Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1298)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (64)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (355)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

DUYÊN NỢ VÀ TÌNH YÊU - MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH

Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH  photos
Please click on the link below:


Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Một duyên, hai nợ, ba tình
 
Chiêm bao lẩn quất bên mình năm canh.
Đêm nằm lại nghĩ một mình,
Ngọn đèn khêu tỏ bóng quỳnh bay cao.
Trông ra nào thấy đâu nào,
Đám mây vơ vẩn, ngôi sao mập mờ.
Mong người, lòng những ngẩn ngơ.    

꧁꧂꧁꧂ ꧁꧂꧁꧂꧁꧂꧁꧂ ꧁꧂꧁꧂

Vừa đi là gặp em đây,
Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần.
…Sông sâu nước hiểm làm vầy,
Ai xui em đến chốn nầy gặp anh?
 
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos

  Duyên Nợ và Tình Yêu Của Trai Gái Nông Thôn Qua Ca Dao   

  Phần nhiều những bài ca dao của ta đều là những bài thơ trữ tình, những bài "tình ca", mà tác giả hầu hết là trai, gái nông thôn Việt Nam thời xưa.
 Thơ trữ tình là tiếng nói của lòng người khi tâm tình bị xúc động, bất bình, đau khổ. Người đau khổ thường thấy cần phải bộc lộ nỗi lòng u uất của mình ra. Đó là một nhu cầu khẩn thiết như bất cứ mọi nhu cầu nào khác!
 Kinh Thi xưa có câu: "Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao", nghĩa là "lòng có sự buồn, ta vừa ca vừa hát". Hàn Dũ đời Đường cũng xác nhận: "Vật bất đắc kỳ bình tắc minh", nghĩa là "vật không được vừa lòng thì ắt phải kêu lên". Tiếng kêu lên đó là văn thơ.

 Ngày nay, các nhà văn học Tây phương cho rằng:
 "Con người đau khổ. Hát lên cái khổ đau của mình, con người sẽ vượt qua cái đau khổ ấy". (1)

Rồi chính ca dao ta cũng nói rõ ràng:
Chim xanh ăn trái xoài xanh,
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa.
Cực tấm lòng em phải nói ra,
Chờ trăng trăng xế, chờ hoa hoa tàn.
 
 Qua các câu ca dao trữ tình ấy, dân gian đã đúc kết các thành tố chính yếu của những rung cảm, suy tư về "tình yêu" giữa trai gái nông thôn, vào mấy danh từ "Duyên, Nợ, Tình". Trong ngôn ngữ hằng ngày, khi người ta bàn đến vấn đề Yêu Thương, mấy từ nầy đã được lặp đi lặp lại biết bao nhiêu lần.

Một duyên, hai nợ, ba tình,
Chiêm bao lẩn quất bên mình năm canh.
... Răng đen ai khéo nhuộm cho mình,
Để duyên mình đẹp, cho tình anh yêu.
Trăm con ống sợi chỉ điều,
Trăm con chỉ ấy buộc vào tay anh.
Một duyên, hai nợ, ba tình...


 Dân gian thời trước cho rằng yêu nhau, lấy nhau, được hay không là do "duyên số". Theo tích Vi-Cố xưa, một đêm trăng đi dạo, gặp một ông lão ngồi xe các sợi tơ đỏ với nhau. Hỏi, thì đáp là đang xe những cặp trai gái ở thế gian nầy lại cho thành vợ chồng. Vi Cố tỏ ý muốn biết vợ của y sẽ là ai? Ông lão chỉ một đứa bé, con mụ ăn mày ở xó chợ gần đó. Vi Cố xấu hổ, tức giận, cho người giết đứa bé, rồi sợ tội, bỏ trốn. Mãi về sau Vi Cố cưới được con gái nhà quan, không dè đó lại là con gái mụ ăn mày trước kia bị Vi Cố giết hụt, mẹ đem bỏ ngoài chợ, một ông quan đi ngang qua gặp được, thương hại đem về nuôi. Cho nên, gặp nhau, trai gái nông thôn thường tự hỏi:

Vừa đi là gặp em đây,
Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần.
…Sông sâu nước hiểm làm vầy,
Ai xui em đến chốn nầy gặp anh?

                                   
 
 Nhưng dân gian ta lại thêm từ "nợ" vào, cho rằng vì kiếp trước có nợ nần nhau, nên kiếp nầy phải gặp lại thành vợ chồng, để đền trả cho xong.

Đôi ta là nợ hay tình,
Là duyên là kiếp, đôi mình kết giao
Em như hoa mận hoa đào
Cái gì là nghĩa tương giao hỡi chàng?
Hoặc ...
Chồng gì anh, vợ gì tôi,
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây !
Mỗi người một nợ cầm tay,
Ngày xưa nợ vợ, ngày nay nợ chồng.


 Vậy "duyên nợ" là một từ kép bao gồm hai mặt tích cực và tiêu cực của thuyết "nhân quả" áp dụng vào phạm vi hôn nhân và tình yêu đôi lứa. Nói một cách khác, dân gian ngày xưa cho rằng hôn nhân thành hay không, là tùy theo trai gái có "phải duyên" hay "trái duyên" với nhau không?

Phải duyên, áo rách cũng màng,
Không phải duyên, áo nhiễu, nút vàng chẳng ham
Chẳng tham nhà ngói bức bàn (gỗ),
Trái duyên, coi cũng bằng gian chuồng gà
Ba gian nhà lá lòa xòa,
Phải duyên, coi tựa chín tòa nhà lim.
... Đẹp như tiên, không phải duyên không tiếc,
Xấu như ma mò, duyên hiệp anh thương.
                               
 Như vậy, dân gian đã công nhận rằng hễ "phải duyên" hay có "duyên nợ" với nhau thì xấu đẹp gì trai gái cũng đi đến chỗ thương yêu nhau.
 Và dân gian cũng khẳng định "đảo lại" rằng: Hễ xấu đẹp gì mà cũng thương nhau, tức là đã "phải duyên", trai, gái quả đã có "duyên nợ" với nhau rồi.
 Khẳng định đảo lại nầy đã dẫn trai gái nông thôn đến một quyết định táo bạo hơn:

Số em giàu, lấy khó cũng giàu,
Số em nghèo, chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Phải duyên, phải kiếp thì theo,
Thân em có quản khó nghèo làm chi.
Chữ nhân duyên thiên tải nhất thì
Giàu ăn, khó chịu, lo gì mà lo.


"Phải duyên, phải kiếp thì theo" cụ thể có nghĩa là: nếu trai gái quả đã cảm thấy "thương yêu nhau", tức là "phải duyên", nghĩa là đã có " duyên nợ" với nhau, thì cứ theo nhau, lấy nhau, thành vợ thành chồng, bất chấp sang hèn, giàu khó, hay bất chấp cả sự cản trở của cha mẹ, họ hàng. Phải chăng đó là một quyết định táo bạo đối với xã hội ta ngày xưa ! Mà ngày nay, trái lại có thể coi như là một quan niệm về tình yêu và hôn nhân có tính cách tự do và hiện đại !

 Ở thời phong kiến, những tục "cha mẹ đặt đâu ngồi đó" và "nam nữ thụ thụ bất thân" vốn là của Nho giáo phụ quyền, từ Trung quốc du nhập vào nước ta, và thịnh hành trong các từng lớp quan lại, phú thương, trưởng giả. Nhưng ở nông thôn, Nho giáo chỉ được phổ biến một cách hời hợt thông qua các hàn Nho sống rải rác trong xóm làng, và một khi lắng sâu vào quần chúng, thì cũng đã dần dần bị Việt hoá đi.
 Riêng đối với thanh niên nông thôn, tình yêu lại còn là lẽ sống của một cuộc đời cần lao lam lũ. Ngoài tình yêu ra, còn có gì để có thể an ủi họ được nữa đâu. Cho nên, bao nhiêu Lễ giáo của đạo Nho khi xuống đến nông thôn, cũng phải nhân nhượng trước tình yêu đôi lứa của họ:
                                  
Mình về, ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba.
Chữ Trung thì để phần cha,
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình.


 Hơn nữa, xã hội nông thôn trước đây vẫn còn chịu ít nhiều ảnh hưởng di sản của mẫu hệ, nên trong việc cưới hỏi, cha mẹ không mấy khi ép buộc con cái:

Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên
... Xưa kia ai cấm duyên bà,
Bây giờ bà già, bà cấm duyên tôi !


 Rồi thỉnh thoảng nếu có trường hợp bị cha mẹ ép duyên, thì trai gái nông thôn sinh ra liều lĩnh:
Tiếc răng, tiếc rứa, tiếc ri,
Liều mình bỏ xứ mà đi cho rồi
Liều mình, giả như đứa đứt tao nôi, (a)
Giả như cha với mẹ không sinh ra đôi đứa mình.


 Chú giải - (a) Đứt tao nôi (tao: sợi giây, nôi: đồ đan bằng tre để trẻ nhỏ nằm) Câu nầy ý nói: Coi như chúng mình khi còn bé đã bị đứt tao nôi,mà chết non đi.

 Nhưng tục "không được cưỡng duyên" vốn đã phổ biến từ xưa trong dân gian. Trong bộ Luật Hồng Đức, đời Lê Thánh Tông, cũng có trường hợp cấm ép duyên như thế: "Con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật, phạm hình án, hoặc phá tán gia sản, thì cho phép con gái được kêu quan mà trả đồ lễ... Trái luật (nghĩa là con trai ấy cứ ép con gái phải lấy mình) thì bị xử phạt 80 trượng (b)." (2)
Chú giải: (b) Trượng: ngày xưa cây gậy bằng gỗ được gọi là trượng.
Về sau, nếu tình yêu bị gián đoạn, đổ vỡ, hôn nhân không thành, người xưa cho là tại "duyên số" dở dang, và tự an ủi rằng:

Khi nào gánh nặng anh chờ,
Qua cầu anh đợi, bây giờ em quên.
Kiếp nầy đã lỡ làng duyên,
Kiếp sau xin hẹn cửu tuyền gặp nhau.


 Như đã nói trên, ở các tầng lớp quan lại, phú thương chịu ảnh hưởng Nho giáo, phong kiến, thì nhất luật "nam nữ thụ thụ bất thân". Trái lại ở nông thôn, trai gái, vì nhu cầu sinh hoạt nông tác nên thường có nhiều dịp gặp nhau: trong một vụ cấy mạ, một tối giả gạo, một chuyến đò ngang, một buổi hát giao duyên, hát trống quân, hát phường vải, một ngày chợ phiên, một lễ hội trong làng... và được tự do chuyện trò, hò hát trêu ghẹo, đưa tình với nhau

Ăn chơi cho hết tháng hai
Để làng gióng đám cho trai dọn đình.
Trong thời đánh trống rập rình,
Ngoài thời trai gái tự tình với nhau.

 Ngày xưa, các buổi gặp gỡ hò hát nầy thường đưa trai gái nông thôn đến việc "nên vợ nên chồng" một cách nghiêm túc:

Con cò lấp ló bụi tre,
Sao cò lại muốn lăm le vợ người ?
Vào đây ta hát đôi lời
Để cho cò hiểu sự đời ở ăn.
... Một đàn cò trắng kia ơi!
Có nghe ta hát những lời nầy không?
Hát câu đẹp cốm tươi hồng,
Hát câu nên vợ nên chồng, cò ơi !


 Chính các thân hào đã đứng ra tổ chức những đám "hát phường vải", "hát trống quân", "hát quan họ", "hát giã gạo", hát giao duyên"... để trai gái hát hò, gặp gỡ, kết "bạn văn nghệ" với nhau, dưới sự kiểm soát kín đáo của các bậc đàn anh:

Ai có chồng, nói chồng đừng sợ,
Ai có vợ, nói vợ đừng ghen.
Tới đây hò hát cho quen,
Rạng ngày, ai về nhà nấy, há dễ ngọn đèn hai tim. (c)
                     
Chú giải - (c) Đèn hai tim = Đèn nhà quê ngày xưa đổ dầu phụng vào dĩa, dùng một sợi vải làm tim đốt. "Đèn hai tim" chỉ trai có 2 vợ.
Cũng ở thôn quê ta ngày xưa, thường con gái lại đứng lên tỏ tình và tìm đến gặp con trai trước. Một tâm tình say đắm, "lãng mạn" phi Nho giáo! Không cần biết sẽ có nên vợ, nên chồng hay không, nhưng gặp nhau, thương nhau thì cứ "xơi năm ba miếng trầu" với nhau đã... "kẻo lòng nhớ thương".

Sớm mai gánh nước mờ mờ,
Đi qua ngõ giữa tình cờ gặp anh.
Vào vườn hái quả cau xanh,
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu.
Trầu nầy ăn thật là say,
Dù mặn dù lạt, dù cay dù nồng.
Dù chẳng nên vợ nên chồng,
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương.
Cầm lược thì nhớ tới gương,
Cầm trầu nhớ túi, nằm giường nhớ nhau.
                     
Ở đây, trai gái nông thôn chỉ cần hưởng thụ trong hiện tại, không cần biết đến "duyên nợ" sẽ đưa đến đâu ? Một hành động, mà ngày nay có thể coi như là "lãng mạn" hay "hiện sinh"!
Và tính cách "lãng mạn" ấy còn gặp lại trong cái nhìn đắm đuối, rụt rè của những mối tình vô vọng:

Ngó em chẳng dám ngó lâu
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi!

"Lãng mạn" còn ở trong cử chỉ nâng niu, săn sóc đứa con nhỏ của cô gái vừa mới lừa dối mình, mà oái ăm thay, đó lại là cô gái mà ta đã lỡ yêu:

Mình nói dối ta mình chửa có con,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước rửa cho con mình.


Về sau, khi chế độ xã hội đã chuyển sang phụ hệ, với ảnh hưởng của Nho giáo, thì các cuộc hẹn hò riêng tư "thân mật, mùi mẫn" giữa trai và gái như thế tất nhiên phải kín đáo, lén lút hơn xưa:

Đêm nằm thao thức vào ra,
Chờ cha mẹ ngủ, lén qua thăm mình.
Tôi than hết sức, tôi dứt hết tình,
Thiếu điều cắn ruột trao mình, mình ơi!"
... Gió đưa cành mận, gió lận cành đào,
Vì em anh phải ra vào tối tăm.
Tối tăm thì mặc tối tăm,
Chờ cho cha mẹ đi nằm sẽ hay.
Cầm tay, anh nắm cổ tay,
Em đừng hô hoán sự nầy mà to.


Đã yêu nhau rồi, tức là đã "phải duyên", đã có "duyên nợ" với nhau rồi, thì "phải theo"... lén lút theo !

Qua các câu ca dao trữ tình, chúng ta nhận thấy có một sự tranh đấu dằng dai qua bao nhiêu thế kỷ giữa hai nền văn hóa địa phương và ngoại lai:
Giữa chế độ mẫu hệ Lạc Việt và chế độ phụ hệ Nho giáo Trung quốc, giữa lòng tin vào số mệnh trong tín ngưỡng nguyên thủy Việt-Nam với thuyết nhân duyên trong Phật giáo, giữa bản tính đa tình, lãng mạn của dân quê ta với các lễ tục khắc nghiệt của chế độ phong kiến...

Công cuộc tranh dấu gay go, đầy đau thương, nước mắt, nhằm giải phóng con người ra khỏi mọi áp bức, để đem lại tự do yêu thương, tự do kết hôn... Có thể có những khuynh hướng lãng mạn, hưởng thụ, hiện sinh, nhưng vẫn không "lăm le vợ người" và không nhận "ngọn đèn hai tim", không hề xa rời "đạo đức tự nhiên" của ông cha!

Một cuộc tranh đấu không bài ngoại tuyệt đối, mà có tính cách hòa nhập trong thế quân bình. Đó chính là sức mạnh sinh tồn ngàn năm của dân ta !

Chú thích
(1) - D. Huisman et L.R. Plazolles, L'Art de la dissertation littéraire, Sedes, Paris,1960, p. 228 (L'homme souffre, mais en chantant sa souffrance, il la dépasse).
(2)- Luật Hồng Đức, chương Hộ Hôn, điều 39.
                              
Kết quả hình ảnh cho MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH photos
 MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH  
Kết quả hình ảnh cho MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH photos
 
                          Một duyên, hai nợ, ba tình
                          Chiêm bao lẩn quất bên mình năm canh. (1) 
Chữ Duyên thường được dùng khi đề cập đến hôn nhân, tình yêu nam nữ, thí dụ nói « Nên duyên vợ chồng, Kết tóc se duyên…»  Thúy Kiều ngày xuân dạo chơi rồi dừng lại nơi nấm mồ của Đạm Tiên cũng đã thốt lên:
                          Người đâu gặp gỡ làm chi
                          Trăm năm biết có duyên gì hay không? (2)
Chữ Duyên ở đây lại không phải là chữ Duyên trong nghĩa vợ chồng, tình yêu nam nữ. Trong khi Kim Trọng tương tư về nàng Kiều thì chữ Duyên, theo nghĩa vợ chồng lại đi kèm với chữ Nợ:
                          Mành tương phất phất gió đàn
                          Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình
                          Ví chăng duyên nợ ba sinh
                          Làm chi quen thói khuynh thành trêu ngươi (3)
Nơi dân gian cũng không khác, cái Duyên ban đầu kéo theo cái Nợ:
                          Đem thân ở dưới cõi trần
                          Hỏi rằng duyên có nợ nần chi không?
                          Giá bao nhiêu một ông chồng
                          Thì em cũng bỏ đủ đồng ra mua (4)
Cho dù là một cái nợ đi chăng nữa, vẫn có người sẵn sàng bỏ tiền ra « rước của nợ » về với mình, điều này cho thấy cái chữ thứ ba là chữ Tình sao mà mãnh liệt như thế, làm cho con người ngẩn ngơ, có thể mất cả trí khôn, có thể sống chết, khổ đau cũng vì chữ Tình này mà thôi! Thế mà con người vẫn lao theo, cả nam lẫn nữ, không chừa ai!
Một duyên hai nợ ba tình. Đúng ra, chữ Tình này phải đứng trước chữ Duyên và Nợ vì không có nó làm lực đẩy ban đầu thì chẳng có Duyên và Nợ gì kéo theo! Nhưng chúng ta sẽ tìm hiểu theo thứ tự trước sau như câu ca dao « Một duyên hai nợ ba tình ».
Trước tiên đừng quên ba chữ Duyên, Nợ và Tình này như cái kiềng ba chân. Kiềng có ba chân mới đứng vững. Có Tình mà chẳng có Duyên Nợ gì với nhau thì cũng chỉ là một câu chuyện tình, dù có đẹp đến mấy cũng sẽ bị cuốn theo chiểu gió, mờ nhạt, xoá nhòa với dòng thời gian. Có Duyên, có Nợ mà chẳng có chút Tình gì với nhau thì rồi cũng sẽ bị gió cuốn đi ! Lại nữa, có Tình, có Duyên mà chẳng Nợ thì cứ yêu nhau quanh năm suốt tháng mà…đường ai nấy đi, đời anh chẳng dính líu gì đến tôi cũng như đời tôi chẳng liên quan gì đến anh, yêu nhau thì cứ yêu nhau ! Khi hết chữ Tình thì sẽ hát khúc « tình nghĩa đôi ta có thế thôi ! » Không Duyên, không Nợ, chẳng có gì phải bận bịu. Quá dễ, quá giản dị. Xã hội hiện đại đã tạo ra những con người chọn lối sống dễ dãi này, không trách nhiệm, không bổn phận,  không ràng buộc, không lo âu. Cuộc đời quá ngắn ngủi và nhiều đau khổ, không cần phải rước cho mình thêm những nhọc nhằn. Vui thì ở, không vui thì đi ! Ít ai còn muốn ký một « hợp đồng chung thân » để cùng chia sẻ ngọt bùi cay đắng nhưng lại sẳn sàng ký những hợp đồng rất chi ly, chi tiết về việc phân chia tài sản, góp công góp của, chuyện giáo dục con cái, thậm chí, hơi khó tin nhưng có thật, chuyện chăn gối vợ chồng !
Hãy bàn về chữ Duyên. Xin đừng lầm lẫn với chữ Duyên khi muốn nói đến cái vẻ đẹp, nét quyến rũ nơi dáng dấp, khuôn mặt hay cử chỉ, lời ăn tiếng nói của ai đó: cô này miệng cười có duyên tệ ! Anh chàng này nói năng thật có duyên ! Chúng ta không bàn đến chữ Duyên này ở đây cho dù nó cũng là đầu mối làm cho chữ Tình phải lận đận lao đao !
Kết quả hình ảnh cho MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH photos
Chữ Duyên bàn đến đây là chữ Duyên, từ Hán Việt,  mang ý nghĩa của cái duyên do, duyên cớ, duyên sự, duyên cố tức là nguyên nhân, bởi từ đó, do nơi đó, do cái điều đó, nương vào cái điều đó, nương vào sự việc đó mà nẩy sinh, kéo theo điều kia, sự việc kia. Duyên, cũng từ đó mà được hiểu rộng như là mối dây, sự liên hệ, liên quan, thắt chặt người với người hay người với con vật, sự vật và cả sự việc. Mối dây này có thể trở thành dây xiềng, dây xích, dây dưa, rễ má, kéo từ đời con sang đời cháu, đời chắt, từ lạ trở thành quen, từ không thân trở thành thân thuộc và mối dây này cũng có thể tốt đẹp, thân thiện, tương thân, tương ái mà cũng có thể là xấu ác, hận thù, hiềm khích. Nên không hẳn nói đến Duyên là nói đến cái điều tốt, đẹp.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Nói cho đúng và đầy đủ thì phải nói là Nhân Duyên. Một tập hợp vừa là cái mầm, cái rễ, cái gốc vừa là những điều kiện, nguyên do xúc tác, thúc đẩy cái mầm đơm hoa kết trái. Không có Nhân Duyên là hạt mầm là gốc rễ của cam và những điều kiện phụ thuộc chung quanh gọi là trợ duyên để ươm cho cây cam mọc thì chẳng thể nào có được cây cam. Nói về con người, con vật, sự việc, sự vật cho đến cả thiên nhiên cũng theo một trình tự như thế. Có Nhân mới có Duyên. Và phải có Duyên thì Nhân mới thành cái gì đó, việc gì đó, điều gì đó, như thế nào đó…v.v…
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos
Xin đưa ra những thí dụ thật cụ thể để hiểu rõ hơn về chữ Nhân, chữ Duyên này theo sát nhau, hỗ tương nhau như thế nào:
Không có sự việc cùng ngồi chung một lớp học thì không đưa đến sự quen biết nhau. Có lớp học, có những người bạn học là Nhân và Duyên là sự cùng ngồi chung một lớp, mới dẫn đến sự quen biết nhau.
Không có chuyện chiến tranh giặc giã thì tôi đã không bỏ quê hương mà lưu lạc xứ người. Quê hương là Nhân và chiến tranh, giặc giã là Duyên, cho dù là Duyên xấu, ác, vẫn là Duyên, là lý do buộc tôi phải rời bỏ quê hương để lưu lạc xứ người.
Không có chuyện được sinh ra từ một gia đình thì đâu phải là ruột thịt, là anh là chị là em. Sinh ra trên đời là Nhân nhưng cùng một gia đình là Duyên làm cho những người trở thành anh chị em một nhà.
Không có việc mai mối của người này thì tôi cũng không có cách gì gặp em, cưới em hoặc gặp anh, cưới anh. Chắc chắn trước tiên phải có cái ý muốn tìm vợ, tìm chồng trong thâm tâm làm cái Nhân, và người làm mai mối, trung gian là Duyên đưa đến chuyện cưới hỏi thành vợ thành chồng.
 Không có người đã cứu mạng sống thì không có cái ngày nay tôi đền ơn. Mạng sống của tôi là Nhân, tai nạn hay bệnh hoạn của tôi là Duyên, cho dù là Duyên rủi ro, nhưng nhờ việc rủi ro này mà có người cứu, đó cũng chính là Duyên làm cho tôi gặp ân nhân và rồi nhớ ơn và trả ơn về sau. Sự trả ơn của tôi không phải vô cớ mà có một duyên do, duyên sự, duyên cớ và sự gặp gỡ vị ân nhân là cũng nhờ vào cái duyên rủi ro đó. Cái rủi ro bỗng trở thành cái may ở đây. Rất nhiều trường hợp trên đời mà một cái duyên rủi trở thành may và ngược lại, duyên may lại thành rủi.
 Không có cha mẹ tôi yêu nhau thì tôi sẽ không sinh ra trên cõi đời. Nhờ cha mẹ yêu nhau, muốn có một đứa con, mà tôi mới được tạo thành, mang một hình hài, lớn lên trong bụng mẹ. Cha mẹ là cái Nhân, những yếu tố khác như yêu nhau, ý muốn có con là Duyên từ đó mới dẫn đến sự thụ thai. Tôi sinh ra là cái Quả của Nhân và Duyên kia. Nếu cha mẹ không có ý muốn một đứa con thì tôi không có cơ hội để sinh ra đời và trong trường hợp này, có Nhân mà không có Duyên và cũng không thể có Quả.
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos
Cứ như thế, Nhân Duyên là hằng hà sa số, là bất tận, là không thể đếm kể cho hết. Mọi sự việc trên đời, dù nhỏ dù lớn, không gì là không có một Nhân, một Duyên để hình thành. Không thể dửng dưng mà có, mà thành được. Những phân tích chi tiết bên trên cho thấy rõ Nhân và Duyên, khắng khít, không thể tách rời. Nhân là cái mầm mà không có Duyên giúp vào, tạo điều kiện thì Nhân sẽ không thành gì cả. Mà cái gì thành rồi thì cũng không đi ra ngoài qui luật của sự Sanh Thành Hoại Diệt. Bốn chu kỳ tự nhiên của vũ trụ, của con người và muôn vật. Nhân đi đâu cũng có Duyên đi theo. Bởi vì cái nghĩa của Duyên là nương theo. Nhân sanh ra cũng nhờ các điều kiện thuận lợi, trợ giúp của Duyên. Nhân lớn lên, bành trướng, sinh sôi nẩy nở cũng nhờ Duyên tưới tẩm. Nhân suy sụp, chết đi, biến mất cũng có bàn tay của Duyên trong đó, tức là những điều kiện bất lợi, suy yếu, tàn tạ, nghịch cảnh, chướng ngại, dẫn Nhân đến chỗ hoại diệt, đường cùng, sự chấm dứt.
Chiều đi lên hay đi xuống, thịnh hay suy, tốt hay xấu…của Nhân đều lệ thuộc vào Duyên. Có thuận Duyên, nghịch Duyên, trái Duyên, phải Duyên, Duyên hợp, Duyên tan, Duyên kỳ ngộ, Duyên may, Duyên rủi, Duyên lành, Duyên hờ, Duyên hẩm, Duyên thắm, Duyên muộn, Duyên sâu, Duyên cạn, Duyên hài, Duyên ước, Duyên hẹn, Duyên thề…Có Ác Duyên thì cũng có Thiện Duyên, Lương Duyên và Thanh Duyên, cũng nằm trong ý nghĩa cao quí, tốt đẹp này.
Người tin vào thuyết Thiên mệnh thì có Duyên tiền định. Khi chẳng có chuyện gì dính líu, liên quan thì gọi là Vô Duyên. Tạm cho là như người dưng, như nước lã…Xin tạm thời nói như vậy vì thực ra trên cõi đời này, giữa mọi con người, mọi con vật, mọi đồ vật, mọi việc đều có Nhân Duyên chằng chịt với nhau. Cũng xin đừng lầm lẫn ở đây, Vô Duyên, có nghĩa là chẳng hay ho, thú vị « chuyện này thật vô duyên » ngược với Có Duyên như « ăn nói có duyên » và xinh xắn, quyến rũ, mặn mà như «  cô này vừa đẹp vừa có duyên »…
Chữ Duyên dùng để chỉ tình yêu đôi lứa, hôn nhân, gọi là Tình duyên, Duyên bàng bạc khắp nơi, khắp cùng tận nẻo đường trên thế gian này, khắp cùng mỗi số phận của con người, con vật, sự vật, sự việc. Nói duyên phận, duyên số là vì có những yếu tố từ Nhân, từ Duyên mà tạo nên số phận, số mệnh riêng biệt của mỗi con người. Hai từ duyên phận hay duyên số đều trở nên thông dụng và thường được hiểu như là nói đến số phận gắn liền với hôn nhân, tình duyên nhưng đúng nghĩa của chữ Duyên thì không hạn hẹp như thế.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Tất cả đều phải nhờ bàn tay đưa đẩy của Duyên. Tôi sinh ra, lớn lên và lưu lạc nơi này chốn nọ. Tại sao không kết hôn với người này mà lại với người nọ ? Tại sao lại không thể là chỗ này chỗ kia mà phải là chỗ này chỗ nọ ? Tôi được việc này việc nọ, làm chuyện này chuyện kia, thành tựu hay thất bại, trúng mánh hay thua lỗ, phát đạt hay suy sụp. Tất cả đều có Nhân có Duyên.
Đôi lúc chúng ta nói do tình cờ mà gặp gỡ, mà tự dưng nên chuyện, có thể là thành bạn, có thể thành vợ chồng. Ở đây, hai người, đương sự là Nhân và cuộc gặp gỡ tình cờ là Duyên, nhờ đó mới có mối quan hệ  tiếp nối theo sau. Những mối Nhân Duyên được ví như những xâu chuỗi. Một hạt Nhân kéo theo một hạt Duyên, rồi một hạt Duyên lại sinh ra một hạt Nhân khác, cứ thế tiếp tục xâu chuỗi dài bất tận của Nhân Duyên.
Giống như ta kết hôn với một người thì dính liền với cả gia đình, họ hàng, bạn bè, hàng xóm, thân quen, xa gần của người bạn đời. Từ một Nhân một Duyên kéo ra thành trăm, ngàn, vạn mối Nhân, Duyên khác.
Tình cảm của con người vừa vi tế vừa phức tạp. Xúc động trước một con người, con vật, đồ vật hay sự việc gì đó cũng phải do Nhân do Duyên đứng đằng sau « giựt dây » như bàn tay phù thủy hoạt động trong bóng tối, điều khiển con người mà con người không hay biết !
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos
Một thí dụ: bạn đi ra phố để mua một món đồ bạn cần, rất nhiều cửa tiệm mở ra trước mắt bạn nhưng rồi bạn chọn đi vào cửa tiệm này mà không bước vào cửa tiệm khác, vì sao ? Vì bạn có « nhân duyên » với cửa tiệm này: thương hiệu của cửa tiệm đáng tin cậy, món hàng có phẩm chất tốt, hợp nhãn, hợp ý, cô bán hàng mặt mày trông vui vẻ, và có giá hạ treo trước cửa…v.v…Món hàng bạn cần mua là Nhân, tất cả những lý do như đáng tin cậy, phẩm chất tốt, vui vẻ, giá rẻ…là Duyên để bạn sẽ mua món hàng, món hàng đó sẽ thuộc về sở hữu của bạn đều có đầy đủ hai yếu tố Nhân và Duyên. Nhân hay Duyên cũng có thể là tự mình tạo ra hay do từ nơi người khác.
Trong thí dụ đi mua hàng nói trên, bạn nghĩ là mình chủ động ? Hoàn toàn sai ! Chính người thương gia kia mới là người chủ động. Vì sao ? Vì người đó đã khôn khéo « dàn trận » trước mắt bạn là một thương hiệu đáng tin cậy, món hàng có phẩm chất tốt, cô bán hàng miệng cười xinh xắn  và cái giá rẻ treo ngay trước cửa thật to, làm thế nào mà bạn không thể thấy và không ngần ngại bước vào ?!
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Cho dù mình ở thế chủ động hay bị động, Nhân và Duyên vẫn tác động đến mình như nhau.
Một thí dụ khác mà bạn chủ động: Yêu một người. Bạn sẽ chủ động tình huống này với những ý tưởng như «  Cô ấy hiền lành, nấu ăn ngon, giống mẹ, đẹp như Grace Kelly, hoặc anh ấy thông minh, giống bố, đẹp trai như Brad Pitt… » Nhân là người con trai hay con gái mà bạn hướng đến. Ý tưởng và hình ảnh bạn tự dựng lên trong đầu như giống mẹ, giống bố, đẹp gái, đẹp trai là Duyên để cho tình cảm nảy sinh. Và khi tình cảm nảy sinh rồi thì sẽ có sự đeo đuổi để tìm cách gần gủi, chiếm đoạt làm sở hữu của mình.Trên đời, không có một cặp tình nhân hay vợ chồng nào mà không nhìn nhận rằng bạn trai, bạn gái, chồng hay vợ mình là sở hữu của mình.
Hãy suy nghĩ xa hơn. Trong thí dụ « Yêu một người » này, có thật bạn chủ động không ? Hay cũng bị động như khi bước vào một cửa hàng trước đó ? Đúng vậy ! Bạn đang bị thôi thúc bởi cái bản năng thèm khát yêu đương đấy, ở đây, bạn đang bị động và bạn chỉ chủ động trong trình tự tiếp theo sau là sự đeo đuổi, chiếm hữu, làm thỏa mãn bản thân mà thôi !
Đối với một con vật, một đồ vật hay một sự việc cũng không có gì khác. Sự thèm khát thúc đẩy Nhân và Duyên tương tác. Đạo Phật gọi đó là Ái hay Khát Ái. Cái trình tự này sẽ được lập đi lập lại cho tất cả mọi trường hợp, không ngoại lệ. Nhân là con vật, đồ vật hay sự việc mà ta khao khát.Ta sẽ dựng một hình ảnh trong đầu, « chồng lên » cái hình ảnh trong thực tế, cố tìm những lý do phù hợp với sự suy nghĩ, sở thích hay gì đó, miễn là chính ta hứng thú, chấp nhận được và hình ảnh, lý do, sự suy nghĩ theo sở thích hay theo gì đó mà ta « thêu dệt, bày vẽ » ra sẽ là cái Duyên cho ta gần gủi với con vật, với đồ vật, với sự việc kia và ta bắt đầu cuộc đeo đuổi, biến thành vật sở hữu, và tất nhiên ta là sở hữu chủ. Lòng khao khát đã được thỏa mãn. Duyên đã làm xong cái «phận sự» là kết nối, gắn liền ta với đối tượng ta khao khát. Từ đó có chữ Kết Duyên là vậy. Đây cũng là một đặc tính của Duyên. Gắn bó keo sơn. Dân gian có câu thật chính xác:
                Phải duyên thì bám như keo
                Trái duyên, trái kiếp như kèo đục vênh. (5)
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ VÀ TÌNH YÊU  photos
Những Nhân và Duyên đi theo chiều hướng thuận, dẫn dắt đến sự gắn bó, liên hệ, khắng khít kèm theo là sự thụ hưởng. Có những Nhân và Duyên đi theo chiều nghịch sẽ là sự chia tay, xa lìa, tách rời, rủ bỏ, không dẫn đến sự thụ hưởng.
Như một cuộc gặp gỡ dù là tình cờ, gặp ai đó cùng đứng chờ xe buýt, mà nếu Nhân Duyên theo chiều hướng thuận thì tự nhiên ta sẽ thấy cái mặt anh chàng hay cô nàng này dễ thương, đáng yêu lúc đó ta mới quyết định làm quen, gợi chuyện rồi từ đó cứ ngong ngóng chờ cùng chuyến xe, trao đổi địa chỉ, e-mail, điện thoại…Nhân Duyên theo chiều hướng thuận thì sẽ như nhụy hoa quyến rũ bầy ong bướm, mật ngọt thì kiến bò đến, như keo như sơn thì dính chặt, đeo đẳng nhau, cho tới khi sở hữu nhau mới thôi.
Nếu theo chiều hướng nghịch thì ta sẽ thấy cái mặt này thật đáng ghét, bộ tịch này thật hợm hỉnh, ta không muốn dính líu gì tới « hắn ta » thoạt ngay từ đầu mới nhìn, thì lúc đó Duyên có tác động là xua đuổi, tách rời, ly khai. Cái gặp gỡ là Nhân, nhưng Duyên, qua sự suy nghĩ chủ quan của trí óc thì chận lại, không tạo điều kiện cho Nhân trưởng dưỡng, được chuyển tiếp đến giai đoạn Thành. Có thể nói Nhân đã bị giết chết từ trong trứng.
Tuy nhiên hãy coi chừng, Duyên không tạo điều kiện cho Nhân được Thành nhưng Nhân vẫn còn đó hoài, Nhân tưởng như chết mà …chưa chết ! Nhân vẫn nằm đó, âm thầm như một cái xác không hồn mà thôi ! Cái hình ảnh của buổi gặp gỡ khuôn mặt đáng yêu hay đáng ghét đó đều vẫn còn lưu lại đâu đó, chỉ cần trí nhớ, trí tưởng tượng gợi lại là thấy rõ như in trước mắt !  Và cái tình cảm yêu thương, gắn bó cũng như cái tình cảm ghét bỏ và xua đuổi đều là mầm mống chứa chất Nghiệp theo nhà Phật ! Mống khởi yêu hay ghét đều làm Nhân cho Nghiệp mà khi có đủ điều kiện nghĩa là có bàn tay của Duyên trợ giúp thì Quả sẽ trổ mà thôi !
Chúng ta ai cũng từng nghe qua câu nói của dân gian:
                Ghét của nào trời trao của ấy !
Đó chẳng qua là cái Nhân « ghét » đã gieo tự lúc nào mà không biết, không nhớ, tưởng là đã « giết » nó trong trứng rồi, ai ngờ nay gặp điều kiện, Duyên thuận thì nó trờ mặt tới !
Theo đạo Phật thì Nhân, Duyên, Nghiệp, Quả dính chùm vào nhau, theo nhau, tiếp nối nhau, luân chuyển, chạy vòng, chạy quanh rồi cũng có ngày gặp nhau. Gieo Nhân nào thì được Quả đó. Có Duyên thì cũng có Nghiệp hợp sức, hợp lực. Có nghĩa là khi đã có lý do chính đáng rồi thì sẽ có hành động, do đó tạo nghiệp. Rồi cứ thế lại tạo ra Nhân khác, Quả khác, Duyên khác và Nghiệp khác. Vô cùng vô tận.
Chúng ta đã hiểu như thế nào là Duyên, chính là điều kiện, hỗ trợ cho cái Nhân thành tựu và cũng chính là lý do từ đó, nương vào đó mà nảy sinh những sự việc tiếp theo. Không có Duyên thì Nhân cũng đứng một chỗ, không sinh sôi nẩy nở, đâm chồi, có hoa có quả, sinh con đẻ cái, cháu chắt đầy đàn, từ một đồng bạc, trở thành một triệu bạc…v.v…Và rồi cũng do chiều nghịch của Duyên mà làm cho Nhân biến mất, hoại diệt, như sinh lão bệnh tử, từ giàu có đến nghèo cùng, từ hạnh phúc đến đau khổ, từ được khen đến bị chê…Tất cả đều có sự tác động của  Nghịch Duyên.
Có điều rất đáng được chú ý là những ý tưởng hay hình ảnh do chính ta tạo ra, thêu dệt trong đầu thường không đúng với thực tế, nhưng đã tạo ra cái Duyên giúp cho Nhân thành tựu thì chắc chắn sẽ dẫn tới cái Quả là sự thất vọng. Đây là điều thường xuyên xảy ra, nhất là khi ta đang yêu, ta không còn lý trí mà chỉ biết mơ mộng, chỉ thấy người trong mộng, người thật thì…quá xa vời ! Điều này thường dẫn đến chuyện từ Duyên bỗng biến thành Nợ !
Tiếp đến, xin bàn đến chữ Nợ. Thật ra thì cũng không có gì khó hiểu vì sao mà từ Duyên lại chuyển qua thành Nợ. Đó chỉ là Duyên này đang tác động theo chiều nghịch của nó mà thôi.
Hôn nhân ban đầu đẹp đẽ, hạnh phúc, thì với thời gian, dần dà trở nên khổ đau, cay đắng, cơm không còn lành, canh không còn ngọt, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, chẳng qua là do những mối Nghịch Duyên đột nhiên xuất hiện. Những cái duyên xấu, gây đau khổ, bất hòa, xung đột này có thể là nó đã có từ trước nhưng mắt ta đã bị đánh hỏa mù bởi những ý tưởng và hình ảnh mà chính ta tự tạo, tự thêu dệt lấy, như đã đề cập ở phần trên, hoặc là do nơi bản thân mình, và của đối tượng, lần lần, từ từ mới bộc lộ cái bản chất xấu, thật, bị dấu giếm, che đậy, hoặc do bản tánh mình thay đổi với thời gian và cũng có thể do bên ngoài đem lại, do ảnh hưởng không tốt, như bạn bè chỉ để nhậu nhẹt, chơi bời, bê tha, quên bổn phận, trách nhiệm, hoặc có quá nhiều ưu tư, căng thẳng trong công việc nên không đủ kiên nhẫn với những chuyện tạm gọi là vụn vặt của đời sống hằng ngày, tính tình trở nên khó chịu, gắt gỏng, hay la mắng, giận dữ, người đàn ông thường dễ thiếu sót trong việc giáo dục con cái, gây thất vọng cho người vợ. Phía người phụ nữ thì cũng không phải ai cũng như vợ của Tú Xương, an phận, tảo tần mà có thể là ham đua đòi vật chất, và cũng có trường hợp «  Nhàn cư vi bất thiện » được cuộc sống thoải mái rồi thì sinh chướng, sinh tật, không bao giờ biết bằng lòng, biết đủ, được voi đòi tiên…Trăm ngàn vạn lý do để cái Duyên chuyển thành cái Nợ.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Cái nhẹ nhàng, đẹp như mơ như mộng không còn kéo dài, chạm mặt với cuộc sống thực tế, ít ai mà không thốt lên:
                          Trách duyên lại giận trăng già
                          Xe tơ lầm lỗi hóa ra chỉ mành
                          Bây giờ chồng thấp vợ cao
                          Như đôi đũa lệch so sao cho bằng ! (6)
                          ….
                          Thế gian được vợ hỏng chồng
                          Có phải như rồng mà được cả đôi ! (7)
                          ….
                          Trai có vợ như rợ buộc vào chân. (8)
Hay là:
                          Con là nợ, vợ là oan gia ! (9)
Hoặc:                         
                          Anh khôn nhưng vợ anh đần
                          Lấy ai lo liệu xa gần cho anh ! (10)
Nhưng không phải chỉ có đàn ông mới than, đàn bà cũng thế thôi:
                          Vì chàng thiếp phải mò cua
                          Những như thân thiếp thì mua mấy đồng
                          Vì chàng thiếp phải long đong
                          Những như thân thiếp cũng xong một bề. (11)
                          ….
                          Có con phải khổ  vì con
                          Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay. (12)
                          …
                          Chồng con là cái nợ nần
                          Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm ! (13)
Những câu nói của dân gian, trải qua bao năm tháng, bao thời đại vẫn còn nguyên giá trị, chứng minh được cho chúng ta thấy cái Duyên ban đầu đã biến thành cái Nợ. Nhưng chưa hết ! Cái Nợ này còn dây dưa kéo từ đời này sang đời khác. Cho nên mới có câu nói «  Nợ Ba Sinh » là ám chỉ cái Nợ của nhiều kiếp, kiếp quá khứ, kiếp hiện tại và cả kiếp vị lai ! Ba Sinh, dịch từ chữ Hán là Tam Sinh hay Tam Kiếp vậy. Có chấp nhận thuyết luân hồi thì mới hiểu được Nợ Ba Sinh này, vì con người gặp nhau kiếp này thường là đã gặp nhau kiếp trước rồi, và đã gặp nhau kiếp hiện tại thì cũng rất dễ gặp lại nhau trong tương lai, tức là kiếp sau.
Kim Trọng khi gặp Thúy Kiều cũng nói đến cái Nợ Ba Sinh này. Những kẻ yêu nhau mà không được trọn vẹn kiếp này thường hay « hẹn hò » chờ nhau, gặp lại kiếp sau ! Chính trường hợp của Kim Trọng và Thúy Kiều cũng không khác:
                          Kiếp này duyên đã muộn rồi
                          Thề xin kiếp khác đền bồi duyên sau. (14)
                          …
                          Kiếp này duyên đã phụ duyên
                          Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh. (15)
Bà vợ của Tú Xương thì an phận:
                          Lặn lội thân cò khi quãng vắng
                          Eo sèo mặt nước buổi đò đông
                          Một duyên hai nợ âu đành phận (16)
Chấp nhận Duyên phận, Duyên số cũng không phải là chuyện dễ làm. Thời buổi hiện đại cho thấy, cứ hai cuộc hôn nhân là có một vụ ly dị. Biết sống với nghịch cảnh không phải chuyện dễ làm. Con người thường thiếu kiên nhẫn và mắc cái tật là đổ lỗi, đổ thừa cho người khác ! Luôn luôn có một lý do mà nhất định không phải là lỗi của tôi. Con người đúng là bất toàn, bất hoàn hảo và thay đổi tánh tình, sở thích theo thời gian, theo tuổi tác, theo hoàn cảnh đó là chuyện tự nhiên, theo luật vô thường, phải có trên con đường đời gập ghềnh không bằng phẳng này,  nhưng con người đã không làm chủ, không chế ngự, không hàng phục được những điều bất như ý, bất mãn, bất toàn do đó sinh ra đau khổ, giận dữ, oán trách và cuối cùng là chia tay, cắt đứt mối tơ duyên.
Thật ra, có thể có chăng một thời đại lý tưởng cho con người ? Một nền văn minh hay một nền giáo dục đem lại hoàn toàn hạnh phúc cho con người ? Nhiều bài học của quá khứ đã được để lại nhưng con người có làm theo, có thay đổi gì không ? Những lời dạy của thánh nhân không hề thiếu. Mọi nổ lực không ngừng của con người qua triết học, tôn giáo, tâm lý học đều để giúp con người vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống nhưng chuyện lý thuyết thì vẫn dễ mà chuyện thực hành nơi tự thân mỗi con người dường như vẫn là điều khó vượt qua nhất.
Chỉ trừ là con nít, lớn lên ai cũng nhận ra cuộc đời không là màu hồng mà nhuốm màu đỏ của máu, của chiến tranh, chết chóc, bệnh tật, màu đỏ của lửa hận thù, xung đột, bạo động. Đường đời không trải thảm đỏ của vinh quang và hạnh phúc mà đầy dẫy thất bại và đau khổ. Dòng đời không phải là dòng sông lặng lờ không sóng gió mà ngược lại, đầy bão giông. Những điều bất trắc, bất như ý, bất toại nguyện, bất đắc chí, bất đồng, bất công, bất bình, bất lương, bất chấp, bất trách, bất khả thi, bất thành tựu, bất lực, bất pháp, bất tình, bất nghĩa, bất toàn, bất an…rải rắc đầy dưới bước chân đi của con người. Sự chống chỏi để đứng vững trên hai chân, tạo dựng sự nghiệp, một gia đình, một căn nhà, cơm ăn áo mặc, tiện nghi vật chất đầy đủ làm cho con người lao đao vất vả, mau già nua, bệnh tật và chết ! Không có ai chỉ ngồi không, không động móng tay mà có công danh sự nghiệp, tài sản vật chất, chỉ biết thụ hưởng. Mà nếu có ai có cái may mắn sinh ra đã được hưởng gia tài của cải cha mẹ để lại cũng phải biết lo toan để gìn giữ, điều này cũng không dễ, thêm vào đó, nếu không gặp lo âu phiền toái chỗ này thì cũng gặp ở chỗ khác. Được may mắn chỗ này thì sẽ xui xẻo ở chỗ khác mà thôi. Không vô cớ mà lắm nhà tỷ phú, người nổi danh tự tìm đến cái chết !
Tất cả những điều « bất » nghĩa là không, không được, không có, không thành, không xảy ra như ý muốn, như mong cầu, không đem lại hạnh phúc, sự tốt lành mà gây phiền toái, lo âu, đau khổ, thất vọng xảy đến trong đời người được xem như gánh nặng oằn xuống đôi vai mà con người phải chịu đựng, gọi đó là Nợ.
Không ai muốn cưới một người vợ hay lấy một người chồng mà là một « bà chằng » hay « ông chằng », một Hoạn Thư hay Sở Khanh, cũng thế, không một ai đẻ con ra mà muốn con mình xấu xí, bệnh tật, ngu dốt, lêu lổng, trở nên du đãng, du côn cả. Cũng như trong một gia đình, không ai muốn anh chị em mà trở nên bất hoà, thù ghét nhau.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Nhưng có những điều mà con người không làm chủ được, con người phải cam chịu, xem như là phần số của mình. Sự chịu đựng, phải mang, phải gánh cái khổ mà không thể trút đi đâu, bỏ chỗ nào hết, được xem như là Nợ.
Đúng ra phải hiểu chữ Nợ như là cái gì mình phải trả vì đã có vay. Nên đạo Phật hiểu chữ Nợ như là một điều mà mình phải chịu, phải gánh vì mình đã từng tạo ra cái Nhân của cái Nợ này, bây giờ phải trả. Đó cũng không nằm ngoài luật nhân quả. Và cắt nghĩa luật nhân quả chỉ trong một đời thì không thể nào đúng và đầy đủ được, cho nên đạo Phật phải dựa vào thuyết luân hồi. Phải trải qua nhiều đời, từ quá khứ đến hiện tại và vị lai mới thấy hết Duyên, Nghiệp, Quả báo. Quả báo không gì khác hơn là Nợ, trả vay, vay trả.
Thí dụ ta đã từng mượn tiền ai mà không trả thì sẽ có ngày ta chịu cảnh túng thiếu, nghèo nàn, làm lụng vất vả, làm thân tôi đòi…Đó là quả báo của sự việc giựt tiền, không trả nợ. Nếu ta đã từng lường gạt, dối trá ai thì ta sẽ gặp lại những cảnh người khác lừa đảo ta, làm ăn thua lỗ. Nếu ta đã từng sống đối xử tệ hại, ác độc, hành hạ thậm chí sát hại người khác thì ta sẽ sống lại cái cảnh bị hành hạ, bị đánh đập, bị sát hại.
Ngược lại, khi ta sống tốt, sống hiền lành, đạo đức, hiếu thảo, rộng lượng thì ta sẽ được đền bù lại bằng sự tốt đẹp. Ở đây, chính những người đã nhận, đã hưởng sự tốt lành, từ sự rộng lượng, từ những hành động đạo đức của ta sẽ là người « mang nợ » cho dù là trong nghĩa tốt, và họ sẽ đền đáp lại những gì họ đã nhận được. Họ tự xem là những người có Nợ với người đã đem điều tốt lành đến cho họ.
Như vậy phải thấy chữ Nợ qua hai chiều. Một chiều là vay trả nhưng điều xấu mà mình đã tạo, tức là phải gặp lại và chịu đựng những hoàn cảnh hay hành động xấu xa mà mình đã tạo. Một chiều khác là đền ơn những gì tốt đẹp mà mình đã nhận được. Đền đáp một điều gì đó nghĩa là có nhận, thì có vay, nghĩa là có Nợ, cho dù trong nghĩa tốt.
Nợ có thể là vật chất hay tinh thần và sự vay trả cũng theo đó mà có thể là vật chất hay tinh thần. Và cũng có thể là vay trả trực tiếp hay gián tiếp. Rất nhiều cách, nhiều kiểu để vay, để mang nợ và cũng thế, rất nhiều kiểu, nhiều cách để trả Nợ, đền ơn.
Chúng ta hiểu ra rằng thọ ơn ai, nhận được sự giúp đỡ qua vật chất hay tinh thần đều được xem như là mang Nợ. Cho dù người ra ơn không hề nghĩ đến chuyện đền đáp, trả ơn gì cả.
Chúng ta ai cũng được giáo dục là thọ ơn và nhớ ơn Sư, ơn Thầy, ơn cha mẹ, ơn những vị quốc thủ, nguyên thủ biết lèo lái đúng đường vận mệnh đất nước, những người chiến sĩ đã hi sinh bảo vệ tổ quốc, những vị bác sĩ, y tá, nhân viên bệnh viện tận tình chăm sóc, gần hơn thì có ơn vợ chồng, anh em, bà con, láng giềng, ơn chủ, ơn đồng nghiệp, ơn bạn bè và cả những người làm công, giúp việc…Cho dù là chúng ta đã bỏ tiền ra để trả công những người này. Không có họ thì cuộc sống hằng ngày của chúng ta sẽ khó khăn hơn nhiều, ai trông con cái, ai lo nhà cửa tươm tất cho ta rảnh tay lo sự nghiệp. Thời buổi hiện đại, ít có người phụ nữ nào mà không có công ăn việc làm. Thời xưa thì người đàn bà lại đông con, không có ai giúp một tay thì làm sao lo hết được công việc nhà. Khi ta mở công ty mà không có nhân viên hay công nhân nào chịu làm việc dưới quyền của ta thì công ty đóng cửa. Khi ta có công ăn việc làm cũng phải biết nhớ ơn người chủ cho dù họ mướn ta và trả lương cho ta, phần ta thì đã đóng góp tài năng, sức lực xứng đáng với đồng lương, nhưng không phải vì vậy mà không nhớ ơn người đã cho mình công ăn việc làm, và cũng đừng quên là không thiếu những người tài giỏi hơn mình. Ngoài ra, còn phải nhớ ơn…con cái vì nhờ có chúng nó mà mình mới sống theo nề nếp, biết ổn định, nhờ có trách nhiệm, bổn phận mà mình bỏ được tính ích kỷ. Hàng vạn hàng tỷ điều mà chúng ta có thể mang ơn. Cũng là Nợ, khi nhận được sự dạy dỗ, kinh nghiệm, hiểu biết hay bất cứ điều gì đó từ người khác, cũng có thể là điều tiêu cực như lời chê, trách, phê bình, chỉ trích…nhưng dưới cái nhìn theo chiều tích cực nên nó trở thành là Ơn.
Chúng ta cũng được dạy dỗ là biết cám ơn tất cả những gì chúng ta thọ nhận trên đời, tốt hay xấu, lành hay dữ, rủi hay may…Không than trách, biết ơn là đủ. Vì điều gì cũng có thể cho ta những bài học đáng suy nghĩ, noi theo để sửa đổi, hoàn thiện mình và hạnh phúc hơn. Dù chỉ là thiên nhiên, cả vũ trụ này, chúng ta cũng mang ơn. Mở mắt dậy thấy mặt trời, được ánh sáng, được nắng ấm, có không khí để thở, có gió mát, có cơn mưa tưới tẩm cây cối cho đơm hoa kết trái, có đất đai để trồng trọt, có điều kiện để nuôi sống thân mạng…Từ một hơi thở vào, thở ra là chúng ta đã mang ơn. Ngay những con vi khuẩn trong thân thể ta, cũng có những con vi khuẩn « tốt » chứ không phải vi khuẩn nào cũng đem lại bệnh tật cho ta.
Phật giáo có cái nhìn bình đẳng giữa người thi ơn và người thọ ơn. Không có học trò thì ông thầy dạy cho ai ? Không có bệnh nhân thì bác sĩ cũng ngồi không. Không có người nghèo khó thì cũng không có những người làm từ thiện. Không có người ăn xin thì cũng không có người bố thí. Không có người túng thiếu thì đâu có kẻ cho vay (và trở nên giàu có nhờ tiền lời…cắt cổ !)
Người thi ơn thì được phước, nhưng được phước là nhờ có đối tượng để thi ơn. Do đó mà bình đẳng. Người thi ơn hay người thọ ơn đều…phải nhớ ơn nhau ! Thử phóng tầm nhìn xa hơn một chút nữa, chúng ta sẽ thấy, không phải chỉ gọi là Ơn khi việc ấy chỉ hoàn toàn vô vị lợi, mục đích chỉ để giúp người, mà qua những liên hệ « có đi có lại », có « cung có cầu », có thu nhập, lời lãi, cũng có thể xem là Ơn, nên cũng phải có sự đền đáp.
Thí dụ, tiệm phở sẽ sạt nghiệp nếu không có ai thèm ăn phở. Nếu ai cũng cho xướng ca là vô loại thì ca sĩ, nhạc sĩ sẽ thất nghiệp. Cuộc đời sẽ buồn thiu nếu không có âm nhạc vang lên. Nếu ai cũng hà tiện, không mua sắm gì hết, chỉ ba cái áo, một đôi giày cũ quanh năm suốt tháng thì không có buôn bán gì được cả và kinh tế cũng suy sụp !
Ở đây, người bán phải biết ơn người mua và người mua cũng phải biết ơn người bán, cả hai bên đều cần nhau. Cho đến cả việc mua vui, được gọi là món ăn tinh thần, người tìm vui cũng phải biết nhớ ơn người đem vui đến cho mình. Người đem vui được đền bù xứng đáng và không quên là nếu không có người tìm vui thì mình cũng khoanh tay ngồi không.
Theo Phật giáo còn có những vị được gọi là Nghịch Hạnh Bồ Tát, các vị này «  làm gương » cho chúng sanh bằng những hành động không được gọi là thiện hay đạo đức, khi thấy hậu quả của những hành động bất thiện đó đem lại thì tự nơi chúng sanh sẽ nảy sinh sự ghê tởm và xa lánh điều xấu ác đó, sẽ không hành động theo cái gưong xấu được thấy.
Xin đưa một thí dụ: bạn gặp một người say sưa nghiện ngập, áo quần thốc thếch, trông dơ dáy bẩn thỉu, đi đứng xiêu vẹo, ngã nghiêng ngoài đường phố, tự nhiên bạn ghê tởm cái hình ảnh này và bạn tự nói «  khiếp quá, tôi không bao giờ trở thành như ông ta được! » Bạn hãy  « cám ơn » ông ta đã cho thấy cái hình ảnh tồi tệ đó để bạn sẽ ghi nhớ và không  « noi » theo cái gương xấu này. Có thể ông ấy là Nghịch Hạnh Bồ tát đấy, chớ vội khinh dễ ! Nhưng mấy ai thấy đó cũng là một bài học, cái bài học «  xấu xa » không đáng noi theo ? Bình thường con người ta chỉ biết khinh khi hoặc có thể là xót xa tội nghiệp, chứ ai mà lại cám ơn cái người thể hiện cái điều xấu ác được. Nhưng không ! Đạo Phật dạy cũng nên cám ơn người đã đưa cái hình ảnh xấu xa tệ hại đó ra như cám ơn người đã làm gương tốt vậy. Từ sự cám ơn này, tâm từ bi thương xót, tấm lòng trắc ẩn sẽ được khai mở khi gặp những người không có cuộc sống đạo đức, ngay thẳng, nghèo hèn, xấu xa, có thể họ chứa chất trong lòng một nỗi khổ nào đó, một hoàn cảnh đau thương nào đó mà mình không biết. Không cám ơn, không thương xót được thì cũng chẳng nên khinh thường.
Một thí dụ để biết cám ơn tất cả, cho dù là gương tốt hay gương xấu. Khi vào bệnh viện, để cảnh giác mọi người về sự tai hại của rượu và thuốc, chúng ta thấy treo nhan nhãn trên tường hình ảnh một lá gan, hay lá phổi lành mạnh và bên cạnh là lá gan, lá phổi bị bệnh, chúng ta rùng mình thấy hình ảnh ghê rợn của lá gan, lá phổi bệnh hoạn và tự nói là sẽ không mắc hai thói quen độc hại này. Đó là nhờ hai cái tấm hình làm gương được trưng bày trước mắt. Thông thường, chúng ta chỉ nhớ và cám ơn vị bác sĩ đã chỉ cho biết điều hại của thuốc và rượu nhưng lại không nhớ mà cám ơn những người đã cho mình thấy lá gan lá phổi kia. Nhất là người có lá gan, lá phổi bệnh hoạn, do được thấy tận mắt cái hình ảnh ghê rợn đó mà mình mới có cái ý chí mạnh mẽ là dứt bỏ thói rượu chè. Từ sự biết ơn này, ta sẽ khởi lên tâm từ bi hướng về người bệnh tật. Khởi Từ Tâm cũng là một pháp môn tu tập trong đạo Phật.
Có những danh ngôn mà ta từng được nghe qua, tương tự như « Điều gì không giết tôi chết, chỉ làm cho tôi thêm sức mạnh » Vậy thì chúng ta hãy cám ơn những đau khổ, thử thách, gian nan đã phải gánh chịu. Cha mẹ cũng thế, thương thì cho roi cho vọt, chỉ một mục đích là giáo dục con cái được nên người. Tuy nhiên, ở thời buổi hiện đại này thì không còn chuyện cho roi cho vọt nữa, coi chừng bạn sẽ bị kiện ra tòa đấy !
Người hạnh phúc là người biết cám ơn và biến cái Nợ thành Ơn. Luôn luôn biết cám ơn và không hề trách móc. Chúng ta đã trả xong Nợ rồi đấy !
Hãy bước qua chữ Tình ! Chữ này mới là rắc rối…sự đời làm sao ! Có nó thì cuộc đời thêm hoa thêm hương. Không có nó thì như đi vào một sa mạc khô cằn. Có nó thì cái gì cũng được tô bồi cho thêm phần đẹp hơn, tốt hơn, ngon hơn. Không có nó thì như ăn một món ăn mà không có mắm có muối có gừng có ớt. Nhưng có nó thì cuộc đời cũng lắm truân chuyên, lên thác xuống ghềnh. Không có nó, có thể, có thể thôi nhé, cuộc đời sẽ lướt đi êm ả như con thuyền trên sông không gợn sóng, quá lặng lẽ và…buồn tênh !
Con người, một tập hợp tâm sinh lý, một động vật có lý trí và tình cảm. Biết suy nghĩ và có cảm xúc. Cảm xúc là những cảm nhận đến từ khối óc, không phải từ trái tim đang đập trong lồng ngực như phần đông chúng ta đều tưởng như thế vì khi có một cảm xúc gì đó thì trái tim đập mạnh nhưng đó chỉ là sự biểu hiện của cảm xúc qua thân thể, không phải từ trái tim mà có cảm xúc. Tuy nhiên chúng ta vẫn quen dùng và phân chia « tiếng nói của lý trí, tiếng nói của con tim » tưởng chừng như lý trí là xuất phát từ trong đầu và tình cảm là từ trái tim nhưng thật ra, theo các nhà nghiên cứu của khoa não bộ hiện đại thì  lý trí hay tình cảm gì cũng đến từ bộ não. Bộ não, trung tâm điều khiển mọi ý thức hay nhận thức của tư duy, bao gồm ý tưởng, trí nhớ, sự phân biệt, nhận biết, so sánh, cùng sự nhận thức đến từ các giác quan như mắt, tai, mủi, lưỡi, da thịt. Con người nhận ra ánh sáng, hình tướng, màu sắc, âm thanh, mùi, vị, sự chạm xúc nơi thân đều đến từ bộ não. Con người biết cử động, ăn, uống, nhai, nuốt, nói năng gì cũng từ bộ não. Đó là những hoạt động của thân mà ai cũng nhận ra vì được biểu hiện ra ngoài. Cũng từ bộ não mà ra nhưng phần này không được biểu hiện rõ ra nơi thân và con người phải mượn hình ảnh, ngôn ngữ hay cử chỉ để diển tả, đó là phần trừu tượng, phần của nội tâm, của tư duy, tư tưởng, sự sáng tạo, trí tưởng tượng và cảm xúc. Chính nơi phần cảm xúc này mả phát sinh ra các tình cảm như vui, buồn, giận, ghét, yêu thương, ham muốn…
Như vậy, phần cảm xúc này phát xuất từ bộ não xuyên qua 5 giác quan là mắt, tai, mủi, lưỡi và thân (da thịt) và các đối tượng của 5 giác quan này như hình ảnh, âm thanh, mùi, vị và sự đụng chạm. Năm giác quan, sau khi tiếp xúc với 5 đối tượng thì sẽ có phản ứng là những tình cảm yêu thích hay ghét bỏ, buồn hay vui, mừng hay giận, ham muốn hay không ham muốn…
Theo Phật giáo thì con người có thêm giác quan thứ sáu là ý hay ý căn. Đối tượng của ý căn là tư tưởng, ý tưởng, ý nghĩ. Ngược lại với 5 giác quan nêu trên, thuộc về phần vật chất, thuộc cái thân, thì ý căn thuộc phần tâm lý, phần tinh thần. Hai phần vật chất và tâm lý này nương tựa vào nhau mà tồn tại. Nhờ phần vật chất, 5 giác quan của cái thân mà phần tinh thần, hay tâm lý và cũng là tâm linh, mới có cơ sở để thể hiện những hoạt động trừu tượng của ý căn.
Như vậy, não bộ, năm giác quan và giác quan thứ sáu, ý căn, chỉ là công cụ hay phương tiện để diển đạt những thông tin của chủ nhân đứng đằng sau những hoạt động của phần tinh thần hay tâm lý, tâm linh này mà tùy theo quan điểm của mỗi tôn giáo hay tín ngưỡng, có thể là một Linh hồn, một Đại Ngã, một Phạm Thiên hay chỉ là một cái Tôi, cái Ngã và đơn giản hơn nữa, chỉ là cái Tâm.
Tất cả mọi người trên trái đất đều thống nhất một điều: dùng đại từ Tôi để chỉ cho cái thân tổng hợp của hai phần tâm sinh lý của con người. Nhưng khi cái thân vật chất này chết đi thì còn cái gì lại là điều không có sự thống nhất nơi con người. Giới hạn của bài này không bàn đến chuyện đời sau của cái Tôi mà dừng lại nơi cái Tôi hữu hạn với cái chữ Tình vây bủa nó đôi lúc đến ngạt thở !
Tình, có thể là thuần Việt cũng như xuất xứ từ Hán Việt, dùng để chỉ cái cảm xúc, sự rung động, một trạng thái tâm lý mà con người nhận thức được nhờ trung gian của não bộ, hệ thần kinh, khi đứng trước một con người khác, một con vật, một sự vật hay sự việc. Cảm xúc này tác động đến cả thân và tâm, có thể không được bộc lộ ra bên ngoài, chỉ giữ ở bên trong, nơi phần tinh thần, mà cũng có thể biểu hiện ra bên ngoài qua cử chỉ, nét mặt, hành động và ngôn ngữ.Tình cảm con người thực sự ra chỉ quanh quẩn nơi con số 7. Thất tình gồm có: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố và dục. Tức là vui mừng, giận dữ, buồn bã, vui vẻ, yêu thương, ghét và ham muốn.
Đứng trước một đối tượng, là con người với con người, với con vật, với đồ vật hay với sự việc, kể cả thiên nhiên, sau khi 5 giác quan đã nhận ra, hoặc hình ảnh, hoặc âm thanh, hoặc mùi, vị, sự xúc chạm và khi sự suy nghĩ hay tư duy trong đầu, từ nơi Ý, giác quan thứ sáu, đã « đánh giá, phán đoán » xong là có ngay sự chấp nhận hay không chấp nhận, giữ hay bỏ, đeo đuổi hay không, lập tức tình cảm sẽ nảy sinh trước đối tượng này.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Nếu chấp nhận thì tình cảm sẽ là vui mừng, vui vẻ, dần dần sâu đậm hơn để trở thành yêu thương và ham muốn hay thèm khát được sở hữu hay thụ hưởng tùy theo loại đối tượng. Nếu là con người và tùy theo liên hệ quen biết, thân, không thân, bạn hay người yêu…v.v…mà mức độ tình cảm được tăng trưởng theo cường độ của sự đeo đuổi, thèm muốn, hay khát khao, do đó mà tình cảm có thể chỉ được biểu hiện qua một cái bắt tay, một nụ hôn, một vòng tay hay xa hơn nữa, tiến tới sự phối hợp tình dục. Nếu là một đồ vật, cái bánh ngọt chẳng hạn, thì tình cảm ban đầu chỉ là thích cái bánh đó, dần dần tăng lên cho đến khi thèm muốn là phải ăn cái bánh đó. Nếu đối tượng là một con vật thì tình cảm ban đầu chỉ là vài cái vuốt ve, ôm ấp vào lòng, sau đó là tìm cách đem về nuôi, thân cận ngày đêm. Với một việc gì đó thì tình cảm được biểu hiện là sự thích thú, hứng khởi và con người sẽ nhập cuộc, bắt tay vào việc, đồng hóa mình với sự việc, hoàn toàn dấn thân, bỏ công bỏ sức cho sự việc, dồn hết cả tâm trí, năng lực. Đối với thiên nhiên, như cây cỏ, hoa trái, con người cũng nảy sinh tình cảm thích thú, yêu thương và tìm cách để sở hữu, rồi cũng chăm nom, săn sóc, tưới tẩm, nuôi dưỡng y hệt như đối với một con người hay con vật, đồ vật.
Khi một tình cảm yêu thích, yêu thương bắt đầu nảy sinh thì sẽ kéo con người đi xa hàng vạn dặm. Có thể trèo non lội suối, băng rừng vượt biển, bất chấp gian nguy chỉ để đến gần và sở hữu đối tượng mà mình đã gieo tình cảm vấn vương.
Dân gian lại có câu nói lên được cái tình mãnh liệt như vậy:
                          Yêu nhau chẳng quản đường xa
                          Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều. (17)
                          ….
                          Thương nhau chẳng quản xa gần
                          Cầu tay không vịn cũng lần mà sang. (18)
 
Chữ Tình trong quan hệ nam nữ thì thường được gọi là ái tình hay tình ái, nhưng chúng ta hiểu rằng chữ Tình không chỉ giới hạn trong tình yêu đôi lứa. Cũng như chữ Duyên, chữ Tình bàng bạc khắp nơi, khắp chốn. Khi nào có cảm xúc khởi lên với bất cứ đối tượng nào, người với người, với con vật, đồ vật, sự việc gì đều là Tình cả. Cho nên có Tình mẹ con, Tình cha con, Tình thầy trò, Tình bằng hữu, Tình đồng loại, Tình đồng môn, Tình đồng hương, Tình bà con, Tình láng giềng, Tình đồng nghiệp, Tình nghệ sĩ…
Nhưng xem ra chỉ có chữ Tình ái của nam nữ mới thật là phong phú và nhiều sáng tạo nhất.
Hãy đọc bài ca dao « Ước Gì » chứng minh cho sự sáng tạo phong phú này:
                          Ước gì anh hóa ra hoa
                         Để em nâng lấy rồi mà cài khăn.
                          Ước gì anh hóa ra chăn
                          Để cho em đắp em lăn em nằm.
                          Ước gì anh hóa ra gương
                          Để cho em cứ ngày thường em soi.
                          Ước gì anh hóa ra cơi
                          Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.(19)
Hoặc bài ca dao sau đây mà óc sáng tạo, trí tưởng tượng thật tuyệt vời:
                          Khăn thương nhớ ai
                          Khăn rơi xuống đất.
                          Khăn thương nhớ  ai
                          Khăn vắt trên vai.
                          Khăn thương nhớ ai
                          Khăn chùi nước mắt.
                          Đèn thương nhớ ai
                          Mà đèn không tắt.
                          Mắt thương nhớ ai
                          Mắt ngủ không yên. (20)
Khi không chấp nhận đối tượng thì tình cảm sẽ là ghét, kèm theo các tình cảm khác như sự buồn bã, không vui vẻ, bực tức, giận dữ. Thí dụ, ta chẳng thích chàng trai ấy hay cô nàng ấy mà cứ bị đeo đuổi, cứ bị bám lấy, « hắn cứ chìa cái mặt » thật đáng ghét, không biết thẹn thì ta sẽ sinh ra bực bội, không vui, từ từ trở thành giận dữ, thậm chí mắng chửi, xua đuổi. Với một đối tượng khác như con vật, đồ vật hay sự việc cũng không gì khác, nếu không chấp nhận, không thích, không ưa thì sẽ sinh ra ghét, từ ghét, sinh không vui, buồn bực, giận dữ và xua đuổi, tránh né hay vứt bỏ. Đối với thiên nhiên, cây cỏ, hoa trái thì phá hoại, đào bới, cắt xén, tỉa bỏ, quăng đi, làm cho khô héo, cằn cỗi, chết.
Tình cảm luôn có hai chiều như vậy. Chiều thuận thì đưa đến sự tốt lành, đẹp đẽ, an vui, đoàn tụ, hòa thuận, bảo vệ cuộc sống và hạnh phúc. Chiều nghịch thì đưa đến sự buồn bực, giận dữ, oán thù, chia lìa, xung đột, đau khổ, có khi dẫn đến bạo động và cái chết.
Nếu không có xúc động thì không nảy sinh tình cảm gì hết, sẽ không có Duyên mà cũng chẳng Nợ. Người đi tu là người cắt ngang mối Duyên Nợ ngay từ gốc của nó, tức là chế ngự tình cảm, không để cho nó khởi lên để rồi dính mắc vào những mối Duyên, Nợ khó lòng rứt ra.
Đó là nói những tình cảm ràng buộc qua những mối quan hệ, không chỉ là nam nữ, làm cản trở việc tu hành, diệt ái và diệt dục, mà ngay cả những tình cảm quá gắn bó với người thân, gia đình hay bằng hửu cũng thế, cần được chế ngự, rời bỏ. Chắc chắn là không nói đến những tình cảm tốt như lòng từ bi bác ái, vị tha, nhân đạo, ngược lại, cần phát triển. Tu hành, ai cũng có thể làm đưọc, vì thực chất của nó chỉ là sự dứt bỏ chữ Tình gây ràng buộc và đau khổ và thay vào đó chữ Tình cao thượng đem đến nguồn an lạc, hạnh phúc chân thật.
Năm giác quan và ý căn như những cánh cửa sổ mở ra trước mặt con người những hình ảnh đẹp, quyến rũ, duyên dáng làm xao xuyến, động lòng, những âm thanh tuyệt vời của âm nhạc hay của tiếng nói dịu dàng, trìu mến làm rung động con tim, mùi, vị thơm ngon thì làm cho thèm thuồng, những sự đụng chạm mượt mà dễ chịu của da thịt làm cho khao khát được vuốt ve, nâng niu, và nơi ý thì được nghe, được đọc những lời hay, ý đẹp, chân thật, chân chính, hợp lý, hợp đạo làm tâm hồn được nâng cao, các lời khen ngợi, ca tụng chính đáng, không giả dối.
Phải nói rằng chính nơi con mắt, được thấy những hình ảnh, dung nhan, diện mạo phù hợp với sở thích, thẩm mỹ, theo phán đoán chủ quan của mình, là những lý do đầu tiên làm khởi lên nơi con người những tình cảm mê mẫn, quyến luyến, đắm say. Ở đây, chữ Duyên trong nghĩa của dáng dấp, vẻ đẹp lại làm Duyên, trong cái nghĩa của duyên do, duyên cớ, cho chữ Tình. Nói một cách không được bóng bẩy lắm thì nét đẹp, nét Duyên bên ngoài này như « mồi » để nhử, để câu cho Tình mống khởi. Là sắc đẹp trời cho mà cũng có thể cố tình tạo ra để quyến rũ đối tượng mà mình muốn kết mối Duyên, có thể là hời hợt, qua đường, cũng có thể  là lâu dài, bền vững. Hãy cùng đọc bài ca dao « Mười Thương » để thấy dung nhan, tướng mạo bên ngoài đã kết duyên được với cái Tình như thế nào:
                          Một thương tóc bỏ đuôi gà
                          Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
                          Ba thương má lúm đồng tiền
                          Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
                          Năm thương cổ yếm đeo bùa
                          Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
                          Bảy thương nết ở khôn ngoan
                          Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
                          Chín thương cô ở một mình
                          Mười thương con mắt có tình với ai. (21)
Tất nhiên là qua các thời đại, không còn thấy những tóc đuôi gà, yếm, bùa, răng đen, nón lá…Chỉ cần thay vào đó những hình ảnh của tà áo dài, chiếc áo bà ba, hay là chiếc quần túm sát kiểu cao bồi, hay chiếc váy ngắn cũng thế thôi, đều có tác dụng như nhau.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Nhưng năm giác quan và ý căn cũng mở ra trước mặt con người những hình ảnh xầu xí, ghê tởm, những âm thanh, giọng nói chát chúa, cứng cỏi, nặng nề, thô ác, những mùi thối tha, vị đắng, chua, cay và sự đụng chạm thô bạo không mơn trớn, dịu dàng, dễ chịu cũng như ý thì mang những điều không làm đẹp tâm hồn, không cao thượng, không chân thật, chê bai, đả kích, cố tình hạ phẩm giá, nhân cách, không chính đáng, không đúng sự thật, giả dối, tâng bốc nịnh hót.
Luôn luôn có hai chiều, hai hướng, hai thế đối đãi như vậy trong tự bản thân của con người cũng như trong cuộc sống, trong mọi giao tiếp giữa người với người, với con vật, đồ vật, sự việc và cả với thiên nhiên. Tình cảm phát xuất nơi mỗi con người thì luôn nhuốm màu chủ quan, thiên vị do cái suy nghĩ riêng tư của bản thân mà đối tượng không thể nào hiện ra đúng như sự thật cả. Chúng ta lại được thấy điều này chứng minh qua ca dao:
                          Yêu nhau yêu cả đường đi
                          Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng. (22)
                          ….
                          Yêu nhau vạn sự chẳng nề
                          Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng. (23)
                          …
                          Thương nhau trái ấu cũng tròn
                          Ghét nhau trái bồ hòn cũng méo (24)
 
Cái chữ Tình thật không đơn giản chút nào ! Làm cho êm thắm thuận hòa hạnh phúc cũng nó, mà làm cho chia lìa gảy đổ, bất hòa cũng nó. Cho thấy chữ Tình này không thể nói lên sự thật đúng như sự thật được. Do đó mà muốn có sự công bằng, không thiên vị thì phải gạt bỏ chữ Tình này qua một bên. Trong các cuộc thi cử, có những điều lệ dấu tên mà cả dấu mặt thí sinh.
Thành kiến, định kiến, sự suy nghĩ chủ quan cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tình cảm của con người. Từ đó mà sinh ra kỳ thị. Không chấp nhận sự khác biệt làm chướng ngại cho tình cảm nảy sinh. Sự khác biệt có thể đến từ tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc, ngôn ngữ, màu da, giới tính…nhiều vô số kể.
Lại nữa, chữ Tình này khi biểu hiện sự yêu thương hay ghét bỏ thì cũng đi theo một chiều hướng nhất định: yêu thương những gì có dính líu, liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến mình và những gì tượng trưng cho sự đẹp đẽ, tốt lành, hay ho, hoặc ngược lại…rất dễ dàng yêu thương người thấp kém, khốn khó hơn mình, ít có ai thương người đẹp hơn, giàu hơn, tài ba hơn, hạnh phúc hơn mình cả ! Và cũng thế, cái tình cảm ghét bỏ thì đi theo hướng từ cao tới thấp, thí dụ ghét người hơn mình, thành công hơn mình…thì dễ hơn so với cái ghét một người thấp kém, thua thiệt hơn mình. Hoặc theo mức độ gần hay xa, thí dụ nói xấu, chửi rủa người dưng thì dễ nhưng là người gần gủi, thân yêu ruột thịt thì khó hơn, thường thì tìm đủ mọi cách để bênh vực, bao che. Chữ Tình này đúng là rắc rối và…lệch lạc!
 
Chúng ta thấy nghĩa chữ Tình này vừa rộng mà vừa hẹp. Rộng là vì nó bao quát tất cả những gì mà con người con thể khởi lên cảm xúc, mang một tình cảm dù vui dù buồn, dù thương dù ghét, đối với người và người cho đến đối với súc vật, đồ vật, sự việc và cả thiên nhiên. Bất luận là đối tượng nào, trong lảnh vực nào, thuộc tinh thần, tâm linh như tôn giáo, danh vọng, lý tưởng hay vật chất như tiền bạc, của cải, cái ăn cái mặc… con người đều có thể bỏ cái Tình của mình vương vấn vào đó. Lại nữa, chữ Tình còn rộng trong thời gian và không gian. Ta vẫn còn mãi trong ký ức những hoài niệm về quá khứ, những tình cảm xa xưa vẫn còn sống mãi trong lòng và có thể khơi dậy bất cứ lúc nào. Và ta cũng có thể «  sống trước » cái tương lai chưa đến với những cảm xúc, tình cảm do mình tưởng tượng trước, phóng đại, phác họa. Trong không gian thì ở miền Đông cũng vẫn nhớ thương được miền Tây. Ở xóm Thượng vẫn ngong ngóng về xóm Hạ. Ở bên bờ Thái Bình Dương vẫn tha thiết với bên kia bờ Đại Tây Dương. Không có gì ngăn ngại cản trở.
 
Và chúng ta nói chữ Tình hẹp là giới hạn nơi cách biểu hiện, và phương tiện để biểu hiện. Chữ Tình được biểu hiện không nằm ngoài 7 cách: vui mừng, giận dữ, buồn bã, vui vẻ, yêu thương, ghét và muốn hay là tham muốn. (Xin chú ý thêm vài điều: vui mừng là hân hoan, mừng rỡ, và vui vẻ nghĩa là tươi tắn, vui, trái với buồn bã; Niềm kiêu hãnh, sự hãnh diện, bằng lòng, sung sướng đem lại niềm vui nên cũng được xếp vào tình cảm vui mừng, hoan hỉ; trong cái ghét cũng đã có sự ganh tị trong đó rồi, nên ganh thường đi theo ghét, trở thành ganh ghét) Chúng ta cũng có thể thêm vào sự không tham muốn nhưng thực ra thì nó cũng nằm trong cái tình cảm ghét rồi, đã ghét thì không bao giờ có ý tham muốn đem về cho mình. Và trong cái « muốn » cũng đã bao hàm cái « không muốn » này, nghĩa là đã có cái « muốn cái không muốn » đó không tồn tại, không hiện hữu. Như thế thì trong chữ Muốn, hay Tham muốn, gọi là Dục, thì đã có sự muốn dẹp đi cái mình không ưa thích, xấu, đau khổ và đem về, giữ lại cái mà mình ưa thích, cái tốt đẹp, hạnh phúc…v.v…Bảy cách biểu hiện của chữ Tình này, theo đạo Phật, đều bị thúc đẩy bởi hai nhân căn bản là Ái và Dục.
 
Thêm nữa, cái giới hạn của chữ Tình là lệ thuộc vào các phương tiện để biểu hiện, tức là 5 giác quan và ý, có thể gọi là ý thức. Nhờ qua các giác quan, được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, và qua cái ý được nhận biết, phân biệt, phán đoán mà cái Tình mới trỗi dậy. Song con người chỉ có 3 « công cụ » để hành động, nghĩa là chuyển cái Tình đang nằm ẩn ở bên trong, nơi phần trừu tượng thành cái điều cụ thể, hiện thực, nhờ vào 3 cửa ngỏ là Thân Khẩu Ý. Tức là từ nơi Thân, thì chân tay có thể đánh đập hay vuốt ve, nơi miệng thì nói lời hay, dịu dàng, yêu thương hay chửi rủa, mạt sát và nơi Ý thì mượn hình ảnh, ngôn ngữ, cử chỉ đễ diễn đạt cái điều suy nghĩ, tích cực hay tiêu cực…v.v…
 
Điều đáng chú ý là chúng ta thấy rõ chữ Tình này rất lệ thuộc cái Ý. Chính cái Ý phán xét, phán đoán, phân biệt là đầu mối cho Tình khởi lên. Cái Ý đã tinh tế, sắp đặt tất cả để cho Tình mống khởi yêu, ghét, giận, vui buồn…Ta cứ nghĩ yêu người này là thuần tình cảm, thuần cảm xúc ? Không như thế đâu ! Cái Ý đã sắp đặt hết rồi. Cô ấy, anh chàng ấy phải như thế này thế nọ, hợp với sở thích, đòi hỏi, lý tưởng của  tôi như thế nào tôi mới xiêu lòng đấy chứ !
Bất cứ đối với sự việc gì cũng thế thôi, cái Ý là chủ chốt, là chủ nhân ông quyết định mọi việc, mọi cảm xúc.
Vậy thì cái Ý quả là quan trọng dường nào ! Do đó mà hai chữ Tình Ý thường đi đôi với nhau là vậy, không gì khó hiểu.
 Đạo Phật đi sâu hơn vào cái khả năng nhận biết, suy nghĩ, phân biệt, phán đoán của Ý và thường dùng chữ Tâm, cũng là Ý, là Ý thức và cùng một hoạt động như nhau cả. Nhưng cái Tâm của nhà Phật sâu rộng hơn cái Ý, hay Ý thức. Vì Tâm là cốt lõi của đạo Phật. Mọi sự buồn vui sướng khổ cũng từ Tâm, mà thế giới bên ngoài, được thấy, được nghe, được biết cũng từ Tâm tạo ra. Tâm thì có Vọng tâm và Chân tâm. Ý hay Ý thức thông thường của con người thì thuộc về Vọng Tâm nên có đối đãi và gây ra đau khổ. Giới hạn của bài này không bàn quá xa về chữ Tâm này.
Xin dừng lại ở chữ Tình. Cái chữ ràng buộc con người. Hạnh phúc được…một mà đau khổ …mười ! Nhưng không có nó chưa chắc con người đã có mặt trên trái đất này.
                          Lại mang lấy một chữ tình
                          Khư khư mình buộc lấy mình vào trong. (25)
Chính chữ Tình mới kéo theo Duyên và Nợ. Dứt được chữ Tình thì cũng hết Nợ hết Duyên. Nhưng chuyện đó hầu như không thể có.
                          Cho hay là giống hữu tình
                          Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong ! (26)
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos
Vì sao chữ Tình lại khó gỡ như thế ? Bởi vì nó dính liền với một điều mà con người lao đao từ khi mang lấy cái thân ! Điều đó là Tình Dục hay Tính Dục đấy các bạn ơi ! Sinh ra là trai hay gái, ai cũng mang trong người cái hoạt động âm ỉ, từ từ lớn dần với ngày tháng, của bộ phận sinh dục. Một bộ phận vừa có chức năng bảo tồn nòi giống, truyền chủng, vừa đem lại khoái lạc cho thân và cả…tâm ! Ảnh hưởng qua lại giữa thân và tâm không còn ai phủ nhận nữa, điều này không có gì lạ vì khi cái thân mạnh khoẻ, hoạt động tốt không bệnh hoạn thì cái tâm cũng mạnh khoẻ, không bệnh hoạn và ngược lại, tâm an vui, thoải mái, hạnh phúc thì thân cũng tiêu trừ bệnh tật. Tất nhiên là trên đời này, khẳng định điều gì cũng mang tính cách tương đối, nếu không thì chẳng còn sinh lão bệnh tử gì hết. Có người chăm chú săn sóc cái thân đuợc tốt đủ điều mà phần tinh thần vẫn có cái gì bất an bất ổn. Xã hội hiện đại quá xem trọng tình dục chưa hẳn là đúng. Tình dục và khoái lạc do tình dục đem lại chính là sự xúc chạm của da thịt, của bộ phận sinh dục cũng không khác gì một giác quan khác như mũi ngửi được mùi thơm, lưỡi được nếm đồ ăn ngon. Tình dục quá độ cũng gây bệnh hoạn mà thiếu thốn cũng đem lại sự mất thăng bằng. Con người không biết giữ thế quân bình trong sự thụ hưởng khoái lạc do các giác quan đem lại mà thường, thay vì làm chủ các giác quan, thì lại nô lệ cho các giác quan. Lấy sự hưởng thụ làm mục đích sống.
Do mong cầu hạnh phúc nơi thân, vừa vật chất vừa tinh thần, mà con người phải chịu khổ bởi vì không có gì đạt được mà không có sự nổ lực, tìm tòi, đeo đuổi, bỏ công, tốn sức, nhưng không phải lúc nào cũng được thỏa mãn. Và một khi đạt được rồi cũng không thể giữ mãi trong tay, hạnh phúc mong manh, điều này ai cũng nhận thấy. (Xin đọc Hạnh Phúc và Đau khổ, Con Người là…Con gì ? LKTH)
Con người khó lòng tách rời khoái lạc, dục lạc vì mang cái thân với những nhu cầu cần được thỏa mãn. Chỉ trừ người có một lý tưởng là đi theo con đường giải thoát, diệt dục mới tìm cách tách rời ra khỏi sự thụ hưởng khoái lạc, dục lạc của cái thân vật chất mà con người bình thường, phàm phu không lý tưởng giải thoát, thì không ai từ chối sự thụ hưởng, nên vẫn dính vào chữ Tình này mà trong đó có Tình Dục, rất khó bỏ, khó buông.
Nếu gỡ được chữ Tình ắt cuộc đời sẽ không còn gì để nói. Thi sĩ chẳng dệt được vần thơ nào. Nhạc sĩ chẳng đàn lên cung điệu làm thổn thức lòng người. Ca sĩ không hát lên khúc tình ca diệu vợi. Họa sĩ không cần thổ lộ tâm tình qua màu sắc. Người viết cũng không còn gì để viết !
 
 
                                                      LêKhắcThanhHoài
                                       Paris, những ngày đón Tết Ất Mùi.
 
Chú Thích: 1.4.5.6.7.8.9.10.11.12.13.17.18.19.20.21.22.23.24: Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca VN. Vũ Ngọc Phan. 2.3.14.15.25.26: Kiều. Nguyễn Du. 16: Thương Vợ. Trần Tế Xương
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos

 Truyền thuyết về loài hoa bỉ ngạn: Một lòng chờ nhưng không bao giờ gặp gỡ

Loài hoa này xuất hiện trong một ca khúc đang rất hot trong những ngày gần đây là "Độ Ta Không Độ Nàng".

"Trên đường hoàng tuyền, có hoa Bỉ Ngạn
Hoa chờ một người, yêu tận tâm can
Duyên phận trái ngang, đời đời lỡ dở
Số mệnh sắp đặt, vạn kiếp chẳng nên duyên."
 
 Hoa bỉ ngạn đẹp rực rỡ, mọc rất nhiều ở các vùng quê Nhật Bản và Trung Quốc.
Hoa bỉ ngạn đẹp rực rỡ, mọc rất nhiều ở các vùng quê Nhật Bản và Trung Quốc.
 
Hoa bỉ ngạn (red spider lily, higanbana) là một loài hoa trong họ loa kèn đỏ, mọc rất nhiều trên những triền đồi, bờ sông, hai bên đường đi ở những vùng làng quê Nhật Bản và Trung Quốc. Loài hoa này mang màu đỏ rực rỡ, đến mùa hoa nở có thể biến cả thế giới trở thành một tấm thảm đỏ lung linh huyền ảo.
Dù hình dáng hoa xinh đẹp cao sang nhưng củ của loài hoa bỉ ngạn lại có chứa một loại chất cực độc, gây tổn hại đến thần kinh. Xưa kia từng có người tử vong vì ăn củ hoa trong lúc đói. Chính vì thế, người Nhật thường trồng bỉ ngạn xung quanh nhà, dọc theo ruộng lúa hay xen kẽ giữa các ngôi mộ, nhờ thế sâu bọ và sóc chuột sẽ tránh xa, không đến đào phá đất đai mùa màng. Bỉ ngạn hoa do đó còn có tên u linh hoa, tử nhân hoa hay hoa địa ngục.
 Củ hoa bỉ ngạn rất độc, vì thế nó được trồng xung quanh các ngôi mộ để xua đuổi động vật có hại.
Củ hoa bỉ ngạn rất độc, vì thế nó được trồng xung quanh các ngôi mộ để xua đuổi động vật có hại.
 Bỉ ngạn nở rộ giữa những thửa ruộng.
Bỉ ngạn nở rộ giữa những thửa ruộng.
 
Trong một năm có hai ngày mà ngày và đêm dài bằng nhau, người ta gọi là ngày xuân phân và thu phân. Bỉ ngạn bao giờ cũng nở hoa trùng với tiết thu phân, thời điểm giao hòa của trời đất, nơi người trần gian có thể đi vào thế giới của người đã mất. Chính vì lẽ đó, người Nhật thường chọn ngày này để đi tảo mộ, thăm viếng, sửa sang mồ mả của ông bà tổ tiên. Bó hoa bỉ ngạn được cắm trên mộ cũng được xem là dành tặng cho người ở thế giới bên kia.
Trong tiếng Hán Việt, từ "bỉ ngạn" có nghĩa là "ở bờ bên kia", chỉ sự phân ly xa cách, gắn với những câu chuyện bi thương, những hồi ức buồn bã. Có rất nhiều truyền thuyết được kể về loài hoa này, đó đều là những mối tình bi kịch mà ở đó, người con trai và người con gái yêu nhau say đắm, nhưng vì duyên số, họ mãi mãi chia lìa và không thể gặp nhau.
 Hoa bỉ ngạn gắn với những câu chuyện tình bi kịch, nơi hai người yêu nhau mãi mãi chẳng thể đến được với nhau.
Hoa bỉ ngạn gắn với những câu chuyện tình bi kịch, nơi hai người yêu nhau mãi mãi chẳng thể đến được với nhau.
Truyền thuyết về loài hoa bỉ ngạn: Một lòng chờ nhưng không bao giờ gặp gỡ
Có lẽ những câu chuyện tình u buồn kia được lấy cảm hứng từ lá và hoa của bỉ ngạn. Vì sự trớ trêu của tạo hóa, hoa bỉ ngạn chỉ nở khi lá của nó chưa thành hình. Dù có sống đến ngàn năm, bỉ ngạn nở hoa bao giờ cũng không nhìn thấy lá, và khi lá đâm chồi thì hoa đã lụi tàn từ thuở nào. Hoa và lá mãi mãi không gặp nhau dù chung một gốc, nhưng vòng đời của chúng đời đời kiếp kiếp đan xen vào nhau.
 
Chính vì gắn liền với sự phân ly xa cách nên hoa bỉ ngạn đã trở thành nguồn cảm hứng của rất nhiều tác phẩm văn chương, hội họa và âm nhạc. Gần đây nhất, bỉ ngạn xuất hiện trong một ca khúc rất được các bạn trẻ Việt Nam yêu thích, mang tên Độ Ta Không Độ Nàng, bản gốc tiếng Trung được trình bày bởi hai ca sĩ Tô Đàm Đàm và Giai Bằng.
 Trong ca khúc Độ Ta Không Độ Nàng cũng có nhắc đến loài hoa bỉ ngạn.
Trong ca khúc Độ Ta Không Độ Nàng cũng có nhắc đến loài hoa bỉ ngạn.
 
Nội dung câu chuyện trong ca khúc kể về nàng quận chúa từ khi còn nhỏ thường lên ngôi chùa gần nhà để chơi với một vị tiểu hòa thượng. Quận chúa tính khí vui vẻ hoạt bát, trái lại, tiểu hòa thượng thì lạnh lùng suy tư, dường như chẳng để ý gì đến nàng mà chỉ chuyên tâm vào tu hành.
Thời gian thấm thoắt trôi, cả hai đứa trẻ đều trưởng thành và càng gắn bó với nhau không rời. Một ngày, quận chúa đến tìm gặp tiểu hòa thượng và hỏi rằng: "Chàng có thích ta không?" Tiểu hòa thượng chỉ quay lưng đi mà không nói một lời. Đau lòng, quận chúa buông tiếng thở dài: "Ta biết rồi," sau đó gạt lệ bỏ đi và không bao giờ đặt chân lên núi nữa.
Một ngày kia, tiểu hòa thượng nhận được tin báo quận chúa đã qua đời. Hóa ra có một vị thái tử đem lòng yêu thương nàng, nhưng tình cảm ấy không được nàng đáp lại. Tức giận, thái tử hại chết quận chúa.
 Bỉ ngạn hoa và lá chẳng thể gặp nhau dù chung một gốc.
Bỉ ngạn hoa và lá chẳng thể gặp nhau dù chung một gốc.
 
Trong giây phút đau đớn tột độ, tiểu hòa thượng thừa nhận tình yêu chàng dành cho quận chúa là rất sâu đậm, nhưng vì những ràng buộc nơi cửa Phật, chàng không dám thừa nhận. Chàng quyết định trút bỏ tấm áo tu hành vì cho rằng việc tu hành không còn chút ý nghĩa nếu như ngay cả người mình yêu cũng không thể bảo vệ.
Tiểu hòa thượng quyết định đi trả thù cho quận chúa, sau giây phút đó, chàng đã thốt lên rằng: "Nếu Phật không độ nàng, thì để ta." Sau đó, chàng quay về chắp tay niệm Phật giữa một rừng hoa bỉ ngạn.
 Hai người yêu nhau nhưng số phận khiến họ đời đời xa cách.
Hai người yêu nhau nhưng số phận khiến họ đời đời xa cách.
 
Trong khi đó, ở thế giới bên kia, quận chúa cầu xin vị đạo trưởng canh giữ thế giới tâm linh cho mình được gặp lại vị tiểu hòa thượng một lần cuối cùng trước khi rơi vào chốn tịch liêu đau khổ. Ước nguyện của nàng được đáp ứng, nàng gặp lại tiểu hòa thượng trên cánh đồng bỉ ngạn, thời gian ít ỏi nhưng vẫn chỉ hỏi chàng đúng câu hỏi trước kia: "Chàng có thích ta không?"
Tiểu hòa thượng rơi nước mắt, trả lời: "Ta cũng thích nàng". Quận chúa sà vào vòng tay chàng. Nhưng giây phút trùng phùng ngắn ngủi, thân xác nàng hóa thành tro bụi ngay tức khắc, vì vốn dĩ lá và hoa không thể gặp nhau. Nàng chỉ cần biết tình cảm của đối phương dành cho mình, thế là đã mãn nguyện.
 Những câu chuyện tình hoa bỉ ngạn là đầy bi thương.
"Bỉ Ngạn hoa, nở rộ bờ đối diện
Chỉ thấy hoa, lại chẳng thấy lá đâu
Nở nghìn năm, nghìn năm hoa cũng lụi
Hoa và lá, vĩnh viễn chẳng gặp nhau."
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH  photos

 

Sưu tầm & tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang  
Xem thêm...

17 điều đặc biệt ít ai biết về giải Oscar 2020

    17 điều đặc biệt ít ai biết về giải Oscar 2020    

Những năm trước, các lễ trao giải diễn ra sớm đã làm giảm lượng người xem Oscar dù đây là một trong những giải thưởng điện ảnh được mong đợi nhất. Vì lẽ đó, Oscar 2020 được tổ chức sớm hơn để đảm bảo vị trí trong “cuộc đua rating”.

Joaquin Phoenix có lẽ đang vội vàng di chuyển từ London đến Los Angeles để kịp tham dự giải Oscar 2020 vào Chủ nhật 09/02 này (giờ địa phương). Hy vọng sau khi ẵm xong giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho Joker tại lễ trao giải BAFTA, anh có đủ thời gian để giặt bộ tuxedo chuyên để nhận giải của mình.

1. Scarlett Johansson gia nhập câu lạc bộ đặc biệt

Scarlett Johansson là người thứ 12 nhận được hai đề cử diễn xuất trong cùng một năm. Cô được đề cử cho cả nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất cho các vai diễn trong Marriage StoryJojo Rabbit.

11 người còn lại từng được đề cử hai lần ở các hạng mục diễn xuất trong cùng một lễ trao giải Oscar bao gồm Sigourney Weaver (1989), Al Pacino (1993), Emma Thompson (1994), Jamie Foxx (2005) và gần đây nhất có Cate Blanchett (2008). Tuy nhiên, không ai giành chiến thắng trong cả hai hạng mục.

Scarllet Johansson trong Marriage Story và

Ảnh: NETFLIX/FOX

2. Đã 15 năm kể từ khi người chiến thắng giải nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cũng xuất hiện trong phim hay nhất

Hiếm khi người chiến thắng Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cũng là diễn viên trong tác phẩm chiến thắng hạng mục Phim hay nhất. Cho đến nay, người cuối cùng làm được là Hilary Swank trong Million Dollar Baby (2004).

3. Cynthia Erivo có thể đạt được EGOT (người thắng cả 4 giải thưởng Emmy, Grammy, Oscar và Tony)

Thực tế, nếu ngôi sao Harriet (2019) giành giải Oscar 2020, cùng với giải thưởng Emmy, Grammy và Tony, cô sẽ trở thành người chiến thắng EGOT trẻ nhất trong lịch sử, tiếp nối Robert Lopez, người hoàn thành bộ tứ vào năm 2018 ở tuổi 39. Hiện tại, có 12 người nằm trong danh sách EGOT.

Erivo có khả năng nhận được vinh dự này trong đêm trao giải Oscar bởi cô có hai đề cử là Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất và Ca khúc trong phim hay nhất (đồng sáng tác ca khúc Stand Up trong Harriet).

Cynthia Erivo tại oscar 2020

Ảnh: Teaser Trailer

4. Nếu Sam Mendes giành được giải đạo diễn xuất sắc nhất, đây sẽ là kỷ lục về thời gian giữa hai chiến thắng trong lịch sử Oscar

Hiệp sĩ mới phong tước Sir Sam lần đầu tiên giành chiến thắng cho American Beauty (1999) vào năm 2000, và có khả năng ghi thêm một chiến tích nữa tại lễ trao giải Oscar 2020 với bản hùng ca Thế chiến thứ nhất cực kỳ thành công 1917.

Trước đó, Billy Wilder đã tạo nên khoảng cách lớn khi giành được hai giải thưởng đạo diễn xuất sắc nhất sau 15 năm cho The Lost Weekend (1945) và The Apartment (1960).

5. Cặp đôi cạnh tranh trong hạng mục phim hay nhất

Đạo diễn Greta Gerwig và nhà làm phim Noah Baumbach, từng hẹn hò vào năm 2011 và có một người con chung, lại là cặp đôi cạnh tranh với nhau cho giải thưởng danh giá này.

Đề cử của Gerwig cho Kịch bản chuyển thể hay nhất với Little Women và Baumbach cho Kịch bản gốc xuất sắc nhất với Marriage Story khiến họ trở thành cặp đôi đầu tiên đối đầu trong hạng mục phim hay nhất của mùa giải Oscar 2020. Điều này đã xảy ra vào năm 2009, khi cả James Cameron và Kathryn Bigelow đều có phim được đề cử, dù họ đã ly hôn khoảng 18 năm trước.

Và thật trùng hợp, Laura Dern, người được đề cử cho nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, đều xuất hiện trong phim của cả hai.

greta gerwig và noah baumbach

Ảnh: Chelsea Lauren

6. Little Women và Marriage Story có khả năng thắng giải thưởng danh giá nhất không?

Khi một bộ phim giành được hạng mục phim hay nhất mà không có đề cử cho đạo diễn xuất sắc nhất có lẽ sẽ trái tự nhiên, vả cả Gerwig và Baumbach đều không có đề cử thứ hai. Tuy nhiên, điều đó không phải là không thể.

Năm ngoái, Green Book đã chiến thắng mà không cần một đề cử cho đạo diễn Peter Farrelly. Trước đó, Argo (2013) cũng giành chiến thắng về cho đạo diễn Ben Affleck.

little women oscar 2020

Phim Little Women. Ảnh: IMDb

7. Toy Story 4 hoàn toàn có thể lập được kỷ lục mới

Năm 2001, giải thưởng cho phim hoạt hình hay nhất lần đầu được trao, nhưng cũng chỉ có Toy Story 3 giành chiến thắng. Vì vậy, nếu Toy Story 4 được giải sẽ khiến nó không chỉ là phần tiếp theo giành được giải thưởng này, mà còn là tập phim thứ hai được giải trong loạt phim Toy Story.

toy story 3 giành giải oscar

Ảnh: denofgeek

8. Ký sinh trùng có khả năng tạo thêm một kỷ lục thứ hai

Đây là bộ phim Hàn Quốc đầu tiên nhận được đề cử phim hay nhất và là bộ phim thứ sáu được đề cử cho cả phim hay nhất và phim quốc tế xuất sắc nhất.

Danh sách đề cử kép trước đó bao gồm Roma (2018), Amour (2012) và Ngọa hổ tàng long (2000).

9. Jonathan Pryce cùng vai diễn nhân vật thực tế được đề cử giải nam diễn viên chính xuất sắc nhất

Ngôi sao Two Popes là ứng cử viên duy nhất trong vai một nhân vật ngoài đời thực – Giáo hoàng Francis. Những người khác, Leonardo DiCaprio, Antonio Banderas, Adam Driver và Joaquin Phoenix, đều diễn nhân vật hư cấu.

Cũng có nhiều vai diễn với nhân vật thực tế trong hạng mục nữ diễn viên chính xuất sắc nhất – Renée Zellweger đóng vai Judy Garland, Cynthia Erivo đóng vai nhà hoạt động chống nô lệ Harriet Tubman và Charlize Theron trong vai Fox News Anchor Megyn Kelly.

jonathan pryce trong phim cướp biển

Jonathan Pryce trong Pirates of the Caribbean. Ảnh: IMDb

10. Tạp chí – mảnh đất màu mỡ cho ý tưởng làm phim

Hai trong số những hy vọng của mùa giải năm nay đều được dựa trên các bài báo trong tạp chí. A Beautiful Day in the Neighborhood lấy cảm hứng từ một bài viết năm 1998 trên tạp chí Esquire của nhà báo Tom Junod, người đã viết một cuộc phỏng vấn với nghệ sĩ giải trí thiếu nhi Fred Rogers. Trong khi đó, Hustlers dựa trên một cuộc khảo sát năm 2015 của tạp chí New York do Jessica Pressler thực hiện.

a beautiful day in the neighborhood

Ảnh: IMDb

11. Độ tuổi trung bình của các đề cử diễn viên phụ là 71

So với tuổi trung bình của những người chiến thắng trước trong cùng hạng mục là 49, năm nay, độ tuổi trung bình lớn hơn đáng kể. Các đề cử bao gồm Brad Pitt (người trẻ nhất ở tuổi 56), Tom Hanks (63), Joe Pesci (76), Al Pacino (79) và Sir Anthony Hopkins (82).

Không có gì đáng ngạc nhiên khi cả năm người đều giải có giải Oscar: Pitt dưới vai trò nhà sản xuất trong 12 Years A Slave (giải Phim hay nhất tai Oscar 2014) trong khi những người khác giành chiến thắng các giải liên quan đến diễn xuất.

12. Birdman được xem là chuẩn mực cho 1917

Các nhà phê bình Oscar luôn để mắt tới giải Dựng phim xuất sắc nhất, bởi luôn có mối tương quan rõ rệt giữa việc được đề cử ở hạng mục này sẽ đem lại triển vọng giành được giải Phim hay nhất.

Đáng chú ý là 1917, tác phẩm tiềm năng cho giải Phim hay nhất, nhưng lại không được đề cử cho Dựng phim xuất sắc nhất.

1917 hậu trường phim oscar 2020

Hậu trường phim 1917. Ảnh: IMDb

Sau năm 1980, cũng chỉ có Birdman (2014), bộ phim duy nhất giành giải này mà không cần có mặt trong danh sách đề cử Dựng phim xuất sắc nhất.

Thú vị là Birdman1917 gặp nhau ở một điểm chung – cả hai bộ phim đều sử dụng kỹ thuật quay liên tục. Trớ trêu thay, kỹ thuật này đòi hỏi kỹ năng chỉnh sửa và dựng phim phải thật khéo léo và lành nghề.

13. Ford v Ferrari là bộ phim về đua xe đầu tiên nhận được đề cử phim hay nhất

Trong quá khứ, đã có nhiều bộ phim làm về đề tài này bị bỏ qua, chẳng hạn như Rush, Grand PrixDays of Thunder. Ford v Ferrari (hay gọi là Le Mans ’66 ở một số quốc gia) dù được đề cử nhưng cơ hội giành chiến thắng lại rất ít. “Nó sẽ phải chịu sự cạnh tranh gay gắt”, Christopher Smith của Motor1 đánh giá, “nhưng đánh bại sự cạnh tranh đó mới là điều bộ phim hướng tới”.

ford v ferrari phim oscar 2020

Ảnh: IMDb

14. Netflix có gấp đôi cơ hội cho giải phim hay nhất năm nay

Dịch vụ xem truyền hình trực tuyến này đã đem hy vọng (và tiền bạc) vào Roma (2019) và đẩy mạnh các chiến dịch vận động để mang lại giải phim hay nhất Oscar 2019 về cho Green Book. Họ cũng mang đến nhiều bộ phim hơn cho Oscar 2020, trong đó có The King, Dolemite Is My Name, The Two PopesThe Laundromat. Tuy nhiên, hai bộ phim riêng của Netflix, The Irishman Marriage Story, đều được đề cử cho giải thưởng cao nhất.

Oscar 2020 có lẽ vẫn chưa sẵn sàng để một dịch vụ phát trực tuyến giành được giải thưởng này. Nhưng nếu có bất kỳ bộ phim Netflix nào có thể giành giải, khả năng cao đó sẽ là The Irishman, tác phẩm xã hội đen do Martin Scorsese đạo diễn với sự tham gia của Robert De Niro, Al Pacino và Joe Pesci.

15. Hai bộ phim đề cử cho giải cao nhất đều không có đề cử ở hạng mục diễn xuất

Có thể nói, với diễn xuất của dàn diễn viên trong Ký sinh trùng, hy vọng cho hạng mục diễn viên xuất sắc nhất dường như là rất thấp. Và sự vắng mặt của 1917 trong các hạng mục diễn xuất cũng không đem lại sự ngạc nhiên khi mà George MacKay chiếm hầu hết phân cảnh trong bộ phim.

ký sinh trùng đề cử oscar 2020

Phim Ký sinh trùng. Ảnh: IMDb

16. Hạng mục được đề cử của Nhạc sĩ Dianne Warren cho ca phúc trong phim hay nhất (I’m Standing With You của Breakthrough) sẽ là đề cử Oscar thứ 11 của cô

Những bài hát khác của cô bao gồm How Do I Live (phim Con Air, ca sĩ LeAnn Rimes), I Do not Want to Miss a Thing (phim Armageddon, ca sĩ Aerosmith) và There You Be (phim Pearl Harbor, ca sĩ Faith Hill). Lịch sử vẫn lặp lại, ở giải Oscar năm ngoái, cô vẫn chưa giành được chiến thắng nào, hy vọng Oscar 2020 sẽ là ngoại lệ. Thực tế, cô đã giành được danh hiệu “người phụ nữ được đề cử Oscar nhiều nhất nhưng không có giải” trong lịch sử và vượt xa Glenn Close (6 lần đề cử Oscar).

17. Judy Garland sẽ không bao giờ giành được giải Oscar nữa

Cô từng được kỳ vọng giành chiến thắng trong A Star is Born (1954), thậm chí, các máy quay còn được bố trí xung quanh giường bệnh (nơi cô vừa sinh hạ) để ghi lại bài phát biểu của cô. Nhưng thay vào đó, Grace Kelly đã soán ngôi Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho The Country Girl. Vì vậy, nếu Renée Zellweger có được giải thưởng này tại giải Oscar 2020, điều đó sẽ đánh dấu sự công nhận gián tiếp của Oscar với Garland, sau hơn năm thập kỷ cô qua đời.

judy garland trong a star is born

Judy Garland trong A Star Is Born. Ảnh: IMDb

    Ashley Thảo Nguyên sưu tầm tổng hợp   

Nguồn: Internet

 

Xem thêm...

Nhìn Lại Các Trường Nữ Trung Học Nổi Tiếng Của Miền Nam Trước Năm 1975

Nhìn Lại Các Trường Nữ Trung Học Nổi Tiếng

Của Miền Nam Trước Năm 1975

Lời Giới Thiệu: Nhân kỷ niệm 100 năm thành lập trường Trung Học Trưng Vương, ngoài những loạt bài viết về bản nhạc gắn liền với tên trường “Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu”, Thế Giới Nghệ Sĩ đã tổng hợp, sưu tầm một số tài liệu về các trường Trung Học nữ sinh tại miền Nam trước 1975. Những tà áo dài thướt tha của Gia Long, Lê Văn Duyệt, Đồng Khánh (Huế), Trưng Vương… như những cánh bướm lượn mãi trong ký ức về Saigon một thời thanh bình, tươi đẹp. Phần tổng hợp từ nhiều nguồn sau đây có thể còn thiếu sót, kính mong quý độc giả đóng góp để hoàn chỉnh hơn.

gia long

Không rõ lý do vì sao ở miền Nam trước 75 thường phân chia riêng biệt trường nữ và trường nam Trung Học. Những tà áo dài thướt tha của các trường nữ sinh như Gia Long, Lê Văn Duyệt, Đồng Khánh (Huế), Trưng Vương… như những cánh bướm lượn mãi trong ký ức về một thời thanh bình, tươi đẹp.

Trường Trung Học nữ sinh Trưng Vương (Sài Gòn)

Trường nữ sinh Trưng Vương, tiền thân là trường nữ Trung Học Trưng Vương từ Hà Nội di cư vào Nam sau năm 1954 nên đội ngũ giáo sư học sinh ban đầu chủ yếu là gốc Bắc.

trungvuong

Trường Trưng Vương ban đầu phải học nhờ tại Gia Long, nhưng sau đó trường đã có cơ sở và khuôn viên riêng. Cụ thể là năm 1957, trường dời về số 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm, gần Thảo Cầm Viên Sài Gòn và cũng gần trường nam sinh Võ Trường Toản nữa. Do vậy, có rất nhiều mối tình thuở thiếu thời Trưng Vương – Võ Trường Toản; chúng vẫn đẹp mãi trong lòng những người cựu sinh viên hai trường. Có nhiều anh chàng nam sinh Võ Trường Toản đã tinh nghịch trèo tường sang Trưng Vương chơi đã trở thành những kỷ niệm đáng nhớ.

trungvuong1

Ai đã từng đi qua hàng cây trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xưa thì sẽ hiểu vì sao chỉ một mùa thu qua, mà nhạc sĩ Nam Lộc đã bâng khuâng với cảm giác nắng vương nhẹ gót chân, với lá rơi đầy sân. Cảm giác ấy có lẽ sẽ được những nữ sinh Trương Vương ngày đó mang theo trong ký ức của họ đến mọi nẻo đường trong cuộc đời.

“Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh…”

(Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu – Lời Việt: Nam Lộc)

trungvuong2

Trường Trung Học nữ sinh Gia Long (Sài Gòn)

Trường Gia Long là một trong những ngôi trường nữ sinh nổi tiếng một thời có lịch sử tới hơn 100 năm. Trường được mở từ thời Pháp thuộc dưới kiến nghị của nghị viên hội đồng Quản Hạt Nam Kỳ Lê Văn Trung và vợ Tổng Đốc Phương cùng với một số nhân sĩ khác.

gia long 750x430

Đằng sau một ngôi trường thơ mộng từng được mệnh danh là trường “nữ sinh áo tím” (vì trước đó nữ sinh Gia Long nổi tiếng với màu áo tím) là khát vọng về một xã hội tự do, nơi có nam nữ bình quyền – đều có quyền được sống, được hưởng một nền giáo dục và học tập ngang nhau.

Trường nữ Gia Long là niềm tự hào của biết bao nhiêu nữ sinh thời ấy. Có thể nói cho đến tận bây giờ, hai tiếng Gia Long vẫn có thể thay cho tiếng chào kết bạn, là sợi dây kết nối khi họ tình cờ gặp nhau ở bất cứ nơi nào trên thế giới, là niềm tự hào của người thiếu nữ trưởng thành trong một nền lễ giáo của gia đình miền Nam thời ấy.

gialong

Nữ sinh Gia Long

Trong âm nhạc, những bóng dáng thướt tha của nữ sinh Gia Long được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ghi lại trong ca khúc Cô Nữ Sinh Gia Long:

“Đường xa cô gái Gia Long về đâu
Dừng chân cho nhắn thăm cô vài câu
Bao cô dưới cùng mái trường
Khi xưa đã tặng hoa mừng
Nay có còn theo bước thương không…”

Bài hát này kể câu chuyện tình giữa cô nữ sinh và người lính.

Võ Thị Hai, một cựu nữ sinh Gia Long, hồi tưởng lại một thời áo trắng của bà và của những người cùng thế hệ:

“Có lẽ đại đa số cựu nữ sinh Gia Long chọn người yêu đi lính là một sự vô tình, không phải là sự chọn lựa. Vì thời đó là thời loạn, đại đa số thanh niên phải đi nhập ngũ, làm nghĩa vụ của người trai. Có những người trở về, có những người mất tích, một thiểu số ở lại nếu họ bị thương.

Những mối tình của nữ sinh Gia Long rất trong sáng, tuyệt đặt trong vòng lễ giáo, không bao giờ vượt quá lễ nghi của gia đình miền Nam Việt Nam lúc đó.”

gialong1

Cuộc tình của cô nữ sinh và người chiến sĩ trong nhạc phẩm của Phượng Linh (bút danh của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông) là một trong rất nhiều cuộc tình khác đã nảy sinh trong thời kỳ loạn ly ấy. Ông gọi cô gái của mình với cái tên chung là cô nữ sinh Gia Long, đơn giản như món quà là màu hoa thép súng của người lính trao tặng cô ngày anh lập chiến công.

SG-Solex02

“Này cô xuân nữ Gia Long thành đô
Màu hoa thép súng xin dành tặng cô
Hoa em vẫn vẹn sắc màu
Trao anh chiếm cả tấm lòng
Một sắc màu em đã ghi sâu”

Trường nữ sinh Lê Văn Duyệt (Sài Gòn)

Khác với sự lâu đời của trường Gia Long và Trưng Vương, trường nữ Lê Văn Duyệt hiện ra với dáng dấp năng động của một ngôi trường nữ sinh trẻ.

Cũng như Gia Long, trường Lê Văn Duyệt “made in Saigon” chính hiệu, nhưng có tiền thân là trường Trương Tấn Bửu đào tạo cả nam và nữ. Sau khi tách cả nam nữ ra thì trường nữ sinh Lê Văn Duyệt được thành lập tại số 95 đại lộ Lê Văn Duyệt – vốn là một lô đất mới (nay là đường Đinh Tiên Hoàng).

levaduyet

Nhiều người thắc mắc tại sao một trường nữ sinh lại mang tên một nam nhân vậy? Có lẽ ngày xưa trường Trương Tấn Bửu tọa lạc gần nơi thờ Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt (Lăng Ông – Bà Chiểu), lại nằm trên đường Lê Văn Duyệt nên người ta lấy tên ông đặt tên cho trường.

Nữ sinh Lê Văn Duyệt năm 1970

Có người đã nói về cái tên trường như sau: “Tiếc thương cho người em Lê Văn Duyệt, không phải vì thua kém đàn chị Gia Long hay Trưng Vương, nhưng tại cái tên… khó đưa vào văn thơ quá nên chẳng thể nào khớp được vào thơ ca của Phạm Duy”.

levanduyet

Vào năm 1963 thì trường chưa có lớp Đệ Nhất nên nữ sinh phải chia tay trường sang Trưng Vương học lớp Đệ Nhất. Nhưng sau đó thì các lớp Đệ Nhất đã được mở thêm. Sau năm 1975, trường mang tên Võ Thị Sáu đào tạo cả nam lẫn nữ.

Trường nữ sinh Đồng Khánh (Huế)

Trường nữ sinh Đồng Khánh là trường dành cho nữ sinh duy nhất ở miền Trung. Trường đặt tại Huế, miền đất của nét trữ tình và lãng mạn.

dongkhanh

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi trường này diễn ra vào ngày 15 tháng 7 năm 1917, với sự hiện diện của Vua Khải Định, Toàn Quyền Đông Dương Albert Sarraaut, Khâm Sứ Trung Kỳ J.E. Charles, quyền Khâm Sứ Bắc Kỳ J.Le Galler, các hoàng thân, các vị Thượng Thư và một số quan chức cao cấp người Pháp tại Đông Dương.

Trong buổi lễ này, vua Khải Định đã cho đặt xuống móng ngôi trường một số hiện vật để làm kỷ niệm, gồm một cái hộp kim loại chứa 10 đồng Khải Định thông bảo và hai tờ giấy ghi biên bản của buổi lễ bằng tiếng Pháp. Dưới sự điều khiển của nhà thầu Leroy, gần hai năm sau, ngôi trường khánh thành.

Image result for Trường trung học nữ sinh Đồng Khánh Huế"

Đây là ngôi trường nữ đầu tiên và duy nhất dành cho nữ sinh cả 13 tỉnh Trung Kỳ bấy giờ đến học. Theo thời gian, trường được mang nhiều tên gọi khác nhau:

– Từ 1919 – 1954, trường mang tên Cao Đẳng Tiểu Học Đồng Khánh
– Từ 1955-1975, trường mang tên Trường Nữ Trung Học Đồng Khánh gồm hai cấp: Đệ Nhất cấp và Đệ Nhị cấp.
– Sau 1975, trường mang tên Trường Cấp III Trưng Trắc.
– Từ năm 1981 đến nay, trường được đổi tên thành Trường THPT Hai Bà Trưng.

Image result for Trường trung học nữ sinh Đồng Khánh Huế"

Nhạc sĩ người Huế – Thu Hồ (thân sinh của ca sĩ Mỹ Huyền) đã có bài hát nói về những cô gái Huế nữ sinh Đồng Khánh như sau:

Image result for Trường trung học nữ sinh Đồng Khánh Huế"

Cô gái nữ sinh Đồng Khánh kia ơi 
Cô đi về đâu tan buổi học rồi 
Cô xuôi Đập Đá hay về Nam Giao 
Cô về Bến Ngự hay về Đông Ba 
Cô về Vỹ Dạ hay ngược Kim Long…

Khi gió mới lên làn tóc tung tăng 
Xõa ngang bờ vai khi tuổi dậy thì 
Đôi môi hồng thắm duyên là nên duyên 
Mắt tròn như mộng say đời xinh xinh 
Cô là tất cả trời đẹp xứ Kinh…

Trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân (Đà Lạt)

Trường Bùi Thị Xuân được thành lập năm 1952 với cả nam và nữ theo học, là trường nữ công lập đầu tiên ở vùng tây nguyên. Đến năm 1957 thì trường chỉ đào tạo nữ theo yêu cầu của Bộ Giáo Dục VNCH. Nam sinh được chuyển sang trường Trần Hưng Đạo.

buithixuan

Trái với Trưng Vương, Gia Long hay Lê Văn Duyệt nằm ở chốn đô thành náo nhiệt, Bùi Thị Xuân mang vẻ đẹp êm ả của xứ Đà Lạt mộng mơ. Do vậy mỗi khi nhắc đến Bùi Thị Xuân là nhắc đến Đà Lạt, một vùng đất quanh năm sương phủ đẹp đến nên thơ, nơi mà nhạc sĩ Lam Phương đã viết lên khúc huyền thoại Thành Phố Buồn.

Tuy vậy, trường có vị trí khá gần với những vùng chiến sự ác liệt của một thời nên cũng trải qua biết bao thăng trầm, trôi nổi cùng lịch sử. Với những người nghiên cứu về các trường nữ sinh xưa, không ai có thể quên hình ảnh cô Hiệu Trưởng Lệ Minh – đóa hồng một thời. Cô là một người phụ nữ đẹp, có đủ tài lẫn sắc. Hiện cô đang định cư tại Hoa Kỳ.

Hiện nay, trường Bùi Thị Xuân vẫn giữ nguyên tên và được xem là một trong những trường học lớn, số lượng học sinh đông và có tuổi đời lâu nhất của thành phố Đà Lạt.

buithixuan1

Trước khi ngôi trường chính thức mang tên Bùi Thị Xuân năm 1957 cho đến nay thì đã từng mang nhiều tên khác nhau:

Đầu thập niên 1950, để đáp ứng nhu cầu học tập cho con em người Việt Nam ở đây, chương trình Trung Học Việt Nam đã được thiết lập với sự ra đời của trường Trung Học Việt Nam (Lycée Vietnamien) vào tháng 9 năm 1952 với địa điểm đầu tiên tại trường Tây Hồ (nay là trường THCS Phan Chu Trinh). Lúc này, trường chỉ có duy nhất 1 lớp Đệ Thất (lớp 6). Trường trở thành một trong 3 trường Trung Học công lập của Đà Lạt lúc bấy giờ là trường Lycée Yersin và trường Lycée Bảo Long.

Image result for Trường trung học nữ sinh Bùi Thị Xuân"

Năm 1953, trường chuyển sang mượn tạm địa điểm tại trường Tiểu Học bổ túc Đà Lạt (nay là trường Tiểu Học Đoàn Thị Điểm). Lúc bấy giờ trường có 3 lớp: 2 lớp Đệ Thất (lớp 6) và 1 lớp Đệ Lục (lớp 7).

Năm 1954, trường được chuyển về địa điểm hiện nay, lúc đó vừa mới được xây xong. Trường lấy tên là trường Phương Mai – tên của Công Chúa, con gái Quốc Trưởng Bảo Đại và chỉ có một dãy nhà A gồm 10 phòng học. Do hệ quả của Hiệp định Genève được ký kết vào ngày 20/07/1954, rất nhiều người dân đã di cư từ phía Bắc vào miền Nam và định cư tại Đà Lạt, số học sinh của trường vì vậy cũng tăng lên khiến trường phải mở thêm các lớp Đệ Ngũ (lớp 8), Đệ Tứ (lớp 9).

http://www.cdad.com/tuan/mariecurie/otherpics/jf-noel1951-3.jpg

Năm 1955, khi Quốc Trưởng Bảo Đại bị truất phế sau một cuộc Trưng Cầu Dân Ý do chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức vào tháng 5, trường Phương Mai được đổi tên thành trường Quang Trung. Trường mở thêm Đệ Nhị Cấp (Tương đương cấp THPT hiện nay).

Năm 1957, trường Quang Trung được đổi tên thành trường Bùi Thị Xuân và mang tên này cho đến nay.

Trường Trung Học Marie Curie (Sài Gòn)

Ngay khi chiếm xứ Nam Kỳ, người Pháp đã thiết lập trường học để giảng dạy tiếng Pháp và tiếng An Nam, mở trường bổn quốc và trường nữ (trường nữ là Trường Marie Curie sau này). Như vậy, Trường Marie Curie được thiết lập trong khoảng từ năm 1858 đến 1862 (năm Pháp giành quyền bảo hộ xứ Nam Kỳ theo Hòa ước Nhâm Tuất 1862).

Trường mang tên nữ Bác Học Marie Curie từ năm 1918, là trường dành riêng cho nữ sinh, với tên gọi ban đầu là Cao Đẳng Tiểu Học nữ sinh người Pháp (Ecole Primaire Supérieure des Jeunes Filles Françaises) Lycée Marie Curie.

http://www.cdad.com/tuan/mariecurie/otherpics/jf-saulais.jpg

Sau khi Nhật tiến vào Đông Dương năm 1941, trường bị trưng dụng làm bệnh viện nên phải chuyển địa điểm sang một trường Mẫu Giáo ở đường Phạm Ngọc Thạch ngày nay.

http://www.cdad.com/tuan/mariecurie/otherpics/jf-honneur-2.jpg

Một năm sau, trường được trả lại và dời về địa điểm cũ với tên gọi mới là Trung Học cơ sở Calmette.

Sau khi quân Pháp trở lại chiếm Sài Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945, trường được đổi tên thành Trung Học Lucien Mossard.

Đầu năm 1948, trường trở lại với tên gọi cũ là Trung Học Marie Curie (hay Lycée Marie Curie), mang tên nhà Khoa Học người Ba Lan – Pháp từng hai lần đoạt giải Nobel Vật lý.

mariecurie2

Trong thời kỳ VNCH, trường là trường Trung Học tư thục cho nữ sinh. Đến năm 1970, trường mới tiếp nhận thêm nam sinh theo học.

Sau 1975, Trường Marie Curie đổi tên thành Trường Phổ thông cấp 2&3 Marie Curie (cũ) cho hai niên học (1975-1976 và 1976-1977); đến niên học 1977-1978, trường không còn dạy các lớp cấp 2 phổ thông hệ 12/12 năm, chỉ dạy cấp 3 phổ thông hệ 12/12 năm (lớp 10, 11 và 12 các khối AB – C – D) nên Trường Phổ thông cấp 2&3 Marie Curie (cũ) đổi tên thành Trường Phổ Thông Trung Học Marie Curie…

Năm 1997, trường được đổi tên thành Trung Học phổ thông bán công Marie Curie. Trước đây, trường từng là trường Trung Học phổ thông lớn nhất Việt Nam với hơn 5000 học sinh mỗi năm.

Năm 2006, trường được chuyển sang hệ công lập với tên gọi Trung Học phổ thông Marie Curie cho đến nay.

Ngôi trường này có kiến trúc đậm chất Pháp lưu lại trên cổng chào, từng góc cầu thang gỗ, khu vườn với đài phun nước… vẫn còn cho đến ngày nay.

mariecurie3

Trường Trung Học Nguyễn Bá Tòng (Sài Gòn)

Năm 1956, trường được thành lập mang tên vị Giám Mục tiên khởi của Công Giáo Việt Nam có sự trợ giúp đặc biệt của cơ quan Caritas Germanica Đức Quốc, cơ quan NCWC, Công Giáo Hoa Kỳ. Trường tọa lạc tại số 73-75 đường Bùi Thị Xuân, quận 1 Sài Gòn.

nguyenbatong

Trường có nhiều cấp lớp từ Đệ Thất đến Đệ Nhất đủ các môn A, B, C đặt dưới quyền đìều khiển của 8 vị Linh Mục cùng với sự giáo dục của 160 vị giáo sư, 30 nhân viên văn phòng (ghi nhận vào năm 1963). Là một trường Trung Học tư thục nhưng trường được đánh giá cao trong việc giáo dục, uy tín nhất thủ đô. Từ năm 1971 trường chỉ dành riêng cho học sinh nữ. Từ năm 1975, trường trở thành trường Trung Học phổ thông công lập và trường được đổi tên thành trường THPT Bùi Thị Xuân, dành cho cả học sinh nam và nữ.

nguyenbatong1

Ngôi trường này cũng là nơi đã sản sinh nhiều người nổi tiếng, trong đó có ca sỹ Mai Hương, Khánh Ly, Ý Lan. Một số thầy giáo đã dạy trường này như Nhạc sỹ Thu Hồ (nhạc), Nhà văn Bùi Nhật Tiến (Lý Hóa), Nguyễn Văn Kỷ Cương (Toán), Linh Mục Đỗ Đình Tiệm làm Hiệu Trưởng.

Image result for Trường trung học Nguyễn Bá Tòng"

Trường Trung Học Saint Paul (Sài Gòn)

Khi đi ngang ngôi nhà trắng tại số 4 Cường Để, quận 1 (nay là Tôn Đức Thắng) mọi người chỉ biết đây là một Nữ Tu Viện. Tòa nhà này trước kia còn được gọi là “Nhà Trắng”, không phải vì sơn toàn màu trắng như Tòa Bạch Ốc (White House) mà vì ngôi nhà này được xây dựng và làm chủ bởi những nữ tu dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Phaolô thành Chartres) “trinh bạch từ linh hồn đến những chiếc áo dòng trắng toát”.

saintpaul

Trước năm 1975, trong nhà dòng này có một trường tư thục với các lớp từ Mẫu Giáo tới Tú Tài với số lượng 1.600 học sinh (có ký túc xá cho học sinh nội trú). Sau năm 1975, có một thời gian là Trường Sư Phạm Mầm Non.

Nếu ai có dịp vào đây sẽ choáng ngợp với không gian rộng rãi, khoáng đãng với kiến trúc ba khối nhà: cô nhi viện, nhà nữ tu ở và khu nhà nguyện. Khu nhà nguyện có thiết kế đặc biệt, nhìn từ trên cao xuống rất giống cây thánh giá, bên trong có thêm nhiều cột đỡ vững chãi, phía trước là một sân cỏ rộng với tượng thánh bổn mạng của dòng Phaolô. Đó là thiết kế mà theo nhận định của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ là: “Một giáo đường huy hoàng với đường nét thẩm mỹ lối Gothique. Các khu vòm hình liềm cung, đua nhau vượt lên tới 20 thước, không một chút chạm trổ hoa hòe làm cho khách tưởng nhớ đến giáo đường Sainte Chapelle. Cảm tưởng nhẹ nhàng vì sự thành công của vị kiến trúc sư làm cho ai vào đó cũng cảm thấy thoát tục…”

saintpaul1

Theo các tài liệu lịch sử truyền giáo, vào ngày 20/5/1860, các nữ tu dòng Thánh Phaolô gốc ở thành Chartres (Soeurs de Saint Paul de Chartres) từ Hong Kong đặt chân đến Sài Gòn. Họ cùng tạm định cư tại một căn nhà nhỏ vùng Chợ Cũ cùng các nữ tu dòng kín (đến Sài Gòn năm 1861).

Vào tháng 9/1862, Mẹ Bề Trên dòng thánh Phaolô Benjamin khởi công xây cất nhà giám tỉnh tại khu đất Đường Thành (Rue de la Citadelle). Toàn bộ công trình này hoàn thành vào ngày 10/8/1864. Trong bản thảo viết tay của Mẹ Benjamin chỉ ghi lại tên Kiến Trúc Sư là Thầy Học. Lúc ấy các bà phước chẳng biết Kiến Trúc Sư “Thầy Học” là ai. Không biết trước đây đã có tài liệu nào xác định Thầy Học là ai chưa.

saintpaul2

Riêng cụ Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn Năm Xưa in năm 1958 cho biết: “Tương truyền nhà lầu cao lớn nơi đây là do ông Nguyễn Trường Tộ năm xưa đứng coi xây cất”. Vậy Thầy Học, tức là ông Nguyễn Trường Tộ là người thiết kế, xây cất tòa nhà này? Trong tạp chí Văn Đàn (số 4 năm 1961, Sài Gòn) ông Phạm Đình Khiêm đã công bố nhiều tài liệu trong thư khố tu viện đã chứng minh Thầy Học chính là ông Nguyễn Trường Tộ.

Trường Couvent Des Oiseaux (Đà Lạt)

Trường nữ tu Couvent Des Oiseaux có vị trí khá đặc biệt khi không nằm trên địa hình bằng phẳng, mà là một đồi thông, thuộc số 2 đường Huyền Trân Công Chúa, khá gần thác Cam Ly, Đà Lạt…

CouventDesOiseaux

Về lịch sử của ngôi trường, thì cần nhắc đến người thiếu nữ Nguyễn Hữu Thị Lan, là tiểu thư khuê các trong gia đình đại phú hộ Sài Gòn xưa. Bà vốn là nữ sinh của trường nữ tu dòng Đức Bà tại Paris (Cours des Champs-Élysées, rue de Ponthieu).

Image result for Trường Couvent Des Oiseaux"

Sau khi về nước, kết hôn với vị Hoàng Đế cuối cùng của triều Nguyễn là Vua Bảo Đại, trở thành bậc Mẫu Nghi Thiên Hạ, với tước hiệu Nam Phương Hoàng Hậu, bà đã giúp các vị nữ tu dòng Đức Bà mở trường Công Giáo đầu tiên ở Việt Nam cho các nữ sinh trên đồi Lâm Viên Đà Lạt vào năm 1935.

Image result for Trường Couvent Des Oiseaux"

Thuở ban đầu, trường có tên là Notre Dame du Langbian, gọi theo cách thuần Việt là trường Đức Bà Lâm Viên. Cùng với trường Notre-Dame du Rosaire tại Hà Nội (1937) và trường Regina Mundi tại Saigon (1950), thì Notre Dame du Langbian đã đóng góp công lao trong việc giáo dục tri thức.

Tuy nhiên, vào thời điểm mới thành lập, trường chỉ phục vụ là nữ sinh có xuất thân từ các gia đình người Pháp, người Việt, người Campuchia và Lào. Mô hình phát triển của trường được nâng lên dần từ vườn trẻ, trường Tiểu Học rồi chuyển hóa thành nữ sinh Trung Học. Tên gọi chính thức của trường là Couvent des Oiseaux. Đây cũng là một ngôi trường nổi tiếng chu đáo và nghiêm khắc. Ngày nay, ngôi trường trở thành Trường Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú Lâm Đồng.

CouventDesOiseaux1

Trường Thiên Phước (Sài Gòn)

Vào năm 1877, để đáp lại lời mời của Đức Cha Colombert, Giám Mục Địa Phận Đàng Trong, Mẹ Benjamin cho lập một Nhà Dục Anh tại Tân Định và cơ sở này được gọi là “Sainte Enfance de Tân Định”.

thienphuoc

Soeur Ignace lúc bấy giờ phụ trách Công Đoàn tiên khởi tại Viễn Đông. Hằng năm bà và các nữ tu đón nhận cả trăm em sơ sinh bị bỏ rơi để săn sóc và nuôi dưỡng chúng. Nhưng có một số trẻ vì quá yếu, bệnh tật không cứu sống được.

Vào năm 1881, Cha Sở Eveillard mời các chị em Dòng Thánh Phao-Lô đến dạy giáo lý cho các em trai và gái của giáo xứ. Ba mươi năm sau, dưới sự huớng dẫn của Soeur Suzanne, nguời phụ trách Công Đoàn, các chị em đảm nhiệm luôn việc giáo dục các thiếu nhi nam nữ tại cơ sở cạnh Công Đoàn.

Gia đình trong họ đạo gởi con em đến cơ sở của các nữ tu để vừa học giáo lý vừa học văn hóa theo chương trình của Bộ Giáo Dục. Các con em của họ học đạo chung với các cô nhi, cũng có một số em của họ đạo xin vào nội trú hoặc bán trú tại trường.

Image result for Trường Thiên Phước"

Trong khoảng năm 1918-1938, song song với sự phát triển của họ đạo, Công Đoàn có những bước tiến đáng ghi nhớ trong thời kỳ Soeur Andréa Amé phụ trách. Lần lượt các lớp Sơ Cấp được mở ra, học sinh đến mỗi ngày một đông…

Vào năm 1941, Soeur Marie Rose lúc bấy giờ đang dạy ở Trường Jeanne d’Arc, Ngã Sáu Chợ Lớn, được mời đến phụ trách Công Đoàn Tân Định thế cho Soeur Amé.

Vào khoảng 1946-1948, lúc tình hình Đệ Nhị Thế Chiến lắng dịu, các lớp Nhì và Nhất đuợc mở thêm để bổ túc chương trình Tiểu Học. Soeur Marie Rose cũng dần dần cho mở thêm các lớp dạy theo chương trình Pháp. Được một năm thì Soeur phải về Pháp chữa mắt và không trở lại. Soeur Alice de Jésus phụ trách tiếp Công Đoàn.

Image result for Trường Thiên Phước"

Năm 1950, Soeur Alice de Jésus đã xây cất thêm các lớp học bên cánh phải của cơ sở, lên lầu viện cô nhi, mở ký túc xá cho các nữ sinh ở tỉnh lên học. Lúc bấy giờ nhà trường Sainte Enfance đã có đủ các lớp Mẫu Giáo, các lớp Tiểu Học Việt-Pháp dọn thi Certificat d’Études Primaries Franco-Indigènes (CEPFI) và mở năm đầu để dọn thi bằng Trung Học Pháp BEPC.

Khoảng giữa thập niên 1950, trường Sainte Enfance có hai chương trình Trung Học Việt và Pháp.

Vào tháng 8 năm 1957, Công Đoàn Tân Định đón tiếp Soeur Pétronille de Marie, nữ tu sĩ Việt Nam đầu tiên đến phụ trách.

thienphuoc2

Ngày 6 tháng Giêng năm 1958, trường Sainte Enfance de Tân-Định được giấy của chính quyền qua Sở Giáo Dục cho phép đi tên là “Trường Thiên Phước” và màu hồng nhạt được chọn cho đồng phục của trường. Trước 1975, ở đây có khoảng 43 nữ tu nhưng vào khoảng thời gian 2001, chỉ còn lại 12 nữ tu. Đứng đầu nhóm nữ tu lúc bấy giờ là Soeur Marie-Patrice Trương Thị Nhung.

Ngày nay, trường này được đổi tên thành Trường THCS Hai Bà Trưng, địa chỉ 295 Hai Bà Trưng, Q3, Sài Gòn.

haibatrung

Trường Notre Dame Des Missions (Sài Gòn)

Tên trường được chọn là Notre Dame Des Missions đơn giản là vì trường của dòng Notre Dame Des Missions. Trường ở Thủ Đức, dạy theo chương trình Pháp và đến năm 1970 thì có thêm chương trình Việt song song cho Trung Học Đệ Nhất Cấp.

notredame

Khu đất của trường được mua từ năm 1959 từ nhiều chủ khác nhau, và khởi công xây dựng năm 1960. Dãy nhà đầu tiên làm trường Tiểu Học, nhà nội trú và dãy nhà dành cho các Soeurs. Đến năm 1969 thì mới xây thêm dãy nhà danh cho Trung Học Đệ Nhất và Đệ Nhị Cấp.

Đến năm 1975, khu nhà trường Tiểu Học và nhà nội trú cùng dãy nhà trường Trung Học bị chính quyền mới sử dụng làm cơ quan cho đến nay. Vì không sử dụng đúng mục đích nên các Soeurs đã làm đơn đòi lại cơ sở từ năm 2004.

Trường Nữ Trung Học Hồng Đức (Đà Nẵng)

Trường được lập ra cuối năm 1967, sau khi niên khóa 67-68 đã bắt đầu. Địa điểm được chọn nằm trên đường Thống Nhất, cạnh trường Trung Học Phan Châu Trinh và Nam Tiểu Học, thành phố Đà Nẵng. Ngôi trường được xây trên một nghĩa trang cũ của người Pháp, có người mê tín cho là không tốt nên yểu mệnh.

hongduc

Niên khóa đầu tiên, trường có thi tuyển để nhận thêm nữ sinh vào, bên cạnh những nữ sinh được chuyển qua từ trường Phan Châu Trinh và gồm có có Đệ Thất đến Đệ Tứ. Liên lớp đàn chị ra trường năm 1971, niên khóa 70-71.

Image result for trường Nữ Trung Học Hồng Đức (Đà Nẵng)"

Trường mang tên Nữ Trung Học Hồng Đức từ niên khóa 73-74. Mùa xuân Ất Mão, trường lần đầu tiên tổ chức hội chợ rất quy mô. Đặt ngày truyền thống 30 tháng 1 Âm lịch (húy nhật của vua Lê Thánh Tôn, bút hiệu Hồng Đức) và lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng.

hongduc1

Nhưng tiếp theo đó là cuộc di tản của đồng bào từ Quảng Trị, Thừa Thiên về. Nhà trường biến thành trại tị nạn. Kế đến biến cố 29 tháng 3 năm 1975. Niên Khóa 74-75 kéo dài đến hết niên khóa, sau đó trường biến thành Đại Học Sư Phạm. Học sinh còn theo học của Nữ Trung Học Hồng Đức phân tán đi khắp nơi.

Image result for trường Nữ Trung Học Hồng Đức (Đà Nẵng)"

Trường nữ Trung Học Qui Nhơn (Ngô Chi Lan)

Image result for Trường nữ trung học Qui Nhơn (Ngô Chi Lan)"

Cơ sở này nguyên là Trung Học Tư Thục Tân Bình, mở dạy các lớp Trung Học Đệ Nhất Cấp nằm trên đường Nguyễn Huệ, nhưng quay mặt về hướng Bắc, phía Nhà Thờ Chánh Tòa (còn gọi là Nhà Thờ Nhọn), và cổng trường thông ra đường Hai Bà Trưng. Sau năm 1963, cơ sở này được sung công và thuộc tài sản của tỉnh Bình Định, rồi chuyển cho Bộ Giáo Dục để mở một trường Trung Học công lập cho tỉnh.

quinhon

Từ giữa năm 1964, trường này trở thành công lập, cổng quay lại về hướng Nam (phía bờ biển) để thông ra đường Nguyễn Huệ và đổi tên là trường Nữ Trung Học Quy Nhơn.

Trường được hợp thức hóa bằng nghị định số 2214/GD/PC/NĐ, ký ngày 4 tháng 12 năm 1964 của Bộ Quốc Gia Giáo Dục, và khai giảng niên khóa đầu tiên 1964-1965. Ban đầu, trường chỉ có các lớp Trung Học Đệ Nhất Cấp, rồi được phát triển thành Đệ Nhị Cấp. Niên khóa 1972-1973, trường sở phát triển tới 18 phòng học với sĩ số là 2559 người, trong đó có 1892 nữ sinh Đệ Nhất Cấp và 667 nữ sinh Đệ Nhị Cấp.

Nữ Trung Học Qui Nhơn là trường công lập Đệ Nhị Cấp có lớp 12, và trải qua 3 đời Hiệu Trưởng: Cô Trần Thị Gia (1964-1968), cô Vương Thúy Nga (1968-1970) và cô Lê Thị Cúc (1970-1975).

quinhon1

Một sự kiện quan trọng, niên khóa 1972-1973, trường Nữ Trung Học Qui Nhơn được Bộ Giáo Dục cho đổi tên thành trường Nữ Trung Học Ngô Chi Lan, là tên của một nữ danh sĩ thời Hậu Lê. Bà Ngô Chi Lan nổi tiếng về nhan sắc và đức hạnh, giỏi thi ca, thông nhạc lý, viết chữ đẹp. Chính vua Lê Thánh Tông đã ban khen, phong danh hiệu Kim Hoa Nữ Học Sĩ, cho dự nhiều cuộc xướng họa thơ văn của triều đình, được giao việc dạy lễ nghi và văn chương cho các cung nhân.

Trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi

Trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi là trường nữ công lập lớn nhất ở tỉnh Quảng Ngãi trước năm 1975. So với bốn trường tư thục khác thời ấy là Kim Thông, Bồ Đề, Hùng Vương, Chấn Hưng, tiêu chí tuyển chọn nữ sinh của trường rất khắt khe.

quangngai

Lớp 12 Trung Học công lập Bình Sơn (Quảng Ngãi), chăm chú làm bài thi Lục Cá Nguyệt. (Photo 1974 - Trương Quang)

Ngôi trường không chỉ nổi tiếng bởi có nhiều nữ tú, xinh đẹp mà còn đào tạo cả đức tài. Học sinh ngoài học văn hóa ra còn được thầy cô dạy cho đức tính công dung ngôn hạnh, dạy nấu ăn, cầm, kỳ, thi họa và cả cách đi đi đứng, ăn nói…

Theo cô Nguyễn Thị Loan – Hiệu Trưởng nhà trường từ năm 1971 đến 1975 thì Trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi được hình thành từ việc tách số nữ sinh từ lớp lớp 6 đến lớp 9 của Trường Trung Học Trần Quốc Tuấn. Khi chưa có cơ sở chính thức, trường phải học nhờ khắp nơi. Đến tháng 6.1965, trường được khánh thành và duy trì hoạt động cho đến năm 1975.

Thời điểm ngôi trường được xây dựng hoàn thành, cũng là lúc cô Loan được bổ nhiệm về công tác tại trường. Cô Loan nhớ lại, lúc đó trường có 13 lớp từ lớp 6 đến lớp 10. Cho đến niên khóa 1974 -1975, trường có 41 lớp với gần 2.000 học sinh từ lớp 6 đến lớp 12 nhưng chỉ có 15 phòng nên việc học cũng gặp nhiều khó khăn.

Trường có quy chế khá nghiêm ngặt, luôn đặt vấn đề kỷ luật lên hàng đầu. Các em đi học phải mặc đồng phục áo dài, quần dài trắng, bất kể trời nắng hay mưa. Học sinh nào đi trễ năm phút bị ở ngoài cổng và xem như vắng học không phép.

“Học sinh ngày ấy rất ngây thơ, giàu tình cảm và hiếu học. Phần lớn các em được tuyển chọn từ các vùng quê trong tỉnh về học nên rất biết giúp đỡ lẫn nhau. Ngoài vấn đề kỷ luật, thành tích học tập, một lĩnh vực khiến chúng tôi vô cùng tự hào khi nhắc đến bề dày thành tích của Trường Nữ Trung Học chính là phong trào văn nghệ. Đội văn nghệ của trường “ăn đứt” các trường khác, luôn dẫn đầu trong các cuộc thi giữa các trường Trung Học trong toàn tỉnh”, cô Hà Thị Tham – Giám thị nhà trường nói với vẻ đầy tự hào.

Nói về đội ngũ dạy học, trường hội tụ đội ngũ giáo sư có năng lực, trình độ chuyên môn ở khắp nơi về công tác, chiếm đa số vẫn là giáo sư đến từ xứ Huế mộng mơ. Giọng Huế ngọt ngào và ấm áp của các thầy, cô khiến cho các bài giảng nhẹ nhàng hơn trong mỗi tiết học, dễ đi vào lòng học sinh.

 

Kim Phượng st

Image result for Nhìn lại các trường nữ trung học nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975 hình bìa"

 

 

 

Xem thêm...

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán và những phong tục truyền thống đêm giao thừa

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán

và những phong tục truyền thống đêm giao thừa

 

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán và những phong tục truyền thống đêm giao thừa

Người Á Đông coi Tết âm lịch là dịp lễ lớn nhất trong năm. Vào dịp này, mỗi dân tộc đều có những phong tục đặc biệt để đón chào một năm mới bình an.

“Trừ tịch” hay “giao thừa” là đêm cuối cùng của một năm, đêm của tháng 12 theo Hoàng lịch, cũng là điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Thời điểm bắt đầu giờ Tý (0 giờ) ngày mùng 1 tháng Giêng. Đêm giao thừa hay còn gọi là đêm trừ tịch là thời điểm quan trọng đánh dấu cho một năm cũ kết thúc và một năm mới đã đến. 

Theo văn hóa truyền thống, đón năm mới không chỉ là đêm giao thừa, mà là một loạt phong tục từ lúc giao thừa cho tới ngày hôm sau để cầu mong sự hồi sinh, loại bỏ những điều xấu, cầu mong nhiều may mắn trong năm mới. Những phong tục văn hóa truyền thống trong đêm giao thừa là gì và có ý nghĩa như thế nào?

Nguồn gốc và truyền thuyết Tết Nguyên Đán 

Nguồn gốc của Tết Nguyên Đán có nhiều cách diễn giải, tuy nhiên, giả thiết được nhiều người chấp nhận là một câu chuyện từ thời vua Nghiêu vua Thuấn. Vào ngày lên ngôi, vua Nghiêu đã dẫn theo thuộc hạ lên núi khấn bái trời đất. Kể từ đó, người ta gọi ngày này là “tuế thủ” và coi là khởi đầu của một năm. Đây là một trong những giả thuyết được lưu truyền rộng rãi nhất.

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán còn có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ các triều đại. Thời Tam Hoàng, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng Giêng, tức tháng Dần làm tháng đầu năm mới. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng Chạp là tháng đầu năm. Còn nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một làm tháng Tết. Mãi cho đến đời nhà Hán, sau khi thống nhất giang sơn Hán Vũ Đế đã đặt lại ngày đầu năm mới vào tháng Dần, tức tháng Giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn vị vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Image result for cúng giao thừa

Cũng có nghiên cứu cho rằng Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ phong tục tế lễ tháng Chạp thời thượng cổ, đến nay đã có lịch sử hơn 4000 năm. Ngay từ thời kỳ vua Nghiêu – Thuấn, ở vùng đất Trung Nguyên đã xuất hiện hoạt động “Lạp tế”. Lạp tế là hoạt động tế lễ bách thần diễn ra vào tháng cuối cùng trong năm, nhằm cảm tạ thần linh đã phù hộ cho dân chúng no đủ, mùa màng bội thu. Nghi thức tế lễ này vô cùng trang trọng, mọi nhà đều phải chuẩn bị những loại thực phẩm ngon nhất để tế tự bách thần. Bởi thế, người ta đã đi săn nhằm kiếm thịt thú rừng tươi, có mùi vị thơm ngon để làm tế phẩm. Thời cổ, chữ “liệp” đồng nghĩa với chữ “lạp”, bởi vậy “Lạp tế” còn có ý nghĩa là hoạt động săn bắt, tế tự.

Theo một truyền thuyết khác, khởi đầu của Tết Nguyên Đán là cuộc chiến chống lại con niên quanh năm sống dưới đáy biển. Con niên hay đến vào dịp đầu năm mới để phá hoại gia súc, mùa màng, giết hại dân làng, đặc biệt là trẻ con. Để bảo vệ mình, dân làng đặt thức ăn trước cửa nhà vào dịp đầu năm, và sau đó, già trẻ trai gái cùng dắt nhau lên núi trốn chạy con niên. Mọi người tin rằng làm vậy thì con thú sẽ không tấn công dân làng nữa. 

Một lần, có ông lão đến thôn làng khất thực, vừa hay dân làng đã trốn hết lên núi, chỉ còn một bà lão ở lại mang cho ông thức ăn và khuyên ông nhanh chân chạy trốn. Không ngờ ông lão nói: “Hãy cho tôi ở lại nhà hôm nay, tôi sẽ đuổi được con niên đi”. 

Đêm hôm ấy, con niên đến thôn như thường lệ, nhưng phát hiện ra có điều bất thường: Bên ngoài cửa nhà của bà lão và đầu thôn đều dán giấy đỏ, bên trong nhà lại có ánh lửa sáng rực. Con niên vô cùng sợ hãi, kêu to một tiếng rồi định bụng tháo chạy. Nhưng ngay lúc đó, bên trong vườn đột nhiên phát ra tiếng pháo nổ lớn khiến con niên khiếp đảm, một mạch chạy thẳng ra cửa mà không dám quay đầu trở lại nữa. Sau này, dân làng mới hiểu ra rằng con niên sợ màu đỏ, ánh lửa và tiếng pháo nổ. 

Từ đó về sau, vào những ngày đầu năm, dân làng thường treo đèn lồng đỏ, dán giấy đỏ trên cửa sổ và cửa ra vào. Mọi người cũng dùng pháo hoa để làm cho con niên khiếp sợ. Từ đó, con niên không bao giờ tới làng nữa. Cuối cùng, con niên bị Hồng Quân Lão Tổ bắt và trở thành vật cưỡi của Hồng Quân Lão Tổ.

 

Ảnh minh họa: Lovepik.

Các phong tục truyền thống  

Cúng tế trước đêm giao thừa

Related image

Vào thời cổ đại, ngày mồng tám tháng Chạp là ngày cúng bái Thiên Địa, vị Thần linh vĩ đại nhất của một năm. Về sau, ngày tịch nhật hay ngày mồng tám tháng Chạp được kết hợp là ngày cúng bái Thần Phật. Vào ngày này người dân đeo trống eo lưng đóng giả làm Kim Cang lực sĩ để xua đuổi tà ác và dịch bệnh, đón chào một năm mới an lành, cát tường may mắn. Ngày 16 tháng Chạp được người Trung Hoa cổ gọi là “Vĩ Nha”, nghĩa là tiệc cuối năm. Vào ngày này, trong dân gian mọi người long trọng tổ chức lễ cúng thổ địa, thổ công, sau đó mới là các phong tục trước lễ giao thừa. 

Tục đầu tiên là lễ tế ông Táo, tổ chức vào ngày 23 tháng Chạp. Phong tục tiễn ông Công ông Táo về trời bắt đầu từ thời Khổng Tử (551 – 479 TCN). Ông Táo được xem là vị Thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà. Các thư tịch cổ có nhiều ghi chép về phong tục tế Táo Quân. Sách Nghi Thức có một bản ghi chép về bếp cúng tế, là một trong năm nghi lễ thờ cúng tổ tiên vào cuối triều đại nhà Chu. Vào thời điểm đó, mỗi gia đình thờ cúng tổ tiên và các vị Thần đất, bao gồm cửa, giữa phòng, bếp, và linh đường. Theo truyền thuyết, hàng năm vào ngày 23 tháng Chạp, Táo Quân lên Thiên đình báo cáo với Ngọc Hoàng về gia chủ trong năm qua. 

Vào ngày tiễn ông Công ông Táo, dân gian thường dọn dẹp nhà cửa để xua đuổi xui xẻo. Họ quét dọn và bỏ đi những thứ không cần thiết, đó là cách để nói lời tạm biệt với năm cũ. Người xưa tin rằng việc quét dọn trong những ngày đầu tiên của năm mới có thể ngăn cản vận may. Cũng trong ngày 23 tháng Chạp, người ta sẽ bày bàn thờ gần bếp, cúng Táo Quân bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo, đặc biệt là kẹo mạch nha để Táo quân nói những lời “ngọt ngào” với Ngọc Hoàng, báo cáo những điều tốt đẹp và mang lại vận may cho gia chủ trong năm mới. 

Trang trí nhà cửa và treo câu đối

Image result for câu đối tết canh tý

Đỏ và vàng là hai màu sắc mang ý nghĩa biểu tượng trong văn hóa truyền thống. Màu đỏ biểu tượng cho sự may mắn và tràn đầy năng lượng, màu vàng liên quan đến sự giàu sang và hạnh phúc. Dùng màu sắc này để trang trí nhà hay trên quần áo là cách để chào đón năm mới may mắn. Số “8” cũng được xem là biểu tượng cho sự may mắn và giàu có, vì số 8 đọc là “Bát”, phát âm gần với chữ “phát”, có nghĩa là thịnh vượng và giàu có.

Về tục dán giấy lên ô cửa sổ: Các loại giấy được dán thường là những bức tranh miêu tả về cuộc sống nông thôn hay câu chuyện thần thoại, và người dân thường có truyền thống đặt cửa sổ quay về hướng Nam và Bắc.

Về bày tranh và tác phẩm nghệ thuật về chủ đề năm mới: Theo truyền thống, các tác phẩm này đều có hình ảnh thể hiện sự an khang thịnh vượng, bao gồm động vật và hoa quả. Theo phong tục, bạn có thể dán bức tranh của một “vị Thần canh cửa” lên cửa nhà để giúp chống lại ma quỷ và mang phước lành cho gia đình.

Tranh hai vị thần giữ cửa (ảnh minh họa: Dennishodgson).

Treo câu đối, treo hình Môn Thần, hay dán chữ Phúc trước cửa nhà cũng là một phong tục điển hình. Đặc biệt việc treo chữ Phúc trở nên gần gũi với hầu hết người dân khi không phải ai cũng có đủ tiền để sắm cho mình một câu đối hay các bức vẽ Môn Thần. Người ta thường treo ngược chữ Phúc trong dịp đầu năm với mong muốn “Phúc đáo”. Trong tiếng Hán, chữ “ đáo” (倒) nghĩa là ‘ngược’, và “đáo” (到) nghĩa là ‘đến, tới’ là đồng âm với nhau. Do vậy, treo ngược chữ “Phúc” giống như một câu chào mừng trong ngày xuân: “Phúc đến nhà rồi!”.

Làm bánh đêm giao thừa 

Image may contain: 1 person, smiling

Bữa cơm giao thừa thường rất thịnh soạn, và theo truyền thống, sẽ có hai món ăn chủ yếu là gà và cá. Ở một số nơi, cá sẽ không được ăn hết, phần còn lại sẽ được để qua đêm, như vậy sẽ thành “Niên niên hữu ngư” (năm năm có cá). Người xưa làm như vậy với mong muốn cả năm sắp tới sẽ có cuộc sống đầy đủ, dư giả, bởi lẽ “Niên niên hữu ngư” cũng đồng âm với cụm từ “Niên niên hữu dư” ý chỉ cả năm dư thừa, sung túc, đầy đủ. 

Bánh sủi cảo cũng là món ăn được ưa chuộng, thường làm bằng cách gói các loại nhân với ý nghĩa tượng trưng khác nhau vào vỏ bánh, nghĩa là gói ghém may mắn rồi ăn vào người để hưởng may mắn cho cả năm. Trong mâm cơm, ngoài cá hấp (ngụ ý dư thừa của cải) còn có mỳ trường thọ, bánh sủi cảo cùng nhiều món ăn truyền thống khác.

Ăn bánh sủi cảo trong những ngày Tết đến là một phong tục đầu xuân. Trước đây thì mọi người trong gia đình luôn quây quần lại để cùng nhau làm bánh. Có một điều thú vị trong chiếc bánh sủi cảo, đó là đôi khi người ta sẽ cho vào trong nhân một đồng tiền xu rồi mới đem hấp, nếu ai ăn trúng chiếc bánh ấy thì được coi là may mắn cả năm.

Đốt pháo đầu năm mới

Related image

Đốt pháo đầu năm là một phong tục để tạo nên bầu không khí rộn ràng những ngày đầu năm. Đầu tiên người ta sẽ đốt một dây pháo nhỏ, rồi tiếp theo là đốt 3 tiếng pháo lớn hơn tượng trưng cho việc năm cũ đã qua và chào đón năm mới đang tới. Tuy nhiên, hiện nay việc đốt pháo đã bị cấm ở những thành phố lớn, chỉ còn xuất hiện tại một số vùng nông thôn hẻo lánh.

Kiên Định

Mâm cỗ Tết cổ truyền của người miền Bắc gợi nhớ, gợi thương

 

Image result for cúng giao thừa

 Tết là dịp cả gia đình sum vầy bên mâm cơm ấm cúng với những món ăn truyền thống của dân tộc. Mỗi vùng miền có những món ăn ngày Tết đặc trưng, vừa hàm chứa ý nghĩa tâm linh, vừa thể hiện bản sắc văn hóa lâu đời.

Nếu bạn là đứa con xa quê, những món ăn của ngày Tết cổ truyền miền Bắc sau đây sẽ giúp bạn cảm thấy quê hương như đang ở rất gần.

1. Bánh chưng

Ảnh dẫn từ Điện Biên.

Với ý nghĩa biết ơn cha ông và đất trời, chiếc bánh chưng và truyền thuyết bánh chưng bánh dày đã đi vào tiềm thức của người dân Việt. Vì vậy, trong mâm cỗ Tết của người Việt không thể không nhắc tới bánh chưng.

2. Dưa hành

Chắc hẳn người Việt ai cũng đã từng nghe câu ca dao: “Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ/ Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”. Vị chua giòn thơm của dưa hành, cùng miếng thịt mỡ béo ngậy trong bánh chưng khi ăn kèm đã đủ đánh thức vị giác, đánh thức không khí Tết đang về trên khắp mọi miền đất nước. Điều đó đã trở thành một phần văn hóa Việt.

Ảnh dẫn từ Tin Tức online.

Đôi khi những người đi xa thèm một chút dư âm ngày Tết, tìm về cố hương chỉ để được ăn bánh chưng với món dưa hành chua chua, mằn mặn. Chỉ thế là đã đủ để cảm nhận hương vị của quê nhà.

3. Thịt gà

Gà mang nhiều ý nghĩa tốt đẹp theo quan niệm của người xưa. Trong 12 con giáp, gà là biểu tượng cho sự cương trực và mạnh mẽ. Còn trong văn học, gà lại được cho là loài sở hữu 5 đức tính lớn: Văn, Võ, Dũng, Nhân, Tín.

Ảnh: Pinterest.

Với mong muốn “cầu gì được nấy phúc đức đủ đầy”, gà là món ăn không thể thiếu trong mâm cơm những ngày đầu năm mới.

4. Giò 

Mỗi món ăn trong mâm cỗ Tết đều mang một ý nghĩa tốt đẹp đến với các thành viên trong gia đình. Giò cũng là món ăn như vậy, nó tượng trưng cho sự phú quý, sang trong.

Ảnh dẫn từ Món Đặc Sản Việt.

Đây là món ăn phổ biến cho ngày Tết bận rộn. Cắt khoanh giò thành từng miếng vừa ăn và bầy biện đẹp mắt, nó sẽ làm mâm cỗ của gia đình bạn đầy đủ và hấp dẫn hơn.

5. Nem rán

Ảnh dẫn từ Massage is healthy.

Nem rán cũng là món ăn góp phần khiến mâm cỗ Tết được phong phú và ngon lành hơn. Người miền Bắc thì gọi là nem rán, mà người miền Nam gọi bằng cái tên thân thương là chả giò. 

6. Xôi

Ảnh dẫn từ Tư Vấn Mua Bán.

Với mong muốn mọi người gắn kết với nhau hơn, qua năm mới sẽ thành công hơn và may mắn hơn năm cũ, món xôi cổ truyền là món ăn vô cùng ý nghĩa không thể thiếu trên bàn tiệc, bàn cúng… vào dịp lễ Tết.

7. Canh măng 

Ảnh dẫn từ Savourydays.

Trong mâm cỗ cúng ngày Tết của người miền Bắc, không thể thiếu một bát canh măng khô móng giò hoặc canh măng khô nấu xương. Nó mang ý nghĩa mong muốn vạn sự tốt lành, no đủ cả năm cho cả gia đình.

 

Hồng Vân sưu tầm

 

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này