Âm nhạc

Âm nhạc (64)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

NGÀY XUÂN, NGHE LẠI “LY RƯỢU MỪNG” nhớ PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG

NGÀY XUÂN, NGHE LẠI “LY RƯỢU MỪNG”

nhớ Phạm Đình Chương

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương

 

“Ly Rượu Mừng” không chỉ cất lời chúc đầu năm, mà còn thổ lộ những nguyện cầu thiêng liêng và sâu thẳm, cho một nước Việt không còn cảnh tang thương, để người mẹ già “từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa” sớm thấy lại được “bước con về hòa nỗi yêu thương”.


Đó là câu hát mở đầu trong bản "Xuân khúc" được coi là kinh điển nhất trong lịch sử Tân nhạc Việt Nam: “Ly rượu mừng”. Ngay đã có người cho rằng, trong danh sách mấy trăm bài hát tự cổ chí kim của Việt Nam về ngày Tết, cần phải nhớ “Ly rượu mừng” “trước hết và hơn cả”, vì vắng nó, sẽ không có Tết, và nó phải là giai điệu mở đầu mọi chương trình Xuân.

Tác giả của bài hát, ca nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương, là một trong những tên tuổi hàng đầu của Tân nhạc Việt Nam. Ông sinh năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội trong một gia đình nghệ thuật mà song thân đều là những nghệ sĩ chơi nhạc cổ truyền. Chị của ông là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy, và em gái của ông là Phạm Thị Băng Thanh, tức danh ca Thái Thanh.

 


Ngoài ra, ông còn có một người anh cùng cha khác mẹ là Phạm Đình Viêm, về sau là ca sĩ Hoài Trung của Ban Hợp Ca Thăng Long nổi danh từ giữa thập niên 50 thế kỷ trước tại đất Sài Gòn hoa lệ, gồm Hoài Bắc Phạm Đình Chương, Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh và sau đó, thêm Khánh Ngọc, vợ ông. Nhận định về giọng ca Phạm Đình Chương, nhà văn Mai Thảo từng viết:

Bao nhiêu năm vẫn chỉ một con người, vẫn chỉ một phong cách. Ở giữa Hợp Ca Thăng Long lẫy lừng như vì sao ở giữa, hoặc cây Tây-ban-cầm ôm trước ngực ngoài tiền trường mênh mông lỗi lạc một mình, Phạm Đình Chương với những ca khúc ở mãi cùng lòng người, và Hoài Bắc với tiếng hát nam tôi cho là hay nhất, vẫn là Hoài Bắc Phạm Đình Chương của một con đường, một cõi nhạc riêng”.

Phạm Đình Chương đa phần tự học nhạc từ năm 13 tuổi và trên cương vị một nhạc sĩ, ông bắt đầu sáng tác năm 18 tuổi với ca khúc đầu tay “Ra đi khi trời vừa sáng” (năm 1947) khi đó ông cùng các anh em đang tham gia kháng chiến và gia nhập Ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV. Năm 1951, đại gia đình ông di cư vào Sài Gòn và bắt đầu tham gia đời sống văn nghệ cùng Ban Hợp Ca Thăng Long nổi tiếng.
 


Trong cả sự nghiệp âm nhạc, Phạm Đình Chương chỉ sáng tác trên dưới sáu mươi ca khúc, nhưng theo nhận xét của nhà thơ Du Tử Lê, “nếu tính phần trăm số lượng ca khúc trở thành bất tử của ông, từ sáng tác đầu tay, tới sáng tác sau cùng, tỷ lệ đó, không dưới tám mươi phần trăm tổng số sáng tác”. Và đó là “những viên kim cương âm nhạc, bất hoại; hầu hết đã được thời gian thực chứng”.

Sáng tác của Phạm Đình Chương, ngay từ giai đoạn đầu, đã bao gồm nhiều ca khúc để đời như “Ly Rượu Mừng”, “Xuân Tha Hương”, “Thuở Ban Đầu”, “Tiếng Dân Chài” và đặc biệt, “Trường ca Hội Trùng Dương” với bộ ba “Tiếng Sông Hồng”, “Tiếng Sông Hương” và “Tiếng Sông Cửu Long” cuồn cuộn và đầy chất hào sảng, hứng khởi về ba con sông lớn tượng trưng cho ba miền của quê hương. 

Cùng “Con Đường Cái Quan” và “Mẹ Việt Nam” của nhạc sĩ Phạm Duy, “Hội Trùng Dương” là biểu hiện đẹp nhất của dòng nhạc “tình ca quê hương, tình tự dân tộc” nửa đầu thập niên 50 thế kỷ trước, theo cách phân loại của Phạm Duy. Thời gian sau đó, Phạm Đình Chương tiếp tục tỏa sáng với những bản tình ca vẫn được hát thường xuyên tới ngày nay, mà như lời nhạc sĩ Cung Tiến, là “những khúc hát làm thăng hoa ái tình”.
 

Đặc biệt, Phạm Đình Chương còn được coi là một “phù thủy” trong việc phổ nhạc cho những vần thơ, biến chúng thành bất tử, như “Mộng Dưới Hoa” (thơ Đinh Hùng), “Nửa Hồn Thương Đau”, “Ngợi Ca Tình Yêu”, “Dạ Tâm Khúc” và “Đêm Màu Hồng” (thơ Thanh Tâm Tuyền), “Mắt Buồn” (thơ Lưu Trọng Lư), “Màu Kỷ Niệm” (thơ Nguyên Sa), “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ) hay “Đôi Mắt Người Sơn Tây” (phổ thơ Quang Dũng).

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, khi được hỏi, đã cho rằng Phạm Đình Chương bên cạnh Phạm Duy và Cung Tiến là những người phổ thơ xuất sắc nhất của Tân nhạc Việt Nam. Sau này, khi định cư tại Cali vào năm 1979, trong những sáng tác cuối cùng, ông vẫn tiếp tục phổ thơ:
 
“Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”, “Quê Hương Là Người Đó”, “Khi Tôi Chết, Hãy Đem Tôi Ra Biển”  của Du Tử Lê, hoặc “Hạt Bụi Nào Bay Qua” của Thái Tú Hạp.

Không chỉ sáng tác, Phạm Đình Chương còn “đích thực là linh hồn của Ban Hợp Ca Thăng Long, từ buổi đầu tới phút cuối”, như lời nhạc sĩ Phạm Duy khẳng định lúc ông ra đi. Đặt hết tâm huyết và tài tổ chức, điều hợp vào Hợp ca này, Phạm Đình Chương đã “có công đầu trong nỗ lực dẫn dắt nghệ thuật ca diễn của nền tân nhạc Việt, từ sông lạch đơn ca, chảy ra đại dương hợp ca nhiều giọng”, vẫn theo đánh giá của Du Tử Lê. 

Phạm Đình Chương qua đời vào mùa hè 1991 tại Hoa Kỳ, hưởng dương 62 tuổi. Năm 1998, tro cốt của ông, cùng của người anh Hoài Trung Phạm Đình Viêm đã được gia đình rải ngoài biển, có lẽ theo ý nguyện của ông khi phổ nhạc thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ Du Tử Lê:
 
 “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển - Nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi - Bên kia biển là quê hương tôi đó - Rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì...”.
 
Thái Thanh cùng Hoài Trung (trái) và Hoài Bắc trong Ban Hợp Ca Thăng Long 
 
Trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Đình Chương, “Ly Rượu Mừng” là một ca khúc có vai trò và số phận đặc biệt. Được sáng tác năm 1952 ngay sau khi tác giả vừa cùng gia đình di cư vào Sài Gòn, chắc chắn đây là bài hát được vang lên nhiều nhất của Phạm Đình Chương, nhất là trong những dịp Tết đến, Xuân về, nhưng ở trong nước, nó đã bị cấm ngặt kể từ sau biến cố tháng 4-1975, cho tới tận đầu năm nay, tức là gần 41 năm.

Không phải ngẫu nhiên, khi ca khúc được cấp phép trở lại cách đây ít ngày, nhiều người đã thốt lên, đây là ly rượu mừng xuân mà sau hơn bốn thập niên mới được rót và chúc tụng nhau.
Cũng là tròn một phần tư thế kỷ sau khi tác giả qua đời, ước vọng: “Nước non thanh bình - Muôn người hạnh phúc chan hòa - Ước mơ hạnh phúc nơi nơi - Hương thanh bình đang phơi phới” mới được chính thức cất lên trên quê hương ông.

Khác với hai ca khúc nổi tiếng cùng chủ đề mùa xuân của tác giả - “Đón Xuân” với tiết tấu nhanh, vui tươi, ước vọng một mùa xuân thái hòa không còn buồn khổ, và “Xuân Tha Hương” bâng khuâng, day dứt và luyến nhớ quê mẹ .
“Ly Rượu Mừng” rộn ràng, tưng bừng với giai điệu valse sống động. Nhạc phẩm dễ hát, ca từ cũng không có gì cao siêu, nhưng mang đậm tính ký ức, yêu thương và dịu dàng, khát khao và đằm thắm.

Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức
Người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó
Nhấp chén đầy vơi
Chúc người người vui
Muôn lòng xao xuyến duyên đời...


Chỉ trong một vài câu ngắn gọn, lời chúc lành đầu xuân đã được vang lên với nhiều giai tầng trong xã hội, và ở những đoạn tiếp tới, tác giả đã không quên một ai. Ca khúc chỉ hàm chứa một chữ “Xuân” ở câu mở đầu, và tất cả phần sau chỉ toàn những lời chúc và mong mỏi, cho con người và cho quê hương. Đặc biệt, cả bài hát không hề có những biểu tượng hay hình ảnh ngày tết thường gặp trong mọi ca khúc về ngày tết.
 

Ca khúcLy rượu mừng - Phạm Đình Chương- Ban hợp ca Thăng Long

Trong “Ly Rượu Mừng”, không hề thấy tả quang cảnh ngày tết với hoa đào, hoa mai, tràng pháo tết. hay bánh chưng xanh như lệ thường. Không có gì gợi nhớ hình ảnh “cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng”, “nhìn xác pháo bên thềm”, hay cảnh phố phường đông đúc với những cặp nam nữ tay trong tay “khăn san bay lả lơi trên hai vai” như của Đoàn Chuẩn trong “Gửi người em gái miền Nam” sáng tác sau đó vài năm. 

Điểm đặc biệt và cũng là đặc sắc này, có lẽ trong toàn bộ lịch sử Tân nhạc Việt Nam, chúng ta chỉ có thể tìm trong một ca khúc khác về mùa xuân, đó là "Mừng Xuân của Phạm Duy", sáng tác sau Phạm Đình Chương 22 năm.
 
Cả hai nhạc phẩm, tựu trung, không có gì khác ngoài những mong mỏi của con người được sống bình yên, được yêu thương, và cao hơn, xa hơn thế, đất nước được phú cường, tránh cảnh bom rơi đạn lạc:

Mừng Xuân tới bằng tiếng sáo vui 
Với tiếng cười yêu mến đời. 
Mừng Xuân tới bằng tiếng vỗ tay 
Vang khắp trời mây. 

Xin mừng anh chiến sĩ nơi tiền phương 
Giữ đất cho Việt Nam hùng mạnh. 
Nơi đồng xanh chúc bác dân cầy luôn 
Lúa tốt, hoa mầu tươi suốt năm 

Xin cho phố xá nơi thành đô 
Giới bán buôn làm to lời nhiều 
Chúc cho một nước dân đủ no 
Chúc cho một nước luôn tự do. 

Mừng Xuân tới bằng tiếng hát vang
Dưới mái trường hay giữa đàng 
Lời ca hát từ núi xa xăm 
Ra tận đại dương...


Ra đời trong bối cảnh chiến tranh và được hát lên liên tục trong hơn hai thập niên sau đó, khi cuộc chiến Việt Nam ngày một leo thang, lòng người ly tán, “Ly Rượu Mừng” không chỉ cất lời chúc đầu năm, mà còn thổ lộ những nguyện cầu thiêng liêng và sâu thẳm, cho một nước Việt không còn cảnh tang thương, để người mẹ già “từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa” sớm thấy lại được “bước con về hòa nỗi yêu thương”:

Bạn hỡi, vang lên
Lời ước thiêng liêng
Chúc non sông hòa bình, hòa bình
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
đợi anh về trong chén tình đầy vơi.

Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hoà
ước mơ hạnh phúc nơi nơi
Hương thanh bình đang phơi phới.


Mùa xuân 1975, “Ly Rượu Mừng” đã có mặt chính thức lần cuối cùng tại quê hương Việt Nam trong cuộn băng tuyển chọn các ca khúc đặc sắc về xuân phát hành thường niên do cơ sở băng đĩa nhạc của ca sĩ Ngọc Chánh tuyển chọn. 
Để rồi, như đại đa số các tác phẩm của giới văn nghệ sĩ miền Nam, bài hát đã phải có một giấc ngủ dài bốn thập niên, trong khi nó vẫn được thầm thì trên khóe môi nhiều người khi xuân về.

Những ai còn sở hữu hoặc có dịp nghe “Ly Rượu Mừng” trong bản thu âm dạo ấy, còn nhớ nó chính là nhạc phẩm mở đầu cuốn băng với phần trình diễn của Ban Hợp Ca Thăng Long, sau những âm giai còn đọng lại trong ký ức nhiều người:
 
Tiếng pháo nổ tại phòng trà Đêm Mầu Hồng; tiếng trống của đội lân Nhân Nghĩa Đường Chợ Lớn; tiếng Đại Hồng Chung của Viện Hóa Đạo; tiếng chuông Nhà Thờ Đức Bà...”.

Bên thềm năm mới, hãy cùng nhau nghe lại những giai điệu của ký ức ấy, nhớ về những mùa xuân năm ấy, và cùng nhau “nhấc cao ly này” để cùng mỏi mong cho một nước Việt “ngày mai sáng trời tự do”, khi “muôn người hạnh phúc chan hòa”, và “hương thanh bình đang phơi phới”, như tâm nguyện của Phạm Đình Chương, người nhạc sĩ lớn, đã từ giã chúng ta vào một ngày cách đây tròn một phần tư thế kỷ...(Nguyễn Hoàng Linh)

Phạm Đình Chương, Quê Hương Một Niềm

~~<><><><>~~

Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cả hai thân sinh ra ông đều chơi nhạc cổ truyền.

Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947, khi 18 tuổi, với tác phẩm đầu tay là ca khúc “Ra đi khi trời vừa sáng”. Năm 1951 ông và gia đình chuyển vào miền Nam. Với các anh em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng ông thành lập ban hợp ca Thăng Long danh tiếng.

Trong thập niên 50, ông đã viết những tác phẩm thành công và để đời như Ly Rượu Mừng, Xuân tha Hương, Thủa Ban Đầu, Tiếng Dân Chài v.v.. Đáng kể nhất là trường ca bất hủ Hội Trùng Dương mà ông viết về đất nước Việt Nam hoa gấm, qua ba bài ca nói về con sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.

Vào mùa hè năm 1991, ông lâm bệnh và mất đi vào ngày 22 tháng 8 năm 1991 tại quận Cam, California, hưởng thọ 62 tuổi. Theo như gia đình ông kể lại, sau khi người anh của ông là nghệ sĩ lão thành Hoài Trung qua đời tám năm sau đó. 

Năm 1998, vào một buổi sáng nắng ấm tại miền nam Cali, gia đình ông đã đem cốt của hai ông và rải ngoài biển, như trong một ca khúc ông viết trong thời gian cuối cùng, nhan đề “Khi Tôi Chết, Hãy Đem Tôi Ra Biển”, phổ từ thơ thi sĩ Du Tử Lê.

Nếu còn ở với chúng ta, Tháng Mười Một vừa qua, Phạm Đình Chương đã 85 tuổi.

Ông mất vào một ngày Tháng Tám, năm 1991. Gia đình và bè bạn ghi nhớ rằng ông thọ có 62 tuổi, nhưng văn học nghệ thuật có lẽ phải nhìn ra một tuổi thọ khác của Phạm Đình Chương, qua mấy trăm ca khúc về tuổi thanh xuân, tình yêu và quê hương.

Hãy nói về tiếng hát, vì ngày nay nhiều người đã có thể quên hoặc không biết.

Hoài Bắc là một trong những giọng nam điêu luyện và xuất sắc của nhạc Việt trong hạ bán thế kỷ XX, từ những năm 1950 đến 1975 và sau đó nữa. Tiếng hát Hoài Bắc đậm đặc chất giang hồ, của men rượu hòa trong khói thuốc. Nhưng có lẽ Phạm Đình Chương đã hy sinh tiếng hát ấy cho sự lẫy lừng của ban Thăng Long, mà ông là linh hồn, là con chim đầu đàn và tay hòa âm tuyệt vời.

 

Phòng trà Sài Gòn trước 1975 đã chẳng có nét văn nghệ rất phong lưu nếu không có tiếng hát và cây đàn Hoài Bắc cùng ly rượu và tiếng nhạc Phạm Đình Chương. Sài Gòn ngày nay thì chưa biết đã vội quên, thật đáng tiếc cho thính giả.

Quê ngoại Phạm Đình Chương là Sơn Tây, và hai bài thơ bi hùng của Quang Dũng là “Đôi Bờ” và “Đôi Mắt Người Sơn Tây” được ông đưa lên đỉnh cao của thi ca, khi phổ vào nhạc thành ca khúc “Đôi Mắt Người Sơn Tây”, có lẽ là ca khúc quen thuộc nhất của ông ở miền Nam trước đây.

Người trình bày tác phẩm này với nét trượng phu bi hùng nhất lại chính là Hoài Bắc, những khi ấy, đôi mắt ông còn long lanh hơn ly rượu trong tay!

Nhớ lại Phạm Đình Chương và những chuyến lưu diễn cùng ông ở nhiều nơi sau 1975, Quỳnh Giao nghĩ rằng từ đầu và mãi mãi về sau, Phạm Đình Chương không đi theo đám đông mà tự tạo một thế giới âm thanh riêng, ông không viết cho thị hiếu quần chúng hay trào lưu của xã hội. Ông mở ra trào lưu riêng. Phạm Đình Chương chỉ biết buồn và viết nhạc buồn khi viết về tình yêu.

Ngoài Quang Dũng với các thính giả miền Nam, nhiều thi sĩ thực ra có món nợ với Phạm Đình Chương khi ông phả thơ của họ vào cõi nhạc để đọng mãi trong hồn người. Nhiều người yêu nhạc đã tìm đến thơ cũng nhờ thanh âm Phạm Đình Chương.

Ông nắm lấy cái hồn của bài thơ và vẽ ra một không gian khác, một tâm tư khác, bằng nhạc. Phải chăng vì những bằng hữu chí thiết nhất của ông là những nhà thơ, nhà văn, những người cầm bút?

Hoài Trung, Thái Thanh, Hoài Bắc Phạm Đình Chương 

Nhưng, bản tình ca tuyệt diệu nhất của Phạm Đình Chương “Nửa Hồn Thương Đau” ông đã viết nhạc và phần lớn lời ca với một chút ý từ bài thơ Lệ Đá Xanh của Thanh Tâm Tuyền, trong một phút xuất thần.

Ông nhận lời Quốc Phong – chủ tịch Liên Ảnh Công Ty & nhà văn Văn Quang sẽ soạn một ca khúc riêng cho phim “Chân Trời Tím” nhưng bạn bè làm ông quên bẵng, cho tới khi men rượu lay ông tỉnh vào đêm cuối cùng trước kỳ hạn với bạn!

Đấy là phút giây kỳ diệu của sáng tác.

Sau khi ra khỏi Việt Nam, Phạm Đình Chương tiếp tục ôm đàn và viết nhạc. U uẩn hơn, ray rứt hơn. Nếu bài “Xuân Tha Hương” được viết tại Sài Gòn mà làm ta nhớ Hà Nội thì gần 40 năm sau, tại hải ngoại, Phạm Đình Chương lại viết một khúc bi ca nữa về quê hương.

Lần này, bài ca làm ta nhớ Sài Gòn. Phổ thơ Du Tử Lê, bài “Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn” có thể là một nhắc nhở nồng nàn nhất về Phạm Đình Chương, trong những năm cuối đời.(NV)

 •♬•♫•❤️•♬•♫•❤️•♬•♫•.

 

Từ “Ly rượu mừng” đến “Nửa hồn thương đau”

Có thể nói, cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đượm nhiều uẩn khúc và nhiều bi kịch. Năm 1953 ông lập gia đình với ca sĩ và sau này là diễn viên nổi tiếng, Khánh Ngọc. Những người thuộc lứa đầu bạc chắc không thể nào quên ca sĩ Khánh Ngọc của thập niên 50 trong bản nhạc Pháp “Cerisier Roses et Pommiers Blances” với lời Việt “Vườn xuân ong bướm, ngất ngây ngất ngây lòng ta…” .

Vào năm 1955, một đoàn làm phim Mỹ-Phi đến Sài Gòn để tìm diễn viên cho bộ phim “Ánh sáng miền Nam” và Khánh Ngọc đã được chọn đóng vai chính. Cuộc đời tình ái của đôi trai tài-gái sắc Phạm Đình Chương-Khánh Ngọc tràn trề hạnh phúc… cho đến khi xảy ra chuyện “loạn luân” trong đại gia đình nhạc sĩ. 

Bi kịch có liên quan đến nhiều thành viên: Nhạc sĩ Phạm Duy là chồng của Thái Hằng, Thái Hằng là chị của Phạm đình Chương và cũng là chị của Thái Thanh. Khánh Ngọc là vợ của Phạm đình Chương, Phạm Duy trong vai trò anh rể lại “tằng tịu” với Khánh Ngọc, em dâu của mình.

Ca sĩ Khánh Ngọc

Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh dư luận. Với tình yêu nồng thắm buổi ban đầu, ông không thể nào tin vào sự ngoại tình đã được đồn thổi. Điều thương tâm nhất là ông vẫn yêu thương, tin tưởng vợ và bỏ ra ngoài tai những điều không tốt lành của giới văn nghệ sĩ tại Sài Gòn.

Cho đến một buổi tối “định mệnh”, Phạm Đình Chương cùng với những người bạn thân "bắt tại trận" cuộc tình vụng trộm của đôi tình nhân tại quán chè ở Nhà Bè - Gia Định. Sáng hôm sau, một loạt bài phóng sự đều tra nóng bỏng được tung ra trên tờ nhật báo “Sài Gòn Mới" của bà Bút Trà. Vụ "ăn chè Nhà Bè" khiến cả Sài Gòn đều biết.

Cho dù Phạm Duy cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng các bài điều tra, phóng sự nhưng "hoạ vô đơn chí", trong cuộc đời này, cái gì càng dấu diếm bao nhiêu, càng được "bùng nổ" và thêu dệt bấy nhiêu. Suy cho cùng, các cụ ta thường nói, và nói rất đúng: “Xướng ca vô loại”!

Nỗi đau dày xe tâm can và sự tan nát của một đại gia đình nghệ sĩ đã "đánh gục' nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi ông phát hiện chuyện vượt ra ngoài luân lý. Đã có lúc Phạm Đình Chương nghĩ đến chuyện tự tử nhưng tiếng khóc của đứa con trai đưa ông về hiện tại. Ông gạt nước mắt đau thương, nộp đơn ly dị lên toà án. Vụ việc kết thúc và Phạm Đình Chương được quyền nuôi đứa con trai lúc bấy giờ khoảng 5 tuổi.

 

Biến cố đó là một động lực cho sáng tác “Nửa hồn thương đau” với những ca từ như nức nở:

“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa.

Cho tôi về đường cũ nên thơ.

Cho tôi gặp người xưa ước mơ.

Hay chỉ là giấc mơ thôi.

Nghe tình đang chết trong tôi.

Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời…”

“Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau

Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau

Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào?

Anh ở đâu ?

Em ở đâu ?”

............ 

“Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt.

Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất.

Và tiếng hát và nước mắt. 

Đôi khi anh muốn tin.

Đôi khi anh muốn tin.

Ôi những người, ôi những người.

Khóc lẻ loi một mình...”

“Nửa hồn thương đau” chính thức ra đời năm 1970 để chấm dứt một thời kỳ sáng tác u uẩn và quạnh quẽ của một người chồng vẫn một lòng thương yêu người vợ đã phản bội mình. Bản nhạc như rút ruột lòng người và bản nhạc cũng đánh dấu một giai đoạn sáng tác của người nhạc sĩ tài hoa nhưng bạc phận.

Khi ra nước ngoài, Phạm Đình Chương vẫn sáng tác một số ca khúc mang tính cách hoài niệm: “Bên trời phiêu lãng”, “Cho một thành phố mất tên”, “Đêm, nhớ trăng Sài Gòn”… Và trong khi “Ta ở trời tây” Phạm Đình Chương có lời nhắn nhủ:  “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”.

 

✧✧✧✧

Hình Internet

Kim Quy sưu tập 

 

 

 

Xem thêm...

Những chuyện tình trong các bài nhạc Giáng Sinh nổi tiếng trước năm 75

Hình ảnh có liên quan

 

  Những chuyện tình trong các bài nhạc Giáng Sinh nổi tiếng trước năm 75  

Một mùa Noel nữa lại về, những giai điệu du dương thiết tha về tình yêu trong đêm Giáng Sinh sau một thời gian ngủ vùi đã thức giấc cuốn hồn ta vào những cảm xúc lãng mạn của thế giới nhạc tình đầy mộng mơ!

Từ một kỷ niệm đẹp!

Đã qua biết bao mùa Noel trong cái se lạnh của Hà Nội. Đã qua vài mùa Noel trong không khí hân hoan tràn trề tuổi xuân ở Sài Gòn. Đã đọng lại trong tâm hồn một thời tuổi đôi mươi với những đêm Noel gắn với hai thành phố thân thương trong hành trình cuộc đời nhưng tôi vẫn không sao quên được một mùa Noel ở Đà Lạt.

Năm ấy, tiết trời không se lạnh như Hà Nội, cũng không ấm áp như Sài Gòn, Đà Lạt đang vào đợt rét ngọt. Khách sạn nơi chúng tôi ở là một ngôi biệt thự cổ, nghe nói chủ nhân của nó thời xưa rất nổi tiếng khắp phương Nam, ngôi biệt thự này nằm ngay ngã ba rất gần với nhà thờ lớn nhất Đà Lạt mà dân gian quen gọi nhà thờ Con Gà. Cái lạnh tê tái không ngăn được dòng người đổ về thành phố sương mờ từ khắp nẻo đường. Có cả những đoàn xe ở các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên và nhiều nơi khác cũng đổ về nơi đây. Từ sớm, chúng tôi dạo một vòng quanh khu vực trung tâm thành phố, ghé qua một vài quán café nhạc. Và những giai điệu của “Bài thánh ca buồn” cứ vút vào hồn người nghe không sao mà quên được.

Bỗng nhiên thích ngắm nhìn những đôi tình nhân đang hạnh phúc bên nhau và chìm trong những giai điệu âm nhạc lãng mạn. Chợt nghĩ, không biết, người viết nên những giai điệu kia có đã từng một thời được sống trong khoảnh khắc đẹp của tình yêu trong những đêm Noel mộng mơ ấy hay không mà lại viết được những giai điệu tình cảm như rút ra từ trong hoài niệm.

Bài thánh ca đó còn nhớ không em?
Noel năm nào chúng mình có nhau
Long lanh sao trời đẹp thêm đôi mắt
Áo trắng em bay như cánh thiên thần
Giọt môi hôn dưới tháp chuông ngân…

 Thái Châu – Bài Thánh Ca Buồn – Thu Âm Trước 1975 

Hẳn nhiên rồi, đó là một thời tuổi trẻ đã qua, khi ấy, “nàng” thướt tha trong tà áo dài trắng đồng phục của những nữ sinh trung học và chắc hẳn “chàng” cũng chỉ chừng ấy tuổi đời. Hóa ra, “Bài thánh ca buồn” chính là câu chuyện tình đẹp nhưng dang dở và có một điều thú vị, Đà Lạt mộng mơ chính là nơi chứng kiến câu chuyện tình này, để rồi sau nhiều năm chàng trai trong cuộc tình đã biến kỷ niệm đẹp đó thành khoảnh khắc bất tử trong ca khúc “Bài thánh ca buồn”.
“Chàng” khi ấy mới 14 tuổi, là dân gốc Hà Nội nhưng gia đình sống tại Đà Lạt. “Nàng” lớn hơn “chàng” chừng một hai tuổi, là một cô gái xinh đẹp và ngoan đạo. Nhà “nàng” ở trong ngõ, ngày ngày vẫn thường đi qua nhà “chàng”. Cũng vì cảm mến với “nàng” thành ra đi lễ nhà thờ Con Gà trở thành thói quen với “chàng” lúc nào không hay. Thế rồi, trong một lần sau lễ Giáng sinh trên đường về thì trời đổ mưa. “Nàng” và “chàng” cùng trú bên hiên một ngôi nhà, văng vẳng đâu đó âm thanh của ca khúc “Đêm Thánh vô cùng”. Có thể “nàng” không hề biết về mối tình đơn phương của chàng trai kém tuổi nhưng với “chàng” thì khoảnh khắc đó như một mồi lửa cứ âm ỉ “cháy” trong trái tim. Để rồi chừng 14 năm sau đó, vào tháng 10 năm 1972, khi “chàng” đã thực sự trở thành một chàng trai trưởng thành với tâm hồn nghệ sĩ, “Bài thánh ca buồn” đã ra đời chỉ vẻn vẹn trong khoảng chừng 2 giờ. Không lâu sau bài hát được hãng đĩa Sơn Ca nổi tiếng bậc nhất Sài Gòn thời ấy mua độc quyền và nó đã nhanh chóng đến với công chúng yêu nhạc qua giọng hát Thái Châu. Sau đó, bài hát còn được gắn với giọng ca Evils Phương.

Hơn bốn chục năm sau, khi đã bước sang những năm 2000, câu chuyện tình hờ thành bất tử này mới được nhạc sĩ Nguyễn Vũ chia sẻ với báo giới. Ông sáng tác không nhiều và gần hết cuộc đời sống lặng lẽ cùng với gia đình tại quận Tân Bình. Dẫu không xuất hiện trước công chúng nhưng cả cuộc đời vẫn lấy âm nhạc làm bạn, ông mở lớp dạy nhạc ngay tại tư gia.

  Nhiều tình khúc hay gắn liền với Noel  

Cùng với “Bài thánh ca buồn” trong đời sống âm nhạc Việt bao năm qua còn có không ít những ca khúc hay viết về tình yêu gắn liền với các mùa Noel trở thành người bạn tâm tình của biết bao đôi lứa yêu nhau.

Có một bài hát khác có giai điệu trữ tình, nhẹ nhàng, đầy quyến rũ trong một câu chuyện tình gắn liền với Noel khác, cũng rất nổi tiếng trong lòng người yêu nhạc Việt Nam bao nhiêu năm qua. Đó là nhạc phẩm “Hai mùa Noel” của nhạc sĩ Đài Phương Trang.
Đây là câu chuyện được tác giả kể về hai người trẻ gặp nhau và quen nhau bên giáo đường trong một mùa Noel, cùng quỳ bên hang Bê Lem để nghe lời kinh thánh và cùng nguyện ước cho ngày mai sẽ mãi cùng sánh bước bên nhau trong những mùa Noel. Nhưng rồi mùa Noel lại đến mà cuộc tình thì đã chia xa, chỉ còn lại những khoảnh khắc đẹp của những giây phút bên nhau dù ngắn ngủi nhưng sẽ mãi được giữ trong trái tim của chàng trai:

Mùa Noel đó chúng ta quen bên giáo đường
Mùa Noel đó anh đón em vào tình yêu

Mùa Noel qua chúng ta chia tay giã từ
Hẹn nhau năm tới khi Giáng Sinh về muôn nơi

Mình trao cho nhau hoa lồng nhẫn cưới thiệp hồng
Dìu nhau xem lễ đêm đông, bên nhau muôn đời anh ơi

   Anh Khoa – Hai Mùa Noel – Thu Âm Trước 1975   

“Đặc quyền” của nhạc Việt!

Từ lâu rồi tôi vẫn có ý nghĩ vui vui như thế khi nhắc đến những ca khúc viết về đề tài Noel trong dòng ca khúc Việt Nam. Chủ yếu các ca khúc đều nói về tình yêu đôi lứa. Nhiều trong số đó là những cuộc tình đã chia xa. Và những ca khúc này rất dễ dàng được người yêu nhạc cả nước đón nhận. Có một điều lẽ ra sẽ phải là lạ, nhưng cái lạ đó đã biến mất để rồi nó mặc nhiên trở thành điều tất yếu trong mỗi người khi chợt nhắc đến nhạc Noel đó là nhạc tình yêu. Trong khi Noel là một ngày lễ lớn trong sinh hoạt tôn giáo. Lẽ thường, như nhiều ca khúc về Noel trên thế giới nói đơn thuần về đề tài tôn giáo; hoặc không thì ca ngợi Noel là một ngày lễ mang lại niềm vui, hạnh phúc, tình yêu cho mọi người. Ca khúc Việt Nam cũng vậy, nhưng trong đó, rất nhiều nhạc sĩ dành Noel để giãi bày hạnh phúc – khổ đau – nhớ nhung riêng tư trong tình yêu đôi lứa.

Những câu chuyện tình trong đêm Noel ấy sau khi ra đời thường nhanh chóng được công chúng đón nhận và lan tỏa trong đời sống tâm hồn người Việt. Để rồi nó sẽ mãi là những câu chuyện tình nói thay cho tâm trạng yêu đương của những đôi lứa yêu nhau. Và như thế, nó sẽ mãi khiến ta nhớ và luôn bên ta trong suốt quãng đường đời, cho dù tình yêu đó có thể đã không còn ở lại bên ta.

   Lương Tấn Thịnh sưu tầm   

 

Xem thêm...

Tuấn Ngọc với tình khúc Từ Công Phụng

Related image
 
 

ĐÊM 50 NĂM TÌNH CA TỪ CÔNG PHỤNG THÀNH CÔNG QUA 20 TIẾT MỤC TẠI HÍ VIỆN SEGERSTROM

Ca sĩ Tuấn Ngọc trình bày trong chương trình Từ Công Phụng 50 Năm Tình Ca

Rạp hát sang trọng Segerstrom Center for the Arts, Irvine, CA - USA

 
Nhạc Sĩ Từ Công Phụng, hiện sinh sống tại thành phố Portland Oregon, đã nhanh chóng phục hồi sức khỏe trong thời gian hai năm, Nhạc sĩ Từ Công Phụng đã bình phục mang một tinh thần phấn đấu mạnh mẽ và yêu đời, được bạn hữu, giới văn nghệ và rất nhiều khán thính giả yêu mến những ca khúc trữ tình của ông. Dù thành công khó khăn như thế nhưng theo ông: “Để có được hạnh phúc, là phải loại bỏ tham vọng”…
Thứ Bảy 23 tháng 6 2012 vừa qua tại hí viện sang trọng 1,700 chỗ: Segerstrom- Costa Mesa California, đông đảo khán thính giả và bằng hữu các ca sĩ, tài danh hàng đầu trong giới văn nghệ đã về đây vinh danh 50 năm tình ca Từ Công Phụng.
Một số ca sĩ hàng đầu đã hát lại những ca khúc tình tự quen thuộc từ 50 năm qua.
Riêng nhà thơ Du Tử Lê, người bạn đồng hành với Từ Công Phụng qua những lời thơ cho nhạc thơ mộng, chgo dòng nhạc kỳ diệu chắp cánh, nhân dịp này cũng muốn vinh danh những người vợ hy sinh cho chồng, điển hình như phu nhân của người nhạc sĩ họ Từ.
Từ khi mất Sài Gòn 1975, mãi đến vài năm sau, vợ chồng nhạc sĩ Từ Công Phụng mới đến được Hoa Kỳ định cư tại Portland-OR. Trong những năm đầu cả hai người cùng bận rộn sinh kế nhưng vẫn luôn “quanh quẩn ” với làng báo và ca nhạc.
Một trong những buổi hát thính phòng đầu tiên của nhạc sĩ tổ chức từ năm 1996 tại China Harbor- Seattle. Vài năm sau đó nhạc sĩ Từ Công Phụng từng đảm trách vai trò MC, dẫn chương trình cho Hollywood Night (Mây Productions) tại San José. Kế đến là các chương trình chủ đề về ông do Trung Tâm Thúy Nga thực hiện.
Trái với định luật, thời gian sẽ xóa nhòa và quên mau, nhưng những năm về sau trong đời sống tị nạn, mỗi ngày lại càng có mỗi tăng thêm lượng khán giả yêu mến. Thêm nhiều tiếng hát “hậu sinh” góp phần mang dòng “Nhạc Tình” Từ Công Phụng thêm thăng hoa như Trần Thu Hà, Y Phương, Johnny Dũng, Nguyên Khang, Diễm Liên…, nối tiếp Khánh Ly, Ý Lan, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Xuân Sơn.. v.v…
Phóng sự đầu tiên do SBTN và NVTB thực hiện tại Portland, khi lần đầu có tin nhạc sĩ Từ Công Phụng lâm bệnh vào đầu tháng 6 năm 2010, qua phóng sự cho thấy sức mạnh của nhạc sĩ, tiếng hát khoẻ, thiết tha cộc sống, chính là tinh thần lạc quan yêu đời thể hiện. Năm vừa qua vào ngày 28-tháng 8 năm 2011, đêm nhạc thính phòng tại Portland cũng đã thành công rực rỡ.
Gần đây nhất lại thêm một vinh dự-niềm vui lớn mà Từ Công Phụng có được trong đêm 50 năm Tình Ca cuối tuần qua tại hí viện Segerstro với tài phối trí tổ chức của Việt Dzũng.
Trong đêm nhạc 50 năm vừa qua, không khí thính phòng thu hút hồn khán giả ngay với những ca khúc hâm nóng thật sự đi vào không gian thính phòng với “Như Ngọn Buồn Rơi”, “Trên Tháng Ngày Đã Qua”, nghe thân quen và từng được gắn liên với tên tuổi Tuấn Ngọc, cho hý viện trở nên lắng đọng qua diễn xuất và trình bày Y Phương .
Nếu từ 16 năm trước tại Seattle, Johnny Dũng, Thái Hiền, Nhật Hạ với những ca khúc như “Trên Đỉnh Bình Yên”, “Bây Giờ Tháng Mấy”, “Trên Ngọn Tình Sầu”, “Giọt Lệ Cho Ngàn Sau”, “Kiếp Dã Tràng” và cũng qua những ca khúc này Johnny Dũng đã hát trong các chương trình thính phòng do Bạch Hạc tổ chức tại Houston. Bích Vân hát với Từ Công Phụng, cũng như Diễm Liên với Nguyên Khang. Cũng từ Nguyên Khang làm nổi bật “trên Ngọn Tình Sầu”. Và sau hết là Ý Lan cùng với tác giả của Đêm 50 Năm Tình Ca.
Cố ca nhạc sĩ MC Việt Dzũng tổ chức vinh danh đêm 50 năm tình ca Từ Công Phụng với ca nhạc sĩ Từ Công Phụng
Tuấn Ngọc và Ý Lan vẫn là người được “ưu tiên” chọn những ca khúc nổi bật, và đã gắn liền họ với Từ Công Phụng. Ca khúc kết thúc chương trình 50 Năm Tình Ca Từ Công Phụng là “Giữ Đời Cho Nhau”, còn có tên gọi khác là “Ơn Em” phổ từ thơ Du Tử Lê. Đây cũng là vinh dự đến đáp nhà thơ Du Tử Lê trong tìng bạn gắn bó trên 40 năm giữa hai người. Thay vì nói về những ca khúc “Trên Ngọn Tình Sầu” và kỷ niệm, nhà thơ Du Tử Lê đã nhân dịp này thay mặt thân hữu và Từ Công Phụng để “tri ân” đến người bạn đời chung thủy của Từ Công Phụng. Trong khi đó nhạc sĩ Đăng Khánh lại nhấn mạnh đến sự can đảm của tác giả Từ Công Phụng, vượt qua những mất mát, tuyệt vọng để lạc quan yêu đời.
Đó cũng là triết lý sống chắp cho Từ Công Phụng được thương yêu và thăng hoa trong lòng người Việt yêu âm nhạc.
Related image

    Nhạc Từ Công Phụng, tuổi thanh xuân và lối thiên đàng đã lấp…     

Kể từ trên nửa thế kỷ trước, có một người nhạc sĩ với cây đàn ghi ta, trong trang phục quần xanh áo chemise trắng quen thuộc của sinh viện học sinh thời ấy cất tiếng hát lên bản tình ca “Bây Giờ Tháng Mấy”, bản tình ca đầu đời trên sân trường Ðại Học Văn Khoa Saigon, những gương mặt trong sáng, những ánh mắt lấp lánh như trăng sao của tuổi trẻ một thời đứng, ngồi say sưa theo dõi.

Từ Công Phụng – Bây Giờ Tháng Mấy – Thu Âm Trước 1975


 
Thời gian đã trôi qua, nhưng câu hỏi “Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em” vẫn còn vương vấn trong lòng những người thời ấy, cho dù mái đầu nay đã tuyết sương. Và đặc biệt nhất là vẫn làm rung động bao thế hệ tiếp nối. Chẳng hạn như Nguyễn Trường Trung Huy, một người bạn trẻ của tôi trên facebook, bày tỏ:
“Nghe nhạc Từ Công Phụng cũng là lúc chúng ta lắng lòng lại, có cảm giác như ngồi bên hiên nhà, thong dong và thả hồn mình theo từng cung bậc âm giai trong âm nhạc của ông, cái cảm giác nhẹ nhõm và dạt dào lạ! Nhạc của ông không bi lụy, không thê lương, mà đó chỉ là phút xao lòng của một chút lãng mạn, một lãng mạn mới, một rung động… mới, và một thiết tha…. mới! Trong những ca khúc của ông, dường như lúc nào cũng có thể nhìn thấy bóng những dòng sông, áng mây, bờ biển, những cơn mưa, những mùa Thu… Và đặc biệt, từ cấu trúc của thanh âm tới cấu trúc của ca từ, bao giờ cũng toát ra cái vẻ êm đềm chầm chậm lan trải. Buồn! Nhưng chẳng tuyệt vọng, không đớn đau, càng không chua chát.
“Gom môt chút nắng vàng
Hắt lên soi hạnh phúc trên tháng ngày đã qua.
Em nhìn thấy chút gì?
Có phải chăng rạn vỡ trong tâm hồn chúng ta?”

Trên Tháng Ngày Đã Qua - Tuấn Ngọc

 

Ðó, âm nhạc của Từ Công Phụng là như thế đó, trách móc cũng vừa phải, yêu thương cũng vừa phải, như một âm thầm chịu đựng của lẽ vô thường, ”thôi dòng đời đó cuốn người đi”; thế nhưng… niềm nhớ thì da diết và mãi mãi không buông rời…
Bởi thế, chúng ta, đã nghe, và đã nhớ rất nhiều vì những niềm tiếc thương cho những cuộc tình không thành ấy. Và chúng ta, thầm cảm ơn, Từ Công Phụng, đã đến trong cuộc đời này, đã thay chúng ta nói hộ những cảm hoài sâu xa nhất! Thứ âm nhạc mượt mà như tơ óng, và trau chuốt trong ca từ, dễ làm say lòng bất cứ ai…
“Nếu có điều gì vĩnh cửu được”, thì em ơi, đó là, âm nhạc của họ Từ!”
Và bây giờ xin hãy cùng sống lại một thời của tuổi trẻ Saigon, một vài hình ảnh về những ngày xa, xưa nhưng không cũ ấy. Thời nào thì cũng có những nét tươi đẹp, sôi nổi của tuổi trẻ với những ước mơ hồng… Thập niên 1960.
Ngôi trường Ðại Học Văn Khoa tọa lạc ở góc đường Gia Long – Nguyễn Trung Trực. Nơi đó là “Tổng hành dinh” của những kế hoạch các chương trình sinh hoạt thanh niên, sinh viên, học sinh. Xin trích hồi ký của anh Hoàng Xuân Sơn hiện nay định cư ở Canada:
“Tinh thần làm việc chung rất cao, không có phân biệt kẻ trước người sau, chức phận lớn nhỏ nhưng vẫn theo đúng quy củ nề nếp tổ chức. Mọi việc tiến hành tốt đẹp… Nhờ óc tổ chức khéo léo, có cơ sở trường ốc của anh Lê Ðình Ðiểu, cộng thêm kinh nghiệm và nhiệt huyết của những thành viên trẻ, CPS (tên gọi tắt của Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Học Ðường) sớm chiều trở nên một trong những cơ quan nòng cốt, tiên phong trong các sinh hoạt đoàn thể thời bấy giờ. Trong nhiều sinh hoạt, phải kể đến sự hỗ trợ tác động của nhóm Trầm Ca (tiền thân của Phong Trào Du Ca VN) gồm có Nguyễn Ðức Quang, Trần Trọng Thảo, Hoàng Kim Châu với loạt nhạc hùng mạnh, trong sáng, khởi động lòng hăng hái của tuổi trẻ tham gia vào những công tác tự nguyện xây dựng xã hội, quê hương.”
Rồi Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng từ Ðà Lạt trở về, làm tươi mát thêm với những bản tình ca lãng mạn, giọng hát, dáng dấp rất thư sinh. Bây giờ tháng mấy, sáng tác đầu tay của Từ Công Phụng được hát lên đã làm rung động biết bao nhiêu con tim đứng ngồi chật ních trên thềm đất Văn Khoa…
Tình ca Từ Công Phụng, tất cả như những tác phẩm ca ngợi tình yêu mượt mà và ghi dấu những cuộc tình ly biệt… “Lối rêu xưa đã mờ dấu chân người, Người buồn cho mai sau, Cuộc tình ta tan mau.”
Qua nét nhạc êm đềm và lời ca đẹp như thơ, chúng ta cảm nhận được nỗi rung động của người nhạc sĩ qua nét vẽ bằng âm nhạc. Âm nhạc Từ Công Phụng là những bức tranh tình yêu dù nhạt nhòa kỷ niệm nhưng vẫn không phải là hư cấu, không phải là ẩn dụ mà rất hiện thực. Nó phản ảnh trung thực được tình cảm lãng mạn trong tâm hồn người nghệ sĩ.
“Thôi đừng lừa dối nhau làm gì. Thôi… đừng tìm nhau nữa mà chi. Ðường vào ngày mai sỏi đá, thôi, em về quên hết đi ngày xưa…” (Lời Cuối)
Mỗi bản tình ca của Từ Công Phụng đều ghi dấu vết kỷ niệm của ông và của người nghe nữa. Nó gợi cho ta chợt sống lại một phút giây nào đó trong đời. Những thơ mộng của lứa đôi, niềm khắc khoải của chia lìa đều thấp thoáng trong không gian âm nhạc Từ Công Phụng. Ðây là những bài ca dành cho những người đang yêu nhau, những ai phải xa nhau, biết yêu lúc xa và nếu được gần nhau thì hãy sống sao cho hết lúc gần…
Những người đang yêu, được yêu đã hát lên thay cho lời tình tự, những người đã lạc mất nhau trong đời hát nhạc Từ Công Phụng như một xót xa, tiếc nuối khôn nguôi.
Nhạc sĩ Từ Công Phụng, bằng âm nhạc đã tô điểm cho đời sống chúng ta thêm nhiều màu sắc. “Bây Giờ Tháng Mấy”, những nốt nhạc viết lên khi tuổi thanh xuân mười tám là những nét dễ thương của tuổi trẻ nhìn đời bằng đôi mắt lóng lánh tin yêu, bằng trái tim rạo rực sôi nổi, tràn trề hy vọng.
Tình yêu và âm nhạc từ ngàn xưa cho đến mai sau bao giờ cũng muôn đời gắn bó. Người ta hát về tình yêu từ đời này sang đời khác, người ta viết về tình yêu bằng trái tim dạt dào hạnh phúc khi yêu và đớn đau khi mất. Mỗi người có cách diễn tả khác nhau. Ở Từ Công Phụng, nhạc của ông cũng như con người ông bao giờ cũng thong dong, đằm thắm. Nhẹ nhàng. Êm dịu và rất bình thường như thế đấy, nhưng tình yêu thì cứ ngập tràn, tha thiết mà trong chúng ta ai chẳng từng có lần bâng khuâng khi chợt nghĩ về nhau. Nhiều khi vì cuộc khó khăn, vội vã hình như chúng ta như quên mất thực tại, thiên nhiên không kém thơ mộng, cho đến khi nghe một bài hát nào đó, với giọng hát diễn tả tự nhiên, ta mới bừng tỉnh “cuộc sống vẫn tươi đẹp vô cùng”. Và chúng ta lại nhìn đời, nhìn người sống quanh ta bằng tình cảm trong sáng, bao dung và tin yêu hơn.
Hãy thử nghe lại nhạc Từ Công phụng mà xem:
“Xin đỉnh yên bình một mùa xuân ôm kín khung trời,
của tuổi thơ thôi rã thôi rời.
Xin đừng làm bão tuổi đôi mươi,
để vòng tay khắc khoải ôm xuôi từng niềm vui theo biển gió…
Hãy ôm trọn… ôm trọn tuổi xuân…” (Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên)

Từ Công Phụng - Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên - Thu Âm Trước 1975



Vâng, nếu trên con đường đời có đôi khi bị vấp ngã, hãy mạnh dạn đứng lên, màu hồng lấp lánh đang ở phía trước đón chờ.
Bản tình ca đầu đời trên sân trường Ðại Học Văn Khoa Saigon, những gương mặt trong sáng, những ánh mắt lấp lánh như trăng sao của tuổi trẻ một thời đứng, ngồi say sưa theo dõi.
Trong nhạc Từ Công Phụng, tình yêu rất đỗi nhẹ nhàng. Tình yêu nào cũng đẹp cho dù đã tạ từ nhau. Nhạc của Từ Công Phụng, trong một buổi chiều êm đềm nào đó, nghe chính tác giả hát là một điều thú vị. Giọng hát như gợi nhớ một chút gì mênh mang, đưa ta về khung trời cũ. Nét nhạc của Từ Công Phụng đã tạo cho tiếng hát của ông hay chính tiếng hát đã chuyên chở nhạc Từ Công Phụng? Một thoáng mây bay, một làn gió nhẹ rung lá, một vạt nắng mỏng manh: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn, Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?” (Tản Ðà) Và… tiếng hát như tự nơi nào đến, xa vắng, gợi buồn, nhất là trong những buổi chiều xa xứ với những ai còn còn vọng hoài cố quốc:
Một chiều êm tay đan tay dìu em trên lối đưa em đi nhẹ vào đời.
Bằng vòng tay tôi nâng niu mùa thu thức giấc, đưa em vào ngày tháng vỗ về… (Tuổi Xa Người)
Nhạc Từ Công Phụng là như thế đấy!
 
==

“Giọt Lệ Cho Ngàn Sau” – Tuấn Ngọc với 10 tình khúc Từ Công Phụng – Đỉnh cao của làng nhạc hải ngoại thập niên 1990

Có lẽ đến cả chục năm rồi tôi chưa nghe lại CD này. Lúc trước, khi tôi nghe thì nghiêng về cảm nhận nhạc hơn là phần lời. Lần này nghe kỹ cả chục lần, nhất là lời ca, thì cảm giác là buồn, man mác buồn. Tôi xem kỹ lại thì hết 8, 9 bài là có hoặc là chữ khóc, lệ, mắt, hay là nước mắt. Tôi bèn vào một trang web chuyên về “word cloud” rồi cắt dán cả mười bài vào, thì nó ra hình sau. Quả thật các chữ như buồn, lệ, mắt đều có tần số hiện diện nhiều hơn các chữ khác. Còn chữ vui thì nằm nhỏ xíu, khiêm nhường dưới góc phải dưới bức hình.
Tôi cũng thấy giai điệu của mười bài đều khác nhau, mặc dù nếu nói tựa bài lên có lẽ tôi cũng không nhớ ra ngay “air” nhạc của từng bài. Đây có lẽ là điểm son của CD, vì đã chọn được 10 bài như là mười dung nhan khác nhau, xoáy quanh cái sự “buồn” trong nhạc Từ Công Phụng. Ngay chính tựa CD “Giọt Lệ Cho Ngàn Sau” cũng nhấn mạnh điều đó, bằng cách “rào đón” với bạn là: bạn mua CD này thì sẽ được nghe nhắc đến nhiều giọt lệ đấy nhé! Đây cũng là cách làm khởi sự từ hai đĩa Pet Sounds của nhóm The Beach Boys và Sgt. Pepper’s Lonely Hearts Club Band của nhóm The Beatles giữa thập niên 60, khi các bài trong một đĩa nhạc xoay chung quanh một chủ đề mà thôi (concept album).
Ngay cả cách xắp xếp thứ tự các bài nhạc cũng đã cho thấy sự cân nhắc, tính toán. Này nhé, sau ba bài buồn là Mắt Lệ Cho Người, Trên Tháng Ngày Đã Qua, và Như Ngọn Buồn Rơi , ta thấy bài Tình Tự Mùa Xuân được chen vào để không khí bớt buồn. Sau đó là Đêm Không CùngGiọt Lệ Cho Ngàn Sau, rồi tới bài vui là Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên để rồi kết với Mùa Thu Mây Ngàn Lời Cuối.
Có lẽ cũng như nhiều người khác, tôi đến với nhạc Từ Công Phụng là vì giai điệu trong nhạc của ông rất ngọt ngào, nhuyễn, rất tự nhiên, như ta hít thở không khí. Thí dụ như bài đầu tiên của CD với tựa là Mắt Lệ Cho Người:
Mưa soi dấu chân em qua cầu
Theo những cánh rong trôi mang niềm đau.
Đời em đã khép đi vội vàng
Tình ta cũng lấp lối thiên đàng
Như cánh chim khuất ngàn, như cánh chim khuất ngàn
Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu.
Related image

Mắt Lệ Cho Người - Tuấn Ngọc

 

Nghe bài hát Mắt Lệ Cho Người

Ta có thể không hiểu nhiều về ý nghĩa rõ rệt của câu, thí dụ như mưa thì làm sao mà soi dấu chân được, nhưng ta thấy lời ca của bài nhạc rất ăn khớp với giai điệu, vì hát lên rất trơn tru, không khiên cưỡng. Nhạc sĩ cũng rất hay lặp lại lời nhạc, chẳng hạn như trong câu: Như cánh chim khuất ngàn, như cánh chim khuất ngàn, nhấn mạnh ý tưởng chia lìa giữa hai nhân vật chính của bài nhạc.
Bản tiếp theo, Trên Tháng Ngày Đã Qua, cũng vậy. Sau vài câu đầu chậm rãi, nhạc chuyển sang chơi điệu rhumba, với một giai điệu thật duyên dáng.
Rung một cánh nhạc buồn
Biết có hay người khóc trên cung đàn lẻ loi
Rơi một ngấn lệ sầu
Có ai hay người khóc cho duyên tình bẽ bàng
Rung một cánh nhạc buồn, rơi một ngấn lệ sầu
Có ai hay người khóc trong tinh cầu lẻ loi

Nghe bài hát Trên Tháng Ngày Đã Qua
Nhưng không phải nhạc Từ Công Phụng lúc nào cũng dễ đoán, dễ theo. Điệp khúc bài này là một thí dụ. Nhạc sĩ đã dùng thuật chuyển cung và cách ngắt câu không cân xứng làm đoạn nhạc trở nên hơi phức tạp, nhưng giai điệu vẫn rất nhuyễn.
Ngoài kia mưa là những giòng lệ rơi
Theo cuộc tình khi cơn bão đi qua đời mình
Người ơi, người ơi, tìm đâu thấy nửa đời Xuân thắm
Với tình yêu chúng ta, như giọt sương sớm mai
Như giọt sương sớm mai,
long lanh, trên cánh hoa vàng
Bản thứ ba, Như Ngọn Buồn Rơi, là một kết hợp khắng khít giữa giai điệu và lời ca (âm tiết – prosody). Như tựa bài đã báo trước, trong bản này sẽ có buồn và sẽ có rơi. Ngay từ câu đầu tiên, ta đã thấy mùa thu trút lá vàng, rồi hình ảnh càng chập chùng, xa vời hơn với một thung lũng buồn, với em lệ nhòa trên tóc.
Như mùa thu trút lá vàng
ngậm ngùi em khóc cho tuổi thơ qua mau
hồn nhiên cũng rơi khỏi tầm tay với xa
trên từng thung lũng buồn
em lệ nhòa trên tóc…

Như Ngọn Buồn Rơi - Tuấn Ngọc



Nghe bài hát Như Ngọn Buồn Rơi

Nhưng đoạn điệp khúc kế tiếp mới thật tuyệt diệu. Nhạc sĩ vẽ lên một thung lũng buồn trong nhạc, bằng cách viết ba nốt đi lên Mi (5) rồi một nốt xuống Sol (4), cứ thế thả dốc xuống một bát độ đến nốt Sol (3), rồi thong thả đi lên nốt Mi (4).
Trên từng thung lũng buồn
từng thung lũng buồn
mùa thu đã trở mình trên gót nhỏ
dìu em đến người
bằng vòng tay nâng niu hạnh phúc
Khi ta nghe lần điệp khúc thứ hai, khoảng 3:40, lời ca được nâng niu bảo bọc bởi tiếng vĩ cầm hòa điệu, tạo cho ta một cảm giác ấm cúng, an toàn dù đang thả dốc theo cơn lốc mếm, theo cơn lũ tình yêu …
Trên từng cơn lốc mềm
hồn em đã ngủ vùi trong tiếng thở
tình tôi cũng mù theo cơn lũ nào
là lần em đã khóc cho tình yêu
Mười bài hát trong CD đều như vậy, với những giai điệu rất đẹp, hòa hợp giữa lời và nhạc, đi cùng với những biến thể của nỗi buồn, của lệ rơi, của trái tim buồn, của đôi mắt em rất buồn. Ngay cả trong hạnh phúc mà giọt lệ vẫn cứ rơi:
Em, chút giọt lệ ấm, khóc mừng một ngày hạnh phúc miên man… (Tình Tự Mùa Xuân)
Nhưng, cái sự “buồn” trong nhạc Từ Công Phụng không phải là một nỗi buồn quỵ lụy, tiêu cực, yếm thế. Đó là một nỗi buồn sáng suốt. Ông chấp nhận thực tại và nhiều khi còn khuyên bảo người yêu:
Thôi đừng tìm đến nhau làm gì
Thôi đừng nhìn nhau nữa mà chi
Đường vào ngày mai sỏi đá
Thôi em về, quên hết đi ngày xưa! (Lời Cuối)

Lời Cuối - Tuấn Ngọc



Nghe bài hát Lời Cuối

Nhạc sĩ như đứng hẳn ra khỏi cái tôi hiện hữu, từ ngoài nhìn vào để ráng mô tả tâm trạng của chính mình và đôi khi nói hộ tâm trạng của người nữ:
Đường về nhà em xa lắm
xin tình người đừng dối gian thêm buồn
hay:

Đêm nay bên thềm cầm tay, em khẽ nói
“Ngày mai anh đi rồi,
Anh có buồn gì không?” (Mùa Thu Mây Ngàn)
Ơ kìa, lạ nhỉ, em hỏi chi mà lạ vậy? Buồn lắm chứ! Cả mười bài hát chỉ toàn là mắt lệ, giọt buồn, thì dẫu xa em, tôi vẫn sẽ luôn nhớ và thương mắt em hay buồn:
“Buồn không hỡi người đã đi rồi?”
Tìm đâu những ngày vui êm ấm
Người đi theo năm tháng không cùng
Thương mắt em hay buồn
Nhìn mùa thu chết bên song…

Mùa Thu Mây Ngàn - Tuấn Ngọc


 
Nghe bài hát Mùa Thu Mây Ngàn

Ngay cả khi bài nhạc là vui, thì chúng cũng chỉ vui trong chừng mực, không thái quá:
Tay này tay nắm tay
nhìn nhau đắm say
như chưa bao giờ
nghe chừng trong mắt nâu
hồn anh đã tan
thành mùa xuân ngọt ngào phủ ấm thiên đường đôi ta… (Tình Tự Mùa Xuân)

Tình Tự Mùa Xuân - Tuấn Ngọc


Nghe bài hát Tình Tự Mùa Xuân

hay là
Rồi mai, có một lần tôi đưa em,
về trên đỉnh yên bình, hiền hòa
Một mùa xuân lên cao,
hôn lên làn tóc xõa, theo mây trôi, bềnh bồng.
Rồi mai, có một lần tôi đưa em,
đưa em về miền nắng ấm.
Những con chim thôi ngủ sau mùa đông lạnh căm.
Hát lên gọi mùa xuân rạng rỡ,
Đem mặt trời tô mắt dại tuổi mơ (Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên)

Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên - Tuấn Ngọc


Nghe bài hát Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên

Đĩa nhạc chào đời năm 1994 bởi Tuấn Ngọc Productions, với phần hòa âm do nhạc sĩ Duy Cường phụ trách. Tôi nghĩ có lẽ đĩa nhạc này là một trong những đĩa nhạc thành công nhất của làng nhạc Hải ngoại. Đĩa hát được tạo ra với đầy đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Mười tình khúc có thể coi như tiêu biểu nhất của nhạc sĩ đã thành danh Từ Công Phụng, được hát bởi một giọng ca nam tên tuổi nhất nhì hải ngoại và đang trong thời kỳ sung mãn nhất của sự nghiệp ca hát, cộng với một hòa âm sang cả, chừng mực, già dặn cùa Duy Cường. Anh cũng đang ở giai đoạn sung sức nhất của sự nghiệp khi ấy, với những đĩa nhạc anh hòa âm cho trung tâm Diễm Xưa và Phạm Duy Cường Productions.
Thời điểm đầu thập niên 90 cũng vậy, là một sự hội nhập vào xã hội mới với lớp trẻ HO, ODP mới định cư, chưa quên quê nhà và rành rẽ tiếng Việt. Họ háo hức tìm về những tác giả, những ca khúc đã sáng chói một thời trên quê hương, nhưng bị vùi dập tơi tả rồi biến mất sau cơn lũ đổi đời.
Có lẽ khi ở quê nhà họ có nghe đây đó vài bài nhạc xưa qua đài VOA, BBC, hay các tape nhạc Viễn Dương thâu lại qua ba bốn lần sang băng lậu, nhưng khi qua đây thì mới biết Tân Nhạc còn nhiều các bài nhạc đặc sắc mà họ chưa hề nghe biết.
Tôi còn nhớ ôi chao là nhiều những quán băng nhạc bày bán CD trong khu Phước Lộc Thọ ở Little Saigon, Nam Cali với các trung tâm sản xuất như Diễm Xưa, Làng Văn, Paris By Night, Tình Productions, Khánh Hà Productions, v.v và v.v. Hệt như những họa sĩ thời Lãng Mạn tụ về Paris cuối thế kỷ 19, những tinh hoa của lớp ca nhạc sĩ trước và sau 1975 như những cánh chim lưu vong tụ về Little Saigon. Một bầu không khí âm nhạc thật sung mãn, một tranh đua tài năng lành mạnh đã nảy sinh và phát triển.
Tôi xin thú nhận có hay đi shopping để tìm mua những CD nhạc Việt đã ra đời trước và trong khoảng thời gian mười lăm năm từ 1990 tới 2005. Xin cám ơn rất nhiều những ca nhạc sĩ ấy trong đó có Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Ý Lan, Vũ Khanh, Thái Hiền, Ngọc Minh, Quỳnh Giao, Julie, Phạm Duy, Từ Công Phụng, Đăng Khánh, Ngô Thụy Miên, Đức Huy, Duy Cường, Vữ Tuấn Đức, Lê Văn Thiện,… và vì họ quả đã làm giàu đời sống tinh thần của vô số những kẻ tha hương, trong đó có tôi.

Album Giọt Lệ Cho Ngàn Sau (Tuấn Ngọc) - 10 Tình Khúc Từ Công Phụng



Nghe trọn 10 bài trong CD Giọt Lệ Cho Ngàn Sau – Tuấn Ngọc

Trở lại với đĩa nhạc “Giọt Lệ Cho Ngàn Sau”, tôi còn muốn viết nhiều nữa về cách hát đơn sơ, lối nhả chữ đặc trưng của giọng nam trầm ấm Tuấn Ngọc, hay lối đệm đàn jazzy trong bài Trên Tháng Ngày Đã Qua, cũng như cách để hợp âm thật điệu nghệ hay những câu comping thật đúng lúc đúng chỗ, để phụ họa thêm hay điền đầy giai điệu, rất đặc trưng của anh Duy Cường. Nhưng rồi tôi lại thôi. Cảm nhận âm nhạc là một cái gì đó rất chủ quan, không thể thuyết phục được, chỉ có thể biết là mình thích hay không thích CD đó thôi. Vậy mong rằng bạn sẽ có dịp nghe hay nghe lại toàn bộ CD này, từ bài Mắt Lệ Cho Người liền tù tì tới Lời Cuối, để cảm nhận chúng, để thấy những bài này là những nốt lặng cần thiết của một weekend, tạm thời xa rời những bon chen của weekdays để đi vào một thế giới âm nhạc tuy buồn nhưng không ủy mị, tiêu cực. Đó là một thứ buồn lãng đãng, cần thiết để so sánh với những niềm vui trong đời, nhất là những ai không phải yêu nhau một thời xa nhau một đời, mà là yêu nhau một thời bên nhau trọn đời.
 
Nguồn: Học Trò (hoctroviet.)

Ca Sĩ Tuấn Ngọc Hát Nhạc Từ Công Phụng

 

 

▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬
 
Từ Công Phụng (sinh ngày 27 tháng 7 năm 1942) là một nhạc sĩ Việt Nam (gốc Cham-Islam).Từ Công Thơm thiếu tướng VNCH với ông là con chú bác. Từ Công Phụng nổi tiếng rất sớm. Ông là một trong những nhạc sĩ tiêu biểu cho tân nhạc Việt Nam trong thập niên 1960, 1970 cùng với Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công SơnLê Uyên Phương...; là tác giả của các ca khúc trữ tình được nhiều người biết đến như "Bây giờ tháng mấy", "Mắt lệ cho người", "Giọt lệ cho ngàn sau", "Trên ngọn tình sầu", "Mùa xuân trên đỉnh bình yên",... Ông cũng hát một số trong những bài hát của chính mình.
 
Từ Công Phụng tốt nghiệp cử nhân luật,từng là biên tập viên đài phát thanh VOF. Trong thời gian học Đại học Văn Khoa, Ông gặp Từ Dung là con gái út của nhà văn Nguyễn Tường Long - Hoàng Đạo, yêu và cưới Cô! Ông cưới Cô theo đúng nghĩa là có sính lễ và rước rể về nhà vợ theo truyền thống mẫu hệ của người Chàm. Hai vợ chồng bắt đầu lên sân khấu hát cặp với nhau từ năm 1967,thường sinh hoạt ở Quán Văn trong khuôn viên Văn Khoa từ 1968, cùng thời với Khánh Ly và Trịnh Công Sơn& đã thu một Cuốn băng (Tơ Vàng 3) vào năm 1971,Sau khi Quán Văn đóng cửa kéo về Quán Gió của Nam Lộc trên đường Võ Tánh.
 
Ông tham gia sáng tác nhạc từ năm 1960. Sau 30 tháng 4 năm 1975, các sáng tác của ông bị cấm lưu hành tại Việt Nam cho đến năm 2003.
Ông rời Việt Nam từ tháng 10 năm 1980 và hiện đang định cư tại Portland, Oregon, Hoa Kỳ. Năm 1998, ông có trở về thăm quê hương Ninh Thuận nhưng không tham gia hoạt động âm nhạc. Tháng 5 năm 2008, ông lại trở về Việt Nam và lần này có biểu diễn trong chương trình "45 năm tình ca Từ Công Phụng" tại một phòng trà có tiếng ở Sài Gòn.

Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác

Năm 16 tuổi, ông tự học về âm nhạc qua cuốn sách Harmonie et Orchestration của Robert de Kers, bản tiếng Pháp, xuất bản tại Paris, năm 1944. Năm 1960, ông sáng tác nhạc phẩm đầu tay Bây giờ tháng mấy khi mới 18 tuổi, tác phẩm nhanh chóng được giới sinh viên Văn Khoa yêu mến. Thời gian ở Đà Lạt, Từ Công Phụng cùng một số bạn học mới trong đó có nhạc sĩ Lê Uyên Phương, thành lập ban nhạc Ngàn Thông chơi nhạc hàng tuần trên đài phát thanh Đà Lạt. Ca khúc Bây giờ tháng mấy của ông cũng được trình bày lần đầu tiên qua làn sóng phát thanh này. Sau đó, ông lần lượt sáng tác những ca khúc như Mùa thu mây ngàn, Bài cho em...
Trung tâm Thúy Nga từng thực hiện Paris By Night 64: Đêm văn nghệ thính phòng (2002) nhằm vinh danh ông cùng với nhạc sĩ Tuấn Khanh và Vũ Thành An.
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Tiểu sử ca sĩ Tuấn Ngọc

Tuấn Ngọc (sinh năm 1947) tên thật là Lữ Anh Tuấn là một.  Tuấn Ngọc sinh ra tại Đà Lạt, trong một gia đình nghệ sĩ. Cha của Tuấn Ngọc là nghệ sĩ Lữ Liên, thành viên ban nhạc hài hước AVT. Các anh chị em của Tuấn Ngọc đều là những ca sĩ tên tuổi: Bích Chiêu, Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan Anh, Lưu Bích.
Tuan Ngoc
Tuấn Ngọc đi hát từ rất sớm. Từ khi lên 4 tuổi, anh đã hát trong những chương trình thiếu nhi trên đài phát thanh, cùng thời với những "thần đồng" Quốc Thắng và Kim Chi. Thời gian sau đó anh cộng tác với chương trình dành riêng cho thiếu nhi của cặp nghệ sĩ Kiều Hạnh và Phạm Đình Sỹ. Năm 13 tuổi anh đã theo chân các nghệ sĩ lớn tuổi đi hát tại những câu lạc bộ Mỹ, khi còn trong thời kì thưa thớt tại Sài Gòn.
 
Những năm cuối thập niên 1960, khi phong trào nhạc trẻ phát triển cực thịnh, Tuấn Ngọc bắt đầu được biết đến nhiều với những nhạc phẩm tiếng Anh. Tới đầu thập niên 1970, anh tham gia vào hai ban nhạc lớn nhất thời bấy giờ đó là The Strawberry Four và The Top Five.
 
Sau 1975, Tuấn Ngọc rời Việt Nam và định cư tại nam California. Một thời gian sau anh qua sống tại Hawaii và trình diễn cho nhiều câu lạc bộ và khách sạn tại đây. Đến giữa thập niên 1980 anh trở lại California và bắt đầu thành công.
Tuấn Ngọc nổi tiếng qua những nhạc phẩm trữ tình. Với giọng ca và cách diễn tả đặc biệt, anh giành được sự đánh giá cao của giới chuyên môn cũng như sự hâm mộ của công chúng yêu nhạc. Những nhạc sĩ Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Phạm Duy....Trịnh Công Sơn cũng xem Tuấn Ngọc là giọng ca nam hát những nhạc phẩm của ông thành công nhất.
Tuấn Ngọc được nhiều người xem như một giọng ca nam "tượng đài" của nền tân nhạc Việt Nam. "Trường phái Tuấn Ngọc" đã ảnh hưởng tới nhiều ca sĩ thế hệ sau cả ở hải ngoại cũng như trong nước như Nguyên Khang, Trần Thái Hòa, Quang Dũng, Xuân Phú...
Tuấn Ngọc thành hôn với ca sĩ Thái Thảo, con gái nhạc sĩ Phạm Duy.
Gần đây anh có về Việt Nam biểu diễn nhiều lần và đã thu âm hai album tại Việt Nam: Hãy Yêu Nhau Đi 2 và Chiều nay không có em. Đêm diễn chính thức đầu tiên của Tuấn Ngọc diễn ra vào đầu tháng 4 năm 2006 với khoảng 500 khách mời, tại khách sạn Sheraton Saigon. Sau đó là hai đêm diễn khá thành công tại Nhà hát Hòa Bình, Quận 10, vào tháng 8 năm 2006.
 
Năm 2012, Chương trình In the Spotlight số 1 "Riêng một góc trời" của Tuấn Ngọc diễn ra trong ba đêm tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Mặc dù đã từng trở về Hà Nội biểu diễn nhiều lần, nhưng In The Spotlight số 1 "Riêng một góc trời" là liveshow hoành tráng đầu tiên của Tuấn Ngọc mà anh từng ấp ủ trước đó. Trong chương trình này, Tuấn Ngọc đã kể lại câu chuyện ca hát của cuộc đời mình qua những dấu mốc quan trọng.
 
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Lữ Liên (1917-2012) là một nhạc sĩ người Việt danh tiếng tại Việt Nam trước 1975. Ông là thành viên của những ban nhạc nổi tiếng như Thăng Long và AVT. 

Tiểu sử

Nhạc sĩ Lữ Liên sinh năm 1920 ở Hải Phòng. Tên trong khai sinh của ông ghi họ Lã, nhưng nghệ danh là Lữ Liên. Cha ông dù là nhân viên bưu điện nhưng lại đam mê nghệ thuật. Ca sĩ Tuấn Ngọc từng kể: “Ông nội tôi mê cổ nhạc, chính vì đứng ra lập ban cổ nhạc mà cha tôi mới có cơ hội học hỏi, làm quen với các nhạc sĩ cổ nhạc”. 
Lữ Liên từng là thành viên ban hợp ca nổi tiếng Thăng Long, cùng với Thái Thanh, Hoài BắcHoài Trung trình diễn những ca khúc mang âm hưởng dân ca ba miền và nhạc trữ tình.
 
Sau đó ban đầu ông viết các ca khúc cho ban nhạc hài hước AVT trình bày những bài hát với những lời ca dí dỏm, châm biếm. Ban đầu, tam ca AVT gồm: Anh Linh, Vân SơnTuấn Đăng. Khi nhạc sĩ Anh Linh tức trung sĩ Trần Đình Kế theo học khóa sĩ quan đặc biệt 1962, Hoàng Hải, và sau đó 1966 đến ông đã vào thay thế, cho ra đời những ca khúc như: Chúc xuân, Vòng quanh chợ tết, Tiên Sài Gòn, Gái trai thời đại, Lịch sử mái tóc huyền, Mảnh bằng, Ba ông bố vợ…
Sau ngày Việt Nam thống nhất, nhạc sĩ Lữ Liên sang Mỹ định cư cùng các con. Ông tái lập lại nhóm ATV để thực hiện việc ghi âm và thỉnh thoảng biểu diễn tại Mỹ, Úc.
Nhạc sĩ Lữ Liên qua đời ngày 8 tháng 7 năm 2012 tại Bệnh viện Garden Grove (bang California, Mỹ), thọ 95 tuổi.

Đời sống cá nhân

Những người con của ông đều gắn bó với âm nhạc, là các ca sĩ và nhạc sĩ: Bích Chiêu, Tuấn Ngọc, Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan AnhLưu Bích .
Con trai của ông, ca sĩ Tuấn Ngọc kết hôn với ca sĩ Thái Thảo, là con rể của nhạc sĩ Phạm Duy. Vì thế ông và nhạc sĩ Phạm Duy là thông gia.

Chú thích

  1. Nhạc sĩ Lữ Liên qua đời ngày 8 tháng 7 năm 2012 tại Bệnh viện Garden Grove California, Mỹ), thọ 95 tuổi.
  2. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Bích Chiêu, sinh năm 1942 tại Đà Lạt
  3. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Anh Tuấn, sinh năm 1947 tại Đà Lạt
  4. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Anh Tú, sinh năm 1950 tại Đà Lạt, mất ngày 3 tháng 12 năm 2003 tại Nam California
  5. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Khánh Hà, sinh năm 1952 tại Đà Lạt
  6. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Lưu Bích, sinh năm 1966 tại Đà Lạt
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Nhạc sĩ Lữ Liên qua đời

- Nhạc sĩ Lữ Liên - thân phụ của danh ca Tuấn Ngọc, Bích Chiêu, Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan Anh và Lưu Bích - đã qua đời tại Bệnh viện Garden Grove (bang California, Mỹ), thọ 92 tuổi.

prKF7c0I.jpg
Nhạc sĩ Lữ Liên - Ảnh: chutluulai
 
Ca sĩ Khánh Hà tại Mỹ đã xác nhận thông tin trên. Trong khi đó, ca sĩ Thái Thảo - vợ ca sĩ Tuấn Ngọc - cũng xác nhận thông tin này với báo giới Việt Nam.
 
Thái Thảo cho biết chị cùng gia đình vẫn chưa rõ về nguyên nhân cũng như thời gian mất chính xác của nhạc sĩ Lữ Liên. Chị nhận được tin buồn này từ người nhà qua email vào sáng sớm 9-7 và đã cấp tốc đặt vé máy bay, chuẩn bị cùng ca sĩ Tuấn Ngọc về Mỹ lo hậu sự cho cha.
 
Nhạc sĩ Lữ Liên trước đây từng tham gia ban hợp ca Thăng Long cùng với Thái Thanh, Hoài Bắc và Hoài Trung. Ông cũng là thành viên của ban nhạc trào phúng AVT nổi tiếng trước đây qua các nhạc phẩm: Ông nội trợ, Trắng đen, Dậy thì...
 
Không chỉ trình diễn, ông còn có những sáng tác cho ban AVT như Chúc xuân chợ tết, Tiên Sài Gòn, Gái trai thời đại, Lịch sử mái tóc huyền, Ba ông bố vợ...
 
Ngoài ra, ông cũng đặt lời Việt cho nhiều ca khúc nhạc ngoại mà các con ông thể hiện rất thành công như Lạc mất mùa xuân, Nghe tiếng mưa rơi, Niềm đau chôn giấu, Tiễn anh trong mưa...
 
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

      Cuộc đời và sự nghiệp của ca sĩ Anh Tú (1950-2003)        

 
Những ai quan tâm đến âm nhạc hải ngoại thập niên 1980, 1990, hẳn là đều biết đến tên tuổi của ca sĩ Anh Tú.

Tuyển tập Anh Tú | Nhạc trẻ hải ngoại thập niên 90



Tuyển tập những bài hát hay nhất của ca sĩ hải ngoại Lã Anh Tú (con trai nhạc sĩ Lữ Liên, em của ca sĩ Tuấn Ngọc, anh trai của ca sĩ Lưu Bích, Khánh Hà). Một giọng hát đẹp, nhẹ và chất chứa nhiều cảm xúc.
 
Nói về Anh Tú, xin trích dẫn một đoạn của bài báo mà nhạc sĩ Quốc Bảo đã viết hay nghe tin Anh Tú qua đời ở Mỹ:
“Có quá nhiều người Việt hát tốt, đấy là điều mà mỗi khi nghĩ đến, tôi không khỏi tự hào lây. Nhưng suốt nửa đời mình, tôi chỉ tìm được hai giọng nam hay. Họ là hai anh em ruột trong một gia đình có nhiều người hát tốt đến mức thay vì tự hào thì bạn sẽ có chút ghen tị. Buồn thay, hôm nay, một trong hai người-hát-hay ấy đã ra đi vĩnh viễn. Tên anh là Lã Anh Tú…

Anh Tú - Lạc mất mùa xuân (Le géant de papier)

Anh Tú có một cách phát âm tiếng Việt khá đặc biệt, hờ hững, run rẩy, và đẩy hơi từ răng để chữ trượt theo, nghe nhẹ nhõm, phóng túng, không gắng sức dụng công. Mà quả thật, anh hát như thể đang trò chuyện thân tình, như lời tâm sự bằng hữu, để những đoạn nghẹn ngào cũng chỉ vừa đủ như một nỗi đau đã lành được kể lại. Anh Tú hát tiếng Pháp chuẩn xác, điều chỉ có được với những người thực sự sử dụng được ngoại ngữ này. Cách phát âm tiếng Pháp với nhiều âm mũi cũng ảnh hưởng đến cách hát của anh trong nhạc Việt. Những âm khép được đẩy hết lên mũi, nghe chơi vơi, tuyệt vọng một cách đặc biệt. Đấy là cách hát tạo thành phong cách cho anh, không thể nhầm lẫn với bất kỳ ai…”
Ca sĩ Anh Tú tên thật là Lã Anh Tú, sinh năm 1950 tại Đà Lạt, là ca sĩ hát nhạc trẻ ở miền Nam trước năm 1975 và hải ngoại sau năm 1975. Anh được sinh ra trong gia đình giàu truyền thồng âm nhạc bậc nhất Việt Nam, với cha là nghệ sĩ Lữ Liên, anh trai là ca sĩ Tuấn Ngọc, chị là ca sĩ Bích Chiêu, các em đều là ca sĩ nổi tiếng: Khánh Hà, Lưu Bích…
Theo cố nhà báo Trường Kỳ, ca sĩ bạc mệnh Anh Tú đã được biết đến nhiều từ khi ở Việt Nam, vào lúc phong trào nhạc trẻ ở ở Sài Gòn đang trong giai đoạn cực thịnh với ban nhạc The Uptight. Do đó vai trò ca sĩ độc lập của anh gần như không nổi bật lắm vì tên tuổi Anh Tú chỉ gắn liền với ban nhạc trẻ nổi tiếng này, cũng như trước đó với ban The Blue Jets hoặc nhóm Thúy-Hà-Tú (Thúy Anh, Khánh Hà, Anh Tú). Ban Thúy Hà Tú hợp ca rất hòa quyện với các bài nhạc trẻ và được khán giả yêu mến, vì lúc đó rất ít có ban hợp ca nhạc trẻ giống như vậy.
 
Anh Tú cùng các em: Khánh Hà, Thúy Anh và Lan Anh
 
Tuy Anh Tú không được biết đến nhiều bằng người anh ruột Tuấn Ngọc hay cô em Khánh Hà, nhưng anh chính là linh hồn của ban nhạc The Uptight trước và sau năm 75, và là người đã sắp xếp mọi hoạt động cho ban nhạc trong suốt trên 20 năm.
Anh Tú đến với ca nhạc rất tình cờ, khi cùng với cô em Khánh Hà được một nhạc sĩ trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương khuyến khích đi thử giọng hát để đi làm tại các Club Mỹ vào năm 1969. Thân sinh anh là nhạc sĩ Lữ Liên cũng đã khuyên anh nên đi thử giọng nhân dịp đó.
Khi Anh Tú hát chung với Khánh Hà nhạc phẩm “What Now My Love”, anh đã được chấp thuận ngay và được mời đi hát chính thức. Từ đó trở đi, Anh Tú bắt đầu tập luyện siêng năng và thành lập ban nhạc The Blue Jets năm 1970 cùng với hai em là Khánh Hà và Thúy Anh, sau đó đổi thành ban Thúy-Hà-Tú, và năm 1972 đổi thành ban nhạc The Uptight cho đến năm 1975. Sau khi sang hải ngoại, các anh em nhà họ Lã đã tái lập ban The Uptight, bổ sung thêm Lan Anh (đánh trống) và Lưu Bích (ca sĩ chính/bè). Anh Tú gắn bó với ban nhạc này suốt từ ngày đó cho đến khi ngưng hoạt động năm 1993. Cũng từ đó, Anh Tú đã quyết định tìm cho mình một hướng đi riêng rẽ với tư cách là một ca sĩ độc lập. Đó chính là một thử thách lớn đối với cuộc đời ca sĩ khá lận đận của anh.
Anh Tú nổi tiếng với những nhạc phẩm ngoại quốc êm dịu, đặc biệt là nhạc Pháp, nhưng anh cũng trình bày rất truyền cảm những nhạc phẩm tình cảm Việt Nam. Giọng hát của anh rất thích hợp với những tình ca nhẹ nhàng như Tuổi Xa Người, Linh Hồn Tượng Đá, Bài Không Tên Số 6, Tưởng Rằng Đã Quên… Sau khi sang hải ngoại, anh còn rất nổi tiếng với ca khúc nhạc hoa lời Việt của Khúc Lan như Chiếc Lá Mùa Đông, Đôi Bờ, Một Thuở Yêu Người, Những Lời Dối Gian…
Mặc dù chỉ biết chút ít căn bản về nhạc lý, nhưng nhờ ở khả năng thiên phú và đặc biệt là được sinh trưởng trong một gia đình mà tất cả đều là nghệ sĩ nên việc theo đuổi con đường ca nhạc đối với Anh Tú không có gì khó khăn. Chính ca sĩ Tuấn Ngọc đã có công chỉ bảo và hướng dẫn anh nhiều trong việc tập luyện, nhất là kể từ thời gian đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ vào năm 1975.
Năm 2003, đúng 10 năm sau khi ban Uptight tan rã, những anh em nhà họ Lã đã dự tái hợp lại ban nhạc này, khởi đầu là đêm diễn dưới tên “The Uptight Together Again”. Tuy nhiên chỉ 1 tuần sau, Anh Tú bị đột quỵ và qua đời 2 ngày sau đó (ngày 3 tháng 12 năm 2003) tại bệnh viện UCI ở nam California, để lại tiếc nuối cho bạn bè, đồng nghiệp và khán giả.
Để kết thúc bài viết này, xin trích lại lời tưởng niệm Anh Tú của ca sĩ Cẩm Vân:
Giọng hát của Anh Tú mỏng manh, trong sáng, nhẹ nhàng, giản dị nhưng quý phái đến độ chúng tôi đã ví giọng hát anh là Thủy Tinh dễ vỡ. Tôi lúc nào cũng chọn và để sẵn trên kệ CD của mình – nơi mà dễ lấy nhất, để khi cần, mình không phải vất vả tìm kiếm. Mỗi khi bị stress và mệt mỏi, thì giọng hát của anh đã giúp cho chúng tôi tìm được cảm giác nhẹ nhàng và thoải mái hơn. Giọng hát đó của anh như cơn gió mát mùa Hè. Và con người của anh, như những mùa Xuân nắng ấm luôn đem cho người khác những niềm vui và hy vọng vô bờ.
nhacxua.vn tổng hợp
Một thời nhạc trẻ Saigon : The Uptight
Hai bài hát cách đây hơn 3O năm với đầy đủ các thành viên ban The Uptight nổi tiếng trước năm 1975 cùng với Khánh Hà
- Lưu Bích - Bích Chiêu - Lan Anh - Anh Tú - Thúy Anh, ca sĩ Lưu Bích xuất ngoại năm 1975 khi lúc đó cô mới 7 tuổi và trong chuyến đi này còn có Anh Tú, sau khi định cư tại Hoa Kỳ một thời gian sau thì các anh em mới tái lập ban The Uptight, mãi cho đến năm 1983 Lưu Bích mới tham gia cùng ban nhạc The Uptight, cô chính là người chơi keyboard và hát phụ họa cho ban nhạc đầu tiên và cho tới năm 1988 cô mới chính thức là giọng ca chính cùng với người chị của mình là Khánh Hà .
 
Riêng Lưu Bích chỉ bắt đầu thành công vào đầu thập niên 90 khi được khán giả yêu mến kể từ khi cô tách ra solo và hát đôi với nam danh ca Tô Chấn Phong.
 
- Khánh Hà
Tên thật là Lã Khánh Hà, cô sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ. Cha của Khánh Hà là nghệ sĩ Lữ Liên, thành viên ban nhạc hài hước ATV. Các anh chị em của Khánh Hà đều là những ca sĩ tên tuổi: Bích Chiêu,Tuấn Ngọc, Lưu Bích, Anh Tú, Thúy Anh, Lan Anh, cô sinh ra tại Đà Lạt nhưng chỉ vài tháng sau cùng với gia đình dọn vào Sài Gòn. Trong thời gian ở Sài Gòn, cô cùng với gia đình thay đổi chỗ ở nhiều lần.
 
Lúc còn nhỏ cô học ở trường Charles De Gaulle, một thời gian sau vào nội trú tại trường tiểu học ở Thủ Đức cùng với Lan Anh và Thúy Anh. Lên trung học, cô theo học trường Nguyễn Bá Tòng đến năm đệ Tam, và cùng một lúc theo học ở Centre Culturel Français và Hội Việt Mỹ. Khánh Hà đi hát lần đầu tiên khi 16 tuổi trong một chương trình văn nghệ phụ diễn Xổ Số Kiến Thiến Quốc Gia tại rạp Thống Nhất với bài Chiến sĩ của lòng em và đó là kỷ niệm đáng nhớ nhất của cô, vào năm 69, cô xuất hiện lần đầu tiên với loại nhạc trẻ trong chương trình "Hippies À GoGo" do Trường Kỳ tổ chức hàng tuần tại vũ trường Queen Bee trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn, cũng trong năm đó, cô chính thức đến với nhạc trẻ cùng Anh Tú, sau khi được tay trống Dũng khuyến khích và đã gia nhập ban nhạc "The Flowers" đi trình diễn tại các club Mỹ, vào cuối năm 69, cô gia nhập "The Blue Jets" cùng với Anh Tú và Thuý Anh. Sau đó, cô cùng một số anh em thành lập ban nhạc "The Uptight" vào năm 72. Khánh Hà qua Mỹ trong một trường hợp khá đặc biệt.
 
Vào thời kỳ cô hát tại nightclub "Đêm Màu Hồng" trên đường Nguyễn Huệ đầu năm 75, trong số những người khách Hoa Kỳ thích giọng ca của cô có một ký giả tên George, mà cô gọi là một "quý nhân." Ông cho biết là tình hình Việt Nam rất nguy ngập nên đã đề nghị làm giấy tờ để cô rời khỏi Việt Nam với tư cách một du khách. Khánh Hà nhận lời và đến Hoa Kỳ ngay từ tháng 03 năm 75, vào những năm 86-87, Khánh Hà khai thác một chương trình ca nhạc riêng ở các nơi như "Sea Palace", "cafe Tùng" ở Monterey Park, tiểu bang California và sau đó là vũ trường "Chez Moi". Cô chính thức chuyển qua nhạc Việt Nam từ năm 80, đánh dấu sự ra đời của băng nhạc Gợi Giấc Mơ Xưa, phát hành vào năm 81 do chính cô thực hiện với sự giúp đỡ về kỹ thuật của nhạc sĩ Tùng Giang. Khánh Hà xuất hiện lần đầu tiên trong Video "Hè 90" do Tô Chấn Phong và Lưu Huỳnh thực hiện, chính trong dịp này Khánh Hà và Tô Chấn Phong quen biết nhau và đã sống chung với nhau cho đến hôm naỵ. Ngoài những video do chính trung tâm Khánh Hà thực hiện, cô đã cộng tác lần đầu tiên với chương trình Thúy Nga ở Paris.
 
- Cố danh ca Anh Tú tên thật là Lữ Anh Tú sinh năm 1950 tại Đà Lạt.
Anh Tú xuất thân trong một gia đình có truyền thống âm nhạc, cha của ca sĩ Anh Tú là Lữ Liên, thành viên ban nhạc AVT, các anh chị em trong gia đình của anh cũng là những người hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc như: Tuấn Ngọc, Bích Chiêu, Thúy Hà, Lan Anh, Anh bước chân vào lĩnh vực âm nhạc năm 1969 cùng người em gaí là Khánh Hà. Năm 1970 anh lập nên nhóm nhạc The Blue Jets. Năm 1972, anh lập nhóm nhạc Thúy Hà Tú, sau đó đổi tên thành The Uptight, ca sĩ Anh Tú mất năm 2003 tại Mỹ, năm 1975, Anh Tú rời Việt Nam sang định cư ở Hoa Kỳ và cùng các anh em tái lập ban Uptight. Cuối thập niên 80 đầu 90, ban Uptight được bổ sung thêm Lan Anh (đánh trống) và Lưu Bích (ca sĩ chính/bè). Anh đã gắn bó với ban nhạc này cho đến năm 1993 là năm ban nhạc ngưng hoạt động. Từ đó, Anh Tú bắt đầu hát với tư cách một ca sĩ độc lập.
Anh Tú được biết tới với những nhạc phẩm ngoại quốc êm dịu, đặc biệt là các ca khúc Pháp. Anh cũng thành công với nhiều ca khúc trữ tình Việt Nam .. Anh Tú mất ngày 3 tháng 12 năm 2003 tại bệnh viện UCI ở nam California, trước ngày Anh Tú mất một tuần, ban Uptight đã chuẩn bị cho đêm diễn tái hợp dưới tên "The Uptight Together Again", nhưng vì sự cố đau lòng này, ban Uptight buộc phải hủy bỏ show diễn trên và cho đến nay không một ai nhắc đến kế hoạch tái hợp nữa.
con-trai-rieng-cua-vo-den-ung-ho-tuan-ngoc-1
 

       Gia Đình The Uptight hội ngộ       

NNQuang đã tổ chức mời tất cả thành viên trong gia đình Nghệ sĩ lão thành Lữ Liên, The Uptight family tháng 12 năm 2002.

"Lần đầu tiên anh Ngọc Quang bao mi tất cả gia đình Khánh Hà hội ngộ đây là lần đầu tiên và có thể lần cuối mà tất cả gia đình gia đình Khánh Hà họp mặt đông đủ nhất ở Virginia từ khi qua Mỹ 75 đến giờ (vì các anh em của Khánh Hà ai cũng có chương trình lời mi riêng củanhiều hội đoàn trên thế giới mời cùng ngày, nhưng chỉ có anh Ngọc Quang được ưu ái và tất cả gia đình anh em của đều đồng ý chọn nơi anh tổ chức". Ca sĩ Khánh Hà đã nói. 

@ Đêm gia đình họp mặt Nghệ sĩ Lữ Liên, The Uptight family Nguyễn Ngọc Quang kết thúc trong niềm vui đầy những giọt nước mắt hạnh phúc của tình bạn.

Ca sĩ Tuấn Ngọc, Thúy Anh, Lưu Bích, Bích Chiêu, Nguyễn Ngọc Quang

Nghệ Sĩ Lữ Liên còn nổi bật hơn nữa với những tác phẩm "người" do ông sáng tác. Gia đình nghệ sĩ Lữ Liên đã tặng cho đời những tên tuổi vượt trội: Bích Chiêu với tiếng hát liêu trai, rất lạ, đã nổi danh trong nhiều thập niên. Khánh Hà, một giọng ca quyến rũ, trữ tình dù với những bản nhạc tiền chiến hay hiện đại. Tuấn Ngọc, người ca sĩ có dáng dấp lừng khừng và tiếng hát trầm ấm đã rung động hàng vạn trái tim. Lưu Bích, giọng ca và phương cách trình diễn độc đáo, thần tượng của biết bao thanh niên. Và Thúy Anh, Lan Anh, Anh Tú...

Ca sĩ Tuấn Ngọc, Bích Chiêu, Nguyễn Ngọc Quang, Lan Anh

   Chú thích  

  1. Nhạc sĩ Lữ Liên qua đời ngày 8 tháng 7 năm 2012 tại Bệnh viện Garden Grove California, Mỹ), thọ 95 tuổi.
  2. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Bích Chiêu, sinh năm 1942 tại Đà Lạt
  3. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Anh Tuấn, sinh năm 1947 tại Đà Lạt
  4. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Anh Tú, sinh năm 1950 tại Đà Lạt, mất ngày 3 tháng 12 năm 2003 tại Nam California
  5. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Khánh Hà, sinh năm 1952 tại Đà Lạt
  6. ^ Tên thật là Lã (Lữ) Lưu Bích, sinh năm 1966 tại Đà Lạt

  Sưu tầm tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang  

 

Xem thêm...

Nhạc sĩ Lam Phương- Một đời thăng trầm

Nhạc Sĩ LAM PHƯƠNG

MỘT ĐỜI THĂNG TRẦM

 Như thông lệ hằng năm, cứ vào đầu tháng 12, tôi đi trình diễn một tour bên Úc qua mấy thành phố lớn như Sydney, Melbourne, Brisbane và Perth. Năm ngoái, sau buổi văn nghệ tại Casino Crown, tôi được một vài thương gia mời đi ăn cơm rồi ngỏ ý đề nghị tôi đưa nhạc sĩ Lam Phương sang Úc, mặc dù ai cũng biết ông đang ngồi xe lăn từ 10 năm nay, di chuyển đường xa rất khó khăn.

Chỉ vì nhạc Lam Phương quá đặc sắc và đa dạng, nên khán giả bốn phương đều muốn nghe lại và nhất là muốn gặp mặt ông một lần, biết đâu chăng là lần cuối bởi năm nay ông đã 72. Những người ngồi với tôi hôm ấy đều còn nhớ rất rõ, Lam Phương là nhạc sĩ duy nhất mà Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện đến 3 cuốn Paris By Night để giới thiệu sự nghiệp của ông :

–  “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương” –  “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối” –  ” Đường Về Quê Hương’

Nói chung, ông là người viết nhạc có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất, xét về mức phổ biến trước cũng như sau năm 1975.

Từ Úc về, tôi sang trình diễn tại mấy nước ở vùng Đông Âu cũ như Ba Lan, Cộng Hòa Séc (Tiệp Khắc) và Slovaskia, những nơi chỉ có toàn người miền Bắc. Tại đây, một lần nữa tôi lại ngạc nhiên nghe bầu show và nhiều khán giả đề nghị tôi mời nhạc sĩ Lam Phương qua cho đồng bào gặp gỡ. Ở Praha, tôi hỏi một cô trong ban tổ chức :

– Lam Phương viết nhiều về người lính thời cũ, chẳng hạn Bức Tâm Thư, Tình Anh Lính Chiến, Chiều Hành Quân, Biết Đến Bao Giờ v.v… Khán giả ở đây chỉ gồm toàn người miền Bắc, từng là công nhân lao động hợp tác, cán bộ tu nghiệp hoặc du học sinh từ Hà Nội. Tổ chức chương trình nhạc sĩ Lam Phương cho họ coi, cháu nhắm có trở ngại gì không ? Bởi đã hát nhạc Lam Phương là phải hát đủ loại, cả nhạc lính lẫn nhạc tình !

Nhạc sĩ Lam Phương

Cô gái hân hoan trả lời tôi :

– Không sao đâu chú ! Viết nhạc trong thời chiến mà!  Âm nhạc tất nhiên phải phản ánh cuộc sống mà tác giả đi qua. Cháu mới vào Việt Nam. Sau cuốn Paris By Night Đường Về Quê Hương, cháu thấy hầu hết các tụ điểm ca nhạc trong nước bây giờ đều hát nhạc Lam Phương.

Sau chuyến lưu diễn Âu Châu, tôi về gọi điện thoại hỏi ý kiến và thuyết phục anh Lam Phương, giục anh chịu khó đi với tôi vài chuyến. Tôi tha thiết bảo :

– Cố gắng đi anh ! Khán giả ở đâu cũng mong gặp anh nhất là từ khi nghe tin anh bị tai biến mạch máu não !

Tôi quen anh Lam Phương đã 17 năm, làm việc chung với anh qua 3 cuốn video và nhiều chương trình live shows, tôi biết rõ tính anh rất dè dặt. Anh chỉ sợ di chuyển vất vả mà đến nơi không thành công thì buồn cho cả anh lẫn ban tổ chức. Tôi phải trấn an anh mãi bởi tôi biết rõ cảm tình của khán giả đối với anh. Cuối cùng anh đồng ý trên nguyên tắc : Đầu tháng 12 năm 2010, anh và tôi sẽ bay sang Úc dưới bảng hiệu Thúy Nga, rồi nhân tiện sang nước láng giềng Tân Tây Lan (New Zealand) luôn thể.

Riêng Đông Âu thì anh còn lưỡng lự và các bầu show bên ấy cũng chưa có ngày giờ nhất định bởi việc tổ chức show ở Âu Châu tương đối phức tạp, cần phải phối hợp giữa nhiều quốc gia lân cận.

Trong khi chờ đợi, tôi bàn với Thời Báo mời Lam Phương sang Toronto. Ý định này, anh em Thời Báo và tôi đã có bàn thảo một đôi lần trước đây, nhưng mãi năm nay mới thu xếp được và chỉ có ngày Thứ Bảy 24 tháng 07 là thuận tiện cho cả nhạc sĩ Lam Phương lẫn ban tổ chức. Lam Phương chưa qua Toronto bao giời nên tỏ ra ngần ngại. Tôi phải nhắc lại :

– Từ bao nhiêu năm nay, có show Lam Phương nào thất bại đâu anh ! San Jose, Orange County, Montreal,… chương trình nào cũng đầy ắp khán giả, có nơi không đủ vé bán. Mùa hè Toronto đẹp lắm. Đồng bào Toronto rất yêu văn nghệ. Mời anh sang thăm một lần cho biết !

Nhạc sĩ Lam Phương

– Anh kéo tôi đi đâu thì tôi đi đó !

Tôi hiểu ý anh. Rất nhiều nơi muốn tổ chức đêm nhạc Lam Phương. Nhưng ở đâu anh cũng muốn phải có tôi giới thiệu, bởi chúng tôi đã làm việc chung với nhau tới 3 cuốn Paris By Night, tôi hiểu rõ tâm sự và xuất xứ từng ca khúc của anh. Tôi cám ơn anh rồi bảo :

– Tôi phone anh trước, nếu anh đồng ý thì đại diện Thời Báo sẽ liên lạc với anh !

Thời Báo chẳng những chỉ liên lạc với anh Lam Phương bằng phone, mà Nguyễn Đạt và anh Sa Xuân Vũ còn bay sang tận nơi, ghé thăm anh Lam Phương trong căn nhà quạnh hiu trồng đầy bông hồng chung quanh. Anh cảm động gọi cho tôi, cám ơn sự chu đáo của anh em Thời Báo Toronto và hẹn sẽ gặp khán giả Toronto cuối tháng 07.

Đôi nét về nhạc sĩ Lam Phương

Vào những năm đầu khi mới chia cắt đất nước (1954), dân chúng miền Nam thường được nghe đi nghe lại bài Chuyến Đò Vĩ Tuyến trên đài phát thanh:

“Đêm nay trăng sang quá anh ơi / Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai mầu…”

Lúc ấy, ai cũng tưởng Lam Phương chắc phải là một “ông Bắc kỳ di cư” lớn tuổi, dàn trải tâm tư khắc khoải của mình khi rời đất Bắc vào Nam tìm tự do. Nhưng hóa ra tác giả chỉ là một thanh niên miền Nam mới 18 tuổi, đã khơi lên nỗi xúc động thay cho gần một triệu đồng bào vừa lìa xa cố hương.

Từ cái bước khởi đầu vững chắc ấy, người ta đã nhìn thấy ở trước Lam Phương là một tài năng lớn, một sức sáng tạo đích thực, và quả nhiên như mọi người dự đoán, anh đã cống hiến cho tân nhạc Việt Nam gần 200 ca khúc đặc sắc trong nửa thế kỷ vừa qua.

 Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20/03/1937, tại Rạch Giá. Nội tổ của anh vốn là người gốc Hoa, bỏ nước sang Việt Nam lập nghiệp trong đợt di dân ồ ạt của người Hoa chống đối với nhà Mãn Thanh. Đời ông nội của Lam Phương đã bắt đầu lai Việt Nam và đến thân phụ của anh thì chẳng còn dấu vết gì là người Hoa nữa.

Lam Phương là con đầu lòng, nhưng lớn lên chỉ thấy mẹ và các em trong cảnh nghèo nàn xác xơ. Ông bố đã bỏ đi theo người đàn bà khác từ lúc Lam Phương chưa đủ trí khôn.

Mười tuổi, Lam Phương giã từ Rạch Giá lên Sài Gòn, ở trọ nhà người quen trong xóm lao động tăm tối vùng Đa Kao và vào học trung học ở Việt Nam Học Đường. Thời gian này, anh bắt đầu tự học nhạc qua sách vở, phần lớn là bằng tiếng Pháp.

Điều này dễ hiểu, bởi ngày ấy nước ta chưa có trường âm nhạc. Thế hệ Lam Phương cũng như các nhạc sĩ lớn tuổi hơn, muốn học nhạc thì hoặc phải tự mò mẫm qua các tài liệu viết bằng tiếng Pháp, hoặc ghi danh hàm thụ các trường chuyên nghiệp bên Paris để họ gửi bài vở sang. Song song với phần nhạc lý, Lam Phương cũng xin học lớp guitar do một ông thầy Việt Nam truyền nghề.

Để trắc nghiệm khả năng học hỏi của mình sau một thời gian miệt mài, năm 1952, lúc mới 15 tuổi, Lam Phương sáng tác ca khúc đầu tay là Chiều Thu Ấy. Anh vay mượn bạn bè và hàng xóm, tự in bản nhạc rồi thuê xe lam chở đi giao cho các quầy hàng bán lẻ.

Tuy cũng lấy lại vốn, nhưng ca khúc này chưa gây được tiếng vang. Phải chờ 3 năm sau khi 18 tuổi, Lam Phương mới tung ra được một số sáng tác nổi đình nổi đám ngay như Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Nhạc Rừng Khuya, Trăng Thanh Bình, Khúc Ca Ngày Mưa, Nắng Đẹp Miền Nam v.v…

Nhạc của Lam Phương nhanh chóng tràn lan trong học đường trên phạm vi cả nước. Hầu như trường nào cũng cho học trò đồng ca hoặc múa hát những bài tươi vui lành mạnh, phổ biến nhất là Khúc Ca Ngày Mưa và Nắng Đẹp Miền Nam. Ở những nhạc phẩm này, người ta thấy ngay sự phản ánh rất rõ nét một thời thanh bình rộn rã của những năm đầu nền Đệ nhất Cộng hòa.

 Năm 21, Lam Phương nhập ngũ. Thời ấy, thanh niên đi quân dịch chỉ có một năm bởi là nghĩa vụ quân sự trong thời bình. Tại quân trường, anh viết Bức Tâm Thư, hô hào thanh niên sốt sắng đi quân dịch. Ngày mãn khóa, anh sáng tác 2 bản nhạc nổi tiếng là Tình Anh Lính Chiến và Chiều Hành Quân.

Anh kể với tôi: Vì không biết rõ xuất xứ sáng tác bài Tình Anh Lính Chiến, cho nên sau này nhiều ca sĩ thường hát câu: “Anh chiến trường, em nơi hậu tuyến”. Thật sự thì hát như vậy là sai, bởi anh viết cho bạn bè đồng ngũ trước khi chia tay ở quân trường, mỗi người đi mỗi nơi, nên câu hát đúng là ‘Anh chiến trường, tôi nơi hậu tuyến”. Đây là tình đồng đội chứ không phải tình yêu trai gái.

Mãn hạn quân dịch, trở về đời sống dân sự, Lam Phương tiếp tục sáng tác và tự xuất bản các tác phẩm của mình. Nhạc của anh có sức phổ biến sâu rộng, là một trong những nhạc sĩ thành công nhất ở miền Nam, giúp anh thoát khỏi cảnh lầm than mà anh đã mô tả qua bản Kiếp Nghèo mấy năm về trước. 

 Lúc ấy, nhạc sĩ Phạm Duy đang phụ trách trung tâm Quốc Gia Điện Ảnh, nghe tiếng Lam Phương, gọi anh đến và giới thiệu với đạo diễn Lưu Bạch Đàn để Lam Phương đóng vai chính trong phim Chân Trời Mới bên cạnh nữ tài tử Mai Ly và kịch sĩ lão thành Vũ Huân. Đây là một phim truyện nhằm cổ võ cho quốc sách Ấp Chiến Lược, đồng thời đả phá tệ nạn quan liêu phong kiến ở xã ấp.

Khi tên tuổi bắt đầu vững vàng, Lam Phương lập gia đình với kịch sĩ kiêm ca sĩ Túy Hồng. Từ đó anh phụ trách thêm công việc viết nhạc nền cho ban kịch Sống, cho chúng thêm hàng loạt ca khúc đặc sắc như Thu Sầu, Nghẹn Ngào, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Phút Cuối, Ngày Buồn v.v…

Tình hình chiến sự miền Nam gia tăng, Lam Phương được gọi tái ngũ. Anh mặc quân phục trở lại và gia nhập Ban Văn Nghệ Bảo An (Địa Phương Quân). Khi ban này giải tán, anh chuyển qua ban văn nghệ Hoa Tình Thương. Rồi Hoa Tình Thương cũng giải tán để biến thành Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, nơi Lam Phương cộng tác cho đến ngày mất miền Nam.

Trong khoảng thời gian này, sức sáng tác của Lam Phương càng dàn trải trên nhiều thể loại rất phong phú mà đặc biệt một điểm là hầu hết ca khúc nào anh đưa ra cũng đều trở thành Top Hit trên thị trường, điển hình như Chờ Người, Tình Bơ Vơ, Duyên Kiếp, Thành Phố Buồn, Tình Chết Theo Mùa Đông v.v… đưa anh vào vị trí một nhạc sĩ thành công nhất Việt Nam về mặt tài chánh.

Túy Hồng và Lam Phương

Sáng ngày 30/4/1975, anh quyết định vào phút chót, đem gia đình chạy lên tàu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, cùng với gần 4000 đồng bào ra khơi. Trên tàu, anh gặp Elvis Phương, ca sĩ đầu tiên đã hát bài Chờ Người của anh khoảng năm 1972. Cũng trong đám người dày đặc đó, có một cô bé còn bế trên tay, sau này là á hậu Việt Nam tại Paris và trở thành nữ ca sĩ Bảo Hân.

Vì không có ý định ra đi, cho nên Lam Phương hoàn toàn chẳng chuẩn bị bất cứ thứ hành trang nào để đem theo. Anh bỏ lại chiếc xe hơi, hai căn nhà lớn và khoảng 30 triệu đồng trong ngân hàng để lên đường với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo ! Lúc ấy, lương một vị tổng giám đốc hoặc một vị đại tá trong quân đội chỉ có mấy chục ngàn một tháng ! (nên nhớ vàng 9999 Kim Thành lúc đó chỉ có 36.000d9VN/lượng)

Định cư ở Mỹ, cái job đầu tiên anh làm trong hãng Sears là lau sàn nhà và cọ cầu tiêu! Rồi chuyển sang làm thợ mài, thợ tiện, bus boy. Tuy vậy, cứ mỗi cuối tuần anh vẫn cố gắng thuê một nhà hàng, biến thành phòng trà ca nhạc để đồng hương có chỗ gặp nhau và để chính anh cùng Túy Hồng đỡ nhớ sân khấu.

Nghề này, chẳng những lợi tức không có bao nhiêu mà buồn thay, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, anh khám phá ra người bạn đời không còn thủy chung với anh nữa. Anh cay đắng vật vã, cố gắng hàn gắn nhưng không xong. Anh biết cái thế của anh đã mất hẳn từ khi ra hải ngoại, bởi tiền bạc, danh vọng đều chỉ còn là trong kỷ niệm

Nỗi đau ray rứt của cuộc tình tan vỡ trên đất khách đã là động lực sâu thẳm khiến anh sáng tác mấy bản nhạc rất bi thương, trong đó có một bài để đời là Lầm :

“Anh đã lầm đưa em sang đây / Để đêm trường nghe tiếng thở dài / Thà cuộc đời im trong lòng đất…”

Rồi anh ngậm ngùi bỏ Hoa Kỳ sang Paris, xin vào làm công việc đóng gói quét dọn cho một tiệm tạp hóa. Cũng tại đây, anh gặp lại ông bà Tô Văn Lai, chủ nhân Trung tâm băng nhạc Thúy Nga, vốn đã quen biết anh ở Sài Gòn từ trước năm 75.

Thúy Nga ngày ấy cũng còn quá nghèo, chỉ sang lại những băng cũ mang theo từ Việt Nam, nên chả có việc gì cho Lam Phương làm. Chính bản thân ông Tô Văn Lai, Giáo sư Triết ở Sài Gòn, dân trường Tây từ nhỏ, giờ đây cũng phải đi học nghề sửa xe và đứng bơm xăng ở vùng Bondi, ngoại ô Paris.

Lam Phương tiếp tục sống lầm lũi cho qua ngày ở kinh thành ánh sáng, mãi cho đến khi anh bất ngờ gặp một khúc rẽ tình cảm mới: Một người đàn bà rất đẹp đã đến với trái tim anh, giúp anh xóa đi những ngày tăm tối vừa qua. Nhờ khúc rẽ ấy, chúng ta mới có được một loạt ca khúc chan hòa niềm vui như Mùa Thu Yêu Đương, Tình Hồng Paris, Tình Đẹp Như Mơ, và nhất là Bài Tango Cho Em :

“Từ ngày có em về/ Nhà mình ngập ánh trăng thề…”

Cũng trong khoảng thời gian tạm cư ở Paris, anh sáng tác 3 ca khúc nổi tiếng khác mà giờ này thính giả vẫn thích nghe đi nghe lại :

– Cho Em Quên Tuổi Ngọc : Anh đặt cả lời Pháp lẫn lời Việt, viết cho một cuốn phim. Tựa tiếng Pháp là C’est Toi.

– Em Đi Rồi : Anh viết cho chuyện tình tan vỡ của nữ ca sĩ Họa My, khi Họa My sang Pháp để lại người chồng ở Việt Nam.

– Một Mình : Cảm xúc của chính anh buổi sáng thức dậy, cô đơn nhìn ra cửa trong ánh bình minh.

Bước sang đầu thập tiên 1990, Trung tâm Thúy Nga tương đối đã có cơ sở vững vàng ở Paris lẫn Cali sau khi sản xuất thành công một loạt video tuồng cải lương và các chương trình Paris By Night bắt đầu từ năm 1983. Lúc ấy, Thúy Nga mới quyết định thực hiện một cuốn Paris By Night chủ đề nhạc Lam Phương.

Đó là lần đầu tiên tôi gặp anh Lam Phương vào tháng 03 năm 1993, khi trời Paris còn đang se lạnh. Mặc dầu lúc này Lam Phương đã chia tay người đàn bà từng mang cho anh “những nụ hồng Paris”, nhưng cuộc sống của anh đã tạm ổn định cả mặt tinh thần lẫn vật chất, một phần nhờ có cô em gái từ Việt Nam sang tỵ nạn, mở tiệm ăn Như Ánh ngay tại Quận 13, giao cho anh làm manager.

Lúc gặp tôi, anh đã hoàn toàn lấy lại phong độ, tìm lại sự tin yêu trong cuộc đời, quên hết những nhọc nhằn gần 20 năm sóng gió vừa qua. Anh cho biết : Anh ít đọc sách của tôi, nhưng em gái anh, chủ nhà hàng, thì bất cứ lúc nào rảnh rỗi, cô cũng để cuốn tiểu thuyết Màu Cỏ Úa. Nhờ vậy, tuy gặp nhau lần đầu mà anh với tôi đã có cảm tưởng như quen nhau từ lâu

 Bài học đầu tiên tôi học ở anh Lam Phương là sự bình dị và khiêm tốn. Một người từng nổi tiếng từ lúc tuổi chưa đến 20, từng có một cuộc sống giàu sang ở Sài Gòn, giờ này ngồi tiếp chuyện tôi trong cái quán nhỏ, bằng một thái độ rất chân tình và lịch sự, mặc dầu tôi thua anh về mọi mặt. Cái ấn tượng ban đầu ấy khắc ghi mãi trong lòng tôi cho đến hôm nay.

Sau sự thành công của Paris By Night “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương”, chỉ hơn một năm sau, Thúy Nga lại thực hiện thêm một chương trình Lam Phương thứ 2 bởi nhạc anh còn quá nhiều. Cuốn này tôi đặt tựa đề là “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối’.

Sau cuốn băng ấy, Lam Phương quay về định cư tại Hoa Kỳ năm 1995. Người đàn bà bảo lãnh anh trở lại Mỹ tuy không phải là một cuộc tình lớn trong đời, nhưng anh cần một mái ấm ổn định ở tuổi đã trên 55. Về lại Cali, anh tiếp tục sáng tác và lâu lâu phụ việc với Trung tâm Thúy Nga lúc này đang trên đà thăng tiến mạnh mẽ.

Dòng đời đang êm trôi thì ngày 13/3/1999, trong lúc đang dự tiệc ở nhà một người thân, không may anh bị tai biến mạch máu não. Từ đó anh nói không ra lời, một nửa thân thể gần như bại liệt hoàn toàn.

Bàn tay đánh đàn ghi nốt nhạc mấy chục năm qua, bây giờ không sử dụng được nữa. Anh chị em nghệ sĩ cùng nhau tổ chức đêm nhạc Lam Phương tại nhà hàng Majestic để hỗ trợ anh về cả hai mặt tinh thần và tài chánh. Tôi bay sang góp mặt, anh chỉ nắm tay tôi ứa nước mắt mà nói không thành câu.

Vài hôm sau, người đàn bà đang chung sống với anh, cũng lặng lẽ chia tay, bỏ lại anh trên chiếc xe lăn, bơ vơ trong căn nhà vắng, để ngày nay anh thấm thía với nỗi quạnh hiu như những lời ca tiên tri chính anh đã viết :

“Sớm mai thức giấc / Nhìn quanh một mình !”

 Thời gian trôi qua quá nhanh ! Mới đó mà Lam Phương “nhìn quanh một mình” đã 11 năm ! Anh đã cố gắng vượt bậc, cố giữ tâm hồn thư thái và thể dục đều đặn. Nhờ vậy thỉnh thoảng anh có thể tạm bỏ xe lăn, đứng dậy chống gậy đi một vòng quanh nhà.

Nỗi buồn lớn nhất của anh từ ngày gặp nạn là không còn đánh đàn và viết nhạc được nữa bởi một nửa thân thể vẫn hoàn toàn bất động, mặc dầu trí óc anh rất sáng suốt. (Nguyễn Ngọc)

~~~~<❤️>~~~~

 Lam Phương -Trăm nhớ ngàn thương

=◊◊◊=

Nhạc sĩ Lam Phương thời trẻ

 Cuốn Sách về nhạc sĩ Lam Phương với tựa đề: Trăm nhớ ngàn thương, do Nguyễn Thanh Nhã chấp bút theo tài liệu của gia đình, vừa ra mắt nhân 70 năm làm nghề của ông (Phanbook & Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành). Tác phẩm được thực hiện trong thời gian ông điều trị tại Mỹ sau một cơn tai biến, không thể đối thoại được. Cuốn sách như những thước phim quay chậm về cuộc đời tác giả tiêu biểu của âm nhạc Sài Gòn giai đoạn 1954 - 1975. 

Kỳ một: Ký ức quê nghèo

Đó là một buổi sáng mùa thu của năm 1947. Phùng dậy sớm hơn thường lệ. Ngoài sông, tiếng chuông chùa thổn thức từng vạt sương đêm. Chú bé nhìn bóng má theo ngọn đèn leo lét in lên vách thưa, rồi nhìn lại gương mặt của từng đứa em thơ đang ngủ say. Chỉ lát nữa thôi, chú bé 10 tuổi sẽ rời bỏ quê hương Rạch Giá để lên Sài Gòn.

Chuyến xe đò lên phố thị trong buổi tù mù sáng, khi sương sớm còn chưa tan trên những khoảng sông và đầm lầy, mở ra cuộc đời tha phương đầy đa đoan, lắm thăng trầm.

Có một dòng sông chảy ngang phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Một bà má nghèo tảo tần nuôi sáu đứa con nơi con nước chia đôi mở hai hướng cảnh quan chơi vơi của vùng ngã ba sông, gọi là ấp Đầu Voi. Đối diện căn nhà tồi tàn trong xóm nhỏ là ngôi cổ tự Thập Phương cứ mỗi sáng tinh mơ lại ngân vang tiếng chuông mõ u trầm.

Nhạc sĩ Lam Phương năm ba tuổi. Ảnh tư liệu gia đình.

"Với nhiều người dân quê, tiếng chuông chùa làm mất giấc ngủ sau một ngày vất vả ngoài đồng. Người ta khó chịu dữ lắm! Còn với tôi, tôi yêu tiếng chuông chùa Thập Phương. Tôi không thể hiểu vì sao còn rất nhỏ nhưng tôi đã cảm nhận tiếng chuông đó rất buồn!

Sau này, năm 1957 tôi đã viết bài Chiều tàn chỉ vì nhớ tiếng chuông xưa".Tiếng chuông mỗi sáng cứ thao thức hoài trong tâm hồn cậu trên những dặm đường gió bụi về sau. Đó là thanh âm đồng vọng buồn bã, xa vắng mà da diết nhất, thức dậy một vùng quê nhà yêu thương trong tâm hồn một người tự nhận mình là "dân quê".

Ca từ của ca khúc này đẹp như bài thơ và một lần nữa kiếp nghèo, đời viễn xứ ám ảnh nét nhạc Lam Phương:

 

Chiều tàn


Làn khói ấm mái tranh hiền bao niềm thương
Chiều ơi, mây bơ vơ từ ngàn hướng
Lạc loài nơi chốn quê
Gió không biên cương lạc đường về
Tràn bao ngõ tối qua mảnh lá nghe thở than
Gió thương những mảnh tình nghèo nàn
Cuộc đời đen tối mong hạnh phúc khi chiều tan
Đường gập ghềnh lạnh lẽo
Quanh co đường về khắp nẻo xa xôi
Có bóng con đò chiều mơ
Khách qua đò làm thơ
Êm trôi giữa trời nước bơ vơ
Nhẹ nhàng thuyền cập bến
Dòng sông nước hững hờ
Nghe không gian như thờ ơ
Có bóng cô em thẫn thờ
Nhìn áng mây trôi
Lắng nghe chuông chiều
Mà lòng thương nhớ ai nhiều"

Lâm Đình Phùng sinh ngày 20/3/1937. Ông lấy bút danh Lam Phương để làm nhẹ đi hai chữ Lâm và Phùng trong họ tên. Thân phụ của Lam Phương là ông Lâm Đình Chất, người Hoa, và thân mẫu là bà Trần Thị Nho, một thôn nữ nghèo.

Song thân của ông có sáu người con và theo cách gọi miền Nam thì Lâm Đình Phùng là anh Hai, tức là con trai lớn nhất trong nhà. Con đông, gia cảnh túng bấn, người cha bỏ xứ tìm về Sài Gòn từ khi Lam Phương còn rất nhỏ.

Lúc đầu, người cha thỉnh thoảng về thăm nhà, sau thưa dần. Mỗi chuyến ghé thăm, thân phụ để lại cho thân mẫu Lam Phương một đứa em. Đến cô em út Lâm Thị Minh Khai thì gia đình nhỏ ở Rạch Giá không còn giữ chân ông được nữa!

Thiếu đi trụ cột, má của cậu bé Phùng bắt đầu tất tả xuôi ngược trên sông, lúc làm mướn, khi bán buôn để kiếm chén cơm cho bầy con dại. Vùng đồng bằng sông Cửu Long vào thập niên 1930 xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế và lương thực, một phần bởi những chính sách điền thổ thời thực dân làm thay đổi cảnh quan môi trường và mưu sinh của dân địa phương.

Đại cảnh đó ít nhiều làm tan đàn xẻ nghé nhiều gia đình nghèo. Người nông dân phải lâm vào cảnh mưu sinh khó nhọc, trôi dạt. Gia đình chú bé Phùng cũng vậy. Người mẹ tảo tần tìm cái ăn giữa buổi loạn ly đã khó, nói chi cho con đặt chân đến những ngôi trường Tây trong vùng. Phùng và các em dù rất khát khao đi học cũng khó lòng được thỏa nguyện.

 Rất may cho chú bé Phùng, một người dượng phía ngoại là thầy giáo Phan Văn Mỹ từng dạy tại trường Tiểu học Vĩnh Lạc, Rạch Giá đã bảo bọc cho chú đi học "đặng biết đọc biết viết với thiên hạ". Nhờ vậy mà Phùng đã có thể học chữ một cách bài bản.

Chân dung ngày thơ ấu của người nhạc sĩ tài hoa được những người bạn cũ ở trường làng Vĩnh Lạc vẽ lại khá khép kín: Trò Phùng ít sôi nổi, thường ngồi một mình nhìn mây bay ngoài cửa sổ lớp. Dáng vẻ trầm ngâm như một người tu hành. Mỗi ngày đến trường, trò Phùng mặc độc chiếc áo rằn ri ngắn tay và chưa bao giờ có thể hiện gì về năng khiếu văn nghệ...

Nhạc sĩ Lam Phương bên mẹ. Ảnh:Gia đình cung cấp.

Càng lớn, Phùng càng nhận ra, dòng sông không chảy trọn vẹn theo chiều. Có bao nhiêu đoạn rẽ trên một dòng sông là có bấy nhiêu bến bờ của ly biệt... Đó là lý do một tuần trước khi lên chuyến xe đò tha phương, chú bé đi bộ khắp xóm thôn, nhìn lại hình ảnh mười tám mái tranh bệ rạc xóm nghèo và thuộc đến từng vệ cỏ...

Có lẽ, Phùng đã dự cảm về ngày phải "gom góp yêu thương quê nhà" giữa trời thu Rạch Giá bàng bạc mây...Những hồi tưởng ấy khá chính xác. Đó chính là tâm trạng buồn tủi và đơn độc của một cậu học trò sớm biết lo âu về tương lai, bởi gia đình nhỏ thiếu vắng vai trò trụ cột của người cha. Ngày tháng không trọn vẹn hạnh phúc, bao nỗi cơ cực đã phủ nỗi buồn lên đôi mắt chú bé ở vùng sông nước nghèo nàn.

Mỗi chiều, sau những giờ phụ mẹ ẵm em, làm việc nhà, hay rảnh rỗi lúc tan trường, Phùng lại ra khúc sông Đầu Voi ngắm vạt lục bình lững lờ, dự cảm về một ngày mai trôi nổi.

Và trong tâm trí người nhạc sĩ duy cảm, mãi về sau, luôn hiện hữu hình ảnh người mẹ chịu thương chịu khó gánh vác mọi việc để nuôi sáu miệng ăn. Trong một cuộc phỏng vấn sau này, ông nhắc lại câu nói giản dị quen thuộc: Tôi thương má tôi lắm! Má tôi mơ ước cái nhà che nắng mưa. Chỉ có vậy mà tôi làm cật lực, làm chết bỏ để có tiền mua nhà cho má.

Về sau, khi đã kiếm được chút vốn liếng, bà Nho mới mở được một sạp hàng tại nhà. Điều kiện kinh tế ổn định hơn, bà nhận ra con trai mình không thể học mãi ở trường làng cho biết con chữ rồi chỉ để trở về gốc gác của một tá điền theo kiểu "con sãi ở chùa thì quét lá đa".

Đến lúc nó cần bước ra cuộc đời rộng hơn. Sài Gòn là điểm đến với nhiều hy vọng đổi đời. Bà còn có hy vọng mong manh rằng, ngày nào đó, trong dòng đời tấp nập của phố thị, đứa con trai sẽ tìm thấy cha mình.

 Kỳ hai : Thất bạn đầu đời

 Thời trẻ, nhạc sĩ Lam Phương vay bạn 200 đồng in các tờ nhạc ông viết rồi tìm đến các tiệm để tự phát hành song đều bị từ chối. Hồi ức buồn của đời bán nhạc :"Cay đắng lắm! Người ta nói thẳng: Tôi không biết cậu là ai. Rồi đến cái tiệm bán tờ nhạc ở lề đường cũng nói qua loa: Cậu cứ để đó, bán được bao nhiêu trả tiền bấy nhiêu. Tôi nghĩ về khoản nợ 200 đồng bạc đi mượn mà xót xa".

Đó là những lời tâm sự về hoàn cảnh tự mình phát hành tờ nhạc mà đến cuối đời Lam Phương vẫn không quên. Theo đó, Lam Phương đã mượn 200 đồng từ một người bạn học khá giả rồi tự liên hệ nhà in để in bản Chiều thu ấy, rồi tự đi phát hành trên khắp phố phường Sài Gòn.

Thất bại đầu đời với số nợ 200 đồng, Lam Phương tìm về ký ức quê hương như một điểm bấu víu cho cõi lòng bẽ bàng của ngày đầu sáng tác.

 

Lam Phương thời mới viết nhạc. Ảnh tư liệu gia đình.

Thời điểm những năm 1950, miền Nam vẫn còn bình yên. Và như trước cơn bão lớn của các chiến sự sẽ nổ ra nhanh chóng sau đó, sự yên ả vốn có của miền Nam tiếp tục đi vào nhạc Lam Phương. Giai đoạn này Lam Phương vẫn tiếp tục sáng tác, lại mượn tiền bạn đi in, đi làm thuê lao động chân tay để có tiền trả nợ, rồi lại tiếp tục đi bán nhạc lẻ...

Đỉnh điểm của món nợ vay lên đến 600 đồng! Nếu lấy đồng tiền Đông Dương làm thước đo giá trị cho những năm 1950 khi đồng tiền này còn lưu hành, thì qua lời kể của nhà văn Vũ Bằng trong cuốn Bốn mươi năm nói láo sẽ thấy đây là số tiền không nhỏ.

Thời điểm này, Vũ Bằng viết, tờ Vịt Đực của ông vì châm chọc vua Bảo Đại mà phải nhận trát hầu tòa. Muốn phản tố phải nộp cho tòa án 1.000 đồng mà cả tòa soạn báo Vịt Đực đã không thể nào xoay xở được dẫn đến việc tờ báo phải đóng cửa.

Nhưng với bầu nhiệt huyết lạ lùng, Lam Phương vẫn đi vay tiền để in tờ nhạc, những mong có ngày sẽ thu được số tiền trả nợ. Năm 1954, trước thời điểm xảy ra sự kiện Hiệp định Genève, Lam Phương đánh dấu sự nghiệp âm nhạc của mình bằng bản Khúc ca ngày mùa.

 

Ngay khi bản nhạc xuất hiện, Lam Phương trở thành làn gió mới của âm nhạc miền Nam. Bản Khúc ca ngày mùa được báo chí Sài Gòn miêu tả là đã đưa tên tuổi Lam Phương từ bóng tối ra khung trời rực rỡ. Độ phổ biến của bài hát được ghi nhận vào năm 1954 là lan tỏa từ thành thị đến nông thôn, từ sân trường đến trại lính, từ công xưởng đến những người bán hàng rong vỉa hè...

Năm 1956, thành phố Sài Gòn đón những đợt di cư mới từ miền Bắc. Trong số đó, giới nghệ sĩ tinh hoa và trung lưu mới nhập cư đã góp phần tạo nên một khí hậu văn hóa khác biệt, một thị trường tiêu thụ sản phẩm văn hóa sôi động, từ sách báo xuất bản đến mỹ thuật, âm nhạc.

Từ một chàng trai vô danh, Lam Phương được các nhà xuất bản chào đón bằng những bản hợp đồng in nhạc để có bản quyền in Khúc ca ngày mùa. Lam Phương không giấu được niềm xúc động đến rơi nước mắt, như lời mô tả trên báo Sài Gòn Mới số ra ngày 26/3/1956 của ký giả Ngọc Huyền-Lan thì bản nhạc đã được tái bản tới lần thứ bảy. Chỉ với Khúc ca ngày mùa, ký giả này không ngại khẳng định, Lam Phương đã sánh ngang với các nhạc sĩ tiền bối mà tên tuổi đã thành danh từ 20 năm trước.

Số nợ 600 đồng với người bạn học đã được Lam Phương trả lại bằng tiền bán bản quyền Khúc ca ngày mùa.

Cũng trong giai đoạn này, chàng nhạc sĩ trẻ được thêm động lực, tiếp tục viết những bản nhạc mới, ghi đậm dấu ấn một nhạc sĩ miền Nam trong lòng công chúng, với các tác phẩm mang tình tự quê hương: Hương thanh bình, Mùa hoa phượng, Trăng thanh bình, Nhạc rừng khuya...

Sách "Lam Phương - Trăm nhớ ngàn thương". Ảnh: Phanbook.

 Tuy những bản nhạc ấy ít nổi tiếng hơn Khúc ca ngày mùa, nhưng là bước đệm quan trọng để khởi sự định hình một tên tuổi trong lòng người mê nhạc Sài Gòn. Đó cũng là nền tảng để Lam Phương giữ nhịp sáng tác đều đặn để rồi một ngày, những lưu dân, những người nhập cư nơi phố thị thấy tiếng lòng của mình đã được người nhạc sĩ trẻ cảm thấu và phổ nên giai điệu đầy cảm động. Ca khúc Kiếp nghèo ra đời.

Kỳ ba: Thoát nghèo nhờ 'Kiếp nghèo'

Chỉ với bài "Kiếp nghèo", nhạc sĩ Lam Phương mua được ngôi nhà cho mẹ trị giá 40 cây vàng vào thập niên 1960 đưa nhạc sĩ Lam Phương thoát nghèo.

Lam Phương mới có vài nhạc phẩm cũng có chút danh tiếng nhưng về thu nhập cũng chưa đáng là bao so với đời sống ở phố thị đắt đỏ. Trong sinh hoạt thường nhật, tuy là một nghệ sĩ, nhưng Lam Phương khá chừng mực trong chi tiêu. Một phần vì tuổi còn trẻ, phần khác vì xuất thân quê kiểng, Lam Phương không hút thuốc lá, không uống rượu hay tụ tập ở các tụ điểm, quán bar như các nghệ sĩ đương thời.

Nhạc sĩ Lam Phương thời trẻ. Ảnh gia đình cung cấp.

 Giữa năm 1954, những cơn mưa Sài Gòn trĩu nặng phủ kín phố phường, Đa Kao bị ngập úng nặng nề. Dòng kênh Nhiêu Lộc nước lé đé xóm Vạn Chài vốn chỉ được cơi nới bằng gỗ tạp, tạm bợ trên kênh. Lam Phương phờ phạc người, đạp xe về xóm trọ, thấy trước hiên nhà, má mình đang loay hoay hứng nước mưa.

Căn gác ọp ẹp hiện ra trước mắt người nhạc sĩ trẻ tuổi như một cảnh sống tối tăm của những phần đời mong manh, trôi nổi. Lam Phương đã nhẩm những nốt đầu tiên trong bài Kiếp nghèo. Có thể nói, đời sống khốn khó cơ cực từ khi mới lọt lòng cho đến lúc tha phương cầu thực đã được chàng nhạc sĩ nghèo viết xuống một cách giản dị và tự nhiên trên một giai điệu duy tình:

Đường về đêm nay vắng tanh, rạt rào hạt mưa rớt nhanh
Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi, mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh
Lầy lội qua muôn lối quanh, gập ghềnh đường đê tối tăm
Ngập ngừng dừng bên mái tranh nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi.


Êm êm tiếng hát ngân nga ôi lời mẹ hiền ru thiết tha
Không gian tím ngắt bao la như thương đường về quá xa
Mưa ơi có thấu cho ta lòng lạnh lùng giữa đêm trường
Đời gì chẳng tình thương không yêu đương.


Thương cho kiếp sống tha hương thân gầy gò gởi cho gió sương
Đôi khi muốn nói yêu ai nhưng ngại ngùng đành lãng phai
Đêm nay giấy trắng tâm tư gởi về người chốn mịt mùng
Đời nghèo lòng nào dám mơ tình chung.


Trời cao có thấu cúi xin người ban phước cho đời con
Một mái tranh yêu, một khối tình chung thủy không hề phai
Và một ngày mai mưa không nghe tiếng khóc trong đêm dài
Đây cả nỗi niềm biết ngày nào ai thấu cho lòng ai.

Lần đầu tiên nghe Kiếp nghèo của Lam Phương - thế hệ nhạc sĩ đàn em và là học trò, nhạc sĩ Lê Thương đã phải thốt lên: "Người ta chỉ có thể dạy nhau kỹ thuật âm nhạc. Không ai có thể dạy nhau nghệ thuật sáng tác được. Cảm xúc mới là thứ quan trọng nhất để làm nên bản nhạc".

Hồi tưởng lại những ký ức xót xa, Lam Phương kể về tuổi mười bảy mưa chan nước mắt:

"Tôi viết bài Kiếp nghèo trong hoàn cảnh hoàn toàn thật của tôi lúc đó. Viết bằng rung động chân thành, và lần đầu tiên tôi viết bài Kiếp nghèo bằng những dòng nước mắt... Lúc đó tôi còn trẻ lắm, khoảng 1954, sau khi tôi bán được bài Trăng thanh bình đầu năm 1953, tôi để dành được một số tiền, mua một chiếc xe đạp để di chuyển đến trường học.

Nhà tôi ở Đa Kao. Thường thường muốn về Đa Kao phải đi qua con đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ). Con đường Phan Thanh Giản cây cối um tùm. Khoảng ngang trường Gia Long không có một căn nhà nào... Đêm đó, tôi chẳng may gặp một trận mưa rất to, không có nơi để trú mưa, đành phải đi dưới mưa để tìm 'thú đau thương'.

Lúc đó, tôi thấy mình thật cô đơn, thấy mình bé nhỏ và hình như bị đời ruồng rẫy đến vô tình. Tôi đi mãi cho tới khi về nhà, không kịp thay quần áo, ôm cây đàn và cứ thế viết về kiếp nghèo, về phận bạc của mình".

Lam Phương mất một tuần để chỉnh sửa lời và giai điệu cho Kiếp nghèo trước khi công bố ra công chúng thông qua hợp đồng xuất bản tờ nhạc với Nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam. Đây là nhà xuất bản do ông Tăng Duyệt, một người Huế gốc Quảng Đông, Trung Quốc sáng lập và làm chủ; có chủ trương được ghi trang trọng ở các bìa 4 của tờ nhạc:

"Để biểu dương một nguồn âm nhạc Việt Nam mới - trên nền tảng văn hóa và nghệ thuật - Nhà xuất bản Tinh Hoa đã và sẽ lần lượt trình bày những nhạc phẩm chọn lọc giá trị nhất của các nhạc sĩ chân chính với một công trình ấn loát mỹ thuật để biếu các bạn yêu âm nhạc góp thành một tập nhạc quý".

Và tờ nhạc Kiếp nghèo năm 1954 đã là một "công trình ấn loát mỹ thuật" với lối vẽ minh họa lập thể đầy sáng tạo của một trong những họa sĩ tài hoa bậc nhất miền Nam bấy giờ: họa sĩ Duy Liêm.

Một trong những ca sĩ ăn khách bậc nhất trên trang bìa tờ nhạc Tinh Hoa Miền Nam chính là ca sĩ Thanh Thúy, người đầu tiên thể hiện ca khúc Kiếp nghèo với tiếng hát liêu trai, khiến người nghe có thể bật khóc được nếu nghe trong một quán trọ giữa đêm khuya thanh vắng. Ca sĩ "tiếng sầu ru khuya" Thanh Thúy đưa Kiếp nghèo nhanh chóng phủ khắp Sài Gòn thông qua sóng phát thanh và dĩa nhựa của hãng Shotguns. Chưa dừng lại ở đó, giọng ca Thanh Tuyền tiếp nối đàn chị đưa bản nhạc trở thành bài hát thịnh hành bậc nhất những năm 1960 ở miền Nam.

Lam Phương tâm sự, chỉ với bài Kiếp nghèo, ông đã mua được ngôi nhà khang trang cho má mình ở cư xá Lữ Gia. Gia đình nhạc sĩ tiết lộ giá trị ngôi nhà thời điểm đó là 40 cây vàng. Năm 1960, "nhạn trắng Gò Công" - ca sĩ Phương Dung - đi hát ở mỗi phòng trà được cát-xê là 35.000 đồng/tháng, trong khi vàng chưa tới 30.000 đồng/cây. Trong khi đó, với Kiếp nghèo, Lam Phương thu tiền bán bản quyền lên tới 1.200.000 đồng để mua nhà cho má và các em.

Kiếp nghèo đã đưa nhạc sĩ nhập cư Sài Gòn thoát nghèo!

Kỳ 4: Thành phố buồn

Nhờ tiền tác quyền từ bài "Thành phố buồn", nhạc sĩ Lam Phương mua biệt thự 300 m2 ở quận 10 - hiện vẫn là tài sản gia đình ông.

Bản tình ca buồn về Đà Lạt trở thành best-seller

So với các nhạc sĩ cùng thời, Lam Phương có sáng tác về Đà Lạt hơi muộn. Trước đó, khán thính giả từng say đắm với chàng thanh niên 18 tuổi Từ Công Phụng ôm đàn guitar thùng và nghêu ngao Bây giờ tháng mấy.

Đà Lạt đi vào nhạc họ Từ đẹp đến quên sự hiện diện của thời gian. Người ta cũng biết rằng, Phạm Duy đưa Đà Lạt vào Cỏ hồng đầy quyến rũ. Có thể kể thêm những tên tuổi lớn khác như Trịnh Công Sơn, Hoàng Nguyên, Lê Uyên Phương... mà gần như các sáng tác đó đều hoàn hảo, vẽ ra một thành phố lãng mạn, giàu hoài niệm.

 

Thành phố buồn của Lam Phương ra đời năm 1970, khi nhạc sĩ theo đoàn văn nghệ Hoa Tình Thương của quân đội đi trình diễn ở Đà Lạt. Bài hát không có từ nào nhắc đến Đà Lạt mà chỉ bằng hình ảnh lãng đãng khói sương, đường quanh co quyện gốc thông già, hay con đường ngày xưa lá đổ... mà khói sương Đà Lạt được gọi về thật nhiều trong tâm tưởng người nghe.

Tất cả hình ảnh đó được dùng để kể câu chuyện đúng phong cách Lam Phương: Lồng vào một chuyện tình tan vỡ (motif nhạc tình buồn của dòng bolero bình dân thịnh hành thời điểm này)!

Người ta bắt gặp sự đồng cảm khi nghe Thành phố buồn có lẽ vì khung cảnh Đà Lạt là thiên đường cho tình yêu, là tìm chốn êm đềm. Để rồi cũng chính đô thị khói sương ấy lại khắc khoải buồn trong bức tranh tiễn biệt.

Có nhiều dị bản của Thành phố buồn mà tựu trung ở ca từ "trốn" hay "chốn" cho một vế tiếp theo đầy ngậm ngùi "... phong ba, em làm dâu nhà người". Các ca sĩ khi hát thường phải sử dụng ngữ âm miền Bắc nên phụ âm "tr" thành "ch".

Đây là một điểm sai lầm so với nguyên bản của tác giả. Tờ nhạc Thành phố buồn in năm 1970 do Sống giữ bản quyền, được Lam Phương viết là "trốn phong ba". Tức là, người con gái trong ca khúc né tránh cơn bão lòng, lánh xa giông bão tình yêu, để chọn một bến đỗ có bề an phận.

Cũng như Bây giờ tháng mấy của Từ Công Phụng, Thành phố buồn của Lam Phương được Đài Phát thanh Đà Lạt phát sóng lần đầu tiên. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Thành phố buồn lan tỏa khắp miền Nam.

Và một lần nữa, theo khói sương u hoài của cuộc tình buồn trong tưởng tượng, chỉ với một ca khúc, tài khoản trong nhà băng của Lam Phương tăng đến mức khó tưởng tượng.

"Ông cho biết, bài hát trên không hẳn viết cho một nhân vật cụ thể nào như nhiều người đã suy diễn và thêu dệt. Nhưng ‘số lượng xuất bản rất cao’ và doanh thu bài hát này vô cùng lớn, đó là điều được báo chí Sài Gòn đương thời tính toán được: khoảng 12 triệu đồng bản quyền, tiền Việt Nam Cộng hòa (hồi suất chính thức năm 1970 là một USD = 275 đồng, vậy 12 triệu đồng tương đương 432.000 USD) - Con số này quá lớn với một ca khúc!

Để dễ hình dung, một chiếc xe hơi hiệu La Dalat của hãng Citroen sản xuất tại miền Nam Việt Nam vào năm 1971 có giá khoảng trên dưới 650.000 đồng" (Theo Nguyễn Vĩnh Nguyên viết trong Đà Lạt, một thời hương xa, NXB Trẻ, 2017)

Đối chiếu các dữ liệu từ gia đình nhạc sĩ hiện còn lưu trữ, phù hợp với thời điểm 1971 vợ chồng nhạc sĩ Lam Phương mua căn biệt thự gần 300 mét vuông ở số 42 đường Nguyễn Lâm, quận 10, Sài Gòn. Ngôi nhà này vẫn còn là tài sản của người thân gia đình nhạc sĩ Lam Phương.

Thành phố buồn không chỉ xuất hiện trên truyền hình, sóng phát thanh hay trên tờ nhạc mà đã trở thành bài hát quen thuộc của Ban Kịch Sống. Ký ức của người Sài Gòn xưa đi coi kịch của Ban Kịch Sống vẫn còn lưu giữ những kỷ niệm đặc biệt với Thành phố buồn. Như một bài báo của tác giả Thanh Thủy, có lẽ là một khán giả mê kịch vào thời điểm đó, đã thuật lại:

"Thời ấy, cứ mỗi tối thứ năm hàng tuần, Đài Truyền hình Sài Gòn có tiết mục thoại kịch và những vở kịch của Ban Kịch Sống của Túy Hồng bao giờ cũng thu hút nhiều người xem. Thời ấy truyền hình còn hiếm, người ta kéo nhau tới nhà những người có tivi để xem kịch.

Trong nhà, cửa ra vào, ô cửa sổ... đều chật cứng người xem. Tôi còn nhớ, khi bài hát Thành phố buồn của Lam Phương được hát dìu dặt trong suốt một vở kịch của Túy Hồng phát trên truyền hình. Sáng hôm sau bài hát ấy bán đắt như tôm tươi, chàng học sinh, sinh viên nào cũng muốn mua bài Thành phố buồn về để trên kệ sách" (Sách đã dẫn).

Vở kịch tác giả Thanh Thủy nhắc đến chính là Phi vụ cuối cùng nói về binh chủng Không quân mà nghệ sĩ kịch Túy Hồng đã nhắc đến.

 Ca sĩ thể hiện bài hát này xuất sắc chính là Chế Linh. Cùng với nhạc sĩ Từ Công Phụng, ca sĩ Chế Linh là giọng ca người Chăm được thính giả miền Nam những năm đầu thập niên 1970 ái mộ. Ông là một trong "tứ đại danh ca Sài Gòn" cùng với Nhật Trường (Trần Thiện Thanh), Duy Khánh và Hùng Cường.

Thành phố buồn đã đại chúng đến mức có thể người nghe không biết tên tác giả, nhưng chỉ ôm cây guitar thùng và đi một đoạn giai điệu theo lối slow rock, âm giai Mi thứ (Em), nhiều người sẽ nhận ra. Hiện nay bản nhạc đã qua nửa thế kỷ này vẫn liên tục được các ca sĩ trong và ngoài nước biểu diễn.

Còn sống, còn viết. Và viết để được sống lâu hơn là hai vế của mệnh đề mà người nghệ sĩ theo đuổi trong sáng tác. Nếu ứng điều này vào Lam Phương và chỉ dùng Thành phố buồn để dẫn chứng cho lập luận trên, Lam Phương sẽ sống mãi cùng những người yêu Đà Lạt, yêu âm nhạc!

 

Thành Phố Buồn

Tác giả Lam Phương

✧✧

Thành phố nào nhớ không em?
Nơi chúng mình tìm phút êm đềm
Thành phố nào vừa đi đã mỏi
Đường quanh co quyện gốc thông già

Chiều đan tay nghe nắng chan hòa
Nắng hôn nhẹ làm hồng môi em
Mắt em buồn trong sương chiều..
Anh thấy đẹp hơn ..

Một sáng nào nhớ không em?
Ngày chủ nhật ngày của riêng mình..
Thành phố buồn nằm nghe khói tỏa
Người lưa thưa chìm dưới sương mù


Quỳ bên nhau trong góc giáo đường
Tiếng kinh cầu dệt mộng yêu đương
Chúa thương tình, sẽ cho mình mãi mãi gần nhau.

Rồi từ đó vì cách xa duyên tình thêm nhạt nhòa
Rồi từ đó chốn phong ba, em làm dâu nhà người


Âm thầm anh tiếc thương đời,
Đau buồn em khóc chia phôi
Anh về gom góp kỷ niệm tìm vui.

Thành phố buồn, lắm tơ vương ..
Cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn
và con đường ngày xưa lá đổ..
Giờ không em sỏi đá u buồn..


Giờ không em hoang vắng phố phường..
Tiếng chuông chiều chậm chậm thê lương
Tiễn đưa người quên núi đồi,
quên cả tình yêu..(3 x)

Cuộc hôn nhân với Túy Hồng

Nhạc sĩ Lam Phương dạy nhạc, hát cho Túy Hồng và nảy nở tình cảm với học trò dù anh trai cô chỉ muốn em theo công việc kinh doanh.

Cơn say màu hồng và danh vọng nhiều người khao khát

Một sáng Sài Gòn đầu năm 1959, Lam Phương đến tòa soạn báo Vui Sống, vai đeo cây guitar và một túi xách nhỏ chứa đầy thư hâm mộ. Như bao lần quen thuộc mỗi khi có bài hát mới, chàng nhạc sĩ trẻ lại dành cho báo chí buổi phỏng vấn, trả lời những thắc mắc của người ái mộ.

Lam Phương và người vợ đầu tiên - Túy Hồng -

trong căn nhà mua được từ bán bản quyền bài hát "Thành phố buồn".

Hiện ngôi nhà này ở quận 10 (TP HCM), đang được gia đình Lam Phương sử dụng. Ảnh gia đình cung cấp. 

Theo đề nghị của ký giả Ngọc Huyền - Lan, Lam Phương ôm guitar hát bản nhạc mới nhất của mình là Kiếp ve sầu. Đó là bản rhumba rất buồn về thân phận và cuộc đời người nghệ sĩ lấy lời ca tiếng hát mua vui cho đời, như một kiếp ve ngắn ngủi.

Vốn thân quen với Lam Phương và bằng kỹ năng quan sát của nghề báo, Ngọc Huyền - Lan nhanh chóng phát hiện ra túi thư của khán giả hâm mộ. Khai thác chuyện tình cảm của nghệ sĩ là tài nguyên bất tận để câu khách nên cơ hội này khó bỏ qua với một nhà báo chuyên viết về giới văn nghệ như Ngọc Huyền - Lan.

Và bằng giọng văn hơi hướm "lá cải" của báo chí văn nghệ đương thời, Ngọc Huyền - Lan cho thấy mấy chi tiết khá quan trọng: Lam Phương đang yêu. Người yêu của Lam Phương rất ghen. Thư hâm mộ Lam Phương từ khắp nơi gửi về, cứ một tuần lại đầy thêm một túi xách. Lam Phương và người yêu sắp kết hôn. Người sắp trở thành "Lam Phương phu nhân" ấy là nghệ sĩ kịch nghệ Túy Hồng, lừng danh không kém trong giới sân khấu.

Đặc biệt, trong bài báo Lam Phương kể chuyện tình nghệ sĩ của mình đã nhắc đến thông tin quan trọng: "Cha mẹ chúng em đã hoàn toàn tán đồng, chỉ chờ chúng em có tiền là gửi thiệp hồng mời anh uống rượu". Lần đầu tiên, thông tin về người cha - cụ ông Lâm Đình Chất được nhắc đến. Chi tiết này cho thấy Lam Phương vẫn có mối quan hệ nồng ấm với thân phụ mình trong thời gian ở Sài Gòn, chứ không phải người cha ấy bỏ đi biệt tăm tích như lời thêu dệt lâu nay trên miệng đời. Năm 1989, cụ Lâm Đình Chất qua đời và được an táng tại Củ Chi.

Kịch sĩ Túy Hồng. Ảnh gia đình cung cấp.

Tên thật của Túy Hồng là Trương Ánh Tuyết, sinh năm 1940 và chỉ là một nữ sinh bình thường ở tỉnh Bình Dương; gia đình không có truyền thống văn nghệ. Cha mất sớm, Trương Ánh Tuyết sống với anh trai quyền huynh thế phụ.

Như một duyên lành với Lam Phương, khoảng năm 1955, công việc kinh doanh xe hơi của anh trai Ánh Tuyết khá lên. Người anh đưa em gái về Sài Gòn cho ăn học. Tình bạn của Lam Phương với anh trai Ánh Tuyết đã giúp cho mối tình của cặp đôi đẹp trong giới sân khấu - ca nhạc được nảy nở và tác thành.

Lam Phương đa tình, lãng tử mới có chút danh tiếng nên bắt gặp ánh mắt trong trẻo, nụ cười hồn hậu của thiếu nữ Bình Dương liền đem lòng cảm mến. Về phần mình, cô nữ sinh nhỏ cũng rung động đầu đời với người thanh niên viết nhạc, nuôi giấc mộng thành nhạc sĩ.

Ngày đầu đến với nhau, quan hệ của Lam Phương - Túy Hồng thuần túy tình thầy trò. Lam Phương dạy nhạc, dạy hát còn Túy Hồng muốn theo con đường nghệ thuật, bất kể sự cấm cản của người anh trai chỉ mong em gái mình theo hướng kinh doanh.

Những năm đầu thập niên 1950, sân khấu kịch khá phát triển ở cả hai miền Nam - Bắc. Tại Sài Gòn, kịch dễ có đất diễn hơn khi đầu thế kỷ 20, loại hình "cải cách ca ra bộ" đã phát triển thành "tuồng tích sánh văn minh".

Tức là những bản ca tài tử đã được sân khấu hóa bằng kịch bản cải lương làm say đắm giới mộ điệu. Thoại kịch cũng theo đó dần trở nên quen thuộc với khán giả với sự xuất hiện của ban kịch đầu tiên của người Việt ở Sài Gòn là Ban Kịch Dân Nam của ông bầu Anh Lân.

Túy Hồng và Lam Phương

Ngày đầu mới thành lập, Ban Kịch Dân Nam chỉ có ba diễn viên là Tuyết Vân và hai mẹ con Túy Hoa, Túy Phượng. Có thể đó là lý do khi gia nhập đoàn kịch sau khi trúng tuyển cuộc thi tuyển chọn diễn viên, Trương Ánh Tuyết là lấy nghệ danh là Túy Hồng, nghĩa là cơn say màu hồng. 

Những ngày đầu lên sân khấu Dân Nam, Túy Hồng vẫn chưa tạo được cơn say nào. Tình cảnh này hệt như Lam Phương thời mới viết ca khúc Chiều thu ấy. Cô nghệ sĩ trẻ loanh quanh với các vai phụ trong các vở đoản kịch. Cho tới khi ông bầu Anh Lân mời Kim Cương, là một nữ nghệ sĩ cải lương về đầu quân cho ban kịch và trình diễn vở Áo người trinh nữ.

Trong vở này, Túy Hồng đóng vai phụ, Kim Cương vai chính. Vở diễn đã lấy hết nước mắt người xem.

Một trong những giai đoạn hạnh phúc nhất đời Lam Phương chính là cuộc sống hôn nhân với Túy Hồng. Đôi vợ chồng mới cưới có tất cả những gì mà người đời mơ ước: danh vọng, tiền tài, sự nổi tiếng và cả cuộc sống yên bình bên con thơ...

Quan trọng hơn tất thảy, đám cưới năm 1959 của đôi nghệ sĩ Lam Phương - Túy Hồng có sự hiện diện của cụ ông Lâm Đình Chất và cụ bà Trần Thị Nho - song thân của nhạc sĩ Lam Phương. Gia đình nhỏ trở thành một dịp để hạnh ngộ một gia đình lớn nhiều tháng năm ly tan trôi nổi.

Nhạc sĩ Lam Phương

 

Hình Internet

Hồng Anh st tổng hợp

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này