Kim Phượng

Kim Phượng

MỐI TÌNH ĐẦU XUÂN AH LOVE! AH ME!

MỐI TÌNH ĐẦU XUÂN

AH LOVE! AH ME!

Tác giả: Max Steele (1922 - 2005)
Trương Mỹ-Vân dịch

 

Lời giới thiệu: Max Steele là văn sĩ Mỹ sinh năm 1922 tại South Carolina. Ông sáng tác nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện thiếu nhi, và đoạt nhiều giải thưởng văn học. Trước đây ông là giáo sư đại học chuyên về ngành văn chương và kỹ thuật sáng tác.

Truyện "Mối Tình Đầu Xuân", dịch từ nguyên tác "Ah Love! Ah Me!", là một truyện ngắn tiêu biểu cho loại văn châm biếm trong đó biệt tài của tác giả được thể hiện qua cái nhìn nhẹ nhàng và nụ cười bao dung của người từng trải qua kinh nghiệm ê chề của thời mới lớn.

pic 3
Tuy đã sáu năm qua nhưng tôi vẫn còn nhớ như in mùa xuân năm ấy khi tôi vừa quen Sara Nell Workman. Dạo đó tôi học lớp Mười Một và thật tình mà nói, tôi thích Sara ngay từ lúc đầu. Tôi mê cô nàng đến nỗi chịu khó vào thư viện trường đọc hết các tấm thẻ trong sách để tìm những cuốn sách nào Sara đã mượn. Tôi mang hết mớ sách đó về nhà đọc kỹ từng chữ, ngay cả quyển "ThêuThùa May Vá". "Tôi mượn cho chị tôi", tôi ấp úng trả lời khi bà quản thủ thư viện nhìn tôi với ánh mắt tò mò đầy nghi hoặc. Trong cuốn này có nhiều hàng chữ bằng bút chì bên lề, và tuy không biết có phải của Sara không, nhưng với tâm trạng tôi lúc đó, tôi vẫn tưởng tượng do chính Sara viết. Vì thế tôi đọc đi đọc lại nhiều lần: "Hai khoanh chỉ màu đen, hai khoanh màu cam, một khoanh màu vàng của hoa uất kim hương. Chỉ còn mười bảy hôm nữa thôi là đến ngày Lễ Mẹ rồi."

Thế nhưng ở vào lứa tuổi mười sáu, không ai đủ kiên nhẫn đọc mãi những dòng chữ vô tình này, cho nên cuối cùng tôi quyết định mời Sara đi xem xi-nê. Hôm đó tôi tìm mãi không thấy Sara đi một mình, và vào lứa tuổi tôi không ai dám ngang nhiên mời một cô bạn gái đi chơi ngay trước mặt bạn bè cùng lớp.

Vậy là tối hôm đó tôi quyết định gọi nàng sau khi cẩn thận ghi số điện thoại trên mẫu giấy con bên cạnh hàng chữ "Tối thứ sáu này có phim Jezebel, Sara có thích đi xem với tôi không?" Sự việc đơn giản chỉ có thế nhưng khi nghe chuông điện thoại reo đầu dây, bỗng dưng tôi đâm ra hồi hộp và vò nát mảnh giấy con trong tay. Vừa định gác máy bỗng tôi nghe giọng nói trong trẻo:

- A-lô

Tôi bối rối trả lời:

- À... à... cho tôi nói chuyện với Sara Workman.

- Tôi là Sara đây.

- Ồ Sara! Tôi là Dave...

- Vâng.

Bỗng dưng tôi hỏi nàng:

- Sara có biết bài tập Sử ký ngày mai không?

- Chờ tí nhé!

Rồi Sara trở lại cho tôi số trang bài tập ngày mai. Tôi cám ơn nàng, cúp máy và trở về phòng ngồi rầu rĩ một mình.

Mãi một giờ sau tôi đột ngột quyết định gọi Sara lần nữa. Thế là tôi đứng phắt dậy, nhưng vừa ra đến cửa, tôi vụt quay trở vào trước gương ngắm nghía, chải lại mái tóc trước khi chạy ra khỏi phòng. Lần này khi Sara trả lời, tôi hỏi ngay:

- Sara có thích đi xi-nê với tôi tối thứ sáu này không? Dave đây!

Giọng Sara điềm tĩnh tuy hơi có vẻ hững hờ:

- Tôi không biết. Phim gì vậy?

- Tôi cũng không biết nữa. Hay là đi chơi lang bang tà tà dưới phố?

- Hả? Nói cái gì?

Nàng hỏi hơi lớn giọng khiến tôi đâm ra bối rối:

- Tôi không biết ở rạp chiếu phim gì. Hình như "Lucy Bell" thì phải.

Thật tình lúc đó tôi không còn nhớ gì nữa nhưng giọng Sara đầy hớn hở:

- A! Đúng rồi. Phim "Jezebel" với Bette Davis đóng. Ồ, tôi thích xem phim này lắm.

- Được rồi. Thôi chào nhé.

Suốt ngày hôm sau ở trường tôi tránh không dám gặp Sara một mình, thế nhưng lúc tôi đang sắp hàng ở phòng ăn trưa, Sara nhoài người qua trước hai cô bạn và hỏi tôi:

- Có phải tối hôm qua anh gọi không?

- Ừ.

Tôi đáp gọn. Sara mỉm cười và bỗng dưng lúc đó tôi cứ sợ nàng sẽ cười lớn trước mặt mọi người, nhưng may quá Sara lại quay sang tiếp tục nói chuyên với hai cô bạn.

Tối thứ sáu, tôi đến nhà Sara đón nàng lúc tám giờ tối. Lúc chúng tôi vừa ra khỏi nhà, cha nàng, một người đàn ông lực lưỡng, mày râu rậm rạp y hệt các lãnh tụ nghiệp đoàn lao động với nét mặt khó đăm đăm, vội hỏi:

- Ai lái xe?

- Dạ cháu lái.

- Có bằng lái không?

- Thưa bác có ạ.

Ông ta còn hét theo khi Sara và tôi vừa bước xuống cuối bực thềm:

- Nhớ đưa Sara về trước mười một giờ nghe không?

- Vâng.

- Mười một giờ, nhớ không Sara?

Ông hét lớn khiến Sara thẹn ra mặt, nàng ngoái cổ lại hét theo:

- Vâng.

Lúc đến rạp, chúng tôi phải sắp hàng chờ và cuối cùng khi vào bên trong thì đã gần hết chỗ nên tôi và Sara phải ngồi hàng thứ ba. Vì quá gần màn ảnh và phải ngẩng đầu lên nên cổ tôi bắt đầu đau khi vừa xong phim thời sự. Sara trái lại vẫn thản nhiên nghểnh cổ chăm chú xem.

Khi phim gần chấm dứt, bỗng Sara thấy tôi nhìn trộm nàng, vội hỏi:

- Có chuyện gì thế?

- Tôi nhức đầu quá vì ngồi sát màn ảnh.

- Suỵt ...

Nàng ra dấu cho tôi im vì phim đang đến hồi hấp dẫn. Trên màn ảnh, Bette Davis đang hy sinh tính mạng mình để tận tình chăm sóc cho người yêu của mình đang trải qua cơn bệnh ngặt nghèo vì sốt xuất huyết.

Lúc ra khỏi rạp, Sara đâm ra im lặng khi chúng tôi đi trên đường phố. Tôi hỏi nàng:

- Sara có nghĩ rằng Bette Davis nên chăm sóc người yêu của cô ta không? Cô dám lây bệnh sốt xuất huyết lắm!

Sara thản nhiên đáp:

- Vấn đề ở đây không phải là cô ta nên hay không nên chăm sóc người yêu vì khi đã yêu rồi, không ai có thể chia rẽ họ được.

Tôi chỉ biết đáp lại:

- Trời đất!

Trước mắt tôi, ánh đèn nê-ông nhiều màu của các bảng quảng cáo nhấp nháy như chỉ chực nổ tung lên.

Khi chúng tôi bước vào tiệm thuốc "Shaeffer's" thì đồng hồ chỉ đúng mười giờ mười lăm nên Sara tỏ ý lo ngại muốn về. Nàng bảo tôi:

- Chỉ uống tí gì thôi chứ không có thì giờ ăn đâu.

Rồi nàng kêu một ly sữa sô-cô-la. Thật ra tôi cũng muốn gọi cho mình một ly nhưng đổi ý định. Tôi muốn làm ra vẻ sành sõi, đầy kinh nghiệm nên gọi anh hầu bàn và hỏi có thuốc gì trị cơn bệnh nhức đầu của tôi lúc đó không. Thật tình tôi không nhớ đã nói "Ammonia và Coke", và anh ta đáp:

- Có nhiều thứ như Aspirin, muối Epsom, Litho-bromide. Tùy ý anh.

Tôi trả lời, vừa cố làm ra vẻ mệt mỏi:

- Mang cho tôi Litho-bromide và một ly Coke.

Sara hỏi khẽ:

- Còn đau không?

Tôi nhìn nàng, mỉm cười không đáp.

Đúng lúc đó, John Bowerman và hai người bạn cùng học lớp Mười Hai bước vào tiệm và ngồi xuống bên cạnh bàn chúng tôi. Chẳng mấy chốc quán nước trong tiệm thuốc đầy khách hàng vừa từ rạp hát ra.

Anh hầu bàn trở lại với khay thức uống. Ly Coke của tôi nằm cạnh chiếc ly trống với hai viên Litho-bromide ở trong và kế đó là một ly nước lạnh lớn.

Thật tình tôi chưa bao giờ uống thứ thuốc này và không hề biết rằng phải bỏ hai viên thuốc vào ly nước lạnh, chờ cho chúng sủi bọt trước khi uống. Vì thế tôi thản nhiên bỏ hai viên thuốc vào miệng nuốt chửng tựa hồ người ta uống Aspirin. Xong tôi uống thêm nửa ly Coke trong lúc Sara nhấp thử ly sữa sô-cô-la của nàng.

Ngay lúc đó, bụng tôi bỗng dưng nổi lên tiếng kêu ọc ạch càng lúc càng lớn dần. Tôi uống hết nửa ly Coke còn lại và làm vẻ thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra. Sara đặt ly sữa xuống bàn và trừng mắt nhìn tôi đầy sợ hãi. Càng lúc thứ tiếng động quái gỡ trong bao tử tôi càng kêu lớn khiến tôi có cảm tưởng như cả một thùng nước lèo to tướng đang sôi sùng sục trong bụng tôi. Tôi mạnh dạn đáp liều:

- Bao giờ tôi uống thuốc này cũng như vậy cả.

Thế nhưng bụng tôi sôi to quá cỡ khiến mọi người ngồi ở các bàn chung quanh đều phải quay sang nhìn trừng trừng vào tôi. Sara khẽ bảo:

- Mọi người đang nhìn anh kìa.

Và mặt nàng lúc này đỏ bừng như sắp khóc. John Bowerman bỗng dưng đứng dậy tiến về phía chúng tôi:

- Tiếng gì kỳ quá, nghe như có ai đun nước sôi!

Anh chàng hầu bàn nãy giờ bận bịu với đám khách hàng đông đảo cũng dừng lại nói chen vào:

- Trông kìa! Bụng anh này kêu vang như sấm. Anh ta đang sủi bọt đấy!

Hắn ta hét lớn khiến mọi người trong tiệm càng chú ý đến tôi hơn. Lúc đó tôi chỉ muốn bảo khẽ với Sara, nhờ nàng đưa tôi ra khỏi tiệm ngay, nhưng tôi vừa mở miệng gọi "Sara" thì bụng tôi càng kêu lên ầm ỹ khiến tôi không thể nào nói thêm gì nữa.

Sara quay sang kể sự tình cho John Bowerman nghe nên John hét lớn:

- Bác sĩ Shaeffer ơi!

Bác sĩ Shaeffer nhảy thoắt qua quầy thuốc và ra lệnh cho mọi người đang tụ tập quanh tôi giãn ra xa. Ai nấy vừa lùi bước vừa e ngại nhìn tôi như nhìn một quả bom sắp nổ. Bác sĩ Shaeffer trấn an họ:

- Không có gì đáng sợ cả. Nào, giúp tôi một tay khiêng anh này. Nhớ chúc đầu anh ta xuống thấp hơn bụng.

- Anh ấy bảo bao giờ uống thuốc này cũng bị như vậy cả.

Sara vội nói tiếp nhưng bác sĩ Shaeffer đã ngắt lời nàng:

- Thật tình tôi thấy khó tin lắm.

Lúc này John Bowerman và hai người bạn cùng lớp với anh ta đã khiêng tôi đến đặt nằm dài trên quầy thuốc. Họ để đầu tôi chúc ngược xuống nên miệng tôi há rộng. Giá lúc đó có đám đánh lộn cũng không thu hút được nhiều kẻ hiếu kỳ như cảnh tôi nằm sóng soài, mồm há hốc trên quầy thuốc như lúc này. Bác sĩ Shaeffer mang chiếc khăn ướt ra và bảo Sara đứng bên cạnh, đắp khăn lên trán tôi. Tôi hỏi nàng:

- Sara không bỏ tôi chứ?

Có lẽ với mọi người chung quanh, giọng tôi lúc đó đầy vẻ lâm ly, nhưng Sara như sực tỉnh:

- Trời đất ơi! Mấy giờ rồi?

John Bowerman đáp:

- Mười một giờ kém mười.

Sara ném chiếc khăn ướt lên mặt tôi và bảo:

- Tôi phải về nhà trước mười một giờ!

John chụp ngay lấy cơ hội:

- Để tôi đưa cô về.

Tôi nhấc chiếc khăn lên chỉ vừa vặn thấy John đưa Sara ra cửa và nàng không hề ngoảnh mặt lại nhìn tôi một lần. Bốn năm người đứng quanh tôi cũng tản mát trở về bàn của họ, chỉ còn mình tôi nằm yên lặng trên quầy thuốc, nhìn thẳng lên ánh đèn nê-ông chói sáng trên trần và lắng nghe tiếng ồn ào càng lúc càng thưa dần trong tiệm nước. Khách hàng từng cặp theo nhau ra về và tiếng người hầu bàn thu dọn bát dĩa cũng càng lúc càng im vắng. Tôi nhìn anh ta cầm từng chiếc ghế đặt ngược trên bàn trước khi lau chùi sàn nhà và cảm thấy tủi thân cho tôi, tội nghiệp cho anh ta và cho cả thế giới đáng thương này. 


Trương Mỹ-Vân
dịch từ "Ah Love! Ah Me!"

Kim Kỳ sưu tầm

Pic 1

NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN… KIẾP CON CHÓ!!

NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN… KIẾP CON CHÓ!!

*******

TUẤT là chi thứ 11 trong 12 địa chi của tử vi Đông Phương. Tượng hình của tuổi TUẤT là con CHÓ.
 
Về mặt động vật học, chó là con vật thuộc loài ăn thịt, bốn chân và có vú. Chó là động vật nuôi trong nhà, tên khoa học là ‘Canis familiaris” và Canis lupus. Loài chó có rất nhiều giống, thường được loài người nuôi để giữ nhà, chăn cừu, đi săn thú và nhiều nhiệm vụ khác, đặc biệt với một số người, chó được xem như là một người bạn thân thiết… Bản tính của chó là trung thành với chủ, tận tụy với nhiệm vụ.
 
Thế nhưng, vị thế trên vòng Hoàng Đạo của Chó lại không giúp được gì cho con chó bình thường ở Á Đông cả. Chó tại Á Đông như Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam thường có một cuộc đời khá khốn khổ, nhiều khi vô cùng bất hạnh nếu rơi vào phận chó hoang vì lạc chủ, hoặc chủ gặp tai họa tử vong. Tuy nhiên, dù hoàn cảnh nhà chủ gặp khó khăn, khánh kiệt đói khổ đến đâu, chó không bao giờ rời bỏ chủ.
CHỮ TUẤT
Trước khi nói chuyện Chó và Người nhân năm Tuất, tưởng cũng nên biết là chữ TUẤT trong vòng hoàng đạo của Tử Vi, không có nghĩa là Chó. Trong từ điển Hán-Việt, chữ Tuất không liên quan gì tới chữ Khuyển, chữ Cẩu có nghĩa là chó và chữ “lang” là chó rừng.
CHỮ TUẤT: trong Hán văn có nhiếu nghĩa:
1/- Tuất (đọc là “tốt”): đầy tớ, người để sai bảo (tẩu tuất).
2/- Quân linh như “Binh tốt”.
3/- Tuất (động từ): kết thúc, xong, trọn, như “tuất sự” xong việc. Tuất còn có nghĩa là chết danh cho người có danh chức.. Quan đại phu chết gọi là tuất, dùng chữ “tử”.
Trong Từ Điển phổ thông chữ Hán, TUẤT gồm các nghĩa sau đây:
1/- Thương xót, vỗ về, an ủi như “liên cô tuất quả” thương xót cô nhi, an ủi quả phụ.
2/- Giúp đỡ, trợ cấp, cứu tế. Tưởng thưởng cho những người hy sinh vì nước gọi là “tử tuất” hay “tuất điển”. (Dưới thời VNCH, cô nhi quả phụ của các chiến sĩ hy sinh tại trận mạc được lãnh tiền TỬ TUẤT hàng tháng hoặc hàng quý do chinh phủ cấp)
CHỮ CHÓ
Trong Hán Văn có hai chữ có nghĩa là Chó, đó là:
1/ KHUYỂN  犬 – bộ Khuyển (犭), chỉ chung loài chó và đặc biệt chỉ chó săn, chó chăn cừu, chó trong quân đội.
Nghĩa bóng: ý nói vị thế thấp hèn. Kẻ dưới đối với người trên có quyền thế, tự nhận mình chỉ là thân “khuyển mã” tức là chó, ngựa.
2/ CẨU: con chó nuôi trong nhà. Trong văn chương Trung Hoa, “cẩu” chỉ con chó chưa trưởng thành.
Những từ ngữ có chữ CẨU trong Hán Việt:
1.- bạch vân thương cẩu: Mây trắng biến thành chó xanh. Ý nói việc đời biến hóa vô thường. Do hai câu thơ của Đỗ Phủ: Thiên thượng phù vân như bạch y, Tư tu cải biến như thương cẩu (Khả thán ) Trên trời mây nổi như áo trắng, Khoảnh khắc biến thành như chó xanh.
2.- cẩu đạo: Ngụy trang thành chó để đi ăn trộm, về sau “cẩu đạo” chỉ kẻ trộm cắp. Sách “Ấu học quỳnh lâm” có câu: Cường kiêm tính giả viết kình thôn, vi tiểu tặc giả viết cẩu đạo (Điểu thú loại ).
3.- cẩu đồ: Người làm nghề giết chó làm thịt. Sau dùng để chỉ người làm nghề thấp kém… (Đồ tể: là nghề giết súc vật – trâu, bò, dê, lợn…- để lấy thịt, thường bị xã hội Trung Hoa và Việt Nam khinh rẻ.)
4.- cẩu hùng: Gấu chó. Còn gọi là hắc hùng; nghĩa bóng chỉ người hèn yếu bất tài.
5.- cẩu mã: Chó và ngựa. Chỉ chung những thú nuôi để vui chơi. Tiếng khiêm tốn của bề tôi xưng với vua ở Trung Hoa xưa, tự nhận mình như chó, ngựa có bổn phận phục dịch cho chủ.
6.- cẩu mã chi tâm: chỉ lòng trung thành tận cùng của bề tôi đối với vua, như chó ngựa báo đáp chủ nhân.
7.- cẩu tặc: Giặc Chó – từ ngữ dùng để nhục mạ người khác là bất trung bất nghĩa. (Cẩu tặc không phải là “kẻ bắt trộm chó” – như báo chí cộng sản Việt Nam hiểu – mà là “giặc chó” như “thiên tặc” là giặc trời, “Tào tặc” là giặc họ Tào (Tháo), “thảo tặc” là giặc cỏ..
8.- cẩu trệ: Chó và lợn, ám chỉ người có hành vi xấu xa bỉ ổi như chó và lợn.
9.- cẩu vĩ tục điêu: lấy đuôi chó nối đuôi điêu. Điêu là động vật thuộc loài chuột rừng xứ lạnh, có bộ lông dài mầu vàng hoặc tía, đuôi to, người ta săn bắt để lấy da choàng cho ấm. Vào đời nhà Hán, các quan hầu cận vua như thị trung, trung thường thị đều đội mũ có gắn đuôi điêu làm ngù. Đến đời Tấn, sau khi cướp được ngôi của Huệ Đế, bè đảng của Triệu Vương Luân đều tự phong khanh tướng, quân hầu và tôi tớ phục dịch cũng được phong quan tước. Phong quá lạm, đuôi điêu không đủ đề gắn lên mũ, nên lấy đuôi chó thay vào. Thành ngữ “cẩu vĩ tục điêu” dùng để chế giễu việc phong tước quá lạm, nên “Điêu bất túc, cẩu vĩ tục”.
Nghĩa bóng: lấy cái kém phẩm chất nối theo cái tốt, trước sau không tương xứng. Thành ngữ này thường dùng trong phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong Kiều có câu “Hay hèn thiếp cũng nối điêu” (câu 1317) Lời khiêm tốn của Thúy Kiều khi họa thơ của Thúc Sinh.
10.- cẩu vĩ thảo: cỏ đuôi chó (latin: Setaria viridis).
11.- chỉ kê mạ cẩu: Trỏ gà mắng chó. Nghĩa bóng: Chửi xéo, chửi bóng gió.
12.- sô cẩu: Ngày xưa lấy rơm cỏ tết thành hình chó dùng khi cúng tế, tế xong thì đem vứt đi. Sau dùng chỉ sự vật tầm thường vô dụng. Đạo Đức Kinh, Lão tử viết “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu” (Chương 5) Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm.
 
Trong ngôn ngữ Việt Nam, Chó còn được gọi là “muông”:
“Muông nghe nói, giận đau phế phổi,
Liền chạy ra sủa mắng vang tai:
“Trời đã sinh các hữu kỳ tài,
Lớn việc nặng, bé thì việc nhẹ…
 (Lục Súc Tranh Công).
Sách “Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa” ghi:
“Hoan Lang sức khỏe muông lang
Già tám mươi tuổi mình càng sống lâu.”
“Muông lang” được chú thích là “chó rừng” (thiên Mao Trùng Đệ Tam Thập Nhị).
Trong Từ điển Hán-Việt của Đào Duy Anh, chữ “Điểu thú” dịch là “chim và muông” (oiseaux et quatrupèdes = Chim và loài bốn chân). (sđd, trg. 280) như vậy “muông” chỉ chung loài vật có bốn chân chứ không riêng con chó.
Chó còn được gọi là “Cầy”. Có người cho rằng khi chó bị làm thịt để ăn thì gọi là “thịt cầy” (?!).
Về thắc mắc tại sao gọi thịt chó là “thịt cầy” chưa có một giải đáp nào thỏa đáng về nguyên ngữ, chữ “CẦY” chỉ thị “CHÓ” từ đâu ra?
Có người cho rằng “thịt cầy” là thịt của một giống chồn hương, ngon, nhiều chất bổ dưỡng cho sức khỏe của con người. Mật chồn hương có công năng chữa bệnh thai phụ, da và lông giống chồn này dùng vào việc chống lạnh (khăn choàng cổ, áo ấm), tuyến xạ (mùi hương) chồn dùng trong kỹ nghệ nước hoa.
Giống chồn này rất hiếm, do đó, người Việt ở miền Bắc dùng thịt chó để thế cho thịt cầy vì thịt chó cũng có những công năng dinh dưỡng và vị ngon tương tự thịt cầy.
Một số người khác cho rằng, gọi đích danh “thịt chó” nó có vẻ không mấy thoải mái, đẹp đẽ, vì mặc cảm “ăn thịt con vật thân cận và trung thành với con người”, ngoài ra còn bị ám ảnh bởi hình ảnh con chó ăn “cứt người” và những thứ cặn bã thối tha… mà đem xẻ thịt ăn (lại) thì có cái gì đó tởm lợm… nên phải gán cho nó cái tên “thịt cầy”!?
Những người khoái món thịt chó còn gọi là thịt “mộc tồn” để tránh gọi đích danh thịt chó. Chữ “mộc tồn” dịch ra Việt là “cây còn”, nói lái lại thành “con cầy”.
CHÓ TRONG CUỘC SỐNG LOÀI NGƯỜI VÀ VĂN HÓA
Theo “A Dictionary of CHINESE SYMBOLS” của Wolfram Erberhard:
Vai trò biểu tượng của Chó tại miền Bắc Trung Hoa rất khác với biểu tượng của chó tại miền Nam quốc gia này.
Theo tập tục, tại Bắc Trung Hoa, chó làm bằng giấy thường bị ném xuống nước trong ngày mồng Năm, tháng Năm âm lịch – một ngày lễ hội – để chúng có thể cắn quỷ – ma và xua đuổi chúng đi. Người chết cũng được cúng cho những con chó giấy để làm kẻ bảo vệ.
Những người bị điên loạn, cuồng trí, tâm thần hoảng hốt… cũng thường được tắm rửa bằng chất dơ uế của chó (thường là máu đuôi chó) nhằm mục đích trừ khử quỷ ma đang nhập vào những người đó, làm họ khốn khổ và có những hành động khác thường. Nếu nhận  thấy một người nào đó mà nghi là bị ma nhập, thì chỉ cần vẩy máu chó vào là người đó sẽ hiện nguyên hình, binh thường trở lại. Do đó, người ta tin rằng máu chó có tác dụng trừ “tà”.
Phong tục Trung Hoa xem chó là tượng trưng cho phương Tây, vì lý do này mà thịt chó đã được dùng làm thực phẩm (cho đến nay vẫn còn). Người ta được phép ăn thịt chó vào mùa Thu và mùa Đông, nhưng mùa Hạ thì không được ăn.
Tại Đài Loan, theo tập tục, chó chết phải vứt xác xuống nước (sông, hồ) còn mèo chết thì treo lên cây. Cả hai con vật này đều không được chôn xuống đất, bởi vì họ tin rằng nếu chôn xuống đất chúng sẽ biến hóa thành quỷ.
Họ cho rằng nếu bạn nằm mộng thấy bị chó cắn, có nghĩa là tổ tiên bạn muốn có cái gì để ăn.
Nếu một con chó chạy đến với bạn, đó là một điềm tốt: tài lộc, giầu có sẽ đến với bạn. Người Việt xưa cũng tin rằng “mèo đến nhà thì khó, chó tới nhà thì sang”.
Trong thần thoại Trung Hoa, chó được xem như là bạn đồng hành của Thần Nhị Lang (Er-lang Shen) một vị thần có quyền phép thanh tẩy thế giới bằng cách loại trừ hết các loại quỷ ma.
 
Nhị Lang Thần còn có tên là Quán Khẩu Nhị Lang hoặc Nhị Lang Chân Quân, tên thật là Dương Tiễn. Là con trai thứ hai của Dương Thiên Hựu và Dao Cơ tiên tử (em gái của Ngọc Hoàng). Anh cả là Dương Giao, em gái là Dương Thiền (hay còn gọi là Dương Liên tức Tam thánh mẫu). Sư phụ là Ngọc Đỉnh chân nhân, vợ là Tây Hải tam công chúa (sau này hai người ly hôn), người trong mộng Hằng Nga. Trong Phong thần diễn nghĩa của Hứa Trọng Lâm, Dương Tiễn lập nhiều đại công giúp Khương Tử Nha, sau được phong thần. Công trạng lớn nhất mà Dương Tiễn giúp Khương Tử Nha là dùng kế bắt “Ma gia tứ tướng” và giết chết Hoa Hồ Điêu.
Tại miền Nam và miền Tây Trung Hoa, chó có một địa vị rất khác xa, đặc biệt là đối với các sắc dân thiểu số ở đây.
Trong truyền thuyết dân gian, chính chó đã đem lại lúa gạo cho loài người. Tại vùng viễn Tây, tới tận biên giới Tây Tạng (Tibet) lúa gạo trong truyền thuyết này được thay thế bằng hạt kê.
Tại tỉnh Quảng Đông, câu chuyện về con chó trung thành thường rất phổ biến. Đây là chuyện một người đàn ông được kể là đã sống vào thế kỷ thứ 3. Một hôm, trong một chuyến đi, ông ta nằm xuống trên một cánh đồng cỏ và ngủ quên; cánh đồng bị cháy và con chó không biết làm sao để thức người chủ dậy. Vì vậy nó phải chạy đến con sông lấy nước về để làm cho cỏ chung quanh chỗ chủ nằm bị ướt để không bắt lửa. Người chủ đã được cứu sống, nhưng con chó đã chết vì bị kiệt sức. Trên ngôi mộ con chó họ đã khắc dòng chữ “Mộ của một con chó trung thành”. Một câu chuyện khác kể về một con chó đã giữ gìn của cải của chủ cho đến chết.
Đối với dân tộc Dao (Yao) một bộ lạc ở Nam Trung Hoa, chó được tôn kính như là tổ tiên của sắc tộc này. Nguyên lai của ý tưởng này nằm trong một truyền thuyết kể rằng một vị hoàng đế Trung Hoa, sau một thời gian dài chinh chiến nhưng không hạ được kẻ thù, cuối cùng đã hứa rằng bất cứ ai đem về cho hoàng đế cái đầu của thủ lãnh quân phản loạn thì sẽ được cưới công chúa làm vợ. Ngay sau đó, một con chó xuất hiện mang theo cái đầu của tên thủ lãnh bị giết chết. Dù trái với mong muốn, nhưng hoàng đế phải giữ lời hứa. Và con chó đã đưa công chúa vào núi và kết hôn với nhau. Dân tộc Dao là kết quả của cuộc hôn phối nầy. Do đó, cho tới ngày nay người Dao vẫn đội mũ có hình đầu chó và dĩ nhiên là họ không ăn thịt chó.
Cũng tại Trung Hoa, dân tộc Miao ở Quý Châu không ăn thịt chó, vì người Miao xem CHÓ là loài vật linh thiêng do trời gửi xuống hạ giới để giúp họ có mùa màng bội thu.
Theo truyền thuyết, khi những người Miao đầu tiên đi khai hoang lập ấp, họ đã bị lạc giữa rừng, không có nước uống, một con chó đã dẫn họ tới nguồn nước thiêng. Nhờ thế mà cả bộ tộc không chết khát. Từ đó, hàng năm người Miao đều tổ chức lễ hội Kiệu Chó taigoujie như để cảm tạ thần linh và cầu nguyện cho mùa màng năm sau. (hình của Ecns.cn).
Related image
Những câu chuyện về nhân-khuyển có thân hình người với đầu chó được truyền tụng rộng rãi ở Bắc Á Châu. Một số người Trung Hoa nói rằng họ đã nhìn thấy nhân-khuyển trên một hòn đảo ở phía Đông Triều Tiên.
Tại Trung Hoa, có truyền thuyết “Thạch Sư” tức Sư Tử đá, trong đó, “Bắc Kinh cẩu” hoặc 北京犬 “Bắc Kinh khuyển”, còn được gọi bằng tên một số tên gọi khác là (獅子狗 “sư tử cẩu”), phúc cẩu (福狗) là những Chó Thần thiêng liêng, có khả năng xua đuổi tà ma cho gia chủ, chúng được thờ cúng. Chỉ có Hoàng Gia Trung Hoa mới có quyền nuôi Chó Bắc Kinh. Đây là Chó Thần, kẻ nào ăn trộm một con Chó này sẽ bị xử tử. Những người dân thường (lê dân – không thuộc giai cấp quý tộc) phải cúi chào khi gặp Chó Bắc Kinh. Khi vị hoàng đế băng hà, Chó Bắc Kinh của ông ta được được tuẫn tang (chôn theo) để có thể tháp tùng bảo vệ Hoàng Đế ở thế giới bên kia.
“Chó Bắc Kinh” là một giống chó nhỏ, thân hình cân đối, khỏe mạnh, chiều dài hơi nhỉnh hơn chiều cao. Đầu lớn so với phần còn lại của cơ thể, lông rậm và dầy đến nỗi khi chúng xuất hiện trông vuông vắn như một hình chữ nhật vậy. Cổ và chân ngắn, đuôi chổng cao, hơi cong và cuộn qua lưng. Từ 2-4 tháng tuổi, giống này nặng khoảng 1 đến 6 kg và cao từ 13–23 cm. Khi trưởng thành, chúng nặng trên 3 hoặc 5 kg phụ thuộc cả vào lúc nhỏ, nhưng chiều cao không tăng đáng kể. Tuổi thọ từ 10 đến 15 năm. (theo Wikipedia).
https://i2.wp.com/4.bp.blogspot.com/-BcJa2LVN51o/UOQwhzcBWpI/AAAAAAAAOXw/goU_e399AeM/s1600/1279195619_100658907_1-Pictures-of--Pekingese-for-Stud-Service-1279195619.jpg
Chó Bắc Kinh
Một điều lạ lùng là trong các bản văn của Trung Hoa, tên đặt cho chó rất ít được nhắc đến. Họa hoằn mới nghe được tên “chó vàng” thế thôi.
Ngày nay, các tên ngoại quốc thường được dùng để đặt chó nuôi trong nhà. Chó không bao giờ được đặt những cái tên có thể giống với tên người.
Trong ngôn ngữ Trung Hoa “Hắc cẩu” (chó mực) nghĩa bóng chỉ một người đàn ông chạy theo mọi người phụ nữ mà ông ta gặp. (Theo A Dictionary of Chinese Symbols – Wolfram Eberhard – trang 80-82).
Sách LỤC SÚC TRANH CÔNG của tác giả Việt Nam, đã viết về Chó như sau:
TRÂU nêu ra các tật xấu của CHÓ:
Như loài muông, vô tướng, vô tài,
Nuôi giống ấy làm chi cho nhọc ?
Ăn cho lớn, dưỡng vai, dưỡng vóc,
Giỡn với nhau vạch cửa, vạch sân,
Một ngày ba bữa chực ăn,
Thấy đến việc lén mình lét lét.
Chưa rét đã phô rằng rét,
Xo ro đuôi quít vào trôn,
Vấy bếp người, tro trấu chẳng còn,
Ba ông táo lộn đầu, lộn óc,
Chưa sốt đà nằm dài thở dốc.
Le lưỡi ra phỏng ước dư gang.
Lại thấy người lơ đĩnh lơ hoang
Tài ăn vụng thôi thì hơn chúng…
CHÓ tự biện hộ bằng cách kể công lao và vai trò của mình trong cuộc sống con người.
Muông nghe nói, giận đau phế phổi,
Liền chạy ra sủa mắng vang tai:
“Trời đã sinh các hữu kỳ tài,
Lớn việc nặng, bé thì việc nhẹ.
Bởi vì đó lớn vai, lớn vế,
Thì chuyên lo nông bổn cày bừa,
Vốn như đây ốm yếu chân tay,
Cũng hết sức gia trung xem xét.
Trách sao khéo thổi lông tìm vết ?
Giận thày lay vạch lá tìm sâu.
Ai ai đều phận thủ như nhau;
Khắn khắn cũng một lòng phò chủ.
Kẻ đầu kia, người việc nọ,
Đứa coi ngoài có đứa giữ trong.
Đêm năm canh con mắt như chong:
Đứa đạo tặc nép oai khủng động.
Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống,
Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.
Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,
Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.
Bao quản chui gai, lước góc,
Chi này múa mỏ, lòn hang.
Anh trâu sao chẳng biết thương,
Nỡ lại tra lời sanh nạnh.
Ăn thì cơm thừa, canh cặn,
Ăn thì môn sượng, khoai sùng
Tới bữa ăn chẳng luận ít nhiều,
Có cũng rằng, không cũng chớ.
Trâu rằng: trâu ăn rơm với cỏ
Mà còn có một thằng chăn,
Tốn áo quần cùng tốn cơm ăn,
Nỗi lại tới gạo tiền đằng khác;
Tính chắt lót một năm hai đạc,
Về thằng chăn đã hết một trâu.
Cũng mạnh cày, mạnh kéo nên giàu,
Hãy cho nhẹm mình trâu là quí.
Vốn như đây gia tài ủy ký,
Mà chủ không tốn kém đồng nào.
Nếu không muông coi trước giữ sau,
Thì của ấy về tay kẻ trộm.
Trâu biết nói, trâu không biết xét,
Suy mình muông công nghiệp đã dày,
Khi sống thì giữ gìn của đời,
Khi thác xuống giữ cầu âm giái,
Người có phước, muông đưa ra khỏi,
Ai vô nhân, qua chẳng đặng đâu !
Chủ có lòng suy trước,xét sau,
Khi lâm tử gạo tiền tống táng.
Chủ đã có công dày ngãi rộng,
Muông dễ không tiếp rước đãi đưa,
Thấy anh trâu chưa biết căn do,
Nó (Nói?) vài chuyện, kẻo chê muông dại”.
Theo Lục Súc Tranh Công, trong sinh hoạt của người Chó đã có một vai trò khá quan trọng. Đó là:
gia trung xem xét: coi sóc việc trong nhà
một lòng phò chủ: trung thành giúp chủ
đêm ngày canh giữ nhà cửa khiến bọn trộm cắp khiếp sợ oai
ngoài ra còn săn chồn, đuổi sóc để kiếm thêm thịt trong các dịp kỵ giỗ.
Khi sống chó giữ gìn của đời
Khi chết xuống giữ cầu âm giái *
Có thể nói Chó có một vai trò quan trọng đối với đời sống của con người khi còn sống và sau khi chết. Theo truyền thuyết, hồn người chết sẽ phải đi qua một cây cầu để đến thế giới cõi âm (thường gọi là “Âm Phủ”) tại đó có chó canh giữ và có nhiệm vụ đưa đường cho những người khi sống không làm điều gian ác.
Ghi chú: LỤC SÚC: là sáu con vật nuôi trong nhà để ăn thịt và làm việc gồm Trâu, Chó, Dê, Ngựa, Gà và Heo.
 CHÓ TRONG THẦN THOẠI
Trong thần thoại Hy Lạp, con chó ba đầu Cerberus được xem là kẻ canh giữ người chết. Trong vị thế này Chó thần một lần nữa hành động giống như một hướng đạo và trở thành một trung gian thuần hậu của linh hồn người. Thần Cerberus liên kết với Tử Thần và Âm Giới. Thần Chó ba-đầu này có nhiệm vụ tiếp dẫn linh hồn đưa đi trong tối của cõi âm. Ba đầu Chó tượng trưng Quá Khứ, Hiện Tại và Tương Lai.
Image result for Cerberus
Yếu tố bảo hộ này song hành với Garmr, một con Chó đứng trước cổng vào Âm Giới. Tương truyền Chó Garmr sẽ chỉ tru lên khi ngày tận thế đến gần. Theo cách này người ta thấy rằng thần Chó còn có tài tiên tri và báo trước những tai họa. (Trong thần thoại Norse [Na-uy], Garmr hay Garm là một con Sói hoặc Chó liên kết với cả Âm giới (Hel) và một loạt các biến cố tương lai (Ragnarök) được mô tả như là một thần gác cổng Âm Giới thân hình vấy máu.)
Thần thoại của các dân tộc Châu Á (Đông, Tây, Nam) đều có tục thờ Chó. Chó từ công việc chăn giữ gia súc giúp cho người đã chuyển thành kẻ canh giữ hồn người chết ở âm giới, vì vậy Chó được thờ như một thần linh.
Người Mễ Tây Cơ cổ đại thường nuôi Chó để làm bạn đồng hành và để dẫn đường khi linh hồn họ sang thế giới bên kia. Người Nhật xem Chó là bạn trung thành nhất trần gian.
Người Ai Cập cổ đại thường dùng biểu tượng Chó. Thành phố Cynopolis có nghĩa là thành phố Chó. Trong vùng đất này hiện có luật buộc người trong thành phố phải chăm sóc tất cả những con Chó một cách chu đáo. Họ cũng thờ phụng Sao Thiên Lang (Sirius- Dog Star) bởi vì vị trí của sao này trên bầu trời báo trước sự dâng nước và lụt của sông Nile. Sao này cũng đánh dấu Năm Mới. Sự tiên báo này của Thần Chó tương đồng với sự trung thành và cũng đem lại cho Chó một tương quan siêu hình với điềm báo trước.
Dường như khắp nơi trong thế giới cổ đại và cả thời hiện đại, Thần Chó đang hiện diện đâu đó với nhiều tiếng sủa hơn là sự cắn táp… Các lãnh tụ thành Babylon và Assyria, cả hai bên đều có nhiều con Chó được nhắc đến trong Biên Niên Sử của họ cùng với quan niệm rằng Chó có nhãn quan tâm linh (psychic vision) và có thể nhìn thấy ma quỷ hoặc những nguy hiểm mà con người không cảm thức được. Chó đã dùng năng lực huyền bí này để bảo vệ chủ không những chỉ khi còn sống trên đời này, mà còn cả đời tiếp theo nữa, tức là sau khi chết.
Có người nhận định rằng khi Chó đã lựa chọn hành động như hướng dẫn tinh thần hoặc giúp đỡ thì bạn có thể tin tưởng vào sự bảo vệ, sự cảnh giác, sự dũng cảm, sự tận tụy và kiên định. Tạo vật này đã sủa vang theo gót chân loài người từ quá lâu đời đến nỗi không một ai có thể biết chắc là từ lúc nào chúng được người nuôi trong nhà. Nhiều người tin rằng Chó cũng có linh hồn và sẽ đoàn tụ với người thân trong cuộc sống tại thế giới bên kia sau khi chết. Nói cách khác, tất cả Chó đếu xứng đáng để lên Thiên Đàng!
Thần thoại từ ngàn xưa đã miêu tả Chó thiêng liêng với những đức tính như can đảm, hùng mạnh và thận trọng. Orion trong thần thoại Hy Lạp là một tay săn thú hoang dã tài giỏi, người cao lớn và đẹp trai, luôn luôn đi cùng với Chó Sirius trung thành. Nữ Thần Artemis (Thần mặt trăng, chị em sinh đôi với Apollon) cũng được miêu tả cùng với những Chó săn linh thiêng. Người Hy Lạp đặt cho Trăng ba cái tên theo tuần: Trăng Non là thần Hecate cầm ngọn đuốc, Artemis thần Trăng Lưỡi Liềm. Artemis có nghĩa là “Nguồn suối lớn” và Trăng Hạ Huyền là thần Sélene, vị thần tinh khiết, đó là Trăng Tròn Đầy.
Image result for Orion and Sirius
Orion and Sirius
Tại Nam Phi, Chó được xem như là một linh thần Tổ Tiên (Ancestor spirit) đã ban cho loài người LỬA. Tại Nhật Bản những hình tượng của Chó luôn luôn đứng canh giữ các cổng vào đền thờ.
Với tất cả những điều vừa được nêu ra trên đây sẽ không có gì gây ngạc nhiên khi một thần Chó hướng đạo lựa chọn để phò hộ cho cuộc đời của quý vị. Bởi vì đây là một tình thương yêu vô điều kiện, một sự trung thành tuyệt đối khi gần gũi với trái tim con người đang yêu mến Chó.
 
Image result
Ngoài ra, một con Chó đang hiện hữu có thể là một sứ giả thiêng liêng (Divine messenger) và cũng là bạn đời (helpmate) nữa!
Một số người tin rằng Thiên Thần có thể nhập vào Chó nhằm mục đích bảo vệ một người hoặc một gia đình và đem đến sự giúp đỡ vào những lúc nguy nan.
Tục Thờ Chó Đá
Chó đá ở nông thôn Trung Hoa có chức năng canh giữ yêu quái vào làng nhưng không có vai vế như thần Thổ Địa, không thấy thắp nhang, trẻ con có thể tuỳ tiện cưỡi lên lưng nó.
Ở Lạng Sơn (Việt Nam) nhiều nơi cũng có tục thờ chó đá như: Chi LăngĐồng MỏKhòn LèngThất KhêTràng ĐịnhĐồng ĐăngCao Lộc
Người Việt thường đặt chó đá trước cổng nhà, đầu lối vào xóm, làng, đền miếu để ma quỷ không dám đến. Hình thức chó đá giữ vai trò canh gác là khá phổ biến ở nông thôn, ở huyện Đan Phượng (Hà Tây) có hai nơi thờ phụng chó. Một bệ thờ chó đá ngoài vườn, trước cửa đình thôn Phù Trung, xã Thượng Mỗ. Một bệ thờ chó đá khác nằm cạnh quần thể di tích chùa Phúc Khánh và đình làng Địch Vĩ, xã Phương Đình. Tại chùa Cầu (Hội AnQuảng Nam) hiện còn đôi chó khắc bằng gỗ ngồi chầu do các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng tạo tác.
Trong quan niệm của người Việt xưa, chó là con vật trung thành và mang lại nhiều may mắn. Chó bình thường chỉ coi được phần dương, muốn canh giữ phần âm thì phải nuôi chó đá. Tục thờ chó được biểu hiện dưới nhiều hình thức. Người Việt thường chôn chó đá trước cổng như một linh vật với ý nghĩa cầu phúc, trừ tà hoặc đặt chó đá trên bệ thờ và coi như một bậc thần linh. Chó đá trong nhà thường nhỏ, mang dáng vẻ hiền lành, không to lớn như chó đá ở đình, đền, phủ. Hình thức thờ chó đá khá phổ biến ở nông thôn, các vùng quanh Hà Nội như Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên. (Theo Wikipedia).
Tại thành phố Huế, gần cầu Đông Ba có Xóm Chó Đá, gọi như vậy vì đầu lối vào xóm có đặt con chó tạc bằng đá.
CHÓ LÀ VẬT TỔ (TOTEM)
Chó là Vật Tổ của nhiều dân tộc tại Đông Nam Á.
Tại miền Bắc đảo Borneo (một hòn đảo lớn nhất ở Đông Nam Á thuộc chủ quyền của Malaysia, Brunei và Indonesia), Chó vừa là tổ tiên vừa là anh hùng khai hóa. Đó là đứa con đầu lòng từ mối quan hệ tình dục của một người đàn ông với cô em gái duy nhất của mình sống sót sau trận đại hồng thủy. Vì là quan hệ “loạn luân” nên đã sinh ra Chó.
Dân tộc Cơ Tu cũng có Vật tổ là Chó. Truyền thuyết kể rằng, thuở xưa có một trận đại hồng thuỷ tiêu diệt muôn loài, chỉ còn một cô gái và một con chó sống sót nhờ chui vào một chiếc trống trôi nổi. Cô gái sống cùng với con chó như vợ chồng, sinh ra hai người con, một trai, một gái.. Lớn lên, người con trai xuống đồng bằng, người con gái ở lại miền núi. Cuối cùng hai người lại gặp lại và lấy nhau, sinh ra một quả bầu. Từ quả bầu đó, người Cơ Tu, người Brungười Tà Ôingười Việt ra đời.
Một số dân tộc khác ở miền thượng du Việt Nam cũng thờ Chó như Vật Tổ đó là các bộ lạc Xê ĐăngS’tiêngGiẻ TriêngChămDaoLô Lô
Đặc biệt người Dao dọc biên giới Hoa-Việt cho đến ngày nay vẫn coi mình là con cháu của Bàn Hồ, là một con Long Cẩu đã hòa thành một nam nhân và kết hôn với một công chúa sinh ra Tổ tiên của họ. Do đó người Dao có tục thờ Chó. Các trang phục của họ mô phỏng đầu chó hay trang trí hình chó và để tóc kiểu chó.
Thế nhưng, trong Hồi Giáo, Chó là hình tưởng của tất cả những gì xấu xa, ghê tởm nhất của thế gian. Người ta đưa ra hình ảnh con chó ăn xác chết để làm biểu tượng cho sự tham lam và phàm ăn của chó.
Kinh Q’ran: Chó là một trong những con vật mà một tín đồ Hồi Giáo được phép giữ trừ phi người đó cần một con chó để đi săn, để giữ súc vật hoặc canh kho lương thực, ngoài ra người đó sẽ bị trừ hai “qiraats” trong sổ việc thiện mỗi ngày nếu giữ một con chó bên mình. (Al-Bukhaari (2145).
Các thiên thần không vào một căn nhà trong đó có một con chó hoặc một hình ảnh của chó, (al-Bukhaari, 3322; Muslim, 2106).
Tại Á Đông, số phận của Chó rơi vào một nghịch lý, trớ trêu. Song hành với những quý yêu, hâm mộ, kính trọng và tôn thờ của nhiều người, nhiều dân tộc, Chó cũng là đối tượng của sự khinh bỉ, bạc đãi, bị xem như một loài vật dơ uế, thấp hèn trong xã hội loài người. Nghịch lý này đã thể hiện rõ nét trong các thuật ngữ mà người Việt dùng để mắng nhiếc, thóa mạ nhau! Như “đồ chóđồ chó máđồ chó đẻđồ chó sănthằng chóđồ chó chếtđồ chó cái (ám chỉ gái mại dâm), chó ghẻngu như chócực như chó, cẩu nô tài (ám chỉ những kẻ tay sai), tuồng chó lợnđồ chó vô chủđám chó hoangchó chui gầm chạnchơi với chó, chó liếm mặt, chó ngáp phải ruồi, chó nhảy bàn độc, cho chê cứt. Cuốn tiểu thuyết “Cậu Chó” của Trần Đức Lai đã tả thực thói tham dâm dục của một công tử con quan lớn bị sinh ra với hình dạng “người chó”. Cậu Ấm này chỉ thích phụ nữ đẹp hầu hạ và thích sờ mó các vùng cấm của phụ nữ. Sự mô tả của Trần Đức Lai xem ra thật “oan” cho Chó!          
CHÓ TRONG VĂN CHƯƠNG – CHỮ NGHĨA
Trong văn chương và chữ nghĩa, Chó đã xuất hiện dưới nhiều vai trò và biểu tượng khác nhau, phần lớn là biểu tượng của sự trung thành và tình thương yêu vô điều kiện… chỉ lác đác một số chuyện không tốt đẹp về chó, đặc biệt là “chó dại” tức là chó mắc bệnh điên.
CHÓ TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Chó Trong Thành Ngữ
Chó ăn đá, gà ăn muối: Chỉ nơi đất đai cằn cỗi, thiếu thức ăn.
Chó càn cắn dậu: ám chỉ người hung hăng hay gây gổ không phân biệt phải trái.
Chó cắn chùng: chó táp lén khách đến nhà.
Chó chạy cùng sào: hết đường.
Chó chạy rông: ám chỉ người vô tích sự, đi lông bông không có chủ đích.
Chó chê cứt: ở Việt Nam chó thường ăn cứt như một món ngon, “chó chê cứt” ám chỉ người giả vờ thanh cao, không tham lam.
Chó chui gầm chạn: tình cảnh của người sống nhờ vào nhà người khác, không dám ra mặt
Chó dại có mùa, người dại quanh năm: ý nói con người lúc nào cũng bị lôi cuốn vào điều sai trái, cuồng điên trong khi chó chỉ cuồng điên trong một khoảng thời gian nhất định. Mùa nóng chó thường bị bệnh dại.
Chó dữ mất bạn hiền: nhà có chó dữ (hung hăng, dữ tợn) khiến những người bạn thân e ngại không dám đến thăm, chơi.
chó ghẻ: nghĩa đen là con chó bị lác, thân mình bị lở loét, nghĩa bóng ám chỉ thân phận bị xa lánh, hắt hủi.
Chó nào chủ nấy: ám chỉ sự giống nhau về tính tinh, cách hành xử của những kẻ sống gần nhau.
Chó ngáp phải ruồi: Chỉ sự may mắn tinh cờ, thành công do “được thời cơ” chứ không phải do tài năng.
Chó nhảy bàn độc: ám chỉ người hèn kém nhờ thời cơ mà có địa vị trong xã hội (tại VN, chó không được phép leo lên bàn ghế, giường nệm, chỉ nằm trên nền nhà).
Chó quen nhà, gà quen chuồng.
Chó sủa ma.
Chó sủa trăng.
Chó tiền rưỡi: ám chỉ người kém giá trị, bị coi thường, bị đánh giá thấp.
Chó treo, mèo đậy: tùy theo loại vật mà giữ gìn đồ ăn (chó không nhảy cao nên treo lên là chịu, còn mèo thì đậy kỹ, nó không giở ra được).
Chó ỷ thế nhà, gà ỷ thế vườn: ám chỉ hành động dựa vào lợi thế địa phương để hống hách, tự đắc và lấn lướt người ở nơi khác đến.
Chơi với chó, chó liếm mặt: ý nói vì hành vi dễ dãi với cấp dưới, với người hạ đẳng nên bị coi thường, mất phẩm giá. (đối với hầu hết người VN, “chó liếm mặt” là một điều nhục, khác với người Âu Mỹ, chó và người rất thân thiết và bình đẳng).
Cực như chó: hoàn cảnh thiếu thốn đủ mọi mặt, đúng ra là “cực như chó không lông”.
Đám chó hoang: ám chỉ những kẻ không có cư sở, chỗ ở chỗ ăn bình thường, không có người nuôi.
Đánh chó phải ngó chủ nhà: ý nói khi có hành động phê phán ai, đánh phá cái gì phải thận trọng xem xét các mối liên hệ để khỏi làm mất mặt kẻ có liên hệ.
Đồ chó: ý nói giống như chó.
Đồ chó cái: thành ngữ Trung Hoa, ám chỉ gái mại dâm
Đồ chó chết: người không còn giá trị sử dụng như xác chó chết.
Đồ chó đẻ: lời miệt thị nặng nề ý nói “không phải loài người”.
Đồ chó má: ám chỉ người có hành vi xấu xa, hèn mạt.
Đồ chó săn: ám chỉ người đi rình rập lấy tin cho người khác,
Giỡn chó chó liếm mặt: Chỉ sự khình nhờn do quen biết.
Lạc nhà nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu.
Lên voi xuống chó: sự thăng trầm của một người trong xã hội, khi thời lên thì oai phong như voi, đến khi bị mất chức, bị hạ xuống thì thân phận thấp hèn như con chó (VN).
Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang.
Như chó chạy rong: làm việc không có mục đích rõ ràng.
Như chó với mèo: Chỉ sự xung khắc.
Ráng mỡ gà thì gió, ráng mỡ chó thì mưa: về thiên văn, thấy ráng màu mỡ gà (vàng) thì sẽ có gió, thấy ráng màu đỏ thì sẽ có mưa. Nói tắt là “vàng gió, đỏ mưa”.
Tạp ăn như chó: ý nói bạ gì cũng ăn không cần biết ngon dở hoặc phẩm chất đồ ăn.
Treo đầu dê, bán thịt chó: lừa gạt bằng quảng cáo.
Tuồng chó lợn: do chữ “cẩu trệ” của Hán Văn, chỉ những hành vi xấu xa bỉ ổi.
Chó Trong Văn Chương
Trong văn chương Việt Nam, Chó đã là đề tài của một số truyện cổ tích như “Giết Chó Khuyên Chồng”; Người học trò và con chó đá;
Truyện ngụ ngôn (gửi lời dạy đời) như “GÀ, LỢN, CHÓ”
Con gà cục tác “Lá chanh”
Con lợn ủn ỉn “Mua hành cho tôi”
Con chó khóc đứng khóc ngồi
“Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”.
Ấy bài ca cổ còn truyền,
Mượn ba con vật răn khuyên thế tình.
Thấy chết ai cũng sợ kinh
Mà “tháng tống tử” thi đua nhau đòi
Đòi phần biếu, đòi chiếu ngồi,
Đòi phiện, đòi rượu, tiệc vui thiếu gì.
Người mà cũng dại thế thì… (VNVH toàn thư, tr, 32).
Sách “LỤC SÚC TRANH CÔNG” là truyện ngụ ngôn viết bằng thơ, theo thể tuồng kịch, hát. Nội dung LSTC phản ảnh linh động xã hội Việt Nam vào thời quân chủ, khoảng cuối thế kỷ 17 hoặc đầu thế kỷ 18, tức vào thời kỳ Trịnh-Nguyễn Phân Tranh trong lịch sử Việt Nam. Tình trạng hỗn độn với những cuộc tranh giành giữa các vương hầu, giữa các quan lại và nạn kiêu binh… đã làm cho dân tình điêu linh, khốn khổ. Người nào cũng tự cho là mình quan trọng rồi gièm pha, chỉ trích kẻ khác, không ai chịu nhường ai, khiến cho sự xung khắc và xung đột giữa các tầng lớp, các giai cấp xã hội trở nên gay cấn, trật tự xã hội bị đe dọa. Tác giả LSTC đã mượn lời sáu con vật nuôi trong nhà để mô tả cuộc tranh chấp ngụ ý nói về xã hội loài người. Đặc biệt, LSTC đã làm nổi bật sự vất vả nhọc nhằn của nông dân trong việc làm ra lương thực để nuôi người… nhưng tại Việt Nam, hầu hết nông dân thời nào cũng cũng khốn khó, ngay cả dưới chế độ đề cao cái liềm, coi nông dân là lực lượng nồng cốt, nông dân xã hội chủ nghĩa lại càng khốn nạn hơn mặc dù lúa gạo xuất cảng đứng nhất nhì thế giới!
Có thể xem Trâu là đại diện cho nông dân, một đời vất vả, cực nhọc, làm nhiều mà hưởng ít, có rất nhiều công lao đối với xã hội nhưng lại bị bạc đãi.
Chó là hình tượng của những tuần đinh, lính lệ canh giữ làng mạc, được ăn no mặc ấm nhưng việc làm thì chẳng có gì nhọc nhằn, điều này khiến trâu tức tối và ganh tị đưa đến cãi nhau giữa chó và trâu. Bên nào cũng có lý của mình, nên chủ phải đứng ra hòa giải rằng “Đại, tiểu các hữu kỳ tài, bất đắc tương tranh nhỉ, ngã”: Lớn, nhỏ mỗi vật có tài riêng, không nên tranh chấp mày tao.
Ngựa là hình tượng của các công thần, các tướng sĩ luôn luôn tự hào về tài năng và công trạng của mình đối với vua, với nước và tự cho bản thân mình cao hơn các vật khác.
“Ớ này này tao bảo chúng bay
Đố mặt ai dai bằng mặt ngựa
Tuy là thú, cũng hai giống thú,
Thú như tao ai dám phen lê…”
Dê là hình tượng của các quan văn, kiểu cách, khệ nệ tự cho mình thuộc giai cấp lãnh đạo tinh thần của xã hội:
Dê nói rằng “Ta đọ với nhau
Thử anh lớn hay là tôi lớn?
“Dê vốn thuộc về việc lễ
Để hòng khi về hạng tư văn
Để danh khi tế thánh tế thần
Lại có thuở kỳ yên, kỳ phước…”
Quan phong chức Trường Tu Chủ Bộ”.
Gà là hình tượng của thị vệ, tư thần, khoe khoang đủ gồm văn võ, với tiếng gáy đã lập nhiều công trạng:
“Liền chạy ra chớp cánh, giương đầu:
“Nầy nầy Gà ngũ đức thẳm sâu
Nhân, dũng, tín, vũ, văn gồm đủ
Trên đầu đội văn quan một mũ
Dưới chân đeo hai cựa thần thương
Đã ghe phen đến chốn chiến trường
Lập công trận vang tai lói óc…
Heo tượng trưng cho con vật được nuôi dưỡng để dành cho những lễ nghi, tập tục của triều đình và làng xóm, không lao động. Heo khoe khoang:
“Như các chú lao đao đã đáng,
Heo thong dong ăn nhẩy mặc heo.
Nội trong hàng lục súc với nhau
Ai sánh đặng mình heo béo tốt?
Vua ngự lễ Nam Giao đại đột,
Phải có Heo mới gọi tam sanh…
Việc hòa giải Heo đầu công trạng.
***
Truyện Ngụ Ngôn 
CON CHÓ CHẾT ĐUỐI
Ngày xưa, có một con chó ở trong một xóm giữa hai nhà chùa, một chùa về hướng Đông, một chùa về hướng Tây, cách nhau một con sông. Mỗi lần chó nghe tiếng chuông thì chạy về phía chùa phát ra tiếng chuông để ăn chực.
Hôm đó, cả hai chùa đều nện chuông một lượt, chó ta bèn nhào xuống sông để lội đi ăn. Nhưng qua chùa bên này lại sợ chùa bên kia có đồ ăn ngon hơn, còn qua chùa bên kia thì lại sợ chùa bên này đồ ăn ngon hơn, con chó cứ lưỡng lự mãi không biết bơi về phía nào, cứ chơi vơi giữa dòng cho đến khi đuối sức, muốn vào bờ không được nên phải chết chìm.
Ngụ ngôn này gửi thông điệp về tác hại của lòng tham.
CON CHÓ VỚI CON GÀ
Con chó đi gặp con gà trống liền chào rồi nói: “Tôi trông gặp anh một chuyến mà hỏi một chuyện. Trời phú tính cho anh hay, chứ phải chơi sao! Sao lại biết canh ba, lại khi gần sáng dậy mà gáy, ngày cũng vậy?” Con gà nói:” Cái đó là trời phú tính, hễ tới chừng là gáy.”
Rồi con gà mới hỏi: “Còn như anh, anh biết thế nào có người đi qua mà sủa?” Chó đáp: “Vốn cái tâm tôi thuộc đất, hễ động đất là động tới tôi, nên tôi biết.” Con gà nói: “Khi anh nằm dưới đất thì làm vậy, chớ như anh nằm trên ván thì biết sao được mà sủa?” – “Khi tôi ở trên ván nghe chúng sủa, tôi sủa theo mà thôi.”
 
CÂU ĐỐ VỀ CHÓ
– Đứng thì thấp, ngồi thì cao, là con gì?
– Khen ai dạ sáng như gương
Tối trời như mực biết bạn quen mà mừng.
– Đi đâu mấy tháng không màng.
Nghèo hèn không phụ, giầu sang không thèm. (NVTrung-Câu Đố VN).
CHÓ TRONG SẤM TRẠNG TRÌNH
Trông ơn đức rộng cao minh,
Tuất cập đến kẻ hết tình làm tôi.
Quân thần tướng tá giúp đời,
Quân minh thần hiệp mỗi điều cho tin
Kẻ thì mắc thửa hung tàn
Kẻ thì bận của bỗng toan khốn mình
Muông vương dựng tổ cắn tranh
Ðiều thì làm chước xuất binh thủ thành
Gà bỏ con kêu cục tác
Chó vẩy đuôi mừng thánh chúa 
Lợn ăn no ủn ỉn nằm
Đời ấy cùng thánh, cùng tiên
Sinh những người hiền giúp nước yên dân.
Này những lúc thánh nhân chưa ra đời
Chó còn nằm đầu khỉ cuối thu 
Lợn nằm cũng thấy lợn lo
Chó kêu ầm ỹ mùa Ðông…
Cha con Nguyễn lại bế bồng nhau đi.
Lợn kêu tình thế lâm nguy.
Quỷ dương chết giữa đường đi trên trời..
“Bắc Kinh sang có việc gì chăng?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ tưng bừng đòi nơi
Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Bỗng khiến người vu vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng giục dân cày bừa
Ăn no ủn ỉn lợn kêu ngày.
Nói cho hay khảm cung ong dậy,
Chí anh hào biết đấy mới ngoan,
Đại Lãng ẩn sĩ luận rằng: “Cuối năm Dậu, sau khi Tổng Thống Mỹ thăm CSVN, quân TC bỗng đổ xuống dàn theo dọc biên giới Hoa-Việt. Nhân dân Việt lo ngại một cuộc Bắc Xâm trong lúc những “đỉnh cao trí tuệ” vẫn cho là chằng có chuyện gì vì TC là “bạn 16 chữ vàng”. Do đó nhà cầm quyền cộng sản cấm biểu tình chống Trung Cộng và đẩy mạnh các cuộc bắt bớ, giam cầm, đánh đập những tiếng nói yêu nước khắp nơi, vu cho dân tội lật đổ chính quyền. Xã hội dân sự bắt đầu “loạn lạc” vì cộng sản Việt Nam ngày gia tăng tàn bạo với dân, cướp ruộng, cướp đất không cho dân cày bừa…
“Gà kia vỗ cánh trập trùng bay” tức năm Dậu đã trôi qua trong sự bất ổn. Có dấu hiệu thay đổi chính trị khi “Chó nọ vẫy đuôi mừng thánh chúa” khi đó “khảm cung ong dậy”.
Khảm là nước (Thủy), Ong chữ Hán là “phong” trên là gió, dưới là nước, như vậy là quẻ “thủy khốn” sau quẻ Thăng là quẻ Khốn, cứ gia tăng đàn áp mãi thì có ngày bị quật lại, làm cho khốn đốn. Ở vào thời khốn, chỉ có cường quyền, không có công lý, nên càng nói càng thêm vạ miệng, nhưng người quân tử (những kẻ ý thức được bổn phận với dân với nước) thì có thể “sát thân dĩ thành nhân”. Số người thức tỉnh sẽ như đàn ong trổi dậy. Thanh niên trí thức và nông dân bị cướp đất thành dân oan sẽ noi chí anh hào dân tộc đứng lên lật đổ bạo quyền gồm những mặt lợn ăn no mập mạp kêu ủn ỉn suốt ngày (Phú Trọng, Xuân Phúc).
Thời điểm “ong dậy” với “chí anh hào” sẽ xẩy ra vào mùa đông Mậu Tuất khi tiếng dân vang dội khắp nơi “Chó kêu ầm ĩ mùa Ðông” và đây là lúc “hai tên họ Nguyễn bế bồng nhau” chạy theo Trung Cộng. Đến đầu năm Hợi (lợn kêu) thì cộng sản Việt Nam lâm nguy loài quỷ tháo chạy bằng máy bay và bị chết trên trời vì tai nạn máy bay.
Lợn kêu tình thế lâm nguy.
Quỷ dương chết giữa đường đi trên trời…
Nếu lời Sấm trên đúng thì dân tộc Việt mới thoát ách nô lệ cộng sản!
***
Văn đề Bia mộ hai con Chó của chí sĩ Phan Bội Châu 
NGHĨA DŨNG CẨU (con Vá)
Bia chữ Hán:
“Duy dũng dã, kiến cường tắc đấu; duy nghĩa dã, tận trung ư chủ. Ngôn giả đa, hành hãn cấu. Nhân thả nhiên, huống ư cẩu. Ư duy nhữ mang, nãi kiêm nhi hữu. Khởi nhược thuỳ tai, diện nhân tâm thú. Dụng thị thê nhiên, thụ bi nhữ mộ.”
Bia quốc ngữ (cụ Phan dịch nghĩa):
“Vì có dũng, nên liều chết phấn đấu; vì có nghĩa, nên trung thành với chủ. Nói thời dễ, làm thiệt khó; người còn vậy, huống gì chó!
Ôi! Con Vá nầy, đủ hai đức đó, há như ai kia, mặt người lòng thú, nghĩ thế mà đau, dựng bia mộ nó.”
 
Image result for Bia mộ hai con Chó của chí sĩ Phan Bội Châu
Theo lời kể trong “Lịch sử con Vá” trên báo thì thoạt đầu cụ Phan chỉ cho trồng bia một tấm, về sau chắc là cụ đã viết và cho khắc thêm hai tấm nữa, một bằng chữ Hán, một khắc bằng quốc ngữ kể công trạng của Vá.
Sống trơ trọi không vợ con, không họ hàng thân thích. Mất con Vá, cụ Phan đau xót lắm. Vá chết năm 1934, ba năm sau lại chết thêm con Ky; cụ Phan cũng lập bia mộ cho nó. Mặc dù Ky không được cụ viết lịch sử lên báo như Vá nhưng xem mấy dòng ghi năm tháng cuối bia thì ta biết được Ky chết vào năm Đinh sửu (1937).
NHÂN TRÍ CẨU (con Ky)
Bia chữ Hán:
“Nhân Trí cẩu KY chi trủng”.
“Cận nhân giả, thường bần vu trí. Cận trí giả, thường bạc ư nhân. Nhân trí lưỡng bị, nan hĩ tai ! Hà vật súc nhân, nãi kiêm nhi hữu.
Đồng sự nhất chủ, tắc cốt nhục thị chi, vô miêu cẩu chi giới, nhân dã ! Kiến phi kì chủ, tắc cừu địch thị chi, hoá lợi bất năng nhị, trí dã.
Nhân thả trí, nhữ vật nhi nhiên. Thiên hồ! Thiên hồ! Nhữ nãi bất thọ! Viên lặc sở cảm ư nhữ mộ. Bỉ nhân nhi thú giả, thị nhữ đương hà như.
Nam lịch Đinh Sửu nguyệt nhật. Chủ nhân Sào Nam chi.”
Image result
Bia quốc ngữ (cụ Phan dịch nghĩa):
Người hơi có đức nhân thường kém về phần trí; người hơi có đức trí thường kém về phần nhân; vừa trí vừa nhân thiệt là hiếm thấy; ai ngờ con KY nầy lại đủ hai đức ấy.
Chung nhau thờ một chủ thời xem là anh em, chẳng bao giờ như mèo với chó thiệt là nhân đó.
Thấy không phải chủ thời xem bằng cừu thù, chẳng bao giờ vì miếng ngon dẫn dụ thiệt là trí đó.
Trí vừa nhân, nhân vừa trí, trong giống súc mà người, e đến mầy mới thấy.
Mầy sao vội chết!
Hỡi trời! Hỡi trời!
Lòng ta đau đớn, phải tạc mấy lời.
Đau đớn quá! Đau đớn quá!
Kia những hàng muông người.
Bia công trạng của Ky viết dài hơn bia của Vá và cũng là những lời ca ngợi chó để so với loại mặt người dạ thú: “…Nhân thả trí, nhữ vật nhi nhiên. Thiên hồ! Thiên hồ! Nhữ nãi bất thọ! Viên lặc sở cảm ư nhữ mộ. Bỉ nhân nhi thú giả, thị nhữ đương hà như.”
(Nhân mà trí, loài vật như mày lại được như thế! Trời ơi! Trời ơi! Mày chẳng được thọ; ta bèn viết lời thương cảm trên mộ mày. Ai kia là người mà lại là thú đấy, chẳng thể sánh với mày được.)
Xem thế, tâm trạng của cụ Phan trong những năm sống hẩm hút ở căn nhà tranh bến Ngự ấy là hết sức cay đắng trước thói đen bạc của đời. Cụ xả thân cho xã hội mà đáp lại là những kẻ mặt người lòng thú luôn rình rập để mưu hại: kẻ đã bán cụ cho Pháp, kẻ lại theo lệnh Tây luôn ngó nghiêng do thám quanh nhà.
Xem mấy bia mộ chó của cụ Phan ta trộm nghĩ rằng phải chăng trên cõi đời này có nhiều kẻ chưa thể sánh được với Ky và Vá – chưa sánh được cả về tư cách lẫn cả cuộc đời, hành trạng. (Trích từ bài “PHAN BỘI CHÂU VÀ BIA MỘ HAI CON CHÓ” của Nguyễn Cẩm Xuyên).
Chó trong những bài thơ của các nhà nho ưu thời mẫn thế nhưng bất lực trước cảnh đất nước bị Pháp đô hộ:
Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1883) quê Gia Định, có bài thơ đề cao công trạng chó, tự ví mình với con chó già, than thân chó, trách phận mình, lời thơ bi ai…
Con chó già
Tuy rằng muông cẩu có ân ba
Răng rụng lâu năm nó phải già
Bởi đuổi hươu Tần nên mỏi gối
Vì lo khỉ Sở mới dùng da
Không ai trấn Bắc ngăn bầy cáo
Ít kẻ ngừa Tây giữ đứa tà
Mạnh mẽ khi xưa còn hớn hở
Bây giờ yếu đuối hết xông pha
(Hươu Tần, khỉ Sở: điển tích về việc tranh bá đồ vương thời Tần Hán, và nhiệm vụ săn bắt của loài chó)
Nguyễn văn Lạc (1842-1915) thường được gọi là Học Lạc, quê Mỹ Tho, có bài thơ
Chó chết trôi
Sống thì bắt thỏ, thỏ kêu rêu
Thác thả dòng sông xác nổi phều
Vằn vện xác còn phơi lửng dửng
Thúi tha danh hãy nổi lều bều.
Tới lui bịn rịn bầy tôm tép,
Đưa đón lao xao lũ quạ diều.
Một trận gió dồn cùng sóng dập
Tan tành xương thịt biết bao nhiêu.
Ý thơ nói về số phận của một con chó chết, xác thả xuống sông, ám chỉ tình cảnh của các nhà nho bất lực trước cảnh hổn độn, xấu xa của xã hội giao thời khi Pháp xâm chiếm Việt Nam, một số người hạ cấp (bầy tôm tép) tham danh lợi đi theo giặc Pháp tàn ác (lũ quạ diều).
Sự bất lực của con người trước hoàn cảnh trớ trêu cũng mượn hình tượng chó để nói lên:
“Em như cục cứt trôi sông
 Anh như con chó đứng trông trên bờ.
Cao Bá Quát một danh sĩ dưới triều vua Tự Đức, từng được vua khen là
“Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán
Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường.
Ông là người cao ngạo luôn tìm cách chế diễu các quan trong triều… nên thường bị trù dập… Năm 1854, Cao Bá Quát bị đưa đi lãnh chức Giáo thụ ở Quốc Oai, một nơi hẻo lánh thuộc tỉnh Sơn Tây, Bắc Việt. Bị đẩy vào hoàn cảnh này, Cao Bá Quát đã chán nản và phẫn uất. Nỗi chán nản và phẫn uất ấy đã bộc lộ qua hai câu đối treo ở nhà ông:
“Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái,
Học trò dăm bảy đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi.”
Trong bài thơ “Vịnh ông Cò” của Trần Tế Xương cũng có hình ảnh Chó chạy ra đường thời Pháp thuộc (chủ sẽ bị phạt):
Hà Nam danh giá nhất ông Cò (*)
Trông thấy ai ai chẳng dám ho
Hai mái trống tung đành chịu dột
Tám giờ chuông đánh phải nằm co.
Người quên mất thẻ âu trời cãi,
Chó chạy ra đường có chủ lo!
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được
Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to.
(Ông Cò là cảnh sát Pháp – Commisaire).
Bài thơ Thăm Bạn của Võ Liêm Sơn (1888-1949) viết năm 1937, nói đến loại chó mà dân gian gọi là Chó Tây, chó mà thực dân Pháp du nhập vào. Một số người Việt làm công chức cho Pháp đã bắt chước lối sống của Pháp, nuôi nhiều chó giữ nhà, trước nhà có bảng ghi “Coi chừng chó dữ”.
Lâu ngày đi thăm bạn
Đến ngõ chó tuôn ra
Những con to và béo
Tiếng sủa như đồng loa
Thấy chó biết nhà chủ
Làm ăn rày khá mà.
Thôi thế, cũng là đủ
Bất tất phải vào nhà.
Bài thơ của Võ Liêm Sơn ứng với câu tục ngữ “Chó dữ mất bạn hiền”.
Ca dao có câu
“Chó đâu chó sủa lỗ không
Không thằng ăn trộm cũng ông ăn mày.”
Có nghĩa là đã có dư luận thì phải có sự việc gì đó, không thể không có gì. Ý nghĩa của hai câu này tương tự như “Có khói tức có lửa”.
Câu:
Con mèo, con chó có lông,
Cây tre có mắt, nồi đồng có quai
Nói lên sự hiển nhiên, quy luật tất yếu trong thiên nhiên và cuộc sống.
Giai thoại “CHÓ VÀNG” và DANH SĨ TÔ ĐÔNG PHA
Tô Đông Pha là một danh sĩ thời Bắc Tống (Trung Hoa- thế kỷ 11) cũng là một chính trị gia có tinh thần cấp tiến, là người đồng thời với danh sĩ Vương An Thạch (cũng là một người rất thông minh và có hùng tâm đối với đất nước, làm tới chức Tể Tướng).
Một giai thoại trong văn học sử Trung Hoa kể rằng một hôm Tô Đông Pha đọc thơ Vương An Thạch, tới hai câu:
Minh nguyệt sơn đầu khiếu,
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm.
(Trăng sáng hót trên đầu núi,
Chó vàng nằm trong lòng hoa.)
Tô Đông Pha cho là vô lý. Làm sao lại có chuyện trăng hót trên đầu núi và chó vàng nằm trong lòng hoa?
Tô Đông Pha cầm bút sửa theo ý mình, tự cho rằng mình mới là hợp lý, bèn sửa chữ “khiếu” thành “chiếu”, chữ “tâm” thành “âm” và hai câu thơ thành ra”
Minh nguyệt sơn đầu chiếu,
Hoàng khuyển ngọa hoa âm..
(Trăng sáng soi đầu núi,
Chó vàng nằm dưới hoa.)
Và Tô Đông Pha lấy làm đắc ý đã sửa thơ của Vương An Thạch, một danh sĩ, một Tể Tướng được nhiều người khâm phục, ái mộ. Vương An Thạch im lặng trước việc Tô Đông Pha sửa thơ mình.
Không lâu sau, Tô Đông Pha bị chuyển công tác tới một vùng ở phía Nam Trung Hoa. Tại nhiệm sở mới, Đông Pha thấy có một loài chim tên là Minh Nguyệt và một loài sâu tên là Hoàng Khuyển, mới nhận thấy rằng mình đã sửa bậy và biết rằng về kiến thức mình có chỗ thua kém Vương An Thạch. Lúc ấy, họ Tô mới hiểu được câu thơ của họ Vương đúng là:
“chim Minh Nguyệt hót ở đầu núi, 
sâu Hoàng Khuyển nằm giữa đóa hoa.”

không có “trăng sáng” hay “chó vàng” gì ở đây cả! (nguồn: Tô Đông Pha – Nguyễn Hiến Lê trg 62).
Thông điệp từ giai thoại “Chó Vàng và Tô Đông Pha” qua hai câu thơ “Minh nguyệt sơn đầu khiếu/ Hoàng khuyển ngọa hoa tâm” nhắc nhở rằng đừng vội đánh giá sự việc quá nhanh khi chưa quan sát thực tại, đừng tưởng mình khôn rồi chê bai người khác, nhất là trong lãnh vực thơ văn, đừng vội vàng mà sửa chữ của thiên hạ!
CHUYỆN MƯỢN CHÓ ĐỂ CHƯI XÉO NHAU
Giai thoại Nguyễn Khuyến “bị” Tổng Đốc Nam Định Vũ Văn Báo mời ra làm quan theo lệnh của Pháp. Nguyễn Khuyến cùng đi với con cả là Nguyễn Hoan đến dinh Tổng Đốc. Vừa vào đến cổng dinh Tổng Đốc thì gặp viên công sứ Pháp đi ra, lại bị con chó tây chồm lên sủa cắn; Nguyễn Khuyến hoảng hốt đẩy Nguyễn Hoan ra chắn chó. Sau đó, trong câu chuyện với chủ nhân, ông đã đọc hai câu thơ tả lại cảnh vừa rồi:
Hốt đáo nhĩ môn phùng nhĩ cẩu
Cấp tương ngô tử thế ngô thân.
Tạm dịch:
Chợt đến cửa ngươi, gặp chó ngươi
Kíp đưa con mỗ thay thân mỗ.
“Chó Tây” cũng xuất hiện trong bài văn gọi là Tế Francis Garnier, một Đại Úy thực dân Pháp thừa lệnh Thống Đốc Nam Kỳ Hải Quân Thiếu Tướng Dupré ra đánh Bắc Kỳ, bị nghĩa quân Nam Triều phục kích ở Cầu Giấy giết chết năm Quý Dậu (1873) [Đặng Tiến đã nhầm là Henri Rivière và năm 1883]. Một sĩ phu Bắc Hà giấu tên đã viết bài văn tế như sau:
Tôi là tri huyện Đông Quan
Lệnh trên sai xuống lập đàn tế Ông
Nhớ ông xưa:
Tóc Ông quăn, râu Ông đỏ,
Mắt Ông xanh, mũi Ông lõ
Tay Ông chiếu kính thiên lý, đít Ông cưỡi lừa
Vai Ông đeo súng lục liên, miệng Ông huýt chó 
 
Hồng Vân sưu tầm
 
 
 
 

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam?

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam?

********

Các quốc gia đón Tết Nguyên đán được nghỉ bao lâu? - 1

Người dân khắp châu Á đang chào đón Tết Nguyên đán bằng nhiều lễ hội đường phố nhộn nhịp bên cạnh bữa ăn ấm cúng bên gia đình.

Đơn cử, ở các thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh và Thượng Hải, người dân đang chuẩn bị cho những ngày nghỉ Tết yên tĩnh hơn những năm trước sau khi chính quyền cấm đốt pháo hoa vì lo ngại gây ô nhiễm môi trường cũng như an toàn.

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 1.

Một cửa hàng trang trí Tết ở thủ đô Bắc Kinh - Trung Quốc. Ảnh: AP

Theo truyền thống Trung Quốc, pháo hoa và pháo giúp làm quái vật năm cũ "guonian" hoảng sợ và mở ra một năm mới may mắn. Quyết định cấm pháo hoa của chính quyền khiến một số người dân Trung Quốc không hài lòng.

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 2.

Các diễn viên mặc trang phục truyền thống chuẩn bị cho đêm diễn đón giao thừa tại thủ đô Bắc Kinh – Trung Quốc. Ảnh: AAP

Từ trưa 15-2 (giờ địa phương), trung tâm thủ đô Bắc Kinh hoàn toàn yên ắng, không giống như những năm trước khi pháo hoa vang lên cả ngày lẫn đêm trong suốt kỳ nghỉ Tết kéo dài một tuần.

Tết nguyên đán là kỳ nghỉ quan trọng nhất ở Trung Quốc với hàng trăm triệu người về quê ăn Tết bên gia đình, khiến dịp này trở thành đợt di cư hàng năm lớn nhất thế giới.

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 3.

Người dân mua cây quýt tại một khu chợ ở Hồng Kông. Ảnh: AAP

Tại Hồng Kông, chương trình bắn pháo hoa mừng Tết nguyên đán bị huỷ sau vụ tai nạn xe buýt khiến 19 người thiệt mạng hồi tuần trước.

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 4.

Người dân Thái Lan đốt nhang tại chùa Leng Nuei Yee ở thủ đô Bangkok. Ảnh: AAP

Ở Thái Lan, tiết mục múa lân tại khu phố người Hoa thu hút sự chú ý của du khách. Tết Nguyên đán được tổ chức rộng rãi ở Thái Lan, nơi có tới 10 triệu dân gốc Hoa trong tổng số 69 triệu dân trên cả nước

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 5.

Diễn viên múa đang biểu diễn trong chương trình chào mừng năm mới ở Myanmar. Ảnh: AAP

Tại Singapore, lễ hội đường phố được trang trí bằng lồng đèn thủ công, các buổi biểu diễn nghệ thuật truyền thống của Trung Quốc và chợ ẩm thực diễn ra trên một bệ nổi ở sông Singapore.

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 6.

Singapore trang trí rực rỡ đón Tết Nguyên đán. Ảnh: Expat Choice

Hòa chung không khí đón Tết, người dân Malaysia sẽ được thưởng thức màn trình diễn pháo hoa và múa lân trong đêm giao thừa.

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 7.

Một khách hàng đang xem đồ trang trí tại một cửa hàng ở Malaysia. Ảnh: BBxpress

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 8.

Người dân Campuchia xem tiết mục múa lân mừng năm mới hôm 15-2. Ảnh: Xinhua

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 9.

Người dân Campuchia mua heo quay ở thủ đô Phnom Penh trong dịp Tết nguyên đán. Ảnh: Reuters

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 10.

Người dân Indonesia xem chương trình mừng Tết ở thủ đô Jakarta hôm 14-2. Ảnh: Reuters

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 11.

Người dân đi mua sắm trong trung tâm thương mại ở thủ đô Jakarta – Indonesia. Ảnh: Reuter

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 12.

Một cô gái mua sắm đồ trang trí Tết tại TP New York - Mỹ trước thềm năm mới. Ảnh: New York Times

Các nước đón Tết Nguyên đán có khác Việt Nam? - Ảnh 13.

Nhiều người đổ xô đi sắm vật dụng trang trí Tết ở Mỹ hôm 15-2. Ảnh: New York Times.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này

Ngoài Việt Nam, thì ở Châu Á vẫn còn một số quốc gia giữ phong tục đón Tết Âm lịch, như Hàn Quốc, Mông Cổ, Singapore, và Trung Quốc. Dù có không ít nét khác biệt do đặc thù văn hóa, song tựu chung, đây vẫn là dịp để các thành viên trong gia đình cùng sum họp để đón chào năm mới bình an và hạnh phúc.

1. Trung Quốc

Nói đến các nước ăn tết âm, có lẽ không thể không nhắc đến Trung Quốc - cái nôi của nền văn hóa Trung Hoa với những phong tục, tập quán đậm đà bản sắc và khó thể bị trộn lẫn bởi bất cứ một nền văn hóa nào khác.

Cũng giống như người Việt Nam, tết cổ truyền là kỳ nghỉ lễ quan trọng nhất trong một năm đối với người dân Trung Quốc và thường kéo dài từ ngày 8 tháng 12 âm lịch đến ngày 15 tháng giêng âm lịch. Mỗi khi đến thời điểm này trong năm, người Trung Quốc đang sinh sống và làm việc trên khắp đất nước đều sẽ tạm gác lại công việc lại để bắt đầu chuyến "xuân vận" trở về quê hương đoàn tụ bên gia đình.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 1.

Ảnh minh họa.

Do lãnh thổ Trung Quốc vô cùng rộng lớn nên mỗi địa phương lại có truyền thống đón tết khác nhau. Nhưng tựu chung lại, người dân đều sẽ thu dọn, quét tước nhà cửa để xua đi những điều không may của năm cũ, đồng thời trang trí xung quanh bằng các câu đối đỏ, đèn lồng dán giấy đỏ và đốt pháo để mong muốn có một cái Tết vui vẻ, một năm mới an lành.

Vào đêm 30 tết, người Trung Quốc sẽ quây quần lại với nhau làm những món ăn ngon để thờ cúng tổ tiên và thưởng thức bữa đại tiệc của gia đình. Đặc biệt, nếu năm con giáp trong lịch của người Trung Quốc là con nào thì người ta sẽ tránh ăn thịt con vật ấy vào đầu năm đó. Đến khi đồng hồ điểm 12h đêm, tất cả các nhà sẽ đồng loạt nổ những tràng pháo hoa để chào mừng một năm mới đã đến. 

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 2.

Bữa cơm ngày tết. Ảnh minh họa.

Thực đơn ngày Tết của người Trung Quốc đa phần là các loại bánh. Trong đó, bánh tổ (một loại bánh được làm từ gạo nếp, đường và một chút gừng tươi) là thức bánh không thể thiếu trong mâm cỗ truyền thống ở quốc gia này. Mọi người ăn món bánh này với mong ước các thành viên trong gia đình lúc nào cũng luôn kết dính, gắn bó với nhau bền vững. Chiếc bánh còn là món quà tặng phổ biến trong dịp đầu năm.

2. Hong Kong, Trung Quốc

Tết cổ truyền ở Hong Kong có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc, nhưng cách đón Tết của người Hồng Kông lại pha trộn giữa truyền thống Phương Đông với nét văn hóa phóng khoáng, mới mẻ của phương Tây

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 3.

Ảnh minh họa.

Từ ngày 25 đến 30 Tết âm lịch, người Hong Kong thường có thói quen đi chợ hoa xuân được để mua sắm tết. Ở Hội chợ này không thể thiếu những loại cây quen thuộc được mọi người tin tưởng có thể mang đến những gì tốt đẹp và may mắn nhất trong năm mới như quất, thủy tiên, mẫu đơn, cây đào.

Vào ngày đầu tiên của năm mới, người Hong Kong tập trung ở cảng Tsim Sha Tsui đón xem những tiết mục biểu diễn nghệ thuật của các vũ đoàn, các nhân vật Disney diễu hành trong tiếng nhạc rộn rã. 

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 4.

Ảnh minh họa.

Mùng 2 Tết, pháo hoa sẽ được bắn lên tại cảng Victoria và kéo dài 20 phút. Đây luôn xem là một trong những màn bắn pháo hoa đẹp nhất Thế Giới. Người xứ cảng thơm cũng có thói quen đi chùa cầu may và chơi đua ngựa như một cách thử vận may của bản thân vào đầu năm mới.

3. Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, năm mới chính thức bắt đầu từ ngày 1/1 Âm lịch. Nhưng từ những ngày cuối năm âm, không khí Tết đã tràn ngập khắp các ngả đường và trong mỗi gia đình. 

Vào ngày 30 Tết, các gia đình Hàn Quốc sẽ dọn vệ sinh nhà cửa sạch sẽ và tắm bằng nước nóng để tẩy trần trước giao thừa. Sau đó, họ mặc trang phục truyền thống hoặc những bộ quần áo đẹp nhất để cử hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên. 

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 5.

Ảnh minh họa.

Trong đêm Giao thừa, người Hàn Quốc đốt các thanh tre trong nhà để xua đuổi tà ma. Người Hàn Quốc quan niệm đêm Giao thừa không ai ngủ vì nếu ngủ thì sáng hôm sau sẽ bị bạc trắng cả lông mi và đầu óc kém minh mẫn khi thức dậy.

Mâm cỗ cúng đêm Giao thừa của người Hàn Quốc thường có tới hơn 20 món, trong đó không thể thiếu món ttok-kuk (một loại phở nước được chế từ bò hay gà), món cay kim chi, và canh bánh gạo - món canh mang ý nghĩa đem lại nhiều may mắn trong tương lai. Ngoài ra còn có các món khác như cá khô, thịt bò khô, bánh bao hấp, hoa quả, rau, hồng khô và các loại bánh cổ truyền.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 6.

Mâm cỗ cúng ngày đầu năm được sửa soạn đầy đủ.

Vào đầu năm mới, con cháu bái lạy ông bà, cha mẹ với ý nghĩa chúc mừng năm mới và chúc may mắn. Ông bà, cha mẹ sẽ thưởng tiền hoặc vàng, ngọc hay một món quà quý nào đó tuỳ thuộc vào tuổi, vị trí của người con cháu trong gia đình cũng như điều kiện, hoàn cảnh của gia đình đó. Sau đó, cả nhà cùng đi chúc tết hàng xóm, người thân, đi thăm mộ Tổ tiên và du xuân đến những nơi danh lam, thắng cảnh, hoặc tới chùa.

4. Triều Tiên

Kể từ năm 1989, Triều Tiên mới chính thức coi Tết Nguyên đán là một ngày lễ Tết quan trọng của đất nước. Nhưng đến nay, nó đã dần trở thành một phần văn hóa truyền thống không thể thiếu ở nơi đây. 

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 7.

Ảnh minh họa.

Tết của người Triều Tiên kéo dài hàng tuần với nhiều phong tục truyền thống đặc sắc như dán hình động vật lên cửa để cầu may, mời thầy pháp saman đến cúng tế và xem bói, bện người rơm rồi vứt ở ngã tư đường để tống khư mà quỷ, đốt tóc xua đuổi bệnh dịch và tổ chức đón trăng mọc.

Vào đêm 30 tết, các gia đình Triều Tiên sẽ quét dọn trong nhà ngoài hiên, treo câu đối, tranh Tết và làm cơm cúng lên tổ tiên giống với hầu hết các quốc gia khác.

Món ăn không thể thiếu trong dịp Tết của người Triều Tiên đó là món "cơm thuốc". Để chế biến món này, người ta đem gạo nếp hấp qua, rồi trộn với mật ong, hạt dẻ, táo, nhân hạt tùng, mỡ, tương... rồi hấp chín. Người Triều Tiên từ xa xưa đã coi mật là thuốc nên đã gọi loại cơm này là cơm thuốc. Loại cơm này dùng để đãi khách và cúng tổ tiên. Người Triều Tiên quan niệm, ăn loại cơm này vào đầu năm mới thì cả năm sẽ được sống sung túc và ngọt ngào.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 8.

Ảnh minh họa.

5. Singapore

Diễn ra cùng thời điểm với Tết Nguyên đán của người Việt Nam, Tết cổ truyền là một sự kiện trọng đại trong cuộc sống của người Singapore. Trong đó phải kể đến Lễ hội mùa xuân chào mừng năm mới với 3 sự kiện nổi bật: lễ hội Hoa đăng, lễ hội Singapore River Hongbao và lễ hội đường phố Chingay cùng nhiều hoạt động khác diễn ra liên tục từ 20 ngày trước tết đến hết ngày 15 tháng Giêng.

 
Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 9.

Ảnh minh họa.

Trong thời gian đó, người dân Singapore sẽ dành thời gian đi thăm họ hàng, bạn bè và đãi tiệc lẫn nhau. Cha mẹ và những người thân đã lập gia đình sẽ tặng cho con cháu chưa thành gia lập thất những phong bao lì xì đỏ như một cách cầu chúc may mắn trong năm mới đến.

Vào dịp này, mọi người cũng có thể tham gia nhiều hoạt động du xuân như đến các đền chùa để lễ thần phật xin lộc đầu năm và cả năm mới, hoặc vãn cảnh ở các vườn hoa, công viên, khu di tích, danh thắng văn hóa, hoặc các khu vui chơi giải trí trong cả nước…

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 10.

Yum Cha - 1 trong 2 món ăn truyền thống không thể thiếu đối với người dân Singapore

Trong dịp đầu năm mới, 2 món ăn truyền thống không thể thiếu đối với người dân Singapore chính là Yumcha và gỏi Yusheng. Trong khi Yumcha được biết đến như món quà tinh hoa từ trái tim với hàng chục món ăn từ dim sum như cảo, bánh bao, bánh cuốn, bánh ngọt, các loại thịt viên, chân gà chưng và cháo, được người Singapore tin rằng sẽ đem lại một năm an lành thì Yusheng dùng để chỉ sự thăng hoa phú quý và là biểu tượng cho sự sống trường tồn.

6. Mông Cổ

Ở Mông Cổ, 2 dịp lễ quan trọng được chờ đợi nhất là Tết tháng trắng (người dân địa phương gọi là Tsagaan Sar) vào tháng giêng và tết Naadam vào tháng 7. Trong đó, tết Tsagaan Sar được tổ chức cùng ngày với tết Nguyên đán của người Việt Nam.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 11.

Ảnh minh họa.

Trước tết, người Mông Cổ sẽ dọn dẹp nhà cửa, chuồng trại, tắm rửa, mặc quần áo mới để đón một năm mới sắp đến. Vào thời khắc Giao thừa thiêng liêng, người dân sẽ thực hiện tục uống trà. Trước tiên, họ pha trà rót ra 1 chén đầu tiên, đem ra trước sân nhà vẩy khắp 4 hướng. Chén trà thứ 2 dành mời chủ nhà, sau đó lần lượt mời các thành viên khác trong gia đình.

Trong 3 ngày Tết, người Mông Cổ sẽ chỉ mặc trang phục dân tộc. Mọi người thường tụ họp tại nhà của người già nhất trong vùng. Khi gặp nhau, người Mông Cổ chúc nhau bằng câu: "Chúc cho đàn cừu của bạn béo tốt". Sau đó, họ cùng nhau trò truyện, vui đùa, trao đổi các món ăn và thưởng thức chúng.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 12.

Những món ăn truyền thống ngày Tết Tsagaan Sar ở Mông Cổ gồm có thịt cừu, bánh buuz (tựa bánh bao) và bánh ul boov có hình dạng giống đế giày. Ảnh minh họa.

Món ăn truyền thống trong Tết Tsagaan Sar là các sản phẩm làm từ sữa cừu, bánh buuz (giống như bánh bao), thịt cừu, thịt bò, sữa dê, cơm ăn cùng với sữa đông; hay cơm ăn chung với nho khô, thịt cừu nướng, thịt ngựa, bánh buuz, sữa ngựa lên men hoặc rượu vodka trộn sữa.  

Ngoài ra, vào dịp Tsagaan Sar, người Mông Cổ tổ chức nhiều lễ hội gắn liền với các hoạt động trong cuộc sống thường ngày như đua ngựa, bắn cung...

1. Trung Quốc

Nói đến các nước ăn tết âm, có lẽ không thể không nhắc đến Trung Quốc - cái nôi của nền văn hóa Trung Hoa với những phong tục, tập quán đậm đà bản sắc và khó thể bị trộn lẫn bởi bất cứ một nền văn hóa nào khác.

Cũng giống như người Việt Nam, tết cổ truyền là kỳ nghỉ lễ quan trọng nhất trong một năm đối với người dân Trung Quốc và thường kéo dài từ ngày 8 tháng 12 âm lịch đến ngày 15 tháng giêng âm lịch. Mỗi khi đến thời điểm này trong năm, người Trung Quốc đang sinh sống và làm việc trên khắp đất nước đều sẽ tạm gác lại công việc lại để bắt đầu chuyến "xuân vận" trở về quê hương đoàn tụ bên gia đình.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 1.

Ảnh minh họa.

Do lãnh thổ Trung Quốc vô cùng rộng lớn nên mỗi địa phương lại có truyền thống đón tết khác nhau. Nhưng tựu chung lại, người dân đều sẽ thu dọn, quét tước nhà cửa để xua đi những điều không may của năm cũ, đồng thời trang trí xung quanh bằng các câu đối đỏ, đèn lồng dán giấy đỏ và đốt pháo để mong muốn có một cái Tết vui vẻ, một năm mới an lành.

Vào đêm 30 tết, người Trung Quốc sẽ quây quần lại với nhau làm những món ăn ngon để thờ cúng tổ tiên và thưởng thức bữa đại tiệc của gia đình. Đặc biệt, nếu năm con giáp trong lịch của người Trung Quốc là con nào thì người ta sẽ tránh ăn thịt con vật ấy vào đầu năm đó. Đến khi đồng hồ điểm 12h đêm, tất cả các nhà sẽ đồng loạt nổ những tràng pháo hoa để chào mừng một năm mới đã đến. 

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 2.

Bữa cơm ngày tết. Ảnh minh họa.

Thực đơn ngày Tết của người Trung Quốc đa phần là các loại bánh. Trong đó, bánh tổ (một loại bánh được làm từ gạo nếp, đường và một chút gừng tươi) là thức bánh không thể thiếu trong mâm cỗ truyền thống ở quốc gia này. Mọi người ăn món bánh này với mong ước các thành viên trong gia đình lúc nào cũng luôn kết dính, gắn bó với nhau bền vững. Chiếc bánh còn là món quà tặng phổ biến trong dịp đầu năm.

2. Hong Kong, Trung Quốc

Tết cổ truyền ở Hong Kong có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc, nhưng cách đón Tết của người Hồng Kông lại pha trộn giữa truyền thống Phương Đông với nét văn hóa phóng khoáng, mới mẻ của phương Tây

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 3.

Ảnh minh họa.

Từ ngày 25 đến 30 Tết âm lịch, người Hong Kong thường có thói quen đi chợ hoa xuân được để mua sắm tết. Ở Hội chợ này không thể thiếu những loại cây quen thuộc được mọi người tin tưởng có thể mang đến những gì tốt đẹp và may mắn nhất trong năm mới như quất, thủy tiên, mẫu đơn, cây đào.

Vào ngày đầu tiên của năm mới, người Hong Kong tập trung ở cảng Tsim Sha Tsui đón xem những tiết mục biểu diễn nghệ thuật của các vũ đoàn, các nhân vật Disney diễu hành trong tiếng nhạc rộn rã. 

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 4.

Ảnh minh họa.

Mùng 2 Tết, pháo hoa sẽ được bắn lên tại cảng Victoria và kéo dài 20 phút. Đây luôn xem là một trong những màn bắn pháo hoa đẹp nhất Thế Giới. Người xứ cảng thơm cũng có thói quen đi chùa cầu may và chơi đua ngựa như một cách thử vận may của bản thân vào đầu năm mới.

3. Hàn Quốc

Ở Hàn Quốc, năm mới chính thức bắt đầu từ ngày 1/1 Âm lịch. Nhưng từ những ngày cuối năm âm, không khí Tết đã tràn ngập khắp các ngả đường và trong mỗi gia đình. 

Vào ngày 30 Tết, các gia đình Hàn Quốc sẽ dọn vệ sinh nhà cửa sạch sẽ và tắm bằng nước nóng để tẩy trần trước giao thừa. Sau đó, họ mặc trang phục truyền thống hoặc những bộ quần áo đẹp nhất để cử hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên. 

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 5.

Ảnh minh họa.

Trong đêm Giao thừa, người Hàn Quốc đốt các thanh tre trong nhà để xua đuổi tà ma. Người Hàn Quốc quan niệm đêm Giao thừa không ai ngủ vì nếu ngủ thì sáng hôm sau sẽ bị bạc trắng cả lông mi và đầu óc kém minh mẫn khi thức dậy.

Mâm cỗ cúng đêm Giao thừa của người Hàn Quốc thường có tới hơn 20 món, trong đó không thể thiếu món ttok-kuk (một loại phở nước được chế từ bò hay gà), món cay kim chi, và canh bánh gạo - món canh mang ý nghĩa đem lại nhiều may mắn trong tương lai. Ngoài ra còn có các món khác như cá khô, thịt bò khô, bánh bao hấp, hoa quả, rau, hồng khô và các loại bánh cổ truyền.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 6.

Mâm cỗ cúng ngày đầu năm được sửa soạn đầy đủ.

Vào đầu năm mới, con cháu bái lạy ông bà, cha mẹ với ý nghĩa chúc mừng năm mới và chúc may mắn. Ông bà, cha mẹ sẽ thưởng tiền hoặc vàng, ngọc hay một món quà quý nào đó tuỳ thuộc vào tuổi, vị trí của người con cháu trong gia đình cũng như điều kiện, hoàn cảnh của gia đình đó. Sau đó, cả nhà cùng đi chúc tết hàng xóm, người thân, đi thăm mộ Tổ tiên và du xuân đến những nơi danh lam, thắng cảnh, hoặc tới chùa.

4. Triều Tiên

Kể từ năm 1989, Triều Tiên mới chính thức coi Tết Nguyên đán là một ngày lễ Tết quan trọng của đất nước. Nhưng đến nay, nó đã dần trở thành một phần văn hóa truyền thống không thể thiếu ở nơi đây. 

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 7.

Ảnh minh họa.

Tết của người Triều Tiên kéo dài hàng tuần với nhiều phong tục truyền thống đặc sắc như dán hình động vật lên cửa để cầu may, mời thầy pháp saman đến cúng tế và xem bói, bện người rơm rồi vứt ở ngã tư đường để tống khư mà quỷ, đốt tóc xua đuổi bệnh dịch và tổ chức đón trăng mọc.

Vào đêm 30 tết, các gia đình Triều Tiên sẽ quét dọn trong nhà ngoài hiên, treo câu đối, tranh Tết và làm cơm cúng lên tổ tiên giống với hầu hết các quốc gia khác.

Món ăn không thể thiếu trong dịp Tết của người Triều Tiên đó là món "cơm thuốc". Để chế biến món này, người ta đem gạo nếp hấp qua, rồi trộn với mật ong, hạt dẻ, táo, nhân hạt tùng, mỡ, tương... rồi hấp chín. Người Triều Tiên từ xa xưa đã coi mật là thuốc nên đã gọi loại cơm này là cơm thuốc. Loại cơm này dùng để đãi khách và cúng tổ tiên. Người Triều Tiên quan niệm, ăn loại cơm này vào đầu năm mới thì cả năm sẽ được sống sung túc và ngọt ngào.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 8.

Ảnh minh họa.

5. Singapore

Diễn ra cùng thời điểm với Tết Nguyên đán của người Việt Nam, Tết cổ truyền là một sự kiện trọng đại trong cuộc sống của người Singapore. Trong đó phải kể đến Lễ hội mùa xuân chào mừng năm mới với 3 sự kiện nổi bật: lễ hội Hoa đăng, lễ hội Singapore River Hongbao và lễ hội đường phố Chingay cùng nhiều hoạt động khác diễn ra liên tục từ 20 ngày trước tết đến hết ngày 15 tháng Giêng.

 
Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 9.

Ảnh minh họa.

Trong thời gian đó, người dân Singapore sẽ dành thời gian đi thăm họ hàng, bạn bè và đãi tiệc lẫn nhau. Cha mẹ và những người thân đã lập gia đình sẽ tặng cho con cháu chưa thành gia lập thất những phong bao lì xì đỏ như một cách cầu chúc may mắn trong năm mới đến.

Vào dịp này, mọi người cũng có thể tham gia nhiều hoạt động du xuân như đến các đền chùa để lễ thần phật xin lộc đầu năm và cả năm mới, hoặc vãn cảnh ở các vườn hoa, công viên, khu di tích, danh thắng văn hóa, hoặc các khu vui chơi giải trí trong cả nước…

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 10.

Yum Cha - 1 trong 2 món ăn truyền thống không thể thiếu đối với người dân Singapore

Trong dịp đầu năm mới, 2 món ăn truyền thống không thể thiếu đối với người dân Singapore chính là Yumcha và gỏi Yusheng. Trong khi Yumcha được biết đến như món quà tinh hoa từ trái tim với hàng chục món ăn từ dim sum như cảo, bánh bao, bánh cuốn, bánh ngọt, các loại thịt viên, chân gà chưng và cháo, được người Singapore tin rằng sẽ đem lại một năm an lành thì Yusheng dùng để chỉ sự thăng hoa phú quý và là biểu tượng cho sự sống trường tồn.

6. Mông Cổ

Ở Mông Cổ, 2 dịp lễ quan trọng được chờ đợi nhất là Tết tháng trắng (người dân địa phương gọi là Tsagaan Sar) vào tháng giêng và tết Naadam vào tháng 7. Trong đó, tết Tsagaan Sar được tổ chức cùng ngày với tết Nguyên đán của người Việt Nam.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 11.

Ảnh minh họa.

Trước tết, người Mông Cổ sẽ dọn dẹp nhà cửa, chuồng trại, tắm rửa, mặc quần áo mới để đón một năm mới sắp đến. Vào thời khắc Giao thừa thiêng liêng, người dân sẽ thực hiện tục uống trà. Trước tiên, họ pha trà rót ra 1 chén đầu tiên, đem ra trước sân nhà vẩy khắp 4 hướng. Chén trà thứ 2 dành mời chủ nhà, sau đó lần lượt mời các thành viên khác trong gia đình.

Trong 3 ngày Tết, người Mông Cổ sẽ chỉ mặc trang phục dân tộc. Mọi người thường tụ họp tại nhà của người già nhất trong vùng. Khi gặp nhau, người Mông Cổ chúc nhau bằng câu: "Chúc cho đàn cừu của bạn béo tốt". Sau đó, họ cùng nhau trò truyện, vui đùa, trao đổi các món ăn và thưởng thức chúng.

Không chỉ ở Việt Nam, tết Nguyên Đán còn là ngày lễ quan trọng ở những đất nước này - Ảnh 12.

Những món ăn truyền thống ngày Tết Tsagaan Sar ở Mông Cổ gồm có thịt cừu, bánh buuz (tựa bánh bao) và bánh ul boov có hình dạng giống đế giày. Ảnh minh họa.

Món ăn truyền thống trong Tết Tsagaan Sar là các sản phẩm làm từ sữa cừu, bánh buuz (giống như bánh bao), thịt cừu, thịt bò, sữa dê, cơm ăn cùng với sữa đông; hay cơm ăn chung với nho khô, thịt cừu nướng, thịt ngựa, bánh buuz, sữa ngựa lên men hoặc rượu vodka trộn sữa.  

Ngoài ra, vào dịp Tsagaan Sar, người Mông Cổ tổ chức nhiều lễ hội gắn liền với các hoạt động trong cuộc sống thường ngày như đua ngựa, bắn cung..

Hồng Anh sưu tầm.

Image result for chúc mừng năm mới 2018

 

 

Theo dõi RSS này