Kim Phượng

Kim Phượng

Mùa Thu Đã Trở Về - Thái Tú Hạp

Mùa Thu Đã Trở Về  

Thái Tú Hạp

Thái Tú Hạp

Music of Autumn - fall, autumn, music, nuts, leaves, sunflowers, flowers, paper, score

Trời Cali mấy hôm nay thời tiết đã biến chuyển đổi thay. Mới buổi sáng nắng rực rỡ trên hàng cây, buổi chiều đã có sương khoác kín lãng đãng trên lối về. Một chút gió heo may đã lành lạnh hắt hiu đủ cho lòng chúng ta chùng xuống với chiếc lá rơi nhẹ trên mặt hồ tĩnh lặng như gương.  Dẫu không nhìn thấy đâu đây “Một chiếc lá ngô đồng vừa rơi, mọi người đã nhìn thấy mùa thu trở về” (Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cọng tri thu). Chỉ thấy sương khói xây thành cũng đủ cho lòng nhau se sắt đón thu sang. Đã hơn hàng tỷ năm từ khi có sự hiện hữu trái đất này trong vũ trụ mênh mông, mùa thu đã ra đi và trở lại biết bao nhiêu tỉ lần theo chu kỳ tuần hoàn của tạo hóa. Mùa thu, cái thời tiết lãng mạn trữ tình của thiên nhiên đã trở thành đề tài tuyệt diệu vô tận trong kho tàng văn chương nghệ thuật của nhân loại. Nó đã tạo nên bao nhiêu thi hào, thi bá lỗi lạc Đông Tây kim cổ. Không có một nhà khảo cứu văn học thế giới nào, tổng hợp cho hết được những áng văn chương toàn bích ca ngợi mùa thu. Vì hầu như trong tất cả những thi sĩ của mỗi quốc gia khi mới bắt đầu yêu thơ và chọn con đường sáng tạo thi ca như một nghiệp dĩ cao quý, đều xác quyết không thể nào từ chối hấp lực tuyệt vời đầy xúc động nghệ thuật của mùa thu. Hàng ngàn năm trước, khi địa vị của dòng thơ Đường được đánh giá tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Hoa, đã khai mở từ thời Sơ Đường dưới thời Vua Cao Tổ năm Vũ Đức Nguyên Niên đến thời kỳ Vãn Đường dưới thời vua Chiêu Tuyên Đế, kéo dài lịch sử Đường Thi lên đến cả ngàn năm.  Tuy nhiên những bài thơ ca ngợi mùa thu của Lý Bạch, Vương Duy, Lưu Vũ Tích, Giả Đảo, Thôi Hiệu, Vương Hàn, Đỗ Phủ… cho đến bây giờ chúng ta có dịp đọc lại vẫn cảm nhận cái thâm hậu, kỳ tuyệt cao khiết biết dường nào. Đêm thu, trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời, hàng phong bên sông, ngọn lửa thuyền chài hắt hiu, nửa khuya tiếng chuông chùa ngân nga làm rung động sóng nước, Trương Kế đã viết nên bài thơ để đời:

осеннее настроение
#краски #листья #музыка #настроение #натюрморт #осень #скрипка #футляр

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
(Phong Kiều Dạ Bạc)

Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
(Tản Đà)

Guitar Greeting Card featuring the photograph Guitar Autumn 1 by Mick Anderson

Một cảm tác về đêm trăng mùa thu bơi thuyền ở Hồ Động Đình của Lý Bạch:

Động Đình Hồ tây thu nguyệt huy
Tiêu, Tương giang Bắc tảo hồng phi
Túy khách mãn thuyền ca Bạch trữ
Bất tri sương lộ nhập thu y

Trăng thu soi sáng Động Đình
Tiêu, Tương một giải, chim hồng sớm bay
Đầy thuyền khách hát như say
Bẵng quên áo thấm sương đầy móc thu
(Chi Điền)

Hinh-Nen-May-Tinh-Ve-Phong-Canh_Mua-Thu-Dep

Những thi văn tài lỗi lạc của thế giới văn chương Tây Phương thường được nhắc nhở đến nhiều nhất là Charles Beaudelaire, Paul Verlaine, Anatole France… đã sáng tác nhiều thi phẩm ca ngợi mùa thu diễm tuyệt. Chính những trường phái thi ca lãng mạn, tượng trưng vào cuối thế kỷ 19 ở Pháp đã tạo nên những ảnh hưởng sâu đậm, đối với các thi sĩ Việt Nam như trường hợp của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Huy Cận, Vũ Đình Liên… tạo thành văn học sử của trường phái thơ mới ở thời điểm tiền chiến.  Chúng ta hãy lắng nghe bài thơ tả cảnh thu của Huy Cận:

Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về
Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu thu lên vút song song
Với cây hiu hắt, với lòng quạnh hiu

картинки музыка осень

Mùa thu đã thực sự vực dậy trong tiềm thức chúng ta những kỷ niệm êm đềm của một thời tuổi trẻ. Những con phố tịch liêu. Những tháp cổ rêu phong. Những am mây sầu thảm. Những tiền kiếp u trầm có nhau. Những tảng đá xanh trầm mặc. Những hàng cây tĩnh tâm khoác áo sương mù. Những ngọn đỉnh gió hú hoang tịch ngàn năm. Trong cuộc trường chinh ngôn ngữ hiện hữu với bao nhiêu thăng trầm theo mệnh số, chúng ta đã bao nhiêu lần gọi thu về đuổi nắng chói chang đi. Những buổi chiều thu đẫm ướt nỗi buồn vơ vẩn, cám dỗ ta bằng nỗi quạnh hiu, bằng những chiếc lá vàng rơi trên lối về lẻ loi như cánh hạc xa bầy:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô
(Tiếng Thu – Lưu Trọng Lư)

Trong Thi Nhân Việt Nam xuất bản từ năm 1941, Hoài Thanh – Hoài Chân đã nhận định về nhà thơ Lưu Trọng Lư: “à Lưu Trọng Lư có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hằng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta…“

улыбка осени - Портрет - фотографии "Фотограф года"

Không phải chỉ có nước Trung Hoa cổ là một mùa thu bát ngát, ở xứ Việt Nam mùa thu vẫn tạo nên những cảnh trí thật mơ màng quyến rũ đấy chứ. Bằng chứng đối với văn nhân thi sĩ nước ta trong suốt cuộc hành trình phát huy văn hóa dân tộc, đề tài mùa thu vẫn ghi nhận vượt trội hơn những cảm hứng so với số lượng sáng tác những mùa khác trong năm. Với cảnh trời thu man mác thơ mộng, sương khói lãng đãng giăng khắp núi đồi, đã thoáng hiện não nề trong Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du, trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, trong Bích Câu Kỳ Ngộ của Vô Danh Thị, … trong những bài Thu Ẩm, Thu Điếu của Tam Nguyên Yên Đỗ, trong thơ của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chan chứa những nỗi niềm thu bi thiết:

Ngọn gió thu phong rụng lá vàng
Lá bay hàng xóm lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nữa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng

Ngọn gió thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường bắc lá sang đông
Vàng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông
(Gió Thu)

mùa thu cho em

Xuân Diệu, một trong những nhân vật tiên phong của phái thơ mới, chống lại những khuôn mòn sáo cũ, câu nệ quá đáng vào niêm luật tù túng không tạo cho hồn và ý thơ bay bổng lên đỉnh cao của nghệ thuật.  Nếu nói đến thơ tình thì Xuân Diệu được công nhận trải qua thời gian vài thập niên ông vẫn giữ địa vị đặc thù trên thi đàn Việt Nam. Tuy nhiên, về cảm xúc sáng tác từ gợi ý mùa thu, Xuân Diệu cũng tạo nên những thành tích đáng kể qua những thi phẩm như: Nguyệt Cầm, Nhị Hồ, Ý Thu… và Đây Mùa Thu Tới:

Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới – mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng

Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rửa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò…

Mây vẫn từng không, chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa, nghĩ ngợi gì?…

 

Từ khi tuổi vừa chớm yêu đương, tôi đã có những nỗi buồn vu vơ khi tiết trời se sắt lạnh, lá bàng rơi trên lối đi về trong thành phố mái rêu phong cổ kính chứng tích của một thuở “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo.  Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương” (Bà Huyện Thanh Quan).

Trong thơ Chế Lan Viên, ông vẽ nên những cảnh điêu tàn, niềm luyến tiếc đến một thuở vàng son, oanh liệt ngày xưa. Ông có trí tưởng tượng phong phú, tuy nhiên, những chữ ông diễn tả giản dị, đơn sơ nhưng không đánh mất nét thơ mộng bất ngờ. Chúng ta hãy lắng nghe những lời than thở của tâm trạng não nề đón thu sang:

Chao ôi!  Thu đã tới rồi sao?
Thu trước vừa qua mới độ nào!
Mới độ nào đây, hoa rạn vỡ
Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao

Cũng mới độ nào trong gió lộng
Nến lau bừng sáng núi lau xanh
Bướm vàng, nhè nhẹ bay ngang bóng
Những khóm tre cao rũ trước mành

Thu đến đây! Chừ, mới nói răng?
Chừ đây, buồn giận biết bao ngăn?
Tìm cho những cánh hoa đang rụng
Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn!…
(Thu – Chế Lan Viên)

Qua đến câu chuyện tình thu buồn của T.T.KH với những tâm sự não nề ẩn chứa một cách xót xa cay đắng trong những bài thơ Hai Sắc Hoa Ty Gôn, Bài Thơ Thứ Nhất, Đan Áo Cho Chồng, Bài Thơ Cuối Cùng… đã hơn một thời gây nhiều xúc động trong giới văn học:

…Từ đấy, thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ…

…Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người

…Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi!  Người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai tựa máu hồng?

Ảnh đẹp hoa Tigon

Tất cả vật chất hiện hữu trong thế gian này sẽ hủy hoại qua thời gian. Chỉ có thế giới siêu tưởng mới là nơi chốn thi nhân hy vọng gởi gắm ít nhiều khổ đau miên viễn. Như trường hợp thi sĩ Đinh Hùng đã đào sâu trong huyệt mộ dĩ vãng, để tìm lại bóng hình yêu dấu của người tình muôn thuở:

…Trời cuối thu rồi – Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi!  Đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu!

…Em mộng về đâu
Em mất về đâu
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu
Đây màu hương khói là màu mắt xưa
(Gửi Người Dưới Mộ)

Bốn bề bát ngát buồn hiu hắt, những cành khô khẳng khiu in trên nền trời trắng đục chẳng khác nào bức tranh thủy mạc của thiên nhiên quá tuyệt vời, chỉ có mắt nhìn của nghệ sĩ mới khám phá ra từ ngàn năm tác phẩm vĩ đại đó. Chúng ta không ngạc nhiên đã thẩm thấu trong tâm hồn những nhà văn nhà thơ Thanh Tịnh, Thế Lữ, Hồ Dzếnh, Thâm Tâm… Và mãi cho đến thời kỳ hậu chiến, chúng ta khám phá càng nhiều hơn những tác phẩm lừng lẫy của thi đàn văn học miền Nam.

картинки музыка осень

Trong cái thế giới ngôn ngữ thi ca đầy mê hoặc của Bùi Giáng, ông đã tạo nên cái sắc thái hòa hợp đầy kỳ ảo thần tình của hai dòng văn học uyên bác Đông Tây trong những thi tập Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột, Đêm Ngắm Trăng… và hơn hàng ngàn bài thơ ông sáng tác gần nửa thế kỷ, ông như một biểu tượng thiên tài lỗi lạc của văn học hiện đại. Trong số lượng thơ mênh mông đó, mùa thu cũng đã khiêm nhượng xuất hiện bàng bạc trong tâm hồn thi sĩ:

…Phải là nguyệt giữa đêm rằm?
Nguyên Tiêu lãng đãng lá nằm ngẩn ngơ
Kể từ hằng thủy ban sơ?
Kể từ sơ thủy về tờ vẽ trang?

Kể từ thu tạ lên đàng?
Rừng phong thu đã quan san nhuộm màu?
Phải rằng đó trước kia sau?
Hay là sau trước còn tao ngộ gì?

Bước vào cái không khí đầy ảo giác mơ hồ, trữ tình của Nguyên Sa.  Thơ tình của ông đã thoát khỏi những băn khoăn, siêu hình. Tình yêu hiển lộng thánh hóa trong một phối cảnh thiên nhiên tuyệt vời của mùa thu kiều diễm:

Вдвоём любить! (Галина Соловьева) / Стихи.ру

Tôi đã gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia?

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Có phải mùa thu sắp sửa về
Hay là gió lạnh lúc đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Để nắng thu vàng giữa lối đi?

Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương

Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
Đi về bằng những ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào giấc mộng
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa

Tôi không biết rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghê thường
Cho nên cặp mắt mờ hư ảo
Cả bốn chân trời chỉ có em
(Tương Tư)

 Photo:

Trong sinh hoạt thi ca ở hải ngoại… Du Tử Lê, nhà thơ được công nhận như một thi sĩ hàng đầu viết về tình yêu hiện nay. Ông có sức sáng tạo phong phú, mỗi năm đều trình làng dăm ba tác phẩm thơ văn. Riêng trong thi tập “Ở Chỗ Nhân Gian Không Thể Hiểu”, Du Tử Lê xuất sắc với nhiều bài thơ ca ngợi mùa thu tình ái, ngôn ngữ mới lạ, phù thủy, lôi cuốn và mê hoặc. Chúng tôi yêu nhất “Bài Nhân Gian Tháng Tám” của ông:

Buổi chiều xám chỗ ngồi tôi tháng tám
Em dung nhan như một vết dao
Trong trí nhớ của một người khánh tận
Núi sông người thoáng chốc cũng hư hao

Em mười bảy bước chân vào tháng chạp
Hàng cây khô vai gọi lá hai hàng
Đâu sự thật cảnh đời tôi đã xế
Em đi qua, chỉ thức dậy điêu tàn

Đêm cao ốc bàn tay buồn, mắt lặng
Gió mưa đi tít tận trời nào
Môi tháng sáu bao dung hồn phiêu bạt
Em tin không? Tôi chết ngọt ngào

Em bước xuống cuộc đời tôi ảm đạm
Với bình minh, mười bảy vết son tươi
Kẻ khánh tận, cuối cùng soi trí nhớ
Trong bài thơ tháng bảy đã chia hai

Nếu em biết có lần tôi đã hỏi
Tôi đợi ai cuối cuộc chơi này?
Như tháng tám đi qua người sẽ khuất
Riêng vết son còn đỏ nẫu môi cười

Bài thơ nhỏ gói nỗi sầu vô hạn
Đường chim đi, nghìn dặm có ai tìm
Em không thể thì thôi đừng nắng, gió
Củi than riêng, tôi đốt một mình

Đêm tháng tám, chỗ ngồi tôi lửa cháy

 

 
Đến lúc tình yêu được quan niệm sâu xa hơn, vượt thoát ra khỏi những trăn trở khổ đau của định mệnh. Tình thương mới đích thực rộng lớn thăng hoa giữa con người với con người. Đó mới là giây phút hạnh phúc, sứ mệnh giác tha độ lượng của người nghệ sĩ, luôn luôn muốn đề cao cái đẹp vĩnh cửu của tâm hồn. 

Giữa cảnh trí tiêu điều mùa thu, một người ở tù nhiều năm trở về thăm lại làng xưa, nhà thơ Tô Thùy Yên đã giữ được tâm bình lặng …  Ông đã thẩm thấu triết lý sâu sắc của người phương Đông.

…Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

…Ta về như lá rụng về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu nầy

…Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta
(Ta Về – Tô Thùy Yên)

Photo:

Mang tâm trạng của kẻ tha hương lúc nào cũng nhớ về cố xứ thân yêu. Nhà thơ Tuệ Nga đã biểu hiện nỗi niềm nhớ nhung trong những thi phẩm xuất bản ở hải ngoại. Không ngô đồng mà cũng vọng tưởng như “ngô đồng lác đác” trong lòng khi trời hiu hắt thu sang:

Ngô đồng lác đác báo Thu sang
Vườn cũ hoa xưa có điểm vàng
Khói loạn bốn phương sầu ngút ngút
Gió cuồng tám hướng hận mang mang

Mực hoen lòng giấy tình ngăn lối
Bút đọng niềm thương lệ ố vàng?
Sương tuyết nhạt nhòa Trăng cổ độ
Nghe chiều thế sự sóng âm vang…
(Thu Sơ)

Photo:  

Hằng đêm chúng ta nhìn lên bầu trời lấp lánh hàng muôn triệu vì sao, đâu có biết những thiên hà xinh đẹp thơ mộng đó, xa cách chúng ta hàng chục tỉ năm ánh sáng, có nhiều thiên hà đã mất hút từ lâu, hôm nay chúng ta mới nhìn thấy ánh sáng. Những biến thiên của vũ trụ cũng chỉ là những hiện tượng sắc không, nên thời tiết mùa thu của mỗi năm thường thay đổi. Tuy nhiên, những tác phẩm ca ngợi mùa thu thì vĩnh cửu, vượt thời gian.

Cứ mỗi năm, khi bước chân trẻ thơ rộn rã trên đường đến lớp học hay reo vui với nhịp trống múa lân giữa muôn sắc màu lộng lẫy, của những chiếc lồng đèn thắp sáng mừng đón Tiết Trung Thu, theo truyền thống Dân Tộc, tâm hồn người tha hương cũng xao xuyến bâng khuâng, tưởng nhớ đến những chuỗi ngày thơ ấu trên quê hương Việt Nam thanh bình.

Con đường quen thuộc, buổi sáng đi qua, buổi chiều trở lại như nhịp đập buồn bã của trái tim người lữ khách già nơi nghìn dặm quê người. Giữa những hàng cây thay lá gần hai mươi năm qua ròng rã, miệt mài, thầm lặng. Cũng như sáng hôm nay, chính ta khám phá mùa thu đã hiên ngang trở về, thong thả, bình an theo mây trời hạ xuống nhân gian, từng bước lụa là êm ả đầy quyến rũ trữ tình. Lòng ta cũng rạo rực yêu với thu.  Nói thầm với thu sao mà dễ thương quá như thuở ban đầu tỏ tình với em hồn nhiên và trong sáng như hoa cỏ trong khu vườn dấu yêu, nơi một góc trời Đà Nẵng đầy thơ mộng. 

Nếu hiểu được thời gian và không gian là khoảnh khắc vô thường, thì ta đang ở Cali hay phương trời nào khác, mùa thu vẫn không bội phản từ trong tâm thức thủy chung với nỗi đau của đất trời nơi cố quận thân thương

 

ветка, листва, осень 

 Thái Tú Hạp

Kim Phượng st

 

зшар лист клена аним (419x411, 150Kb)

Nhạc sĩ Song Ngọc vĩnh biệt khán giả ái mộ

Nhạc sĩ Song Ngọc vĩnh biệt khán giả ái mộ

******

Image result for Nhạc sĩ Song Ngọc vĩnh biệt khán giả ái mộ !

 

Tác giả ‘Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân’ qua đời

Nhạc sĩ Song Ngọc, tác giả ca khúc “Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân,” một trong số những nhà soạn nhạc tiền bối của nền âm nhạc Việt Nam vừa qua đời vào lúc 9 giờ 30 tối Chủ Nhật, 14 Tháng Mười, 2018, tại thành phố Houston, Texas vì bạo bệnh.

Nhạc sĩ Nam Lộc là người báo tin cho Người Việt.

Nhạc sĩ Song Ngọc, sinh năm 1943 ở Long Xuyên, tên thật là Nguyễn Thương Ngọc, là một cựu sĩ quan thâm niên của Quân Đội VNCH.
Ông sáng tác rất sớm, rất đa dạng và phong phú. Tác phẩm của ông được đón nhận nồng nhiệt liên lục suốt sáu thập niên qua, từ khi ông còn rất trẻ, cho đến những ngày gần đây, thậm chí thời gian nằm trên giường bệnh ông vẫn tiếp tục soạn nhạc.

Ngoài bút hiệu Song Ngọc, ông còn lấy tên Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọc Anh, Anh Tuyến cho các sáng tác của mình.

Nhạc sĩ Nam Lộc cho rằng, “Âm nhạc gần gũi với Song Ngọc như thức ăn và hơi thở. Ông mê sáng tác và hoàn tất nhạc phẩm một cách dễ dàng, dù là một ca khúc nhỏ hay lớn.”

“Rất tiếc là sinh hoạt nghệ thuật của người Việt tại hải ngoại đã không tạo đủ môi trường để một nhân tài như ông có đất dụng võ theo đúng khả năng thiên phú của mình. Tuy nhiên dù ông đã ra đi, nhưng hơn 300 tác phẩm âm nhạc của ông qua từng giai đoạn lịch sử của đất nước mà ông để lại cho đời, sẽ mãi mãi là một kho tàng văn hóa vĩnh cửu cho các thế hệ sau được học hỏi, được nghiên cứu và thưởng thức,” nhạc sĩ Nam Lộc nhận xét.

Song Ngoc

Từ phải: Nhạc sĩ Song Ngọc, Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Nam Lộc và Từ Công tàiPhụng.

(Hình: Nam Lộc cung cấp)

Những bài hát gắn liền với tên tuổi Song Ngọc, cũng là những nhạc phẩm làm nên tên tuổi của nhiều ca sĩ như: Một Chuyến Bay Đêm, Chúng Mình Ba Đứa, Giờ Tý Canh Ba, Hương Đồng Cỏ Nội, Người Đàn Bà 2000 Năm Trước, Hà Nội Ngày Tháng Cũ, Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân… chắc chắn sẽ nằm mãi trong tim của người yêu nhạc. (Nam Lộc, N.L)

*****************

 

 

Nhạc sĩ Song Ngọc (phải) và nhạc sĩ Hoài Linh (Hình fb Lê Hoàng Tuấn Kiệt)

 Song Ngọc Và Một Đời Sáng Tác

TÁC GIẢ và TÁC PHẨM
Nhạc sĩ: SONG NGỌC

Song Ngọc (tên thật Nguyễn Ngọc Thương) là một nhạc sĩ, ca sĩ người Mỹ gốc Việt. Ông nổi tiếng từ cuối thập niên 1960 tại Miền Nam Việt Nam với những ca khúc viết về tình yêu.

Sinh năm 1943 ở Long Xuyên, An Giang.
Là anh trai của ca sĩ Kiều Oanh
Viết nhạc từ năm 1957 với bài đầu tay Mưa chiều, nổi tiếng từ năm 1960 với bài Tiễn đưa phổ thơ Nguyên Sa, cho đến nay đã có trên 300 ca khúc.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông sang Hoa Kỳ, trở thành một thương nhân thành đạt, bên cạnh đó vẫn tiếp tục sáng tác.
Hiện nay ông đang định cư tại Houston Texas, Hoa Kỳ.
Song Ngọc là tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng trước năm 1975: Tiễn đưa, Xin gọi nhau là cố nhân, Chiều thương đô thị, Tình yêu như bóng mây, Mưa ướt, Giờ Tý canh ba, Tuổi mùa xuân..., và sau 1975 như: Đàn bà, Hà Nội ngày tháng cũ, Hương đồng gió nội...

Ngoài Song Ngọc, ông còn dùng các bút hiệu: Hàn Sinh, Nguyên Hà, Hoàng Ngọc Anh, Anh Tuyến

Năm 2004, Trung tâm Thúy Nga có thực hiện chương trình Paris By Night 75 vinh danh ông và hai nhạc sĩ Huỳnh Anh, Nguyễn Hiền.

Trước năm 1975, ông có thực hiện 5 cuốn băng nhạc mang tên ông.

Song Ngọc 1: Chuyện tình & kỷ niệm
Song Ngọc 2: Những ngày xưa yêu dấu
Song Ngọc 3: Hoa bướm ngày xưa
Song Ngọc 4: Tình yêu & xa cách
Song Ngọc Xuân 1974: Mùa xuân hạnh phúc

Những sáng tác tiêu biểu nhất: Mưa Chiều, Bừng Sáng, Tiễn Đưa, Chúng Mình Ba Đứa, Một Chuyến Bay Đêm, Họp Mặt Lần Cuối, Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân, Thư Cho Vợ Hiền, Nó Và Tôi, Chuyện Tình Bé Nhỏ, Tình Yêu Như Bóng Mây..v..v…
Hiện định cư tại Houston Texas.
Vào đầu năm 1960, một trong những bài hát rất thịnh hành vào thời đó, tới phòng trà, đại nhạc hội hay phụ diễn tân nhạc đều nghe:

Người về chiều nay hay đêm mai
Người sắp đi hay đã đi rồi
Muôn vì hành tinh rung rung
Lung linh trên thềm ga vắng…
Ngay cả những ban nhạc tài tử trong các phường chung quanh thành phố, các bạn trẻ cũng cất tiếng hát ca vang. Bài hát thật nhẹ nhàng thơ mộng, trải dài trong quần chúng như một cơn gió nhẹ nhưng vô cùng mãnh liệt.

Bài thơ thật hay của thi sĩ Nguyên Sa, được nhạc sĩ trẻ Song Ngọc (18 tuổi ) biến thành bài Hát, vừa tung ra đã được hoan nghênh chào đón, trong giới văn nghệ cũng như ngoài quần chúng thưởng ngoạn.
Tuy còn trẻ, nhưng trước đó Song Ngọc đã đặt một số bài nhạc cho các đài phát thanh. Năm 1959, Anh đánh trống trong ban nhạc Dân Nam, lúc đó thần đồng Kiều Oanh (em gái Song Ngọc) đương trình diễn trên sân khấu Dân Nam và rất nổi tiếng. (Một số Ca Sỹ, Nhạc Sỹ sinh năm 1942: Song Ngọc (Nguyễn Ngọc Thưởng), Lê Uyên Phương (Nguyễn Văn Lộc) Trần Thiện Thanh (Nhật Trường ), Sỹ Phú, Vô Thường…)

Nương theo đà thành công với bài hát Tiễn Đưa” thơ Nguyên Sa, nhạc Song Ngọc, anh tiếp tục viết thật nhiều trong giai đoạn này, trong khoảng 15 năm từ 1960 đến 1975, Song Ngọc đã sáng tác trên 150 bài hát, trong đó có những bài, đã được rất nhiều người ưa thích như Mưa Chiều, Chiều Thương Đô Thị, Bừng Sáng (do ban Hợp Ca Thăng Long trình bày). Chúng mình 3 đứa, Một Chuyến Bay Đêm, Thư Cho Vợ Hiền, Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân… v..v.. . Đặc biệt trong thời gian thụ huấn lớp sỹ quan cao cấp tại Đà Lạt, Song Ngọc đã có bài vô cùng thơ mộng về thành phố sương mù, một tình yêu nhẹ nhàng như sương khói, long lanh như nước trên hồ Xuân Hương, một trong những ca khúc viết về Đà Lạt thật hay, thật buồn, nhẹ nhàng và thắm thiết “Tình Như Bóng Mây”;

Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt
Thành phố này xin trả lại cho Em…

Một số nhạc sỹ thường đặt nhạc cùng một tiết điệu, riêng Song Ngọc viết nhạc với nhiều tiết điệu, hoàn cảnh, tâm tình khác nhau. Anh tâm sự “Tôi ưa đi lang thanh như một nhạc sỹ giang hồ, mỗi lần có hoàn cảnh thường đi khắp đó đây, ngoài ra thì cũng đi nhiều nơi vì công tác. Nơi đâu cũng có vẻ đẹp riêng, nơi thôn quê bát ngát, trăng thanh dịu dàng, chốn đô thành thì nhộn nhịp, tưng bừng. Tới vùng chiến tranh thì súng đạn tơi bời, bao nhiêu đau khổ, người bạn vừa gặp nhau, chuyện chưa nói hết thì anh ta đã chết. Vì đời gian truân, lăn lộn, nên mỗi khúc nhạc đều mang riêng hình ảnh đặc biệt của nó”.

Qua Mỹ năm 1975, đời Song Ngọc cũng giống như trong tác phẩm của Anh, rất nhiều màu sắc, thật nhiều khuôn mặt. Khởi đầu Anh là chuyên viên địa ốc (vẫn giữ nghề và môn bài cho tới nay) đầu tư, làm Chủ hơn 10 tiệm “Chạp Phô Mỹ” rồi mở Chợ, Nhà Hàng, hiện nay làm chủ “Quán Trọ” BEAR CREEK INN với trên 100 phòng. Làm bầu “Show” ca nhạc, mỗi năm tổ chức trên 20 lần.

Buổi sáng gặp anh, rõ rệt là một nhà thương gia xuất sắc, tính toán. Khi mặt trời xế bóng, con người thương mại để lại trong văn phòng. Trở lại căn nhà rộng thênh thang, khi nắng chiều còn vương nhẹ trên những cành thông trước cửa, tay cầm cây đàn, với tâm hồn chính xác, thanh khiết nhất, những giòng nhạc ào ào tuôn ra.

Cho dù sau 20 năm miệt mài vì đời sống “bạo tàn, gay cấn” trên đất Mỹ, anh vẫn sáng tác trên 100 bài hát, có nhiều bài khi nghe thấy, nếu chưa được giới thiệu tên tác giả, thì không ai có thể nhận ra được người viết là Song Ngọc, vì mỗi bài đều có nhịp điệu, thể điệu, âm điệu khác hẳn nhau như: Đàn Bà, Người Đàn Bà Năm 2000, Hương Đồng Cỏ Nội (thơ của thi sỹ Nguyễn Bính), Tiền, Hà Nội Ngày Tháng Cũ…

Gặp anh vào sáng ngày 15 tháng 5 năm 2001, nhân tiện hỏi Anh về vài vấn đề trong tân nhạc Việt Nam.

Hỏi: Xin anh cho biết, phải mất bao thời gian để hoàn thành một bài Nhạc?

Song Ngọc: Không thể nào có thời gian quy định cho việc hoàn tất một bài Nhạc. Có nhiều khi ý nhạc và lời cuồn cuộn trong lòng, phải viết ra không là Chết. Sau đó mất chừng vài tuần liên tiếp, sửa chữa và hoàn thành. Có nhiều bài đã làm xong, không ưng ý, cất vào tủ, ít lâu sau, lại mang ra sửa tới, sửa lui, đôi khi hơn một năm sau mới hoàn tất.

Hỏi: Còn bên Việt Nam, chỉ trong một thời gian mà anh đã sáng tác trên 200 bài.

Song Ngọc: Bên Việt Nam, việc chính của tôi là viết Nhạc, khi vào quân đội, trông coi ban văn nghệ, có nhiều thời gian. Ngoài ra là vấn đề phổ biến. Khi một bản nhạc đã hoàn tất, nhờ một ca sĩ trình bày trên đài phát thanh hay thâu Tape, khi nghe lại bài hát của mình, tạo ra nhiều hứng thú, sáng tác dồi dào hơn. Bên Mỹ thì ban ngày phải “đi cày” lo kiếm sống, chỉ còn lại buổi chiều và ban đêm, viết xong 1 bản nhạc, phải gởi đi cho các Ca Sỹ, không có phương tiện phát thanh, thâu Tape cũng mất một thời gian, lâu lắm mới nghe lại tác phẩm của mình, nên cảm hứng thường gián đoạn.

Hỏi: Xin anh cho biết, sự khác biệt về Tân Nhạc Việt Nam, trước năm 1975 và bây giờ.

Song Ngọc: Trước năm 1975, giới Nhạc Sỹ cũng như người dân Việt Nam, sống trong hoàn cảnh chiến tranh, đều cùng nhau mang chung niềm âu lo trong đời sống cũng như xã hội. Những biến chuyển thời cuộc liên tục dồn dập tạo nên những cảm xúc liên quan đến con người và thân phận … Do vậy, phải nói đa số tác phẩm văn chương, âm nhạc, đều tạo nên bằng những rung cảm từ “Trái Tim”.
Sau 75, tức là ra nước ngoài. Tiêu biểu những sáng tác tại nước Mỹ, nhất là các nhạc sỹ
trẻ tuổi, thường hay thiếu vắng chất liệu “Quê Hương”, ngoài ra đời sống xứ người gò bó, thời gian chật hẹp. Người nhạc sỹ không đủ thời gian, nguồn cảm hứng quá nhiều chi phối, bởi đời sống áo cơm, do vậy sự rung động trong tác phẩm có phần lạc điệu. Tuy nhiên, bù lại thì “kỹ thuật” có phần cao hơn, vì đời sống văn minh hiện nay là Computer, máy móc tối tân, phương tiện trau dồi.
Tóm lại có thể nói giản dị như thế này: “Trước 75 “viết Nhạc bằng trái Tim”. Sau 75 “viết Nhạc bằng Kỹ Thuật”. Tuy nhiên dù bằng kỹ thuật hay trái tim, cũng tham dự dù nhiều hay ít vậy.
Riêng âm nhạc Việt Nam từ trong nước sau 75, tôi thích một số ca khúc ca ngợi tình tự quê hương, vì lẽ đó là chất liệu mà người nhạc sỹ tại quên nhà đang được thừa hưởng .

Hỏi: Anh cho biết sự giá trị của hai loại nhạc đó.

Song Ngọc: Nhạc nào cũng hay, riêng nhạc viết băng Trái Tim thì dễ đi vào trái tim người nghe hơn.

Hỏi: Anh cho biết về giá trị văn chương của nhạc tiền chiến và bây giờ.

Song Ngọc: Nhạc tiền chiến (trước năm 1945) cũng như nhạc bây giờ và mai sau, lúc nào cũng có những bài sau này được mọi người ghi nhớ, chắc chắn là phải hay. Về kỹ thuật, con người mỗi ngày một tiến, theo quy trình thời gian và sự sáng tạo của con người. Riêng trong địa hạt văn chương thì không theo quy định đó, thời gian nào thì tâm hồn cũng sáng tạo như nhau. Có một bài thơ đã được làm 600 năm nay, mà văn chương hùng tráng còn vang dội tới ngày nay và mãi mãi: Bài Bình Ngô Đại Cáo của đức Ông Nguyễn Trãi (1380-1442) đã sáng tác năm 1428 sau khi quân xâm lược Trung Hoa (nhà Minh) phải lên đường về nước. Cũng như áng văn chương tuyệt tác của cụ Nguyễn Du (chuyện Kiều) đã có từ hơn 200 năm nay, hiện giờ vẫn còn lung linh trong đời sống Việt Nam.

Để tạo ra một nét riêng, mỗi một người nghệ sĩ hay thường dành cho mình một nghệ danh. Thế nhưng, cũng có nhiều nhạc sĩ, với những lý do riêng, họ có rất nhiều bút danh/nghệ danh. Chính vì vậy, mà không ít người nghe đã ngạc nhiên khi biết tác giả của một tác phẩm nổi tiếng này cũng chính là tác giả của một tác phẩm nổi tiếng khác, với hai bút danh khác nhau.

Một trong những người đó, là nhạc sĩ Song Ngọc, hay được biết đến như nhạc sĩ Hàn Sinh của ‘Xin gọi nhau là cố nhân’, hay Hoàng Ngọc Ân của ‘Định mệnh’, cũng chính là Song Ngọc của ‘Tiễn đưa’, người đầu tiên phổ thơ của cố thi sĩ Nguyên Sa.

“Người về chiều nay hay đêm mai

Người sắp đi hay đã đi rồi

Muôn vì hành tinh rung rung

Lunh linh thềm ga vắng

Có một người bạn gửi cho tôi một bài thơ của Nguyên Sa. Tôi nhìn bài thơ đó, thấy hay quá, trong vòng một đêm, tôi phổ nhạc cho bài ‘Tiễn đưa’.
- Nhạc sĩ Song Ngọc

Hay rượu tàn rung trên môi…” (Tiễn đưa)

“Có một người bạn gửi cho tôi một bài thơ của Nguyên Sa. Tôi nhìn bài thơ đó, thấy hay quá, trong vòng một đêm, tôi phổ nhạc cho bài ‘Tiễn đưa’. Về sau, nếu tôi không lầm, có thể tôi là người đầu tiên phổ thơ Nguyên Sa năm đó.”

Năm đó, nhạc sĩ Song Ngọc 19 tuổi, và bài thơ của cố thi sĩ Nguyên Sa có tên là ‘Tiễn biệt’.

Một điều thú vị là khi ấy, cố thi sĩ Nguyên Sa và nhạc sĩ Song Ngọc có thể nói là ở hai thế hệ, một thầy, một trò, nhưng họ đã gặp nhau qua một tác phẩm, và cùng tạo ra một tác phẩm khác.

Đối với chàng nhạc sĩ Song Ngọc lúc bấy giờ, ca khúc ‘Tiễn đưa’ là sự khởi đầu, để sau đó, những bản nhạc trữ tình được tiếp nối ra đời, đánh dấu cho dòng nhạc Song Ngọc đa dạng, phong phú về giai điệu lẫn thể loại.

“Bản nhạc này với bản nhạc kia nó khác, vì tính của tôi nó… kỳ kỳ. Tôi không thích một chỗ, tôi thích cái gì nó lạ hơn. Có những bản nhạc như Xin gọi nhau cố nhân khác hẳn với Định mệnh…”

“Tôi trở về đây lúc đêm vừa lên

Giăng mắc trời mưa phố xưa buồn tênh…” (Xin gọi nhau là cố nhân)

Tuy khác nhau, và tuy là mỗi ca khúc ông dùng một bút danh khác nhau, thế nhưng tất cả những nhạc phẩm của Song Ngọc đều có một điểm chung, đó là mỗi một bản nhạc là một kỷ niệm của riêng ông. Mỗi lời ca, giai điệu đều có liên hệ đến những nơi ông đã đi qua, những người ông đã gặp trong cuộc đời mình. Tất cả những điều ấy ông gọi là “kỷ niệm của dĩ vãng”.

Một trong những kỷ niệm ấy là câu chuyện ông gửi vào ca khúc ‘Tình yêu như bóng mây’.

“Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt
Thành phố này xin trả lại cho anh 
Ngàn thông buồn chiều nay im tiếng 
Ngôi giáo đường lặng đứng suy tư…” (Tình yêu như bóng mây)

Đà Lạt năm đó theo ký ức của Song Ngọc là vào năm 1971, 1972, khi ông đang thụ huấn khoá chiến tranh chính trị. Ca khúc ‘Tình yêu như bóng mây’ được ra đời tại thành phố sương mù, một thành phố mà ông nói rằng ông đã yêu và để lại một tình yêu không nhỏ.

“Khi đó tôi đi học và ở trọ nhà của thiếu tá, thi sĩ Tô Kiều Ngân. Tôi viết hai bài, ‘Tình yêu như bóng mây’, và ‘Chẳng làm sao’, phổ thơ của Phan Khôi. ‘Tình như bóng mây’ có những chi tiết là thật. Ví dụ như cái nhà thờ mà ‘tôi cuối đầu từ giã Đà lạt ơi’ là nhà thờ Con gà tại Đà Lạt. Bài này thật sự có nước mắt của Song Ngọc.”

Nhạc sĩ Song Ngọc.
Nhạc sĩ Song Ngọc. Youtube screenshot

 Đà Lạt từ ngàn xưa đã được gọi là thành phố mộng mơ, với thông reo, với sương giăng mờ những con dốc nhỏ. Nếu Đà Lạt trong ca khúc của Lê Uyên Phương là nơi bắt đầu cho những cuộc tình thì hình ảnh Đà Lạt trong ‘Tình yêu như bóng mây’ của Song Ngọc là nơi mà chỉ một ngày mai nữa thôi, sẽ là một cuộc chia xa.

Rồi cũng như bao thanh niên thế hệ thời ấy, nhạc sĩ Song Ngọc lên đường tòng quân, khoác lên mình chiếc áo trận. Và đó cũng là thời gian mà ông cho ra đời các ca khúc viết về đời lính, về nỗi nhớ của người trai xa đô thành, xa cố nhân, “vào đời manh áo chiến lúc tuổi còn xanh”

“Khi đi lính tôi 19 tuổi, thì anh Hoài Linh có viết thêm cho tôi lời của một bài nữa là ‘Chiều thương đô thị’ để tiễn Song Ngọc đi lính.”

“Hôm xưa tay nắm tay nhau... anh hỏi tôi rằng:

"Những gì trong đời... ta ghi sâu vào tâm tư

Không tan theo cùng hư vô

Không theo tháng năm phai mờ

Tình nào tha thiết anh ơi?"

Tình quê hương gợi sâu

Tình tôi anh bền lâu…” (Chiều thương đô thị)

“Năm đó khoảng chừng năm 1961, ngày đó trước ngày tôi đi lính. Thời gian đó cũng là thời gian chiến tranh, anh Hoài Linh đặt lời cho ‘Chúng mình ba đứa’. Sau đó tôi có viết một bài nữa là bài ‘Một chuyến bay đêm’.”

Dù là ở dòng nhạc trữ tình hay dòng nhạc lính, thì trong những sáng tác của Song Ngọc đều toát lên một nét đẹp vừa hào phóng, vừa lãng mạn. Hiện lên trong những ca khúc ấy, là hình ảnh của người nghệ sĩ lãng mạn mang khí chất oai hùng của một người lính. Ông đã bày tỏ hầu như trọn vẹn tinh thần của người trai đang ở lứa tuổi đẹp nhất đời người.

Người trai trả nợ tang bồng với núi sông bằng ước mơ bay cao, bay xa bên dãy Ngân Hà, xem chuyện đời nhẹ như những chuyến bay.

“Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền

Người trai đi viết câu chuyện Một Chuyến Bay Đêm

Cánh Bằng nhẹ mơn trên làn gió

Đời ngây thơ xưa lại nhớ, lúc mình còn thơ

Nhìn trời cao mà reo mà mơ ước như diều để níu áo Hằng Nga ngồi bên dãy Ngân Hà…” (Một chuyến bay đêm)

Cùng với những ưu tư của mình đã nhìn thấy và những hiện trạng bây giờ, tôi về viết bản nhạc đó, và gọi tên là Đàn bà.
- Nhạc sĩ Song Ngọc

Thế rồi, nợ tang bồng của Song Ngọc và của bao người trẻ thời đó gác lại sau một ngày cuối tháng Tư. Ông rời quê hương, xa hẳn những chuyến bay đêm và màu áo xanh. Lần từ giã này lâu và xa hơn rất nhiều so với ngày ông “cúi đầu từ giã Đà Lạt mơ”.

Nhưng có lẽ đã là nghệ sĩ, thì ở bất cứ hoàn cảnh nào, thời điểm, họ vẫn phải sáng tác. Tình yêu âm nhạc và sáng tác vẫn luôn đong đầy trong cuộc sống của nhạc sĩ Song Ngọc. Chỉ có rằng, theo thời gian và những xoay chuyển của cuộc sống, sáng tác của ông có thêm chỗ đứng cho sự mất mát và thất vọng. Cũng là xa cách, nhưng trong sự chia ly này giờ đây mang màu sắc của cô độc.

“Khi tôi qua Mỹ năm 75, khoảng thời gian năm 1983, 1984, người Việt Nam bên đây nam nhiều hơn nữ, nên những chuyện oan kiên trong tình yêu đầy dẫy. Tôi nhìn thấy nhiều chuyện mất hạnh phúc gia đình hoặc tan vỡ của các cặp tình nhân. Có lẽ những chuyện đó nó chạy vào tiềm thức của người sáng tác.”

Ca khúc ‘Đàn bà’ nổi tiếng ra đời từ câu chuyện đời của một người bạn của ông, với lời nói:

“Ảnh ngồi buồn và tâm sự với tôi, Song Ngọc à, làm cho tôi một bài không có đàn bà trong đời tôi. Cùng với những ưu tư của mình đã nhìn thấy và những hiện trạng bây giờ, tôi về viết bản nhạc đó, và gọi tên là Đàn bà.”

“Đã từ lâu tôi vẫn thường trong bóng đêm.

Mang nỗi buồn không biết tên.

Tôi đã thầm thề mây hẹn gió.

Tôi muốn lánh xa chuyện đời.

Tôi muốn quên đi loài người.

Tôi ước mơ trong cuộc đời không có đàn bà…” (Đàn bà)

Song Ngọc, người nhạc sĩ tự nhận rằng từ những năm 13 tuổi, ông đã đam mê những áng văn của Nhất Linh, Khái Hưng. Từ đó mà kỹ thuật dùng từ và âm hỏi, ngã trong nhạc phẩm của ông ảnh hưởng nhiều của Tự lực văn đoàn.

Và có lẽ cũng do sự ảnh hưởng ấy mà nhạc của ông vừa có giai điệu bay bổng, lãng mạn, vừa có ca từ đơn giản, không trưởng giả. Dù là ông viết về tình ca hay viết cho người lính, các ca khúc đều mang màu sắc riêng của một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng.

***************

Lại thêm một nhạc sĩ tài hoa của miền Nam vừa ra đi.

Những tên tuổi đã góp phần xây dựng và phát triển nền âm nhạc tuyệt vời của Việt Nam Cộng Hòa cứ rơi rụng dần theo quy luật của Tạo Hóa, để lại bao nuối tiếc cho những người yêu nghệ thuật đích thực.

Nhac si 'Xin goi nhau la co nhan' qua doi o tuoi 75 hinh anh 1

Nhạc sĩ Song Ngọc đã sáng tác hàng trăm ca khúc và có những nhạc phẩm rất nổi tiếng, được đông đảo khán thính giả yêu thích:

- Định Mệnh 
- Tiễn Đưa 
- Đàn Bà 
- Em Còn Tuổi 15 
- Lính Thành Phố 
- Màu Tím Hoa Sim - thơ Hữu Loan 
- Một Ngày Tàn Chinh Chiến 
- Chiều Thương Đô Thị 
- Người Nữ Đồng Đội 
- Người Ra Vùng Hỏa Tuyến 
- Thư Cho Vợ Hiền 
- Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân

Viết chung với Vọng Châu:

- Nó Và Tôi

Viết chung với Hoài Linh:

- Chúng Mình Ba Đứa 
- Một Chuyến Bay Đêm 
- Phiên Khúc Một Chiều Mưa 
- Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em

songngoc

Người yêu âm nhạc trước 1975 nói riêng, người miền Nam nói chung khi nghe những nhạc phẩm nêu trên sẽ luôn tưởng nhớ đến người con của vùng đất Long Xuyên, nhạc sĩ Song Ngọc.

Cầu chúc Ông an nghỉ nơi Vĩnh Hằng... (FB Quoc Gia Nguyen)

*****************

Đàn Bà... Đã Thôi Làm Con Tim Nhỏ Máu...

Tôi chắc một điều rằng: trong các cuộc vui Karaoke, mấy đấng mày râu sẽ có lúc gào lên trong vô thức:

"Ôi đàn bà là những niềm đau 
hay đàn bà là ngọc ngà trăng sao 
Ôi đàn bà lại là con dao làm tim nhỏ máu.

Ôi đàn bà dịu ngọt đêm qua 
Hay đàn bà lạnh lùng hôm nay 
Ôi đàn bà là vần thơ say 
Khúc nhạc chua cay."

Và hình như gào thế thôi, chứ ít ai để ý và biết rằng: tác giả của Đàn Bà là nhạc sĩ Song Ngọc, mặc dù tác phẩm này ông chỉ viết thay lời muốn nói cho người bạn của ông!

Riêng tôi, mặc dù nhạc sĩ Song Ngọc có khá nhiều ca khúc tiêu biểu, nổi tiếng trong khoảng hơn 300 ca khúc trong cuộc đời sáng tác của mình như: Chiều Thương Đô Thị, Chuyện Ngày Cuối Năm, Chuyện Tình Buồn Trăm Năm, Đàn Bà, Định Mệnh, Một Chuyến Bay Đêm, Xin Gọi Nhau Là Cố Nhân... Nhưng "Một Chuyến Bay Đêm" (viết chung với Nhạc sĩ Hoài Linh) là thích hơn cả... Nghe Một chuyến Bay Đêm.... không chỉ những ai trong lực lượng Không Quân xưa mới có cảm xúc sâu lắng, mà chính những người yêu nhạc cũng không thể không hát theo:

Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền 
Người trai đi viết câu chuyện, một chuyến bay đêm 
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió... 
Đời ngây thơ xưa lại nhớ lúc mình còn thơ.

Nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều 
Để níu áo Hằng Nga, ngồi bên dãy ngân hà. 
Giờ sống giữa lưng trời, 
Đôi khi nhớ chuyện đời mỉm cười thôi...

Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo 
Đường Minh Đế nhàn du khắp tinh cầu, 
Chạnh thương hai đứa giờ gối súng nơi nào 
Lâu lắm chẳng gặp nhau. 
Bạn bè dù cách xa nào khuây, 
Tình nàng chưa nói nhưng mà say. 
Giai nhân hỡi khóe mắt em u hoài 
Theo tìm trong chuyến bay.

Có người hỏi phi công ước mơ gì? 
Người ơi nhân thế muôn màu nào biết mơ ước chi? 
Ước rằng từ khi tung nhịp cánh, 
Tình ta yêu thương là gió... nhân tình của mây. 
Ở đời ai hiểu ai, từng bay trắng đêm dài, 
Thì thức giữa đại dương, 
Dù yên giấc ven rừng, 
Bạn có biết chuyện này 
Tôi ghi lúc vũ trụ còn ngủ say."

songngoc1

... Và nay, người nhạc sĩ tài hoa Song Ngọc, người con của đất Long Xuyên - An Giang xưa... đã không còn "nhàn du khắp tinh cầu" vào hồi 9g 30 phút ngày 14/10/2018 tại Thành phố Houston, tiểu bang Texas - Hoa Kỳ, thọ 75 tuổi (FB Võ Khánh Tuyên)

Nam Mai st

Related image

 

 

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14

Hành Trình Xuyên Việt Trip # 14

*** Nam Mai ***

HUẾ -Thăm Bia Quốc Học - Đàn Nam Giao - Thăm Kinh Thành (Đại Nội): Thứ hai ngày 16 tháng 1 năm 2018

Rời Thánh Địa La Vang ở Quảng Trị vào chiều ngày Chủ Nhật khoảng 5:45 pm, Group 4 bắt đầu lên đường đến thành phố Huế - đến đây lúc 6:30 pm và check in vào Green Hotel Huế (tại số 2 đường Lê Lợi, phường Vĩnh Ninh, tp Huế) . Huế là thành phố trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, là đô thị cấp quốc gia của Việt Nam và từng là kinh đô của Việt Nam dưới triều nhà Nguyễn (1802 - 1945). Thành phố tọa lạc hai bên bờ hạ lưu sông Hương, nằm về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 105 km, cách cửa biển Thuận An 14 km, cách sân bay Phú Bài 14 km và cách cảng nước sâu Chân Mây 50 km. (chú thích: Cảng nước sâu Chân Mây là chỗ mà hiện nay họ đã xây dựng để làm (Port) nơi cho các du thuyền Cruiseships như Royal Caribbean, Princess Cruise Lines .... ghé đổ du khách lên bờ vào thăm Việt Nam). Vào thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, vì vị trí của thành phố Huế nằm rất gần với khu vực giới tuyến giữa 2 miền Nam Bắc, nên Huế đã trở thành một vị trí rất dễ bị tấn công trong chiến tranh Việt Nam. Trong vụ tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, thành phố Huế và nhiều danh lam thắng cảnh của thành phố đã bị thiệt hại rất nặng nề, nhưng rất may là cũng còn có một số thắng cảnh và di tích lịch sử không bị thiệt hại trầm trọng đáng kể.

Huế có địa hình khá phức tạp, bao gồm cả núi rừng, đồng bằng, đầm phá và vùng ven biển. Trước đây, vùng đất miền Trung thuộc về Vương quốc cổ Champa với một nền văn hóa phát triển khá phồn thịnh. Nhưng đến đầu thế kỷ thứ 19 thì toàn bộ dải đất này thuộc về Đại Việt, trong đó có Huế. Đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn lên trị vì đất nước, đóng đô ở Huế, đã cho xây tại Huế một công trình vĩ đại đó là Kinh thành Huế. Có thể nói, văn hóa nghệ thuật nước ta phát triển khá rực rỡ dưới thời nhà Nguyễn. Hàng trăm công trình chùa chiền, lăng tẩm, đền miếu đã được xây dựng trên thành phố Huế, cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại và là một kho tàng văn hóa lịch sử rất có giá trị.

Với những công trình lịch sử và văn hóa như thế, nên thành phố Huế hiện nay là một điểm rất hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước muốn đến. Đến với Huế, người ta sẽ đắm chìm vào một khung cảnh vừa lãng mạn vừa cổ kính của những lăng tẩm, đền đài, sông núi ..... mang những nét nghệ thuật đặc sắc của một vùng miền văn hóa lâu đời. Trong cuộc sống hàng ngày, Huế có những nét đặc biệt từ lối sống cho đến các phong tục tập quán, đều là những điều rất thú vị nên đã thu hút rất nhiều du khách khi đến đây. Ngoài những di tích lịch sử có giá trị, Huế cũng được thiên nhiên ưu ái ban cho rất nhiều thắng cảnh xinh đẹp, từ núi rừng Bạch Mã đến biển Thuận An, Lăng Cô, hay con sông Hương mơ màng chảy bên núi Ngự Bình đã tạo thành những biểu tượng lâu đời và riêng biệt của đất Huế.

Đúng 8:15 am, Cậu Quang đến đón 4 bà của group 4. Theo chương trình, buổi sáng mọi người sẽ được đưa đi xem Bia Quốc Học, Đàn Nam Giao và Kinh Thành Huế. Sau buổi ăn trưa, sẽ viếng thăm Hiếu Lăng của Vua Minh Mạng.

Bia Quốc Học:

Công trình này nguyên bản là một kiến trúc tưởng niệm, có tên là Đài chiến sỹ trận vong, Bia được xây dựng và khánh thành từ năm 1920 dưới thời vua Khải Định để tưởng niệm những binh sỹ người Pháp và người Việt ở các tỉnh Trung Kỳ đã tham chiến và tử trận trong Thế chiến thứ nhất (1914-1918). Khi xưa, mặt trước thân bia có ghi khắc tên họ của 31 người Pháp và 78 người Việt, sau thời Pháp thuộc thì phần này đã bị đục xoá, nhưng kiến trúc bia thì vẫn được giử lại. Vì đây là một công trình kiến trúc với nét đẹp truyền thống phong cách Huế, nhìn rất hài hòa với cảnh quan của sông Hương và trường Quốc Học cho nên kiến trúc Bia vẫn được giử cho đến ngày nay. Do vị trí công trình Bia toạ lạc trước cổng trường Quốc học (phía bên kia đường Lê Lợi, sát bờ Nam sông Hương) nên người dân Huế lâu nay vẫn quen gọi là Bia Quốc Học, chứ thực ra công trình này không liên quan gì đến Trường Quốc Học.

Những ngày đầu năm 2017 (vào thời điểm group 4 có mặt tại đây), đã nghe có dư luận và báo chí trong nước xôn xao về công trình Bia Quốc Học đang được trùng tu, và sau gần 3 tháng trùng tu với tổng kinh phí gần 3 tỷ đồng, bia Quốc Học bỗng được phủ lên một màu sơn vàng chói lạ mắt, những hoa văn trang trí vốn được làm rất tinh tế trên bia trước kia nay đã bị cạo xóa, nhìn không còn thấy gì là nét cổ kính như trước nửa. Có rất nhiều ý kiến trái chiều về việc trùng

tu công trình này, tựu trung ở vấn đề là khi tu tạo lại công trình, họ không tôn trọng nguyên gốc di tích, nên đã tạo ra một màu sắc mới nhìn rất phản cảm làm mất hẳn đi vẻ cổ kính sẵn có, khiến công trình cổ mà lại trông như mới .....

Hình N chụp bia Quốc Học vào thời điểm công trình sắp được hoàn thành (chụp ngày 16/1/2017)

v

Hình Bia Quốc Học củ (hình Internet)

Image result for Hình Bia Quốc Học củ

Tin mới nhất hiện nay về Đài tưởng niệm Chiến sĩ trận vong (hay thường được gọi là Bia Quốc Học do nằm trước cổng trường Quốc Học Huế). Cho rằng trải qua 100 năm xây dựng, công trình đã bị xuống cấp hư hỏng nghiêm trọng, vì thế vào tháng 11/2016, UBND thành phố Huế quyết định trùng tu bia Quốc học và giao cho trung tâm Công viên cây xanh Huế làm chủ đầu tư với số tiền tu bổ là gần 3 tỷ đồng và sẽ hoàn thành trong vòng 3 tháng. Tiếc rằng, sau khi hoàn thành việc trùng tu chưa được một năm (bia làm xong tháng 2-2017), thì vào cuối tháng 12 năm 2017 người ta thấy công trình này đã bị xuất hiện nhiều vết nứt đủ kích cở xung quanh hệ thống tường và các bậc thang lên xuống rồi.

Liên quan đến vấn đề này, giới chức "có thẩm quyền" thừa nhận đúng là có việc xuất hiện các vết nứt tại công trình Bia Quốc Học. Theo ông giải thích, nguyên nhân xuất hiện các vết nứt có thể là do bia được xây dựng trên nền gạch cũ (!!!!). Ông cũng cho biết, đơn vị thi công đang kiểm tra để sửa chửa lại. (Lời bàn Mao Tôn Cương : Hy vọng là việc sửa chửa sẽ không làm tốn thêm nhiều vào công quỹ (tiền thuế) của dân nửa, cũng như là nếu có sửa chửa lại thì cũng nên làm việc cho đúng đắn, cho có lương tâm, đừng nên ăn uống nhiều quá để rồi lại phá hại thêm cho những di tích lịch sử văn hóa từ xưa còn sót lại. Mong lắm thay!!!!).

Hình chụp tại Trường Quốc Học Huế (trường nằm đối diện với Bia Quốc Học). Trường Quốc Học là một ngôi trường nổi tiếng ở cố đô Huế, thành lập vào ngày 23 tháng 10 năm 1896.

Hình Sông Hương được chụp khi đứng tại vị trí của Bia Quốc Học.

Mọi người chụp vài tấm hình kỷ niệm tại trường Quốc Học và Bia Quốc Học, sau đó thì đến thăm Đàn Nam Giao. Đàn Nam Giao triều Nguyễn được xây dựng vào năm 1803, đặt tại làng An Ninh dưới thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc phường Trường An, tp Huế. Đây là nơi các vua nhà Nguyễn tổ chức lễ tế trời đất vào mùa xuân hàng năm. Đây là đàn Nam Giao duy nhất còn hiện hữu ở Việt Nam (dù trong tình trạng không còn nguyên vẹn), và cũng là đàn tế duy nhất còn tồn tại trong số nhiều đàn tế cổ ở Huế.

Lễ tế Nam Giao là nghi lễ quan trọng bậc nhất dưới chế độ quân chủ vì chỉ nhà vua mới có quyền làm lễ tế Giao, tức là tế Trời Đất, nhằm khẳn định tính chính thống của triều đại, uy quyền của Hoàng đế tuân theo mệnh trời mà cai trị dân chúng. Do vậy, hầu như các triều đại nhà Nguyễn đã cho xây dựng và duy trì đàn Nam Giao và đều tổ chức lễ tế Giao. Đàn Nam Giao đã được khởi công xây dựng vào ngày 25 tháng 3 năm 1806. Sau khi hoàn thành, vua Gia Long lần đầu tiên tổ chức lễ tế Giao tại đây vào ngày 27 tháng 3 năm 1807. Trong suốt 79 năm độc lập của nhà Nguyễn (1807 - 1885), đàn Nam Giao luôn là nơi tổ chức nghi thức tế Giao đều đặn vào mùa xuân hàng năm. Nhưng từ năm 1886 đến năm 1890, triều đình Huế không có tổ chức lễ tế Giao. Bắt đầu lại từ năm 1891, cứ ba năm một lần, vua Nguyễn lại đến tế Trời Đất ở đàn tế. Lễ tế cuối cùng của triều Nguyễn tại đây là vào ngày 23 tháng 3 năm 1945. Tính ra, đã có 10 trong tổng số 13 vị vua nhà Nguyễn đích thân tế hoặc sai người tế thay với 98 buổi đại lễ được tổ chức ở đàn Nam Giao. Sau khi nhà Nguyễn chính thức cáo chung vào tháng 8 năm 1945, đàn Nam Giao không được sử dụng đúng mục đích, dần dần bị đổ nát, hoang phế xuyên suốt qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam ác liệt. Năm 1977, đàn Nam Giao nhà Nguyễn đã bị xâm hại một cách nghiêm trọng khi chính quyền tỉnh Bình - Trị - Thiên cho xây dựng một đài tưởng niệm liệt sĩ bằng gạch ốp đá rửa, cao chừng 10m, công trình này được xây ngay chính giữa nền Viên Đàn. Ngày 22 tháng 12 năm 1977, khối "tân cổ cưỡng duyên" này đã được khánh thành với sự hiện diện của Bí thư Tỉnh ủy Bùi San. Thời gian đó, thủ trưởng ngành Văn hóa tỉnh Bình Trị Thiên, người có trách nhiệm quản lý các di tích lịch sử - văn hóa trong tỉnh này, Ty trưởng Ty Văn hóa là Nhạc sĩ Trần Hoàn lại không hề có hành động nào ngăn chặn vụ việc phá đàn Nam Giao tai tiếng này. Không chỉ nền Viên Đàn mà khu vực Trai Cung cũng bị biến dạng khi trở thành nơi đặt máy xay xát của công ty Lương thực thành phố Huế, nền nhà Khoản Tiếp cũng bị biến ra thành trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thủy Xuân. Trước những vụ việc này xảy ra, dư luận Huế bày tỏ bất bình bằng câu ca dao mà nhiều năm sau vẫn còn được truyền tụng: "Trần Hoàn cùng với Bùi San. Hai thằng hợp tác phá đàn Nam Giao". Tuy vậy phải đến 15 năm sau, nhận thấy việc tùy tiện cải biến công trình đàn Nam Giao là sai lầm trầm trọng nên đến ngày 15 tháng 9 năm 1992, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế mới có quyết định di dời đài tưởng niệm liệt sĩ đến một địa điểm khác để khôi phục trở lại nguyên dạng cho đàn Nam Giao, đồng thời giao cho Trung tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế nhiệm vụ bảo vệ, lập hồ sơ, và làm công tác trùng tu. Song sau đó, việc trùng tu vẫn chưa được diễn ra, đàn Nam Giao có khi được dùng làm bãi tập lái ô tô, có lúc lại biến thành thao trường của quân đội Việt Nam.

Ngày 11 tháng 12 năm 1993, đàn Nam Giao được nằm trong danh sách 16 di tích có giá trị toàn cầu nổi bật thuộc quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Giá trị của đàn Nam Giao triều Nguyễn nay được cộng đồng quốc tế công nhận, điều này đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử tồn tại của đàn Nam Giao.

Hình chụp Đàn Nam Giao (ngày 16/1/2017)

Sau khi đi vòng vòng chung quanh xem và chụp hình tại Đàn Nam Giao xong, thì chúng tôi bắt đầu đến thăm Kinh Thành và Đại Nội Huế.

Kinh thành Huế được xây dựng dưới thời vua Gia Long, là vị vua khai quốc của triều đại nhà Nguyễn. Công cuộc khảo sát để xây dựng Kinh Thành Huế bắt đầu từ năm 1803, chính thức khởi công vào năm 1805, và hoàn chỉnh vào khoảng năm 1832 dưới thời vua Minh Mạng. Có thể nói, Kinh Thành Huế là một trong những thành tựu vĩ đại của vua Gia Long và triều Nguyễn. Kinh Thành Huế được xây dựng trên diện tích khoảng 520 ha, có chu vi 10km, cao 6,6m và dày 21m. Thành có kiến trúc hình ngôi sao tiêu biểu theo phong cách Vauban (Citadel of Life), xây khúc khuỷu với những pháo đài phòng thủ được xếp đặt gần như đều nhau trên mặt thành. Thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối thời vua Gia Long thành mới được cho ốp gạch như chúng ta thấy ngày hôm nay. Bên ngoài vòng thành có đào một hệ thống thành hào sâu để bảo vệ chạy dọc theo chân thành. Hệ thống hào sâu này có tác dụng như là chướng ngại vật, vừa có chức năng phòng thủ vừa có chức năng giao thông bằng đường thủy.

Kinh Thành Huế có tất cả 13 cửa ra vào kể cả đường bộ và đường thủy. Trên mặt thành ngày xưa có tới 24 pháo đài. Kinh thành liên lạc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Ðông, Chính Tây, Chính Nam, Chính Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Ðông Bắc, Ðông Nam. Ở hai bên Kỳ Ðài còn có hai cửa Thể Nhơn và Quảng Ðức. Ngoài ra còn có hai cửa bằng đường thủy ở hai đầu sông Ngự Hà là Ðông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Phía Hoàng Thành ở góc đông bắc có một thành nhỏ, thời Gia Long gọi là Thái Bình, đến thời Minh Mạng đổi thành Trấn Bình Ðài có chu vi gần 1km, bên ngoài có hào rộng ăn thông với hào của Hoàng Thành.

Hình chụp 1 trong số 13 cổng vào của Kinh thành Huế ngày 16/1/2017 (một trong những cửa thành vẫn còn giữ nguyên được hình dáng và kiến trúc ban đầu).

Kinh Thành Huế, Hoàng Thành Huế và Tử Cấm Thành Huế: ba tòa Thành lồng vào nhau được xếp đặt cân đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hoành Thành và các Cung điện bên trong đều được xếp đặt trên một trục đối xứng gọi là trục Thần Đạo. Trong đó chính giữa trục Thần Đạo có các công trình chỉ được dành riêng cho Vua như cửa Ngọ Môn, cầu Trung Đạo, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, Cửa Hòa Bình. Hai bên trục Thần Đạo tính từ trong ra ngoài được xếp đặt tuân theo nguyên tắc: Tả Văn, Hữu Võ, Nam Tả, Nữ Hữu hay Tả Chiêu Hữu Mục (bên trái trước, bên phải sau, lần lượt theo thời gian..)

Hoàng Thành Huế là vòng thành thứ 2 bên trong Kinh Thành Huế, có chiều dài mỗi mặt thành khoảng 600m và gần như là vuông. Chiều cao khoảng 4m, và dày 1m được xây bằng gạch vồ. Hoàng Thành chính là trái tim, là trung tâm chính trị và là nơi quan trọng nhất của Kinh thành Huế, nơi đặt các cung điện, ngai vàng, miếu thờ ..... cũng là nơi ở và làm việc của Hoàng gia triều Nguyễn. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội. Hoàng Thành được xây dựng vào năm 1804 dưới thời vua Gia Long nhưng mãi đến năm 1833 mới hoàn chỉnh hệ thống cung điện với khoảng 147 công trình lớn nhỏ khác nhau. Hoàng Thành được trổ 4 cửa để ra vào gồm: Cửa Ngọ Môn nằm ở phía nam được xem là cửa chính của Hoàng Thành Huế, là cửa quan trọng nhất trong 4 cửa của Hoàng thành, cửa dành để cho vua đi trong các dịp lễ quan trọng và là nơi đặt lễ đài là lầu Ngũ Phụng được xem như là bộ mặt của Quốc gia, nơi diễn ra các buổi lễ quan trọng như lễ đón sứ thần của các nước, lễ xướng tên sỹ tử đỗ Tiến Sỹ trong cuộc thi Đình tại Kinh Thành, lễ Ban Sóc (lễ phát lịch hàng năm của nhà vua cho năm mới ) và lễ Duyệt Binh.... Cửa phía Bắc được đặt tên là cửa Hòa Bình, tả hữu hai bên là cửa Hiển Nhơn và cửa Chương Đức. Các cầu và hồ xung quanh hoàng thành đều có tên gọi là Kim Thủy. Cửa Ngọ Môn gồm có 2 phần chính là Đài Cổng và lầu Ngũ Phụng:

Ở phần Đài Cổng nhìn từ ngoài vào sẽ thấy có 3 cổng: Cổng chính giữa đặt tên là Ngọ Môn và được dành riêng cho Vua, hai cửa hai bên được đặt tên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn dành cho quan văn và quan vỏ theo nguyên tắc Tả Văn Hữu Vỏ. Đặc biệt hai bên cánh chữ U có 2 cửa vòng nhỏ chỉ thấy được từ phía trong nhìn ra ngoài đó là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn. Hai cửa vòng nhỏ này chỉ dành cho voi ngựa, quân lính và đoàn tùy tùng khi vua xuất hành qua cửa Ngọ Môn.

Phần lầu Ngũ Phụng là công trình kiến trúc đẹp nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế được xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn.

Lầu Ngũ Phụng có mặt bằng hình chữ U dựa theo nền móng của cửa Ngọ Môn gồm 2 tầng lầu và 2 tầng mái. Lầu được dựng trên nền cao 1,14m xây dựng trên nền đài của cửa Ngọ Môn. Khung của lầu được dựng trên 100 cây cột gỗ Lim tượng trưng cho bách tính trăm họ trong thiên hạ, trong đó có 48 cây cột xuyên suốt hai tầng lầu. Hệ thống mái dưới chạy quanh lầu xuyên suốt để che nắng che mưa cho tất cả các phần lan can phía dưới. Hệ thống mái của tầng trên được chia làm 9 bộ mái, trong đó bộ mái ở chính giữa cao hơn 8 bộ mái của 2 bên, được dành riêng cho Vua ngự. Bộ mái giữa chỗ Vua ngự được lợp bằng ngói Hoàng Lưu Ly màu vàng tượng trưng cho nhà vua, 8 bộ mái còn lại chia đều cho hai bên được lợp mái Thanh Lưu Ly màu xanh ngọc được dành cho các quan ngồi.

Xin được nói thêm rằng có một sự kiện quan trọng cũng liên quan đến Cửa Ngọ Môn, đó là vào ngày 30/8/1945 - tại đây chính là nơi đã diễn ra lễ thoái vị của vua Bảo Ðại – vị vua cuối cùng của Việt Nam.

Hình dưới đây được lấy từ Internet để các bạn có thễ nhìn rỏ cả 3 cổng chính (cổng cho Vua & Quan đi) lẫn 2 cổng vòng chữ U (cho quân lính, voi, ngựa đi) và màu sắc của mái ngói Hoàng Lưu Ly và Thanh Lưu Ly trên lầu Ngũ Phụng Đài.

Hình chụp trước Cửa Ngọ Môn

Điện Thái Hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành Huế. Đó là một công trình kiến trúc quan trọng nhất trong quần thể Hoàng Thành Huế. Là nơi đặt ngai vàng của các vị vua nhà Nguyễn, là trung tâm chính trị của cả nước trong 143 năm thời gian nhà Nguyễn trị vì. Điện Thái hòa được đặt ở Trung Tâm khu vực Hoàng Thành, theo phong thủy là nơi trung tâm của vũ trụ. Điện quay mặt về hướng chánh nam được nối với cửa Ngọ Môn bằng một cây cầu đá bắt qua hồ Thái Dịch được gọi là cầu Trung Đạo, xưa kia cầu Trung Đạo chỉ dành riêng cho vua đi. Các quan văn vỏ phải đi hai lối hai bên tả hữu để vào sân chầu hay còn gọi là sân Đại Triều Nghi. Phía đầu và cuối cầu Trung Đạo được dựng hai chiếc cổng có hình lưỡng Long chầu Nhật. Phía trước điện Thái Hòa là sân Đại Triều Nghi, nơi thiết hành lễ Đại Triều vào các ngày mồng 1 và 15 hàng tháng, và cũng được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng như lễ Đăng Quang, Sinh Nhật Vua, hay những buổi đón tiếp sứ thần chính thức. Điện được xây dựng vào năm 1805 thời vua Gia Long. Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở Đại Nội, trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại cho thêm đồ sộ và lộng lẫy hơn.

Phía sau Ngọ Môn là Điện Thái Hòa và khu vực bên trong Ngọ Môn

Điện Thái Hòa và sân Đại Triều Nghi

Điện Thái Hòa và Sân Đại Triều Nghi (Chỉ có các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốc thích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến. Các quan khác có mặt đông đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng từ nhất phẩm đến cửu phẩm, quan văn đứng bên trái, quan vỏ đứng bên phải. Tất cả các vị trí đều được đánh dấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu).

Ở trước Hiển Lâm Các đối diện với Thế Miếu (phía tây nam Hoàng hành Huế) là nơi có đặt chín cái đỉnh bằng đồng của nhà Nguyễn, những đỉnh này được gọi là Cửu Đỉnh. Tất cả đều được đúc ở Huế vào cuối năm 1835, hoàn thành vào đầu năm 1837. Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với mỗi vị hoàng đế của triều Nguyễn, chúng có trọng lượng khác nhau và hình chạm khắc bên ngoài đỉnh cũng khác nhau. Chín đỉnh đó là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương Đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh, Dụ Đỉnh, và Huyền Đỉnh.

Chín đỉnh được sắp thành một hàng ngang dưới thềm Hiển Lâm Các, nằm theo thứ tự các án thờ trong Thế Miếu. Riêng Cao Ðỉnh của vua Gia Long thì đặc biệt được đặt nhích về phía trước 8 đỉnh kia một khoảng gần 3m, vì vua Minh Mạng cho rằng Gia Long là vị vua có công lớn nhất đối với triều đại.

 Hiển Lâm Các là một đài lưu niệm, nơi ghi công những vị khai quốc công thần đã sáng lập ra triều Nguyễn. Hiển Lâm Các được xây dựng từ năm 1821 – 1822 dưới thời vua Minh Mạng, tọa lạc phía tây nam của Hoàng Thành nằm phía trước của Thế Miếu

Hình chụp Thế Tổ Miếu

Thế Tổ Miếu thường gọi là Thế Miếu tọa lạc ở góc tây nam bên trong Hoàng thành Huế, là nơi thờ các vị vua triều Nguyễn. Đây là nơi triều đình đến cúng tế các vị vua quá cố, nữ giới trong triều (kể cả hoàng hậu) không được đến tham dự các cuộc lễ này. Bên trong miếu, ngoài án thờ vua Gia Long và 2 Hoàng hậu đặt ở gian giữa, các án thờ của các vị vua còn lại đều theo nguyên tắc "tả chiêu, hữu mục" để sắp đặt. Tuy nhiên, theo gia pháp của họ Nguyễn, các vị vua bị coi là "xuất đế" và "phế đế" đều không được thờ trong tòa miếu này, do đó trước năm 1958, bên trong Thế Tổ Miếu chỉ có 7 án thờ của các vị vua dưới đây: 1. Án thờ Thế Tổ Cao Hoàng Đế (vua Gia Long) và 2 Hoàng hậu Thừa Thiên, Thuận Thiên ở gian chính giữa. 2. Án thờ Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế (vua Minh Mạng) và Hoàng hậu Tá Thiên ở gian tả nhất (gian thứ nhất bên trái, tính từ gian giữa). 3. Án thờ Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (vua Thiệu Trị) và Hoàng hậu Nghi Thiên ở gian hữu nhất (gian thứ nhất bên phải, tính từ gian giữa). 4. Án thờ Dực Tông Anh Hoàng Đế (vua Tự Đức) và Hoàng hậu Lệ Thiên ở gian tả nhị (gian thứ hai bên trái). 5. Án thờ Giản Tông Nghị Hoàng Đế (vua Kiến Phúc) ở gian hữu nhị (gian thứ hai bên phải). 6. Án thờ Cảnh Tông Thuần Hoàng Đế (vua Đồng Khánh) và Hoàng hậu Phụ Thiên ở gian tả tam (gian thứ ba bên trái). 7. Án thờ Hoằng Tông Tuyên Hoàng Đế (vua Khải Định) và Đoan Huy Hoàng thái hậu ở gian hữu tam (gian thứ ba bên phải).

Đến tháng 10 năm 1958, án thờ 3 vị vua chống Pháp vốn bị liệt vào hàng xuất đế không được thờ trong Thế Tổ Miếu là các Vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân đã được hội đồng Nguyễn Phúc Tộc rước vào thờ ở Thế Tổ Miếu. Hiện nay án thờ vua Hàm Nghi được đặt ở gian tả tứ (gian thứ tư bên trái). Án thờ vua Thành Thái đặt ở gian tả ngũ (gian thứ năm bên trái), còn án thờ vua Duy Tân đặt ở gian hữu tứ (gian thứ tư bên phải). Còn các án thờ vua Dục Đức, Hiệp Hòa và Bảo Đại đến nay vẫn chưa có mặt trong Thế Tổ Miếu.

Thái Miếu hôm nay vào lúc group 4 đến đây đã đóng cửa không cho du khách vào thăm viếng, vì bên trong gia đình Hoàng Tộc đang cúng bái cho ngày Giỗ Kỵ của một nhà Vua (có nói tên mà N quên không ghi xuống note), cho nên mọi người chỉ được đứng bên ngoài nhìn vào và chụp hình thôi. (bình thường họ không có đem cờ lọng bàn ghế bày ra trước sân Thế Miếu như đã nhìn thấy trong hình đâu).

Tại cố đô Huế hiện còn lưu giữ và trưng bày 15 chiếc vạc đồng là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện trình độ kỹ thuật đúc và mỹ thuật tuyệt vời, trong số đó, có 11 chiếc được đúc từ thời các chúa Nguyễn, còn 4 chiếc được đúc vào thời vua Minh Mạng

Cung Diên Thọ chính điện

Diên Thọ Cung là biệt điện của Hoàng Thái Hậu (Mẹ Vua) hoặc Thái Hoàng Thái Hậu (Bà Nội Vua) được xây dựng sớm nhất trong Đại Nội, từ năm 1804. Đây là cung điện quy mô nhất còn lại tại cố đô Huế. Cung Diên Thọ gồm hơn 10 tòa nhà được xây trong một khuôn tường thành hình chữ nhật rộng khoảng 100m, dài 150m, cao quá đầu người. Hiện nay, Cung Diên Thọ chỉ còn lại một số công trình như : Cung Diên Thọ, Điện Thọ Ninh, Tạ Trường Du, Am Phước Thọ và Lầu Tịnh Minh. Các công trình này được nối liền với nhau bằng hệ thống Trường Lang, nối tiếp với Trường Lang ở Tử Cấm Thành.

 Một phần nội thất trong Cung Diên Thọ

Tạ Trường Du (nằm trong cung Diên Thọ).

Đây là ngôi nhà thủy tạ nằm trên một hồ nước hình chữ nhật, dài 28m, rộng 20m, được xây dựng năm 1849. Tạ Trường Du nằm ở bờ Bắc của hồ, mặt quay về hướng Nam. Tòa nhà bằng nửa diện tích hồ. Nền lát gạch hoa, vách bằng gỗ, trổ nhiều của sổ. Nội thất chạm trổ tinh xảo. Trên bờ nóc chắp bầu rượu bằng pháp lam. Quanh tạ xây lan can, mặt trước có cầu nối với bờ Nam hồ. Hai bên hồ đắp hai hòn non bộ, trên có am nhỏ và cầu nối

Hình chụp nội thất trong cung của Hoàng Gia, phía cuối là 1 cái kiệu đang được trưng bày.

Trong Tử Cấm Thành có một hệ thống Trường lang dài hơn 900m đã tồn tại trên 200 năm, nhưng do các biến động của lịch sử và chiến tranh nên các hệ thống trường lang đã bị phá hủy một cách trầm trọng nay chỉ còn lại dấu tích nền móng. Trong những năm qua, Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã phục hồi, tu bổ hành lang, phục hồi các bức tranh treo tường tại các Trường lang để từng bước phục hồi diện mạo các công trình trong khu vực Đại Nội.

Hình chụp dưới đây là một vài Trường Lang trong Tử Cấm Thành dùng để nối liền các cung điện với nhau từ cung nọ sang cung kia (N có nhiều hình chụp hệ thống Trường Lang với những kiểu cách khác nhau rất đẹp, nhưng trong khuôn khổ bài này không thễ post lên hết được).

Chương Đức Môn là cửa thành phía Tây của Hoàng Thành Huế

Hình chụp tại Chương Đức Môn 

Bây giờ mình nói chuyện của 4 bà trong lúc đi thăm viếng Đại Nội nha. Hôm nay là một ngày nắng ráo, nóng cao độ mà trời lại đứng gió nên thời tiết vô cùng oi bức. Suốt mấy tiếng đồng hồ chạy tới chạy lui, chạy qua chạy lại từ cung nọ sang cung kia đến mướt cả mồ hôi. Xem một lúc thì .... "tẩu hỏa nhập ma", mệt quá sức nên chẳng nhớ là mình đã xem cái gì, quên sạch hết cả tên các cung điện vì thấy sao cung nào cũng giống cung nào, rồi đường đi thì quanh qua quanh lại .... đến một lúc thì ..... chẳng biết là mình đang ở đâu nửa. Hai chân đã mỏi nhừ mà người thì mệt lã vì nóng quá sức .... N yêu cầu cậu Quang cho ra về ăn trưa, sau đó được nghĩ ngơi lấy sức để mà còn đi ..... bêu nắng vào buổi chiều tại Hiếu Lăng. Nhưng khỗ nổi trong group có 1 một O là Mỹ Thiện, cô này cứ nhất định bắt cậu Quang phải dẫn cô đi tìm cho bằng được "cái vườn Ngự Uyển" của Hoàng gia, vì cô nói đã xem trên YouTube có video chiếu và chính tận mắt cô đã được xem cái vườn Ngự Uyển này trên YouTube rồi, cô đã xem video, thì hôm nay cô muốn được chính mắt nhìn thấy nó!Trời đất ơi, ba bà lếch thếch đi theo cô và cậu Tour Guide giửa trưa nắng chang chang muốn tắt thở luôn mà có tìm thấy cái vườn Ngự Uyển nào đâu, hỏi nhân viên làm việc trong các phòng tại Đại Nội thì người nói có vườn Ngự Uyển, người lại nói không ..... mỗi người chỉ 1 nẻo ..... cứ thế nghe theo lời họ chỉ để đi tìm, khỗ nổi trong Đại Nội từ chỗ nọ sang chỗ kia rất xa, đã chạy hết từ Nam lên Bắc rồi lại từ Đông sang Tây nhưng có tìm thấy vườn tược gì đâu ..... Cô này là giòng giỏi Hoàng Gia chính tông (Mẹ của cô là cháu nội của ngài Tuy Lý Vương -Tuy Lý Vương là con trai thứ 11 của vua Minh Mạng) nên khi vào Đại Nội cô đi xem xét rất kỷ lưởng, chỗ nào cũng coi, cũng đọc cẩn thận chứ không như N chỉ xem tổng quát và đại khái, sau đó còn lo mắt trước mắt sau tìm chỗ có cảnh đẹp để chụp ảnh thôi. Thấy cậu Quang không tìm ra vườn Ngự Uyển cho cô, cô vẫn nhất định phải đi tìm cho bằng được. Ôi giời, N oải quá bèn năn nỉ xin được ngồi lại để nghỉ mệt tại 1 băng ghế ở Trường Lang chứ không muốn đi nửa vì đã hết sức rồi, khi nào mọi người xem xong vườn Ngự Uyển thì đến chỗ hẹn gọi N vậy. Ôi, ngồi chờ mòn mỏi mà chẳng thấy ai trở lại ...... vì đã đở mệt nên N đi lần lần vào những dảy nhà hai bên để xem trong lúc chờ đợi cho đở sốt ruột. Theo như bản sơ đồ thì trước kia đây là vị trí của Điện Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày) – điện Cần Chánh là một công trình kiến trúc bằng gỗ có quy mô gần bằng điện Thái Hòa - nhưng cung điện này hiện nay đã hư hại hòan toàn. Tại đây bây giờ chỉ còn sót lại có hai trong số rất ít các công trình còn lại của Tử Cấm Thành, đó là hai tòa nhà Tả Vu và Hữu Vu. Đây là nơi để cho các quan chuẩn bị các nghi thức trước khi thiết triều: Tả Vu là toà nhà dành cho các quan văn, còn Hữu Vu là toà nhà dành cho các quan võ. Ngày nay Tả Vu được sử dụng làm nhà bảo tàng lưu giữ những bức hình của hoàng cung, những vật dụng của vua quan nhà Nguyễn, còn tại Hữu Vu thì họ cho mở ra một dịch vụ kinh doanh "hóa trang chụp hình" cho du khách. Trời đất, không hẹn mà lại gặp đúng vào chỗ mình muốn tìm, thế là N đi ngay vào tòa nhà Hữu Vu. Dịch vụ vắng tanh như chùa Bà Đanh, nên khi thấy có khách vào, mọi người bèn xông tới mời chào săn đón quý khách ưng chịu hóa trang làm ..... Hoàng Hậu để chụp hình các bác ạ. He he he ....dịp may hiếm có, đang mệt vì nóng nực ngoài kia thì vào chỗ mát mẻ này mình giả dạng làm .... Hoàng Hậu chơi vậy! Họ hỏi N "thế cô muốn có 2 thị nữ hay là 8 thị nữ hầu?" Thôi rườm rà làm chi, 2 thị nữ hầu là được rồi! Giả dạng Hoàng Hậu có 2 thị nữ hầu thì phải trả 650 ngàn VND (khoảng gần $30.00 đô) nhé các bác. Xong, họ dẫn vào phòng thay quần áo, và lần này N vẫn bị "offer" làm ..... Hoàng Thái Hậu! (không được làm Hoàng Hậu mặc áo vàng vì tướng mình coi bệ vệ quá, và lại hơi .... già, nên phải làm Hoàng Thái Hậu mặc áo đỏ). Đang thay quần áo chưa xong, quay qua quay lại thì đã thấy có 2 thị nữ áo quần chỉnh tề cầm quạt đứng sẳn sàng để .... hầu rồi. Post cái hình lên đây cho các bác xem ..... cười chơi cho thoải mái tinh thần chút nha.

Các bác thấy sao ???? Chưa làm Hoàng Thái Hậu Việt Nam bao giờ nên không biết trang phục chính xác của đời trước nó như thế nào ..... riêng N khi nhìn vào cái hình này thì ..... hm! thấy mình hơi bị giống Tàu như trong mấy cái phim bộ các bác ạ !!!! (thiệt mà! chỉ cần thay đổi kiểu tóc thôi thì mình sẽ nhìn ra y chang như cái bà Queen Mother mặt ác ác trong cung cấm Tàu ngày xưa ạ).

Khoảng 12:00 hơn thì mọi người trở lại tìm N để ra về. Rốt cuộc quý vị đó chạy đông, chạy tây bêu nắng cật lực giửa trưa nhưng cuối cùng có tìm ra được cái vườn Ngự Uyển nào đâu! Theo như N biết thì trong Hoàng Thành họ đâu đã phục hồi lại cái vườn Ngự Uyển mà mình hòng mong tìm được nó.

Đúng 12:35 trưa thì mọi người ra xe rời khỏi Đại Nội. Và lại thễ theo lời yêu cầu của 3 O Huế kia, N lại phải theo mọi người đi ăn .... Bún Bò Huế cho bữa trưa các bác ạ. Chơi trò "dân chủ" thì phải theo đúng luật, thiểu số phải phục tùng đa số, 3 O kia là "đa số" nên họ chọn chỗ nào thì "thiểu số" là N phải tuân theo, cấm cãi! Trong thời gian ở Huế, 3 O Huế kia muốn tìm lại "hương vị quê hương ngày xưa" nên ăn sáng, ăn trưa, ăn tối gì gì .... các bà đều muốn đi xơi các món Huế của ngày xưa, nhưng muốn ăn các món đích thực dân giả và ngon đúng cách như ngày xưa thì phải vào các quán nho nhỏ, lụp xụp, tồi tàn "như ngày xưa" thì mới tìm lại được đúng hương vị, còn nếu chọn các nhà hàng sạch sẽ sang trọng một chút thì chắc gì đã tìm lại được "hương vị của ngày xưa" phải không ạ. Cậu Quang TG là người Đà Nẳng nhưng ngỏ ngách nào của Huế, địa chỉ quán ăn dân dã nào tại Huế cậu đều thuộc nằm lòng. Vào đúng bữa, cậu chỉ cần hỏi "hôm nay các cô muốn ăn món gì?", thế là lúc thì Bún Bò Huế, lúc thì Cơm Hến, cơm Âm Phủ, lúc thì Bánh Bèo Chén + thêm Nem, Tré, lúc thì Bánh Xèo + thêm Nem lụi, lúc thì Bánh nọ, Bánh kia ..... và tùy theo những món của các bà chọn thì Cậu sẽ đưa đúng vào chỗ ..... có quán nổi tiếng tại địa phương về món đó ..... phải công tâm mà nói thì cũng có những quán ăn rất ngon, nhưng chỉ hiềm một nổi là nhiều quán có hơi bị lụp xụp, tồi tàn .... và có khi còn nhìn thấy cả dơ dơ nửa ..... Trưa nay thì 4 bà vào ăn Bún Bò Huế tại số 19 đường Lý Thường Kiệt, và N thì cũng lại không nhớ là nó có ngon hay không nửa, mà chỉ nhớ là giửa trưa nóng nắng chang chang, quán nho nhỏ hẹp hẹp lại không có quạt .... trời ..... ăn một tô BBH cay líu lưỡi xong thì mình đổ cả mồ hôi mẹ lẫn mồ hôi con!

Mọi người sau khi ăn trưa xong thì trở về khách sạn nghỉ ngơi, cậu Quang hẹn đúng 3:00 giờ chiều thì sẽ đến đón đi thăm Hiếu Lăng - Lăng Vua Minh Mạng.

 

Viết xong ngày August 15-2018

Bài kế tiếp: HUẾ - Thăm Hiếu Lăng (HTXV #14a)

 

Nam Mai  ***

 

Lăng Khải Định thuộc xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách Tp. Huế 10km. Lăng Khải Định có diện tích nhỏ hơn so với lăng của các vua tiền nhiệm nhưng công phu, lộng lẫy hơn; kết hợp tinh xảo hai nền kiến trúc, văn hoá Đông - Tây. Tổng thể của Lăng là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc. Núi đồi, khe suối của một vùng rộng lớn quanh Lăng được dùng làm các yếu tố phong thủy: tiền án, hậu chẩm, tả thanh long, hữu bạch hổ, minh đường, thủy tụ, tạo cho lăng Khải Định một ngoại cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Giá trị nghệ thuật cao nhất của Lăng là phần trang trí nội thất cung Thiên Định. Ba gian giữa trong cung đều được trang trí phù điêu ghép bằng sành sứ và thủy tinh màu. Đặc biệt chiếc Bửu tán trên pho tượng đồng, nặng 1 tấn với những đường lượn mềm mại, thanh thoát khiến người xem có cảm giác làm bằng nhung lụa rất nhẹ nhàng. Bên dưới Bửu tán là pho tượng đồng Khải Định được đúc tại Pháp năm 1922 theo yêu cầu của nhà vua.

 

Theo dõi RSS này