Ban Chấp Hành

Ban Chấp Hành

Buổi Trình Diễn Áo Dài Truyền Thống của HAVN-Houston

Buổi Trình Diễn Áo Dài Truyền Thống

của Hội Ảnh Việt Nam - Houston

 

.✿•• .✿•.•❤•.✿•.✿•

Theo thông lệ tốt đẹp từ nhiều năm, cứ gần đến Tết Nguyên Đán, Hội Ảnh Việt Nam Houston lại tổ chức sinh hoạt triển lãm tranh của các hội viên. Hội Ảnh Việt Nam Houston được thành lập cách đây 26 năm và đây là lần thứ 20 Hội tổ chức triển lãm nhiếp ảnh nghệ thuật tại khuôn viên Hong Kong City Mall, một trung tâm mua bán lớn nhất của cộng đồng người Việt tại thành phố Houston. Lồng trong những sinh hoạt nghệ thuật là buổi trình diễn thời trang áo dài truyền thống Việt Nam do quý hội viên, quý thân nhân và thân hữu đảm trách. Kim Phượng may mắn được sánh vai cùng các chị em khác hiện diện trong buổi trình diễn này.
 
Xin kính gởi Diễn Đàn GNST vài hình ảnh do anh Trần Đào Khôi ghi lại.
 
Xin cám ơn chị Hồng Vân đã giúp thực hiện 1 video clip rất công phu và đầy nghệ thuật.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 
 

 

Tà áo em bay bay bay bay trong gió nhẹ nhàng.
Tà áo em bay bay bay bay trên phố dịu dàng.
Áo bay trên đường như mây xuống phố,
áo tung sân trường tựa cánh chim câu.
Đẹp xiết bao, quê hương cho ta chiếc áo nhiệm màu.
Dù ở đâu, Paris, Luân Đôn hay ở những miền xa.
Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố,
sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó ... em ơi!
Tung bay tà áo tung bay, xôn xao một trời nắng đỏ.
Tung bay tà áo tung bay, áng mây trắng đầu ngọn gió.
Tung bay tà áo tung bay, tím biếc những chiều hoàng hôn,
Tung bay tà áo tung bay xanh xanh đồng cỏ quê hương.
Ta nghe từng bước chân em, xôn xao đường về phố nhỏ.
Tung bay tà áo thân quen, cánh chim vẫy chào ngọn gió.
Ta nghe từ trái tim em tiếng hát ngập tràn yêu thương.
Mai đây dù có đi xa trong tim là cả quê hương
 
Từ Huy - Thanh Tùng
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 

Hoa Đào Ngoài Đời Và Trong Thi Ca Phạm Thị Nhung

Hoa Đào Ngoài Đời Và Trong Thi Ca

 Phạm Thị Nhung

 

Mùa xuân ở nước Việt ta, nhất là vào dịp Tết Nguyên Đán, là lúc muôn hoa rộ nở, hồng tía khoe tươi. Giống như hoa mai vàng ở miền Trung và miền Nam, hoa đào màu hồng thắm ở miền Bắc nổi bật giữa các loài hoa và được chưng bày khắp mọi nhà, nó tạo cho ngày Tết một màu sắc, một phong vị đặc biệt, và nghiễm nhiên trở thành loại hoa Tết chính thống của dân tộc. 

Tục lệ chơi hoa đào ngày Tết ở xứ Bắc đã có từ lâu đời, vì chẳng những hoa đào có màu hồng rực rỡ là màu "hỉ tín", rất phù hợp với không khí vui tươi, tràn trề hy vọng của những ngày đầu năm mới mà người xưa còn tin là cây đào trị được ma quỉ. Tích xưa kể rằng, dưới gốc cây đào già nơi núi Độ Sóc có hai vị thần Trà và thần Lũy cư ngụ, họ giữ trọng trách cai quản đàn qủi, qủi nào làm hại dân gian thì ra tay trừng phạt ngay. Mỗi khi Tết đến, lợi dụng cơ hội các vị hành khiển trông nom việc dưới thế phải lên chầu trời để trình tấu mọi việc thế gian, bọn quỷ liền ra quấy phá. Do đó, vào dịp này người ta thường trưng một cành đào trong nhà, để bọn quỷ tưởng là nơi hai vị thần Trà thần Lũy trấn giữ, sợ, không dám bén mảng. 

Ở ven đô Hà Nội, phía Tây Bắc Hồ Tây là làng Nhật Tân, nổi tiếng về nghề trồng bích đào và đào phai.

 

Trước năm 1954, tám mươi phần trăm dân làng ở đây chuyên nghề trồng đào, họ khai khẩn đến gần trăm mẫu đất, trồng hàng vạn cây đào mới đủ cung ứng nhu cầu thị hiếu chơi hoa đào vào dịp Tết của dân Hà thành. 

Loại bích đào hoa to, mỗi cụm chỉ độ dăm bông, mỗi bông có 12 hay 14 cánh nhưng cũng có loại 32 cánh (loại bông kép), loại này ít trồng vì không mấy được ưa chuộng. Cánh hoa bích đào dầy, màu hồng thắm, xếp thành nhiều lớp, nhị vàng tua tủa; lá có hình mũi mác, màu xanh biếc, cành thì vươn thẳng. Bích đào là loại hoa đẹp nhất, hiếm, quí vì khó trồng và phải có thổ ngơi thích hợp.


Bích đào và đào phai (đào ăn quả) xưa lấy giống từ Trung Quốc. Theo các nhà khảo cổ học về cây cỏ thì người Trung Hoa biết trồng đào ít nhất từ bốn ngàn năm. Đào từ Trung Quốc truyền vào Trung Á (Asie Centrale), vào Ba Tư (Perse tức Iran). Một thế kỷ trước công nguyên, ông Alexandre Le Grand mang giống đào từ xứ Perse vào Rome và mãi đến thế kỷ XVII, cây đào mới được du nhập vào Mỹ Châu. Các nhà thực vật học đầu tiên tưởng Perse là quê hương của đào, nên đặt cho nó cái tên khoa học là Prunus persica. Sau người ta biết là nhầm nhưng đã quen gọi lâu đời nên vẫn để nguyên tên đó., thay vì phải đổi là Prunus sinensis, họ Rosacées. 

Ở Việt Nam ta từ thời xa xưa đã biết trồng đào phai để ăn quả, loại này cánh hoa mỏng, thưa, màu hồng nhạt, còn lá thì màu xanh nõn. Đào phai dễ trồng và sức sống của nó rất mạnh. Thị trấn Sa Pa thuộc vùng Hoàng Liên Sơn là xứ sở của đào phai. Dân làng Nhật Tân mua cây đào phai còn non về trồng, một năm sau cây đủ mạnh, họ sử dụng làm gốc ghép. Trước tháng 11, họ cắt một nhánh bích đào ghép vào gốc cây đào phai, chờ đến Tết là họ có một cành đào bích tươi tốt đem bán. Mỗi năm mỗi gốc đào phai chỉ dùng ghép được một cành bích đào, thế nên gốc đào phai có bao nhiêu mấu là cây đó bấy nhiêu tuổi.
Quê hương của bích đào và đào phai là Trung Quốc, nhưng quê hương của hoa anh đào lại là nước Nhật Bản. Người Nhật gọi hoa Anh Đào là "quốc hoa", tức là loài hoa đại diện cho dân tộc của họ. Nước Nhật còn được mệnh danh là "xứ hoa anh đào", vì hoa anh đào dược trồng khắp nơi trên dải đất Phù Tang, nhất là ở những vùng đồi núi hẻo lánh, nơi có những ngôi chùa cổ kính. Nhìn từ xa người ta chỉ thấy mái chùa ẩn hiện thấp thoáng dưới những lùm đào cổ thụ um tùm. Mỗi độ xuân về, hoa nở hồng ngát cả một phương trời, tạo cho chốn thiền môn một vẻ thanh tịnh, nhuốm đầy đạo vị. 

Năm 1912, Nhật Bản gửi tặng Hoa Kỳ 3.000 cây anh đào, gồm nhiều loại khác nhau, nhưng hai loại chính là Yoshimo và Kwanzan. Những cây này phần lớn đem trồng dọc hai bên bờ sông Potomac tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Kể từ năm 1934, nhà cầm quyền nơi đây cũng bắt chước dân Nhật mở Hội Hoa Anh Ðào. Nhưng thay vì đi dạo ngắm hoa, ngồi thiền trà hay ca hát dưới hoa thì ở Mỹ người ta tổ chức các cuộc diễn hành, thi xe hoa và có các ban nhạc từ các tiểu bang khắp nước gửi về tham dự. 

Hoa đào mỗi năm nở sớm hay muộn tuỳ theo thời tiết, người ta phải đoán trước để định ngày lễ hội cho đúng dịp hoa nở. Năm nào chẳng may gặp những trận mưa đá hay mưa tuyết bất thường làm hoa tàn tạ sớm thì đám người dự hội chỉ còn nước ngắm cảnh cành trơ với những cánh hoa tan tác bên đường. 

Đầu thế kỷ XX, Nhật Bản cũng đã gửi tặng nước Pháp nhiều cây anh đào. Số cây anh đào trồng tại Jardin des plantes tuy chỉ vài chục cây nhưng có đủ loại, từ loại cánh hoa đơn dến cánh hoa kép, có hương hay không hương, mầu trắng phớt hồng đến hồng đậm rồi tới đỏ thẫm.

hoa-anh-dao-dep-21
Riêng tại vườn đào trong Parc de Sceaux, hiện đếm được 147 cây, những cây cổ thụ trồng từ đầu thế kỷ nay còn lại độ một phần ba, những cây chết được thay thế ngay bằng những cây mới nên tới mùa hoa, vườn hoa anh đào bao giờ cũng xum xuê. Tất cả những cây đào trồng ở đây đều thuộc loại anh đào, cây cao chừng 3-4 mét có hoa mọc thành chùm, cánh hoa mỏng như lụa , màu phấn hồng ngọt ngào. Tới mùa, hoa nở chi chít, ngọn lả xuống tận mặt đất, trông như những lẵng hoa thiên nhiên khổng lồ đặt trên nền thảm cỏ non, xanh mướt. Ngồi từ dưới gốc cây nhìn lên thấy cả một trời hoa lồng lộng, nhìn ra tứ phía, một màu hồng bát ngát bao phủ khắp không gian. Đúng là cảnh Thiên Ðàng hạ giới! 

Kiếp hoa đào thật mỏng manh, từ lúc hoa nở đến lúc hoa tàn chỉ trong khoảng ba ngày ngắn ngủi, cả mùa hoa cũng chỉ kéo dài được ba tuần. Từ đầu tháng tư dương lịch, những đoá hoa khai mùa bắt đầu nở đến hết tuần thứ ba là những cánh hoa cuối mùa rụng hết. Nhưng dù ở thời điểm nào, vườn đào vẫn có một vẻ hấp dẫn riêng. Tươi mát, mơ màng khi những nụ hoa đầu tiên vừa chúm chím môi cười sau bao ngày im lìm trong băng giá. Tưng bừng, rực rỡ khi cả ngàn hoa rộ nở. Man mác, nên thơ khi những cánh hoa rơi bay tơi tả khắp không gian rồi trải thảm trên nền cỏ biếc. 



Phải chăng vì màu hoa đào thắm tươi, nồng nàn, quyến rũ, hay vì kiếp hoa đào mỏng manh bạc mệnh; hay vì vườn hoa đào đẹp một cách thanh thoát, thần tiên v.v… đã khiến gây được nhiều mỹ cảm cho người đời, nhiều thi hứng cho các tao nhân mặc khách? Chẳng thế trong kho tàng thi ca phong phú của Nhật Bản, của Trung Hoa cũng như của Việt Nam đã không hiếm những áng thơ văn tuyệt mỹ, những trang tình sử diễm lệ có liên quan tớí hoa đào. 

Nước Nhật, ai cũng biết, có một đường lối giáo dục nghiêm khắc, một quân đội hùng mạnh, can cường, từng đi chinh phục được nhiều dân tộc trên thế giới, vậy mà dân họ lại có một cái nhìn rất bi quan về kiếp người khi đem cuộc đời ngắn ngủi của hoa đào ra so sánh, như hai câu thơ tiêu biểu dưới đây: 


- Anh đào nở ba ngày đã rụng 
Khác chi người một kiếp phù du.

Trong một bản dân ca Nhật Bản đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc và chế lời Việt, cũng mang một quan niệm yếm thế không kém: 

- Rượu nồng ta uống, uống, uống say một đêm ngất ngây 
Thả hồn theo gió heo may, đến hôn hoa, những cánh hoa anh đào say 
Nhạc nghe xa vắng những tiếng buồn, đường tơ héo hon, đường tơ héo hon 
Chạy theo ánh sáng lung linh, ánh trăng thanh đến mơn man cuộc tình trinh. 
Trời xuân man mác những mối sầu, tình theo gió mau 
Cánh hoa tươi tốt không lâu, một đêm nào sẽ rớt mau về đời sau. 
Rượu nồng ta uống choáng cõi đời để quên nắng phai, để quên nắng phai 
Đời người mỏng quá đi thôi, hỡi ai ơi hãy quên đi, rượu đầy vơi...

hoa-anh-dao-dep-20

 Trong khi đó, người Trung Hoa và người Việt Nam lại có cái nhìn rất phong phú và yêu đời về hoa đào, về cây đào. 
Người Trung Hoa xưa ví nhân tài như cây đào, cây mận. Địch Nhân Kiệt làm Tể Tướng đời Đường, thu dụng được nhiều nhân tài nên có người bảo "cây đào, cây lý trong nước ở cả cửa tướng công". 

Nói về thi ca Trung Hoa, kinh thi, tập thơ dân gian cổ nhất của họ, do đức Khổng Tử san định khoảng giữa thế kỷ thứ sáu trước công nguyên, mục Chu nam, thơ Ðào Yêu có câu: 

- Đào chi yêu yêu 
Chước chước kỳ hoa 
Chi tử vu qui 
Nghi kỳ thất gia.
........... 
Nghĩa là: 

- Mơn mởn đào tơ 
Rực rỡ nở hoa 
Cô nàng lấy chồng 
Êm ấm cửa nhà.

Ở đây, cây đào non đã được ví với người thiếu nữ trẻ trung đến tuổi dậy thì, tuổi lấy chồng. 

Trong Tả truyện, chương thập tứ niên, hoa đào lại được biểu hiệu cho người phụ nữ có nhan sắc diễm lệ. 
Truyện kể, nàng Tức Vỉ, vợ Tức Hầu đời Xuân Thu, có sắc đẹp tuyệt trần. Sở Văn Vương mê nàng tìm cách diệt Tức Hầu rồi đem nàng về phong làm phu nhân. 

Tức Vỉ chẳng những có dáng hình tha thướt, yểu điệu mà đặc biệt hai má lúc nào cũng đỏ au như cánh hoa đào, vì thế nàng được người đương thời tặng cho biệt danh "Đào Hoa Phu Nhân". 

Bài Đào Nguyên ký của Đào Tiềm cho hay: Vào đời Tấn (245-419) có người thuyền chài ở Vũ Lăng, một hôm chèo thuyền đi ngược dòng suối, thấy có nhiều hoa đào trôi theo dòng nước đổ xuống, sau lạc vào nơi trồng cơ man là cây đào, ở đây người ta sống rất an vui hạnh phúc. Sau đó, chữ "động đào", hay "đào nguyên", hay "nguồn đào" được dùng chỉ nơi tiên ở.

hoa-anh-dao-dep-1
Trong huyền thoại Trung Hoa có nói đến vườn đào của Tây Vương Mẫu ở thiên giới. Nơi đây, hoa nở quanh năm, trái đủ bốn mùa. Ai được ăn trái đào tiên này sẽ trường sinh bất lão (truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân cũng có nhắc tới). 
Bởi vậy, ta thường thấy trong những bức tranh hay tượng tam đa, (hình ba ông Phúc-Lộc-Thọ) ông Thọ bao giờ trên tay cũng cầm trái đào, còn trong tranh Tết thì hình thằng bé mũm mĩm, giang tay ôm trái đào tiên khổng lồ vào lòng, là có ý chúc trường thọ. 

Còn về chuyện ái tình thì không thể không nhắc tới giai thoại Hoa Ðào Thôi Hộ, vì hoa đào ở đây đã làm nền cho một câu chuyện tình lãng mạn nhất trong văn chương thi phú Trung Hoa. 
Thôi Hộ, một danh sĩ đời Đường (618-907), nhân dự hội Đạp Thanh, chàng lạc bước đến Đào Hoa Thôn rồi ghé vào Đào Hoa Trang gõ cổng xin nước giải khát. Một thiếu nữ ra mở cổng, rụt rè đưa nước cho chàng. Nàng rất đẹp, vẻ mặt e lệ, hai má đỏ hây như càng đỏ hơn dưới bóng cây hoa đào. Chàng cũng ngượng ngập, đỡ bát nuớc uống rồi vội vã từ giã ra về. 

Nhớ người, nhớ cảnh, năm sau đến ngày hội xuân, Thôi Hộ háo hức trở lại Đào Hoa Trang, nhưng nơi đây cửa đóng then cài, người xưa vắng bóng, chỉ có ngàn hoa đào vẫn rực rỡ đang mỉm cười trước gió đông. Quá xúc cảm, chàng đã phóng bút đề bài thơ tứ tuyệt trên cổng nhà nàng:

- Khứ niên, kim nhật, thử môn trung 
Nhân diện, đào hoa tương ánh hồng 
Nhân diện bất tri hà xứ khứ 
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Dịch: 

- Cửa này, năm ngoái, cũng hôm nay 
Mặt ngọc hoa đào, ánh đỏ hây 
Mặt ngọc đi đâu mà chẳng biết 
Hoa đào năm ngoái vẫn cười tươi.


Xế chiều, người thiếu nữ và thân phụ đi viếng chùa xa trở về, chợt nhìn thấy mấy câu thơ trên cổng, nét bút bay bướm, tình ý nồng nàn thì nàng đoán ngay của khách du xuân năm ngoái, lòng xiết bao cảm động. Từ đó ngày ngày nàng có ý ngóng trông... Nhưng hết mùa hoa đào này đến mùa hoa đào khác trôi qua, ai kia vẫn bặt vô âm tín. 
Hoàn toàn tuyệt vọng, người thiếu nữ sầu khổ, bỏ ăn quên ngủ, dung nhan mỗi ngày một tiều tuỵ võ vàng. Thân phụ nàng hết lòng tìm thầy cứu chữa, nhưng vô hiệu vì: 

- Nhược hữu lương y viên tuyệt mạng 
Tùng lai vô dược liệu tương tư.

(Ví có thầy giỏi cứu được mạng sống con người 
Nhưng chưa từng có thuốc chữa được bệnh tương tư)

Rồi tới một mùa hoa đào sau đó vài năm, biết không thể sống nổi, người thiếu nữ thú thật tâm sự cùng cha già và xin cha tha cho tội bất hiếu. 
Nhìn con gái đang hấp hối trên giường bệnh, xót con nóng lòng, ông lão chạy vội xuống đường mong tìm cho ra người đề thơ trên cổng đến nỗi đâm bổ vào một chàng văn nhân. Nhìn nét mặt lão hốt hoảng, nước mắt đầm đìa, chàng hỏi cớ sự, hiểu ra liền oà lên khóc và thú nhận mình chính là Thôi Hộ, kẻ đã đề thơ thuở nào. Ông lão mừng rỡ, cuống quít kéo chàng vào nhà… thì cũng vừa lúc người thiếu nữ trút hơi thở cuối cùng. 
Quá thương cảm, Thôi Hộ quì xuống bên giường, cầm lấy tay nàng, áp mặt vào mặt nàng, nức nở khóc. Kỳ lạ thay, nước mắt chàng Thôi vừa nhỏ xuống mặt người thiếu nữ thì nàng từ từ mở mắt, sống lại. 
Sau đó, chuyện gì phải đến đã đến và thiên tình sử Hoa Đào Thôi Hộ đã khép lạ ở đây, nhưng dư âm của nó vang vọng mãi đến muôn đời sau.


Riêng ở nước ta, hoa đào đã đi vào lịch sử, ngôn ngữ hàng ngày và thi ca một cách đậm đà ý vị. 
Về lịch sử, vào Tết Kỷ Dậu (1789), Vua Quang Trung sau khi đem đoàn quân tốc chiến từ Nam ra Bắc, đại phá được 20 vạn quân Thanh xâm lược, liền sai quân sĩ chọn lấy một cành bích đào đẹp nhất Thăng Long, cho ngựa phi gấp mang vào Phú Xuân để tặng Công Chúa Ngọc Hân, thay cho thiếp báo tin mừng chiến thắng. 

Trong ngôn ngữ hàng ngày thi - màu đào, dùng để tả màu hồng thắm hay đỏ tươi như: má đào, lụa đào, cờ đào, máu đào 

Qua thi ca, thành ngữ

- "đào tơ mơn mởn" chỉ người thiếu nữ đang tuổi dậy thì, có vẻ đẹp tươi mát, đầy sức sống

- "Liễu yếu đào tơ" chỉ người thiếu nữ có vẻ đẹp yểu điệu mảnh mai

- "Số đào hoa" là số có duyên, được nhiều người khác phái ưa thích

- ‘Kiếp đào hoa’ cũng như ‘Số hoa đào‘, nói như Nguyễn Du trong truyện Kiều: ‘Chém cha cái số hoa đào Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi’ (c.2151-2152) chỉ số phận hẩm hiu, bạc mệnh của kiếp gái giang hồ. 

Tục ngữ:

- "Một giọt máu đào, hơn ao nước lã" ý nói, bà con có chung một huyết thống, dầu xa nhưng còn hơn người dưng.v.v... 

Trong truỵện cổ tích Từ Thức, động Bích Đào ở xã Trị Nội, huyện Nga Sơn, gần núi Thần Phù, là di tích một câu chuyện thần tiên. Tích xưa kể rằng, Từ Thức nguyên là Tri Huyện Tiên Du (Bắc Ninh), vào ngày hội hoa mẫu đơn tại ngôi chùa sở tại, chàng đã cởi áo khoác cầm cố để giải cứu cho người thiếu nữ chót đánh gãy cành hoa quý. 
Ít lâu sau, Từ Thức treo ấn từ quan, ngày ngày ngao du sơn thủy. Một hôm chàng chèo thuyền ngoài cửa bể Thần Phù, ghé vào bờ núi đề thơ rồi lạc đến một động tiên, chàng được phu nhân tiên chủ gả con gái yêu là Giáng Hương cho, để đền cái ơn đã cứu nàng thuở nào.

hoa-anh-dao-dep-23

 Sống ở Đào Nguyên tuy vui sướng nhởn nhơ nhưng Từ Thức không nguôi lòng nhớ cố hương, bèn xin trở về. Biết không thể lưu giữ được lâu hơn, phu nhân ban cho vân hạc đưa chàng về trần, còn Giáng Hương trước phút từ biệt, trao cho chàng một phong thư, dặn khi tới nhà hãy đọc. 

Từ Thức về đến quê, xiết bao bỡ ngỡ vì cảnh cũ đã hoàn toàn thay đổi mà người xưa cũng không còn. Chàng hỏi thăm ông già bà cả trong xóm thì có người cho biết, cụ tổ ba đời của ông ta tên là Từ Thức, đi vào núi không thấy về, nay đã trên 60 năm. 

Quá bơ vơ, lạc lõng, chàng Từ Thức tính quay lại níu lấy cánh hạc để trở về tiên động, nhưng cánh hạc đã bay vút trời cao. Chàng mở thư vợ ra xem mới hay ‘tình duyên trần tiên đã đoạn, muốn tìm lại động xưa chẳng còn được nữa’. 
Sau đó ít lâu, Từ Thức đi vào núi Hoành Sơn (gần Thanh Hoá), không thấy trở lại. 

Thi sĩ Tản Đà, giữa đầu thế kỷ XX, cảm hứng chuyện cũ, sáng tác nên bài từ khúc 

Tống Biệt: 

- "Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai 
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi 
Nửa năm tiên cảnh, 
Một bước trần ai 
Ước cũ, duyên thừa có thế thôi! 
Đá mòn, rêu nhạt 
Nước chảy, huê trôi. 
Cánh hạc bay lên vút tận trời 
Trời đất từ nay xa cách mãi. 
Cửa động đầu non, đường lối cũ 
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi."

Khác với bài hát Thiên Thai của Văn Cao, nhằm ca ngợi cảnh đẹp và hạnh phúc mà hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu trong truyện thần tiên Trung Hoa, được vui hưởng khi lạc tới Đào Nguyên đến quê cả đường về; sau hai chàng trở lại trần gian vẫn còn luyến tiếc mãi không thôi:



- Thiên Thai, chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian 
Có một mùa đào cùng ngày tháng chưa tàn phai một lần 
…… 
Đào Nguyên trước, Lưu Nguyễn quên đường về 
…… 
Nay tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?

Bài từ khúc của Tản Đà lại hướng về quê hương hạ giới, cốt làm nổi bật hai khía cạnh trong đời sống tâm lý muôn thuở của thế nhân: 
Con người ta sống ở nơi nào, dù được sung sướng đến đâu (như ở chốn thiên tiên) vẫn không thể quên được cố hương, và sẽ có ngày tìm về. 
Trái lại, dù được sống ở quê hương, nhưng một khi người xưa, cảnh cũ không còn, tất cả đã hoàn toàn đổi thay thì con người lại cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, ắt có ngày sẽ tính chuyện bỏ xứ ra đi. 

Lại như trong thi ca bác học cổ điển của ta, vì chịu ảnh hưởng văn học Trung Hoa nên các màu sắc, hình ảnh: màu đào, hoa đào... thường được sử dụng để tả nhan sắc của người phụ nữ (có tính cách ước lệ). Song chắc chắn chưa một tác phẩm nào lại ca ngợi sức quyến rũ phi thường của đôi má đào người đàn bà như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, sáng tác cuối thế kỷ XVIII:

- Áng đào kiểm đâm bông não chúng 
Khoé thu ba dợn sóng khuynh thành. 
Bóng gương lấp ló trong mành 
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa. (c.15-18)

- Má đào không thuốc mà say 
Nước kia muốn đổ, thành này muốn long. (c.167-168)

Đôi má đỏ au như hoa đào của người cung phi ở đây không phải bùa mê thuốc ngải mà có sức hấp dẫn mê hồn, có khả năng làm say đắm lòng người đến độ có nhiều vị trấn thành, trị quốc mê mệt tới sao lãng cả công vụ, đưa đến tình trạng mất thành mất nước như chơi.

 

Riêng Nguyễn Du, trong truyện Đoạn Trường Tân Thanh viết hồi đầu thế kỷ XIX, thì mượn cây đào làm bối cảnh cho cuộc tình của đôi tài tử giai nhân Kim Trọng - Thuý Kiều. 
Sau buổi được tao ngộ cùng Thúy Kiều trong ngày hội Đạp Thanh, Kim Trọng trở về không lúc nào quên được nàng. Chàng say mê Kiều đến độ giả danh du học, thuê hiên Lãm Thuý để mong có cơ hội gặp lại người tình trong mộng của mình. 
Cây đào ở cuối vườn nhà Kiều, bên kia tường là hiên Lãm Thúy, Kim Trọng ngày ngày ghé mắt nhìn sang. Lần đầu tiên Kim thoáng nhìn thấy Kiều dưới tàng cây đào: 

- Cách tường phải buổi êm trời 
Dưới đào dường có bóng người thướt tha.

Kim đã với được chiếc kim thoa của nàng vướng trên một cành đào: 

- Lần theo tường gấm dạo quanh 
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa 
Giơ tay với lấy về nhà.

Nhờ đó Kim Trọng đã được gặp lại Thuý Kiều. 
Nhân một hôm cha mẹ và hai em vắng nhà, Kiều khẽ hắng giọng làm hiệu gọi Kim cũng ở bên gốc cây đào này: 

- Cách hoa sẽ dặng tiếng vàng 
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông.

Thì ra Kim Trọng lúc nào cũng loanh quanh luẩn quẩn ở gần cây đào để chờ Kiều. 
Như thế, cây đào đã gắn liền với những kỷ niệm về mối tình đầu giữa Kim và Kiều. 
Sau nửa năm xa vắng (Kim phải về Liêu Dương thọ tang chú), Kim trở lại vườn Thúy, chàng thấy mọi vật đều đã đổi thay, riêng có cây đào năm xưa vẫn tưng bừng nở hoa như ngày nào, như muốn trêu ghẹo nỗi cô đơn của chàng.

Hình ảnh, hình nền hoa đào đẹp ngày tết

Tâm trạng Kim Trọng lúc này chẳng khác nào Thôi Hộ khi trở lại Đào Hoa Trang, không được gặp lại người thiếu nữ đã cho chàng bát nước giải khát trong ngày hội xuân năm trước. Thế nên, Nguyễn Du đã mượn ý hai câu thơ cuối trong bài tứ tuyệt của Thôi Hộ để tả cảnh ngộ và tâm trạng Kim Trọng: 

- Trước sau nào thấy bóng người 
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.

Có ai ngờ câu chuyện tình Hoa Đào Thôi Hộ vẫn còn để lại dư âm đến tận ngày nay? 
Vào mùa hoa đào năm 1991 tại Parc de Sceaux, nhìn thấy vườn đào rực rỡ với muôn ngàn đoá hoa đang lung linh trong nắng xuân hồng, chúng tôi lại nhớ đến khung cảnh thơ mộng trong cuộc tao ngộ giữa danh sĩ Thôi Hộ và người em gái Đào Hoa Trang thuở nào, lòng bỗng dạt dào cảm xúc. 
Thay vì thương cảm cho tình cảnh của chàng Thôi khi trở về chốn cũ không gặp lại người xưa như Nguyễn Du trong truyện Kiều, hay hầu hết các vị nam nhân khác mỗi khi nhắc đến câu chuyện tình thơ mộng này; chị em phụ nữ chúng tôi lại thường xót xa cho cảnh ngộ của người em gái Đào Hoa Trang, chỉ vì đôi lời thơ hoài cảm của ai kia mà mang lụy vào thân, đã bao tháng năm phải chờ đợi trong cô đơn, âm thầm, vô vọng… nên đã sáng tác nên mấy vần thơ, thác lời Người Em Đào Hoa Trang để làm kỷ niệm.

- Trong vườn hoa đào rộ nở 
Lung linh dưới nắng xuân tươi 
Cô em má hồng ửng đỏ 
Chợt chàng Thôi Hộ ghé chơi. 

Bốn câu thơ viết theo thể phú, mô tả cộc tao ngộ giữa danh sĩ Thôi Hộ và người em gái Đào Hoa Trang. 

- Gặp nhau chỉ dám thoáng nhìn 
Sông chờ, bến hẹn tưởng nghìn kiếp xưa. 
Cổng ngoài có mỗi bài thơ 
Hoa đào vẫn nở, người mơ chẳng về.


Hai câu năm sáu, viết theo thể hứng; nhân cuộc gặp gỡ nẩy sinh tình yêu. Rồi dùng thể tỉ để diễn tả tâm tình người đẹp: 
Nàng vừa gặp chàng là bị trúng ngay tiếng sét ái tình. Nàng yêu liền và tưởng chừng hai người đã thương nhau, đã chờ đợi nhau từ nghìn kiếp trước, nay bất ngờ gặp lại hẳn sẽ không bao giờ còn lìa xa nữa. 
‘Sông chờ’, ‘bến hẹn’ dùng phép tỉ, vừa nhân cách hóa, vừa mượn hình ảnh thơ để diễn tả tình cảm tha thiết đợi chờ của hai kẻ yêu nhau, hay ít ra cũng có trong tưởng tượng, trong mơ ước của nàng. 
Hai câu kết, người em gái Đào Hoa Trang lộ vẻ đau đớn, vừa tủi thương cho mình, vừa hờn trách đối tượng. Tưởng chàng yêu nàng tha thiết thế nào, ngờ đâu chỉ vẻn vẹn có một bài thơ rồi bỏ đi chẳng một âm hao; trong khi tình yêu của nàng dành cho chàng là cả một niềm thủy chung như nhất, chẳng khác nào những bông hoa đào hàng năm vẫn nở mỗi độ gió đông về (gió đông tức gió xuân, vì mùa xuân mới có gió từ phương Đông thổi tới). 

Để kết thúc bài ‘Hoa Ðào Ngoài Ðời Và Trong Thi Ca’, chúng tôi xin tóm tắt như sau: 

Hoa đào là một thực tại, không ai có thể phủ nhận. Nhưng thực tại đó hiện hữu như thế nào còn tuỳ thuộc nhiều yếu tố, nhất là môi trường nó xuất hiện và cảm quan của người tiếp nhận. Như hoa đào tả chốn Bồng Lai thì người ta cho nó có vẻ đẹp xinh tươi, nở chốn thiền môn thì có vẻ đẹp thanh tịnh, xuất hiện trước mắt những kẻ đang yêu thì có vẻ đẹp rực rỡ, nồng nàn. Lại như khi đi qua một vườn hoa đào, có người thấy đẹp, cảm thấy rất an vui hạnh phúc, có người lại không. Như vậy đủ rõ, qua cái nhìn của mỗi cá nhân, thực tại không còn là thực tại mà đã được chuyển hoá. Có thể bị bi quan hoá như cái nhìn của người Nhật về hoa anh đào, nhưng thường là được thi vị hoá gấp năm, gấp mười lần, đặc biệt qua thi ca còn được thăng hoa gấp trăm, gấp ngàn lần, như bài thơ tứ tuyệt của Thôi Hộ, như bài hát Thiên Thai của Văn Cao v.v…

Nhận xét như vậy, chúng tôi không có ý gì khác hơn là tha thiết mời quí vị vào mỗi mùa hoa đào, khoảng đầu tuần thứ hai trong Tháng Tư, hãy nán chút thì giờ đi thăm vườn đào, để cả thân tâm mà tận hưởng tất cả các vẻ đẹp của nó. Này nhé, như thoạt nhìn từ xa, ta sẽ thấy màu hoa, rồi gần hơn, cây hoa, cành hoa, gần hơn nữa, cánh hoa, nhị hoa, và nếu biết nhìn một cách sâu sắc, chúng ta còn có thể thấy, chỉ một cánh hoa cũng đủ hàm chứa cả sự mầu nhiệm của vũ trụ, vì trong đó không những có sự hiện diện của ánh nắng mặt trời, ánh sáng trăng, sao mà còn cả gió, mưa, sương, tuyết, đất, nước, cả người làm vườn và nhất là sự hiện diện của chính chúng ta. Thực thế, nếu chúng ta không có ý thức về cánh hoa đó, thì nó đối với chúng ta như chưa từng hiện hữu, có cũng như không, nói chi đến sự mầu nhiệm kia.

Hoa đào quả là một ân sủng của Thượng Đế ban cho loài người… Vườn đào quả là một Thiên Đường mà chúng ta có thể tới được dễ dàng ngay trong cuộc sống hiện tại. Ít nhất cảnh đẹp tinh khiết, tươi thắm của vườn đào cũng làm cho ta mát mắt, tâm trí thư giãn; ngoài ra nó còn nuôi dưỡng tâm hồn trong sáng, tươi trẻ của chúng ta, và biết đâu còn gợi cho chúng ta nhiều cảm hứng, thi tứ, trên văn đàn Việt Nam, nhờ đó mà nảy sinh thêm biết bao kỳ hoa dị thảo? 

Phạm Thị Nhung Giáo sư Gia Long 

Tài liệu tham khảo: 

Bùi Sỹ Thành: Hoa Ðào Trong Truyện Kiều - Thuyết trình nhân dịp lễ Thánh Đản làng Hành Thiện, tháng 10 - 1991 tại Paris. 
Đào Duy Anh: Tự Điển Truyện Kiều, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1987. 
Nguyễn Tử Quang: Điển Hay Tích Lạ, Khai Trí xuất bản, Saigon1964. 
Đào Nhật Tân Hà Nội, Mai Vàng Huế, Phụ Nữ Diễn Đàn, Giai Phẩm Xuân Ất Hợi, số 131, California-1995 
Tìm Hiểu Phúc Âm: Hoa Anh Ðào, Văn Nghệ Tiền Phong số 274, California 1990. 
*** 
1- Thuyết trình văn hoá Tháng Tư 1999 do Câu Lạc Bộ Văn Hóa VN tổ chức, tại hội trường Thư Viện Diên Hồng, Paris 5. 
2- Thuyết trình văn hóa Ngày Đại Hội QuốcTế Y Nha Dược Sĩ Việt NamTự Do, Paris 30-7-2000, tại Hôtel Sofitel, Salon Auditorium, Paris 14. 

 Kim Phượng st

Tưởng nhớ Thầy Lưu Như Hải

Tưởng nhớ Thầy Lưu Như Hải

(1941-2018)

 Giáo Sư Lưu Như Hải

Thầy Hải theo học Trường Chu Văn An Hà Nội

Thầy Lưu Như Hải sinh năm 1941 tại Kiến An tỉnh Hải Phòng di cư vào nam 1954 ngày xưa học trường Chu Văn An Hà Nội.
Vào Nam dạy trường Sao Mai Đà Nẵng, Trường Trần Quý Cáp Hội An, Trường Nữ trung học Hồng Đức, Trường Kỹ thuật, Phan Chu Trinh, Nguyễn Công Trứ (tại Rạch Giá). Sau khi định cư tại Hoa Kỳ và làm trong bộ ngoại giao. 
 
Giáo Sư Lưu Như Hải dạy môn Sinh ngữ Anh Văn tại Trường Trung Tiểu Học Sao Mai Đà Nẵng là môn sinh ngữ chính của ban C từ lớp: 10C, 11C và 12C cho đến năm cuối cùng 1975 của thời VNCH .
 
Sau năm 1990 định cư, Thầy thường tham gia những buổi họp mặt của Trường Sao Mai và Thầy cũng về thăm lại những người bạn giáo sư tại Đà Nẵng một thời cùng giảng dạy tại trường SM. 
Dưới đây là những hình ảnh Thầy trò hội ngộ mừng vui bên xứ người:
 
 
 Thầy trò Sao Mai hội ngộ tại California
 
 
Thầy trò hội ngộ tại Houston, TX (2013)
 
 
Chị Dư Ngọc Hạnh, Thanh Hương, Thầy Hải và Bố Mẹ chị Thanh Hương
 
  
 
Chị HV sang thăm Hoa Kỳ được gặp Thầy tại nhà anh chị Khôi & Kim Phượng
 
Thầy đánh đàn Accordion tại tư gia anh Khôi và KP
 
 
Hội ngộ Thầy Hải và Cô Phương tại Houston, Texas Oct. 2018
 
Hình nhận từ anh Kim Tiến ( HS Sao Mai ĐN)
 
Sau đây là những hình ảnh Thầy về VN thăm những Giáo Sư đồng môn và các học trò tại Đà Nẵng: (saomaidanang.com)

Kính thưa quý thầy cô và quý anh chị: Thầy Lưu Như Hải sau một thời gian gần hai mươi năm định cư ở Mỹ, đã trở về quê hương thăm gia đình ở Đà Nẵng đã có buổi gặp mặt với quý thầy cô và một số cựu học sinh Trung Học Sao Mai Đà Nẵng.

Đến dự buổi gặp mặt gồm có: 

-Thầy Nguyễn Đắc Lợi và phu nhân 
-Thầy Phan Thanh Kế và phu nhân 
-Thầy Nguyễn Văn Pháp và phu nhân 
-Thầy Ngô Khôn Liêu 
-Thầy Lê Văn Ngãi 
-Thầy Lê Nhưt Sanh 
-Thầy Tôn Thất Chân Tu 
-Thầy Phạm Xuân Tú 
-Thầy Lê Văn Thôi 
-Thầy Võ Văn Thông 
-Thầy Nguyễn Thanh Ngọc 

Ngoài ra anh chị Phạm Phú Thương từ Mỹ, chị Huỳnh Thị Tuyết Nhung ở Sài Gòn về thăm gia đình cũng đến tham dự buổi gặp mặt.

Trân trọng kính báo 
Phan Gia Hiền

 
(July 29, 2010)
 
 
 
 
 
 
  Anh Phan Gia Hiền và Thầy Hải   
 
                         Chị Khánh Hòa ( bên trái) và Thầy Hải
 
Sau những năm tháng Thầy sinh hoạt với trang web Góc Nhỏ Sân Trường, Thầy đã chia sẻ những bài viết mang nhiều kiến thức giáo dục dạy bảo cùng tâm tình của Thầy trò thật đáng kính mến. Trang GNST đăng nhiều bài của Thầy :
 

Nhân dịp Lễ Tạ Ơn (năm 2015), tôi hân hạnh gởi bài "Lời Cảm Ơn" đến Góc Nhỏ Sân Trường thân thương.

Cảm ơn tất cả quý anh chị em về tấm hảo tình đã dành cho tôi, một dư ảnh từ thời hoàng kim xa xưa ở các trường Sao Mai, Hồng Đức, Trần Quý Cáp, Ngô Đình Khôi (Đại Lộc), Nguyễn Dục (Tam Kỳ), và ĐHCĐ Quảng Đà...

Lưu Như Hải..." 

"Lời cảm ơn như một phép màu; người nói ra bày tỏ được lòng tri ân, người tiếp nhận cảm thấy vui hơn cả người nói ra; như vậy cuộc đời chẳng tươi đẹp hơn sao?"

 -Tiếng Việt tuyệt vời. Thầy Lưu Như Hải http://gocnhosantruong.com/doi-song-xa-hoi/vui-cuoi/1891-tieng-viet-tuyet-voi-tha%CC%80y-luu-nhu-ha%CC%89i

"..Thành ngữ "Chơi đẹp." Những nhóm chữ tương ứng (chưa hẳn là tương đương) trong tiếng Pháp "franc jeu" và tiếng Anh "fair play".

-Hồi ức: QUẢNG NAM ─ ĐÀ NẴNG: MỘT TRỜI HOA MỘNG  http://gocnhosantruong.com/chia-se/chia-vui/3428-chuc-mung-sinh-nhat-thay-luu-nhu-hai

"....Bây giờ Rewind cuốn phim đang xem, ngược dòng thời gian về mùa hè năm 1953 khi tôi được song thân cho về thăm Đà Nẵng lần đầu tiên bằng đường thủy. Từ Hà Nội chúng tôi đi xe taxi về Hải Phòng để đáp thương thuyền Ville de Hai Phong của hãng Pháp Denis Frères chạy tuyến Hải Phòng - Sài Gòn có ghé qua Đà Nẵng. Tàu thủy lớn nên không vào sông Hàn mà đậu ở phía ngoài cửa biển. Hành khách đi ca-nô vào, đậu ở bờ sông. Suốt chuyến hải hành đầu đời và trong thời gian nghỉ hè ở quê nội, chú bé tuổi choai-choai là tôi cứ như là đang nằm mơ trong một câu chuyện thần-tiên.

Đà Nẵng - Quảng Nam hiện ra trước mắt với cảnh sắc sơn thủy hữu tình. Nhìn ra khơi là đại dương trong xanh điểm xuyết bằng đôi ba con tàu sắt đang mê-man trên đường viễn-xứ; rải rác đó đây là những chiếc thuyền * với cánh buồm mê-hoặc gợi ra chuyện tình ngang trái Tristan và Iseult (Isolta). Đảo mắt vào đất liền thì không khỏi sững-sờ trước đỉnh núi Tiên Sa với huyền- thoại tiên giáng trần. Ngược dòng Hàn Giang với hậu cảnh Ngũ Hành Sơn, người đa cảm sẽ tưởng mình là đang trên đường đi vào chốn Thiên Thai!

 Nhờ vậy mà tôi được cả ba vị Hiệu-trưởng thâu-nhận, cho phụ-trách môn Toán ở một số lớp từ lớp Đệ Lục đến lớp Đệ Tứ. Vì ba ngôi trường ở ba địa-phương xa nhau cho nên tôi phải "chạy" quanh mà dạy ở mỗi nơi hơn hai ngày (kể cả ngày thứ bảy trong tuần), gần giống như các ca-sĩ "chạy show" sau này. Từ Đà Nẵng lên Đại Lộc tôi đi bằng xe gắn máy Goebel, và từ Đà Nẵng đi Tam Kỳ bằng xe lửa. Bắt đầu niên-khóa 1959-1960, trước hết tôi đến trình diện LM Hiệu-trưởng rồi Thầy Giám-học Phạm Ngọc Vinh ở trường Sao Mai. Thầy Giám-học đưa tôi đến lớp và ân-cần giới-thiệu với học-sinh.


Vào thời đó thì học-sinh chỉ thua các thầy cô trẻ vài ba tuổi cho nên tôi bị khớp sân-khấu (stage fright) mất mươi phút, mặc dù là đêm hôm trước tôi đã tập dượt kỹ-càng trước tấm gương soi để điều-chỉnh dung nhan mùa thu. Về phần môn-đệ thì trong "thủa ban đầu" các em quan-sát và lắng nghe rất kỹ để xem ông thầy "mới ra lò" biểu-diễn ra làm sao. Nếu theo đúng lời một vị giáo-sư đại-học mà tôi không nhớ qúy danh "Một thầy/cô giáo được coi là thành-công nếu trong suốt giờ học không có môn-sinh nào ngủ gục" thì tôi có thể tạm được coi là thành-công. May mắn là ở Đà Nẵng - Quảng Nam tôi chưa phát-hiện ra em nào ngủ gục trong giờ học của tôi cả. Một lần nữa tôi lại phục tôi quá.

Sau đó tôi đi Đại Lộc đến trường Bán công Ngô Đình Khôi trình-diện Thầy Hiệu-trưởng Trần Thuyên.  Thầy tiếp-đãi niềm-nở với tình-cảm đặc-biệt và cho tôi trú ngụ ngay tại trường sau giờ tan học. Ở gần trường là một quán cơm nhỏ mà bà chủ dáng nông-dân chân-chất, phúc- hậu, có một cô con gái học trong lớp tôi phụ-trách. Nghe con gái chào tôi là Thầy, bà dọn bữa cơm tươm tất, tính giá rất bình-dân so với gía cả ở Đà Nẵng. Tôi tế-nhị đưa thêm gọi là phụ tiền chợ, nhưng bà nhất định không nhận, mà còn nói rằng: “Các thầy cô từ xa về miền nông-thôn là quý rồi, đáng lẽ tôi không tính tiền mới phải. Cô con gái cũng nói thêm: “Thầy đừng ngại, gà và rau là nuôi, trồng trong vườn, lúa thì gặt ngoài ruộng đem về nhà xay, giã thành gạo, chỉ phải mua thịt heo ngoài chợ thôi.”
 

Tôi rất biết ơn gia-đình này cho nên thỉnh-thoảng mua vài thứ qùa ở Đà Nẵng đem lên tặng ông bà chủ. Tết Nguyên Đán năm đó, một cậu học-sinh lớp Đệ Tứ mà tôi biết rõ gia-cảnh rất khó-khăn, từ quê trên Đại Lộc về Đà Nẵng đến thăm tôi, đem theo một món quà rất đặc-biệt, ít ai có thể đoán ra: Đó là một ổ gà mái đẻ với con gà mẹ và mươi cái trứng con so!
 

Ôi, dân Quảng Nam chân-tình qúy-trọng thầy cô giáo theo một cách riêng rất độc-đáo!
 

Sau trường Đại Lộc, tôi đi vào Tam Kỳ trình-diện tại trường Bán-công Nguyễn Dục, nhưng rất tiếc không được diện kiến Thầy Hiệu-trưởng Lê Ấm vì Thầy ở Đà Nẵng, ít khi vào Tam Kỳ với lý do sức khỏe ở tuổi cao-niên. Ông Giám-học trung-niên tiếp tôi vui-vẻ rồi bàn giao ngay trong lớp Toán Đệ Tứ mà ông đang dạy cho tôi. Tôi còn nhớ bài học hôm đó là Đường Tròn Lượng Giác với Sin, Cosin, Tang, Cotang… Ông lịch-sự cáo lui để đi lo việc hành-chánh, sau khi nói nhỏ cho tôi biết lớp này có một trò quậy lắm, tên của cậu ta là …Sau khi vào lớp, tôi nhờ đúng trò quậy đó lên văn-phòng mượn giùm tôi cái com-pa to bằng gỗ để vẽ đường tròn trên bảng đen (hồi đó bảng còn sơn màu đen). Một lát sau, cậu ta về lớp cho tôi biết là không tìm ra cái com-pa. Tôi vẫn cảm ơn theo phép lịch-sự, rồi bắt đầu giờ Toán theo đúng trình-tự trong sách giáo-khoa.

Điều gay-go bây giờ là phải vẽ trên bảng đen một vòng tròn sao cho thật … tròn! Nghe qua có vẻ dễ vì ai cũng vẽ được vòng tròn huống hồ là thầy giáo dạy Toán. Có lẽ nhờ Tổ đãi, hoặc là ngáp phải ruồi cho nên tôi đột xuất (lại đột xuất) vẽ được một vòng tròn thiệt tròn hết ý đến nỗi chính tôi cũng phải phục tôi huống chi là các em học-sinh! Nhưng có một điều bí-mật mà các em không hiểu tại sao là suốt trong giờ học hôm đó tôi chỉ vẽ độc nhất có một đường tròn và chỉ một mà thôi:

Anh chỉ vẽ một đường tròn lượng giác
Anh cho em nên đã … thác rồi!   (Đã thác rồi làm sao mà vẽ thêm được nữa.)

 Vì qúa tin tưởng vào “thiên-tài” của sư-phụ cho nên các đệ-tử quên rằng nếu vẽ thêm thì thầy sẽ chỉ vẽ ra được hình qủa trứng gà!

Bây giờ Fast Forward đến thời-gian 1965-1975  khi tôi theo thứ-tự phục-vụ ở các trường Trung-học Trần Qúy Cáp, Hội An, đồng thời làm thêm ở trường Sao Mai (65-67), Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá (67-68), Hòa Vang và Sao Mai (69-74), Hồng Đức, Sao Mai và ĐHCĐ Quảng Đà (74-3/75) với một thời-gian gián-đoạn là đi lính (nói cho oai là Binh 2/Khóa-sinh Dự-bị Sĩ Quan [Trừ-bị] Khóa 8/68.) Trích trong :http://gocnhosantruong.com/chia-se/chia-vui/3428-chuc-mung-sinh-nhat-thay-luu-nhu-hai  (Hồi ức: QUẢNG NAM ─ ĐÀ NẴNG: MỘT TRỜI HOA MỘNG -Lưu Như Hải)"

-Thầy đã hoàn thành tác phẩm : CUỘC TÌNH THỜI CHIẾN TRANH đã được bán trên amazaon.com <http://amazaon.com> 
      
 http://www.amazon.com/Wartime-Love-Story-Lou-High/dp/1462639364

-Thầy cũng sáng tác nhiều nhạc phẩm:

-Ode to the Morning star. Sao Mai,Em và Tôi. Mùa Thu Năm Xưa và Dạ Khúc Trường Xưa.

 

  • ●▬▬▬▬▬▬▬▬▬●

 

 Ngày 31 tháng 12 năm 2018 Trang Góc Nhỏ Sân Trường đã nhận được hung tin :

Thầy Lưu Như Hải đã từ giã bạn bè đồng môn và các học trò thân thương để trở về cõi vĩnh hằng  

 

THÔNG BÁO TIN BUỒN:

GNST rất đau buồn nhận được hung tin Thầy Lưu Như Hải cựu Giáo Sư Trường Trung học Sao Mai Đà Nẵng vừa đột ngột từ trần. Theo em Hằng, thứ nữ của Thầy Lưu Như Hải tại Houston cho biết, Thầy và Cô dịp cuối năm tới Florida thăm gia đình trưởng nữ, tối ngày 31/12/2018 Thầy chợt lên cơn đau tim, xe cứu thương của 911 đưa gấp vào bệnh viện nhưng không kịp. Thầy đã qua đời tại bệnh viện. Linh cửu sẽ được chuyển về Houston trong vài ngày tới.

Xin hiệp lời cầu nguyện cho Thầy mau về chốn vĩnh hằng.
Mọi chi tiết BCH sẽ thông báo sau.

BCH-GNST

 

 ĐỒNG THÀNH KÍNH PHÂN ƯU

Trước sự mất mát lớn lao nầy chúng tôi BBT-GNST xin thành kính chia buồn cùng Tang Quyến Thầy Lưu Như Hải. Nguyện hương linh Thầy Lưu Như Hải sớm vãng sanh Phật Quốc.

Kính thưa Thầy Yêu Thương của chúng em - Trang Góc Nhỏ Sân Trường

Thế là chúng em phải xa Thầy mãi mãi rồi.Thầy ra đi bất ngờ làm chúng em cảm thấy hụt hẫng như mất đi một người thân yêu kính mến mà chúng em rất ngưỡng mộ.
Trong những năm qua,Thầy đã luôn đồng hành cùng trang Góc Nhỏ Sân Trường với những bài vở thú vị,những bài thơ dịch nhiều cảm xúc , những bản nhạc hay ...Một số anh chị GNST cũng có dịp được gặp gỡ Thầy với nhiều niềm vui thắm thiết nghĩa tình Thầy Trò.

Giờ đây chúng em chỉ còn biết thương nhớ , tìm lại những kỷ niệm với Thầy qua những chia sẻ yêu thương và từng tấm ảnh Thầy với học trò Sao Mai xưa.
Chúng em xin chân thành tri ân và cám ơn những đóng góp của Thầy cho trang GNST thêm phong phú.Chúng em cũng luôn nhớ về Người Thầy hiền lành,dễ mến,tài giỏi - Người Nghệ sĩ tài hoa với nụ cười ấm áp đàn giỏi hát hay của một thời ...

Thầy nghỉ ngơi thanh thản bình yên nhé!
Chúng em nguyện cầu Hương Linh Thầy được an nghỉ nơi Cõi Vĩnh Hằng.

VĨNH BIỆT THẦY
Góc Nhỏ Sân Trường

 

Trang Góc Nhỏ Sân Trường đã nhận những lời chia buồn từ trang web saomaidanang

cùng các anh chị học sinh Sao Mai và Thầy Tạ Quốc Bảo đồng thành kính phân ưu:

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Được tin buồn, Thầy Lưu Như Hải, Giáo Sư Anh Văn trường trung học Sao Mai Đà Nẵng đã từ trần ngày 31 tháng 12 năm 2018 tại Florida.

-GĐSM Thành Kính Phân Ưu cùng tang quyến! Nguyện xin cho Hương Hồn Thầy được an nghĩ nơi Cỏi Vĩnh Hằng.
GĐSM Đà Nẵng 

-Xin cho tôi gửi lời chia buồn này trong GNST; Đột ngột hay tin bạn ra đi, tôi rất buồn lại mất thêm một người bạn thân,vừa là đồng nghiệp, vừa là đồng môn ĐHSP . Chúc bạn sớm siêu thăng về Cõi Vĩnh Hằng .
Tạ Quốc Bảo (Cali.)


---------------

-Tin buồn đầu năm và cũng là tin quá bất ngờ đối với các học trò của Thầy Lưu Như Hải.
Xin nguyện cầu linh hồn Thầy sớm về chốn Vĩnh Hằng

Cám ơn BCH GNST đã đưa tin.
TuongVy (VN)


--------------------


-Thành kính phân ưu đển cùng gia quyến...thầy Lưu Như Hải.
Cảm tạ đã thông báo.
Lê Văn Phương (TX)

 

 Dưới đây là những hình ảnh ngày tang lễ Thầy Lưu Như Hải:

 

 Anh Trần Đào Khôi đang đọc bài Điếu văn

Bài Điếu văn của anh Trần Đào Khôi đại diện cho GNST:

Kính thưa quý Chư Tăng, kính thưa Cô Phương cùng tang quyến và kính thưa chư liệt vị,

Đại diện cho BCH và toàn thể 220 thành viên của Diễn Đàn GNST, tôi xin được gởi lời thành kính phân ưu tới tang quyến trước sự ra đi của thầy Lưu Như Hải.

Diễn Đàn GNST được thành lập vào tháng 12 năm 2012 tại Hoa Kỳ do một nhóm cựu học sinh Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng. Theo thời gian DĐ được mở rộng với sự tham gia của các Thầy Cô và các cựu học sinh từ nhiều trường, nhiều quốc gia khắp nơi trên thế giới. DĐ GNST đã được sự ưu ái đặc biệt với lòng thương mến và sự quan tâm nhiệt tình của người thầy kính yêu Lưu Như Hải từ những ngày đầu thành lập. Qua hơn 6 năm sinh hoạt, với những chia sẻ yêu thương của Thầy qua những bài viết mang tính giáo dục, nghệ thuật lẫn kiến thức, cũng như những tâm tình thầy trò, đã để lại nhiều dấu ấn và lòng cảm kích kính yêu nơi tất cả các thành viên,dù rằng có rất nhiều thành viên chưa từng được diễm phúc làm học trò của Thày.

Nhận được tin buồn Thầy đột ngột ra đi, cả DĐ đều bàng hoàng , đau xót.Thật là một mất mát lớn cho Cô Phương và tang quyến, cũng là mất mát lớn cho gia đình GNST chúng tôi. Xin được chia sẻ nỗi đau buồn thương tiếc của Cô và tang quyến.

Kính thưa thầy Lưu Như Hải,

Trước linh cửu của Thầy, đại diện cho tất cả các Thầy Cô và anh chị em của Gia Đình GNST, chúng em xin kính cẩn chào Thầy lần cuối. Từ đây chúng em không còn nhận được những lời dạy dỗ, những tâm tình thương mến từ Thầy trong DĐ, nhưng hình ảnh và tấm gương sáng ngời Thầy để lại sẽ luôn sống mãi trong chúng em.

Hợp ý cùng tang quyến và tất cả bằng hữu của Thầy kính mến, chúng em dâng lời nguyện cầu cho Hương Linh Thầy được an nghỉ nơi Cõi Vĩnh Hằng.

Xin Ơn Trên luôn an ủi , nâng đỡ cô Phương và tang quyến trước sự mất mát lớn lao này.

Kính chào vĩnh biệt Thầy kính yêu.

Thành Kính Phân Ưu cùng Cô Phương và tang quyến. 

 

Các học trò Sao Mai tiễn Thầy lần cuối

Học trò Sao Mai thắp nén nhang cầu nguyện Thầy an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng

Chị Thanh Hương và KP đưa tiễn Thầy 

 

Bài điếu văn của anh Phan Xuân Sinh : Anh Nguyễn Văn Ba đại diện cho Trường Sao Mai

Kính Thầy,

Chúng em là những môn sinh trường Sao Mai của Thầy từ ngày Thầy mới đỗ tú tài, môn dạy đầu tiên lúc đó là toán học, niên khoa đầu tiên cũng là năm trường mới bắt đầu khai giảng 1959, nghĩa là vừa đúng 60 năm. Sau vài năm Thầy mới vào trường đại học sư phạm Huế. Rồi Thầy trở lại trường với môn Anh văn. Nói thế để biết rằng 60 năm một chu kỳ của cuộc đời, dài thăm thẳm, biết bao nhiêu vật đổi sao dời, biết bao nhiêu thế hệ khác ra đời, và cũng biết bao nhiêu thế hệ khác ra đi nhưng hình ảnh người Thầy đáng kính của chúng em vẫn mãi mãi in sâu trong lòng chúng em.

Sau ngày 30.4.1975 học trò và Thầy có người gặp nhau ở trại cải tạo. Thầy vẫn là người đáng kính dù phải nhọc nhằn, khổ sở trước bạo quyền. Chúng ta nhìn nhau nhưng không giúp gì nhau được.

Sau năm 1990. Tại Hoa Kỳ Thầy trò gặp lại nhau lúc đó mái tóc của Thầy trò mình đã bạc trắng như nhau, Thầy vẫn còn phong cách chững chạc. Mỗi lần có dịp gặp nhau thày trò kể lại cho nhau nghe bao nhiêu chuyện cũ. Ở Đà Nẵng Thầy còn dậy các trường Nữ trung học Hồng Đức, Phan Chu Trinh, Nguyễn Công Trứ v..v.. Và ngoài Đà Nẵng Thầy còn dậy Trần Quý Cáp Hội An, Nguyễn Trung Trực Rạch giá các môn sinh của Thầy khá nhiều khá đông, biết tin Thầy ra đi hôm nay mọi người phải cúi đầu tưởng nhớ tới Thầy. Một người Thầy đáng kính và đáng trân trọng.

Một lần nữa trong giờ phút thiêng liêng này, chúng em đại diện cho học sinh của Thầy nói chung và trường Sao Mai nói riêng hân hạnh được chia tay với Thầy lần cuối. Kính chúc Thầy ra đi với lòng thanh thản nơi Chín Suối, được sự phù trợ của Chư Phật, được yên giấc trong vóng tay thương yêu của gia đình và người thân. Thầy vẫn sống mãi trong lòng các em.

Thay mặt cho những môn sinh của Thầy khắp nơi không có dịp chia tay Thầy. Thay mặt cho các chị học sinh trường Sao Mai kính cẩn nghiêng mình trước Linh cửu Thầy, nguyện cầu sự ra đi của Thầy được thanh thản, sớm tiêu diêu nơi miền Cực Lạc.

Nam mô A Di Đà Phật.

Vẫy tay vĩnh biệt Thầy

Các cựu học sinh Sao Mai

 

 ~~~~~~~

 

 Cám ơn chị Hồng Vân đã thực hiện một video cho Thầy Lưu Như Hải,

một tác phẩm giá trị cho tất cả học sinh Sao Mai

Lời nhạc hay, cảm động và hình ảnh người Thầy kính yêu. 

 

 

THƯƠNG NHỚ NGƯỜI THẦY KÍNH MẾN

LƯU NHƯ HẢI 

▬▬▬▬ BCH - GNST ▬▬▬▬

  Đồng Thành Kính Phân Ưu 

Theo dõi RSS này