Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1298)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (64)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (355)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

CHÙM HOA TÍM

CHÙM HOA TÍM

 Truyện ngắn của Nguyễn Minh Phúc

Mãi đến sau nầy, khi tất cả qua đi và tôi bình tâm lại thì mọi chuyện đã chấm dứt. Cái ga xép cạnh thị trấn heo hút hàng ngày xì xịch đoàn tàu tỏa khói đen ngòm đã thay bằng nhiều ngôi nhà lầu hai tầng khang trang, rọi mấy ô cửa kính màu trà từ xa đã nhìn thấy.

Những cây hoa dại màu tím sẩm rải rác mọc từng chùm theo lối đi dọc đường ray. Không biết tên nó là gì, làm sao chúng có thể sống và nở hoa được dưới ánh nắng gắt mùa hè đầy bụi bặm ở đây. Mùi ngai ngái khó chịu ở sân ga thường giống nhau xộc vào mũi làm tôi thoáng rùng mình, chỉ muốn thoát khỏi không gian ngột ngạt của buổi trưa cháy nắng không cơn gió thổi qua…
 

***

… Lần đầu tôi đến thị trấn nhỏ nầy khi tốt nghiệp xong khóa sư phạm ngắn ngày mà người ta bắt học chỉ mấy tháng. Mớ kiến thức chấp vá như bọt xà phòng nên tôi chỉ nhận dạy các lớp tiểu học mà đám trò lớn tồng ngồng gần như thầy giáo.

Mười đồng nghiệp trạc tuổi tôi suốt ngày quẩn quanh trong mấy lán trại lơ thơ, nhếch nhác như đám học trò ham đi rẫy và uống rượu hơn là đi học. Không hiểu sao tôi lại trụ đây được gần ba năm mặc dù đến cuối khóa, đếm đi đếm lại chỉ còn non nửa giáo viên ở lại trường.

Trong các cô giáo đồng nghiệp, tôi thân với Thơ. Cô ở gần nhà và chung khóa ra trường trở về đây dạy học một lúc với tôi. Thơ không đẹp nhưng có duyên, nhất là giọng nói có sức cuốn hút kỳ lạ. Mái tóc cô cắt ngắn tôn lên vầng trán thông minh nhưng bướng bỉnh, miệng cười tươi tắn, ánh mắt luôn nhìn thẳng người đối diện.

Những ngày nghỉ dạy, phần vì buồn, phần không làm gì, tôi thường rủ cô lang thang ra thị trấn cách vài cây số. Chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng, quẩn quanh ở mấy quán nước, ghé vào chợ chỉ nhóm vài tiếng đồng hồ buổi sáng và sau cùng là đến ga xép, chờ con tàu từ xa lừng lững về ga cùng bánh xe nghiến trên đường ray và tiếng còi tàu kéo lên hồi dài trước khi dừng lại. Không biết tôi đợi gì ở con tàu kia nhưng cứ hướng mắt vào những người xuống sân ga. Thơ cũng vậy. Hình như trong chúng tôi ai cũng có niềm riêng nào đó chỉ mình hiểu.

Chúng tôi ngồi ở ghế phòng chờ, mắt đuổi theo những người khách. Chuyến tàu chỉ dừng lại ga một lát, lơ thơ vài người lên xuống rồi nhanh chóng rời bến, bỏ lại sân ga chúng tôi cùng những người bán rong. Nắng chang chang hắt vào mặt, trên các quầy vé và trần nhà đầy bụi bám.

Chúng tôi im lặng hồi lâu, không ai nói với ai câu gì. Chỉ sau khi con tàu nặng nề phun một làn khói trắng từ đầu toa và từ từ chuyển bánh rời ga, tôi nhìn sang Thơ, bất giác thấy mắt cô nhòa lệ. Còn tôi.. Một cõi lòng trống rỗng, nặng nề, tựa như hy vọng nào đó bị đánh rơi, cố dấu tiếng thở dài thất vọng và cuối cùng hai đứa đứng lên lầm lũi đạp xe về.

Thật ra, Thơ với tôi chỉ là bạn, một tình bạn đúng nghĩa. Cô ấy đã có người yêu. Ba năm trời dạy chung trường, tôi biết cô đang chờ Thiệp. Mối tình với Thiệp nghe đâu nhiều bất trắc nhưng cuối cùng, cô vượt qua được. Thiệp đang chờ làm xong thủ tục ly dị người vợ cũ sống không hạnh phúc và hứa ngày nào sẽ đến với cô. Có lẽ, cô chờ những chuyến tàu là vậy. Không biết ngày nào nhưng cô chắc chắn anh ấy sẽ đến.

Tình yêu làm cho người ta vững tin, chờ đợi, thiết tha hy vọng dù có thể dau khổ, mỏi mòn. Tôi biết điều nầy vì trong mắt Thơ, Thiệp là người duy nhất không ai thay thế. Tình yêu là điều mà không phải ai cũng giải thích được. Tại sao người nầy chứ không phải người khác trong tim Thơ. Tôi chịu…

Càng ngày, hình như tôi càng nghĩ nhiều về Thơ. Chúng tôi gập nhau thường xuyên, khi thì ở lớp, khi họp hội đồng và những ngày nghỉ đèo nhau ra thị trấn đợi tàu về. Có ai đó trong trường nói về mối quan hệ này. Tôi bối rối nhưng Thơ tỉnh bơ, xem như không chuyện gì xảy ra. Có lần tôi hỏi Thơ.

-Anh nghe người ta đồn đại về chúng ta? Em ngại không?

- Kệ người ta, mình là bạn đâu phải gì phải sợ, phải phân bua! Hay anh sợ? Thơ ngoặc lại.

Tôi cố dấu tiếng thở dài:

-Không! Nhưng dẫu sao… mình… không nên ra thị trấn nữa… Ở đó… đám học trò của anh… hay chĩa mũi vào chuyện của người khác…

-Tùy anh. Thơ nhìn tôi, mắt ánh lên vẻ coi thường. Khi nào Thiệp đến, em sẽ giới thiệu cho anh biết người em yêu. Anh ấy không nhút nhát như anh…

Tôi nghe lòng đau nhói và hỗ thẹn nhưng làm như không chuyện gì xảy ra. Trong mắt Thơ, tôi là người bạn yểu điệu thậm chí yếu ớt. Nhưng biết làm gì hơn khi tôi không có sự can đảm, mạnh mẽ như Thơ muốn. Ngay từ nhỏ tôi đã rụt rè, do dự về mọi thứ. Chắc đó là nhược điểm của một thằng đàn ông, tôi biết nhưng không khác được vì tính tôi vốn thế. Tình cảm tôi với Thơ cũng vậy. Yêu cô ấy nhưng không hề dám mở miệng.

Từ ngày không còn đèo cô ra thị trấn để đón những chuyến tàu, tôi như đánh mất thứ gì, hụt hẫng, trống vắng, tựa như đã lầm lẫn và ân hận về những gì đã nói với cô. Ngày nghỉ dài lê thê. Tôi nằm thượt trong phòng, buổi cơm cũng không buồn ăn, thơ thẩn trong cảm giác vừa cay đắng vừa tiếc nuối.

Thời gian trôi đi, chậm và buồn trong thị trấn heo hút, ngôi trường nhếch nhác, học sinh đi học ngày càng ít. Hình như chẳng ai quan tâm đến chúng tôi. Với lại, trường vắng tênh, lèo tèo dăm bảy chục học sinh thì có gì đặc biệt. Thi thoảng, tôi vẫn vào thị trấn nhưng một mình.

Sân ga vắng vẻ chỉ nhốn nháo một chút khi con tàu dừng lại rồi trở về với cơn ngái ngủ thường lệ. Những chùm hoa vẫn nở tím ngắt như run lên mỗi lần bánh xe sắt chạy qua tạo thành đợt sóng, lấp loáng nắng trưa trên sân ga buồn man mác.

Có hôm tôi đến sân ga từ rất sớm. Khi con tàu nặng nề chuyển bánh, một cô gái từ phòng đợi bước ra và tôi nhận ra ngay là Thơ. Cô đang lấy khăn tay chầm chập lau nước mắt và nhìn quanh quất. Tôi muốn chạy lại nói điều gì đó nhưng hai chân nặng như chì và cuối cùng, hình như có gì ngăn lại, tôi quyết định không gập cô lần nữa, lên xe đi thẳng. Tối ấy, tôi uống rượu say mèm. Trước mặt, chập chờn trong ánh sáng của cây đèn cầy cháy dở, tôi thấy cô đứng trước mặt đôi mắt buồn đẫm nước.

Thiệp cuối cùng rồi cũng tới trong chuyến tàu tôi không hề mong đợi. Anh chàng trông vẻ bề ngoài cao lớn, miệng rộng, khá hoạt bát, nghe nói làm chức gì đó bên xuất khẩu, kiếm được khá nhiều tiền. Tạng đàn ông như vậy nhiều cô mê là phải. Tôi mừng thầm cho Thơ, cố dấu nỗi thất vọng riêng mình.

Từ ngày có Thiệp, Thơ vui hẳn, gương mặt lúc nào cũng đẹp ra. Cô và Thiệp ở hẳn trong khu nhà tập thể. Họ như đôi chim cu, lúc nào cũng quấn quýt, say đắm bên nhau. Hạnh phúc của người nầy đôi khi lai là nỗi buồn của người kia, tôi trong tâm trạng ấy. Thôi thì mình chấp nhận, tôi tự an ủi và làm vui khi họ đến nhà hoặc thi thoảng gập hai người sánh vai đi đâu đó,

Cuộc sống cứ trôi đơn điệu và buồn tẻ. Những ngày nghỉ, chỉ một mình, tôi ra ga mà không biết làm gì. Tôi có hẹn đưa đón ai đâu, thơ thẩn đi trên con đường ray sau khi tàu chạy, nhìn những cây hoa dại mọc trên những lối đi.

Những bông hoa nở tím thẩm từng chùm, mọc hai bên đường ray như cố vươn ra, quấn vào tôi theo mỗi bước chân. Thỉnh thoảng tôi cúi xuống, hái một vài bông, vò nát ra. Chúng có mùi ngai ngái, cay xè hắt vào mặt mũi làm nước mắt tôi ưá ra. Tôi buồn và nhớ Thơ.

Ở ga xép nầy, không biết bao lần, tôi và em ngồi đây đợi chuyến tàu về, cùng lang thang trên con đường ray, hái những chùm hoa dại. Giữa nắng rát và bụi mịt mờ, không hiểu sao chúng vẫn nở hoa, bướng bỉnh lê dài cành ra dù mỏng manh, yếu ớt. Tôi tự hỏi mà không thể trả lời. Giá mà có Thơ ở đây. Cô ấy biết nhiều chuyện, thế nào cũng tìm cách giải thích cho tôi. Lúc nầy, với tôi, em cần thiết biết chừng nào.

Ít lâu sau khi chung sống với nhau, khu tập thể thường nghe tiếng cãi vã, tiếng mắng mỏ và tiếng vỡ rổn rảng vang từ phòng Thơ ngày càng nhiều. Hình như cô và Thiệp có chuyện. Có hôm họp hội đồng, tôi thấy mặt Thơ đậm vết bầm, mắt cô hoe đỏ. Nhiều lời bình phẩm đoán già đoán non từ đám giáo viên chúng tôi nhưng không ai biết chuyện gì. Một hôm, sau cuộc họp, Thơ kêu tôi ra nói nhỏ:

-Lát nữa em muốn gặp anh! Về chỗ anh nhé!

-Ừ! Cũng được… Tôi đồng ý, trong thâm tâm cũng rất muốn gặp cô.

Chúng tôi ngồi cạnh nhau trong phòng tôi. Thơ nói trong tiếng khóc:

-Em khổ lắm, anh ơi! Chưa bao giờ em tuyệt vọng bằng lúc nầy…

-Em cứ kể anh nghe… Tôi bùi ngùi nói. Dù sao em cũng nhẹ bớt khi tâm sự với bạn bè…

Như không còn chịu nổi sự nín nhịn lâu ngày, Thơ gục đầu vào vai tôi nức nở:

-Anh Thiệp… Anh ấy… Thực ra, Anh ấy không hề yêu em…

-Có chuyện ấy sao? Không phải đâu. Một người từ thành phố thôi vợ, bỏ tất cả công việc về đây với em, sao laị có chuyện ấy được. Nhưng sao em lại nói thế, anh không tin. Tôi nói và ngồi thừ ra.

Thơ nhìn tôi, cái nhìn của ngày chúng tôi còn thân nhau, thường đèo nhau ra ga đón tàu vào những hôm nghỉ dạy, ám ảnh tôi nhiều đêm không ngủ. Cô nói trong những giọt nước mắt đọng lại quanh mi:

-Em biết diều ấy. Trái tim em mách bảo em biết rõ về Thiệp. Hình như tính tình, cách sống em không hợp với Thiệp thì đúng hơn. Em đã cố chịu đựng nhưng rồi không thể. Chúng em lúc nào cũng xào xáo. Thiệp bắt em phải nghỉ dạy, về thành phố với anh ấy… Mà em lại thích ở đây. Không ai có thể bắt em rời bỏ nơi nầy được.

Tôi thật sự không biết nói gì để an ủi Thơ. Tốt hơn hết, với cô gái bướng bỉnh và đầy cá tính nầy thì nên im lặng vì trước sau gì, cô ấy cũng tìm cách giải quyết chóng vánh những vướng mắc. Theo tôi, cuộc hôn nhân của Thiệp và cô ấy xuất phát từ tình yêu, chắc sau những sóng gió tạm thời, mọi việc sẽ đâu vào đấy.

Nghĩ vậy nhưng không phải. Mỗi ngày qua, mâu thuẫn giữa họ càng gay gắt. Tôi biết được điều nầy vì mỗi lần xảy ra chuyện, Thơ đều kể tôi nghe. Phụ nữ họ có cách nói chuyện sao đó mà ta không dứt ra được. Ngồi nghe Thơ tâm sự hàng giờ những điều không liên quan gì đến mình để cuối cùng, trước khi chi tay, tôi đành xuôi tay buông tiếng thở dài bất lực.

Họ chia tay đột ngột như lúc nồng nàn chờ đợi nhau theo những chuyến tàu. Thiệp bỏ đi bất ngờ giống như anh đến. Người ngỡ ngàng nhất không phải Thơ mà là tôi. Tình yêu sao lại dễ cắt đứt nhanh chóng và đột ngột như vậy? Họa có Thơ điên. Sống với một anh tráng điển trai, có sự nghiệp, tương lai như vậy mà đùng một cái lại chia tay, quả tôi không hiểu.

Kể từ ngày Thiệp đi, Thơ thường hay lại chỗ tôi chơi, không nói gì chuyện cũ. Cô muốn quên Thiệp và cuộc tình nông nổi kia. Chúng tôi lại cùng đèo nhau ra thị trấn và vào ga vào những ngày nghỉ. Bên Thơ, tôi như tìm lại được niềm vui, hạnh phúc mà có lúc tưởng mất đi mãi mãi.

Chúng tôi lần theo đường ray nóng bỏng giữa nắng trưa đầy bụi mù, hái những chùm hoa tím đầy dưới chân và tranh nhau xem ai hái nhiều hơn. Chúng tôi đuổi bắt, chạy nhảy và tung lên trời những chùm hoa, chán chê nô đùa và sau cùng vào quán quen uống nước rồi đèo nhau về. Không biết Thơ nghĩ gì nhưng ánh mắt cô lấp lánh, đôi má hồng đỏ và nụ cười tươi tắn.

Có hôm tôi và Thơ còn đi xa hơn. Sau cái nhà kho vắng tênh của sân ga, tôi ôm cô, đắm đuối trên miệng, trên môi. Thơ ngã người vào tôi, nhắm mắt lại trao những chiếc hôn nóng bỏng. Chiếc áo cô mặc trễ xuống đủ cho tôi thấy làn da trắng mịn, nõn nà hiện ra trên bờ ngực mẩy.

Tôi dúi mặt vào đó, say đắm hít hà. Mùi vị nồng nàn của da thit và hương thơm quyến rũ từ người Thơ làm tôi ngây ngất. Tình yêu diệu kỳ, thơ mộng quá. Tôi như bay lên cùng hạnh phúc của mình. Trước mặt tôi ánh nắng nhún nhảy trên sân ga và những chùm hoa tím dường như rực rỡ hơn trên đường ray dài tít tắp.

Tôi và Thơ yêu nhau được một năm và vẫn thường ra ga vào những ngày nghỉ. Sân ga buồn tênh, ngột ngạt trong nắng trưa khi đoàn tàu đi ngang qua tỏa khói mịt mù. Những cánh hoa tím dại vẫn mọc cạnh đường ray ngày càng nhiều. Chúng vẫn sống mặc nắng rát và gió bụi.

Nhưng mối tình tôi thì không. Thơ chỉ xem tôi như một điều gì đó lấp khoảng trống tuyệt vọng mình khi tình yêu đổ vỡ. Chỉ thời gian sau, Thiệp xuất hiện trở lại và họ làm lành với nhau. Thơ đồng ý theo anh về thành phố. Tôi như người bị đánh cắp tình yêu (hay tôi lấy cắp tình yêu của họ ) hụt hẫng, chán chường. Ngày Thơ đi, tôi tiễn cô ra ga. Chúng tôi hầu như không nói gì. Lúc tàu sắp chạy, tôi chỉ nói với cô một câu:

-Dù thế nào, anh cũng không quên sân ga buồn tẻ nầy. Cả em nữa… Thơ ơi…

Đôi mắt cô đẫm nước nhưng gương mặt thì hân hoan. Có trời mà hiểu phụ nữ. Tình yêu làm họ đau xót, ngậm ngùi nhưng nhanh chóng phôi pha khi lấy chồng. Hay họ giấu đâu đó trong cõi lòng ngàn ngăn kéo khép mở, làm sao biết được.

Tôi đứng chôn chân trên sân ga khi con tàu mang Thơ đi chỉ còn một chấm đen nhỏ xíu. Và về ngang qua đường ray. Những bông hoa tím vươn dài theo bước chân. Tôi cúi xuống hái, vò nát trong lòng bàn tay. Ôi, những bông hoa thời yêu nhau say đắm của chúng tôi. Kỷ niệm đâu đó ùa về. Chiếc tàu mang tình yêu đi mãi, chỉ còn tôi trên sân ga và những chùm hoa tím buồn tênh.

Tôi rời trường mấy năm sau đó. Công việc ở nơi làm mới cuốn tôi ngày này đến ngày khác, thị trấn bé nhỏ và sân ga buồn tênh năm xưa lãng quên dần trong trí nhớ. Thơ giờ đang sống bên chồng hạnh phúc ở thành phố, sát chỗ làm của tôi.

Thỉnh thoảng tôi vẫn thường gặp họ trên đường. Cô và Thiệp đèo nhau trên chiếc xe gắn máy, mặt mày hớn hở, vui tươi. Chạnh nhớ tình yêu xa xưa và chiếc xe đạp lọc cọc ngày nào, tôi nghe lòng chùng xuống.
 

 

…Mới đây, tôi có dịp ngang qua thị trấn. Giờ nó thay đổi quá nhiều sau thời đất nước mở cửa. Nhà cao tầng, khách sạn, nhà hàng bung ra như nấm sau mưa khiến không còn nhận ra nơi cũ. Sân ga hiu hắt buồn tẻ đã dời đi và thay vào đó là những căn biệt thự mới xây nằm rải rác trên sườn đồi.

Chẳng hiểu sao những đường ray là còn nguyên vẹn nằm chỏng chơ, đứt khúc trên lối đi ghồ ghề, trơ ra những thanh tà vẹt đoạn còn đoạn mất. Tôi bùi ngùi nhìn vào sân ga. Bây giờ là chỗ người ta đang xây dựng chung cư mới.

Ánh nắng chói chang, nóng hổi tỏa xuống buổi trưa ngột ngạt đầy nắng. Tiếng động cơ, tiếng máy nổ, tiếng người hò hét vang động trên sân ga đìu hiu vắng vẻ ngày nào.

Dưới nắng trưa, những chùm hoa tím sẫm vươn theo đường ray, ánh lên sắc màu rực rỡ. Chúng vẫn nở hoa dưới cái nóng như thiêu đốt và đầy bụi mùa hè.

Không hiểu sao lòng tôi cứ bồi hồi nhớ bao kỷ niệm ngày xưa đầy ấp ứ ./.

 

Ngọc Lan st

 

Xem thêm...

TIẾNG VIỆT “Tôi yêu tiếng nước tôi”

Tiếng Việt tiếng nước tôi Là ầu ơ
Mẹ ru thuở nằm nôi
Là đồng lúa bạt ngàn sinh sôi
Là hồn thiêng sông núi ngàn năm...
Tiếng Việt...
Là bài thơ, câu ca dao tục ngữ
Là tứ thân, bà ba, áo dài
Là nét đẹp có một không hai
Tiếng Việt...
Ở quê tôi Mô - Tê - Răng - Rứa
Nơi quê anh Đâu - Kia - Sao - Vậy
Thật phong phú vùng miền quê hương
Tiếng Việt mấy ngàn năm
Thương biết mấy là hồn Việt Nam!
Còn hoài trong máu, trong tim, trong lòng!
Dù gần dù xa, Người Việt...
Sắc, sắc huyền ngang, hỏi ngã nặng
Nhẹ nhàng dịu dàng sâu lắng,
Tiếng Việt!
Hào hùng mạnh mẽ làm sao,
Hồn Việt!
Ngọt ngào thanh âm trầm bổng, tiếng nước tôi!
Tình yêu đất nước đậm sâu,
Bản sắc Người Việt ...
Kết quả hình ảnh cho Tiếng Việt Võ Hạ Trâm hd photos
 

TIẾNG VIỆT

Sáng tác : Hoài An

Ca sĩ: Võ Hạ Trâm

 
Bản đồ phân bố 3 vùng phương ngữ chính của tiếng Việt tại Việt Nam.
Bản đồ phân bố 3 vùng phương ngữ chính của tiếng Việt tại Việt Nam.

                 QUÊ NGHÈO                

Nhạc Phạm Duy Ca sĩ Thái Thanh

               Tiếng nước tôi              

Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời...
 
  Tình Ca "Tiếng Nước Tôi" ( Phạm Duy - Thái Thanh ) 
 

Suốt nửa thế kỷ sau đó, nhất là hơn hai chục năm tha hương, mỗi khi một mình với ký ức tuổi thơ, tôi lại thấy mình thầm hát “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…”.
Tiếng nước tôi
 
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…
 
Tôi đã thuộc mấy câu hát ấy từ hồi mới bốn năm tuổi, và vẫn gọi đấy là bài “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Người chị gái thân thiết nhất của tôi thường dạo bài ấy trên dương cầm, còn tôi thì cầm cuốn vở chép bài hát của chị, nhẩm hát theo. Ít lâu sau, chị được tuyển vào đoàn văn công trung ương để đánh đàn. Mấy tuần lễ chị đi Varsovie trong đoàn thanh niên sinh viên Việt Nam, cứ nhớ chị là tôi lại chui xuống gầm gầm đàn, một mình ngồi hát thầm bài ấy cho tới khi hát được từ đầu đến cuối và mong đợi chị về để khoe.
 
Ấy thế mà hôm về đến nhà, buổi tối chia quà cho các em xong, chị gọi riêng tôi mà rằng: “Em ơi, nhạc Phạm Duy bị cấm rồi, từ nay phải nhớ đừng để ai nghe thấy mình hát bài ấy nữa…”.
Hình ảnh có liên quan
Suốt nửa thế kỷ sau đó, nhất là hơn hai chục năm tha hương, mỗi khi một mình với ký ức tuổi thơ, tôi lại thấy mình thầm hát “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…”. Và cùng với bài hát ấy là tiếng đàn thăm thẳm của chị, tuổi thơ tôi trở về. Tôi như nghe thấy tiếng mẹ gọi tìm khi tôi làm vỡ quả trứng gà nhà đẻ, sợ quá nấp vào đống gỗ và kẹt ở đấy, tưởng mình sẽ chết khô không thể nào ra. Tôi như nghe thật rõ ràng tiếng cha nhẹ nhàng khuyên bảo khi dắt tôi đi dạo trên hè phố vắng lặng, long lanh những tia nắng chiếu xuyên qua vòm lá đầy tiếng ve kêu, cha bảo: “Nghĩ gì, con cứ nói cho thật đúng cái ý của mình, thì sẽ thành người tử tế…”. Nhớ nhất là tiếng cha kể chuyện ru tôi ngủ trong khoang xe nhà đi về, đậu bên gốc hai cây đa cổ thụ ngoài sân, những Sơn Tinh – Thủy Tinh, Mỵ Châu – Trọng Thủy, sự tích trầu cau…
 
Giọng cha trầm bổng về khuya hòa với tiếng mưa rơi trên mui xe, tiếng gió thổi khiến những cành la đà quệt ràn ràn vào ô cửa kính. Cho đến tận bây giờ, cha mẹ đã đi xa, mình cũng đã già, mà tôi vẫn nghe thấy giọng nói thân thương của những người thuở ấy. Tiếng của mẹ của cha. Bao nhiêu năm kiếm sống bằng tiếng ngoài, mà nhiều khi đi giữa đám “ngựa xe như nước áo quần như nêm” nơi xa xứ, tôi vẫn thấy một nỗi âm thầm thành tiếng trong lòng, rằng “tiếng người người nói, lòng mình mình nghe”.
Hình ảnh có liên quan
Rồi tình cờ tôi dịch sách, chẳng sống được bằng nghề ấy, nhưng rất ngỡ ngàng khi thấy mọi người yêu quý những câu chữ bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Và còn ngỡ ngàng hơn khi thấy mình bắt đầu để ý đến mỗi lời mình nói, viết, dịch. Tiếng nói của mình bỗng như một thực thể tồn tại bên ngoài, gần như hữu hình. Lạ nữa, là thấy những từ ngữ, con chữ từ trong lòng mình mà ra cũng sống cả trong lòng của đồng bào mình. Tự nhiên, tôi bắt đầu đọc lại Truyện Kiều và những áng văn thơ của tiền nhân với một cảm xúc khác lạ, như lúc còn bé một mình đứng trước điện thờ Phật trong chùa của bác tôi, vừa quen thuộc, vừa xa vời, mà thật yên bình, đằm thắm.
Kết quả hình ảnh cho Quê hương Việt Nam tôi  hd photos
Cách đây hai ba năm gì đó, tôi được mời đi nghe buổi hòa nhạc Những điều còn mãi, và mới biết rằng bài “Tôi yêu tiếng nước tôi” có tên thật là Tình ca. Sau hơn nửa thế kỷ, bài hát đã âm thầm sống với tôi nay lại được cất tiếng từ Nhà hát Lớn thân thuộc và xưa cũ. Tôi đã nghẹn ngào khi nghe Nguyên Thảo hát hôm đó. Có lẽ ngay lúc ấy chỉ là vì ký ức tràn về, vì giọng hát thật đẹp của cô ca sĩ người Đà Lạt, và cảm giác như được thở ra một hơi thật dài sau bao lâu nín nhịn – rằng bài hát yêu quý của tôi đã không còn bị cấm đoán nữa. Sau này, khi một mình nhớ lại những giây phút ấy, tôi mới hiểu thêm rằng sự nghẹn ngào của mình còn nhuốm màu hoài tiếc – hoài tiếc cái thế giới thơ ngây sơ khoáng, như cửa sông hoài tiếc ngọn nguồn nhỏ bé xa xôi của mình.
Chỉ có điều, tôi vẫn cứ gọi ca khúc ấy là bài “Tôi yêu tiếng nước tôi”.
Tiếng nước tôi
 
Nhưng “tiếng nước tôi” bây giờ thật khác với thời tôi còn bé. Ở mọi lĩnh vực, nó cất lên thật ào ạt, tinh xảo, pha nhiều tiếng ngoại quốc, và luôn có giọng trình diễn. Ngay cả tên người tên việc cũng ngày càng thấy chữ Tây chữ Tàu thay thế hoặc chen lẫn chữ ta. Cách nói cách viết biến đổi không ngừng và ngày càng nhanh từ khi ta nối mạng với thế giới. Những lối cười nói, than van, cạnh khóe ngày càng phong phú.
Hình ảnh có liên quan
Lối nói một đằng để ám chỉ một nẻo ngày càng uyên áo. Đến nỗi ai cũng cho việc “nói zậy mà không phải zậy” là rất đỗi bình thường. Văn chương thì chỉ cần có ai nói thật, hoặc cạnh khóe thâm hiểm là cũng thành hiện tượng, và lời khen tặng chỉ là “viết đúng quá còn gì”. Cũng nhiều người kêu gọi phải “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, mà chưa thấy có tác dụng gì. Ngay cả đến cái nền tảng để gìn giữ, nuôi dưỡng tiếng mẹ đẻ là những cuốn từ điển, mà cũng chả ra làm sao.
 
Điều gì đang xảy ra với tiếng nói của chúng ta? Tiếng nói mà ai cũng muốn tin rằng là thứ tiếng đẹp nhất, phong phú nhất, thiêng liêng với mỗi người con dân Việt. Tại sao, với bản thân tôi, tiếng mẹ đẻ trong xã hội thời nay, từ báo chí, truyền thanh, truyền hình, cho đến văn chương thơ phú, lại rất khó đi vào lòng mình một cách tự nhiên và đầy cảm xúc như tiếng mẹ đẻ thời xưa – như thứ tiếng Việt trong Nam phong tạp chí, Đường Kách mệnh?
 
Với tôi, “tiếng nước tôi”, mặc dù ngụ ở mọi phương diện ngôn ngữ học như đã nói ở trên, nhưng tính chất của nó, gốc của mọi phương diện kia, là ở cái vẫn được gọi là “linh hồn”. Tiếng Việt là âm thanh diễn đạt của hồn Việt. Linh hồn thế nào thì ngôn ngữ bộc lộ ra thế nấy.
 
Tôi lại còn tin rằng chả có “tiếng mẹ đẻ” nào hay hơn, đẹp hơn những “tiếng mẹ đẻ” khác. Dân nào thì cũng coi tiếng mẹ đẻ của mình là đẹp là hay nhất. Nhưng đấy là chuyện tình cảm, chỉ dùng đến trong tuyên truyền hoặc tự huyễn. Từ khi dịch sách, để ý nhiều đến tiếng mẹ đẻ, nhiều khi tôi thấy tiếng Anh chả khác gì tiếng Việt của mình. Rồi học hỏi thêm thì biết rằng, ngôn ngữ loài người về bản chất chỉ là một. Có vậy thì trẻ ra đời ở với dân nào là tự nhiên nói được tiếng dân ấy, chả phải dày công học như người lớn. Mà toàn bộ việc dịch thuật của nhân loại sở dĩ có được cũng là vì thế. Cho nên cái tâm lý coi chỉ có tiếng mẹ đẻ của mình mới hay, mới phong phú nhất là sai lầm về thực tiễn.
 
Nghĩ như thế thì thấy việc tiếng của ta đang pha trộn biến đổi với tiếng của thiên hạ hàng ngày hàng giờ chả có gì đáng chê trách, phàn nàn về mặt ngôn ngữ. Biến động ngôn ngữ là tự nhiên và tất yếu. Đáng phải suy nghĩ là gốc của ngôn ngữ, tức là cái linh hồn như tôi vừa nói ở trên.
Hình ảnh có liên quan
Vậy linh hồn là gì? Phải chăng linh hồn vẫn hiển lộ ở tất cả những vận động nội tâm trong cuộc sống? Có người đã nói rất hay về những vận động nội tâm này như sau: “Ta nghĩ, luận lý, và tạo dựng xác tín – nói cách khác là ta có trí khôn. Ta cảm xúc, cảm tình và thèm muốn – nói cách khác là ta có tình cảm. Ta hành động, dự định và quyết định – nói cách khác là ta có ý chí. Và ta biết những trạng thái tinh thần cũng như các quyết định hiện tại của mình khá chắc chắn và lập tức – nói cách khác là ta có tự thức. “Linh hồn” hàm chỉ tất cả những cái đó: trí khôn, tình cảm, ý chí và tự thức”.
 
Vậy thì, từ một quan điểm nhân văn bên ngoài khoa học ngôn ngữ, tiếng nói con người có thể được coi là hiện hữu âm thanh của trí khôn, tình cảm, ý chí và cái biết về chính bản thân mình. Tiếng Việt hay tiếng gì cũng đều như vậy mà thôi. Nhưng theo tôi, những yếu tố quyết định giá trị, hiệu quả và vẻ đẹp của ngôn ngữ nhất định còn phải bao gồm Tự do và Chân thực – có thể coi là điều kiện cần và đủ để linh hồn hiện hữu đúng với thiên chức của nó là khẳng định lý do tồn tại của nhân loại. Được tự do và chân thực diễn đạt tâm trí, tình cảm, ý chí với ý thức biết rõ mình là ai, thì tiếng nói của ta mới không còn rối loạn trong vũng lầy “nói zậy mà không phải zậy” như hiện nay.
Hình ảnh có liên quan
Cũng phải nói rõ rằng tình trạng “nói zậy mà không phải zậy” chỉ là thiểu số. Còn thì “tiếng nước tôi” vẫn trong lành và ngày càng phong phú ở dòng tiếng Việt xã hội, có thể nghe được đọc được mà không cần giấy mực. Người dân muôn đời với những người con thông sáng nặng lòng với hồn dân tộc mới là nơi cư ngụ tiếng mẹ đẻ của chúng ta.
 
Chao ôi, phải chi mỗi người chúng ta đều có thể tự do và trung thực trong lời nói, dù là ở công đường hay trong gia đình, rồi lại có mong mỏi nuôi dưỡng tâm trí, tình cảm, ý chí và ý thức về giá trị của bản thân, tức là nuôi dưỡng linh hồn mình, thì chắc chắn chúng ta sẽ thấy gia tài tiếng nói được thừa hưởng từ ông bà cha mẹ sẽ trở thành mộc mạc, chân xác và đẹp đẽ biết nhường nào.
 
“Tiếng nước tôi” vẫn trong lành và ngày càng phong phú ở dòng tiếng Việt xã hội, có thể nghe được đọc được mà không cần giấy mực. Người dân muôn đời với những người con thông sáng nặng lòng với hồn dân tộc mới là nơi cư ngụ tiếng mẹ đẻ của chúng ta.

| Tiếng Việt | Nhiều Nghệ Sĩ |

Sáng tác: Hoài An

          Kiều Oanh            
Sưu tầm và tổng hợp
Ảnh minh họa: Internet
Xem thêm...

NGÀY XUÂN, NGHE LẠI “LY RƯỢU MỪNG” nhớ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

NGÀY XUÂN, NGHE LẠI “LY RƯỢU MỪNG”

nhớ Phạm Đình Chương

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương

 

“Ly Rượu Mừng” không chỉ cất lời chúc đầu năm, mà còn thổ lộ những nguyện cầu thiêng liêng và sâu thẳm, cho một nước Việt không còn cảnh tang thương, để người mẹ già “từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa” sớm thấy lại được “bước con về hòa nỗi yêu thương”.


Đó là câu hát mở đầu trong bản "Xuân khúc" được coi là kinh điển nhất trong lịch sử Tân nhạc Việt Nam: “Ly rượu mừng”. Ngay đã có người cho rằng, trong danh sách mấy trăm bài hát tự cổ chí kim của Việt Nam về ngày Tết, cần phải nhớ “Ly rượu mừng” “trước hết và hơn cả”, vì vắng nó, sẽ không có Tết, và nó phải là giai điệu mở đầu mọi chương trình Xuân.

Tác giả của bài hát, ca nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương, là một trong những tên tuổi hàng đầu của Tân nhạc Việt Nam. Ông sinh năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội trong một gia đình nghệ thuật mà song thân đều là những nghệ sĩ chơi nhạc cổ truyền. Chị của ông là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy, và em gái của ông là Phạm Thị Băng Thanh, tức danh ca Thái Thanh.

 


Ngoài ra, ông còn có một người anh cùng cha khác mẹ là Phạm Đình Viêm, về sau là ca sĩ Hoài Trung của Ban Hợp Ca Thăng Long nổi danh từ giữa thập niên 50 thế kỷ trước tại đất Sài Gòn hoa lệ, gồm Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh và sau đó, thêm Khánh Ngọc, vợ ông. Nhận định về giọng ca Phạm Đình Chương, nhà văn Mai Thảo từng viết:

Bao nhiêu năm vẫn chỉ một con người, vẫn chỉ một phong cách. Ở giữa Hợp Ca Thăng Long lẫy lừng như vì sao ở giữa, hoặc cây Tây-ban-cầm ôm trước ngực ngoài tiền trường mênh mông lỗi lạc một mình, Phạm Đình Chương với những ca khúc ở mãi cùng lòng người, và Hoài Bắc với tiếng hát nam tôi cho là hay nhất, vẫn là Hoài Bắc Phạm Đình Chương của một con đường, một cõi nhạc riêng”.

Phạm Đình Chương đa phần tự học nhạc từ năm 13 tuổi và trên cương vị một nhạc sĩ, ông bắt đầu sáng tác năm 18 tuổi với ca khúc đầu tay “Ra đi khi trời vừa sáng” (năm 1947) khi đó ông cùng các anh em đang tham gia kháng chiến và gia nhập Ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV. Năm 1951, đại gia đình ông di cư vào Sài Gòn và bắt đầu tham gia đời sống văn nghệ cùng Ban Hợp Ca Thăng Long nổi tiếng.
 


Trong cả sự nghiệp âm nhạc, Phạm Đình Chương chỉ sáng tác trên dưới sáu mươi ca khúc, nhưng theo nhận xét của nhà thơ Du Tử Lê, “nếu tính phần trăm số lượng ca khúc trở thành bất tử của ông, từ sáng tác đầu tay, tới sáng tác sau cùng, tỷ lệ đó, không dưới tám mươi phần trăm tổng số sáng tác”. Và đó là “những viên kim cương âm nhạc, bất hoại; hầu hết đã được thời gian thực chứng”.

Sáng tác của Phạm Đình Chương, ngay từ giai đoạn đầu, đã bao gồm nhiều ca khúc để đời như “Ly Rượu Mừng”, “Xuân Tha Hương”, “Thuở Ban Đầu”, “Tiếng Dân Chài” và đặc biệt, “Trường ca Hội Trùng Dương” với bộ ba “Tiếng Sông Hồng”, “Tiếng Sông Hương” và “Tiếng Sông Cửu Long” cuồn cuộn và đầy chất hào sảng, hứng khởi về ba con sông lớn tượng trưng cho ba miền của quê hương. 

Cùng “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Duy, “Hội Trùng Dương” là biểu hiện đẹp nhất của dòng nhạc “tình ca quê hương, tình tự dân tộc” nửa đầu thập niên 50 thế kỷ trước, theo cách phân loại của Phạm Duy. Thời gian sau đó, Phạm Đình Chương tiếp tục tỏa sáng với những bản tình ca vẫn được hát thường xuyên tới ngày nay, mà như lời nhạc sĩ Cung Tiến, là “những khúc hát làm thăng hoa ái tình”.
 

Đặc biệt, Phạm Đình Chương còn được coi là một “phù thủy” trong việc phổ nhạc cho những vần thơ, biến chúng thành bất tử, như “Mộng Dưới Hoa” (thơ Đinh Hùng), “Nửa Hồn Thương Đau”, “Ngợi Ca Tình Yêu”, “Dạ Tâm Khúc” và “Đêm Màu Hồng” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “Mắt Buồn” (thơ Lưu Trọng Lư), “Màu Kỷ Niệm” (thơ Nguyên Sa), “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ) hay “Đôi Mắt Người Sơn Tây” (phổ thơ Quang Dũng).

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, khi được hỏi, đã cho rằng Phạm Đình Chương bên cạnh Phạm Duy và Cung Tiến là những người phổ thơ xuất sắc nhất của Tân nhạc Việt Nam. Sau này, khi định cư tại Cali vào năm 1979, trong những sáng tác cuối cùng, ông vẫn tiếp tục phổ thơ:
 
“Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”, “Quê Hương Là Người Đó”, “Khi Tôi Chết, Hãy Đem Tôi Ra Biển”  của Du Tử Lê, hoặc “Hạt Bụi Nào Bay Qua” của Thái Tú Hạp.

Không chỉ sáng tác, Phạm Đình Chương còn “đích thực là linh hồn của Ban Hợp Ca Thăng Long, từ buổi đầu tới phút cuối”, như lời nhạc sĩ Phạm Duy khẳng định lúc ông ra đi. Đặt hết tâm huyết và tài tổ chức, điều hợp vào Hợp ca này, Phạm Đình Chương đã “có công đầu trong nỗ lực dẫn dắt nghệ thuật ca diễn của nền tân nhạc Việt, từ sông lạch đơn ca, chảy ra đại dương hợp ca nhiều giọng”, vẫn theo đánh giá của Du Tử Lê. 

Phạm Đình Chương qua đời vào mùa hè 1991 tại Hoa Kỳ, hưởng dương 62 tuổi. Năm 1998, tro cốt của ông, cùng của người anh Hoài Trung Phạm Đình Viêm đã được gia đình rải ngoài biển, có lẽ theo ý nguyện của ông khi phổ nhạc thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ Du Tử Lê:
 
 “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển - Nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi - Bên kia biển là quê hương tôi đó - Rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì...”.
 
Thái Thanh cùng Hoài Trung (trái) và Hoài Bắc trong Ban Hợp Ca Thăng Long 
 
Trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Đình Chương, “Ly Rượu Mừng” là một ca khúc có vai trò và số phận đặc biệt. Được sáng tác năm 1952 ngay sau khi tác giả vừa cùng gia đình di cư vào Sài Gòn, chắc chắn đây là bài hát được vang lên nhiều nhất của Phạm Đình Chương, nhất là trong những dịp Tết đến, Xuân về, nhưng ở trong nước, nó đã bị cấm ngặt kể từ sau biến cố tháng 4-1975, cho tới tận đầu năm nay, tức là gần 41 năm.

Không phải ngẫu nhiên, khi ca khúc được cấp phép trở lại cách đây ít ngày, nhiều người đã thốt lên, đây là ly rượu mừng xuân mà sau hơn bốn thập niên mới được rót và chúc tụng nhau.
Cũng là tròn một phần tư thế kỷ sau khi tác giả qua đời, ước vọng: “Nước non thanh bình - Muôn người hạnh phúc chan hòa - Ước mơ hạnh phúc nơi nơi - Hương thanh bình đang phơi phới” mới được chính thức cất lên trên quê hương ông.

Khác với hai ca khúc nổi tiếng cùng chủ đề mùa xuân của tác giả - “Đón Xuân” với tiết tấu nhanh, vui tươi, ước vọng một mùa xuân thái hòa không còn buồn khổ, và “Xuân Tha Hương” bâng khuâng, day dứt và luyến nhớ quê mẹ .
“Ly Rượu Mừng” rộn ràng, tưng bừng với giai điệu valse sống động. Nhạc phẩm dễ hát, ca từ cũng không có gì cao siêu, nhưng mang đậm tính ký ức, yêu thương và dịu dàng, khát khao và đằm thắm.

Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó
Nhấp chén đầy vơi
Chúc người người vui
Muôn lòng xao xuyến duyên đời...


Chỉ trong một vài câu ngắn gọn, lời chúc lành đầu xuân đã được vang lên với nhiều giai tầng trong xã hội, và ở những đoạn tiếp tới, tác giả đã không quên một ai. Ca khúc chỉ hàm chứa một chữ “Xuân” ở câu mở đầu, và tất cả phần sau chỉ toàn những lời chúc và mong mỏi, cho con người và cho quê hương. Đặc biệt, cả bài hát không hề có những biểu tượng hay hình ảnh ngày tết thường gặp trong mọi ca khúc về ngày tết.
 

Ca khúcLy rượu mừng - Phạm Đình Chương- Ban hợp ca Thăng Long

Trong “Ly Rượu Mừng”, không hề thấy tả quang cảnh ngày tết với hoa đào, hoa mai, tràng pháo tết. hay bánh chưng xanh như lệ thường. Không có gì gợi nhớ hình ảnh “cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng”, “nhìn xác pháo bên thềm”, hay cảnh phố phường đông đúc với những cặp nam nữ tay trong tay “khăn san bay lả lơi trên hai vai” như của Đoàn Chuẩn trong “Gửi người em gái miền Nam” sáng tác sau đó vài năm. 

Điểm đặc biệt và cũng là đặc sắc này, có lẽ trong toàn bộ lịch sử Tân nhạc Việt Nam, chúng ta chỉ có thể tìm trong một ca khúc khác về mùa xuân, đó là "Mừng Xuân của Phạm Duy", sáng tác sau Phạm Đình Chương 22 năm.
 
Cả hai nhạc phẩm, tựu trung, không có gì khác ngoài những mong mỏi của con người được sống bình yên, được yêu thương, và cao hơn, xa hơn thế, đất nước được phú cường, tránh cảnh bom rơi đạn lạc:

Mừng Xuân tới bằng tiếng sáo vui 
Với tiếng cười yêu mến đời. 
Mừng Xuân tới bằng tiếng vỗ tay 
Vang khắp trời mây. 

Xin mừng anh chiến sĩ nơi tiền phương 
Giữ đất cho Việt Nam hùng mạnh. 
Nơi đồng xanh chúc bác dân cầy luôn 
Lúa tốt, hoa mầu tươi suốt năm 

Xin cho phố xá nơi thành đô 
Giới bán buôn làm to lời nhiều 
Chúc cho một nước dân đủ no 
Chúc cho một nước luôn tự do. 

Mừng Xuân tới bằng tiếng hát vang
Dưới mái trường hay giữa đàng 
Lời ca hát từ núi xa xăm 
Ra tận đại dương...


Ra đời trong bối cảnh chiến tranh và được hát lên liên tục trong hơn hai thập niên sau đó, khi cuộc chiến Việt Nam ngày một leo thang, lòng người ly tán, “Ly Rượu Mừng” không chỉ cất lời chúc đầu năm, mà còn thổ lộ những nguyện cầu thiêng liêng và sâu thẳm, cho một nước Việt không còn cảnh tang thương, để người mẹ già “từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa” sớm thấy lại được “bước con về hòa nỗi yêu thương”:

Bạn hỡi, vang lên
Lời ước thiêng liêng
Chúc non sông hòa bình, hòa bình
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
đợi anh về trong chén tình đầy vơi.

Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hoà
ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh bình đang phơi phới.


Mùa xuân 1975, “Ly Rượu Mừng” đã có mặt chính thức lần cuối cùng tại quê hương Việt Nam trong cuộn băng tuyển chọn các ca khúc đặc sắc về xuân phát hành thường niên do cơ sở băng đĩa nhạc của ca sĩ Ngọc Chánh tuyển chọn. 
Để rồi, như đại đa số các tác phẩm của giới văn nghệ sĩ miền Nam, bài hát đã phải có một giấc ngủ dài bốn thập niên, trong khi nó vẫn được thầm thì trên khóe môi nhiều người khi xuân về.

Những ai còn sở hữu hoặc có dịp nghe “Ly Rượu Mừng” trong bản thu âm dạo ấy, còn nhớ nó chính là nhạc phẩm mở đầu cuốn băng với phần trình diễn của Ban Hợp Ca Thăng Long, sau những âm giai còn đọng lại trong ký ức nhiều người:
 
Tiếng pháo nổ tại phòng trà Đêm Mầu Hồng; tiếng trống của đội lân Nhân Nghĩa Đường Chợ Lớn; tiếng Đại Hồng Chung của Viện Hóa Đạo; tiếng chuông Nhà Thờ Đức Bà...”.

Bên thềm năm mới, hãy cùng nhau nghe lại những giai điệu của ký ức ấy, nhớ về những mùa xuân năm ấy, và cùng nhau “nhấc cao ly này” để cùng mỏi mong cho một nước Việt “ngày mai sáng trời tự do”, khi “muôn người hạnh phúc chan hòa”, và “hương thanh bình đang phơi phới”, như tâm nguyện của Phạm Đình Chương, người nhạc sĩ lớn, đã từ giã chúng ta vào một ngày cách đây tròn một phần tư thế kỷ...(Nguyễn Hoàng Linh)

Phạm Đình Chương, Quê Hương Một Niềm

~~<><><><>~~

Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cả hai thân sinh ra ông đều chơi nhạc cổ truyền.

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947, khi 18 tuổi, với tác phẩm đầu tay là ca khúc “Ra đi khi trời vừa sáng”. Năm 1951 ông và gia đình chuyển vào miền Nam. Với các anh em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng ông thành lập ban hợp ca Thăng Long danh tiếng.

Trong thập niên 50, ông đã viết những tác phẩm thành công và để đời như Ly Rượu Mừng, Xuân tha Hương, Thủa Ban Đầu, Tiếng Dân Chài v.v.. Đáng kể nhất là trường ca bất hủ Hội Trùng Dương mà ông viết về đất nước Việt Nam hoa gấm, qua ba bài ca nói về con sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.

Vào mùa hè năm 1991, ông lâm bệnh và mất đi vào ngày 22 tháng 8 năm 1991 tại quận Cam, California, hưởng thọ 62 tuổi. Theo như gia đình ông kể lại, sau khi người anh của ông là nghệ sĩ lão thành Hoài Trung qua đời tám năm sau đó. 

Năm 1998, vào một buổi sáng nắng ấm tại miền nam Cali, gia đình ông đã đem cốt của hai ông và rải ngoài biển, như trong một ca khúc ông viết trong thời gian cuối cùng, nhan đề “Khi Tôi Chết, Hãy Đem Tôi Ra Biển”, phổ từ thơ thi sĩ Du Tử Lê.

Nếu còn ở với chúng ta, Tháng Mười Một vừa qua, Phạm Đình Chương đã 85 tuổi.

Ông mất vào một ngày Tháng Tám, năm 1991. Gia đình và bè bạn ghi nhớ rằng ông thọ có 62 tuổi, nhưng văn học nghệ thuật có lẽ phải nhìn ra một tuổi thọ khác của Phạm Đình Chương, qua mấy trăm ca khúc về tuổi thanh xuân, tình yêu và quê hương.

Hãy nói về tiếng hát, vì ngày nay nhiều người đã có thể quên hoặc không biết.

Hoài Bắc là một trong những giọng nam điêu luyện và xuất sắc của nhạc Việt trong hạ bán thế kỷ XX, từ những năm 1950 đến 1975 và sau đó nữa. Tiếng hát Hoài Bắc đậm đặc chất giang hồ, của men rượu hòa trong khói thuốc. Nhưng có lẽ Phạm Đình Chương đã hy sinh tiếng hát ấy cho sự lẫy lừng của ban Thăng Long, mà ông là linh hồn, là con chim đầu đàn và tay hòa âm tuyệt vời.

 

Phòng trà Sài Gòn trước 1975 đã chẳng có nét văn nghệ rất phong lưu nếu không có tiếng hát và cây đàn Hoài Bắc cùng ly rượu và tiếng nhạc Phạm Đình Chương. Sài Gòn ngày nay thì chưa biết đã vội quên, thật đáng tiếc cho thính giả.

Quê ngoại Phạm Đình Chương là Sơn Tây, và hai bài thơ bi hùng của Quang Dũng là “Đôi Bờ” và “Đôi Mắt Người Sơn Tây” được ông đưa lên đỉnh cao của thi ca, khi phổ vào nhạc thành ca khúc “Đôi Mắt Người Sơn Tây”, có lẽ là ca khúc quen thuộc nhất của ông ở miền Nam trước đây.

Người trình bày tác phẩm này với nét trượng phu bi hùng nhất lại chính là Hoài Bắc, những khi ấy, đôi mắt ông còn long lanh hơn ly rượu trong tay!

Nhớ lại Phạm Đình Chương và những chuyến lưu diễn cùng ông ở nhiều nơi sau 1975, Quỳnh Giao nghĩ rằng từ đầu và mãi mãi về sau, Phạm Đình Chương không đi theo đám đông mà tự tạo một thế giới âm thanh riêng, ông không viết cho thị hiếu quần chúng hay trào lưu của xã hội. Ông mở ra trào lưu riêng. Phạm Đình Chương chỉ biết buồn và viết nhạc buồn khi viết về tình yêu.

Ngoài Quang Dũng với các thính giả miền Nam, nhiều thi sĩ thực ra có món nợ với Phạm Đình Chương khi ông phả thơ của họ vào cõi nhạc để đọng mãi trong hồn người. Nhiều người yêu nhạc đã tìm đến thơ cũng nhờ thanh âm Phạm Đình Chương.

Ông nắm lấy cái hồn của bài thơ và vẽ ra một không gian khác, một tâm tư khác, bằng nhạc. Phải chăng vì những bằng hữu chí thiết nhất của ông là những nhà thơ, nhà văn, những người cầm bút?

Hoài Trung, Thái Thanh, Hoài Bắc Phạm Đình Chương 

Nhưng, bản tình ca tuyệt diệu nhất của Phạm Đình Chương “Nửa Hồn Thương Đau” ông đã viết nhạc và phần lớn lời ca với một chút ý từ bài thơ Lệ Đá Xanh của Thanh Tâm Tuyền, trong một phút xuất thần.

Ông nhận lời Quốc Phong – chủ tịch Liên Ảnh Công Ty & nhà văn Văn Quang sẽ soạn một ca khúc riêng cho phim “Chân Trời Tím” nhưng bạn bè làm ông quên bẵng, cho tới khi men rượu lay ông tỉnh vào đêm cuối cùng trước kỳ hạn với bạn!

Đấy là phút giây kỳ diệu của sáng tác.

Sau khi ra khỏi Việt Nam, Phạm Đình Chương tiếp tục ôm đàn và viết nhạc. U uẩn hơn, ray rứt hơn. Nếu bài “Xuân Tha Hương” được viết tại Sài Gòn mà làm ta nhớ Hà Nội thì gần 40 năm sau, tại hải ngoại, Phạm Đình Chương lại viết một khúc bi ca nữa về quê hương.

Lần này, bài ca làm ta nhớ Sài Gòn. Phổ thơ Du Tử Lê, bài “Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn” có thể là một nhắc nhở nồng nàn nhất về Phạm Đình Chương, trong những năm cuối đời.(NV)

 •♬•♫•❤️•♬•♫•❤️•♬•♫•.

 

Từ “Ly rượu mừng” đến “Nửa hồn thương đau”

Có thể nói, cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đượm nhiều uẩn khúc và nhiều bi kịch. Năm 1953 ông lập gia đình với ca sĩ và sau này là diễn viên nổi tiếng, Khánh Ngọc. Những người thuộc lứa đầu bạc chắc không thể nào quên ca sĩ Khánh Ngọc của thập niên 50 trong bản nhạc Pháp “Cerisier Roses et Pommiers Blances” với lời Việt “Vườn xuân ong bướm, ngất ngây ngất ngây lòng ta…” .

Vào năm 1955, một đoàn làm phim Mỹ-Phi đến Sài Gòn để tìm diễn viên cho bộ phim “Ánh sáng miền Nam” và Khánh Ngọc đã được chọn đóng vai chính. Cuộc đời tình ái của đôi trai tài-gái sắc Phạm Đình Chương-Khánh Ngọc tràn trề hạnh phúc… cho đến khi xảy ra chuyện “loạn luân” trong đại gia đình nhạc sĩ. 

Bi kịch có liên quan đến nhiều thành viên: Nhạc sĩ Phạm Duy là chồng của Thái Hằng, Thái Hằng là chị của Phạm đình Chương và cũng là chị của Thái Thanh. Khánh Ngọc là vợ của Phạm đình Chương, Phạm Duy trong vai trò anh rể lại “tằng tịu” với Khánh Ngọc, em dâu của mình.

Ca sĩ Khánh Ngọc

Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh dư luận. Với tình yêu nồng thắm buổi ban đầu, ông không thể nào tin vào sự ngoại tình đã được đồn thổi. Điều thương tâm nhất là ông vẫn yêu thương, tin tưởng vợ và bỏ ra ngoài tai những điều không tốt lành của giới văn nghệ sĩ tại Sài Gòn.

Cho đến một buổi tối “định mệnh”, Phạm Đình Chương cùng với những người bạn thân "bắt tại trận" cuộc tình vụng trộm của đôi tình nhân tại quán chè ở Nhà Bè - Gia Định. Sáng hôm sau, một loạt bài phóng sự đều tra nóng bỏng được tung ra trên tờ nhật báo “Sài Gòn Mới" của bà Bút Trà. Vụ "ăn chè Nhà Bè" khiến cả Sài Gòn đều biết.

Cho dù Phạm Duy cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng các bài điều tra, phóng sự nhưng "hoạ vô đơn chí", trong cuộc đời này, cái gì càng dấu diếm bao nhiêu, càng được "bùng nổ" và thêu dệt bấy nhiêu. Suy cho cùng, các cụ ta thường nói, và nói rất đúng: “Xướng ca vô loại”!

Nỗi đau dày xe tâm can và sự tan nát của một đại gia đình nghệ sĩ đã "đánh gục' nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi ông phát hiện chuyện vượt ra ngoài luân lý. Đã có lúc Phạm Đình Chương nghĩ đến chuyện tự tử nhưng tiếng khóc của đứa con trai đưa ông về hiện tại. Ông gạt nước mắt đau thương, nộp đơn ly dị lên toà án. Vụ việc kết thúc và Phạm Đình Chương được quyền nuôi đứa con trai lúc bấy giờ khoảng 5 tuổi.

 

Biến cố đó là một động lực cho sáng tác “Nửa hồn thương đau” với những ca từ như nức nở:

“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa.

Cho tôi về đường cũ nên thơ.

Cho tôi gặp người xưa ước mơ.

Hay chỉ là giấc mơ thôi.

Nghe tình đang chết trong tôi.

Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời…”

“Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau

Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau

Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào?

Anh ở đâu ?

Em ở đâu ?”

............ 

“Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt.

Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất.

Và tiếng hát và nước mắt. 

Đôi khi anh muốn tin.

Đôi khi anh muốn tin.

Ôi những người, ôi những người.

Khóc lẻ loi một mình...”

“Nửa hồn thương đau” chính thức ra đời năm 1970 để chấm dứt một thời kỳ sáng tác u uẩn và quạnh quẽ của một người chồng vẫn một lòng thương yêu người vợ đã phản bội mình. Bản nhạc như rút ruột lòng người và bản nhạc cũng đánh dấu một giai đoạn sáng tác của người nhạc sĩ tài hoa nhưng bạc phận.

Khi ra nước ngoài, Phạm Đình Chương vẫn sáng tác một số ca khúc mang tính cách hoài niệm: “Bên trời phiêu lãng”, “Cho một thành phố mất tên”, “Đêm, nhớ trăng Sài Gòn”… Và trong khi “Ta ở trời tây” Phạm Đình Chương có lời nhắn nhủ:  “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”.

 

✧✧✧✧

Hình Internet

Kim Quy sưu tập 

 

 

 

Xem thêm...

Gói quà đầu năm

Gói quà đầu năm

Phạm Tín An Ninh

Tôi phải ngồi lại trên các bậc đá nghỉ chân đến ba lần trước khi bước vào cổng chùa. Ngôi chùa nhỏ nằm trên một triền núi, được phủ mát bởi những tàng cây. Ngôi nhà khách bằng gỗ, khá xinh xắn, nằm trong một khu vườn toàn hoa vạn thọ.

Phía trước là một tượng Phật ngồi dươi gốc cây bồ đề, cành lá được cắt tỉa công phu. Chung quanh là cả một vùng núi trời tĩnh mịch.Tôi không phải là phật tử, nhưng ngồi nghe tiếng mõ và lời cầu kinh trong chùa vọng ra, cũng thấy lòng nhẹ hẳn đi trước bao nhiêu điều phiền não.

Hôm nay là mồng một tết, nhưng cảnh chùa khá im ắng, bởi chùa nằm khá xa khu dân chúng. Ngày hôm qua tôi có đến đây, nhưng thầy trụ trì đi vắng. Tôi đã để lại tấm danh thiếp của chồng tôi, viết vài dòng phía sau xin hẹn thầy hôm nay trở lại.

Chú tiểu còn rất trẻ, mang trà ra mời và xin tôi chờ thêm mươi phút nữa, vì thầy trụ trì đang khai kinh cho buổi lễ tân niên. Tôi nôn nao muốn sớm được nhìn mặt vị ân nhân của mình, nhưng cũng dặn lòng phải kiên nhẫn và cẩn trọng ý tứ trước một nhà sư.

Hơn ba mươi năm trước. Lúc ấy tôi còn là cô bé học trò của trường huyện An Túc, nằm giữa thị trấn An Khê, bên QL 19 nối liền Qui Nhơn với Pleiku. Chiến tranh đang thời kỳ ác liệt. Tuổi còn nhỏ, nhưng ngày nào tôi cũng nghe cha mẹ và các thầy cô bàn chuyện chiến trường: đánh lớn ở Pleime, Dakto, Tân Cảnh.

Mấy năm nay, An Khê tương đồi bình yên, nhờ Sư Đòan 101 Không Kỵ Hoa Kỳ có căn cứ ở đây, và dọc theo đèo An Khê có đồn bót của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn.

Giữa lúc chiến tranh ngày khốc liệt, bất ngờ lực lượng đồng minh rút quân về nước, làm dân chúng ở đây hoang mang, lo lắng. Xứ họ đạo của tôi cũng được cha chánh xứ tổ chức những toán tự vệ, phối hợp với quận, lo canh gác khu vực của mình.

Chiều ba mươi Tết, được thông báo của tỉnh, các cơ quan trên quận phối hơp với các thầy cô giáo và cả Hội Đồng giáo xứ đi mọi nhà kêu gọi đóng góp những gói quà tượng trưng dành tặng cho anh em chiến sĩ của một đơn vị từ xa tới, thay thế lực lượng đồng minh, đồn trú ở đây.

–  Tôi nghiệp, nghe nói anh em đã phải rời căn cứ từ sáng sớm 30 để chiều mồng một Tết có mặt ở đây. Họ có biết tết nhất gì đâu! Ông cha xứ nói với chúng tôi như thế.

Cả quận vui mừng, nô nức trước tin vui. Riêng tôi còn vui hơn khi tưởng tượng sẽ có nhiều anh lính đến cái thị trấn nhỏ xíu buồn tênh này, nên rất sốt sắng trong việc gói quà. Tôi tự tay thực hiện được hai gói quà, gồm một số bánh mức, chiếc khăn tay do tôi thêu lấy, kèm theo lá thơ chúc mừng năm mới tới hai anh chiến sĩ vô danh nào đó.

Tôi nắn nót viết thật đẹp rồi đề tên, lớp và trường học phía dưới. Vì “sao y bản chánh” từ một bài luận văn tháng trước, nên hai lá thư giống nhau như đúc. Nhìn hai gói quà tôi mỉm cười, khi nghĩ sẽ có hai “người tình không chân dung” nào đó nhận được lá thư nồng nàn của một cô “em gái hậu phương”. Ban đầu, các thầy cô cho biết, đám học trò chúng tôi được hướng dẫn vào căn cứ để tận tay tặng quà cho các anh chiến sĩ.

Bọn tôi đứa nào cũng hớn hở, lăng xăng giặt ủi lại chiếc áo dài trắng ưng ý nhất. Nhưng sau đó dưới tỉnh cho biết là trước khi vào An Khê, các đơn vị này còn phải hành quân mở đường, giải tỏa một số đồn bót của lực lượng Đại Hàn nằm dọc theo đèo An Khê, bị địch quân bao vây đã ba hôm nay.

Cuối cùng tất cả quà đều được nộp cho trường, và thầy hiệu trưởng cùng các thầy cô giáo sẽ mang vào cho đơn vị để trao lại cho anh em chiến sĩ khi tình hình an ninh cho phép. Bọn học trò chúng tôi tiếc hùi hụi vì mất một dịp được vào xem căn cứ và ủy lạo các anh chiến sĩ.

 

–   Nam Mô A Di Đà Phật. Xin chào bà. Xin lỗi, chắc là bà đã chờ tôi lâu lắm phải không ?

Câu hỏi của thầy trụ trì cắt đứt dòng hồi tưởng của tôi. Tôi đứng lên, vụng về chấp hai tay trước ngực chào lại thầy. Tôi muốn nhìn thật kỹ khuôn mặt của thầy, nhưng thấy ái ngại, nên chỉ cúi đầu im lặng.

–   Cái cổng tam quan, ngôi nhà khách này, và những bậc đá trên con đường mà bà vừa đi lên là do tiền cúng dường của ông bà. Chúng tôi xin tán thán công đức và cầu xin chư Phật gia hộ cho ông bà cùng gia đình. Bà có muốn đi một vòng xem cảnh chùa không ? Xin mời bà.

Thầy vừa nói vừa chỉ tay về phía cổng tam quan.

–   Dạ, công ơn của thầy đối với gia đình tôi lớn lao quá. Biết làm sao đền đáp. Xin thầy đừng nhắc tới công đức, làm tôi thêm xấu hổ. Tôi vừa bước theo phía sau thầy, vừa nói.

–   Mô Phật ! Giúp người, đó là nhiệm vụ của kẻ tu hành, dù là tôn giáo nào. Sao bà lại gọi là công ơn. Thầy nở một nụ cười độ lượng.

Đi phía sau, nhìn dáng đi khoan thai của thầy, tôi băn khoăn suy nghĩ: Khuôn mặt thì có nhiều nét giống, nhưng với cái dáng đi thì lại khác hẳn. Có thể ngày xưa là lính nên cần phải nhanh nhẹn. Tôi nghĩ thầm như thế.

Khi đến cửa tam quan, thầy dừng lại và chỉ tay về hướng bờ biển, nơi có mấy tảng đá ở triền núi, phía dưới là một khu rừng rậm :

–   Chính ở nơi đó, tôi đã tìm gặp chồng của bà


Năm ấy, khi chồng tôi vừa mới trốn về từ trại tù cải tạo Gia Trung (anh chỉ là thầy giáo, vì dạy một trường trong khu người Thượng, nên bị nghi ngờ hợp tác với lực lượng Fulro chống lại chính quyền, bị bắt năm 1979 ), được một người bạn thân cho đi theo một chuyến vượt biển do gia đình anh ta tổ chức.

Lúc ấy ai cũng nghĩ ra đi là không bao giờ gặp lại vợ con, mà có ở lại cũng sống không yên, chỉ làm khổ cho gia đình. Hơn nữa lúc ấy tôi vừa mới sanh đứa con đầu lòng, nên không thể đi cùng.  Chúng tôi đành gạt lệ chia tay mà không dám nghĩ sẽ có ngày tái ngộ.

Tàu vừa ra khơi hơn một ngày thì bị hỏng máy, trong lúc gió mưa tầm tã. Tất cả mọi người phải đem sinh mạng chống chọi với phong ba. Cuối cùng, sau gần ba ngày bềnh bồng trên biển, nhờ những cơn gió nhiệm màu đã đẩy chiếc tàu với hơn một nửa số người sống sót, giạt vào một ghềnh đá lúc trời nhá nhem tối.

Tưởng đã thoát chết, nào ngờ khi vừa leo lên bờ thì bị một toán công an biên phòng vây bắt. Một số người yếu sức thì đành đưa tay cho họ trói. Chồng tôi cùng một vài thanh niên khác dùng hết tàn lực chạy trốn trong các hốc đá bên triền núi. Mấy lần thoát chết dưới những tràng đạn. Nhờ trời tối anh chạy thoát vào khu rừng trước khi kiệt sức. Khi tỉnh lại, anh thấy mình nằm trong ngôi chùa nhỏ nằm bên triền núi.

Anh được vị trụ trì săn sóc và che dấu chu đáo, mặc dù biết anh là người công giáo, bởi trên cổ có đeo thánh giá. Sau hơn một tuần, nhờ thầy giúp cạo đầu, cho áo quần để cải dạng một thầy tu, và gởi theo một chiếc xe đò của một phật tử thân quen, chồng tôi mới trốn được vào nhà bà cô ruột ở Cam Ranh.

Sau đó nhờ chính bà cô này tìm đường để vượt biển tiếp.Và lần này anh đã đươc tàu Pháp vớt, nên được sang định cư bên Pháp. Ba năm sau, tôi và đứa con được anh bảo lãnh với diện đoàn tụ gia đình.

 

–   Mô Phật! Tôi nghiệp, ông ấy đã về tìm thăm tôi hai lần, và giúp cho tôi khá nhiều tiền để lập lại ngôi chùa này và một nhà từ thiện nuôi các em bé tật nguyền dưới xóm. Công đức của ông bà thật lớn lắm.

Tôi nhớ lại tấm ảnh mà chồng tôi chụp chung với thầy trong lần thứ nhì về thăm thầy. Bao nhiêu lần tôi đã nhìn kỷ tấm ảnh, lại nghe chồng tôi bảo, ngày xưa thầy cũng là lính, nên tôi đã ngồi hằng giờ hình dung, nhớ lại một người quen lúc trước.

–  Thực ra anh ấy ngại không muốn về, nhưng vì nhớ ơn thầy mà anh ấy mới về gặp thầy. Lần này chính tôi đề nghị được thay anh về thăm thầy, nhân dịp thăm mẹ của tôi đang ốm nặng.

–   Mô Phật ! Tôi hiểu nỗi khổ tâm của ông ấy.

Tôi nghe tiếng thở dài của vị trụ trì, và thấy thầy đưa mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Từ lúc mới gặp nhau trong ngôi nhà khách, tôi nghĩ là thầy đã nhận ra tôi. Tôi chờ thầy hỏi, nhưng có thể thầy đã quên hay bây giờ là kẻ tu hành, nên thầy không muốn nhắc lại chuyện thế tục ngày xưa. Không để lỡ mất cơ hội, tôi lên tiếng :

–  Tôi về đây, gặp thầy cũng để muốn xin được hỏi thầy một điều, mà bấy lâu nay cứ băn khoăn mãi trong lòng, nhưng ngại thầy là bậc tu hành, nên tôi không dám .

Thầy nhìn tôi, im lặng giây lát rồi lên tiếng :

–   Mô Phật!  Kẻ tu hành lúc nào cũng muốn đem ánh sáng cho chúng sinh hầu giải tỏa những lo âu phiền não. Xin bà cứ tự nhiên

–   Xin thầy tha lỗi, nếu có điều gì không phải. Có phải thế danh của thầy là Quế, Lê Phương Quế ?

Thầy ngạc nhiên nhìn tôi, rồi nhìn lên khoảng không, nhíu mày.

–   Mô Phật!  Làm sao mà bà biết được tên của tôi ?

–  Thầy còn nhớ anh Lân, trung sĩ  Đỗ Lân, ở Sư Đoàn 23 BB, có đóng quân ở An Khê vào những ngày tết năm 1972 ?

–   Bà còn biết cả bạn tôi? Anh Lân đã tử trận ở Kontum từ mùa hè 72 . Bà có biết không?

Tôi có một thoáng giận thầy, vì nghĩ là đến bây giờ ông vẫn chưa nhận ra mình. Chẳng lẽ thầy vô tình đến thế. Nhưng ngay sau đó tôi hối hận về ý nghĩ của mình. Sao lại đem chuyện đời để mà trách một vị chân tu, một người đã xa lánh chuyện hồng trần, thế sự. Thầy đã cho mình hỏi và sẳn sàng tâm sự đã là một điều hỉ xả rồi.

–  Dạ, tôi có biết, và tôi cũng có đến Kontum thăm mộ anh mấy lần. Sau này tôi về tìm để xây lại ngôi mộ cho anh, thì nghĩa trang không còn nữa, và không ai biết mộ anh đã chuyển đi đâu .

Đôi mắt của vị trụ trì sáng hẳn lên. Thầy mở đôi mắt thật to nhìn tôi, đưa tay lên định nắm vai tôi, nhưng rồi kịp khựng lại.

–  Vậy là Xuân ? Bà là cô Xuân ngày xưa? Mô Phật! Sao lại có chuyện kỳ ngộ lạ lùng này.

 

Vâng, tôi chính là Xuân, cô bé học trò trường trung học An Túc ngày xưa. Người  đã gói hai gói quà Xuân ủy lạo cho những chiến sĩ đến giữ an ninh cho quê tôi vào đúng chiều ngày mồng một tết. Hai gói quà được nộp cho trường để chuyển tới cho các anh, vì lúc ấy đơn vị đang hành quân mở đường để đến nơi trú đóng.

Sau một cái tết an bình, cả thị trấn nhỏ của tôi nhộn nhịp hẳn lên bởi sự có mặt của một trung đoàn lính chiến, ngày mồng tám tết, đám học trò chúng tôi trở lại trường, nhưng các thầy cô biết là trong lòng đám học trò ai cũng còn dư âm ngày tết, nên cho chúng tôi tập họp lại hát hò và kể chuyện vui.

Trong lúc thầy hướng dẫn đệm đàn cho cả đám học trò ca hát, thầy giám thị đến tìm tôi, bảo tôi lên văn phòng có người nhà muốn gặp. Bước theo thầy giám thị mà lòng tôi lo lắng không biết ở nhà có chuyện gì, thì ông đưa tay chỉ hai anh lính đang ngồi chờ trên chiếc ghế đá trong sân trường.

Hai anh lính thật trẻ đứng lên chào tôi, nhoẻn miệng cười :

–  Hai đứa tôi đến để cám ơn Xuân và chúc mừng Xuân năm mới .

Tôi thoáng một chút ngạc nhiên và bẽn lẽn :

–  Em có làm gì đâu mà hai anh cám ơn ? Mà sao hai anh biết được tên em ?

Hai anh cùng mở túi áo lấy ra bức thư. Vừa kịp nhận ra đó là hai bức thư mà tôi đã “sao y bản chánh” bỏ trong hai gói quà ủy lạo, thì một anh lên tiếng :

– Tôi là Đỗ Lân, và người bạn thân của tôi đây là Lê Phương Quế. Trông anh hiền như con gái, nhưng Xuân đừng nhầm với nữ ca sĩ Phương Hồng Quế nghe, mặc dù anh Quế bạn tôi cũng có giọng hát rất hay, không thua gì Phương Hồng Quế . Hai đứa tôi nhận hai gói quà của Xuân. Quà cáp như nhau và lời lẽ trong cả hai bức thơ cũng giống nhau như đúc. Cô Xuân thật công bình. Cám ơn nghe!

Tôi hơi quê, nhưng cố làm ra vẻ tự nhiên:

–  Hai anh tới trường tìm Xuân, không sợ thầy giám thị la Xuân hà ?

Anh lính thứ nhì, tên Quế, lên tiếng :

–  Bọn tôi bảo là anh em bà con với Xuân, đi lính xa nhà bây giờ mới gặp. Thầy giám thị coi bộ cũng thương lính lắm, nên chắc không nở la rầy người yêu, à xin lỗi, người em của lính đâu!

Mặc dù thấy hai anh chàng có vẻ thư sinh, vui tính, nhưng nhớ lời bà chị thường bảo mấy ông lính bạo dạn và tán gái hay lắm. Phải coi chừng. Tôi nhủ thầm như thế. Và để xem hai anh chàng này có thực sự bạo dạn hay không tôi khoanh tay:

–  Nghe nói anh Quế hát hay không thua gì Phương Hồng Quế, em xin mời hai anh vào lớp em chơi. Bọn em cũng đang ca hát trong đó, chứ không có học hành gì đâu. Đám bạn em sẽ mừng lắm đó.

Hai anh nhìn nhau cười, rồi gật đầu, theo tôi vào lớp.

Cả đám bạn học trò im bặt, tò mò nhìn ra khi thấy tôi dắt theo hai anh lính trẻ. Tôi nói với vị giáo sư hướng dẫn :

–  Thưa thầy, có hai anh lính nhận được quà tết của lớp mình, đến cám ơn và xin hát cho cả lớp mình nghe .

Thầy hướng dẫn lớp gật đầu, đến bắt tay hai anh, tươi cười :

–   Hồi nãy tới giờ mấy cô chỉ hát những bài tình yêu lính chiến, bây giờ đích thân lính chiến hát tặng mấy cô thì còn gì hay bằng, phải không ?

Cả lớp vỗ tay .

Anh lính tên Lân bước lên bục giảng, hai tay mân mê chiếc nón bê- rê :

–   Kính thưa thầy, thưa các bạn. Tôi không biết hát, nên xin dành phần nói trước. Chúng tôi xin cám ơn những gói quà Tết của nhà trường, của các bạn. Trong không khí Tết, vì nhiệm vụ phải xa nhà, được những món quà của các bạn chúng tôi thấy ấm áp nhiều lắm.

Đặc biệt hai đứa tôi đây đã nhận được quà của cô Xuân. Chỉ cần cái tên của cô là hai đứa chúng tôi cũng đã có cả một mùa xuân rồi . Xin cám ơn và kính chúc thầy, chúc các bạn một năm mới vạn điều như ý.

Cả lớp lại rộn lên tiếng cười và những tràng vỗ tay không dứt. Một con bạn có tiếng nghịch nhất lớp quay về hướng tôi ngồi :

–   Xuân ơi, mày chỉ được chọn một trong hai thôi. Còn để dành cho đứa khác nữa chứ!

Đúng là nhất quỉ nhì ba, còn thứ ba là bọn này. Tôi đoán hai anh chàng lính sữa đang nghĩ như thế. Anh lính tên Lân bẽn lẽn, ngừng lại đôi phút rồi đưa tay về hướng người bạn, tiếp tục :

–   Bây giờ, xin giới thiệu anh bạn thân nhất của tôi, Lê Phương Quế, mà chúng tôi thường gọi là Phương Hồng Quế, tiếng hát hàng đầu của trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, sẽ lên hát một vài bài tặng thầy và các bạn .

Tôi cũng phục tài ăn nói khá “tâm lý chiến” của anh chàng Lân này. Cái giọng Huế nghe cũng êm ái, cứ như rót mật vào tai người ta. Bây giờ nhìn kỹ thấy anh ta cũng đẹp trai, nụ cười cũng có duyên ghê lắm. Lính cỡ này chắc sẽ làm khổ vài cô em gái hậu phương đây. Tôi mỉm cười với ý nghĩ vừa thoáng trong đầu.

Anh Quế bước lại chỗ thầy hướng dẫn để xin nhờ thầy đệm đàn. Anh hát bài Xuân Này Con Không Về của nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Trông anh có dáng dấp thư sinh và khuôn mặt hiền lành như một thầy tu.

Tiếng hát cất lên làm cả lớp im bặt. Đúng là giọng hát của anh rất hay, điêu luyện, lúc réo rắt lúc trầm buồn không thua một ca sĩ chuyên nghiệp. Dường như có cùng tâm trạng với nội dung bài hát, nên anh đã hát với tất cả cảm xúc, làm dao động trái tim mọi người. Bài hát chấm dứt, mà cả lớp dường như còn thẫn thờ, yên lặng. Sau đó bùng vỡ bởi những tràng vỗ tay và nhiều tiếng la: bis, bis…

Anh cúi xuống một lúc, hình như để dấu sự cảm xúc, rồi ngước lên nói nhỏ hai tiếng cám ơn và xin hát tiếp bài Chiều Trên Phá Tam Giang, thơ của Tô Thùy Yên phổ nhạc.

Lần này, chính tôi không cầm được nước mắt. Không chỉ vì anh hát hay, nhưng tôi thấy xúc động, thấm thía hơn cuộc đời của những người lính chiến.

–  Thưa thầy. Bây giờ đã đi tu rồi, thầy có còn hát những bản nhạc tình lính ngày xưa? Tôi vẫn còn nhớ cái cảm xúc khi thầy hát cho cả lớp tôi nghe, sau cái tết năm nào ở trường An Túc. Thầy hát thật hay và truyền cảm. Hôm ấy là lần đầu tiên tôi được gặp thầy và anh Lân.

–   Mô Phật ! Bây giờ tôi chỉ còn biết tụng kinh gõ mõ, cầu cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. Nhưng những gì bà vừa nhắc lại, cũng là con người, làm sao tôi có thể quên.

–   Xin thầy thứ lỗi, nếu tôi đã nhắc thầy nhớ lại chuyện đời để làm bận lòng một bậc chân tu.

–   Mô Phật! Đạo ở trong Đời, cũng như hai kẻ đồng hành. Hành đạo là để giúp đời. Kẻ tu hành như chúng tôi cũng chỉ là “cư trần lạc đạo”  mà thôi, thưa bà.

–   Cư trần lạc đạo là sao, thưa thầy?

–   Có nghĩa là hiện diện nơi trần thế mà hành đạo, vui đạo. Chứ không phải xa lánh trần thế đầy khổ nhục để tìm sự thanh thản riêng cho bản thân mình.

–   Cám ơn thầy. Thầy giảng hay quá. Ngày đầu tiên gặp thầy, và nhất là lúc nhìn thầy đứng hát trên bục lớp, tôi đã thấy thầy giống một nhà tu. Có lẽ thầy đã có căn duyên từ trước, phải không thầy ?

–    Mô Phật! Ai cũng có thể tu hành, và bất cứ ai cũng có thể thành Phật được, thưa bà .

 

Không ngờ lần gặp gỡ đầu tiên năm ấy lại mang đến cho tôi mối tình đầu. Sau vài lần gặp nhau, tôi biết Lân và Quế là hai người bạn thân thiết từ lúc còn học trong trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Ra trường về cùng đơn vị, nên sống với nhau như anh em, mặc dù tôn giáo khác nhau.

Quế đạo Phật còn Lân là tín đồ Công giáo.  Những ngày chủ nhật không bận hành quân, Lân đều đi lễ nhà thờ, nên chúng tôi thường gặp nhau hơn. Và lần nào tôi cũng mời Lân về nhà. Cha mẹ tôi cũng rất thương quí Lân, nhất là sau khi biết cha mẹ Lân đã chết trong biến cố tết Mậu Thân.

Tính tình Lân lại hiền lành chân chất và hiếu học. Dù bận hành quân liên miên, nhưng anh vẫn cố gắng tự học để thi tú tài vào mùa hè này. Cũng có đôi lần Quế theo Lân đến nhà tôi chơi. Càng lúc chúng tôi càng thân nhau hơn.

Tôi biết là Lân cũng thích tôi. Trong túi áo của anh lúc nào cũng có chiếc khăn tay tôi đã tặng anh trong gói quà Xuân. Mỗi lần chia tay, anh bịn rịn lưu luyến không muốn rời tôi. Còn tôi, cũng thấy nhớ anh da diết và mong chờ anh từng ngày trong các lần anh đi hành quân. Tối nào tôi cũng đọc kinh cầu nguyên cho anh được bình yên trở về.

Bây giờ tôi mới biết tình yêu là gì. Tôi bắt đầu biết tương tư, mơ mộng, nhớ nhung và man mác buồn khi thiếu vắng anh. Những bản nhạc tình lính, người yêu của lính, dường như càng lúc tôi càng thấy hay hơn, và tôi hát nhiều hơn.

Sau mỗi lần hành quân, Lân đều mang về tặng tôi những cánh hoa lan rừng. Tôi nghe nói vùng núi rừng An Khê này có nhiều hoa lan. Có những loại hoa lạ, thật đẹp mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy hoặc biết tên. Chỉ sau hai tháng, trong phòng tôi treo đầy hoa lan rừng. Tôi thích nhất là những cánh hoa màu tím. Có lẽ tôi nhớ tới màu tím hoa sim trong một bản nhạc mà tôi thường hay hát..

Chiến tranh lại ngày càng ác liệt. Ngồi trong lớp học, bọn tôi vẫn thường nghe tiếng súng, tiếng máy bay vần vũ trên bầu trời. Ban đêm, nhìn qua cửa sổ, những trái hỏa châu lơ lững giữa trời, soi sáng cả một vùng núi non nào đó.

Rồi tôi nghe tin Dakto mất, Tân Cãnh thất thủ, thành phố Kontum bị pháo kích..Một số người đã phải bỏ nhà chạy xuống Pleiku, sống trong các trường học, được chính quyền dùng làm trại tiếp cư

Hơn một tuần, tôi chưa gặp Lân bởi đơn vị anh có lệnh cắm trại, ứng chiến. Bất ngờ gặp lại anh trong lễ sáng chủ nhật ở nhà thờ. Khi tôi đang quỳ gối cầu kinh, Lân đến sau, quỳ xuống bên cạnh. Tan lễ, vừa bước ra khỏi nhà thờ thì chúng tôi gặp anh Quế đứng đợi từ lúc nào.

Tôi mời hai anh về nhà. Trên đường đi, cả hai anh im lặng, không nói một lời gì. Nhìn nét mặt thật buồn, tôi nghĩ là họ đang ưu tư điều gì. Tôi hỏi, nhưng hai anh chỉ nhìn nhau rồi lắc đầu, không nói.

Suốt ngày hôm ấy hai anh ở lại nhà tôi. Mẹ tôi đãi hai anh một con gà tơ. Trong lúc Lân và Quế rượt bắt gà trong vườn, tôi tìm hái mấy trái cà, trái mướp và rau thơm. Cả ba chúng tôi cùng làm bếp, đùa giỡn, ca hát líu lo, không còn chút ưu tư nào trên khuôn mặt của mọi người. Ăn cơm xong, chúng tôi rủ nhau ra ngồi dưới những cây dừa rợp bóng, nghe Quế hát, rồi chúng tôi cùng hát theo những bài tình ca quen thuộc. Buổi chiều, Quế cáo từ tôi, chào ba mẹ tôi xin về trước.                     

Trong phòng tôi chỉ còn có tôi và Lân. Lần đầu tiên tôi nghe Lân rụt rè tỏ tình. Anh bảo, đời chiến binh rày đây mai đó, rồi có một ngày, anh sẽ phải đi xa, nhưng lúc nào cũng mang theo bóng hình của tôi vào những nơi gió cát.

Những lời anh nói làm tôi nhớ tới những câu thơ Chinh Phụ Ngâm thật hay của bà Đoàn thị Điểm dịch mà tôi đã học. Những câu thơ thật buồn bây giờ lại càng buồn hơn. Tôi khóc. Lần đầu tiên tôi khóc, không biết là vì hạnh phúc đến bất chợt của mối tình đầu hay là vì nghĩ tới nỗi cô đơn của người Chinh Phụ.

Tôi giật mình, khi Lân ôm tôi vào lòng. Tôi đứng im, bất động, đón nhận nụ hôn tình yêu đầu đời trong hai hàng nước mắt. Tôi tiễn Lân ra đầu làng, hai đứa ôm lấy nhau khi bóng chiều vừa tắt.

Sáng hôm sau, ngồi trong lớp học, khi thấy từng đoàn xe nhà binh chở đầy lính chạy về hướng Pleiku, lòng tôi thẫn thờ khi nghĩ là Lân đã đi xa..Tôi vội lên xin phép cô giáo ra ngoài. Nhưng khi tôi vừa chạy đến hàng thông phía trước, thì đoàn xe cuối cùng đã chạy qua bên kia cầu .

 

Xuân ơi,

Anh đang ở phi trường Pleiku để chuận bị được không vận lên Kontum. Chiến trường đang ác liệt. Căn cứ Tân Cảnh vừa thất thủ. Địch quân đang tràn xuống uy hiếp thành phố Kontum. Thành phố  này đang bị cô lập bởi những cái chốt của địch quân trên đỉnh núi ChuPao, cắt đứt quôc lộ 14 nối liền với Pleiku. Sợ lên Kontum rồi, anh không liên lạc được với em, nên viết vội ít dòng tin em và cũng xin lỗi em vì hôm qua, khi chia tay ở nhà em , anh không nói chuyện anh  đi. Mong em thông cảm bởi đó là bí mật quân sự, anh không được phép tiết lộ, mặc dù anh rất yêu em và tin em..

Không biết đến bao giờ mình mới gặp lại, nhưng dù bất cứ hoàn cảnh nào, anh vẫn luôn mang theo trong tim mình hình bóng của em. Em nhớ cầu nguyện cho anh nghe.

Xin cho anh kính lời hỏi thăm hai bác cùng gia đình. Cầu xin Chúa và Đức Mẹ Maria luôn che chở em cùng tất cả mọi người.

Hôn em

Đỗ Lân

Không ngờ lá thư này là lá thư cuối cùng tôi nhận được của Lân. Chỉ ba tuần sau, Lân hy sinh. Người báo tin buồn này chính là Lê Phương Quế, người bạn chí thân của Lân và sau này cũng là bạn của tôi. Lá thư có kèm theo vài di vật, Quế đã nhờ một anh phi công gởi cho tôi từ Pleiku , sau một chuyến đổ quân cho đơn vị  của Quế ở Kontum.

Lân đã bị thương rất nặng khi cùng với vị tiểu đoàn trưởng chui qua hàng rào phòng thủ, mở đường vào giải cứu Bệnh Viện 2 Dã Chiến, đang bị địch quân xua xe tăng đánh chiếm, với ý đồ lợi dụng những thương binh nằm trong bệnh viện, làm bàn đạp tấn công vào khu phi trường nằm sát thị xã Kontum.

Lân chết lúc chờ máy bay tản thương. Chính Quế là người đã vuốt mắt cho Lân và nghe những lời trăn trối cuối cùng. Anh nhờ Quế giữ để trao lại cho tôi cái dây chuyền có mang thánh giá cùng mấy tấm ảnh có hình của cha mẹ anh và của anh mặc lễ phục trắng đội bê rê đỏ khi còn là thiếu sinh quân.

Những tấm ảnh ấy bây giờ vẫn còn trong nhà thờ An Túc, và sợi dây chuyền tôi vẫn còn cất giữ đến hôm nay. Anh Quế còn cho biết thêm, trước khi trút hơi thở cuối cùng, Lân còn thì thào gọi tên tôi, và khi lục trong túi áo, anh Quế còn thấy cái khăn tay và lá thư của tôi tặng Lân trong gói quà tết hôm nào.


–  Thưa thầy, cuối năm 1973 tôi có nhận được thư của thầy. Lúc ấy thầy bị thương nặng, nằm ở quân y viện Pleiku. Tôi có tìm đến thăm, nhưng người ta bảo là thầy đã được chuyển về quân y viện Nguyễn Huệ ở Nha Trang, để được gần nhà.

Lúc ấy đoạn đèo An Khê lại bị địch chiếm, nên xe đò không chạy được. Mấy tháng sau, khi đi được xuống NhaTrang tìm thăm thầy, thì thầy đã xuất viện. Tôi có hỏi nhưng bệnh viện không biết thầy ở đâu.

–  Mô Phật! Đúng như bà nói. Tôi được Hội Đồng Giám Định Y Khoa cho xuất ngũ, vì thương tích. Tôi về sống với mẹ già. Lúc ấy bà cũng đang tu tại gia, ăn chay trường. Suốt một đời bà đã lo lắng cầu nguyện cho cha tôi, rồi đến tôi. Cha tôi cũng đã tử trận năm 1965, trong trận Đồng Xoài, khi ấy tôi chỉ vừa 11 tuồi.

–   Nhờ vậy mà thầy đã đi tu .

–   Lý do đó chỉ một phần. Cái chính là do tôi đã sống trong chiến tranh, chứng kiến bao nhiêu cái chết quá đau lòng, như cái chết của những người còn quá trẻ như Lân. Họ đâu có tội tình gì.

Tôi nghĩ tới cuộc chiến phi nghĩa, khi mà anh em cùng một nhà lại chém giết thù hận lẫn nhau. Tôi nghĩ tới cái Vô Thường, Vô Minh mà Đức Phật đã dạy, nên tôi đã tìm tới cửa Thiền để mong trút bỏ mọi ám ảnh, oan khiên.

Như vừa nhớ ra một điều gì, thầy chỉ tay về hướng sau chùa :

–   Mời bà đi theo tôi. Mong bà sẽ tìm thấy một điều kỳ diệu.

Tôi theo thầy đi dọc theo triền đồi, đến một nơi tương đối bằng phẳng. Lại một khu vườn nhỏ toàn hoa sim. Tuyêt diệu hơn, bên trên các khung cây được treo đầy những cánh lan rừng.

Tôi nhớ tới những cành lan mà Lân thường mang về tặng tôi sau các cuộc hành quân. Ngày xuân, tất cả đang nở rộ một mùa hoa. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn là giữa khu vườn là một ngôi mộ, trên tấm bia lại có cây thánh giá. Tôi thắc mắc hỏi thầy.

Thầy im lặng, không trả lời, ra dấu bảo tôi cùng thầy đến gần ngôi mộ. Tôi bàng hoàng khi đọc mấy dòng chữ trên mô bia :

Giuse Đỗ Lân Sinh ngày 10.7.1953 tại Huế

Tử ngày 11.5.1972 tại Kontum

 

Tôi quỳ trước ngôi mộ, đưa tay lên ngực làm dấu thánh giá rồi khóc sụt sùi. Một cơn gió xào xạc làm chao động cả rừng cây. Dường như tôi đã ngồi ở đây lâu lắm. Khi lau nước mắt đứng lên tôi không còn thấy thầy trụ trì. Có lẽ thầy muốn để tôi ngồi khóc một mình mà thổn thức với người xưa, hay là muốn tránh xa chuyện vui buồn của thế tục.

Khi trở lại chùa, tôi có cảm giác như chân mình đang bước vào khoảng không, hụt hẫng. Chú tiểu chờ tôi trong căn nhà khách, chuyển lại lời xin lỗi của thầy trụ trì và trao lại cho tôi một tờ giấy học trò được xếp làm đôi.

Thầy trụ trì đang cúng ngọ. Tôi mở tờ giấy ra đọc, trong lúc tiếng chuông chùa ngân nga như muốn làm dịu đi phần nào những cơn sóng đang bềnh bồng  trong lòng tôi. Trên tờ giấy chỉ có mấy dòng chữ : Xin chào bà và cám ơn bà.

Chính tôi đã mang hài cốt của anh Lân về cải táng trong vườn chùa, khi được tin nghĩa trang trong thành phố Kontum bị giải tỏa. Anh Lân mồ côi, không còn ai thân thích.Từ nay, xin bà hãy cầu nguyện cho anh Lân, theo nghi thức tôn giáo của bà. Nam Mô A Di Đà Phật.

 

phạmtínanninh

(Tác giả viết lại phỏng theo lời kể của một nữ độc giả. Độc giả này sau khi đọc bài Trên Chiến Trường Xưa (Kontum) của tác giả,  được phổ biến trên nhiều số báo nhân ngày 30.4.2008 đã tìm cách liên lạc với tác giả để  tìm hiểu vế cái chết của người tình cũ. Anh đã tử thương trong trận tái chiếm Bệnh Viện 2 Dã Chiến, Kontum ngày 11.5.1972)

---------

Hình minh họa - Internet

Hồng Anh sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này