Không gian riêng

Không gian riêng (134)

Thư giởi bác Hoàng Kiều by Doctor Chris Lữ

Image result for vnch flags tung bay photos

 Chào cờ, quốc ca VNCH 

BM  
Photo: Dr. Chris Lữ
 
Kính thưa Bác,
 
Mục đích con viết thư nầy cho Bác không ngoài mục đích góp ý xây dựng vì con lấy làm tiếc cho trường hợp của Bác nên “thà thắp một ngọn nến nhỏ còn hơn là ngồi mà nguyền rủa bóng tối.”
 
Trước hết, con xin phép tự giới thiệu đôi dòng về mình: Con qua Mỹ năm 1990 theo diện HO vì bố con là lính Sĩ quan VNCH đi tù cải tạo trên 5 năm. Con qua Mỹ đã trên 20 tuổi, đi học lại và đang hành nghề bác sĩ. Vì trong thời đi học con đã từng là chủ tịch hội Sinh Viên VN ở trường con nên con hiểu được sự phức tạp và tế nhị trong quan hệ cộng đồng và xã hội Việt Nam tại xứ người.
 
Thưa bác Hoàng Kiều,
 
BM
 
Vì quê hương con cũng là Hải Lăng, Quảng Trị, nên con có niềm tự hào và hãnh diện khi có những nhân vật xuất thân từ Quảng Trị thành công, thành danh trong nước cũng như ngoài nước. Câu nói đầu tiên con học về chí lập thân ở Mỹ là: “The first million is the hardest” (Kiếm được triệu đầu tiên là khó nhất). Thế mà con đọc trên báo chí biết được bác Hoàng Kiều là một tỷ phú trong số 500 tỷ phú Mỹ và hơn 2000 tỷ phú trên thế giới. Con càng khâm phục và nể nang bác hơn nữa khi đọc về tiểu sử của Bác từ một người tỵ nạn 1975, làm việc kiếm 1 đôla 25 xu mỗi giờ đến khi trở thành một thành viên xuất sắc của hãng Abbott và một nhà kinh doanh trong ngành Huyết Thanh Liệu Pháp, bản lĩnh đứng ra mở công ty Rare Antibody Antigen Supply. Con cũng rất khâm phục khi bác tự nguyện hiến tặng 20% thu nhập cho quỹ từ thiện và năm 2006 xây dựng 5000 căn nhà giúp người Việt Nam nghèo khó.
 
BM
Hoàng Kiều không còn là tỷ phú năm nay.
 
Nhưng thưa Bác, ở đời có những khúc quanh không ngờ trước được khi đã được lợi thì đến hồi mua danh. Nhưng “mua danh ba vạn bán danh ba đồng” cũng là lời báo động của những bậc cao nhân trong lịch sử con người. Trường hợp “bán danh” của Bác thì xảy ra càng ngày càng đáng tiếc vì nó xảy ra càng lúc càng tệ hại và trầm trọng bởi vì Bác đã có một sự nhầm lẫn quá lớn giữa những giá trị không có chung mẫu số. Cụ thể như phương pháp sản xuất, tiếp thị, cân đo đong đếm... trong thương mãi không thể áp dụng trong nghệ thuật. Hay những giá trị nghệ thuật không thể đem ra làm phương tiện cho sinh hoạt tâm lý và xã hội.
 
Con bắt đầu ngỡ ngàng về Bác khi ở vào lứa tuổi “thất thập cổ lai hy” thì bác “mua danh” từ tiền qua gái. Những hình ảnh chân dài Trương Tử Lâm chân dài, nữ hoàng đồ lót Ngọc Trinh... đã giúp Bác “bán danh” còn rẻ mạt hơn “3 đồng”. Không biết các anh chị con cái của Bác có lời khuyên can nào và có thất vọng điếng người như hàng tuổi trẻ Việt Nam chúng con từ thất vọng đến xem thường và bên lề khinh miệt nhân cách xuống cấp của Bác như chúng con không?
 
BM
 
Vì vẫn nể nang một “self-made billionaire” như Bác, nên con vẫn chống chế đứng về phía Bác về cái gọi là “Nghề chơi cũng lắm công phu” trong sinh hoạt tình ái của Bác. Chỉ một điều hơi lạ là trong khi những người nổi tiếng như Bill Clinton, Donald Trump... cố dấu chuyện trăng hoa để còn tìm đường thăng tiến thì Bác Hoàng Kiếu ta lại dùng cái trăng hoa xuống cấp của mình như một “bước thang danh vọng” để bước lên sau váy áo của các cô gái đẹp nhưng tai tiếng như dịch tả rồi! Chẳng lẽ nào trong thương trường Bác bản lĩnh chừng nào thì trong sinh hoạt văn hoá xã hội Bác lại khờ khạo vụng về chừng ấy vậy sao?!
 
BM
 
Nếu Bác tinh ý một chút sẽ nghe đâu đó đồng bào và đồng hương của Bác nói một cách hãnh diện “Tỷ phú Hoàng Kiều” lúc đầu, rồi từ từ gọi là “trọc phú Hoàng Kiều” và lời xưng danh thậm tệ gần đây nhất là “thằng vô học”, “tên bán máu Hoàng Kiều”! Làm việc ở xa hoàn toàn trong mội trường người Mỹ, con đã có một phản ứng tâm lý bất mãn với công luận của cộng đồng người dân Việt mình đã quá khắt khe đối với Bác nên cố gắng xin Vacation về California tìm hiểu thực hư thế nào.
 
BM
 
Và lần đầu, con được trực tiếp gặp Bác Hoàng Kiều tại đại nhạc hội “Tạ Tình 6: Tình Hồng Cho Em”, tổ chức tại miền Nam California. Đây quả nhiên là một chương trình “nghệ thuật” được tổ chức rất công phu và sang trọng. Nội dung thì xưa nay ít thấy: Phần đầu là... chửi và phần sau là trình diễn văn nghệ.
 
Thưa bác Hoàng Kiều,
 
Thật tình cháu muốn “xâm xoàng” luôn khi trực tiếp chứng kiến Bác xuất hiện trên sân kháu và phát biểu. Dù cố ăn mặc kiểu cách kỳ dị và trang sức tạp pí lù thiếu designer chuyên nghiệp, Bác vẫn không che dấu được hình tướng, phong thái và bản chất của một tay nông dân lên phố quê mùa và kệch cỡm. Sao Bác có tiền rừng bạc bể mà lại chọn người làm đẹp cho Bác tệ thế nhỉ?!
 
Phần phát biểu “chửi” của Bác thì con xin nói thật, Bác đừng buồn nhé, Bác đã tự hạ thấp Bác xuống ngang tầm với phường “đá cá lăn dưa”. Phương ngôn Tây có câu: “Người có trí tuệ muốn chinh phục quần chúng thì trong một cuộc tranh luận đừng để mình đứng yên mà hạ thấp đối thủ xuống; nhưng để đối thủ đứng yên mà năng mình lên.”
 
BM
 
Bác ơi! Đây Bác đã làm ngược lại. Ngôn ngữ tùy hứng của Bác đã làm cho quần chúng quay lưng với Bác. Những kêu gọi và kích động rẻ tiền như: “Hay đúng thì vỗ tay lên, vỗ to nữa lên!” Hoặc là những tiếng dẫn nối quá thiếu văn hóa ứng xử như: “Hiểu chưa? Biết chưa?...”
 
Thưa Bác Hoàng Kiều, Bác xem 3000 người khán giả trước mặt Bác trong sân khấu là ai? Có người là Thầy của Bác, có người là bạn Bác, có người là đối thủ của Bác nhưng Bác đã xem tất cả ba nghìn khán giả như hàng con cái, kẻ ăn người ở trong nhà của Bác nên Bác đã nói với đại chúng bằng một tuồng ngôn ngữ tùy tiện và thô thiển. Tất nhiên, phản ứng tâm lý của khán giả đối với Bác là “ngưu đối ngưu, mã đối mã” với Bác mà thôi. Thật tình con không dám lập lại những tiếng phản ứng và chửi thề đáp trả quá xúc phạm và còn tệ hơn cách nói của Bác nữa. Nhưng Bác phải hiểu là quần chúng Việt Nam đã trải qua bao nhiêu đau khổ và kinh nghiệm xương máu về chính trị, kinh tế, xã hội từ thời 1975 đến hôm nay nên họ không còn là khối người thụ động, vô danh như trong cái đánh giá phiến diện và non kém của Bác đâu Bác Hoàng Kiều ạ.
 
Con và một số bạn bè đã bỏ ra về ngay sau khi Bác phát biểu mà lòng buồn rười rượi và thất vọng quá chừng. Bác đã làm nhiễm độc phần trình diễn văn nghệ. “Thương nhau như thế bằng mười phụ nhau” đấy bác ạ. Nếu vong hồn của Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cùng về dự với Bác chắc ông cũng bỏ rạp hát ra quán cà phê ngồi với tụi con thôi.
 
BM
 
Về phương diện chính trị, Bác đã đem cái nghệ thuật cò kè mua bán (The art of dealing) trong kinh tế để thuyết phục chính trị nên hoàn toàn phản tác dụng.Kẻ thù Bác không phục Bác đã đành nhưng quần chúng đứng giữa hay người có cảm tình với Bác (như con đây) cũng muốn xa lánh Bác vì Bác “đấu tranh chính trị” mà xuống chiêu như đánh Golf hay thọc Bida: Hấp tấp, nông cạn, ưa chi nói nấy như con nít chơi ném đá ngoài đường.
 
BM
 
Nếu Bác có nhu cầu xây dựng một “Brand name” trong sinh hoạt cộng đồng với hằng triệu người Việt Nam thì Bác nên bỏ ngay “cái Tôi” ngớ ngẩn của Bác đi thôi. Dẫu là đùa hay thật thì kiểu nói “thành phố Hoàng Kiều’ cũng đã đủ lố bịch và nhận sự xỉa xói của thiên hạ rồi. Bác coi có cả 400 nhà sản xuất rượu vang (Winery) ở Napa và hơn 600 cơ sở sản xuất Winery ở Sonoma County hơn cả trăm năm nay, đã có nhà sản xuất nào để hình của chủ nhân lên nhãn hiệu chai rượu chưa, nay bỗng dung Bác vào mở cái “Kieu Hoang Winery” là bác lên hình trên chai rồi. Như thế có quá trẻ con không thưa Bác?
 
Thưa Bác Hoàng Kiều, câu chuyện dài ngớ ngẩn của Bác cháu mình sẽ chẳng đến đâu nếu người nói và người nghe không cùng tần số và năng lượng (energy). Tuy nhiên khi con viết cho Bác và đại chúng những dòng nầy thì con cũng chỉ có một hy vọng nhỏ rằng: Tiền bạc tỷ của bác thì bác giữ, con cũng như hàng triệu người Việt tha hương không ai cần vì thiếu mà cũng chẳng ai muốn vì sẽ nương tựa một xu trong nguồn tiền bạc tỷ của Bác cả. Bác chỉ có thể đem tiền nói với kẻ tay chân của Bác mà thôi. Nên mọi sự đối thoại trong Cộng Đồng người Việt cần công bằng và tôn trọng lẫn nhau.
 
BM 
 
Với tuổi 77, Bác cũng như thế hệ bố con là chỉ dám nghĩ đến những gì trong giới hạn thời gian tính trên đầu ngón tay thôi. Bởi vậy, với tinh thần đồng hương Quảng Trị và hy vọng chưa tắt hẳn về thanh danh của một nhân vật giàu nhất Quảng Trị trong mọi thời đại như bác Hoàng Kiều, con xin góp ý với Bác rằng, tuy Bác không còn đủ thời gian để bắt đầu một cuộc đời mới khác nhưng hy vọng là còn đủ thời gian để xây dựng một tỷ phú Hoàng Kiều có thanh danh trong lòng người và sử sách, “hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Nếu không làm được nhà cự phú, phú ông, đại phú gia Hoàng Kiều cho tuổi trẻ chúng con thơm lây thì cũng đừng để tên tuổi và sự nghiệp rơi xuống hàng trọc phú.  
Kính chúc Bác Hoàng Kiều sức khỏe, trường thọ và an vui.
 
Kính thư,
 
Dr. Chris Lữ
 
 
Image result for vnch flags tung bay photos
 
 
 Thanh K. Bùi MD - sưu tầm 
Xem thêm...

Nhớ Lại Chuyện Coi Xi Nê ở Sài Gòn Trước 1975

Related image

 Nhớ về rạp xi-nê Rex, rạp tối tân nhất Đông Nam Á trước 1975 

Trong bài trước, tôi có liệt kê tất cả những rạp xi-nê của Sài Gòn trước 1975. Trong số các rạp kể trên, chúng ta phải nói đến một rạp của người Việt mà quy mô về mọi mặt của nó có thể nói đứng đầu cả Đông Nam Á, đó là rạp Rex.
Rạp Rex 1968-1969 
Rạp Rex 1968-1969
 
Tính đến năm 1960, rạp Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo của ông bà Nguyễn Phúc Ưng Thi thuộc vào loại hạng nhất ở Sài Gòn. Rạp có một tầng lầu và máy lạnh mát rượi.
Có lẽ chưa hài lòng lắm với quy mô của rạp Đại Nam, ông bà Ưng Thi, một cặp thương gia thành đạt sở hữu nhiều rạp chiếu phim hàng đầu tại Sài Gòn, đã dồn hết vốn liếng mua một miếng đất trên đường Nguyễn Huệ gần Tòa Đô Chánh (nay là UBND TP.HCM) để xây dựng rạp Rex, một rạp chiếu bóng với quy mô chưa từng có ở Việt Nam.
Rạp Rex – đúng như ý muốn của chủ nhân – là một rạp chiếu bóng thuộc vào hàng tối tân bậc nhất. Rạp này được trang bị những tiện nghi hiện đại dành cho một rạp chiếu bóng. Dàn máy lạnh có công suất cực cao khiến cho 1.200 khán giả run cầm cập. Có người đi xem phim phải mang theo áo chống lạnh.
Rạp Rex 1966 
Rạp Rex 1966
 
Màn ảnh của Rex là màn ảnh đại vỹ tuyến Todd-AO rộng đến 150 m2. Phim được chiếu tại đây là phim 70mm với dàn máy chiếu đặc biệt chỉ có ở Rex. Khán giả đến với Rex được tận hưởng khung cảnh rất trang nhã và sang trọng.
Thời bấy giờ, đối với những cặp tình nhân, được ngồi trên ghế nệm êm ái, xem phim nghe âm thanh nổi stereo, có lẽ đó là điều hạnh phúc nhất.
Vé của Rex thuộc loại khá đắt, gấp mất lần so với các rạp khác. Có 2 loại vé, dưới đất và trên lầu. Vé trên lầu có giá cao hơn và khách được sử dụng thang cuốn. Có thể nói đây là chiếc thang máy tự động đầu tiên ở Việt Nam, và lại trang bị cho một rạp chiếu phim!
Rạp Rex 1965 Rạp Rex 1965
Theo lời một người kể lại: “Trong ngày khai trương, một người đẹp lên lầu bằng thang cuốn. Có lẽ chưa quen với loại thang này nên đã bị thang máy cuốn luôn cái quần. Cũng may chưa có điều gì đáng tiếc xảy ra“. Thời điểm khai trương rạp Rex (1961) là một sự kiện gây được chú ý của không chỉ dân kinh doanh rạp mà còn cả giới chính trị gia thời đó.
Cuộn phim đầu tiên để khai trương rạp là phin Ben Hur. Phim đoạt 11 giải Oscar vào năm 1959, được trình chiếu tại Mỹ.
Thông thường một cuộn phim mới được chiếu tại Mỹ phải 4 năm sau mới về đến Việt Nam. Vậy mà Ben Hur chiếu cùng lúc với Mỹ chắc hẳn ông bà Ưng Thi phải mất một khoản tiền khá lớn để nhập về.
Trong 10 năm từ 1960 – 1970, thị trường phim ảnh và rạp chiếu bóng tại Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung rất phát đạt. Hầu như năm nào cũng có rạp mới khai trương dù vậy không rạp nào có quy mô bằng hoặc vượt qua được rạp Rex.
 
Related image

 Liệt kê những rạp xi nê ở Sài Gòn trước 1975 

Trước 1975, tại Sài Gòn có khoảng hơn 60 rạp hát lớn nhỏ. Thời ấy, người Sài Gòn giải trí chủ yếu là xem xi nê (hay còn gọi là chiếu bóng, chiếu phim) nên các rạp hoạt động rất rầm rộ.
Một thời vang bóng
Điện ảnh do người Pháp khai sinh vào cuối thế kỷ 18. Loại hình nghệ thuật này theo chân quân đội Pháp đến với người dân Sài Gòn vào những năm đầu của thập niên 1930. Hai rạp chiếu bóng đầu tiên được xây dựng để phục vụ chiếu phim.
Rạp Majestic nằm ở cuối đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi). Rạp thuộc loại hạng sang và đẹp, nằm cận kề với khách sạn Majestic.
Cũng trên con đường này, rạp Eden nằm ẩn mình bên trong hành lang Eden, vốn là thương xá mua sắm nổi tiếng. Theo đánh giá của nhiều người, đây là 2 rạp có cấu trúc đẹp và sang trọng bậc nhất thời bấy giờ.
Ban đầu, đối tượng đến xem phim tại 2 rạp này là người Pháp. Một số người Việt chịu ảnh hưởng lối sống của Pháp cũng thường xuyên đến. Điều bất ngờ – ngay cả chính người Pháp cũng không lường trước được – là sự hưởng ứng nồng nhiệt của các tầng lớp người Việt.
Rạp Lệ Thanh 
Rạp Lệ Thanh
 
Chỉ trong khoảng thời gian hơn 10 năm, số lượng khán giả người Việt đến xem phim quá đông khiến các ông chủ rạp người Pháp phải nhường quyền kinh doanh chiếu bóng lại cho người Việt.
Đỉnh điểm của sự phát triển này xảy ra rầm rộ nhất là vào năm 1950. Hàng loạt rạp chiếu bóng từ hạng sang có máy lạnh với sức chứa khoảng 1.000 khán giả cho đến các rạp bình dân ở các vùng ven ra đời đều được người xem đón nhận nồng nhiệt.
Rạp Majestic hoạt động một thời gian sau đó chuyển đổi thành nhà hàng. Hiện nay nơi đây là phòng trà Maxim’s. Có thể nói, Majestic ra đời sớm nhất nhưng trụ với điện ảnh khá ngắn ngủi.
Rạp Eden tồn tại cho đến đầu thập niên 1970. Một phần của rạp được chuyển thành phòng trà Tiếng Tơ Đồng. Không lâu, Eden bị xóa sổ hoàn toàn để trở thành Trung tâm mua sắm Eden Mall. Ngày nay, dấu tích của rạp Eden, nhà hàng Givral, cà phê La Pagode, cả một chuỗi hình ảnh về Sài Gòn đã bị đập bỏ hoàn toàn để xây dựng khu thương mại…
Majestic và Eden không còn không có nghĩa sinh hoạt của các rạp chiếu bóng đi vào ngõ cụt mà ngược lại, hàng loạt rạp chiếu bóng khác ra đời đành dấu thời kỳ hưng thịnh nhất của loại hình nghệ thuật thứ 7.
Rạp Khải Hoàn 
Rạp Khải Hoàn – 1968
 
Sau đây là danh sách các rạp xi-nê Sài Gòn trước 1975 được sắp theo thứ tự abc.
– Alhambra – Nguyễn Cư Trinh.
– Alliance Française – Đồn Đất. Rạp của Trung Tâm Văn Hóa Pháp chiếu toàn phim Pháp không có phụ đề Việt ngữ, hiếm khi thấy người Việt đi xem.
– Aristo – Lê Lai. Sau 1954 đây là nơi trình diễn thường trực của đoàn cải lương Kim Chung di cư từ miền bắc vào nam, đoàn có thêm tên phụ là Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô. Nữ nghệ sĩ chính là Kim Chung.
– Asam – Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao. Rạp nằm trong một hẻm nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng giữa đường đường Phan Thanh Giản. Rạp này đã biến mất hoàn toàn vào khoảng từ giữa đến cuối thập niên 60, không để lại vết tích gì.
– Hiền Vương. Gần đó có tiệm mì Cây Nhãn nổi tiếng một thời, về sau nghe nói tiệm mì này dời về ngã tư hay ngã năm Bình Hòa gì đó.
– Cẩm Vân.
– Võ Di Nguy – Phú Nhuận.
– Cao Đồng Hưng – Bạch Đằng, chợ Bà Chiểu, Gia Định.
– Casino Đa Kao – Đinh Tiên Hoàng. Rạp tương đối khang trang, phim khá chọn lọc, giá cả nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện nằm gần Cầu Bông.
– Casino Sài Gòn – Pasteur. Tên mới là Vinh Quang.
– Cathay – Công Lý, Chợ Cũ.
– Catinat – Tự Do. Rạp xi-nê tí hon này nằm trong một hành lang từ đường Tự Do xuyên qua đường Nguyễn Huệ về sau chuyển đổi thành phòng trà ca nhạc với nhiều tên : ‘Au Chalet’, và ‘Đêm Màu Hồng’, nơi ra mắt của ban ‘Phượng Hoàng’ thời kỳ trước khi nhập với ca sĩ Elvis Phương.
– Cầu Muối – Bến Chương Dương, Cầu ông Lãnh. Chuyên hát bội.
– Cây Gỏ – Minh Phụng, Chợ Lớn. Chuyên diễn Cải lương.
Rạp Long Vân 
Rạp Long Vân
 
– Diên Hồng – Yersin.
– Đại Đồng – Nguyễn Văn Học, Gia Định.
– Đại Đồng – Cao Thắng. Một rạp nhỏ chuyên chiếu phim cũ nhưng khá chọn lọc, giá cả thật nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện. Càng thuận tiện hơn nữa vì cạnh rạp có một tiệm bò bía rất ngon và rẻ.
– Đại Lợi – Thoại Ngọc Hầu, Chợ Ông Tạ.
– Đại Nam – Trần Hưng Đạo. Rạp Đại Nam là rạp sang trọng nhất Sài Gòn, những phim mới được chiếu trước tiên ở đây và một vài rạp khác rồi một thời gian sau mới được đưa đi tỉnh hoặc các rạp nhỏ chuyên chiếu lại. Mỗi phim gồm có nhiều cuộn nên thời đó mấy rạp cùng chiếu chung một phim bằng cách chia lệch giờ khởi chiếu. Mỗi khi chiếu xong một cuộn thì có người xách đi giao cho rạp kế tiếp và ngược lại.
Có lần rạp Đại Nam đang chiếu phim “Pillow Talk” (1959) thì anh chàng đi giao cuộn phim đã mải mê uống nước giải khát hay sao đó mà để mất đi cuộn phim phải giao. Tất cả các rạp cùng chiếu phim đó đành phải ngưng lại và đem phim khác ra chiếu đỡ. Mãi một thời gian sau, không rõ cuộn phim được chuộc lại hay phải mua phim mới Pillow Talk mới được chiếu trở lại. Đến khi rạp Rex ra đời vào năm 1962 thì rạp Đại Nam xuống còn ngôi vị thứ hai.
– Đại Quang – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn. Rạp này hoàn toàn Trung Hoa chẳng có gì là Việt Nam hết vì họ chiếu toàn phim Tàu.
– Đồng Nhì – Lê Quang Định, Gia Định.
Rạp Palace 
Rạp Palace
 
– Eden -Tự Do.
Rạp quá nổi tiếng này không nằm ngoài mặt đường mà lại nằm sâu trong một thương xá cũng được gọi là Eden. Đến rạp, khán giả có thể đi vào từ phía đường Tự Do, Lê Lợi hay Nguyễn Huệ đều được cả. Cái tên rạp tiếng Pháp tự nó cho biết rạp này đã có từ thời Pháp thuộc và kiến trúc bên trong thì đúng y như những rạp bên Pháp được thấy qua các phim xi-nê. Ở Sài Gòn, chỉ duy nhất rạp này mới có hai balcons (tầng lầu).
Thông thường, khi xem xi-nê, ngồi balcon 1 là hay nhất vì nhìn xuống vừa tầm mắt không mỏi cổ và không bị cái đầu của người ngồi hàng ghế trước che khuất tầm nhìn. Balcon 2 của rạp Eden thì nhỏ hơn và quá cao nên nhìn sâu xuống muốn cụp cái cổ luôn nên phần đông khán giả chẳng màng để ý đến sự hiện hữu của nó, ngoại trừ dân đào kép Sài Gòn thì chiếu cố rất nhiệt liệt và gọi đó là ‘pigeonnier’ (chuồng bồ câu). Đi xem xi-nê một mình khi rạp hết chỗ phải lên đó thì buồn lắm vì trên ấy đào kép mùi mẫn chẳng cần biết trên màn ảnh chiếu cái gì, nhất là những cặp ngồi ở hàng ghế chót có sau lưng nguyên bức tường thì tha hồ lâm ly chẳng lo có ai nhìn đến trong cái tối mù mù.
Ca sĩ huyền thoại Pháp Dalida đã trình diễn ở rạp này.
– Hào Huê – Sau này đổi thành rạp Nhân Dân – 372-374, Trần Phú, P7, Q5. Rạp ở gần khu Lacaze là rạp hát của gánh hát Quảng cũng được sửa lại cho gánh cải lương mướn.
– Hoàng Cung – Triệu Quang Phục, Chợ Lớn.
– Hồng Liên – Hậu Giang, Chợ Lớn.
– Hùng Vương – Pétrus Ký, Sài Gòn.
– Huỳnh Long – đường Châu Văn Tiếp – hông chợ Bà Chiểu
– Hưng Đạo – Nguyễn Cư Trinh.
– Khá Lạc – Nguyễn Tri Phương. Rạp nằm cạnh tiệm phở Tương Lai hiện vẫn còn bán phở.
– Khải Hoàn – Võ Tánh và Cống Quỳnh.
Rạp Văn Cầm 
Rạp Văn Cầm
 
– Kim Châu – Nguyễn Văn Sâm, Chợ Cũ. Khi rạp bắt đầu khai trương thì họ đã quảng cáo sẽ chiếu phim “Sapho” (1960). Tuy chỉ là một phim hạng B hoặc C nhưng nữ tài tữ Tina Louise có vẻ đẹp duyên dáng nên rất được khán giă hưởng ứng. Qua đến những phim kế tiếp, rạp Kim Châu đã tuyển chọn những phim cùng loại nên rất được khán giả hài lòng.
– Kinh Đô – Lê Văn Duyệt. Đây là một rạp xi-nê hạng sang, chỉ kém hơn rạp Đại Nam một tí. Rạp khai trương sau rạp Đại Nam nhưng lại chỉ hoạt động một thời gian tương đối ngắn ngủi rồi biến thành một chi nhánh của cơ quan USAID.
– Kinh Thành – Hai Bà Trưng, Tân Định.
– Lạc Xuân – Gia Long, Gò Vấp.
– Lam Sơn – Bùi Chu. Mũi tàu Lê Lai, Bùi Chu, Võ Tánh chéo góc với nhà thờ Huyện Sĩ, vòng qua bên hông rạp phía đường Lê Lai thì có nhà của nữ kịch sĩ Kim Cương. Rạp xi-nê này chỉ tồn tại một thời gian rất ngắn ngủi rồi bị đóng cửa vì vị trí của rạp quá gần một nhà thờ, vào thời kỳ đó là Đệ Nhất Cộng Hòa, nên Công Giáo đang có ưu thế.
– Lê Lợi – Lê Thánh Tôn. Rạp chiếu phim cũ nhưng tuyển chọn toàn phim hay và chỉ chiếu trong 1, 2, hoặc 3 ngày rồi đổi sang chiếu phim khác.
Những phim classic như “High Noon”, “Crimson Pirates”, “Vera Cruz”, “Waterloo Bridge”… được chiếu đi chiếu lại luôn, nếu hụt xem phim nào thì khán giả cứ kiên nhẫn chờ đợi, một thời gian sau thế nào phim đó cũng sẽ được chiếu lại. Lịch trình chiếu phim được niêm yết trước gần một tháng để khán giả chuẩn bị ngày đi xem phim.
Rạp Lê Lợi có thể nói là rạp duy nhất ở Sài Gòn chiếu phim theo phương thức này, một ít rạp khác có bắt chước phần nào nhưng rồi cũng không theo hoàn toàn hoặc sau đó phải thay đổi phương hướng được gọi là ‘revival movie theater’, chỉ khác một chi tiết là họ chiếu hai phim liên tiếp cùng có chủ đề giống nhau. Ai chịu đựng nổi thì ngồi xem hết, ai chịu không nổi thì phải bỏ về thôi vì quá đói bụng, họ không cho đem thức ăn từ ngoài rạp vào và trong rạp chỉ có bán popcorn (bắp rang Mỹ), kẹo, bánh, soda (nước ngọt có ga như: Coca Cola, 7Up…).
– Lệ Thanh – Phan Phú Tiên, Chợ Lớn.
– Lido – Đồng Khánh, Chợ Lớn. Rạp này có một lịch sử khá ly kỳ. Rạp nằm trong vùng Chợ Lớn cạnh Đại Thế Giới cũ chuyên chiếu phim u Mỹ trong khi các rạp chung quanh đều chiếu phim Tàu. Đến cuối thập niên 60, rạp ngưng hoạt động để cho Mỹ mướn làm khu cư trú và câu lạc bộ. Sau năm 1975, rạp hoạt động chiếu phim trở lại và chỉ mới gần đây, rạp đã bị đập phá ra để nhường chỗ cho một công trình xây dựng nhà cao tầng hay gì đó. Bạn nào có kỷ niệm đẹp hay quyến luyến rạp này thì chỉ còn có thể nhớ qua ký ức mà thôi vì rạp đã biến mất không còn nữa.
– Long Duyên – Hồ Văn Ngà.
– Long Phụng – Gia Long, chuyên chiếu phim Ấn Độ.
– Long Thuận – Trương Công Định và Nguyễn An Ninh.
– Long Vân – Phan Thanh Giản.
– Majestic – Tự Do. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Nơi đây được xây thành vũ trường Maxim tầng trên và sân khấu trình diễn ca vũ nhạc kịch tầng dưới do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách. – Minh Châu – Trương Minh Giảng. – Minh Phụng – Hồng Bàng, Chợ Lớn. Thật ra, nơi đây là đình Minh Phụng, khi xưa có lúc khai thác chiếu phim ban ngày.
– Mini Rex – Lê Lơị.
– Moderne – Trần Văn Thạch, Tân Định. Tôi không có duyên với rạp này nên chưa bao giờ có dịp bước chân vào.
Theo lời một thân hữu, rạp này có vài ba đặc điểm: lối vào rạp đâm ngang hông phía giữa những hàng ghế, ghế bằng cây nên khi dứt phim khán giả cùng đứng dậy làm cho ghế cây khua lên rầm rầm, và cũng vì ghế cây nên đoàn quân rệp tha hồ cắn phá đám khán giả trong bóng tối của buổi chiếu phim.
– Mỹ Đô – Trần Nhân Tôn và Vĩnh Viễn. Tên xưa là Thành Chung, tên mới là Vườn Lài.
– Nam Quang – Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp.
– Nam Tiến – Bến Vân Đồn.
– Nam Việt – Tôn Thất Đạm, Chợ Cũ. “The Bravados” (1958).
– Nguyễn Huệ – Nguyễn Huệ. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là cơ sở U.S.O…
– Rạp Nguyễn Văn Hảo – nay là rạp Công Nhân, trụ sở Nhà Hát Kịch Thành Phố, Số 30, Trần Hưng Đạo, P. Phạm Ngũ Lão, Q1.
Một rạp hát được mệnh danh là Hàng Không Mẫu Hạm trước 1975, nơi đóng đô của một số đoàn hát cải lương lớn ở Sài Gòn ngày trước như: đoàn Việt Kịch Năm Châu, đoàn Hương Mùa Thu, đoàn Hoa Sen.
Rạp Văn Hoa
 Rạp Văn Hoa
 
– Rạp Olympic – nay là Trung tâm Văn hóa TP.HCM – 97, Nguyễn Thị Minh Khai, P. Bến Thành, Q1. Rạp được công ty Kim Chung của ông bầu Long độc quyền cả chục năm trời từ sau năm 1958 cho 5 đoàn hát của công ty luân phiên diễn.
Với các vở diễn nổi tiếng một thời: Mạnh Lệ Quân, Lan và Ðiệp,…. * Khu vực “ngã tư quốc tế” (trục Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo ngày nay) trở thành một trong những khu hoạt động nhộn nhịp nhất của làng văn nghệ Sài Gòn ngày đó. Mặc dù mật độ các rạp hát khá dày (Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn) nhưng các đoàn hát lớn thường xuyên tập kết về, đây trở thành nơi tập trung, điểm hẹn của nhiều nghệ sĩ, giới ký giả kịch trường, các ông bà bầu muốn “săn” đào kép mới cũng tìm đến đây.
– Oscar – Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn.
– Phi Long – Xóm Củi.
– Palace – Trần Hưng Đạo, Chợ Lớn.
– Quốc Thái – Trần Quốc Toản, Chợ Lớn.
– Rạp Quốc Thanh – Nay là rạp phim Cinestar – 271, Nguyễn Trãi, P. Nguyễn Cư Trinh, Q1. Được thành lập năm 1960 khi đoàn Thái Dương ra đời, rạp cũng là nơi đóng đô của đoàn Dạ Lý Hương của ông bầu Xuân. Rạp có máy lạnh, có 1000 ghế trong khán phòng và sân khấu được thiết kế rộng rãi.
– Rạng Đông – Pasteur. Tên cũ là Hồng Bàng.
– Rex – Nguyễn Huệ.
– Rạp Thanh Bình – sau đổi là rạp Quốc tế, gần chợ Thái Bình trên đường Phạm Ngũ Lão, nay là căn hộ chung cư cao cấp. Là rạp có thang cuốn đầu tiên ở Việt Nam tại Sài Gòn.
Lúc đầu là rạp chiếu bóng, sau được ông Diệu sửa thành rạp cải lương để đoàn hát Thủ Đô của ông Ba Bản khai trương, ghi một dấu ấn sâu sắc trong lãnh vực nghệ thuật sân khấu cải lương là có một đoàn hát Thủ Đô có nhiều tuồng hay, có cảnh trí tuyệt đẹp và dàn cảnh vĩ đại.
– Thanh Vân – Lê Văn Duyệt, Hòa Hưng.
– Thủ Đô – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn. Tên cũ là Eden. Chuyên diễn cải lương
– Trung Hoa – Đồng Khánh, trước nhà thờ Cha Tam, Chợ Lớn.
– Văn Cầm – Trần Hưng Đạo. Rạp đã ngưng hoạt động từ trước 1975. Về sau là đại lý Honda đầu tiên tại Việt Nam.
– Văn Cầm – Võ Di Nguy, Phú Nhuận. Rạp này có cái lệ luôn luôn chiếu một phim ngắn của 3 anh hề ‘Stooges’ trước khi chiếu phim chính. Rạp rất rẻ tiền không có máy lạnh nên rất ngộp thở.
– Văn Hoa – Trần Quang Khải, Đa Kao.
– Văn Lang – Cách Mạng, Phú Nhuận.
– Victory Lê Ngọc – Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn.
– Việt Long – Cao Thắng (sau trở thành Văn Hoa Sài Gòn, bây giờ là rạp Thăng Long).
– Vĩnh Lợi – Lê Lợi. Khoảng đầu thập niên 60, có xảy ra một vụ nổ lựu đạn trong rạp, có người bị thương nặng phải cưa chân.
 
◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣◢◤◥◣

9 rap cine 1

  RẠP XI-NÊ SÀI GÒN XƯA  

Có thể nói, đặc điểm nổi bật của xi-nê Sài Gòn thời xưa là có nhiều rạp chiếu ‘thường trực’ (permanente), thường từ 9g sáng đến11g đêm và khán giả có thể mua vé vào xem bất cứ lúc nào, xem chán thì ra. Vì thế, có người lợi dụng những rạp máy lạnh để đánh một giấc ngủ trưa. Thật là một công được cả đôi việc. Ngủ chán, thức dậy xem tiếp !
Tuy vậy, chiếu thường trực cũng có điều bất tiện nếu bạn vào rạp giữa lúc phim đang chiếu đoạn cuối. Đối với loại phim trinh thám, nếu không vào rạp từ đầu phim sẽ mất đi sự hồi hộp nếu biết trước đoạn kết. Cũng có trường hợp vai chính lúc bạn vào xem khúc cuối có thể bị cụt chân nhưng lại hoàn toàn không biết rõ ‘lại lịch’ tại sao chân lại bị cụt. Chẳng khác nào chỉ thấy ngày 30/4/75 thiên hạ chạy giặc, di tản chiến thuật một cách rầm rộ mà không biết xưa kia người Sài Gòn sống, làm việc và ăn chơi ra sao ! Tất cả chỉ vì không vào đúng lúc bắt đầu phim.
Cũng có khi người ta vào rạp xem phim mà thật tình chẳng biết đang chiếu phim gì. Có những cặp tình nhân vào đấy để tâm sự nhỏ to, có những cặp bạo hơn, tuy làm khán giả nhưng… cũng đóng phim. Có điều trên màn ảnh là phim trinh thám hay phim chiến tranh nhưng ở hàng ghế khán giả lại đóng phim tình cảm ướt át.
Vào thời Đệ nhất Cộng hòa, mỗi khi bắt đầu một xuất chiếu phim khán giả phải đứng dậy chào cờ và ‘suy tôn Ngô Tổng thống’ với những lời ca tụng lãnh tụ Ngô Đình Diệm : “Ai bao năm từng lê gót nơi quê người, cứu đất nước thề tranh đấu cho tự do ? Người cương quyết chống Cộng, bài phong kiến bóc lột, diệt thực dân đang rắc reo tàn phá… Toàn dân Việt Nam quyết theo Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống muôn năm…”. Câu sau cùng được trẻ con chế thành… “Toàn dân Việt Nam muốn ăn tô hủ tiếu, tô hủ tiếu, tô hủ tiếu ngon ghê…
9 rap cine 2
Trước khi vào phim chính, các rạp còn ‘chiếu dạo’ những phim sắp tới theo chương trình của riêng từng rạp. Dĩ nhiên là chọn cảnh nào hấp dẫn nhất để giới thiệu cùng khán giả, đó cũng là một cách quảng cáo của các hãng nhập cảng phim. Trong trường hợp phim chính quá ngắn, các rạp còn câu khách bằng cách chiếu thêm phim phụ như phim của Charlot, phim thời sự hoặc đôi khi còn có phụ diễn tân nhạc cho… xôm tụ.
Xi-nê Sài Gòn có một truyền thống phải nói là độc đáo với các tờ program (chương trình) phát cho khán giả khi đến mua vé xem phim. Trên tờ program của phim, khán giả có thể đọc để biết đại khái nội dung phim và tên các tài tử trong phim. Đối với dân ghiền xi-nê, có một cái thú tương tự như sưu tầm tem thư: họ sưu tầm program.
Ông anh tôi là một trong những người sưu tầm program thuộc hạng ‘gạo cội’. Ông có những tờ program từ các rạp xi-nê ngoài Hà Nội vào cuối thập niên 30 (trong khi mãi đến năm 1946 tôi mới ra đời)! Khi di cư vào Nam, hành trang của ông có chỗ cho các tờ program quý giá đó. Chỉ tiếc rằng bộ sưu tầm đó nay đã thất lạc, nếu không, chắc chắn trong Hồi Ức này sẽ có hình ảnh của những tờ program ‘cổ lai hy’…
9 rap cine 3
Ở phía dưới cùng, góc phải của tờ program phim Deux Hommes Dans La Ville có dòng chữ “Visa 214/74 ngày 26-10-74” khiến tôi thắc mắc không biết có phải phim này có visa nhập khẩu Sài Gòn được cấp ngày 26/10/74 (?). Nếu đúng vậy, không hiểu bộ phim này có kịp theo dòng người di tản ra khỏi Việt Nam trước 30/4/75 hay còn kẹt lại trong kho tư liệu phim trên đường Phan Kế Bính để tham dự khóa… ‘cải tạo’ chung với ‘ngụy quân, ngụy quyền’?
Sài Gòn xưa có rạp Cinéma Catinat chiếu thường trực, rạp nằm trong hành lang (passage) nối liền đường Tự Do (Catinat) sang đường Nguyễn Huệ (Charner). Đây là rạp chiếu phim thường trực đầu tiên ở Việt Nam, và tất nhiên cũng là rạp chiếu phim thường trực đầu tiên ở Đông Dương.
9 rap cine 4
Ciné Catinat có giá vé đồng hạng 10 đồng, rạp còn bán 1 tập 10 vé giá 80 đồng, mua nguyên tập khán giả lợi được 20 đồng. Rạp xi-nê thuộc loại ‘tí hon’ này về sau chuyển đổi thành phòng trà ca nhạc với nhiều tên như Au Chalet rồi Đêm Màu Hồng, nơi ra mắt của ban nhạc Phượng Hoàng thời kỳ trước khi nhập với ca sĩ Elvis Phương.
 
Vào thập niên 1960, miền Nam an bình, thịnh vượng. Sài Gòn đẹp hơn, sang hơn cho nên nhiều rạp xi-nê ra đời. Những rạp mới này có màn ảnh lớn, gọi là Cinemascope, (màn ảnh đại vĩ tuyến), màu Eastmancolor, máy lạnh tối tân khiến những rạp nhỏ, xưa, với máy chiếu kêu lạch xạch, quạt trần thổi vù vù, dần dần ế khách.
Chủ Cinéma Catinat phá rạp, xây thành chung cư. Trường hợp rạp xưa, cổ lỗ, không có khách cũng xẩy ra với rạp Asam ở Dakao nằm trên đường Ðinh Tiên Hoàng gần Mì cây Nhãn. Nếu từ Casino Dakao (sau đổi tên là rạp Cầu Bông) đi lại thì rạp Asam nằm bên lề phải, còn Mì Cây Nhãn nằm xéo bên lề trái. Vào khoảng năm 1965 rạp Asam cũng bị phá đi và cũng lại xây appartment.
Khi Hồi Ức này đến tay một số thân hữu, anh Trịnh Văn Du, cựu Giảng viên Sinh ngữ Quân đội và là ‘thổ công’ vùng Dakao với tiệm giày Dada đã góp ý bổ sung về Mỳ Cây Nhãn như sau :
9 rap cine 5
“… Mỳ Cây Nhãn không phải xéo xéo rạp Ciné Asam, mà là đối diện với trường tiểu học ĐTHoàng. Tại sao gọi MCN ? Bởi vì rằng thì là ngay trong sân, trước xe mỳ (hồi đầu chỉ có một xe mỳ, như loại đẩy bán rong), có hai ba cây nhãn ăn quả.  Khu nhà này (là một nhóm nhà lúp xúp chung nhau) thấp hơn mặt đường ĐTH, có sân đất trước mặt (vì thế mới trồng cây được); muốn vào người ta phải bước xuống hai ba bậc thang gạch.
Sau này khi quán mỳ này nổi tiếng, sân lát gạch sạch sẽ.  Hình như khu đất này của Chà Và (hồi ấy chủ đất đa số là người Ấn độ ?).  Sang thập niên 60, một developer, không biết có phải là VN hay thế nào, mua khu đất đó, và xây thành một chung cư hai ba tầng….
Mỳ CN nằm bên số chẵn, khoảng giữa PTGiản và Tự Đức. Đi qua MCN, hướng một chiều ĐTHoàng (hồi đó ĐTH một chiều theo hướng Saigon đi Cầu Bông) ngày nay ĐTH cũng vẫn là đường một chiều, độ bốn năm căn nhà, qua một ngõ hẻm nhỏ thì tới một tiệm ăn Tây lâu năm, cũng khá nổi tiếng khu Đakao, đó là tiệm Chez Albert.  Tiệm này tồn tại hình như tới mãi 1975.
Cũng xin cám ơn một người bạn khác – anh Đỗ Văn Kiên, cựu giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội – đã bổ sung thêm rạp Long Phụng vào danh sách rạp xi-nê Sài Gòn xưa : Rạp Long Phụng nằm trên đường Gia Long (bây giờ là Lý Tự Trọng) chuyên trị dòng phim thần thoại ca-vũ-nhạc Ấn Độ. Có thể Long Phụng chuyên về phim Ấn vì địa điểm của rạp rất gần với Chùa Chà Và trên đường Trương Công Định chăng ? Nam tài tử Ấn Độ ăn khách nhất thời đó là Rama Rao, ông này sau thời 80-90 làm Thống đốc bang Pradesh thuộc miền Nam nước Ấn”.
9 rap cine 7
 
Xin nói thêm, một số chính khách khác cũng xuất thân từ điện ảnh như Rama Rao. Nổi bật nhất trong những trường hợp này là Richard Nixon, Tổng thống Hoa Kỳ; diễn viên phim hành động người Mỹ gốc Áo, Arnold Schwarzenegger, trở thành Thống đốc tiểu bang California và Joseph Estrada, Tổng thống Philipin, cũng xuất thân từ một tài tử điện ảnh.
Năm 1960 rạp xi-nê Kinh Đô được xây mới trên đường Lê Văn Duyệt, chỗ nhìn sang Trụ sở Tổng liên đoàn Lao công Việt Nam. Rạp Kinh Đô mới khá hiện đại và đẹp. Máy chiếu phim và máy lạnh đều thuộc loại mới nhất. Khoảng năm 1961, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ mướn rạp Kinh Đô làm nơi chiếu phim cho nhân viên và gia đình đến xem.
Nếu tôi không lầm, hình như vào năm 1962, đặc công VC cho nổ bom plastic trong rạp này. Có thể gọi đây là vụ đánh bom đầu tiên ở Sài Gòn. Sau vụ nổ, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ không mướn rạp Kinh Đô nữa và rồi rạp này được phá đi, khu đất đó xây một tòa nhà là trụ sở USAID với nhiều tầng lầu.
9 rap cine 6
Những phim chiếu ở rạp Rex đường Nguyễn Công Trứ (không phải là rạp Rex đường Nguyễn Huệ sau này) là những phim cao bồi, Tarzan, Zoro… Phim cũ, chiếu đi chiếu lại nhiều lần nhưng vẫn có người đến xem, nhất là khán giả nhỏ tuổi. Có khi chiếu được một lúc, đang hồi gay cấn thì bị… đứt phim, phải ngưng để nhân viên phòng máy nối phim. Đèn trong rạp bật sáng. Người lớn, con nít phản đối, húyt gió, la hét rần rần, không thua lúc Tarzan đu giây đến cứu người đẹp Jane, hay Zoro phóng ngựa đến giải cứu người đẹp Juanito !
Tôi nhớ rạp Rex ‘cũ’ ở con đường sau rạp Đại Nam mà Đại Nam là rạp sang trọng nhất Sài Gòn thời đó do ông Ưng Thi làm chủ khi Rex trên đường Nguyễn Huệ chưa có mặt. Phim mới được chiếu trước tiên ở đây và một vài rạp khác rồi một thời gian sau mới được đưa đi tỉnh hoặc các rạp nhỏ chuyên chiếu lại. Mỗi phim gồm nhiều cuộn nên thời đó mấy rạp cùng chiếu chung một phim bằng cách lên lịch chia lệch giờ khởi chiếu. Mỗi khi chiếu xong một cuộn sẽ có người đi xe gắn máy giao cho rạp kế tiếp.
 
Nghe kể có lần rạp Đại Nam đang chiếu phim Pillow Talk (do Rock Hudson, Doris Day đóng vai chính) thì anh chàng đi giao cuộn phim, hình như mải mê uống nước mía (?) hay sao đó mà để lạc mất cuộn phim. Tất cả các rạp cùng chiếu phim đó đành phải ngưng lại và đem phim khác ra chiếu tạm. Mãi một thời gian sau, không rõ cuộn phim được chuộc lại hay phải nhập phim mới, Pillow Talk mới được tiếp tục chiếu trở lại. (Tên phim Pillow Talk được dịch sang tiếng Việt một cách thi vị là Thì thầm bên gối).
9 rap cine 8
Phim chiếu tại Đại Nam có cả phim Tàu từ Đài Loan và Hồng Kông. Nổi bật nhất là Mùa Thu Lá Bay với đôi trai tài gái sắc Đặng Quang Vinh và Trân Trân. Đó là thời tiểu thuyết của nữ văn sĩ Quỳnh Giao, ăn khách không kém truyện võ hiệp hấp dẫn của Kim Dung như Cô gái Đồ Long, Anh hùng xạ điêu, Lục đỉnh ký
Đại Nam nằm trên đường Trần Hưng Đạo, gần chợ Bến Thành, cũng chiếu những phim võ thuật Trung hoa như Hiệp Nữ (A Touch of Zen), Tà Kiếm (Dương Quần đóng), Hắc Hồ Điệp (do “nữ hoàng kiếm hiệp” Trịnh Phối Phối đóng). Phim Tàu chiếu tại Sài Gòn đều có phụ đề Việt ngữ nhưng vào đến Chợ Lớn lại chiếu nguyên bản bằng tiếng Tàu nên chỉ có “con cháu chú Ba” thưởng thức mà thôi.
Xin nhắc lại, Sài Gòn xưa có tới 2 rạp xinê mang tên Rex. Nhiều người chỉ biết có rạp Rex ‘xịn’ ở đường Nguyễn Huệ, xế cửa Tòa Đô Chánh, bắt đầu khai trương năm 1962. Rạp Rex “cũ’ ở đường Nguyễn Công Trứ là một rạp phụ của rạp Majestic. Phim chiếu ở Majestic, năm hay bẩy tháng sau, thậm chí cả năm sau, được mang ra chiếu lại ở rạp Rex cũ. Không khí trong rạp thoang thoảng mùi… nước tiểu vì ngay cửa vào rạp người ta thiết kế toilet. Cũng may, khoảng năm 1955 rạp Rex nhỏ này bị phá. Nơi đây được xây thành vũ trường Maxim tầng trên và sân khấu trình diễn ca vũ nhạc kịch tầng dưới do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách.
9 Dalida
Năm 1962, trên đường Nguyễn Huệ xuất hiện rạp Rex ‘hoành tráng’. Đây là rạp hát đầu tiên có thang cuốn (escalator) cũng của ông Ưng Thi, chủ nhân rạp Ðại Nam ở đường Trần Hưng Đạo. Nếu tôi nhớ không lầm, rạp Rex hình như được khai trương với phim Ben Hur (tài tử Charton Heston). Có tin đồn trong ngày khai trương một người đẹp đi lên thang cuốn không hiểu quýnh quáng thế nào mà bị thang cuốn luôn cái quần… (may mà còn panty)! Không biết chuyện có thật hay không nhưng cũng xin ghi lại làm tư liệu về xi-nê và… chiếc quần phụ nữ.
Rex là rạp ‘xịn’ nhất thủ đô Sài Gòn, sau này lại còn có thêm ‘người anh em’ Mini Rex. Theo quảng cáo trên tờ program phim Trà hoa nữ (Camille), Mini Rex là “Rạp chiếu bóng tối tân nhất Việt Nam”. Khán giả vào xem phim thuộc loại thanh lịch và giá vé luôn cao hơn các rạp khác.
Gần rạp Rex là rạp Eden nằm trong Passage Eden có lầu và được phân chia thành từng lô, riêng biệt, rất kín đáo cho khán giả là những người đang yêu, vừa xem phim, vừa tâm tình mùi mẫm. Đi xem xi-nê solo một mình mà phải lên balcon ngồi vì rạp hết chỗ thì… ‘tủi thân’ lắm. Trên ấy đào kép mùi mẫm, mê ly, nhất là những cặp ngồi ở hàng ghế chót, sau lưng là nguyên bức tường, tha hồ tâm sự lòng thong !
Ở Sài Gòn, chỉ duy nhất Eden mới có hai balcon. Thông thường, khi xem xi-nê tại đây, ngồi balcon 1 là hay nhất vì nhìn xuống vừa tầm mắt không mỏi cổ và không bị cái đầu của người ngồi hàng ghế trước che khuất tầm nhìn. Balcon 2 của rạp Eden thì nhỏ hơn và vì quá cao nên nhìn sâu xuống màn ảnh muốn cụp cái cổ nên phần đông khán giả chẳng màng để ý đến sự hiện hữu của nó, ngoại trừ dân ‘đào kép’ Sài Gòn ‘yêu nhau đi trời hôm tối rồi’ thì chiếu cố rất nhiệt liệt và gọi đó là ‘pigeonnier’ (chuồng bồ câu).
Cũng xin ghi lại, giới mê ca nhạc Pháp thập niên 50-60 rất mê giọng ca của ca sĩ Dalida với các bản nhạc thịnh hành tại Sài Gòn như BambinoTout l’amour… đã có lần trình diễn tại rạp Eden ‘bằng xương bằng thịt’ trong một chuyến công diễn tại Sài Gòn (*). Mấy năm sau đó, cũng tại rạp này, tôi được xem phim Parlez-Moi d’Amour (1961) do Dalida đóng.
9 rap cine 9
Rạp Lê Lợi đường Lê Thánh Tôn, gần chợ Bến Thành, chuyên chiếu phim cũ nhưng tuyển chọn toàn phim khá và chỉ chiếu trong 1, 2, hoặc 3 ngày rồi đổi sang chiếu phim khác. Tuy nhiên, nếu hụt xem phim nào thì khán giả cứ kiên nhẫn chờ đợi, một thời gian sau thế nào phim đó cũng sẽ được chiếu lại. Cái hay là lịch chiếu phim được niêm yết trước để khán giả có thể chọn ngày đi xem. Lê Lợi có thể nói là rạp duy nhất ở Sài Gòn chiếu phim theo phương thức này, một ít rạp khác có bắt chước phần nào nhưng rồi cũng không theo được hoặc sau đó phải thay đổi cách làm khác. Khách hàng thường xuyên của rạp Lê Lợi là những sinh viên, học sinh vì rạp chiếu phim cũ nhưng lại hay và giá vé rất nhẹ. Thời đó, đi học ngày hai buổi nên buổi chiều nào chán hoặc lười học bọn trẻ, trai cũng như gái, rủ nhau ‘cúp cua’ đi xem xi- nê ở rạp này.
 
Cũng rất gần với rạp Lê Lợi trên đường Lê Thánh Tôn là rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi, bên cạnh Bệnh viện Sài Gòn, ngay khu vực Chợ Bến Thành. Rạp Vĩnh Lợi nổi tiếng trong giới ‘bê-đê’ vì đây là nơi bạn có thể bị bất ngờ vì một bàn tay xờ xoạng của một chàng ‘gay’ ngồi ngay bên cạnh. Khoảng đầu thập niên 60, có xảy ra một vụ nổ lựu đạn trong rạp, may mắn gần Bệnh viện Sài Gòn nên các nạn nhân chỉ cần bước vài bước được cấp cứu ngay !
Khu vực “ngã tư quốc tế” (Phạm Ngũ Lão, Trần Hưng Đạo) đã trở thành một trong những khu hoạt động nhộn nhịp nhất của làng văn nghệ Sài Gòn. Các rạp hát hiện diện tại đây khá nhiều : Nguyễn Văn Hảo, Thanh Bình, Hưng Đạo, Quốc Thanh, Khải Hoàn và các đoàn cải lương lớn thường xuyên về đây nên đã trở thành điểm hẹn của giới ký giả kịch trường cũng như các ông bà bầu muốn “săn” đào kép mới.
9 rap cine 10
Khu vực gần chợ Thái Bình cũng có nhiều rạp chiếu phim. Rạp Quốc Thanh nằm trên đường Nguyễn Trãi, bên hông Tổng Nha Cảnh sát Quốc gia. Rạp khá khang trang, sau trở thành sân khấu cải lương mà đoàn Dạ Lý Hương đóng đô thường trực và ngày nay Quốc Thanh lại biến thành Nhà hàng Tiệc cưới.
Rạp Khải Hoàn ngay ngã 5 Cống Quỳnh – Phạm Ngũ Lão – Nguyễn Trãi thuộc loại thường chiếu phim bình dân… coi được nhưng kẹt cái thiếu máy lạnh. Khán giả đây xem phim mà cứ muốn… ‘yêu nhau cởi áo cho nhau’. Đây là rạp tôi hay lui tới thường xuyên trong thời gian ở đường Cống Quỳnh. Một kỷ niệm tôi vẫn nhớ mãi ở rạp Khải Hoàn là nạn móc túi lúc chen vào mua vé. Tôi cảm thấy có mấy ngón tay cứ muốn thọc vào túi quần và đã kịp thời chận lại. Có thể đó là tay móc túi mới vào nghề nhưng biết đâu lại là một ‘gay’ lợi dụng lúc đông người thỏa mãn tính rờ rẫm người đồng phái ? Cũng như số phận của Quốc Thanh, rạp Khải hoàn ngày nay đã ‘hóa kiếp’ thành một trung tâm thương mại.
Trên đường Phạm Ngũ Lão, gần chợ Thái Bình, còn có rạp Thanh Bình, sau này sửa sang lại thật lịch sự mang tên rạp Quốc Tế, nhưng chẳng bao lâu sau Sài Gòn đổi chủ nên phải dẹp tiệm vì… ‘đứt phim’. Từ Cống Quỳnh tôi đi đường tắt, băng ngang qua chợ Thái Bình, chỉ mất vài phút là có thể chui vào rạp Thanh Bình để xem phim và cũng để hưởng bầu không khí ‘có máy lạnh’ trong những buổi trưa Sài Gòn đổ lửa.
9 rap cine 11
Thời gian đi từ nhà trên đường Cống Quỳnh đến Thanh Bình cũng ngắn như đến rạp Khải Hoàn. Sau này còn có rạp Thăng Long ngay trên đường Cống Quỳnh, chỉ cách nhà vài căn, nhưng có lẽ ‘bụt nhà không thiêng’ nên tôi rất ít khi đến đây. Rạp Thăng Long khi đó còn quá xập xệ, không như nhà hát của trường Sân khấu Điện ảnh bây giờ (tiền thân của trường sân khấu chính là trường Hưng Đạo ngày nào !).
Chỉ cách nhau chưa đầy ba phút đi bộ, mà khu Tân Định có đến hai rạp ciné. Bên hông chợ là Tân Định là rạp Mô-Đẹc và mặt trước của chợ là rạp Kinh Thành. Hai rạp bình dân này thay phiên nhau chiếu phim Ấn Độ và phim cao bồi. Để thay đổi không khí, thỉnh thoảng lại mời các gánh cải lương hay Hồ Quảng về trình diễn, làm nghẽn cứng cả xe cộ lưu thông vào những giờ sắp mở màn hay vãn hát.
Nếu Sài Gòn có Casino Saigon thì Tân Định cũng có Casino Dakao. Tuy không nổi tiếng bằng người anh em bà con ở đường Pasteur nhưng rạp Casino Đa Kao trên đường Đinh Tiên Hoàng tương đối khang trang, phim khá chọn lọc, giá cả lại nhẹ nhàng và địa điểm lại rất thuận tiện vì nằm gần Cầu Bông. Cũng vì lý do đó, Casino Dakao sau này đổi tên là rạp Cầu Bông.
9 rap cine 12
Lại nói thêm, ngay bên cạnh Casino (Saigon) có hẻm Casino nổi tiếng không kém gì rạp xi-nê Casino. Phim chiếu ở Casino có thể dở hoặc hay tùy theo sở thích của người xem nhưng có điều ghé vào hẻm Casino người ta sẽ hài lòng với các món ‘khoái khẩu’ mang hương vị đất Bắc. Chủ nhân của các quán trong hẻm Casino đa số là dân ‘Bắc kỳ di cư’ nên có những món ‘tuyệt cú mèo’ như bún chả, bún thang, bún riêu, bánh tôm và dĩ nhiên là phở… Các quán tại đây không thuộc loại sang nhưng giá tiền lại hơi đắt, có lẽ vì nằm ngay trung tâm Sài Gòn. Tài tử, giai nhân thường ‘chui’ vào đây để thưởng thức những món ‘đặc sản’ phương Bắc !
Majestic
Đường Cao Thắng có rạp nhỏ mang tên Đại Đồng, chuyên chiếu phim cũ nhưng khá chọn lọc, giá cả thật nhẹ nhàng, địa điểm rất thuận tiện. Hơn nữa, gần rạp này còn có nhiều quán ăn bình dân như bò viên, bò bía nên khi tan xuất hát có thể ghé vào đây kiếm món gì đó cho ấm bụng.
 
Xin nhắc các đấng mày râu, hẻm Đại Đồng còn có khu ‘chị em ta’ nên có thể… một công đôi việc ! Gần đó còn có rạp Việt Long cũng nằm trên đường Cao Thắng, sau này sửa sang lại khá khang trang, lịch sự mang tên Văn Hoa Sài gòn, sau 30/4/75 đổi thành tên rạp Thăng Long.
Ôi, rạp xi-nê Sài Gòn xưa còn nhiều lắm. Chỉ nội việc kể tên hơn 60 rạp chiếu phim cũng đã thấy mệt chứ nói gì đến tận nơi để xem phim. Có lẽ không người Sài Gòn nào dám tự hào đã đến hết các rạp xi-nê trên đất phồn hoa đô hội này !
(*) Dalida không trình diễn tại Eden mà tại rạp Đại Nam, sau có Johnny Halyday (chồng Sylvie Vartan) trình diễn tại rạp Nguyễn văn Hảo. Cả hai ca sĩ được Trung Tâm Văn Hóa Pháp tại Sài Gòn thời Đệ Nhị Cộng Hòa đứng ra tài trợ.
Một danh sách xếp theo thứ tự alphabet dưới đây sẽ nói lên sự phong phú của của các rạp xi-nê Sài Gòn.
Khu vực Sài Gòn:
A 1/- Alhambra (đường Nguyễn Cư Trinh); 2/- Alliance Française (đường Đồn Đất, nay là Trung tâm Chiếu phim Fafilm); 3/- Aristo (đường Lê Lai, Đoàn Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô, Kim Chung); 4/- Asam (đường Đinh Tiên Hoàng, đã bị xóa sổ)
C 5/- Casino Đa Kao (đường Đinh Tiên Hoàng); 6/- Casino Sài Gòn (đường Pasteur, tên mới là Vinh Quang nhưng nay vừa bị đập bỏ); 7/- Ca Thay (đường Nguyễn Công Trứ, đã bị xóa sổ); 8/- Catinat (đường Nguyễn Huệ, sau này là vũ trường Đêm Màu Hồng); 9/- Cầu Muối (khu Cầu Ông Lãnh – Cầu Kho, chuyên hát bội, Hồ Quảng của đoàn Minh Tơ với gia đình Bạch Lê)
Rap Thang Long
D & Đ 10/- Diên Hồng (rạp Long Xương cũ, đường Calmette); 11/- Đại Đồng (đường Cao Thắng); 12/- Đại Nam (đường Trần Hưng Đạo, nay là khách sạn Đại Nam),
13/- Eden (Trung tâm Thương mại Eden, đã bị xóa sổ);
H 14/- Hùng Vương (đường Lê Hồng Phong, quận 10 ngày nay), 15/- Hưng Đạo (đường Nguyễn Cư Trinh, góc Trần Hưng Đạo);
Vinh Loi
K 16/- Khải Hoàn (đường Cống Quỳnh-Nguyễn Trãi); 17/- Kinh Đô (đường Lê Văn Duyệt, nay là đường Cách mạng tháng 8, đã bị xóa sổ) 18/- Kinh Thành  (đường Hai Bà Trưng, đã bị xóa sổ); 19/- Kim Châu (đường Nguyễn Thái Bình)
20/- Lê Lợi  (đường Lê Thánh Tôn, đã bị xóa sổ); 21/- Long Phụng (đường Gia Long, ngày nay là Lý Tự Trọng); 22/- Long Vân (nay là Nhà Văn hóa Sinh viên, đường Điện Biên Phủ), 23/- Long Thuận (góc Trưong Định – Nguyễn An Ninh); 24/- Lê Ngọc (đường Nguyễn Cư Trinh, góc Trần Hưng Đạo)
M 25/- Mini Rex (2 rạp A & B, đường Nguyễn Huệ, đã bị xóa sổ); 26/- Moderne (Tân Định, đã bị xóa sổ); 27/- Majectic (bến Bạch Đằng – Tự do)
N 28/- Nam Quang (góc Cách Mạng Tháng Tám và Võ Văn Tần ngày nay), 29/- Nguyễn Văn Hảo (đường Trần Hưng Đạo, chuyên diễn cải lương, nay là rạp Công Nhân – Nhà hát Kịch Thành phố); 30/- Norodom (đường Thống Nhất, sau đổi tên là Lê Duẩn, hiện là Trung tâm Sổ số Kiến thiết)
O 31/- Olympic (đường Hồng Thập Tự, nay là Trung tâm Văn hóa, đường Nguyễn Thị Minh Khai);
Q 32/- Quốc Thanh (đường Nguyễn Trãi, nay là Trung tâm Tiệc cưới Quốc Thanh);
R 33/- Rạng Đông (trước là rạp Hồng Bàng đường Pasteur, đã bị xóa sổ); 34/- Rex (đường Nguyễn Huệ, nay là khách sạn Rex);
T 35/- Thanh Bình (đường Phạm Ngũ Lão, sau đổi là Quốc Tế, ngày nay là chung cư); 36/- Thanh Vân (đường Lê Văn Duyệt, ngày nay là Cách Mạng Tháng Tám);
V 37/- Văn Hoa (đường Trần Quang Khải, còn có tên Văn Hoa Dakao, tên cũ: Thành Xương); 38/- Việt Long (đường Cao Thắng, sau đổi tên thành Văn Hoa Sài Gòn, nay là rạp chiếu phim Thăng Long); 39/- Vĩnh Lợi (đường Lê Lợi, nay là trung tâm thương mại)
Phim
Trong danh sách này còn thiếu rạp chiếu bóng trong khu Dân sinh (đường Ký con) và một rạp cạnh Diên Hồng nguyên là một đình thần (đình Cầu Quan) do đoàn Đồng Ấu Khánh Hồng đóng đô (với cặp Bửu Truyện – Kim Mai), biểu diễn hàng đêm như rạp bên đình Cầu Muối cũng chuyên về tuồng cổ và Hồ Quảng.
Khu vực Gia Định: 
A 1/- Cẩm Vân (quận Phú Nhuận);
C2/- Cao Đồng Hưng (Bạch Đằng, ngày nay là nhà sách thiếu nhi FAHASA);
Đ 3/- Đại Đồng  (đường Nguyễn Văn Học, nay là Nơ Trang Long, Bình Thạnh); 4/- Đồng Nhi (đường Lê Quang Định, đã bị xóa sổ); 5/- Đại Lợi (Chợ Ông Tạ, nay là Phạm Văn Hai)
Rap cine 1
6/- Huỳnh Long (nay Vũ Tùng, bên hông chợ Bà Chiểu, đã xóa sổ)
L 7/- Lạc Xuân (quận Gò Vấp);
V 9/- Văn Cầm (quận Phú Nhuận), 10/- Văn Lang (sau đổi Minh Châu đường Trương Minh Giảng, nay là đường Lê Văn Sỹ);
Khu vực Chợ Lớn:
C 1/- Cây Gõ (Bình Tiên cũ, đường Minh Phụng);
Đ 2/- Đại Quang (đường Châu Văn Liêm); 3/- Đô Thành (sau này là Hướng Dương, bên hông chợ Kim Biên gần cầu Ba Cẳng)
4/- Hào Huê (nay là Nhân Dân); 5/- Hoàng Cung; 6/- Hồng Liên;
K 7/- Khá Lạc (đường Nguyễn Tri Phương);
L 8/- Lệ Thanh (2 rạp A & B) 9/- Lido (đường Đồng Khánh);
Quoc ThaiM 10/- Minh Phụng; 11/- Mỹ Đô (tên cũ Thành Chung, Vườn Lài);
O 12/- Oscar (đường Trần Hưng Đạo B);
P 13/- Palace (nay là Đống Đa); 14/- Phi Long (đổi tên Xóm Củi)
Q 15/- Quốc Thái (đường 3/2)
S 16/- Sao Mai (đường Triệu Quang Phục)
17/- Thủ Đô (Châu Văn Liêm)
V 18/- Victory Lê Ngọc (nay là Toàn Thắng trên đường Châu Văn Liêm)

Nhớ Lại Chuyện Coi Xi Nê ở Sài Gòn Trước 1975

Từ lúc còn học tiểu học tôi đã khoái coi xi nê rồi. Lên Trung Học, Đại Học tôi còn mê hơn nữa, gần như tuần nào cũng có đi coi xi nê. Sau này, khi đã ra đi làm, lập gia đình rồi, đi xem xi nê với bà xã tôi vẫn tiếp tục là một trong những phần giải trí quan trọng hàng tuần của tôi. Trong khoảng thời gian một phần tư thế kỷ, 1950-1975, tôi đã được coi rất nhiều phim xi-nê đủ thể loại. Bài viết này là một cố gắng ghi lại những gì tôi còn nhớ được về các rạp xi-nê ở Sài Gòn và một số phim thật hay mà tôi đã xem và thích trong khoảng thời gian đó. 

Nhớ Về Các Rạp Xi Nê 

Trước năm 1975, Sài Gòn có rất nhiều rạp xi nê, lớn nhỏ đủ cả.1 Đi xem xi nê là một trong những thú giải trí quan trọng nhứt của người Sài Gòn, từ người bình dân lao động ít học cho đến giới trí thức, từ người trẻ học sinh sinh viên còn đi học cho đến người lớn tuổi đã ra đi làm. Chính vì vậy, Sài Gòn có đủ các loại rạp xi nê thich hợp với túi tiền của các loại khán giả và các rạp này trình chiếu đủ tất cả các loại phim thích hợp với ý thích thưởng ngoạn của mọi người.Chúng ta hảy cùng nhau đi một vòng Sài Gòn, để nhớ lại các rạp xi nê của ngày xưa, của những năm trước 1975. 

Trong khu vực Đakao – Tân Định 

Ngay trong vùng Đakao – Tân Định nhỏ bé, nơi tôi lớn lên, như tôi còn nhớ được, đã có tất cả là 6 rạp chiếu bóng. Trước hết là rạp ASAM nằm trên đường Đinh Tiên Hoàng (trước năm1954mang tên là đường Albert 1er), gần ngã tư với đường Phan Thanh Giản (trước năm 1954mang tên là đường Legrand de la Liraye). Gần Chợ Đakao, cũng trên đường Đinh Tiên Hoàng, trước khi đến Cầu Bông là rạp Casino Đakao.Gần bên hông Chợ Tân Định, trên đường Trần Văn Thạch (trước năm 1975mang tên là đường Vassoigne), là rạp Moderne. Cách mặt trước Chợ Tận Định, phía bên kia đường, độ chừng 200 mét, trên đường Hai Bà Trưng (trước năm 1954mang tên là đường Paul Blanchy), hướng về phía Cầu Kiệu, là rạp Kinh Thành. Rạp thứ năm, có lẽ nhiều người không biết vì nó rất nhỏ mà cũng không sống lâu, là rạp Nam Tân, nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (trước năm 1954 mang tên là đường Dr. Angier), ngay ngã tư với đường Phan Đình Phùng (trước năm 1954mang tên là đường Richaud và sau 1975 đổi tên là Nguyễn Đình Chiểu), xéo góc với địa điểm về sau là Đài Phát Thanh Sài Gòn. Ngoài việc xem phim tại rạp Nam Tân, tôi còn có một kỷ niệm khó quên là đã có một lần tôi giúp việc quảng cáo cho rạp như sau: lúc chuyện này xảy ra tôi đang học Lớp Ba (cours élémentaire tại Trường Tiểu Học Nam Đakao), hôm đó là một buổi sáng Thứ Bảy không có đi học, tôi theo một người bạn cùng lớp tên Nhựt, nhà ở đường Đinh Tiên Hoàng, đi bộ lên rạp Nam Tân rất sớm, độ sau 7 giờ, vào gặp ông quản lý rạp, xin làm việc và được ổng mướn ngay. Công việc của hai chúng tôi rất đơn giản: đi theo cái xe ngựa nhỏ mà rạp Nam Tân đã mướn có một bác lớn tuổi đánh xe, hai bên xe có treo hai tấm bảng quảng cáo cho cuốn phim mà rạp đang chiếu; hai chúng tôi thì chia nhau một đứa phụ trách đánh trống còn đứa kia thì phân phát các tờ chương trình về cuốn phim. Xe ngựa đi thông thả qua các khu phố chung quanh Chợ Đakao và Chợ Tân Định, các bọn trẻ trong các khu vực này chạy theo xe ngựa khá đông để xin các tờ chương trình. Khoảng hơn 9 giờ thì xe ngựa trở về rạp Nam Tân và hai đứa chúng tôi được ông quản lý phát cho mỗi đứa một vé để coi hát vào buổi trưa hôm đó, vậy thôi, không có lãnh tiền bạc chi hết. 

Trong thập niên 1960, rạp xi-nê thứ 6 xuất hiện, đánh bại tất cả các rạp khác trong khu Đakao – Tân Định: đó là rạp Văn Hoa, trên đường Trần Quang Khải, gần Đình Nam Chơn, tại địa điểm trước kia của rạp cải lương Thuận Thành, nơi đóng quân thường trực của đoàn cải lương Phụng Hảo của nữ nghệ sĩ Phùng Há. Rạp Văn Hoa là một rạp lớn, có máy lạnh, và chiếu toàn phim mới. 

Sau năm 1975, các rạp xi nê của vùng Đakao – Tân Định này lần lượt đóng cửa hết, chỉ có rạp Casino Đakao là còn tiếp tục hoạt động, với tên mới là rạp Cầu Bông.

Rạp Cầu Bông – Nguồn: Internet

Tôi đã có thật nhiều kỷ niệm với rạp Casino Đakao vì nhiều lý do. Trước hết là vì đó là rạp xi nê gần nhà tôi nhứt. Từ nhà tôi ở số 54 đường Faucault (sau năm 1954, đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh và giữ nguyên cho đến bây giờ), đi ra đầu đường, về hướng Đakao, chỉ khoảng hơn 200 mét thì đã đến đường Đinh Tiên Hoàng, quẹo trái, đi về hướng Cầu Bông, chưa tới 100 mét thì đã đến trước rạp hát. Mỗi khi có chuyện đi ra Chợ Đakao hay đi vô Bà Chiểu tôi đều phải đi ngang qua rạp hát này, mỗi khi như vậy, tôi đều dừng lại trước rạp một lúcđể ngắm các tấm pa-nô vẻ quảng cáo, hay các bích chương in màu cho cuốn phim đang chiếu tại rạp.Tôi cũng đã nhiều lần được vào xem phim “cọp” 2 tại rạp hát này. Thời đó tại các rạp xi nê chỉ có người lớn mới phải mua vé, trẻ con đi theo cha mẹ hay người lớn thì đều không phải mua vé. Tôi và các bạn cùng xóm thường đến trước rạp, chờ xem có những người lớn đi coi hát một mình thì đến năn nỉ họ dắt vào, phần lớn họ đều đồng ý vì họ không có mất mát gì cả mà lại giúp được bọn trẻ chúng tôi. Những người soát vé của rạp đều biết mặt bọn tôi nhưng họ cũng lờ đi, cho chúng tôi vô xem cọp.Có thể nói rạp Casino Đakao là rạp xi nê tôi đã coi nhiều phim nhứt trong thời gian tôi còn học tiểu học. 

Trong khu vực Bà Chiểu – Gia Định 

Vùng Bà Chiểu, trung tâm của tỉnh lỵ Gia Định, nơi đặt Tòa Hành Chánh của tỉnh này, chỉ cách khu Đakao của Quận 1, Sài Gòn bởi Kinh Nhiêu Lộc nơi có chiếc Cầu Bông bắt ngang qua, thì trước sau có tất cả 3 rạp. Đó là: 1) rạp Huỳnh Long nằm trên đường Châu Văn Tiếp, một con đường nhỏ, ngắnchạy ngang trước Lăng Ông (Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt) cho tới hông Chợ Bà Chiểu; 2) rạp Đại Đồng nằm trên đường Nguyễn Văn Học (bây giờ đổi tên thành Nơ Trang Long); và 3) rạp Cao Đồng Hưng, nằm trên đường Bạch Đằng, gần Chợ Bà Chiểu, trên đường đi ra khu Hàng Xanh. Rạp Huỳnh Long có trước hai rạp kia khá lâu và có một thời gian chuyên chiếu phim Ấn Độ. 

Trong khu vực Sài Gòn 

Đa số các rạp xi nê lớn ở Sài Gòn trước năm 1975 đều tập trung tại 3 quận: Quận Nhứt, Quân Nhì và Quận Ba. Tôi thật sự không còn nhớ rõ rạp nào ở quận nào nên chỉ xin nhớ tới đâu nói tới đó thôi, hoàn toàn không theo thứ tự thời gian được xây cất. 

Trước hết phải nói đến những rạp nằm trong khu vực trung tâm của thành phố Sài Gòn (Saigon downtown). Đa số các rạp xi nê này là những rạp lớn nhứt và cũng được nhiều người Sài Gòn biết đến và ưa thích nhứt. 

Trên con đường Catinat (từ 1954 đổi tên thành đường Tự Do, và hiện nay là đường Đồng Khởi) từ Nhà Thờ Đức Bà chạy xuống tới bờ sông Sài Gòn, chỉ dài khoảng trên dưới nửa cây số, đã có tất cả 3 rạp xi nê. Rạp đầu tiên và cũng là lớn nhứt là rạp Eden, nằm bên trong Hành Lang Eden (Passage Eden). Hành Lang Eden là khu hành lang thương mạivới những cửa hiệu bán mỹ phẫm, hàng vải, và các tặng phẩm dành cho giới thượng lưu của Sài Gòn. Hành lang gồm có gồm 3 nhánh với 3 cửa ra vào: cửa chánh mở ra đường Catinat, bên cạnh nhà sách Albert Portail (sau đổi tên thành Xuân Thu), 2 cửa phụ thì một trổ ra đường Lê Lợi, và một ra đường Nguyễn Huệ. Rạp Eden, nằm ở cuối hành lang chánh, có lầu, và thường trình chiếu các phim mới, phần lớn là các phim của Pháp. Tôi đã xem phim rất nhiều lần tại rạp Eden này, cómột lần mua vé ngồi trên lầu. Rạp xi-nê thứ nhì trên đường Catinat này, ngược hẳn với rạp Eden, là một rạp rất nhỏ, tên gì thì tôi không còn nhớ nữa. Rạp này, đúng ra, nằm trên một con đường nhỏ và ngắn, chỉ dài độ trên dưới 100 m, đi từ đường Catinat ra tới đường Charner (sau 1954 đổi tên thành đường Nguyễn Huệ, hiện nay là phố đi bộ rất nổi tiếng của Sài Gòn), về sau dẹp đi, và một phần trở thành một quán ăn không có tên nhưng khá nổi tiếng, mà giới văn nghệ sĩ trẻ của Sài Gòn, đặc biệt là nhà báo Trường Kỳ, thường gọi là Quán Bà Cả Đọi. Tôi chỉ xem có một phim duy nhứt tại cái rạp nhỏ bé này, phim tên gì thì tôi không còn nhớ, chỉ nhớ đó là một phim ca nhạc với ca sĩ Tây Ban Nha nổi tiếng thời bấy giờ (thập niên 1950) là Luis Mariano (1914-1970). Rạp xi-nê thứ ba nằm ở gần cuối đường Catinat là rạp Majestic Sài Gòn (gọi như thế để phân biệt với rạp Majestic thứ nhì nằm trong Chợ Lớn). Rạp này chuyên trình chiếu các phim của Pháp. Mở đầu phim bao giờ cũng có một đoạn phim đen trắng ngắn, chiếu hình một chiệc lư hương đang tỏa khói, với một lời giới thiệu (mà xướng ngôn viên là một người Bắc với một giọng nói rất trầm ấm) như sau: “Đây là một phim độc quyền của hảng Ciné-Theâtre d’Indochine, của những rạp Majestic.” Đây là một trong những rạp xi-nê mà tôi thích nhứt và, dĩ nhiên, cũng là rạp mà tôi đi xem phim thường nhứt. Về sau, cuối thập niên 1960, rạp Majestic đóng cửa và địa điểm này trở thành ca vũ trường Maxim, nơi trình diễn thường xuyên của đoàn ca vũ nhạc nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ, với hai nữ ca sĩ nổi danh Sơn Ca và Họa Mi. 

Cũng trong khu vực trung tâm Sài Gòn này, trên đường Nguyễn Huệ, trước măt Tòa Đô Chánh, ngó ngang qua cửa vào Hành Lang Eden, vào đầu thập niên 1960 (1962), rạp chiếu bóng lớn nhứt và hiện đại nhứt của Sài Gòn là rạp Rex được khai trương.

Rạp Rex
 
“Rạp này được trang bị những tiện nghi hiện đại dành cho một rạp chiếu bóng. Dàn máy lạnh có công suất cực cao khiến cho 1,200 khán giả run cầm cập. Có người đi xem phim phải mang theo áo chống lạnh. Màn ảnh của Rex là màn ảnh đại vỹ tuyến Todd-AO rộng đến 150 m2. Phim được chiếu tại đây là phim 70mm với dàn máy chiếu đặc biệt chỉ có ở Rex. Khán giả đến với Rex được tận hưởng khung cảnh rất trang nhã và sang trọng.” [3]

Trong những năm đầu thập năm 1970, rất gần với rạp Rex, nhưng trên đường Lê Lợi, kế bên trụ sở của Cơ Quan Thông Tin của Hoa Kỳ (USIA = United Stated In formation Agency), có thêm rạp Mini Rex (có 2 phòng chiếu phim A và B), là một rạp nhỏ nhưng rất sang trọng, ghế ngồi toàn là ghế bành rộng rãi, thoải mái, giá vé cao và chiếu toàn phim mời. 

Từ trước rạp Mini Rex đi thêm độ 100 mét về hướng Chợ Bến Thành, đến ngã tư với đường Pasteur (trước 1975 là đường Pellerin), thì gặp rạp xi-nê Casino Sài Gòn nằm ngay ngã tư đó. Đây cũng là một rạp xi-nê lớn có lầu, và chiếu toàn phim mới. 

Trong khu vực trung tâm Sài Gòn còm còn có thêm 6 rạp xi-nê nữa. Đó là các rạp xi-nê sau đây: 

  • Rạp Đại Nam trên đường Trần Hưng Đạo, gần ngã tư với đường Nguyễn Thái Học, ngó xéo qua Trường Nam Tiểu Học Tôn Thọ Tường. Trước khi rạp Rex xuất hiện thì rạp Đại Nam (cùng một chủ với rạp Rex) được xem là lớn nhứt, có lầu, chiếu toàn phim mới, và chiếu theo xuất. 
  • Rạp Hồng Bàng, sau đổi tên là Rạng Đông, nằm trên đường Pasteur, gần khu Chợ Cũ, thuộc loại trung bình, có một thời gian chuyên chiếu phim Nhật Bản 
  • Rạp Nam Viêt, nằm trên đường Tôn Thất Đạm, trong khu Chợ Cũ, tương đối nhỏ, phần nhiều là chiếu phim cũ, và chiếu theo xuất 
  • Rạp Vĩnh Lợi, nằm trên đường Lê Lợi, gần bên Bệnh Viện Đô Thành, thuộc loại rạp cở trung bình, chuyên chiếu phim cũ, và chiếu thường trực (permanent) 
  • Rạp Lê Lợi, ở cuối một hành lang nhỏ, trên đường Lê Thánh Tôn, gần tới cửa Bắc của Chợ Bến Thành, là một rạp nhỏ, chuyên chiếu phim cũ, và chiếu thường trực; đây là rạp được giới học sinh – sinh viên Sài Gòn ưa thích nhứt vì giá vé rất rẻ và đặc biệt là chiếu trường trực nên muốn ngồi xem bao lâu cũng được 
  • Rạp Long Thuận, ở góc đường Trương Công Định và Nguyễn An Ninh, gần cử Tây của Chợ Bến Thành; rạp nầy rất nhỏ, chuyên chiếu phim cũ và chiếu thường trực; đây là rạp xi-nê chiếu thường trực của Sài Gòn, và đã không còn nữa khi sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa 

Bên ngoài khu trung tâm Sài Gòn, còn có thêm một số khá lớn rạp xi-nê nữa, đó là các rạp với tên liệt kêtheo thứ tự mẫu tự sau đây: 

  • Đại Đồng, trên đường Cao Thắng, gần ngã tư với đường Phan Thanh Giản. một rạp hạng trung, chuyên chiếu phim cũ 
  • Khải Hoàn, ngay trước bồn binh, nơi gặp nhau của các đường Phạm Ngũ Lảo, Cống Quỳnh, và Ngô Tùng Châu, rạp này lớn, có máy lạnh, và chiếu phim mới theo xuất 
  • Kim Châu, trên đường Nguyễn Văn Sâm, gần Chợ Cũ, là một rạp cở trung, chỉ chiếu các phim hạng B. 
  • Kinh Đô, trên đường Lê Văn Duyệt, rạp khá lớn, tương đương với rạp Đại Nam, luôn luôn chiếu phim mới, nhưng không tồn tại lâu, sau trở thành trụ sở của cơ quan viện trợ Mỹ USAID 
  • Long Phụng, trên đường Gia Long, gần Ngã Sáu Sài Gòn, chuyên chiếu phim Ấn Độ 
  • Long Vân, trên đường Phan Thanh Giản, gần Ngã Sáu Chợ Lớn, một rạp lớn, và tương đối mới, ra đời khoảng năm 1962 
  • Nam Quang, tại ngã tư hai đường Lê Văn Duyệt và Trần Quý Cáp, khu Chợ Đủi, một rạp khá lớn, và tương đối lâu đời tại Sài Gòn, đã đóng cửa trong thập niên 1960 
  • Olympic, trên đường Hồng Thập Tự, một rạp rất lớn, chiếu phim mới, về sau trở thàng một rạp cải lương, nơi đóng quân của đoàn Kim Chung 
  • Thanh Bình, trên đườg Phạm Ngũ Lảo, gần bên chợ Thái Bình 
  • Văn Cầm, trên đường Trần Hưng Đạo, một trong những rạp xi-nê cũ nhứt của Sài Gòn, không còn hoạt động từ thập niên 1960 
  • Việt Long, trên đường Cao Thắng, gần ngã ba với đường Trần Quý Cáp (nối dài), một rạp khá lớn và cũng chiếu các phim hay 

Trong khu vực Chợ Lớn 

Trong khu Chợ Lớn cũng có một số khá lớn những rạp xi-nê đủ cả lớn và nhỏ, phần nhiều chiếu phim Trung Hoa của Hồng Kông. Đó là các rạp với tên liệt kê theo thứ tự mẫu tư sau đây: 

  • Đại Quang, trên đường Tổng Đốc Phương, chuyên chiếu phim Trung Hoa 
  • Eden Chợ Lớn, trên đường Tổng Đốc Phương, chuyên chiếu phim Âu Mỹ 
  • Hào Huê, trên đường Nguyễn Hoàng, chuyên chiếu phim Trung Hoa 
  • Lệ Thanh, trên đường Phan Phù Tiên, chuyên phiếu phim Trung Hoa 
  • Lido, trên đường Đồng Khánh, bên cạnh khu Đại Thế Giới, chuyên chiếu phim Âu Mỹ 
  • Majestic Chợ Lớn, trên đường Tổng Đốc Phương, thuộc hệ thống Ciné-Théâtred’Indochine, chuyên chiếu phim Âu Mỹ 
  • Palace, trên đường Trần Hưng Đạo, chuyên chiếu phim Trung Hoa 

Trong các rạp của khu Chợ Lớn, tôi chỉ được xem phim tại rạp Lệ Thanh mà thôi. 

Nhận Xét Chung Về Phim Xi-nê Trước 1975 

Có thể nói là tôi đã được xem một số rất lớn những phim đã được chiếu tại các rạp xi-nê ở Sài Gòn từ thập niên 1950 cho đến trước ngày 30-4-1975. Sau đây là những nhận xét chungvề các phim đã được trình chiếu tại Sài Gòn trước năm 1975. 

Trước năm 1954, phần lớn các phim được chiếu ở Sài Gòn thuộc loại phim đen trắng, rất ít có phim màu, với đa số là phim của các nước Âu Châu, nhứt là Pháp và Ý. Sau năm 1954, dưới ảnh hưởng của Viện trợ Mỹ, phim của Hoa Kỳ bắt đầu trở bên phổ biến, và sau một thời gian ngắn thì chiếm hẳn ưu thế. Phim màu hoàn toàn thay thế cho phim đen trắng, khởi đầu là loại mầu Kinemacolor, sau đó chuyển sang Technicolor, và sau cùng là Eastmancolor. Sang thập niên 1960 thì bắt đầu xuất hiện các phim màn ảnh lớn như CinemaScope, Panorama, VistaVision, Todd Ao, và thỉnh thoảng có một vài phim thuôc loại phim ba chiều (hay phim nổi, 3-D, khi xem phim phải mang kính đặc biệt, một tròng xanh, một tròng đỏ, do rạp hát cung cấp, sau khi xem xong phim thì trả lại tại cửa). Từ khoảng cuối thập niên 1950 bắt đầu có phim Ấn Độ, phim Nhật Bản, sau đó là các phim của Hồng Kông. 

Về nội dung thì phải nói là có đủ tất cả các thể loại: tình cảm, xã hội, lịch sử, thần thoại, chiến tranh, gián điệp, trinh thám, cao bồi, phiêu lưu mạo hiểm, và khoa học giả tưởng. Lúc đầu đa số các phim đều nói tiếng Pháp (phim Pháp), hoặc chuyển âm tiếng Pháp (phim Anh Mỹ). Về sau một số lớn các phim nói tiếng Pháp này có phụ đề Việt ngữ. Các phim Nhật Bản và Hồng Kông thì đều có phụ đề Việt ngữ. 

Nhớ Lại Một Số Phim Hay Tiêu Biểu 

Giai đoạm phim đen trắng
Phim tình cảm

 

Một trong những phim tình cảm hay nhứt trong giai đoạn phim đen trắng là phim La valse dans l’ombre,tên chuyển ngữ sang tiếng Pháp của phim Mỹ Waterloo Bridge do hảng phim Metro-Goldwyn-Mayer (thường được gọi tắt là MGM) sản xuất năm 1940, với hai tài tử nổi tiếng của thời đó là Robert Taylor và Vivien Leigh, và dàn dựng bởi nhà đạo diển lừng danh của giai đoạn đó là Mervyn LeRoy. Nội dung cuốn phim là câu chuyện tình rất lãng man và bi thảm giữa một sĩ quan quý tộc và một cô vũ nữ gặp nhau lần đầu trên chiếc cầu Waterloo ở Luân Đôn, dưa trên một kịch bản có cùng tên rất nổi tiếng của năm 1930. Cuốn phim này đã là một thành công lớn, được rất đông khán giả ưa thích, và đã được đề nghị 2 giải Oscar cho Best Music và Best Cinematography. Năm 1956 cuốn phim Gaby với 2 tài tử John Kerr và Leslie Caron chính là một phiên bản mới của cuốn phim này.[4]

Phim xã hội

 

Một trong những phim xã hội xuất sắc trong giai đoạn phim đen trắng là phim Sur les quais, tên chuyển ngữ tiếng Pháp của cuốn phim Mỹ có nhan đề là On the Waterfront, cuốn phim đánh dấu bước đầu phát triển sự nghiệp của nam tài tử nổi tiếng Marlon Brando. Cuốn phim này do hảng phim Columbia phát hành năm 1954, dưa trên thiên phóng sự điều tra đã đoạt giải Pulitzer năm 1949 về chuyện bạo lực và tham nhũng trong nghiệp đoàn công nhân bến tàu tại thành phố Hoboken, tiểu bang New Jersey. Đạo diễn là Elia Kazan, với giàn diễn viên gạo cội gồm các nam tài tử Marlon Brando, Karl Malden, Lee J. Cobb, Rod Steiger, và nữ tài tử Eva Marie Saint. Phim được đề cử 12 giải Oscar của năm 1954 và đoạt được 8 giải trong đó có các Oscar cho: 

  • Giải Oscar cho Phim Hay Nhứt (Academy Award for Best Picture) 
  • Giải Oscar cho Đạo Diển Xuất Sắc Nhứt (Academy Award for Best Director cho Elia Kazan) 
  • Giải Oscar cho Nam Diển Viên Chánh Xuất Sắc Nhứt (Academy Award for Best Actor cho Marlon Brando) 
  • Giải Oscar cho Nữ Diển Viên Phụ Xuất Sắc Nhứt (Academy Award for Best Supporting Actress cho Eva Marie Saint).[5] 

Phim cao bồi

 

Một trong những phim cao bồi (tiếng Anh là phim Western) hay nhứt trong giai đoạn phim đen trắng là phim Le train sifflera trois fois, tên chuyễn ngữ tiếng Pháp của phim Mỹ có tựa đề là High Noon, với tài tử nổi tiếng Gary Cooper trong vai chánh. Nội dung của cuốn phim là câu chuyện của một vị cảnh sát trưởng (sheriff) của một thị trấn nhỏ bị mọi người bỏ rơi, phải một mình đương đầu với một bọn côn đồ tìm đến trả thù. Cuốn phim này được hảng United Artists phát hành năm 1952, gây chấn động trong giới điện ảnh Hoa Kỳ, được đề nghị cho 7 giải Oscar của năm đó, và đã đoạt được tất cả 4 giải Golden Globe Awards và 4 giải Academy Awards (tức Oscar) như sau: 

  • Giải Golden Globe cho Nam Diễn Viên Chánh (Golden Globe Award for Actor in a Leading Role cho Gary Cooper) 
  • Giải Golden Globe cho Nữ Diễn Viên Phụ (Gloden Globe Award for Best Supporting Actress cho nữ tài tử Katy Jurado, nữ diễn viên gốc Mể Tây Cơ đầu tiên được trao giải này) 
  • Giải Golden Globe cho Nhạc Nền của phim (Golden Globe Award for Music – Score cho Dimitri Tiomkin) 
  • Giải Golden Globe cho Hình Ảnh Phim Đen Trắng (Golden Globe Award for Cinematographby – Black and White) 
  • Giải Oscar cho Nam Diễn Viên Chánh (Academy Award for Best Actor cho Gary Cooper) 
  • Giải Oscar cho Ráp Nối Phim (Academy Award for Film Editing cho Elmo Williams và Harry W. Gerstad) 
  • Giải Oscar cho Nhạc Nền của Phim (Academy Award for Music – Score cho Dimitri Tiomkin) 
  • Giải Oscar cho Bản Nhạc Chánh của Phim (Academy Award for Music – Song cho Dimitri Tiomkin và Ned Washington, là 2 tác giả của bản nhạc “Do Not Forsake Me, My Darling”

Có hai điều cần nói thêm về cuốn phim đen trắng xuất sắc này: 1) Người nữ diễn viên chánh trong phim này, đóng vai người vợ của viên cảnh sát trưởng, chính là nữ diễn viên Grace Kelly, về sau rất nổi tiếng, đã được Giải Oscar Cho Nữ Diễn Viên Chánh (Academy Award for Best Actress, 1955) trong phim The Country Girl cùng đóng chung với nam danh ca Bing Crosby, qua năm sau, 1956, Grace Kelly kết hôn với Ông Hoàng Rainier của Vương Quốc Monaco và trở thành Bà Hoàng Grace of Monaco; 2) Bản nhạc chánh của cuốn phim, Do Not Forsake Me, My Darling, sau đó được đưa vào đĩa hát với giọng ca của nam ca sĩ Frankie Laine và trở thành Top Hit của năm đó. Về sau, cặp bài trùng Dimitri Tiomkin – Frankie Laine sẽ được Hollywood sử dụng nhiều lần nữa trong các phim Western nổi tiếng khác như Gunfight at the OK Corral và Last Train from Gun Hill.[6] 

Giai đoạm phim màu
Phim lịch sử

Một trong những phim hay nhứt của thể loại lịch sử trong thời kỳ phim màu là phim Autant en emporte le vent, tên chuyển ngữ tiếng Pháp của phim Mỹ Gone With The Wind, dựa trên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng có cùng tên của tác giả Margaret Mitchell. Cuốn phim mô tả đời sống của người dân tại Miền Nam Hoa Kỳ, qua nhận vật nữ chính là Scarlett O’Hara, trong thời gian trước và sau Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ (American Civil War, 1861-1865), với 2 nam nữ diễn viên chánh là Clark Gable và Vivien Leigh.Cuốn phim này do hảng phim MGM sản xuất vào năm 1939, và đạt được một thành công rực rỡ, được đề nghị tất cả 13 giải Oscar của năm đó và sau cùng đoạt được 8 giải như sau: 

  • Giải Oscar cho Phim Hay Nhứt (Academy Award for Best Picture cho nhà sản xuất David O’Selznick) 
  • Giải Oscar cho Đạo Diễn xuất Sắc Nhứt (Academy Award for Best Director cho Victor Fleming) 
  • Giải Oscar cho Truyện Phim Dựa Trên Tiểu Thuyết Xuất Sắc Nhứt (Academy Award for Best Adapted Screenplay truy tặng cho Sidney Howard lúc đó đã qua đời) 
  • Giải Oscar cho Nữ Diễn Viên Chánh Xuất Sắc Nhứt (Academy Award for Best Actress cho Vivien Leigh) 
  • Giải Oscar cho Nữ Diễn Viên Phụ Xuất Sắc Nhứt (Academy Award for Best Supporting Actress cho Hattie McDaniel, nữ diễn viên da đen đầu tiên được trao tặng Oscar) 
  • Giải Oscar cho Hình Ảnh Phim Màu (Academy Award for Best Cinematography – Color cho Ernest Haller và Ray Rennahan) 
  • Giải Oscar cho Ráp Nối Phim (Academy Award for Film Editing cho Hal C. Kern và James E. Newcom) 
  • Giải Oscar cho Dàn Cảnh Nghệ Thuật (Academy Award for Art Direction cho Lyle Wheeler) 

Cuốn phim này về sau còn được phát hành thêm rất nhiều lần nữa vào các năm 1942, 1947, 1954, 1961, 1967, 1971, 1974, 1989, 1998 và gần đây nhứt là năm 2014.Theo sách Guinness World Records (về các kỷ lục thế giới), cuốn phim này, tính đến năm 2014, đã có số thu là 3, 44 tỷ đô la Mỹ, và trở thành cuốn phim thành công nhứt trong lịch sử điện ảnh.[7] 

Phim chiến tranh

Một trong những phim về Đệ Nhị Thế Chiến làm khán giả say mê là cuốn phim Les canons de Navarone,tên chuyển ngữ tiếng Pháp của cuốn phim Mỹ có tựa đề là The Guns of Navarone, do 3 nam tài tử nổi danh thủ vai chánh là Gregory Peck, David Niven, và Anthony Quinn. Nội dung phim kể lại câu chuyện hào hùng của một toán biệt kích Đồng Minh thi hành một sứ mệnh vô cùng khó khăn là phá hủy một pháo đài gần như bất khả xâm phạm của quân Đức với những cổ đại pháo khổng lồ đe dọa nặng nề các chiến hạm của Đồng Minh trong vùng biển Aegean, là một biển nhỏ giữa Hy Lạp và Thổ Nhỉ Kỳ.Cuốn phim do hảng phim Columbia phát hành năm 1961, được đề nghị tất cả 7 giải Oscar của năm đó nhưng chỉ đoạt được một Oscar duy nhứt cho Xảo Thuật Xuất Sắc Nhứt (Academy Award for Best Special Effects cho Bill Warrington và Chris Greenham).[8]Tuy không đọat được nhiều Giải Oscar, cuốn phim này rất thành công về thương mại, chiếm hạng nhì về số thu của năm 1961. Một điều hiếm có là buổi chiếu ra mắt lần đầu tiên của phim (World premiere) vào ngày 27-4-1961 đã diễn ra tại Luân Đôn dưới sự chủ tọa của chính Nữ Hoàng Elizabeth II và Hoàng Tế Philip. 

Phim trinh thám

Một trong những phim trinh thám xuất sắc của giai đoạn phim màu là phim Le crime était presque parfait, tên chuyển ngân tiếng Pháp của cuốn phim Mỹ có tựa đề là Dial M for Murder của đạo diễn lừng danh Alfred Hitchcock với hai diễn viên chánh, do hảng phim Warner Bros. phát hành năm 1954. Nội dung của cuốn phim là câu chuyện của một ông chồng ghen tức vì người vợ ngoại tìnhvà quyết điịnh giết vợ. Kế hoạch giết vợ được tính toán và chuẩn bị rất kỹ lưởng, tỉ mỉ nhưng khi thực hiện thì sự việc không diễn ra được như đã được tính toán trước, và, sau cùng, hung thủ vẫn bị sa lưới do một sơ hở rất nhỏ. Cuốn phim là một thành công do tài đạo diễn của Hitchcock, một bực thầy của thể loại phim trinh thám, bí mật và cân nảo (mystery-thriller-suspense). Tuy không nhận được bất cứ một gỉai thưởng Oscar nào, cuốn phim đã được phần đông các nhà phê bình phim ảnh khen ngợi. Một trong tính cách tiêu biểu của Hitchcock là ông luôn luôn có đóng một vai thật phụ trong tất cả các phim do ông đạo diễn, và phim Dial M for Murder này cũng không đi ra ngoại cái lệ đó: sau khi cuốn phim bắt đầu được 13 phút, gương mặt ông xuất hiện trong một tấm ảnh đen trắng chụp tại một buổi họp mặt của một nhóm sinh viên và giáo sư. Năm 1998, phim A Perfect Murder, do hai diễn viên Michael Douglas (đóng vai người chồng) và Gwyneth Paltrow (đóng vai người vợ), là một phim quay lại (remake) của cuốn phim nổi tiếng này. 

Phim gián điệp

Một trong những phim gián điệp hay nhứt trong giai đoạn phim màu là cuốn phim L’Homme qui n’a jamais existé, tên chuyển ngữ tiếng Pháp của cuốn phim Anh với tựa đề là The Man Who Never Was, do hảng phim 20th Century Fox phát hành vào năm 1956, với sự tham gia diễn xuất của các diễn viên nổi tiếng Clifton Webb và Gloria Graham. Nội dung truyện phim như sau: năm 1943, lực lượng Đồng Minh sắp sửa đổ bộ lên đảo Sicily ở phía Nam nước Ý; để đánh lừa quân Đức, tình báo Anh tạo ra một kế hoạch đặt tên là Operation Mincemeat nhằm khiến cho Đức phải tin là Đồng Minh sẽ đổ bộ lên Hy Lạp Để thực hiện kế hoạch này, tình báo Anh đã sử dụng một xác người chết vì sưng phổi, ngụy trang thành một vị Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến Anh tên là William Martin, bị rớt máy bay trên biển Địa Trung Hài, xác trôi vào bờ biển của Tây Ban Nha tại một thị trấn mà tình báo Anh đã biết có sự hiện diện của một điệp viên giỏi của Đức. Xác chết của Thiếu Tá Martin có mang một cặp tài liệu về kế hoạch đổ bộ lên Hy Lạp của Đồng Minh. Kế hoạch thành công và Hitler đã ra lệnh cho các đơn vị đang trú đóng phòng thủ ở đảo Sicily phải di chuyển ngay sang Hy lạp. Nhờ vậy kế hoạch đổ bộ lên Sicily của Đồng Minh đã thành công dễ dàng. Cuốn phim dựa vào một chuyện có thật. Người tạo ra kế hoạch Mincemeat là Trung Tá Hải Quân Anh tên Ewen Montagu (do nam tài tử Clifton Webb thủ vai) đã viết lại câu chuyển này trong cuốn sách của ông có cùng tên xuất bản năm 1953, và chính Montagu cũng đã có đóng một vai nhỏ trong cuốn phim này. 

Phim Nhật Bản 

Cuốn phim Nhật Bản đầu tiên gây ấn tượng với khán giả khắp thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng là phim Bảy người hiệp sĩ (Seven Samurai), do Akira Kuroshawa đạo điễn và nam tài tử Toshiro Mifine đóng vai chánh, do hảng phim Toho phát hành năm 1954. Nội dung phim như sau: dân chúng trong một ngôi làng luôn bị một bọn cướp đe dọa đã quyết định tìm thuê một số hiệp sĩ lang thang (ronin) đến giúp họ bảo vệ làng. Có tất cả 7 hiệp sĩ đã đồng ý tham gia và họ đã giúp dân làng thắng và diệt được bọn cướp nhưng 4 người trong số họ đã hy sinh. Cặp bài trùng Akira Kuroshawa – Toshiro Mifune còn cộng tác trong một số phim khác, trong đó nổi tiếng nhứt là phim Rashomon (Địa Ngục Môn). Một điểm cần nói thêm là cả 2 phim Bảy người hiệp sĩ và Rashomon về sau đều được Hollywood phóng tác thành phim theo thể loại cao bồi (Western). Phim Bảy người hiệp sĩ được phóng tác thành phimThe Magnificent Seven (tên chuyển ngữ tiếng Pháp là Les sept mercenaires) do hảng phim United Artists sản xuất vào năm 1960 với một giàn tài tử gạo cội gồm Yul Brynner, Eli Wallach, Steve McQueen, Charles Bronson, Robert Vaughn, James Coburn, và diển viên người Đức Horst Buchholz. Mới đây, năm 2016, Hollywood lại làm lại phim The Magnificent Seven một lần nữa, do hảng phim MGM sản xuất, với vai chánh do nam tài tử da đennổi tiếng (đã từng đoạt giải Oscar 2 lần) Denzel Washington đãm nhận, và có sự tham gia của nam tài tử Hàn Quốc nổi tiếng Lý Bỉnh Hiền (Lee Byung-hun). Phim Rashomon được phóng tác thành phim The Outrage, do hảng phim MGM sản xuất năm 1964 với các tài tử nổi tiếng Paul Newman, Laurence Harvey, Edward G. Robinson, William Shatner, và Claire Bloom. 

Phim Hồng Kông 

Cùng lúc với phim Nhật Bản, phim Hồng Kông cũng được chiếu ở các rạp xi-nê ở Sài Gòn. Phần lớn là phim võ thuật và kiếm hiệp. Những tài tử tên tuổi của Hồng Kông như Vương Vũ, Địch Long, Khương Đại Vệ, Trịnh Phối Phối trở nên quen thuộc với khán giả Sài Gòn. Một trong số những phim có số thu cao nhứt là phim Độc Thủ Đại Hiệp với Khương Đại Vệ đóng vai chánh. Sang đầu thập niên 1970, một loạt phim võ thuật với nam tài tử Lý Tiểu Long trong vai chánh đã làm say mê khán giả xi-nê Sài Gòn: Tinh Võ Môn, Đường Sơn đại huynh, Lonh tranh hổ đấu, vv. Cùng một lúc, khán giả xi-nê Sài Gòn lại bắt đầu được thưởng thức một loạt phim tình cảm, xã hội, dựa trên các tiểu thuyết đang ăn khách của nữ tác giả Quỳnh Dao, như Hải âu phi xứ, Mùa thu là bay với cặp tài tử Chân Trân và Đặng Quang Vinh. Tôi đã được xem các phim này tại rạp Lệ Thanh trong Chợ Lớn. 

Phim Ấn Độ 

Cuốn phim Ấn Độ đầu tiên được chiếu ở Sài Gòn, nếu tôi nhớ không lầm, là tại rạp Thanh Bình, là một phim màu, thuộc thể loại thần thoại. Điều đặc biệt nhứt khiến mọi người đều nhớ về phim Ấn Độ là phần âm nhạc của các phim, với âm điệu réo rắt, nhưng nghe rất nhàm chán vì gần như tất cả bài hát đều nghe giống hệt nhau. Sau đó, trong một thời gian, người Sài Gòn được xem cả một loạt phim xả hội cùng do cặp tài tử Ganeshan và Savitri đóng các vai chánh. Về sau chỉ còn một rạp duy nhứt tiếp tục chiếu phim Ấn Độ là rạp Long Phụng ở cuối đường Gia Long, gần Ngã Sáu Sài Gòn. 

Thay Lời Kết 

Xem xi-nê là một thú giải trí rất được ưa chuộng của gần như tất cả các tầng lớp người Sài Gòn trước 1975. Không phải như hiện nay với máy vi-tính và với kỹ thuật video, thời đó muốn xem phim mọi người phải đi đến các rạp xi-nê ở rải rác khắp thành phố, từ vùng Đakao – Tân Định, Bà Chiểu – Gia Định, ra đến trung tâm Sài Gòn, Chợ Cũ, và vào tận cả trong khu người Hoa ở Chợ Lớn. Phần lớn các rạp xi-nê đều chiếu theo xuất, chỉ có một số chiếu thường trực suốt ngày. Phim trình chiếu thì có đủ tất cả các thể loại: tình cảm, xã hội, lịch sử, cao bồi, trinh thám, gián điệp, vv. Phần lớn là phim Mỹ với chuyển âm tiếng Pháp, hay phụ đề tiếng Việt. Trong giai đoạn này, phần lớn các phim Mỹ đều có cốt truyện rất hay, với kỹ thuật sản xuất (dàn dựng, màu sắc, âm thanh, ráp nối phim, vv) có chất lượng cao và các nam nữ tài tử đều diễn xuất thật xuất sắc. 

Ghi Chú: 

1. Trần Đăng Chí. Rạp xi-nê Sài Gòn trước 1975,tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:http://trandangchi.blogspot.com/2007/11/rap-xi-n-sai-gon-trc-1975.html Trong số khá nhiều tài liệu trực tuyến trên Internet về các rạp xi nê ở Sài Gòn trước 1975, tài liệu này có thể được xem là đầy đủ nhứt. 

2. Bùi Thanh Kiên. Phương ngữ Nam Bộ: ghi chép & chú giải. Tập 1: A – K. Hà Nội: Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 2015. Tr. 286: Cọp: phó từ, tiếng lóng: khỏi phải trả tiền, thí dụ: coi hát cọp, hút thuốc cọp. 

3. Nhớ về rạp xi-nê Rex, rạp tối tân nhất Đông Nam Á trước 1975, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:https://www.cochinchine-saigon.com/nho-ve-rap-xi-ne-rex-rap-toi-tan-nhat-dong-nam-a-truoc-1975/

4. Waterloo Bridge (1940 film), tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:https://en.wikipedia.org/wiki/Waterloo_Bridge_(1940_film)#Reception

5. On the Waterfront, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:https://en.wikipedia.org/wiki/On_the_Waterfront

6. High Noon, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:https://en.wikipedia.org/wiki/High_Noon

7. Gone with the Wind (film), tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:https://en.wikipedia.org/wiki/Gone_with_the_Wind_(film)

8. The Guns of Navarone (film), tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:https://en.wikipedia.org/wiki/The_Guns_of_Navarone_(film)

 

    Quỳnh Nga sưu tầm và tổng hợp    
 
Xem thêm...

Tình bạn, Tình già tuổi xế chiều

  Tình bạn tuổi xế chiều - Khi tuổi tác chỉ là một con số. 

Ở cái tuổi “gần đất xa trời” những điều hào nhoáng phù phiếm đã trở thành hư vô, hạnh phúc chỉ đơn giản là sự ấm áp của gia đình và cái nắm tay thật chặt của người “bạn già” bao năm thân thiết đã là quá đủ.

Bạn hãy nghĩ xem, khi già rồi cũng chỉ cần cuộc sống bình yên, một bữa trà, 1 bữa cơm, bữa cháo, một món ăn, và một người bên cạnh đi đến cuối đường.

Khi dần bước vào độ tuổi xế chiều, người cao tuổi cũng dần mất đi những tham vọng về vật chất và hướng đến những nhu cầu về tình cảm nhiều hơn. Bên cạnh tình cảm gia đình, mối tâm giao tình bạn là yếu tố hỗ trợ tinh thần rất quý giá với người cao tuổi, giúp cuộc sống tuổi lưu trở nên bớt cô đơn,  ấm áp và có ý nghĩa hơn.
 
 1. Tình bạn đồng lứa/đồng niên:
 Khi họ hàng người thân ở xa hoặc quá bận rộn, những mối quan hệ gần gũi xung quanh hơn như những người bạn hàng xóm hay như ở các viện dưỡng lão, những người bạn cùng tuổi xế chiều thường có điều kiện gần gũi và dễ chia sẻ với nhau hơn.
Có những điều mà chính những người trong gia đình cũng không cung ứng được bằng những mối bằng hữu như thế nay. Khi mà họ hằng ngày đã dần cùng vui buồn có nhau, nương tựa bầu bạn với nhau, hiểu và giúp đỡ lẫn nhau. Họ lắng nghe nhau tâm sự, kể cho nhau nghe những kỉ niệm, những việc cùng làm.
Họ chia sẻ những câu chuyện, những kinh nghiệm mà chưa có cơ hội chia sẻ cùng con cháu vì chúng quá bận rộn với cuộc sống bên ngoài.
Tuy vậy, phần lớn người già ở tuổi vàng này họ rất ngại giao tiếp và giới hạn việc tìm thêm bạn mới để tiết kiệm sinh lực và tránh gặp những trái ý không cần thiết.
Việc sức khỏe ngày một yếu cũng khiến người già ngại tham gia các hoạt động sinh hoạt, gắn kết. Việc sức khỏe và nhận thức suy giảm và thính giác và thị giác yếu dần cũng làm giảm khả năng đối thoại suy giảm. Nên chỉ muốn dành thời gian nghỉ ngơi tĩnh tại. Tuy nhiên thì nhu cầu được chia sẻ và nương tựa về tinh thần vẫn luôn nhen nhóm và sẽ bùng phát lên khi gặp được người tâm giao đúng ý.

Tuổi xế chiều, là khi bạn và tôi đã sang bên kia dốc của cuộc đời! Là khi con cái đã yên bề gia thất! Là khi sức khỏe đã bắt đầu chênh vênh, lắt lay như ngọn đèn trước gió.

Related image

Tuổi xế chiều, chúng ta cô đơn biết mấy. Cô đơn trong chính ngôi nhà của mình. Sự khác biệt về thế hệ, sự phát triển của thời đại, khoảng cách giữa cha mẹ và con cái cũng ngày một xa dần.

Mỗi khi thấy lòng nặng trĩu, biết bấu víu vào đâu ngoài những người bạn tri kỷ cùng thời. Tuổi già nên tình bạn cũng có nhiều điều khác biệt. Bên ấm trà, cùng nhau hàn huyên về một thời tuổi trẻ, ở đó, chúng ta đã trải qua mọi cung bậc cảm xúc của cuộc đời.

Những người bạn cùng chăn trâu cắt cỏ năm nào, bây giờ đều đã thành ông nội, bà ngoại. Những người bạn cùng nhau vào sinh ra tử nơi chiến trận, đã từng là đồng chí, vẫn im lìm nơi rừng núi thâm sâu. Cả những người bạn vừa mới hôm qua còn gặp gỡ, tay bắt mặt mừng, chưa qua một đêm đã trở về với cỏ… Tình bạn của tuổi xế chiều bền bỉ mà cũng mong manh quá! Thế mới biết chúng ta cần trân quý hơn sức khỏe, trân quý hơn từng khoảnh khắc còn lại của đời người.

Đi xa về gần, con cái thường mua cho người già chút quà tấm bánh. Còn tuổi xế chiều nương tựa nhau, đi đâu cũng để dành ấm nước, miếng trầu. Mỗi khi trái nắng trở trời, người đau, đầu nhức, lưng mỏi, được lời thăm hỏi của bạn già quý hơn ngàn vạn vật chất. Tình bạn tuổi xế chiều, sẽ là thứ dìu dắt ta đi qua những năm tháng cuối mùa.

  1. Tình bạn giữa các thế hệ
Thường thường người già muốn có những người bạn cùng lứa tuổi, hoàn cảnh, sở thích kinh nghiệm như nhau sống gần nhau để thuận tiện qua lại và dễ tìm thấy sự đồng cảm hơn.
Nhưng họ cũng có khuynh hướng tạo thêm bạn mới ở lứa tuổi trẻ hơn để thay thế vào chỗ của những người bạn ở tuổi xế chiều đã và sẽ lần lượt ra đi. Tuổi tác không phải là yếu tố quyết định để tạo nên một tình bạn lâu dài. Điều quan trọng đó chính là tìm thấy được sự kết nối những tâm tư, những nguồn giao cảm tương đồng, để có thể chia sẻ buồn vui và làm chỗ dựa tinh thần cho nhau.
 
Mặc dù có thể có những căng thẳng, thay đổi ngoài tầm kiểm soát, tình bạn vẫn giúp người già cảm thấy vui lên rất nhiều. Người già hiểu rằng quĩ thời gian của mình không còn nhều nữa và những nhu cầu vật chất dần trở nên không còn quan trọng bằng những yếu tố tình cảm
Ngày càng có nhiều nghiên cứu chỉ ra vai trò quan trọng của tình bạn bên cạnh các tình cảm gia đình, hôn nhân đối với sức khỏe. Thậm chí tình bạn còn có tác dụng tới sức khỏe tinh thần nhiều hơn các mối quan hệ gia đình.
Các nhà nghiên cứu Úc đã tiến hành rất nhiều nghiên cứu để chỉ ra rằng những người già có nhiều bạn bè xung quanh sẽ giảm được 22% nguy cơ tử vong so với người ít bạn. Nghiên cứu của đại học Havard cũng chỉ ra rằng quan hệ xã hội tích cực sẽ tăng cường sức khỏe trí não khi chúng ta đương đầu với tuổi xế chiều. Những người phụ nữ không có bạn bè thân thiết có nguy cơ tử vong cao gấp 4 lần so với những người phụ nữ có từ 10 người bạn trở lên.
 
   Tình bạn thực sự giúp ta sống lâu hơn.   
 

  Em muốn có một cuộc tình già với anh  

Anh sẽ kể em nghe những chuyện tình xanh ngát xanh

Tình già thật đẹp, nhưng đó là trong phim ảnh, văn thơ, hình ảnh những ông già, bà già, tay trong tay, ân cần, thiết tha luôn khiến người ta xúc động. Đời thực thì không như thơ.
Tình yêu không tuổi chỉ là cách nói của văn học diễm tình. Thảng hoặc chúng ta mới gặp được một đôi tình già. Ngay cả khi đó thì cũng chỉ là một khoảnh khắc. Chứ khi già, người ta cố nhớ được tên mình, cố bước đi vững chắc, đã là một kỳ tích. Chẳng ai thích già. Vậy mà sao bao cặp đôi, trong đó có tôi, đều mơ đến một cuộc tình già?
Bởi tình yêu vốn mong manh như thể tơ trời. Càng hạnh phúc càng lắm nỗi bất an. Càng yêu thương càng lo sợ bất trắc. Tình yêu mong manh một thì hôn nhân mỏng manh mười.
Ta có một cuộc tình già với nhau
“Khi chúng ta già đi như thế này
em có còn yêu anh không?
Anh mong em nói dối!
Bởi khi đó làm sao mà yêu nổi
Gã khùng điên tính khí thất thường
Nhưng khùng điên anh vẫn nói yêu thương
Như thể nhiều chục năm lời yêu thương đã ăn vào miệng
Như thể em là không khí là ô xy
Cứ thấy em là bật lên thành tiếng
“Em yêu
 
Bài viết kể về các bạn già vui vẻ tại San Diego. Tác giả là một vị cao niên ngoài 80 tuổi. Ông cho biết tên thật là Phạm Thanh Bình,  cư ngụ ở thành phố tên là Carlsbad, tên có vẻ tiếng Đức, có đa số sắc dân Âu châu cũ, như Ý, Đức, Hòa Lan... Thị trấn kề biển có 75% dân về hưu. Tác giả ghi thêm “Chuyện dành cho quý ông cao niên. Lỡ quý cụ Bà đọc, xin đừng quở trách, già mà còn ham vui.”
*
Một buổi sáng chớm thu, trời se lạnh, đã quá 7.00 giờ rồi mà trời còn tối, ông Bình tỉnh giấc dậy, với chiếc đèn pin đầu giường ngủ dọi lên đồng hồ trên tường. Quả thật đã 7.15 giờ, con gái ông đã chỉnh tề sửa soạn đi làm và đưa con đi nhà trẻ, thằng bé chỉ kịp " Bye Ông", ông Bình cũng kịp trả lời "Bye Cu". Bye Cu là thứ thêm vào ngôn ngữ Việt  Nam, cũng như rất nhiều câu pha trộn khác trong câu nói của người hải ngoại.
Chừng quá 8.00 giờ, thì con rể cũng ra đi , thế là trong căn nhà rộng, đủ tiện nghi, ông Bình phải tự sống một mình cho đến 6.00 giờ chiều, mới có đoàn tụ, tạm chia tay ngắn trong ngày, điều này cũng làm cho ông hơi e ngại lúc đầu. Thế rồi vẫn cứ sống vui và quen đi. Ông luôn luôn yêu đời và khoẻ mạnh, dù tuổi hạc đã quá bát tuần thương thọ, ông Bình nghĩ thế, điều chính không phải là nhu cầu ăn mặc đi lại, nhưng là chỗ dựa tinh thần trong lúc trống vắng như thế này.
Ông đi qua bếp, uống ly trà nóng, xong ra đứng tập hít thở, vừa đếm mấy trăm cái, rồi nhón gót chân, ngứng lên ngồi xuống, tay vịn bàn bếp hay vịn vào bàn nướng thịt ngoài sân. Ông có nghe một ngưòi bạn trẻ hơn ông, lúc gặp ngoài chợ, nói là phải làm it nhất 300 hít thở, thật nhanh và thật mạnh, dó là bí quyết sống lâu. Ông đã làm hơi 5, hay 600 cái thở hít rồi còn nhón gót ngồi đứng cũng 100 cái. Thấy ấm người lên, sắp đổ mồ hôi, và cũng khoảng quá nửa giờ rồi,  ông Bình tự nói: "cũng còn nhiều thì giờ lắm trong ngày, sẽ tìm bạn và gặp bạn, nếu ông không đọc báo hay coi TV".
Trước hết ông nghĩ phải làm cái chuyện đi bộ trước, nhưng nhìn ra đường phố trước nhà, thì dốc hơi nhiều, không được thoải, nếu đi thì khom lưng, khó coi, hàng xóm toàn Mỹ trắng. Ông mặc quần áo chỉnh tề, khóa cửa nhà, lên xe lái ra cái trung tâm mall gần nhà, chừng 3 hay 4 miles thôi, đậu xe chỗ người già, đi vào trong coi hàng hóa bầy bán. Sàn nhà phẳng lì, bóng trơn, chẳng cần xe đẩy bằng điện làm gì, đã nói đi bộ thì cứ từ từ đi, hết tiệm này sang hàng khác, có chỗ dừng lại trước quầy magazines đọc rất lâu, vẫn đứng, cho đến khi đồng hồ tay gần 11.00 giờ, thì sửa soạn ra xe đi về. Thế là cũng gần hết được buổi sáng.
 
Sau khi ăn trưa ở nhà xong  thì cũng vưà 12.00 giờ. Ông cho mình ngả lưng, coi TV hay đọc báo, hay gọi điện thoại vài người bạn hỏi thăm. Có những trao đổi vui vui, những hẹn gặp sắp tới cuối tuần., có thể hội hè nữa. Rồi cũng vào net tìm e-mail các bạn, thật thú, có nhiều ông cứ gửi  nối tiếp các tài liệu sưu tầm được ở đâu, và lúc forward như thế là một chùm bạn, dài lê thê, thật dài, nếu ông muốn móc bât kỳ người nào trong dẫy bạn như thế, có thể ai cũng vẫn mở hộp thơ cho ông phóng vào.Tình bạn già thời @, ông Bình thường nói: "vui lắm các cụ ạ, mail cứ nằm đó, đọc cũng được, không cũng được, xoá cũng được, nhưng xoá làm gì, có phải trả tiền đâu, lỡ có lúc nghĩ đến thì lại có thể mở ra tìm địa chỉ."
Ông Bình đi họp cao niên, họp tiếp cộng đồng, bạn sao mà vui thế, cứ tíu tít như thuở học trò, trẻ lại yêu đời, sống thật cho mình, gánh nặng đã có nhiều người gánh dùm. Vui đủ thứ chuyện cũ mới, thời sự, gia đình, không hạn chế đề tài, nói gì cũng có người nghevà có người đáp, không ông này thì bà kia. Chả bù trong gia đình, con cái ít có thì giờ để cho cha mẹ thổ lộ sự tình. Chúng nó chỉ được cái liệng đồ là giỏi. Ông Bình nói chúng nó liệng bất cứ thứ quần áo nào, chúng đã biết size của cha mẹ rồi, bất cứ dịp nào thuận tiện, là máy móc, CD, máy computer, và xe nữa. Bỗng dưng xe mình đang ngon lành, chạy ro ro, nó đem cái xe mới về, nó nói cần an toàn hơn cho người lớn tuổi, dọc đường khỏi gọi  road assistances. "Cũng có lý, thì nhận vậy". Thế là con cái yêu thưong đấy. Tụi nó không bao giờ đứng trước mặt mình khoanh tay nói "Con thương Cha, thương Mẹ", hay nói tiếng Mỹ cũng được "I love you". Dễ quá mà sao chúng không nói ra miệng..
 
Vậy là chỉ còn các bạn già  là nơi ông dễ dàng bầy tỏ nỗi niềm tâm sự, hòng vơi đi mọi nỗi trầm uất trong lòng.
Ông Bình nhớ lại vào khoảng từ 2002 dến 2004, ông đã qua các BV Sharp và Mercy nằm cả tuần, thử nghiệm chán, cũng cho về với toa thuốc trị suy nhược tinh thần (depression). Ông nói các bác sỹ gà mờ, ông đang có tinh thần mạnh khoẻ, chứ có suy nhược đâu, ông vừa mắng vưà vất thuốc đi không uống, chỉ Tylenol bình thường hay giảm đau thôi..
Lần cuối nhất vào tháng 2/2005 ông Bình vào Mercy, do anh bạn già NvGiầu, 85 tuổi và 1 người trung niên chở đến, và họ đã chờ đến 4.00 giờ chiều. "Sao các anh không về đi, khi nào thử nghiệm xong tôi gọi cell các anh," Họ vẫ ngồi chờ. Ông Bình nói: "các anh làm tôi cảm đông ưá nước mắt, thôi tôi chẳng bệnh tật gì, muốn mời các anh đi ăn", nhưng các anh từ chối, cứ chở về thẳng nhà... Tình bạn già thật thắm thiết.
Ông Bi`nh nói anh bạn tên Giầu này, thật giầu lòng nhân ái, thế mà làm  cảnh sát từ thời còn Pháp, sau là Đại Úy Cảnh Sát quốc gia. Ngày nào anh cũng ra chợ Lucky Sea Food gặp tôi ôm vai. Ngày sinh nhật anh, anh đưa cho một bài thơ đề là của người tù cải tạo 85 tuổi. Anh nói dịch ra tiếng Pháp để đưa cho các con của anh ở bên Pháp. Ông Bình giữ tờ thư đó lâu rồi, mà không dịch được. Một hôm, ông Bình gọi cho ông Giầu thì  đầu dây có người trẻ là nữ, cầm máy, ông nghĩ ngay đó là con gái anh Giầu đã từ Pháp qua chơi. Cảm thấy hơi ngưọng vì đã nhận, mà chưa làm được việc dịch, ông Bình nói với cô ga’i con bạn: "Cháu nói vài câu tiếng  Pháp chú nghe coi". Con bé bắn một tràng, ông chẳng nghe được gì, đến khi nó nói: Aurevoir Mr, để con đưa cho ba con nói chuyện với  chú".
Bà vợ anh Giầu cả ngày chỉ trồng hoa lan, hai ông bà cùng ngắm, như ngắm hạnh phúc không rườm rà của hai người. Tình già như hoa lan tươi mãi!
*
Khu chợ VN của Mira Mesa này quả thật là tụ  điểm của bọn các ông già, bà già, đi chợ được gặp nhau và bắt chuyện với nhau dễ dàng.
Hãy thử nhìn xem anh Trần Th. này lúc nào cũng trang nghiêm, cũng 78 rồi, vẫn nói chuyện chính trị cấp cao, anh Th. mời đến nhà chơi, gần tới trưa, mải nói với nhau hấp dẫn quá quên thời giờ qua mau. Bà vợ anh, người gốc áo lụa Hà Đông, vốn ý nhị, làm cơm ăn ngon tuyêt trần, bữa ăn trưa thú vị, vẫn nói không dứt lời. Hai ông bà này quấn quýt bên nhau, như đôi uyên, chẳng ở nhà con nào, vẫn dành tất cả thì giờ cho nhau, rất ít khi thấy ông đi một mình, thường có bà theo. Tình  già hạnh phúc, cũng nhiều gia đình bạn như vậy.
 Còn anh Phan B. này, chưa gặp đã thấy nụ cười, lúc nào cũng nghe tiếng anh hề hề, không vui sao được.
 Cũng ông NgTh., thì lúc nào cũng như rau muống trên cồn khô nước, vốn gốc Bùi Chu, Phát diệm, mà H.O đến nay còn thi rớt quốc tịch hoài, mời đi ăn phở thì giẫy nẩy như đỉa bôi vôi, nệ cổ, sợ trả nợ, ở Mỹ này bao lâu mà còn như thế.
Nhìn kỹ, thì Ông Bình thấy tất cả các bạn, mỗi ông một vẻ hấp dẫn khác nhau, ông gặp mỗi người trên mọi khía cạnh mà hòa đồng.
 
Có lần như hai thanh niên Hà Nội xưa, thời thanh niên nam nữ, gặp nhau nơi Hà Nội thế gia, đẹp và mơ, khoảng thập niên 40. Hôm nay, ở  nơi đây, cô nàng cũng 75, 76 rồi, cùng chàng nói theo "Bonjour Viet Nam", cho nhau địa chỉ e-mail,. gửi hoài vẫn chẳng trả lời, mấy năm nay rồi, vẫn "Bonjour Kim". Có lẽ cô nàng vẫn nhận những e-mail của mình như những bài ca gợi nhớ, hay là vẫn muốn nghe những lời khen tặng. Đi tìm hỏi tung tích nàng, thì biết hình như nàng ở Carmel Mountain, sống với con thôi.   Thế thôi rồi biệt vô tăm tích!
Còn anh này tên Kh.H, lúc nào cũng cười hay có nhiều câu châm biếm, chọc cười, thế mà lại là vừa nhạc sỹ, thi sỹ, văn sỹ, nhưng vốn nghề sinh sống xứ này lai chuyên về cơ khí, thường đến nhà bạn bè sửa chữa dùm. Khi anh ra chợ thường hay hùn tiền mua số cạo hay Mega. Đến chơi nhà anh, thấy bà vợ anh thật dịu dàng, chẳng hèn lúc nào anh cũng luôn viết những bài ca tặng vợ. Thât đúng Tình Ca. Ôi mê  ly tình ta!
Còn nhiều anh nưã không kể hết, trong thời gian gần 3 năm tới ở S.D. này. Vui ghê! Đất này cũng tập hợp nhiều thượng lưu trí thức và nhân tài. Có người mới gặp, đã e-mail mời dến nhà ăn cơm như anh Tr TTh. Đúng nghĩa tình thắm thiết lúc về  hưu.
Có rất nhiều bà cụ, bắt con chở ra ngồi xuống cái ghế dài màu cam trước chợ, để ngắm cảnh nhộn nhịp, đông đúc của người mình, để như tạo cho mình cảm giác vẫn sống động trong giòng đời, mắt các bà nhìn mọi người như muốn hỏi han điều gì. Ông Bình sẵn sàng, và có đủ thì giờ để tiếp chuyện các bà.
 
Có một bà đã nói chuyện với ông Bình một lúc lâu, về ngày xưa buôn bán làm ăn phát đạt, sang đây cững thế, nhưng Bà bây giờ trong cái cảnh là không sống với con nào lâu, kể từ khi ông chồng mất đã 7,8 năm nay. Nói chuyện được hồi lâu thì bà ngỏ ý với ông Bình chở dùm về nhà gần đó. Ông hỏi "Thế ai chở bà đến đây"". Nhìn ra thì bà cũng gần 80, ông Bình trả lời:  “Tôi chở bà về, nhưng để tôi dọn ghế trước, quá bề bộn trong xe". Đến nhà, bà mời ông Bình vào nhà chơi uống nước, ông cáo từ đi ngay về chợ, còn nhiều bạn ngồi đây chưa về hết, vẫn chưa xong câu chuyện mà!.
Thứ bẩy tuần sau ông Bình lại gặp bà đó cũng ngồi chỗ  cũ. Hai người như bạn cũ, cũng chở về và lần này có nhận lời vào nhà uống nước. Bà tự mang bình nước rót ra tách mời ông Bình rất ngọt ngào, nói vài câu về gia đình và sự thiếu cảm thông của các con trong nỗi trống vắng của người mẹ. Ông Bình nhìn thấy cặp mắt của bà có lúc trìu mến như bà muốn đến gần nắm tay ông, như thể đây là hiện thân của ông cụ đã khuất, nay trở về. Nhưng sau đó không bao giờ ông Bình gặp lại bà nữa. Có thể bà lại đi đến một địa phương khác, sống với một người con trai hay con gái nào khác, và có lẽ con đường của bà vẫn cứ tiếp diễn như thế cho đến khi bà đi theo ông. Cũng là tình cảm cuả người già. Và sót xa thế thôi! 
Có ông Cụ, mỗi tuần bắt con chở thăm mộ bà, hai lần, ngồi xuống nói chuyện hồi lâu, rồi đi quanh bà cả tiếng, các con ông có đứa không hiểu nói là: "Ông cụ bắt đầu lẩn thẩn". Sai. Vẫn xưa cũ là Nghĩa, thủy chung.
*
Nếu có người con nào mà chẳng may đọc được bài ông viết, thì hãy nên nghĩ lại cách phân phát của cải cho Cha Mẹ, mà nên phân phát tình yêu thương nhiều hơn.
Nói thế,  Ông Bình cũng tội nghiệp cho mấy đứa trẻ, thiếu gì con hiếu thảo. Nhiều đứa cũng vẫn hỏi: Ba ăn có được không, má ăn có vừa miệng không"" cũng luôn hỏi han đến tận giường nằm, cơm bưng nước rót, lo lắng đủ điều, cũng cảm động lòng Cha Mẹ lắm chứ! Thương bằng hành động mà. Tình thương con và cháu ngụt trời, chẳng kể xiết.
Ông Bình cũng nhớ thêm một trường hợp tương tự của một bà khác, mà ông đươc gặp trong cuộc họp Văn và Thơ nào đó. Ông thường có thói quen là khi ngồi xuông ghế xong thì hay chào hỏi hai bên, trái cũng như phải. Đến một lúc ngưng nhạc, Ông Bình nói với ông bạn cùng bên lời phê bình bài ca hay dở, ông kia trả lời: "hình như có nghe bài hát này trong CD Asia hay Thúy Nga gì đó", Ông Bình hỏi bạn: "Thế anh có đĩa mới nhất chưa, tôi có thể đưa anh một bản chép chuyền tay nhau, cũng chẳng phạm bản quyền ai.". Ông Bình đi ra xe lấy một CD vào đưa cho bạn..
Bất ngờ là có bà ngồi ngay trưóc mặt quay lại nói: "Nếu ông có thể cho tôi một bản,"  Ông Bình không ngờ bà đã lắng nghe câu chuyện của hai người. Nhìn kỹ thì như bà ngồi cạnh bà bạn, và hình như không có ông, lờ mờ như thế, ông Bình không quan tâm gì, nhưng khó khăn làm sao biếu bà một bản. Ông nói hay là bà cho tôi địa chỉ tôi sẽ về, chép và gửi đến.
 
Ông Bình làm đúng lời hẹn, khi nhìn mảnh giấy địa chỉ của bà có cả số phone. Gửi xong rồi quên đi, cũng như thường sao chép nhạc cho bạn. Có người cầm rồi về ném sọt rác.
Quên đi thật lâu, bỗng một hôm ông có ý định muốn biết mình gửi có bị thất lạc không. Vào một buổi khuya buồn, ông Bình bấm số thì đươc nghe giọng khá quen của bà gặp trong chiều văn nghệ đó. Sao tiếng nói rất trẻ, mà nhìn ngoài như gần 70, bà vui vẻ cám ơn, đã nhận được CD, và còn cho biết bà chỉ sống với con. Ông Bình cũng hơi khựng, nhưng hai ngưòi nói với nhau thân tình và chân thành. "Tình bạn hay tình mộng mà già", ông Bình tự hỏi.
Bẩy tám tháng qua đi,  ngày vẫn như mọi ngày, vẫn ăn ngủ, đi bộ. Nhưng có ngày ông Bình vui hơn, vì nhận được diện thoại Bà hẹn gặp ngày Dạ tiệc Văn nghệ Cao Niên cuối tháng mười.
Bỗng một hôm  bà gọi cho ông Bình cho thêm số cell phone, thế càng tốt, khỏi gọi nhau qua lời nhắn, nhận vơ, hội v ăn hóa hay nhóm Phật tử nào đó, để cùng không ngượng với con cháu. Nhưng mừng hụt, gọi cell thì nàng chẳng bao giờ trả lời, cứ b ấm message th ôi, ng ày nào cũng gọi và cứ message. Rồi một hôm nàng gọi chàng và trách: “Sao anh nói nhiều thế!” Ô! Mình đâu có nói nhều bao giờ. Chỉ là vì nhiều message quá. Thế đưa cho nhau so cell mới làm gì"
 
Ôi cuộc đời lắt léo, bấy nhiêu tuổi đầu mà vẩn ngây thơ vô số tội, dại khờ...  Xin các bà nới tay!

    Tình Già    

Screen Shot 2019-03-13 at 2.54.07 PM.png
Bài CHU TẤT TIẾN

Vừa nghe đến hai chữ “Tình Già,” chắc thế nào cũng có vị liên tưởng ngay đến bài “Tình Già” của cụ Phan Khôi đăng trên tờ Phụ Nữ Tân Văn số 122 ra ngày 10-3-1932, là bài đánh dấu sự lên ngôi của thể Thơ Mới. Thể loại thơ này đã phụ họa với phong trào cải cách chữ quốc ngữ và làm viên gạch lót đường cho các nhà thơ nổi tiếng thời Tiền Chiến như Lưu Trọng  Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Đông Hồ, Tế Hanh, Nguyễn Vỹ… Bài “Tình Già” của cụ Phan Khôi rất đơn giản, tự nhiên như nói chuyện, không cầu kỳ, sáo ngữ, nhưng làm rung động hàng triệu con tim từ những thế kỷ trước và cho đến bây giờ, đọc lại, độc giả vẫn không ngừng rung động:

Hai mươi bốn năm xưa,
Một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
“Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn đà không đặng:
Để đến nỗi tình trước phụ sau,
Chi bằng sớm liệu mà buông nhau!”

“Hay! Nói mới bạc làm sao chớ!
Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng ấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng,
Mà tính chuyên thuỷ chung!”

Hai mươi bốn năm sau,
Tình cờ đất khách gặp nhau:
Đôi cái đầu đều bạc. 
Nếu chẳng quen lung,
Đố có nhìn ra được?
Ôn chuyện cũ mà thôi. 
Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.

Điều lạ lùng mà Sáu tui muốn nói ở đây là bài thơ này được làm từ hồi nẫm, nghĩa là cách đây 87 năm, gần một thế kỷ, mà lại trùng hợp với nhiều chuyện hai người tình cũ mới gặp lại nhau trên đất Mỹ, sau hơn hai, ba thập niên xa cách nhau, người vượt biên, người ở lại. Rồi người ở lại, vì duyên cớ gì đó, mà cũng sang được đất Mỹ, gặp lại người tình cũ tại các cuộc hội họp ái hữu, cộng đồng. 
Nhưng điều đáng tiếc là cả hai người đều đã có gia đình, con cháu đùm đề. Gặp nhau mà nghẹn ngào, không biết mở đầu câu chuyện như thế nào, gọi nhau ra sao? Gọi nhau bằng “anh, em” thì không được, bởi người phối ngẫu mới đang nhìn chằm chằm, gọi nhau bằng “ông, bà” thì xa cách quá. Gọi bằng “bạn” cũng có chút nực cười. Chỉ còn biết thở dài, gán cho số phận. 
Thú thiệt, Sáu tui đã từng cảm động chứng kiến cũng như nghe kể vài cuộc gặp gỡ như thế và bùi ngùi cho tình cảm của con người. Theo Sáu tui, thì con người được tạo ra, ở trên mọi sinh vật khác là vì hai chữ “Tình Cảm.” Con người Yêu, Thương nhau theo những tần số khác nhau, có người yêu dữ dằn, chỉ muốn chiếm đoạt người mà mình yêu, có người yêu trong im lặng, nghẹn ngào, chấp nhận tình yêu một chiều, còn đa số thì yêu nhau theo kiểu “có qua, có lại mới toại lòng nhau.”

Nhưng điều đáng tiếc là trong hoàn cảnh sống xa quê hương như hiện tại, người Việt đã nhanh chóng tiếp thu nếp sống tình cảm vị kỷ của người Âu, Mỹ, mà quên đi những nét đẹp của tình yêu truyền thống người Việt xưa. Thiên hạ bỏ nhau rầm rầm, ly dị nhanh như chớp, cưới nhau trong vài tiếng đồng hồ (có khi không tới nửa tiếng ở Las Vegas), rồi quên nhau mau chóng. Sáu tui có đi dự vài đám cưới của con cháu các người bạn, thấy vui quá. Phù dâu phù rể dắt tay nhau nhảy nhót loạn xà ngầu, còn cô dâu, chú rể thì ôm nhau, hôn hít tưởng như cháy cả môi, mà rồi, vài tháng sau, hỏi lại, thì biết rằng đã bỏ nhau rồi. 
Buồn năm phút.

Chừng hai thập niên trở lại đây, lại nẩy sinh ra nhiều kiểu cưới mới: “Cưới rút cầu,” nghĩa là cưới vì cái thẻ xanh, cô dâu sau khi được thẻ xanh rồi, thì “đóng cửa, rút cầu,” cắt đứt duyên tình với người đưa mình qua Mỹ. 
Sáu tui đã biết một trường hợp người bạn bị cô vợ phụ bạc, lấy ngay thằng bạn mình, đã trở thành điên dở, lảm nhảm chửi đời suốt ngày, phải nằm nhà thương tâm thần một thời gian.

Kiểu cưới thứ hai là “cưới đô la,” hai bên thỏa thuận với nhau một số đô la, người còn ở Việt Nam thì chung tiền cho người ở Mỹ để làm hôn thú, cho qua Mỹ rồi thì anh đi đường anh, tôi đường tôi. Kiểu này bị chính phủ Mỹ phát giác, giờ đây, đang làm hồ sơ trục xuất nhiều người về nước vì “hôn thú giả,” có kẻ đi tù. Cưới kiểu này không chỉ dành riêng cho các người đẹp ở Việt Nam, mà có cả những anh chàng muốn sang Mỹ, thì rao kiếm vợ có thông hành Mỹ. Dĩ nhiên, các chàng chịu chi đẹp cho các nàng ở Mỹ đang cần tiền tiêu. 
Cũng có những cuộc hôn nhân bền bỉ được gần hai chục năm, con cái cũng bắt đầu vào đại học, thì nàng đòi chia gia tài để ra ở riêng. Ly dị kiểu này cũng không có nước mắt, vì các ông chồng cũng không đau khổ gì, vì cho rằng mình đã hưởng cái xuân xanh của người đẹp đủ rồi. Thôi thì chia tay để đi về Việt Nam kiếm cô khác, tươi mới hơn. 
Theo Sáu tui, đám cưới chán nhách là mấy cụ đã hưởng tiền già rồi, về Việt Nam cưới... cháu ngoại! Không phải cháu ngoại thiệt đâu, vì ai mà làm chuyện tồi bại vậy, chỉ là cô vợ mới chỉ ngang tuổi cháu ngoại mình. Chồng trên dưới bảy bó, vợ mới qua tuổi thành niên. Thiệt là cập kênh như đưa vợ đi trên cầu dừa miền Tây, lạng quạng là chàng rể té cái ùm xuống sông. Nếu may mắn, thì sống được mươi mười năm, không may thì chỉ vài năm là vô nhà hưu dưỡng, hút ống ny lông. Sức khỏe con người là giới hạn, nếu mấy chàng chồng già mà cứ ỷ y mình còn khỏe văm, mà xài viên thuốc họ “Vai”  kia liên tục, thì việc đứt gân máu là chuyện có thể xảy ra rất nhanh. Phước đức ông bà cũng không cứu nổi các cụ trâu già ham gặm cỏ non. 

Nói vậy cũng không phải vậy, cũng có trường hợp sống dai, sống khỏe, nhưng nhất định không hạnh phúc trọn vẹn, vì không thể cặp kè ra đường, mà không bị thiên hạ đàm tiếu. Mới đây, trong một bữa tiệc hội ngộ chiến hữu, có một cụ tóc bạc trắng xóa như tiên ông, mang theo cô vợ trẻ bốc lửa. Người đẹp đã cao lớn, khỏe mạnh mà còn mang nặng mấy ký silicon trên người, lên bục vừa hát vừa lắc như trẻ thơ, làm người ở dưới, ai cũng cười, nói nhỏ, “Cha này không biết còn đủ răng để gặm cỏ không?” và “con nhỏ kia sắp hưởng gia tài rồi! Mỗi ngày nó chỉ cần lúc lắc cái của nợ kia vài lần là cha này đi tầu suốt...” 

Thôi, chuyện đời gay cấn lắm, kệ thiên hạ đi. “Đời cua, cua máy, đời cáy, cáy đào.” Chỉ có điều là cho dù ở xa quê nhà, quên phong tục, văn hóa người Việt, nhưng cũng không nên để cho người ngoài cười chê dân Việt mình vì những cái học đòi thiên hạ. Học cái tốt thì ít, học cái xấu thì nhiều để mai mốt, thế hệ sau sẽ coi thường các bậc trưởng thượng, rồi họ sẽ biến thành người Mỹ thật, thế là tiêu tùng văn hóa Việt tộc.

    Tình Già    

Tình già
 
Nghe bà vừa sụt sùi chấm nước mắt vừa nói, bọn trẻ đứa nào đứa nấy đều quay đi giấu tiếng cười khùng khục trong cổ. Trời ơi, ông bà già ngót nghét 70 rồi mà còn sến súa tình cảm quá. “Chuyện, bà ngoài 60 mới được làm vợ mà” - có đứa ra vẻ thạo tin phán vậy.
Lạ quá. Bà đẹp như vậy, gương mặt đằm thắm, già rồi mà khối đứa con gái còn chạy mướt không kịp, sao muộn chồng? Hay tại bà đành hanh kẻ cả quá? Cứ nhìn cách bà “hành” ông thì biết. “Lấy cho em cái màu tím kia mà. Cái váy màu kem của em anh giặt riêng ra nhé, đừng vò với áo đỏ mà bị lem màu...”.
Tiếng bà vóng vót vọng xuống, bọn trẻ hình dung ra ngay bà đang giãy nảy lên với ông. Còn ông chắc hẳn vừa mỉm cười vừa ôm chậu quần áo đi giặt.
“Ôi trời, đã bảo mỗi ngày chỉ được một chén rượu thôi mà. Uống nhiều thế để thành sâu rượu chắc” - tiếng bà vừa cất lên đã thấy ông tiu nghỉu, lủi thủi cầm chiếc quạt lảng ra ngoài vườn.
Cả ngày chỉ nghe tiếng bà nói, rặt không thấy ông nói câu nào. Bà lại rất nghiêm khắc. Lũ trẻ đang tuổi lớn tuổi ăn tuổi yêu, bà thì cấm tiệt không có chuyện hẹn hò trong nhà bà.
Trai ở dãy nhà của trai, gái ở dãy nhà của gái. Không có chuyện gái một mình tiếp bạn trai trong phòng. Cũng không có chuyện trai tự dưng đưa bạn gái ở đâu về ngồi lâu lâu một chút.
 
Nhưng ông bà thì tình cảm quá đỗi. Sáng sớm ra đã thấy bà thánh thót: “Anh dậy đánh răng rửa mặt rồi xơi cháo em đã nấu”. Rồi hai ông bà dắt nhau đi chợ. Về nhà là bà phân chia việc cho ông nhặt rau hoặc đãi gạo.
Nửa buổi thấy bà nũng nịu: “Em đau tay quá, anh bóp tay giùm em nhé”. Chiều đến: “Anh cất giúp em quần áo vào nhà đi kẻo sương”. Còn đến tối nhất định dù ông đang xem tivi hay đọc báo hay ngắm trăng, thể nào cũng phải “vào kỳ lưng cho em”. Ông bà già rồi còn tắm chung. Bọn trẻ hé mắt dòm vào nhà, bấm nhau cười hí hí. 
Bà lại ghét ồn ào, cấm bọn trẻ mở nhạc to, nhất là thứ nhạc tây tàu xập xình và thứ nhạc thời thượng nghe phát ớn lỗ tai. Nhưng bà chúa nghiện món phim Hàn Quốc. Lúc nào cũng phải có ông xem cùng. Vừa xem vừa sụt sùi chấm nước mắt nước mũi.
Đến đoạn cao trào, bà còn khóc ngất. Ông bối rối chỉ biết nắm tay bà bóp nhè nhẹ. Rồi bọn con gái xem ké thấy ông cũng mũi đỏ phập phồng, vai khẽ rung rung lén quay đi nhấc kính, lau mắt. Bọn con trai nghe kể phì cười, kêu ông sến sẩm. Bọn con gái nguýt dài, tình già còn gấp ba tình trẻ làm bọn con trai xịu cả mặt lại.
 
Nhiều đứa thương ông, đâm ghét lây cả bà. Nhất là những đứa mới đến, cứ nghe tiếng bà lanh lảnh dọc hai dãy nhà “Đầu tháng rồi, các con cho bà xin tiền nhà nào” là giả vờ ngủ, gọi thế nào cũng không dậy. Nhưng chây ì đến đâu cũng chẳng thoát. Có đứa ngồi lì trong nhà vệ sinh, bà cũng cứ đứng chờ, tê chân, nóng quá đành phải nhao ra. Đêm ấy nó nằm ngửa mặt lên trời ước gì một ngày không nghe thấy tiếng bà.
Thế mà điều ước linh ứng. Một ngày, hai ngày, một tuần liền không thấy bà nũng nịu, giận hờn, trách cứ, sai bảo gì ông nữa. Lại có rất nhiều người lạ vào ra. Bà ốm nặng rồi. Ông cũng suy sụp hẳn. Đôi vai cao lớn, hiên ngang, vầng tóc bạc hào hoa kiêu hãnh ngày nào chùng cả xuống. Bà đi nhanh quá.
 
“Thế là em không giữ được lời hứa sẽ chăm sóc anh cho đến khi anh nhắm mắt xuôi tay rồi. Thôi em đi trước, hẹn kiếp sau chúng mình sẽ làm vợ chồng ngay từ lúc còn son trẻ”. Bà nói xong rồi đi. Ông òa khóc.
Đám tang bà, toàn họ hàng của ông. Ông nhờ mấy đứa trẻ mặc áo xô, chít khăn trắng đi sau quan tài cho bà khỏi tủi. Đám xong rồi nhà cửa trống tênh toang. Ông cặm cụi đi quét những vòng vôi trắng lên từng gốc cây.
Ông dặn bọn trẻ chờ vài ngày nữa cho cây bớt buồn đau rồi tha hồ ra hái quả. Ngày thường còn bà, cấm đứa nào được lai vãng. Thế mà giờ nhìn quả chín lúc lỉu trên cây, chả đứa nào buồn hái.
Quá ngày đóng tiền nhà từ lâu, không còn tiếng nhắc nhở, giục giã. Nhà trên đóng cửa im ỉm, vắng lặng đến tái tê. Ngày hai buổi ông lủi thủi cầm chiếc xô con ra mộ bà, tỉ mẩn chăm sóc đám hoa mới trồng. Ông vật vờ như cái bóng, có lúc còn tưởng ông không tồn tại nữa.
Mấy đứa trẻ rón rén lên nộp tiền nhà, gặp ông ngồi như hóa đá trước bàn thờ bà. Tấm ảnh thờ chụp bà hồi còn trẻ, đẹp mặn mà, cười rạng rỡ. “Bà xưa là con chánh tổng, xinh đẹp, giỏi giang nhất vùng, lại thông thạo chữ nghĩa, nói năng khéo léo. Tưởng được bà yêu là phúc tổ mấy chục đời cho ông. Vậy mà thời thế thay đổi, ông không được phép lấy bà. Bà qua thời xuân sắc trong đơn lẻ.
 
Mãi mấy chục năm mới gặp lại nhau. Bà vẫn mong chết sau ông để ông khỏi chôn hai đời vợ. Vậy mà...”. Những đứa con trai cứng rắn nhất cũng bất giác quay đi giấu dòng nước mắt đang lăn dài trên má.
Năm mươi ngày bà, các con ông, đều định cư ở nước ngoài, giờ về đón ông theo. Bọn trẻ nghe thì mừng cho ông. Chứ ông sống đơn chiếc lủi thủi trong căn nhà đã quá nhiều dấu ấn của bà, chịu sao nổi. Rồi chúng chợt thảng thốt, vậy mình sẽ ở đâu?
Mấy đứa rụt rè ra nhìn ông ứa nước mắt trước tấm biển ghi chữ “bán nhà”, thầm ước gì mình có nhiều tiền để mua đặng lấy chỗ cho ông có khi nào trở lại viếng mộ bà, được đứng ở sân tưởng còn được nghe bà trách cứ: “Cơm anh cắm nhiều nước vậy thành cháo rồi. Nấu cơm bao lâu vẫn chưa thạo”...
 

   Sưu tầm và tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang   
 
(ảnh minh họa)
Xem thêm...

Một người Mỹ với trái tim Việt Nam

 
Image result for Ian McKamey bang kieu   photos

 

  Mơ làm người Việt Nam  

Ian McKamey, một thanh niên gốc Mỹ, sanh trưởng ở Mỹ, đã có một thôi thúc kỳ lạ là muốn trở thành người Việt Nam. Anh đã cố gắng học hỏi ngôn ngữ và văn hóa Việt một cách đam mê, tìm thấy hạnh phúc và hãnh diện sống như một ngưòi Việt Nam.

Sau biến cố 30 tháng tư năm 1975, hàng triệu người Việt đã phải bỏ nước ra đi tìm tự do và trở thành công dân Mỹ. Cụm từ ‘ Người Mỹ Gốc Việt’ đã trở thành quen thuộc và dễ hiểu.
Sự kiện một người Mỹ mến chuộng tinh thần yêu tự do của dân Việt đến độ có thể cố gắng học tập văn hóa ngôn ngữ Việt, nói tiếng Việt lưu loát, biết về văn hóa Việt hơn một ngườì Việt trung bình và có thể viết được nhạc tình bằng tiếng Việt là một việc hiếm có. Người Mỹ hiếm có đó là Ian McKamey. 
Vào ngày 19 tháng 7, 2009, nhân dịp cộng đồng Việt Nam vinh danh Dân Biểu Hubert Vo tại Houston, Ian McKamey, còn có tên Việt là Triệu, đã làm khán giả ngạc nhiên về khả năng tiếng Việt của Anh.

Triệu kể lại là anh có một người bạn Việt Nam rất thân, đã theo cha mẹ vượt biển tìm tự do từ lúc 2 tuổi rồi định cư tại Seattle. Lúc lên đại học, người bạn này đã rủ anh về Viêt Nam để tìm lại nguồn gốc của mình.
Sau chuyến đi Việt Nam lần đầu, Triệu nhớ Việt Nam và mê phở đến độ Anh đã đi học các khóa Tiếng Việt và xin đi làm phụ bàn tại một tiệm phở để học thêm về tiếng Việt tại Seattle.
Sau đó, Triệu thấy cần phải đến Việt Nam để học hỏi thêm về văn hóa và ngôn ngữ Việt cho chính xác và đầy đủ. Từ đó, anh cố gắng đi làm để dành tiền để trở lại Việt Nam. Triệu đã đi về Việt Nam 6 lần trong những năm qua để tìm hiểu và học tiếng Việt tại Viet Nam, mỗi chuyến đi kéo dài vài tháng.
Những khóa học và những chuyến đi như vậy đã giúp cho khả năng nói tiếng Việt và kiến thức về văn hóa Việt của Triệu rất nhiều. Trong khi nhiều người Mỹ trẻ gốc Việt không còn nói tiếng Việt được nữa thì Triệu có thể nói tiếng Việt rành rõi và biết rất nhiều về Việt Nam, kể cả những vấn đề chính trị và lịch sử. Với các bạn trẻ gốc Việt tại Hoa Kỳ, Triệu khuyên họ nên cố gắng tìm lại nguồn cội của mình.


Về tình duyên, Triệu tiết lộ là anh vừa lập gia đình. Dĩ nhiên người vợ mới cưới của anh là một thiếu nữ Việt Nam. Cô mới qua định cư tại Hoa Kỳ chừng vài năm. Ước mơ hiện nay của Triệu là có dịp mang ngườì yêu về ra mắt cha mẹ nàng trong những ngày sắp tới, cho hợp với phong tục người Việt Nam. 

Image result for Ian McKamey hd photos

Hiện nay, Triệu đang sống hạnh phúc tại Seattle với người vợ mới cưới. Gần đây Triệu vừa sáng tác bài ‘Cô Gái Việt Nam Của Mình’ mà Triệu đã hát với một sự đam mê.
Xin chào đón Triệu, một người Mỹ với tâm hồn Việt Nam, yêu chuộng tự do và yêu mến Việt Nam như một người Việt từ trong tiền kiếp.

Nguyễn Phục Hưng tường trình từ Houston, Texas.

Ian McKamey - Nước mắt đàn ông


NHƯ ĐÃ DẤU YÊU 

Sáng tác: Nhạc sĩ Đức Huy

- Ian McKamey & Lâm Tuyết Trang

Tình Như Lá Bay Xa (Acoustic Version)

- Bằng Kiều Ft Ian Mckamey 

Lời Bài Hát Tình Như Lá Bay Xa sáng tác by Jimmii Nguyễn(Jimmy): 
Image result for Ian McKamey tieu su
Tình yêu mới hôm qua 
 Nay lạnh lùng băng giá 
 Ôi người yêu dấu hỡi 
 Người chiếm lấy tim ta 
 Nay phũ phàng xa vắng 
 Thôi thì cuộc tình đau 
 Chiều nay ta bơ vơ 
 Trên gác dài hoang vắng 
 Xót cho cuộc tình ta 
 Nhìn sóng vỗ miên man 
 Thương cho đời cay đắng 
 Người yêu hỡi , có biết hay chăng 
 Tình yêu ta như muôn vàng giấc mơ mỏng manh 
 Với những ước mơ cho đêm về ta còn mãi bên nhau 
 Hãy đến một lần thôi , hãy nói một lần thôi 
 Mãi mãi không bao giờ lìa xa 
 Tình yêu ta như lá vàng bay xa thật xa , cùng mây cao ta trôi về cuối chân trời xa 
 Nếu như ta mãi mãi là những chiếc lá bay hững hờ 
 Thì người ời , xin nhớ mãi tình ta 
 Nếu như ta vẫn cứ là những chiếc lá bay hững hờ 
 Thì người ời , xin nhớ mãi tình ta...

Bật mí bài hát mới cùng "Người Lạ"


     Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang    


Image result for Ian McKamey tieu su
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này