Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (941)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (22)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (58)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (194)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ KIẾN TRÚC SƯ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ 
 KIẾN TRÚC SƯ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM
Là một người Tây học, Nguyễn Trường Tộ đã có những công trình đóng góp cho sự hình thành thành phố Sài Gòn, đó là nhà thờ Saint Enfance, tu viện Saint Paul de Chartres và nhất là bản điều trần trước triều Nguyễn về việc canh tân đất nước. Rất tiếc triều đình Huế không nghe theo lời của ông mà hậu quả của nó đưa đất nước Việt Nam lạc hậu kéo dài tới tận ngày nay.
 
Còn những công trình kiến trúc của ông giờ chỉ còn tu viện Saint Paul de Chartres riêng nhà thờ Saint Enfance đã bị phá hũy từ thời mới thành lập thành phố Sài Gòn. Vì những công trạng và sự đức độ của ông người ta đã đặt tên ông cho một con đường ở quận 4 và tên một trường kỹ thuật ở số 2 Phạm Đăng Hưng (Mai Thị Lựu) quận 1.
 
 
 Tu viện Sainte Enfance của các soeurs dòng thánh Phao Lô (St Paul de Chartres) là tu viện nữ tu đầu tiên ở Việt Nam. Vào tháng Ba năm 1860, theo lời mời của Đức Giám Mục Dominique Lefebvre, hội dòng của các nữ tu dòng Saint -Paul de Chartres đã gửi hai sơ đến Sài Gòn, nơi mà họ lập một trại mồ côi cho trẻ em đường phố tên là Sainte - Enfance và cơ sở tạm thời gần tòa giám mục đầu tiên trên đường Nguyễn Công Trứ hiện nay (Quận 1). Trong năm sau, mẹ bề trên Reverend Benjamin đến từ Hồng Kông để quản lý các cơ sở này.
 
 Năm 1862, Đô đốc - đốc Bonard đã đáp lại yêu cầu của mẹ bề trên Reverend Benjamin cho một cơ sở lớn hơn là một lô đất rộng lớn trên đại lộ de la Citadelle (đường Cường Để - Tôn ĐứcThắng hiện nay), nằm giữa Chủng viện St Joseph và xưởng đóng tàu hải quân. Nguyễn Trường Tộ được bổ nhiệm là kiến trúc sư , và tháng 5 năm 1864 phức trường Sainte - Enfance - bao gồm trẻ mồ côi, nhà nguyện và nhà nguyện tu viện - đã được khánh thành. Hình trên của Émile Gsell chụp năm 1866 tức hai năm sau khi xây xong. Tòa nhà này sau đó vào cuối thế kỷ 19 được thay thế xây lại như còn lại hiện nay (tháp chuông không còn) – (Collection Gsell, 1866, ancien fonds du musée des colonies).
 
 
 
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
(1828 -1871)
 
 
Sinh năm 1828, ở làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An, trong một gia đình theo đạo Gia tô, nhưng Nguyễn Trường Tộ học thông tứ thư ngũ kinh của Nho giáo. Năm 27 tuổi, ông được giám mục Gauthier đưa vào chủng viện Tân ấp thuộc xứ đạo Xã Đoài để dạy chữ Hán cho giám mục, và được giám mục dạy lại cho chữ Pháp cũng như kiến thức khoa học châu Âu. Năm 1858, giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang Pháp để tạo điều kiện học tập, nâng cao kiến thức nhiều mặt.

 
Hơn hai năm ở Paris, chẳng những ông hiểu biết nhiều về khoa học - kỹ thuật, có trình độ như một kiến trúc sư, một người biết khai mỏ, mà còn đọc rộng về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật, v.v... và tìm hiểu được một số hoạt động công nghệ của nước Pháp.
 
Trên đường đi sang Pháp và trở về Việt Nam, Nguyễn Trường Tộ còn có dịp ghé qua Rome, dừng chân ở Singapore và Hongkong.
 
Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về Tổ quốc, phải cập bến Sài Gòn, khi tỉnh thành Gia Định đã bị quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha chiếm đóng.
 
Gần ba năm sống trong lòng địch, Nguyễn Trường Tộ bất đắc dĩ phải làm việc với quân Pháp, phiên dịch các công hàm trao đổi giữa triều đình Huế với Soái thủ Pháp ở Gia Định. Nhiều lần ông sửa bớt chữ nghĩa trong công hàm của đôi bên, tránh những lời lẽ quá khích, xúc phạm tới triều đình hoặc phương hại cho việc "tạm hòa". Nhiều lần ông tìm cách thông báo cho các sứ thần của triều đình như Nguyễn Bá Nghi, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ một số âm mưu quỷ kế của giặc Pháp.
 
Năm 1863, Nguyễn Trường Tộ tìm cách thoát ra khỏi khu vực chiếm đóng của quân Pháp, liên hệ được với triều đình Huế. Từ đây cho đến cuối đời ông viết hàng loạt điều trần, luận văn, tờ bẩm, trình nhiều kiến nghị có tầm chiến lược nhằm canh tân đất nước, tạo thế vươn lên cho dân tộc để giữ nền độc lập một cách khôn khéo mà vững chắc.
 
 
Hơn sáu mươi di thảo của Nguyễn Trường Tộ đã sưu tầm được, bàn về nhiều phương diện:
 
- Về mặt kinh tế, Nguyễn Trường Tộ vạch ra đường lối làm cho "nước giàu mà dân cũng giàu". Ông khuyên triều đình ra sức mở mang nghề nghiệp, học cách làm ăn của các nước văn minh Tây Âu, tránh bế quan tỏa cảng, mời các công ty kinh doanh nước ngoài đến giúp Việt Nam khai thác tài lợi để có thêm của cải và học cho được kỹ thuật cũng như cách làm ăn tiên tiến của họ. Có như vậy mới giữ được độc lập trong tư thế làm chủ đón khách... (xem Dụ tài tế cấp bẩm từ).
 
- Về mặt văn hóa - xã hội, Nguyễn Trường Tộ khuyên triều đình tìm mọi cách nâng cao văn hóa đất nước theo hướng coi trọng khoa học - kỹ thuật, để sớm nâng cao đời sống của nhân dân. Ông phê phán tình trạng kinh đô Huế luộm thuộm, mất vệ sinh, công thự dột nát, lương bổng quan lại quá ít ỏi,v.v... Ông nêu hàng loạt vấn đề quan trọng như: nên sáp nhập các tỉnh để giảm bớt số quan lại và có điều kiện tăng lương cho quan lại nhằm giảm tệ tham nhũng, khuyến khích tính liêm khiết; đề nghị sửa đổi chính sách thuế, đánh thuế nhà giàu nặng hơn nhà nghèo, đánh mạnh vào xa xỉ phẩm, mặt khác không nên cấm dân dùng đồ đẹp, đồ sang khiến cho văn vật ngày càng kém, áo xiêm ngày càng tồi; đề nghị sửa đổi chế độ thi cử, chú trọng bồi dưỡng nhân tài về nhiều mặt, thành lập các môn học thực dụng, dùng quốc âm trong công văn thay cho chữ Hán, lập địa đồ quốc gia và các tỉnh, kiểm kê dân số, lập trại tế bần, viện dục anh (nhà trẻ), v.v... (xem Điều trần về cải cách phong tục, Học tập bồi dưỡng nhân tài, Tế cấp bát điếu...).
 
- Về mặt ngoại giao, Nguyễn Trường Tộ phân tích cho triều đình thấy rõ cục diện chính trị trên toàn thế giới, để biết ứng xử một cách linh hoạt (xem Thiên hạ đại thế luận). Ông chỉ ra những mâu thuẫn giữa Pháp với Anh và Tây Ban Nha và khuyên triều đình nên chủ động mở rộng bang giao với nhiều nước, nhất là với nước Anh, để chế ngự bớt tham vọng và khả năng xâm lược của Pháp. Khi nước Pháp có sự biến lớn năm 1870 - 1871, vua Napoléon III mất ngôi, chế độ cộng hòa Pháp phục hồi, Nguyễn Trường Tộ nêu một loạt kiến nghị, hướng dẫn triều đình xúc tiến ngoại giao trực tiếp với Chính phủ Pháp, khéo léo đối phó, ngăn chặn bọn chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Soái phủ Sài Gòn, nhằm tìm cách thu hồi lại sáu tỉnh đã bị chiếm (xem Lục lợi từ và các tờ bẩm cuối năm 1866 đến tháng 2-1871).
 
- Về mặt quân sự, Nguyễn Trường Tộ tuy là một người "chủ hòa", nhưng không có tư tưởng "chủ hàng" hoặc hòa bình vô nguyên tắc. Năm 1867, ông khuyên triều đình "ra sức cải tu võ bị", đề phòng quân Pháp từ Nam Kỳ đánh lan ra cả nước. Ông là người đầu tiên nêu lên một chính sách quân sự có hệ thống như: trọng võ ngang trọng văn, quý trọng người lính, ưu đãi sĩ quan, biên soạn lý luận binh pháp, đào tạo cán bộ chỉ huy, tạo dựng một quốc thể về mặt binh bị, chuẩn bị điều kiện tác chiến trong thành phố, tìm cách dùng người trong vùng địch chiếm, v.v...
 
 
Ngoài những bản điều trần và luận văn tạo nên một công trình trí tuệ vĩ đại vô giá, Nguyễn Trường Tộ còn để lại một số hoạt động thực tiễn xuất sắc như: Năm 1862 - 1863, ông thiết kế xây dựng tòa nhà nguyện của dòng tu nữ ở Sài Gòn. Năm 1864 - 1866, ông thiết kế xây dựng bốn ngôi nhà trong giáo khu Xã Đoài. Mấy công trình này của ông thuộc về những công trình kiến trúc đầu tiên theo kiểu châu Âu ở Việt Nam giữa thế kỷ 19.
 
Cũng giữa những năm 60 thế kỷ 19, khi hoạt động ở quê nhà, ông đã giúp Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm đào Kênh Sắt, một công trình xưa kia Cao Biền rồi Hồ Quý Ly dự định làm mà không làm nổi. Ngoài ra, ông còn vận động dân chúng ở Xuân Mỹ, quê hương bên nhà vợ ông, cùng nhau dời làng từ trong núi rừng đầy lam chướng ra nơi thoáng đãng, thuận lợi canh tác.
 
Trí tuệ lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ đã vượt hẳn lên trên tầm thời đại giữa thế kỷ 19 ở Việt Nam. Vua Tự Đức tuy đã có lúc triệu ông "vào kinh để hỏi việc lớn" và phái ông sang Pháp thuê thầy thợ, mua sách vở, máy móc, định du nhập kỹ thuật (năm 1866 - 1867), nhưng nói chung, triều đình nhà Nguyễn cũng như các nho sĩ, văn thân thời ấy chưa hiểu nổi luồng tư tưởng của ông, nên chưa coi trọng đúng mức những kiến nghị cách tân của ông. Trí tuệ lỗi lạc của Nguyễn Trường Tộ bị lãng quên như một luồng ánh sáng rọi vào đám sương mù dày đặc.
 
Ông chết âm thầm ở làng quê Bùi Chu ngày 10 tháng 10 năm Tự Đức thứ 24, tức 23 tháng 11 năm 1871.(Huỳnh Ái Tông)
 

Kho báu cõi thiêng trước cơn lốc kim tiền

~~<><><><>~~

Ngôi nhà thờ xưa thanh thoát, kiểu kiến trúc Roma, gợi nhớ Vatican kỳ vĩ. Những bậc thềm lát gạch xưa cũ. Bên trong nhà nguyện yên ắng, lung linh ánh sáng vàng phản chiếu ở các ô cửa. Các nữ tu, mặc áo trắng, ngồi nguyện cầu lặng lẽ. Không gian ở đây bay bổng và thánh thiện, khác hẳn sự huyên náo bên ngoài.
Một ngày cuối thu, theo chân một đoàn chuyên viên khảo sát di sản, tôi đến tu viện Saint Paul ở số 4 Tôn Đức Thắng, gần nhà máy Ba Son. Sau khi đi xem nhà nguyện và tháp chuông, chúng tôi bước xuống chiếc cầu thang ra vườn hoa của tu viện. Bất ngờ, chúng tôi đi ngang qua chiếc cửa gỗ màu nâu bóng của một tầng hầm. Sơ ơi, đây là gì?

 
Vườn hoa bên trong tu viện Saint Paul, phía bên phải là nhà nguyện xây dựng 1864,
bên trái là nhà văn phòng xây dựng 1947. Ảnh KTS. Vĩnh Phúc
 
Cánh cửa quá khứ
 
Sơ đại diện tu viện hướng dẫn đoàn mở khóa cửa tầng hầm. Đèn sáng lên, chúng tôi bước vào quá khứ 155 năm của dòng tu Saint Paul. Ngay giữa tầng hầm là một sa bàn mô hình toàn cảnh các kiến trúc liên hoàn của tu viện. Nhìn sa bàn có thể nhận ra nhiều phần của tu viện trước đây đã bị chia cắt cho nhiều cơ quan khác. Chung quanh sa bàn, là các gian trưng bày, kể chuyện lịch sử dòng tu được thành lập và hoạt động giúp dân nghèo như thế nào. Rất cao cả và ý nghĩa, từ xa xưa dòng tu Saint Paul đã mở ra nhiều bệnh viện, phòng khám, trường học tại Sài Gòn, Hà Nội và nhiều tỉnh thành khác.

 
Chuông cổ 1896. Ảnh KTS. Vĩnh Phúc
 
Mỗi gian trưng bày đều có tranh ảnh, sơ đồ, hiện vật và hình mẫu mannequin sắp xếp rất phong phú và ấn tượng. Đặc biệt, các tủ kính có khá nhiều đồ vật thường dùng trong đời sống của hai thế kỷ trước.
 
Trong đó, tôi chú ý trước nhất là chiếc máy ảnh hình hộp có chân đứng, với giấy xác nhận xuất xưởng năm 1870. Kế đến, những chiếc đồng hồ để bàn, radio, máy ảnh, máy đánh chữ, máy quay phim... Và rồi máy quay ronéo, máy đóng sách, sổ sách, cặp sách cổ xưa... Thêm nữa, những dụng cụ y tế, dụng cụ âm nhạc, đàn organ xếp trong vali, máy hát dĩa, bát dĩa và quần áo của nhiều dân tộc... Nhiều đồ vật xưa đẹp chưa thấy có mặt trong bảo tàng thành phố, xứng đáng thuộc về danh sách những đồ cổ quý hiếm.
 

Chiếc máy chụp ảnh 1870
 
Ký ức thiêng liêng
 
Ở một góc khuất của tầng hầm là khu vực hầm mộ của các linh mục và nữ tu đầu tiên, có từ năm 1894. Những bình gốm đơn giản đựng tro của người mất, xếp ngay ngắn trầm mặc, đối diện một bức tranh chúa Jesus với quả tim đỏ thắm. Tu viện và dòng Saint Paul ở Việt Nam đã tồn tại xuyên qua ba thế kỷ.
 
Bản thân kiến trúc tu viện được coi là “trưởng lão” của Sài Gòn. Nguyện đường, tháp chuông và nhiều dãy nhà tại đây được hoàn thành năm 1864, cùng thời gian với tòa nhà Bến Nhà Rồng. Người thiết kế và chỉ huy xây dựng tu viện chính là Nguyễn Trường Tộ - một sĩ phu nổi tiếng về những bản điều trần thúc giục triều Nguyễn canh tân đất nước.
 

 
Bảo tàng Saint Paul
 
Bằng ấy chi tiết đã cho thấy tu viện Saint Paul không chỉ là một di sản kiến trúc phương Tây cổ điển ở một vùng đất phương Đông. Đó còn là kho báu lưu giữ ký ức của không chỉ một dòng tu mà hơn thế nữa lưu giữ ký ức của Sài Gòn và nhiều vùng đất. Thêm nữa, lưu giữ ký ức của nhiều thế hệ phụ nữ trong và ngoài nước tự nguyện cống hiến cuộc đời cho Chúa và cộng đồng. Chúng tôi thấy mình thật hạnh phúc khi được vào thăm một không gian ký ức xưa sống động đã may mắn tồn tại được sau nhiều năm tháng biến động.
 

 
Tủ kính đồng hồ, radio, máy điện thoại xưa. Ảnh KTS. Vĩnh Phúc
 
Tôi háo hức nghĩ đến việc tu viện Saint Paul sẽ trở thành một viện bảo tàng văn hóa - lịch sử mở cửa rộng rãi cho người xem trong và ngoài nước. Thế nhưng, sơ đại diện tu viện hướng dẫn đoàn trầm ngâm, chỉ cho chúng tôi xem dãy nhà bên cạnh, hiện là giảng đường và ký túc xá của Đại học Sài Gòn, tiếp giáp góc đường Tôn Đức Thắng và Nguyễn Hữu Cảnh.
 
Trước năm 1975, đây là một phần của tu viện dùng làm nơi dạy học. Sau đấy, tu viện chuyển cho nhà nước làm trường đào tạo giáo viên mẫu giáo. Nhiều năm nay, tu viện chỉ mong phần cơ ngơi này tiếp tục dùng cho giáo dục và giữ nguyên kiến trúc xưa. Nhưng gần đây, râm ran có tin Đại học Sài Gòn sẽ cho phá ra, xây lại từ các dãy nhà cổ. Đại học này trước đây là trường cao đẳng sư phạm, bây giờ phát triển đa ngành, đang cần thêm nhà cửa.
 
Mặt khác, Đại học Sài Gòn có thêm ngành kinh doanh và du lịch. Không biết nay mai người ta có nhân danh các ngành nghề đào tạo mới để đập bỏ kiến trúc cũ, xây khách sạn và nhà hàng “làm nơi thực tập cho sinh viên”? Nhất là khi, đối diện với tu viện, khu nhà máy Ba Son sẽ dời đi, trở thành khu trung tâm thương mại và căn hộ cao cấp. Phải chăng người ta định xây khách sạn, nhà hàng là để đón trước cơ hội buôn bán, làm ăn nhộn nhịp ở nơi này?

 
Bên trong nguyện đường Saint Paul. Ảnh Phúc Tiến
 
Chẳng biết rồi đây cơn lốc kinh doanh đang tràn lan các đô thị và tỉnh thành sẽ tiếp tục hủy diệt đến mức nào các di sản, các không gian có một không hai của lịch sử? Không thể khoanh tay trước những cơn lốc dã man đã và đang xóa bỏ ký ức đẹp của Sài Gòn và những vùng đất yêu dấu của người Việt. Mong thay những di sản như tu viện Saint Paul cần được trả lại đầy đủ không gian lịch sử của nó, trả lại sự trân trọng và tôn kính trước đóng góp của tiền nhân. (Phúc Tiến)
 
 
HÌNH ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN TU VIỆN
 
 
 
 
Trong bản đồ phối cảnh SG 1881 do Favre vẽ cũng thấy có ngôi nhà thờ này (gần góc dưới bên phải)
 
 
 
 
 
 
Kim Quy st 
--------
 
 
Xem thêm...

Vui quá, tôi đã chích ngừa covid !

Vui quá, tôi đã chích ngừa covid!

ღღღ

Về đến nhà thay quần áo xong, chị Bông ôm cánh tay rên rỉ:

– Ðau quá! Chích ngừa Covid đau quá…

Anh Bông đứng gần đó lẩm bẩm:

– Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột! Tôi cũng chích vaccine Pfizer lần 2 như bà cách đây vài ngày mà có kêu ca gì đâu.

– Anh khác em khác! Hai đứa mình luôn là hai con đường nghịch chiều, đến nỗi cả hai cùng lúc ghi danh chích ngừa mà cái hẹn vẫn kẻ trước người sau. Anh không một lời hỏi thăm an ủi thì thôi còn nói móc mỉa.

– Tôi nói đúng chứ không móc mỉa. Mấy hôm bão tuyết Texas vừa rồi trời thì lạnh căm căm, tuyết thì đầy sân mà bà xót xa cây hoa sứ vẫn để quên ở patio, bà sai tôi ra lấy vào nhà kẻo hoa sứ chết mất. Còn tôi thì sao, bộ mình đồng da sắt chắc? Trong khi bà ngồi trong nhà máy sưởi ấm đầy đủ lại khoác thêm mấy cái áo len áo gió, bà thong thả vén màn nhìn ra cửa sổ than thở trách trời oán đất và tuyên bố giờ này ai mà mời em đi đại tiệc cho tiền thưởng một triệu đô em cũng không thèm.

Chị Bông gạt đi, sụt sùi:

– Thôi, anh rót cho em ly nước ấm lên và lấy giùm em cái chăn cái gối mang ra sofa để em nằm nghỉ ngơi xem ti vi luôn thể. Ngày mai có thể em không còn sức mà nấu cơm, anh ra tiệm order cơm bún phở gì tùy ý nha.

– Bà làm như đang bị trận ốm long trời lở đất vì đại dịch ấy. Chưa đến ngày đi chích lần 2 mà bà đã… đau trước cả mấy ngày rồi.

– Thì các bạn trên diễn đàn đã chích lần 2, ai cũng than mệt mỏi đau nhức, em phải lo chứ.

– Bà đau vì “tâm trạng” chứ thịt da có đau là bao! Tôi còn lạ gì cái tính bi quan phóng đại của bà. Nhưng tôi cũng sẽ mang chăn gối ra ngay cho bà đây.

Anh Bông mang chăn gối ra nói tiếp:

– Từ tháng Giêng nghe tin thành phố Arlington chích ngừa Covid ngay tại Stadium Arlington theo thứ tự ưu tiên trong đó có người cao niên 65 tuổi trở lên, bà hào hứng lắm vì địa điểm cách nhà mình chỉ 10 phút, bà “sai” tôi ra hỏi cách ghi danh, còn bà nhất định không chịu đi vì sợ mang tiếng là người… “cao niên”.

Chị Bông lại gạt đi như thói quen mỗi khi thấy chồng có lý:

– Thôi, anh đừng nói nữa. Em biết rồi “cao niên” cũng có lợi, nhất là cái vụ chích ngừa Covid này, chích trước yên tâm trước.

Chiều hôm nay, 24 tháng Hai chị Bông đi chích ngừa Covid lần 2. Texas vừa trải qua cơn bão tuyết kinh hoàng kéo dài cả tuần, có nơi mất điện, có nơi mất nước, thời tiết lạnh thấu xương, đông đá, tuyết trắng cả đất trời. Khí hậu mới vừa ấm lại từ 20 tháng Hai. May mà cái hẹn của chị Bông không bị cancel như bao cái hẹn khác rơi ngay vào cao điểm tuyết nhiều lạnh nhiều.

Chị Bông nhớ lại lúc nãy đi chích ngừa, từ hai cô ngồi bàn tiếp nhận đến nhân viên, y tá ra đón đưa vào phòng, ai cũng vui vẻ nhiệt tình cứ làm như sau cú chích Covid này họ sẽ thu được của chị Bông món tiền công béo bở lắm. Chích xong ra khỏi cửa phòng, một nhân viên thân mến dán lên ngực áo chị Bông cái label ghi: “Texas Health Covid-19 Vaccine. I did it to Protect you. I got the shot”. Cô ta còn giơ ngón tay cái lên chúc mừng chị Bông như là một “người hùng”.

Khi ra về chị Bông chỉ biết “trả công” họ bằng nụ cười mãn nguyện và lời cám ơn “vô giá” từ đáy lòng chị mà thôi.

Giờ đây “người hùng” đang nằm đau một mình. Cuộn người trong chăn vẫn cảm thấy điểm chích nơi cánh tay trái căng cứng thêm, những khớp xương đau thêm, những cơ bắp đang rã rời thêm.

– Anh ơi, anh đâu rồi?

– Bà thều thào gì thế? Tôi đang đọc báo.

– Anh còn ngồi mà đọc báo được à? Anh thật là vô cảm!

Tiếng anh Bông vẫn từ trong phòng vọng ra:

– Bà cần gì thì cứ bảo.

Chị Bông nỉ non:

– Em đang đau râm ran khắp người, choáng váng toàn diện đây. Ðêm nay chắc là em sẽ mất ngủ, vậy sáng mai anh đừng khua động gì để yên cho em ngủ nha. Anh lo canh chừng kẻ nào vô duyên gọi phone đến nhà này quảng cáo tùm lum thì cúp phone luôn nha, không cần lịch sự lắng nghe hết câu làm gì.

– Bà chưa đi ngủ mà đã lo sẽ mất ngủ, đã dặn dò. Tôi đang đọc báo mạng có tin này kể là bà… hết đau, sẽ ngủ ngon liền.

Chị Bông vẫn bi lụy:

– Chẳng thuốc tiên nào cứu em được đâu!

Anh Bông đến bên chị Bông và kể:

– Tôi vừa đọc báo mạng Việt Nam, ngày hôm nay 24 tháng Hai là ngày bà đi chích Covid liều 2 thì bên Việt Nam người ta mới vừa nhận 2 lô thuốc đầu tiên gồm117,600 liều. Và mất khoảng 2 tuần lễ sau khi ngành y tế xem xét phê chuẩn mới mang thuốc ra sử dụng cho những diện ưu tiên tuyến đầu. Có nghĩa là đám dân đen cỡ như bà nếu ở Việt Nam thì đừng hòng trông chờ gì mình được chích ngừa ngay đợt này.

Chị Bông nghe xong, thốt lên:

– Lại kẻ quyền thế, kẻ có tiền bạc sẽ được ưu tiên. Mà dân Việt Nam ăn bánh vẽ quen rồi, như vụ chính phủ nói sẽ hỗ trợ cho dân tiền vụ Covid đấy. Trong khi ở Mỹ mình lãnh check 1,200 rồi mà dân Việt Nam còn đang… nằm mơ gói cứu trợ.

Anh Bông nói thêm:

– Khi Mỹ vừa công bố 2 loại thuốc chích ngừa Pfizer và Moderna lập tức được cả thế giới chú ý. Dân Mỹ là những người được thừa hưởng ngay thành quả ấy, trong khi dân các nước khác trong đó có Việt Nam lại chỉ thấy trong mơ.

– Ừ nhỉ, khi Nga, Trung cộng công bố tìm ra vaccine Covid, em đọc xong và… quên luôn tên thuốc; còn tên các vaccine của Mỹ thì em nhớ hoài Pfizer nè, Moderna nè, Johnson& Johnson nè…

– Ngay lúc này trên thế giới có bao nhiêu người đang chờ mong được chích ngừa Covid, muốn được đau tay, đau mình mẩy như bà còn chưa đến lượt, bà đỏng đảnh vừa vừa thôi. À, bà còn nhớ ông Du không?

Chị Bông nhanh nhảu:

– Ông bạn già mất nết của anh chứ gì! Vợ chết, bán nhà cửa ôm tiền về Việt Nam cộng thêm tiền lương hưu hàng tháng, ông mua nhà đẹp, thuê người giúp việc, sống phong lưu “vui hưởng tuổi già” với cô bồ trẻ tuổi hàng con cháu.

– Hết vui hưởng rồi bà ơi! Ông Du đang tìm cách mua vé máy bay về Mỹ để… chích ngừa Covid kìa. Ở Việt Nam liều thuốc Astrazeneca cũng chưa đến lượt ông chứ đừng nói đến thuốc Mỹ như Pfizer hay Moderna dù ông có nhiều tiền sẵn sàng móc ra chi trả. Mỗi ngày tuổi càng thêm già bệnh hoạn càng đến gần thì có khi chạy về Mỹ cũng không kịp.

Chị Bông tán thành:

– Ðừng nói là có tiền ở Việt Nam mua gì cũng được nhé.

– Bà đang là một trong số nhiều người sống trên đất Mỹ được hưởng bao lợi ích từ đất nước này. Nhân thế còn bao nỗi buồn khổ oán hờn, bao chết chóc bệnh hoạn đớn đau thì cái đau vì chích ngừa chỉ là hạt bụi nhỏ xíu xíu mà bà làm cho to chuyện thật là vô duyên. Thay vì nằm trùm mền rên rỉ, bà phải sung sướng reo lên: “Vui quá, tôi đã chích ngừa Covid rồi”, nhé!

Chồng nói quá đúng, chị Bông không gạt đi nữa mà tung hê chăn gối ngồi nhỏm ngay dậy:

– Ừ, bây giờ em la to lên đây, em reo hò lên đây: “Vui quá, tôi đã được chích ngừa Covid rồi”.

– Có thế chứ! Bà sẽ cảm thấy cái tay chích đau không là gì cả.

Chị Bông e lệ thú nhận:

– Em thừa biết chích liều 2 chỉ đau một hai ngày là hết, em cũng thừa biết bao người đang nôn nóng chờ đợi. Nhưng cái tính em cứ hay … sầu bi thế đấy và nếu không được chích chắc em sẽ… sầu bi hơn.

Chị Bông gấp chăn gối lại:

– Em vừa nhớ ra khi chích xong cô y tá đã dặn dò em phải hoạt động cánh tay chích để mau hết đau đó anh. Vậy ngày mai anh khỏi phải order thức ăn nha, anh muốn ăn gì? Nói đi, em nấu…

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

-------------

Hình Internet

Ngọc Lan st

Xem thêm...

Một Thoáng Sài Gòn – Hoa Xương Rồng

Một Thoáng Sài Gòn 

  ** Hoa Xương Rồng  **

 

Một Thoáng Sài Gòn – Hoa Xương Rồng

Tôi như nhiều người không sinh ra tại Sài Gòn nhưng suốt học trình từ Tiểu Học lên Đại Học được sống với thủ đô của miền Nam, mà qua tên gọi mỹ miều là “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Tôi suy tư về nguồn gốc các danh từ Sài Gòn và Hòn Ngọc Viễn Đông.
 Một thoáng Sài Gòn - 1

Theo sự truy nguyên, Sài Gòn thuở ban đầu là đất của người Khờ-me, là một làng đánh cá, có tên đầu tiên là Prey Nokor mà Prey là thánh thần (dieu, god) và Nokor là thành phồ hay đô thị (la ville; town, city), mang ý nghĩa là “thành phố thánh thần”.

Năm 1862, Việt Nam là thuộc địa của Pháp, người Pháp đặt tên chính thức là Saigon. Lấy theo cách giải thích vì sao người Pháp gọi là “Saigon” do theo âm ngữ của người Tàu (Thầy Ngòn, Xi Coón) hay Miên ngữ “Prey Nokor”. Từ đó Saigon được Việt hóa là Sài Gòn.

Vì là thuộc địa của Pháp, thành phố được Pháp xây dựng rất tối tân, mới lạ, được xem là bậc nhất của vùng Đông Nam Á vào thời bấy giờ. Nên Pháp xem đó là Hòn Ngọc Viễn Đông (la Perle de l’Extrême-Orient, the Pearl of the Far East) hay theo sự ví von của người Pháp là Paris Phương Đông (Paris de l’Orient, Paris in the Orient) để ám chỉ là một thành phố giàu sang, lịch lãm của Pháp ở vùng Đông Nam Á.

 

Một thoáng Sài Gòn - 2Đền Bà Ấn – Ảnh: wikipedia

Giả thuyết khác như theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, năm 1674 Thống suất Nguyễn Dương Lâm vâng lệnh chúa Nguyễn đánh Cao Miên và phá vỡ “Lũy Sài Gòn” (theo Hán Nho viết là “Sài Côn”). Đây là lần đầu tiên chữ “Sài Gòn” xuất hiện trong tài liệu Việt Nam. Vì thiếu chữ viết nên chữ Hán – “Côn” – được dùng thế cho “Gòn”. Như vậy, ngay từ năm 1674 đã có địa danh Sài Gòn, không phải đợi đến năm 1778 khi người Tàu ở Cù Lao Phố bị quân Tây Sơn tiêu diệt rồi chạy xuống lập nên Thầy Ngòn tức Đề Ngạn, hay Xi Coón tức Tây Cống.

Một thoáng Sài Gòn - 3

Dù sao thì Sài Gòn và Hòn Ngọc viễn Đông vẫn là một nơi quyến rũ, ấp ủ con tim bao thế hệ dù là gốc Âu hay Á. Trước khi tôi rời Sài Gòn vì biến cố chính trị 1975, những kỷ niệm lưu luyến với Sài Gòn hay Hòn Ngọc viễn Đông có nhiều lắm. Thời sinh viên thuở ấy sao mà đẹp đẽ trong ngắn ngủi, thời gian trôi qua như cái chớp mắt mà nay đã gần 4 thập niên ly hương, nhìn lại thấy mình không còn trẻ của lứa tuổi hai mươi của Sài Gòn mộng mơ, không còn nữa kỷ niệm đêm đêm tản bộ hóng mát dọc theo bờ sông Sài Gòn, hướng mắt về mái nhà lồng bên kia là Thủ Thiêm từ bến đò, bến bắc, gió thổi mát rượi từ mé sông, không còn nữa kỷ niệm Sài Gòn mưa lãng mạn ta phải luồn lách những vũng nước không tên, trong cái giá lạnh khi lượn xe gắn máy chạy trong cơn mưa rào xối xả từ trời cao mà nước mưa bắn văng tung tóe, Sài Gòn cũng đã chìm khuất vào dĩ vãng xa xôi, rồi khi kỷ niệm trở về chỉ còn lại những nỗi nhớ đáng yêu bằng nước mắt ấm đầy ắp những lưu luyến yêu thương trong tâm tưởng, đôi lúc âm thầm trở về, cơ hồ như Sài Gòn đã sống dậy mãnh liệt trong tiềm thức cũ, mãi mãi theo ta những nhờ nhung không nguôi như bài ca:

“Sài gòn bây giờ trời mưa hay nắng?

Tà áo em bay theo giọt nắng vàng

Con đường ta đi giòng sông kỷ niệm

Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng

Sài gòn bây giờ mưa giăng ngập lối

Hai đứa bên nhau âu yếm không rời

Đôi mắt yêu thương làn môi chờ đợi

Từng đợt mưa rơi.. bối rối bồi hồi

Sài gòn bây giờ lòng ai vương vấn

Mai anh đi rồi còn nhớ em không?

Đôi mắt nai tơ buồn xa vời vợi

Cơn gió vô tình đuổi lá vàng rơi

Sài gòn bây giờ có buồn không em?

Mưa vẫn rơi rơi.. từng giọt êm êm

Suối tóc thơm bay hương tình dịu nhẹ

Ngây ngất dạt dào con phố về đêm”

(Sài Gòn Niềm Thương Nỗi Nhớ

Tác Giả: Võ Tá Hân, Trần Ngọc)

Sài Gòn gắn bó với tôi bắt đầu bằng những ngày thơ ngây thành phố như một chốn phồn hoa đô hội, người ta có thể bị choáng ngợp với một đô thị mang dáng vẻ tây phương như người con gái kiều diễm, kiêu sa, đài các, rồi cũng ở một góc nào đó Sài Gòn ủ dột của phố đêm, lầy lội của xóm nghèo, trong nét bình dân của tiếng rao hàng, những con kinh nước đen,…

Một thoáng Sài Gòn - 4

Nhiều người sống với Sài Gòn, dù mưa hay nắng, ban ngày hay ban đêm, bận rộn tất bật hay nhàn rỗi rong ruổi với phố xá của nó. Thưởng thức những món ngon mà cả nhóm bạn tôi khoái khẩu nào là Mì Cây Nhãn, Mì Chú Hỏa, mì La Cay Nguyễn Tri Phương, hủ tiếu gà cá chợ cũ, hủ tiếu saté Lệ Thanh Chợ Lớn. Lề đường Sàigòn xưa có hàng me Nguyễn Du, có hàng sao cao vút khúc Võ Trường Toản, Trưng Vương. 

https://hoaxuongrong.org/Resources/media/images/Article/2017/1759/mot-thoang-sai-gon_5.jpg

Tôi nhớ rõ có những hàng phượng vĩ và hoàng điệp trong sân trường

Marie Curie

 Petrus Ký, Sài Gòn có trường Gia Long với món bò bía, xe đậu xanh đậu đỏ; có trường Luật Khoa trên đường Duy Tân với xe nước dừa uống môi em ngọt; có trường Dược khoa, Văn khoa trên đường

Cường Để chạy thẳng xuống bờ sông Sài Gòn có Bến Bạch Đằng,… Sài Gòn có những quán kem, quán cà-fé, quán ăn vỉa hè,…

 Một thoáng Sài Gòn - 6
Nữ sinh trường Gia Long năm 1969 với chiếc áo dài thướt tha.

Những sinh hoạt bình dị có quán cơm Bà Cả Đọi, quán Bắc Bà Ba Bủn; để thưởng thức những món Sài Gòn sự khoái khẩu với hệ quả Pavlov cồn cào dạ dầy sau những buổi tan học ngày cũ bạn bè rủ nhau đi ăn hàng Sài Gòn. Tôi nhớ con hẽm kín đáo Casino Sài Gòn nào những bún chả, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Cổ Ngư; những gánh hàng rong, những xe bán thức ăn của khu Bàn Cờ, khu Nguyễn Thiện Thuật, Chợ Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên, Chợ Đũi,… xen kẻ trong trí nhớ có nhiều lưu niệm trong ký ức xưa, có những nhà hàng, những điểm hẹn hò như: Passage Eden, Casino Sài Gòn, Mini Rex, La Pagode, Pôle Nord, Givral, Brodard, khu thương xá Tax,… Nhắc đến Sài Gòn có những nơi như Continental, Caravelle, Majestic,… Lề đường Saigòn còn có những gánh hàng rong. Thương nhớ làm sao kỷ niệm Sài Gòn có nước mía Viễn Đông có thịt phá lấu, có gỏi đu đủ gan cháy khô bò, có bánh bột chiên, có món bánh cay gần khu Chùa Chà Và mà nhà văn Thinh Quang nhắc tôi hôm nọ. Những thực khách của những nhà hàng sang trọng theo cung cách kiểu tây phương của Sài Gòn, nhưng rồi chính họ cũng là những giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Sài Gòn. Đó là những nét đặt thù của Sài Gòn, của người Sài Gòn, hay thuật ngữ phương tây “Saigonais”,  hoặc “Saigonese”.

Một thoáng Sài Gòn - 7

Nhớ Sài Gòn, làm sao quên nỗi những góc phố, những con đường của nơi ấy nhỉ? Năm 1865, Phó đô đốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807 – 1876) đại diện cho chính quyền Pháp tiến hành việc đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn của thành phố Sài Gòn mà trước đó chỉ được đánh số thứ tự. Trải qua hơn 300 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn đã có hơn 1.500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu các tên đường thay đổi do yếu tố chính trị. Thời Pháp thuộc thì đường Tự Do  xưa của ta là đường Catinat; rồi Pháp đặt Charnerta cho tên đường Nguyễn Huệ, Pháp đặt tên đường Mac Mahon ta là Công Lý; và đường Bonard là Lê Lợi; đường Mossard là đường Nguyễn Du; đường mang tên Phó đô đốc HQ Pháp De La Grandlière ta thay bằng tên vua ta đường Gia Long; đường Paul Blanchy tên ta là Hai Bà Trưng), đường Mayer là tên vua ta đường Hiền Vương; và đại lộ Boulevard de la Somme phe ta đặt tên vua, đại lộ Hàm Nghi, nhà tôi ở đường mang tên tây D’Espagne tên ta là vua Lê Thánh Tôn,…

pagoda

La Pagode

Những khách sạn thời Pháp thuộc tọa lạc ngay trung tâm Sài Gòn đã  là nhân chứng cho bao năm binh biến, vật đổi sao dời. Khách sạn Continental được các kiến trúc sư nổi tiếng của Pháp thiết kế và xây dựng vào năm 1880 và nay là khách sạn lâu đời nhất Việt Nam. Continental từng đón tiếp nhiều nhân vật nổi tiếng như nhà thơ Nobel của Ấn Độ là Rabindranath Tagore; văn hào Pháp André Malreaux là tác giả của La condition humaine (Thân phận con người 1933), sau làm Bộ trưởng Văn hóa Pháp (1959-1969); văn hào Anh Graham Greene (tác giả của sách bestseller “The Quiet American” – Người Mỹ Trầm Lặng); cựu tổng thống Pháp Jacques Chirac, và nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve (thủ diễn trong các phim đoạt giải điện ảnh Indochine, Le Dernier Métro, Belle de Jour),…

Một thoáng Sài Gòn - 9
Quán Givral, nhà sách Xuân Thu… phố xưa như nỗi nhớ

của người Sài Gòn, hồn của người Sài Gòn.

Chủ nhân đầu tiên của Continental là Pierre Cazeau, nhà sản xuất vật liệu xây dựng, sau bán lại cho Công tước De Montpensier. Chủ sau là Mathieu Francini. Ngoài ra, Continental còn có tên là “Radio Catinat”, nơi mà giới báo chí truyền thông tụ hội, trao dổi, thu nhặt tin tức thời sự “nóng” nhất, sai có, đúng có.

Một thoáng Sài Gòn - 10

Nhà hàng kỳ cựu sau Continental là Majestic, thành lập năm 1925, nằm ở góc đường Catinat và Luro (sau là Cường Để) nhìn ra bờ sông Sài Gòn, do một thương nhân người Tàu giàu có và nổi tiếng nhất nhì Sài Gòn thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (tức chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư người Pháp.

Một thoáng Sài Gòn - 11

Suốt gần 90 năm tuổi của mình, Majestic đã đón tiếp nhiều nhân vật quốc tế, hay chính khách: Tổng thống Pháp Mitterrand, Thái tử Nhật Akishino, Thủ tướng Lý Hiển Long của Singapore, Thái tử Đan Mạch Henrick, Thái tử Anh Andrew, công chúa Thái Lan Maha Chakri Sring Dhorn,…

Một thoáng Sài Gòn - 12

Các quán cà phê như La Pagode là nơi hội tụ của giới thơ văn, báo chí Sài Gòn một thuở như tụ quán Caffe Trieste nằm trên Vallejo Street (góc đường Grant) hướng bắc của phố San Francisco, chủ nhân là một người Ý di cư, nhưng quán cà phê nảy là nơi mà giới tao nhân mặc khách, những nghệ sĩ lui tới gặp gỡ nhau, nò là phòng hội của những nhà văn Lawrence Ferlinghetti, Alan Watts, Jack Kerouac, Allen Ginsberg, Richard Brautigan, Bob Kaufman, Gregory Corso, Michael McClure, Kenneth Rexroth, Neeli Cherkovski,… nhà thơ  nổi tiếng Jack Hirschman, nghệ sĩ Peter Le Blanc, Don Moses và nhiếp ảnh gia giải Pulitzer là Joe Rosenthal, rồi những Jimo Perini, Bill Cosby, Paul Kantner, Liam Mayclem, Joey Reynolds và Mal Sharpe,… Trieste còn là nơi thi sĩ gốc Nga giải Nobel văn chương Joseph Brodsky lui tới trau chuốt thơ của mình. Còn nữa. Rồi ở góc phòng còn phảng phất bóng dáng của nhà đạo diễn nổi danh Francis Ford Coppola ngồi đọc và đánh bóng kịch bản phim “The Godfather” những năm 70.

Một thoáng Sài Gòn - 13

Ngã năm Chuồng Chó trước đây – 

Paris có Café de Flore, ở ngay ngã Tư của Boulevard Saint-Germain và đường St. Benoit, nơi gặp gỡ ngày xưa của văn và triết gia như André Breton, Françoise Sagan, André Malraux, Francois Mauriac, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Albert Camus,…

Cái chung của La Pagode của Sài Gòn, Caffe Trieste của San Francisco hay hay Café de Flore của Paris là những địa điểm tụ họp của giới văn hoá nghệ thuật, những nơi có lịch sử của chính nó.

Một thoáng Sài Gòn - 14

“Nắng SàiGòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”

Sàigòn có thơ Nguyên Sa, có nhạc Ngô Thụy Miên, hỡi những ai đã từng đi dưới cơn nắng của Sài Gòn, bạn còn nhớ chứ?

Nhà thơ Vũ Uyên Giang cho bài thơ nhớ Sài Gòn xưa, Sài Gòn nhớ nắng, nhớ mưa:

ĐẤT KHÁCH LÒNG NHƯ ĐANG CÓ MƯA

Nhớ quá Sàigon của thuở xưa
Ta từ Bưu Điện bước ngang qua
Nhà thờ Đức Mẹ nằm im lặng
Con phố Hàn Thuyên nắng nhạt nhòa

Bóng mát hàng cây gió nhẹ nhàng
Con đường Thống Nhất rộng thênh thang
Thổi tung tà áo bay tha thướt?
Cuống quýt chân ai bước vội vàng?

Người lính tiền phương của chiến tranh
Loanh quanh lạc lối giữa đô thành
Gặp em cô nữ sinh nho nhỏ
Cùng đứng trú mưa dưới mái hiên

Ánh mắt nai tơ ngó thật hiền
Nụ cười tươi tắn đóa hoa tiên
Hồn anh đắm đuối sa trong mắt
Lính chiến nhưng tim lại rất mềm

Hai đứa ngồi trong quán Mai Hương
Nhìn ra khung cảnh ở bên đường
Giòng xe tấp nập tuôn đi mãi
Tiền tuyến về thăm em hậu phương

Cuộc đời như nước chảy hoa trôi
Từ đấy chúng ta xa cách đôi
Bàn cờ thua cuộc từ hôm ấy
Kẻ ở lao lung, kẻ cuối trời

Nhớ đến Sàigon một thuở xưa
Buổi chiều nhạt nắng lại rơi mưa
Gọi thầm khe khẽ tên ai đó
Đất khách trong lòng đang đổ mưa.

 

Hoa Xương Rồng

 

**************

 

 No photo description available.

 

Một thoáng Saigon
 
Top 5 Things to do in Ho Chi MInh City
*******
Thuở ấy thời sinh viên sao mà đẹp đẽ… Thời gian trôi qua như cái chớp mắt nay đã gần 4 thập niên ly hương, nhìn lại thấy mình không còn ở lứa tuổi hai mươi của Sài Gòn mộng mơ. Không còn nữa kỷ niệm đêm đêm tản bộ hóng mát dọc theo bờ sông Sài Gòn, hướng mắt về mái nhà lồng bên kia là Thủ Thiêm từ bến đò, bến bắc, gió thổi mát rượi từ mé sông. Không còn nữa kỷ niệm Sài Gòn mưa lãng mạn mà ta phải luồn lách giữa những vũng nước không tên, trong cái giá lạnh khi lượn xe gắn máy chạy trong cơn mưa rào xối xả từ trời cao nước mưa bắn văng tung tóe…
Sài Gòn cũng đã chìm khuất vào dĩ vãng xa xôi. Rồi khi kỷ niệm trở về chỉ còn lại những nỗi nhớ đáng yêu bằng nước mắt ấm đầy ắp những lưu luyến yêu thương trong tâm tưởng… Cơ hồ như Sài Gòn đã sống dậy mãnh liệt trong tiềm thức cũ, mãi mãi theo ta những nhớ nhung không nguôi như bài ca:
“Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng?
Tà áo em bay theo giọt nắng vàng
Con đường ta đi dòng sông kỷ niệm
Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng
Sài Gòn bây giờ mưa giăng ngập lối
Hai đứa bên nhau âu yếm không rời
Ðôi mắt yêu thương làn môi chờ đợi
Từng đợt mưa rơi… bối rối bồi hồi
Sài gòn bây giờ lòng ai vương vấn
Mai anh đi rồi còn nhớ em không?
Ðôi mắt nai tơ buồn xa vời vợi
Cơn gió vô tình đuổi lá vàng rơi
Sài gòn bây giờ có buồn không em?
Mưa vẫn rơi rơi… từng giọt êm êm
Suối tóc thơm bay hương tình dịu nhẹ
Ngây ngất dạt dào con phố về đêm”
(Sài Gòn Niềm Thương Nỗi Nhớ; Tác Giả: Võ Tá Hân, Trần Ngọc)
 
CHIM VỀ NÚI NHẠN: NGỠ NGÀNG TRƯỚC BỘ ẢNH SÀI GÒN XƯA (Trường Sơn- Hiển Đặng)
Sài Gòn gắn bó với tôi bắt đầu bằng những thơ ngây cũ nơi mà thành phố như một chốn phồn hoa đô hội. Người ta có thể bị choáng ngợp với một đô thị mang dáng vẻ Tây phương, như người con gái kiều diễm, kiêu sa, đài các… Ở một góc nào đó Sài Gòn ủ dột của phố đêm, lầy lội của xóm nghèo, trong nét bình dân của tiếng rao hàng, những con kinh nước đen,…
Nhiều người sống với Sài Gòn, dù mưa hay nắng, ban ngày hay ban đêm, bận rộn tất bật hay nhàn rỗi rong ruổi với phố xá của nó. Thưởng thức những món ngon mà cả nhóm bạn tôi khoái khẩu. Nào là Mì Cây Nhãn, Mì Chú Hỏa, mì La Cay Nguyễn Tri Phương. Nào hủ tiếu gà cá chợ cũ, hủ tiếu saté Lệ Thanh Chợ Lớn… Lề đường Sài Gòn xưa có hàng me Nguyễn Du, có hàng sao cao vút khúc Võ Trường Toản, Trưng Vương.
Một thoáng Sàigòn-Thơ Đài Sử(con trai Thanh Tâm TUyền (?)) | ĐỒNG HƯƠNG  KONTUM
Tôi nhớ rõ có những hàng phượng vĩ và hoàng điệp trong sân trường Petrus Ký. Sài Gòn có trường Gia Long với món bò bía, xe đậu xanh đậu đỏ. Có trường Luật Khoa trên đường Duy Tân với xe nước dừa uống môi em ngọt. Có trường Dược khoa, Văn khoa trên đường Cường Ðể chạy thẳng xuống bờ sông Sài Gòn, Bến Bạch Ðằng,… Sài Gòn có những quán kem, quán cà-fê, quán ăn vỉa hè,…
Những sinh hoạt bình dị có quán cơm Bà Cả Ðọi, quán Bắc Bà Ba Bủng… để thưởng thức những món Sài Gòn khoái khẩu với hệ quả Pavlov cồn cào dạ dầy, sau những buổi tan học ngày cũ bạn bè rủ nhau đi ăn hàng Sài Gòn. Tôi nhớ con hẻm kín đáo Casino Sài Gòn nào những bún chả, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Cổ Ngư; những gánh hàng rong, những xe bán thức ăn của khu Bàn Cờ, khu Nguyễn Thiện Thuật, Chợ Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên, Chợ Ðũi,… Xen kẽ trong trí nhớ có nhiều lưu niệm trong ký ức xưa, có những nhà hàng, những điểm hẹn hò: Passage Eden, Casino Sài Gòn, Mini Rex, La Pagode, Pôle Nord, Givral, Brodard, khu thương xá Tax,… Nhắc đến Sài Gòn có những nơi như Continental, Caravelle, Majestic ...
 
Một thoáng Sài Gòn xưa
Lề đường Sài Gòn còn có những gánh hàng rong. Thương nhớ làm sao kỷ niệm Sài Gòn có nước mía Viễn Ðông có thịt phá lấu, có gỏi đu đủ gan cháy khô bò, có bánh bột chiên, có món bánh cay gần khu Chùa Chà Và mà nhà văn Thinh Quang nhắc tôi hôm nọ. Những thực khách của những nhà hàng sang trọng theo cung cách kiểu Tây phương của Sài Gòn… Chính họ cũng là giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Sài Gòn. Ðó là những nét đặt thù của Sài Gòn, của người Sài Gòn, hay thuật ngữ phương Tây “Saigonais".
 
29 SAIGON OLD ideas | saigon, vietnam, vietnam history
Nhớ Sài Gòn, làm sao quên nổi những góc phố, những con đường của nơi ấy nhỉ? Năm 1865, Phó Ðô Ðốc Pierre Paul Marie de la Grandière (1807-1876) đại diện cho chính quyền Pháp tiến hành việc đặt tên cho 26 con đường trên địa bàn của Sài Gòn mà trước đó chỉ được đánh số thứ tự. Trải qua hơn 300 năm xây dựng và phát triển, Sài Gòn đã có hơn 1,500 con đường lớn, nhỏ và từ lâu các tên đường đã bao lần thay đổi do yếu tố chính trị: Thời Pháp thuộc đường Tự Do xưa của ta là đường Catinat… Pháp đã đặt Charner cho tên đường Nguyễn Huệ, Mac Mahon là Công Lý sau đó. Bonard thành Lê Lợi, Mossard là Nguyễn Du… Ðường mang tên Phó Ðô Ðốc HQ Pháp De La Grandlière ta thay bằng tên vua, đường Gia Long. Paul Blanchy tên ta là Hai Bà Trưng. Mayer thành đường Hiền Vương… Và đại lộ Boulevard de la Somme phe ta đặt tên vua, đại lộ Hàm Nghi… Nhà tôi ở đường mang tên Tây D’Espagne sau thành Lê Thánh Tôn.
Ngỡ ngàng trước bộ ảnh Sài Gòn xưa được tái hiện một cách chân thật
Những khách sạn thời Pháp thuộc tọa lạc ngay trung tâm Sài Gòn cũng đã là nhân chứng cho bao năm binh biến, vật đổi sao dời. Khách sạn Continental đã được kiến trúc sư Pháp thiết kế và xây dựng vào năm 1880 và nay là khách sạn lâu đời nhất Việt Nam. Continental từng đón tiếp nhiều nhân vật nổi tiếng, như nhà thơ Nobel của Ấn Ðộ là Rabindranath Tagore, văn hào Pháp André Malreaux là tác giả của La Condition humaine (Thân phận con người 1933), sau làm bộ trưởng Văn Hóa Pháp (1959-1969); văn hào Anh Graham Greene(tác giả của sách bestseller “The Quiet American” – Người Mỹ Trầm Lặng); cựu Tổng Thống Pháp Jacques Chirac, và nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve (thủ diễn trong các phim đoạt giải điện ảnh Indochine, Le Dernier Métro, Belle de Jour),…
Chủ nhân đầu tiên của Continental là Pierre Cazeau, nhà sản xuất vật liệu xây dựng, sau được bán lại cho Công Tước De Montpensier. Chủ sau nữa là Mathieu Francini. Ngoài ra, Continental còn có tên là “Radio Catinat,” nơi mà giới báo chí truyền thông tụ hội, trao đổi, thu nhặt tin tức thời sự “nóng“nhất, sai có, đúng có.
 
Nhìn ảnh Sài Gòn xưa mà lòng rưng rưng - Tuổi Trẻ Online
 
Nhà hàng kỳ cựu sau Continental là Majestic, thành lập năm 1925, nằm ở góc đường Catinat và Luro(sau là Cường Ðể) nhìn ra bờ sông Sài Gòn, do một thương nhân người Tàu giàu có và nổi tiếng nhất nhì Sài Gòn thời bấy giờ là Hui Bon Hoa (tức chú Hỏa) xây dựng theo đồ án thiết kế của một kiến trúc sư người Pháp. Suốt gần 90 năm tuổi của mình, Majestic đã đón tiếp nhiều nhân vật quốc tế: Tổng Thống Pháp Mitterrand, Thái Tử Nhật Akishino, Thủ Tướng Lý Hiển Long của Singapore, Thái Tử Ðan Mạch Henrick, Thái Tử Anh Andrew, Công Chúa Thái Lan Maha Chakri Sring Dhorn.
 
Những bức ảnh về nét ẩm thực của Sài Gòn xưa
Các quán cà phê như La Pagode là nơi hội tụ của giới thơ văn, báo chí Sài Gòn một thuở như tụ quán Caffe Trieste nằm trên Vallejo Street (góc đường Grant) hướng Bắc của phố San Francisco, chủ nhân là một người Ý di cư, nhưng quán cà phê này là nơi mà giới tao nhân mặc khách, những nghệ sĩ lui tới gặp gỡ nhau… Nó còn là phòng hội của những nhà văn Lawrence Ferlinghetti, Alan Watts, Jack Kerouac, Allen Ginsberg, Richard Brautigan, Bob Kaufman, Gregory Corso, Michael McClure, Kenneth Rexroth, Neeli Cherkovski,… nhà thơ nổi tiếng Jack Hirschman, nghệ sĩ Peter Le Blanc, Don Moses và nhiếp ảnh gia giải Pulitzer là Joe Rosenthal, rồi những Jimo Perini, Bill Cosby, Paul Kantner, Liam Mayclem, Joey Reynolds và Mal Sharpe,… Trieste còn là nơi thi sĩ gốc Nga giải Nobel văn chương Joseph Brodsky lui tới trau chuốt thơ của mình. Còn nữa. Rồi ở góc phòng còn phảng phất bóng dáng của nhà đạo diễn nổi danh Francis Ford Coppola ngồi đọc và đánh bóng kịch bản phim “The Godfather” những năm 70.
Nao lòng trước vẻ đẹp của thiếu nữ Sài Gòn xưa - Thời trang - Việt Giải Trí
Paris có Café de Flore, ở ngay ngã tư của Boulevard Saint-Germain và đường St. Benoit, nơi gặp gỡ ngày xưa của văn và triết gia như André Breton, Francoise Sagan, André Malraux, Francois Mauriac, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Albert Camus,…
Cái chung của La Pagode của Sài Gòn, Caffe Trieste của San Francisco, hay Café de Flore của Paris là những địa điểm tụ họp của giới văn hóa nghệ thuật, những nơi có lịch sử riêng biệt của chính nó.
Sài Gòn có thơ Nguyên Sa, có nhạc Ngô Thụy Miên… Hỡi những ai đã từng đi dưới cơn nắng của Sài Gòn, bạn còn nhớ chứ?
“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng…”
 
Nhà thơ Vũ Uyên Giang cho bài thơ nhớ Sài Gòn xưa, Sài Gòn nhớ nắng, nhớ mưa:
“Nhớ quá Sài Gòn của thuở xưa
Ta từ Bưu Ðiện bước ngang qua
Nhà thờ Ðức Mẹ nằm im lặng
Con phố Hàn Thuyên nắng nhạt nhòa…
Nhớ đến Sài Gòn một thuở xưa
Buổi chiều nhạt nắng lại rơi mưa
Gọi thầm khe khẽ tên ai đó
Ðất khách trong lòng đang đổ mưa.”
Sài Gòn qua nỗi nhung nhớ của nhà văn Trần Mộng Tú:
Xin đừng cố tỏ ra mình cũng là người tốt | Tiếng Dân
“Âm thanh của những tiếng động hàng ngày, như tiếng chuông nhà thờ buổi sáng, tiếng xe rồ của một chiếc xích lô máy, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng chuông leng keng của người bán cà rem, tiếng gọi nhau ơi ới trong những con hẻm, tiếng mua bán xôn xao khi đi qua cửa chợ, vẻ im ắng thơ mộng của một con đường vắng sau cơn mưa… Làm lên một Sài Gòn bềnh bồng trong nỗi nhớ.
“Sài Gòn mỗi tháng, mỗi năm, dần dần đổi khác. Chúng tôi lớn lên, đi qua thời kỳ tiểu học, vào trung học thì chiến tranh bắt đầu thấp thoáng sau cánh cửa nhà trường. Ðã có những bạn trai thi rớt Tú Tài phải nhập ngũ. Những giọt nước mắt đã rơi xuống sân trường. Sau đó, với ngày biểu tình, với đêm giới nghiêm, với vòng kẽm gai, với hỏa châu vụt bay lên, vụt rơi xuống, tắt nhanh, như tương lai của cả một thế hệ lớn lên giữa chiến tranh.
“Sài Gòn như một người tình đầu đời, để cho ta bất cứ ở tuổi nào, bất cứ đi về đâu, khi ngồi nhớ lại, vẫn hiện ra như một vệt son còn chói đỏ. Sài Gòn như một mảnh trầm còn nguyên vẹn hương thơm, như một vết thương trên ngực chưa lành, đang chờ một nụ hôn dịu dàng đặt xuống.”
Thi sĩ Phạm Sĩ Trung nhớ Sài Gòn:
“Sài Gòn ơi Sài Gòn
Những con đường thân quen
Hàng cây cao bóng mát
Tình yêu thật êm đềm
Sài Gòn ơi Sài Gòn
Nơi tôi đã lớn lên
Nhớ thương buồn vời vợi
Suốt đời chẳng sao quên”
 
Việt Hải
 

Kim Phượng st.

 

 

 

Xem thêm...

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 75 : NĂM

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 75 : NĂM

Đỗ Chiêu Đức
    ◇□□◇□□◇
                                      NĂM MÂY bỗng thấy chiếu trời,
                                  Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.
 
         NĂM MÂY là mây ngũ sắc, Mây có 5 màu thật đẹp, còn gọi là Tường Vân 祥雲, là mây lành, chỉ xuất hiện khi có thần thánh tiên phật hiện ra mà thôi. Còn NĂM MÂY trong câu thơ trên là chỉ mây ngũ sắc vây quanh lấy hình con rồng đang bay lượn được in trên "chiếu trời" là chiếu chỉ của thiên tử, là con của trời, chính là  nhà vua ngày xưa, ban bố  xuống cho quần thần nhân dân. Như hai câu thơ trên đầu đề :
 
                                  NĂM MÂY bỗng thấy chiếu trời,
                              Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.
 
      Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, bài "Lại vịnh Hán Cao Tổ" của vua Lê Thánh Tông đã mở đầu bằng hai câu :
 
                               Một mình khi ẩn núi Mang, Đường,
                               NĂM THỨC MÂY CHE điềm đế vương.
 
      NĂM THỨC MÂY CHE là do tích bà Lã Trĩ (vợ của Lưu Bang) nói với chồng: "Sở dĩ thiếp tìm đến được chỗ đang ở của chàng vì thiếp thấy có mây ngũ sắc ở trên trời chiếu rọi che chỡ cho nơi đó".
                             
 
          Còn trong bài TƯ DUNG VÃN của cụ Đào Duy Từ thì lại gọi là NGŨ VÂN, như trong hai câu thơ sau đây :
 
                                Phật đình nào khác vương đình,
                          NGŨ VÂN tán lớn, cảnh tinh thoại tường.
 
          Nhắc đến số 5, thì không thể quên NĂM ĐẤU GẠO, còn nói đến năm đấu gạo thì không thể không nhắc đến "Ngũ Đấu Mễ Tiên Sinh" là Đào Tiềm.
          Đào Tiềm 陶潛 (365-427) tự là Uyên Minh 淵明, người đất Sài Tang, Tầm Dương, nay thuộc thành phố Cửu Giang. Ông là một ẩn sĩ cao nhã đời Đông Tấn, từng làm huyện lệnh huyện Bành Trạch, nên còn được gọi là Đào Lệnh hay Đào Bành Trạch. Vì không chịu mỗi kỳ phải vận áo mão chỉnh tề để lòn cúi nghênh tiếp viên Đốc Bưu, để mỗi tháng nhận lãnh 5 đấu gạo lương thực, nên ông từ quan về ở ẩn, vì thế ngưi đời còn gọi ông là "Ngũ Đấu Mễ Tiên Sinh 五斗米先生"(Tiên sinh 5 đấu gạo). 
        Trong truyện thơ Nôm viết theo một câu truyện trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ là "Tứ Thức gặp Tiên" có câu :
 
                                        Vẻ chi NĂM ĐẤU GẠO vàng,
                                    Uốn lưng co gối cho càng tổn hơi.
         Sau NĂM ĐẤU GẠO, ta có NĂM ĐỨC, tức là 5 đức tính tốt của người quân tử ngày xưa theo quan niệm của Nho gia, 5 đức tính đó còn gọi là Ngũ Thường 五常, tức là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí Tín 仁、義、禮、智、信 . Còn theo sách Hàn Thi Ngoại Truyện 韓詩外傳 của Hàn Anh 韓嬰 đời Hán có ghi chép lại như sau : Con gà trống gồm đủ NĂM ĐỨC : Văn, Võ, Dũng, Nhân, Tín. Này nhé, tướng mạo oai vệ của con gà trống trên đầu có Kê quan 雞冠 là cái Mào gà, Quan 冠 là cái mào đồng âm với Quan 官là quan quyền. Nên cái Mào gà tượng trưng cho cái Mão của quan VĂN. Dưới hai chân gà đều có hai cựa như là hai mũi thương dùng để chiến đấu, tượng trưng cho VÕ quan. Khi gặp đối thủ thì gà lại sẵn sàng xông tới chiến đấu đến cùng, tượng trưng cho tinh thần DŨNG cảm. Khi tìm được thức ăn, gà trống luôn luôn kêu gọi bầy đàn đến để cùng ăn, chớ không ăn một mình , đó là lòng NHÂN hậu. Cuối cùng, gà trống luôn luôn gáy báo thức đúng giờ, không sai hẹn bao giờ, đó là hữu TÍN. Trong tác phẩm thơ Nôm "Lục Súc Tranh Công" con gà cũng đã tự hào về NĂM ĐỨC tính tốt nầy của mình như sau :
 
                                Này này! gà ngũ đức thẳm sâu:
                                Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.
                                Trên đầu đội văn quan một mũ;
                                Dưới chân đeo hai cựa thần thương...
 
       Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập bài thơ vịnh "CON GÀ" của vua Lê Thánh Tông đã mở đầu bằg hai câu :
 
                                Họ Chu từ thuở dưỡng nên thân, 
                                NĂM ĐỨC gồm no : trí dũng nhân...
 
 
           Như trên đã nhắc, Ngũ Thường 五常, tức là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín 仁、義、禮、智、信  trong sách Luận Ngữ của đạo Nho, trong tiếng Nôm còn được gọi là NĂM HẰNG. Theo phần giải thích trong《Thượng Thư. Thái Thệ Hạ 尚書·泰誓下》thì "Ngũ Thường còn gọi là Ngũ Điển 五典" với câu : Phụ nghĩa 父義、Mẫu từ 母慈、Huynh hữu 兄友、Đệ cung 弟恭、Tử hiếu 子孝。Có nghĩa : "Cha thì phải có cái nghĩa lớn, Mẹ thì phải có lòng từ ái, Anh thì phải có tình thân hữu đối với em, Em thì phải có lòng kính trọng đối với anh, và Con cái thì phải có lòng hiếu thảo với cha mẹ". 
      Trong văn học cổ của ta gọi TAM CƯƠNG NGŨ THƯỜNG là NĂM HẰNG BA MỐI, như trong bài thơ TƯ DUNG VÃN  của cụ Đào Duy Từ có câu :
 
                                                NĂM HẰNG BA MỐI làm đầu,
                                         Cội tùng nhành bách mặc dầu đông tây.
 
              Còn trong Phật giáo thì có NĂM MANG, mà NĂM MANG tức  là Ngũ Uẩn 五蕴 trong đạo Phật, đó chính là : Sắc Uẩn 色蘊、Thụ Uẩn 受蘊、Tưởng Uẩn 想蘊、Hành Uẩn 行蘊 và Thức Uẩn 識蘊.  SẮC là Hình Tướng, THỤ là Thị Dục,  TƯỞNG là Ý Niệm, HÀNH là Nghiệp duyên và THỨC là Tâm Linh. Tất cả chúng sinh đều do Ngũ Uẩn tích tụ lại mà thành. Trong tác phẩm SÃI VÃI của cụ Nguyễn Cư Trinh  khi cho  ông Sãi luận về chữ tu gần cuối bài có câu :  
 
                                 ... Bờ giác ngạn dễ đà đặng lại,
                                     Bởi thất tình còn hỡi NĂM MANG.
                                     Việc cổ kim chi xiết luận bàn,
                                     Lời phẫn uất trút ra tiêu khiển !
 
 
 
     Về mặt địa danh thì có NĂM HỒ, chữ Nho là NGŨ HỒ 五湖, là năm hồ nước lớn nhất của Trung Hoa, đó là Động Đình Hồ, Ba Dương Hồ, Thái Hồ, Sào Hồ, Hồng Trạch Hồ 洞庭湖、鄱阳湖、太湖、巢湖、洪泽湖. Nhưng trong văn học cổ, theo sách "Sử ký" ghi chép lại thì Ngũ Hồ ngày xưa là tên riêng của THÁI HỒ ở giữa hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang. Vào thời Xuân Thu thì Thái Hồ là ranh giới thiên nhiên giữa 2 nước Việt và Ngô; nơi mà sau khi đã hoàn thành Mỹ nhân kế, nước Ngô bị tiêu diệt, thì mưu thần Phạm Lãi đã đưa nàng Tây Thi xinh đẹp đến nơi đây để rong chơi rồi biệt tích luôn ở nơi nầy. Trong truyện Nôm HOA TIÊN KÝ của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện cũng có nhắc đến nơi đây :
 
                                   Buôn nan khói tỏa NĂM HỒ,
                             Lâm tâm bờ cỏ sông Ô khắp đường.
 
     Sau Năm Hồ ta có NĂM XE, chữ Nho là Ngũ Xa 五車, là do thành ngữ Học Phú Ngũ Xa 學富五車 (Học vấn giàu đến Năm Xe) nói gọn lại mà thành. Theo chương Thiên Hạ trong sách Trng Tử《莊子.天下》có câu :Huệ Thi đa phương, kỳ thư ngũ xa 惠施多方,其書五車。Có nghĩa : Huệ Thi (là một nhà tư tưởng thời Chiến Quốc) có nhiều phương pháp giải quyết công việc, sách của ông ta học có thể chứa đầy NĂM XE. Nên trong văn học cổ lấy NĂM XE để chỉ học vấn uyên bác, biết nhiều hiểu rộng, như trong bài "Hàn Vương Tôn Phú" của Đặng Trần Thường, một công thần ở đầu đời nhà Nguyễn, khi ở trong tù đã ví mình như là Hàn Tín ngày xưa. Trong bài phú trên, đoạn mở đầu có câu :
 
                           Kinh sử NĂM XE chứa chất, ngang trời dọc đất ấy kinh luân;
                           Tôn Ngô bảy quyển làu thông, đè sóng xông mây là chí khí.
           
                        

      NĂM XE là chỉ kiến thức ở trong lòng, còn cái gì đó đang ở trong lòng thì gọi là NĂM TRONG, chữ Nho là Ngũ Nội 五內, giới Đông y thì gọi là Ngũ Tạng 五臟, tức là Can Tâm Tì Phế Thận 肝、心、脾、肺、腎. Trong văn học cổ thì NĂM TRONG là chỉ lòng dạ, chỉ tấm lòng, như trong truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :
 
                                  Một lời để tạc NĂM TRONG,
                         Lan phòng nào biết văn phòng khát khao.  
 
      Về nghi thức để cưới vợ ở các nhà giàu có khi xưa thì có Lục Lễ. Theo sách LỄ KÝ và NGHI LỄ《禮記》和《儀禮》khi xưa. Đó chính là : Nạp thái, Vấn danh, Nạp các, Nạp trưng, Thỉnh kỳ và Nghinh thân 納采、問名、納吉、納徵、請期 和 迎親. NẠP THÁI là bà mai đại diện nhà trai đến dạm hỏi coi mắt cô dâu. VẤN DANH là trao đổi bát tự, ngày tháng năm sinh giữa hai bên . NẠP CÁT  là nhà trai tặng lễ vật để định ngày đám nói, đính hôn . NẠP TRƯNG còn gọi là Nạp Sính là ngày đám nói trao sính lễ . THỈNH KỲ là Ngày nhà trai mang lễ vật qua nhà gái để cho biết ngày Nghinh Thân rước dâu . NGHINH THÂN là ngày đám cưới rước dâu. Sau khi đã hoàn tất xong NĂM LỄ đầu thì chỉ còn lễ cuối là Nghinh Thân (Rước dâu) như trong truyện Nôm Quan Âm Thị Kính :
 
                                   Cá đi nhạn lại tin bay,
                           Đủ NĂM LỄ đã đến ngày thừa long.
 
       Cuối cùng ta có NĂM PHÚC, chữ Nho là NGŨ PHÚC 五福, là 5 cái PHƯỚC mà ai cũng mong mõi để có được. Vậy Ngũ Phúc là gì  ?...
       Xuất xứ từ chương Hồng Phạm của Kinh Thư《書經·洪範》là : "Nhất viết Thọ, nhị viết Phú, tam viết Khang Ninh, tứ viết Du Hảo Đức, ngũ viết Khảo Chung Mệnh 一曰壽、二曰富、三曰康寧、四曰攸好德、五曰考終命。Có nghĩa : "Một là Sống Thọ, Hai là Giàu Sang, Ba là Mạnh Khỏe, Bốn là Có tiếng Tốt, Năm là Chết An Lành". Nói gọn lại NGŨ PHÚC là : Danh, Lợi, Thọ, Kiện, Thiện Chung 名、利、壽、健、善終。NĂM điều mà sống ở trên đời nầy ai ai cũng mong mõi để có được ! Hằng năm cứ vào dịp Tết Nguyên Đán là người xưa (và cả người nay nữa) thường viết câu NGŨ PHÚC LÂM MÔN 五福臨門 để treo ở trước cửa nhà để cầu mong cho NĂM PHÚC sẽ đến với gia đình. Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập cũng có câu :
 
                              Hội lành đã gặp gồm NĂM PHÚC,
                              Trỏ non Nam, chúc thánh quân.
 
 
                     
 
       Hẹn bài viết tới !
 
  杜紹德   
  Đỗ Chiêu Đức
                                                                                           

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này