Âm nhạc

Âm nhạc (84)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Cảm Xúc Khi Nghe Vài Bản Nhạc Và Thơ Tiền Chiến

    Cảm Xúc Khi Nghe Vài Bản Nhạc Và Thơ Tiền Chiến    

Ngoài trời gió nhè nhẹ thổi, những chiếc lá mùa thu đang lãng đãng rơi rơi. Cái lành lạnh của gió heo may bên ngoài như đang hòa nhịp thở với những điệu nhạc “tiền chiến” mà tôi đang thưởng thức trong phòng đọc sách, một căn phòng đầy ấm cúng thương yêu. Cành trà hoa nữ ngoài cửa sổ, với bông hoa trắng ngần, theo gió cọ vào cửa kính như chú mèo con đang dụi đầu tìm sự yêu thương của chủ.
 
Bốn bề tĩnh lặng, chỉ còn tiếng nhạc như đang dìu đưa tôi vào thế giới của riêng mình, mà ở nơi đó, những âm thanh được pha trộn hài hòa của những tha thiết, lãng mạn, trữ tình cùng với những chia lìa, xa cách. Và cũng từ thế giới ấy, âm thanh đang đưa tôi đi xa mãi, đi mãi để trở về với những kỷ niệm của một thời ấu thơ, hay những hình ảnh của những cuộc tình ngây ngô tuổi học trò, hay của những biệt ly lẫn đoàn tụ … của hạnh phúc lẫn đau thương.
 
Đĩa nhạc “tiền chiến” vẫn cứ quay, âm thanh và hình ảnh có lúc bay bổng, chợt   vút lên cao rồi hạ thấp, chập chờn trong không trung, ẩn hiện trong làn mưa bụi của bầu trời ngả mầu trắng đục. Các bạn có thường thưởng thức những bản nhạc tiền chiến như tôi đang thưởng thức không? Trong lứa tuổi chúng ta, hẳn không ai đã không một lần hoặc nhiều lần thưởng thức nó. Tôi đoan chắc như thế.
 
Vậy nhạc tiền chiến là nhạc gì nhỉ? Cứ hiểu theo nghĩa thông thường thì nhạc tiền chiến hẳn là loại nhạc được viết từ trước chiến tranh. Nhưng trước cuộc chiến tranh nào? Thế chiến 1939-1945 hay cuộc chiến 1945-1954 hay 1954-1975? Tôi cứ tạm chia như thế.
 
 
Tôi có câu hỏi như thế vì có nhiều bản nhạc viết sau này, người ta vẫn xếp nó vào loại nhạc tiền chiến, vì nó có cái “air” tiền chiến như nhạc sĩ Tô Vũ nói về bản nhạc “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa” của ông. Ông nói, bản nhạc này có cái “air” của nhạc tiền chiến thôi, vì thực sự, khi ông viết nó, chiến tranh đã xẩy ra rồi. Đấy là ông Tô Vũ nói về cái mốc thời gian của cuộc chiến 1945-1954. Nếu ta lấy mốc ở cuộc chiến 1954-1975 thì bản nhạc đó quả thực là nhạc tiền chiến ở cái mốc thời gian này. Thôi thì ta cứ lấy mốc thời gian nào đó cho hợp với bản nhạc thì lấy, cho rộng đường nói chuyện và cho vui vẻ cả làng.
 
Như vậy, khi nói đến nhạc tiền chiến là ta muốn nói đến cái âm hưởng của loại nhạc này hơn là chỉ chuẩn định trên cái mốc thời gian của nó thì phải? Cái “air” của nó có lẽ dựa trên tính chất nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình, hay bi ai, và đặc biệt là nó thiên về loại nhạc thính phòng và mang nhiều chất thơ. Tôi nói như thế vì có nhiều bản nhạc được viết trước chiến tranh (1939-1945 hay 1945-1954) mà không được liệt kê vào loại nhạc tiền chiến như những bản “Trên sông Bạch Đằng” của Hoàng Quý, “Việt Nam bất diệt” của Hoàng Gia Linh, “Hè về”, “Khỏe vì nước” của Hùng Lân, hay những bản nhạc thuộc loại quân ca chẳng hạn.
 
Tôi cũng chẳng biết danh từ nhạc tiền chiến có tự bao giờ? Tôi chỉ xin mở dấu ngoặc ở đây bằng một trích đoạn: “Ảnh hưởng văn hóa Pháp đã trở nên rõ rệt vào thập niên 1930 và theo nhạc sĩ Phạm Duy coi năm 1938 là năm quan trọng cho nền nhạc mới vì là năm khai sinh ra nhạc cải cách. Và cũng chính năm 1938, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên, tác giả bản “Kiếp hoa” đã từng đi du thuyết cổ võ cho nền nhạc mới được các báo chí như tờ Ngày Nay đăng tải, ông gọi loại nhạc mới này là nhạc cải cách” (dựa theo lời ông Bùi Bảo Trúc trong một chương trình nhạc thính phòng tổ chức ở San Jose).
 
Những bản nhạc tiền chiến đã đi sâu vào lòng người Việt Nam qua nhiều thế hệ, vẫn còn tồn tại đến bây giờ và cả mai sau. Do đó nhạc tiền chiến tự nó có chỗ đứng rất quan trọng trong nền âm nhạc Việt Nam. Nói như thế, những nhà nghiên cứu âm nhạc tìm hiểu về nhạc tiền chiến cũng là tìm hiểu một phần khá lớn của “âm nhạc mới” nước ta.
 
Âm nhạc cũng là một bộ môn, ta có thể dựa vào đó để biết tiến trình sinh hoạt của một xã hội vào những thời điểm khác nhau. Từ những năm đầu của thế kỷ 20 đến nay, đất nước ta có nhiều thay đổi, nhất là chịu ảnh hưởng nền văn hoá Tây phương, ắt hẳn những đổi thay ấy phải ảnh hưởng đến nền âm nhạc của ta. Và ngược lại, sự tìm hiểu về âm nhạc Việt Nam trong thời kỳ “tiền chiến” cũng là một phần trong sự tìm hiểu tiến trình thay đổi của xã hội ta trong thời kỳ ấy.
 
Trong khuôn khổ như những lời tâm sự cùng các bạn bè trong phạm vi bằng hữu, tôi chỉ muốn xin được chia sẻ với các bạn về những cảm xúc mà tôi có được khi nghe vài bản nhạc tiền chiến chứ không nói về sự phân loại, phẩm chất, cấu trúc, lịch sử hình thành của những bản nhạc ấy cũng như không nói về âm nhạc Việt Nam vì đấy không phải là lãnh vực mà tôi am hiểu. Chúng ta hãy cùng nghe một vài bản nhạc tượng trưng có tính cách phổ thông, dễ nghe, dễ hiểu, và cũng dễ nhận ra những nét đặc thù của nó biến thiên theo cảm xúc của mình.
 
Trước hết, ta hãy nghe bản “Đêm đông” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương để chúng ta cùng rung cảm với nỗi lòng cô đơn của ông. Trong một băng nhạc, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương đã tâm sự là ông viết bản nhạc này khi ông đi dọc theo phố Khâm Thiên, Hà nội, vào chiều tối 30 Tết. Phố Khâm Thiên là con phố có nhiều cô đầu còn gọi là ả đào hay ca nhi. Các cụ ta xưa thường đến đây để nghe hát ả đào hay ca trù. Ông chợt bắt gặp, qua bóng dáng cô đơn của người ca nhi đứng đợi khách ngoài ngưỡng cửa rồi quay vào soi bóng mình trong gương, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương liền liên tưởng tới hòan cảnh của ông lúc đó, nhà ở Huế, ra Hà nội học, một mình đi lang thang giữa lòng thành phố. Ông nhớ nhà ghê lắm. Ông mượn hình bóng lẻ loi của người ca nhi đó để nói lên tâm sự cô đơn của mình, ông viết:
 
 Đêm đông, ca nhi đối gương, riêng sầu ôm bóng.
Hình bóng ca nhi ấy, thoáng hiện ra, nhưng biến đi rất nhanh để nhường chỗ cho hình bóng của một chinh phụ chờ chồng như chính ông đang hướng trông về người thân ở chốn xa xôi.
 
 Đêm đông, xa trông cố hương buồn lòng chinh phu,
 Đêm đông, bên sông ngẩn ngơ, kìa ai mong chồng.
 

Ông đi, đi lững thững dưới đêm đông mưa phùn gió bấc với tiếng chuông buông từ xa vọng lại. Âm thanh buồn bã xa thẳm ấy như quyện lấy hình ảnh của những con chim đang bay về một phương trời vô định cùng với những đám mây xám hạ ngang lưng trời. Những tiếng gió rít ào ạt cuốn hút trong cơn lốc xoáy là chất liệu tạo nên những âm thanh dồn dập của dòng nhạc như đang vang vọng lên những lời nấc nghẹn:
 
Gió nghiêng chiều say, gió lay ngàn cây, gió nâng thuyền mây,
Gió reo sầu tư, gió đau niềm riêng, gió than triền miên.
Cái buồn da diết của kẻ xa nhà như ông, trong mỗi câu, ông đều réo gọi quê hương, réo gọi mái ấm gia đình ở phương trời xa:
 Đêm đông, ôi ta nhớ nhung đường về xa xăm
 Đêm đông, ta mơ giấc mơ gia đình yêu đương
 Đêm đông, ta lê bước chân phong trần tha phương,
 Có ai, thấu tình cố lữ, đêm đông không nhà.

Ta thấy ông cứ nhắc đi nhắc lại mãi tiếng “đêm đông”, ắt hẳn trong ông, đêm đông chính là hình ảnh làm ông xúc động và thổn thức. Âm thanh đêm đông được ông diễn tả như có lúc nó lên thật cao, có lúc nó trầm xuống, có lúc lại kéo dài ra lê thê, mệt mỏi, như nghẹn ngào, nức nở làm chùng lòng những người xa gia đình, xa quê hương như ông.
 
Đêm đông- Nguyễn văn Thương- Kim Minh - YouTube
 
Trong bản nhạc Đêm đông, cái mà mọi người yêu thích, chính là bên cạnh cái hay của âm điệu, của lời ca, nó còn mang tâm trạng của chính chúng ta, ít nhất một lần trong đời, đã rơi vào hoàn cảnh như ông. Và trong hoàn cảnh ấy, bản nhạc không còn là của Nguyễn Văn Thương nữa, mà chính là tiếng kêu não lòng của chính chúng ta để thương mình và cũng để thương người. Bản Đêm đông là bản nhạc tiêu biểu mượn những hình ảnh thiên nhiên, như cảnh mưa gió trong đêm đông, để gửi gấm tâm sự cô đơn của mình.
 
 
Hãy nghe thêm tâm sự của một nhạc sĩ khác nữa đã mượn cảnh mưa rơi để gửi gấm tâm sự lẻ loi của mình qua bản “Tiếng thời gian” của nhạc sĩ Lâm Tuyền. Âm điệu của bản nhạc này rất nhẹ nhàng, thánh thót, lõng thõng, nhỏ giọt như tiếng mưa rơi rả rích, như tiếng chuông buồn điểm trong đêm đông vắng lạnh, như tiếng lá cây rơi rụng trong sương mờ, như tiếng gõ đủng đỉnh của chiếc đồng hồ quả lắc mà đó chính là những tiếng của thời gian êm ả trôi đi buồn bã.
 
 Mưa rơi hiu hắt ai sầu mùa đông
 Không gian u ám, sương mờ mờ buông
 Xa trong đêm vắng, chuông buồn nhẹ ngân
 Kìa đường xưa rét mướt, bên sông ngừng chân
 Chờ ai trong tê tái lắng nghe chuông than
 Thời gian trôi tan tác, mang theo ngày xuân
 Mưa đêm nay khóc thầm, cuộc đời đầm ấm đã theo thời gian.

Không phải chỉ có hình ảnh của mưa gió mới gợi lên được cái cô đơn mà thôi, người nhạc sĩ còn dùng những hình ảnh khác nữa như nhạc sĩ Đặng Thế Phong đã mượn giọt mưa mùa thu với hình ảnh con chim non trong bản nhạc “Giọt mưa thu“, hình ảnh con thuyền trong “Con thuyền không bến“, hay như nhạc sĩ Văn Cao dùng nhân vật dân gian trong bản nhạc “Trương Chi” để bầy tỏ nỗi lòng cô đơn của mình.
 
Trong nhạc tiền chiến, tính chất bi ai thương cảm của chia lìa cũng được khai thác mà bản “Biệt ly” của nhạc sĩ Doãn Mẫn là một tiêu biểu. Nhạc sĩ Doãn Mẫn viết bản nhạc này khi ông nhìn thấy một cảnh biệt ly của đôi trai gái bên bến sông. Ông viết bản nhạc “Biệt ly” khi ông 20 tuổi, vào năm 1938 hay 1939 thì phải. Thật là day dứt khi nghe ông diễn tả:
 
Ôi còi tầu như xé đôi lòng.
Và mây trôi, nước trôi, ngày tháng trôi, cùng lướt trôi.

Biệt ly sao mà buồn vậy! Cái gì cũng trôi đi mất cả, mất cả mây, mất cả gió, mất cả thời gian lẫn không gian. Tất cả như trôi đi và trôi đi thật xa. Cũng như Trịnh Công Sơn sau này cũng viết một đoạn trong bản nhạc “Có một dòng sông đã qua đời“. Khi mất người yêu, TCS cũng thấy mất hết, mất ngay cả dòng sông đang chảy trước mặt mình và dòng sông như đã qua đời.
Ta hãy nghe nhạc sĩ Doãn Mẫn làm chúng ta buồn da diết khi ông viết:
 
Mấy phút bên nhau rồi thôi.
Đến nay bóng em mờ khuất,
Người về u buồn khắp trời.
Người ra đi với ngàn nhớ thương.



Người về mà thấy u buồn khắp trời thì thật buồn đến khủng khiếp. Người nghe có cứng rắn đến đâu cũng phải xúc động. Biệt ly, bản chất của nó đã buồn, nghe bản nhạc Biệt ly của Doãn Mẫn thì cái buồn ấy lại tăng lên gấp bội. Nghe bản nhạc này, tôi xúc động đến tưởng như không thể tiếp tục viết được nữa.
 
Bên cạnh cái biệt ly xa cách chia lìa của lứa đôi, ta cũng kể đến biệt ly xa cách mang tính chất lịch sử hay truyện cổ tích như “Hòn vọng phu” của Lê Thương, “Trầu cau” của Phan Huỳnh Điểu hay “Thiên thai”, “Trương Chi” của Văn Cao được viết dưới dạng trường ca.
 
Và cũng để thay đổi không khí, tôi xin tạm mở một dấu ngoặc ở đây để ta bước vào thế giới của thơ.
Bên cạnh sự nở rộ của nhạc, thơ “tiền chiến” cũng vùng lên không kém. Thơ thời đó, nó hòa nhịp với nhạc và cũng có cái “air” tiền chiến, nghĩa là cũng khóc thương thân phận, cũng lãng mạn, cũng chia lìa xa cách … Có những lúc ta có cảm tưởng như thơ và nhạc do một người viết vì chúng quyện vào nhau như đôi trai gái yêu nhau chia nhau cùng hơi thở vậy. Với cảnh biệt ly trong thơ, tôi xin được nhắc đến nhà thơ Tế Hanh. Thi sĩ Tế Hanh viết bài thơ này khi ông đứng ở sân ga:
 
Nhân sinh là thế, gặp gỡ rồi biệt ly, và bởi vì có biệt ly nên
 
Bánh nghiến lăn lăn quá nặng nề;
Khói phì như nghẹn nỗi đau tê;
Lâu lâu còi rúc nghe rền rỉ,
Lòng của người đi réo kẻ về.
Kẻ về không nói bước vương vương;
Thương nhớ lăn xa mấy dặm trường;
Lẽo đẽo tôi về theo bước họ,
Tâm hồn ngơ ngẩn nhớ muôn phương.
 
Sao hai tác giả Doãn Mẫn và Tế Hanh, một nhạc sĩ và một thi sĩ, lại có cảm xúc trước sự biệt ly giống nhau đến thế nhỉ? Chỉ khác là cái thương nhớ của Tế Hanh chỉ lan ra có mấy dặm trường, còn của Doãn Mẫn thì lan đi khắp trời. Âu có lẽ Tế Hanh chỉ buồn “vu vơ” như tên bài thơ của ông.
 
Để tiếp nối những hình ảnh biệt ly, tôi không thể không giới thiệu những hình ảnh mà nhà thơ Nguyễn Bính đã ghi nhận được ở đây qua bài thơ “Những bóng người trên sân ga” (1937).
 
Những cuộc chia lìa khởi tự đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc
Lần lượt theo nhau suốt tối ngày.
Có lần tôi thấy hai cô bé
Sát má vào nhau khóc sụt sùi
Hai bóng chung lưng thành một bóng
“Đường về nhà chị chắc xa xôi?”
Có lần tôi thấy một người yêu
Tiễn một người yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu.
Hai người bạn cũ tiễn chân nhau
Kẻ ở trên toa kẻ dưới tàu
Họ dục nhau về ba bốn bận
Bóng nhòa trong bóng tối từ lâu.
Có lần tôi thấy vợ chồng ai
 Thèn thẹn đưa nhau bóng chạy dài
Chị mở khăn giầu, anh thắt lại:
“Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”
Có lần tôi thấy một bà già
Đưa tiễn con đi trấn ải xa
Tầu chạy lâu rồi bà vẫn đứng
Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.
Có lần tôi thấy một người đi
Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly.
Những chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

Cảnh biệt ly ở sân ga thì được diễn tả như thế. Nhưng biệt ly không phải chỉ xẩy ra ở sân ga mà còn ở những bến đò nữa chứ.
Hãy nghe bài thơ “Cô lái đò” của nhà thơ Nguyễn Bính, được nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc, cũng diễn tả một cuộc chia tay của hai người đã hẹn thề nguyện ước cùng nhau trên bến đò xưa. Vì chẳng chờ được nhau, ba xuân qua đi, nàng phải đi lấy chồng, khách tình nhân khi trở lại thì người yêu không còn đó nữa. Ta hãy nghe một đoạn:
 
Xuân đã đem mong nhớ trở về,
Lòng cô gái ở bến sông kia.
Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,
Trên bến cùng ai đã hẹn thề.
Nhưng rồi người khách tình xuân ấy,
Đi biệt không về với bến sông.
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi,
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông.
Xuân này đến nữa đã ba xuân,
Đốm lửa tình duyên tắt nguội dần.
Chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi,
Cô đành lỗi ước với tình quân.
Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng sông,
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
Vắng bóng cô em từ dạo ấy,
Để buồn cho những khách sang sông.

Cô lái đò | Phụ nữ, Người mẫu, Việt nam

Bài thơ “Cô lái đò” được Nguyễn Đình Phúc phổ nhạc cũng mang thêm tính chất lỡ làng trong tình yêu mà tiêu biểu rõ nét là bài “Cô láng giềng” của nhạc sĩ Hoàng Quý. Cũng có cái lạ là thanh niên thời đó “lang bang” ghê quá, gặp đâu yêu đấy, nào là yêu Cô lái đò, Cô hàng nước, Cô hàng cà phê, Cô hàng chè xanh, Cô hái mơ, rồi Cô sơn nữ, Cô hái hoa, Cô hàng hoa … Thật đủ loại cô!
 
 
Đấy là nỗi lòng của nhà thơ Nguyễn Bính, thế còn nhà thơ Thế Lữ thì sao? Hãy nghe Thế Lữ trải lòng mình trong “Bên sông đưa khách“:
 
Trời nặng mây mù, mấy khóm cây,
Đứng kia không biết tỉnh hay say.
Đỗ bờ sông trắng, con thuyền bé,
Cạnh lớp lau già, gió vẫn lay.
Tôi tiễn đưa anh tới tận thuyền,
Để dài thêm hạn cuộc tình duyên;
Thuyền đi, tôi sẽ rời chân lại.
 Tôi nhớ tình ta, anh vội quên
Thuyền khách đi rồi, tôi vẫn cho,
Lòng tôi theo lái tới phương mô?
Bâng khuâng trong cõi sầu vô hạn.
Không khóc vì chưng mắt đã khô.

Rồi hãy nghe nhà thơ Huy Cận qua bài “Trường giang” trong tập “Lửa thiêng”. Ông không viết rõ về một cuộc chia ly nào, nhưng khi đọc, ta vẫn thấy một nỗi buồn man mác, như một cuộc chia ly nào đó vừa xẩy ra, với hình ảnh của một cành củi khô lạc mấy dòng, bèo giạt về đâu hàng nối hàng, với thuyền về nước lại sầu trăm ngả … vân vân. Ta hãy lắng lòng để hưởng cái giây phút êm đềm, man mác buồn trong thơ Huy Cận:
 
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả,
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vắng chợ chiều.
Nắng xuống trời lên sầu chót vót,
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo giạt về đâu, hàng nối hàng,
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lăng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Thôi ta trở lại với nhạc tiền chiến, lần này cũng cảnh chia tay đấy nhưng với âm điệu thanh thoát vui tươi hơn, không quá sầu thảm nữa. Và bên cạnh đó ta phải tìm cho mình một chút mộng mơ nơi tiên cảnh chứ. Các nhạc sĩ, thi sĩ của chúng ta cũng vậy, mộng ước trần gian không thành đành mơ về Tiên cảnh. Tôi muốn nói về bản nhạc “Thiên thai” của nhạc sĩ Văn Cao.
 
Như tôi đã nói ở trên, nhạc và thơ trong cái “văn hóa tiền chiến” ấy, nó cứ như quyện vào nhau. Trước khi nghe bản nhạc “Thiên thai”, hãy đọc thơ của cụ Tản Đà qua bài “Tống biệt” (nhạc sĩ Võ Đức Thu đã phổ nhạc bài thơ này):
 
 
Lá đào rơi rắc lối Thiên thai,
Suối tiễn, oanh đưa, luống ngậm ngùi.
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai.
Ước cũ, duyên thề có thế thôi.
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ nay xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.



Thấy không, tiếng thơ của cụ Tản Đà nhẹ nhàng thoát tục, như bay bổng vào cõi tiên. Sự chia tay có lá đào rơi rắc, có suối tiễn, có oanh đưa. Ôi sao cuộc tiễn đưa lại ngọt ngào, thi vị đến thế.
 
So bài thơ “Tống biệt” của cụ Tản Đà thì bản nhạc “Thiên thai” của nhạc sĩ Văn Cao, nó “thực” hơn, có nhiều chất “người phàm trần” hơn. Cõi Thiên thai của nhạc sĩ Văn Cao như được mở rộng ra để đưa ta đi sâu và xa hơn cụ Tản Đà. Cụ Tản Đà chỉ đưa ta đến cửa động rồi ngừng ở đấy, cụ không đả động tới những gì xẩy ra ở bên trong cái động Thiên thai ấy cả, còn Văn Cao đưa ta nhập Thiên thai thật sự. Qua sự phối hợp với ngũ cung trong âm nhạc dân tộc Việt Nam cùng với những âm điệu trang trọng, trong sáng, tha thiết, sinh động, Văn Cao giới thiệu cho chúng ta cái thế giới trinh nguyên và rực rỡ:
 
Thiên thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bước trần ai.
Có một mùa đào, năm ngày tháng chưa tàn phai một lần.

Văn Cao còn giới thiệu thế giới thần tiên ấy, ngoài hoa thơm cỏ lạ, cây trái ngọt ngào, còn có ca, có nhạc đầy quyến rũ với những nàng tiên đa tình đang ca múa những vũ khúc nghê thường làm ngơ ngẩn loài người.
 
Thiên thai, chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm, khúc nghê thường nay đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn.
Đàn soi, trăng êm, nhạc lắng tiếng quyên, đây đó nỗi lòng mong nhớ.
Này khúc bồng lai là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi.

Văn Cao không chịu ngừng ở đây đâu, cụ còn đưa ta tiến sâu vào thêm, để cả chủ và khách cùng đắm chìm trong hoan lạc, để chủ lạc lối, khách quên đường về.
 
Đàn non tiên, đàn khao khát cuộc tình duyên.
Thiên thai ánh trăng xanh mơ tan tành khói trần gian.
Ái ân thiên tiên, em ngờ phút mê cuồng có một lần.

Chẳng biết cụ Văn Cao nhà ta thấy cái “ái ân thiên tiên” nó ra làm sao, nó khác cái “ái ân trần gian” như thế nào mà đến độ ánh trăng xanh mơ cũng phải tan thành khói trần gian và chỉ dám có mê cuồng say một lần và chỉ một lần mà thôi. Lưu Nguyễn thì lại còn tệ hại hơn nữa, đến nỗi phải than lên câu ai oán:
 
Nhớ quê, chiều nào ra khơi, chắc không đường về tiên nữ ơi.

Chữ “ơi” phải xuống giọng xề thành “ời” thì đủ biết nó mệt mỏi cỡ nào bởi cái “ái ân thiên tiên” kia. Đấy cụ Văn Cao thấy không, họ quên đường về là tại cụ đấy, tại cái “ái ân thiên tiên” của cụ đấy. Đùa cụ tí thôi, tán nhảm với cụ một tí cho vui.
 
Ta hãy tạm ngừng nghe nhạc ở đây để theo chân những chàng thi sĩ thả hồn về Tiên cảnh. Chẳng tìm được gì ở trần gian, họ kéo nhau về Tiên cảnh để được thỏa lòng mơ cùng mộng như đã nói ở trên.
 
Mấy ai trong chúng ta lại có cái may mắn như cụ Văn Cao nhà ta. Ấy thế mà trong đám văn nhân thi sĩ có những người cũng chẳng thua nhạc sĩ Văn Cao là mấy. Ta hãy nghe nhà thơ Thế Lữ tả về những buổi gặp gỡ tiên nữ ở Vườn tiên:
Hôm qua đi hái mấy vần thơ,

Ở mãi vườn tiên gần Lạc Hồ:
Cảnh tĩnh, trong hoa chim mách lẻo;
– Gió đào mơn trớn liễu buông tơ.
Nước mát hơi thu thắm sắc trời,
Trời xanh xanh ngắt đượm hồng phai.
Ái ân, bờ cỏ chen chân trúc,
Sau trúc, ô kìa xiêm áo ai?
Rẽ lá, thi nhân bước lại bên,
Mấy vòng sóng gợn mặt hồ yên,
Nhởn nhơ vùng vẫy ba cô tắm,
Dưới khóm hoa quỳnh lá biếc xen.
Hồ trong như ngọc tẩm thân ngà,
Lồ lộ da tiên phô sắc hoa,
Mỉm miệng, anh đào tan tác rụng,
Tóc buông vờn mặt nước say sưa.
Say sưa, người khách lạ Bồng lai,
Giận lũ chim kia khúc khích hoài,
Van khẽ gió đừng vi vút nữa.
– Nhưng mà chim, gió có nghe ai?
Lời oanh trên liễu, yến bên hồng,
Hạc ở trong không, phụng dưới tùng,
Bỗng chốc cùng nhau cao tiếng họa,
Đờn tiên rộn rã khắp tiên cung.
Hoa lá cùng bay, bướm lượn qua,
Người tiên biến mất – khách trông ra:
Mặt hồ nước phẳng nghiêm như giận,
– Một áng hương tan, khói tỏa mờ.

Chúng ta không cần vất vả lắm cũng tưởng tượng ra được cái cảnh lén lén lút lút của chàng thi sĩ Thế Lữ nhìn trộm tiên nữ tắm. Tim chàng hồi hộp vì sợ bị bắt gặp, tiên nữ sẽ bay đi. Chàng van gió đừng thổi mạnh, chim đừng khúc khích cười. Chàng càng mong im lặng bao nhiêu thì chàng lại thấy không gian càng xôn xao bấy nhiêu với những tiếng yến tiếng oanh, đờn tiên rộn rã khắp tiên cung, hòa cùng với tiếng hạc trên không, tiếng phụng ở dưới tùng. Chẳng biết chàng đã làm gì mà để tiên phải biến mất và làm ngay cả đến mặt nước hồ cũng nghiêm mặt giận chàng. Thôi ta hãy mỉm nụ cười thông cảm với chàng Thế Lữ mà thôi.
 
Ấy ấy, đừng tưởng chỉ có Thế Lữ được nhìn tiên nữ tắm đâu nhé (tắm thật sự đấy vì xiêm y đã treo ở rặng trúc hết rồi), nhà thơ Xuân Tâm của chúng ta còn may mắn hơn Thế Lữ nữa vì chàng chẳng nhìn có ba cô tiên nữ tắm như Thế Lữ mà chàng Xuân Tâm còn được nhìn cả một đoàn tiên nữ tắm. Ta hãy nghe Xuân Tâm kể:
 
Đây dòng suối reo cười, đùa lội tắm,
Đoàn tiên nga để lộ tấm thân ngà;
Nước hôn chân, sương thoa phấn mầu da,
Hoa cỏ mởn tranh nhau cài mái tóc.
Cặp ngỗng trắng xinh như bạch ngọc,
Ngẩng cổ nhìn, say đắm đẹp thần tiên.

Chẳng biết ngỗng ngẩng cổ cao hay chàng thi sĩ Xuân Tâm đang ngẩng cổ cao hơn nhỉ?
 
Trong những người có may mắn gặp tiên nữ này như chàng Thế Lữ, Xuân Tâm, đến ngay cả cụ Tản Đà, cũng chỉ lởn vởn phía “bên ngoài”. Riêng cụ Văn Cao được hưởng cả phía “bên trong” với cái “ái ân thiên tiên” đến quên cả đường về, cũng như có cô em gái đến thăm chàng nhạc sĩ Tô Vũ vào một chiều thêu nắng để “Em đến chơi quên niềm cay đắng. Và quên đường về”, thật tuyệt.
 
Nói đi thì phải nói lại, không phải ai gặp tiên cũng được “thoả thuê” đâu nhé. Ta hãy nghe nhà thơ Đỗ Huy Nhiệm than vãn:
 
Người ở tiên cung vốn lạnh lùng,
Có bao giờ bận với yêu mong.
Mà tôi yêu lắm, tôi mong lắm,
Nàng có bao giờ biết thế không?
Chiều nay nàng đến trong ly rượu,
Tôi uống vơi vơi hết cả nàng.
Tôi uống dè dè từng hớp một,
Sợ mai nàng bận chẳng buồn sang.

Chàng thi sĩ của chúng ta phạm hai lỗi lầm nên chàng đau khổ. Thứ nhất chàng mong được Tiên yêu dù chàng biết Tiên chẳng bận với yêu mong mà các nàng chỉ bận đi “tắm” cho các nhà thi sĩ làm thơ. Thứ hai là chàng say, chàng nhâm nhi hết cả nàng thì nàng làm sao tới được. Đến khi chàng say thì:
 
Trăng đã lên cao, rượu cạn rồi,
Cả nàng đã đẫm cả hồn tôi.
Ngày mai rượu hết nghiêng hồ rỗng
Vét chút hương còn ép sát môi.

Nghe câu cuối sao nó nhờn nhợn, nhồn nhột thế nào ấy. Tới đây ta hãy dành cho Xuân Diệu một “khoảng trời thơ” để chàng tâm sự.
 
Và nàng Lộng Ngọc lấy Tiêu lang,
Cưỡi hạc một đêm bay lên trời
Linh hồn lưu giữa bể du dương.
Tôi thấy xiêm nghê nổi gió lùa;
Những nàng cung nữ ước mơ vua,
Không biết bao giờ nguôi nhớ thương.
Với Hàn Mạc Tử, nàng Hằng nga tiên nữ của chàng còn quyến rũ hơn:
Trong khóm vi lau rào rạt mãi.
Tiếng lòng ai nói sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm,
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

Không hiểu vì lý do gì, các chàng thi sĩ của chúng ta mỗi khi nói đến Tiên nữ và ngay cả đến Hằng nga, các chàng đều bắt các nàng phải đi tắm, và chỉ đi tắm mà thôi. Cũng như khi các chàng nhạc sĩ nói về người con gái đi lấy chồng thì phải là “con sáo sang sông” hay là “con sáo sổ lồng bay xa”, nhất định phải là con chim sáo chứ không thể là con chim khác được dù là chim oanh, chim yến hay chim phượng hoàng.
 
Nhân dịp nghe bản “Thiên thai” ta lại lạm bàn đến cảnh giới Thiên cung của những nàng Tiên nữ hơi nhiều. Hình như từ nẫy đến giờ ta lên Tiên giới với lòng trần tục đến nỗi Trịnh Công Sơn đã phải lên tiếng:
 
Tôi là ai? Tôi là ai? mà còn trần gian thế? (bản nhạc Tôi là ai?)
 
Thôi để mặc TCS than thở trần tục với trần gian, ta hãy tìm về hình ảnh của một Tiên cảnh thánh thoát hơn, trong sáng hơn với “Tiếng sáo Thiên thai” đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Nay ta hãy tạm để hồn mình dừng chân, ngồi trên phiến đá, mắt nhìn trời xanh, hưởng một chút gió mát để thưởng thức vài tiếng sáo ở chốn Thiên cung cùng nhà thơ Thế Lữ.
 
Ánh Xuân lướt cỏ xanh tươi,
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng.
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng,
Buồn ơi! Xa vắng mêmh mông là buồn.
Tiên nga tóc xõa bên nguồn,
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu;
Mây hồng ngừng lại sau đèo,
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi.
Trời cao xanh ngắt – ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về Bồng lai.
Theo chim, tiếng sáo lên khơi,
Lại theo dòng suối bên ngoài Tiên nga;
Khi cao vút tận mây mờ,
Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh,
Êm như lọt tiếng tơ tình,
Đẹp như Ngọc nữ uốn mình trong không.
Thiên thai thoảng gió mơ mòng,
Ngọc châu buồn tưởng tiếng lòng bay xa.

Thế Lữ mê man thả hồn trong “Tiếng sáo Thiên thai” nơi Tiên cảnh và cũng có lần chàng cũng mê say tiếng sáo trúc nơi trần gian với “Tiếng trúc tuyệt vời” của chàng:
 
Tiếng Sáo Thiên Thai (Hòa Tấu) by Hòa Tấu on Apple Music
 
Tiếng địch thổi đâu đây,
Cớ sao mà réo rắt?
Lơ lửng cao đưa tận lưng trời cao ngất,
Mây bay, gió quyến mây bay.
Tiếng vi vu như khuyên van, như dìu dặt,
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may.
Ánh chiều thu,
Lướt mặt hồ thu,
Sương hồng lam nhẹ lan trên sóng biếc,
Rặng lau già xao xác tiếng reo khô,
Như khua động nỗi nhớ nhung thương tiếc,
Trong lòng người đứng bên hồ.



Âm điệu của bài thơ này nghe như khi bổng khi trầm, uốn lượn theo tiếng sáo trúc. Tiếng sáo thiên thai hay tiếng trúc tre trần tục đều hay như nhau cả, có khác chăng là khác ở nỗi lòng người nghe. Ta cũng nên biết thêm, bài thơ “Tiếng trúc tuyệt vời” đã được nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát phổ nhạc. Ông sử dụng âm thanh của ca trù (ả đào) vào bản nhạc này rất thành công.
Thôi nếu ta chẳng lên Thiên thai được với nhạc sĩ Văn Cao thì ta hãy theo chân nhạc sĩ Phạm Duy vậy, để cùng nhạc sĩ Phạm Duy xây cái mộng thật bình thường trong bản “Ngậm ngùi” phổ từ thơ Huy Cận:
 
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.

Tay anh đây, em hãy tựa đầu mà ngủ, anh khe khẽ ru lời ca êm ái “ngủ đi em, ngủ đi em”, và để “anh hầu quạt đây”, và để cho anh thấy những đau khổ chín mùi của em rụng rơi (trái sầu rụng rơi). Lắng đọng với thời gian, với không gian, để nghe thấy sự thương đau của người yêu rụng rơi và để cùng đón nhận lấy niềm hoan lạc, êm ả đi vào giấc ngủ êm đềm thì quả thực cái “mộng bình thường” rất trần gian này cũng khó đạt thành, nhưng dẫu sao nó cũng còn ở trong tầm tay của mình.
 
Bài thơ: Ngậm ngùi - Huy Cận - Minh Phúc diễn ngâm - YouTube
 
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ.
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ,
Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hay tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.
Hay quá nhỉ, mỗi chữ, mỗi vần sao nó tha thiết và súc tích làm sao.
 
 
Chúng ta đâu cần phải là nhạc sĩ hay thi sĩ. Ta cứ nghe và cứ đọc, chúng ta sẽ rung động với cái rung động của người, vui với cái vui của người, thổn thức với cái thổn thức của người, để rồi hơn thế nữa, ta mượn hình ảnh, âm thanh của người đưa ta tới thế giới riêng biệt đươc xây dựng bởi chính ta. Thế giới của riêng ta ấy có thể còn linh động hơn, xa hơn, cao hơn vì nó được xây dựng bằng nhiều nguồn cảm hứng khác nhau, của nhiều người góp lại.
 
Cũng có khi ta ngồi nghe bản nhạc đang chơi, tâm hồn ta đã bay xa lắm rồi. Ta bay đi theo cảm xúc riêng của mình, với biết bao nhiêu cái mới xen lẫn với cái cũ của những kỷ niệm xa xưa. Không phải chỉ có âm nhạc và thơ thôi đâu, những cảm xúc đôi khi cũng chợt đến chỉ vì ta bắt gặp một màu sắc, một âm thanh nhỏ hay chát chúa, một tiếng cười hay tiếng khóc … quen thuộc nào đó. Tất cả những gì chung quanh ta đều có thể mang ta đến một thế giới đầy sáng tạo của riêng mình, trong đó kể cả âm thanh của những bản nhạc “tiền chiến”. Chúng đều là phép lạ, là phép mầu thường khi có khả năng đem ta về nguồn hạnh phúc.
 
Tôi xin được tạm ngưng lời tâm sự ở đây về sự chia sẻ cùng các bạn những cảm xúc mà tôi có được khi nghe vài bản nhạc và thơ “tiền chiến”. Tôi biết đây là một đề tài vô tận vì cảm xúc của chúng ta thì vô biên và những cảm xúc bắt gặp được thường có thể mỗi người một khác. Xin được trở lại dịp sau với những bản nhạc tiêu biểu khác có tính chất lãng mạn trữ tình trong tình yêu lứa đôi và tình yêu nước trong nhạc “tiền chiến”.
 
Nguyễn Giụ Hùng
Ngày 16/9/2022
 
Tham Khảo:
“Âm Nhạc Mới Việt Nam – Tiến Trình Và Thành Tựu” của những tác giả gồm: PGS.TS Tú Ngọc, PGS.TS Nguyễn Thị Nhung, TS Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên (NXB Viện Âm Nhạc, 2000).
 
 
  Nguyễn Ngọc Quang sưu tầm tổng hợp  

Ảnh minh họa
 
 
Xem thêm...

Trúc Hồ và một giờ tự sự về ‘40 năm Tình ca’

Trúc Hồ và một giờ tự sự về ‘40 năm Tình ca’

▂ ▃ ▅ ▆ █☆★█ ▆ ▅ ▃ ▂

Trúc Hồ và một giờ tự sự về '40 năm Tình ca'

Chương trình âm nhạc “40 năm Tình ca Trúc Hồ” sẽ diễn ra ở California vào ngày 25 Tháng Chín. Được sự đồng ý của nhạc sĩ Trúc Hồ, Saigon Nhỏ thực hiện một cuộc phỏng vấn về quãng đường 40 năm sáng tác tình ca của ông.

Gia tài âm nhạc của Trúc Hồ đa dạng với những bản tình ca và ca khúc đấu tranh – đấu tranh cho dân tộc, cho phận người, cho tự do. Đêm 25 Tháng Chín sẽ là đêm nhạc chuyên về những bản tình ca – đêm lần giở trang nhật ký của người nhạc sĩ từ bản tình ca đầu tiên – “Dòng sông kỷ niệm

Chưa bao giờ Trúc Hồ nghĩ rằng mình sẽ trở thành một nhạc sĩ sáng tác, nhưng tự nhiên, theo lời ông, đó là có một cái gì đó, như ơn trên đã an bài, cho ông một năng khiếu sáng tác. “Rồi tôi có được một người vợ, một người bạn đời mà không bao giờ hỏi tôi bài này viết cho ai, đã cho tôi một góc riêng, một cách sống riêng để tôi được viết lên trang nhật ký bằng âm nhạc. Những bài tôi viết là chuyện có thật, của cá nhân tôi hoặc những người tôi biết, ghi lại như ghi nhật ký” – Trúc Hồ bắt đầu câu chuyện 40 năm viết tình ca của mình như thế.

Âm nhạc

Năm 1968, cha của Trúc Hồ là nhạc sĩ Trúc Giang mở lớp dạy nhạc. Năm đó ông bốn tuổi. Nhà ông từ sáng tới chiều toàn là tiếng trống, tiếng đàn. Trúc Hồ có thể chơi trống mà không cần ai dạy, tự nhiên nó thấm vào người mình, thế là mình chơi. Ba của ông thấy con trai có khiếu nên dạy đàn guitar, tìm thầy cho học piano.

Trúc Hồ tự nhận mình như “Quách Tĩnh” – có rất nhiều thầy trong cuộc đời. Một trong những người ông nhớ ơn nhiều nhất, quan trọng nhất trong cuộc đời học nhạc cổ điển (classical) là đại tá Trần Văn Tín, nhạc trưởng ban Quân Nhạc Việt Nam Cộng Hoà. Năm đó, Trúc Hồ khoảng bảy, tám tuổi. Cha của ông chở đến nhà riêng của Đại tá Trần Văn Tín xin được nhận làm thầy cho con trai của mình. Đến năm 1975, khi miền Nam bị cưỡng chiếm, Trúc Hồ có thêm người thầy nữa là nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi; thầy Dung, người dạy hoà âm cho những nhạc sĩ nổi tiếng trước 1975.

Ngày đầu tiên Trúc Hồ vào trại tỵ nạn NW9 ở biên giới Campuchia và Thái Lan, Tháng Ba năm 1981.

Đó là những người thầy đã cho Trúc Hồ “nội công” cần thiết để ông sử dụng khi đặt chân đến Hoa Kỳ. Người thầy đầu tiên của Trúc Hồ khi học trường Golden West College, California là giáo sư Allen Giles. Cảm mến tài năng âm nhạc của cậu thanh niên trẻ, ngoài giờ học ở trường, giáo sư Giles nhận dạy cho Trúc Hồ mỗi tuần một ngày tại nhà riêng của ông ở Long Beach. Những người thầy sau đó đều có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời hoà âm và sáng tác của nhạc sĩ Trúc Hồ.

Để trở thành một nhạc sĩ sáng tác, ngoài kỹ năng hoà âm đã được rèn luyện qua nhiều năm, Trúc Hồ tự đi tìm cách mài dũa về ngữ âm. Miền Nam sụp đổ khi ông 11 tuổi, cơ hội tiếp cận với các giá trị văn hoá nghệ thuật trước 1975 bị dập tắt hoàn toàn. Khi đã vượt thoát đến bến bờ tự do, Trúc Hồ tìm đọc các tác phẩm văn thơ miền Nam, từ thời tiền chiến đến thời cận đại. Đọc để có vốn từ. Đọc để nghiên cứu chữ nghĩa của các nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ – những tinh hoa văn hoá miền Nam. Trong đó, nhạc sĩ Phạm Duy là người mà Trúc Hồ gọi là “phù thuỷ viết lời nhạc.”

Trong suốt buổi nói chuyện, cũng như trong Thư Ngỏ giới thiệu về chương trình âm nhạc “40 năm Tình ca” trên trang Facebook-Trúc Hồ, ông nhiều lần nhắc đến một sự may mắn có được trong đời, đó là có người vợ tào khang luôn tôn trọng, không bao giờ chạm tới góc khuất rất riêng của ông. Người phụ nữ ấy cho phép ông tự do “hoà âm” cảm xúc cá nhân, để từ đó cho ra đời những bản tình ca được khán giả đón nhận trong suốt 40 năm qua. Theo một cách hiểu, vô-hình mà hiển-nhiên, rất nhiều cuộc tình đã đi qua cuộc đời Trúc Hồ.

Nhưng tất cả đều là một khung hình, mở đầu là cảm xúc và kết thúc là một bản tình ca.

Cuộc gặp định mệnh

Trúc Hồ tự nhận, ngay từ nhỏ, ông đã biết mình là một người không được “đàng hoàng lắm trong tình cảm trai và gái.” Ông có thể yêu và thích cô gái này và cũng có thể yêu và thích cô gái kia, cùng một lúc. Nhưng, “tình yêu không có lỗi”? Bản năng nghệ sĩ trong một trái tim giàu cảm xúc làm cho Trúc Hồ thốt lên: “Tôi trung thành với người tôi yêu nhưng tôi không trung thành chỉ với một người tôi yêu.”

Người đó là người ông đã gặp ở thư viện Huntington Beach năm 1981. Cô gái có mái tóc dài, cao, mang đôi kính cận đã “đi vào tầm ngắm” của Trúc Hồ ngay cái nhìn đầu tiên. Lúc đó, chàng thiếu niên Trúc Hồ (chưa 18 tuổi) đã thầm nói: “Người này sẽ trở thành vợ của mình.”

Một năm sau, khi được mời vào đệm đàn cho ca đoàn trong nhà thờ ở Huntington Beach, Trúc Hồ đã gặp lại cô gái đó, cũng đang chơi nhạc cho nhà thờ. Vì lúc đó Trúc Hồ chưa có xe riêng, nên mỗi ngày, cô gái chạy xe từ Huntington Beach lên Westminster để đón ông đến nhà thờ chơi nhạc. Từ đó, tình cảm nảy sinh. Cô gái ấy là Diệu Quyên, người vợ, người bạn, người cộng sự, người mẹ của các con của ông trong hơn 40 năm qua. Người “đi hỏi vợ” cho Trúc Hồ năm đó là nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và nhạc sĩ Nhật Ngân.

“Tôi biết tánh của mình, tôi không thể hứa sẽ chỉ yêu mình cô ấy suốt đời, nhưng tôi hứa sẽ sống bên cạnh cô ấy suốt đời, cho đến chết,” Trúc Hồ kể lại lời ông đã hứa với Diệu Quyên. Đó cũng là điều mà Trúc Hồ đã thực hiện đúng cho đến ngày hôm nay.

Kể lại chuyện xưa, Trúc Hồ thốt lên: “đúng là định mệnh an bài, mình đã từng nói chỉ có cô này mới là vợ mình thôi.”

Ghi nhật ký bằng tình ca

“Dòng sông kỷ niệm” là tình ca đầu tiên của ông viết năm 1981, cho một người ở lại. Đó là bài hát viết về người yêu cũ, mà theo lời ông, đó là tâm sự của cậu thiếu niên trẻ không có nhiều hiểu biết về văn hoá của trước năm 1975. Nhưng đó cũng là tình yêu dành cho một Sài Gòn mà ông đã bỏ đi, là trang nhật ký của một người ra đi bỏ lại người yêu đầu đời, bỏ lại gia đình, bỏ lại những con đường cuối tuần đạp xe đi học nhạc, hai bên đường là hàng lá me xanh.

Sau “Dòng sông kỷ niệm”, mãi cho đến khi Trúc Hồ hợp tác với Trung tâm Asia, bản tình ca thứ hai mới ra đời. Đó là ca khúc “Cơn mưa hạ” – ca khúc chính trong cuốn phim cùng tên, do nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng viết lời nhạc. Sau đó là các ca khúc như “Bên em đang có ta”; “Trái tim mùa Đông”… lần lượt ra đời.

Trúc Hồ không phải là người giỏi tưởng tượng. Do đó, tất cả những bản tình ca ông viết ra đều là “nhân vật thật, câu chuyện thật.” Là một nghệ sĩ, Trúc Hồ hiểu được cái khó nhất của người nhạc sĩ là khi họ sáng tác mà người bạn đời của họ cứ hỏi “bài này sáng tác cho ai? Chữ này có ý gì?” thì người nhạc sĩ sẽ không có niềm cảm hứng để viết. “Nhờ người bạn đời của tôi không những thông cảm mà còn hy sinh nữa. Do đó, tôi có được đâu đó hơn 100 bài nhạc tình ca, được khán giả yêu mến,” ông nói.

Trúc Hồ và vợ ông có cách gọi nhau rất đặc biệt, khó có sự trùng lắp. Ông xưng mình là “Hùng” – tên thật của Trúc Hồ (Trương Anh Hùng) và gọi vợ mình là “madam”. Đây là thói quen của hai người từ thời mới quen nhau. Ông kể, “chưa bao giờ tôi tìm hiểu suy nghĩ của bà xã về các sáng tác của tôi. Có một lần gần đây, bà xã vừa đứng rửa chén vừa nghe mấy bài tình ca của tôi trên YouTube. Tôi hỏi “Madam nghe gì vậy? Madam như vậy madam có ghen không?”, thì cô ấy trả lời “không. Hay mà.”

“Một kiếp đã đủ rồi”

Vậy thì có khó lắm không cho một nhạc sĩ để vừa giữ hạnh phúc gia đình, vừa giữ ngọn lửa sáng tác? Một lần nữa trong buổi trò chuyện, Trúc Hồ nhắc về cố nhạc sĩ Phạm Duy. Ông nói, “cố nhạc sĩ Phạm Duy rất may mắn khi có một người vợ là ca sĩ Thái Hằng” vì sự hy sinh, tình yêu và đồng cảm to lớn của bà dành cho sự nghiệp sáng tác của Phạm Duy.

“Tôi cũng là một trường hợp may mắn như thế. Tôi là người thành thật khi ngay từ đầu về bản thân mình, và vợ tôi thông cảm. Thông cảm không có nghĩa là không hy sinh. Thông cảm không có nghĩa là không biết. Cô ấy biết hết. Người vợ này… không thể tìm được người thứ hai” – Có một nốt lặng từ người nhạc sĩ sau câu nói đó

Vợ chồng nhạc sĩ Trúc Hồ

Gắng kềm sự xúc động, ông nói tiếp: “Tôi là người may mắn. Nếu người vợ cứ ghen khi nghe những bản tình ca da diết thì làm sao người nhạc sĩ sáng tác?”

Cứ thế, Trúc Hồ cứ yêu, cứ sáng tác, và cứ chung thuỷ theo cách của riêng ông. Suốt 40 năm qua, phương cách ấy có thể đã đúng với lời hứa trăm năm của Trúc Hồ nói với người vợ trong ngày cưới. Nhưng, rồi cũng chính ông, ngày hôm nay, nhận ra một sự thật: “Tôi đã sống quá ích kỷ.”

Đại dịch Covid-19 “giam lỏng” con người trong tư gia một thời gian dài, để ai cũng có quyền chiêm nghiệm những điều họ “vô tình” không nhìn thấy trong quá khứ. Trong số đó, có nhạc sĩ Trúc Hồ.

Có một ngày, ông nhìn thấy vợ mình ngồi chấm bài. Nhìn gương mặt vợ mình hiền, trong sáng, ông nói: “Madam, nếu có kiếp sau, Hùng sẽ lấy madam làm vợ nữa.” Người vợ ngước nhìn lên với gương mặt vô cùng bình thản, không chút giận hờn, nhẹ nhàng nói với ông: “Một kiếp đủ rồi!”

Người vợ ngước nhìn lên với gương mặt vô cùng bình thản, không chút giận hờn, nhẹ nhàng nói với ông: “Một kiếp đủ rồi!”

“Lúc đó, tôi bị sốc. Tôi nghĩ khi mình nói xong, cô ấy sẽ vui mừng, yeah lên chẳng hạn. Nhưng khi cô ấy trả lời như thế, tôi đã nhìn thấy ngay những gì mình đã sống, vợ mình hy sinh nhiều quá.” Có tiếng nấc nhỏ, nghẹn lời từ phía người nhạc sĩ sau điều vừa kể. “Nhưng mấy ngày sau, chắc thấy tôi buồn quá, nên nói thôi nếu có kiếp sau, vẫn lấy tôi làm chồng, an ủi tôi,” ông nói tiếp, nhanh chóng lấy lại được nụ cười.

Sau câu trả lời nhẹ nhàng, nhưng rất “nặng lòng” của vợ mình, Trúc Hồ nói ông nhìn thấy sự ích kỷ của mình. “Tôi không dành thời gian cho gia đình, con cái. Rất nhiều năm, tôi luôn về nhà lúc 3,4 giờ sáng. Tôi bên cạnh các ca sĩ của trung tâm nhiều hơn với vợ con của mình, đến nỗi con tôi hỏi sinh nhật của con ngày mấy, tôi cũng không nhớ. Tôi chấm điểm cho tôi là một người cha C-.”

Nhạc sĩ Trúc Hồ và gia đình.

Chương trình âm nhạc “40 năm Tình ca Trúc Hồ” cũng là ý tưởng của vợ ông, bà Nguyễn Khoa Diệu Quyên, “vì cũng 40 năm rồi, cũng cần giữ lại để làm tài liệu.” Như đã nói, mỗi một bản tình ca của nhạc sĩ Trúc Hồ là một nhân vật, một câu chuyện của chính ông hoặc cũng có thể của một người quen nào đó.

Nhưng trên tất cả, có lẽ bản tình ca lớn nhất và ý nghĩa nhất ông đã viết được, chính là cuộc đồng hành hơn 40 năm của chàng thanh niên Trương Anh Hùng và cô gái mang kính cận trong thư viện Huntington Beach ngày nào. Câu hát “Vì mặt trời không thể chia đôi/Và mặt trăng muôn đời lẻ loi” (Ca khúc Khi ta rời xa nhau) – theo lời ông nói, muốn gửi đến những tâm hồn đi qua đời mình, là Trúc Hồ có một cuộc đời, và đã chọn đi cùng với vợ mình đến ngày nhắm mắt.

Ảnh trong bài: Trúc Hồ

BB Ngô (SGN)

*********

 

Trúc Hồ: “Nếu đến lúc phải dừng lại, tôi cũng đành…”

Giáng Ngọc Show | Guest: Trúc Hồ - SBTN GO

Nói về âm nhạc của người Việt hải ngoại, không ai là không biết đến Trúc Hồ và Trung Tâm Asia. Định kỳ phát hành chương trình DVD từ nơi này luôn là sự kiện được chào đón không chỉ ở hải ngoại mà cả trong nước. Đã có những thời gian dài người ta nhìn thấy các tấm bảng quảng cáo DVD mới được chép lậu xuất hiện ở các cửa hàng bán băng đĩa ở Việt Nam, bất chấp công an vẫn săn lùng và phạt nặng vì nội dung các DVD này được dán nhãn “phản động”. Thậm chí, tên của những Việt Dzũng, Nguyệt Ánh, Nam Lộc, Trúc Hồ… được giới thiệu công khai.

Nhạc sĩ Trúc Hồ (ảnh nhân vật gửi)

Con số bán CD-DVD từ các chương trình Asia một thời gian dài nuôi sống hoạt động và tạo ra những gương mặt mới của làng văn nghệ hải ngoại nói chung. Nhắc đến, nhiều nhà phát hành vẫn xuýt xoa kỷ niệm về các con số trăm ngàn băng cassette, 70 hay 80 ngàn DVD… của đợt phát hành đầu, riêng tại Mỹ… Nhưng nay thì mọi thứ đã khác. Sự thay đổi nhiều chiều của thưởng thức, thị hiếu và bởi ảnh hưởng của công nghệ… đã khiến các trung tâm, nhà sản xuất của người Việt tại Mỹ điêu đứng. Thêm hai năm đại dịch chồng chất, sức chịu đựng của các trung tâm lại càng bị thách thức hơn nữa.

Saigon Nhỏ đã tìm đến nhạc sĩ Trúc Hồ, một trong những gương mặt quen thuộc của âm nhạc người Việt tại Little Saigon, nghe anh tâm tình những điều đã trải qua, và đi tới…

Con số bán CD-DVD từ các chương trình Asia một thời gian dài nuôi sống hoạt động và tạo ra những gương mặt mới của làng văn nghệ hải ngoại nói chung. Nhắc đến, nhiều nhà phát hành vẫn xuýt xoa kỷ niệm về các con số trăm ngàn băng cassette, 70 hay 80 ngàn DVD… của đợt phát hành đầu, riêng tại Mỹ… Nhưng nay thì mọi thứ đã khác. Sự thay đổi nhiều chiều của thưởng thức, thị hiếu và bởi ảnh hưởng của công nghệ… đã khiến các trung tâm, nhà sản xuất của người Việt tại Mỹ điêu đứng. Thêm hai năm đại dịch chồng chất, sức chịu đựng của các trung tâm lại càng bị thách thức hơn nữa.

Nghe lại những bản hòa âm nổi tiếng của nhạc sĩ Trúc Hồ

Saigon Nhỏ đã tìm đến nhạc sĩ Trúc Hồ, một trong những gương mặt quen thuộc của âm nhạc người Việt tại Little Saigon, nghe anh tâm tình những điều đã trải qua, và đi tới…

Tuấn Khanh: Khoảng năm năm đổ lại đây, tình hình các nhà sản xuất và trung tâm sản xuất âm nhạc của người Việt hải ngoại ngày càng khó khăn. Thưa nhạc sĩ Trúc Hồ, anh có tâm tình gì chia sẻ với khán giả gần xa vẫn đang yêu mến và hy vọng ở các sản phẩm âm nhạc gắn bó với tên tuổi của anh?

Nhạc sĩ Trúc Hồ: Thật đáng buồn, khoảng năm năm trở lại đây âm nhạc hải ngoại thực sự đang mất thị trường hay nói đúng hơn là không có thị trường. Hiện tại, khán giả hải ngoại đang mất dần thói quen mua CD hay DVD gốc của các trung tâm Việt Nam sản xuất, nên đối với các trung tâm băng nhạc thì mọi thứ ngày càng khó khăn. Quan trọng là không có nguồn vốn để thực hiện những chương trình mới. Với Trung tâm Asia, mỗi chương trình như ngày xưa để làm cho đúng với tầm vóc của nó thì tốn kém ít nhất một triệu đôla. Giờ thì do ít người mua, nên khó có thể thực hiện như ý muốn được.

Để duy trì con đường âm nhạc của các anh chị em còn gắn bó, cũng như với cá nhân Trúc Hồ, thì lúc này, việc thực hiện chương trình chỉ còn nằm trong khuôn khổ video của Đài truyền hình SBTN. Mọi thứ trong tương lai sẽ ngày càng thách thức, không biết còn có thể tiếp tục thực hiện được không, khi mà lượng khán giả ngày càng ít dần. Theo cái nhìn của Trúc Hồ thì tương lai âm nhạc hải ngoại rất là đen tối.

Cho đến giờ phút này, anh có thêm suy nghĩ về hoạt động nào khác để phù hợp với sự phát triển của cộng đồng người Việt cũng như tình hình văn nghệ nói chung của người Việt hải ngoại? Anh đã nói về những khó khăn nhưng đã lúc nào anh nghĩ đến chuyện dừng lại?

Phải nhìn thấy là sự phát triển của cộng đồng người Việt không đi cùng với sự phát triển của hoạt động văn nghệ người Việt. Do đó nếu nói về tương lai, vẫn chưa biết mọi thứ ra sao. Riêng bản thân Trúc Hồ và cộng sự vẫn cố gắng, khi nào còn hoạt động được thì sẽ làm hết sức. Cho đến lúc mình thấy buộc phải dừng thì đành vậy.

– Năm 2020, nhà nước Việt Nam bất ngờ thông báo không cấm cản các tác phẩm nhạc của người Việt miền Nam trước 1975. Ngay lập tức sau đó có rất nhiều chương trình âm nhạc bolero, nhạc trẻ… ăn theo di sản âm nhạc của miền Nam trước 1975 xuất hiện suốt từ Nam chí Bắc, vậy điều này có trở thành một vấn đề vô cùng gây khó đối với các trung tâm hải ngoại, chẳng hạn cụ thể là với anh không?

Cần phải nhìn thấy rõ rằng khó khăn đâu phải chỉ riêng chuyện tác phẩm hay cạnh tranh: Lâu nay, không chỉ Trung tâm Asia mà tất cả trung tâm âm nhạc của người Việt hải ngoại tồn tại được, phát triển được vẫn là nhờ vào sự theo dõi và ủng hộ của khán giả hải ngoại, với việc phát hành và bán băng, đĩa là chính. Theo thời gian, chỉ có những trung tâm nào có lượng khán giả đủ nuôi sống mình thì mới có thể tồn tại cho đến hôm nay.

Rồi khi âm nhạc trên Internet mở ra, các chương trình ca nhạc bán qua CD hay DVD gốc bắt đầu gặp khó khăn. Gần đây Trung tâm Asia hay các ca sĩ cũng cố gắng thực hiện những kênh YouTube riêng để giới thiệu tác phẩm của mình. Nhưng để giữ được cuộc sống văn nghệ và có thu nhập đủ thì vẫn phải dựa vào các show diễn. Việc tìm thu nhập trên YouTube chỉ là giải pháp tạm thời và vẫn rất khó mà lấy chi phí từ đó để tạo ra những tác phẩm hoặc chương trình như ý muốn.

– Có một khán giả từ Việt Nam nhắn gửi rằng “hiện các thế lực văn nghệ của nhà nước cũng như các công ty thân nhà nước ngày càng giàu có và hùng mạnh. Họ sẵn sàng kêu gọi những nơi có tiếng tăm và kinh nghiệm của hải ngoại để hợp tác; qua đó thao túng dần bản chất của nền văn nghệ tự do”. Anh nghĩ sao về điều này? Theo anh thì làm sao để có thể tồn tại với bối cảnh lấn át như vậy?

Có một thực tế rõ ràng rằng thị trường âm nhạc Việt Nam trong nước luôn phát triển hơn ở hải ngoại, đơn giản vì dân số đông; nhiều người trẻ nối tiếp cần thụ hưởng cũng như xuất hiện trên sân khấu, và hơn nữa có rất nhiều công ty tài trợ. Ngay cả ở trong nước, với nhiều thứ thuận lợi, âm nhạc cũng không sống nổi nếu không có tài trợ. Mọi thứ trên thế giới đang thay đổi về cách thưởng thức cũng như về thị hiếu âm nhạc. Thế hệ mới thích những gì miễn phí, mà mọi thứ miễn phí đang có rất nhiều trên internet. Rồi khi tài trợ cho miễn phí thì hẳn nhiên sẽ bị thao túng. Trúc Hồ cũng như anh chị em cộng sự vẫn muốn giữ mình đứng vững trước những điều đó.

– Có vẻ mọi thứ đang không mấy lạc quan trong tầm mắt, nhưng còn tương lai xa hơn thì sao? Nếu phác thảo một cái nhìn về văn nghệ người Việt hải ngoại trong 20 năm nữa, anh nhìn thấy gì trong niềm hy vọng lẫn lo lắng?

Để nói thẳng suy nghĩ của mình thì tôi thấy 20 năm nữa, tương lai mờ mịt lắm, hay nói đúng là không có, với âm nhạc người Việt hải ngoại. Còn nếu nói về hy vọng, tôi chỉ nghĩ rằng mọi sự bất ngờ chỉ có thể trông mong vào thế hệ trẻ đang lớn lên, yêu âm nhạc và mở ra những con đường mới mà thôi.

– Hãy nói một chút về phần mình, nhạc sĩ Trúc Hồ với những chương trình của anh sẽ sớm quay lại với khán giả trong năm 2022 không?

Hy vọng rằng trong năm 2022, đại dịch qua đi và mọi thứ thuận lợi hơn thì Trúc Hồ hy vọng có đủ thời gian và khả năng để khôi phục lại tất cả sáng tác của mình, trong đó có khoảng 100 bài có giá trị như kỷ niệm. Với sức làm việc như hiện nay thì dự trù mỗi ba tháng sẽ quay được khoảng 16 bài music video. Đây có thể coi như là dự án cuối cùng của mình, vì khi làm được đủ số tác phẩm đó rồi thì chắc Trúc Hồ cũng về hưu. Thật ra sức khỏe của Trúc Hồ bây giờ cũng không còn tốt nữa.

– Xin phép có câu hỏi cuối với anh. Có bình luận rằng làm văn nghệ ở một không gian tự do như hải ngoại tưởng là dễ dàng nhưng thật ra rất khó khăn. Anh nghĩ sao về điều này? Và nếu điều đó đúng, anh có bí quyết gì để có thể tồn tại qua bao nhiêu đó năm?

Làm văn nghệ chưa bao giờ dễ dàng cả, đó là kinh nghiệm của Trúc Hồ. Đặc biệt là làm văn nghệ trong thời gian này lại càng khó hơn nữa. Thế giới bây giờ không phải là của những người sản xuất chương trình với khán giả hâm mộ mà thuộc về sự kiểm soát của YouTube và Facebook, hay nói rộng hơn là về thế giới digital – kỹ thuật số.

Nếu như ngày xưa khán giả sẵn sàng làm mọi thứ để tìm đến sở thích và phẩm chất của đời sống văn nghệ thì ngày nay họ lại chuộng sự tiện lợi. Thậm chí, giờ đây họ nghe nhạc dễ dãi hơn, bằng cách nghe qua internet, loa của máy điện thoại… chứ không tìm đến âm nhạc ở những dàn máy hay speaker tốt nữa. Dĩ nhiên cũng có những khán giả khó tính muốn được thưởng thức mọi thứ hay nhất, tốt nhất… nhưng họ chỉ là số ít.

Nhưng còn bao nhiêu người yêu âm nhạc thì đó vẫn là động lực để Trúc Hồ cố gắng. Hy vọng những tác phẩm ra đời sau này sẽ lại được dịp phục vụ cho những khán giả như vậy. Hiện Trúc Hồ cùng mọi người đang thực hiện chương trình phát hành các đĩa than (vinyl) để phục vụ một lớp khán giả đặc biệt này. Bản đầu tiên có chủ đề Mưa đêm tỉnh nhỏ sẽ phát hành trong năm 2022 này. Đó cũng là một lối đi khác đang được phát triển.

– Xin cảm ơn nhạc sĩ.

Tuấn Khanh thực hiện

 

Kim Phượng sưu tầm &tổng hợp

 

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Trúc Hồ - Người tạo nên khác biệt cho  nhạc hải ngoại bằng tài hòa âm điêu luyện

 

 

Xem thêm...

Lê Uyên Phương: Dòng nhạc của hạnh phúc và chia lìa

Lê Uyên Phương:

Dòng nhạc của hạnh phúc và chia lìa

▂ ▃ ▅ ▆ █☆★█ ▆ ▅ ▃ ▂

 

Năm 1954, trên chuyến bay đầu tiên của dòng người di cư từ Bắc vào Nam, có một số người trong dòng họ Lâm gia rời khỏi ngôi nhà 81 phố Hàng Bồ, Hà Nội để vào Sài Gòn. Trong những người cùng dòng tộc đó, có một bé gái nhỏ tuổi nhất tên Lâm Phi Anh.

Vào Nam, gia đình ông bà Lâm Quế Hàn và bà Tô Khánh Vàng, bố mẹ của Phi Anh dựng lại cơ ngơi cũ. Ông bà mở hãng vận tải Vinh Du Phong ở Chợ Lớn, chở hàng từ Sài Gòn ra Quy Nhơn. Họ cho cô con gái ba tuổi học trường tiểu học “tây” Sans Famille. Ở trường nói tiếng Tây, về nhà nói tiếng Hoa, Lâm Phi Anh không rành tiếng Việt. Mãi cho đến năm 15 tuổi, gia đình đưa Lâm Phi Anh lên Đà Lạt học trường nội trú Tây.

Tại đây, cô yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên, sau câu “Chào cô!” của anh giáo nghèo Lê Minh Lập nhà bên cạnh. Từ đó, Đà Lạt và nền âm nhạc Việt Nam có một đôi tình nhân từng “Yêu nhau trong lo âu / Biết bao lần tha thiết nhớ mong.” Bởi vì, cuộc tình của họ bị gia đình Lâm Phi Anh ngăn cấm. Mẹ của cô, tiểu thư Tô Khánh Vàng, con gái út của gia đình quan sứ Tàu Tô Đình Càng, người Hải Nam, không thể chấp nhận con gái rượu của mình yêu một anh giáo nghèo, một nghệ sĩ đàn địch không thấy tương lai.

 

Càng cấm, họ càng điên cuồng tìm đến nhau. Họ yêu nhau không màng sinh tử. Có khi Phi Anh đón chuyến xe lửa ra Đà Lạt để gặp Lê Minh Lập đã chờ sẵn ở ga, ngồi với nhau, cùng ăn ổ bánh mì, uống ly nước, rồi chia tay. Thêm một lý do để gia đình ngăn cản cuộc tình này, đó là Lâm Phi Anh còn chưa đủ 18 tuổi. Nhưng vốn mang tính cách nổi loạn, cô dùng chính sự sống của mình để đe doạ cha mẹ, để được sống bên cạnh người yêu.

Họ cưới nhau năm 1968.

Trong thời gian đó, tình yêu đã chấp cánh cho Lê Minh Lập. Ông sáng tác hàng loạt ca khúc tình ca, như: Chiều phi trường; Không nhìn nhau lần cuối; Lời gọi chân mây; Hãy ngồi xuống đây; Vũng lầy của chúng ta… Đó cũng chính là những ca khúc trong tập nhạc nổi tiếng “Khi loài thú xa nhau” – đánh dấu sự ra đời của đôi song ca “Lê Uyên và Phương.”

Trước khi biết và yêu Lâm Phi Anh, Lê Minh Lập không hề nghĩ một ngày mình sẽ trở thành nhạc sĩ, ca sĩ. Ông chỉ sáng tác nhạc như một bản năng, xem âm nhạc là nơi quán trọ cho ông ghé vào tìm bình yên. Khi viết nhạc, ông chỉ ký tên Lê Uyên Phương, là tên Phương của người mẹ, cùng với chữ Uyên là tên người bạn gái đầu tiên.

Nhân dịp đầu năm 1970, sau khi kết hôn được hai năm, hai người về Sài Gòn hát liên tiếp 19 đêm diễn. Khi được hỏi ý nghĩa của nghệ danh Lê Uyên Phương, ông nói, “nhân đây, nếu các anh chị đã hỏi thì tôi xin chia cái tên Lê Uyên Phương ra cho nhà tôi một nửa.” Từ đó có đôi song ca Lê Uyên và Phương. Và cũng từ đó, đôi song ca Lê Uyên và Phương chưa bao giờ rời nhau trên các sân khấu của trường đại học, trong phong trào du ca. Cho đến năm 1979, họ rời Việt Nam định cư ở California.

Hạnh phúc và chia lìa

Có lẽ khó tìm được một chữ nào khác thích hợp hơn từ “định mệnh” để nói về tất cả những gì diễn ra trong cuộc đời âm nhạc của Lê Uyên Phương. Từ bài hát đầu tiên “Buồn đến bao giờ” được sáng tác ở Pleiku năm 1960, nhạc của ông đã mang một nỗi buồn cô độc, một sự chờ đợi nhưng vẫn thoáng hiện đây đó tâm hồn phiêu bạt, bất cần. Khi buồn, ông “đếm tuổi cuộc đời trên hai bàn tay trơn” và tự hỏi “em ơi… em ơi… xuân nào tàn… thu nào vàng, môi nào ngỡ ngàng.”

Cho đến một ngày, không còn phải “nằm nghe tiếng mưa nguồn, tưởng em bước chân buồn” nữa vì ông đã có “Tình khúc cho em.” Theo lời ca sĩ Lê Uyên, “anh Phương hơn tôi 10 tuổi nên đã nói xin cho yêu em nồng nàn, dù biết yêu em tình yêu muộn màng. Đó là ý của bài Tình khúc cho em được viết năm 1966.”

Nhạc của Lê Uyên Phương là những bản tình ca mang hơi thở lành lạnh của Đà Lạt, có vị cay cay của khói thuốc, có cả sự va chạm trần trụi mang đầy giới tính bản năng của loài người. Mỗi bài hát của ông đều bàng bạc sự giằng xé giữa hạnh phúc và chia lìa của cái chết. Đôi khi, ông thét lên trong âm nhạc của mình tiếng kêu hoang dại, quay quắt nỗi nhớ trong phút giây sinh tử chia lìa.

“Đưa người tuyệt vọng” là ca khúc Phương viết về chính cái chết của mình. Ngày ông ra đi, trong căn phòng nơi ông nằm, đã thật sự có một nụ hôn nửa muốn bất tận, nửa muốn buông lơi để ông bước đi nhẹ nhàng.

Nhạc của Phương không phải là những bản tình ca uỷ mị. Càng không mang những vẻ đẹp thiên tình sử trong đêm trăng của Romeo và Juilet. Cũng không có nỗi bi ai, chì chiết như những ca khúc Không Tên. Ca từ trong nhạc của ông khi trần trụi, khi mềm mại, khi nóng bỏng như tiếng gào từ đồng vọng khét mùi khói lửa chiến tranh. Lê Uyên Phương viết nhạc từ chính cuộc sống và tình yêu của mình.

Thời khắc khốc liệt nhất của giai đoạn đó đã làm cho lời nhạc của ông như lời trăn trối nhẹ nhàng, bình tĩnh, kêu gọi sống trọn vẹn ngày hôm nay vì không biết ngày mai sẽ ra sao. Ngay cả khi trong phút giây kinh hoàng nhất, gần với sự sinh tử nhất, thì Phương cũng bình thản chấp nhận và nghĩ về một màn đêm sâu thẳm, nơi có huyệt sâu chôn lấp cuộc tình thuỷ chung mà ông gọi là “Dạ khúc cho tình nhân” – ca khúc được Phương viết năm 1968 ở một khu phố bị pháo kích. Theo lời người ở lại, đây là ca khúc cuối cùng trên sân khấu của Lê Uyên và Phương.

2:00 giờ chiều ngày 29 Tháng Sáu, năm 1999, đôi mắt của Phương khép lại. Ông từ giã cuộc đời, từ giã nỗi buồn mà ông từng tự hỏi “Buồn đến bao giờ.”

 

Lê Uyên Phương là một hiện tượng âm nhạc của Miền Nam Việt Nam, nổi lên vào khoảng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70. Vào thời đó, nền âm nhạc đa dạng, nhiều màu sắc của Sài Gòn còn có những tên tuổi khác cũng nổi tiếng không kém như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An… Tuy nhiên, đối với nhiều người yêu nhạc – đặc biệt là giới trẻ – Lê Uyên Phương là một dòng nhạc rất riêng biệt, không thể lẫn lộn với bất cứ một tác giả, một ca sĩ nào khác. Một phong cách sáng tác, một phong cách trình diễn không thể sao chép. Vào thời đó, với một cây guitar thùng, với những tình khúc viết cho chính mình, với một phong cách hát đam mê mãnh liệt “như loài thú xa nhau”, cặp tình nhân Lê Uyên Phương đến từ Đà Lạt đã chinh phục trọn vẹn trái tim của giới sinh viên Sài Gòn, qua những buổi trình diễn tại các sân khấu trường đại học. Sau đó mới đến các sân khấu, phòng trà. Nhắc đến Lê Uyên Phương, khán giả sẽ nhắc ngay đến những ca khúc tiêu biểu nhất: Vũng Lầy Của Chúng Ta, Cho Lần Cuối, Tình Khúc Cho Em, Dạ Khúc Cho Tình Nhân. Rất nhiều người lớn lên trong Miền Nam trước 1975 đều biết hát những bài này. Tuy nhiên, Lê Uyên Phương còn nhiều tình khúc khác cũng đặc sắc, mang nét đẹp riêng của Lê Uyên Phương không kém. Ca khúc Uống Nước Bên Bờ Suối là một ca khúc viết tại Đà Lạt. Cho dù không có một chữ “Đà Lạt” nào trong lời ca, Uống Nước Bên Bờ Suối là một trong những ca khúc hiếm hoi ghi lại vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ Đà Lạt, với núi rừng, với dòng suối còn in những dấu chân nai:

Bạn đang sao chép nội dung của nhacxua.vn. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn nhacxua.vn kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense

 **********

Cuộc đời và sự nghiệp của nhạc sĩ Lê Uyên Phương (1941-1999) –

Tác giả của những tình khúc nồng nàn, lãng mạn nhưng cũng đầy khắc khoải.

Vào những năm thập niên 70 của thế kỷ trước, sự xuất hiện của cặp song ca Lê Uyên và Phương trên sân khấu Sài Gòn lập tức được khán thính giả đón nhận nồng nhiệt. Cặp đôi trình bày những ca khúc do cнíɴн mình sáng tác dưới bút danh Lê Uyên Phương và kể từ đó trong làng nhạc miền Nam, dòng nhạc Lê Uyên Phương có một chỗ đứng độc tôn, khác biệt với tất cả. Đó là một loại nhạc của sự cuồng mê, cuả những đôi tình nhân quấn quít bên nhau và cả sự chia lìa được báo trước. Những bài hát rất nồng nàn nhưng cũng đầy khắc khoải đó được cнíɴн nhạc sĩ Lê Uyên Phương viết về cuộc tình của ông và người vợ tâm giao, người bạn tri kỉ, người đồng hành cùng ông trên mọi nẻo đường – danh ca Lê Uyên. Sáng tác của Lê Uyên Phương không nhiều (chỉ khoảng 40 ca khúc) nhưng hơn nửa thế kỷ qua những nhạc phẩm ấy luôn in đậm trong lòng người nghe như: Vũng lầy của chúng ta, Dạ khúc cho tình nhân, Bài ca hạnh ngộ, Cho lần cuối, Tình khúc cho em, …

 

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương

Lê Uyên Phương tên thật là Lê Minh Lập, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1941 tại Đà Lạt, cũng là nơi ông lớn lên và gắn bó phần lớn thời gian của cuộc đời mình khi còn ở trong nước. Cha của Lê Minh Lập mang họ Phan, nhưng vì cuộc cách мạиɢ của Phan Bội Châu nên ông phải đổi thành họ Lê. Mẹ ông là Công Tôn Nữ Phương Nhi, bà là con gái thứ 9 của vua Thành Thái. Trong thời kỳ loạn lạc, ông làm thất lạc giấy tờ nên phải làm lại giấy khai sinh hai lần, do sự bất cẩn của nhân viên làm giấy tờ nhầm tên thành Lê Minh Lộc rồi sau đó là Lê Văи Lộc.

Năm 1960, Lê Minh Lập sáng tác ca khúc đầu tiên mang tên “Buồn đến bao giờ” được viết tại Pleiku, khi ông dạy học tại đó và ký tên là Lê Uyên Phương. Bút danh này được biết là do ông lấy chữ Phương trong tên của mẹ là Công Tôn Nữ Phương Nhi ghép với tên của mối tình đầu tiên của ông là Uyên mà thành.

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương

Trời phú cho Lê Uyên Phương có năиg khiếu trong lĩnh vực nghệ thuật, ông đánh đàn hay và viết ca khúc giỏi nhưng lại bắt ông gánh chịu căи вệин hiểm nghèo ngay từ khi rất trẻ: nhiều khối u mọc trên cơ thể ông, ông không nói ra nhiều người nhầm tưởng ông bị ung thư xương và có thể sẽ giã từ cõi đời bất cứ lúc nào. Cũng có lẽ vì cнíɴн nỗi đαυ trong thân xác ấy đã tạo cho âm nhạc của Lê Uyên Phương những nét riêng biệt, như tiếng gào thét từ trong tận đáy lòng và một nỗi buồn da diết.

Năm 1968, định mệnh sắp đặt, đã mang đến cho Lê Uyên Phương một người con gái Sài Gòn xιɴh đẹp, gốc Hoa (cha Hải Nam, mẹ Triều Châu). Cô tên là Lâm Phúc Anh, sinh ngày 17 tháng 7 năm 1952. Lâm Phúc Anh là con gái của một gia đình thương gia thuộc dạng giàu có ở vùng Chợ Lớn, họ là chủ một hãng xe chạy đường Sài Gòn ra các tỉnh miền Trung. Năm ấy Lâm Phúc Anh vừa tròn 16 tuổi, cô xιɴh đẹp, đài các, rất lãng mạn, cũng đầy cá tính và có năиg khiếu âm nhạc.

Lâm Phúc Anh lúc tròn 15 tuổi.

Vì nhà có điều kiện, nên Lâm Phúc Anh được gia đình gửi lên Đà Lạt học trường Virgo Maria – một trường Tây sang trọng lúc bấy giờ. Tại đây, cô gặp thầy giáo dạy Triết học – Lê Uyên Phương – lớn hơn mình 11 tuổi – ở nơi thành phố sương mù. Nhìn dáng vẻ và khuôn mặt đầy chất nghệ sĩ của người thầy giáo này, Lâm Phúc Anh đã trúng tiếng sét ái tình với ông khi nghe ông đàn. Khi biết Lê Uyên Phương mắc вệин nan y, cô càng thương ông da diết. Lúc bấy giờ, nhà của Lê Uyên Phương và Lâm Phúc Anh ở ѕáт nhau – số 18 và 22 Võ Tánh, thành phố Đà Lạt. Sau một thời gian quen biết và tìm hiểu họ yêu nhau và tính đến chuyện dài lâu. Nhưng gia đình Lâm Phúc Anh ra sức ngăи cản, cha mẹ Phúc Anh đưa cô về lại Sài Gòn để chia cách đôi tình nhân trẻ. Không cam tâm trước số phận và vì quá nhớ người yêu nên Lê Uyên Phương thường tới Sài Gòn và nơi họ thường xuyên gặp gỡ nhau là ở nhà ga xe lửa. Cũng trong thời gian này Lê Uyên Phương cho ra đời một trong những ca khúc bất hủ của ông đó là “Khi loài thú xa nhau”. Sau bao cách trở thì họ cũng đến được với nhau và kết hôn vào khoảng cuối năm 1968, đầu năm 1969.

 Nhạc sĩ Lê Uyên Phương & vợ Lâm Phúc Anh

Lâm Phúc Anh từng tâm sự: “Tôi yêu Lê Uyên Phương vì tài năиg, sự hiền lành, đạo đức và tấm lòng nhân ái, rộng lượng của anh. Nhưng tha thiết hơn cả là con người nghệ sĩ và căи вệин hiểm nghèo mà anh mắc phải. Cuộc tình của chúng tôi rất đẹp nhưng cũng rất đαυ đớn bởi không biết ngày nào đó sẽ vĩnh viễn mất nhau vì cái cнếт luôn rình rập”.

Nhạc sĩ Lê Uyên Phương và vợ

Đầu năm 1970, nhà thơ Đỗ Quý Toàn từ Sài Gòn lên Đà Lạt họp với anh em hướng đạo sinh, lúc này một người thân của Lê Uyên Phương cho ông Toàn nghe một băиg cassette do Lê Uyên Phương thu tại nhà. Sau khi nghe xong cuốn băиg nhận ra tài năиg của Lê Uyên Phương, ông Toàn đã gặp mặt và nói với Lê Uyên Phương rằng: “Bất cứ lúc nào anh xuống Sài Gòn thì gặp tôi”. Trong kỳ nghỉ Tết, Lê Uyên Phương đã cùng vợ xuống Sài Gòn và gặp lại Đỗ Quý Toàn. Ông Toàn đã giới thiệu Lê Uyên Phương với nhà báo Đỗ Ngọc Yến, một người hoạt động phong trào văи nghệ sinh viên. Ông Yến tổ chức cho Lê Uyên Phương một buổi biểu diễn đầu tiên tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ. Lúc này, có nhiều phóng viên hỏi Lê Uyên Phương là ai? Lê Uyên Phương buột miệng chỉ vợ rồi nói: “Đây là Lê Uyên. Còn tôi là Phương”. Và kể từ đó Lâm Phúc Anh gắn liền với nghệ danh Lê Uyên. Lúc hai người song ca được gọi là Lê Uyên và Phương. Chính Lâm Phúc Anh cũng không muốn lấy tên thật của mình hay bất cứ tên nào khác làm nghệ danh, cô muốn mình là Lê Uyên để cùng với Phương gắn kết suốt đời, Lê Uyên cнíɴн là một phần của Lê Uyên Phương.

 
Lê Uyên Phương cùng vợ trong một show biểu diễn.

Nếu ai đã từng biết về cặp đôi nghệ sĩ này chắc hẳn cũng hiểu rõ một quy ước, đó là nếu viết là Lê Uyên Phương, thì hiểu đó là tên của nhạc sĩ Lê Uyên Phương, dòng nhạc Lê Uyên Phương. Còn ví như viết là Lê Uyên & Phương (hoặc Lê Uyên và Phương), thì côɴԍ chúng sẽ hiểu đó là đôi vợ c нồng nghệ sĩ Lê Uyên Phương và Lâm Phúc Anh, họ đi hát với nghệ danh là Lê Uyên & Phương.

Chương trình ᴅu ca diễn ra trong vòng 19 ngày, đôi vợ c нồng Lê Uyên & Phương biểu diễn liên tục các show cho sinh viên Văи khoa, Luật khoa, Sư Phạm, Y Khoa, rồi tới Đài Truyền hình Việt Nam lẫn quán cà phê Con Nai Vàng của nhạc sĩ Cung Tiến. Chính nhờ vậy mà Lê Uyên & Phương được đông đảo côɴԍ chúng biết đến và họ có được hợp đồng biểu diễn tại 5 phòng trà Sài Gòn, mỗi đêm hát thù lao là 5000 đồng cho mỗi điểm biểu diễn 3 bài trong vòng bốn năm. Đó là số tiền khá lớn vào thời điểm bấy giờ đối với Lê Uyên Phương, bởi lẽ khi còn là giáo viên ở Đà Lạt, ông chỉ có đồng lương là 5, 6 ngàn mỗi tháng.

Từ Đà Lạt đến Sài Gòn, Lê Uyên Phương đã mang tới một luồng gió mới cho tân nhạc Việt Nam với những ca khúc hết sức nồng nàn mà khắc khoải của tình yêu đôi lứa và đậm nét chủ nghĩa hiện sinh, tiêu biểu như: Bài Ca Hạnh Ngộ, Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Lời Gọi Chân Mây, Vũng Lầy Của Chúng Ta, Tình Khúc Cho Em… được đông đảo giới trẻ đón nhận nồng nhiệt. Nhạc sĩ Phạm Duy đã từng nhận xét về nhạc của Lê Uyên Phương giống như là tiếng nói tuyệt vọng của một thế hệ thanh xuân trong trẻo, muốn được sống để được yêu thương trong thanh bình nhưng lại bất lực trước thực tại.

 

Click để nghe nhạc Lê Uyên Phương thu âm trước 1975

Bạn đang sao chép nội dung của page fb.com/1xuaxua. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn chuyenxua.vn kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense
Click để nghe nhạc Lê Uyên Phương thu âm trước 1975

Bạn đang sao chép nội dung của page fb.com/1xuaxua. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn chuyenxua.vn kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense

Mỗi một ca khúc của Lê Uyên Phương đều mang cảm thức hạnh phúc lẫn chia lìa. Bởi theo cнíɴн Lê Uyên Phương thì tình yêu của một chàng thanh niên ở độ tuổi 27, 28 mang trong mình căи вệин Quáι ác không biết ra đi lúc nào, với một cô gái phơi phới tuổi mới lớn như Lâm Phúc Anh, đối với ông là quá lớn.

Khi còn ở trong nước vào những năm 1970, Lê Uyên Phương đã phát hành được 2 tập nhạc là “Khi Loài Thú Xa Nhau” và “Yêu Nhau Khi Còn Thơ”, ở bìa sau của tập nhạc phát hành năm 1970, nhạc sĩ Cung Tiến đã ghi lời giới thiệu về nhạc Lê Uyên Phương như sau: “Chỉ một lần nghe, ta cũng có thể cảm thấy ngay đó là những khúc ca được sáng tác với cảm hứng âm nhạc đích thực, nhưng đó là một cảm giác không làm dáng và cũng không làm ra quá đáng, mà độ lượng, như là cố ý cầm lại vừa với tầm ngậm ngùi, ngao ngán của kiếp sống… Tiếng nói mới đó, những “chansons de sanglot” đó, không biểu tỏ gì khác hơn là hạnh phúc ái tình giống như một hòn đảo mịt mù sương trong cơn giông thời đại. Bởi vậy mà ta nghe thấy nhiều đαυ đớn, nhiều nức nở đến thế. Chẳng phải là niềm đαυ mê man, mà là niềm đαυ sáng suốt: mắt mở thật lớn, ta nhìn nó đi thẳng vào tim ta đαυ nhói. Đó là tại sao những melodies đαυ đớn của PHƯƠNG – nơi ta có lẽ đã bắt lại được một machochisme huy hoàng – luôn luôn ở mode majeur. Cái “buồn majeur” là cái buồn sâu thẳm nhất trong âm nhạc có chủ âm. Và đó cнíɴн là “thú đαυ thương” đơn và thuần vậy…

Năm 1979, hai vợ c нồng Lê Uyên Phương rời Việt Nam và đến định cư tại miền Nam California, Hoa Kỳ, đây cũng cнíɴн là nơi ra đời của hai cô con gái Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My của hai vợ c нồng.

Năm 1984,1985 Lê Uyên gặp biến cố khi bị trúng đạи lạc từ hai băиg đảng thanh toán nhau nên phải ngừng biểu diễn trên các sân khấu ca nhạc hải ngoại. Khoảng thời gian điều trị và sau khi Lê Uyên đã lành вệин, cả hai vợ c нồng yên lặng sắp xếp lại cuộc sống chứ không phải chia tay như nhiều lời đồn thổi. Lê Uyên đã nhiều lần khẳng định với báo giới như sau: “Tin đồn này xảy đến khi tôi vô tình bị trúng đạи từ một cuộc đấu ѕúиɢ của dân ᴅu  đãɴԍ trước quán cà phê mình. Vết thương lúc ấy rất nặng. Tôi phải mất bốn năm để bình phục. Truyền thông ở hải ngoại khi ấy thêu dệt rằng hôn nhân của tôi và c нồng rạn vỡ. Có đầy đủ bằng chứng trong tay nhưng không được minh oan, tôi rất bức xúc, chỉ có thể nói được với anh Phương. C нồng tôi khi ấy đã can ngăи: “ Cứ im lặng là tốt nhất bởi mình không thể phân trần hết với mọi người””.

Trong những ngày Lê Uyên cận kề với cái cнếт, 19 ngày liền cô mê man trên giường вệин. Lúc này người túc trực ᴅuy nhất lo lắng và chăm sóc cho cô cнíɴн là người c нồng – người nhạc sĩ lãng mạn Lê Uyên Phương. Chứng kiến những cơn đαυ đớn, chứng kiến lằn sống mong manh của vợ trong gang tấc cận kề, Lê Uyên Phương đã viết nên ca khúc “Cho lần cuối”.

Ngày 29 tháng 6 năm 1999, Lê uyên Phương mất vì вệин ung thư phổi tại вệин viện UCI (University of California, Irvine). Trước khi ra đi mãi mãi, nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã căи dặn vợ: “Nếu anh có mệnh hệ nào em phải tiếp tục sống và hát để tình yêu chúng ta được lan tỏa khắp nơi, trong trái tim nhiều người để mọi người yêu nhau nhiều hơn”. Và cho đến bây giờ, Lê Uyên vẫn đang làm điều mà c нồng cô đã giao phó.

Nhạc của cố nhạc sĩ Lê Uyên Phương mang tính đặc thù riêng như ca từ đẹp và những đoạn melody thử thách người hát nên không phải ca sĩ nào cũng có thể trình bày tốt được sáng tác của ông. Hầu hết các sáng tác của ông là viết về cuộc tình của cнíɴн ông với vợ mình, về những trăи trở và lo lắng cho cuộc sống hai người. Thế nên nếu người ca sĩ nào không hiểu rõ được nhạc của vị nhạc sĩ này sẽ không thể hiện được cái  нồn của ca khúc. Chính danh ca Thái Châu cũng chia sẻ: Bất cứ bài hát nào anh Lê Uyên Phương cũng cho vào những nốt đặc thù như thăиg, nốt giáng, ca sĩ thể hiện đến đoạn đó phải cố gắng hát đúng nốt, giữ cảm xúc của nhạc sĩ, lẫn tinh thần bài hát xuyên suốt. Đây là thử thách đặt ra cho bất cứ ai thể hiện dòng nhạc của Lê Uyên Phương. Ngoài ra, các bài hát hầu như đều về chuyện tình Lê Uyên và Phương”.

Vũng Lầy Của Chúng Ta, Tình Khúc Cho Em – Lê Uyên và Phương:

 

Lê Uyên và Phương LIVE 1990:

 

Thoixua biên soạn

 

 Kim Phượng sưu tập

 
Lê Uyên Phương là một hiện tượng âm nhạc của Miền Nam Việt Nam, nổi lên vào khoảng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70. Vào thời đó, nền âm nhạc đa dạng, nhiều màu sắc của Sài Gòn còn có những tên tuổi khác cũng nổi tiếng không kém như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An… Tuy nhiên, đối với nhiều người yêu nhạc – đặc biệt là giới trẻ – Lê Uyên Phương là một dòng nhạc rất riêng biệt, không thể lẫn lộn với bất cứ một tác giả, một ca sĩ nào khác. Một phong cách sáng tác, một phong cách trình diễn không thể sao chép. Vào thời đó, với một cây guitar thùng, với những tình khúc viết cho chính mình, với một phong cách hát đam mê mãnh liệt “như loài thú xa nhau”, cặp tình nhân Lê Uyên Phương đến từ Đà Lạt đã chinh phục trọn vẹn trái tim của giới sinh viên Sài Gòn, qua những buổi trình diễn tại các sân khấu trường đại học. Sau đó mới đến các sân khấu, phòng trà.

Bạn đang sao chép nội dung của nhacxua.vn. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn nhacxua.vn kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense
Lê Uyên Phương là một hiện tượng âm nhạc của Miền Nam Việt Nam, nổi lên vào khoảng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70. Vào thời đó, nền âm nhạc đa dạng, nhiều màu sắc của Sài Gòn còn có những tên tuổi khác cũng nổi tiếng không kém như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An… Tuy nhiên, đối với nhiều người yêu nhạc – đặc biệt là giới trẻ – Lê Uyên Phương là một dòng nhạc rất riêng biệt, không thể lẫn lộn với bất cứ một tác giả, một ca sĩ nào khác. Một phong cách sáng tác, một phong cách trình diễn không thể sao chép. Vào thời đó, với một cây guitar thùng, với những tình khúc viết cho chính mình, với một phong cách hát đam mê mãnh liệt “như loài thú xa nhau”, cặp tình nhân Lê Uyên Phương đến từ Đà Lạt đã chinh phục trọn vẹn trái tim của giới sinh viên Sài Gòn, qua những buổi trình diễn tại các sân khấu trường đại học. Sau đó mới đến các sân khấu, phòng trà. Nhắc đến Lê Uyên Phương, khán giả sẽ nhắc ngay đến những ca khúc tiêu biểu nhất: Vũng Lầy Của Chúng Ta, Cho Lần Cuối, Tình Khúc Cho Em, Dạ Khúc Cho Tình Nhân. Rất nhiều người lớn lên trong Miền Nam trước 1975 đều biết hát những bài này. Tuy nhiên, Lê Uyên Phương còn nhiều tình khúc khác cũng đặc sắc, mang nét đẹp riêng của Lê Uyên Phương không kém. Ca khúc Uống Nước Bên Bờ Suối là một ca khúc viết tại Đà Lạt. Cho dù không có một chữ “Đà Lạt” nào trong lời ca, Uống Nước Bên Bờ Suối là một trong những ca khúc hiếm hoi ghi lại vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ Đà Lạt, với núi rừng, với dòng suối còn in những dấu chân nai:

Bạn đang sao chép nội dung của nhacxua.vn. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn nhacxua.vn kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense
Lê Uyên Phương là một hiện tượng âm nhạc của Miền Nam Việt Nam, nổi lên vào khoảng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70. Vào thời đó, nền âm nhạc đa dạng, nhiều màu sắc của Sài Gòn còn có những tên tuổi khác cũng nổi tiếng không kém như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An… Tuy nhiên, đối với nhiều người yêu nhạc – đặc biệt là giới trẻ – Lê Uyên Phương là một dòng nhạc rất riêng biệt, không thể lẫn lộn với bất cứ một tác giả, một ca sĩ nào khác. Một phong cách sáng tác, một phong cách trình diễn không thể sao chép. Vào thời đó, với một cây guitar thùng, với những tình khúc viết cho chính mình, với một phong cách hát đam mê mãnh liệt “như loài thú xa nhau”, cặp tình nhân Lê Uyên Phương đến từ Đà Lạt đã chinh phục trọn vẹn trái tim của giới sinh viên Sài Gòn, qua những buổi trình diễn tại các sân khấu trường đại học. Sau đó mới đến các sân khấu, phòng trà. Nhắc đến Lê Uyên Phương, khán giả sẽ nhắc ngay đến những ca khúc tiêu biểu nhất: Vũng Lầy Của Chúng Ta, Cho Lần Cuối, Tình Khúc Cho Em, Dạ Khúc Cho Tình Nhân. Rất nhiều người lớn lên trong Miền Nam trước 1975 đều biết hát những bài này. Tuy nhiên, Lê Uyên Phương còn nhiều tình khúc khác cũng đặc sắc, mang nét đẹp riêng của Lê Uyên Phương không kém. Ca khúc Uống Nước Bên Bờ Suối là một ca khúc viết tại Đà Lạt. Cho dù không có một chữ “Đà Lạt” nào trong lời ca, Uống Nước Bên Bờ Suối là một trong những ca khúc hiếm hoi ghi lại vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ Đà Lạt, với núi rừng, với dòng suối còn in những dấu chân nai:

Bạn đang sao chép nội dung của nhacxua.vn. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn nhacxua.vn kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense
Lê Uyên Phương là một hiện tượng âm nhạc của Miền Nam Việt Nam, nổi lên vào khoảng cuối thập niên 60, đầu thập niên 70. Vào thời đó, nền âm nhạc đa dạng, nhiều màu sắc của Sài Gòn còn có những tên tuổi khác cũng nổi tiếng không kém như Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An… Tuy nhiên, đối với nhiều người yêu nhạc – đặc biệt là giới trẻ – Lê Uyên Phương là một dòng nhạc rất riêng biệt, không thể lẫn lộn với bất cứ một tác giả, một ca sĩ nào khác. Một phong cách sáng tác, một phong cách trình diễn không thể sao chép. Vào thời đó, với một cây guitar thùng, với những tình khúc viết cho chính mình, với một phong cách hát đam mê mãnh liệt “như loài thú xa nhau”, cặp tình nhân Lê Uyên Phương đến từ Đà Lạt đã chinh phục trọn vẹn trái tim của giới sinh viên Sài Gòn, qua những buổi trình diễn tại các sân khấu trường đại học. Sau đó mới đến các sân khấu, phòng trà. Nhắc đến Lê Uyên Phương, khán giả sẽ nhắc ngay đến những ca khúc tiêu biểu nhất: Vũng Lầy Của Chúng Ta, Cho Lần Cuối, Tình Khúc Cho Em, Dạ Khúc Cho Tình Nhân. Rất nhiều người lớn lên trong Miền Nam trước 1975 đều biết hát những bài này. Tuy nhiên, Lê Uyên Phương còn nhiều tình khúc khác cũng đặc sắc, mang nét đẹp riêng của Lê Uyên Phương không kém. Ca khúc Uống Nước Bên Bờ Suối là một ca khúc viết tại Đà Lạt. Cho dù không có một chữ “Đà Lạt” nào trong lời ca, Uống Nước Bên Bờ Suối là một trong những ca khúc hiếm hoi ghi lại vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ Đà Lạt, với núi rừng, với dòng suối còn in những dấu chân nai:

Bạn đang sao chép nội dung của nhacxua.vn. Nếu sử dụng cho blog cá nhân, vui lòng ghi rõ nguồn nhacxua.vn kèm theo link bài viết. Nếu là website, kênh truyền thông hoặc liên quan đến thương mại, vui lòng liên hệ trước để được đồng ý. Mọi hình thức vi phạm bản quyền nội dung để kiếm tiền thông qua MMO đều sẽ bị report đến Facebook và Adsense
Xem thêm...

Ông Tô Văn Lai và di sản Thúy Nga Paris By Night

Ông Tô Văn Lai và di sản

Thúy Nga Paris By Night

Ông Tô Văn Lai (1937-2022)

Bà Marie Tô (Tô Ngọc Thủy) – con gái của Giáo Sư Tô Văn Lai, người sáng lập Trung Tâm Thúy Nga và chương trình ca nhạc nổi tiếng hải ngoại “Thúy Nga Paris By Night” cho biết ông Tô Văn Lai vừa qua đời lúc 11 giờ 5 phút sáng Thứ Ba, 19 Tháng Bảy.

“Ba ơi! Ba đi gặp Tonton Lam Phương nhé. Con THƯƠNG Ba… Con rất hãnh diện con là con gái của Giáo Sư Tô Văn Lai. Tạ Ơn Chúa đã rước Ba đi thật bình yên. Amen.” (Facebook Marie To)

Nhắc đến Thuý Nga – Paris By Night (PBN) là nhắc đến những đại nhạc hội mang tầm vóc quốc tế với dàn nghệ sĩ tham dự không dưới 100 người cho mỗi chương trình. Đó là 132 chương trình (tính đến Tháng Giêng 2022) được lên kịch bản kỹ lưỡng, chọn lọc ý nghĩa từng chủ đề. Mỗi một chương trình của Thuý Nga – PBN là một trang kiến thức đời sống, lịch sử, văn hoá, nghệ thuật. Phía sau tất những điều đó là một chặng đường dài đầy tâm huyết, rực lửa đam mê nghệ thuật, thấm sâu tình và nghĩa dành cho “người ra đi và người ở lại” của một gia đình họ Tô, từ Sài Gòn đến Paris, rồi đến thủ phủ của người Việt tỵ nạn – Little Saigon, California.

50 năm trước

Năm 1972, có một cửa hàng nhỏ bán băng nhạc được mở bên trong thương xá Tam Đa (Crystal Palace) ở khu Nguyễn Trung Trực – Công Lý và Lê Lợi. Người vợ phụ trách việc giao tiếp với khách, trông coi gian hàng, quản lý số lượng sản phẩm băng đĩa. Người chồng đảm nhiệm đối ngoại, làm việc với các nghệ sĩ, phòng thu. Ngoài những vở tuồng cải lương, Thúy Nga – tên của cửa hiệu – cũng sản xuất một số băng cassette với các danh ca Sài Gòn thời đó, như Thái Thanh Selection, Tiếng Hát Thanh Tuyền, Ngô Thụy Miên, Tiếng Hát Khánh Ly 5, Tiếu Vương Hội 1,2,3, Tuồng Cải Lương Má Hồng Phận Bạc… Cuốn băng đầu tiên do Thuý Nga sản xuất và phát hành là Thanh Tuyền 1 – Tiếng Hát Thanh Tuyền thu dưới dạng băng cối.

Chủ cửa hàng là vợ chồng ông Tô Văn Lai và bà Nguyễn Thị Thuý. Cửa hàng băng nhạc Thuý Nga đó chính là tiền thân của Trung Tâm Thuý Nga – Paris By Night hiện tại  – một di sản văn hoá nghệ thuật của cộng đồng người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Đây cũng là lý do bà Nguyễn Thị Thuý được mọi người biết đến với cái tên bà Thuý Nga.

Ông bà Tô Văn Lai và Nguyễn Thị Thuý. Ảnh: Tô Ngọc Thuỷ

“Ai ở Sài Gòn thời đó đều biết cửa hàng của ba má tôi trong thương xá Tam Đa, cạnh nước mía Viễn Đông, gần cửa hàng của chú Ngọc Chánh. Gian hàng của chú Phạm Mạnh Cương thì ở trên lầu. Trong thương xá đó còn có nhiều cửa hàng băng nhạc khác,” bà Tô Ngọc Thuỷ (Marie Tô), con gái ông bà Tô Văn Lai nhớ lại vào một buổi trưa mùa Hè từ California.

Một trong những băng cassette do ông Tô Văn Lai sản xuất khi
còn tiệm Thuý Nga ở thương xá Tam Đa. Ảnh: Tô Ngọc Thuỷ.

Sau biến cố 1975, hàng loạt văn nhân nghệ sĩ của miền Nam bị ngược đãi bằng những năm tháng tù đày. Tác phẩm văn học, âm nhạc, những tinh thoa thời đó bị từ chối bằng cách đốt bỏ. Tất cả những gì liên quan đến “chế độ cũ” đều bị khai tử. Cửa hàng băng nhạc Thuý Nga cũng không tránh khỏi.

Tháng Mười năm 1976, do bà Nguyễn Thuý Nga mang quốc tịch Pháp nên gia đình ông bà cùng hai người con là trưởng nữ Tô Ngọc Thuỷ, trưởng nam Tô Ngọc Kim sang Pháp theo diện công dân hồi hương. Gia tài ông Lai mang về Pháp lúc đó khoảng $2,000 và toàn bộ tài liệu liên quan đến văn hóa, nghệ thuật từ thời Việt Nam Cộng Hòa. Cả gia đình ông sống trong một chung cư dành cho người Pháp hồi hương tại Oissel – một thành phố nhỏ gần Rouen, cách thủ đô Paris 200 km.

Ông Tô Văn Lai và hai người con là Tô Ngọc Thuỷ và Tô Ngọc Kim
Gia đình ông Tô Văn Lai tại phi trường Bangkok Thailand vàoTháng Mười 1976
trong chuyến về Pháp theo diện  hồi tịch của bà Thuý Nga. Ảnh: Tô Ngọc Thuỷ.

Hai năm sau, Tháng Hai năm 1979, ông bà Tô Văn Lai quản lý một cây xăng ở thành phố Bondy, ngoại ô Paris theo hình thức nhượng quyền (franchise). Cả gia đình ông bà chủ cửa hàng băng nhạc Thuý Nga bắt đầu xây dựng sự nghiệp ở Pháp từ đó. Nhờ cây xăng này mà gia đình ông có nguồn tài chánh để về sau lập nên trung tâm Thúy Nga trên đất Paris.

Ông Tô Văn Lai rất giỏi tiếng Pháp. Bà Tô Ngọc Thuỷ cho biết, ông thi đỗ bằng Thành Chung (Diplôme, tức là bằng tốt nghiệp Trung học Pháp). Sau đó ông theo ngành Sư phạm, dạy về Triết ở trường trung học Lê Ngọc Hân, Mỹ Tho. Với vốn kiến thức và khả năng Pháp ngữ như tiếng mẹ đẻ, cộng thêm tình yêu dành cho âm nhạc, nghệ thuật chưa bao giờ ngừng chảy trong huyết mạch, ông Lai và vợ quyết định tái hiện cửa hàng băng nhạc Thuý Nga của Sài Gòn trên đất Pháp.

Ông Tô Văn Lai thời trẻ

Nói là làm. Năm 1981, tiệm băng nhạc Thúy Nga ra đời ở số 45, Boulevard Saint-Germain-des-Prés thuộc Quận 5 trong thành phố Paris. Vẫn nếp nhà ngày xưa, hằng ngày bà Thuý Nga trông coi tiệm. Ông Lai lo “đối ngoại” và phát triển nội dung. Cửa hàng bán các băng cassette sang lại từ các băng nhạc đã phát hành trước năm 1975. Đây là cửa hàng băng đĩa nhạc đầu tiên của người Việt, do người Việt quản lý trên xứ Pháp, tại con đường văn hoá danh tiếng của nước Pháp. Đại lộ Boulevard Saint-Germain-des-Prés chính là nơi danh hoạ Picasso bày bán tranh vẽ thời chưa được nhiều người biết đến.

Gian hàng TN tại hội chợ Tết tại Houston cuối thập niên 80. Ảnh: Tô Ngọc Thuỷ

Ông Tô Văn Lai rất hài lòng về quyết định chọn Boulevard Saint-Germain-des-Prés làm “nguyên quán” cho Thuý Nga Paris. Ông cho rằng mở được cửa hiệu này là một “phép lạ của Thiên Chúa”, một vinh dự cho người Việt tỵ nạn. Rất nhiều tên tuổi ca sĩ nhạc sĩ lừng lẫy của Sài Gòn trước 1975 như nhạc sĩ Lam Phương, ca sĩ Hương Lan, ca sĩ Ngọc Hải, nhà tổ chức ca nhạc Hà Phong, ca sĩ Bạch Yến, ca sĩ Thanh Mai… đến chung vui ngày khai trương tiệm Thúy Nga Paris.

Một góc nhỏ của Thương xá Tam Đa nói riêng và văn hoá nghệ thuật của miền Nam nói chung đã hồi sinh ở Paris từ lúc đó.

Cuốn băng Paris By Night số 1

Năm 1983, ông Tô Văn Lai gom góp tất cả tiền dành dụm từ cửa hàng Thuý Nga Paris để thực hiện một “cú hit” cho làng văn nghệ hải ngoại. Ông bà Tô Văn Lai vốn chỉ quen thuộc với audio từ trong nước, về video thì thật sự họ chưa có kinh nghiệm gì. Do đó, ông tìm đến công ty sản xuất Euromedia nhờ giúp đỡ. Khả năng nói tiếng Pháp lưu loát đã giúp ông thuyết phục được chủ của công ty Euromedia.

Bà Tô Ngọc Thuỷ không bao giờ quên lịch sử ra đời của cuốn băng ca nhạc Paris By Night 1 (tên thật là Paris By Night). Bà kể:

“Chúng tôi may mắn lúc đó gặp được những người có tấm lòng như ông bà chủ của Euromedia. Ông bà theo đạo Tin Lành. Ba tôi cầm một số tiền đến gặp ông bà chủ, nói rằng ông muốn làm một cuốn băng video ca nhạc để lưu giữ văn hoá nghệ thuật nước Việt, mà ông chỉ có bấy nhiêu thôi, có thể giúp ông không… Ông bà chủ thấy ba tôi là một dân tộc thiểu số ở nước Pháp, có lòng với nguồn gốc dân tộc nên ông bà nhận lời giúp đỡ.”

Paris By Night #1 có 11 ca khúc, không có người dẫn chương trình, do ông John Pierre Barry đạo diễn, ông Tô Văn Lai là Giám đốc sản xuất, được thực hiện bằng cách thu hình ngoại cảnh rồi biên tập và phát hành dưới dạng băng VHS.

Paris By Night #1

Từ khi cửa hàng Thuý Nga Paris ra đời ở Pháp, gia đình ông Tô Văn Lai bắt đầu sản xuất nhiều băng video cải lương, chẳng hạn tuồng Tuyệt Tình Ca (Thúy Nga Video #1), Lương Sơn Bá & Chúc Anh Đài, Khi Hoa Anh Đào Nở, Cho Trọn Cuộc Tình… Những sản phẩm đó có sự góp mặt của nhiều tài tử cải lương như Hữu Phước, Hương Lan, Hoàng Long, Phượng Mai… Thêm nữa, vốn đã nổi tiếng với cửa hàng Thuý Nga ở Sài Gòn, ông Tô Văn Lai không gặp khó khăn gì trong việc qui tụ ca sĩ cho Paris By Night 1.

Cuốn băng hoàn thành và được gửi sang Mỹ thì “như một chuyện chấn động vì nó là video ca nhạc đầu tiên của người Việt hải ngoại.” Như đã nói, sản phẩm này là tất cả gia tài gom góp lại của gia đình ông Tô Văn Lai, nên khi phát hành, việc thu lại vốn là một khó khăn không nhỏ. Mãi cho đến ba năm sau, năm 1986, trung tâm Thúy Nga mới có đủ khả năng để cho ra đời Paris By Night 2. Bắt đầu năm 1987 thì đều đặn mỗi năm, trung tâm cho ra đời một sản phẩm nghệ thuật Thuý Nga Paris By Night.

Đến năm 1985, thời điểm bắt đầu có nhiều người Việt đến Pháp tỵ nạn, ông Tô Văn Lai quyết định dời Thuý Nga Paris về địa chỉ 44 Avenue d’Ivry thuộc Quận 13, nơi đang hình thành một cộng đồng người Việt hải ngoại. Đây là thời điểm đánh dấu con đường sáng tạo không ngừng nghỉ của Trung Tâm Thuý Nga Paris By Night với các chương trình đại nhạc hội bao gồm ca múa, nhạc kịch.

Năm 1989, cả gia đình ông bà Tô Văn Lai rời nước Pháp để đến Mỹ, mở trung tâm Thúy Nga ở Bolsa Ave, Westminster, đánh dấu một chặng đường mới ở một nơi được mệnh danh là “cái nôi của người Việt tỵ nạn.” Cuốn băng video ca nhạc Paris By Night số 24 (10th Anniversary) ra mắt năm 1993, là cuốn băng đại nhạc hội đầu tiên của Trung Tâm Thuý Nga thực hiện ở Hoa Kỳ, kỷ niệm 10 năm thành lập Trung Tâm Thuý Nga – PBN.

Người tạo ra ảnh hưởng lớn

Không thể phủ nhận ông Tô Văn Lai là người có ảnh hưởng lớn đến tất cả chương trình đại nhạc hội Thuý Nga – PBN. Được làm việc bên cạnh ông từ cuốn băng Paris By Night đầu tiên, bà Tô Ngọc Thuỷ nói chính ông là người lựa chọn các ca khúc: “Má của tôi thì lo về vấn đề thương mại. Ba tôi làm việc với các ca sĩ, nhạc sĩ. Dù lúc đó tôi còn trẻ nhưng đã được ngồi cạnh ông để cùng làm việc với đạo diễn, phòng thu.”

Ông Tô Văn Lai không chỉ là người yêu âm nhạc thuần tuý mà ông còn là một người yêu nước. Tình yêu của ông dành cho Sài Gòn và quê hương Việt Nam luôn cháy bỏng trong những năm tháng ở Pháp. Ông ấm ủ hoài bão về một ngày Mẹ Việt Nam yêu dấu được tự do. Tình yêu đó ông vo tròn gửi vào những tác phẩm Paris By Night. Chủ đề của các chương trình Thuý Nga Paris By Night là những tên gọi vang lên từ trong sâu thẳm tâm tư của ông.

Đó là Giã Biệt Sài Gòn (Thúy Nga Video #10); Giọt Nước Mắt Cho Việt Nam (Thúy Nga Video #13); Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi (Thúy Nga Video #16); Mùa Xuân Nào Ta Về (Thúy Nga Video #32); Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương (Paris By Night 49); Cây Đa Bến Cũ (Paris By Night 59); Huế – Sài Gòn – Hà Nội (Paris By Night 91)…

Tình yêu to lớn với quê hương cùng với nỗi khao khát gìn giữ không cho văn hoá Việt Nam bị tước đoạt lần thứ hai của ông Tô Văn Lai thuyết phục được nhiều nhân sĩ của miền Nam Việt Nam cùng góp sức. Bà Tô Ngọc Thuỷ kể, từ khi kịch bản của Thuý Nga PBN có MC, thì ông có chủ ý mời những người không chỉ đã nổi tiếng mà quan trọng là chọn những người có kiến thức về văn học, nghệ thuật và cả những vấn đề thời sự diễn ra xung quanh.

Với mục đích đó, ông đã mời những người như ca sĩ Joe Marcel, MC Ngọc Phu, Trần Quang Trạch, nhà báo Lê Văn (VOA), nhà báo Đỗ Văn (BBC), nghệ sĩ La Thoại Tân làm người điều hợp chương trình.

Đầu thập niên 1990, ông gửi một số cuốn băng VHS các chương trình Paris By Night cho nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn lúc đó đang định cư tại Toronto, Canada. Ông kèm theo một lá thư ngỏ ý muốn nhà văn cộng tác với Trung Tâm Thúy Nga làm MC trong các chương trình Paris By Night. Vì lý do cá nhân, mãi đến vài năm sau, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn mới nhận lời xuất hiện trong chương trình Paris By Night 17, thu hình tại Paris. Từ năm 1992, Nguyễn Ngọc Ngạn trở thành MC độc quyền cho các chương trình Paris By Night, cùng với Nguyễn Cao Kỳ Duyên trở thành một “signature” của Thuý Nga – PBN.

Bà Tô Ngọc Thuỷ (Marie Tô) và phu quân là ông Huỳnh Thi (Paul Huỳnh). Ảnh: Tô Ngọc Thuỷ

Ngay cả khi chính thức lùi về hậu trường (năm 1990), trao lại Trung Tâm Thuý Nga cho vợ chồng bà Tô Ngọc Thuỷ và ông Huỳnh Thi, ông Tô Văn Lai vẫn dõi theo sát sao, đóng góp, sửa chữa những nội dung chưa đúng về ý nghĩa.

Bà Thuỷ nói “ông muốn tất cả, dù là một chi tiết nhỏ cũng không thể làm qua loa, phải đúng và ý nghĩa.”

Một người trọn vẹn ân tình

Bà Marie Tô nói dù ông là giáo sư Triết nhưng trong con người ông là một dòng chảy không ngừng của âm nhạc. Yêu âm nhạc, nên ông yêu và quí trọng cả người viết nhạc. Chính ông là người gửi lời mời đến các nhạc sĩ hoặc chủ động tìm đến họ, dù họ sống tại hải ngoại hay đang ở Việt Nam, để mời họ cộng tác những chương trình Paris By Night với chủ đề vinh danh dòng nhạc của các nhạc sĩ đó. Loạt chương trình “Tác giả và Tác phẩm” của Thuý Nga PBN là một chứng minh cho tấm lòng của ông Tô Văn Lai. Có thể kể như Phạm Duy (PBN 19 và 30); Ngô Thuỵ Miên (PBN 21 và 66); Lam Phương (PBN 22, 28, 88 và 66)… và rất nhiều nữa.

Ông Tô Văn Lai và nhạc sĩ Phạm Duy

Đáng quí hơn là ông Tô Văn Lai không bao giờ quên những nhạc sĩ còn kẹt lại trong nước sau biến cố 1975. Bà Tô Ngọc Thuỷ kể, khi nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 và nhạc sĩ Thanh Sơn sang Mỹ để cùng thực hiện PBN 83, bà và cha của mình đã tổ chức những chương trình ca nhạc để giúp hai nhạc sĩ về nước có cuộc sống tốt hơn.

Một câu chuyện khác được kể lại, năm 2006, ông Tô Văn Lai về Việt Nam tìm gặp nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Khi đó nhạc sĩ đang mở tiệm tạp hoá để sinh nhai. Ông Lai mong muốn thực hiện một chương trình PBN vinh danh nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông – cựu Đại tá Quân lực VNCH. Tuy nhiên, vì vài lý do, kịch bản đã không thể thực hiện với sự hiện diện của nhạc sĩ. Cho đến khi nhạc sĩ qua đời năm 2018, ông Lai đã hoãn lại dự án kỷ niệm Hành Trình 35 năm của Thuý Nga PBN để thực hiện Paris By Night 125 – Chiều Mưa Biên Giới với kịch bản của 12 năm trước, tưởng niệm và tri ân nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.

Ông Tô Văn Lai thăm nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông trong một lần về nước.

Sống trọn vẹn ân tình với nhân thế bao nhiêu thì ông Tô Văn Lai cũng sống trọn vẹn với đức tin vào Thiên Chúa bấy nhiêu. Ông là người rất ngoan đạo và có đức tin rất mạnh. Chính đức tin đó đã giúp ông một lần vượt qua cơn bạo bệnh. Ông hay nói “một sợi tóc rơi xuống cũng là thánh ý.” Vì vậy khi bệnh trở nặng lần hai và phải vào ICU, ông điềm nhiên đón nhận, tâm niệm rằng “dù có chuyện gì xảy ra cũng xin phó thác vào Thiên Chúa.”

Mong muốn cuối đời

Hành trình 50 năm của Thuý Nga – Paris By Night là nhiệt huyết chưa bao giờ cạn, là sáng tạo không ngừng của ekip nhiều thế hệ, nhiều màu da. Từ cuốn băng VHS đầu tiên cho đến những DVD, đĩa Blu-ray, các chương trình Thuý Nga PBN là nơi hội tụ hầu như tất cả điểm son của miền Nam một thời, là nơi lưu giữ và kết nối văn hoá nghệ thuật đời trước với đời sau, là nơi tưởng nhớ – tri ân tác giả và tác phẩm, là nơi giữ gìn tiếng Việt, như lời ông Tô Văn Lai từng nói.

 

Những ngày tháng cuối cùng trong hành trình cuộc đời của mình, dẫu vẫn mong muốn Thuý Nga Paris By Night mãi trường tồn, nhưng “ba tôi rất thực tế” – đó là lời bà Tô Ngọc Thuỷ nói khi được hỏi về lời nhắn nhủ của ông Tô Văn Lai.

Bà Thuỷ thuật lại chia sẻ của ông: “Làm văn nghệ ở xứ người, thêm nữa là một dân tộc thiểu số, thị trường rất nhỏ. Ông nói mình làm văn nghệ nhưng mình vẫn phải có một nghề khác. Ông nói, để duy trì Thuý Nga, ông muốn gia đình mở một cửa hiệu bánh. Đợt ngã bệnh lần trước vào ICU, ông viết ngoằn ngoèo lên một tờ giấy cho con gái út của tôi là ‘Ông ngoại muốn con mở bakery’ để nuôi ba mẹ là chúng tôi đây.”

Sau 50 năm, từ cửa hiệu bán băng nhạc Thuý Nga trong Thương xá Tam Đa cho đến Trung Tâm Thuý Nga Paris By Night, Thuý Nga – PBN từ lâu không còn là tên gọi riêng nữa mà đã trở thành một danh từ chung để nói về một di sản văn hoá của cộng đồng người Việt hải ngoại khắp thế giới cũng như giá trị của việc giữ gìn di sản ấy.

_______

Tô Văn Lai – một cuộc đời và một sự nghiệp

-Ông Tô Văn Lai chào đời ngày 11 Tháng Năm 1937 tại Bình Hòa, Gia Định; tên Thánh là Peter.

-Năm 18 tuổi, ông thi đỗ bằng Thành Chung (Diplôme, tức bằng tốt nghiệp Trung học Pháp). Sau đó dạy Triết ở trường Trung học Lê Ngọc Hân, Mỹ Tho.

-Năm 1972, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thuý mở gian hàng Thúy Nga bán băng nhạc, bên trong thương xá Tam Đa (Crystal Palace).

-Tháng Mười 1976, gia đình sang Pháp.

-Tháng Hai 1979, ông mở một cây xăng ở thành phố Bondy, ngoại ô Paris.

-Năm 1981, ông mở tiệm băng nhạc Thúy Nga ở số 45, Boulevard Saint-Germain-des-Prés thuộc Quận 5, Paris.

-Năm 1985, tiệm dời về 44 Avenue d’Ivry, Quận 13, Paris.

-Năm 1983, cuốn Thuý Nga Paris By Night đầu tiên (Paris By Night #1) ra đời.

-Năm 1986, cuốn Paris By Night #2.

-Năm 1987, cuốn Paris By Night #3.

-Năm 1989, gia đình rời Pháp sang Mỹ định cư.

-Năm 1990, ông lui vào hậu trường, trao lại Trung Tâm Thuý Nga cho vợ chồng con gái là bà Tô Ngọc Thủy (Marie Tô) và phu quân là ông Huỳnh Thi (Paul Huỳnh).

-Năm 1993, cuốn video ca nhạc Paris By Night số 24 (10th Anniversary) là số đầu tiên thực hiện ở Hoa Kỳ.

-Năm 2000, ông Tô Văn Lai cho ra đời Tạp chí Văn nghệ. Số báo 46 năm 2015 là số cuối cùng.

-Ngày 19 Tháng Bảy 2022, ông Tô Văn Lai được Chúa gọi về, hưởng thọ 85 tuổi.

-------------

BB Ngô (SGN)

Kim Quy sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này