Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1367)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (75)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (73)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (366)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Cuốn Theo Chiều Gió

 

Cuốn Theo Chiều Gió

  Phạm Văn Tuấn 

 

 Cuốn theo chiều gió" - 12 điều bạn có thể chưa biết

 A - 'Cuốn Theo Chiều Gió' và kỷ niệm 150 năm nội chiến Mỹ
Trong tuần lễ từ 12 tháng Tư, nước Mỹ đã bắt đầu những tiết mục kỷ niệm ngày nội chiến bùng nổ 150 năm trước đây. Cũng vào dịp này cuốn sách và cuốn phim "Gone with The Wind" (Cuốn Theo Chiều Gió) với bối cảnh là cuộc nội chiến đã được những người ái mộ, những "Windies" nhắc nhở đến nhiều, nhất là tại Atlanta và vùng phụ cận, nơi có viện bảo tàng Gone With the Wind.
Lan Phương - VOA | Washington, DC  

 Margaret Mitchell's Lasting Gift | Irish America

 B - Margaret M. Mitchell (1900-1949) Và Tác Phẩm Cuốn Theo Chiều Gió

Margaret Munnerlyn Mitchell (8 th.11/1900 – 16 th. 8/1949) là nhà văn nữ người Mỹ, đã đoạt Giải Thưởng Pulitzer năm 1937 nhờ cuốn tiểu thuyết rất thành công của bà, với tên gọi là Cuốn Theo Chiều Gió (Gone with the Wind).

Đây là một trong các tác phẩm danh tiếng nhất của mọi thời đại, được xuất bản năm 1936. Trong vòng 6 tháng, 1 triệu ấn bản đã được bán hết với sức mua là 50,000 cuốn mỗi ngày. Đây cũng là tác phẩm có số lượng cao nhất trong lịch sử xuất bản của Hoa Kỳ, đã vượt qua kỷ lục 12 triệu cuốn vào năm 1965, được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ khác nhau và phổ biến trên 40 quốc gia. Riêng bản tiếng Anh, tác phẩm này đã được bán ra với trên 200,000 cuốn mỗi năm và còn là một trong các tiểu thuyết bán chạy nhất cho tới ngày nay.

Cuốn phim phỏng tác theo tác phẩm “Cuốn Theo Chiều Gió” được trình chiếu vào năm 1939, với nữ tài tử Vivien Leigh đóng vai Scarlett O’ Hara còn thủ vai Rhett Butler là nam tài tử Clark Gable. Đây là một bộ phim xuất sắc trong lịch sử Điện Ảnh của Hollywood và đã nhận được 8 phần thưởng điện ảnh cao quý (Academy Awards).

1. Cuộc đời lúc ban đầu

Margaret M. Mitchell chào đời tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, vào ngày 8 tháng 11 năm 1900. Cô bé này được gia đình gọi bằng tên Peggy, đã lớn lên trong khung cảnh miền Nam Hoa Kỳ, đã sống với các bà con bên mẹ là những cựu chiến binh trong cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ (1861-65) và là những người dân của Phe Miền Nam thất trận. Vì vậy cô Peggy đã được nghe kể lại rất nhiều câu chuyện liên quan tới cuộc chiến tranh và các hậu quả.

Sau khi tốt nghiệp từ trường Washington Seminary (bây giờ là trường Westminster), cô Margaret đã theo học Đại Học Smith (Smith College) nhưng sau kỳ thi cuối cùng năm 1918, cô đã rút lui, không theo đuổi con đường học vấn. Do bà mẹ qua đời vì bệnh cúm, cô Margaret phải trở về Atlanta để lo công việc gia đình. Sau đó không lâu, cô tham gia vào ban biên tập của tờ nhật báo Atlanta (the Atlanta Journal) và thường viết bài cho ấn bản ngày Chủ Nhật.

Vào năm 1922, cô Margaret Mitchell kết hôn với ông Red Upshaw nhưng không lâu sau đó, hai người đã ly dị nhau vì cô khám phá ra ông chồng là người làm và nấu rượu lậu. Rồi cô lập gia đình với người bạn phù rể của chồng trước, là ông John Marsh vào ngày 4 tháng 7 năm 1925. Có câu chuyện kể rằng trước kia, cả hai anh Red Upshaw và John Marsh đều theo đuổi cô Margaret trong khoảng hai năm 1921 và 1922 nhưng anh Upshaw cầu hôn trước.

2. Viết Tác Phẩm Cuốn Theo Chiều Gió

Khi phải nằm nhà để điều trị vì bị gẫy mắt cá chân, cô Margaret đã được ông chồng John Marsh mượn từ thư viện rất nhiều cuốn sách lịch sử. Sau một thời gian, ông John bảo vợ: “Peggy, nếu em muốn một tác phẩm khác nữa, tại sao em không tự viết ra một cuốn”. Do vậy, Margaret đã dùng các kiến thức của mình về cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ cộng với những hoàn cảnh trắc trở trong cuộc đời của mình để viết nên một tiểu thuyết chứa đựng bên trong rất nhiều tình tiết và rồi tác giả đánh máy cuốn truyện bằng một máy chữ cũ Remington. Lúc đầu, Margaret đã gọi nhân vật nữ anh hùng của mình là “Pansy O’ Hara và đồn điền Tara được gọi là “Fontenoy Hall“, còn về tên gọi của cuốn truyện, Margaret phân vân trước hai tên sau: “Mang Gánh Nặng” (Tote your Heavy Load) và “Ngày Mai là một Ngày Khác” (Tomorrow is Another Day).

Khởi đầu, Margaret viết truyện để làm vui cho chính mình dưới sự giúp đỡ của chồng và cô không nói cho các bạn biết rằng mình đã viết văn. Cô đã dấu kín các bản thảo trong các bao thư lớn, để dưới gầm giường hay trong phòng kho nhỏ. Margaret đã viết không theo thứ tự, bắt đầu bằng chương cuối cùng và đôi khi nhẩy cách từ chương này qua chương khác. Chồng của cô thường đọc các bản thảo để giúp cô duy trì sự liên tục trong cuốn truyện.

Vào năm 1929, khi vết thương tại mắt cá chân đã lành thì phần lớn cuốn truyện đã được viết xong và cô Margaret cũng cảm thấy không còn phấn khởi để ra thư viện tìm kiếm thêm các tài liệu. Margaret Mitchell đã sinh sống như một phụ nữ viết báo bình thường và khiêm tốn, tại thành phố Atlanta cho đến khi một buổi gặp gỡ định mệnh tới với cô vào năm 1935.

Vào thời gian này, một nhân viên của nhà xuất bản MacMillan tên là Howard Latham đã tới Atlanta để tìm kiếm các nhà văn mới của miền Nam Hoa Kỳ. Một người bạn trước kia làm việc với ông Lantham đã yêu cầu cô Margaret Mitchell đưa ông ta đi vòng quanh thành phố và ông Howard Latham thấy cô Margaret rất vui vẻ, hấp dẫn trong cách nói chuyện, nên đã hỏi xem cô Margaret đã từng viết một cuốn tiểu thuyết bao giờ chưa.

Margaret Mitchell rất ngần ngại vì trước kia, một người bạn đã chế riễu cô, nhân câu chuyện thường ngày:”Hãy tưởng tượng xem, một người cù lần như Peggy mà dám viết văn” và cô chưa từng nuôi giấc mộng đưa bản thảo cho một nhà xuất bản. Ông Latham đã cầu khẩn: “Nếu cô đã viết ra một cuốn truyện rồi, làm ơn cho tôi coi cuốn đó trước các người khác”.

Cô Margaret trở về nhà, rất lo lắng khi lục tìm các bao thư lớn chứa đựng bản thảo mà cô đã xếp vào một xó. Cô tới khách sạn Georgian Terrace vào lúc ông Latham đang chuẩn bị rời Atlanta và cô đã nói với ông ta: “Xin hãy giữ lấy thứ này trước khi tôi đổi ý”. Ông Latham bèn mua một va li khác để chứa đựng khối lượng bản thảo lớn hơn con người nhỏ bé của tác giả. Khi trở về nhà, cô Margaret đã gửi một điện tín tới ông Latham: “Tôi đã đổi ý định. Xin hãy gửi lại cho tôi các bản thảo”.

Nhưng, tất cả đã muộn. Ông Latham đã đọc rất nhiều trang viết và đã nhận ra rằng mình đang có trong tay một cuốn truyện rất hấp dẫn. Vì thế đáng lẽ trả lại bản thảo, ông Latham đã cho cô Margaret biết mình nghĩ thế nào về cuốn truyện và tin rằng sau khi xuất bản, cuốn tiểu thuyết này sẽ thành công. Ông Latham cũng gửi gấp tới cô Margaret một tấm ngân phiếu để yêu cầu cô viết xong cuốn tiểu thuyết và nhà văn nữ Margaret Mitchell đã hoàn thành chương một, cuối cùng, vào tháng 3 năm 1936. Tên của cuốn tiểu thuyết bắt nguồn từ bài thơ “Cynara” của Ernest Dowson, với dòng đầu của đoạn thứ ba như sau: “Non sum qualis eram bonae sub regno Cynarae” = “Anh đã quên mất nhiều rồi, Cynara! Cuốn theo chiều gió”. (I have forgot much, Cynara! Gone with the wind). Dòng chữ “cuốn theo chiều gió” cũng xuất hiện khi thành phố Atlanta bị quân đội Miền Bắc bắn phá, nàng Scarlett đã phải bỏ chạy về đồn điền Tara của gia đình và nàng tự hỏi: “Tara còn đứng vững không? Hay là Tara đã bị “cuốn theo chiều gió”, cơn gió mạnh thổi qua Georgia?”. Cuốn tiểu thuyết “Cuốn Theo Chiều Gió” được in xong vào ngày 30 tháng 6 năm 1936.

3. Nhà Văn Nữ Margaret Mitchell qua đời

Vào tháng 8 năm 1949, Margaret Mitchell cùng với chồng băng qua con đường Peachtree, gần góc đường thứ 13 (13th Street) thì một xe taxi chạy quá tốc độ đã đâm vào nhà văn này. Năm ngày sau, Margaret Mitchell qua đời tại bệnh viện Grady vì các vết thương. Người tài xế xe taxi bị kết tội lái xe khi say rượu, nên đã gây ra tai nạn chết người và đã bị phạt phải làm lao động nặng trong 40 năm. Việc kết tội này cũng gây nên cuộc tranh luận bởi vì các người chứng kiến cho rằng cô Margaret đã bước xuống đường mà không nhìn hai phía và các bạn của cô cũng xác nhận rằng đây là khuyết điểm thường xuyên của cô.

Nhà văn nữ Margaret Mitchell qua đời năm 48 tuổi, được chôn cất tại nghĩa trang Oakland thuộc thành phố Atlanta.

Trong nhiều thập niên, người ta thường tin rằng Margaret Mitchell chỉ viết một cuốn truyện. Thực ra, Margaret có một người đã từng theo đuổi cô tên là Henry Love Angel. Người con trai của ông Angel này vào năm 1990 đã khám phá thấy trong số các bức thư mà cô Margaret gửi trong thập niên 1920 cho ông Angel, có bản thảo của một cuốn tiểu thuyết ngắn (novella) có tên là Lost Laysen, kể về một chuyện tình tại miền Nam Thái Bình Dương. Bản thảo này được chuyển tới Viện Bảo Tàng “Road to Tara” tại Atlanta và nơi này đã xác nhận cuốn truyện kể trên là thực sự của tác giả Margaret Mitchell. Một ấn bản đặc biệt của cuốn Lost Laysen đã được Debra Free biên tập và xuất bản vào năm 1996 do nhà in Scribner của nhà phát hành Simon & Schuster.

Cuốn truyện Cuốn Theo Chiều Gió đã được nhà sản xuất David O. Selznick chọn để quay thành phim, lần trình chiếu đầu tiên là vào ngày 15 tháng 12 năm 1939.

Ngày nay, căn nhà mà cô Margaret Mitchell đã sinh sống và viết ra bản thảo được gọi là “The Margaret Mitchell House”, tọa lạc tại trung tâm thành phố Atlanta, đây là nơi du lịch chính. Một Viện Bảo Tàng dành cho việc lưu trữ cuốn sách và các y phục, các vật dụng liên quan tới cuốn phim, được gọi là “Scarlet On Square” hiện đặt tại Marietta, Georgia. Ngoài ra còn có Viện Bảo Tàng “The Road to Tara” ở trung tâm thành phố Jonesboro.

4. Cốt truyện của Tác Phẩm Cuốn Theo Chiều Gió

Scarlett O’ Hara là một hoa khôi của địa phương Georgia nên được nhiều chàng trai theo đuổi. Cô thường hay tham dự vào các buổi dạ tiệc, dạ vũ hay các lần họp bạn nấu ăn ngoài trời. Một hôm, Scarlett bị xúc động mạnh khi Ashley Wilkes, chàng thanh niên con ông chủ đồn điền bên cạnh, báo tin cho nàng biết rằng chàng đã hứa hôn với Melanie Hamilton, một cô em họ của Scarlett.

Khi không thể thuyết phục Ashley đổi ý, Scarlett bèn tán tỉnh Charles Hamilton và chàng trai này rất ngạc nhiên vì vẫn tưởng rằng người đẹp này sẽ không bao giờ chú ý đến mình. Trong khi các chương trình của Scarlett còn dang dở thì cuộc Nội Chiến tràn lan tới, các chàng thanh niên phải tham gia vào quân đội và Charles bị tử trận. Vì vậy Scarlett đã trải qua nhiều năm tại Atlanta, sống một cuộc đời buông thả, mặc cho các bạn gái cùng giai cấp chê trách.

Cuộc đời của Scarlett lại trở nên phức tạp khi xuất hiện Rhett Butler, một tên cướp biển trước kia và hiện nay là một kẻ cơ hội, nên không được chấp nhận tại thị xã sinh quán là Savannah. Rhett đã khiến cho Scarlett yêu thương mình nhưng tính bộc trực và những nhận xét ngay thẳng của chàng này đã làm cho Scarlett tức giận nhiều lần.

Trong khi thành phố Atlanta bị quân đội Miền Bắc bao vây, Scarlett bỏ chạy về đồn điền Tara của mình cùng với người bà con Melanie và cháu bé mới sinh tên là Beau. Tại nơi này, nàng Scarlett học cách sống còn trong các hoàn cảnh cực khổ trên cánh đồng và có khi cầm súng bắn các người lính Miền Bắc (Yankee soldiers) để bảo vệ ngôi nhà.

Khi chiến tranh chấm dứt, Scarlett lại phải đương đầu với các hoàn cảnh khó khăn khác. Chính quyền địa phương đã tăng thuế và các kẻ bất lương đang tìm cách cướp đi đồn điền Tara của nàng. Scarlett bèn trở về Atlanta, cố gắng gặp lại Rhett để lừa dối chàng này là mình sẽ kết hôn với chàng, với chủ đích mượn số tiền 300 mỹ kim để trả thuế. Khi cách thức kể trên không thành công, Scarlett đã ăn cắp tiền của Frank Kennedy, hôn phu của người em và món tiền này là để dành cho đám cưới. Vì muốn cứu lại đồn điền Tara, Scarlett đã phản bội người em, lập gia đình với Frank, trả phần thuế còn thiếu và tận tụy giúp cho cơ sở thương mại của Frank được phát đạt.

Sau khi tìm cách hối lộ để ra khỏi nhà tù vì cách làm ăn phi pháp trước kia, Rhett đã cho Scarlett một số tiền lớn để mua một nhà máy xẻ gỗ và nàng trở nên một nữ thương gia khôn khéo.

Một hôm, một tên da đen được giải phóng và một tên đồng lõa da trắng đã tấn công Scarlett trên đường về. Vì vậy bọn Ku Klux Klan đã báo thù cho nàng và trong trận đụng độ, Frank bị chết. Tới lúc này, Rhett cầu hôn với Scarlett và cô nàng nhận lời. Sau lần trăng mật dài và xa hoa tại New Orleans, Scarlett và Rhett trở lại Atlanta, họ sống trong một ngôi nhà lớn và giao tiếp với các người giàu sang. Trong cuộc hôn nhân gây chấn động này, Scarlett thường hay mơ tưởng hão huyền Rhett là Ashley. Nàng có thai lần thứ hai với Rhett và sinh ra bé gái Bonnie Blue Rhett.

Tình cảm của Scarlett với Rhett đã không thể cứu vãn được khi Bonnie, đứa con chung lên 4 tuổi, đã bị tử thương vì ngã ngựa. Hai người đã chia tay nhau. Khi Melanie qua đời, Scarlett hầu như sống cô đơn, không bạn bè, nhiều buồn phiền, nàng trở về đồn điền Tara để lấy lại sức sống bên bà già nuôi và cũng là người nô lệ khi trước, tên là Mammy. Đã quá muộn khi Scarlett khám phá ra rằng Rhett là người đàn ông duy nhất mà nàng yêu thương.

Sách Ngoại văn Tiếng Anh: Gone With The Wid - Cuốn Theo Chiều Gió ...

5. Ý nghĩa của Tác Phẩm Cuốn Theo Chiều Gió

Tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió của Margaret Mitchell kể lại câu chuyện của một phụ nữ đẹp, có tính tình nổi loạn, thuộc miền Georgia, tên là Scarlett O’ Hara. Nàng đã làm việc vất vả với các bạn bè, gia đình và các người yêu trong hoàn cảnh trước và sau cuộc chiến tranh Nam Bắc Mỹ và trong thời kỳ Tái Kiến Thiết. Đây cũng là chuyện tình nẩy nở giữa nàng Scarlett và chàng Rhett Butler.

Tác phẩm này cũng mang hàm ý bênh vực các lý tưởng của Phe Miền Nam trong cuộc Nội Chiến và cũng là cách tiểu thuyết hóa nền Văn Hóa của Miền Nam trước chiến tranh. Cuốn truyện cũng chứa đựng rất nhiều sự kiện lịch sử, đã mô tả rõ ràng các ngày sụp đổ của thành phố Atlanta vào năm 1864 và sự tàn phá của chiến tranh. Các nguồn tài liệu của Margaret Mitchell đã mang các tính cách đặc sắc của các nhà sử học và các nhà văn Miền Nam, và cũng vì các mô tả cuộc Nội Chiến, các cảnh tàn phá do chiến tranh gây nên mà tác phẩm “Cuốn Theo Chiều Gió” đã đoạt Giải Thưởng Pulitzer vào ngày 3 tháng 5 năm 1937.

Trong khi Margaret Mitchell đã từng nói rằng các nhân vật trong truyện không được viết dựa vào những người thật ở ngoài đời, nhưng các nhà khảo cứu đã tìm thấy nhiều điểm tương tự giữa một số nhân vật và các người quen của tác giả. Rhett Butler được diễn tả căn cứ vào người chồng đầu tiên Red Upshaw, người mà nàng Margaret đã kết hôn vào năm 1922 rồi sau đó ly dị vì khám phá ra chàng đã từng là kẻ nấu và buôn rượu lậu. Và cũng có người tin rằng Rhett Butler còn là hình ảnh của Sir Godfrey Barnsley của thành phố Adamsville, thuộc tiểu bang Georgia.

Nhân vật Scarlett O’ Hara có thể là hình ảnh của bà Martha Bulloch Roosevelt, bà mẹ của Tổng Thống Hoa Kỳ Theodore Roosevelt. Nhà sử học David McCullough, người chuyên viết tiểu sử của Tổng Thống Roosevelt, đã tìm thấy các tài liệu cho biết Margaret Mitchell khi làm phóng viên cho tờ nhật báo Atlantic (the Atlantic Journal), đã phỏng vấn bà Evelyn King Williams, ở tuổi 87, đây là một trong các người bạn thân nhất và cũng là cô phù dâu của bà Martha Roosevelt. Nhờ cuộc phỏng vấn này, Margaret Mitchell đã thấy rõ vẻ đẹp bên ngoài, sự duyên dáng và trí thông minh của bà Martha rồi dùng các chi tiết này mà áp dụng vào việc mô tả cô nàng Scarlett O’ Hara.

Cuốn Theo Chiều Gió là một chuyện tình, là nỗi suy tư về các đổi thay đã thổi qua Miền Nam Hoa Kỳ trong thập niên 1860. Cuốn truyện bắt đầu vào năm 1861 trước khi xẩy ra cuộc Nội Chiến và chấm dứt vào năm 1871 khi các người Dân Chủ (the Democrats) nắm quyền kiểm soát miền Georgia. Trong các năm chiến tranh này, Miền Nam đã thay đổi hoàn toàn và cuốn tiểu thuyết của Margaret Mitchell đã minh họa sự tranh đấu của người dân Miền Nam trong các nghịch cảnh.

Cuốn truyện mở đầu với miền Georgia, một địa phương còn các tập quán, các niềm kiêu hãnh về những tác phong mã thượng, rồi chiến tranh lan tràn tới Atlanta đã gây nên cảnh đổ vỡ trong các cấu trúc quyền lực và các tập quán truyền thống. Miền Nam đã thua trận, các người nô lệ da đen được giải phóng, lối sống của Miền Nam này khác trước, đã có các xung đột nội bộ: người da trắng sợ người da đen, dân miền Nam ghét dân miền Bắc vừa thống trị, vừa lợi dụng, giới thượng lưu cũ căm thù các kẻ mới giàu. Ashley là nhân vật tượng trưng cho Miền Nam cũ, hoài cổ nhưng bất lực trước các đổi thay, chàng yếu đi và tàn dần. Rhett là kẻ thực tế, cơ hội, đã phát triển do đứng cả hai chân: vừa theo phe Miền Nam, vừa theo phe Miền Bắc và đôi khi còn bênh vực các kẻ Miền Bắc (Yankees).

Tác phẩm còn mô tả Scarlett đã vượt qua được các nghịch cảnh bằng sức mạnh của ý muốn. Nàng là một nữ anh hùng, không cần giúp đỡ của người khác, đã trông cậy vào chính mình và sống còn sau trận Nội Chiến và thời kỳ Tái Xây Dựng. Nàng đã khôi phục được đồn điền Tara, chăm sóc các người bà con và các bạn bè và đôi khi tác giả còn cho rằng muốn vượt qua các nghịch cảnh, cần tới sự xảo quyệt. Và có lẽ nhờ đặc tính này mà Scarlett là một nữ thương gia tàn nhẫn, một người vợ áp chế chỉ vì muốn thành công.

Đất đai cũng là một chủ đề của tác giả. Scarlett O’ Hara đã thương nhớ đồn điền Tara, nàng đã yếu đi và trở nên bệnh hoạn khi phải sống xa miền đất yêu dấu, bởi vì, khi nằm trên mặt đất của đồn điền Twelve Oaks bên cạnh, nàng đã cảm thấy đất đai thì :”mềm và dễ chịu như chiếc gối”. Nàng Scarlett đã đánh giá cao miền đất quê hương hơn là tình yêu và Ashley đã phải nói rằng Scarlett yêu mến đồn điền Tara hơn là yêu chàng.

Tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió mô tả các phụ nữ có đầy đủ trí thông minh và lòng cam đảm dù cho ở vào thời đại đó, đã không có sự bình đẳng giữa hai giới tính. Scarlett thì khôn khéo, đã điều kiển các người đàn ông dễ dàng, đã điều hành xưởng xẻ gỗ một cách thành công và khiến cho người chồng trở thành kém khả năng. Melanie, mặc dù là một nhân vật phai mờ trong truyện, đã có đặc tính mạnh mẽ nhất, nàng khiến cho Scarlett có đủ sức mạnh để bảo vệ Ashley trước thế giới mà chàng phải đối phó và nàng cũng phục hồi được xã hội Atlanta. Hai nhân vật nữ khác có đủ trí óc sáng suốt và sức mạnh tinh thần là bà cô già Fontaine và Ellen.

Tật xấu uống rượu cũng là một đề tài trong tác phẩm, với các nhân vật như Gerald, Scarlett và Rhett… Họ đã dùng rượu để quên đi các căng thẳng tinh thần, và sau rượu là các tai họa. Gerald chết cũng vì rượu. Scarlett tiếp tục uống rượu tại đồn điền Tara khi nàng cảm thấy rắc rối, buồn phiền và Rhett đã uống thật say khi đứa con Bonnie qua đời.

Nạn mãi dâm cũng được đề cập trong cuốn truyện. Scarlett nhìn thấy cô gái điếm đầu tiên tại Atlanta: Belle Watling. Belle là một hình ảnh khác và quá đáng của Scarlett: cả hai cùng quên đi các điều lệ của xã hội, đều tìm cách quyến rũ đàn ông, đổi trác dục tính lấy tiền bạc và nếu Scarlett tượng trưng cho một loại gái mãi dâm hạng sang thì Belle thuộc loại thấp hèn của xã hội, và tác giả Margaret Mitchell đã mô tả Belle còn là con người đại lượng, có tình nhân đạo và nếu xét về phương diện đạo đức, nàng Belle này còn cao cả hơn cô Scarlett tàn nhẫn.

Ngoài ra, tác giả Margaret Mitchell còn mô tả thành phố Atlanta đã bị quân lính Miền Bắc đốt cháy ra sao, xây dựng lại ra sao và nơi này tượng trưng cho cách thích nghi nhanh chóng của Miền Nam. Sau chiến tranh, Atlanta trở nên một thành phố mới với các đặc tính giàu có lòe loẹt ở một phía và cảnh nghèo khó dơ bẩn ở phía kia.

6. Thực hiện cuốn phim Cuốn Theo Chiều Gió

Vào tháng 5 năm 1936, nhà biên tập truyện phim Kay Brown đã đọc ấn bản trước khi phổ biến của tác phẩm Cuốn Theo Chiều Gió, đã khuyên nhà đạo diễn David O. Selznick mua bản quyền để chuyển tác phẩm này thành phim ảnh. Một tháng sau khi cuốn truyện được phát hành, đạo diễn Selznick đã trả $50,000 mỹ kim cho tác giả, đây là một kỷ lục vào thời kỳ đó.

Tiếp theo là công cuộc tìm kiếm một nữ tài tử để đóng vai nàng Scarlett O’ Hara. Vivien Leigh là một trong hai tài tử vào chung kết, người kia là Paulette Goddard. Nữ tài tử trẻ đẹp người Anh là Vivien Leigh đã được chọn mặc dù còn rất nhiều tài năng xuất sắc khác như Katherine Hepburn, Norma Shearer, Bette Davis, Babara Stanwyck, Joan Crowford, Lana Turner, Susan Hayward, Carole Lombard, Paulette Goddard, Irene Dunne, Merle Oberon, Ida Lupino, Joan Fontaine, Loretta Young, Miriam Hopkins, Jean Arthur, Joan Bennet, Frances Dee và Lucille Ball.

 Đối với vai Rhett Butler, Clark Gable là nam tài tử ưa thích cả đối với quần chúng lẫn đạo diễn Selznick. Các vai chính khác do Leslie Howard (Ashley Wilkes), Olivia de Havilland (Melanie Hamilton) và Hattie McDaniel (Mammy). Ngoài ra còn có 25 tài tử phụ quan trọng khác như: Thomas Mitchell, Barbara O’Neil, Evelyn Keys… Các giám đốc thực hiện gồm: Victor Fleming, George Cukor, Sam Wood, William Cameron Menzies và Sidney Franklin.

 Công cuộc thu hình bắt đầu vào ngày 26/01/1939 và chấm dứt vào ngày 11/ 11/1939, phần lớn thực hiện tại phim trường của hãng Selznick International Pictures với một số cảnh thu tại Hạt Los Angeles hay Hạt Ventura, trong tiểu bang California.

Nhà đạo diễn đã dùng 7 máy quay phim để thu hình quang cảnh thành phố Atlanta bị bốc cháy. Ngọn lửa bốc cao tới 500 feet (165 mét) trong một khu vực rộng 40 mẫu (acres). Để đề phòng hỏa hoạn không thể cứu chữa nổi, người ta đã huy động 10 đội cứu hỏa của thành phố Los Angeles, 50 nhân viên chữa lửa của phim trường và 200 người phụ giúp với 5,000 thùng nước. Cảnh tàn phá được diễn tả bằng 1,600 hình nộm xác chết nằm rải rác trên mặt đất và máy thu hình được đặt trên một cần cẩu cao 60 feet (20 mét) để quay quang cảnh rất nhiều người bị thương nằm la liệt trên mắt đất trải dài hầu như tới vô tận.

Phí tổn kỷ lục để thực hiện cuốn phim vào thời kỳ đó là 3.9 triệu mỹ kim, chỉ đứng sau Phim Ben-Hur quay vào năm 1925. Trong thời gian thu hình, nữ tài tử Vivien Leigh đã làm việc 125 ngày và lãnh $25,000 mỹ kim, còn nam tài tử danh tiếng Clark Gable lãnh hơn $120,000 mỹ kim là tiền trả công cho 71 ngày làm việc.

Buổi trình chiếu đầu tiên của cuốn phim Cuốn Theo Chiều Gió là ngày 15 tháng 12 năm 1939 tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia.

Sau đây là các phần thưởng Academy do cuốn phim Cuốn Theo Chiều Gió mang lại:

- Phần Thưởng Academy Danh Dự (Honorary Academy Award) vì thực hiện xuất sắc trong công việc dùng phim màu (for Outstanding Achievement in the Use of Color, 1939): William Cameron Menzies.

- Phần Thưởng Academy vì Hình Ảnh đẹp nhất (Best Picture, 1939): Đạo Diễn David O. Selznick.

- Phần Thưởng Academy dành cho Nữ Tài Tử hạng nhất (Best Actress, 1939): Vivien Leigh.

- Phần Thưởng Academy dành cho Nữ Tài Tử phụ hạng nhất (Best Supporting Actress, 1939): Hattie McDaniel. Đây là tài tử Mỹ da đen đầu tiên lãnh giải Oscar.

- Phần Thưởng Academy dành cho Giám Đốc hạng nhất (Best Director, 1939): Victor Fleming.

- Phần Thưởng Academy dành cho viết kịch bản phim hạng nhất (Best Writing-Screenplay, 1939): Sidney Howard.

- Phần Thưởng Academy dành cho Chỉ Đạo Nghệ Thuật hạng nhất (Best Art Direction, 1939): Lyle R. Wheeler.

- Phần Thưởng Academy dành cho Kỹ Thuật Phim Màu (Best Cinematography – Color, 1939): Ernest Haller và Ray Rennahan.

- Phần Thưởng Academy dành cho Biên Tập Phim hạng nhất (Best Film Editing, 1939): Hal C. Kern và James E. Newcom.

- Phần Thưởng Thực Hiện Kỹ Thuật (Technical Achievement Award): Don Musgrave.

Ngoài ra còn có phần Xướng Danh (Nominated):

- Diễn Viên hạng nhất: Clark Gable

- Nữ Diễn Viên hạng nhất trong vai phụ: Olivia de Havilland

- Các Tác Dụng hạng nhất (Best Effects, Special Effects): Fred Albin (âm thanh), Jack Cosgrove (nhiếp ảnh) và Arthur Johns (âm thanh).

- Âm Nhạc hạng nhất (Best Music, Original Score): Max Steiner.

- Âm Thanh và Thu Âm hạng nhất (Best Sound, Recording): Thomas T. Moulton.

Vào năm 1998, Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (the American Film Institute) đã xếp cuốn phim Cuốn Theo Chiều Gió vào hạng 4 trong danh sách 100 Bộ Phim Hay Nhất (100 Greatest Movies), được tuyển chọn để lưu trữ do Cơ Quan Quốc Gia Tồn Trữ Phim (the U.S. National Film Registry) và được hoàn toàn phục hồi theo kỹ thuật số (complete digital restoration).

7. Sơ lược về Cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ

Cuộc Nội Chiến Nam Bắc Mỹ là một xung đột quân sự, từ năm 1861 tới năm 1865, giữa phe Liên Hiệp Miền Bắc (the Union) và phe Liên Bang Miền Nam (the Confederacy). Cuộc chiến tranh này bắt đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1861 khi Tướng Miền Nam P.G.T. Beauregard hạ lệnh bắn phá Đồn Sumter tại Hải Cảng Charleston thuộc tiểu bang South Carolina, và kết thúc vào ngày 26 tháng 5 năm 1865 khi lực lượng quân sự cuối cùng của Liên Bang Miền Nam đầu hàng.

Tổn thất của cuộc Nội Chiến này là 620,000 sinh mạng, phe Miền Bắc thiệt hại 360,000 quân, phe Miền Nam mất 260,000 lính, hơn một nửa số người chết là do bệnh tật, vào khoảng một phần ba binh lính Miền Nam chết trong trận mạc, trong khi tỉ lệ tử thương của binh lính Miền Bắc là một phần sáu. Cuộc Nội chiến này đã tàn phá hơn 5 tỉ mỹ kim (trị giá thời bấy giờ), đã giải phóng hơn 4 triệu người nô lệ da đen và các vết thương do chiến tranh gây nên cần tới 125 năm mới hàn gắn được.

Cả hai phe Miền Nam và Miền Bắc của Hoa Kỳ đều phải chịu các thiệt hại kinh tế khổng lồ, nhưng Miền Nam lãnh các thiệt hại trực tiếp, rất nặng nề, và cảnh tàn phá đã kéo dài từ Thung Lũng Shenandoah ở phía bắc, tới tiểu bang Georgia ở phía nam, từ tiểu bang South Carolina ở phía đông tới tiểu bang Tennessee ở phía tây. Cuộc chiến này được coi thuộc loại chiến tranh tân tiến bởi vì cảnh hoang tàn rộng lớn. Đây cũng là cuộc chiến tranh toàn diện (total war) trong đó cả hai bên đều dùng tới mọi nguồn tài nguyên vào công việc chiến tranh và cuộc Nội Chiến đã kết thúc do sự thất bại hoàn toàn và sự đầu hàng không điều kiện của một bên.

Trong khắp Miền Nam, các thành phố, nông trại, kỹ nghệ, thương mại, con người nam, nữ và trẻ em đều bị thiệt hại, tất cả lối sống của miền này bị tiêu diệt. Sau đó, sự cay đắng giữa người dân hai miền còn tiếp tục qua nhiều thế hệ và Miền Nam đã không có được tiếng nói về chính trị, xã hội, văn hóa… Các lý tưởng truyền thống của Miền Nam đã không gây được ảnh hưởng quan trọng tới các chính sách của chính quyền trung ương trong khi đó, các lý tưởng thuộc về đạo Tin Lành của phe Miền Bắc (the Yankee Protestant ideals) đã trở thành các tiêu chuẩn cho xứ sở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những lý tưởng này đã nhấn mạnh vào cách làm việc chăm chỉ, tôn trọng giáo dục và tự do kinh tế… tất cả đã góp công vào việc làm phát triển Hoa Kỳ thành một thế lực kỹ nghệ mới và hùng mạnh.

  Phạm Văn Tuấn 

 

Kim Kỳ sưu tầm

Hai hiện tượng văn học mỹ, một bối cảnh kỳ thị chủng tộc | Viet ...

Xem thêm...

Phương Tiện Di Chuyển Xưa Của Người Việt - Nguyễn Ngọc Chính

Phương Tiện Di Chuyển Xưa Của Người Việt -

Nguyễn Ngọc Chính

 

xelam

Trong suốt chiều dài lịch sử, hàng loạt các loại phương tiện giao thông, cá nhân cũng như công cộng, lần lượt xuất hiện tại Việt Nam. Theo luật đào thải tất nhiên của cuộc sống, chúng cũng lần lượt được thay thế bằng những phương tiện mới hơn nhằm phục vụ cuộc sống tốt hơn. Loạt bài viết này sẽ điểm qua những phương cách di chuyển xưa của người Việt mà cho đến ngày nay đã trở thành quá khứ.

Kiệu

Bắt đầu từ thời phong kiến triều Nguyễn (1802-1945) vua chúa mỗi lần xuất cung đều dùng kiệu để đi lại. Sách Khâm định Đại Nam Hội điển Sự lệ, do Nội các triều Nguyễn biên soạn, đã dành hẳn chương Nghi vệ (quyển 79) để miêu tả các loại kiệu dùng cho vua quan triều Nguyễn, với những quy định rất cụ thể về tên gọi, số lượng kiệu cùng các nghi trượng đi kèm, tùy thuộc vào thời thế, địa vị và thứ bậc của người sử dụng.

xelam1Kiệu hoàng gia triều Nguyễn.

Dưới triều Vua Gia Long (1802 – 1820), xe kiệu của vua có 4 chiếc, gồm 1 chiếc Ngọc lộ, 1 chiếc Kim lộ và 2 chiếc Kim bảo dư. Sang triều Minh Mạng (1820 – 1841), Vua có 5 chiếc, được đặt tên là Cách lộ, Kim lộ, Ngọc lộ, Tượng lộ và Mộc lộ. Tùy mục đích chuyến đi, nhà Vua quyết định dùng loại “xe” nào.

Sách cũng cho biết khi Vua đi chơi thì không thực hiện đầy đủ nghi thức như khi Vua đi cúng tế ở các đàn miếu. Lúc này nhà Vua chỉ sử dụng 1 chiếc lọng vàng thêu hình rồng để che mưa nắng, có đội quân tiền đạo và hậu hổ đi theo hộ tống. Dưới triều Minh Mạng, nhà Vua quy định: ngự giá đi trong phạm vi Hoàng Thành thì phải giảm bớt một nửa số cờ quạt và không cần voi ngựa hộ tống để tránh… “kẹt đường”.

Kiệu của Hoàng Thái Hậu, gọi là Từ giá, cũng hoành tráng không kém, gồm 1 Phượng dư và 1 Phượng liễn. Lỗ bộ tháp tùng Từ giá có 2 lá cờ rồng, 2 lá cờ phượng, 2 lá cờ thanh đạo, 8 lá cờ phướn, 2 quạt thêu hình rồng phượng màu vàng, 4 quạt thêu hình rồng phượng màu đỏ, 4 quạt thêu hình loan phượng màu xanh và thêm 20 thứ binh khí hộ vệ.

Kiệu của Thái Tử chỉ có 1 chiếc, gọi là xe Bộ liễn. Lỗ bộ tháp tùng xe này chỉ có 1 cờ lệnh, 2 cờ xanh, 2 cờ đỏ, 2 cờ vàng, 2 cờ trắng, 2 cờ đen, 8 lá cờ phướn, 1 chiếc tán hình tròn thêu hình 7 con rồng, 4 chiếc tán hình vuông, 4 chiếc lọng màu đỏ, 6 lọng màu xanh vẽ rồng mây…

Sang triều Khải Định (1916-1925), nhà Vua được người Pháp tặng cho một chiếc xe hơi nhân lễ Tứ Tuần Đại Khánh (mừng thọ vua 40 tuổi). Từ đó, ngoài việc dùng ngự giá truyền thống trong các dịp tế lễ, đôi khi Vua Khải Định còn dùng xe hơi để du ngoạn hay đi săn bắn ở bên ngoài Hoàng Thành.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh03Cựu Hoàng Hàm Nghi trên chiếc xe ngựa với ý trung nhân, Bà Laloe.

Trước đó, triều đình có cho dựng ở phía trước Ngọ Môn 2 tấm bia đá, trên bia có ghi 4 chữ Hán: Khuynh cái hạ mã, nghĩa là khi đi ngang qua đây thì mọi người phải nghiêng lọng và xuống ngựa. Kể từ khi Vua Khải Định dùng xe hơi, thì 2 tấm bia này không còn thích hợp nữa. Vì thế, triều đình đã cho nhổ 2 tấm bia này đưa vào cất giữ trong kho của Bảo Tàng Khải Định (nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế).

Đây cũng là nơi đang trưng bày chiếc kiệu sơn son thếp vàng của Vua Bảo Đại, dùng để đi lại trong phạm vi Hoàng Thành Huế. Ngoài ra, trong kho của Bảo tàng này đang lưu giữ chiếc kiệu mà Vua Bảo Đại đã từng dùng khi đi tế Nam Giao vào năm 1935.

Sang đến thời kỳ Pháp thuộc, kiệu vẫn được sử dụng nhưng đối tượng dùng kiệu được mở rộng. Vào thời này, kiệu còn dành cho các quan thuộc địa người Pháp cùng gia đình và những chức sắc người bản xứ trong việc đi kinh lý hoặc ngoạn cảnh. Trong những bức hình du ngoạn bãi biển Đồ Sơn dưới đây, người khiêng kiệu đều là phụ nữ bản xứ, họ gánh kiệu trên 2 thanh gỗ ngang và kiệu được đặt trên 2 thanh dọc dài hơn

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh04Phu kiệu toàn là phụ nữ người bản xứ.
 PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh05
Phu kiệu nghỉ ngơi.

Trong phim Indochine do đạo diễn Régis Wargnier thực hiện vào tháng 4/1992 với các diễn viên Catherine Deneuve (trong vai Eliane), Vincent Perez (John the Baptist), Linh Dan Pham (Camille), Jean Yanne (Guy Asselin), khán giả được thấy cảnh ngồi kiệu của diễn viên đóng vai John the Baptist. Indochine là một phim hoành tráng mô tả cuộc sống của người Pháp thời đi mở thuộc địa tại Đông Dương. Phim sử dụng tới 1800 bộ y phục của cả người Âu lẫn người bản xứ.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh06Kiệu trong phim “Indochine” của Régis Wargnier.

Vào thời phong kiến, quan lại triều Nguyễn không được phép dùng kiệu mà chỉ ngồi võng có mui che, được khiêng bởi 4 người lính. Đòn ngang của võng sơn son thếp vàng, khắc hình con giao long, đòn dọc của võng khắc hình con thú ứng với phẩm trật của vị quan ngồi trên võng.

Võng bằng lụa màu hồng. Mui che võng được quang dầu màu xanh để che mưa nắng. Quan lại trên hàng nhất phẩm thì có 4 người lính vác 4 chiếc lọng theo hầu, quan nhất phẩm chỉ có 3 lọng, quan nhị phẩm chỉ có 2 lọng và quan từ tam phẩm xuống đến cửu phẩm chỉ có 1 người vác lọng theo hầu.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh07Võng được dùng để phục vụ các quan lại trong triều.

Ngoài ra, những tân khoa thi đỗ đều được dùng võng để về làng “Vinh quy, Bái tổ”. Trong ca dao xưa có câu “Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau” để mô tả sự vinh quang của người học trò thành đạt.

Tin người đỗ đạt được đưa về làng, Hương chức, dân làng họp ở đình, cắt cử người ra gặp Tân Khoa để ấn định ngày vinh quy, rước về nguyên quán. Thường thì đỗ Tú Tài chỉ Làng Xã rước, đỗ Cử Nhân hàng Huyện phải rước, đỗ Tiến Sĩ thì Hương Lý, trai tráng hàng Tổng đem đủ nghi lễ, cờ quạt đón từ tỉnh rước về làng. Tuy nhiên, những người trong họ quan Tân Khoa được miễn làm phu phen đi rước.

Xe kéo

Tìm hiểu về lịch sử của chiếc xe kéo, người ta cho rằng loại xe này đã ra đời vào đầu kỷ nguyên Minh Trị tại Nhật Bản, vào khoảng năm 1869. Hồi đó, những gia đình khá giả có thể tậu một chiếc xe do người làm kéo đi những lúc cần di chuyển, thay vì phải đi bộ.

Theo Wikipedia, xe kéo – tiếng Anh là Rickshaw, tiếng Pháp là Pousse-Pousse – bắt nguồn từ tiếng Nhật “Jinrikisha” trong đó ghép bởi “jin” (con người, nhân), “riki” (sức lực) và “sha” (xe). Như vậy, “Jinrikisha” là loại xe chạy bằng sức kéo của con người.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh08Xe kéo xưa trên bưu ảnh của Nhật Bản.

Bắt đầu từ năm 1870, chính quyền thành phố Tokyo cấp giấy phép sản xuất và bán xe kéo cho 3 người được coi là nhà sáng tạo phương tiện vận chuyển “tân kỳ” này: Izumi Yosuke, Takayama Kosuke và Suzuki Tokujiro. Để được phép hoạt động tại Tokyo, xe kéo phải được đóng dấu cho phép của 3 nhà phát minh này.

Xe kéo lần lượt xuất hiện tại các thành phố châu Á như Trung Hoa (1873), Singapore (1880), Việt Nam (1883) và vào cuối thế kỷ thứ 19 tại Ấn Độ, Nepal, Bangladesh, Indonesia, Hồng Kông, Triều Tiên… Nói chung, xe kéo có mặt khắp lục địa Á Châu là nơi có dân số đông nhất thế giới và cũng là nơi có trình độ phát triển kém hơn châu Âu, châu Mỹ.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh09Xe kéo tại Ấn Độ.

Năm 1883, chiếc xe kéo, hay còn gọi là xe tay tại miền Bắc, xuất hiện lần đầu tiên tại Hà Nội do Thống Sứ người Pháp, Jean Thomas Raoul Bonnal, cho đem từ bên Nhật qua. Xe kéo Hà Nội xuất hiện một năm sau chiếc xe hơi đầu tiên tại Âu Châu và một năm trước xe Tramway, một loại xe do ngựa kéo. Gần 15 năm sau, Sài Gòn mới biết tới loại xe này.

Lịch sử phát triển xe kéo tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1884 khi một nhà thầu người Pháp cho sản xuất khoảng 50 chiếc xe cung cấp cho cả miền Bắc, khi đó còn gọi là Tonkin. Từ đó, chiếc xe kéo dần dần trở nên quen thuộc tại Hà Nội và chỉ dành cho những người có chức, có tiền sử dụng làm phương tiện di chuyển trong khi đi bộ vẫn là phương tiện chính của đại đa số dân chúng.

Ngồi trên xe kéo nói lên cho sự giàu có và uy quyền của người Pháp và các gia đình quyền quý người bản xứ nhưng trước đó các tiểu thư khuê các Hà Thành thường ít khi dùng đến xe kéo vì sợ hiểu lầm là… Me Tây. Thời đó, phụ nữ người bản xứ khi lấy người Pháp tại thuộc địa thường bị mỉa mai là “Me Tây” cũng như sau này ở Sài Gòn có một số người bị gán cho “danh hiệu”… “Me Mỹ” khi họ kết hôn với người Mỹ.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh10Xe kéo trước khách sạn Metropole (đường Henri Rivière), Hà Nội.

Một hãng cho thuê xe kéo sau đó được thành lập tại Hà Nội. Những chiếc xe kéo đầu tiên có bánh xe bằng sắt, chạy không êm nhưng hành khách phải giữ chỗ trước một ngày nếu muốn được thuê. Dần dà, bánh xe kéo được bọc cao su nên khi chạy êm hơn và loại xe bánh sắt chuyển ra các vùng ngoại ô.

Cuộc cách mạng “bánh xe” đã phân chia thành hai loại khách sử dụng: loại bánh cao su được dành cho giới quan chức thuộc địa và gia đình trong khi loại bánh sắt dành cho giới trung lưu người bản xứ.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh11Xe kéo Hà Nội (1900).

Ngay cả những xe kéo với bánh cao su cũng chia ra làm hai loại, loại bình thường và loại của hãng OMIC. Loại nầy có chỗ ngồi bằng nhôm trắng bóng và có nệm lò xo cũng được bọc vải trắng, dĩ nhiên đi xe loại nầy thì mắc tiền hơn là đi xe loại thường.

Hình ảnh về các quan lại, binh lính, chức dịch… thời đại phong kiến dưới triều đại phong kiến qua góc nhìn của các nhiếp ảnh gia người Pháp khi họ đến Đông Dương trong đó có Việt Nam cho thấy một cái nhìn đầy đủ về một thời kỳ đã kéo dài ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.

Chiếc xe kéo được coi là biểu tượng của sự phân biệt giai cấp giữa người lao động phải dùng sức mình để kiếm miếng cơm manh áo và hành khách ngồi phía sau là giới quyền quý, giàu sang. Truyện ngắn Người Ngựa – Ngựa Người của Nguyễn Công Hoan đã nói lên cuộc đời cơ cực của người kéo xe, còn được gọi bằng “cu-li”, giữa khung cảnh đêm 30 Tết.

Truyện kể anh phu xe đói khách trong đêm Giao Thừa gặp phải một cô khách tân thời tưởng lắm tiền ai ngờ lại quá keo kiệt, chỉ trả hai hào cho một giờ bao xe. Anh kéo xe giờ cho nên cũng chỉ chạy tà tà, theo cách Nguyễn Công Hoan mô tả: “đít nhổm mạnh, mà bước ngắn”.

Truyện chỉ có 2 nhân vật và người đọc thoạt đầu cứ tưởng như thuộc hai giai cấp khác nhau nhưng cuối cùng cũng nhận ra họ chỉ là “người ngựa” kéo phía sau là “ngựa người”, một “bà” khách lại là một cô gái “ăn sương” thuê xe kéo để đi kiếm khách trong đêm Giao Thừa. Đã không có tiền trả anh xe kéo, “bà” khách lại còn mượn anh hai hào để mua gói thuốc lá, bao diêm và cả hạt dưa để cắn!

Anh phu xe thì hí hửng khi giờ khắc Giao Thừa đến gần: “Mười lăm phút nữa, mình sẽ có sáu hào. Sáu hào với hai hào là tám. Thế nào ta cũng nài thêm bà ấy mở hàng cho một hào nữa là chín. Chín hào! Mở hàng ngay từ lúc năm mới vừa đến. Thật là may! Mới năm mới đã phát tài! Thôi, sang năm tất là làm ăn bằng mười bằng trăm năm nay”.

Nguyễn Công Hoan dẫn người đọc đến một đoạn thật hấp dẫn sau khi anh phu xe đã kéo “bà” khách đi khắp phố phường Hà Nội gần 2 giờ đồng hồ trong đêm Giao Thừa:

– Này, anh đỗ xuống tôi bảo. Tôi nói thực với anh nhé. Bây giờ đã về sáng rồi, chắc anh kéo tôi mãi cũng đến thế mà thôi. Tôi thì thực không có tiền giả anh đâu. Tôi gán cho anh khăn, áo, đồng hồ mà anh không lấy, thì tôi chả biết nghĩ thế nào cho phải cả. Thôi thì anh kéo tôi ra chỗ kín, vắng, anh muốn bắt tôi gì tôi xin chịu.
 
– Tôi bắt gì cô mà tôi bắt!
 
Cô ả nắm lấy tay, vỗ vào vai anh xe, nhăn nhở cười:
 
– Anh này thực thà quá, nghĩa là chỉ có anh với tôi thôi, thì người tôi đây, anh muốn làm gì tôi cũng bằng lòng.
 
– Ối thôi! Tôi lạy cô. Nhỡ cô đổ bệnh cho tôi thì tôi bỏ mẹ tôi.
 
– Không sợ, tôi mới khám bệnh hôm qua.
 
– Thôi, tôi chắp tay tôi van cô, cô có thương tôi thì mời cô xuống xe cho tôi về, và xin cô tiền xe!
 
– Thế thì anh cứ kéo tôi về nhà tôi, xem có đồ đạc gì đáng giá, thì anh cứ việc lấy.

Đến cửa một nhà săm, cô ả bảo anh xe kéo ghé vào để hỏi vay tiền. Mệt lử nên trong khi chờ khách vay tiền anh phu xe ngủ gật. Khi pháo Giao Thừa nổ vang anh mới tỉnh dậy. Vào hỏi thăm anh bồi “săm” mới biết là cô gái đã chuồn mất bằng cổng sau. Và đây là đoạn kết:

“Anh xe nghiến răng, cau mặt, lủi thủi ra hè, cầm cái đệm quật mạnh vào hòm đánh thình một cái! Anh móc túi lấy bao diêm đốt vía, rồi khoèo bàn chân, co cái càng lên, đưa tay ra đỡ, thủng thẳng dắt xe đi… Tiếng pháo chào xuân nối đuôi nhau đùng đùng toạch toạch”.

Như đã nói ở phần trên, Sài Gòn xưa vào năm 1898 mới làm quen với xe kéo, khoảng gần 15 năm sau Hà Nội. Lý do cũng dễ hiểu là xứ thuộc địa chính thức của người Pháp có phương tiện di chuyển duy nhất là những chiếc xe do ngựa kéo mà người Pháp gọi là “Malabar” hay “Boîte d’allumettes” (vì xe có dáng dấp như một hộp diêm).

Một đặc điểm của xe kéo Sài Gòn vào đầu thập niên 1920 là mỗi chiếc đều được cấp phát số xe gồm 4 chữ số để dễ kiểm soát khi lưu thông, trong khi đó, xe kéo Hà Nội không có. Dưới đây là một số hình ảnh về xe kéo tại miền Nam:

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh12Xe kéo và xe ngựa trước chợ Bến Thành đầu thập niên 1920.
 
PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh13Xe kéo trước Nhà hát Thành phố.

Xe ngựa

Thời cổ, giới quyền quý Trung Hoa dùng xe do ngựa kéo mỗi khi di chuyển. Thời trung cổ, tại Pháp và một số nước Châu Âu giới quý tộc thường đi loại xe do hai ngựa kéo, xe song mã thể hiện đẳng cấp của những người thuộc gia đình quyền quý. Ngày nay các loại xe song mã chỉ còn được dùng trong việc đưa khách du lịch đi ngoạn cảnh.

Tại miền Nam vào những năm 1880 của thế kỷ 18, xe ngựa là phương tiện đi lại bình dân và phổ biến ở vùng Sài Gòn-Gia Định. Đây là loại xe do một ngựa kéo được bắt nguồn từ kiểu cỗ xe song mã sang trọng của Pháp được người dân miền Nam chế tác cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và địa hình của Việt Nam.

Trước đó, người Pháp đã đưa xe ngựa vào Đông Dương làm phương tiện vận chuyển hành khách cũng như hàng hóa. Người Pháp gọi xe ngựa ở thuộc địa là “Malabar” và sau này còn có tên “Boîte d’allumettes” vì hình dáng giống như một hộp diêm quẹt.

Một trong những hình ảnh được coi là xưa nhất của xe ngựa tại Sài Gòn là chiếc xe của Nhà máy Sản xuất Thuốc phiện (Manufacture d’Opium) được chụp vào khoảng đầu thập niên 1980.

Có thể thấy dòng chữ bằng tiếng Pháp trên thành xe ghi rõ là xe của nhà máy. Phía bên trái là hình của một người phu xe kéo đứng nhìn chiếc xe ngựa, hình như anh rất ngạc nhiên với hình ảnh một chiếc xe do ngựa kéo được người Pháp đưa vào Đông Dương.

Xe ngựa dưới dạng xe “cải tiến” đơn giản còn được dùng trong hoạt động của quân đội viễn chinh Pháp tại thuộc địa Đông Dương. Loại xe này dùng để chuyên chở quân trang, quân dụng trong lực lượng võ trang của quân đội thuộc địa.

Loại xe ngựa cầu kỳ hơn được dùng để chuyên chở hành khách là những viên chức thuộc địa và gia đình. Những chiếc xe này mang dáng dấp của loại xe song mã thường thấy tại Âu Châu với “xà ích” là người bản xứ.

Như vậy, ngay trong giới lái xe người bản xứ cũng phân chia nhiều đẳng cấp tùy theo mức độ sang trọng của phương tiện: thấp nhất là phu xe kéo (còn được gọi là cu-li), kế đến là “xà ích” (người điều khiển xe ngựa) và cao nhất là tài xế xe hơi (chaffeur).

Đặc điểm của thời kỳ xe ngựa mới du nhập vào Đông Dương là loại song mã hoặc chỉ có một ngựa kéo. Riêng phần thân xe được đặt trên 4 bánh, hai bánh sau có đường kính lớn hơn hai bánh trước để giữ đối trọng với ngựa chạy phía trước, khác hẳn với xe ngựa do người Việt chế tạo sau này chỉ với hai bánh.

Tại miền Bắc, khi đó còn được gọi là Tonkin, người Pháp cũng sử dụng xe ngựa cho các quan chức thuộc địa nhưng số lượng không đáng kể so với miền Nam, còn có tên là Cochinchine.

Trước những loại xe ngựa sang trọng của Pháp, người Việt đã mày mò sáng tạo ra loại xe một ngựa đơn giản và bình dân hơn để đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa. Loại xe một ngựa này còn có một cái tên khác là xe thổ mộ.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh14Xe thổ mộ chuyên chở hàng hóa giữa Sài Gòn.

Có rất nhiều cách giải thích về xuất xứ về tên gọi xe thổ mộ tại miền Nam. Có người nói thổ mộ vốn có mái che khum khum giống hình ngôi mộ nên người bình dân gọi là… “thổ mộ”. Giải thích mang tính cách ngôn ngữ học cho rằng “thổ mộ” là chữ đọc trại từ “thảo mã” hay “thụ mã” theo tiếng của người Quảng Đông vốn là số đông người Hoa sinh sống tại miền Nam.

Lại có ý kiến cho rằng “thổ mộ” chính là chữ đọc trại từ Thủ Dầu Một, thuộc tỉnh Bình Dương, nơi được coi là “cái nôi” của của xe thổ mộ. Để dẫn chứng giả thuyết này, người ta dẫn chứng một bài vè cổ về 47 chợ tại miền Nam:
 
… Khô như bánh tráng là chợ Phan Rang,
Xe thổ mộ dọc ngang là chợ Thủ Dầu Một
 
Vào những thập niên 40 và 50 là giai đọan phát triển của xe thổ mộ. Tại chợ Thủ Dầu Một có đến 3 bến xe thổ mộ hoạt động nhộn nhịp, có khi lên đến trên 50 chiếc. Không chỉ vậy, Thủ Dầu Một còn có nhiều trại mộc đóng xe thổ mộ có tiếng với thùng xe đẹp, trang nhã, bánh xe bền chắc. Xe sản xuất tại Thủ Dầu Một còn được gọi là xe “Thùng Thủ” để phân biệt với các nơi sản xuất khác và cũng để khẳng định “đẳng cấp” của mình.

Để làm một chiếc xe thổ mộ đòi hỏi nhiều yêu cầu khắt khe chứ không đơn giản như người ta tưởng. Kích thước về chiều dài, chiều rộng, chiều cao của thùng xe phải cân bằng khi di chuyển trên mọi địa thế. Thùng xe được đặt trên hai thanh nhíp gồm 4 lá thép để giảm độ sóc khi xe chạy trên đường. Nói chung, từng chi tiết của xe phải chính xác để tạo sự an toàn khi chuyển động.

Gỗ làm xe thổ mộ phải là loại tốt như Giáng Hương, Căm Xe, gỗ Mít… không bị mối mọt. Quan trọng nhất là cặp bánh xe vì là phần chịu tải chính nên được làm rất cẩn thận, trục ngang của xe bằng ống thép chịu lực cho thùng xe nhưng lại không dùng bạc đạn mà chỉ có ổ trục.

Mỗi bánh xe được ghép từ sáu mảnh gỗ gắn với 12 chiếc căm cắm vào trục bánh xe. Sau đó, một vòng sắt quấn quanh bánh xe để bảo vệ phần gỗ và cuối cùng một lớp nệm cao su được nịt chặt ở vòng ngoài.

Thùng xe được thiết kế thoáng mát, tạo sự thoải mái cho hành khách nhưng có vẻ hơi cao so với mặt đường trong khi chỉ có một miếng sắt để khách lên xuống xe. Đây cũng là điểm yếu của xe thổ mộ nhưng một số người lại thích ngồi vắt vẻo trên xe với hai chân đong đưa để ngắm nhìn đường phố.

Bên trong thùng xe, khách ngồi trên chiếu đâu mặt nhau, guốc dép máng ở hai cọc sắt phía sau hai góc thùng. Nếu vắng thì khách ngồi thòng chân ở phía có bàn đạp lên, xuống. Hai vè bên thùng xe uốn gợn sóng có thể dùng để gác hàng hóa. Và trên cùng là cái mui uốn cong, lợp thiếc, nhô ra tới nửa mình ngựa, khum lại giống như mui chiếc ghe bầu nhưng cũng trông tựa một cái… mả nên nới gọi là thổ mộ (?).

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh15Ngựa, xà ích và hành khách.

Âm thanh của chiếc thổ mộ với những tiếng kêu “lóc cóc, lọc cọc” phát ra từ móng ngựa được bọc sắt tiếp xúc với mặt đường nhựa cũng trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ người miền Nam. Có nhiều xe còn gắn lục lạc cho ngựa nên khi chạy trên đường tiếng lục lạc hòa lẫn tiếng lọc cọc, cộng với tiếng “họ, họ” điều khiển ngựa của người xà ích tạo thành một bản nhạc đặc thù của xe ngựa Sài Gòn xưa.

Về sau, có dòng xe thổ mộ “văn minh” hơn, được cải tiến từ bánh xe gỗ sang bánh xe bằng cao su bơm hơi với đường kính nhỏ hơn và do đó thùng xe cũng thấp hơn. Loại xe này giúp hành khách lên xuống thoải mái, an toàn. Khi chạy trên đường, lốp xe cao su êm hơn nhưng ngược lại, “tiếng nhạc” thổ mộ vốn có mất dần đi khiến những người “hoài cổ” không tìm lại được cái thú của ngày nào.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh16Dòng xe thổ mộ có bánh xe cao su.

Ngựa kéo xe thổ mộ thường là những con ngựa đua đã có tuổi, không còn đủ sức vẫy vùng trên đường đua nhưng vẫn còn có thể di chuyển giữa lòng đường phố nhộn nhịp xe cộ. Bộ yên lưng bằng da có hai quai lồng vào hai càng xe đặt hai bên vai ngựa. Sợi yên lưng còn lồng vào đuôi ngựa để khi xuống dốc có tác dụng kềm ngựa. Lại còn có dây bụng nâng ngực ngựa khi xe chạy. Người xà ích đôi khi xếp khách ngồi dịch lên hoặc lùi xuống là để cho ngựa không bị sức nặng đè vai hoặc bó chặt ngực khó chạy.

Xích Lô

“Xích-lô”, suất xứ từ tiếng Pháp “cyclo”, là một phương tiện giao thông sử dụng sức người, di chuyển trên 3 bánh dùng để chở khách hoặc hàng hóa. Người lái xe cũng vận hành cyclo như một chiếc xe đạp nên còn được gọi là “xích-lô đạp” và sau này được cải tiến với động cơ xe gắn máy để thành “xích-lô máy”.

Cũng áp dụng cách vận hành tương tự như cyclo, còn có xe ba gác với thùng xe đặt ở phía trước để chở đồ đạc cồng kềnh và sau này xe ba gác lại được cải tiến thành xe ba gác máy với động cơ của xe gắn náy.

Ngược lại với cyclo, ở miền Tây, hay còn gọi là Lục Tỉnh, có loại xe đạp kéo thùng chở khách đằng sau được gọi là xe lôi, rất phổ biến ở các tỉnh miền đồng bằng sông Cửu Long. Dần dà người ta lại dùng xe máy để kéo, cũng tương tự như người anh em là chiếc cyclo máy.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh17Xe lôi miền Tây.

Chiếc cyclo đầu tiên xuất hiện tại Sài Gòn năm 1938 nhưng mẫu thiết kế lại không do người Việt vẽ kiểu mà lại là “tác phẩm” của một người Pháp. Lịch sử chiếc cyclo lại còn ly kỳ hơn, chiếc cyclo đầu tiên chính thức được nhà cầm quyền bảo hộ cấp phép lưu hành không phải là ở Sài Gòn mà là Phnom Penh, thủ đô của xứ Chùa Tháp trong Đông Dương thuộc Pháp gồm Việt Nam, Cao Miên và Lào.

Xích lô xuất hiện vào khoảng năm 1938 tại Phnom Penh. Chiếc đầu tiên do một người Pháp, dân miền Charente tên là Coupeaud, một người đam mê thể thao vẽ kiểu. Phải vất vả lắm Coupeaud mới vận động Bộ Công chánh công nhận sáng chế và cấp phép lưu hành, sau khi đã tham khảo ý kiến của hai nhà vô địch Tour de France là Georges Speicher và Le Grèves.

Để “tiếp thị” chiếc xe chở khách chạy bằng 3 bánh và người lái ngồi phía sau xe, Coupeaud đã tổ chức một cuộc hành trình “giới thiệu sản phẩm” dài gần 200km từ Phnom Penh đến Sài Gòn do hai người thay phiên nhau đạp xe trong thời gian 17 giờ 23 phút!

Và cyclo đã chinh phục Sài Gòn xưa với 40 chiếc vào năm 1939, nhưng chỉ một năm sau, năm 1940, Sài Gòn đã có khoảng 200 chiếc cyclo chạy trên đường phố.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh18Cyclo Saigon 1950.

Nhìn khái quát, cyclo là sự kết hợp và gắn nối của các ống sắt đủ loại, đủ kích cỡ, từ thanh bảo vệ hành khách ở phía trước đến phần ngồi của người điều khiển phía sau. Hai phần này được nối với nhau bằng một trục nằm dưới gầm xe, phía dưới chỗ ngồi của khách, có tác dụng giúp người lái xe có thể quẹo phải, trái hay đi thẳng về phía trước.

Phần yên xe của người điều khiển cũng là một kết cấu đơn giản với thắng tay nằm ngay phía dưới qua hình thức một chiếc vòng sắt hoặc một thanh ngang để người lái có thể kéo lên mỗi khi muốn giảm tốc độ hoặc dừng xe.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh19Thắng tay nằm ở ngay dưới chỗ ngồi của người điều khiến.

Lái cyclo không phải dễ như mọi người tưởng. Yên xe rất cao nên những người “thiếu thước tấc” rất khó “leo” lên, đó là chưa kể khi leo được lên yên chưa chắc đã đạp được hết vòng nếu chân quá ngắn.

Phần sau của xe được nối với thùng xe bằng một trục thẳng đứng nên khi cua ngặt sẽ khiến xe mất thăng bằng, dễ bị lật. Tuy nhiên, tôi đã có lần được chứng kiến “cao thủ” cyclo biểu diễn chạy xe bằng… 2 bánh. Có nghĩa là nghiêng hẳn một bên xe, và dĩ nhiên là trên xe không có khách.

Khi khách bước lên hoặc xuống xe, người điều khiển phải kềm phần sau vì nếu khách thuộc loại “nặng ký” sẽ khiến đuôi xe chống ngược. Lại nữa, người lái cyclo phải là tay giỏi… “thương lượng” vì khách trước khi lên xe bao giờ cũng kỳ kèo mặc cả. Tùy hoàn cảnh, người lái xe có thể chấp nhận cái giá mà khách trả hay xách xe không kiếm mối khác!

Chân dung người đạp xích lô cũng muôn hình vạn trạng. Đó có thể là người trên đầu đội chiếc nón lá, quần ống thấp ống cao, lep kẹp đôi dép lộ rõ mười ngón chân cáu bẩn. Buổi trưa nắng gắt bác cyclo tìm một chỗ dưới gốc cây, đánh một giấc ngay trên xe để lấy sức tiếp tục rong ruổi trên đường phố kiếm cơm.

Có sự phân biệt rõ ràng giữa cyclo Sài Gòn và cyclo Hà Nội. Trong khi cyclo Sài Gòn chỉ ngồi được một người (nếu cần có thể “nhét” thêm một khách nữa) thì cyclo Hà Nội có thể chở được hai người ngồi một cách thoải mái.

Cyclo Sài Gòn là phương tiện chuyên chở bình dân nên trông cũ kỹ với mui xe, hai bên hông và phía trước được che bằng vải bạt khi trời mưa… trong khi cyclo Hà Nội sinh sau đẻ muộn nên được o bế một cách diêm dúa, mui xe làm như cái lọng của vua chúa… thường được dùng để phục vụ khách du lịch

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh20Cyclo Hà Nội.

Theo sự tiến bộ của khoa học, chiếc cyclo máy được ra đời vào đầu thập niên 1960. Những người đến Sài Gòn lần đầu tiên đều rất thích thú được ngồi trên phương tiện chuyên chở độc đáo này để ngắm nhìn đường phố. Cyclo máy chạy nhanh hơn cyclo đạp và người điều khiển thường là những thanh niên khỏe mạnh trong khi cyclo đạp thường do những người nhiều tuổi hơn điều khiển.

Cyclo máy được lắp ráp ngay tại miền Nam, với những phụ tùng, linh kiện nhập cảng từ Pháp: động cơ cuả hãng xe mô tô Peugeot, loại 125 phân khối, dùng xăng pha nhớt. Đây là loại động cơ 2 thì nên khi nổ máy khói phun mịt mù, tiếng máy của xe cũng thuộc loại gây “ô nhiễm tiếng ồn”.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh21Cyclo máy Sài Gòn.

Cyclo máy ra đời vào thời kỳ chiến tranh leo thang với sự xuất hiện của quân đội đồng minh, nhất là lính Mỹ rất thích phương tiện chuyên chở này. Có người nước ngoài còn nói đi cyclo máy Sài Gòn còn thú vị hơn ngồi xe hơi mui trần “convertible”.

Một anh lính Mỹ viết thư về nhà mô tả chiếc cyclo máy, đại khái như “một con quái vật há mồm, hùng hổ trên đường”“ngồi cyclo máy tựa như phi thuyền phóng lên mặt trăng”… Tuy nhiên, họ cũng nhìn thấy sự nguy hiểm rình rập khi ngồi trên chiếc cyclo máy chạy nhanh, nếu tai nạn xảy ra, hành khách là người bị nặng nhất còn người lái xe ngồi ở mãi phía sau.

Xe Lam

Sang đến thời kỳ “văn minh xe máy”, ban đầu Sài Gòn xuất hiện cyclo máy với 2 bánh phía trước và một bánh phía sau rồi dần dà chuyển sang loại xe ba bánh ngược lại với cyclo và cyclo máy, một bánh trước và hai bánh sau, được gọi là xe lam.

Xe lam là loại xe chuyên chở công cộng phổ biến được du nhập Sài Gòn và các tỉnh miền Nam vào thập niên 1960 để đáp ứng nhu cầu đi lại của giới bình dân. Đây là loại xe có cấu trúc tương tự như xe “tuktuk” hiện còn đang được sử dụng tại các nước như Thái Lan, Ấn Độ, Bangladesh… Người ta giải thích cái tên “tuktuk” là do tiếng nổ của động cơ khi chạy trên đường.

Tại miền Nam, thuật ngữ “xe lam” có xuất xứ từ Lambretta và Lambro là nhãn hiệu xe của nhà sản xuất “Innocenti do Ferdinando Innocenti” sáng lập tại Ý từ năm 1920. Ngoài xe hơi, Innocenti còn sản xuất loại xe hai bánh mang nhãn hiệu Lambretta trong khoảng thời gian từ 1947 đến 1971. Năm 1996 Innocenti nhập vào hãng xe Fiat và chấm dứt các dòng sản phẩm riêng.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh22Lambretta và Vespa trên đường phố Sài Gòn.

Ngoài xe 2 bánh Lambretta, Innocenti còn sản xuất động cơ cho loại xe 3 bánh như ta thấy xuất hiện trên đường phố Sài Gòn xưa. Đó là các dòng xe Lambretta FD với dung tích xy lanh 123 hoặc 150 cc và FLI cải tiến với 175 cc, sau đó là Lambro 200, Lambro 550 đều có dung tích 198 cc.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh23Bến xe lam tại Quảng Lợi, Bình Long.
 
PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh24Xe Lambro 550 tại chợ Bến Thành.

Hãng Vespa cũng sản xuất loại xe 3 bánh và Sài Gòn đã nhập một số xe Vespa 3 bánh có hình dáng và cấu trúc giống Lambretta và Lambro. Với số lượng ít ỏi hơn, Vespa 3 bánh cũng được gọi chung là xe lam. Chúng tôi sưu tầm được một tấm hình xe Vespa 3 bánh thuộc loại “cổ lỗ sĩ” nằm trong một tiệm chuyên sửa và sơn xe… Lambretta:

Vespa là thương hiệu nổi tiếng của hãng Piaggio, Ý, được ra đời từ sau Thế chiến thứ hai với của dòng sản phẩm xe gắn máy yên thấp, bánh nhỏ còn gọi là xe scooter. Rinaldo Piaggio (1864-1938) thành lập Công ty Piaggio tại Genoa năm 1884 với chức năng ban đầu chuyên sản xuất các trang thiết bị cho tàu thuỷ, tàu hỏa và máy bay.

Đến năm 1946, những chiếc xe scooter đầu tiên mang nhãn hiệu Vespa được thiết kế bởi kỹ sư Corradino D’Ascanio, ông tạo kiểu dáng khung xe vuốt tròn và tiếng máy nổ khác biệt: “Sembra una vespa!” (Nó cứ như con ong ấy). Vespa tiếng Ý là con ong và thương hiệu Vespa ra đời từ đó.

Vespa ba bánh sử dụng động cơ của xe scooter Vespa có dung tích lớn hơn và Sài Gòn có thêm xe lam mang nhãn hiệu Vespa bên cạnh xe Lambretta và Lambro.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh25Vespa 3 bánh thời hoàng kim.

Các dòng xe lam lần lượt được nhập vào miền Nam để thay thế xe thổ mộ, hay còn gọi là xe ngựa. Đặc biệt loại xe lam khi nhập không ở dạng “đóng thùng”, việc đóng thùng xe được thực hiện tại Sài Gòn. Theo thống kê, trong số gần 35.000 chiếc Lambro 550 xuất xưởng thì có gần một nửa (khoảng 17.000 chiếc) được xuất sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam.

Khoảng những năm 1966-1967, chính phủ VNCH đã tiến hành một chương trình mang tên “Hữu sản hoá” nhằm cung cấp phương tiện hành nghề chuyên chở công cộng cho những lao động cần việc làm và cũng để cải thiện đời sống giới thợ thuyền, phát triển hạ tầng cơ sở vận tải… Và đó là cơ hội để xe lam thâm nhập vào thị trường miền Nam.

Ngoài việc “hữu sản hóa” xe taxi sơn màu vàng trên mui và xanh dưới thân, một số người thuộc giới tài xế xe lam cũng là những đối tượng của chương trình hữu sản hóa, trong số đó có không ít người từ xà ích xe ngựa trở thành tài xế xe lam. Họ ký kết những hợp đồng trả góp để có thể làm chủ một chiếc xe lam ngày ngày chạy trên đường phố kiếm cơm.

Giá chiếc xe lam vào thập niên 60 khoảng 30 cây vàng nhưng vàng hồi đó còn rẻ chứ không “leo thang” như ngày nay. Có tài xế xe lam còn khoe: “Chạy một ngày, ăn cả tháng chưa hết”. Nói vậy có lẽ hơi quá, nghề nào cũng có những gian nan, khổ cực của nó, nhưng câu nói đó cho thấy nghề tài xe lam thời hoàng kim là một trong những nghề “hot”

Đặc điểm của xe lam là tính “cơ động”, hành khách có thể lên xuống xe tại bất cứ chỗ nào dọc theo tuyến mà không cần trạm lên xuống như xe buýt. Miền Nam trong thời kỳ chiến tranh leo thang, xe lam cũng là phương tiện “chạy giặc” hữu hiệu vì gọn nhẹ lại chở được nhiều đồ đạc như bức hình dưới đây:

Sau biến cố 30/4/1975 xe lam vẫn tiếp tục tồn tại trong khi taxi phải mất nhiều năm mới khôi phục vào thời kỳ Đổi Mới với những chiếc taxi sơn màu vàng mang thương hiệu Vinataxi, một liên doanh với Hồng Kông. Xe lam trong thời kỳ này được dùng làm phương tiện đi lại phổ biến, rẻ tiền và dĩ nhiên vẫn giữ được “thời vàng son” của nó.

Lúc đó, chỉ riêng thị xã Biên Hòa, có 6 hợp tác xã xe lam với khoảng 1.000 đầu xe đăng ký chở khách chính thức, với hàng triệu lượt khách mỗi năm. Cũng vì thế mà có thời Biên Hòa được ví như là “thủ phủ xe lam”. Sau này, những chiếc xe lam đã “có tuổi” nhưng vẫn được đem ra miền Bắc để giải bài toán giao thông ngày càng phức tạp tại các đô thị lớn.

PhuongTienDiChuyen NguyenNgocChinh26Xe Lam đậu cạnh “người anh em” Lambretta sau năm 1975.

Xe lam là loại xe có một cabin phía trước dành cho tài xế và một thùng xe có thể chở hành khách và hàng hóa. Khách ngồi trên băng ghế dài, dọc theo hai bên thùng xe với sức chứa trên 10 người, đó là chưa kể trường hợp đặc biệt, 2 người khách nữa có thể ngồi 2 bên tài xế trong khoang lái!

Động cơ xe nằm ngay dưới yên dành cho tài xế. Khi xe chết máy, bác tài phải nhảy xuống đường, giở yên xe lên, chùi lại bu-gi, dùng một sợi dây thừng kéo cho máy nổ hoặc dùng bàn đạp khởi động lại máy xe.

Gặp khi đông khách, bác tài cũng sẵn sàng ngồi thu gọn lại ngay giữa yên để có thêm chỗ cho hai khách ngồi ké vào hai bên. Chuyện kể một chuyến xe đang chạy ngon trớn bỗng động cơ xe ngừng hoạt động. Bác tài nói với 2 bà ngồi hai bên: “Hai bà làm ơn xuống xe cho tôi đạp máy”.

Vốn là người miền Nam nên bác tài phát âm “đạp máy” nghe như “đạp mái” khiến một bà lên tiếng: “Cái ông này ‘dê đạo lộ’. Xe chết máy không lo sửa mà lại còn đòi… đạp mái. Vô duyên!”

Bên trong xe lam là cả một kho truyện tình cảm “lâm li bi đát” nhưng cũng có khi là những chuyện “trời ơi đất hỡi” đáng ghi nhớ. Những chuyến xe đông người có thể trà trộn khách thuộc loại có “bàn tay nhám” hay “diệu thủ thơ sinh” chuyên nghề móc túi. Lại còn có những “bóng hồng” hành nghề “bỏ bùa mê” để trộm cắp tài sản của khách trên xe.

Hành khách ngồi “chen vai thích cánh” trên xe cũng dễ nảy sinh tình cảm bất ngờ nhưng lại cũng dễ xảy ra.. tai họa. Có trường hợp chàng trai bị cô gái “hớp hồn” trên xe lam nhưng khi xuống xe cái bóp đã… “không cánh mà bay”.

Cũng có thể là một chuyện tình lãng mạn của đôi trai gái đi chung một chuyến xe lam như nhà thơ Trần Thanh kể lại trong bài Trên Chuyến Xe Lam:
 
“Tôi vẫn nhớ mùa thu năm ấy
Tôi quen nàng trên chuyến xe lam
Nàng nhìn tôi đôi mắt mơ màng
Tôi bẽn lẽn nhìn sang không nói…
 
“Ông vua nhạc sến” Vinh Sử có bài Chuyến Xe Lam Chiều (*) với những ca từ rất bình dân kể lại một mối tình của đôi trai gái quen nhau trên một chuyến xe lam. Mối tình sau này tan vỡ không phải vì nàng bỏ đi lấy chồng mà là chàng “tham phú phụ bần” lấy con gái nhà giàu:
 
“Trên chuyến xe lam đông người chiều nao
Xui mình không quen mà ngồi bên nhau
Trời mang nhiều trớ trêu chi
Người chưa hề biết quen gì
Sao ngồi gần như tình nhân si…
….
Ngờ đâu yêu đương như đám lục bình
Trôi theo con nước vô tình
Anh lấy vợ người ta giàu có
Tình em như cát dã tràng biển đông
Em muốn tìm chồng cho xong
Nhưng ngại thêm gặp kẻ bạc lòng…
 
Một thời đã qua kéo theo nhiều kỷ niệm từ các phương tiện di chuyển công cộng tại Sài Gòn xưa. Loạt bài viết này chỉ mới ghi lại một phần nhỏ trong những sinh hoạt hàng ngày khi đi lại. Có lẽ những thế hệ trẻ ngày nay không ngờ lớp cha, ông đã trải qua nhiều thời kỳ lý thú đến như vậy. Biết đâu chừng con cháu lại thấy cha ông mình sao… khổ quá!

Xem thêm...

Hỏi Ngã Chính Tả Tự Vị ▬ Từ điển tiếng Việt

*Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung
 
     Học Cách Nào Để Viết Đúng Chính Tả Hỏi-Ngã?    


Nhiều người nhận xét thấy người Bắc viết đúng chính tả hỏi/ngã hơn người Nam và người Trung. Họ viết đúng dễ dàng, gần như không cần học qui tắc nầy, qui tắc nọ tùm lum, phải nhớ cái nầy, phải nhớ cái khác.

Chuyện dễ hiểu, Người Bắc nói và đọc có giọng hỏi/ngã. Nói cách khác, người Bắc nói, đọc chữ dấu hỏi khác với chữ dấu ngã. Vậy nghe tiếng có giọng dấu nào thì viết chữ với dấu đó. Chuyện dễ như viết dấu sắc và dấu huyền. Đâu có ai viết trật dấu sắc thành dấu huyền.

Người Nam và người Trung nói và đọc chữ dấu ngã không được. Thổ ngơi 2 miền nầy sanh ra con người chỉ có giọng dấu hỏi. Cái đó làm họ khổ sở về việc dễ viết sai chính tả hỏi/ngã. Họ phải khổ công tìm mọi cách sửa chữa nhược điểm của mình.

Người Nam nhận xét thấy tiếng Việt có rất nhiều lời song âm, 2 tiếng ghép liền nhau để thành lời nói có nghĩa. Và chữ viết tương ứng phải có 2 chữ ghép liền nhau.

Nhận xét tiếp theo là thường thường các chữ không có dấu thanh, có dấu sắc, có dấu hỏi ở chung nhóm với nhau.

Còn các chữ có dấu huyền, dấu nặng, dấu ngã thì cùng nhóm với nhau. Vậy từ kép song âm (có 2 chữ) có một chữ hỏi/ngã, mình chưa biết viết thế nào cho đúng, thì nhìn sang chữ ghép kề cận, nếu chữ đó có dấu huyền hay dấu nặng, thì chữ hỏi/ngã phải là chữ dấu ngã.

Trái lại, nếu chữ ghép kề cận mà không dấu, hoặc dấu sắc, thì chữ hỏi/ngã phải là chữ dấu hỏi.
Thí dụ:

- Nghỉ ngơi, chữ nghỉ viết dấu hỏi, vì chữ ngơi kề cận không dấu.

- Nghĩ ngợi, chữ nghĩ viết dấu ngã, vì chữ ngợi kề cận có dấu nặng.

Nói đúng cách “ngôn ngữ học” thì gọi đó là viết hỏi/ngã theo qui tắc hài thanh.
Khi tôi dạy học trò tiểu học, tôi phân định dễ hiểu như vầy:
Những chữ không dấu, dấu sắc và dấu hỏi là thuộc nhóm chữ thanh đứng (gọi là thanh đứng, ý tôi muốn tượng trưng cho âm bổng, tượng trưng cho dấu hỏi đứng thẳng)

Những chữ có dấu huyền, dấu nặng và dấu ngã là thuộc nhóm chữ thanh ngang (gọi là thanh ngang, ý tôi muốn tượng trưng cho âm trầm, tượng trưng cho dấu ngã nằm ngang)

Ấn định thanh đứng, thanh ngang như vậy rồi, tôi đặt ra qui tắc cho học trò học, như sau:
Qui tắc: “Trong từ kép 2 chữ, cả hai chữ thường cùng nhóm với nhau, thanh đứng thì đứng hết, thanh ngang thì ngang hết. Có một chữ chưa biết phải viết hỏi hay ngã thì nhìn sang chữ kia xem nó thuộc thanh nào.

Thuộc thanh đứng thì viết dấu hỏi, thuộc thanh ngang thì viết dấu ngã”

Tôi đưa ra một loạt nhiều từ kép làm thí dụ để củng cố qui tắc nêu trên, như: củng cố, lắc lẻo, lỡ làng, lở loét, lở lói, loã lồ, giữ gìn, dữ dằn, dữ dội, ngỡ ngàng, rực rỡ, bảo ban, bão bùng, vất vả, đả đớt, đỡ đần, mở mang, lưỡng lự, ngất ngưởng,…
Tôi còn làm thơ (thơ con cóc) bắt học trò học thuộc lòng để chúng học chính tả hỏi/ngã, như sau:

Không-sắc-hỏi, gọi là thanh đứng,
Huyền-nặng-ngã, quả thực thanh ngang.
Hai bên đối chọi rất rõ ràng:

Ngang vốn nằm dài viết dấu ngã;
Đứng thẳng, dấu hỏi dễ gì quên.

Thí dụ có nhiều lắm ai ơi:

Ngả-nghiêng như té nằm tới nơi,
Vậy mà viết hỏi, vì thanh đứng;
Dửng-dưng đâu phải chữ lạ lùng,
Viết hỏi dửng, cũng tại dưng sau.
Em viết ỡm-ờ cùng màu-mỡ,
Viết ngã, bởi dấu huyền sau trước.

Tuần sau, học trò khép nép trình với thầy là chữ vỏn vẹn không theo “luật” thanh đứng thanh ngang, vẹn dấu nặng, mà vỏn lại viết dấu hỏi.

Đứa khác lại trình chữ trơ trẽn cũng vậy, trơ không dấu, thanh đứng, mà trẽn lại dấu ngã, thanh ngang. Tôi mỉm cười, cho đám trẻ biết đó là những cặp chữ ngoại lệ. Rồi tôi cho bài tập về nhà làm: “Tìm những cặp chữ ngoại lệ về thanh đứng/thanh ngang”

Tôi “dễ dãi” cho chúng hỏi cha mẹ, và lật tìm trong từ điển. Chúng lần lượt đem vào lớp những chữ ngoại lệ, và tiếp tục bổ sung danh sách nầy cho đến cuối niên học.

Học trò và luôn cả thầy giáo cùng nhau lo học nhớ những chữ ngoại lệ: vỏn vẹn, trơ trẽn, ễnh ương, đối đãi, nài nỉ, ve vãn, riêng rẽ, sành sỏi, minh mẫn, mềm mỏng, ngoan ngoãn, niềm nở…

Tôi còn chỉ cách cho học trò ứng dụng qui tắc thanh đứng/thanh ngang đối với một số chữ lẻ, tức chữ đơn, chưa có gì hỗ trợ để viết đúng hỏi/ngã.
Gặp những chữ chưa có cặp có đôi, thì cố tìm chữ láy, chữ đệm ghép vào cho có cặp rồi áp dụng qui tắc hài thanh.

Thí dụ gặp chữ kỹ/kỷ, nếu nghĩa trong câu cho phép ghép được với càng thành kỹ càng thì kỹ dấu ngã; chữ rảnh ghép được với rang thành rảnh rang, thì rảnh dấu hỏi.
Còn có cách tìm xem chữ cùng nghĩa với chữ chưa biết viết hỏi hay ngã thuộc thanh nào, để quyết định theo qui tắc hài thanh.

Thí dụ gặp chữ mảnh vải, chữ cùng nghĩa với mảnh là miếng, thanh đứng, vậy mảnh dấu hỏi. Còn mãnh hổ, mãnh nầy có nghĩa là mạnh, thanh ngang, vậy mãnh dấu ngã.

Sau một vài tuần, có một trò hỏi tôi
“Thưa thầy, gặp một chữ hỏi/ngã đứng một mình, em tìm không ra chữ ghép được với nó, thì làm sao viết đúng hỏi/ngã?”
Tôi trả lời tỉnh bơ làm cả lớp cười ồ: “Gặp trường hợp như vậy thì chỉ còn cách tra từ điển, để viết đúng hỏi/ngã!”

Học trò cười ồ, vì nghĩ thầy nói giỡn. Tôi phải nghiêm chỉnh cho chúng biết đó là sự thật. Nhiều nhà văn coi trọng trách nhiệm khi gặp những chữ lạ làm mình mờ ớ về chính tả đều phải tra từ điển, kể cả chính tả hỏi/ngã.

Trước hành lang lớp tôi có tấm bảng “công cộng” để dạy chính tả cho toàn trường.

Ông Hiệu Trưởng cắt tôi lo viết hai câu văn vần hoặc văn xuôi có chứa 2 chữ gần đồng âm mà khác chính tả, trong đó có những chữ hỏi/ngã, cứ đầu tuần là thay câu mới, đại khái như sau đây:

Lỡ làng duyên kiếp, ngỡ ngàng hồng nhan.
Bông hoa rực rỡ, nhờ đất màu mỡ.
Ôm ấp nỗi niềm khổ đau trong cuộc sống nổi trôi.
Cứ vui vẻ lên, vẽ vời chi chuyện muộn phiền…

Tôi có đọc đâu đó biết được, người ta quan sát thấy những từ Hán Việt hỏi/ngã khởi đầu bằng các phụ âm sau đây: D, L, M, N, Ng, Nh, V thì viết dấu ngã, như diễm (lệ), lưỡng (lự), mỹ (mãn), (nam) nữ, (ngôn) ngữ, (thạch) nhũ, vĩnh viễn, …

Còn lại là viết dấu hỏi, trừ một số ngoại lệ như sau: hiện hữu, bằng hữu…, tuẫn tiết, bĩ cực, bãi nại, bãi chức,…

Mới đây, tôi đọc thấy trên diễn đàn Viện Việt Học cho biết Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đặt ra một câu thiệu để giúp mình nhớ như một qui tắc hỏi/ngã: “Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã” Nhớ câu thiệu nầy là nhớ các phụ âm đầu M, N, Nh, V, L, D, Ng.

G/s Nguyễn tài Cẩn có nêu ra 24 chữ ngoại lệ viết dấu ngã: Kỹ (kỹ thuật, kỹ nữ), Bãi (bãi chức, bãi khoá), Bĩ (bĩ cực, vận bĩ), Hữu (bằng hữu, hữu ích, hữu khuynh), Phẫu (giải phẫu), Cữu (linh cữu), Tiễn (tiễn biệt, tống tiễn, hoả tiễn), Tiễu (tiễu trừ, tiễu phỉ), Trẫm, Trĩ (ấu trĩ, chim trĩ)

Trữ (tích trữ), Huyễn (huyễn hoặc), Hỗ (hỗ trợ), Hãm (giam hãm), Đãng (phóng đãng, quang đãng), Quẫn (khốn quẫn, quẫn bách), Xã (xã hội), Hoãn (trì hoãn), Quĩ (quĩ tích, thủ quĩ), Suyễn (bệnh suyền), Cưỡng (cưỡng ép), Tuẫn (tuẫn nạn), Đễ (hiếu đễ), Sĩ (kẻ sĩ, văn sĩ)

Tôi có dạy học sinh cách viết chữ hỏi/ngã Hán Việt nầy, nhưng lúc đó tôi không biết câu thiệu của G/s. NTC. Vả lại, học sinh tiểu học không phân biệt được từ Hán Việt và từ thuần Việt. (Ngay bây giờ, nhiều người trẻ Việt ở ngoại quốc cũng không phân biệt nổi tiếng Hán Việt và tiếng thuần Việt.).
Lỗi chính tả của học sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long và một số ...

Kết luận:

Đối với người Bắc có học, thì chữ hỏi/ngã cũng đơn giản như chữ sắc/huyền, không cần học gì hết cũng viết đúng, nếu có người nói và đọc đúng giọng Bắc.
Còn người Nam thì thật vất vả trong việc viết đúng chính tả hỏi/ngã. Họ phải tìm cách phân loại chữ hỏi/ngã để đưa vào qui tắc nầy, qui tắc kia để học.

Họ không cho chữ hỏi/ngã mọc ra như rừng rậm, mà sắp xếp chữ hỏi/ngã thành như vườn cao su, có hàng ngũ dọc ngang, gom những chữ hỏi/ngã ngoại lệ vào một khu vực để “điểm danh” mà nhớ mặt, không cho vào khu vườn đã có trật tự.

Nhờ những công trình như vậy, nên những ai chịu khó quan tâm thì cũng viết trúng chính tả hỏi/ngã, không trúng 100%, thì cũng sai ở mức độ chấp nhận được.
 
***

Dùng dấu HỎI – NGÃ
Chỉ nhắc cái cơ bản dễ nhớ để viết chính tả tương đối ổn và hạn chế lỗi ở mức thấp nhất.

1. DÙNG TỪ LÁY THEO QUI ƯỚC:

– Dấu Hỏi đi với Sắc và Ngang.
– Dấu Ngã đi với Huyền và Nặng.

HỎI + SẮC:

– Gởi gắm, thổn thức, rải rác, khoảnh khắc, rẻ rúng, tử tế, cảnh cáo, sửng sốt, hảo hán, phản phúc, phản kháng, rửa ráy, quả quyết, khủng khiếp, khỏe khoắn, nhảm nhí, lở loét, lảnh lót, bảo bối, thưởng thức, thẳng thắn, thảng thốt, hiển hách, nhỏ nhắn, chải chuốt, rả rích, phảng phất, lả lướt, bổ báng, sản xuất.
– Mát mẻ, sắc sảo, mắng mỏ, vất vả, hối hả, hớn hở, xối xả, bóng bẩy, nóng nảy, sắp sửa, sắm sửa, hớt hải, lấp lửng, khúc khuỷu, tá lả, rác rưởi, trống trải, cứng cỏi, sáng sủa, sến sẩm, xấp xỉ, lém lỉnh, láu lỉnh, ngắn ngủi, chống chỏi, hốt hoảng, rắn rỏi, tức tưởi, chúi nhủi, nhắc nhở, nức nở, sấn sổ, ngất ngưởng, thắc thỏm, thấp thỏm, trắc trở, tráo trở, béo bở, ngái ngủ, gắt gỏng, kém cỏi, khấp khểnh, cáu kỉnh, kháu khỉnh, thất thểu, khốn khổ, tán tỉnh, ngúng nguẩy.

HỎI + NGANG:

– Nhỏ nhen, nhởn nhơ, ngẩn ngơ, vẩn vơ, lẳng lơ, lẻ loi, hỏi han, nở nang, nể nang, ngổn ngang, dở dang, giỏi giang, sửa sang, thở than, mỏng manh, chỉn chu, dửng dưng, trả treo, tả tơi, bỏ bê, mải mê, chở che, bảnh bao, hẩm hiu, phẳng phiu, khẳng khiu, rủi ro, mỉa mai, trẻ trung, nghỉ ngơi, ngủ nghê, tỉ tê, xỏ xiên, ngả nghiêng, đảo điên, hiển nhiên, lẻ loi, thảnh thơi, sản sinh.
– Dư dả, chăm chỉ, năn nỉ, thư thả, thon thả, thoang thoảng, trong trẻo, trăn trở, vui vẻ, thơ thẩn, thanh thản, mơn mởn, xăm xỉa, lêu lổng, hư hỏng, căng thẳng, dai dẳng, xây xẩm, san sẻ, xoay sở, hăm hở, xa xỉ, ngoe nguẩy, phe phẩy, đông đủ, tanh tưởi, chưng hửng, tiu nghỉu, sang sảng, nham nhở, chao đảo, gây gổ, sơ hở, cơ sở, tin tưởng, năng nổ, cưa cẩm, thăm thẳm, đưa đẩy, tưng tửng, say xỉn

NGÃ + HUYỀN:

– Bẽ bàng, vẫy vùng, nõn nà, vững vàng, đẫy đà, phũ phàng, bão bùng, sỗ sàng, vỗ về, rõ ràng, vẽ vời, sững sờ, ngỡ ngàng, hỗn hào, hãi hùng, sẵn sàng, kỹ càng, não nề, khẽ khàng, mỡ màng, lỡ làng.
Gần gũi, liều lĩnh, lầm lỗi, gìn giữ, buồn bã, tầm tã, suồng sã, rầu rĩ, thờ thẫn, hờ hững, sàm sỡ, xoàng xĩnh, phè phỡn, bừa bãi, thừa thãi, nghề ngỗng, lừng lẫy, ruồng rẫy, lờ lững, đằng đẵng, mò mẫm, lầm lũi, nhàn nhã, bằng hữu.

NGÃ + NẶNG:

– Lãng mạn, lũ lụt, hãm hại, nhẫn nhịn, lễ lộc, lỗi lạc, rũ rượi, lưỡng lự, chễm chệ, nhã nhặn, mẫu mực, chững chạc, dõng dạc, dữ dội, cãi cọ, nhão nhoẹt, kẽo kẹt, kĩu kịt, nhễ nhại, rõ rệt, lẫn lộn
– Gọn ghẽ, ngạo nghễ, vạm vỡ, lặng lẽ, lạnh lẽo, bạc bẽo, sặc sỡ, rực rỡ, rộn rã, vội vã, nghiệt ngã, hậu hĩ, hậu hĩnh, ngộ nghĩnh, gạt gẫm, hụt hẫng, dựa dẫm, nhẹ nhõm, bập bõm, chập chững, mạnh mẽ, chặt chẽ, sạch sẽ, ngặt nghẽo, khập khiễng, đục đẽo, ruộng rẫy, giặc giã, giặt giũ, giận dỗi, bụ bẫm, dạy dỗ, gặp gỡ, dụ dỗ, lạ lẫm, rộng rãi, tục tĩu, nhục nhã, dạn dĩ, rạng rỡ, rệu rã.

* TỪ KÉP LÀ TỪ THƯỜNG ĐI MỘT CẶP DẤU HỎI HOẶC NGÃ.

– Lã chã, bỗ bã, bẽn lẽn, bỡ ngỡ, mỹ mãn, dễ dãi, cũn cỡn, lững thững, ngẫm nghĩ, lỗ lã, lẽo đẽo, nhõng nhẽo, mũm mĩm, mẫu mã, vĩnh viễn, nhễu nhão.
– Thỏ thẻ, đỏng đảnh, lẻ tẻ, của cải, lẩm bẩm, lẩm cẩm, lảm nhảm, hể hả, kể lể, nhỏng nhảnh, lủng củng, thỉnh thoảng, lảo đảo, tỉ mỉ, thủ thỉ, lảng vảng, rủng rỉnh, loảng xoảng, hổn hển, lủng lẳng, lỏng lẻo, lải nhải, tủm tỉm, bủn rủn, xởi lởi, tẩn mẩn, lẩn quẩn, thỏn mỏn, chỏn lỏn, giả lả, bải hoải, bổi hổi, lẩn thẩn, lởm chởm, rỉ rả, thủng thẳng, bỏm bẻm, nhỏm nhẻm, xiểng niểng, lẩy bẩy

2. TỪ NGUYÊN ÂM: DẤU HỎI

Ủa, ổi, ổng, ẩu, ủng, ỷ, ổn, ửng, ổ, ủy, ỏn ẻn, ong ỏng, im ỉm, âm ỉ, ấp ủ, ảo ảnh, ăn ở, êm ả, oi ả, yên ả, óng ả, ẩn ý, an ủi, ỉ ôi, ẩm ướt, ủ ê, uể oải, ít ỏi, ủn ỉn, oan uổng, ăng ẳng, ư ử, oẳn tù tì, ẻo lả, ủ rũ, yểu điệu, ỉu xìu, ảm đạm, uyển chuyển, quan ải, oản xôi, yểm trợ (trừ: ễnh, ưỡn, ẵm, ỡm)

3. TỪ HÁN VIỆT BẮT ĐẦU LÀ M, N, NH, L, V, D, NG THÌ DẤU NGÃ, CÁC CHỮ KHÁC DẤU HỎI.

Ghi nhớ 7 chữ này bằng câu “ Mình Nên Nhớ Là Viết Dấu Ngã “
– M: Mỹ nhân, Mẫu giáo, Mã đáo, Mãn nguyện, Mãng xà, Mãnh lực, Mẫn cán, Miễn nhiệm, Mão mũ
– N: Não bộ, Nữ nhi, Noãn hoa, Nỗ lực, Nã (truy nã)
– NH: Nhẫn tâm, Nhãn tiền, Nhiễu loạn, Nhũ mẫu, Nhã nhạc, Nhã nhặn, Nhuyễn thể, Nhĩ (mộc nhĩ), Nhưỡng (thổ nhưỡng)
– L: Lão gia, Lễ nghi, Lĩnh hội, Lỗi lạc, Lữ khách, Lãng tử, Lưỡng tính, Lãnh địa, Luỹ thành, Lãm nguyệt, Lẫm liệt
– V: Vãn hồi, Viễn xứ, Vĩ đại, Võ sư, Vũ trang, Vĩnh hằng, Vững chãi
– D: Diễm phúc, Dũng khí, Dưỡng dục, Dĩ nhiên, Dõng dạc, Diễu hành, Dã ngoại, Dã tâm, Diễn thuyết
– NG: Nghĩa hiệp, Ngũ cốc, Ngữ hệ, Ngẫu nhiên, Nghiễm nhiên, Ngưỡng mộ, Ngã (bản ngã)

4. HỌ VÀ TRẠNG TỪ: DẤU NGÃ

– Họ Nguyễn, Võ, Vũ, Đỗ, Doãn, Lữ, Lã, Mã, Liễu, Nhữ
– Cũng, vẫn, sẽ, mãi, đã, những, hỡi, hễ, lẽ ra, mỗi, nữa, dẫu …

5. DÙNG DẤU BẰNG CÁCH SUY LUẬN THEO NGHĨA. Ví dụ:

NỔI – NỖI:

– Chỉ sự trổi lên hơn mức bình thường thì dấu hỏi (nổi trội, nổi bật, nổi danh, nổi tiếng, nổi mụn, nổi gân, nổi điên, nổi giận, nổi xung, nổi hứng, nổi sóng, nổi bọt, nổi dậy, chợ nổi, nông nổi, làm nổi, trôi nổi, hết nói nổi, chịu hết nổi, gánh không nổi)
– Cái nào mang tính biểu cảm thì dấu ngã (khổ nỗi, đến nỗi nào, làm gì nên nỗi, nỗi lòng, nỗi niềm, nỗi ước ao, nỗi nhục, nỗi oan, nỗi hận, nỗi nhớ)

NGHỈ – NGHĨ:

– Liên quan đến sự dừng lại một hoạt động thì dấu hỏi (nghỉ ngơi, nghỉ học, nghỉ việc, nghỉ hè, nghỉ lễ, nghỉ mệt, nghỉ dưỡng, nghỉ chơi, nghỉ mát, nghỉ thở, nghiêm nghỉ, nhà nghỉ, an nghỉ)
– Thể hiện cảm xúc suy nghĩ thì dấu ngã (nghĩ ngợi, suy nghĩ, ngẫm nghĩ, nghĩ cách, thầm nghĩ, nghĩ quẫn, nghĩ bậy, cạn nghĩ)

MẢNH – MÃNH:

– Cái nào gợi hình dáng thì dấu hỏi (mảnh trăng, mảnh ruộng, mảnh vườn, mảnh đất, mảnh xương, mảnh sành, mảnh vỡ, mảnh khảnh, mảnh mai, mảnh khăn, mảnh áo, mảnh vá, mảnh tình, mỏng mảnh)
Thể hiện tính chất thì dấu ngã (dũng mãnh, mãnh liệt, ranh mãnh, ma mãnh, mãnh hổ, mãnh thú, mãnh lực..)

KỶ – KỸ:

– Gắn với bản thân con người thì dấu hỏi (kỷ vật, kỷ niệm, kỷ luật, kỷ lục, kỷ yếu, ích kỷ, tự kỷ, vị kỷ, tri kỷ, thế kỷ, thập kỷ)
– Gắn với kỹ thuật, trình độ thao tác thì dấu ngã (Kỹ nghệ, kỹ năng, kỹ xảo, kỹ thuật, kỹ sư, kỹ nữ, kỹ lưỡng, kỹ càng, kỹ tính, nghĩ kỹ, giấu kỹ, tuyệt kỹ)

CHÚ Ý:

Qui ước cơ bản chứ không tuyệt đối, vẫn có một số từ ngoại lệ không theo qui ước trên như:

HỎI + NẶNG: – Hủ tục, hủ bại.

Chữ “nữa” viết dấu ngã trong đa số trường hợp, chỉ khi nói về số lượng chia hai như ” phân nửa”, “một nửa”, thì viết dấu hỏi.
Bài viết có thể hữu ích (有益) cho những ai thường phạm lỗi chính tả “hỏi ngã”. Tuy nhiên, phải nên nói rõ hơn là luật “trắc, bằng” thường đi kèm theo với dấu “hỏi” và “nặng huyền” thì thường đi kèm với dấu “ngã” thì chỉ nên áp dụng với chữ kép “thuần” Việt mà thôi. Còn nếu là những từ kép Hán Việt thì “quy luật” đó không có được hiệu nghiệm cho lắm. Tôi xin cho thí dụ:
Ví dụ như chữ “sản xuất” (產出) ở trên là tiếng Hán Việt và “tình cờ” nó đi theo cái luật “bằng, trắc”. Tuy nhiên, nếu là “cộng sản” (共產) hay “tài sản” (財產) thì nó lại không có hợp với luật “huyền nặng”!
Lý do là vì chữ Hán Việt không hề thay đổi từ “hỏi” sang “ngã” hay ngược lại, khi cái chữ đó đi kẹp với những chữ có những dấu khác nhau.
Một khi chữ “sản” đã được viết với dấu “hỏi” rồi thì cho dù nó có đi kẹp với dấu gì đi nữa thì nó vẫn phải viết với dấu hỏi mà thôi.
Giống như chữ “phản ứng” (反應) thì là đúng với quy luật, dấu “hỏi” đi kèm với dấu “sắc”, nhưng “phản hồi” (反囘) thì không theo quy luật vì viết với dấu hỏi, nhưng lại đi kèm theo với dấu “huyền” !
Phương ngữ tiếng Việt – Wikipedia tiếng Việt

    DẤU "HỎI - NGÃ" TRONG VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM    

Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngần mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu "HỎI NGÃ". Thật thế, dấu hỏi ngã trong tiếng Việt đóng một vai trò quan trọng. Viết sai dấu hỏi ngã sẽ làm đảo ngược và có khi vô cùng tai hại cho văn chương và văn hóa Việt Nam. 
 
Chúng tôi xin đơn cử một vài trường hợp như sau. Danh từ nhân sĩ, chữ sĩ phải được viết bằng dấu ngã để mô tả một vị chính khách có kiến thức văn hóa chính trị..., nhưng nếu vô tình chúng ta viết nhân sỉ, chữ sỉ với dấu hỏi thì ý nghĩa của danh từ nhân sĩ sẽ bị đảo ngược lại, vì chữ sĩ với dấu hỏi có nghĩa là nhục sĩ và như vậy sẽ bị trái nghĩa hoàn toàn. Một chữ thông thường khác như là hai chữ sửa chữa, nếu bỏ đi dấu hỏi ngã sẽ có nhiều ý khác nhau: sửa chữa (sửa dấu hỏi, chữa dấu ngã) tức là chúng ta sửa lại một cái gì bị hư hỏng, thí dụ sửa chữa xe hơi. Nhưng nếu cho dấu ngã vào thành chữ sữa và dấu hỏi trên chữ chửa tức có nghĩa là sữa của những người đàn bà có thai nghén. 
Người sai lỗi nhiều nhất về viết sai dấu hỏi ngã là người miền Nam và Trung (người viết bài này là người miền Trung). May mắn nhất là người thuộc miền Bắc khi sinh ra là nói và viết dấu hỏi ngã không cần phải suy nghĩ gì cả. Nhưng khốn nỗi có khi hỏi họ tại sao chữ này viết dấu hỏi chữ kia lại đánh dấu ngã thì họ lại không cắt nghĩa được mà chỉ nở một nụ cười trên môi... 
Bài viết này nhằm mục đích đóng góp một vài qui luật về dấu hỏi ngã của tiếng mẹ đẻ Việt Nam chúng ta. 
Dấu hỏi ngã được căn cứ vào ba qui luật căn bản: Luật bằng trắc, chữ Hán Việt và các qui luật ngoại lệ.
 
 
A. LUẬT BẰNG TRẮC 
Qui luật bằng trắc phải được hiểu theo ba qui ước sau. 
 
1. Luật lập láy
Danh từ lập láy tức là một chữ có nghĩa nhưng chữ ghép đi theo chữ kia không có nghĩa gì cả. Thí dụ: vui vẻ, chữ vui có nghĩa mà chữ vẻ lại không nghĩa, chữ mạnh mẽ, chữ mạnh có nghĩa nhưng chữ mẽ lại không hề mang một ý nghĩa nào hết, hoặc chữ lặng lẽ, vẻ vang... 
 
2. Luật trắc 
Không dấu và dấu sắc đi theo với danh từ lập láy thì chữ đó viết bằng dấu hỏi (ngang sắc hỏi). 
Thí dụ: 
Hớn hở: chữ hớn có dấu sắc, thì chữ hở phải là dấu hỏi.
Vui vẻ: chữ vui không dấu, thì chữ vẻ đương nhiên phải dấu hỏi. 
Hỏi han: chữ han không dấu, như thế chữ hỏi phải có dấu hỏi. 
Vớ vẩn: chữ vớ là dấu sắc thì chữ vẩn phải có dấu hỏi. 
Tương tự như mắng mỏ, ngớ ngẩn, hở hang, ... 
 
3. Luật bằng
Dấu huyền và dấu nặng đi theo một danh từ lập láy thì được viết bằng dấu ngã (huyền nặng ngã).
Thí dụ: 
Sẵn sàng: chữ sàng có dấu huyền thì chữ sẵn phải là dấu ngã. 
Ngỡ ngàng: chữ ngàng với dấu huyền thì chữ ngỡ phải để dấu ngã. 
Mạnh mẽ: chữ mãnh có dấu nặng, do đó chữ mẽ phải viết dấu ngã. 
Tương tự như các trường hợp lặng lẽ, vững vàng,... 
 
 
B. CHỮ HÁN VIỆT 
 
Văn chương Việt Nam sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, chúng ta hay quen dùng hằng ngày nên cứ xem như là tiếng Việt hoàn toàn. Thí dụ như các chữ thành kiến, lữ hành, lãng du, viễn xứ, ... tất cả đều do chữ Hán mà ra. 
Đối với chữ Hán Việt được sử dụng trong văn chương Việt Nam, luật về đánh dấu hỏi ngã được qui định như sau: 
Tất cả những chữ Hán Việt nào bắt đầu bằng các chữ D, L, V, M và N đều viết bằng dấu ngã, cá chữ Hán Việt khác không bắt đầu bằng năm mẫu tự này sẽ được viết bằng dấu hỏi. 
Thí dụ: 
Dĩ vãng: hai chữ này phải viết dấu ngã vì dĩ vãng không những là hán tự mà còn bắt đầu bằng chữ D và V.
Vĩ đại: vĩ có dấu ngã vì chữ vĩ bắt đầu với mẫu tự V. 
Ngẫu nhiên: chữ ngẫu dấu ngã vì áp dụng qui luật Hán Việt nói trên. 
Lẽ phải: lẽ dấu ngã vì chữ L, phải dấu hỏi vì có chữ P. 
Tư tưởng: chữ tưởng phải viết dấu hỏi vì vần T đứng đầu.
Tương tự như: lữ hành, vĩnh viễn,... 
Để thể nhớ luật Hán tự dễ dàng, chúng tôi đặt một câu châm ngôn như thế này: 
"Dân Là Vận Mệnh Nước" 
để dễ nhớ mỗi khi muốn sử dụng qui luật Hán tự nói trên
 
 
 
C. CÁC QUI ƯỚC KHÁC
 
1. Trạng từ (adverb) 
Các chữ về trạng từ thường viết bằng dấu ngã. 
Thí dụ: 
Thôi thế cũng được. Trạng từ cũng viết với dấu ngã.
Xin anh đừng trách em nữa. Trạng tự nữa viết với dấu ngã. 
Chắc anh đã mệt lắm rồi. Trạng từ đã viết với dấu ngã. 
2. Tên họ cá nhân và quốc gia 
Các họ của mỗi người và tên của một quốc gia thường được viết bằng dấu ngã. 
Thí dụ:
Đỗ đình Tuân, Lữ đình Thông, Nguyễn ngọc Yến... 
Các chữ Đỗ, Lữ, Nguyễn đều viết bằng dấu ngã vì đây là danh xưng họ hàng. 
Nước Mỹ, A phú Hãn,... Các chữ Mỹ và Hãn phải viết bằng dấu ngã vì đây là tên của một quốc gia. 
3. Thừa trừ
Một qui ước thừa trừ ta có thể dùng là đoán nghĩa để áp dụng theo luật lập láy và bằng trắc nói trên. 
Thí dụ: 
Anh bỏ em đi lẻ một mình. Chữ lẻ viết dấu hỏi vì từ chữ lẻ loi mà ra, chữ loi không dấu nên chữ lẻ viết với dấu hỏi. 
Anh này trông thật khỏe mạnh, chữ khỏe ở đây có dấu hỏi vì do từ khỏe khoắn mà ra, khoắn dấu sắc thì khỏe phải dấu hỏi. 
 
 
D. KẾT LUẬN 
 
Văn chương là linh hồn của nền văn hóa, viết sai dấu hỏi ngã có thể làm sai lạc cả câu văn, đó là chưa kể đến nhiều sự hiểu lầm tai hại cho chính mình và người khác cũng như các việc trọng đại. Không gì khó chịu cho bằng khi đọc một cuốn truyện hay nhưng dấu hỏi ngã không được chỉnh tề. 
 
Một ký giả người miền Nam trong câu chuyện thân mật tại một quán phở thuộc vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã thành thật công nhận điều thiếu sót và tầm quan trọng của dấu hỏi ngã trong văn chương Việt Nam. Và cũng chính vị ký giả lão thành nói trên đã khuyến khích chúng tôi viết bài này trong mục đích làm sống lại sự phong phú của nền văn chương, văn hóa Việt Nam chúng ta, nhất là đối với những thế hệ trẻ hiện đang lưu lạc trên xứ người.
 
Cao Chánh Cương
 
***

Hỏi Ngã Chính Tả Tự Vị

 

Hỏi Ngã Chính Tả Tự Vị - Biên Soạn Lê Trực Doanh Doanh - Tạp Chí Dân Văn Hiệu Đính Và Phát Hành

 
HỎI NGÃ CHÁNH TẢ TỰ VỊ
FLIPBOOK, EDITED BY DOANH DOANH ( LÊ TRỰC )
TẠP CHÍ DÂN VĂN
HIỆU ĐÍNH & PHÁT HÀNH
Viết đúng dấu "Hỏi-Ngã" trong chính tả Tiếng Việt - Quy tắc thuận ...
 
CÁCH TRA CHỮ TRONG TỰ VỊ NÀY
 
1. Ðối với những chữ kép thì tra theo vần của chữ có dấu Hỏi hay Ngã. Ví dụ muốn biết chữ Ủi trong An ủi viết dấu Hỏi hay Ngã thì tra chữ Ủi, hoặc Bẩn trong Dơ bẩn thì tra chữ Bẩn.
 
2. Những chữ kép mà chữ có dấu Hỏi hoặc Ngã dứng truớc (ví dụ Mẫu thân) sẽ được sắp truớc, và những chữ kép mà chữ có dấu hỏi họăc ngã đứng sau (ví dụ Gương mẫu, Kế mẫu) thì đuợc sắp sau, nghĩa là Mẫu thân ở phần đầu chữ Mẫu, Gương mẫu, Kế mẫu ở phần cuối chữ Mẫu.
 
3. Những chữ đồng âm được sắp gần nhau cho dễ tìm. Ví dụ chữ VẢY, được sắp ngay sau những chữ VẢI, VÃI, thay vì theo thứ tự của mẫu tự thì phải cách xa nhau, sẽ không tiện cho độc giả tra tìm.
 
4. Chữ Y sắp chung với chữ I vì không có phân biệt gì trong khi phát âm. Chỉ do thói quen mà viết Quý hay Quí.
 
5. Chữ nào không có trong cuốn Tự Vị này, qúy độc giả mail ngay cho Tạp Chí Dân Văn (danvanmagazine@gmail.com), toà soạn sẽ hồi đáp ngay.
 
- A -
 
Ả -- chỉ nguời đàn bà, ả đào, cõ ả, êm ả, oi ả, óng ả, Ả-Rập.
Ải -- tiếng hét của kép hát ải ải! -- chỗ qua lại ở biên giới ải quan, biên ải, cửa ải,  dây ải, tự ải (thắt cổ tự tử)
Ảm -- tối tăm ảm đạm.
Ảng -- cái chậu lớn, ảng đựng nuớc.
Ảnh -- ám ảnh, ảo ảnh, hình ảnh, màn ảnh, nhiếp ảnh, tranh ảnh, ảnh huởng;
        -- anh ấy ảnh đã đi rồi.
Ảo -- mập mờ, nhu thật ảo ảnh, ảo giác, ảo mộng, ảo thuật, ảo tuởng, ảo vọng,      huyền ảo;-- buồn phiền ảo não.
Ẵm -- bế , bồng trên tay con còn ẵm ngửa.
Ẳng -- tiếng chó con kêu, chó con kêu ẳng ẳng.
Ẩm -- ẩm độ, ẩm mốc, ẩm thấp, ẩm uớt, âm ẩm, ẩm thực, độc ẩm, đối ẩm, ê ẩm,   ế ẩm.
Ẩn -- trốn, lánh đi , giấu ẩn cư, ẩn danh, ẩn dật, ẩn hiện, ẩn náu, ẩn nấp, ẩn nhẫn,  ẩn sĩ, ẩn số, ẩn tình, ẩn ý, bí ẩn, trú ẩn.
Ẩu -- mửa ẩu thổ, thuợng ẩu hạ tả ; -- không cẩn thận làm ăn ẩu tả, nói ẩu quá; --  đánh lộn ẩu đả.
 
- B -
 
Bả -- bà ấy bả đi rồi; -- mồi bả vinh hoa, ăn phải bả, bả vai, bươn bả.
Bã -- hết cốt, chỉ còn xác bã hèm, bã mía, bã ruợu, bã trầu, cặn bã, buồn bã.
Bải -- bải hoải, chối bai bải, bô hô bải hải.
Bãi -- chỗ rộng và dài, bãi biển, bãi bùn, bãi cát, bãi cỏ, bãi cốt trầu, bãi chiến      truờng, bãi mìn, bãi phân, bãi sa mạc, bãi tha ma; -- ngưng, thôi, nghỉ, bãi            binh, bãi bỏ, bãi chợ, bãi công, bãi chiến, bãi chức, bãi học, bãi khoá, bãi          miễn, bãi nại, bãi thị, bãi truờng; bãi buôi, bợm bãi, bừa bãi.
Bảy -- số 7, bảy nổi ba chìm, bóng bảy.
Bãm -- dữ, thô tục ăn bãm, bổm bãm.
Bản -- tờ, tập, bài, bản án, bản địa, bản đồ, bản hiệp uớc, bản cửu chương, bản      tin,thước bản, xuồng tam bản; Nhật Bản. bản kịch bản nhạc, bản nháp, bản          sao, bản thảo, bản chất, bản chức, bản họng, bản kẽm, bản lãnh, bản lề, bản mặt, bản ngã, bản mệnh, bản năng, bản quyền, bản tánh, bản thân, bản thể, bản vị, bản xứ, ấn bản, bài bản, biên bản, căn bản, cơ bản, tái bản, tục bản, văn bản, vong bản, xuất bản, ván bản để đóng xuồng,
Bảng -- bảng đen, bảng số, bảng hổ đề danh, bảng nhãn (đậu nhì), bảng thống kê, bảng vàng, bảng yết thị, đăng bảng, treo bảng, vẽ bảng, bảng lảng.
Bảnh -- vẻ sang bề ngoài, bảnh bao, bảnh tỏn, bảnh trai, chơi bảnh, diện bảnh,      xài bảnh, bảnh mắt.
Bảo -- quý, bảo kiếm, bảo tháp, bảo vật, bảo (bửu) quyến, gia bảo; -- chỉ dạy,        biểu, chỉ bảo, dạy bảo, răn bảo, khuyên bảo, bảo ban; -- giữ, che chở bảo an, bảo bọc, bảo chứng, bảo duỡng, bảo đảm, bảo hoàng, bảo hiểm, bảo hộ, bảo lãnh, bảo mật, bảo phí, bảo quản, nhà bảo sanh (không bao giờ viết: nhà biểu sanh), bảo tàng, bảo toàn, bảo tồn, bảo thủ, bảo trì, bảo trọng, bảo trợ, bảo vệ.
Bão -- gió lớn, bão bùng, bão lụt, bão táp bão tố, bão tuyết, mua bão, góp gió làm bão -- ôm ấp hoài bão; nhiều bão hoà, bão mãn.
Bẳm -- chăm bẳm.
Bẩm – trình lên, bẩm báo, bẩm cáo, bẩm trình, phúc bẩm; -- do trời phú cho bẩm chất, bẩm sinh, bẩm tính, châm bẩm, lẩm bẩm.
Bẫm -- mạnh, thô bạo cày sâu cuốc bẫm, bụ bẫm.
Bẵng -- im bặt, vắng lâu im bẵng, quên bẵng, bẵng đi một dạo.
Bẩn -- dơ dáy, bẩn thỉu, do bẩn; -- túng thiếu bẩn chật, túng bẩn, lẩn bẩn, xẩn bẩn.
Bẩu -- thiếu lễ độ, vô phép ăn nói, bẩu lẩu.
Bẩy -- ướt át, lầy lội đường bẩy hầy, giậm bẩy sân; -- dùng đòn bắn lên bẩy lên (xeo, nạy lên) đòn bẩy, bẩy cột nhà, run bây bẩy, lẩy bẩy.
Bẫy -- cạm để lừa bẫy chim, bẫy chuột, cạm bẫy, gài bẫy, đặt bẫy, mắc bẫy, vướng bẫy.
 
Bẻ -- bứt, làm cho lìa ra, bẻ cổ, bẻ gãy, bẻ khúc, bẻ măng, bẻ trái cây; -- bác đi, sửa lại bác bẻ, bắt bẻ, bẻ tay lái, vặn bẻ, vọp bẻ.
Bẽ -- ngỡ ngàng, thẹn duyên phận bẽ bàng, làm bẽ mặt nguời ta.
Bẻm -- nói nhiều bẻm miệng, bẻm mép, bỏm bẻm.
Bẽn -- dáng hổ thẹn bẽn lẽn.
Bẻo -- bẻo mép, chút bẻo, chim chèo bẻo.
Bẽo -- bạc bẽo.
Bể -- tan vỡ ra, bể nát, bể tan, bể vỡ, đập bể, đổ bể, rớt bể; -- biển bể ái thuyền tình, bể cả, bể dâu,bể khổ, bể khơi, bể nghể muốn bịnh.
Bễ -- ống thụt thổi lửa thổi bễ, thụt bễ, ống bễ thợ rèn.
Bển -- bên ấy (nói tắt) ở bển, qua bển.
Bễu -- mình nuớc, bệu thịt bễu.
Bỉ -- khinh khi bỉ mặt, bỉ ổi, khinh bỉ, thô bỉ; -- kia, nguời kia bỉ nhân, bỉ thử; bền bỉ; nuớc Bỉ, vận xấu bỉ cực thái lai, vận bỉ.
Biển -- vùng nuớc mặn biển cả, bãi biển, bờ biển, cá biển, rong biển; -- tấm sắt, gỗ ... trên có chữ biển hiệu, biển số xe; -- lấy cắp, lừa bịp biển lận, biển thủ.
Biểu -- bày ra, tỏ ra biểu diễn, biểu dương, biểu hiệu, biểu lộ, biểu đồng tình, biểu thị, biểu ngữ, biểu quyết, biểu tình, đại biểu, đồ biểu, tiêu biểu; -- bà con bên ngoại biểu huynh, biểu muội; -- tờ tấu dâng vua biểu chương, biểu tấu; -- đồng hồ đo hàn thử biểu, phong vũ biểu; -- bảo, ra lịnh chỉ biểu, dạy biểu.
 
Bỉu -- trề mõi duới ra bỉu môi, dè bỉu.
Bỉnh -- bỉnh bọt, buớng bỉnh.
Bĩnh -- phá bĩnh.
 
Bỏ -- không giữ lại nữa, bỏ bê, bỏ chồng, bỏ dở, bỏ hoang, bỏ lẩy, bỏ liều, bỏ lửng, bỏ mứa, bỏ phí, bỏ qua, bỏ quên, bỏ rơi, bỏ sót, bỏ vợ, bỏ xó, bác bỏ, phế bỏ, ruồng bỏ; -- thêm vô, để vào bỏ bùa, bỏ hành, bỏ muối, bỏ ngải, bỏ ống, bỏ ớt, bỏ tiêu, bỏ phân, bỏ phiếu, bỏ tù; tiếng chửi thề bỏ bố, bỏ mạng, bỏ mẹ! bỏ ngỏ, bỏ nhỏ.
Bõ -- cho đáng cho bõ ghét, cho bõ giận, chẳng bõ công; vú bõ (cha mẹ đỡ đầu), bõ giâ (nguời tớ già).
Bỏm -- nhai bỏm bẻm.
Bõm -- lội bì bõm, rơi lõm bõm, nhớ bập bõm.
Bỏn -- hà tiện, rít ròng, bỏn sẻn (bủn xỉn).
Bỏng -- phỏng, bỏng lửa, bỏng nuớc sôi, nóng bỏng; xôi hỏng bỏng không, bé bỏng, lỏng bỏng.
Bổ -- bửa cho vỡ ra, bổ cau, bổ củi, bổ dừa, bổ làm đôi; -- đánh vào sóng bổ gành, đánh bổ vào đầu, đau như búa bổ; -- bù vào, thêm sức bổ cứu, bổ duỡng, bổ khỏe, bổ khuyết, bổ sung, bổ trợ, bổ túc, bồi bổ, tẩm bổ, thuốc bổ, tu bổ, vô bổ; ván bổ kho, ngã bổ chửng, chạy bổ sấp, bổ ngửa, bổ dụng, bổ nhậm, bổ nhiệm.
Bổi -- mồi nhạy lửa, củi bổi, dăm bổi, thuốc bổi, giấy bổi.
Bổn (Bản) -- bổn báo, bổn chức, bổn đạo, bổn mạng, bổn phận, bổn xứ.
Bổng -- giọng cao, lên cao bổng trầm, bay bổng, bắn bổng, dở bổng, nhắc (nhấc) bổng lên; -- tiền cấp phát học bổng, lương bổng, bổng cấp, bổng lộc, huu bổng; tha bổng.
Bỗng -- không ngờ truớc, bỗng chốc, bỗng dưng, bỗng đâu, bỗng không, bỗng nhiên, nhẹ bỗng.
Bở -- mềm, dễ rời ra bở rẹt, đất bở; -- được lợi dễ dàng kiếm được món bở, béo bở, tưởng bở.
Bỡ -- ngỡ ngàng, lúng túng bỡ ngỡ.
Bởi -- nhân vì, nguyên cớ bởi đâu, bởi thế, bởi vậy, bởi vì.
Bỡn – đùa, giỡn, trêu bỡn cợt, đùa bỡn, dễ như bỡn, nói bỡn mà hóa thật.

Bủa -- vây chung quanh bủa giăng, bủa luới, bủa vây.
Bủn -- nát, con cá bủn, thịt bủn; -- rời rã, thối chí bủn rủn tay chân; -- nhỏ nhen, keo kiết bủn xỉn.
Bủng -- da xanh bủng, mặt bủng da chì.
Buổi -- một phần ngày buổi sáng, trua, chiều, nửa buổi, buổi lễ, ngày hai buổi, thời buổi.
Bửa -- sả ra, bổ ra bửa cau, bửa củi, bửa khúc.
Bữa -- buổi ăn bữa ăn, bữa cháo bữa rau -- một ngày bữa nay, bữa nọ, bữa kia, mỗi bữa, mấy bữa rày.
Bửng -- ngang chận ván bửng, đắp bửng.
Buởi -- trái buởi, buởi Biên Hòa.
Bửu / Bảo -- quý báu, bửu bối, bửu quyến, bửu tháp, bát bửu.
 
- C -
 
Cả -- cả cuời, cả gan, cả giận, cả kinh, cả làng cả nuớc, cả mồ, cả nhà, cả lũ, cả nể , cả quyết, cả sợ, cả thảy, cả vợ lẫn chồng, cả vú lấp miệng em, anh cả, biển cả, cao cả, cây cao bóng cả, con cả, chả đi đâu cả, đến cả, giá cả, già cả, kẻ cả, vợ cả, mặc cả, ruộng cả ao liền, õng hương cả, tất cả.
Cải -- loại rau lớn lá cải bắp, cải bẹ xanh, cải rổ, cây cải trời, củ cải -- thay đổi cải biến, cải cách, cải chính, cải dạng, cải hóa, cải hối, cải huấn, cải lương, cải tạo, cải tổ, cải táng, cải tiến, cải thiện, cải trang, cải lão hoàn đồng.
Cãi -- chống lại cãi bừa, cãi bướng, cãi cọ, cãi lẫy, cãi lộn, cãi nhau, cãi vã, bàn cãi, trạng sư cãi truớc tòa.
Cảy -- lắm, khá do cảy, trộng cảy.
Cảm -- dám, không sợ cảm tử, dũng cảm, quả cảm -- biết bằng cảm tính cảm động, cảm giác, cảm hóa, cảm hứng, cảm kích, cảm mến, cảm nghĩ, cả món, cảm phục, cảm tạ cảm tình, cảm tuởng cảm thông, cảm ứng, cảm xúc, ác cảm, đa cảm, giao cảm, mặc cảm, tình cảm, thiện cảm thương cảm; -- nhiễm phải cảm gió, cảm hàn, cảm mạo, cảm nắng.
Cản -- ngăn lại, chống cản đường, cản ngăn, cản trở, truy cản.
Cảng -- bến tàu, bến xe hải cảng, phi cảng, nhập cảng, xuất cảng, thương cảng, xa cảng, Hương-Cảng (Hongkong); -- tiếng đồ sành bể cổn cảng, lảng cảng.
Cảnh -- bờ cỏi nhập cảnh, xuất cảnh -- phòng giữ, báo tin cảnh binh, cảnh bị, cảnh cáo, cảnh giác, cảnh sát, cảnh tỉnh, cảnh vệ; - hình sắc, sự vật truớc mắt cảnh éo le, cảnh huống, cảnh khổ, cảnh ngộ, cảnh sắc, cảnh trạng, cảnh trí, cảnh tượng, cảnh vật, bối cảnh, hoàn cảnh, phong cảnh, quang cảnh, tả cảnh, tình cảnh, tức cảnh.
Cẳn .. cằn nhằn cẳn nhẳn.
Cẳng – chân, ba chân bốn cẳng, chỏng cẳng, chụm cẳng, nhà cao cẳng, cẳng ghế, giậm cẳng kêu trời, chó con kêu cẳng cẳng.
Cẩm – quý, cẩm bào, cẩm nang, cẩm thạch, cẩm tú, thập cẩm, bông cẩm nhung, màu lá cẩm, cây cẩm lai, nói lẩm cẩm.
Cẩn -- khảm vào, cẩn ốc xa cừ, tủ cẩn; -- dè dặt, cung kính cẩn cáo, cẩn mật, cẩn phòng, cẩn tín, cẩn thận, cẩn trọng, bất cẩn, kính cẩn, tín cẩn, hợp cẩn giao bôi.
Cẩu -- không cẩn thận cẩu thả ; -- chó, cẩu trệ, cẩu tặc, hải cẩu, tranh vân cẩu; -- cậu ấy cẩu vừa đi ra.
 
Cỏ -- cỏ cây, cỏ rác, bãi cỏ, đông như kiến cỏ, giặc cỏ, ma cỏ, nhổ cỏ, rau cỏ .
Cỏi -- cứng cỏi.
Cõi -- cảnh, vùng cõi âm, cõi biên thùy cõi chết, cõi dời, cõi lòng, cõi tiên, cõi trần, cõi tục, làm vua một cõi, bờ cõi, còm cõi, già tới cõi.
Cỏm -- ki cỏm, cỏm rỏm.
Cỏn -- con nhỏ ấy, cỏn vừa đi với thẳng; -- nhỏ nhít, cỏn con.
Cõng -- mang trên lưng, chị cõng em, cõng rắn cắn gà nhà.
Cổng -- cửa ngõ cổng làng, cổng xe lửa, đóng cổng, gác cổng, kín cổng cao tuờng.
Cổ -- cô ấy; -- bộ phận của cơ thể cổ chân, cổ họng, cổ tay, cắt cổ, kiền cổ, mắc cổ, ngóng cổ, ngửa cổ, rút cổ, cứng cổ ; -- nuớc cốt trầu, cổ trầu; -- xưa, cũ kỹ, cổ điển, cổ hủ, cổ lệ , cổ lỗ si, cổ kim, cổ kính, cổ ngữ, cổ nhân, cổ so, cổ sử, cổ thụ, cổ tích, cổ truyền, cổ van, hoâi cổ, khảo cổ; cổ đông, cổ phần, cổ võ, cổ phiếu, cổ động, cổ xuý, cổ quái, bịnh cổ truớng.
Cỗ -- cỗ xe, cỗ quan tài, cỗ bài tứ sắc; -- ăn cỗ, dọn cỗ, cỗ cuới mâm cao cỗ đầy, tiếng chào cao hơn cỗ.
Cổi -- lột bỏ, tháo ra cổi áo, cổi giáp, cổi giày, cổi trầ n, cổi gỡ, cổi mở.
Cỗi -- còi, già cằn cỗi, cây dã cỗi, đất cỗi, già cỗi; -- gốc, cội cỗi rễ.
Cổn -- tiếng khua cổn cảng, lổn cổn.
Cỡ -- loại, độ, chừng cỡ, chừng, cỡ nào? lỡ cỡ, quá cỡ, đủ các cỡ, mắc cỡ, vừa cỡ.
Cởi -- xem chữ Cổi
Cỡi, Cuỡi -- ngồi trên lưng, cỡi cổ, cỡi hạc về trời, cỡi ngựa, cỡi sóng, cỡi trâu, cỡi xe đạp.
Cỡn -- động cỡn, ngắn cũn cỡn.
 
Củ -- củ ấu, củ cải, củ gừng, củ hành, củ khoai, củ mì, củ nghệ, củ sắn, củ tỏi; -- có tổ chức, nền nếp việc làm có quy củ.
Cũ -- không còn mới cũ kỹ, cũ mèm, cụ rích, cũ xì, quê cũ làng xưa, ngựa quen đường cũ, tình xưa nghĩa cũ.
Của -- chỉ quyền sở hữu của cải, của chìm, của nổi, của tôi, của gian, lắm của, của gia bảo, của hồi môn, của đáng tội, ỷ của, của phi nghĩa.
Củi -- thân, cành cây để đốt, củi đuốc, củi lửa, củi quế gạo châu, chở củi về rừng, con bửa củi.
Cũi -- lồng để nhốt, tháo cũi sổ lồng.
Củm -- cắc ca cắc củm.
Cũn -- ngắn khó coi mặc quần áo cũn cỡn.
Củng -- lủng củng, củng cố.
Cũng -- như nhau, cũng bằng, cũng bởi, cũng được, cũng khá, cũng nën, cũng phải, cũng vậy, cũng xong.
Cuỗm -- chiếm và mang đi, trộm, cuỗm đồ đạc, cuỗm vợ nguời ta.
Cử -- cử chỉ, cử đảnh, cử động, cử hành, cử lên, cử nhân, cử quân, cử tọa, cử tri, bầu cử, công cử, đề cử, thi cử, tuyển cử, ứng cử, nhất cử luỡng tiện.
Cữ -- lúc, thời kỳ, cữ ghiền, cữ rét, làm cữ, uống thuốc chận cữ; - kiêng, cấm cữ ăn, cữ mỡ, cữ thịt, cữ ruợu, cữ tên, kiêng cữ, ở cữ, đàn bà đẻ nằm cữ.
Cửa -- lối thông để ra vào, cửa ải, cửa biển, cửa hiệu, cửa công, cửa hàng, cửa lá sách, cửa nẻo, cửa ngõ, cửa sông, cửa sổ , cửa tử , cửa thiền, cửa Phật, cửa cái, cạy cửa, đóng cửa, gài cửa, gõ cửa, mở cửa, cửa Khổng sân Trình, nhà cửa, nguỡng cửa, chết một cửa tứ, trổ cửa, vé vô cửa.
Cửi -- máy dệt, canh cửi, dệt cửi, khung cửi, mắc cửi.
Cuỡi -- xem Cỡi.
Cửng -- nhảy nhót nhảy cà cửng.
Cuỡng -- tên chim, con chim cưỡng; -- bắt ép, cuỡng bách, cưỡng bức, cưỡng chế, cưỡng chiếm, cưỡng dâm, cưỡng đoạt, cưỡng ép, cưỡng gian, cưỡng hânh, cưỡng hiếp, miễn cưỡng.
Cửu – chín, cửu chương, cửu huyền, cửu ngũ, cửu phẩm, cửu trùng, cửu tuyền, sông Cửu Long; -- lâu, vĩnh cửu, trường cửu.
Cữu -- cái hòm, di cữu, linh cữu.
 
- Ch -
 
Chả -- tiếng than, cha chả! -- không, chẳng, chả dám, chả nhẽ; - cha ấy, thằng chả; -- tên thức ăn, chả cá, chả lụa, chả giò, chả quế, bún chả, khô lân chả phụng; -- bả vai, chả vai.
Chã -- lệ rơi lã chã.
Chải -- gỡ cho suôn, gỡ cho thẳng, chải chuốt, chải dầu, chải giày, chải gỡ, chải tóc, cái bàn chải, bươn chải.
Chãi -- vững chãi.
Chảy -- di chuyển thành dòng, chảy máu, chảy xối, chảy ròng ròng, chảy xiết, thùng lũng chảy re, nấu cho chì chảy.
Chảng -- nhánh cây chảng hai, nắng chảng nhu thiëu.
Chảnh -- làm bộ, chảnh.
Chảo -- để chiên, rang, xào, chảo đụn, chảo sắt, chảo gang, chiên áp chảo.
Chão -- thứ dây lớn, đánh chão, dai như chão.
Chẵn -- số nguyên, trọn chẵn cặp, chẵn chòi, chẵn chục, ngày chẵn, chẵn một trăm.
Chẳng – chả, không, chẳng bao giờ, chẳng bù, chẳng bõ, chẳng cùng, chẳng cứ, chẳng cần, chẳng hạn, chẳng lẽ, chẳng mấy khi, chẳng những, chẳng qua, chẳng thà, chẳng trách, cực chẳng đã.
Chẫm -- chữ đúng trẫm, ông vua xưng với thần dân, người miền Bắc phát âm chữ này sai là chẫm.
Chẩn -- xác định, chẩn bịnh, chẩn đoán, chẩn mạch; -- trợ giúp, chẩn bần, chẩn tế; -- lấy bớt, chẩn bớt tiền lương, bịnh ban chẩn.
Chẩu -- chúm và trề môi, chẩu mỏ, chẩu môi, chẩu mồm. tiếng lóng, vọt.
 
Chẻ -- tách ra theo chiều dọc, chẻ củi, chẻ lạt, chẻ nan, chẻ làm đôi, chẻ nhỏ ra, chẻ rau muống, chẻ tre, tính chẻ sợi tóc làm hai.
Chẽ -- chặt chẽ.
Chẻm -- cá chẻm, bà con chem chẻm.
Chẽn -- quần áo chật, mặc áo chẽn; -- vách ngăn, tấm chẽn dừng.
Chễm -- ngồi chễm chệ .
Chểnh -- chểnh mảng.
 
Chỉ -- ngăn, cấm chỉ, đình c hỉ; -- mạng lịnh, chỉ dụ, chỉ đạo, chỉ định, chỉ thị, phụng chỉ, sắc chỉ, , thánh chỉ; -- giấy tờ, bài chỉ, chứng chỉ, tín chỉ; -- sợi nhỏ để may, thêu chỉ hồng, chỉ len, chỉ to, bắt chỉ, chạy chỉ, kim chỉ, ống chỉ, rút chỉ, chỉ vải; -- trỏ, hướng về, chỉ chọc, chỉ dẫn, chỉ điểm, chỉ giáo, chỉ nam, chỉ nẻo, chỉ rõ, chỉ thiên, chỉ trích, chỉ trỏ, chỉ vẽ, ám chỉ, địa chỉ, tôn chỉ, chăm chỉ, cử chỉ , chỉ huy, ý chỉ, Giao chỉ, coi chỉ tay; -- chị ấy, ảnh và chỉ; -- phạm vi hạn định chỉ có, chỉ là; -- 1/10 của 1 luợng, hai chỉ vàng.
Chỉa -- cây chỉa ba dùng đâm cá.
Chiểu -- căn cứ vào chiểu chi, chiểu dụ.
Chỉnh -- sửa lại, chỉnh bị, chỉnh đốn, chỉnh hình, chỉnh huấn, chỉnh lý, chỉnh tề, chỉnh trang, điều chỉnh, nghiêm chỉnh, tu chỉnh, câu văn chỉnh.
Chĩnh -- cái lu nhỏ đựng gạo, chĩnh ruợu, chĩnh tương.
 
Chỏ -- cùi chỏ, cánh chỏ.
Chõ -- nồi 2 tầng có lỗ ở đáy, cái chõ để nấu xôi nếp; -- xen vào, chõ miệng vào, chõ vào chuyện nguời ta; -- chồm ra ngoài nhánh cây, chõ ra ngoài.
Choảng – đánh mạnh, choảng vào đầu, choảng nhau kịch liệt.
Chỏi -- chống đỡ chỏi lại, chống chỏi, la chỏi lỏi.
Chỏm -- đỉnh, ngọn, chỏm đầu, chỏm núi, lúc còn để chỏm.
Chỏn -- lỏn chỏn.
Chỏng -- giơ cao lên, chỏng gọng, lỏng chỏng, nằm chỏng cẳng.
Chõng -- giường tre nhỏ, chõng tre, giường chõng, lều chõng đi thi ngày xưa.
Chổng -- vổng lên, chổng gọng, chổng khu, chổng mông, ghe chổng mui, thằng chổng chết trôi.
Chỗ -- nơi chốn, chỗ hay, chỗ dở, chỗ làm, chỗ nào, chỗ ngồi, chỗ ở, chỗ anh em với nhau, lỗ chỗ. Chổi -- đồ dùng để quét, chổi chà, chổi lông gà, sao chổi, ruợu chổi.
Chỗi -- chỗi dậy, chỗi buớc.
Chổm -- lổm chổm, nợ như chúa chổm.
Chở -- chuyển đi, chở chuyên, chở hàng, chở củi về rừng, che chở, chớn chở.
Chởm -- nhọn bén, chơm chởm, lởm chởm.
 
Chủ -- kẻ đứng đầu, chủ nhiệm, chủ bút, chủ chốt, chủ động, chủ hôn, chủ hụi, chủ khảo, chủ mưu, chủ não, chủ sở, chủ sự, chủ tọa, chủ tịch, chủ trì, bá chủ, giáo chủ, minh chủ; -- người có quyền, sở hữu, chủ điền, chủ hãng, chủ nhà, chủ nhân, chủ tiệm, điền chủ, nghiệp chủ, sở hữu chủ; -- có chủ trương, chủ chiến, chủ đề, chủ đích, chủ hòa, chủ kiến, chủ lực, chủ nghĩa, chủ tâm, chủ ý, chủ yếu, chủ nhật, chủ quan, chủ quyền, dân chủ, phản chủ, khổ chủ, tín chủ, thân chủ, thí chủ.
Chuẩn -- sửa soạn, chuẩn bị, chuẩn chi, chuẩn đích, chuẩn hành, chuẩn miễn, chuẩn nhận, chuẩn phê, chuẩn tuớng, chuẩn úy, chuẩn y, tiêu chuẩn.
Chủm -- tiếng kêu khi rớt vào nuớc, rớt nghe cái chủm.
Chủn -- ngắn, lùn, thấp chủn, ngắn chủn.
Chủng -- giống, loại, chủng loại, chủng sinh, chủng tộc, chủng viện, binh chủng, dị chủng, diệt chủng, đồng chủng; -- trồng, chủng đậu, chủng tử.
Chuỗi -- hột xỏ, xâu chuỗi bồ đề, chuỗi hổ, chuỗi ngọc, xâu chuỗi; -- thời gian, chuỗi ngày, chuỗi sầu.
Chuyển -- làm thay đổi, chuyển biến, chuyển bụ ng, chuyển động, chuyển mưa, lay chuyển, luân chuyển, uyển chuyển -- dời, gởi đi, chuyển đi, chuyển đạt, chuyển đệ , chuyển giao, chuyển hoán, chuyển huớng, chuyển ngân, chuyển nhượng, chuyển tả, chuyển tiếp, chuyển vận, thuyên chuyển.
 
Chữ -- ký hiệu ghi tiếng nói, chữ Hán, chữ hiếu, chữ ký, chữ nho, chữ nôm, chữ nghĩa, chữ quốc ngữ, chữ tòng, chữ trinh, chữ viết tháu, hay chữ, mù chữ, không có một đồng một chữ.
Chửa -- có thai, có chửa có nghén, bụng mang dạ chửa, chửa năm một, chửa hoang; -- chưa chửa được, chửa rồi, chửa xong.
Chữa -- trị, cứu chữa bịnh, chữa cháy, chữa trị, chạy chữa; -- sửa lại, chữa lỗi, chữa thẹn, bào chữa, sửa chữa.
Chửi -- nói lời xúc phạm, chửi bới, chửi bông lông, chửi đổng, chửi mắng, chửi rủa, chửi thề, chửi tuới, chửi xối, chửi xiên chửi xéo, chửi tục.
Chửng -- nuốt chửng (nuốt trộng), té bổ chửng.
Chững -- chưa vững, chững chạc, chững chàng, chập chững, lững chững.
Chuởng -- chưởng ấn, chưởng khế, chưởng lý, chưởng quản, chấp chuởng, phim chuởng, tiểu thuyết chưởng, chưởng môn.
 
- D -
 
Dả -- dư dả
Dã -- làm cho bớt, dã độc, dã lã, dã ruợu; -- buồn, mệt dã duợi; -- chỗ hoang, quê mùa dã chiến, dã man, dã sử, dã thú, dân dã, sơn dã, thôn dã, khỉ dã nhân, công dã tràng, dã tâm, trắng dã.
Dải -- có hình dài và hẹp, dải áo, dải cờ, dải yếm, dải thắt lưng, dải sông, dải núi, dải đồi, dải đất.
Dãi -- nuớc miếng chảy, nuớc dãi, dễ dãi, thèm nhỏ dãi, mũi dãi lòng thòng, dãi dầu mua nắng.
Dãy -- hàng dài liền nhau, dãy nhà, dãy núi, dãy phố, dãy dinh thự, hai dãy ghế .
Dãn / Giãn -- tăng độ dài, dây cao su dãn (giãn), dãn (giãn) gân cốt.
Dão -- nuớc nhì, dã lạt, mùi nuớc mắm dão, trà dão, nuớc cốt dão, cà phê dão.
Dẫm -- dò dẫm, dọa dẫm. Xem thêm Giẫm, Giẵm.
Dẩn -- câu hỏi dớ dẩn.
Dẫn -- dắt đi, đưa đến, dẫn chứng, dẫn dụ, dẫn đạo, dẫn điện, dẫn độ, dẫn đường, dẫn giải, dẫn hỏa, áp dẫn, chỉ dẫn, chú dẫn, tiến dẫn, tiểu dẫn, dẫn thủy nhập điền.
Dẩu -- dẩu lên; -- chìa môi ra, dẩu mồm ra chê ít.
Dẫu -- dầu, dù dẫu cho, dẫu mà, dẫu rằng, dẫu sao.
Dẫy -- có nhiều lắm, đầy dẫy.
 
Dẻ -- da dẻ, mảnh dẻ, hột dẻ.
Dẽ -- sát xuống, hết xốp dẽ, cứng, dẽ dặt, dẽ khắt, đất đã dẽ.
Dẻo -- mềm mại, bền dai, dẻo dai, dẻo nhẹo, dẻo sức, mềm dẻo, bánh dẻo, gạo dẻo cơm.
Dể -- không kính nể, khinh dể người, khi dể, khinh dể.
Dễ -- không khó, dễ bảo, dễ chịu, dễ coi, dễ dãi, dễ dàng, dễ dạy, dễ dầu gì, dễ dúng gì, dễ gì, dễ hôn! dễ ợt, dễ sợ, dễ tánh, dễ thương, dễ yêu.
 
Dỉ -- hé, hở dỉ hơi, dỉ lời, dỉ rang, dỉ tai; -- nói tắt chữ "dì ấy" dỉ là vợ của dượng.
Dĩ -- dĩ lỡ, dĩ nhiën, dĩ vãng, dạn dĩ, gia dĩ, khả dĩ, sở dĩ, bất đắc dĩ, hột ý dĩ, dĩ ân báo oán, dĩ hòa vi quý, dĩ thực vi tiên.
Diã -- diã hát, diã nhạc, chén diã, đánh sóc diã.
Diễm -- đẹp rực rỡ, diễm lệ, diễm phúc, diễm tình, kiều diễm.
Diễn -- diễn biến, diễn binh, diễn ca, diễn dịch, diễn đàn, diễn đạt, diễn giả, diễn giải, diễn giảng, diễn kịch, diễn nghiã, diễn tả, diễn tiến, diễn thuyết, diễn tuồng, diễn từ, diễn văn, diễn viên, diễn võ, diễn xuất, biểu diễn, thao diễn, trình diễn.
Dĩnh – thông minh, đĩnh đạt, đĩnh ngộ.
Dõi -- tiếp nối theo dòng dõi, nối dõi, dõi gót, theo dõi.
Dỏm -- dí dỏm.
Dỏng -- dựng thẳng lên, dỏng tai nghe, chó dỏng đuõi, dong dỏng cao.
Dõng -- mạnh mẽ, dõng dạc, đứng dõng lưng
Dỗng -- trần truồng, ở truồng chồng dỗng.
Dỗ -- dụ, khuyên, dỗ dành, dỗ ngọt, cám dỗ, dạy dỗ, dụ dỗ, khuyên dỗ.
Dỗi -- giận dỗi, hờn dỗi.
Dổm xem Dởm
Dở -- dở lên cao, mở ra dở bổng, dở hỏng lên, dở sách ra; -- trổ ra, lòi ra dở thói vũ phu, dở trò; -- không hay, dở ẹt, dở mạt, dở quá, dở tệ, giỏi dở, hay dở; -- lỡ, chừng dở bữa, dở chừng, dở hơi, dở dang, bỏ dở, lỡ dở; -- không rõ, tính dở dở ương ương, dở khóc dở cuời, dở khôn dở dại, dở nguời dở ngợm, dở ông dở thằng, dở sống dở chết.
Dỡ -- lấy ra, dỡ cơm, dỡ chà, dỡ nón, dỡ nhà, dỡ khoai, dỡ tốc, dỡ từ ng món, bốc dỡ hàng hoá, càn dỡ (càn rỡ).
Dởm -- giả, không tốt dồ dởm không bền, mua lầm hàng dởm.
 
Dũa, Giũa -- dũa cưa, dũa móng tay, giũa cưa, giũa móng tay.
Dũng -- mạnh, can đảm, dũng cảm, dũng lực, dũng lược, dũng mãnh, dũng sĩ, dũng tướng, anh dũng, trí dũng.
Duỗi -- giãn ra, duỗi cẳng, duỗi tay, duỗi thẳng ra.
Dữ -- hung bạo, dữ ác, dữ dằn, dữ dội, dữ quá, dữ tợn, giận dữ, hung dữ, thú dữ; -- quá lắm, độc dữ, mắc dữ, nhiều dữ, xấu dữ, dữ kiện (xem thêm Giữ).
Dửng – dựng lên, dửng tóc gáy; -- dộng lên dửng mỡ; -- không lo tới dửng dưng.
Duỡng – nuôi, duỡng bịnh, dưỡng dục, dưỡng đường, dưỡng giâ, dưỡng khí, dưỡng lão, dưỡng mẫu, dưỡng nhi, dưỡng sinh, dưỡng sức, dưỡng tâm, dưỡng thai, dưỡng thân, dưỡng tử, an duỡng, bảo dưỡng, bổ dưỡng, bồi dưỡng, cấp dưỡng, dung duỡng, điều dưỡng, hoạn dưỡng, phụng dưỡng, tiếp duỡng, cha sinh mẹ duỡng.

- Ð -

Ðả -- đánh, đả đảo, đả động tới, đả hổ, đả kích, đả phá, đả thông, đả thuong, ấu đả, ẩu đả, đả đớt, đon đả.
Ðã -- đã đời, đã đành, đã giận, đã khát, đã lắm, đã qua, đã rồi, đã xong, đã vậy thì, đã giỏi lại ngoan; -- tiếng bảo ngưng, khoan đã! chờ hết mưa đã! nghỉ cái đã! rồi làm tiếp, cực chẳng đã.
Ðãi -- thết, xử với đãi bôi, đãi đằng, đãi khách, đãi ngộ, bạc đãi, biệt đãi, chiëu đãi, đối đãi, khoản đãi, ngược đãi, tiếp đãi, trọng đãi, ưu đãi; -- trễ nải, huỡn đãi, giải đãi; -- sàng để gạn lọc, đãi sạn, đãi cát tìm vàng, bôi tro đãi trấu, đồn đãi.
Ðãy -- túi to bằng vải, đãy gấm, đãy gạo, cắp đãy, mang đãy, chim già đãy.
Ðảm – nhận trách nhiệm, đảm bảo, đảm đang, đảm đương, đảm nhiệm; -- gan dạ, đảm lựơc, can đảm, khiếp đảm.
Ðản -- Phật đản, huỳnh đản, quái đản.
Ðảng -- phe, bọn đảng cuớp, đảng bộ, đảng phái, đảng trị, đảng viên; bè đảng, chính đảng, phe đảng.
Ðãng -- đãng trí, đãng tử, du đãng, lơ đãng, phóng đãng, khoáng đãng.
Ðảnh -- phần cao nhứt, đảnh nội, đảnh dầu; đỏng đảnh.
Ðảo -- quay lộn vị trí, đảo điên, đảo lộn, đảo nguợc, lừa đảo; -- nghiêng ngả, đổ, đảo chánh, đảo loạn, áp đảo, khuynh đảo; -- cù lao bán đảo, hòn đảo, quần đảo.
Ðẵm -- lội trong nuớc, trâu dẵm bùn.
Ðẵn -- chặt từng đoạn, đẵn cây, đẵn mía, đẵn khúc, đẵn tre.
Ðẵng -- kéo dài ròng rã đằng đẵng mấy năm trời.
Ðẳng -- bậc, tầng đẳng cấp, đẳng hạng, bình đẳng, cao đẳng, đồng đẳng, sơ đẳng, trung đẳng, đăng đẳng, ở đẳng, ghế đẳng, đeo đẳng.
Ðẫm -- ướt nhiều, đẫm máu, đẫm mồ hôi, ướt đẫm; bé đi lẫm đẫm.
Ðẫn, Ðẵn -- chặt ra từ khúc, từ đẫn; lẫn đẫn lờ đờ.
Ðẩu -- ghế đẩu; sao Bắc Ðẩu.
Ðẩy -- xô mạnh, xô ra, đẩy cửa, đẩy lui, đẩy ra, đẩy xe, đẩy mạnh, xõ đẩy, đưa đẩy, chối dãy đẩy.
Ðẫy -- hơi to, hơi mập, đẫy đà, nguời béo đẫy.
 
Ðẻ -- sanh nở, đẻ, chửa, đẻ con so, đẻ non, sanh đẻ, ngày sanh tháng đẻ, tiền cho vay đẻ lời, nói dỏ dẻ, tiếng mẹ đẻ.
Ðẽ -- đẹp đẽ.
Ðẻn -- tên rắn
Ðẻo -- lẻo đẻo.
Ðẽo -- vạt bằng búa, đẽo gọt, đẽo gỗ, đẽo khoét, chặt đẽo, đục đẽo.
Ðể -- nhuờng lại, để lại giá bao nhiêu? -- lưu lại, để bụng, để dành, để của, để giống, để phần, để gia tài lại cho vợ con, vết thuong để lại thẹo; -- bỏ, thôi nhau vợ chồng để bỏ nhau; -- chịu để tang, để chế; -- cầm thế để áp, để đường; -- chỉ mục đích, cơm để ăn, nhâ để ở; -- thêm vào, để dành, để muối, để ớt, để tiêu; -- đặt vào vị trí, để đâu? để trên bàn, để trong tủ, để chỏm, để lộ ra, để râu, để tâm, để ý, đại để, triệt để.
Ðễ -- kính nhường bậc anh hiếu đễ.
Ðễnh -- lơ đễnh.
Ðểu -- lừa đảo, gian trá, đểu cáng, đểu giả, chơi đểu.
Ðĩ -- gái mãi dâm, đĩ điếm, đĩ thõa, đĩ tính, làm đĩ, thói đĩ bợm.
Ðỉa -- con đỉa hút máu, đỉa trãu, đeo như đỉa đói, dai như đỉa, giãy như đỉa phải vôi.
Ðĩa -- đĩa để đựng thức ăn, chén đĩa, đơm cơm ra đĩa, thi ném đĩa, đĩa nhạc.
Ðiểm -- điểm binh, điểm chỉ, điểm danh, điểm huyệt, điểm mặt, điểm tãm, điểm trang, điểm tựa, chấm điểm, chỉ điểm, cực điểm, tóc điểm bạc, địa điểm, giao điểm, khởi điểm, kiểm điểm, nhược điểm, quan điểm, tõ điểm, trang điểm, ưu khuyết điểm, yếu điểm, trống điểm canh.
Ðiển -- điển chế, điển chương, điển cố, điển hình, điển mại, điển tích, ân điển, cổ điển, kinh điển, từ điển, tự điển, cãy điên điển.
Ðiểu -- loài chim ác điểu, đâ điểu, hải điểu.
Ðỉnh -- phần cao nhất, đỉnh chung, đỉnh đầu, đỉnh nôi, chót đỉnh, cử đỉnh, tuyệt đỉnh, cây đủng đỉnh.
 
Ðỏ -- màu hồng sậm, đỏ au, đỏ bừng, đỏ chói, đỏ chót, cuộc đỏ đen, lộc đỏ đen, đỏ gay, đỏ hoe đỏ hoét, đỏ lòm, đỏ lững, đỏ ngầu, đỏ ối, đỏ rực, đỏ ửng, số đỏ, vận đỏ.
Ðoản -- ngắn, đoản côn, đoản đao, đoản hậu, đoản kiếm, đoản kỳ, đoản mạng, đoản số, sở đoản, ăn ở đoản hậu, đoản thiên tiểu thuyết.
Ðỏi -- dây to để buộc tàu, buộc đỏi, dãy đỏi, đứt đỏi, hụt đỏi, thả đỏi.
Ðỏm -- làm đỏm.
Ðỏng -- đỏng đảnh làm cao.
Ðổ -- đổ bác, đổ bể, đổ bộ, đổ chuông, đổ dồn, đổ đồng, đổ giận, đổ hào quang, đổ khùng, đổ kiểng, đổ lỗi, đổ lửa, đổ máu, đổ mồ hôi, đổ nát, đổ nhào, đổ quạu, đổ riệt, đổ ruột, đổ tội, đổ tháo, đổ thừa, đổ vãi, đổ vạ, đổ vỡ, đổ xõ, bán đổ bán tháo, sụp đổ, nuớc đổ đầu vịt, sập đổ, trống đổ hồi, tứ đổ tường; Tam nguyên Yên Ðổ.
Ðỗ -- các thứ đậu hột, xôi đỗ, hạt đỗ; -- họ Ðỗ ; -- trúng tuyển kỳ thi đỗ đạt, đỗ trạng, thi đỗ ;-- ghé lại, đậu lại, đỗ xe lại, đỗ thuyền lại; -- loài chim đỗ quyên.
Ðổi -- thay đi, dời đi, đổi chác, đổi đời, đổi mới, đổi phiên, biến đổi, đổi trắng thay đen, đắp đổi, sửa đổi, trao đổi, vật đổi sao dời.
Ðỗi -- không đến đỗi, quá đỗi, đi một đỗi khá xa.
Ðổng -- đổng binh, đổng lý, chửi đổng, nhảy đổng đổng; Phù Ðổng Thiën Vương.
Ðỡ -- trợ giúp đỡ dậy, đỡ đần, đỡ đẻ, bà dỡ (bà mụ), giúp đỡ, nâng đỡ, cha mẹ đỡ đầu; -- hứng lấy, đón đỡ, đỡ gạt, đỡ lời, đỡ ngăn, đỡ vớt, bợ đỡ; -- giảm bớt, đỡ bịnh, đỡ đói, đỡ khổ, đỡ ngặt, đỡ tốn, tạm đỡ.
Ðởm xem Ðảm.
 
Ðủ -- không thiếu, đủ ăn, đủ dùng, đủ điều, đủ loại, đủ lông đủ cánh, đủ số, đủ sức, đủ thứ, đông đủ, đu đủ, thiếu đủ.
Ðũa -- 2 que dùng để gắp, đũa bếp, đũa con, đậu đũa, chơi đánh đũa, cây so đũa, trả đũa.
Ðuổi -- tống đi, đuổi cổ, đuổi xô, xua đuổi -- ruợt theo, đuổi bắt kẻ trộm, đeo đuổi, theo đuổi.
Ðủng -- cây đủng đỉnh.
Ðũng -- đũng quần.
Ðững -- lững đững lờ đờ.

- E -
 
Ẻn -- ỏn ẻn.
Ẻo -- dáng đi ẻo lả, trù ẻo.
Ẽo -- võng kêu ẽo ẹt.
Ể -- muốn bịnh, ể mình muốn cảm.
Ễnh -- phình bụng ra, ễnh bụng, con ễnh ương.
 
- G -
 
Gả -- kết hôn cho con gái, gả con, gả cuới, gả bán.
Gã -- nguời đàn õng, gã thiếu niên, gã kia.
Gãi -- cào nhẹ trên da, gãi chỗ ngứa, gãi sồn sột, gãi đầu gãi tai, gãi ghẻ.
Gảy, Gẩy -- khảy đàn, gảy đàn, đàn gảy tai trâu. Xem Khảy. Gãy,
Gẫy -- đứt rời ra, gãy gánh giữa đường, té (ngã) gãy xương, bẻ gãy, -- rành mạch, gãy gọn.
Gẫm -- ngẫm, nghĩ kỹ, gạt gẫm, suy gẫm sự đời.
Gẫu -- góp chuyện cho vui, tán gẫu, bàn gẫu. Ghẻ --bịnh ngoài da, ghẻ chốc, ghẻ hờm, ghẻ lở, ghẻ ngứa, ghẻ phỏng, gãi ghẻ; -- không phải ruột thịt, cha ghẻ, mẹ ghẻ, dì ghẻ, duợng ghẻ, con ghẻ; -- đối xử lạnh nhạt, ghẻ lạ nh.
Giả -- không thực, giả bộ, giả cầy, giả chước, giả danh, giả dạng, giả dối, giả đò, giả mạo, giả sử, giả tảng, giả tạo, giả thiết, giả thuyết, giả thử, giả tỉ, giả trang, giả trá, giả vờ, bạc giả, thiệt hay giả? -- kẻ, nguời diễn giả, độc giả, học giả, ký giả, khán giả, soạn giả, sứ giả, tác gi, thính giả, thức giả, truởng giả, vương giả, ác giả ác báo, giả lả, hoặc giả, khá giả.
Giả -- hoàn lại, người miền Bắc thường dùng chữ Giả (Trả lại) xem Trả.
Giã -- giã biệt, giã gạo, giã từ, giặc giã, giòn giã, giục giã, thuốc giã (giải) độc.
Giải -- nói rõ, thoát ra khỏi, giải đáp, giải nghĩa, giải thích, giải bài toán, biện giải, chú giải, giảng giải, phân giải, giải cứu, giải lời thề, giải oan, giải ngũ, giải tỏa, giải nghệ, giải phóng, giải thoát, giải trừ, giải vây -- tranh thưởng, giải thưởng, tranh giải, giựt giải quán quân; -- đưa đến nơi nào đó, giải giao, giải tù, áp giải; -- làm cho dịu bớt, giải buồn, giải độc, giải hòa, giải khát, giải khuây, giải khổ, giải lao, giải sầu, giải nhiệt, giải phiền, mồm loa mép giải, giải pháp, giải phẫu, giải quyết, giải tán, giải thể, giải trí.
Giãi -- bày tỏ lòng mình, giãi tỏ, giãi bày tâm sự, giãi dạ trung thành, giãi bày nỗi oan ức.
Giãy, Giẫy -- cựa quậy mạnh, giãy chết, giãy đành đạch, giãy giụa, giãy nảy, giãy tê tê, giãy khóc, cá giãy trên thớt.
Giảm -- làm cho bớt, giảm bịnh, giảm giá, giảm hình, giảm khinh, giảm sút, giảm thọ, giảm tội, giảm thiểu, giảm thuế, ân giảm, tăng giảm, tài giảm, thuyên giảm, gia giảm.
Giản -- sơ lược, dễ hiểu giản dị, giản lược, giản tiện, giản yếu, đơn giản, Phan Thanh Giản.
Giãn -- co giãn, nới giãn, thun giãn (xem thêm Dãn).
Giảng -- giải thích giảng bài, giảng dạy, giảng đạo, giảng đường, giảng giải, giảng hòa, giảng sư, giảng viên.
Giảo -- gian xảo, lọc lừa, giảo hoạt, giảo quyệt, gian giảo; -- thắt, cột giảo ải (thắt cổ mà chết), giảo quyết, xử giảo -- so sánh, giảo giá, giảo tự.
Giãy -- cựa quậy mạnh, cá giãy trên thớt, giãy chết, giãy giụa, giãy nảy.
Giẵm, Giẫm -- đạp lên, giẵm bấy, giẵm bẹp, giẵm bùn, giẵm chân, giẵm nát, giẵm lên.
Giẫy -- cào cho sạch, giẫy cỏ, giẫy mả; giẫy giụa (giãy giụa), giẫy nẩy (giãy nảy).
Giẻ -- vải cũ để lau chùi, giẻ lau, giẻ rách, nùi giẻ, xé giẻ.
Giễu -- đùa bỡn, làm trò, giễu cợt, chế giễu, hề giễu, nói giễu.
Giỏ -- đồ đan để đựng, giỏ bội, giỏ cá, giỏ cần xé.
Giỏi -- có tài, hay, giỏi giang, giỏi giắn, học giỏi, mạnh giỏi, tài giỏi.
Giỏng -- đưa lên, con chó giỏng đuôi lên, giỏng tai mà nghe.
Giỗ -- lễ cúng ngày chết, giỗ chạp, giỗ quải, giỗ tổ, đám giỗ, ăn giỗ.
Giở -- mở ra, giở từng trang sách, giở mánh khóe lừa bịp, giở thủ đoạn, giở trò, giở giọng đe dọa -- trở giở chứng (trở chứng), giở mình (trở mình) giở mặt (trở mặt) giở quẻ (trở quẻ) giở giời (trở trời).
Giỡn -- đùa, chọc cho vui, giỡn cợt, giỡn chơi, giỡn hớt, giỡn mặt, cuời giỡn, đùa giỡn, nói giỡn, trửng giỡn (xem Rỡn).
Giũ -- rung cho sạch, giũ áo, giũ bụi, giặt giũ, giũ sạch nợ trần, chim giũ lông, Ngọc Hoàng giũ sổ (xem thêm Rũ).
Giũa -- mài cho láng, cái giũa, mài giũa, giũa cưa, giũa móng tay.
Giữ -- cất lấy, theo dòng giữ của, giữ giá, giữ gìn, giữ kẽ, giữ lễ, giữ miếng, giữ mình, giữ ý, cầm giữ, canh giữ, chống giữ.
Giữa -- trung tâm, giữa chừng, giữa dòng, giữa đường, giữa tháng, giữa vời, chính giữa, cửa giữa, kẽ giữa, khúc giữa.
Gõ -- đập nhẹ vào cho ra tiếng, gõ cửa, gõ mõ, gõ nhịp; -- loại gỗ quý, cây gõ (gỗ gụ), bộ ngựa gõ.
Gỏi -- tên món ăn, ăn gỏi, gỏi gà, gỏi sứa, gỏi tôm thịt.
Gỏng -- gắt gỏng.
Gổ -- gây gổ.
Gỗ -- gỗ quý, gỗ gụ, gỗ tạp, đốn gỗ, khúc gỗ, tượng gỗ.
Gở -- điềm không lành, điềm gở, nói gở, quái gở.
Gỡ -- làm cho hết rối, gỡ rối, gỡ đầu, gỡ tội; -- vớt lại, gỡ canh bạc, gỡ gạc, gỡ thua, cạy gỡ.
Gởi, Gửi -- gởi gắm, gởi lại, gởi thơ, gởi rể, gởi lời thăm, gởi thân đất khách, gởi trứng cho ác, chọn mặt gởi vàng, ăn gởi nằm nhờ.
Gũi -- gần gũi.
 
- H -
 
Hả -- tiếng hỏi vậy hả? tới rồi hả? -- tiếng cười cuời ha hả, hỉ hả; -- mở ra, đau chân hả, hả (há) miệng mắc quai; -- thỏa lòng hả dạ, hả giận, hả hê, hả hơi, hả lòng.
Hải -- biển hải cảng, hải chiến, hải đảo, hải lý, hải ngoại, hải phận, hải quan, hải quân, hải sản, hải tặc, hải triều, hải đồ, hải bàn, đại hải, hàng hải; -- tên cây, hải đường; -- tên xứ, Hải Dương, Hải Phòng, Long Hải, Phuớc Hải.
Hãi -- sợ, hãi hùng, kinh hãi, sợ hãi.
Hãm -- ép bức, hãm địch, hãm đồn, hãm hại, hãm hiếp, hãm tài, hãm thành, hãm trận;-- giữ lại, cầm lại, cầm hãm, giam hãm, hãm xe lại, hãm máy, hãm tốc độ.
Hãn -- mồ hôi phát hãn, xuất hãn; -- hung dữ, hung hãn; -- ít có, hãn hữu.
Hảng -- đứng chàng hảng.
Hãng -- nhà buôn lớn, hãng buôn, hãng tầu, hãng xưởng.
Hảnh -- hé trời hảnh nắng.
Hãnh -- hãnh diện, kiêu hãnh.
Hảo -- tốt, hảo hán, hảo hạng, hảo sự, hảo tâm, hảo ý, bất hảo, hòa hảo, tuyệt hảo.
Hão -- vô ích, lo hão, tiếc hão, hão huyền.
Hãy -- tiếng sai bảo, hãy chăm học, hãy cẩn thậ n, hãy gác bỏ ngoài tai -- vẫn, hãy còn, trời hãy còn mưa -- tạm thời hãy biết thế đã.
Hẳm -- hõm sâu xuống bực hẳm, hẳm đứng.
Hẩm -- hư hết, gạo nầy đã hẩ m; -- không ai để ý, hẩm hiu, hẩm hút, hâm hẩm.
Hẳn -- hẳn hoi, ắt hẳn, bỏ hẳn, chắc hẳn, điều đó đã hẳn, bịnh chưa dứt hẳn, không hẳn như thế, xong hẳn.
Hẵng -- tiếng bảo: hãy hẵng làm việc nầy đã! rồi hẵng hay! ăn xong hẵng đi!
 
Hẩy -- đẩy ra, hất ra hẩy đít, hẩy tay ra, gió hây hẩy.
 
Hẻ -- đuờng hở nhỏ, lỗ hẻ, kẹt hẻ, ngồi chè hẻ.
Hẻm -- lối đi hẹp, đường hẻm, ngõ hẻm, xó hẻm, nhà ở trong hẻm, hang cùng ngõ hẻm.
Hẻo -- vắng, hẻo lánh.
Hể -- thỏa lòng, vui vẻ, nói cười hể hả.
Hễ -- nếu mà hễ mà, hễ có tiền thì mua được.
Hển -- thở nhiều, thở hào hển, thở hổn hển.
 
Hỉ -- hỉ hả, hỉ mũi, hỉ sự, hỉ tín, hỉ xả, báo hỉ, cười hi hỉ, cung hỉ, hoan hỉ, hủ hỉ, song hỉ, chi rứa hỉ?vui quá hỉ!
Hiểm -- nguy, độc, hiểm ác, hiểm địa, hiểm độc, hiểm họa, hiểm hóc, hiểm nghèo, hiểm nguy, hiểm trở, hiểm yếu, bụng hiểm, chỗ hiểm, ớt hiểm, thâm 
Hiển -- sáng sủa, vẻ vang, hiển đạt, hiển hách, hiển hiện, hiển linh, hiển nhiên, hiển thánh, hiển vi, hiển vinh.
Hiểu -- thấu rõ, biết, hiểu biết, hiểu lầm, hiểu ngầm, chậm hiểu, dễ hiểu, thông hiểu.
Hỉnh -- phồng lên hỉnh mũi, mặt hinh hỉnh.
 
Hỏ -- ngồi chò hỏ.
Hoả -- lửa, gấp, hoả bài, hoả công, hoả châu, hoả diệm sơn, hoả đầu vụ, hoả hoạn, hoả lò, hoả lực, hoả mai, hoả mù, hỏa ngục, hỏa pháo, hoả tai, hoả táng, Hoả Tinh, hoả tiễn, hoả thiêu, hoả tốc, hoả xa, Bà hoả, cứu hoả, dẫn hoả, dầu hoả, huong hoả, phát hoả, phóng hoả, tá hoả, tàu hoả .
Hoải -- mệt mỏi, bải hoải.
Hoãn -- chậm lại, không gấp, hoãn binh, hoãn dịch, hoãn đãi, hoà hoãn, tạm hoãn, trì hoãn.
Hoảng -- sợ sệt, hoảng hồn hoảng vía, hoảng hốt, hoảng sợ, khủng hoảng, kinh hoảng, la hoảng, mê hoảng.
Hoãng, Hoẵng -- loại hươu nhỏ, chạy mau như hoẵng.
Hoảnh -- ráo nuớc ráo hoảnh.
Hỏi -- xin cho biết, hỏi cung, hỏi han, hỏi tội, hỏi thăm, hỏi vợ, ăn hỏi, lễ hỏi, tra hỏi, xét hỏi, bánh hỏi, chối hỏi, dấu hỏi, đòi hỏi, vay hỏi.
Hỏm -- lõm sâu và hẹp, sâu hỏm, hỏm xuống.
Hõm -- khuyết sâu vào mắt hõm vì thiếu ngủ.
Hỏn -- đỏ lợt, trẻ mới sanh đỏ hỏn.
Hỏng -- hư, thi rớt, hỏng bét, hỏng mất, hỏng thi, hỏng việc, xôi hỏng bỏng không; -- cao khỏi mặt đất, hỏng cẳng, nhẹ hỏng, dở hỏng, treo hỏng lên.
Hổ -- thẹn, tủi hổ, hổ thẹn, tủi hổ, xấu hổ; -- cọp hổ báo, mãnh hổ, hổ khẩu, hổ phách, bảng hổ đề danh, làm hùm làm hổ, cao hổ cốt, rắn hổ.
Hỗ -- lẫn nhau, hỗ tương, hỗ trợ, hỗ giá viên.
Hổi -- nóng côn lên hơi, bánh còn nóng hổi.
Hỗi -- hồi nãy (nói tắt) hỗi giờ (hồi nãy tới bây giờ) hỗi ôi!
Hổm -- hôm ấy bữa hổm, hổm rày.
Hổn -- thở hổn hển.
Hỗn -- vô lễ, xấc láo, hỗn ẩu, hỗn hào, hỗn láo, hỗn xuợc, làm hỗn, nói hỗn; -- lộn xộn, hỗn chiến, hỗn độn, hỗn hợp, hỗn loạn, hỗn tạp.
Hổng -- không kín, trống hổng, lỗ hổng; -- không nói hổng được, hổng biết.
Hở -- không kín, hở cửa, hở hang, hở môi, hở răng, để hở, hăm hở, hớn hở, kẽ hở, khe hở, lỗ hở, sơ hở, áo hở lưng, làm không hở tay.
Hỡ -- hực hỡ.
Hởi -- vui dạ, hởi dạ, hởi lòng.
Hỡi -- tiếng than hỡi ôi! hỡi đồng bào! trời ơi đất hỡi.
Hởn -- vui mừng hí hởn.
 
Hủ -- cũ kỹ, hủ bại, hủ hỉ, hủ hoá, hủ lậu, hủ nho, hủ tíu, hủ tục.
Hũ -- lu nhỏ bé miệng, hũ gạo, hũ mắm, hũ rượu, cổ hũ cau, cổ hũ dừa.
Hủi -- hất hủi, cùi hủi, phong hủi.
Hủng -- lún xuống, chỗ hủng.
Hủy -- phá, bỏ, hủy bỏ, hủy diệt, hủy hoại, hoài hủy, phá hủy, thiêu hủy, tiêu hủy. 
Huyễn -- huyễn hoặc, đồn huyễn.
Hử -- hở? hả? đi đâu hử? khõng đi hử? mới về tới hử?
Hữ -- ừ hữ, hữ hẽ.
Hửng -- hừng trời hửng sáng, hí hửng.
Hững -- hững hờ.
Huởng -- có được cho mình hưởng dụng, hưởng lạc, hưởng lộc, huởng phuớc, hưởng thụ, hưởng ứng, ảnh hưởng, ãm hưởng, cộng hưởng.
Hữu – có, hữu danh, hữu dụng, hữu duyên, hữu hạn, hữu hình, hữu ích, hữu sản, hữu tài, chấp hữu, chiếm hữu, cố hữu, cộng hữu, quyền sở hữu, hữu xạ tự nhiën hương; -- bên tay mặt, hữu dực, hữu ngạn, hữu phái, cực hữu, tả hữu; -- anh em bạn ái hữu, bằng hữu, đạo hữu, giáo hữu, tình bằng hữu, hữu nghị.
 
Hỷ, Hỉ -- hỷ sự, hỷ tín, hỷ xả, báo hỷ, cung hỷ, hoan hỷ, song hỷ; hỷ hả, hỷ mũi, vui quá hỷ.
 
- I -
 
Ỉ -- hơi uớt ẩm ỉ, i ỉ, ỉ ỉ; -- ngầm ngầm đau ãm ỉ, trời âm ỉ; -- kêu than năn nỉ ỉ ôi.
ĩ -- ầm ĩ, ồn ĩ.
Ỉa -- đi tiêu, đại tiện ỉa chảy.
Ỉm -- cửa đóng im ỉm.
ỉnh -- con ỉnh ương.
Ỉu -- bị ẩm, làm cho mềm iu ỉu.
 
- Y -
 
Ỷ -- cậy thế, dựa vào ỷ giàu, ỷ giỏi, ỷ lại, ỷ tài, ỷ quyền, ỷ thế, ỷ y.
Yểm -- trợ giúp yểm hộ, yểm trợ; -- ém, ếm yểm bùa, yểm tài, yểm trừ
Yểu -- chết non yểu tướng, chết yểu; -- mềm mại, thuớt tha yểu điệu.
 
- K -
 
Kẻ -- nguời kẻ cả, kẻ cắp, kẻ gian, kẻ hèn, kẻ nghèo, kẻ thù; -- vẽ, gạch hàng kẻ chữ, kẻ lông mày, giấy có kẻ hàng, thước kẻ; -- bới ra, kẻ vạch, kẻ xấu.
Kẽ -- khe nhỏ, chỗ hở kẽ cửa, kẽ tay, cặn kẽ, giữ kẽ, xen kẽ.
Kẽm -- kim loại trắng, dây km gai, mái kẽm, mỏ kẽm, thùng bằng kẽm, tiền kẽm, tráng kẽm.
Kẻng -- diện sang ăn mặc kẻng.
Kẻo -- không thế thì phải, chăm học kẻo dốt, mau mau kẻo trễ.
Kẽo -- tiếng võng kẽo kẹt.
Kể -- thuật lại, coi như kể chuyện, kể chết, kể công, kể lể, kể như, kể ơn, kể ra, kể rõ, kể trên, chẳng kể, cứ kể là, khóc kể, không đáng kể.
 
Kỉa -- hôm kỉa hôm kìa.
Kiểm -- xem lại, soát lại, kiểm chứng, kiểm duyệt, kiểm điểm, kiểm đốc, kiểm kê, kiểm lại, kiểm lâm, kiểm nghiệm, kiểm nhận, kiểm soát, kiểm thảo, kiểm tra.
Kiểng -- cảnh, cây nhỏ, cây kiểng, chơi kiểng, trồng kiểng, kiểng chùa, một kiểng hai quê; -- chuông nhà thờ đổ kiểng, kiểng chuông báo hiệu.
Kiễng – nhón, kiễng chân, kiễng gót.
Kiểu -- kiểu cách, kiểu cọ, kiểu mẫu, kiểu vở, chén kiểu, đĩa kiểu.
Kĩu -- tiếng võng đưa kĩu kịt.
Kỉnh -- kính, tôn trọng kỉnh làm anh, kỉnh nhuờng.
Kỷ, Kỉ -- kỷ vật, kỷ yếu, kỷ lục; -- thân mình ích kỷ, tự kỷ, tri kỷ, vị kỷ; -- phép tắc bắt buộc kỷ luật, kỷ cương; -- chỉ thời gian kỷ niệm, kỷ nguyên, niên kỷ, thế kỷ, Kỷ Dậu, Kỷ Sửu; -- ghế ngồi, mâm nhỏ ghế truờng kỷ, kỷ trà.
Kỹ, Kĩ -- nghề kỹ nghệ, kỹ sư, kỹ thuật, kỹ xảo; -- gái đĩ thõa, kỹ nữ, ca kỹ, kỹ viện; -- mất nhiều công kỹ càng, kỹ lưỡng, nhìn kỹ, ăn no ngủ kỹ.
 
- Kh –
 
Khả -- có thể, khả ái, khả dĩ, khả kính, khả năng, khả nghi, khả ố, khả quan, bất khả kháng, vô kế khả thi.
Khải -- khải hoàn, khải hoàn môn.
Khảy -- khảy đờn, khảy móng tay; cuời khảy.
Khảm -- khảm xà cừ, khảm vàng, tâm khảm, quẻ Khảm.
Khản -- khô ráo, khản cổ, khản tiếng.
Khảng -- ăn nói khảng khái.
Khảnh -- nhỏ thó, dáng người mảnh khảnh.
Khảo -- tra xét khảo chứng, khảo cổ, khảo của, khảo cứu, khảo duyệt, khảo giá, khảo hạch, khảo nghiệm, khảo sát, khảo thí, khảo xét, chủ khảo, giám khảo, phúc khảo, sơ khảo, tra khảo.
Khẳm -- nặng và đầy, thuyền chở khẳm.
Khẳn -- khẳn tính (gắt gỏng).
Khẳng -- gầy còm khng kheo, khẳ ng khiu; -- thừa nhận là đúng, khẳng định.
Khẩn -- khai phá đất hoang, khẩn điền, khẩn hoang, khai khẩn, trung khẩn; -- cầu xin, khẩn cầu, khẩn khoản, khẩn nguyện, khẩn yếu; -- gấp, khẩn cấp, khẩn thiết, khẩn trương, thượng khẩn, tối khẩn.
Khẩu -- miệng, khẩu cung, khẩu đại bác, khẩu hiệu, khẩu khí, khẩu lịnh, khẩu phần, khẩu phật tâm xà, khẩu súng, khẩu thiệt, khẩu truyền, khẩu ước, khẩu thuyết vô bằng, khẩu vị, á khẩu, hải khẩu, cấm khẩu, cửa khẩu, già hàm lão khẩu, hộ khẩu khai khẩu, nhân khẩu, nhập khẩu, xuất khẩu.
 
Khẻ -- đánh cho bể, lần lần khẻ lần, khẻ miểng sành; -- đánh nhẹ vào phạt khẻ tay, khẻ chân.
Khẽ -- nhè nhẹ, khẽ gật đầu, nói khẽ, hỏi khẽ, khe khẽ.
Khểnh -- nằm khểnh, răng khểnh, đi khấp khểnh.
Khểu -- đi khất khểu.
 
Khỉ -- khỉ cùi, khỉ độc, khỉ đột, khỉ khô, khỉ khọn, khỉ mốc, rõ khỉ, thằng khỉ, nơi khỉ ho cò gáy, rung cây nhát khỉ, cây cầu khỉ.
Khỉa -- liên tiếp thua khỉa ba bàn, trúng khỉa hai bàn.
Khiển -- sai khiến, trách điều khiển, khiển trách, tiêu khiển.
Khiễng -- bên cao bên thấp, khiễng chân, khập khiễng.
Khỉnh -- kháu khỉnh, khinh khỉnh.
 
Khỏ -- đánh nhẹ vào khỏ cửa, khỏ dầu, khỏ mõ, khỏ nhịp.
Khoả -- khoả nuớc, khoả mặt, khỏa cho bằng mặt, khoả lấp, khuây khoả, khoả thân.
Khoải -- khắc khoải.
Khoản -- khoản đãi, bồi khoản, điều khoản, khẩn khoản, lưu khoản, tài khoản, tồn khoản, từng khoản.
Khoảng -- khoảng cách, khoảng đời, khoảng ba giờ khuya, khoảng chừng, khoảng đường, khoảng trống, khoảng thời gian, khoảng khoát.
Khoảnh -- khoảnh đất, khoảnh khắc, khoảnh ruộng, thành khoảnh.
Khoẻ -- mạnh, không đau, khoẻ ăn, khoẻ khoắn, khoẻ mạnh, khỏe ru, khoẻ thân, bổ khoẻ , sức khoẻ, người bịnh đã khoẻ, nghỉ khoẻ, thuốc khoẻ.
Khỏi – không còn, khỏi bịnh, khỏi cần, khỏi lo, khỏi nói, khỏi sợ, chạy khỏi, đi khỏi, qua khỏi, thoát khỏi, tránh khỏi, trốn khỏi, tai qua nạn khỏi.
Khỏng -- lỏng khỏng.
Khổ -- khổ ải, khổ chủ, khổ công, khổ dịch, khổ giấy, khổ hạnh, khổ hình, khổ não, khổ nạn, khổ nhọc, khổ nhục, khổ sai, khổ sở, khổ tâm, khổ thân, khổ vải, bề khổ, bể khổ, cùng khổ, cơ khổ, cực khổ, cứu khổ, đồ khổ, gian khổ, hẹp khổ, khắc khổ, khốn khổ, khuôn khổ, lao khổ, nỗi khổ, nghèo khổ, quá khổ, rộng khổ, tố khổ, sầu khổ, trái khổ qua.
Khổn -- nguy khổn, vây khổn.
Khổng -- Khổng Tử, Khổng Minh, Khổng giáo, Khổng Mạnh, cửa Khổng sân Trình; khổng lồ; -- không khổng (hổng) chịu.
Khởi -- bắt đầu khởi chiến, khởi công, khởi đầu, khởi điểm, khởi hành, khởi hấn, khởi loan, khởi nghia, khởi phát, khởi sự, khởi thảo, khởi thủy, khởi tố, khởi xướng, hứng khởi, phấn khởi, quật khởi, sơ khởi, mừng khấp khởi.
 
Khuẩn -- vi khuẩn.
Khủng -- sợ hãi, khủng bố, khủng hoảng, khủng khiếp, kinh khủng.
Khuyển -- chó khuyển mã, khuyển ưng.
Khuỷnh -- khuỷnh đất (xem Khoảnh).
Khuỷu -- khuỷu tay, đường đi khúc khuỷu.
Khử -- trừ, bỏ đi, khử độc, khử tà, trừ khử, khử thổ, khử trùng.
 
- L -

Lả -- yếu sức, đói lả, mệt lả; -- không đứng đắn lả lơi, lả lúa, lả luớt, ẻo lả; -- rách, tét, té lả đầu gối; -- rời rạc, mưa rơi lả tả.
Lã -- nuớc lã, làm ăn lỗ lã, lệ rơi lã chã.
Lải -- nói lải nhải.
Lãi -- lỗ lãi, lời lãi, tiền lãi, lấy công làm lãi, cho vay nặng lãi, lãi suất; -- giun trong ruột, lãi đũa, lãi kim, sán lãi, sën lãi, con lãi.
Lảy, Lẩy -- dùng tay tách ra, lảy bắp, lảy đậu, lảy lá, lảy cò súng.
Lảm -- nói lảm nhảm, nhai lổm lảm.
Lãm -- duyệt lãm, lịch lãm, nhàn lãm, triển lãm.
Lãn -- thợ lãn công đòi lên lương.
Lảng -- lảng cảng, lảng ồ, lảng nhách, lảng tránh, lảng vảng, lảng sang chuyện khác, lảng đi nơi khác, lơ lảng, khuây lảng, lỉnh lảng, bảng lảng.
Lãng -- không bó buộc, lãng du, lãng đãng, lãng mạn, lãng phí, lãng quên, lãng tử, lãng xẹt, lãng tai.
Lảnh -- âm thanh cao lanh lảnh, lảnh lót.
Lãnh -- lãnh chúa, lãnh cung, lãnh đạm, lãnh giáo, lãnh hội, lãnh lương, lãnh nợ, lãnh thổ, lãnh thưởng, lãnh vực, bản lãnh, bảo lãnh, cương lãnh, hàng lãnh, phát lãnh, quầ n lãnh; -- chức quan lãnh binh, lãnh sự; -- đứng đầu, lãnh đạo, lãnh tụ, thống lãnh, thủ lãnh.
Lảo -- lảo đảo.
Lão – già, lão ấu, lão bá, lão bộc, lão gia, lão già, lão khẩu, lão luyện, lão phu, lão thânh, lão trượng,cây dã lão, dưỡng lão, nguyệt lão, ra lão, truởng lão; Lão Tử, Lão giáo.
Lảu -- thông, thuộc lảu.
Lẳn -- săn chắc, béo lẳn, đôi vai tròn lẳn; lẳn mẳn.
Lẳng -- lẳng lặng, khu lẳng, lủng lẳng, lẳng nhẳng; -- khêu gợi, lẳng lơ, cặp mắt lẳng, cười lẳng, tánh lẳng.
Lẳm -- giữ chặt lăm lẳm.
Lẩm -- lẩm bẩm, lẩm nhẩm, lẩm rẩm, chưa già mà đã lẩm cẩm.
Lẫm -- ắp lẫm, lẫm lúa, lẫm liệt, mới biết đi lẫm đẫm, oai phuông lẫm lẫm.
Lẩn -- lẩn khuất, lẩn lút, lẩn núp, lẩn quẩn, lẩn quất, lẩn thẩn, lẩn tránh, lẩn trốn.
Lẫn -- cả tôi lẫn anh, giúp lẫn nhau, trộn lẫn; -- lầm lộn, hay quên, già lẫn, lẫn lộn, lầm lẫn, lú lẫn, nói lẫn.
Lẩu -- lẩu cá, lẩu lươn, nấu lẩu, ăn nói lẩu bẩu.
Lẩy -- run lẩy bẩy, lẩy cò súng, lẩy (trích ra) một câu Kiều.
Lẫy -- lẫy lừng, lộng lẫy, cãi lẫy, nói lẫy, lẫy nỏ, giận lẫy.
 
Lẻ -- không đủ đôi lẻ bạn, lẻ bầy, lẻ loi, lẻ tẻ, bán lẻ, chẵn lẻ, tiền lẻ, một trăm lẻ năm, số lẻ.
Lẽ -- lấy lẽ, phận lẽ mọn, vợ lẽ, lặng lẽ; -- cái lý phải vậy lẽ dĩ nhiên, lẽ nào, lẽ phải, lẽ ra, lẽ sự, lẽ thường, cãi lẽ, có lẽ, chẳng lẽ, đủ lẽ, hợp lẽ, không lẽ, lý lẽ, quá lẽ, trái lẽ.
Lẻm -- bén lắm, sắc lẻm, lem lẻm.
Lẻn -- lén, lỏn đi, lẻn trốn, lẻn đi mất, trộm lẻn vào nhà; -- rụt rè cuời lỏn lẻn, bộ dạng xẻn lẻn.
Lẽn -- đáng hổ thẹn bẽn lẽn.
Lẻng kẻng -- tiếng khua
Lẻo -- lẻo lự, lẻo mép, hớt lẻo, lỏng lẻo, mách lẻo, thèo lẻo, chối leo lẻo, nuớc trong leo lẻo.
Lẽo -- lạnh lẽo, lạt lẽo, lẽo đẽo.
Lể -- dùng vật nhọn cạy lên, cắt lể, lể gai, lể mụn, lể ốc bà thầy lể đẹn, dùng kim lể cái dằm ra, kể lể.
Lễ -- có phép tắc lễ độ, lễ phép, giữ lễ, ngày lễ, nghỉ lễ, thi lễ; -- đem tài vật để cầu lễ cuới, lễ hỏi, lễ lộc, lễ vật, dâng lễ, sính lễ, lễ mễ -- bày tỏ, kính ý lễ bái, lễ bộ, lễ giáo, lễ nghi, lễ nghiã, lễ nhạc, lễ phục, hành lễ, miễn lễ, tế lễ, thất lễ, vô lễ.
Lễn -- lễn thễn
Lểnh -- lểnh lảng, sâu bò lểnh nghểnh.
Lểu -- nhọn lểu, lểu ngoài da, may lểu mũi kim, lểu lảo, bập lểu.
 
Liễm -- nguyệt liễm, niên liễm, hưu liễm, thâu liễm.
Liễn -- liễn trướng, liễn đối, viết liễn, treo liễn, dán liễn, đôi liễn cẩn.
Liểng -- thua xiểng liểng.
Liễu -- liễu ngõ hoa tường, liễu bồ, liễu yếu đào tơ, bông tai lá liễu, dương liễu, mày lá liễu, bịnh hoa liễu, kết liễu.
Lỉnh -- lỉnh kỉnh, lỉnh lảng, lỉnh nghỉnh, láu lỉnh, nó lỉnh đâu mất rồi?
Lĩnh, Lãnh -- lĩnh giáo, lĩnh hội, lĩnh lương, lĩnh nợ, lĩnh ý, lĩnh thưởng, lĩnh vực, liều lĩnh, quần lĩnh.
 
Lỏ -- trợn lên lỏ mắt ngạc nhiên.
Lõ -- lồi lên, ló ra mũi lõ.
Loã -- loã lồ, loã thể, đồng loã, tóc loã xoã.
Loãng -- khõng đặc mực loãng, máu loãng, pha loãng, cháo loãng.
Lỏi -- len lỏi, lòn lỏi, luồn lỏi, trọi lỏi, thằng lỏi con.
Lõi -- lõi cây, lõi bắp, lõi đời, lọc lõi, ăn chơi đã lõi, lõi đầu hơn giác gụ, tiếng Nôm Lõi.
Lỏm -- lén lút, học lỏm, nghe lỏm.
Lõm -- thụt vào má lõm đồng tiền, rơi lõm bõm, lõm chuối, giữa lõm, lồi lõm.
Lỏn -- lỏn cửa sau, lỏn chỏn, lỏn đi, lỏn lẻn, lỏn tỏn, lỏn vào, thon lỏn, quần xà lỏn.
Lỏng -- lỏng chỏng, lỏng khỏng, lỏng ngỏng, lỏng le, lỏng lẻo, cái lỏng bỏng, buộc lỏng, cháo lỏng, đặc lỏng, giam lỏng, nắm lỏng, thả lỏng, mối dây lỏng.
Lõng -- lõng thõng, lạc lõng.
Lổng -- lổng chổng, lêu lổng, trống lổng.
Lỗ -- bùa lỗ ban, lỗ đầu, lỗ nẻ, lỗ hang, lỗ hổ ng, lỗ kim, lỗ lã, lỗ lời, lỗ mãng, lỗ miệng, lỗ mộng, lỗ mũi, lỗ tai, đồ lỗ bộ, đâo lỗ, giùi lỗ, khoét lỗ, lủng lỗ, thô lỗ, xoi lỗ, gần xuống lỗ, ăn bữa giỗ lỗ bữa cày.
Lỗi -- sai, điều quấy, lỗi duyên, lỗi đạo, làm con lỗi hẹ n, lỗi lạc, lỗi lầm, lỗi thời, cung đàn lỗi nhịp, bắt lỗi, chữa lỗi, chịu lỗi, đổ lỗi, hối lỗi, phạm lỗi, sửa lỗi, tha lỗi, thứ lỗi, tội lỗi, xin lỗi.
Lổm -- lổm chổm, lổm ngổm lổm lảm.
Lổn -- lổn ngổn, khua lổn cổn.
Lở -- sứt ra, rớt ra núi lở, đê lở, vỡ lở, xoi lở, trời o ng đất lở; -- bị ghẻ khoét lở loét, lở lói, ghẻ lở.
Lỡ -- lỡ bữa, lỡ buớc, lỡ cỡ, lỡ cuộc, lỡ chừng, lỡ dịp, lỡ dở, lỡ duyên, lỡ đường, lỡ làng, lỡ lời, lỡ thời, lỡ tay, lỡ tàu, lỡ lầm, dĩ lỡ.
Lởm -- đá lởm chởm.
Lởn -- lởn vởn.
 
Lũ -- bê lũ, cả lũ, lam lũ, lũ lụt, mưa lũ, lũ lượt, nuớc lũ, từng lũ.
Lủa -- lủa tủa.
Lủi -- lủi đi, lủi mất, lủi vô bụi, lủi thủi, lủi trốn, trụi lủi, rau húng lủi.
Luỗi -- mệt quá sức, đói luỗi, mệt luỗi.
Lủm -- ăn gọn cả miếng, bốc lủm, làm khõng đủ lủm.
Lủn -- ngắn, vụn, nhỏ, áo ngắn lủn củn, thấp bé lủn củn, lủn mủn, lẳn mẳn.
Lũn -- mềm lũn (mềm nhũn)
Lủng -- lủng lẳng, lủng lỉnh, nội bộ lủng củng, đồ đạc lủng củng, câu văn lủng củng; -- thủng lủng lỗ, chọc lủng, đâm lủng, xoi lủng, quần lủng đáy.
Lũng -- thung lũng, lũng đoạn.
Luỹ -- tích luỹ, luỹ thừa, luỹ tiến, luỹ tre xanh; -- thành, rào, chiến luỹ, đồn luỹ, hào luỹ, thành luỹ.
Lử -- lả đói lử, mệt lử, nhọc lử, say lử.
Lữ -- lữ điếm, lữ đoàn, lữ hành, lữ khách, lữ quán, lữ thứ, lữ xá,quân lữ.
Lửa -- lửa củi, lửa dục, lửa hận, lửa lòng, lửa trại, bén lửa, binh lửa, chữa lửa, đế lửa, dầu lửa, dừa lửa, đá lửa, kiến lửa, nảy lửa, núi lửa, nằm lửa, nhạy lửa, xe lửa, nhúm lửa, bò cạp lửa, rắn hổ lửa, thổi lửa, thử lửa, tánh nóng như lửa.
Lữa -- cứ lần lữa mãi.
Lửng -- bỏ lửng, lấp lửng, lơ lửng, lưng lửng, quên lửng, ăn lửng dạ, treo lửng lơ.  
Lững -- mặt đỏ lững (đỏ luỡng), sưng đỏ lững, lững chững, lững dững lờ dờ, lắc lơ lắc lững, lơ lững, lững lờ, đi lững thững, lững thờ lững thững.
Luỡi -- luỡi bào, lưỡi cày, lưỡi gà, lưỡi câu, lưỡi cưa, lưỡi lê, lưỡi dao, lưỡi gươm, lưỡi hái, lưỡi khoan, lưỡi khõng xương, trăng luỡi liềm, đầu mõi chót lưỡi, miệng lằn lưỡi mối, nón lưỡi trai, cá luỡi trâu.
Luỡng -- đỏ luỡng, kỹ lưỡng; -- hai, một đôi, luỡng ban, lưỡng cực, luỡng diện, lưỡng lự, lưỡng quyền, lưỡng thể, lưỡng toàn, lưỡng viện quốc hội, nhất cử luỡng tiện, tấn thối lưỡng nan, luỡng đầu thọ địch.
 
- M -
 
Mả -- chỗ chôn người chết, mả mồ, bốc mả, đào mả, giẫy mả, gà mở cửa mả, mèo mả gà đồng.
Mã -- đồ bằng giấy để đốt, cúng đồ mã, đốt mã, hàng mã, thợ mã, vàng mã; -- dáng bề ngoài gái ra mã, trổ mã, tốt mã rã đám; -- ngựa binh mã, phò mã, kỵ mã, khuyển mã, xe song mã, hát bài tẩu mã, mã thượng anh hùng, trường đồ tri mã lực; -- tên cây, tên bịnh, cây mã đề, cây mã tiền, bịnh xỉ tẩu mã; -- dấu hiệu mật mã, mã số, mã tự; -- tên đá quý, mã não; -- tên xứ Mã-Lai, La-Mã; bắn đạn mã tử, dao mã tấu.
Mải -- ham mê, cứ mải ham chơi, mải học, mải mê, mải miết, mải lo.
Mãi -- luôn luôn, hoài mãi mãi, nói mãi, chờ mãi tới khuya, nghĩ mãi không ra; -- mua bán (Mại) mãi dâm, mãi lộ, mãi võ, tạo mãi, cục mãi dịch.
Mảy -- mảy may, mảy lông, ngồi tréo mảy.
Mãn -- trọn, đầy đủ, mãn cuộc, mãn đời, mãn hạn, mãn khóa, mãn kiếp, mãn kỳ, mãn nguyện, mãn nhãn, mãn phần, mãn tang, mãn tiệc, bất mãn, nhân mãn, sung mãn, tự mãn, thỏa mãn, viên mãn; Mãn-Châu, Mãn Thanh.
Mảng -- tróc một mảng da, chiếc mảng (cái bè nhỏ), bén mảng, chểnh mảng.
Mãng -- ăn nói lỗ mãng, trái mãng cầu.
Mảnh -- mảnh bằng, mảnh chiếu, mảnh giấy, mảnh giẻ, mảnh gỗ, mảnh gương, mảnh hồng nhan, mảnh khảnh, ăn mảnh, mảnh mai, mỏng mảnh, mảnh vụn, mảnh vuờn, thân hình mảnh dẻ.
Mãnh -- ma mãnh, ông mãnh, ranh mãnh, mãnh hổ, mãnh liệt, mãnh lực, mãnh thú, mãnh tiến, dũng mãnh.
Mão -- bao trọn, mão hết món hàng, lãnh làm mão, mua mão hết, áo mão,-- tuổi Mẹo, năm Mão, giờ Mão, tháng Mão, tuổi Mão.
Mẳn -- hơi mặn mằn mẳn, cá kho mẳn; -- nhỏ lẳn mẳn, tẳn mẳn, tấm mẳn
Mẩm -- chắc mẩm.
Mẫm -- mập tròn béo mẫm, trâu đực mẫm.
Mẩn -- mê mẩn, tẩn mẩn.
Mẫn -- mẫn cán, mẫn đạt, mẫn tiệp, cần mẫn, minh mẫn, mùi mẫn.
Mẩu -- đoạn ngắn, nhỏ, mẩu bánh, mẩu chuyện, mẩu đời, mẩu gỗ.
Mẫu -- mẹ mẫu hạm, mẫu hậu, mẫu hệ, mẫu nghi, mẫu quốc, mẫu số, mẫu thân, mẫu tự, tình mẫu tử, bá mẫu, dưỡng mẫu, hiền mẫu, kế mẫu, lão mẫu, nhũ mẫu, phụ mẫu, sư mẫu, tổ mẫu, từ mẫu; -- kiểu mẫu mực, gương mẫu, kiểu mẫu, khuôn mẫu, người mẫu, ra mẫu; -- đơn vị đo đất, tên hoa sào mẫu, hoa mẫu đơn.
Mẩy -- mình mẩy.
 
Mẻ -- sứt, bể, chút ít dao mẻ, chén mẻ, khờn mẻ, sứt mẻ, chuyến, lượt một mẻ cá, kéo một mẻ luới, bị một mẻ trộm, con mẻ (con mẹ ấy), mát mẻ, mới mẻ.
Mẽ -- mạnh mẽ.
Mễ -- gạo mễ cốc, gạo trầm mễ.
 
Mỉ -- tỉ mỉ.
Mi, Mỹ -- mỹ cảm, mỹ lệ, mỹ mãn, mỹ miều, mỹ nhân, mỹ nghệ, mỹ nữ, mỹ sắc, mỹ phẩm, mỹ quan, mỹ thuật, mỹ tửu, mỹ viện, mỹ vị mỹ ý, hoa mỹ, chân thiện mỹ; Âu Mỹ, Mỹ Châu, mỹ kim, Mỹ Quốc, Mỹ Tho.
Mỉa -- mỉa mai, nói mỉa, cười mỉa.
Miễn -- cho, khỏi, tha miễn chấp, miễn cứu, miễn c ưỡng, miễn dịch, miễn lễ, miễn nghị, miễn nhiễm, miễn phí, miễn thuế, miễn tố, miễn tội, miễn trách, miễn trừ, bãi miễn, xá miễn; -- chỉ cần ... miễn là, miễn sao; -- đừng xin miễn vào, miễn hỏi.
Miểng -- mảnh bể nhỏ miểng chén, miểng chai, miểng sành, miểng vùa.
Miễu -- chùa nhỏ, am miễu bà, miễu ông tà, miễu thánh, đình miễu, cao nh ư tre miễu.
Mỉm -- cuời hé miệng, mỉm cười, mủm mỉm.
 
Mỏ -- miệng loài thú, mỏ chim, mỏ chuột, mỏ heo, quẹt mỏ, khua môi múa mỏ; -- vùng đất có khoáng chất, mỏ bạc, mỏ chì, mỏ kẽm, mỏ than, mỏ vàng, đào mỏ, hầm mỏ, khai mỏ, phu mỏ; -- tên vật, mỏ ác, mỏ hàn, mỏ neo, cái mỏ vịt, chim mỏ nhát, nói mắc nói mỏ, mắng mỏ.
Mõ -- nhạc khí bằng gỗ, chuõng mõ, đánh mõ, mõ hồi một, gõ mõ, thằng mõ.
Mỏi -- mệt, rũ riệt mỏi chưn, mỏi cổ, mỏi lưng, mỏi mắt, mỏi mê, mỏi mệt, mỏi miệng, mỏi tay, mong mỏi, mòn mỏi, nhức mỏi.
Mỏm -- phần de ra mỏm đá, mỏm núi, mỏm gành.
Mõm -- miệng loài thú, mõm chó, mõm heo.
Mỏn -- hết hơi sức, mỏn chí, mỏn hơi, mỏn sức, thỏn mỏn.
Mỏng -- không dầy, mỏng dánh, mỏng lét, mỏng manh, mỏng mảnh, mỏng tanh, mỏng te, dày mỏng, giấy mỏng, môi mỏng, phận mỏng, vải mỏng, cam mỏng vỏ. 
 
Mổng -- mõng đít to mổng, vêu mổng.
Mổ -- dùng mỏ mà bắt, cò mổ cá, gà mổ thóc, chày mổ; -- xẻ banh ra, khoa mổ xẻ, sả mổ, mổ bụng, mổ ruột, mổ tử thi.
Mỗ -- tôi, tiếng tự xưng, như mỗ đây, mỗ tên là ...
Mỗi -- từng cái một, mỗi khi, mỗi lần, mỗi lúc, mỗi mỗi, mỗi một, mỗi ngày, mỗi người, mỗi thứ, mỗi việc.
 
Mở -- tháo ra, khui ra, mở banh, mở bét, mở cửa mở đường, mở hàng, mở hé, mở hí, mở hoác, mở hơi, mở lời, mở mang, mở màn, mở mắt, mở miệng, mở rộng, mở toang, mở trói, mở tung, cởi mở, úp mở, mở cuộc điều tra, gà mở cửa mả, mở đầu buổi họp.
Mỡ -- chất béo mỡ bò, mỡ chài, mỡ gà, mỡ gàu, mỡ sa, dầu mỡ, khoai mỡ, lang mỡ, mạng mỡ, màu mỡ, thắng mỡ, thịt mỡ, tre mỡ, trững mỡ, rán sành ra mỡ, như mêo thấy mỡ.
Mởn -- hơi trắng, tươi, mượt nuớc da mởn, mơn mởn.
 
Mủ -- nhựa trong da cây, mủ cây, mủ cao su, mủ mít, mủ sung, mủ trôm; -- chất độc, nơi ghẻ mủ máu, chảy mủ, chích mủ, nặn mủ, cương mủ, ra mủ, làm mủ, làm nhọt hoài! -- mụ ấy, mủ mới vừa đi khỏi.
Mũ -- mão, nón mũ cánh chuồn, mũ ni, mũ lưỡi trai, ngả mũ chào, mang râu đội mũ.
Mủi -- mủi lòng.
Mũi -- để thở và ngửi mũi cao, mũi dọc dừa, mũi gãy, mũi hỉnh, mũi dãi, mũi lõ, mũi xẹp, bịt mũi, hỉ mũi, khịt mũi, lỗ mũi, nghẹt mũi, nhảy mũi, nín mũi, sổ mũi, sống mũi, còn mặt mũi nào; -- phần nhọn, mũi dao, mũi dáo, mũi giầy, mũi khoan, mũi kim, mũi lái, mũi nhọn, mũi tàu, lằn tên mũi đạn, chích một mũi thuốc, té chòi mũi.
Muỗi -- con muỗi muỗi cỏ, muỗi đòn xóc, muỗi mòng, đập muỗi, nhang muỗi, ruồi muỗi, thuốc xịt muỗi.
Mủm --mủm mỉm.
Mủng -- thúng mủng, đi mủng (thuyền nan tròn)
Muỗng -- để múc thức ăn, muỗng nỉa, muỗng súp, muỗng cà phê.
 
Mửa -- ói vọt, nôn ra, buồn mửa, ói mửa, muốn mửa, nôn mửa, ụa mửa, iả mửa, mửa máu, mửa tới mật xanh.
Mửng -- lối, kiểu, điệu quen mửng cũ, cứ cái mửng đó hoài.
Muỡu -- câu hát thể lục bát ở đầu hoặc cuối bài hát nói.
Mỹ (xem Mĩ).
 
- N -
 
Nã -- bắn mạnh, nã đạn -- tìm bắt, nã tróc, tầm nã, tập nã, truy nã; Nã-phá-Luân.
Nải -- nhiều trái kết lại, nải chuối, trễ nải, tay nải (túi vải có quai đeo).
Nảy, Nẩy -- trổ, phát ra, nảy bông, nảy chồi, nảy lộc, nảy lửa, nảy mầm, nảy nở, nảy sanh, nóng nảy, nảy nảy. đ ưa ra, ễn ra nẩy bụng, nẩy ngực, giật nẩy mình, nẩy ngửa, núng nẩy, cầm cân nẩy mực.
Nãy -- lúc vừa qua, nãy giờ, ban nãy, hồi nãy, khi nãy, lúc nãy.
Nản -- ngã lòng, chán, nản chí, nản lòng, buồn nản, chán nản.
Nảng -- nàng ấy.
Nảo -- bài viết nháp nảo đơn, nảo thơ, ra nảo.
Não -- buồn, phiền, não lòng, não nề, não nùng, não nuột, não ruột, ảo não, khổ não, phiền não, sầu não, thảm não; -- óc, trí hóa cân não, chủ não, tâm não, trí não; -- loại đá, long não, mã não.
Nẳm -- năm ấy (nói tắt)
 
Nẻ -- nứt ra đất nẻ, lỗ nẻ, nứt nẻ, cười như nắc nẻ.
Nẻo -- chỉ nẻo đưa đường, khắp các nẻo đường.
Nể -- kiêng dè, nể lời, nể mặt, nể nang, nể vì, cả nể, kiêng nể, kính nể, vị nể.
 
Nỉ -- vải dệt bằng lông áo nỉ, mền nỉ, nón nỉ, nỉ non, nài nỉ, nan nỉ.
Nỉa -- muỗng nỉa.
Niểng -- đi xiểng niểng.
Nỉnh -- nủng na nủng nỉnh.
 
Nỏ -- cái ná bắn nỏ, cung nỏ.
Noãn -- trứng noãn bào, noãn sào.
Nõn -- bắp non, đẹp nõn cau, nõn tre, cây mới ra nõn, trắng nõn, đẹp nõn nà.
Nổ -- bật thành tiếng nổ bùng, nổ máy, nổ vang pháo nổ, sấm nổ, súng nổ
Nỗ -- nỗ lực
Nổi -- không chìm, nổi bật, nổi bọt, nổi cặn, nổi phình, nổi trôi, chạm nổi, của nổi, ghe nổi, trái nổi, ba chìm bảy nổi chin cái lênh đênh; -- dậy lên, phát sinh nổi  cộm, nổi danh, nổi dậy nổi dông, nổi điën, nổi giặc, nổi giận, nổi hạch, nổi khùng, nổi lửa, nổi loạn, nổi mụn nổi nóng, nổi ốc, nổi sóng nổi vồng, nổi xung;-- kham được chịu nổi, làm nổi, trả nổi, vác nổ, nổi đình nổi đám.
Nỗi -- tình cảnh, tâm trạng nỗi buồn, nỗi lòng, nỗi niềm tâm sự, nỗi sầu, nông nỗi này, đường kia nỗi nọ, không đến nỗi nào.
Nổng -- chỗ đất cao gò nổng, nổng cát.
 
Nở -- gà nở, hoa nở, nảy nở, niềm nở, nức nở, sinh nở, sâu nở, nở mày nở mặt, nở mũi, nở nang, nở gan, nở nhụy khai hoa, nở nụ cuời, gà con mới nở.
Nỡ -- chẳng nỡ, sao nỡ đành, nỡ lòng nào.
Nỡm -- tiếng mắng yêu, đồ nỡm!
 
Nũng -- nhõng nhẽo, nũng nịu, làm nũng.
Nữ -- con gá , đàn bà, nữ công, nữ giới, nữ nhi, nữ hoàng, nữ kiệt, nữ lưu, nữ sắc, nữ sinh, nữ sĩ, nữ trang, ái nữ, cung nữ, chức nữ, liệt nữ, mỹ nữ, phụ nữ, thục nữ, trinh nữ.
Nửa -- phân nửa, nửa buổi, nửa cân, nửa chừng, nửa đêm, nửa đường, nửa giờ, nửa mùa, nửa sạc, nửa vời, nửa nạc nửa mỡ, nửa nguời nửa ngợm.
Nữa -- hãy còn, chưa hết, nữa thôi? còn nữa, chút nữa, hơn nữa, lát nữa, nữa là.
Nữu Ước -- tên thành phố
 
- Ng -
 
Ngả -- nẻo, lối đi phân chia đôi ngả, đường chia ba ngả, đi ngả nào? -- nghiêng, hạ xuống ngả lưng, ngả mình nằm, ngả mũ chào, ngả nón, ngả nghiêng, ngả ngửa, áo cũ đã ngả màu, bóng ngả xế tà, ngả ngớn, ngả xiêu ngả ngớn.
Ngã -- nghiệt ngã; -- ta, tôi bản ngã, duy ngã, vô ngã; -- nơi có nhiều đường rẽ, ngã ba, ngã tu, ngã bảy, truớc ngã ba cuộc đời; -- té, đổ lăn xuống, ngã bịnh, ngã bổ chửng, ngã chổng gọng, ngã chúi, ngã gục, ngã giá, ngã lòng, ngã lăn, ngã lẽ, ngã mặn, ngã lộn phèo, ngã nhào, ngã rạp, ngã ngũ, sa ngã, ngã nuớc, ngã ngửa, ngã rạp, ngã sấp, vấp ngã, vật ngã, xô ngã, dấu ngã, chị ngã em nâng.
Ngải -- cây thuốc ngải cứu, ngải điệp, ngải mê, ngải nghệ bỏ ngải, bùa ngải, mắc ngải, thầy ngải.
Ngãi -- nghĩa, tình nghĩa nhân ngãi, ân ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. (Xem Nghĩa)
Ngảnh, Ngoảnh -- xoay về một phía nào, ngoảnh cổ, ngoảnh đi, ngảnh (ngoảnh).
Ngẳn -- vắn, ngắn cụt ngẳn, ngủn ngẳn.
Ngẵng -- bóp hẹp lại thắt ngẵng cổ bồng.
Ngẩm -- ngán ngẩm, ngứa ngẩm.
Ngẫm -- suy gẫm, nghĩ kỹ, ngẫm nghĩ, suy ngẫm, nghiền ngẫm, ngẫm sự đời.
Ngẩn -- đờ ra ngẩn mặt làm thinh, ngẩn người, ngẩn ngơ, ngẩn tò te, ngớ ngẩn.
Ngẩng -- ngửng lên ngẩng cổ, ngẩng đầu, ngẩng mặt, ngẩng nhìn.
Ngẫu -- tình cờ ngẫu duyên, ngẫu hứng, ngẫu hợp, ngẫu nhiên, biền ngẫu, giai ngẫu.
 
Nghẽn -- không thông nghẽn cổ, nghẽn lối, mắc nghẽn, tắc nghẽn.
Nghẻo -- xem Ngoẻo.
Nghẽo -- cuời ngặt nghẽo.
Nghể -- bể nghể muốn bịnh, cây nghể, lá nghể.
Nghễ -- ngạo nghễ.
Nghển -- vươn lên nghển cổ, nghển đầu.
Nghễnh -- nghễnh ngãng (điếc tai).
Nghểu -- ngất nga ngất nghểu, nghểu nghến.
Nghễu -- thật cao cao nghễu, nghễu nghện.
 
Nghỉ -- không làm việc nghỉ chân, nghỉ học, nghỉ hè, nghỉ lễ, nghỉ mát, nghỉ ngơi, nghỉ phép, nghỉ việc, nằm nghỉ.
 
Nghĩ -- suy xét nghĩ bụng, nghĩ cách, nghĩ lại, nghĩ mưu, nghĩ ngợi, nghĩ tình, nghĩ tới, biết nghĩ, lo nghĩ, ngẫm nghĩ, suy nghĩ, thiển nghĩ, thiết nghĩ, trộm nghĩ, ý nghĩ, nghĩ thế nào? thật là khó nghĩ.
 
 
 
Nghĩa -- nghĩa bóng, nghĩa bộc, nghĩa cử, nghĩa đen, nghĩa địa, nghĩa hiệp, nghĩa huynh, nghĩa khí, nghĩa mẫu, nghĩa nữ, nghĩa phụ, nghĩa quân, nghĩa sĩ, nghĩa tử, nghĩa trang, nghĩa vụ, ân nghĩa, bạc nghĩa, bất nghĩa, cắt nghĩa, chánh nghĩa, chữ  nghĩa, giải nghĩa, kết nghĩa, lễ nghĩa, phi nghĩa, tín nghĩa, tînh nghĩa, tiết nghĩa, trọng nghĩa, trung nghĩa, ý nghĩa.
 
Nghiễm -- nghiễm nhiên.
Nghĩnh -- ngộ nghĩnh.
 
Ngỏ -- bày tỏ, không giấu, ngỏ lòng, ngỏ lời, ngỏ ý, cửa bỏ ngỏ, thơ để ngỏ.
Ngõ -- lối đi, ngõ cụt, ngõ hẻm, ngõ hầu, ngõ hậu, ngõ ngách, ngõ tắt, rào đường đón ngõ; cửa ngõ.
Ngoải -- ngoài ấy, ở ngoải, ra ngoải, bịnh còn ngắc ngoải.
Ngoảy, Nguẩy -- ngoay ngoảy, tréo ngoảy, ngoảy đuôi, ngoe ngoảy.
Ngoảm -- nhai ngổm ngoảm.
Ngoãn -- ngoan ngoãn.
Ngoảnh -- xoay nơi khác, ngoảnh đi ngoảnh lại, ngoảnh mặt làm ngơ.
Ngoẳn -- ngủn ngoẳn.
Ngoẻo -- ngoẻo cổ, ngoẻo đầu, chết ngoẻo.
Ngoẻn, Ngỏn -- cuời ngỏn ngoẻn.
 
Ngỏm -- chết ngỏm, tắt ngỏm, em bé bò ngỏm dậy.
Ngỏng -- vươn cao lên, ngỏng cổ nhìn lên, cao ngỏng ngảnh, cao chê ngỏng thấp chê lùn, thằng nhỏ ngỏng lên.
Ngõng -- chốt để tra vào lỗ ngõng cối, ngõng cửa.
 
Ngổ -- táo bạo ngổ ngáo, tánh ngổ; ăn nói ngổ.
Ngỗ -- buớng bỉnh ngỗ nghịch, ngỗ ngược.
Ngổm -- bò lổm ngổm, nhai ngổm ngoảm.
Ngổn -- ngổn ngang.
Ngổng -- cao ngông ngổng, ngổng nghểnh,lổng ngổng
Ngỗng -- loại vịt to, dài cổ ngỗng đực, ngỗng trời, cà kê dê ngỗng.
Ngỡ -- ngỡ ngàng, bỡ ngỡ, ngỡ là, ngỡ rằng.
 
Ngủ -- ngủ gật, ngủ gục, ngủ khì, ngủ khò, ngủ li bì, ngủ mê ngủ nghê, ngủ nuớng, ngủ quên, ngủ say, ngủ thiếp, ngủ vùi.
Ngũ -- số năm ngũ âm, ngũ cốc, ngũ cung, ngũ giác đài, ngũ gia bì, ngũ giới, ngũ hành, ngũ hổ, ngũ kim, tứ thư ngũ kinh, ngũ quan, ngũ sắc, ngũ vị hương, ngũ tạng, ngôi cửu ngũ, tam cang ngũ thường; -- quân lính đội ngũ, đào ngũ, đội ngu, hàng ngũ, nhập ngũ, quân ngũ, tại ngũ, tựu ngũ, xuất ngũ.
Nguẩy -- ngoe nguẩy, nguây nguẩy.
Ngủi -- ngắn ngủi.
Ngủm, Ngỏm -- chết ngủm, tắt ngủm.
Ngủn -- cụt ngủn, ngắn ngủn, ngủn ngẳn, ngủn ngoẳn.
Nguyễn -- họ Nguyễn.
Nguỷu -- tiu nguỷu.
 
Ngữ -- ngữ học, ngữ pháp, ngữ vựng, biểu ngữ, ngạn ngữ, ngoại ngữ, ngôn ngữ, quốc ngữ, tục ngữ, từ ngữ.
Ngửa -- ngước, trở mặt lên, ngửa mặt, dựa ngửa, nằm ngửa, lội ngửa, ngã ngửa, ngang ngửa, nghiêng ngửa, sấp ngửa, té ngửa.
Ngửi -- hửi bằng mũi ngửi hoa, ngửi mùi, ngửi hôi.
Ngửng -- xem Ngẩng.
Nguởng -- ngất ngưởng, ngất nga ngất ngưởng.
Nguỡng -- ngưỡng cầu, nguỡng cửa, nguỡng mộ, ngưỡng vọng, nguỡng trông, chiêm ngưỡng, tín ngưỡng.
 
-Nh -
 
Nhả -- phun ra, nhả mồi, tầm nhả tơ, nhả ngọc phun châu; -- tróc, rớt ra, nhả hồ, nhả sơn; -- không lịch sự, chớt nhả, nhả nhớt.
Nhã -- nhã giám, nhã nhặn, nhã ý, hoà nhã, nho nhã, khiếm nhã, nhàn nhã, nhục nhã, phong nhã, tao nhã, trang nhã, Bát-Nhã.
Nhải -- lải nhải.
Nhãi -- thằng bé, thằng nhãi ranh, thằng nhãi con.
Nhảy, Nhẩy -- nhảy bậc, nhảy bổ, nhảy cà tửng, nhảy cửng, nhảy dù, nhảy dựng, nhảy đầm, nhảy mùi, nhảy nhót, nhảy nhổm, nhảy phóc, nhảy rào, nhảy sóng, bay nhảy, chạy nhảy, gà nhảy ổ, gái nhảy. nhày xổm.
Nhảm -- bậy bạ, nhảm nhí, nói nhảm, đồn nhảm, tin nhảm.
Nhản -- nhan nhản, chan nhản.
Nhãn -- con mắt, nhãn khoa, nhãn lực, nhãn quang, nhãn tiền, ám nhãn, độc nhãn; -- trái tròn, ngọc long nhãn, nhãn nhục, nhãn lồng; -- dấu hiệu dán nhãn, nhãn hiệu.
Nhãng -- quên xao nhãng (xao lãng), nhãng quên (lãng quên). (xem Lãng).
Nhảnh -- kém đứng đắn, nhỏng nhảnh, nhí nhảnh.
Nhão -- mềm, lỏng, nhão nhẹt, cơm nhão, đất nhão, nhểu nhão.
Nhảu -- cảu nhảu, lảu nhảu, nhanh nhảu (nhẩu).
 
Nhẳn -- cằn nhằn cẳn nhẳn, đau nhăn nhẳn.
Nhẵn -- mòn lẳn, tròn, nhẵn bóng, nhẵn lì, nhẵn nhụi, nhẵn thín, mòn nhẵn, hết nhẵn. (xem Lẵn).
Nhẵng -- việc còn nhùng nhẵng, dài nhằng nhẵng.
Nhẩm -- lầm thầm, đọc nhẩm, tính nhẩm, học nhẩm, lẩm nhẩm.
Nhẩn -- nhẩn nha.
Nhẫn -- cà rá nhẫn cưới, nhẫn hột xoàn; -- hơi đắng nhân nhẫn, nhẫn nhẫn; -- nhịn, dằn lòng nhẫn nại, nhẫn nhịn, nhẫn nhục, kiên nhẫn; -- nỡ lòng nhẫn tâm, tàn nhẫn, bất nhẫn
Nhẩu -- nhanh nhẩu.
 
Nhẻ -- biếm nhẻ, nhỏ nhẻ.
Nhẽ -- xem Lẽ.
Nhẽo -- nheo nhẽo, nhõng nhẽo.
Nhễ -- mồ hôi nhễ nhại.
Nhểu -- chảy từng giọt, nhểu nhão, nhểu dầu, thèm nhểu nuớc miếng.
 
Nhỉ -- tiếng hỏi đẹp nhỉ? vui nhỉ? ừ nhỉ;
Nhĩ -- lỗ tai lỗ nhĩ, màng nhĩ, mộc nhĩ.
Nhiễm -- nhuốm, vướng, nhiễm bịnh, nhiễm độc, tiêm nhiễm, ô nhiễm, truyền nhiễm, nhiễm trùng.
Nhiễn, Nhuyễn -- bột xay nhiễn, nhiễn bàn, nhiễn nhừ.
Nhiễu -- loại hàng dệt, nhiễu điều, khan nhiễu, dịu nhiễu; -- phiền, loạn nhiễu hại, nhiễu loạn, nhiễu nhương, nhiễu sự, phiền nhiễu, quấy nhiễu.
 
Nhỏ -- bé, nhỏ con, nhỏ dại, nhỏ lớn nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ nhen, nhỏ nhẹ, nhỏ nhít, nhỏ nhoi, nhỏ to, nhỏ thó, nhỏ xíu, bỏ nhỏ, nói nhỏ, xắt nhỏ, thuở nhỏ, thằng nhỏ; -- nhểu từng giọt nhỏ giọt, giọt lụy nhỏ sa, thèm nhỏ dãi.
Nhoẻn -- nhích miệng, nhoẻn miệng cười.
Nhõi -- nhiều nhõi, nhờ nhõi.
Nhõm --nhẹ nhõm.
Nhỏng -- nhỏng nha nhỏng nhảnh.
Nhõng -- nhõng nhẽo như trẻ con.
 
Nhổ -- bứng gốc nhổ cỏ, nhổ lông, nhổ mạ, nhổ neo, nhổ răng, nhổ sào, nhổ tóc, nhổ trại; -- phun, phẹt ra, nhổ cổt trầu, khạc nhổ, ống nhổ, phỉ nhổ, phun nhổ.
Nhổm -- nhớm lên, nhổm dậy, nhổm tóc gáy, nhảy nhổm, nhấp nhổm.
Nhở -- nhắc nhở, nham nhở, nhắn nhở, nhớn nhở.
Nhỡ --xem Lỡ.
Nhởn -- nhởn nhơ, nhởn nha.
Nhỡn -- xem Nhãn.
 
Nhủ -- khuyên bảo, khuyên nhủ, nhắn nhủ, nhủ thầm, tự nhủ.
Nhũ -- vú, sữa, cho bú như bò, nhũ danh, cây nhũ hương, nhũ mẫu, nũu nương, thạch nhũ.
Nhủi -- lủi tới, nhủi đầu xuống, té nhủi, trốn chui trốn nhủi, chạy nhủi, dế nhủi.
Nhủn -- mất tinh thần sợ nhủn người.
Nhũn -- không kiêu, nhũn nhặn, xử nhũn.
Nhũng -- gian dối, nhũng lạm, nhũng nhẵng, nhũng nhiễu, tham nhũng.
Nhuyễn -- mịn, mềm, bột nhuyễn, nhuyễn cốt, nhuần nhuyễn, (xem Nhiễn).
Nhử -- dụ bằng mồi, câu nhử, nhử thú, nhử quân địch.
Nhửi -- cằn nhằn cửi nhửi.
Những -- nói về số nhiều, những kẻ, những ngày, những lúc, những tưởng, chẳng những.
 
- O -
 
Oải -- oải gân, uể oải.
Ỏi -- inh ỏi, ít ỏi.
Ỏm -- la ỏm tỏi, cãi ỏm lên.
Ỏn -- ỏn ẻn.
Ỏng -- bụng ỏng.
Õng -- đi đứng õng ẹo.
Ổ -- ổ bánh mì, ổ khóa; -chỗ ở của chim, ổ chim, ổ gà, ổ kiến, ổ ong, ổ yế n, truy tận ổ bọn cướp.
Ổi -- bỉ ổi, cây ổi, trái ổi.
Ổn -- yên, êm thuận ổn định, ổn thỏa, an ổn.
Ổng -- ổng bả, ông ổng.
Ở -- ở ác, ở ẩn, ở đợ, ở dơ, ở dưới, ở đậu, ở goá ở không, ở muớn, ở trần, ở trọ, ở vậy nuôi con, ăn xổi ở thì, kẻ ở người đi.
Ỡm -- ỡm ờ.
 
- P -
 
Phả -- gia phả.
Phải -- phải biết, phải đạo, phải đấy, phải lòng, phải phép, phải trái, vừa phải; -- phía tay mặt, bên phải, tay phải, mắc phải bịnh, phải gió, phải phạt, lầm phải, mắc phải, phải nghe lời cha mẹ, phải chi tôi trúng số, phải khi ấy, thái độ ba phải. 
Phản -- chống lại, nghịch lại phản bạn, phản bội, phản chiếu, phản chủ, phản chứng, phản công, phản cung, phản đối, phản động, phản gián, phản hồi, phản kháng, phản lực, phản loạn, phản nghịch, phản pháo, phản phúc, phản quốc, phản trắc, phản ứng, phản xạ, phản biện, tương phản, bộ phản gỗ, kê phản.
Phảng -- phảng phất, lưỡi phảng.
 
Phẳng -- bằng, không lồi lõm phẳng lặng, phẳng lì, phẳng phiu, bằng phẳng sòng phẳng.
Phẩm -- màu nhuộm, phẩm đỏ, phẩm xanh, phẩm cách, phẩm chất, phẩm giá, nhân phẩm, phẩm cấp, phẩm hàm, phẩm trật, tột phẩm, phẩm loại, phẩm vật, ấn phẩm, cống phẩm, bình phẩm.
Phẩn -- cứt, phẩn bò, phẩn heo.
Phẫn -- bực tức, phẫn chí, phẫn nộ, phẫn uất, căm phẫn, công phẫn.
Phẫu -- mổ xẻ, giải phẫu, phẫu thuật.
Phẩy, phảy -- chấm phẩy, dấu phẩy, phây phẩy, phe phẩy.
Phễu -- dùng phễu rót nước vào chai hay vào lọ.
 
Phỉ -- phỉ báng, phỉ chí, phỉ dạ, phỉ lòng, phỉ nhổ, thổ phỉ.
Phỉnh -- nói khéo để gạt, phỉnh gạt, phỉnh nịnh, phỉnh phờ, nói phỉnh.
 
Phỏng -- đoán đại khái, phỏng chừng, phỏng độ, phỏng định, phỏng đoán, mô phỏng, tính phỏng, phỏng vấn, ví phỏng, da phỏng, phỏng lửa, phỏng nuớc sôi.
Phổng -- lớn phổng, tầm phổng, sướng phổng mũi.
Phỗng -- phỗng đá, thằng phỗng, phỗng tay trên, bài tổ tôm nhiều phỗng.
Phổ -- phổ biến, phổ cập, phổ độ, phổ nhạc, phổ quát, phổ thông.
Phổi -- bổ phổi, đau phổi, lao phổi, sưng phổi, phổi bò.
Phở -- phở bò, phở gà, phở tái, phở xào.
Phỡn -- phè phỡn.
 
Phủ -- bao trùm, phủ đầu, phủ lấp, bao phủ, che phủ, tuyết phủ, vây phủ, nhiễu điều phủ lấy giá gương, phủ phê, phủ đường, phủ thủ tuớng, âm phủ, địa phủ, phủ định, phủ nhận, phủ quyết; phủ phục, ngư phủ, quan tri phủ, tuần phủ, đốc phủ, phủ huyện; phủ an bá tánh, phủ dụ, ngũ tạng lục phủ .
Phũ -- phũ phàng.
Phủi -- phủi bụi, phủi ơn, phủi tay, phủi nợ trần.
Phủng -- thấu qua, lủng đâm phủng, giùi phủng.
Phuỡn -- phồng bụng ra, ăn no phưỡn bụng.
Phuởng -- hơi giống, phưởng phất.
 
- Q -
 
Quả -- hộp tròn có nắp, quả bánh, quả đồ may, quả đồ lễ, quả trầu; --trái, quả bom, quả bóng, quả cầu, quả đất, quả đấm, quả tạ, quả tim, quả có, quả nhiên, quả quyết, quả tang, quả thiệt, quả vậy; -- trái, quả dưa, hoa quả, quả báo, hậu quả, hiệu quả, kết quả, nhân quả, cô quả, quả nữ (gái chưa chồng), quả phụ (đàn bà chồng đã chết).
Quải -- giỗ quải, cúng quải.
Quảy -- gác trên vai quảy gánh, quảy hàng, quảy khăn gói lên đường.
Quản -- quản bao, quản chi, quản gì, quản ngại gian lao, chẳng quản nắng mưa, huyết quản, khí quản; -- coi sóc quản chế, quản đốc, quản gia, quản hạt, quản lý, quản thủ, quản thúc, quản trị, cai quản, chưởng quản, tổng quản.
Quảng -- tên xứ Quảng Bình, Quảng Ðông, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, quảng bá, quảng cáo, quảng đại, quảng giao, sâu quảng.
Quãng -- một khoảng, cách quãng, quãng trống, vào quãng ba giờ chiều, đi một quãng đường.
Quảu -- thúng nhỏ, rổ quảu, một quảu lúa.
Quẳng -- vứt bỏ, quang quẳng đi, quẳng xuống, quẳng vào thùng rác.
Quẩn -- loanh quanh lẩn quẩn, quanh quẩn, nghĩ quẩn, gà què ăn quẩn cối xay.
Quẫn -- nghèo túng, quẫn bách, cùng quẫn, khốn quẫn, túng quẫn, quẫn trí.
Quẩy -- mang trên vai quẩy gánh đi chợ, quẩy gói lën đường, quẩy nước tưới hoa, bánh dầu chao quẩy, xúi quẩy.
 
Quẻ -- phép bói quẻ Diệc, bói quẻ, đặt quẻ gieo quẻ, sủ quẻ, trở quẻ.
Quẽ -- quạnh quẽ.
Quở -- rầy la quở mắ ng, quở phạt, quở trách, bị quở.
 
Quỷ, Quỉ -- quỷ kế, quỷ khốc, quỷ quái, quỷ quyệt, quỷ sứ, quỷ thần, ác quỷ, đồ quỷ, ma quỷ, quỷ thuật.
Quỹ, Quĩ -- tiền công quỹ, gây quỹ, ký quỹ, nạp quỹ, ngân quỹ, sung quỹ, thủ quỹ, quỹ đạo.
Quyển -- quyển sách, quyển vở, tiếng kèn tiếng quyển, té gãy ống quyển.
 
- R -
 
Rả -- cuời ra rả, rả rich, mưa rỉ rả.
Rã -- rời nhau ra, mỏi mệt rã bèn, rã bọt mép, rã đám, rã họng, rã rời, rã sòng, rã thây, tan rã, mỏi rã chân, kêu rã họng, đói rã ruột, rã rượi, ròng rã, rộn rã.
Rải -- phân ra nhiều nơi, rải của, rải rác, rải truyền đơn.
Rãi -- chậm rãi, rộng rãi, rỗi rãi.
Rảy --vung tóe ra rảy mực, rảy nước, búng rảy, phủi rảy.
Rẩy -- run rẩy
Rẫy -- đất trồng tỉa rẫy bái, đất rẫy, làm rẫy, ruộng rẫy; -- bỏ, rẫy vợ, rẫy chồ ng, ruồng rẫy, phụ rẫy.
 
Rảng -- lớn tiếng rang rảng, rổn rảng; -- bớt, giảm lần mây rảng, mua dã rảng.
Rảnh -- ở không, rảnh mắt, rảnh nợ, rảnh rang, rảnh rỗi, rảnh tay, rảnh việc, rảnh trí, giờ rảnh.
Rãnh -- đường thoát nước mương rãnh, cống rãnh đào rãnh, khai rãnh.
Rảo -- bước mau rảo buớc, rảo phố, rảo quanh, chạy rảo.
Rẩm -- rên rẩm.
Rẫm -- lẫm rẫm, rà rẫm, rờ rẫm.
 
Rẻ -- khõng đắt tiền, rẻ mạt, rẻ rề, rẻ thúi, bán rẻ, của rẻ, giá rẻ; khinh khi, coi rẻ, khinh rẻ, rẻ rúng, chim rẻ quạt.
Rẽ -- chia, tách ra, rẽ duyên, rẽ đường ngôi, rẽ ròi, rẽ thúy chia uyên, chia rẽ, con đường rẽ, rành rẽ, riêng rẽ, cái rỏ rẽ, tàu rẽ sóng, rẽ tay trái.
Rể -- chồng con gái mình, con rể, cô dâu chú rể, chàng rể, kén rể, làm rể, ở rể, phù rể.
Rễ -- rễ cây, rễ cái, rễ con, rễ chùm, bén rễ, cội rễ, đâm rễ, gốc rễ, mọc rễ.
Rểu -- qua lại chạy rểu, đi rểu, thua rểu, rểu qua rểu lại.
 
Rỉ -- mưa rỉ rả, chảy ri rỉ, rỉ hơi, rên rỉ, rỉ tai, rủ rỉ, sắt rỉ, rỉ sét.
Rĩ -- rầu rĩ, rền rĩ, rầm rĩ.
Rỉa -- rứt từng miếng, rỉa ráy, rỉa rói, rúc rỉa, cá rỉa mồi, chim rỉa lông.
Rỉnh -- bụng binh rỉnh.
 
Rỏ -- thèm rỏ dãi, cái rỏ rẽ (róc rách).
Rõ -- minh bạch, tỏ rõ ràng, rõ rệt, tỏ rõ, hiểu rõ, nghe rõ, thấy rõ, rõ khéo, hai năm rõ mười.
Rỏi -- rắn rỏi.
Rõi -- rõi bước.
Rỏm -- cỏm rỏm.
Rỏn -- đi rỏn, tuần rỏn.
Rỗng -- không có ruột, rỗng không, rỗng ruột, rỗng tuếch rỗng toác, trống rỗng, thùng rỗng kêu to.
Rổ -- rổ may, rổ quảu, rổ rá, rổ xúc, cải rổ, chơi bóng rổ, thúng rổ.
Rỗ -- lỗ thẹo, mặt rỗ chằng, rỗ hoa mè, gót rỗ.
Rổi -- đi rổi, ghe rổi, phường rổi.
Rỗi -- ít việc phải làm rỗi hơi, rỗi rãi, nhàn rỗi, rảnh rỗi, ngồi rỗi; -- xin cho khỏi tội rỗi tội, rỗi xin, cứu rỗi, tâu rỗi, tiêu rỗi.
Rổn -- tiếng khua chén đĩa khua rổn rảng, ăn nói rổn rảng.
Rỡ -- rỡ danh, rỡ mặt rỡ mày, rỡ ràng, càn rỡ, mừng rỡ, rạng rỡ, rực rỡ, sáng rỡ.
Rởm -- lố lăng ăn mặc rởm, hàng rởm, đài các rởm, bọn rởm đời, tính rởm, trò rởm.
Rởn -- sợ rởn tóc gáy, rởn gai ốc.
Rỡn -- không nghiêm, nói cà rỡn, ơhoi cà rỡn.
 
Rủ -- bảo theo, rủ nhau, rủ ren, rủ rê, rủ rỉ, quyến rủ.
Rũ -- lả xuống vì kiệt sức, rũ rượi, rũ liệt, cờ rũ, ủ rũ, già rũ, héo rũ, rũ xuống;-- (Dũ) rũ sạch lo âu, rũ sạch nợ đời.
Rủa -- nguyền rủa, rủa độc, rủa thầm, rủa sả.
Rủi -- không may, rủi ro, rủi tay, gặp rủi, may rủi, phận rủi, cuộc đời dun rủi, may ít rủi nhiều, một may một rủi.
Ruổi -- ruổi ngựa đuổi theo, ruổi mau, giong ruổi.
Rủn -- mềm, rủn chí, sợ rủn người, bủn rủn, mềm rủn.
Ruỗng -- rỗng bên trong, ruỗng nát, đục ruỗng, ruỗng xương, mọt ăn ruỗng gỗ.
Rửa -- làm cho sạch, rửa hận, rửa hờn, rửa hình, rửa mặt, rửa ráy, rửa tay, gột rửa, phép rửa tội, tắm rửa.
Rữa -- rã, vữa, tàn héo chín rữa, thúi rữa, úa rữa, hoa tàn nhụy rữa.
Ruởi -- trăm ruởi, ngàn rưởi, cân rưởi.
 
Chữ rủ trong quyến rủ viết dấu hỏi, vì chữ rủ nầy có nghĩa rủ rê, rủ ren, dụ dỗ đến với mình. Chữ rũ dấu ngã có nghĩa rũ ruợi, mệt mỏi, kiệt sức, không đồng theo nghĩa dụ dỗ, rủ ren của quyến rủ.
 
GHI CHÚ - VỀ CHỮ " RƯỠI" Việt Nam Tự Ðiển (Lê văn Ðức), quyển Hạ, trang 1258, ghi: * RƯỞI phân nửa của số trăm, số ngàn sắp lên (muôn rưởi, ngàn rưởi, triệu rưởi) * RƯỠI nửa phần của một số dưới số trăm, hay của một đơn vị có kể tên (cắc rưỡi, cân rưỡi, chỉ rưỡi)
 
Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị (Lê ngọc Trụ ), trang 385 ghi: * RƯỞI phân nửa, số trên một trăm ( ngàn rưởi, trăm rưởi, thiên rưởi) * RƯỠI (dùng với danh từ) nửa phần (cắc rưỡi , cân rưỡi, chục rưỡi, đồng rưỡi).
 
Ví dụ nói: 2 Ngàn ruởi, là 2 Ngàn + Nửa Ngàn.
3 Chỉ ruỡi, là Ba Chỉ + Nửa Chỉ.
5 Ngày ruỡi, là 5 Ngày + Nửa Ngày. 1 triệu ruỡi, là 1 triệu + Nửa triệu.
 
Như vậy thì Ruỡi của Một Triệu, hay của Một Ngày, của Một Chỉ, hay của Một trăm, Một Ngàn, đều mang một nghĩa duy nhất là phân nửa của đơn vị ấy được thêm vào số lượng đơn vị đang có.
 
Tỷ lệ của Rưỡi đối với Ðơn vị luôn luôn là NỬA PHẦN của đơn vị, đơn vị đó là Một chỉ, Một ngày, Một cân, Một trăm, Một ngàn, hay Một triệu, thì Rưỡi vẫn là nửa phần của đơn - vị ấy.
 
Ngoài ra, theo Luật Hỏi Ngã thì Rưỡi là Tiếng Nôm có Gốc Hán là chữ BÁN. Chữ Hán BÁN có nghia là Phân nửa. Thí dụ:
 
Ba ngày rưỡi, chữ Hán nói: Tam nhật bán. Năm giờ rưỡi, nói: Ngũ điểm bán. Hai chỉ rưỡi, nói: Nhị tiền bán. Bốn luợng rưỡi, nói: Tứ lượng bán. Sáu cân rưỡi, nói: Lục cân bán.
 
- S -
 
Sả -- cỏ lá dài mùi thơm, bụi sả, củ sả, dầu sả, lá sả, muối sả ớt, sả làm hai, sả thịt, bổ sả ra, chém sả.
Sã -- suồng sã, sòng sã.
Sải -- lội sải, ngựa sải, té nằm sải tay, dài hai ba sải.
Sãi -- sư ông, thầy sãi, sãi vãi, lắm sãi không ai đóng cửa chùa.
Sảy -- mụt nhỏ, ngứa nổi trên da mọc sảy, em bé nổi sảy, rôm sảy, sảy cắn, cái sảy nảy cái ung, sảy gạo, sảy thóc, sàng sảy, gằn sảy.
Sản -- sản lượng, sản ngạch, sản nghiệp, sản phẩm, sản xuất, bất động sản, di sản, điền sản, động sản, gia sản, hằng sản, khoáng sản, lâm sản, sự sản, tài sản, thổ sản, tán gia bại sản, sản dục, sản hậu, sản khoa, sản phụ, sinh sản, tiểu sản.
Sảng -- sợ, mê man sảng kinh, mê sảng, sảng sốt, nói sảng, sảng khoái, thanh sảng; giọng sang sảng.
Sảnh -- nhà lớn, thị sảnh, sảnh đ ường.
Sảo -- sảo thai, sắc sảo, rổ sảo.
Sẵn -- có thể xử d ụng ngay, sẵn bày, sẵn dịp, sẵn lòng, sẵn rồi, sẵn sàng, sẵn trớn, để sẵn, sắm sẵn.
Sẩm -- trời sẩm, sẩm tối, á sẩm.
Sẫm -- màu sắc đậm, thẫm sẫm d a, đen sẫm, đỏ sẫm, màu sẫm, tím sẫm, sờ sẫm (rờ rẫm).
Sẩy -- vuột, thoát, hụt, sẩy chân, sẩy cha còn chú, sẩy tay, sẩy thai, s ơ sẩy, sẩy đàn tan nghé, sẩy lời khó chữa, sẩy nẩy cái ung.
Sẩu -- bực, thối chí sẩu mình, sẩu gan.
 
Sẻ -- sẻ áo chia c ơm, bắn sẻ, chia sẻ, chim sẻ, san sẻ, tra con sẻ (tra chốt bằng gỗ).
Sẽ -- chỉ việc sắp đến, sẽ biết, sẽ hay, sẽ liệu, sẽ làm, sẽ thấy, sẽ thức lắm, đi sẽ chân, nói se sẽ chút, làm sẽ tay, giơ cao đánh sẽ, sẽ lén, sạch sẽ.
Sẻn -- hà tiện, ăn sẻn, bỏn sẻn, dè sẻn, tiêu sẻn.
Sể -- chổi sể, lông mày chổi sể.
 
Sỉ -- buôn bán lớn mua sỉ bán lẻ, giá sỉ; sỉ nhục, sỉ vả, liêm sỉ, quốc sỉ.
Sĩ -- học trò, người có tài sĩ khí, sĩ phu, sĩ tử, ẩn sĩ, bác sĩ, chí sĩ, cư sĩ, đạo sĩ, hàn sĩ, học sĩ, nghĩa sĩ, nghệ sĩ, nữ sĩ, thi sĩ, tiến sĩ, trí sĩ, văn sĩ; sĩ quan, binh sĩ, chiến sĩ, hạ sĩ, quân sĩ, tuớng sĩ, sĩ nông công thương.
Siểm -- nịnh hót siểm nịnh, gièm siểm.
 
Sỏ -- đầu sỏ, sừng sỏ, trùm sỏ.
Sỏi – đá nhỏ, sỏi đá, đất sỏi, sạn sỏi, sành sỏi.
Sõi – khoẻ mạnh, nói sõi, ông già còn sõi, người bịnh đã sõi, có vẻ sõi đời lắm.
Sổ -- sách để biên chép, sổ bộ , sổ sách, sổ tay, biên sổ, ghi sổ, khóa sổ, tính sổ, xét sổ, sổ dọc, sổ toẹt, nét sổ, tuột sổ đầu tóc, chim sổ lồng, sổ mũi, sổ sữa, cửa sổ, sút sổ.
Sỗ -- không giữ lễ phép, sỗ sàng.
Sổng -- chạy thoát, gà chạy sổng, tù sổng.
Sở -- sở cầu, sở cậy, sở dĩ, sở đắc, sở đoản, sở hữu, sở nguyện, sở tại, sở tổn, sở thích, sở truờng, khổ sở, Sở-Khanh, đầu Ngô mình Sở, sở làm, công sở, cơ sở, hội sở, trú sở, trụ sở, xứ sở, sở đất, sở ruộng, sở vuờn.
Sỡ -- sặc sỡ, sàm sỡ.
Sởi -- bịnh hay lây, bịnh sởi, lên sởi.
Sởn -- em bé sởn sơ, sởn tóc gáy, sởn gai ốc.
 
Sủ -- cá sủ.
Sủa -- chó sủa, sáng sủa.
Sủi -- sôi bọt nhỏ sủi bọt, sủi tăm.
Sủng -- chỗ khuyết lỗ sủng, đường sủng; đắc sủng, thất sủng, sủng ái, ân sủng.
Sũng -- đẫm nước ướt sũng, sũng nuớc.
Suyển -- lòng tin không suy suyển.
Suyễn -- tên bịnh hen hen suyễn, khí suyễn, lën cơn suyễn.
 
Sử -- sử đại, sử dụ ng (xử dụng) sử luợc, sử quan, sử sách, sử xanh, bí sử, dã sử, giả sử, hành sử, kinh sử, lịch sử, ngự sử, quốc sử, thứ sử, thanh sử, tình sử, tiểu sử, sử liệu.
Sửa -- làm lại, chữa lại sửa chữa, sửa dạy, sửa đổi sửa lại, sửa lưng, sửa phạt sửa sai, sửa sang, sắp sửa, sửa soạn, sắm sửa.
Sữa -- sữa bột, sữa bò, sữa dê, sữa mẹ, sữa tươi, bơ sữa, bánh sữa, mọc răng sữa, cây vú sữa, sữa đậu nành, miệng còn hôi sữa.
Sửng -- kinh ngạc, sửng sốt, sửng sờ, ngó sửng, chết sửng.
Sững -- sừng sữn g, đứng sững lại, nhìn sững, xe đứng sững, sững sờ.
Suởi -- hơ cho ấm, đốt sưởi, sưởi ấm, máy sưởi, lò sưởi.
Sửu -- vị thứ nhì của 12 Ðịa Chi, năm Sửu, tuổi Sửu, giờ Sửu.
 
- T -
 
Tả -- bịnh tiêu chảy, dịch tả, đi tả, tả dược, ẩu tả, tả lỵ, thổ tả; -- bên trái, tả ban, tả biên, tả dực, tả dảng, tả hữu, tả phái, tả khuynh, tả ngạn, cánh tả, tả xung hữu đột; -- bày tỏ ra, tả chân, mô tả, diễn tả, miêu tả, tả cảnh; -- rách, rời tả tơi, lả tả.
Tã -- vải quấn trẻ con, tã lót, giẻ tã, quấn tã, m ưa tầm tã.
Tải -- chở, tải lượng, tải thương, áp tải, trọng tải, vận tải.
Tản -- di chuyển, tản bộ, tản c ư, tản lạc, tản mác, di tản, nhàn tản, tản văn, Tản-Ðà.
Tảng -- tảng đá, tảng lờ, tảng sáng nền tảng.
Tảo -- tảo hôn, tảo mộ, tảo trừ, tảo thanh, buôn tảo bán tần, chinh Nam tảo Bắc.
Tẳn -- tẳn mẳn tỉ mỉ.
Tẩm -- ngâm cho thấm, tẩm bổ, tẩm dầu, tẩm giấm, tẩm muối, tẩm rượu, tẩm nhiễm, tẩm cung, tẩm diện, tẩm miếu, lăng tẩm.
Tẩn -- để tử thi vào hòm tẩn liệm, quàn tẩn; tẩn mẩn.
Tẩu -- chạy, trốn, tẩu tán, tẩu thoát, bôn tẩu, đào tẩu, hát bài tẩu mã; -- chị dâu, đại tẩu, tẩu tẩu.
Tẩy -- tẩy chay, tẩy não, tẩy trần, tẩy trừ, tẩy uế, tẩy xoá, tẩy vết mực, bôi tẩy, lộ tẩy, lật tẩy, thuốc tẩy.
 
Tẻ -- gạo ít dẻo, gạo tẻ, bột tẻ, nếp tẻ; -- buồn, vắng vẻ tẻ lạnh, tẻ ngắt, tẻ nhạt, tẻ vắng, buồn tẻ , lẻ tẻ, tém tẻ.
Tẽ -- tách ra, làm rời ra tẽ bắp, tẽ đậu, tẽ bột, phân tẽ, tẽ ra, tách tẽ.
Tẽn -- thẹn, mắc cỡ tẽn tò, tẽn mặt.
Tẻo -- ít lắm, nhỏ lắm, chút tẻo, bé tẻo teo.
Tể -- tể tướng, chúa tể, dao tể, đồ tể, thái tể.
Tễ -- thuốc huờn đông y, duợc tễ, uống thuốc tễ.
Tễnh -- đi tập tễnh.
 
Tỉ -- tỉ dụ, tỉ lệ, tỉ mỉ, tỉ muội, tỉ nh ư, tỉ phú, tỉ số, tỉ tê, tỉ thí, tỉ trọ ng, tỉ võ, hiền tỉ, ngọc tỉ, nói giả tỉ, say bí tỉ, một tỉ (1,000 triệu).
Tỉa -- cắt bớt tỉa bớt, tỉa cây, tỉa gọt, tỉa lá, tỉa nhánh, tỉa râu, chặt tỉa, hớt tỉa, trồng tỉa.
Tiễn -- đưa lên đường tiễn biệt, tiễn chân, tiễn đưa, tiễn hành, tiễn khách, cung tiễn, hoả tiễn, lịnh tiễn.
Tiểu -- tiểu ban (subcommittee), tiểu bang (state), tiểu dẫn, tiểu công nghệ, tiểu đoàn, tiểu đệ, tiểu đội, tiểu đồng, tiểu học, tiểu khu, tiểu liên, tiểu luận, tiểu nhân, tiểu quỷ, tiểu sản, tiểu sử, tiểu tâm, tiểu tiết, tiểu tổ, tiểu yêu, tiểu tư sản, tiểu thuyết, tiểu thừa, tiểu thơ, tiểu thương, tiểu xảo, chú tiểu, cực tiểu, gạch tiểu, nhuợc tiểu, nước tiểu.
Tiễu -- dẹp, trừ, tiễu trừ, tuần tiễu.
Tiũ -- tục tiũ.
Tỉm -- cuời tủm tỉm.
Tĩn -- tĩn nước mắm.
Tỉnh -- không say, không mê, hiểu rõ tỉnh bơ, tỉnh dậy, tỉnh giấc, tỉnh hồn, tỉnh lại, tỉnh mộng, tỉnh ngộ, tỉnh ngủ, tỉnh táo, bừng tỉnh, cảnh tỉnh, chợt tỉnh, định tỉnh, lai tỉnh, làm tỉnh, sực tỉnh, thức tỉnh, tu tỉnh, dở tỉnh dở say, tỉnh bộ, tỉnh đường, tỉnh lỵ, tỉnh thành, tỉnh trưởng, tỉnh ủy, chủ tỉnh, hàng tỉnh.
Tĩnh -- yên ổn, im lặng, tĩnh mạch, tĩnh mịch, tĩnh tãm, tĩnh tọa, bînh tĩnh, điềm tĩnh, động tĩnh, thanh tĩnh , yën tĩnh.
 
Tỏ -- bày ra, sáng rõ, tỏ bày, tỏ dấu, tỏ lòng, tỏ phân, tỏ ra, tỏ rạ ng, tỏ rõ, tỏ thiệt, tỏ tình, tỏ vẻ, tỏ ý, chứ ng tỏ, mắt còn tỏ, sáng tỏ, trang tỏ.
Toả -- tủa ra, toả ánh sáng, toả khói, toả nhiệt, toả ra, bế quan toả cảng, cương toả, giải toả, phong toả, kiềm toả.
Tỏi -- củ tỏi, nói hành nói tỏi, ỏm tỏi.
Tõm -- rơi tõm xuống nước
Tỏn -- lỏn tỏn, tỏn mỏn.
Tổ -- ổ của chim, tổ ấm, tổ chim, tổ chuột, tổ ong, bánh tổ ; -- tổ bố, tổ cha, tổ phụ, tổ sư, tổ tiên, tổ tông, tổ truyền, tổ quốc, cúng tổ, đất tổ, giỗ tổ, Phật tổ, thủy tổ, bài tổ tôm, tổ chức, tổ hợp, tổ truởng, cải tổ.
Tổn -- tốn, hao mòn, tổn đức, tổn hại, tổn phí, tổn thất, tổn thọ, lao tổn, tổn thương, hao tổn.
Tổng -- nguời cai quản tổng binh, tổng đốc, tổng quản, tổng tài, tổng thống, tổng trưởng, cai tổng, làng tổng; chánh tổng, tổng cộng, tổng đâi, tổng hành dinh, tổng hội, tổng hợp, tổng kết, tổng khởi nghỉa, tổng luận, tổng nha, tổng quát, tổng số, tổng tắc, tổng bãi công, tổng đình cõng, tổng động viên, tổng giám đốc, tổng lãnh sự, tổng tuyển cử, tổng thư ký.
Tở -- tở mở.
Tởm -- ghê tởm, kinh tởm, thấy phát tởm.
Tởn -- chừa, khiếp sợ tởn, tởn mặt, tởn ki nh, chưa tởn, một lần tởn tới già.
 
Tủ -- tủ áo, tủ kiếng, tủ lạnh, tủ sách, tủ sắt, tủ thuốc, hộc tủ, ngăn tủ, trúng tủ; --che khuất tủ lại bằng chiếu, tủ lại bằng rơm.
Tủa -- toả ra, phân ra tủa ra, chạy tủa ra, râu mọc tua tủa, tên bắn ra tua tủa.
Tuẫn -- chết vì việc gì, tuẫn đạo, tuẫn nạn, tuẫn tiết.
Tủi -- đau buồn riêng tủi duyên, tủi hổ, tủi lòng tủi nhục, tủi phận, tủi thân, tủi thầm, tủi thẹn, buồn tủi, sầu tủi.
Tuổi --tuổi cao, tuổi già, tuổi hạc, tuổi tác, tuổi thọ, tuổi trẻ, tuổi xanh, coi tuổi, đứng tuổi, luống tuổi, quá tuổi, vàng y đủ tuổi.
Tuỷ -- nuớc ở giữa xương, cốt tủy, não tủy, xương tủy.
Tuyển -- lựa chọn tuyển binh, tuyển chọn, tuyển cử, tuyển dụng, tuyển lựa, tuyển mộ, tuyển tập, tuyển thủ, trúng tuyển.
Tủm -- cuời tủm tỉm.
Tũm -- xem Tõm.
Tủn -- vụn vặt nhỏ mọn tủn mủn tẳn mẳn.
 
Tử -- con, tử cung, tử tôn, tử tức, công tử, dưỡng tử, mẫu tử, nam tử, nghĩa tử, nương tử, tặc tử, thái tử, thần tử, trưởng tử, Tử Cống, Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, quân tử, sĩ tử, tài tử, phàm phu tục tử; --tuớc quan phong tuớc Tử (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam) – chết, tử biệt, tử chiến, tử địa, tử hình, tử khí, tử nạn, tử sĩ, tử táng, tử thần, tử thi, tử thủ, tử thương, tử thù, tử tiết, tử tội, tử trận, tử tù, tử vong, sanh tử, tự tử, xử tử, yểu tử, con nhà tử tế, số tử vi.
Tửa -- giòi mới sanh giòi tửa.
Tửng -- tửng nhà, chú tửng.
Tuởi -- tất tưởi, tức tưởi.
Tuởng -- nghi rằng, tưởng bở, tưởng chừng, tưởng là, đừng tuởng, thiết tưởng, trộm tưởng; -- nghĩ ngợi về, tuởng nhớ, tưởng niệm, tuởng tới, tưởng tượng, hoài  tưởng, mặc tưởng, mộng tuởng, mơ tuởng, suy tưởng, thương tưởng, tư tưởng, vọng tưởng; -- khen ngợi, tuởng lệ, tưởng lục, tưởng thưởng.
Tửu -- rượu tửu bảo, tửu điếm, tửu gia, tửu hứng, tửu lầu, tửu lực tửu lượng, tửu quán, tửu sắc, ẩm tửu.
Tỷ xem Tỉ.

- Th -
 
Thà -- buông ra, thả bom, thả buồm, thả cửa, thả diều, thả dân, thả đòn tay, thả lỏng, thả neo, thả ra, thả rểu, thả rông, thả trôi, buông thả, cẩu thả, thong thả, thư thả .
Thải -- thải hồi, thải phường, cõng thải, đào thải, phế thải, sa thải.
Thãi -- thừa thãi (chữ THÃI nầy là tiếng đệm của THỪA nên viết dấu Ngã, đừng lộn với THẢI là tiếng chánh viết dấu Hỏi).
Thảy -- tất cả, cả thảy, hết thảy; -- ném, vứt, quăng thảy banh, thảy lỗ lạc, thảy xuống ao.
Thảm -- đau đớn, đáng thương, thảm bại, thảm cảnh, thảm đạm, thảm độc, thảm hại, thảm họa, thảm kịch, thảm khốc, thảm lắm, thảm não, thảm sát, thảm sầu, thảm thiết, thảm thương, thả m trạng, bi thảm, thê thảm, trông thảm quá, gió thảm mưa sầu; -- tấm khảm lót, thảm cỏ xanh, trải thảm.
Thản -- như khõ g có gì xảy ra, thản nhiên, bình thản.
Thảng -- thảng hoặc, thảng thốt.
Thảnh -- thảnh thơi, thảnh thót.
Thảo -- có lòng tốt, thả oan, thảo ngay, hiếu thảo, lòng thảo, thơm thảo, thuận thảo, dâu hiền rể thảo, mời dùng lấy thảo, thảo một bài diễn văn, bản thảo, dự thảo, khởi thảo, thảo luận; thảo am, thảo dã, thảo dược, thảo lư, thảo mộc, thảo xá, cam thảo, thảo cầm viên, vườn bách thảo, quần thảo, hội thảo, thểu thảo, thảo nào, hiếu thảo!
 
Thẳm -- sâu hay xa lắm, sâu thẳm, xa thẳm, biển thẳm, hang thẳm, tham thẳm, vực thẳm, rừng thẳm.
Thẩm -- khảo xét kỹ, xử thẩm cứu, thẩm định, thẩm lượng, thẩm phán, thẩm quyền, thẩm tra, thẩm vấn, bồi thẩm, phúc thẩm, sơ thẩm, thượng thẩm; thẩm mỹ.
Thẫm -- đậm, sậm đỏ thẫm, xanh thẫm.
Thẳng – ngay, thẳng băng, thẳng bon, thẳng cánh, thẳng cẳng, thẳng đứng, thẳng giấc, thẳng góc, thẳng óng, thẳng tánh thẳng tay, thẳng tắp, thẳng thắn, thẳng thét, thẳng thớm, thẳng thừng, bằng thẳng, căng thẳng, ngay thẳng, thủng thẳng; - thằng ấy (nói tắt) thẳng và cỏn.
Thẩn -- thơ thẩn, lẩn thẩn.
Thẫn -- thẫn thờ.
Thẩu -- nhựa nha phiến, cây thẩu, trái thẩu.
 
Thẻ -- thẻ căn cước, thẻ cử tri, thẻ ngà, cắm thẻ, đeo thẻ, đường thẻ, ngậm thẻ, phát thẻ, thỏ thẻ.
Thẻo -- cắt từng miếng một, thẻo đất, thắt thẻo, thẻo một miếng thịt.
Thể -- tánh chấ,t thể đặc, thể hơi, th ể lỏ ng; -- thể ấy, thể chất, thể chế, thể diện, thể dục, thể hiện thể lệ, thể nào, thể tất, thể tích, thể tình, thể thao, thể theo, thể thống, thể thức, thể xác, chánh thể, có thể, cụ thể, được thể, luôn thể, không thể, như thể, quốc thể, sự thể, tập thể, tiện thể, thân thể, toàn thể, hồn bất phụ thể.
Thểu -- thất tha thất thểu.
 
Thỉ -- thủ thỉ.
Thiểm -- tiếng xưng, thiểm chức, thiểm nha, thiểm tòa, thiểm ty.
Thiển -- cạn, hẹp, ngắn, thiển cận, thiển ý, thiển kiến, thô thiển, tài sơ trí thiển.
Thiểu -- buồn khổ, thiểu não; thiểu số, đa thiểu, giảm thiểu, tối thiểu.
Thỉu -- bẩn thỉu, thiu thỉu ngủ, buồn thỉu buồn thiu.
Thỉnh -- thỉnh an, thỉnh cầu, thỉnh kinh, thỉnh mời, thỉnh nguyện, cung thỉnh, thỉnh thoảng, thủng thỉnh.
 
Thỏ -- thỏ thẻ, nhát như thỏ đế, con thỏ.
Thoả -- vừa ý, thích, thoả chí, thoả dạ, thoả đáng, thoả hiệp, thoả lòng, thoả mãn, thoả nguyện, thoả thích, thoả thuận, thoả ước, ổn thoả.
Thoã -- đĩ thoã.
Thoải -- thoải mái, đường đi thoai thoải.
Thoảng -- bay lướt qua, thoảng mùi hương, gió thoảng, thỉnh thoảng, thoang thoảng.
Thỏi -- thẻo, miếng dài, thỏi đồng, thỏi sắt, thỏi đất, thỏi phấn.
Thỏm -- thấp thỏm.
Thỏn -- hơi nhọn mặt thỏn, cằm thỏn, thon thỏn, thỏn mỏn.
Thõng -- buông thẳng xuống, tóc buông thõng sau lưng, ngồi bỏ thõng chân.
Thổ -- nhà chứa điếm, nhà thổ, chứa thổ, dân Thổ (thuợng du miền Bắc), nguời Đàn Th ổ (Cam Bốt) -- thổ công, thổ cư, thổ dân, thổ địa, thổ ngữ, thổ phỉ, thổ sản, thổ thần, sao Thổ Tinh, thổ trạch, bổn thổ, điền thổ, độn thổ, động thổ, hạ thổ, phong thổ, thủy thổ, thổ huyết, thổ tả, ẩu thổ, thổ lộ, xe thổ mộ.
Thổi -- thổi bễ, thổi bong bóng, thổi còi, thổi cơm, thổi kèn, thổi lửa, thổi phồng, thổi sáo, thổi xôi, cóc thổi, gió thổi.
Thổn -- thổn thức.
Thở -- đưa hơi ra vào, thở dài, thở dốc, thở hắt, thở phào, thở ra, thở than, thở hồng hộc, nín thở, thở hổn hển, tắt thở, làm không kịp thở, hồ Than Thở.
 
Thủ -- tay, cầm giữ, đầu, thủ bút, thủ cấp, thủ cựu, thủ công, thủ đoạn, thủ đô, thủ  hạ, thủ hiến, thủ khoa, thủ lãnh, thủ lễ, thủ môn, thủ phạm, thủ phủ, thủ quỹ, thủ thành, thủ thuật, thủ tiết, thủ tín, thủ trại, thủ truởng, thủ túc, thủ tuớng, bảo thủ, chấp thủ, cố thủ, đấu thủ, địch thủ, độc thủ, động thủ, hạ thủ, nguyên thủ, pháo thủ, phật thủ, phòng thủ, thủy thủ, thế thủ, trấn thủ, nói thủ thỉ, xảo thủ.
Thủa -- xem Thuở.
Thuẫn -- hình thuẫn, bánh thuẫn, diều thuẫn, nón thuẫn, mâu thuẫn, hậu thuẫn.
Thủi -- thui thủi, lủi thủi, đen thủi đen thui.
Thủm -- mùi hôi thúi, mùi thum thủm.
Thủng -- lủng, rách chọc thủng, đâm thủng, lỗ thủng, thâm thủng, trống thủng khó hàn, thủng thỉnh, thủng thẳng,
Thũng -- lõm xuống, thũng xuống; -- bịnh phù đã phát thũng,
Thuổng -- cái xuổng, cuốc thuổng, cuốc xuổng.
Thuở -- lúc ấy, thuở ấy, thuở nào, thuở nay, thuở trước, thuở xưa, đời thuở nào, từ  thuở, ăn theo thuở ở theo thì, ngàn năm một thuở.
Thuỷ -- nước, thuỷ binh, thuỷ cầm, thuỷ chiến, thuỷ đạo, thuỷ điện thuỷ đỉn h, thuỷ hoả, thuỷ lôi, thuỷ lợi, thuỷ lưu, thuỷ mạc, thuỷ nạn, thuỷ nông, thuỷ ngân, thuỷ quân, thuỷ sản, thuỷ tạ, thuỷ tai, thuỷ thổ, thuỷ thủ, thuỷ thung, thuỷ tiên, thuỷ tinh, thuỷ tộc, thuỷ triều, thuỷ vận, dẫn thuỷ, đường thuỷ, hồng thuỷ, phong thuỷ, sơn thuỷ, kiếng tráng thuỷ, ống thuỷ lấy thuỷ bịnh nhân, khởi thuỷ, thuỷ tổ, thoạt kỳ thuỷ, thuỷ chung; Tần Thuỷ Hoàng.
Thử -- uớm xem, thử áo, thử coi, thử lòng, thử lửa, thử máu, thử nghiệm, thử sức, thử tài, thử thách, thử vàng, thử xem, thử ý, ăn thử, hỏi thử, ướm thử, ví thử, cảm thử, trúng thử, hàn thử biể u.
Thửa -- sở, khu, thửa đất, thửa ruộng.
Thuởng – cho, để ban khen, thưởng công, thưởng phạt, thưởng tiền, ban thưởng, được thưởng, hậu thưởng, lãnh thưởng, phát thưởng, phần thưởng, phong thưởng, trọng thưởng, tưởng thưởng; thưởng hoa, thưởng lãm, thưởng ngoạn, thưởng thức, thưởng xuân.
 
- Tr -
 
Trả -- hoàn lại, đáp lại, trả bài, trả đũa, trả lại, trả lễ, trả miếng, trả nợ, trả oán, trả  ơn, trả tiền, trả treo, vay trả, trả giá, trả lên, trả xuống, trả rẻ rề.
Trã -- nồi đất rộng miệng, trã xõi, trã thịt kho.
Trải -- từng biết qua, trải mọi đời, từng trải, trải gió dầm mưa, trải qua thử thách, trải chiếu, trải thảm; trang trải, trống trải.
Trãi -- Nguyễn Trãi.
Trảm – ch ém. trảm quyết, xử trảm, trảm thảo trừ căn, tiền trảm hậu tấu.
Trảng -- chỗ trống lớn, trảng cát, đồng trảng, trảng nắng; Trảng Bàng.
Trảo -- móng vuốt c ây ngũ trảo.
Trẫm -- tiếng vua tự xưng.
Trẩy -- đông người cùng đi trẩy hội, trẩy thuyền.
 
Trẻ -- còn nhỏ tuổi, trẻ con, trẻ dại, trẻ em, trẻ mang, trẻ nít, trẻ nhỏ, trẻ th ơ, tr ẻ trung, trai trẻ, già trẻ bé lớn.
Trẽn -- ngượng, xấu hổ, trơ trẽn, trẽn mặt.
Trẻo -- trắng trẻo, trong trẻo.
Trễ -- chậm, không kịp, trễ giờ, trễ nải, bê trễ, chậm trễ, đến trễ, ghe đi trễ, trễ cá, trễ tôm; trễ xuống, mặc quần trễ rốn.
Trển -- trên ấy ở trển, lên trển.
 
Trĩ -- ấu trĩ, ấu trĩ viện, chim trĩ; bịnh trĩ.
Triển -- triển hạn, triển khai, triển lãm, triển vọng, phát triển, tiến triển.
Trỉnh -- rít dầu, rít mỡ trỉnh dầu, gà trỉnh đít.
Trĩnh -- tròn trĩnh.
Trĩu -- nặng trì xuống gánh nặng trĩu vai, trĩu nặng ưu phiền.
 
Trỏ -- lấy tay chỉ ngón tay trỏ, trỏ lối.
Trõm -- lõm vào vì ốm mắt trõm l ơ.
Trỏng -- trong ấy ở trỏng.
Trổng -- không chỉ rõ ai kêu trổng, nói trổng, chơi đáng trổng.
Trổ -- thông, xuyên qua trổ đường mòn, trổ đường nước, cây trổ bông, trổ lá, chuối trổ buồng, da trổ đồi mồi, trổ chứng, trổ tài, trổ tật. trổ cửa, chạm trổ, trộm trổ nóc nhà.
Trỗ -- phai màu áo, đã trỗ màu.
Trổi -- vuợt, cất lên trổi hơn, trổi nhất, trổi tiếng đàn, trổi giọng.
Trở -- biến ra thế khác trở bịnh, trở chứng, trở gót, trở lại, trở lực, trở mặt, trở mình, trở mùi, trở nên, trở ngại, trở quẻ, trở ra, trở vô, trở tay không kịp, trở trời, cách trở, day trở, dễ trở, hiểm trở, ngăn trở, tráo trở, trắc trở, xoay trở.
 
Trũng -- lõm xuống trũng sâu, trũng mắt, đất trũng, ruộng trũng, nuớc chảy chỗ trũng.
Trữ -- chứa, giấu, vựa trữ hàng, trữ kim, trữ tình, dự trữ, lưu trữ, oa trữ, tàng trữ, tích trữ.
Trửng -- nuốt trọn, nuốt trửng.
Trững -- giỡn chơi trững giỡn, trững mỡ.
Truởng -- lớn, đứng đầu, trưởng ban, trưởng đoàn, trưởng giả, truởng lão, trưởng nam, trưởng nữ, trưởng thành, trưởng tộc, truởng ty, bộ trưởng, đảng trưởng, gia trưởng, hội truởng, khoa truởng, lý trưởng, sinh trưởng, tổng trưởng, xã trưởng, viện trưởng, trưởng thượng.
 
- U -
 
Ủ -- buồn, không tươi, ủ dột, ủ ê, ủ rũ, mặt ủ mày châu; ủ ấp, ủ men, ủ mốc, ủ nấm, ủ thuốc, ấp ủ.
Ủa -- tỏ ý ngạc nhiên, ủa, sao còn ở đây? ủa, tại sao vậy?
Uẩn -- sâu kín uẩn khúc, ngu uẩn.
Uể -- mỏi mệt, uể oải.
Ủi -- bàn ủi, giặt ủi, ủi áo, an ủi, bị xe ủi.
Ủm -- ủm thủm, tròn ủm.
Ủn -- heo kêu ủn ỉn.
Ủng -- giày ủng, trái cây chín ủng, tiền hô hậu ủng, ủng hộ.
Uổng -- tiếc, vô ích, uổng công, uổng của, uổng mạng, uổng phí, uổng quá, uổng tiền, uổng tử, bỏ uổng, chết uổng, ép uổng, oan uổng.
Ủy -- ủy ban, ủy hội, ủy nhiệm, ủy phái, ủy quyền, ủy thác ủy viên, ủy lạo, ủy mị, cao ủy, nguyên ủy, tỉnh ủy.
Uyển -- uyển chuyển, ngự uyển, vườn thượng uyển.
Ửng -- đỏ hồng hồng ửng đỏ, vàng ửng, má ửng hồng, mặt trời đỏ ửng.
Ưỡn -- ễn, nẩy, chìa ra, ưỡn bụng, ưỡn ẹo, ưỡn ngực, ưỡn ngửa.
Ưởng -- mét chằng mét ưởng.
 
- V -
 
Vả -- vất vả, vả chăng, vả lại, nhờ vả, vả vào mặt, vả rớt răng, xỉ vả.
Vã -- toát ra, vã mồ hôi, vã bọt mép, ăn vã, cãi vã, vật vã, vội vã, vồn vã, vùi vã.
Vải -- hàng dệt bằng sợi bông, vải bông, vải bố, vải màu, vải sồ, vải vóc, dệt vải, trái vải, ông bà ông vải, vải thưa che mắt thánh.
Vãi -- bà vãi, sãi vãi, mắng vãi, chua vãi đái, vung vãi, vãi châi, vãi hột giống.
Vảy, Vẩy -- lớp ngoài da cá, vảy cá, đóng vảy, đánh vảy, tróc vảy, vảy vàng, vảy bạc, thợ bạc giũa vảy, vảy bùn, vảy mực, vảy nước.
Vãn -- vãn bối, vãn hát, vãn hồi, vãn sinh, chuyện vãn, cứu vãn, ve vãn.
Vảng -- lảng vảng.
Vãng -- qua, đến thăm, vãng cảnh, vãng lai, di vãng, phát vãng, quá vãng.
Vảnh -- vểnh, ngảnh lên vảnh mặt, vảnh râu, vảnh tai.
Vãnh -- vặt vãnh.
Vẳng -- tiếng vọng từ xa nghe văng vẳng.
Vẩn -- vẩn bùn, vẩn đục, vẩn vơ, vớ vẩn.
Vẫn -- cứ vậy hoài, vẫn biết, vẫn còn, vẫn thế, vẫn vậy, tự vẫn (tự vận)
 
Vẩu -- nhô ra hàm răng vẩu.
Vẫy -- cựa quậy vẫy tay chào, vẫy vùng, vẫy gọi, chó vẫy đuôi.
Vẩy -- ve vẩy, vẩy cá, trầy da tróc vẩy.
Vẻ -- dáng bề ngoài có vẻ, lộ vẻ, tỏ vẻ, mỗi người một vẻ làm ra vẻ, văn vẻ, vắng vẻ, vui vẻ, vẻ vang.
Vẽ -- họa, bày đặt, chỉ vẽ hình, vẽ kiểu, vẽ trò, vẽ lông mày, vẽ viên, vẽ vời, bánh vẽ, bày vẽ, chỉ vẽ, khéo vẽ chuyện, vẽ cá, vẽ thịt, vẹn vẽ, em bé nói võ vẽ, ong vò vẽ.
Vẻo -- ngồi vắt vẻo.
Vểnh -- xem
Vảnh, Vỉ -- để lót hay chận, vỉ bánh, đường vỉ, tấm vỉ.
Vĩ – đuôi, thủ vĩ, vĩ cầm, vĩ đại, hùng vĩ, vĩ nhân, vĩ đạo, vĩ tuyến.
Vỉa -- vỉa hè, vỉa đường.
Viển -- viển vông.
Viễn -- xa viễn ảnh, viễn chinh viễn du, Viễn Ðông, viễ n khách, viễn thông, viễn phương, viễn thị, viễn tượng, vĩnh viễ n, viễn vọng kính.
Vĩnh -- lãu dâi, đời đời vĩnh biệt, vĩnh cửu, vĩnh quyết, vĩnh viễn, Vĩnh Long, Vĩnh Yën, vòi vĩnh, vờ vĩnh.
 
Vỏ -- lớp bọc ngoài, vỏ cây, vỏ dừa, vỏ dưa, vỏ hột gà, vỏ ốc, vỏ xe, vỏ xe đạp, vỏ quít dày.
Võ, Vũ -- thuật đấu chiến, họ Võ, võ bị, võ biền, võ công, võ dõng, võ đài, võ khí, võ khoa, võ lâm, võ lực, võ nghệ, võ phu, võ quan, võ sĩ, võ thuật, võ trang, võ trường, võ tướng, diễn võ, đấu võ, luyện võ, nghề võ, tập võ, văn võ bá quan, tinh thần thượng võ, võ vàng, vò võ, võ vẽ, linh thần thổ võ, văn võ song toàn. Họ Võ là họ Vũ.
Vỏi -- vắn vỏi.
Vỏn -- vỏn vẹn.
Võng -- lưới võng lọng, đưa võng, đòn võng, nằ m võng, võng mạc của mắt.
Vổng -- chổng đầu lên, vổng phao câu.
Vỗ -- đập bàn tay lên vỗ bàn vỗ ghế, vỗ bụ ng, vỗ cánh, vỗ đùi, vỗ ngực, vỗ tay, vỗ về an ủi, sóng vỗ bờ.
Vở -- vở kịch, vở tuồng, bài vở, kiểu vở, sách vở, tập vở.
Vỡ -- bể, rã tan, khai phá vỡ bụng, vỡ đê, vỡ lẽ, vỡ lòng, vỡ lở, vỡ mặt, vỡ mộng, vỡ nợ, vỡ ổ, vỡ tan, đổ vỡ, gãy vỡ, vạm vỡ, cười như vỡ chợ.
Vởn -- nghểu nghến vởn vơ, lởn vởn.
 
Vũ -- họ Vũ, vũ bão, vũ bị, vũ biền, vũ công, vũ dũng, vũ đài, vũ điệu, vũ khí, vũ khúc, vũ lực, vũ nữ, vũ phu, vũ thuật, vũ trang, vũ trụ, vũ trường, phong vũ biểu, trời vần vũ, ca vũ, khiëu vũ.
Vũm -- chữ này ít dung.
Vũng -- chỗ nuớc đọng vũng bùn, vũng máu, vũng nước, ao vũng, chợ Vũng Tàu.
Vữa -- rữa, rã, biến mùi cháo vữa, hột vịt vữa.
Vửng -- choáng váng xửng vửng xo vo.
Vững -- bền, chắc vững bền, vững bụng, vững chãi, vững chắc, vững dạ, vững lòng, vững mạnh, vững tâm, vững vàng, đứng vững.
Vuởng -- vất vưởng.
 
- X -
 
Xả -- buông thả, mở ra, xả buồm, xả hơi, xả tang, bỏ tóc xả, xả hết tốc lực, xả ly, xả bỏ xả súng bắn, chơi xả láng, lăn xả vào, nhảy xả vào, xán xả vào, xả mạng, xả thân, xả rác, xả thân cầu đạo, xả thân cứu thế, hỉ xả, xả quần áo, mưa xối xả, xong xả.
Xã -- làng, thôn, nhiều nguời hợp lại xã đoàn, xã giao, xã hội, xã luận, xã tắc, xã thuyết, xã trưởng, xã ủy, xã viên, hàng xã, hợp tác xã, làng xã, thôn xã, thị xã, thư xã, thương xã, bâ xã, ông xã.
Xải -- xấp xải, xo xải.
Xảy -- chợt, xảy đâu, xảy đến, xảy gặp, xảy nghe, xảy ra, xảy thấy, đi xây xảy.
Xảm -- không trơn ăn nghe xảm xảm; xảm ghe, xảm tàu, xảm thùng lũng, trét xảm.
Xảnh -- làm bộ làm tịch, xảnh xẹ.
Xảo -- không thật gian xảo, người xảo, xảo ngôn, xảo ngữ, xảo quyệt, xảo trá, xảo công, xảo thủ, kỹ xảo, tinh xảo, đấu xảo.
Xẳng -- mặn quá, gay gắt, nước mắm xẳng, xẳng giọng hỏi.
Xẩm -- xây xẩm, chóng mặt -- người đàn bà Tàu, thím xẩm, xẩm lai, mặc áo xẩm; phường xẩm, hát xẩm, nhu xẩm vớ được gậy.
Xẩn -- xẩn bẩn một bên, làm ăn xân xẩn.
Xẩu -- xương xẩu.
 
Xẻ -- cắt, mổ xẻ gỗ, xẻ mương, mổ xẻ, xẻ rãnh, chia xẻ.
Xẻn -- thẹn thuồng, xẻn lẻn.
Xẻng -- dụng cụ để xúc đất, cuốc xẻng, cái xẻng.
Xẻo -- xẻo tai, xẻo thịt, xui xẻo. ngọn rạch nhỏ xẻo mương, xẻo vườn, xẻo cạn, rạch xẻo, bơi xuồng trên xẻo.
Xẽo -- chữ này ít dùng.
Xể -- trầy, sướt xể da, xể mày, xể mặt, trầy xể, xài xể.
Xễ -- xệ xuống vạt áo xễ, xễ cánh, vú xễ.
Xển -- kéo xển.
 
Xỉ -- răng ung xỉ, xỉ tẩu mã, lồi xỉ, xỉ mắng, xỉ vả, xỉ vào mặt, xỉ xỏ, xa xỉ, xấp xỉ.
Xỉa -- xỉa xói, xỉa thuốc, xoi xỉa, xỉa bài, xỉa vào mặt, xỉa tiền, tam xỉa răng, không đếm xỉa gì đến, đừng xỉa vô chuyện đó.
Xiểm -- nói xiểm, xiểm nịnh.
Xiểng -- thua xiểng liểng, buớc đi xiểng niểng.
Xỉn -- bủn xỉn, ít xỉn.
Xỉnh -- xó xỉnh.
Xĩnh -- xoâng xĩnh.
Xỉu -- ngất, lả đi xỉu xuống, mệt xỉu, té xỉu; đánh tài xỉu.
 
Xỏ -- luồn vào, xỏ áo, xỏ chỉ, xỏ chuỗi, xỏ kim, xỏ lỗ tai, xỏ mũi, xỏ xâu, nói xỏ, xỏ lá, xỏ xiên, xỉ xỏ, chơi xỏ, xin xỏ, xỏ ngọt, xỏ miệng vào.
Xõ -- gầy xõ.
Xõa -- buông thả xuống buông xõa, lõa xõa, bỏ tóc xõa.
Xoảng -- tiếng khua loảng xoảng, xoang xoảng.
Xõm -- nhẹ lắm, nhẹ xõm.
Xỏn -- nói hỗn hào, trả lời xon xỏn.
Xõng -- làm biế ng xõng lưng chẳng làm gì, ngồi xòng xõng cả ngày.
Xổ -- mở, tháo ra xổ buồm, xổ cờ, xổ gà, xổ số, xổ tục, xổ xui, xổ phong long, thuốc xổ, xổ chữ nho, nhảy xổ vào.
Xổi -- tạm bợ ăn xổi ở thì, buôn xổi, làm xổi, tiền lời xổi.
Xổm -- nhóng đít lên bò xổm, xổm đít lên, ngồi xổm, nhảy xổm.
 
Xở -- gỡ lần hồi xoay xở, xở bớt nợ, xở bớt công việc.
Xởi -- làm cho rời ra xởi cơm, xởi đất, xởi to, xởi thuốc hút.
Xởn -- xén, hớt cụt, xởn lông, xởn cánh, xởn tóc, bị xởn đầu.
 
Xủ -- rủ, buông xuống xủ tay áo, xủ cánh, cây xủ lá, xủ màng, xủ quẻ , xủ rèm.
Xuẩn -- ngu dại, bậy xuẩn động, ngu xuẩn.
Xuể -- nổi, kham, coi sóc không xuể, làm không xuể, nói chẳng xuể.
Xủi -- làm tróc lên xủi bụi tùm lum, xủi cát, xủi cỏ, xủi đất.
Xuổng -- dụng cụ xắn đất, cuốc xuổng, ngay như cán xuổng.
Xử -- phán do án, phãn xử, xử án, xử bắn, xử đoán, xử giảo, xử hiếp, xử hòa, xử huề, xử kiện, xử lý, xử phân, xử quyết, xử trảm, xử trị, xử tử, phán xử, xử sự, xử tệ, xử thế, xử trí, cư xử, đối xử, khu xử.
Xửa -- hồi xửa hồi xưa.
Xửng -- cái vỉ để hấp, xửng hấp bánh, kẹo mè xửng (mè thửng); -- xửng vửng xo vo.
Xuởng -- chỗ thợ làm xưởng dệt, xưởng máy, xưởng đóng tàu, chủ xưởng, công xưởng, lạp xuởng.
 
Hết
 
· Kỷ niệm 39 năm ngày con tàu CAP ANAMUR đã vớt Gia Đình Tôi ngoài biển Đông (01.05.1980 – 01.05.2019)
· Chủ Nhiệm Tạp Chí Dân Văn: LÝ TRUNG TÍN.
 
***
LỜI TRI ƠN:

Anh Lê Trực Doanh Doanh

Anh Lê Trực tốt nghiệp trường Võ Bị Đà Lạt khóa 20, vào tháng 11 năm 1965. Anh là người được nhiều người mến mộ qua tài văn học và kiến thức quân sự. Anh là người Biên soạn quyển Hỏi Ngã Chính Tả Tự Vị.  Một bộ Tự Vị rất công phu và hữu ích.
 
Tiếc là anh vừa qua đời, hôm 28/6/2019 sau hơn 2 năm bị bịnh.
Xin được tri ân và thắp nén nhang lòng nguyện cầu cho Hương Linh Anh Lê Trực an hưởng thảnh thơi nơi Cõi Thiên Đàng. 
***


 
 
 
 
 
 
 
    Nguyễn Ngọc Quang sưu tầm và tổng hợp    
 
 
db43c148
 
c6ox4y5hrxvc7lqb668g
Xem thêm...

Trần Quang Lộc - một đời tài hoa, lận đận

Trần Quang Lộc - một đời tài hoa, lận đận

Ca khúc kinh điển của nhạc sĩ Trần Quang Lộc - "Có phải em mùa thu Hà Nội" - mất hàng chục năm mới nổi tiếng.

Nhạc sĩ Trần Quang Lộc qua đời hôm 7/6 tại nhà ở Bà Rịa - Vũng Tàu, sau nhiều năm điều trị ung thư. Hơn nửa thế kỷ sáng tác, nhạc sĩ để lại dấu ấn đậm nét với hơn 600 ca khúc. Các nhạc phẩm của ông đa phần mang giai điệu êm dịu, ca từ gợi nhiều suy tư. Có phải em mùa thu Hà Nội Về đây nghe em - hai ca khúc được biết đến nhiều nhất - ra đời khá sớm, khi tác giả còn ở độ tuổi đôi mươi. Trong đó, tình khúc nổi tiếng nhất của ông về Hà Nội có số phận lận đận.

Nhạc sĩ Trần Quang Lộc (1949 - 2020). Ảnh: Facebook.

Nhạc sĩ Trần Quang Lộc (1949 - 2020). Ảnh: Facebook.

Đầu thập niên 1970, tại Đà Nẵng, ông được bạn thân - thi sĩ Tô Như Châu - trao cho một bài thơ về Hà Nội. Khi đó, cả hai chưa từng đặt chân đến Thủ đô. Những vần thơ giàu chất trữ tình, phong lưu, khiến nhạc sĩ xao xuyến: "Ngày sang thu anh lót lá em nằm/ Bên trời xa sương tóc bay...". Ngay đêm đó, ông bắt tay hoàn thành ca khúc. Người đầu tiên thu âm là danh ca Thái Thanh. Sau khi lên sóng phát thanh khoảng hai tháng, nhạc phẩm bị thu hồi vì chính quyền Sài Gòn cũ cho rằng ca khúc có xu hướng "thân miền Bắc". Năm 2016, chia sẻ với báo chí, ông cho biết vì ca từ bài hát, ông từng bị nhà chức trách ở chế độ cũ gọi lên "chỉnh đốn". Nhạc phẩm từ đó cũng bị ông cất tủ suốt hơn 20 năm

Cùng nghe lại ca khúc "Có phải em mùa thu Hà Nội" do ca sĩ Hồng Nhung thể hiện:

Hồng Nhung hát 'Có phải em là mùa thu Hà Nội' - Trần Quang Lộc. Video: Youtube.

 Năm 1994, ông giúp ca sĩ Hồng Nhung thực hiện album Chợt nghe em hát - 10 tình khúc Lã Văn Cường, Trần Quang Lộc. Ông quên bẵng ca khúc một thời và không định đưa vào CD. Nhạc sĩ Đức Trí - người phối khí cho album - đã chọn bài hát cho Hồng Nhung thu âm. Đĩa nhạc tạo nên hiện tượng với 30.000 bản phát hành trong tuần đầu. Thành công của nhạc phẩm chưa dừng lại ở đó. Ba năm sau, ca sĩ Thu Phương vào Sài Gòn lập nghiệp. Cô chọn ca khúc Có phải em mùa thu Hà Nội trong một chương trình ở Nhà hát Hòa Bình. Ca khúc đưa Thu Phương từ ca sĩ vô danh thành tên tuổi được so sánh với Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thanh Lam...

* Trần Quang Lộc viết về Hà Nội qua tưởng tượng

Với Trần Quang Lộc, mỗi ca khúc của ông đều mang dáng dấp một bóng hồng. Bài Về đây nghe em ra đời vào năm 1969, khi tác giả đánh đàn thuê ở các phòng trà, quán bar Sài Gòn. Một lần đi làm về, ông thấy những cô gái mặc váy ngắn, đứng chào gọi khách giữa đêm vắng. Bâng khuâng trước đổi thay về nếp sống, sinh hoạt của một lớp trẻ, ông chọn những vần thơ của A Khuê để ca ngợi nét đẹp của các giai nhân xưa, với hình ảnh áo the, guốc mộc, lời ca dao, hạt lúa mới, nồi ngô khoai... Sau khi Elvis Phương thu âm, nhạc phẩm được yêu thích với giai điệu slow rock mới lạ, khác với phần lớn bản bolero lúc bấy giờ. Ca khúc vẫn giữ sức sống đến nay qua nhiều bản thu của các thế hệ ca sĩ.

Một thời phong lưu với những bản nhạc, Trần Quang Lộc trải qua cảnh bệnh tật cuối đời. Ông từng có tiền sử ung thư nhưng chỉ nằm nhà uống thuốc, không vào bệnh viện vì sợ tốn kém. Đến khoảng năm 2014, ông phải nhập viện cấp cứu vì ung thư bàng quang. Căn bệnh không thuyên giảm mà còn di căn, khiến một bên mắt của ông bị hỏng hoàn toàn. Ông còn chịu chứng ung thư phổi do nhiều năm hút thuốc thời còn khỏe mạnh. Năm 2017, nghe tin nhạc sĩ mắc bệnh hiểm nghèo, Thu Phương nhờ người thân tới thăm, giúp ông 100 triệu đồng.

 Gia cảnh chật vật, vợ chồng ông sống ở một căn nhà cấp bốn tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông mở thêm lớp dạy nhạc để có đồng ra đồng vào. Nhà nhỏ, chỉ đủ để vài cái bàn nhỏ, khi hết giờ dạy, ông phải đem cất để có chỗ sinh hoạt. Lớp học ông đủ độ tuổi, từ các em nhỏ trong xóm đến các bà xơ tóc điểm bạc. Mỗi buổi, ông chỉ thu học phí vài chục nghìn đồng. Sau này, sức khỏe suy kiệt, ông đành đóng lớp, sống nhờ vào tiền tác quyền. Vợ ông thế chấp sổ đỏ căn nhà đang ở để có số tiền 200 triệu đồng đóng viện phí.

Hạnh phúc của Trần Quang Lộc khi về già là người vợ tảo tần làm bạn tâm giao. Ngày ấy, bà là hoa khôi ở Huế. Họ thường đàn hát cho nhau nghe trên bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), đôi khi xưng "mày - tao" vì cùng tuổi. Sau này, bà vào Sài Gòn học Văn khoa và gặp lại ông. Ra trường, họ nên duyên dù bố mẹ bà phản đối vì không thích con gái yêu một nhạc sĩ.

Nhạc sĩ Trần Quang Lộc bên vợ - bà Nguyễn Thị Thuận. Ảnh: Facebook.

Nhạc sĩ Trần Quang Lộc bên vợ - bà Nguyễn Thị Thuận. Ảnh: Facebook.

Về già, bà làm "phụ tá" cho chồng, lau từng cây đàn, xếp từng bản nhạc khi ông dạy. Lúc ông lâm bệnh, bà túc trực ở bệnh viện, động viên ông uống thuốc vì các con đã định cư nước ngoài. Ông từng kể: "Đời tôi sáng tác nhiều bài hát, có nhiều bóng hồng, nhưng ngoài đời, bóng hồng của tôi chỉ có duy nhất". Khi đó, ông đưa mắt sang nhìn bà, móm mém cười. Ông qua đời khi ước mơ được ra Hà Nội, nắm tay vợ và thưởng thức một đêm nhạc về ông, do các ca sĩ thân thiết biểu diễn, vẫn còn dang dở.

Tang lễ của nhạc sĩ Trần Quang Lộc từ ngày 8/6 theo nghi thức Công giáo tại nhà riêng ở Bà Rịa - Vũng Tàu. Ông được hỏa táng ngày 10/6 tại quê nhà.

 

Hoàn cảnh sáng tác của “Về Đây Nghe Em” và “Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội” –

2 bài hát trước 1975 nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Quang Lộc

 

Hoàn cảnh sáng tác của “Về Đây Nghe Em” và “Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội” – 2 bài hát trước 1975 nổi tiếng của nhạc sĩ Trần Quang Lộc

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này