt chiu, tiết kiệm

Thơ tình: Gửi Huế Yêu Thương
Nếu như bạn muốn một cuộc sống thoải mái, không cần lo lắng ngày mai ra sao, thì tốt nhất đừng lấy con gái Huế. 

Con gái Huế hay lo xa, cứ mãi chắt chiu tiết kiệm lo cho gia đình, có khi quên luôn cả việc chăm sóc bản thân, mua cái này cái kia thì cứ phải đắn đo suy nghĩ. 
Bởi vậy, đôi lúc sẽ khiến bạn thấy khó chịu và ngột ngạt.

6 - Con gái Huế hay dịu dàng, e lệ

Nét trầm mặc của Huế nó cũng thắm dần vào tính cách của người con gái Huế. 
Con gái Huế e lệ, nhẹ nhàng, việc gì cũng từ tốn, ngại ngùng. 

Yêu mà ngại ngùng như thế, đôi lúc sẽ làm bạn nhụt chí hay rụt rè hơn vì không thể “ tấn công ”, và chẳng biết khi nào là đúng thời điểm vì sẽ rất khó mà nhận ra tín hiệu của nàng.

Khi bạn đã chọn người tình trăm năm là em gái Huế thì phải hưởng luôn hương vị của 11 món ăn tuyệt vời nầy mới " Đủ bộ .. tam sên " !
Nếu đã đến Huế mà bạn không thử những món ăn tuyệt ngon sau đây thì chắc chắn là bạn đã đánh mất đi cái thú vị, cái hấp dẫn của cả chuyến đi rồi. Vì vậy hãy cùng tham khảo danh sách 11 món ăn ở Huế bạn cần phải ăn khi tới mảnh đất xinh đẹp này nhé!
1. Cơm hến
Cơm hến ngon nhất chỉ có ở Huế. Đây là món ăn dân dã có khắp mọi nơi, từ thôn quê cho đến thành thị. 
Cơm hến được làm từ cơm trắng nấu chín và để nguội, ăn kèm với con hến cùng tóp mỡ chiên giòn.
Cơm hến có thêm chút mắm ruốc Huế vừa bùi, chát, cay và hăng; ăn kèm với phụ gia là rau sống gồm có: rau sống, bắp chuối, giá đỗ và ít thân khoai môn trắng thái nhỏ. Lạc được rang vàng và phi dầu vàng cho có màu đẹp mắt.
Ngoài ra các tiệm cơm hến còn có thêm bún hến, mì hến, cháo hến cũng rất lạ miệng. 
Nếu đã đến Huế hãy thử món này liền nhé!
 
 
2. Các loại bánh Huế
Bánh bèo, bánh ram ít, bánh bột lọc…, mỗi loại có một đặc trưng và vị ngon riêng. 
Bánh bột lọc ăn dai dai, trong suốt có thể nhìn thấy nhân tôm hồng hồng ở giữa.
Bánh ram ít phần trên ăn dẻo, phần dưới là bột rán giòn.
Bánh bèo trắng mịn, mỗi chiếc nhỏ vừa đúng lòng một chiếc đĩa con và phía trên một miếng tóp mỡ.
Mỗi loại bánh đi kèm với một loại nước chấm khác nhau sẽ mang lại hương vị khác nhau không thể lẫn vào đâu được
 
3. Bún thịt nướng
Điểm đặc biệt của món này nằm ở thịt nướng. Thịt ở đây ướp vừa đủ, miếng thịt mềm chứ không bị khô, và mang một hương vị đặc trưng, khá đặc biệt so với những nơi khác.
Nước chấm ăn kèm cũng vừa miệng, điều đặc biệt là có rất nhiều rau sống, tươi mát và xanh ươm. Các quán bún thịt nướng ngon nằm trên mạn Kim Long – đường đi chùa Thiên Mụ.
4. Bún bò Huế
Món bún gắn với tên thành phố Huế đủ để nói lên nét đặc trưng của món ăn này đối với vùng đất cố đô. Nước dùng của bún bò được hầm từ xương bò, cho thêm một ít chả heo hay chả bò và một ít mắm ruốc, tạo nên một hương vị rất riêng.
Món bún này thường được nấu cay theo khẩu vị chuộng cay của người dân xứ Huế.  

5. Bánh khoái
Đây là món bánh đặc biệt chỉ có tại Huế, gần giống như bánh xèo của miền Nam nhưng nhỏ hơn. 
Bánh khoái đổ bằng bột gạo xay đánh sệt với nước và lòng đỏ trứng, sau đó thêm tiêu, hành, mắm, muối, tôm bóc vỏ, thịt bò (hoặc chim) nướng thái lát, mỡ thái lát nhỏ, giá sống.
Bánh ngon một phần nhờ nước lèo béo mùi đậu phộng, món nước chấm này rất khó làm, những hiệu bánh nổi tiếng thường có bí quyết chế biến nước chấm gia truyền. 
 
6. Bánh canh Nam Phổ
Đây là món bánh canh đặc trưng của người Nam Phổ (huyện Phú Vang), không giống với bất kỳ món bánh canh nào ở cac vùng khác. Những sợi bánh canh được làm từ loại gạo đặc biệt, để có được sợi bánh mềm dai mà không nát.
Nước dùng cho bánh canh được làm từ cua, thịt nạc xay, tôm, sườn heo, chả, cùng với bí quyết riêng tạo cho bánh canh Nam Phổ có sự đặc sánh và hương vị rất đặc trưng..
Bánh canh Nam Phổ thường không có cửa hàng cố định mà chỉ bán ở các gánh hàng rong, có thể tìm thấy tại các khu chợ.

 
7. Chè Huế
Mỗi quán có khoảng hơn hai chục loại chè, đủ màu sắc được bày trong các nồi nhôm, trông rất bắt mắt và hấp dẫn. Món ăn này đặc biệt thu hút khách du lịch trong nước cũng như nước ngoài.
Nổi tiếng với chè bột lọc heo quay, món chè “độc nhất vô nhị” của Huế. Thịt heo quay được bằm nhỏ xào mộc nhĩ và gia vị. Bọc bên ngoài là lớp bột lọc trong veo, được viên to hơn ngón tay cái, nước chè ăn kèm là nước đường nấu cùng với gừng đập dập. Khi ăn chè vừa mặn mặn, lại ngọt ngọt…đảm bảo sẽ gây nghiện cho những ai ăn được món này  

  Tâm Hồn Người Huế Và Nét Rất Riêng Trong Ẩm Thực Xứ Huế  

“Học trò xứ Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi không đành” – câu ca dao dường như đã lột tả hết cái vẻ quyến rũ, sức cuốn hút của xứ Huế. Cái vẻ cuốn hút của xứ Huế không chỉ đến từ thiên nhiên phong cảnh hữu tình nơi đây, nó còn đến từ tất cả những giá trị văn hóa của vùng đất cố đô này. Con người Huế đã tạo ra Huế hay chính vùng đất đã tạo nên con người, câu hỏi này thật khó trả lời. Nhưng ta có thể khẳng định rằng mỗi giá trị văn hóa của xứ Huế đều thực sự là những di sản vô giá, không thể nào đong đếm được. Trong các giá trị nhân văn đó thì văn hóa ẩm thực là một giá trị mà ta không thể không nhắc đến mỗi khi nói về xứ Huế. Hãy để Mytour dắt bạn đến với hành trình khám phá ẩm thực xứ Huế nào!
 
Ẩm thực Huế chính là sự giao thoa hoàn hảo giữa ẩm thực cung đình và ẩm thực dân gian
Ẩm thực Huế chính là sự giao thoa hoàn hảo giữa ẩm thực cung đình và ẩm thực dân gian - Ảnh: sưu tầm
 
“Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
 
Đó là những câu thơ mà nhà thơ Thu Bồn đã dùng để miêu tả về con người Huế. Tâm hồn người Huế cũng như dòng sông Hương vậy, nó hiện lên với thật nhiều những sắc thái: êm đềm, thơ mộng, quyến rũ nhưng cũng thật gần gũi, thân thương. Và chính những tâm hồn đó đã tạo nên một nền ẩm thực Huế hết sức đặc trưng và không thể lẫn lộn. Không đa dạng như ẩm thực miền Bắc, cũng không phồn thực như lối ẩm thực miền Nam, ẩm thực Huế mang một bản sắc của một vùng đất từng là kẻ chợ, thanh lịch, nhẹ nhàng và tùng tiệm.
 
Ẩm thực Huế tựa như những cô gái Huế vậy  để hiểu hết được cũng thật khó
Ẩm thực Huế tựa như những cô gái Huế vậy – để hiểu hết được cũng thật khó - Ảnh: Tran Quoc Le Bao
 
Người Huế ăn uống gắn liền với ba tiêu chí là ngon, rẻ và đặc biệt là phải đẹp. Đối với người Huế thì một món ăn nếu không đẹp thì không phải thực sự là một món ăn. Trong mỗi món ăn Huế, mỗi người vợ, người mẹ, người bà dường như đặt cả trái tim và trí óc của mình vào món ăn, nhất là trong việc tạo nên hình dáng món ăn. Nghệ thuật trong cách tạo nên vẻ đẹp của mỗi món ăn đó chính là sự đắn đo về màu sắc, hình khối, khả năng bày biện, sắp xếp để tạo ra một hiệu ứng thẩm mỹ, một sức hút đối với người ăn một cách cao độ. Dường như sự tôn sùng cái đẹp trong bữa ăn của người Huế đã nói lên phần nào cái tính cách của của người Huế, những con người có sự đam mê một cách đặt biệt đến nghệ thuật, đến cái đẹp.
 
Người Huế rất coi trọng đến tính thẩm mỹ của món ăn
Người Huế rất coi trọng đến tính thẩm mỹ của món ăn - Ảnh: sưu tầm
 
Không chỉ đặc biệt về mặt hình thức, các món ăn Huế cũng thật khác biệt khi thưởng thức bằng vị giác. Đối với gia vị thì người Huế có một niềm đam mê hết sức đặc biệt. Ngoài để tạo ra màu sắc đẹp, đối với người Huế thì gia vị chính là một “liều thuốc” kích thích vị giác tuyệt vời trong mỗi món ăn. Và từ chính cái việc sử dụng nhiều gia vị trong món ăn, người Huế đã tạo nên một nét ấn tượng rất riêng cho món Huế, một ấn tượng mà nếu ai đã từng thưởng thức qua món Huế đều không thể nào quên được. Chính sự hòa quyện của rất nhiều loại gia vị trong một món ăn đã mang lại cho vị giác một nỗi “thống khổ” của cái ngon thật khó tả.
 
Một tô bún bò Huế được tạo ra chính là sự hòa quyện của vô vàng các loại gia vị đặc trưng
Một tô bún bò Huế được tạo ra chính là sự hòa quyện của vô vàng các loại gia vị đặc trưng - Ảnh: sưu tầm
 
 
Cái độc đáo của hương vị món Huế đó chính là sự đậm đà, thấm thía đến khó quên của món ăn. Không thanh đạm, đa dạng như ẩm thực miền Bắc hay mộc mạc, đơn giản như món ăn miền Nam, hương vị ẩm thực Huế tồn tại trong lòng những người đã thưởng thức qua nó một cách rất riêng. Nó thật cuốn hút, hấp dẫn nhưng lại không kém phần kín đáo, thầm lặng, nó giống như chính những người con gái đất Huế vậy.
 
Ẩm thực Huế đậm đà đến thật khó quên
Ẩm thực Huế đậm đà đến thật khó quên - Ảnh: sưu tầm
 
Trong bản giao hưởng của hàng trăm loại gia vị xứ Huế thì ta không thể quên được vị cay nồng nàn của ớt – “vị nhạc trưởng” đầy quyến rũ của dàn đồng ca hương vị. Nếu bạn là người miền Bắc hoặc miền Nam đến với Huế thì bạn hãy sẵn sàng cho một sự trải nghiệm ẩm thực thật là khó quên khi tất thảy các món ăn Huế đều… cay. Mọi thứ từ tô bún bò buổi sáng, rồi bún hến, cơm hến, cho đến nước chấm của tất cả các loại bánh như bánh bèo, bánh nậm, bánh ram ít… đều không thể thiếu cái hương vị cay nồng của ớt. Nếu màu tím chính là biểu tượng cho một vùng văn hóa đằm thắm xứ Huế thì sắc đỏ, cam của ớt chính là tông màu chủ đạo trong ẩm thực Huế.
 
Vị cay của của là hương vị không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực Huế
Vị cay của của là hương vị không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực Huế - Ảnh: thisisbsr
 
Mới nhìn qua thì nhiều người sẽ cho rằng ẩm thực Huế quá đỗi cầu kỳ và phức tạp, nhưng không, bên cạnh cái vỏ bọc có vẻ khó gần thì ẩm thực thực Huế cũng không thiếu những món ăn thân thuộc, mộc mạc. Bởi bên cạnh những món ăn ngự thiện, cung đình thì trong bữa cơm hằng ngày của người dân xứ Huế vẫn luôn tồn tại những món ăn dân dã từ cua đồng, cá ruộng, rau vườn. Dân dã là thế nhưng món ăn vẫn không thiếu đi sự tinh tế, và sự tinh tế đó đến từ chính tấm lòng của người người thưởng thức – đó chính là “Tâm thực”, bậc cao nhất trong nghệ thuật thưởng thức ẩm thực xứ Huế. Có lẽ vì thế mà trong bàn ăn của người Huế những bánh canh cá lóc đồng hay món rau dại nấu canh tập tàng tuy dân dã, đơn sơ nhưng đã đánh bại bao nhiêu món ăn sơn hào hải vị.
 Dù đơn giản, thôn quê nhưng món Hến xào nào này không thiếu đi sự tinh tế
Dù đơn giản, thôn quê nhưng món Hến xào nào này không thiếu đi sự tinh tế - Ảnh: sưu tầm
 
Không chỉ đặc biệt trong từng món ăn, cách ăn cũng là một nhân tố rất quan trọng tạo nên nét đẹp trong ẩm thực xứ Huế. Dù vận dụng hết mọi giác quan để thưởng thức món ăn, nhưng đối người Huế thì cũng chỉ cốt ăn lấy hương lấy hoa. Sự thanh thản ấy có thể nhận biết trên những chiếc bánh bèo nhỏ chúm chím tựa những nụ hoa, những lá bánh nậm mỏng tăng tựa cánh chuồn hay tô cơm hến nhỏ nhỏ nhưng hết sức đậm đà. Và trong mỗi bữa ăn của người Huế, cách ăn này càng được thể hiện rõ rệt hơn. Mỗi món ăn khi dọn lên mâm thì thường không dọn lên luôn một lần mà chỉ được dọn trên những chiếc dĩa con nho nhỏ, làm như vậy vừa tránh được cảm giác quá nhiều, vừa giúp món ăn luôn nóng hổi, thơm ngon.
 
Những chiếc bánh ram ít nhỏ nhắn tựa như những nụ hoa chớm nở
Những chiếc bánh ram ít nhỏ nhắn tựa như những nụ hoa chớm nở - Ảnh: lucyd
 
Một chiếc bánh nậm mỏng tang nhưng chất chưa bao nhiêu hương vị
Một chiếc bánh nậm mỏng tang nhưng chất chưa bao nhiêu hương vị - Ảnh: sưu tầm
 
Đối với người Huế, mỗi bữa ăn dường như là một nghi lễ đặc biệt – họ chỉnh chu, tươm tất trong tất cả mọi thứ. Dù là một bữa ăn gia đình đơn giản hay là một bàn tiệc với phong phú các món sơn hào hải vị thì bữa ăn đó phải được bày ra với chén dĩa tươm tất, người ăn phải giữ một tư thế thật ngay ngắn, không lăng xăng, ồn ào trong khi ăn. Đối với người Huế, bữa cơm chính là một điều gì đó hết sức thiêng liêng và trang trọng. Trong bữa ăn thì chỉ có những câu chuyện vui vẻ nên được nói ra, tránh những câu chuyện buồn, chuyện đàm tiếu và đặc biệt là cãi vã trong bữa ăn.
 
Dù bữa ăn có đơn giản đến đâu vẫn phải được bày biện thật chỉnh chu
Dù bữa ăn có đơn giản đến đâu vẫn phải được bày biện thật chỉnh chu - Ảnh: sưu tầm
 
Nếu như trong thời đại hiện nay, khi nhiều nền ẩm thực ở miền Bắc và miền Nam đã có sự thay đổi đi phần nào, thì ẩm thực Huế vẫn luôn giữ được cái nét riêng của mình và dường như không hề thay đổi lẫn không muốn thay đổi. Một phần là vì bản tính hủ cựu, hoài cổ của người Huế, một phần là bởi vì nền ẩm thực Huế đã quá đặc sắc – nó không cần phải thay đổi bất kỳ thứ gì, nó chỉ cần là chính nó là đã đủ hấp dẫn rồi.
 
Những chén bánh bèo Huế nhỏ nhắn như muốn chực tan trong miện
Những chén bánh bèo Huế nhỏ nhắn như muốn chực tan trong miện - Ảnh: womofa

  LẤY VỢ MIỀN NÀO? – BÌNH LUẬN CON GÁI BẮC TRUNG NAM  

CON GÁI BẮC

 
Con gái người Bắc (mà điển hình là con gái Hà Nội), là những cô gái khôn ngoan và tinh tế. Họ làm ra vẻ như rất giữ khuôn nếp nhưng thực ra họ đong đếm bạn kỹ lưỡng trước khi bật đèn xanh cho bạn tiến đến.
Họ nghĩ nhiều đến vấn đề gia đình đôi bên môn đăng hộ đối, do đó khi đã thành đôi rồi, dù bên ngoài có nhìn vào như thế nào đi nữa họ cũng vẫn thấy vừa lòng với nhau và cuộc sống hôn nhân ít xao động.
Nếu mà như thế được cả thì đâu có gì mà nói nhỉ ?
Sau khi về nhà chồng thì những cái mà các cô dâu Bắc hay có là :
 
– Khắc kỵ với mẹ chồng.
– Kiểm soát chồng chặt chẽ và tranh giành tài sản cũng như quyền lực trong nhà chồng.
Còn trong gia đình thì khỏi nói : con gái Bắc coi chồng như một anh lao công và khi nắm quyền lực trong gia đình rồi thì bắt đầu nhiều lời. Những câu nói đay nghiến dấm dẳng không biết có phải từ trong tiềm thức tổ tiên để lại bắt đầu tuôn ra một cách rất tự nhiên.
Khi những điều đó bành trướng lên quá đáng thì anh chồng bắt đầu ngao ngán gia đình – chuyện ngoại tình là sẽ đến và nếu có điều kiện là “chuồn” luôn cái bà vợ chán chường đó mà đi lấy một người vợ khác.
Con gái Bắc còn có tật thiên vị tình cảm nội ngoại, và không ít những chuyện không hay thường bắt nguồn từ nàng dâu.Thêm một tính nữa là hơi một tí là bỏ về nhà cha mẹ, và gia đình ngoại hay có chuyện can thiệp vào gia đình chồng.
Nói đến các cô gái Bắc còn phải nói đến cái tính điêu ngoa và đanh đá. Và từ đó dẫn đến hỗn láo xấc xược là rất gần. Những cuộc cãi nhau, chửi nhau của các bà vợ Bắc cứ như những bản nhạc được học thuộc lòng trước khi lên xe hoa.
Tránh được mấy điều này thì các cô gái Bắc trở thành số một vì họ là những người tiếp tay cho chồng rất đắc lực trong công việc làm ăn, cai quản tài sản, chăm sóc con cái. Sẵn sàng hy sinh vì chồng. Ở tù, ăn đạn cho chồng cũng OK luôn.
 
Tình gái Bắc
Em chả đâu / Ngượng lắm đấy / Ai lại thế / Cứ như ranh / Tí tẹo thôi / Nhớ đấy nhé / Mặt dầy tợn / Chỉ nghịch ngợm / Không ai bằng / Cứ hung hăng / Như ăn cướp / Thôi cũng được / Phải giao trước / Cấm chạy làng / Hễ lang bang / Em xẻo trước…
 
Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc 
nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền 
nhớ dịu dàng nhưng thâm ý khoe khoang 
nhớ duyên dáng, ngây thơ mà…xảo quyệt.

CON GÁI TRUNG

Miền Trung được tính từ Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh vào đến Phú Yên, Ninh Hòa. Có thể nói đây là một khu vực nhân văn đa dạng.
Phía Bắc thiên về văn hóa Hà thành còn phía Nam thiên về Sài thành.
Họ đều có những đức tính chung của những người con của biển.
Con gái miền Trung cần cù, nhẫn nhục. Những bông hoa xương rồng lộng lẫy. Tình yêu của họ không rộ nở tưng bừng nhưng lại sâu lắng. Họ ít đòi hỏi nơi người chồng nhưng lại hy vọng rất nhiều vào người chồng. Nếu ai cần một người vợ để dựng nghiệp thì nên chọn con gái miền Trung.
Bạn sẽ luôn được sự yên tâm về lòng chung thủy của họ. Họ cần cù nhẫn nhục chịu đựng gian khổ với bạn. Nhưng nếu mà bạn đổ đốn ra, phụ bạc chân tình của họ thì cũng hãy coi chừng đấy. Đã nghe câu “con gái Bình Định múa roi dạy chồng” chưa ? Điểm yếu của những cô gái miền Trung là hơi quê mùa, dù rất nhiều cô tỏ ra mình bảnh như ca sĩ Mỹ Tâm chẳng hạn… bạn vẫn nhìn được cái nét quê mùa của họ.
Miền Trung nói chung và nên có nói riêng về Huế.
Đó là một vùng đất dường như là rất riêng biệt của Việt Nam. Huế có văn hóa của cố đô nên Huế trầm lặng, lắng đọng và lãng mạn như những vần thơ.
Những cô gái Huế có những nét rất riêng biệt đối với miền Trung và các vùng khác trên lãnh thổ Việt Nam do cái truyền thống cố đô để lại.
Nhưng nếu bạn cưới được một cô vợ người Đà Lạt thuần gốc… Đó là những tiểu thư gốc người Huế vào Đà Lạt dựng nghiệp từ thời Pháp thuộc.
Những tiểu thơ da trắng môi hồng với văn hoá Anh, Pháp, Việt. Bạn khó kiếm ở đâu trên thế giới một người vợ lý tưởng hơn ở đây. Cao nguyên Lâm Viên với rất nhiều thú vị cho những chàng trai đi tìm vợ.
Có những cô gái làm bạn ngỡ ngàng về nhan sắc cũng như về phong cách. Bạn ngơ ngẩn bám theo và rồi hiểu ra đó là một cô gái Jarai lai Pháp từ cái thời ông cố nội nào đó. Bạn cũng có thể gặp những cô gái da trắng tóc vàng, mắt xanh và mũi cao như Tây. Nhưng kìa, cô ấy nhu mì và có vẻ như không văn minh hơn những người Kinh. Họ là những người dân tộc Thái gốc Indian.
Tôi khuyên bạn là nếu quen những cô gái ấy, đã yêu thương thì phải cưới, nếu không thì rất là phiền phức đấy ! Làm quen với họ không khó nếu biết cách (vì họ có vẻ hơi cô lập).
Mách bạn nhé : Bạn để ý con đường đi làm của nàng… có thể là ở đâu đó hay ở nương rẫy… và chờ ở đoạn suối trên đường đi… Các nàng này rất thích tắm suối và khoe thân thể kiều diễm của mình… Bạn cứ việc ngắm và thích ai thì cứ để bụng, thò đầu ra lúc này mất mạng không ai thương đâu… Sau đó thì tìm cách gặp nàng và nói là đang tương tư nàng từ cái hôm ấy… Thành công hay không còn tùy cái bản mặt của bạn !
 
Tình gái Trung
 
Dị kể chi Răng làm rứa Người chi mô Nhột thấy mồ Anh bên nớ Tui bên ni Răng cớ gì Ưa lấn đất Đừng lật đật Mạ ra chừ Mang tiếng hư Nói nhỏ nì Tối nay hỉ… 
 
 Em nhớ giữ tính tình người Trung nhé 
Nhớ hững hờ nhưng tranh đấu nội tâm
Nhớ vui tươi nhưng đau khổ âm thầm
Nhớ kín đáo đoan trang mà lãng mạn…

CON GÁI NAM

Những cô gái miền Nam thực sự rất thoải mái mỗi khi tiếp xúc với họ… Cái chất đơn giản mộc mạc của họ là cái nét làm cho mọi người dễ gần.
Giọng nói của người miền Nam trong sáng như tâm hồn họ vậy.
Nếu nói là những cô gái miền Nam không có chiều sâu tâm hồn cũng có phần nào đúng, bởi nếu họ cũng sâu lắng thì lấy đâu cái nét hồn nhiên trong sáng kia chứ. Đó là cái đặc tính được thiên nhiên ưu đãi cho những con người sống trên vùng đất phù sa màu mỡ.
Chinh phục một cô gái miền Nam không khó. Họ dễ tin, không tính toán quá xa xôi… Cũng vì thế giữ được một cô gái miền Nam trong vòng tay của mình lại đâm ra khó… vì ai họ cũng tin cả…Ta có thể thấy số phụ nữ miền Nam thôi chồng, tái hôn rất nhiều là vì các ông chồng không có đủ bản lĩnh để giữ họ.
Tâm hồn của họ gần như là người phương Tây. Khi mà bạn không còn là niềm tin của họ nữa thì họ cũng chẳng lưu luyến bạn làm gì cho mệt xác.
Nói như thế không có nghĩa là nói họ không chung thủy hay hời hợt trong tình cảm.
Do sự ưu đãi về phong thổ và tập tục, họ là những người thực dụng.
Tình yêu của họ luôn có giá trị của bạn kèm theo. Họ là những bông hoa giữa trời, giữa đời… Nở rộ một thời xuân sắc và rất nhiều nỗi buồn khi đã tàn hương… Không nhiều người biết lo cho cái tuổi về chiều của mình… Họ sống tưng bừng một thời và chấp nhận những hẩm hiu trong buổi chiều cuộc đời.
Đó là tình trạng đang có nhiều ở các bậc tiền bối của các cô gái miền Nam. Họ là những người rất đáng thương.
 
Lấy một cô gái miền Nam ? Bạn có thể mà.
Đó là một bông hoa, một con bướm tung tăng bên bạn. Sống rất nhiệt tình với bạn. Sự đòi hỏi của họ cũng không cao. Vấn đề là bạn cũng đừng quá tệ.
Về phong tục tất nhiên là dễ dàng hơn mọi vùng miền : thương nhau một bữa cơm đơn giản cũng thành vợ thành chồng.
Lấy một cô gái miền Nam làm vợ ?
Bạn hãy nên nếu bạn có một mức sống tương đối. Bạn ít khi phải đau đầu về họ và đó là một trong những bí quyết sống thọ. Nhưng đừng nghĩ tất cả họ là như thế nhé. Guốc dép sẽ bay vèo vèo khi mà bạn nhìn không kỹ và nghĩ ai cũng thế.
Ở miền Nam con gái Sài Gòn là một đặc trưng. Họ không khác nhiều với những vùng phụ cận, có chăng là lịch lãm hơn và đương nhiên cái nhìn cũng cao hơn. Ngày nay sự pha trộn của nông thôn vào Sài Gòn cũng làm bão hòa cái đặc tính của con gái Sài Gòn. Đó là dưới cái nhìn tổng quát về con gái Sài Gòn.
Nhưng tinh ý một chút bạn vẫn có thể nhìn ra ,phân biệt được con gái Sài Gòn và những cô gái nhập cư.
Có ba dạng nhập cư:
1- Những cô gái từ các tỉnh thành tới Sài Gòn để làm ăn sinh sống.
2- Những cô gái theo gia đình nhập cư và định cư tại Sài Gòn.
3- Những cô gái mà cha mẹ nhập cư vào Sài Gòn và được sinh ra ở Sài Gòn.
Trong thành phần thứ 3 này có cô thì đúng là sinh trưởng theo môi trường và thành dân đô thị chính hiệu. Có cô thì vẫn giữ nề nếp của gia đình như ngày ở tỉnh thành.
Tôi gặp nhiều bạn người Bắc vẫn còn giữ nguyên nể nếp từ lời ăn tiếng nói, cách sống y như những người ở quê nhà dù ông nội là người di cư vào Nam từ năm 1954.
Sài Gòn với tất cả những cái phức tạp của một thành phố lớn nhất Việt Nam cho một cái nhìn đa dạng về con người. Có thể nói ở đây có tất cả mọi đẳng cấp – bạn thích đẳng cấp nào cũng có… Không ở đâu kiếm vợ dễ hơn ở Sài Gòn. Và cũng không ở đâu nuôi vợ khó như ở Sài Gòn. Vì mảnh đất này cái gì cũng phải trả tiền.
Bạn phải có công ăn việc làm, thu nhập ổn định thì mới nên nghĩ tới việc lấy một cô vợ ở đây. Không thể không nói đến những người đẹp Bình Dương và Tây Đô (Cần Thơ) – hai vùng đất sản sinh ra những người đẹp nổi tiếng của miền Nam. Họ là những bông hoa đáng yêu và bạn dễ dàng chết ngất khi gần họ.
Và muốn gần họ, thân cận với họ ? Nói nhỏ cho bạn biết nhé : Bạn phải biết nghe cải lương !
 
Tình gái Nam
Ý chèng ui / Hổng được đâu / Cái mặt ngầu / Tui ớn lạnh / Ngồi bên cạnh / Rục rịch hoài / Lỡ gặp ai / Kỳ qúa hà / Thôi dzô trỏng / Cho thỏa lòng / Đồ qủy sứ / Để từ từ / Nè cha nội… 
 
Em nhớ giữ tánh tình người Nam nhé
Nhớ lanh chanh nhưng rất thiệt thà
Nhớ nhiều lời nhưng không biết điêu ngoa
Nhớ đanh đá, kiêu căng mà tốt bụng.
 (theo Ngọc Linh)
 
Gái miền nam nó yêu mình, mình là ông chủ. Đúng kiểu xuất giá tòng phu. Mình đi làm vất vả về muộn, say xỉn, nó chạy ra ngọt ngào: anh đi làm về có mệt không. Anh ăn gì, uống gì.
Gái bắc, nó yêu mình, nó sở hữu mình luôn. Đi làm về muộn 15 phút, mặt nó như cái mâm.Gái nam mình xỉn, nó chăm mình nôn mửa các kiểu
Gái bắc mình xỉn, nó gọi đt cho bạn mình để kiểm tra đi đâu, mình xỉn, nôn mửa, thì kệ mình.Gái nam nó không đòi hỏi nhiều trách nhiệm. Yêu và cưới tự nhiên như không.
Con gái bắc, mình cầm tay nó là nó coi như mình có trách nhiệm với nó cả đời. Thế mới tệ chứ.Gái miền nam gần như không có khái niệm bình đẳng giới.
Gái bắc thì lại bình đẳng quá. Nhiều khi không biết ai là tướng trong gia đình.Gái bắc mà có chồng tòng teng, nó cắt … luôn. Cắt xong rồi ngồi khóc hu hu.
Gái nam mà có chồng tòng teng. Nó đến phang con kia bét nhè luôn. Xong về nhà vẫn thờ chồng như một, chả vấn đề gì.Gái bắc mà ko hài lòng về chồng, ví dụ chồng lăng nhăng. Đến cơ quan kể um với chị em đồng nghiệp. Chị em xúm lại “Bỏ mẹ nó đi, cần đ’o gì”. Bình đẳng giới mà
Gái nam thì không có khái niệm không hài lòng về chồng.Nhưng gái nam, nó là bồ mình, nó là vợ mình, mình phải lo cho nó đến tận  răng. Tức là mình làm ăn ngày càng phải tấn tới. Mình sa cơ lỡ vận, nó chạy luôn.
Gái bắc, mình sa cơ, nó đi bán rau, bán cháo để nuôi mình
———————–“- Gái Bắc cần kiệm, biết lo xa nhưng ….. dữ , hở chút là ….cắt ….cắt .
– Gái Nam rộng rãi, không biết lo liệu chu đáo như gái Bắc, bù lại tánh nết hiền lành, chồng có bồ nhí thì đi “woánh” con nhỏ kia rồi rước chồng về .”
“Vậy gái ngon nhất là gái Bắc “lai” .
– Sinh ra ở miền Bắc nhưng học hành, sinh sống và trưởng thành trong Nam . (được dân Nam “cải tạo” rồi)
– Cha mẹ người Bắc nhưng sinh và lớn lên tại miền Nam . (dân 54, nhóm này “sáng giá” nhất)
– Có cha bắc, mẹ Nam hay ngược lại . (có di truyền sinh học “chất miền Nam”)
– Gốc Bắc nhưng đã du học hay đã từng sinh sống ở ngoại quốc . ( tiếp nhận được đời sống văn minh, phóng khoáng thay đổi được nhiều định kiến về quan hệ gia đình cổ ưa cũ rích)
 
Người ta bảo “Ăn cơm Tây, lấy vợ Nhật…” Người phụ nữ Nhật nổi tiếng bởi sự gia giáo, khéo léo, nữ công gia chánh giỏi giang và rất mực chiều chồng. Quả là người vợ lý tưởng cho các quý ông. Còn trong nước thì sao? Lấy vợ con gái vùng nào thì tốt nhất?Người ta bảo “Ăn Bắc, mặc Nam” hay có nhiều biến thể khác cũng tựa tựa như nhau. Câu này được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Một cách giải thích ngắn gọn mà nhiều người hay nghĩ đến đó là: người Bắc thì ăn ngon hơn, còn người Nam thì mặc đẹp hơn. Còn cách giải thích khác nữa là, người Bắc khéo hơn, kỹ hơn trong chuyện ăn uống, kén món ăn, cách chọn món ăn và cách chế biến, còn người Nam xuề xòa hơn, đơn giản hơn, ví như chỉ cần bắt được con cá quả, xọc cây tre vào giữa, cắm ngược xuống đất, phủ rơm nước xung quanh là được bữa nhậu say, món gà ăn mày đắp bùn, vịt nước đất sét… cũng tựa tựa như thế. Điển hình nhất trong so sánh là chuyện ăn uống vào dịp lễ Tết, người Bắc cầu kỳ và coi trọng hơn, giết lợn, mổ bò. Dân Nam khách đến nhà bắt con vịt bẻ cổ một cái là được nhiều món ngon.”Mặc Nam” là ý nói miền Nam ăn mặc sơ sài hơn, không cầu kỳ, hình thức như người miền Bắc. Bởi một lẽ đất Kinh Bắc định hình từ ngàn xưa, văn hoá và lễ nghi truyền thống chặt chẽ hơn, trong khi miền Nam là vùng đất mới, dân nhập cư từ khắp tứ phương.
“Ăn Bắc mặc Nam” một phần nào đó có cái lý riêng của nó. Tất nhiên câu nói đó chỉ đúng với một thời điểm lịch sử cụ thể nào đó thôi. Cuộc sống hiện đại mọi thứ đều thay đổi và hòa lẫn vào nhau.
Người ta nói về miền bắc, nói về miền Nam, còn miền Trung thì sao? Ngày xưa ông bà ta nói câu đó, chỉ mới nói đến hai đầu của đất nước, còn khúc giữa thì bỏ quên. Mà cũng không phải bỏ quên, mà ông bà ta có lẽ để dành cái phần thiêng liêng nhất, đẹp đẽ nhất để nói về miền Trung – Người phụ nữ!
Miền Trung ở đây có hai cách hiểu: miền trung theo cách hiểu địa lý và miền Trung theo cách nhìn của văn hoá. Miền Trung gồm Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ, chạy dài từ Thanh hoá vào Bình Thuận. Bắc trung bộ gồm có: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Còn Nam Trung Bộ gồm có: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận (có thể xếp Ninh Thuận, Bình Thuận vào Đông Nam bộ).
Vùng Trung bộ mang trong mình đặc điểm văn hóa riêng, có những nét đặc sắc của nó, và có những điểm phân biệt rõ rệt so với hai vùng văn hoá lớn hai đầu là vùng văn hoá Đồng bằng Bắc bộ và Vùng văn hoá Nam bộ. Bản thân trong vùng miền trung cũng chia thành hai vùng văn hóa lớn, mang đặc điểm tương đối khác biệt là vùng Bắc Trung Bộ và vùng Nam trung Bộ. Ví dụ như những đặc sản: bánh canh, bánh bèo, bài chòi, chèo bả trạo… thì chỉ có ở vùng Nam Trung Bộ mà thôi, còn vùng Bắc Trung Bộ không có những cái này.
Và có một đặc điểm khác nữa ở vùng văn hóa Trung bộ là tính không thuần nhất. Trong một khu vực địa lý nhỏ thôi cũng có sự khác nhau một cách tương đối về các yếu tố văn hoá. Ví như vùng Nghệ An sẽ khác vùng Thanh Hoá, Quảng Ngãi sẽ vô cùng khác với Bình Định, dù vẫn nằm trong một khu vực văn hoá chung của duyên hải miền Trung. Nhỏ hơn nữa như trong một huyện thì xã này cũng khác xã kia đến lạ. Ví dụ đơn giản như bên kia con sông Lại Giang quê tôi, đi qua cái cầu bên kia là Hoài Hải và Hoài Mỹ giọng nói rất khác, cách sinh hoạt và ăn uống cũng rất khác. Điều này dễ hiểu do địa hình miền Trung bị chia cắt thành nhiều miếng nhỏ bởi những dãy nũi chạy ngang đâm ra biển hay những con sông lớn đổ ra biển đông. Ở miền Bắc văn hoá thuần nhất hơn, đây là vùng đồng bằng rộng lớn và bởi ở đây văn hoá đã được định hình trong mấy ngàn năm.
Bắc Trung Bộ là khu vực chịu ảnh hưởng của văn hóa Miền Bắc, riêng Huế mang một nét riêng, bởi một phần Huế cũng là đất cố đô và vị trí địa lý đặc biệt của nó. Sự ảnh hưởng này do sự lan truyền văn hóa từ trung tâm là kinh đô Thăng Long hay vùng Kinh Bắc nói chung. Nó giống như bạn ném viên đá xuống nước, trung tâm là Thăng Long và các sóng nước xung quanh lan truyền tới vùng này. Điều này có thể dễ nhận ra khi bây giờ những lễ Tết như bánh trôi bánh chay, Tết ông táo, Tết đoan ngọ vẫn được tổ chức trong rộng rãi trong khu Bắc Trung Bộ, giống như ở miền Bắc. Còn những lễ Tết này, trong vùng Nam Trung Bộ gần như không có. Vùng Nam Trung Bộ mang hẳn một đặc điểm văn hoá riêng, là sự pha lẫn của văn hoá duyên dải Trung bộ với văn hoá Chăm Pa và gần như thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn hóa Bắc bộ. Như vậy, cũng có lúc người ta nói tới Trung bộ là nhắc đến khu vực bắt đầu từ Huế trở vào trong.
Nhìn chung, văn hóa Trung bộ là văn hóa duyên hải. Con người nơi đây có những đặc tính riêng hẳn hai đầu đất nước. Đậm sâu nhất có lẽ là đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó và tinh thần hiếu học cao.
Không như hai miền Nam Bắc được thiên nhiên ưu đãi cho đất đai rộng lớn, đồng bằng thẳng cánh cò bay. Đất miền Trung hẹp. Núi, biển, đồng bằng xen kẽ. Đất cát hay đất cát pha là chủ yếu. Đồng bằng thì nhỏ và không màu mỡ như hai đồng bằng hai đầu đất nước. Vùng này chịu nhiều bão lũ hơn. Năm nào cũng đương đầu đón gần chục cơn bão. Rồi các đợt lũ lụt thường xuyên.
Người ta bảo giọng nói miền Trung cứng quá, cục quá. Điều này cũng đâu có sai. Nắng quá, nóng quá, gió quá, gặp nhau nói ngắn cho nhau nghe rồi còn đi. Không như ở miền Bắc làm tích chè mạn, ngồi dưới gốc đa, nhấp nháp và thả chuyện. Người miền Trung không ăn nói trau chuốt, câu cú rõ ràng như người miền Bắc, không ngọt ngào, mềm mại như người miền Nam, nhưng mà thật cái bụng lắm, chân tình lắm.
Chính sự không ưu đãi của thiên nhiên ấy mà con người miền Trung luôn mang trong mình một sức sống mãnh liệt, cần cù, chịu khó, lam lũ, tiết kiệm để chống chọi lại cái khó khăn, vất vả của cuộc sống thường ngày. Cái gió mặn của biển, cái gió cát của miền Trung cộng với cái nắng chang chang làm cho con gái miền Trung có làn da ngâm ngâm, nước da đẹp khỏe mạnh, hiền hòa và mộc mạc đến lạ. Nhưng đúng là nhầm tưởng nếu người nào đó nghĩ rằng tất cả con gái miền Trung nước da đều ngâm ngâm đen. Đi dọc miền Trung có nhiều vùng con gái nước da rất trắng và rất đẹp như con gái vùng Nghệ An, một phần vùng Thanh Hoá, Huế… hay gần nhất như con gái Hoài Hương gần nhà mình. Trong khi đó đi dịch lên một tí vùng Hoài Thanh hay Hoài Hải, con gái vùng này da đen hơn rất nhiều.
Vì cuộc sống nơi đây vất vả và lam lũ như thế, nên người phụ nữ miền Trung cũng mang trong mình những đặc điểm cần cù, chịu khó của con người nơi đây. Con gái miền Trung chung thủy. Điều này hoàn toàn đúng. Bạn sẽ không phải lo lắng về điều này. Họ không như con gái miền Tây Nam bộ, khi có tiền họ sẽ ở bên cạnh họ, còn khi bạn sa cơ lỡ bước, hiếm người nào theo bạn đến cùng.
Nhưng con gái miền Trung thì khác. Họ sẽ cùng bạn gánh vác cái gian khổ. Họ có thể đi bán vé số, gánh từng gánh bánh canh, gánh cháo hay gánh rau đi bán để cùng với bạn. Điều này chắc chắn không có ở con gái miền Tây Nam bộ. Ví dụ thực tế, bạn có thể đi dọc các tuyến đường tấp nập hay vắng vẻ của thành phố Hồ Chí Minh, có rất nhiều người từ các tỉnh Bình Định, Quảng Nam, Quãng Ngãi đi bán vé số, đi bán hủ tiếu, bán bánh bao, bánh mỳ… Họ cần cù lao động, tích từng ít một để nuôi chồng nuôi con. Họ không bán thân làm gái nhiều, hay đi lấy chồng Tây nhiều như gái Miền Tây Nam bộ.
Người phụ nữ miền Trung có thể ví như hoa rau muống biển vậy. Chống chọi với nắng gió, khô cằn và mặn chát của biển khơi, không thực sự sắc màu lộng lẫy, không rực rỡ và kiêu sa, nhưng rất mặn mà, đằm thắm; một chút chân chất, quê quê, nhưng ngọt ngào và thủy chung quá đỗi. Tình yêu không sôi động, không vồn vã, không tưng bừng rộn ràng, nhưng sâu lắng.
Con gái miền Trung chẳng cần đòi hỏi gì nhiều ở người chồng, chẳng cần nhiều tiền hay nhà cao cửa rộng, chẳng cần gì vật chất cao sang. Nhưng họ lại đặt niềm tin và hy vọng vào người chồng rất nhiều. Đối với họ, đó là một thế giới niềm tin lớn nhất.
Nhưng các anh cũng cẩn thận, đừng đùa với lòng chung thủy của họ. Nhất là con gái Bình Định “múa roi dạy chồng”.
 
Còn về gái Tây Nguyên
Do hiểu biết hạn hẹp nên tôi chỉ đưa ra một số điều cơ bản về con gái Tây Nguyên mà tôi biết được.
Ở đây tôi chia làm 2 dạng. Thứ nhất là con gái ở Đắc Lắc, Gia Lai… ở đây đa phần là người các vùng khác đến nhiều chứ dân gốc thì tôi cũng chưa gặp được mấy người nên cũng chưa biết thế nào. Đa phần con gái ở đây rất thoải mái, “chơi tẹt” (chắc tại bạn tôi toàn con đại gia cafe, cao su với hồ tiêu thoải mái thế :)) ). Đa số tôi gặp thì các em ham chơi lắm, rồi cái miệng nói suốt nữa mà hay nữa là cái giọng em nào cũng na ná nhau, nhiều khi nghe điện thoại tôi chẳng phân biệt được em nào với em nào. Điểm cộng cho các em là được cái thật thà, không lắm chiêu trò, tiếp xúc có cảm giác dễ gần các em do tính cách thoải mái không tính toán đó.
Dạng thứ 2 thì nói thật là tôi cũng chỉ mới biết được vài người đếm trên đầu ngón tay. Đây là con gái ở khu vực Lâm Đồng được cái các em ở đây trắng trẻo, nhiều em xinh :”>( gặp được vài em nhưng mà đa số là vậy), nhưng mà nói thật là tôi chơi lại toàn với bọn con trai ở vùng này là nhiều nên chỉ đánh giá được có thế. Bác nào có nhiều kinh nghiệm thì chia sẻ cho anh em ít kinh nghiệm đi, cái gì tôibiết thì nói thôi chứ không phán bừa được.
 
Bài viết trên đây chỉ để tham khảo, mang tính chất chủ quan. Các bác nghiên cứu rồi tự có quyết định nha, đừng đổ thừa tại tôi đấy. Bài viết này chỉ là sưu tầm trên mạng thôi. Nhưng với tôi thì bài viết này đã đúng tới 70%, tuy chưa phải là người có tuổi, nhiều kinh nghiệm nhưng cũng là do gia đình tôi ở một Khu Công Nghiệp nên tôi cũng được tiếp xúc với khá nhiều người. Tuy nó không phải là đúng với tất cả mọi người nhưng đây cũng là điều nên xem.  Còn muốn chi tiết hơn thì các bác dẫn tôi đi một chầu cafe, hay kèo nhậu với hơn 22 năm trời kinh nghiệm tôi sẽ phân tích và nhận định cho các bác hết mình  .
 
   Tôn Nữ Tâm Mai sưu tầm và tổng hợp   
Xem thêm...
Theo dõi RSS này