Âm nhạc

Âm nhạc (58)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Nữ danh ca Bạch Yến-Nữ ca sĩ Việt đầu tiên đến với kinh đô điện ảnh Hollywood

Cuộc đời nữ danh ca Bạch Yến

Nữ ca sĩ Việt đầu tiên đến với kinh đô điện ảnh Hollywood

Nữ ca sĩ Bạch Yến có rất nhiều cái “duy nhất”. Bà là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất xuất hiện trên chương trình Ed Sullivan Show nổi tiếng của Mỹ năm 1965, là nghệ sĩ Việt Nam duy nhất có cơ hội trình diễn trên cùng một chương trình với những tên tuổi nổi tiếng của Mỹ như Bob Hope - Bing Crosby - Pat Boone - Frankie Avalon… là ca sĩ Việt đầu tiên và duy nhất hát nhạc phim Hollywood trong phim "Mũ nồi xanh" (The Green Berets)…

Ca sĩ Bạch Yến thời trẻ

Nhắc đến Bạch Yến, không thể không nhắc đến ca khúc Đêm đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Bạch Yến là ca sĩ đầu tiên đã chuyển ca khúc này từ điệu tango sang slowrock. “Đêm đông đã lựa chọn tiếng hát của tôi khi mới vừa tròn 15 tuổi” – Bà tự sự.

Bạch Yến năm 15 tuổi nhưng trang điểm đậm, giả 18 tuổi để hát trong vũ trường.

Chính lúc này, bài “Đêm đông” được Bạch Yến hát theo điệu Slow Rock

thay vì Tango như tác giả Nguyễn Văn Thương đã sáng tác năm 1939.

Nữ ca sĩ chia sẻ: “Dẫu lúc ấy không biết tác giả là ai nhưng tôi vẫn gói ghém, cất kỹ bên mình thành một hành trang và ca khúc “Đêm đông” đã theo tôi khắp nơi trên thế giới cho đến khi mái tóc đã điểm sương, tuổi cũng bớt trẻ nhưng khán giả vẫn yêu cầu Bạch Yến hát Đêm đông”.

Những năm trước 1975, Bạch Yến sớm nổi danh tại Sài Gòn với giọng hát trầm đặc biệt. “Số mệnh không tự mình định đoạt được. Tôi bước lên sân khấu như một định mệnh. Và thật kỳ lạ là suốt từ đó tới giờ, tôi chỉ có hát, không làm thêm bất cứ công việc nào khác.

Nghề biểu diễn thực sự rất khắt khe, đứng không vững một chút thôi là sụt xuống, mất chỗ, hát kém hay, hoặc kém đẹp đi một chút là lập tức sẽ có người thay thế. Vậy nên tự mình phải khổ luyện và giữ gìn” – Danh ca tâm sự. Hồi nhỏ, Bạch Yến không thể nào ngờ được con đường đời lại đưa bà đến những miền đất xa xôi đến vậy. Và nhìn lại cả chặng dài suốt đời người, bà cùng chồng đã cháy hết mình cho những giai điệu Việt Nam được vang lên ở khắp nơi trên thế giới.

Tấm hình chụp trong lúc Bạch Yến xuất hiện trên show đặc biệt của ông Bob Hope: Hope NBC TV. Bạch Yến đang đàm thoại với hai tài tử người Hoa Kỳ lừng danh là ca sĩ tài tử Bing Crosby và ông Bob Hope. Đây là tấm hình có giá trị cao và hiếm có của Bạch Yến.

Tấm hình chụp trong lúc Bạch Yến xuất hiện trên show đặc biệt của ông Bob Hope: Hope NBC TV. Bạch Yến đang đàm thoại với hai tài tử người Hoa Kỳ lừng danh là ca sĩ tài tử Bing Crosby và ông Bob Hope. Đây là tấm hình có giá trị cao và hiếm có của Bạch Yến.

 Xuất hiện tại sân khấu nhà hát Hòa Bình (TP HCM) , danh ca Bạch Yến sẽ hát một số bài hát ru để thể hiện hết vẻ đẹp của âm nhạc dân tộc.Bà cũng sẽ hát bài “Tân hôn dạ khúc” mà nhạc sĩ Trần Quang Hải dành tặng cho người chung mộng trăm năm.

Kể về mối tình đặc biệt này, bà bảo lần gặp đầu tiên của họ chính là do giáo sư Trần Văn Khê giới thiệu, và mối tình sét đánh đã làm bừng cháy lên chặng đường mới trong cuộc đời bà. Chỉ 24giờ, lời cầu hôn đã được chấp thuận, mặc dù khi đó không ít chàng công tử theo đuổi Bạch Yến, nhưng bà đã chọn gắn bó cả cuộc đời với người nhạc sĩ cùng chung tâm hồn đồng điệu.

Cho dù không sinh được con và làm mẹ kế không hề dễ dàng nhưng bà lại chinh phục được tất cả những khó khăn trong đời sống riêng, bởi tâm thành và sự giản dị. Và chuyến đò nhân nghĩa chung đôi với nhạc sĩ Trần Quang Hải cũng chính là hành trình cùng chồng mang âm nhạc dân tộc Việt Nam đi biểu diễn hơn 70 nước trên thế giới.

Bí ẩn cuộc đời danh ca Bạch Yến

Dù đã ở tuổi 72, nhưng chất giọng của bà vẫn khỏe khoắn, và hễ cất giọng lên là người nghe phải “sởn da gà” vì chiều sâu trải nghiệm cùng tình cảm tràn trề. Trên gương mặt bà vẫn còn nguyên những nét đẹp lưu dấu từ hồi thanh xuân luôn sáng lên rực rỡ, phong thái duyên dáng, hài hước, trí tuệ, toát ra từ sâu thẳm tâm hồn.

Hỏi bà bí quyết gì mà trẻ đẹp và thanh xuân mãi vậy, Bạch Yến trả lời: “Thời gian không tha cho ai hết nhưng mình phải làm cách nào để giữ được sức khỏe thì sẽ có được rất nhiều thứ, đặc biệt là giọng hát. Vì luôn trân trọng và muốn khán giả hài lòng khi nghe Bạch Yến hát nên đến tuổi này tôi vẫn luyện thanh mỗi ngày.

Sáng uống một lít rưỡi nước, ăn sáng rồi đi bộ 4km. Ngày nào cũng vậy. Dù trời nắng, mưa, tuyết, tôi vẫn đi. Trở về nhà với mồ hôi ướt đẫm áo nhưng lúc nào tôi cũng thấy mình tràn trề năng lượng, hạnh phúc và yêu đời hơn”.

Danh ca Bạch Yến thời hiện đại

Danh ca Bạch Yến đã ở tuổi 72 nhưng trên gương mặt

vẫn còn nguyên những nét đẹp và thần thái thanh xuân 

Nữ danh ca Bạch Yến

Đầu năm 1965, đúng18 tuổi, tôi về Sài Gòn. Một buổi tối, tôi lên phòng trà Hòa Bình (tọa lạc trước g axe lửa Sài Gòn cũ nay là mũi tài công viên 23/9, trước chợ Bến Thành hiện nay). Đúng lúc, người ta giới thiệu ca sĩ Bạch Yến hát bài “Đêm đông”. Vẫn mái tóc đó, khuôn mặt đó, chẳng thể nào quên được. Tim đập loạn lên, nhưng tôi vẫn hỏi cho chắc : “Có phải hồi trước Bạch Yến này lái môtô bay không ?”. Anh nhạc sĩ đàn anh dẫn tôi đi đáp : “Đúng rồi đó”.

Tôi đứng như trời trồng, không phải nghe mà để tiếng hát trầm ấm, trong vắt rót vào hồn mình từng cung bậc. Nhẹ nhàng và tự nhiên lắm. Tiếng hát cứ như tuôn ra từ lồng ngực, rõ ràng từng chữ, không cố gắng, kiểu cách, nhưng sao lại có sức truyền cảm mãnh liệt đến thế!…

Gần nửa thế kỷ trôi qua, tôi đã nghe không biết bao nhiêu giọng hát tuyệt vời của nhiều ca sĩ tài năng. Nhưng trong lòng, giọng hát Bạch Yến vẫn là niềm xao xuyến dạt dào nhất, chưa chút tàn phai.

Chị tên thật là Quách Thị Bạch Yến, chào đời tại Sóc Trăng năm 1942, có cha là người Triều Châu (Trung Quốc) và mẹ là một người Kinh rất yêu âm nhạc. Lên 9 tuổi, Bạch Yến theo học tiểu học Trường La providence, Cần Thơ, gia nhập đoàn thánh ca nhà thờ để làm quen với âm nhạc.

Năm 1953, về Sài Gòn, chị tham gia cuộc thi tiếng hát nhi đồng do Đài Phát thanh Pháp Á tổ chức và đoạt ngay huy chương vàng. Được vinh quang này, Bạch Yến lại đối mặt với mất mát khác. Thân sinh của chị đòi đem cả nhà sang Phnôm Pênh (Campuchia) định cư. Mẹ Bạch Yến lại không muốn rời xa quê hương nên cương quyết ở lại. Thế là chia tay !

Mẹ con Bạch Yến sống chen chúc trong một căn nhà nhỏ ở một con hẻm trên đường Cao Thắng nhưng cũng chẳng được bình yên. Một cơn hỏa hoạn đã thiêu rụi căn nhà này thành tro bụi. Một ông cậu ruột của Bạch Yến từ Cần Thơ lên, nảy ra ý định thành lập một gánh xiếc môtô bay thiếu nhi, lưu diễn khắp miền Nam để kiếm sống. Bạch Yến cùng với chị ruột, em trai và em họ đi theo cái nghề nguy hiểm này trong nỗi lo ngay ngáy của người mẹ.

Một lần biểu diễn tại Thị Nghè, khi đang bay môtô trên độ cao 4 mét, Bạch Yến đã đạp nhầm thắng và rơi xuống sàn gỗ, bị chiếc môtô đè lên người, gãy ba xương sườn, màng tang trái bị chấn thương, phải điều trị mất một thời gian dài. Đoàn môtô bay của ông cậu cũng ngưng hoạt động sau tai nạn này!

Mới 14 tuổi, Bạch Yến đã cố trang điểm cho già dặn hơn để lần mò đến các vũ trường, phòng trà xin làm ca sĩ, những mong kiếm tiền để phụ giúp mẹ. Nơi Bạch Yến đến gõ cửa đầu tiên là phòng trà Trúc Lâm trên đường Phạm Ngũ Lão do hai nhạc sĩ Mạnh Phát và Ngọc Bích làm chủ.

Chỉ mới thử giọng lần đầu, Bạch Yến đã được thu nhận với khoản thù lao hết sức khiêm tốn. Từ phòng trà Trúc Lâm, Bạch Yến tiến lên phòng trà Hòa Bình, được khán giả tán thưởng nồng nhiệt qua các ca khúc “Bến cũ”, “Gái xuân”… và một số bài hát pháp : “Tango Blue”, “Étoile Des Neiges”…

Bạch Yến xưa và nay

Năm 1957, tròn 15 tuổi, Bạch Yến đã khiến người nghe ngẩn ngơ khi trình bày ca khúc “Đêm đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Tên tuổi chị đã gắn liền với bài “Đêm đông” như một định mệnh. Từ đó, chị nhận được không biết bao nhiêu lời mời mọc với tiền cátxê cao ngất, dù còn ở tuổi thiếu niên.

Năm 1961, khi tên tuổi đã nổi như cồn, Bạch Yến lại từ bỏ tất cả, cùng với mẹ sang Pháp với mong ước được học hỏi những tinh hoa của âm nhạc Tây phương.

Bạch Yến may mắn được ông Phạm Văn Mười thu nhận làm ca sĩ, hát tại nhà hàng sang trọng La Table Du Mandarin do ông ta làm chủ trên đường Rue de l Echelle, quận 1, Paris. Trong thời gian này, Bạch Yến được hãng Polydor của Pháp mời thâu đĩa và lưu diễn một số nước châu Âu.

Thu nhập lý tưởng, nhưng Bạch Yến không hài lòng. Trong mắt khán giả, chị chỉ là một khuôn mặt Á Đông xa lạ. Thế là năm 1963, Bạch Yến quay về cố hương và trụ lại phòng trà Tự Do của ông Ngô Văn Cường, một người từng sống lâu năm ở Pháp. Bấy giờ Bạch Yến đã bước sang tuổi 21, và đã trải qua 7 năm sống đời ca hát với những thành công rực rỡ. Chị được nhiều phòng trà, vũ trường mời gọi.

9-bach-yen-5

Thu nhập lý tưởng, nhưng Bạch Yến không hài lòng. Trong mắt khán giả, chị chỉ là một khuôn mặt Á Đông xa lạ. Thế là năm 1963, Bạch Yến quay về cố hương và trụ lại phòng trà Tự Do của ông Ngô Văn Cường, một người từng sống lâu năm ở Pháp. Bấy giờ Bạch Yến đã bước sang tuổi 21, và đã trải qua 7 năm sống đời ca hát với những thành công rực rỡ. Chị được nhiều phòng trà, vũ trường mời gọi.

 Bạch Yến với tài tử John Wayne 

Frank Sinatra bấy giờ 50 tuổi. Ông là siêu sao của nước Mỹ, từng đoạt nhiều giải thưởng âm nhạc Grammy cao quý, đồng thời chiếm luôn giải Oscar dành cho nam diễn viên xuất sắc nhất trong bộ phim “From here to Etemity”.

Sau này, ông đã được nhiều đời Tổng thống Mỹ vinh danh và ngành Bưu chính Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ in hình ông lên tem để ghi nhớ tài năng một con người đã làm rạng danh cho nghệ thuật nước Mỹ.

Bạch Yến và tài tử Aldo Ray trong phim Green Berets

Hôm Bạch Yến điện thoại chào từ biệt, Frank Sinatra đã thuyết phục chị cố gắng ở lại thêm một ngày, ông ta sẽ cho máy bay riêng chở về Hollwood. Bạch Yến khéo léo từ chối. Đối với đa số phụ nữ trên thế giới, được một lần diện kiến với Frank Sinatra là vinh dự lớn lao.

Thời gian Bạch Yến ở Mỹ, bà mẹ dặn chị 3 điều : Không được lấy chồng Tây, không được cắt tóc ngắn và cuối cùng là không được mặc bikini, dù là đi tắm. Chị kể : “Ở Mỹ, có rất nhiều đàn ông đeo đuổi tôi, Tây cũng có mà ta cũng có. Có một người Mỹ, là chủ của 6 đài truyền hình tha thiết muốn cưới tôi làm vợ. Anh ta nói tôi muốn cái gì, được cái đó. Nhưng tôi nói với anh ta rằng : “Tôi yêu anh nhưng chưa đủ để cưới anh !”. Thật oái oăm, tôi từ chối nhiều “ông Tây” nhưng khi yêu mấy “ông ta” thì họ toàn làm tôi khổ !”

Vợ chồng Quang Hải và Bạch Yến

 Năm 1978, Bạch Yến về lại Paris. 

Nơi đây, chị gặp lại nhạc sĩ Trần Quang Hải, một con người nặng tình với dân ca, gần như dành cả đời cho những làn điệu hát ru, quan họ, chèo văn, nam ai, nam bình… Có lẽ do anh ảnh hưởng dòng máu của người cha, giáo sư, nhạc sĩ Trần Văn Khê. Như đùa, khi Trần Quang Hải buột miệng nói : “Mình cưới nhau đi”, Bạch Yến giỡn lại : “OK !”. Nào ngờ Trần Quang Hải làm thiệt, cho in thiệp cưới.

Thế là thành vợ thành chồng. Bạch Yến nói : “Đó là duyên số, chúng tôi sống với nhau tràn đầy hạnh phúc cho đến hôm nay. Đã 34 năm rồi”.

Định cư hẳn ở Paris, Bạch Yến cũng làm một cuộc thay đổi lớn lao trong đời sống nghệ thuật. Chị rời bỏ nền âm nhạc Tây phương khi đang ở trên đỉnh cao danh vọng và kiếm được rất nhiều tiền, quay về với dân ca, cùng với chồng tìm trong âm điệu ngũ cung cái hồn dân tộc thấm đẩm ân tình.

Với chị, Trần Quang Hải không chỉ là một người chồng, mà còn là một người thầy. Anh chỉ dẫn, nắn nót cho chị từng điệu hát ru, từng lời quan họ và những điệu hò phương Nam.

Cho đến năm nay (2012), vợ chồng Bạch Yến – Trần Quang Hải đã có hơn 3.000 suất diễn dân ca Việt Nam trên 70 quốc gia. Hiện nay, hàng năm Bạch Yến và Trần Quang Hải vẫn duy trì 60 suất diễn cho khán giả ngoại quốc, trên dưới 10 xuất cho các cộng đồng người Việt hải ngoại. Bạch Yến khiêm tốn : “Giọng tôi không được mềm mại như những ca sĩ xuất thân từ nhạc cổ truyền một cách chính thống.

Nhưng tôi biết thả hồn mình vào trong từng câu, từng lời khoan nhặt và dày công luyện tập để không vấp phải bất cứ một sai sót nào. Không chỉ người Việt tha hương thèm nghe làn điệu dân ca mà ngay cả người Tây cũng thích. Với họ đó là một sự lạ lẫm, mang tính khám phá”.

Năm 1983, vợ chồng Bạch Yến – Trần Quang Hải được nhận giải “Grand Prix Du Disque De L” Académie Charles Cros” (giải thưởng tối cao của Hàn Lâm Viện đĩa hát Charles Cros) do quyết định của một hội đồng giám khảo, bao gồm những nhà nghiên cứu âm nhạc hàng đầu thế giới tại Paris.

Tháng 10/2009, cánh chim phiêu lãng Bạch Yến trở về quê hương sau 44 năm sống đời viễn xứ. Tại phòng trà Văn Nghệ với ca khúc bất hủ “Đêm đông” và một số bài hát quen thuộc khác, chị được khán giả chào đón nồng nhiệt.

Bạch Yến xúc động: “Tôi rất hạnh phúc pha lẫn bất ngờ. Lúc đầu, tôi nghĩ khán giả đến với mình chắc là những người còn lại của thế hệ trước. Nào ngờ, hầu hết khán giả có mặt liên tục trong các đêm diễn toàn là người trẻ. Tôi quá cảm động và hạnh phúc khi thấy họ lắng nghe một cách say mê”. 

 

 

Ca khúc Đêm Đông

✧✧✧

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương

 

Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống
Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông
Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời
Cùng mây xám về ngang lưng trời


Thời gian như ngừng trong tê tái
Cây trút lá cuốn theo chiều mây
Mưa giăng mắc nhớ nhung, tiêu điều
Sương thướt tha bay, ôi! đìu hiu

Đêm đông, xa trông cố hương buồn lòng chinh phu
Đêm đông, bên song ngẩn ngơ kìa ai mong chồng
Đêm đông, thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư
Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng
Gió nghiêng, chiều say
Gió lay ngàn cây,
Gió nâng thuyền mây
Gió reo sầu miên
Gió đau niềm riêng
Gió than triền miên
Đêm đông, ôi ta nhớ nhung
Đường về xa xa
Đêm đông, ta mơ giấc mơ, gia đình, yêu đương
Đêm đông…

 

Vợ chồng giáo sư, nhạc sĩ Trần Quang Hải và Bạch yến

~~<><><><>~~ 

<~~ Hình Internet- Kim Quy st tổng hợp ~~>

 

Xem thêm...

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong (1918 - 1942)

   THU NHỚ   
 
Nắng vàng, se mát, trời xanh trong
Nhấm nháp thu buồn Đặng Thế Phong
Trăm năm vọng mãi lời ca khúc
Dương thế muôn đời vẫn nhớ ông.
Từng “giọt mưa thu thánh thót rơi”
“Đêm thu” trăng chiếu hoa buồn soi
“Con thuyền không bến” trôi lờ lững
Bạc mệnh, tài hoa, một cuộc đời...
 
Related image

Rất tiếc Nhạc sĩ Đặng Thế Phong đã qua đời qúa trẻ lúc mới 24 tuổi. Tuy ông chỉ mới kịp sáng tác được có 3 ca khúc vô gía bất hủ này. 

Image result for Đặng Thế Phong photos

Một ngày cuối thu buồn ông ra đi... 

Tiếc thương cuộc đời người nghệ sĩ tài hoa, khi tình yêu vừa mới nên duyên bén phận thì đã vội ra đi. Ông để lại cho đời 3 tuyệt phẩm mà chỉ cần giai điệu vừa cất lên thôi cũng đủ làm ta như tan biến vào cõi thiên thai mờ ảo. GIỌT MƯA THU là tiếng lòng sâu thẳm đến khôn cùng của ông khi nghĩ về duyên phận cuộc đời mà con tim đã trọn trao cho người thiếu nữ để rồi đành phải xa cách nghìn thu. Những giọt mưa thu tí tách rơi cũng là những giọt nước mắt xót thương cho 1 kiếp người tài hoa nhưng yểu mệnh. Những giai điệu buồn thiết tha ấy sẽ mãi lay động lòng người thương nhớ khôn nguôi về thân phận con người, về những mối tình dang dở.
 
Tâm hồn và âm nhạc của Đặng Thế Phong gói gọn trong một chữ “buồn”.... Có những người nhạc sĩ trong suốt cuộc đời sáng tác của mình chỉ để lại cho thế nhân số ca khúc đếm không hết một bàn tay. Đó là cố nhạc sĩ tài hoa Đặng Thế Phong cùng ba ca khúc bất hủ Dêm thu , giọt mưa thu , con thuyền không bến . “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...” (Giọt mưa thu) , Giọt mưa thu, hay còn gọi là Vạn cổ sầu, là tên đầu tiên cố nhạc sĩ Đặng Thế Phong đặt cho ca khúc được ông viết vào đầu năm 1941, cũng là bài hát cuối cùng trong cuộc đời tài hoa nhưng bạc mệnh của ông. Theo một số tài liệu không rõ nguồn, được lan truyền trên những trang văn nghệ thì ghi lại rằng Đặng Thế Phong là một chàng trai tài hoa, đàn hay hát giỏi, lại mang vẻ đẹp mong manh của cô thiếu nữ với môi đỏ như son. Ông cũng từng theo học dự thính trường Đại học mỹ thuật Đông Dương. Cũng từ đây mà có một giai thoại được lưu truyền rằng Đặng Thế Phong từng vẽ một nhánh cây rất đẹp không có ngọn. Thầy dạy của ông đã khen ngợi bức tranh ấy nhưng cũng tỏ ý lo ngại cho một vận mệnh ngắn ngủi của Đặng Thế Phong.Không ngờ sự tiên đoán ấy đã trở thành sự thật khi Đặng Thế Phong giã biệt cuộc đời vào năm 24 tuổi. 24 năm trên cõi đời, sáng tác đầu tay là một đêm thu, năm 1940, với khu vườn đầy ánh trăng lan dịu và một tâm hồn say khướt theo màu trăng. “Vườn khuya trăng chiếu Hoa đứng im như mắc buồn Lòng ta xao xuyến Lắng nghe lời hoa Cánh hoa vương buồn trong gió Áng hương yêu nhẹ nhàng say Gió lay…” (Đêm thu)
 
Image result for Đêm thu music sheet

    Đêm Thu - Đặng Thế Phong - Thái Thanh    

 
Như một định mệnh, cả ba ca khúc nổi tiếng trong cuộc đời sáng tác của Đặng Thế Phong đều nói về mùa thu. Ngoại trừ Đêm thu là ca khúc đầu tay, thì Con thuyền không bến và Giọt mưa thu được kể lại rằng do Đặng Thế Phong sáng tác trong nỗi nhớ quay quắt về người con gái có tên gọi là Tuyết.
... Đêm nay thu sang cùng heo mây Đêm nay sương lam mờ chân mây Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…”( Con thuyền không bến)

Con Thuyền Không Bến - Trần Mạnh Tuấn & Jean Sebastien Simonoviez at TMT's Studio.

Image result for Con thuyền không bến music sheet
  Mùa thu vốn dĩ đẹp, nhưng buồn. Đã thế, lại còn đêm thu, tất cả cảnh vật, cuộc sống hiện hữu trong ca khúc của Đặng Thế Phong đều là những hoạt động diễn ra trong trời đêm mùa thu. Con thuyền thì không bến; thu sang cùng với heo mây; giọt mưa thu rơi hoà cùng tiếng khóc than hờ…
“Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...” (Giọt mưa thu)

Giọt Mưa Thu - Nhạc Đặng Thế Phong - Tiếng hát Thái Thanh

Related image
   Và ai yêu nhạc của ông đều biết rằng ngay từ ca khúc thứ hai, là Con thuyền không bến, nhạc sĩ đã nhuốm bệnh lao , Con thuyền không bến tuy vẫn là giai điệu nhẹ nhàng, còn vương chút âm hưởng Tây phương của Đêm thu nhưng đã bắt đầu chất chứa những hình ảnh chênh vênh và âm thanh của lòng trắc ẩn. Rồi khi đến Giọt mưa thu, thì hoàn toàn là một bức tranh thu u ám. Cái nghèo, cái buồn, cái cô độc bao trùm lên khắp nhạc điệu, len lỏi trong từng ca từ của nhạc khúc. Đặng Thế Phong hoàn thành sáng tác này ngay trên giường bệnh.
Tài hoa của Đặng Thế Phong được giới nghiên cứu âm nhạc và nghệ thuật chỉ ra rằng chính do ông đã kết hợp hài hòa giữa nhạc Tây phương và giai điệu ngũ cung. Nói một cách khác là “Đông Tây giao hoà”. Tất cả ba ca khúc của ông được xem là những ca khúc tiên phong của tân nhạc Việt Nam.
24 năm đối với chiều dài của một cuộc đời thì quả là ngắn ngủi. Nhưng sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong để lại thì kéo dài qua nhiều thế hệ. Mùa thu của Đặng Thế Phong qua bao nhiêu năm tháng vẫn mãi mãi là mùa thu của tình yêu vô vọng, mùa thu của phận đời, phận người nghiệt ngã, mùa thu của tài hoa nhưng bạc mệnh, mùa thu của Đặng Thế Phong.

Image result for Đặng Thế Phong photos

Rất tiếc Nhạc sĩ Đặng Thế Phong đã qua đời qúa trẻ lúc mới 24 tuổi. Tuy ông chỉ mới kịp sáng tác được có 3 ca khúc vô gía bất hủ này. Nhưng hầu hết những Nhạc Sĩ cùng thời với ông như Văn Cao, Phạm Duy, Cung Tiến, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Qúy v.v.. hay những Nhạc Sĩ thuộc lớp đàn em sau đều phải nhìn nhận ông đã là một Nhạc Sĩ tài ba, nỗi lạc của làng Tân Nhạc VN trong thời Tiền Chiến lúc bấy giờ (trong khoảng 45).

Có nhiều Nhạc Sĩ nổi tiếng sau này còn ví ông như là một Chopin, Mozart của VN vậy. Tôi tin rằng nếu ông không bất hạnh mà qua đời qúa sớm thì có lẽ ông đã sáng tác và để lại cho nền Tân Nhạc VN sau này rất nhiều những ca khúc vô gía bất hủ khác nữa...Có lẽ công bằng thẳng thắn mà xét cố Nhạc Sĩ Đặng Thế Phong cũng phải được xứng đáng xem là một Thiên Tài cũng như ông nên phải được dành cho một chỗ ngồi cao nhất sáng chói trên Diễn Đàn Tân Nhạc VN mãi mãi về sau vậy.

CON THUYỀN KHÔNG BẾN (Đặng Thế Phong) - Kim Anh

  Đặng Thế Phong – Tài Hoa Mệnh Yểu  

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong sinh năm 1918 tại thành phố Nam Định và mất năm 1942 tại Hà Nội vì bệnh lao, là một nhạc sĩ tiền chiến tiêu biểu cho nền Tân nhạc Việt Nam.
Cha mất sớm, gia cảnh túng thiếu, Đặng Thế Phong phải bỏ học khi đang theo học năm thứ hai bậc Thành chung. Ông lên Hà Nội học với tư cách dự thính tại Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương; tại đây, Đặng Thế Phong đã để lại một giai thoạt đẹp và buồn. Trong một kỳ thi, ông vẽ một bức tranh cây cụt, không có một cành nào. Lúc nạp bài, Giáo sư Tardieu, thầy dạy ông khen đẹp, nhưng đoán rằng có lẽ Đặng Thế Phong không thọ!
Thời gian sau, ông lang thang vào Sài Gòn, sau đó sang Cambodia kiếm sống – có lúc ông mở một lớp dạy nhạc. Sinh thời, Đặng Thế Phong sống và chết trong nghèo đói.
Là một trong những nhạc sĩ đầu tiên của Tân nhạc Việt Nam, trong 24 năm của đời mình, Đặng Thế Phong chỉ để lại vỏn vẹn 4-5 tác phẩm, trong đó có 3 nhạc phẩm nổi tiếng và quen biết về mùa thu là “Đêm thu”, “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu” (hay “Vạn cổ sầu”; lời bài này được coi là của Bùi Công Kỳ).
Trong chương trình “Vòng Quanh Thế Giới” tuần này, nhạc sĩ Tô Vũ, cùng thời với Đặng Thế Phong, sẽ cho quý thính giả và độc giả biết về người bạn của mình.
 
ConThuyenKhongBen-Dang-The-Phong
 
 
Nhạc sĩ Tô Vũ: Đặng Thế Phong có thể nói là một người rất đa tài và rất yêu thích âm nhạc. Anh ấy thì là người ở Nam Định, khi lên Hà Nội học, anh ấy lại học họa như kiểu Văn Cao ấy, tức là anh ấy học ở trường Mỹ thuật Đông Dương chứ không phải là nhạc sĩ bẩm sinh, rất mê nhạc và chơi nhạc guitare rất hay. Thế là, khi có phong trào vận động và sáng tác và Đặng Thế Phong một trong những người đầu tiên sáng tác. Bởi vì ông ấy có một hoàn cảnh như thế này. Lúc đó tôi ở nhờ nhà ông Phạm Cao Củng là một nhà viết truyện trinh thám đầu tiên của Việt Nam, cũng nổi tiếng, lấy hiệu là ông Văn Tuyền – Phạm Cao Củng. Tôi ở nhờ nhà ông Văn Tuyền – Phạm Cao Củng. Ông Phạm Cao Củng là chủ bút một tờ báo “Học sinh”, vẽ minh họa cho tờ báo ấy chính là nhờ ông Đặng Thế Phong. Đặng Thế Phong đến ở nhờ ông Phạm Cao Củng để vẽ báo cho ông Phạm Cao Củng, còn tôi đến ở nhờ ông Phạm Cao Củng để đi học tú tài. Thế là hai anh cùng là nhạc với nhau, Ông Đặng Thế Phong làm được bài gì là hát cho tôi nghe ngay. Bản nhạc đầu tiên mà Đặng Thế Phong được nổi lên là do Phạm Cao Củng in cho trên tờ báo “Học sinh”. Bài đầu tiên là bài “Đêm Thu”.
Việt Hùng: Nhạc sĩ là người đã có thời trai trẻ và thời còn đi học gắn liền một khoảng thời gian với những kỷ niệm với nhạc sĩ Đặng Thế Phong. Nhạc sĩ có thể chia sẻ với quý thính giả về một số ca khúc nhạc sĩ Đặng Thế Phong viết.
Nhạc sĩ Tô Vũ: Đặng Thế Phong anh ấy có mặc cảm riêng về con người. Chính vì vậy nên anh ấy viết những bài buồn. Ngoại hình của anh ấy có mấy cái răng khểnh, hai nữa là bàn tay của anh ấy toàn nổi những mụn hột cơm. Cho nên ông ấy mặc cảm về ngoại hình của mình lắm. Lúc đó, phong trào Lê Thương sáng tác, Đặng Thế Phong bảo: “Làm thế này chúng ta làm cũng được”. Đặng Thế Phong cũng làm luôn và bài đầu tiên là “Đêm Thu”. Ông Củng bảo thế này: “Thế bây giờ thì thế này: tôi phải in cho các cậu thì người ta mới biết chứ”. Ông ấy in bài “Đêm Thu” trên báo “Học sinh” cho ông Đặng Thế Phong. Thế rồi ông Đặng Thế Phong đi hát ở một số nơi từ thiện, người ta rất thích Và sau đó đến bài “Con thuyền không bến” thì nổi lên như cồn.
song_con_thuyen_khong_ben
Lúc ấy anh ấy bị bệnh và anh ấy trở về Nam Định. Chính trên giường bệnh anh ấy viết bài “Giọt mưa thu” cũng là một bài hết sức rất nổi tiếng. Người giữ bài nhạc này để in hộ là nhạc sĩ Bùi Công Kỳ và chính Bùi công Kỳ là người đưa bài “Giọt mưa thu” ra cho công chúng. Chứ khi viết bài này thì Đặng Thế Phong đã gần chết rồi.
Việt Hùng: Như vậy bản cuối cùng của Nhạc sĩ Đặng Thế Phong là bài “Giọt mưa thu” cũng như lời trăn trối để lại.
Nhạc sĩ Tô Vũ: Lúc đầu ông ấy đề là “Vạn cổ sầu” nhưng về sau anh em nào đó, tôi tin là Bùi Công Kỳ thôi, bảo là để “Vạn cổ sầu” nghe nó sầu quá nên đổi lại là “Giọt mưa thu”.
Việt Hùng: Nhạc sĩ Đặng Thế Phong lấy từ nguồn cảm hứng hay là từ ca từ nào để đặt cho “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi”?
Nhạc sĩ Tô Vũ: Ông ấy nằm bệnh liệt giường hàng tháng, không dậy được và người hay đến thăm lúc ốm là Bùi Công Kỳ. Cứ nghe giọt mưa tí ta tí tách và nhớ cuộc đời, thấy cuộc đời nó cũng tàn đi, nó chảy đi như giọt mưa mùa thu, tức là tâm sự cuộc đời của Đặng Thế Phong đấy.
Việt Hùng: Thế rồi để trở về bản “Con thuyền không bến”, mọi người biết đến rất nhiều “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”. Xuất xứ “Con thuyền không bến” nhạc sĩ biết từ đâu?
 
Con Thuyen Khong Ben - Dang The Phong
 
Nhạc sĩ Tô Vũ: “Con thuyền không bến”… đi lên chơi với anh Củng, chúng tôi hay đi chơi lắm, ngồi trên con thuyền đi trên sông Thương, con thuyền không bến… con sông ấy chính là con sông Thương mà anh Đặng Thế Phong đã từng đi và tôi cũng được biết anh đã đi mà anh ấy không rủ tôi bởi vì anh ấy đi với bạn anh ấy. Còn tôi đi với người khác. Nhưng khi về hát thì tôi biết ngay. Là một trong những người đầu tiên viết theo thể (xanh-cốp), hồi đó là mới lắm đó… (tinh tinh tinh tinh tình tình tinh – tinh tinh thinh tinh tình tinh tinh – hát) Cái ấy là cái sáng tạo mới – rất nhiều người sợ, ông Doãn Mẫn rất sợ cái đó và bảo viết thế hơi quá mạnh đấy – Đặng Thế Phong đã làm đấy, bởi vì ông ấy bảo thế nó mới đúng con thuyền lờ lững. “Đêm nay thu sang cùng heo may – Đêm nay bơ vơ thuyền trôi đây – Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng – Như bước chân ai chùng tơ lòng” (hát). Bài “Con thuyền không bến” tôi nghe Đặng Thế Phong hát thấm lắm, buồn lắm!
Thế anh Củng bảo “việc gì sao cậu buồn thế”, hóa ra lần ấy anh ấy cảm thấy anh không còn tồn tại lâu, thành ra anh ấy nhìn cái gì cũng thấy buồn, đi chơi trên sông cũng cảm thấy rất buồn chứ ông ấy chả có thất tình gì đâu. Và viết bài “Con thuyền không bến” cảm thấy mình rất bơ vơ lạc lõng ở thế gian này.
Việt Hùng: Phải chăng có thể nói nhạc sĩ Đặng Thế Phong là một trong những nhạc sĩ đặt tiền đề cho khám phá mới trong những melody và những giai điệu của nền Tân nhạc như vậy? Nhạc sĩ suy nghĩ như thế nào về điều này?
 
Nhạc sĩ Tô Vũ: Đúng, đúng, đúng! Chính phong cách của Đặng Thế Phong rất nhiều người về sau này hướng vào cái đường ấy. Một trong những người viết và tiết tấu nó mạnh hơn chính là Ngọc Bích. Chính từ Đặng Thế Phong mà Ngọc Bích đã tiến tới cái loại (swing) Là vì Đặng Thế Phong là người dám chơi nghịch phách đầu tiên trong các ca khúc trữ tình.
Việt Hùng: Thế là từ khi Đặng Thế Phong sáng tác các ca khúc “Con thuyền không bến”, “Giọt nưa thu”, phần lớn hầu hết nhạc sĩ Đặng Thế Phong tự hát để phổ biến đến thính giả…
Nhạc sĩ Tô Vũ: Đúng. Đúng như thế. Nếu Đặng Thế Phong không hát mà chỉ in không thôi thì chắc chắc những bản nhạc đó sẽ chết chìm hết. Vì hồi đó người có thể sử dụng đuợc ký âm và hát lên được ít lắm.
Việt Hùng: Là một người có nhiều kỷ niệm với nhiều nhạc sĩ thời tân nhạc của Việt Nam, nhất là nhạc sĩ Đặng Thế Phong, nhạc sĩ có kỷ niệm gì chia sẻ với quý thính giả?
Nhạc sĩ Tô Vũ: Tôi rất quý Đặng Thế Phong. Tôi quý là vì ông ấy đa tài quá. Ông ấy vẽ rất giỏi. Ông này vừa là nhạc sĩ, họa sĩ, và ca sĩ, nhiều thứ lắm. Tôi nghĩ cũng như Văn Cao, Đặng Thế Phong không bỏ nhiều công phu học nhạc như tôi đâu, không chịu khó như tôi đâu. Thế nhưng các anh ấy như người ta nói là “học một biết mười”, hay nghe lỏm một bài hát thôi thì lập tức nghĩ ra cách gì để biến đổi thành của mình, mình sáng tác ra. Cho nên tôi bảo là loại này như các anh ấy không gọi là nhân tài mà gọi là thiên tài. Đặng Thế Phong và Văn Cao là hai điển hình mà tôi cho là thiên tài xây dựng nền Tân nhạc của chúng ta.
Việt Hùng: Trước khi ra đi, nhạc sĩ Đặng Thế Phong có để lại bản “Giọt mưa thu”, ngoài ra nhạc sĩ có nghe nhạc sĩ Đặng Thế Phong có nhắn nhủ gì để lại cho đời, cho người…
 
giot-mua-thu
Nhạc sĩ Tô Vũ: Hình như có chuyện này bây giờ trở thành giai thoại. Có mấy bà thời trước ấy là thiếu nữ rất xinh đẹp đã về đây và nói với tôi là mình chính là người tạo cảm hứng để Đặng Thế Phong viết bản “Giọt mưa thu”. Tôi không tin. Nhưng có một bà bên Thụy Sĩ về đây, em ruột bà ấy biết tôi và tôi cũng biết gia đình ấy. Bà ấy bảo Đặng Thế Phong là vì không lấy được bà ấy nên mới viết “Giọt mưa thu” và chết thành như vậy. Hoàn toàn không đúng! Nhưng tôi biết bà này rất yêu Đặng Thế Phong, bà ấy về để lấy ảnh và thờ ông ấy bên Thụy Sĩ bây giờ. Tôi tin là không phải, không có đâu! Tôi tin là ông Đặng Thế Phong có người yêu. Cái đó là đúng! Nhưng tôi tin là rất trắc trở – cái này ông Củng nói với tôi. Gia đình cô này không thể chịu được ông Đặng Thế Phong nghèo rớt mồng tơi lại thích làm nhạc, với vẽ thì sống làm sao được! Về với ông này chỉ có ăn cơm với uống nước lã. Tôi thấy ông Củng nói về ông Phong như thế đấy. Tôi tin không phải ông đào hoa nhiều cô mê như lời cô em gái thường nói bây giờ. Tôi tin rằng ông ấy thất tình, rất yêu một người nào đó nhưng không với được cho nên những bài hát ấy rất buồn, cả “Đêm thu” cũng rất buồn, “Con thuyền không bến” lại càng buồn bơ vơ đến “Vạn cổ sầu” tức là “Giọt mưa thu” lại càng buồn hơn nữa. Anh ấy là một con người thất tình giống y như (nhạc sĩ Bizet – ở Pháp), hay là Chopin chứ không phải là người tài hoa như Đoàn Chuẩn đâu.
Việt Hùng: Thường bây giờ mọi người nói nhìều đến “Giọt mưa thu” và “Con thuyền không bến”. Tuy nhiên nhờ nhạc sĩ có thể ngân nga một ca từ hoặc melody nhỏ trong bản “Đêm thu” cho thính giả nhớ lại, hồi tưởng lại “Đêm thu”.
Nhạc sĩ Tô Vũ: (Hát) Câu “Hoa lá cành ánh trăng xuân dịu dàng” trở thành câu về sau quá nhiều người thích, đến nỗi ông Trần Văn Khê còn nói “kiểu hoa lá cành ấy mà”, tức là kiểu phù phiếm bên ngoài, không có gì. Nó chính là câu pháp của Đặng Thế Phong. Tôi thấy từ ông Lê Thương, bao nhiêu người cứ nhắc đến bảo “ừ cái cậu ấy hoa lá cành thôi, không sâu sắc, chỉ phơn phớt như bướm thôi”. Lấy từ lời ca ấy của Đặng Thế Phong. Tôi mới bảo: “Hoa lá cành” lấy từ “Đêm thu” à?” “Đúng, nó nói rất đúng Đặng Thế Phong, rất đúng! Thằng cha ấy chỉ hoa lá cành thôi”…….
Việt Hùng: Vâng, “Con thuyền không bến” qua tiếng hát Anh Ngọc, “Giọt mưa thu” qua tiếng hát Thanh Thúy, và “Đêm thu” qua tiếng hát Lê Dung cùng ký ức của nhạc sĩ Tô Vũ từ Sài Gòn nói về nhạc sĩ Đặng Thế Phong như một lời chia tay với thính giả chương trình “Một giờ vòng quanh thế giới”.

Thái Thanh Hát Con Thuyền Không Bến Của Đặng Thế Phong

 

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, Đặng Thế Phong (1918 – 1942) là một trường hợp đặc biệt. Ông là một trong rất ít nhạc sĩ tiên phong của thời kỳ tân nhạc còn phôi thai, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho giai đoạn âm nhạc tiền chiến. Ông mất năm 24 tuổi, khi còn rất trẻ nhưng vẫn kịp để lại cho đời 3 ca khúc bất hủ : "Đêm thu", "Con thuyền không bến" và "Giọt mưa thu". Người yêu của Đặng Thế Phong là 1 cô gái tên Tuyết, người gốc Nam Định. Trước khi quen và yêu Tuyết, Đặng Thế Phong đã sáng tác ca khúc đầu tay "Đêm thu" trong một đêm cắm trại của Hướng đạo sinh (1940). Còn bản "Con thuyền không bến" thì được sáng tác ở Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) khi tình yêu giữa nhạc sĩ và cô Tuyết đang độ chín mùi. Một hôm, ông cùng một nhóm bạn văn nghệ sĩ lên Bắc Giang chơi, nhân đó họ tổ chức một đêm đi thuyền trên sông Thương. Cùng lúc đó, chàng nhận được tin Tuyết ngã bệnh nơi quê nhà. Lòng dạ bồn chồn, xót xa, Đặng Thế Phong ôm đàn bước vào khoang thuyền, bỏ mặc các bạn đang đùa vui. Khi đêm sắp tàn thì bản nhạc hoàn tất với những lời ai oán não nùng gửi về... chân mây: “Đêm nay thu sang cùng heo may. Đêm nay sương lam mờ chân mây... như nhớ thương ai chùng tơ lòng...”, rồi “... Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng. Biết bao buồn thương, thuyền mơ buồn trôi xuôi dòng...”. Sau khi từ Bắc Giang về, Đặng Thế Phong bắt đầu nhuốm bệnh. Thời đó, bệnh lao là một bệnh nan y, ở tỉnh không đủ điều kiện chữa trị, Đặng Thế Phong phải chuyển lên Hà Nội. Cô Tuyết vì phải phụ giúp gia đình chuyện buôn bán ở thành Nam nên vài hôm mới lên Hà Nội chăm sóc người yêu rồi lại tất tả quay về. Tháng 7 mưa ngâu. Cảnh buồn tê tái. Đặng Thế Phong nhớ Tuyết quay quắt... Nhạc hứng tuôn trào, chàng gượng ngồi dậy, ôm đàn và viết nên khúc nhạc buồn da diết: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu, ai khóc ai than hờ... Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây. Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về. Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu...”. Đó chính là ca khúc bất hủ "Giọt mưa thu". Cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi, Đặng Thế Phong trở về Nam Định. Từ đấy cho đến lúc Đặng Thế Phong lìa đời, cô Tuyết lúc nào cũng túc trực bên giường bệnh để chăm sóc ông, khiến những người quen biết đều xót xa thương cảm cho một mối tình vô vọng lẫn nể phục tính cách cao thượng chung thủy của Tuyết.
 

Cảm âm ca khúc ‘Giọt Mưa Thu’ của Đặng Thế Phong: tác phẩm cuối cùng của người nghệ sĩ trước lúc ra đi

Những ai yêu thích những ca khúc viết về mùa thu, hẳn đều biết bài hát “Giọt Mưa Thu” của nhạc sĩ Đặng Thế Phong, sáng tác năm 1942. Bài hát đã làm rung động trái tim nhiều thế hệ, nhưng đâu phải ai cũng biết rằng chủ nhân của nó đã viết nên bài hát đó trong đáy sâu của tâm trạng cô đơn, buồn đau và tuyệt vọng.
 
Mùa thu nơi đất Bắc có nhiều nét đẹp làm xao xuyến hồn người. Cảnh vật thiên nhiên biến đổi cùng với các yếu tố thời tiết tạo nên mùa thu với những đặc trưng không thể trộn lẫn. Trong các yếu tố đó, mưa thu là khiến lòng người buồn nhất. Nào đâu có thấy ai vui với mưa thu bao giờ!
 
Có những nhạc sĩ còn lấy mưa mùa thu làm cảm hứng sáng tác; nhạc sĩ Trịnh Công Sơn với bài “Ướt Mi” là một ví dụ (Ngoài hiên mưa rơi rơi, buồn dâng lên đôi môi…). Nhạc sĩ Đặng Thế Phong trong khi lâm bệnh lao nặng, nằm trên giường bệnh nghe tiếng mưa thu rơi đều đều qua mái tranh mà bừng lên cảm hứng sáng tác, ông đã vùng dậy viết trọn bài “Giọt Mưa Thu”
 
Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi
Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi
 
 
Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi, trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi (Nguồn ảnh: vantho.net)
 
Cảm giác buồn thương của ông còn nhân lên gấp bội khi phải xa cách người yêu nơi quê nhà:
Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu ai khóc ai than hờ
Người nhạc sĩ nghèo khó cô đơn cảm thấy cuộc đời thật là bế tắc, đến mức muốn trách ông Trời, trách mùa thu tới mang theo nỗi buồn dồn cộng lên đôi vai ông
Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Trong khổ đau cùng cực, ông thấy mình sao quá nhỏ nhoi, yếu đuối, còn chẳng bằng lũ chim non trên cành. Ông còn muốn nhờ cậy chúng nói hộ nỗi lòng với trời cao:
Vài con chim non chiêm chiếp kêu trên cành
Như nhủ trời xanh
Gió ngừng đi mưa buồn chi cho cõi lòng lâm ly
Nhưng mưa gió của mùa thu chỉ là một yếu tố làm cho ông buồn thêm, chứ không phải là căn nguyên thực sự của nỗi lòng ông.
Căn nguyên thực sự đó đến từ bao nỗi lo toan trong tâm ông: bôn ba quá nhiều mà chưa dừng lại ở đâu; bệnh nặng đã đến hồi vô phương cứu chữa; tình yêu còn chưa đơm hoa kết trái; tuổi đời còn quá trẻ chưa thành tựu được gì; nhất là nỗi nghèo khó đã đeo bám ông từ lúc được làm người.
Những nỗi lo như thế, cộng thêm cái lạnh của gió thu, cái trì trì của mưa thu, đã dìm ông xuống đến đáy sâu của sự tuyệt vọng; cho dù đến lúc thời tiết có biến chuyển đẹp hơn, thì cuộc đời ông biết chắc rằng đang đi xuống:
Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh
Mây ngỏ trời xanh
Chắc gì vui mưa còn rơi bao kiếp sầu ta nguôi
 
 
Người mong mây tan cho gió hiu hiu lạnh, mây ngỏ trời xanh (Nguồn ảnh: Pinterest)
 
Vì vậy ông chỉ còn biết khóc cùng với mưa thu:
Ai nức nở thương đời châu buông mau dương thế bao la sầu
Ông đã cảm thấy rõ biển sầu nơi thế gian này, nhận thấy được quy luật của đất trời này là vĩnh viễn bất biến, cuộc đời ông cũng không khác gì một cơn gió đi qua trần thế mà thôi.
Gió xa xôi vẫn về
Mưa trăng ngủ lê thê
Đến bao năm nữa trời
Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu
Chỉ một thời gian rất ngắn sau khi viết ca khúc Giọt Mưa Thu này, ông đã vĩnh viễn ra đi ở tuổi 24, để lại cho đời vỏn vẹn 3 tác phẩm bất hủ đều viết về mùa thu; ngoài bài hát chúng ta đang xem còn có “Đêm Thu” và “Con Thuyền Không Bến”. Ba bài hát này đều đã trở nên nổi tiếng ở Hà Nội ngay khi ông còn sống.
 
 
Nhạc sĩ Đặng Thế Phong (Nguồn ảnh: lediemchihue.com)

Ông thậm chí còn tự mình biểu diễn bài “Con Thuyền Không Bến” trên sân khấu; trong khán giả hôm đó có một người đặc biệt, chính là người yêu của ông, lặn lội từ Nam Định lên Hà Nội xem ông hát.
Theo các nhà nghiên cứu âm nhạc, trong bài “Giot Mưa Thu” Đặng Thế Phong đã dung hợp nhuần nhuyễn giai âm thất cung của Tây phương với giai âm ngũ cung của Việt Nam để thể hiện cái hắt hiu và lâm ly của mùa thu ngoài đời và trong đời mình.
Thời đầu khi mới ra mắt công chúng, “Giọt Mưa Thu” được trình bày bởi ca sĩ Tâm Vấn. Bà đã từng chia sẻ: “Thời đó ba bài của ông Đặng Thế Phong thì lẫy lừng ở Hà Nội, gần như là ai cũng biết, từ người mù chữ cho đến người nghe nhạc đều mê”.
Sau này ca sĩ Lệ Thu, trong một hòa âm xuất sắc, có thể nói là người tiếp nối thành công nhất cái hồn và khung cảnh lâng lâng của bài hát này.

GIỌT MƯA THU ❀ Đặng Thế Phong ♪♫ Lệ Thu - HD

 
Ca sĩ Hoàng Oanh, tạo nên điểm mới lạ cho ca khúc nhờ kết hợp với kể lại tích cổ và ngâm thơ vọng cổ. “Giọt Mưa Thu” qua giọng ca đài các của chị còn như đưa ta về một miền xa xưa hơn nữa.

Hoàng Oanh | Giọt Mưa Thu | Đặng Thế Phong

 
Nỗi buồn khổ của riêng ai, người đó phải gánh chịu. Âu đó cũng là lẽ của đất trời, như hết hạ rồi lại sang thu vậy. Giờ ta ghe lại “Giọt Mưa Thu” của ngày xưa, trong những giọt mưa thu của hôm nay, để tri ân một nhạc sĩ tài năng đã góp phần khai sáng nền tân nhạc lãng mạn cho nước Việt chúng ta.
Hoài Ân
Giọt mưa thu là nhạc phẩm cuối cùng của cố nhạc sĩ Đặng Thế Phong được ông viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh năm 1942. Ban đầu bản nhạc mang tên Vạn cổ sầu, nhưng theo ý một vài người bạn, ông đặt lại là Giọt mưa thu cho bớt sầu thảm hơn. Một số ý kiến cho rằng ca khúc này có sự tham gia viết lời của cố nhạc sĩ Bùi Công Kỳ.
Đặng Thế Phong
Giọt mưa thu được xếp vào những ca khúc hay nhất của tân nhạc Việt Nam. Phạm Duy cho rằng Giọt mưa thu cùng hai nhạc phẩm khác của Đặng Thế Phong khởi đầu cho dòng "nhạc thu" Việt Nam sẽ được Văn Cao và Đoàn Chuẩn tiếp nối. Nhạc phẩm này cũng là cảm hứng để Hoàng Dương sáng tác bài Tiếc thu nổi tiếng. Nhiều ý kiến cho rằng Trịnh Công Sơn đã ảnh hưởng bởi Giọt mưa thu khi viết bản nhạc đầu tay Uớt mi.
Về hoàn cảnh ra đời của Giọt mưa thu, theo một bài viết của nhạc sĩ Lê Hoàng Long: "Thế rồi, một hôm mưa rơi tầm tã, giọt mưa lộp bộp trên mái lá, thánh thót từng giọt xuống đường, Đặng Thế Phong buồn quá, con tim như thắt lại, máu trào lên để có được một nhạc hứng lai láng, tràn trề khiến ông gượng ngồi dậy viết một hơi điệu nhạc buồn da diết, não nề. Ông viết xong bèn đặt tên cho sáng tác mới ấy là Vạn cổ sầu. Chập tối ông Thọ về có thêm dăm người bạn đến thăm, Đặng Thế Phong ôm đàn hát cho mọi người nghe. Nét mặt của mọi người nín thở nghe, đều buồn như muốn khóc. Nghe xong, ai nấy đều khen bài hát thật hay, xoáy vào tim vào óc nhưng cái tên bài bi thảm quá, nên sửa lại thì hơn. Chính vì thế mà Đặng Thế Phong, đổi tên là Giọt mưa thu. Có lẽ đây là cái điềm báo trước, là lời di chúc tạ từ nên Đặng Thế Phong lấy mưa ngâu, mùa mưa là dòng nước mắt tuôn chảy lênh láng của Chức Nữ với Ngưu Lang để ví cuộc tình Phong - Tuyết cũng phải cùng chung số phận phũ phàng giống vậy chăng? Đến một ngày cuối năm 1941, biết mình khó qua khỏi lưỡi hái của tử thần, Đặng Thế Phong mới ngỏ ý trở về Nam Định để được chết tại quê nhà và muốn ông Thọ dìu ông về."
 
Image result for Đặng Thế Phong photos

Thái Thanh Hát 3 ca khúc của Đặng Thế Phong

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong - Những Tình Khúc Bất Hủ (thu âm pre 75)

GIỌT MƯA THU - Thanh Thúy

 
Đặng Thế Phong (1918 – 1942)
    Con Thuyền Không Bến    
 
With just three love songs, Đêm Thu (Autumn Night), Con Thuyền Không Bến (Adrift), and Giọt Mưa Thu (Autumn Raindrops), Đặng Thế Phong joined the pantheon of great Vietnamese songwriters of the pre-war years. He ranked among the pioneers of modern Vietnamese music, seamlessly melding the traditional pentatonic scale with Western heptatonic scale. The song Con Thuyền Không Bến is an example of this type of composition. The theme of autumn permeating his repertoire, small as it is, has the power to unleash an avalanche of autumn songs that lasts to this day, to the delight of the Vietnamese audience.
 
A native of Nam Dinh Province, birthplace of an impressive succession of talented musicians: Ðan Thọ, Hoàng Trọng, Nguyễn Xuân Khoát (1910), Văn Chung (1914), Lê Yên (1917), Nguyễn Văn Thương (1919), Bùi Công Kỷ (1919), Lưu Hữu Phước (1921), Ðỗ Nhuận (1922), and Phan Huỳnh Ðiểu (1924), Đặng Thế Phong rose to prominence as a songwriter of the Romantic movement and was glorified by universal accolade. His memory is further honored by the tragedy of his short life. Born into a family of civil servants in 1918, the second of six children, whose father, Đặng Hiển Thể, died early, he managed to gain an eighth-grade education before dire financial circumstances forced him to seek employment by moving to Hanoi, where for a while he enrolled as an auditor at the College of Fine Arts. He earned a meager income by illustrating the magazine Học Sinh. (Young Students) under the editorship of the detective story writer Phạm Cao Củng, while financing his further education. For the magazine, he produced the literary comics Hoàng Tử Sọ Dừa. (Prince Coconut Shell) and Giặc Cờ Đen (The Black Flag Bandits). In the spring of 1941, he left for Saigon, then went on to Phnom Penh, Kampuchea, where he offered music classes until his return to Hanoi in the fall. One story says it is in Phnom Penh that he completed the song Con Thuyền Không Bến, which debuted, sung by himself, in the Olympia theater in Hanoi upon his return. However, a probably more credible source, as we shall see below, places the writing of this song in 1940 over the Thuong River, and the premiere also took place this year. Severe privations, long unsuccessful travels, and tuberculosis (though he also had meningitis) finally took his life in early 1942 at the age of 24. It is said that he finished writing his last song, Giọt Mưa Thu (Autumn Raindrops), on his deathbed in a small loft on Hang Dong Street in Nam Dinh.
 
Musician Lê Hoàng Long tells the story of the song as an insider. In 1940, : Đặng Thế Phong had to go to Bắc Giang Province for a few days. This province is traversed by the Thuong River, which clearly shows its two currents, one clearer than the other running side by side, probably because of the difference in the amount of sediments. One bright moon-lit night Dang and his friends rented a boat, moored it, and were enjoying the evening over drinks when he received a handwritten note saying his girlfriend Miss Tuyet had taken ill. For the remainder of the night Dang grew silent and worried. That night, restless and finding sleep elusive, he began to write Con Thuyền Không Bến, which he finished before daybreak. Two days later he was back in Nam Dinh, and Miss Tuyet miraculously recovered on seeing him. In the chill of fall and its light breeze the two lovers met under moonlight. He softly sang the just-written melody into her ears, and the world has a new song, whose perennial themes of love and autumn and moonlight once again rise to stir every Vietnamese heart.
 
Commenting on the lyrics, famed folklorist-songwriter-singer Pham Duy emphasizes the malaise of the young generation, who keenly felt the oppressiveness of the colonial regime and could relate to the aimless drift of the boat on the currents of the Thuong River, the metaphor for the currents of events, which they were powerless to change. To Pham Duy it had to be a boat that is adrift on the Thuong River of two distinct currents, it had to be autumn which brings its cold wind, the haze that reaches to the cloud front, the wind that whistles among the pines, and the moon that lights the landscape to arouse the Zeitgeist in the Vietnamese soul of the time, the tenderness, the pain, the melancholy, the love of kinfolk and land, which remain the motifs across all genres of artistic creation. A boat adrift on the Seine in the summer would never elicit any kind of meaningful response.
 
    Sưu tầm & tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang   
Xem thêm...

Nguyễn Đình Toàn: Từ Đồng Cỏ Tới Áo Mơ Phai

Nguyễn Đình Toàn

Từ Đồng Cỏ Tới Áo Mơ Phai

~~<><><><>~~

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn

 

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai

                                       Nguyễn Đình Toàn

 

TIỂU SỬ:

     Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội.

Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học [trong nhiều năm, Nguyễn Đình Toàn phụ giúp Trần Phong Giao tuyển chọn thơ và truyện cho báo Văn].

Nguyễn Đình Toàn cũng viết feuilleton cho các nhật báo Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, Tiền Tuyến; biên tập viên đài phát thanh Sài Gòn, nổi tiếng với chương trình Nhạc Chủ Đề trong những năm 1970s. Sau 1975, cùng chung số phận như mọi văn nghệ sĩ Miền Nam, Nguyễn Đình Toàn bị bắt hai lần và đi tù cải tạo một thời gian gần sáu năm.

Sang Mỹ định cư từ cuối năm 1998, Nguyễn Đình Toàn và vợ, chị Thu Hồng cùng phụ trách chương trình Đọc Sách cho đài phát thanh VOA, Nguyễn Đình Toàn còn viết cho tuần báo Việt Tide mục Văn Học Nghệ Thuật của nhà văn Nhật Tiến cho tới khi nghỉ hưu. Gia đình Nguyễn Đình Toàn hiện sống tại Nam California.

 Tác phẩm đã xuất bản:

 Văn:

-Chị Em Hải (truyện, Nxb Tự Do 1961)

-Những Kẻ Đứng Bên Lề (truyện, Nxb Giao Điểm 1974)

-Con Đường (truyện, Nxb Giao Điểm 1965) 

-Ngày Tháng (truyện, Nxb An Tiêm 1968)

-Phía Ngoài (tập truyện, viết chung với Huỳnh Phan Anh, Nxb Hồng Đức 1969)

-Đêm Hè (truyện, Nxb Hiện Đại 1970) 

-Giờ Ra Chơi (truyện, Nxb Khai Phóng 1970) 

--Đêm Lãng Quên (Nxb Tân Văn 1970) 

-Không Một Ai (truyện, Nxb Hiện Đại 1971) 

-Thành Phố (truyện, Nxb Kẻ Sĩ 1971)

 -Đám Cháy (tập truyện, Nxb Tân Văn 1971)

-Tro Than (truyện, Nxb Đồng Nai 1972) 

-Áo Mơ Phai (truyện, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972)

-Đồng Cỏ (truyện, Nxb Đồng Dao/ Úc châu  1994).

 

Thơ: Mật Đắng (thơ, Nxb Huyền Trân 1962)

Kịch: các vở kịch Nguyễn Đình Toàn đều là kịch truyền thanh, trừ Cơn Mưa được trích đăng trong bộ môn Kịch Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, những bản thảo khác đều thất lạc.

 

Chiến dịch đốt sách sau 1975

 những cuốn sách "tro than" của Nguyễn Đình Toàn 

 

Nhạc: Hiên Cúc Vàng (tập nhạc, 1999) 

-Tôi Muốn Nói Với Em (tập nhạc, 2001)

-Mưa Trên Cây Hoàng Lan (tập nhạc, 2002).

Bông Hồng Tạ Ơn I & II (Nxb Đêm Trắng 2006, 2012)

 Áo Mơ Phai đoạt giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 1973.

 

Nguyễn Đình Toàn_ ký hoạ Tạ Tỵ

 

 

Nguyễn Đình Toàn_ trái: photo by Trần Cao Lĩnh;

phải: photo by Nguyễn Ngọc Dung, con gái nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm 

 

CHỊ EM HẢI

     Có lẽ Nguyễn Đình Toàn viết khá sớm từ những ngày niên thiếu ở Hà Nội, cũng lập bút nhóm và chọn bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân. Khi di cư vào Nam, thời gian ban đầu, Nguyễn Đình Toàn sống chung với gia đình Nhật Tiến.

Không có tiền mua giấy trắng, những trang bản thảo đầu tiên của Nguyễn Đình Toàn đã được viết trên mặt sau của các bản tin VN Thông Tấn Xã phế thải. Khi bắt đầu có tác phẩm xuất bản, Toàn quyết định lấy tên thật làm bút hiệu.

 Chị Em Hải là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Đình Toàn, ít được nhắc tới nhưng đã mang ngay dấu ấn văn phong của Con Đường Nguyễn Đình Toàn xuyên suốt qua các tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Toàn sau này.

Bản thảo Chị Em Hải, được ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc chuyển tới nhà báo Phạm Xuân Ninh rồi tới tay nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, tác giả Khói Sóng, lúc đó đang là tổng thư ký nhật báo Tự Do.

 Như Phong nhìn ngay được viên ngọc ẩn thạch, nhận ra văn tài của Nguyễn Đình Toàn nên đã để cơ sở báo chí Tự Do xuất bản ngay cuốn sách này cùng với cuốn Thử Lửa của Thao Trường [tiền thân của bút danh Thảo Trường sau này].

Cùng năm sinh 1936, với hai tác phẩm đầu tay, Nguyễn Đình Toàn và Thảo Trường đều mau chóng trở thành hai tên tuổi văn học của Miền Nam.

 

 

 

Vũ Hoàng Chương chết ngay sau khi ra khỏi trại tù cộng sản 06/1976.

 [Nguồn: tư liệu của Nhật Tiến]

ÁO MƠ PHAI

      Vào thập niên 1960s, nhiều nhà văn Miền Nam, có số lượng sách khá đồ sộ một phần do lối viết feuilleton cho các nhật báo, bên cạnh đó là những truyện kiếm hiệp Kim Dung, truyện dịch Quỳnh Dao nhằm đáp ứng nhu cầu mọi thành phần độc giả thời bấy giờ.

 Viết feuilleton, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ còn gọi viết truyện nhật trình; đó là những tiểu thuyết, truyện dài được các tác giả viết mỗi ngày và đăng từng kỳ báo. Điển hình là nhà văn Mai Thảo, cùng một lúc nhận viết truyện dài cho nhiều tờ báo, đôi khi tới ngồi viết ngay tại toà soạn, đưa từng trang viết chưa ráo mực cho nhà in để kịp sắp chữ.

     Rồi cũng phải kể tới tình huống một feuilleton do nhiều người viết, điển hình là truyện dài "Một Triệu Đồng" của nhà báo Như Phong đăng trên nhật báo Tự Do, khi Như Phong bị lao phổi, do truyện đang ăn khách, toà soạn quyết định tiếp tục.

Trong hồi ký Tôi Làm Báo, nhà văn nhà giáo Tạ Quang Khôi kể lại: "Do, ông Nguyễn Hoạt yêu cầu mỗi người viết một đoạn để chờ ông Như Phong đi làm lại". Và truyện dài của nhà báo Như Phong đã được nhà thơ Đinh Hùng, nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và sau đó là Tạ Quang Khôi viết thay cho tới khi nhà báo Như Phong trở lại toà báo.

  Gần như một phong trào, không thiếu những nhà văn danh tiếng cũng tham dự vào phong trào viết tiểu thuyết feuilleton như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Thảo Trường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nhã Ca, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ... nhiều người xem đó như thứ sản phẩm giải trí ngắn hạn đáp ứng nhu cầu của xã hội tiêu thụ.

Nhà văn Sơn Nam cũng viết feuilleton nhưng chính Sơn Nam sau này lên tiếng phủ nhận, không coi đó là những tác phẩm văn học. Công bằng mà nói tiểu thuyết feuilleton không phải không có tác phẩm hay phải nói là rất hay. Chất lượng tác phẩm tuỳ theo thái độ chọn lựa và cách viết của mỗi tác giả. 

  Nguyễn Đình Toàn cũng không là một ngoại lệ. Trừ Chị Em Hải là tác phẩm được viết xong rồi xuất bản, hầu hết các tác phẩm còn lại của Nguyễn Đình Toàn đều là tiểu thuyết feuilleton sau đó được in thành sách như Con Đường [nhật báo Tự Do], Đồng Cỏ [nhật báo Chính Luận], Áo Mơ Phai [nhật báo Xây Dựng], và những cuốn khác trên nhật báo Tiền Tuyến mà chính Nguyễn Đình Toàn cũng không còn nhớ.

 Nguyễn Đình Toàn có một đức tính là các trang bản thảo chỉ viết một lần, không sửa chữa và giao thẳng cho thợ nhà in sắp chữ. [Nguyễn Mộng Giác sau này là người thứ hai cũng viết bản thảo chỉ một lần không sửa chữa]. Nguyễn Đình Toàn cho rằng chưa hề hy sinh tính văn chương khi chọn viết những truyện dài feuilleton như vậy.

   Nếu theo thứ tự xuất bản, thì Áo Mơ Phai là cuốn sách feuilleton thứ 13 của Nguyễn Đình Toàn, và cũng là tác phẩm được trao giải Văn Học Nghệ Thuật 1973. 

 Khi viết bài điểm sách Áo Mơ Phai, Huỳnh Phan Anh, đã nhận định: "Phải nhìn nhận rằng yếu tố 'truyện' là cái gì quá nghèo nàn trong Áo Mơ Phai, truyện dài. Một độc giả bình thường có thể thất vọng sau khi đọc Áo Mơ Phai

Người đọc có thể xếp cuốn sách lại với nỗi bàng hoàng nào đó, có lẽ người đọc sẽ khó thâu tóm 'câu truyện' mà tác giả đã dùng trên 300 trang sách để kể. Có thể câu truyện thật sự của Áo Mơ Phai không thể tách rời khỏi từng trang Áo Mơ Phai, nghĩa là không thể giản lược tóm thâu mà không làm mất ý nghĩa của nó. 

 

Có thể vì câu truyện thực sự của Áo Mơ Phai là cái gì chưa hoàn tất, nói một cách nào đó, hãy còn vắng mặt, hãy còn hứa hẹn." [Văn Học 10/02/1974]   

 

 

  Cũng trên tạp chí Văn Học 1974, Nguyễn Đình Toàn đã nói về kỹ thuật xây dựng Áo Mơ Phai như một tác phẩm tâm đắc của mình: "Mỗi tác phẩm đã viết ra như que diêm đã được đốt cháy, nhà văn có bổn phận phải sáng tạo, dù rằng toàn bộ tác phẩm chỉ là sự nối dài từ cuốn đầu tiên.

Nhiều người đã nói tôi dùng lối viết quá dài, cả trang không chấm trong Áo Mơ Phai này mới mang đủ sắc thái không khí của Hà Nội. Nhân vật chính trong tác phẩm không phải là những nhân vật được nhắc tới trong sách mà chính là thành phố Hà Nội. 

Ai sống ở nơi này thường có cái cảm tưởng đang sống trong một giấc mơ, có lẽ là giấc mơ không bao giờ phai nhạt với sương mù cơn mưa sướt mướt hơi lạnh của mùa thu… Áo Mơ Phai thoát ra từ cơn mơ đó từ khi tôi xa Hà Nội mới 17 tuổi.”

  Ba mươi hai năm sau [9/10/2006] trong buổi mạn đàm với Hoàng Khởi Phong trên RFA, khi được hỏi về Áo Mơ Phai Nguyễn Đình Toàn bày tỏ: "Có những người thức thời, nhìn xa trông rộng, có thể tiên đoán dự liệu được những biến chuyển của thời cuộc, dĩ nhiên có những điều họ tiên đoán cũng có điều sai. Mà đúng hay sai thì chỉ khi nào sự việc xảy ra thì họ mới biết được. 

Tôi viết cuốn sách đó chỉ dựa trên những dự cảm đối với hoàn cảnh lịch sử cho một người chịu đựng hoàn cảnh lịch sử như chịu đựng sự đổi thay của thời tiết".  [HKP mạn đàm với NĐT, RFA 9/10/2006]

  Phát biểu của Nguyễn Đình Toàn khiến người ta liên hệ tới bài diễn văn của Albert Camus khi dự lễ nhận giải Nobel văn chương 1957 tại Stockholm, Camus đưa ra nhận định rằng ngày nay nhân loại gồm số nhỏ người làm lịch sử và đông đảo những người phải gánh chịu những hậu quả do biến cố lịch sử.

 Và tác giả La Peste / Dịch Hạch cho rằng vị trí của những người làm văn học nghệ thuật là đứng về phía những người khổ vì lịch sử. [Le rôle de l'écrivain, du même coup, ne se sépare pas de devoirs difficiles. Par définition, il ne peut se mettre aujourd'hui au service de ceux qui font l'histoire: il est au service de ceux qui la subissent. [Albert Camus, Discours de Suède 1957]    

  Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri.

   Đọc văn Nguyễn Đình Toàn, để sống với Hà Nội những ngày sắp mất nhưng cũng không bao giờ mất qua hơn 300 trang sách Áo Mơ Phai:

   "Tháng bẩy rồi tháng tám [1954, ghi chú của người viết] qua mau lẹ như những trận mưa đổ xuống không giờ giấc trong những đêm khuya, những buổi chiều. Người Hà Nội bỏ đi và chỉ trong một thời gian ngắn, Hà Nội như một cơ thể mắc chứng hoại huyết.

Từ những vùng quê xa, từng đoàn người lam lũ, lầm lũi, ngày ngày gồng gánh, lếch thếch đắt díu nhau về Hà Nội, nằm la liệt tại các công viên, xó xỉnh, vỉa hè, đầy ắp trong Toà Thị Chính, chờ để được đưa đi tới các phi trường, bến tầu, di cư vào Nam.

     Chiều chiều Lan thường ngồi trên bao lơn nhìn xuống khu phố đôi lúc vắng vẻ, đôi lúc chen chúc những đám dân quê níu áo nhau đi như chạy, nhìn những tàn cây trước nhà, cây gần nhất có những cành xoè tới sát bao lơn như những cánh tay, những hàng cây xa dọc theo các khu phố, một ngày, một buổi chiều, bao nhiêu lá đều vàng hết, rồi cũng trong một ngày nữa, tất cả lá như tấm áo khoác của thành phố ấy phai thêm một lần nữa, trút khỏi cành như những giấc mơ rời khỏi vầng trán khô cằn, những sợi tóc rụng khỏi chiếc đầu đau ốm.

     Trong nhiều ngày, Lan có cảm tưởng cơn bệnh của thành phố, của những hàng cây lây sang nàng, Lan thấy chân tay nặng nề không muốn cử động, hơi thở khó khăn.

     Nàng mong đợi ngày đi để đi cho xong, cầu nguyện cho ngày khởi hành đừng đến vội, để còn được ở lại đây thêm nữa, ở lại Hà Nội, chia xẻ nỗi đau đớn của Hà Nội, sống với Hà Nội, chết với Hà Nội, rũ rượi với Hà Nội, rõ ràng là Hà Nội đang kiệt sức, những giọt mưa đọng trên các cành cây, những ngọn lá, chẳng khác Hà Nội khóc."  [Áo Mơ Phai, Ch.9, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972]   

 

      GIẢI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT LẦN HAI

     Sau 1975, những gì đốt được thì không còn, Nguyễn Đình Toàn cho biết: "không còn một tấm hình nào về cái ngày phát giải VHNT ấy cả. Nhưng cái huy chương thì lạ lắm. Có một người bạn trẻ, đã mua được tấm huy chương đó trên một vỉa hè ở Hà Nội, mang về đây tặng lại cho mình. Hắn nói 'cháu trao tặng bác giải thưởng lần thứ hai'. Bữa hắn mang tới cho mình có mặt Cao Xuân Huy và bạn Huy là Trần Như Hùng, đài phát thanh Úc Châu.

Sự việc, Cao Xuân Huy cho là quá hi hữu, có ý viết thành một truyện ngắn". Toàn nói: đó là "cuộc phiêu lưu của con dế mèn" [tên một truyện nhi đồng của Tô Hoài]. Cầm trên tay tấm huy chương bằng đồng mạ vàng đã hoen rỉ theo màu thời gian của 42 năm lưu lạc, tôi nói đùa với vợ chồng Nguyễn Đình Toàn: cũng may là không phải vàng ròng, nếu không thì cũng đã bị đốt chảy trong một tiệm kim hoàn nào đó ngoài Hà Nội.

 Sách Nguyễn Đình Toàn được xếp vào loại văn hoá đồi truỵ sau 1975; nên tất cả bị tịch thu và trở thành "Tro Than", như tên một tác phẩm định mệnh Nguyễn Đình Toàn trong chiến dịch đốt sách lan rộng khắp Miền Nam thời bấy giờ.

  Giải Văn Học Nghệ Thuật 72-73 không phải chỉ có tấm huy chương, mà còn kèm theo số hiện kim 600,000 đồng tương đương với 40 lượng vàng theo thời giá bấy giờ. Tưởng cũng nên nói thêm về giải Văn Học Nghệ Thuật 1961, với số hiện kim 40,000 đồng lúc đó đủ cho nhà văn Nhật Tiến mua một xe hơi Renault 4CV còn chạy tốt cho tới những năm về sau này.

Cho dù Nguyễn Vỹ có than thở "nhà văn An Nam khổ như chó" nhưng thực ra trong xã hội Việt Nam, họ vẫn là thành phần được quý trọng. 

 

 Hai mặt của tấm huy chương. Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc do

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà sáng lập 

   

 

 

Ông Nguyễn Đình Toàn giải chính thức tiểu thuyết (72-73)

với tác phẩm Áo Mơ Phai

 

NHÓM ĐÊM TRẮNG

     Từ 1954, trong vòng 20 năm của Miền Nam, các phong trào văn học được tự do nở rộ. Tự Lực Văn Đoàn được tiếp nối với Văn Hoá Ngày Nay của Nhất Linh, nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo Thanh Tâm Tuyền phủ nhận nền văn học tiền chiến với nỗ lực làm mới văn chương, nhóm Quan Điểm của Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ; rồi tới nhóm Đêm Trắng [cũng có thể gọi là nhóm La Pagode nơi họ tụ tập sinh hoạt] được xem như nhóm Tiểu Thuyết Mới của Sài Gòn.

Nhóm 6 người ấy đa số xuất thân nhà giáo: Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Xuân Hoàng, trừ Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Quốc Trụ. Ý kiến khởi đầu lập Nxb Đêm Trắng là từ Huỳnh Phan Anh, để chỉ xuất bản các sáng tác của nhóm. Tuy mang tên nhóm nhưng họ là những cây bút độc lập, có chung ý hướng là tự làm mới cách viết của mỗi người.

Nổi bật trong nhóm này là Nguyễn Đình Toàn với kỹ thuật viết mới, viết truyện mà không có truyện, những trang chữ là một chuỗi những hình ảnh tạo cảm xúc và là một trải dài độc thoại nội tâm.

Nguyễn Đình Toàn thành công trong nỗ lực tự làm mới văn chương nhưng không vì thế mà bảo ông chịu ảnh hưởng và chạy theo phong trào tiểu thuyết mới của Pháp. Thanh Tâm Tuyền và Dương Nghiễm Mậu là hai tên tuổi khác cũng được nhắc tới khi nói về khuynh hướng tiểu thuyết mới ở Sài Gòn lúc bấy giờ.

 Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, Hoàng Ngọc Biên không ở trong nhóm Đêm Trắng nhưng chính anh là người đầu tiên thực sự nghiên cứu về phong trào Nouveau Roman của Pháp, vào giữa thập niên 1950’s với các tên tuổi như Alain Roble-Grillet, Nathalie Sarraute, Michel Butor, Claude Simon.

Hoàng Ngọc Biên đã dịch một số tác phẩm của Alain Roble-Grillet và cũng thể hiện quan niệm tiểu thuyết mới ấy qua tập truyện Đêm Ngủ ở Tỉnh do Cảo Thơm xuất bản Sài Gòn, 1970.

Cũng theo Hoàng Ngọc Biên, thì ngoài danh xưng, trong 20 năm Văn Học Miền Nam thực sự đã không có một phong trào Tiểu Thuyết Mới tại Sài Gòn "theo cái nghĩa thời thượng" của phong trào Tiểu Thuyết Mới xuất phát từ Tây Phương.

NHẠC THOẠI CỦA NHẠC CHỦ ĐỀ

     Vào thập niên 1960, có ba chương trình nhạc được thính giả yêu thích là chương trình Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Tiếng Nhạc Tâm Tình do ca sĩ Anh Ngọc và Mai Thảo phụ trách, và chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn.

Mỗi chương trình có một sắc thái hay riêng, nhưng có lẽ “Nhạc chủ đề” trên đài phát thanh Sài Gòn ngày ấy vào mỗi tối thứ Năm được chờ đợi đón nghe nhiều nhất. Những lời dẫn quen thuộc với giọng đọc trầm ấm của Nguyễn Đình Toàn như nhập tâm vào mỗi thính giả:

Tình ca – những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau… Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta

  

 

Nguyễn Đình Toàn 1 - Nhạc Chủ Đề 1970

Tình Ca Việt Nam [Thu Âm Trước 1975]

 

Không phải chỉ có nữ giới, mà cả phái nam cũng rất mê chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ở Sài Gòn là giới thanh niên sinh viên, nơi chiến trường xa là những người lính.

 Người lính, sau này trở thành thương phế binh, nhà thơ Phan Xuân Sinh hiện sống ở Houston Texas đã bồi hồi kể lại: "Cho đến bây giờ lớp tuổi trên dưới 60... tôi còn nhớ lúc đó ngoài chiến trường với chiếc radio transistor nhỏ bằng bao thuốc, một cái ecouteur gắn vào tai.

 Chúng tôi có những giây phút chìm vào chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ông đã mang lại cho chúng tôi những giờ nghỉ ngơi thật tuyệt vời khi đối đầu với chiến trường".

 Gs Nguyễn Văn Tuấn từ Viện nghiên cứu Y khoa Garvan Úc Châu trước và sau 1975 là một "fan" của chương trình Nhạc Chủ Đề. Anh Nguyễn Văn Tuấn viết: "Tôi tưởng tượng rằng như có một phép màu nào, xoay ngược lại thời gian.

Kìa tôi, trong một hình hài nào đó, giữa đêm lập loè ánh điện, đang ngồi áp tai vào radio, ngồi nuốt từng lời dẫn của Nguyễn Đình Toàn, thả hồn vào những giai điệu tuyệt đẹp tuyệt vời của những bản tình ca không bao giờ tàn lụi...

" Rồi mới đây sau khi nghe lại CD Tình Ca Việt NamNguyễn Đình Toàn 1970, anh đã phải thốt lên: "mỗi lời dẫn cho một bản nhạc ở đây là một "nhạc thoại" một tác phẩm khác. 

Nó thể hiện tính thẩm văn và thẩm nhạc của người tuyển chọn là Nguyễn Đình Toàn". Rồi cuối cùng, hai người bạn họ Nguyễn ấy như Bá Nha Tử Kỳ cùng một kiếp tha hương, họ cũng đã gặp nhau không phải trên "một quê hương Việt Nam sợ hãi - chữ của Nguyễn Đình Toàn trong Đồng Cỏ" mà trên lục địa Mỹ Châu thênh thang tự do nhưng vẫn là lưu đầy.

 Truyện Nguyễn Đình Toàn rất giàu hình ảnh và nhiều chất thơ có thể đọc như một bài thơ xuôi/ prose poem. Khi đặt lời cho một bản nhạc thì tự thân phần lời ấy đã là một bài thơ. 

Nguyễn Đình Toàn viết nhạc, nổi tiếng với một số nhạc khúc, nhưng có lẽ những nốt nhạc được cất cánh từ những ý thơ ban đầu của Nguyễn Đình Toàn. Lời bản Tình Khúc Thứ Nhất đã là một thi phẩm trước khi kết hợp với phần nhạc của Vũ Thành An.

 

TÌNH KHÚC THỨ NHẤT 

Nhạc Vũ Thành An- Thơ Nguyễn Đình Toàn

Tiếng hát Lệ Thu 

 

Tình vui theo gió mây trôi

Ý sầu mưa xuống đời

Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi

Mấy tuổi xa người

Ngày thần tiên em bước lên ngôi

Đã nghe son vàng tả tơi

Trầm mình trong hương đốt hơi bay

Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai

Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài

Lời nào em không nói em ơi

Tình nào không gian dối

Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây

Gió lú đưa đường mây

Có yêu nhau xin ngày thơ ngây

Lúc mắt chưa nhạt phai

Lúc tóc chưa đổi thay

Lúc môi chưa biết dối cho lời

Tình vui trong phút giây thôi

Ý sầu nuôi suốt đời

Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền

Dù trời đem cay đắng gieo thêm

Cũng xin đón chờ bình yên

Vì còn đây câu nói yêu em

Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân

Bước lạc sa xuống trần

Thành tình nhân đứng giữa trời không

Khóc mộng thiên đường

Ngày về quê xa lắc lê thê

Trót nghe theo lời u mê

Làm tình yêu nuôi cánh bay đi

Nhưng còn dăm phút vui trần thế 


 
 

NƯỚC SÔNG MEKONG MÁU CỦA ĐẤT

      Các tác phẩm văn học lớn thường mang những dự cảm hay cả viễn kiến có thể liên hệ với cuộc sống. Truyện Kiều là một ví dụ: hoàn cảnh nào cũng có thể liên hệ với một câu thơ của Nguyễn Du.

 Tôi không nói rằng Nguyễn Đình Toàn đã sáng tác những tác phẩm lớn, nhưng từ các trang sách của anh, tôi đã tâm đắc tìm thấy ở đấy những dự cảm để dễ dàng đưa vào trích dẫn. Nguyễn Đình Toàn đã ví nước sông Mekong như "máu của đất" trước viễn tượng một Cửu Long Cạn Dòng.

 Và khi có tin cặp vợ chồng ngư dân Nguyễn Văn Chơn cư ngụ tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp mười ngày trước Giáng Sinh đã rất đỗi vui mừng khi lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung.

Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 ký. Cá đuối hay Selachian, tên khoa học là chondrichthyes, thuộc loài cá sụn là giống cá nước mặn. Trong niềm vui lưới được con cá đuối nước mặn to khủng trên khúc sông Tiền cũng chính là tín hiệu của thảm hoạ:Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai” như lời thơ Nguyễn Đình Toàn, bởi vì nạn ngập mặn / salt intrusion đã càng ngày càng lấn vào rất sâu vào vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi vốn là vùng đất của “phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng...”  [CLCD BĐDS, Ch. XIV, Nxb Văn Nghệ 2000]

 BÀ TÚ XƯƠNG THU HỒNG

     Tôi quen Nguyễn Đình Toàn có lẽ khởi đầu từ những trang sách Chị Em Hải, rất sớm khi còn là sinh viên Khoa học. Quán cà phê La Pagode thường là nơi có thể dễ dàng gặp Toàn và các bạn văn nghệ của anh, cũng là nơi hình thành nhóm Đêm Trắng sau này. Nguyễn Đình Toàn ngoài giờ làm ở đài phát thanh, hầu như thường ngày ra ngồi viết nơi quán Cái Chùa này.

 Chỉ được gặp chị Toàn khi tới thăm căn nhà rất nhỏ của anh chị, trước nhà có hàng cây trứng cá, trong một con hẻm cũng rất nhỏ phía sau đài phát thanh Sài Gòn. Chị Thu Hồng, tên người bạn đời tấm cám hơn 60 năm của Nguyễn Đình Toàn, chị nhỏ hơn Nguyễn Đình Toàn sáu tuổi, chị có vẻ đẹp với cá tính mà các hoạ sĩ rất muốn vẽ, một thứ người mẫu cho những bức tranh của Modigliani cộng thêm với cái trán cao bướng bỉnh khi chọn lựa và chấp nhận sự thách đố của số phận. Chị cũng là xướng ngôn viên cho một chương trình của đài phát thanh Sài Gòn.

 Thời kỳ ấy, Toàn thì bị lao phổi khá nặng, lại mới có một đứa con đầu lòng. Thuốc chữa bệnh lao lúc đó rất hiếm hầu như chỉ có hai thứ: thuốc viên Rimifon, và thuốc chích Streptomycin có thể gây điếc. Toàn thường ho ra máu, sức khoẻ suy kiệt và thường xuyên bị ám ảnh bởi cái chết giữa tuổi mới ngoài 20 ấy. 

Tập thơ Mật Đắng được sáng tác trong giai đoạn đen tối và gần như tuyệt vọng này. Võ Phiến khi viết về thi phẩm Mật Đắng của Nguyễn Đình Toàn, thay vì bốn cái khổ: sinh, bệnh, lão, tử "trong Mật Đắng không có cái lão, nhưng thay bằng cái ái, càng tệ hơn... Sinh, bệnh, ái, tử, nghe có hơi lạ tai một chút, dù sao cũng là chuyện của mọi nơi chốn, mọi thời đại". [Văn Học Miền Nam, Thơ, Nxb Văn Nghệ 1999].

 Trong bài thơ Úp Mặt, Nguyễn Đình Toàn viết:

Bàn tay vuốt mặt xương lồi

Hai mươi tư tuổi một đời cũng xong

 Có lẽ sức sống toả sáng nơi căn nhà nhỏ chật của vợ chồng Nguyễn Đình Toàn lúc ấy là nụ cười luôn luôn rạng rỡ và cả ẩn nhẫn của chị Thu Hồng, vợ Toàn. Với tôi, chị là hình ảnh nguyên mẫu của một bà Tú Xương lúc ấy và cho tới suốt cả những năm về sau này, chị bền bỉ đảm đương một gia đình bốn con và cả thăm nuôi Nguyễn Đình Toàn trong suốt thời gian gian tù đầy.

  "Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều", bà Tú Xương của thời hiện tại đã đảo nghịch lời tiên tri Mật Đắng, và Nguyễn Đình Toàn thì nay cũng đã vượt xa cái ngưỡng tuổi "cổ lai hy", tới tháng Chín 2015 này, Nguyễn Đình Toàn tròn 80 tuổi. 

 

 

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn và bà Tú Xương Thu Hồng

Huntington Beach Library 2014 [source: photo by Đặng Tam Phong]

 

  Rồi vợ chồng Nguyễn Đình Toàn cũng sang được Mỹ tuy khá trễ 1998. Và kể từ sau những năm 2000, sau bao tháng năm thăng trầm, chị Thu Hồng vẫn là hình ảnh một bà Tú Xương ngày nào, nhưng chị đã bắt đầu quên nhiều điều, quên những chuyện nhân sinh hiện tại.

Nhưng mỗi khi khi phone tới nhà không gặp Toàn, xin nói chuyện với "bà Tú Xương" thì bên kia đầu dây là một giọng cười ròn rã, chị nhận ra ngay ai đang nói chuyện với chị và nhớ lại đủ mọi điều.

Một hôm tới thăm anh chị cách đây không lâu, nửa buổi sáng câu chuyện rộn rã, khi ra về anh chị xuống thang đưa tiễn tôi ra xe, chị Toàn nói hồn nhiên: "hôm nào anh Vinh tới nhà tụi này chơi" Toàn nhắc chị, anh ấy vừa mới từ nhà mình xuống đây mà. 

Chị Toàn thì vẫn cười hồn nhiên. Tôi vẫn nghĩ nếu không có bà Tú Xương, có lẽ Toàn đã chẳng thể sống sót cho tới cái tuổi gần 80 như hôm nay. Toàn không phủ nhận điều ấy và dí dỏm nói, "cũng vì vậy mà bây giờ tôi đang trả nợ cho bà ấy",Toàn nói tới vai trò không thể thiếu hàng ngày phải chăm sóc người bạn đời của mình.

 Hai vợ chồng sống như đôi chim liền cánh, từ bấy lâu nay, Toàn đã không thể để chị ở nhà một mình.

 

Quanh năm buôn bán ở ven sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

  Nói tới thành tựu của một nền văn học, người ta chỉ nhắc tới những nhà văn, nhà thơ nhưng có lẽ không thể không nhắc tới những bà Tú Xương của mọi thời đại với bao nhiêu công khó hy sinh của họ. 

 MỘT CHÚT RIÊNG TƯ

     Ca sĩ Quỳnh Giao, trong bài viết về  "Nguyễn Đình Toàn, Dẫn Em Vào Nhạc" đã cho rằng "Nguyễn Đình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu" điều đó có lẽ đúng với các thế hệ sống ở Miền Nam trong giai đoạn 1954-1975.

Nhưng với các thế hệ sinh ra và lớn lên sau 1975 ở trong nước cũng như ở hải ngoại, những bài viết giới thiệu một Nguyễn Đình Toàn tài năng trong nhiều lãnh vực văn, thơ, nhạc, kịch vẫn là điều cần thiết. 

Và đáng mừng là đã có rất nhiều bài viết về mọi khía cạnh của Nguyễn Đình Toàn, nghĩ tới một bài viết mới về Nguyễn Đình Toàn, câu hỏi được đặt ra là liệu còn gì để viết nữa nếu không phải là những chia xẻ chút riêng tư với một bạn văn và cũng là cố tri.

  Bài viết này gửi tới bà Tú Xương Thu Hồng và Nguyễn Đình Toàn tác giả Mật Đắng khi anh sắp bước vào tuổi 80 gần như một phép lạ.

 

  NGÔ THẾ VINH

 

  

Nước Mắt Cho Sài Gòn

(Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên)

Tác giả Nguyễn Đình Toàn

Tiếng hát Khánh Ly 

 

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên 
như giòng sông nước quẩn quanh buồn 
như người đi cách mặt xa lòng 
ta hỏi thầm em có nhớ không 

Sài Gòn ơi! Đến những ngày ôi hè phố xôn xao 
trong niềm vui tiếng hỏi câu chào 
sáng đời tươi thắm vạn sắc màu 
nay còn gì đâu... 

Ai đã xa nhớ hàng me già, thu công viên hoa vàng tượng đá 
thôi hết rồi mộng ước xa xôi, theo giòng đời trôi... 

Sài Gòn ơi! Đâu những ngày mưa mùa khoác áo đi 
tay cầm tay nói nhỏ câu gì 
Những quầy hoa quán nhạc đêm về 
Còn rộn ràng giọng hát Khánh Ly 

Sài Gòn ơi! Thôi hết rồi những ngày hát nhớ nhau 
Nhớ Phạm Duy với tình ca sầu 
mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu 
Còn gì đâu 

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên 
mất từng con phố đổi tên đường 
khi hẹn nhau ta lạc lối tìm 
ôi tình buồn như đã sống thêm 

Sài Gòn ơi! Tôi mất người như người đã mất tôi 
như trường xưa mất tuổi thiên thần 
hy vọng xa hay mộng ước gần 
Đã lìa tan 

Trăng ơi trăng có còn chăng là 
Sao ơi sao, sao mờ lệ nhớ 

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên 
như hàng cây lá đỏ trông tìm 
Mắt trời trong cánh nhỏ chim hiền 
Đã ngậm sầu ngang môi lắng im 

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên 
như mộ bia đá lạnh hương nguyền 
Như trời sâu đã bỏ đất sầu. 
Còn gì đâu...

 

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, bên cạnh vợ và con gái (thứ 2 và 3 từ phải),

tại đêm nhạc “Một ngày sau chiến tranh.” (Hình: Văn Lan/Người Việt)

 

□ Kim Quy sưu tầm □□ 

Xem thêm...

Tiếng động thiên nhiên trong âm nhạc

Tiếng động thiên nhiên

trong Âm Nhạc

<>❤️<>❤️<>❤️<>

 

Như chúng ta đã biết, hình tượng của thiên nhiên đã được phác họa và tái hiện trong nhiều tác phẩm âm nhạc kinh điển qua các thời kỳ như: thời kỳ Trung cổ, Phục hưng, Baroque, Cổ điển, Lãng mạn, hay âm nhạc thế kỷ XX cho đến nay.

Trong hầu hết những tác phẩm âm nhạc đó, các nhà soạn nhạc đã đưa những âm thanh trong thiên nhiên vào tác phẩm của mình thông qua việc khai thác triệt để tính năng ưu việt của các nhạc cụ để mô phỏng và bắt chước những âm thanh tự nhiên, hoặc tài năng hơn nữa là xây dựng hình tượng thiên nhiên trong bút pháp sáng tác âm nhạc.

Tuy nhiên, với sự vận động, phát triển, biến đổi của vũ trụ và vạn vật, trong đó có con người thì nhu cầu nghe nhạc cũng như quan điểm về thẩm mỹ nghệ thuật ngày càng đa dạng.

Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân để các tác phẩm âm nhạc ra đời đáp ứng thị hiếu âm nhạc khác nhau của công chúng yêu nhạc. Có thể nói, từ nửa cuối thế kỷ XX cho tới thế kỷ XXI đã xuất hiện nhiều tác phẩm âm nhạc khắc họa hình tượng của thiên nhiên một cách rõ nét và cụ thể hơn.

Nhiều nhạc sĩ đã sử dụng những âm thanh điện tử hoặc thu thanh trực tiếp tiếng động từ thiên nhiên và đời sống của con người rồi hòa âm, làm nền cho tác phẩm của mình.

Với nhiều khuynh hướng và cách làm khác nhau nhưng có một trường phái chính, đó là New age.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Nhạc New age là nhạc chậm rãi nhằm tạo ra cảm hứng nghệ thuật, thư giãn và lạc quan.

Nó được các thính giả sử dụng trong quá trình tập yoga, mát xa, thiền định và đọc, như một phương pháp quản lý căng thẳng hoặc để tạo ra một bầu không khí thanh bình như ở nhà hoặc các môi trường khác và thường gắn liền với chủ nghĩa môi trường và tâm linh New age”.

Qua khái niệm trên cũng cho thấy rằng việc đưa bản chất âm thanh của thiên nhiên vào âm nhạc là có mục đích rõ ràng và xuất phát từ tính sáng tạo nhất định. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề gây nhiều bàn luận trong giới hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp.

Vì nhiều người cho rằng, hình tượng trong âm nhạc mang tính nghệ thuật cao, không thể dùng những âm thanh thật để miêu tả cảm xúc của con người một cách dễ dãi được.

Vậy đối với các công chúng yêu nhạc thì sao khi nghe một bản nhạc lại thấy xuất hiện tiếng kêu của các loài động vật như tiếng chim hót, tiếng suối chảy, tiếng lao xao của cây rừng, tiếng gió hú trên đồi, tiếng tuyết lở trên núi cao, tiếng sóng biển rì rào, tiếng mưa rơi, tiếng gào thét của bão tố, tiếng động từ đường phố hay thậm chí cả tiếng trẻ thơ khóc, cười, tiếng người nói xôn xao nơi phố chợ…?

Chắc chắn cũng sẽ có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Do đó, bài viết cũng xin giới thiệu một số nhạc hay một vài tác phẩm âm nhạc có sự xuất hiện của những tiếng động trong thiên nhiên để chúng ta cùng thử trải nghiệm.

Trên thế giới có khá nhiều ban nhạc sáng tác và biểu diễn thể loại New age, trong đó phải nhắc tới ban nhạc Bandari. Đây là ban nhạc ở Thụy Sĩ được thành lập vào năm 1990 và do Oliver Schwartz dẫn đầu gồm các thành viên là nghệ sĩ sáng tác, biễu diễn và ghi âm. 

Để thực hiện những CD của mình, ban nhạc Thụy Sĩ này đã đến hầu hết tất cả các hồ nước, các dòng sông nổi tiếng như River Rhine hoặc lên những dặng núi cao ở châu Âu như dãy The Alps…để thu lại thanh âm của thiên nhiên, kết hợp với những giai điệu nhẹ nhàng êm dịu hòa quyện cùng tiếng lá xào xạc, tiếng nước chảy qua khe đá hay tiếng chim hót trong buổi sớm mai.

Nghe nhạc của Bandari, chúng ta như đang đứng trước một làn gió mát, đang ngắm nhìn dòng nước trong xanh lững lờ trôi hay màu xanh bạt ngàn của đồng cỏ bao la. Mỗi tác phẩm đều mang đến một không gian đầy chất thơ và cảm giác bình yên, lắng đọng trong tâm thức của người nghe. Điều này có thể cảm nhận rõ nét qua những tác phẩm như: Melody of rain, Good morning sunshine, The First Snowflackes…

Một nhóm nhạc nữa sáng tác và biểu diễn dòng nhạc New age rất nổi tiếng, đó là Secret Garden. Nhóm này có hai thành viên là nghệ sĩ dương cầm, đồng thời là nhạc sĩ sáng tác người Na Uy Rolf Løvland và nữ nghệ sĩ vĩ cầm người Ai Len Fionnuala Sherry.

Hai nghệ sĩ này đã bán được hơn 3 triệu album và giành thắng lợi trong cuộc thi âm nhạc Eurovision vào năm 1995 với ca khúc Nocturne. Từ thông tin trên Bách khoa toàn thư mở Wikipedia và nhiều bài báo đã cho thấy thành công lớn nhất của Secret Garden tại Eurovision là album đầu tiên có tựa đề Songs from a Secret Garden.

 Album này đã bán được 1 triệu bản trên khắp thế giới, được chứng nhận bạch kim ở Na Uy và Hàn Quốc, vàng ở Ai Len, Hồng Kông và New Zealand, hai năm liên tiếp (1996 và 1997) lọt vào bảng xếp hạng Billboard New Age. album White Stones cũng đứng trong Top 10 bảng xếp hạng Billboard New Age vào năm 1997.

Họ ra tiếp album Dawn of a New Century vào năm 1999 với phần lời do Petter Skavlan sáng tác, hai album còn lại là Dreamcatcher vào năm 2001 và Once in a Red Moon cũng đạt được thành công lớn khi nằm trong Top 10 bảng xếp hạng Billboard.

 Không khai thác triệt để tiếng động của thiên nhiên trong tác phẩm nhưng giai điệu và hòa âm của Secret Garden tràn ngập tiếng sóng biển, những tiếng piano lóng lánh như tiếng mưa rơi trầm tư sâu lắng, tiếng violon nhẹ nhàng da diết nỗi nhớ như nhịp đập trái tim đầy hòai niệm...

Hãy thử lắng nghe những tác phẩm nổi tiếng của nhóm Secet Garden như: NocturnePastorale, Song from a secret Garden, Sigma, Serenade to Spring, Adagio…. chắc quý vị sẽ tự cảm nhận thấy rõ điều này.

Sự hiện diện của thiên nhiên trong âm nhạc đôi lúc chỉ là phác hoạ một cách khái quát, nhưng nhiều khi lại hiện hữu đầy sống động. Chúng ta có thể thấy rõ trong những CD hấp dẫn và độc đáo của nhà sản suất âm nhạc người Trung Quốc Wu Chin-tai, kết hợp với hãng thu âm Wind Music tại Taiwanese với các sản phẩm như các CD The forest show, My Ocean hay CD mới nhất mang phong cách New age sản xuất năm 2013 mang tên Birds II: Where the Sounds of Nature Dwell đã mang lại những âm thanh thiên nhiên thật sự thú vị.

 Khi sống gần gũi với thiên nhiên con người luôn có những cảm xúc mạnh mẽ, tìm được sức mạnh của chính mình cùng những ý tưởng và sự sáng tạo tinh tế trong nghệ thuật. Những âm thanh và cảnh sắc của thiên nhiên đã góp phần cùng các nhà sản xuất âm nhạc cho ra đời những sản phẩm sinh động.

Bằng sự cảm nhận tinh tế, mỗi chúng ta đều có thể nhận thấy sự hiện diện của tiếng thiên nhiên trong âm nhạc.

Bằng sự tinh tế trong sáng tạo, nhiều nhạc sĩ không chỉ mô phỏng những âm thanh từ thiên nhiên bằng các nhạc cụ mà còn thể hiện cuộc sống hiện thực và bản chất của thiên nhiên tạo nên những bản hòa âm tuyệt diệu, có sự liên kết chặt chẽ trong từng câu, từng ý nhạc.

 

Tại Thái Lan cũng có một số nhạc sĩ sáng tác âm nhạc theo xu hướng này. Có thể nhắc tới CD Season of life của Chamras Saewataporn, trong đó có tác phẩm The river of forever đã thu lại những âm thanh suối chảy, kết hợp với nghệ thuật trình tấu flute của nghệ sĩ Nukoon Panyadee và được hòa âm tại phòng thu ở Bangkok Thailand.

Tác phẩm viết về không gian thanh bình bên bờ suối trong mát, thời gian cứ thế trôi đi trong sự chiêm nghiệm về cuộc đời của con người cùng những cảm giác kỳ diệu khi hòa mình trong dòng chảy tươi mát ấy. Dòng suối cứ chảy mãi trong sự luân hồi của ngày và đêm, đó là sự sống vĩnh cửu của tinh thần con người và cuộc sống của thiên nhiên.

Hiện nay, trong những dòng chảy của nhiều trào lưu âm nhạc thì các tác phẩm âm nhạc gắn liền với thiên nhiên luôn mang lại sự mới lạ và thư giãn tinh thần.

Nếu như sau những ngày là việc căng thẳng, con người phải chi phí rất nhiều tiền bạc và thời gian để tìm đến với những khu rừng nguyên sinh, những vùng biển mênh mông sóng vỗ, khám phá những vùng đất hoang sơ... để được hòa mình vào không gian vốn tươi đẹp và quyến rũ, thì những nhạc sĩ cùng với sự sáng tạo tinh tế đã có thể mang lại cho chúng ta những giây phút đam mê đó qua những đĩa nhạc.

Có thể đây cũng là câu trả lời của nhiều công chúng yêu nhạc. Quả thật là kỳ diệu, vì khi thưởng thức một bản nhạc chúng ta lại được đưa tới những vùng đất tươi đẹp, được hòa mình với những cảnh sắc sống động.

Điều này cho chúng ta nhớ tới một nghệ sĩ tài ba đã mang hơi thở của thiên nhiên bao la vào trong các tác phẩm âm nhạc – nghệ sĩ Dan Gison. Vốn là một nhiếp ảnh gia, nhà điện ảnh và nhà ghi âm người Canada, ông còn có nhiều thành tựu trong kỹ thuật ghi âm cuộc sống hoang dã và âm thanh trong tự nhiên.

 

Năm 1946, ông thành lập công ty Dan Gibson Productions Ltd và bắt đầu sự nghiệp làm phim thiên nhiên và series truyền hình. Với tình yêu say đắm vẻ đẹp của thiên nhiên, Dan Gison đã đi đến nhiều vùng đất lạ, khám phá và thu âm lại những âm thanh kỳ diệu của cuộc sống hoang dã.

Ông đã từng đặt chân tới những khu rừng nguyên sinh phía Bắc Phi để thu lại những tiếng ru của đại ngàn, chinh phục nhiều ngọn núi và thung lũng để khám phá tiếng sói hú gọi bầy trong đêm trăng giữa núi rừng hoang lạnh.

Trong những chuyến đi của mình, ông còn thu lại tiếng sóng từ những hồ nước ẩn mình trong rừng sâu đến vùng biển Thái Bình Dương, cho tới tiếng sóng biển lạnh cóng miền Bắc cực với những tảng băng trôi, hay những âm thanh kỳ lạ ở vùng cát nóng bỏng của sa mạc.

Năm 1981, ông đã cho ra thương hiệu âm nhạc thiên nhiên của riêng mang tên Solitudes và cùng với một số nhạc sĩ như Micheal Maxwell, Ron Allen, John Herberman... sản xuất khoảng 150 album nhạc thiên nhiên. Những sản phẩm âm nhạc này thành công tới mức kích thích mọi giác quan của con người, cuốn hút người nghe đến những miền đất xa thẳm.

Nếu như nghe album Guarians of Atlantis của Dan Gison và Micheal Maxwell trong những ngày hè oi bức sẽ giúp chúng ta được hòa mình vào không gian của những đợt sóng tung trào ở vùng biển Atlantic đầy thú vị. Với cảm giác đang lướt nhanh bên dưới cùng những con sóng, đi sâu xuống đáy biển, lạc vào vương quốc của cá heo, khám phá vẻ đẹp tinh tế trong sự kết hợp giữa âm nhạc với âm thanh lóng lánh ánh bạc, sâu thẳm từ đáy đại dương, và lắng mình trong sự tự do vĩnh cửu.

 

Album nhạc mang tên Journey with the Whales của Dan Gison cùng nhạc sĩ John Allen là những âm thanh kỳ lạ của những chú cá voi nhảy lên khỏi mặt nước rồi lặn sâu xuống đáy biển. Trong sâu thẳm đại dương bao la là những giai điệu bất tận, mơ màng, những bài hát êm dịu vang lên trong tâm thức từ lớp lớp luân hồi thời gian và không gian. Chúng ta sẽ được thưởng thức sự đối thoại thú vị giữa âm nhạc với những âm thanh kỳ ảo của đại dương.

Hay khi lắng nghe album Forest piano chúng ta có thể cảm nhận được những màu sắc âm thanh huyền ảo đầy thanh bình trong khu rừng nguyên sinh. Lời hát của lá rừng xào xạc trong gió cùng giai điệu nhẹ nhàng buông trôi của tiếng đàn piano sẽ cho chúng ta được đắm mình dưới ánh trăng đêm vằng vặc, lắng nghe đất hát và hơi thở từ không gian bao la trên bầu trời với từng đám mây trôi theo làn gió vô tư, rồi cùng mơ màng cùng dòng suối chảy về vô tận.

Ngoài rất nhiều các hãng sản xuất âm nhạc, các nghệ sĩ, các nhạc sĩ tài năng trên thế giới đã cho ra đời những sản phẩm âm nhạc thiên nhiên thì tại Việt Nam cũng đã có một số nhạc sĩ khám phá phong cách âm nhạc này.

Nhạc sĩ Võ Thiện Thanh với album Kiss of the Sea xuất bản năm 2009 mang với phong cách New age đã sử dụng những âm thanh tự nhiên đôi khi như một đoạn dạo đầu hoặc là chủ đề xuyên suốt của một bản nhạc. Nhạc sĩ đã khai thác tính năng của nhạc điện tử hòa cùng những âm thanh vang vọng từ thiên nhiên như tiếng sóng biển, tiếng gió kết hợp với những giai điệu bất tận trong hứng khởi từ cuộc sống tự nhiên được tái hiện bằng những giai điệu âm nhạc.

Có thể nói, từ xa xưa con người đã sống gần gũi với thiên nhiên, vì vậy những tác phẩm nghệ thuật mang bóng dáng của thiên nhiên là một điều tất yếu. Bằng những góc nhìn khác nhau, các nhà sản xuất âm nhạc và các nhạc sĩ đã khai thác âm thanh trong thiên nhiên và trong đời sống vào các tác phẩm âm nhạc của mình với nhiều màu sắc phong phú.

Thiên nhiên mãi mãi là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo nghệ thuật, do đó những tác phẩm âm nhạc xây dựng rõ nét hình tượng thiên nhiên hoặc sử dụng tiếng động từ thiên nhiên một cách có ý thức và hợp lý cũng là một hình thức tạo nên sự mới lạ trong thưởng thức âm nhạc.

Đây cũng là sự tương tác hai chiều giữa đời sống tinh thần của con người với tự nhiên. Mặt khác, sự hiện diện của thiên nhiên trong các tác phẩm nghệ thuật nói chung còn là bức thông điệp giúp mọi người thêm yêu mến và bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ sự sống cho trái đất và cho chính chúng ta.

 

 Tác Giả Tiến Mạnh

Kim Kỳ sưu tầm

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này