Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1366)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (366)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Chuyện của một thời

Thằng bạn Việt kiều mới đây gửi “email” cho tôi:

“… Sàigòn dạo này còn nhiều xích lô không? Cứ đến những ngày tháng tư này, tao lại nhớ đến xích lô. Bây giờ, mày chạy 2 bánh nổi không?….
Chạy 2 bánh ở đây là nghiêng xe, giữ thăng bằng, thì xích lô 3 bánh có thể chạy bằng 2 bánh.
Tên Việt kiều này có thời là đồng nghiệp… xích lô của tôi. Nó đang theo ban triết (Tây) thì đứt phim. Sau 75, mọi ngành học bên văn khoa (trừ ngoại ngữ) đều có vấn đề, môn triết lại càng có vấn đề hơn nữa. Nó (phải) bỏ học, sống lông bông đủ kiểu. Tôi theo ngành khoa học nên được chiếu cố cho học nốt những môn còn thiếu, ra trường và làm việc tại một trung tâm nghiên cứu.
Một buổi chiều cũng dạo tháng tư thế này, lang thang ngoài phố, tình cờ gặp y đang đạp xích lô. Tay bắt mặt mừng. Y ra hiệu cho tôi bước lên xe, chở thẳng ra quán nhậu lề đường. Chén thù chén tạc, đời xích lô lắm chuyện ly kỳ bụi bặm. Y bảo:  
“Tao mướn xe tháng, xài không hết công suất, chiều tôi hay sáng sớm gì đó, khi nào rảnh, mày lấy xe chạy kiếm thêm tiền.”
Tôi hỏi:
“Tao chưa thử xích lô lần nào. Có dễ chạy không?
“Không khó lắm.”
Nói vậy cũng hơi ngần ngừ, tôi đang dạy kèm thi đại học cũng kiếm thêm được chút đỉnh đủ nhậu lai rai. Một bà bước đến bên bàn nhậu hỏi:
Xích lô! Có đi không?”
Thằng bạn lắc đầu:
Nghỉ rồi dì.”
Vài ly rượu đủ làm tôi bốc lên :
Ngồi đó chờ. Để tao!”
Tôi quay qua bà khách:
Dì đi đâu?”
Hình như tôi có khiếu… đạp xích lô. Chẳng cần tập tành gì cả, mọi thứ đều an toàn, trót lọt. Nửa tiếng sau, tôi trở lại quán rượu, đặt số tiền của cuốc xe đầu tiên lên bàn, cười sảng khoái:
“5 giờ rưỡi chiều mai, tao ghé nhà mày lấy xe.”
Những năm sau 75 mọi thứ đều đổi đời. Một thằng đạp xích lô như tôi cũng phải ăn mặc và ứng xử như một người đạp xích lô. Ống quần chân phải xắn cao để khỏi bị xích xe nghiến nát quần, tai nạn dập mặt cũng không chừng. Nhưng điều quan trọng là phải đội nón, tránh nắng là chuyện nhỏ, tránh gặp mặt người quen mới là chuyện lớn. Không ít lần tôi đã đụng phải học trò, đồng nghiệp, thậm chí cả bạn (gái) ngoắc xe. Đời lắm nỗi oái oăm!
Có lần tôi chở hai bà khách, mà trọng lượng của cả hai chắc cũng trên tạ rưỡi. Trưa nắng, dốc cầu Thị Nghè dài như …vô tận. Tôi chợt thấm thía câu thơ của Cao Bá Quát: “ Trời nắng chang chang người trói người…” Hai bà khách vô tư cười nói, sao hai bả không xuống xe đi bộ 1 quãng cho mình đỡ khổ ! Cho dù thế nào, có Chúa làm chứng, tôi đã tận lực làm tròn nhiệm vụ của thằng đạp xích lô, nhưng lực bất tòng tâm, dốc mỗi lúc mỗi cao, tôi không còn ghì nổi tay lái, đành phải buông để xe đổ nhào về phía trước… Đôi khi con người cũng nên biết lắng nghe những lời chửi rủa mà tưởng như đang nghe nhạc... trữ tình, cuộc đời nhờ đó sẽ đỡ khổ hơn chăng?
Một trường hợp khác, tôi chở một bà khách ăn mặc quý phái, túi da, vòng vàng, son phấn sáng rực. Thỏa thuận địa điểm và giá cả xong, tôi khởi hành, dù giá hơi hẻo, nhưng chở một người thì xe cân bằng, dễ chịu hơn chở xe trống. Khi tới nơi, bà khách nói đi xích tới nữa, sắp tới, và tới nữa… cũng cả hơn 2 cây số. Đến đây thì tôi hiểu mình bị lừa vặt, dừng xe lại, và lịch sự mời bà khách xuống. Bả sừng sộ:
“Mày là thằng đạp xích lô, chứ là cái thá gì mà đòi đuổi bà xuống….”
Tôi nổi nóng, nhảy xuống xe, định ăn thua đủ, nhưng thoáng thấy quần mình đang mặc, ống thấp ống cao… Trong nháy mắt, tôi chợt nhận ra đúng thân phận, mình chỉ là thằng đạp xích lô. Tôi xua tay:
“Tặng bà cuốc xe đó.”
Rồi lên xe đạp thẳng, còn kịp nghe tiếng nguýt đuổi theo:
“ Xí….! Nghèo mà còn làm phách…”
Những năm cuối thập niên 70, đầu 80 chẳng ai sống bằng lương nhà nước nổi. Lương kỹ sư khoảng 73 đồng. Nhu yếu phẩm gạo (13kg), đường (0,5kg), thịt mỡ (0,6kg),.. được mua theo giá chính thức. Cũng phải kể, đàn ông được thêm mua 3 gói thuốc đen, phụ nữ vài thước vải mùng. Mấy thứ này ngốn hơn nửa tiền lương rồi. Còn giá thị trường đại khái thế này: 3 đồng/ tô phở bình dân, 3 đồng/xị rượu hạng bét, 0,5 đồng/ly cà phê bắp,.. Đó là mức sống tiêu chuẩn cán bộ (kỹ thuật) là thế. Còn dân thường hầu như phải vật lộn theo giá thị trường, sổ gạo khi có khi không, chen lấn, khoai mì, bo bo, hàng độn đủ thứ… Vậy mà thiên hạ vẫn sống, vẫn loay hoay kiếm cái gì đó để ăn, để tồn tại. Sức đề kháng của con người để sinh tồn trong nhiều trường hợp thật không tưởng tượng nổi. Sau này tôi mới hiểu vì sao mấy ông tù cải tạo, phải chờ thả về mới chịu… đổ bệnh.
La cà trong giới xích lô tôi mới biết ra rằng, không ít người là trí thức (cũ) đã chọn con đường mưu sinh này. Khá bộn cái gọi là “ngụy quân, ngụy quyền” cũng tham gia vào nghề này. Họ khó có chọn lựa nào khác. Ai cũng tìm cách che giấu thân phận, nhưng “phát hiện” ra nhau không phải là điều khó. Lúc ế độ, không có khách, táp xe vào bóng mát nào đó, nằm khểnh trên xe đọc sách: tri thức vẫn là một nhu cầu, ngoài chuyện ăn uống.
Tôi biết có nhiều nhà giáo sau 75 bỏ nghề để đi hớt tóc dạo, bán thuốc lá lẻ, sửa giày dép.. Tôi hỏi một vị:
“Bộ không được lưu dụng hay sao mà bỏ nghề giáo, làm nghề này chi cho cực?”
“Không. Tôi tình nguyện ‘mất dạy.’ Tôi thà “mất dạy”…”
Ông cựu giáo chức cười méo miệng. Tôi không hỏi thêm nữa, sợ ông buồn.
Có một nghề mà mấy ông cựu thầy giáo rất thích, đó là nghề bơm mực bởi vì ít nhiều nó dính dáng tới văn phòng tứ bảo, cũng gần gần với cái “nghiệp” năm xưa của mấy ổng. Tôi xin mở ngoặc một chút để các bạn trẻ có thể hình dung về nghề lỗi thời này. Bút bi mà các bạn đang dùng, xài hết mực thì vất đi. Sau 75, bút bi thuộc loại “quý giá” và là hàng dễ hỏng. Bút nào mà xài được tới hết mực, được xem là hàng… “chất lượng cao,” xài hết thì mang ra ngoài đường bơm mực, xài tiếp. Nói tới bút dỏm, mà không nói tới giấy dỏm thì có vẻ hơi thiếu. Giấy vàng khè, còn lộm cộm những bã rơm rạ nghiền chưa kỹ, đè bút mạnh tay một chút để ra chữ, có khi văng cả bi ra ngoài. Tôi còn lưu giữ khoảng vài trăm trang giấy như thế, trên đó là bút tích các báo cáo và bản dịch tài liệu kỹ thuật. Đôi lúc nhìn lại thấy ngậm ngùi. Quả là một thời kiên nhẫn không cần thiết.
Không phải khách đi xích lô nào cũng hãm tài như tôi vừa kể ở trên. Khách đàn ông dễ chịu hơn, ít kì kèo. Khách nhi đồng thì miễn trả giá, cỡ nào tôi cũng chạy. Khách hào phóng nhất, mà đôi khi cũng xù tỉnh queo nhất là mấy em đi… khách. Hôm nào trúng mánh thì trả đậm, lỡ trật mánh thì hẹn… kiếp sau. Có khách hàng lên xe, buông một câu:
“Anh chở tôi đi đâu loanh quanh cũng được, đi đủ 2 tiếng đồng hồ.”
Thời buổi lúc đó, lên voi xuống chó, tình đời đen bạc, đẩy đưa, tâm tư chất chứa gì đó, người khách im lặng suốt cuốc xe. Tôi chở khách, chở luôn nỗi buồn thời cuộc của họ.
Một buổi sáng chủ nhật, tôi chở bà khách từ chợ An Đông. Bà bao xe nguyên ngày, đi nhiều nơi trong Sàigòn, mỗi nơi đi vào khoảng nửa tiếng, rồi trở ra đi tiếp. Đi kiểu này thì khỏe, tôi khỏi tốn công cảo xe lòng vòng kiếm khách. Tới nơi, khách đi công chuyện của khách, tôi ngả người lên xe nằm chờ, và lấy sách ra đọc. Chặng cuối cùng, bà đi tới bến xe miền Tây, để đón xe đò về Rạch Giá. Có vẻ như đã xong công việc, bà khách ngồi trên xe vui vẻ bắt chuyện:
Anh đạp xích lô lâu chưa?”
Chừng vài tháng.”
Tôi thấy anh đâu có dáng đạp xích lô, mặt mày như thế phải là người có ăn học.”
Tôi đang kiếm sống bằng nghề đạp xích lô mà.”
Ban nãy tôi thoáng thấy anh đọc truyện tiếng Anh, quyển gì, à…’16 skeletons in closet’”
Bà khách này đáo để quá… Tôi im lặng hồi lâu.
Sao anh không đi?”
Đi đâu?” Tôi vờ ngớ ngẩn.
Ở đây khó sống. Bên kia còn thấy tương lai…”
Tới bến xe, bà trả tôi gấp đôi số tiền thỏa thuận.
“Anh không muốn đi thật sao?”
Tôi lờ mờ hiểu ra công việc của bà sáng nay,
“Tôi có hoàn cảnh riêng. Chúc chị đi bằng an.”
Đi vài bước, bà khách chợt quay lại, rút trong túi xách quyển sách:
“Anh cầm quyển này mà đọc.”
Tôi chưa kịp cám ơn bà đã quầy quả đi ngay vào bến. Đó là quyển tiểu thuyết “Chiếc cầu trên sông Drina” của Ivo Andritch.
Sáu tháng đạp xích lô, tôi hiểu ra được nhiều mảng đời, nhiều số phận. Cuộc sống đảo điên và kỳ lạ, một chút tàn nhẫn, một chút thánh thiện, không đơn giản như những gì tôi chúi mũi trong phòng lab.
Biết bao chuyện của một thời, không sao nói hết. Nói ra không phải để “khoe khoang” một thời khổ cực. Đâu chỉ có chuyện cơm áo gạo tiền mới làm mình khổ cực. Khổ nhiều thứ, khổ tinh thần, đến giờ vẫn còn khổ. Tôi nhớ câu nói của một người bạn đã khuất núi: “Nghèo thì ăn bắp ăn khoai cũng chịu được, nhưng chịu nhục thì không” Có cách nào khác không?
Trong những ngày gian khổ đó, bên cạnh những mảng tối, vẫn còn đâu đó vài điểm sáng. Thèm miếng thịt, thèm lắm, vậy mà dĩa thịt trong mâm cơm nhiều khi còn đầy, ngừơi này nhường người nọ, không ai nỡ gắp. Tuổi trẻ thời nay không hình dung nổi chuyện lẻ tẻ đó. Thế hệ @ là phải nhanh như điện xẹt, yêu cuồng sống vội. Đối với họ, cuộc sống là hưởng thụ, đề cao cá nhân, ứng xử theo kiểu bầy đàn mà quên chia sẻ. Thanh niên thiếu nữ giành giựt hoa ở hội chợ hoa Hà Nội năm nào chẳng phải là điều đáng suy nghĩ hay sao? Hay chỉ mới hôm qua, báo đưa tin, cả ngàn “fan” nữ thảng thốt vì vẻ đẹp của một ngôi sao Hàn quốc. Cũng chả trách bọn trẻ được, một khi triết lý giáo dục xem con người là phương tiện cho mục tiêu nào đó, chứ không xem con người là cứu cánh.
Chiếc cầu trên sông Drina được xây từ thế kỷ 16, nối liền Bosnie và Serbie, khi đó Nam Tư còn thuộc đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Máu và nước mắt, thù hận và nhẫn tâm, biết bao sự cố to nhỏ xảy ra chung quanh cây cầu trải suốt 400 năm, từ chiến tranh bệnh dịch cho đến cái chết của một thiếu nữa lao mình xuống sông Drina. Rồi chiếc cầu cũng bị giật sập trong cuộc chiến đầu thế kỷ 20, mang theo nỗi ê chề của cô chủ quán già Lotika vì tình đời bạc bẽo. Số phận của chiếc cầu và thân phận của con người. Bốn trăm năm có là giấc mộng?
Sàigòn bây giờ vẫn còn xe xích lô, nhưng chủ yếu để phục vụ du lịch, chở khách Tây. Nó trở thành hàng trang điểm cho cuộc đời. Người Đà Lạt nói: “ba chiều, chín chiều,” nghĩa là ba chiều mưa, qua đến chiều thứ tư vẫn còn mưa, thì sẽ mưa thêm 5 chiều nữa. Bây giờ Đà Lạt đang mưa, đến chiều thứ ba rồi, và có lẽ với tháng tư này, mai sẽ còn mưa nữa, mưa cho đủ chín chiều, có khác gì “cửu hồi trường, chín chiều quặn đau? ”
Tôi nhìn ra sân vườn, mưa vẫn rơi rả rích. Mưa rơi trên khóm trúc sát bên cửa sổ, rơi từng giọt một, chẳng vội vàng gì. Vậy là 38 năm đã trôi qua, rồi câu chuyện 400 năm chiếc cầu trên sông Drina, và còn biết bao nhiêu chuyện của một thời chưa nói hết. Buồn!
Vũ Thế Thành
Đà Lạt, 28/4/2013
Q.Nga, BKT sưu tầm
Xem thêm...

Chuyện đời thường‏ - Truyện Ngắn

Chuyện đời thường

Nghị Minh
 
 
Ðây là một câu chuyện đời thường, cảm động của nhà văn Nghị Minh (Trung Quốc). Hai nhân vật chính trong truyện đã trải qua những ngộ nhận, bi kịch để cuối cùng nhận ra nhau khi một người không còn nữa trên đời. Nguyễn Hải Hoành chuyển dịch Việt ngữ.
 
 

 
 
 
Cưới nhau được hai năm, chồng tôi bàn với tôi về quê đón mẹ anh lên ở với chúng tôi để bà được sống an nhàn những ngày cuối đời. Bố anh ấy mất sớm từ khi anh còn nhỏ, nên bà mẹ gửi gắm tất cả mọi hy vọng vào anh, một mình bà chắt chiu thắt lưng buộc bụng nuôi anh khôn lớn cho tới ngày học xong đại học.
Xem thêm...

Tiếng gọi “ Thầy ơi ” trên Sông Chữ

 

Tiếng gọi “ Thầy ơi ” trên Sông Chữ

 

Người thầy là một hình tương đẹp, cao cả trong đời sống tinh thần của dân tộc. Tiếng gọi ”thầy” là cả niềm tôn kính đối với những người đem tình yêu thương, trí tuệ, đạo đức đến với cuộc đời. Cho nên người thầy trong văn chương là hình ảnh đầy thi vị, là hình ảnh  trân trọng và tràn đầy cảm hứng ngợi ca. Người thầy được gọi gần gũi với một so sánh “Người lái đò”. Cách so sánh ấy được Nguyễn Thúy Quỳnh tạo nên một tứ thơ lạ, thể hiện một cách cảm chân thực, sâu sắc về người thầy. Với bài thơ “Thầy tôi”, người đọc  cảm nhận về nỗi ưu tư, một sự giằng xóc, nhói đau, chất chứa trong lòng người thầy. Cảm nhận như thế về người thầy trong cuộc sống hôm nay, theo tôi là mới và tạo được một dư âm. Bài thơ kết bằng tiếng gọi: ”thầy ơi” có sức lay từ một cảm xúc trong sáng, thiết tha và ấp áp!

Mở đầu bài thơ là hình tượng người thầy trong cảm hứng ngợi ca của tác giả:


Một đời tích nghĩa nhân
Thầy tôi đóng con đò đưa người qua sông chữ.

Xem thêm...

CULTURAL CONFRONTATION - Thầy lưu như hải

CULTURAL CONFRONTATION
Intended for advanced level Vietnamese students of ESL, Third-generation Vietnamese who do not major in Comparative Linguistics, and students of Vietnamese as a second language.
Note: You are about to read an updated, ameliorated version of my presentation to the English teaching staff at the Consolidated Civilian Personnel Office (formerly Training Center for civilian employees), US Naval Support Activities, ICTZ, Viet Nam, 1971.     
It goes without saying that language is a matter of habit and that the language of such and such country cannot be separated from its culture. Before going into details let us examine the following phenomena:
(a) In the monosyllabic Vietnamese language, the verb forms have no inflections and remain the same for the present, the past, and the future tenses. An auxiliary verb like đã (to form the past tense) or sẽ (future tense) is optional because a time indicator like hôm qua (yesterday), hôm nay (today), or ngày mai (tomorrow), etc., orthe context itself already shows/implies what specific tense is involved.  
The time indicator is usually in the front position in a sentence.
NB: Under the unique circumstance below, the tense shifts from the past to the future simply by switching the positions of the time indicator.
Past tense:   Anh về nhà hôm nào? Literally, [On] what day did you come back home?
versus
Future tense: Hôm nào anh về nhà? Literally,[On] what day will you come back home?
(b) In the polysyllabic English language, the verb forms have inflections ─ sometimes in combination with an auxiliary verb ─ to indicate a particular tense. The time indicator is usually in the final position in a sentence.
At this point there arises an interesting question as to whether the existence of tense-specifying verb forms reflects the American habit of punctuality and whether the absence of the corresponding grammatical features leads to the Vietnamese tendency of tardiness. The contrast can be seen in the following illustration. When you receive a Vietnamese invitation card that reads “... the wedding reception [at XYZ Restaurant...] starts at 6 PM ...”, you expect to see  many Vietnamese guests arrive at the restaurant around 7 PM and most Americans waiting there since 6 PM. And the Vietnamese wedding reception may begin around 8 PM.
The next question is, “Why so?” A possible answer might be, “It’s cultural confrontation!” Translated, “Language is a habit, an element of a particular culture; and a certain language with or without specific verb tense forms may or may not lead to punctuality.” This supposition has not been scientifically verified but at least it shows some relationship between language and culture.
A closer look at the Vietnamese popular habit of tardiness takes us to the fact that Viet Nam historically is an agricultural country where farmers live in psychological time instead of physical time. I neither mean a certain habit is good or bad nor maintain a particular language is better than others. I simply would like to observe the similarities and differences of English and Vietnamese together with their corresponding cultures in hopes of expediting the process of adapting myself to the new cultural environment of the target language.
Apart from the habit of being punctual or tardy, there remain many other noteworthy issues including but not limited to the word order, the absence of personal subject pronouns, the omittance of linking verbs, the English articles versus the Vietnamese classifiers, the family kinship/social relationship terminology, brevity versus wordiness, the sign laguage, etc. All of those things and others contribute to the natural cultural friction that ESL learners, Third-generation Vietnamese who do not major in Comparative Linguistics, and American learners of Vietnamese as a second language need to know so as to “do as the Romans do when in Rome”.
1.     WORD ORDER.  
1.1.English and Vietnamese word orders are sometimes the reverse of each other.
In the mindset of English speakers, the second word in a set of two words conveys the main idea while the first word simply modifies the second one. Vietnamese speakers think the other way around. As a result, misunderstanding/confusion may arise from such combinations as blue sky/sky blue, snow white/white snow, horse race/race horse, new brand/brand new, etc.
            Other reverse word-order examples are first/last names vs. last/first namesand month/day/year vs. day/month/year.  A passenger bearing a US-issued ID/Passport may have trouble  at a Viet Nam point-of-entry because of those reverse word orders.
1.2.Not all possible permutations of a set of Vietnamese words make sense but some
of them do. See a few examples below.
1.2.1.     Most permutations of the set ăn, được, không exist in Vietnamese but
the permutations of their English equivalents (eat/eating, OK/be permitted, no/not) do not make a grammatically correct sentence .
Ăn được không?  Literally, Is it edible? / Is it OK to eat?
Được ăn không?  Lit., Am I permitted to eat?   
Không được ăn.   Lit., No eating/ Eating is prohibited. 
Không ăn được.   Lit., Inedible / One is not able to eat [because of sickness, for example].  
Ăn không được.   Lit. Inedible / One is not able to eat [because of sickness, for example].
Remark: “Được không ăn” does not make sense.
1.2.2. Possible permutations of the set câu, được, không, cấm  (fishing, OK/permitted,  no/not, prohibited).
Câu được không cấm.  Lit., Fishing permitted/Fishing not prohibited.  
Cấm không được câu.  Lit., Fishing prohibited..
Được câu không cấm.  Lit.,  No fishting.
Không được cấm câu.  Lit.,  It is not OK/legal to prohibit fishing.
Không cấm câu được.  Lit.,  It is not OK/feasible to prohibit fishing.
Cấm câu được không?  Lit., Is it OK/legal/feasible to prohibit fishing?
Được cấm câu không?  Lit., Is it OK/legal to prohibit fishing?
Remarks: Some other possible permutations of the set câu, được, không, cấm that do not make sense are not included in the above list.
The possible permutations of the English equivalents fishing, OK/permitted,  no/not, prohibited do not make a grammatically correct sentence.
1.2.3.     Possible permutations of the set  câu, được, không, cấm, đâu
(fishing, OK/permitted, no/not, prohibited, at all/where):
Câu được không cấm đâu. Fishing permitted. Fishing not prohibited.
Câu không cấm được đâu. Fishing not prohibited at all.
Được câu không cấm đâu. Fishing permitted. Fishing not prohibited.
Đâu cấm không được câu? Where is fishing prohibited?
Đâu không được cấm câu? Where is “no fishing” prohibited?
                                              Where is prohibition against fishing not permitted?
Không được cấm câu đâu.  Prohibition of fishing is not permitted at all.
Không cấm câu được đâu.  Prohibition of fishing is not lawful/feasible at all.
etc.
2. ABSENCE OF PERSONAL SUBJECT PRONOUNS.
      In Vietnamese a personal subject pronoun is sometimes omitted because it is implied by
the context. As an illustration, below is the grammatically incorrect English translation of two acceptable Vietnamese sentences.
Buồn rầu nhìn ra ngoài cửa sổ:  Sorrowfully looked out of the window. [NO subject pronoun]
Hôm nay nấu cơm:  Cooked rice today. [NO subject pronoun]
Also see Buồn trông chênh chếch Sao Mai...; Buồn trông con nhện giăng tơ (Folk poetry); Buồn trông cửa bể chiều hôm... (Nguyễn Du)
3.ABSENCE OF LINKING VERBS.
      Linking verbs are almost always understood or omitted in Vietnamese.
Ex.:  I happy.  She rich.    (Word-for-word, ungrammatical translation)
4. ENGLISH ARTICLES VERSUS VIETNAMESE CLASSIFIERS.
     There are only three English articles, viz., a, an, and the. Without additional words,
an article alone cannot adequately and appropriately enrich the denotation/connotation of the noun it accompanies. By contrast, there are dozens of Vietnamese classifiers each one of which precedes a particular noun for a specific purpose.
4.1.      English:                       a/the cloud: physical denotation
            Vietnamese:                đám mây:  physical denotation
                                                áng mây: emotional/sentimental/idyllic/romantic connotation
4.2.      English:                       love, a love, the love
Vietnamese:                cuộc tình: romantic connotation
mối tình: more romantic connotation, as in Ta mang cho em một      mối tình  (Trịnh Công Sơn)
khối tình: the most romantic connotation, as in Khối tình Trương Chi (Folklore; also the title of a song by Ph ạm Duy)
4.3.      English:                      a/the house, a/the home: Note the same articles a/the for both                                  
physical  denotation (a house) and psychological/emotional connotation (a home); nowadays a house and a home may be used without distinction.
            Vietnamese:                cái nhà, căn nhà: physical denotation
                                                mái nhà/mái ấm: emotional connotation, as in mái ấm gia đình
                                                Note: “mái nhà”/ “cái mái nhà” is the roof of a house.
4.4.      English:                      a/the boat
            Vietnamese:                cái/chiếc thuyền: physical denotation
con thuyền: poetic, romantic, as in Con thuyền không bến by
Đặng Thế Phong.
4.5.      English:                      a/the heart
            Vietnamese:                trái tim: physical denotation
                                                con tim: poetic, romantic connotation
                                                                                                               
5. FAMILY KINSHIP/SOCIAL RELATIONSHIP TERMINOLOGY .        
This is one of the most challenging topics for American students of Vietnamese as a second language and third-generation Vietnamese due to the fact that Vietnamese people are brought up to be respectful of parental authority and social/government hierarchy.  Generally speaking, first-generation Vietnamese are ceremonious and polite to the extent of feudalistic-mindedness. No wonder a lot of different Vietnamese terms correspond to a few English personal pronouns, depending on who is speaking and who is spoken to.
5.1. Who is speaking? Who is spoken to?
The “one-size-fits-all” equality-minded English pronouns “I”,“me,“you”, and “you”grammatically correspond to dozens of semantically hierarchy-oriented Vietnamese terms.  At this point there appears another interesting cultural thesis that such and such country with equality-minded people is more open-minded and therefore more receptive to a transition to democracy.
5.1.1.     The speaker ─ be it a John Doe/Jane Doe or a King/Queen ─ speaking to anybody and everybody no matter who they are and what they are, refers to himself/herself as I or me, with the listener being addressed as you.
5.1.2.     By contrast, two factors must be taken into account before two or more Vietnamese exchange greetings or begin a conversation. Number one, “Who/What is the speaker?” Number two, “Who/What is the listener?” These pieces of personal information include ─ among other things ─ the speaker’s/listener’s age, family kinship, social position/relationship, marital status, education, occupation, etc ...
EXAMPLES
 
ABBREVIATIONS
A: Male or Female Adult             C: Children         
E/OM: Elderly/Old-age  Male        E/OF:  Elderly/Old-age Female           F: Female              
FA: Female Adult                         Fm: Formal                                          Fr: Friendly                   
If: Informal            M: Male        MA: Male Adult            M/FA: Male/Female Adult
SP: Social Position                       Y: Young                      U: Unknown
 
SPEAKER(S)     to     LISTENER(S)
REMARKS
A  to  MA:                            Tôi  ─  ông
A  to   married FA:               Tôi  ─  bà
A  to  unmarried FA:            Tôi  ─  cô
A  to  unmarried FA with
top/high-ranking position:    Tôi  ─  bà                        
Fm
Fm
Fm
 
To show respect, as in Bà Bộ Trưởng Ngoại Giao Condelezza Rice.
(Voice of America unwritten policy)
A to younger MA:                 Tôi ông
                                               Tôi anh
                                               Tôi ─ chú
A is much older than MA:     Tôi ─ cháu                                
A to younger FA:                   Tôi  ─ bà
                                               Tôi ─  cô
                                               Tôi  ─ em
A is much older thanFA:      Tôi ─ cháu                                   
Fm
If/Fr
Intimate
Showing affection and intimacy
Fm
Fm
If/Fr
Showing affection and intimacy
A to MA of same or older age/          
equal social position:             Tôi ─ ông
                                               Tôi anh
                                               Tôi bác
                                               Tôi bác
                                           
A to FA of same or older age/                                                         equal social position:             Tôi  ─ bà
                                               Tôi  ─ chị
 
Fm
If/Fr
To show respect
Intimate; sometimes humorous, as in Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác.
 
Fm
If/Fr/Intimate
A to C:                                   Tôi  ─ em
                                              Tôi ─ cháu                                
Fm
If/Fr; sometimes with affection
Younger A to older MA:      Em  ─ ông
Younger A to much older MA:
                                            Cháu  ─ ông
                                            Con   ─  ông
Fm/Fr
 
Fm/Fr, showing affection/respect
Fm/Fr, showing affection/respect
Younger A to older FA:      Tôi  ─ bà
 
Younger A to much older FA: Em  ─  bà
                                            Cháu ─ bà
                                            Con  ─  bà
Fm
 
Fm/Fr
Fm/Fr, showing affection/respect
Fm/Fr, showing affection/respect
M/FA  to  E/OM:         Tôi ─ cụ /cụ  ông
Fm
M/FA  to  E/OF:          Tôi ─ cụ /cụ  bà
Fm
Child to father/son-in-law to father-in-law/daughter-in-law to father-in-law:
Con ─ ba/bố/cha
 
 
Fm
Child to mother/ son-in-law to mother-in-law/daughter-in-law to mother-in-law:                                Con ─ má/mẹ
Fm
Father to child/son-in-law/daughter-in-law:                         Ba/Bố/Cha ─ con
 
Fm
Mother to child/ son-in-law/daughter-in-law:                                    Má/mẹ ─ con
Fm
Grandchild to grandfather:  Cháu ─  ông
Fm
Grandchild to grandmother: Cháu ─  bà
Fm
Grandfather to grandchild:  Ông ─ cháu
Fm
Grandmother to grandchild: Bà ─ cháu
Fm
Nephew/Niece to an elder brother of his/her father’s:                    Cháu ─ bác
 
Fm
Nephew/Niece to a younger brother of his/her father’s:                    Cháu ─ chú
 
Fm
Nephew/Niece to an elder/younger sister of his/her father’s:       Cháu  ─ cô          
 
Fm
Nephew/Niece to an elder/younger  brother of his/her mother’s:  Cháu  ─ cậu                                           
 
Fm
Nephew/Niece to an elder/younger  sister of his/her mother’s:     Cháu  ─  dì
 
Fm
Nephew/niece to the wife of his/her father’s elder brother:           Cháu ─ bác
 
Fm
Nephew/niece to the wife of his/her father’s younger brother:       Cháu  ─ cô               
 
Fm
Nephew/Niece to the wife of his/her mother’s elder/younger brother:                    Cháu  ─ mợ              
 
Fm
Nephew/Niece to the husband of his/her mother’s elder/younger sister:
                                         Cháu ─ dượng
 
 
Fm
Sibling to older brother:        Em/tôi ─ anh
Sibling to older sister:           Em/tôi ─ chị
Brother to younger sibling:  Anh/tôi  ─  em
Sister to younger sibling:     Chị/tôi ─  em
                                    
Fm
Fm
Fm
Fm
Anybody to anybody:  Tao/tau ─ mày/mi
Intimate
Anybody to anybody:  Tao/tau ─ mày/mi
Impolite, offensive
Warning: Use extreme caution
Student to male teacher:      Tôi  ─ thầy
                                             Em ─  thầy
                                             Con ─  thầy
 
Student to female teacher:   Tôi  ─ cô
                                             Em ─ cô
                                            Con ─  cô
Fm; keeping a distance
Fr/Affectionate
Showing respect when teacher is of the same age as student’s father/mother
Fm; keeping a distance
Fr/Affectionate
Showing respect when teacher is of the same age as student’s father/mother
M/F teacher to male student: Tôi  ─ anh
                                               Tôi  ─ em
M/F teacher to female student:  Tôi  ─ chị
                                               Tôi  ─ em
Keeping a distance
Fr/Affectionate
Keeping a distance
Fr/Affectionate
Husband to wife (even if husband is younger than wife):                Anh ─ em
                                      Anh/Tôi ─ mình
Tôi  ─ em
                                               Tôi ─ cô
                                               Tôi ─ bà                                                                                              
                                Tao/tau  ─ mi/mày    
 
Normal
Emotional. Romantic.
Less friendly
A little bit indifferent
A storm cloud is gathering
Consultant needed.  Divorce pending.
Wife to husband (even if wife is older
than husband):                      Em  ─ anh
Em/Tôi ─ mình                                 
Tôi  ─ anh
                                             Tôi   ông  
                                 Tao/tau  ─ mi/mày                            
 
Normal
Emotional. Romantic.
Less friendly
A storm cloud is gathering
Consultant needed. Divorce pending.
Patient to doctor/dentist/pharmacist
of any age:
 Tôi  ─ Bác sĩ/Nha sĩ/Dược sĩ                                         
 
 
Fm
Young A to young A, C to C:
                               Tớ ─ đằng ấy
 
Intimate; among close friends/family members
 
 
     
All things considered so far, it is crystal clear that culture is a key characteristic of human society, and that from the proverb “So many heads, so many ideas”, we can safely say “So many countries, so many cultures”.  Culture reflects every aspect of life from language to religion to civilization, just to name a few. The understanding and acceptance of different cultures can help different peoples in the world to co-exist in a multi-lateral beneficial way. In the course of history, however, cultural confrontation sometimes leads to military conflicts with devastating consequences. One of the  reasons why many of the world powers have failed in an overseas mission  ─ be it initiated by good will or megalomania ─ is the very ignorance of foreign cultures.
      Although building Utopia on earth is unfeasible, the latest statement made by
Cardinal Daniel DiNardo of the Archdiocese of Galveston-Houston sheds a glow on the hope for cultural harmony, among other things. During a recent interview in Houston, in answer to a question by the Houston Chronicle reporter Jayme Fraser relating to the specific skills that Cardinal DiNardo would be looking for in the future pontiff, he suggested a number of qualifications then added  “I [Cardinal DiNardo] think that the Pope has to be someone gifted linguistically...” [1]
      As mentioned in the very beginning of this article, language and culture cannot be separated. Therefore, not only do the Catholics expect cultural harmony on earth but all the people and peoples in the world also dream of the same.
HAI LUU
Fmr. Instructor,
School of Languages Studies, US Dept. of State
Copyright © 2013 by Hai Luu


[1] HOUSTON CHRONICLE, Vol. 112 No. 134.  February 25, 2013. Section B. pp B1, B4.
Xem thêm...
Theo dõi RSS này