Kim Quy

Kim Quy

Mít non kho với cá chuồn – Món ngon xứ Quảng

Mít non kho với cá chuồn

 Món ngon xứ Quảng

Con sông Thu Bồn ngược xuôi từ Cửa Đợi lên đến Hòn Kẽm, chở theo lời nhắn nhủ của hai miền dành cho nhau. Trải qua bao đời, món quà đã kết hợp tạo nên một món ăn đậm đà, đặc trưng của người dân xứ Quảng, đó là mít non kho với cá chuồn. Món ăn dân dã này đã đi vào trong thơ ca Việt Nam rất bình dị:

Ai về nhắn với bạn nguồn,
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên.

Từ xưa đến nay người dân xứ Quảng nói chung, bà con làng Bàn Lãnh, Gò Nổi – Điện Bàn nói riêng không lạ gì món ngon đặc sản này.

Trước hết nói về cây mít. Mít không chỉ có ở trên nguồn mà ngay ở làng Bàn Lãnh ít nhiều vườn nhà nào cũng có. Theo các cụ cao niên kể lại rằng, ngày xưa làng Bàn Lãnh vườn nhà nào cũng trồng mít, ít nhất cũng 5 – 7 cây, có vườn rộng thì trồng trên cả chục.

Mít không chỉ là cây để ăn quả chín mà mít còn là cây cứu đói của người dân nghèo trong làng. Bởi ngày xưa, tuy ruộng đất trong làng thì nhiều (286 mẫu), nhưng phần lớn đều trồng lúa gieo nên có năm được, có năm mất mùa. Năm được mùa cũng không đáng là bao, nhưng mất mùa thì lại thường xảy ra khi thời tiết nắng hạn kéo dài, chính vì vậy mà cây mít được mệnh danh là cây chống đói. Những gia đình nghèo, thiếu ăn thường dùng mít để qua bữa.

Các cụ còn cho biết thêm: Có nhiều cách chế biến từ mít để ăn trừ bữa như: mít vừa chín tới, bóc múi ra, lấy hột mít luộc chín, giã mịn rồi cho gia vị vào, sau đó độn vào trong múi mít, bắc nồi lên hấp, thế là có một món mít hấp thơm ngon, mà ông bà ta thường nói là “ngon hết chỗ chê”. Món thứ hai là mít trộn. Món ăn không cầu kỳ, đơn giản với mít non, tôm thịt nhưng lại đem đến một hương vị đậm đà của một vùng quê. Mới nhắc lại thôi đã thấy… thèm. Bởi đây là món khoái khẩu không chỉ của những bác nông dân biết uống rượu (nhậu), mà ngay cả giới trẻ kể cả thời xưa và nay đều háo hức khi rủ đi thưởng thức món ăn này.

Mít trộn đơn giản thôi, bởi nó rất dễ làm và không mất nhiều thời gian. Chọn những trái mít gai mịn đều, da nhẵn, bổ trái mít ra thành nhiều phần nhỏ, gọt vỏ, bỏ cùi, ngâm vào nước lạnh để mít ra bớt mủ và không bị thâm vì gió. Sau khi ngâm, mít được rửa sạch, đem luộc cho vừa chín tới, vớt ra để ráo và thái thành từng sợi nhỏ vừa ăn theo thớ mít, chỉ cần một ít dầu phụng khử lên xào với ít gia vị là được. Nhà nào khá giả thì trộn mít với tôm, thịt. Tôm rửa sạch, bỏ vỏ, ướp với một ít gia vị sau đó xào nhanh cho tôm chín. Thịt ba chỉ rửa sạch, luộc chín và thái sợi vừa ăn. Cho mít non, tôm, thịt vào thố trộn chung với rau răm, húng quế, húng lủi, lạc giã dập, nêm gia vị vừa ăn.

Khi ăn mít non trộn thì không thể thiếu bánh tráng.

Ăn mít trộn không thể thiếu bánh tráng nướng cùng chén nước mắm chanh tỏi ớt. Bẻ miếng bánh tráng, xúc một ít mít trộn, nêm với ít nước mắm và thưởng thức, món ăn thơm ngon, bánh tráng giòn rụm, mít non ngọt, bùi như thịt gà, các vị cay, mặn, ngọt hòa lẫn vào nhau làm cho món ăn thêm phần đậm đà và thi vị. Vị chát chát của mít non, vị bùi béo của đậu phụng và vị ngọt của tôm khô quyện vào nhau hòa với tiếng bánh tráng giòn rôm rốp ăn mãi đến quên thôi! Ngoài ra, còn có các món mít luộc chấm mắm, hoặc nấu canh mít cho vào ít lá é cũng là món ăn mà ngày xưa bà con làng ta coi đây là món ngon ra phết.

Trở lại với câu ca ngày xưa nói về “Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên”. Cá chuồn và mít non không mầu mè sang trọng, mà mộc mạc dân dã như tâm hồn người dân xứ Quảng. Cá chuồn có nhiều ở biển miền Trung. Thông thường cá được kho, chiên hoặc nấu canh. Thịt cá thơm, chắc, ngọt đậm đà. Khi nhìn vào mâm cơm xuất hiện đĩa cá chuồn là biết mùa hè đang tới. Vào mùa này, các chợ xứ Quảng tràn ngập cá chuồn.

Cá chuồn có thể ăn tươi hay phơi khô, vừa ngon, vừa rẻ. Hình dáng cá thuôn dài, lưng xanh, bụng trắng và dễ nhận nhất là nó có cặp cánh dài tới đuôi. Cá chuồn xanh tơi trên lưng có sọc vàng nhỏ xòe cánh, trong có những hình rẻ quạt vàng rực, loại này nhỏ nhưng thơm và béo hơn cá chuồn cổ.

Theo các bà, các mẹ nội trợ xưa kể lại: Cá chuồn tanh tanh kèm với vị chát chát của mủ mít tự nhiên thấy hài hòa. Thế nhưng, đâu phải ai cũng có được cái cơ may gặp cả mít non và cá chuồn tươi. Dân miền núi ngày trước thì sẵn mít đấy, nhưng muốn có cá chuồn thì cũng ba bốn ngày đường, giao thông cách trở mà. Và ngược lại, dân miền biển muốn có mít non, cũng lâu không kém. Vậy là, hai bên phải đợi nhau, phải trông chờ vào “ai về” nên cá thì ươn, mít thì héo. Tiếc nuối cái công vận chuyển mít xuống – cá lên, tiếc nuối cái nồi canh mơ ước không thành, người dân xứ Quảng đã sáng tạo ra một món ăn là mít non kho cá chuồn.

Để có cá chuồn kho với mít non, trước hết làm cá thật sạch, xắt khúc ướp gia vị gồm nén, nghệ tươi, hành tím, ớt trái, ít muối và vị tinh… Khử dầu với hành củ đập giập, cho cá vào lấy mùi và thêm nước liền sau đó. Kho đi một lượt, cho mít non héo xắt hình tam giác nhỏ bằng hai ngón tay, thêm ít nước và đun sôi đi, sôi lại. Khi mít nhừ, nước cạn, cho chút mỡ vào đun sôi lại ta có được nồi cá chuồn kho mít ngon tuyệt vời.

Ngoài món cá chuồn kho với mít non, còn có món cá chuồn chiên cũng ngon không kém. Cá chuồn sau khi làm sạch, xẻ dài cá theo sống lưng, dần xương sống cho mềm; giã củ nén, hành, tỏi, ớt, nghệ tươi, muối bột, gia vị… trộn chung với nước mắm ngon quết đều vào bụng cá, gấp đôi cá thành hình ếch ngồi, lấy lá chuối tươi tước sợi buộc cá lại rồi cho vào chảo chiên vàng, mùi thơm của nó lan tỏa khắp nơi.

Cá chuồn kho với mít non, tuy là một món ăn đơn giản nhưng ẩn chứa trong đó là nghĩa tình giữa miền xuôi và miền ngược. Thông điệp “gởi xuống – gởi lên” là cách để giao hảo với nhau, để lưu luyến một cái tình thể hiện qua một món ăn.

 

Phạm Trường Chiến

Thành phố Đà Nẵng

Hồng Anh sưu tầm

 

Đôi mắt người Sơn Tây

Đôi mắt người Sơn Tây

Thơ Quang Dũng- Nhạc Phạm Đình Chương

Bài thơ được Quang Dũng viết tặng cho người tình của ông, một kỹ nữ xinh đẹp. Chiến cuộc nổ ra, nàng lìa thành vào vùng kháng chiến, chàng thành quân nhân lên đường chống giặc như bao trai tráng thời tao loạn.

"Thương nhớ ơ hờ... thương nhớ ai. Sông xa từng lớp lớp mưa dài, mắt em... ơi mắt em xưa có sầu cô quạnh. Khi chớm thu về, khi chớm thu về một sớm mai…"

Hầu như ai cũng biết đây là sáng tác được Phạm Đình Chương phổ nhạc dựa trên lời thơ của Quang Dũng. Nhưng không mấy người yêu nhạc xưa có thể biết được những câu mở đầu trong bài hát trên là lời bài thơ “Đôi bờ” của thi nhân Quang Dũng.

Tôi dùng chữ thi nhân thay vì thi sĩ để gọi Quang Dũng giống như những sách biên khảo khác. Xưa nay, người ta gọi ông là thi nhân, bởi lẽ chất thơ trong Quang Dũng toát lên từ những việc đời thường chứ không riêng gì trong thi ca. Con người tài hoa ấy từng là chỉ huy một đơn vị trong kháng chiến chống Pháp và là nhà thơ trứ danh thời đó.

 

Bối cảnh bài thơ khoảng năm 1948, khi mà sự ly hương, tiêu thổ, hoang tàn vì cuộc chiến đã khiến cho "người em" phải lìa bỏ thành Sơn Tây. Cuộc lửa binh “Từ độ thu về hoang bóng giặc, điêu tàn thôi lại nối điêu tàn” khiến nhiều cuộc chia ly diễn ra để tác giả phải thốt lên: “Mẹ tôi em có gặp đâu không. Những xác già nua ngập cánh đồng”, “Tôi cũng có một thằng em nhỏ. Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông”... cho đến đất đá cũng phải “nhiều ngấn lệ” đau thương. 

 

Quang Dũng viết “Đôi mắt người Sơn Tây” để tặng cho người tình của ông, một kỹ nữ trước kháng chiến tên là Nhật, cô còn có mỹ danh khác là Akimi. Vào thời chưa có chiến tranh, khi những giá trị xưa cũ vẫn còn, thi nhân, nhạc sĩ có tình nhân như thế là chuyện thường.

Chiến cuộc nổ ra, nàng lìa thành vào vùng kháng chiến, trở thành một cô bán cafe như những bài hát trứ danh “Cô hàng cafe”, “Cô hàng nước”.... Còn chàng thành quân nhân lên đường chống giặc như bao trai tráng thời tao loạn.

“Tôi từ chinh chiến đã ra đi. Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì. Sông Đáy chậm nguồn qua phủ Quốc. Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay. Em vì chinh chiến thiếu quê hương. Sài Sơn, Bương Cấn mãi u buồn. Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm. Em có bao giờ, em có bao giờ, em thương nhớ... thương?”được.

Sông Đáy lững lờ chất chứa nỗi lòng quanh Phủ Quốc. Sài Sơn, Bương Cấn mãi u buồn trong tang thương, mây trắng xứ Đoài nay chỉ còn trong hoài niệm, chỉ là một thứ mây Tần gợi cho ta nhớ về cố hương xa vời.

Bài thơ "Đôi mắt người Sơn Tây" được Quang Dũng sáng tác vào năm 1948,

là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất thời đó.

Quang Dũng quê ở Sơn Tây, quê ngoại của Hoài Bắc Phạm Đình Chương cũng ở Sơn Tây. Vì thế, hai tâm hồn nghệ sĩ lớn đã tìm thấy sự đồng điệu trong thơ, nhạc. Bài hát “Đôi mắt người Sơn Tây” được Phạm Đình Chương phổ nhạc vào mùa thu năm 1970 tại phòng trà “Đêm màu hồng” (nổi tiếng ở Sài Gòn thời đó).

Đây là phòng trà do Phạm Đình Chương lập nên, nơi ông cùng ban nhạc Thăng Long huyền thoại trình diễn văn nghệ. Bài hát trên được ông phổ nhạc trong giai đoạn thứ hai của sự nghiệp âm nhạc. Cuộc chia tay với nữ tài danh Khánh Ngọc đã làm ông trở thành một con người khác, u uất hơn, tâm trạng hơn... 

Trước đây, khi mới khởi nghiệp, nhạc Phạm Đình Chương trong sáng bao nhiêu, ca từ đẹp đẽ yêu đời bấy nhiêu thì kể từ sau cuộc hôn nhân tan vỡ, nhạc của ông trầm tư, ca từ u uất lạ thường. Những tuyệt phẩm để đời trong giai đoạn này được ông sáng tác có thể kể như: "Nửa hồn thương đau", "Người đi qua đời tôi", "Đêm màu hồng", "Khi cuộc tình đã chết", "Dạ tâm khúc"... và "Đôi mắt người Sơn Tây" bất hủ.

 

Giai thoại kể rằng, có những đêm dưới ánh đèn màu mê hoặc của phòng trà “Đêm màu hồng”, trong cái đặc quánh của khói thuốc và hơi rượu mạnh, khi mà ngoài xa kia vẫn văng vẳng tiếng súng, tiếng đại bác... Thể theo lời yêu cầu của khách mộ điệu, Hoài Bắc (nghệ danh của Phạm Đình Chương) tay cầm ly rượu cất giọng ca u hoài trứ danh thì khán thính giả đều nín lặng trong tiếng nhạc hay tiếng lòng u uất của chính tác giả. Đó là những phút giây bất hủ của nghệ sĩ tài hoa, làm thành những giai thoại để đời của Hoài Bắc.

Bài thơ vốn dĩ đã hay lại được đặt trong khuôn nhạc tuyệt diệu của bậc thầy phù thủy phổ thơ trở thành tuyệt tác. Chỉ có những danh ca vào hàng tuyệt đỉnh với nội lực thượng thừa mới có thể trình bày bản này như Thái Thanh, Duy Trác, Tuấn Ngọc và chính Hoài Bắc.

Hãy nhìn vào nhạc phổ mới thấy câu “em có bao giờ, em có bao giờ, em thương nhớ… thương” được Phạm Đình Chương đặt nhạc tuyệt vời thế nào. Đây là câu khó hát nhất của ca khúc này, ngoài những danh ca kể trên chưa ai có thể hát thành công.

Phạm Đình Chương đã sáng tạo lời nhạc: “Em hãy cùng ta mơ, mơ một ngày đất mẹ, ngày bóng dáng quê hương đường hoa khô ráo lệ…” thay cho lời thơ gốc: “Tôi gửi niềm nhớ thương, em mang dùm tôi nhé. Ngày trở lại quê hương, khúc hoàn ca rớm lệ…”. Chiến cuộc dù có đau thương thì người nghệ sĩ vẫn hoài mong về một ngày thanh bình, ngày đó bóng dáng quê hương sẽ “khô ráo lệ” u hoài.

 

Thế rồi, một ngày chưa hết chiến tranh nhưng người tình Akimi của ông rời bỏ vùng kháng chiến để “dinh tê” về thành, bỏ lại nỗi u hoài cho người thi sĩ. "Dinh tê" vốn đọc từ chữ "Rentrer" (quay trở về) trong tiếng Pháp, dùng để chỉ người rời khỏi vùng kháng chiến về thành, tức vùng kiểm soát của Pháp.

"Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự, kinh thành em có nhớ ta chăng? Giăng giăng mưa bụi quanh phòng tuyến, hiu hắt chiều sông lạnh đất Tề…" (Đôi bờ). Quang Dũng buồn vì giờ đây hai đàng đã cách ngăn, nàng ở vùng Tề, còn chàng ở vùng kháng chiến. Tôi đoán người đẹp ấy có nét tựa như con gái xứ Phù Tang. Vì thế nét đẹp đó mãi mãi là "nàng thơ" trong các tác phẩm của Quang Dũng.

Mặc dù lời bài thơ "Đôi bờ" chỉ góp mặt trong nhạc phẩm "Đôi mắt người Sơn Tây" chỉ một khổ thơ đầu, nhưng để dẫn giải xung quanh "nàng thơ" của Quang Dũng thiết tưởng nêu lên những câu chuyện diễm tình kia kể cũng không thừa. Chỉ cách biệt nhau có một vùng giữa "thành" và "khu" mà như cách biệt nhau cả đôi bờ.

 

Rồi nàng vào Nam, lần này là cách biệt thật giữa hai đàng đất nước nhưng như xa cách cả đất trời. Để rồi đêm đêm chàng thi sĩ chỉ còn mơ bóng Akimi hiện về trong đáy cốc rượu để nói cười, để tâm sự cùng chàng. Thật hay là mộng? Mộng hay là thật? Chỉ thi sĩ biết mà thôi.

Bài thơ "Đôi mắt người Sơn Tây" được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc vào năm 1972.

Mùa thu 1970, khi cuộc chiến đã đi vào những khúc bi thương nhất, người ta chỉ có thể hoài niệm về những vùng đất xa xưa ở xứ Bắc, những chuyện tình của ngày thơ mộng cũ, nhưng lời ru êm xưa qua trí tưởng. Hoài Bắc cũng mộng tưởng như vậy. Lần lượt những xứ Đoài mây trắng, những Sông Đáy, những Phủ Quốc chầm chậm trôi qua trong trí tưởng, đem lại những giây phút êm đềm ngắn ngủi về một thời thanh bình quá vãng.

“Bao giờ tôi gặp em lần nữa, ngày ấy thanh bình chắc nở hoa. Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ, còn có bao giờ em nhớ ta…”. Đoạn ngâm này của Hoài Bắc mới tuyệt diệu làm sao. Đó là điểm nhấn trong suốt bản nhạc của ông. Thì ra, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù tang thương binh lửa, dù đớn đau bởi đời sống nội tâm... người nghệ sĩ cũng để dành một chỗ trang trọng, êm ái, bí mật và kín đáo cho nàng thơ của mình.

 

Phạm Đình Chương tự hỏi, sau những mất mát đau thương của chiến cuộc, rồi một ngày thanh bình, ngày mà những sắc hoa sẽ lại nở, liệu nàng có nhớ đến ta chăng? Đó cũng chính là lời tâm tình của thi nhân Quang Dũng.

Phụ nữ muôn đời là niềm cảm hứng bất tận của thi nhân, của nhạc sĩ. Cho dù đôi lần, người phụ nữ là liều độc dược làm tan nát cả trái tim nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Và "nàng thơ" cũng làm Quang Dũng xót xa khi nàng bỏ về thành và vào Nam.

Bên cạnh đó, chính người phụ nữ cũng là "thần dược" xoa dịu những vết thương đang nhức nhối. Độc dược và tiên dược ấy đôi khi tách biệt nhau, đôi khi hòa lẫn nhau để làm thành một thứ xúc tác thần kỳ tạo ra những tuyệt phẩm để đời. 

 

Ở đoạn cuối của bài hát có đoạn: “Đôi mắt người Sơn Tây, đôi mắt người Sơn Tây, buồn viễn xứ khôn khuây…”. Điệp từ “đôi mắt người Sơn Tây” được lặp lại hai lần với một nỗi u hoài man mác. Nhạc lúc này được cất lên cao vút, và người ca sĩ cũng xuất thần, xuất hồn theo bài hát.

Bài thơ ra đời vào thời kháng Pháp, bài nhạc được hoàn thành khoảng hơn hai mươi năm sau đó (năm 1970) và xuất bản vào năm 1972. Tác phẩm được trình bày hết sức trang nhã và đẹp mắt với nét chữ bay bướm.

Giờ đây, nhạc sĩ và thi nhân ắt hẳn đã tương ngộ nhau nơi miền miên viễn, có chăng còn lại cho đời là tuyệt phẩm "Đôi mắt người Sơn Tây" mà thôi...

 Nhạc sĩ Phạm Đình Chương

 

Nói đến nhạc sĩ Phạm Đình Chương là nói đến những nhạc phẩm tình ca lãng mạn được sáng tác từ thời tiền chiến cho đến bây giờ. Đa số nhạc phẩm do ông sáng tác được phổ từ thơ.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương là một tên tuổi lớn của nền âm nhạc Việt Nam. Nếu phải so sánh giữa Phạm Đình Chương với Phạm Duy, có lẽ cả hai đều  “kẻ tám lạng người nửa cân”, chỉ có điều Phạm Đình Chương không sáng tác nhạc đủ thể loại và theo kiểu “thị trường” như “Sức Mấy Mà Buồn”, “Bỏ Qua Đi Tám” hay nhạc Việt hóa v.v… mà Phạm Duy có sở trường. Phạm Đình Chương chỉ có một con đường để đi, là chọn con đường vì văn học nghệ thuật.

 

Chúng ta thử điểm qua những sáng tác tiêu biểu của Phạm Đình Chương từ trước đến nay :

– Hội trùng dương, Ly rượu mừng, Tiếng dân chài, Anh đi chiến dịch, Bên trời phiêu lãng, Đất lành, Đêm cuối cùng, Đến trường, Định mệnh buồn, Đón xuân, Ra đi khi trời vừa sáng (viết với Phạm Duy), Đợi chờ (viết với Nhật Bằng), Được mùa, Hò leo núi, Khi cuộc tình đã chết, Khúc giao duyên, Kiếp Cuội già, Lá thư mùa xuân, Lá thư người chiến sĩ, Mỗi độ xuân về, Mười thương, Nhớ bạn tri âm, Sáng rừng, Ta ở trời tây, Thằng Cuội, Thuở ban đầu, Trăng mường Luông, Trăng rừng, Xóm đêm, Xuân tha hương…

 

Nhạc phổ thơ có những ca khúc như : Buồn đêm mưa (thơ Huy Cận), Cho một thành phố mất tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn), Nửa hồn thương đau, Bài ngợi ca tình yêu, Dạ tâm khúc , Đêm màu hồng (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn, Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển, Quê hương là người đó (thơ Du Tử Lê), Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Hạt bụi nào bay qua (thơ Thái Tú Hạp), Heo may tình cũ (thơ Cao Tiêu), Mắt buồn (thơ Lưu Trọng Lư, tặng Lệ Thu), Màu kỷ niệm (thơ Nguyên Sa), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Mưa Sài Gòn, mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn), Người đi qua đời tôi (thơ Trần Dạ Từ)… và còn rất nhiều nhạc phẩm khác v.v…

Một chút tiểu sử :

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 và qua đời vào năm 1991. Khi soạn nhạc ông ký bút hiệu Phạm Đình Chương, còn đi hát, chỉ trong ban hợp ca Thăng Long, ông có tên gọi ca sĩ Hoài Bắc.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh 14/11/1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ở Hà Nội còn quê ngoại ở Sơn Tây. Ông xuất thân trong một gia đình mang truyền thống âm nhạc, thân phụ là Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của cha ông, sinh được 2 người con trai tên Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm tức ca sĩ Hoài Trung, trong ban hợp ca Thăng Long như đã nói. Người vợ sau tức mẹ ruột Phạm Đình Chương sinh 3 người gồm trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương, và cô con gái út là Phạm Thị Băng Thanh, tức nữ ca sĩ Thái Thanh.

 

Từ nhỏ Phạm Đình Chương được nhiều người chỉ dẫn về nhạc lý, nhưng phần lớn ông vẫn tự học là chính. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương tức ca sĩ Hoài Bắc cùng các anh chị em ruột hai dòng như Hoài Trung, Thái Hằng, Thái Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV, để từ đó thành tên Ban hợp ca Thăng Long.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác âm nhạc vào năm 1947, lúc mới 18 tuổi, nhưng phần nhiều nhạc phẩm của ông thường được xếp vào dòng tiền chiến bởi mang phong cách trữ tình lãng mạn. Các nhạc phẩm đầu tiên như Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, Hò Leo Núi… có không khí hùng tráng tươi trẻ.

 

Năm 1954, nhạc sĩ Phạm Đình Chương cùng gia đình chuyển vào miền Nam sinh sống, rồi tái lập lại Ban hợp ca Thăng Long để hoạt động. Thời kỳ này các sáng tác của ông thường mang âm hưởng miền Bắc như nói lên tâm trạng hoài hương của mình như các nhạc phẩm : Khúc giao duyên, Thằng Cuội, Được mùa, Tiếng dân chài… Thời gian sau, ông viết nhiều bản nhạc nổi tiếng và vui tươi hơn : Xóm đêm, Đợi chờ, Ly rượu mừng, Đón xuân…

Sau khi cuộc hôn nhân với nữ ca sĩ Khánh Ngọc tan vỡ, ông bắt đầu sáng tác tình ca. Ông đem tâm trạng đau thương vào những bài nhạc tình da diết, đau nhức, buốt giá : Đêm cuối cùng, Thuở ban đầu, Người đi qua đời tôi, Nửa hồn thương đau…

 

Có thể nói Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ phổ thơ hay nhất. Nhiều bản nhạc phổ thơ của ông đã trở thành những bài hát bất hủ, có một sức sống riêng như Đôi mắt người Sơn Tây (thơ Quang Dũng), Mộng dưới hoa (thơ Đinh Hùng), Nửa hồn thương đau (thơ Thanh Tâm Tuyền), Đêm nhớ trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê)… ông cũng đóng góp cho nền tân nhạc Việt với một bản trường ca bất hủ mang tựa “Hội trùng dương” viết về ba con sông nước Việt là sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long.

Sau 1975 nhạc sĩ Phạm Đình Chương định cư tại California, Hoa Kỳ, và mất vào ngày 22/8/1991.

 

 ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ về nhà thơ QUANG DŨNG

Nhà Thơ Quang Dũng

Quang Dũng tên thật Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội).Thuở nhỏ, ông theo học trung học tại trường Thăng Long, Hà Nội.
Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học.Sau năm 1954, ông sống như một kẻ vô danh tại miền Bắc, từ trần ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại Hà Nội sau một thời gian dài đau bệnh.Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Bài Thơ Sông Hồng (1956), Rừng Biển Quê Hương (1957), Mây Đầu Ô (1986), truyện ngắn Mùa Hoa Gạo (1950), hồi ký Làng Đồi Đánh Giặc (1976)……Thơ Quang Dũng nằm giữa biên giới của thật và mơ, như khói như mây mờ mờ ảo ảo, như tiếng vọng từ chân trời nào xa vắng…

Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi, thơ hay. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc), Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờ và Đôi mắt người Sơn Tây), Kẻ ở (Cung Tiến phổ nhạc). Đặc biệt bài thơ Em mãi là 20 tuổi được 3 nhạc sĩ phổ nhạc khác nhau (Việt Dzũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương).

Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

 

Đôi Mắt Người Sơn Tây

Tác giả: Quang Dũng

 

Em ở thành Sơn chạy giặc về 
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi 
Cách biệt bao lần quê Bất Bạt 
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì 

Vừng trán em vương trời quê hương 
Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương 
Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm 
Em có bao giờ em nhớ thương 

Từ độ thu về hoang bóng giặc 
Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn 
Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ 
Em có bao giờ lệ chứa chan 

Mẹ tôi em có gặp đâu không 
Những xác già nua ngập cánh đồng 
Tôi cũng có thằng em còn bé dại 
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông 

Đôi mắt người Sơn Tây 
U uẩn chiều lưu lạc 
Buồn viễn xứ khôn khuây 

Cho nhẹ lòng nhớ thương 
Em mơ cùng ta nhé 
Bóng ngày mai quê hương 
Đường hoa khô ráo lệ 

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn 
Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng 
Sông Đáy chậm nguồn quanh phủ quốc 
Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng 

Bao giờ tôi gặp em lần nữa 
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa 
Đã hết sắc mầu chinh chiến cũ 
Còn có bao giờ em nhớ ta

 

* ► ◄► ◄► ◄► ◄

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

 

10 Chiếc cầu nước kỳ lạ và độc đáo nhất thế giới

10 Chiếc cầu nước kỳ lạ và

độc đáo nhất thế giới

□◇□□◇□□◇□

Có rất nhiều điều kỳ vĩ trên thế giới mà thật đáng tiếc nếu bạn chưa từng được nhìn thấy, dù là trực tiếp hay gián tiếp. Trong bài này là câu chuyện về một cây cầu sẽ khiến bạn phải ngạc nhiên vì vẻ đẹp của nó.

Năm 2002, cả thế giới ngả mũ bái phục trước Veluwemeer Aqueduct – một kiến trúc sư thiên tài đã nối liền vùng lục địa của Hà Lan với Flevoland, một hòn đảo nhân tạo

Có rất nhiều ý kiến được đưa ra thảo luận, bao gồm hoặc xây dựng một hầm ngầm dưới nước, hoặc một cây cầu bình thường. Tuy nhiên các dự án xây dựng này quá tốn kém và mất thời gian.

Ý tưởng chủ đạo là làm sao giao thông trên cạn và dưới nước được lưu thông, không bị tắc nghẽn bởi tàu phà.
Ý tưởng giao thông bình thường trên cạn và dưới nước được vận hành. 
Cây cầu nước này cũng có phần đường dành cho khách bộ hành,
đặc biệt nó có hai bên đường đi bộ ở làn đường cao tốc.
    
Cuối cùng, người ta đưa ra một quyết định dường như không tưởng, đó là xây dựng một cây cầu nước. Cây cầu nước này cũng có phần đường dành cho khách bộ hành, đặc biệt nó có hai bên đường đi bộ ở làn đường cao tốc. Hiện nay, hơn 28.000 xe ô tô đi lại dưới cây cầu sâu 10 mét này, và tàu bè thì thoải mái đi lại nhờ phần nước bao phủ bên trên cầu. 

Cầu nước (được hiểu là “con sông này nằm trên con sông kia”) là cấu trúc cầu mang theo kênh mương để tàu bè có thể di chuyển được qua những dòng sông, thung lũng, đường sắt và đường bộ.

1_ Cầu nước Pontcysyllte – Anh
 
Cầu nước Pontcysyllte nằm trong hệ thống dẫn nước từ kênh Llangollen đến các mỏ than ở Denbighshire và hệ thống kênh rạch ở xứ Wales, bắc qua thung lũng sông Dee. Bắt đầu xây dựng năm 1795 và hoàn thành năm 1805, công trình này được cho là cây cầu nước dài nhất và cao nhất ở Britain.
 
 
Ngoài ra, nó còn được liệt kê vào nhóm công trình Hạng mục I (Grade I Listed Building) và là Di sản Thế giới được UNESCO công nhận. Cầu nước Pontcysyllte được xây dựng bởi Thomas Telford và William Jessop. Cầu Pontcysyllte cấu tạo gồm một máng chứa nước làm bằng thép dài khoảng 307 mét, rộng 3,4 mét và sâu 1,6 mét, nằm trên 18 trụ đỡ được xây bằng đá cao 38m.
 
Đường kéo tàu thuyền được gắn trên mặt nước, cùng các cạnh bên được gắn bằng những trụ đúc bằng gang. Ngoài ra, trên cầu còn có hành lang dành cho người đi bộ. Việc xây dựng kết hợp những vật liệu như thép và đá làm cho chiếc cầu trở nên nhẹ nhàng, giúp những chiếc thuyền nhỏ và hành khách có thể di chuyển dễ dàng qua nó. Khi mới được đưa vào sử dụng, cầu nước Pontcysyllte tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp khai thác tại Denbighshire. Tuy nhiên ngày nay, cây cầu nước này chỉ sử dụng để phục vụ hành khách đến thăm quan.
 
2_ Cầu nước Håverud – Thụy Điển
 
Cầu nước Håverud là một trong những thành tựu kỹ thuật lớn nhất lúc bấy giờ. Giữa những năm 1860, cầu nước Håverud được xây dựng với mục đích là cây cầu bắc qua hệ thống kênh đào Dalsland, giúp cho tàu thuyền qua lại giữa hồ Vänern với khu vực trung tâm của Dasland và vùng hồ phía Tây Nam của quận Värmland.  
 
 
Công trình này là hệ thống máng nước bằng thép dài 33,5m, được ghép lại với nhau bằng 33.000 chiếc đinh tán. Ngày nay, hệ thống kênh đào Dalsland là một địa điểm thu hút rất nhiều du khách bởi cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, kết hợp với hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ và đường sắt trên cao. Du khách có thể ngồi thuyền hoặc đi bộ trên chiếc cầu nước này để ngắm nhìn dòng thác đang chảy ở phía dưới và những phương tiện giao thông đường bộ đang chạy ở phía trên.

3_ Cầu nước Magdeburg – Đức
Người Đức đã khởi công xây dựng từ năm 1997 đến năm 2003 để hoàn thiện 918m cầu nước bắc qua sông Elbe nằm gần thị trấn Magdeburg. Các kỹ sư xây dựng hệ thống kênh đào đã kết nối kênh đào Elbe-Havel với kênh đào Mittelland, giúp rút ngắn thời gian di chuyển giữa 2 kênh này từ khoảng cách 12km xuống còn 1km.
 
Được khởi công xây dựng từ năm 1905 nhưng bị trì hoãn do Chiến tranh thế giới lần thứ hai, cho đến tận năm 1997 cầu Magdeburg mới được xây dựng trở lại và hoàn thành vào năm 2003.  
 
 
Sau khi hợp nhất nước Đức, những tuyến đường giao thông trên nước được ưu tiên xây dựng lại. Năm 1997, công trình này được xây lại, kéo dài trong 6 năm với chi phí lên tới 500 triệu euro. Cây cầu nước Magdeburg này sẽ kết nối cảng nội địa của Berlin với các cảng nằm dọc trên sông Rhine. Với tổng chiều dài 918 mét, cây cầu cần 24.000 tấn thép và 68.000m khối bê tông gồm 3 đoạn dài 228m, rộng 34m và sâu 4,25m. Ngày nay, cầu nước Magdeburg được xem là cây cầu nước hiện đại nhất thế giới.

4_ Cầu nước Ringvaart Haarlemmermeer – Hà Lan 
 
Nằm gần Roelofarendsveen (thị trấn nằm phía tây Hà Lan), kênh đào Ringvaart bắc qua đường cao tốc A4 bằng một cây cầu nước. Cầu nước Ringvaart Haarlemmermeer được xây dựng vào năm 1961, do vậy nó là một cây cầu nước lâu đời nhất ở Hà Lan. Năm 2006, công trình xây dựng hoàn thành xong hai phần: hướng về phía đông có làn đường cao tốc mới mở rộng theo phía bắc và hướng về phía tây là đường sắt cao tốc HSL-Zuid mới. Cây cầu nước này dài 1,8km.
 
5_ Cầu nước Pont du Sart – Bỉ 
 
Cầu nước Pont du Sart là cây cầu mang nước từ kênh Centrumkanaal (nằm phía Tây Vương quốc Bỉ) vượt qua giao lộ đường N55 và N535 gần thị trấn Houdeng-Goegnies. 
 
 Hệ thống dẫn nước này được xây dựng bằng bê tông có chiều dài 498m và rộng 46m, trọng lượng khoảng 65.000 tấn được nâng đỡ bởi 28 trụ bê tông và đường kính mỗi trụ là 3m.
 
6_ Cầu nước Veluwemeer – Hà Lan
 
Veluwemeer là cầu nước cắt ngang đường cao tốc N032 nằm gần thị trấn nhỏ Harderwijk, miền Đông Hà Lan. Nó là một phần nhỏ của hồ Veluwemeer, đồng thời giúp kết nối phần đại lục của Hà Lan với hòn đảo mang tên Flevoland (được biết đến là một trong những công trình nhân tạo vĩ đại nhất thế giới). 
 
Cầu nước Veluwemeer có chiều dài 25 mét, mỗi ngày có khoảng 28.000 lượt xe cộ đi qua. Cây cầu nước này được mở cửa thông xe vào năm 2002.

7_ Cầu nước Briare – Pháp
 
Cầu nước Briare mang nước từ kênh đào Latéral à la Loire vượt qua sông Loire đến sông Seine của Pháp. Từ giữa năm 1896 đến năm 2003, cầu nước Briare được xem là hệ thống cầu dẫn nước dài nhất thế giới cho đến năm 2003, cầu nước Magdeburg tại Đức được đưa vào sử dụng đã lấy đi vị trí số 1 của nó.
 
 
Cầu nước Briare được xây dựng trên 14 trụ cầu. Những trụ cầu này là những dầm thép đơn hỗ trợ kênh thép chứa hơn 13.000 tấn nước, có độ sâu 2,2m và rộng 6m cho phép tàu thuyền cùng lưới rộng 1,8 mét có thể đi qua được. Chiều rộng của cầu nước là 5,2 mét và chiều dài của hệ thống dẫn nước này là 662,7 mét.

8_ Cầu nước Naviduct Krabbersgat – Hà Lan
 
 
Cầu nước Naviduct Krabbersgat ở Hà Lan là hệ thống dẫn nước hỗ trợ tàu bè qua lại giữa hồ Markermeer và hồ Ijsslmeer, được tích hợp bởi một cơ chế khóa 2 chiều vì mực nước giữa 2 hồ có sự chênh lệch cao thấp. Đây là dự án lớn độc đáo gồm một tàu khóa với một đường hầm giao thông đường bộ được hình thành để giảm bớt tắc nghẽn giao thông cho cả xe cộ lẫn giao thông du lịch biển. 
 
 
Kiến trúc khổng lồ này có chiều dài 125 mét và chiều rộng 25 mét. Bên cạnh đó, 1.450 m3 đất được di dời đi thay vào đó là 20.000 m3 bê tông. Cầu nước Naviduct Krabbersgat được khánh thành vào năm 2003.

9_ Cầu nước Edstone – Anh
 
Cầu nước Edstone là một trong ba cây cầu nước nằm trên 6km của kênh Stratford-upon-Avon ở Warwickshire. Khác với những cây cầu nước khác, đường kéo tàu lại nằm ở phía dưới đáy kênh. Với chiều dài là 145m, cầu nước Edstone là cây cầu dẫn nước dài nhất nước Anh. Nó chảy qua một đường nhỏ nằm giữa đường sắt Birmingham và đường sắt North Warwickshire.
 
 10_ Cầu nước Langdeel – Hà Lan
 
Cầu nước Langdeel nằm trên đường cao tốc N31, gần thành phố Leeuwarden ở phía bắc Hà Lan. Cầu nước này cùng tên với hệ thống kênh chảy qua. 
 
 
Bắt đầu xây dựng năm 2004, cây cầu nước Langdeel được hoàn thành vào năm 2007. Cầu dẫn nước này có độ sâu 2,78 mét (9 ft), rộng 25 mét (82 ft) và dài 110 mét (360 ft). Ngoài ra, nó còn được xây trên ba hàng cột bê tông.
 
 
 
Hồng Anh st
 
 
 
 
 
 
 
 
Theo dõi RSS này