Kim Phượng

Kim Phượng

12 sự thật thú vị về tình yêu dưới góc nhìn khoa học

12 sự thật thú vị về tình yêu dưới góc nhìn khoa học

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Nhắc đến tính yêu chúng ta thường nói đến sự lãng mạn, tình cảm nồng cháy và những cung bậc cảm xúc thăng hoa. Tuy nhiên, tình yêu dưới một góc độ nào đó thì lại vô cùng hài hước và thú vị.

Tình yêu là một trong những cảm xúc kỳ lạ và bí ẩn nhất của con người, nó không chỉ đơn thuần là sự rung động đầu đời, tình cảm thơ ngây trong sáng tuổi học trò hay những lần đỏ mặt, e thẹn mà bạn sẽ không bao giờ quên mà đằng sau nó còn là những hoạt động phức tạp hơn hẳn những gì nhiều người vẫn tưởng tượng.

Tình yêu thường là một cảm xúc thu hút mạnh mẽ và nhu cầu muốn được ràng buộc gắn bó, nó cũng có thể là một đức tính đại diện cho lòng tốt của con người, sự nhân từ, và sự thông cảm.

Trái tim là biểu tượng cho tình yêu. (Ảnh: widehdimages.com)
Còn sô cô la và hoa hồng thì thể hiện sự ngọt ngào và lãng mạn trong tình yêu. (Ảnh: dtsft.wordpress.com)

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn không ngừng nghiên cứu về dạng cảm xúc độc đáo này. Dưới đây là 12 thật thú vị về tình yêu được các nhà khoa học phát hiện ra:

1. Không phải chỉ có con người có tình yêu

Chúng ta thường nghĩ rằng tình yêu chỉ tồn tại trong xã hội loài người nhưng thực tế nó còn phổ biến trong giới tự nhiên, nổi bật là loài sói, thiên nga, kền kền, vượn, và 1 số loài chim hải âu lớn. Không những vậy,  nhiều loài vật là chứng minh cho ta thấy chúng còn chung thủy hơn nhiều lần con người vì chỉ sống với duy nhất 1 bạn đời cho đến khi chết như thiên nga.

Thiên nga là loài động vật chung thủy nhất thế giới tự nhiên. (Ảnh: newaysuspech.ru)

2. Tình yêu chỉ chiếm 1/3 hoạt động của não 

Khi nghiên cứu mối liên hệ giữa tình yêu lãng mạn và hoạt động của não bộ, các nhà  khoa học tại trường Đại học Rutgers (Mỹ) chỉ ra rằng: “Tình yêu chỉ chiếm 1/3 hoạt động của não khi bạn yêu, còn hoạt động não bộ thì kiểm soát nhận thức, sự ham muốn và bản năng duy trì nòi giống”.

(Ảnh: goodfon.ru)

Đây chính điểm khác biệt giữa con người với các loài động vật có vú và chim, nó thể hiện sự phát triển hơn rất nhiều về nhận thức và tư duy. Dạng hoạt động này của não là động lực tạo nên sức mạnh đặc biệt của tình yêu giúp cho con người sống lạc quan, có trạng thái tinh thần vui vẻ và sống lâu hơn.

3. Nghiêng đầu sang phải khi hôn

Hãy tưởng tượng khi bạn muốn hôn người yêu mình, dù là lên môi hay lên má thì bạn nghiêng đầu sang phải đúng không? Nếu đúng thì bạn thuộc về nhóm 65% dân số trên thế giới đấy!

(Ảnh: Bestie)

Việc chỉ nghiêng đầu sang một bên duy nhất khi hôn dường như được quyết định bởi thói quen não bộ vận động, giống như người thuận phải hay thuận trái vậy. Số người thuận tay trái chỉ chiếm phần nhỏ trong xã hội nên rõ ràng người nghiêng sang trái cũng ít hơn.

Các chuyên gia lý giải rằng hành động này có thể chịu ảnh hưởng từ việc mức độ hormone tại mỗi bán cầu và các chất truyền dẫn thần kinh được phân bổ không đều giữa 2 bán cầu não. Ví dụ: dopamine – hormone tưởng thưởng hay testosterone – hormone sinh dục nam chênh lệch tạo ra xu hướng khiến chúng ta nghiêng đầu sang 1 bên.

4. Không thích chia sẻ tình cảm trên mạng xã hội

Các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Kansas (Mỹ) đã làm một cuộc nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng hầu hết mọi người không thích đối tác của mình chia sẻ công khai những cảm xúc, tình cảm về mối quan hệ của họ trên “thế giới Facebook”.

(Ảnh: bestie.vn)

Những người tham gia cuộc nghiên cứu nói rằng họ cảm thấy bản thân không thể gần gũi  với “đối tác” vì họ cứ thích công khai những suy nghĩ nói lên cảm nhận về tình yêu của họ.

5. Chỉ 4 phút để quyết định đó có phải là người bạn yêu

Yêu từ cái nhìn đầu tiên hay tiếng sét ái tình là sự sự rung động bất chợt của trái tim khi gặp một ai đó khiến bạn thầm thương, mơ mộng, nhớ nhung cùng những cảm giác lâng lâng hạnh phúc với cái nắm tay, nụ hôn, lần vô tình chạm vào mắt nhau.

Dù bạn có tin hay không tin vào tình yêu từ cái nhìn đầu tiên thì vẫn tồn tại một khoảng thời gian tương đối để bạn thu hút sự chú ý và làm cho ai đó yêu mình, khoảng thời gian đó là khoảng 4 phút. Trong vòng 4 phút này, đối phương thường tìm sự hấp dẫn ở nụ cười, ngôn ngữ cơ thể, giọng nói… hơn là nội dung những điều bạn đang nói. Một nghiên cứu khác còn chỉ ra rằng, nếu chỉ dựa vào ấn tượng đầu tiên về vẻ ngoài, chúng ta chỉ mất có 8 giây để quyết định có yêu ai đó.

(Ảnh: Webtretho)

6. Tình yêu xuất hiện tình cờ mà bạn không biết trước

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng nếu một người con trai bắt gặp một người con gái trong những tình huống nguy hiểm hoặc khó khăn thì tỉ lệ họ trúng tiếng sét ái tình cao hơn các trường hợp làm quen ở văn phòng, công sở, ngoài đường hay trong công viên.

(Ảnh: kaskus.co.id)

7. Tình yêu có tác dụng như một chất kích thích

Các nhà nghiên cứu và cả những người trong cuộc đã chỉ ra sự tương đồng giữa trạng thái yêu thương đắm đuối với cảm giác sau khi sử dụng chất kích thích bởi cả 2 đều gây ra những trạng thái lâng lâng, hưng phấn và ngây ngất. Họ còn bổ sung thêm rằng khi chúng ta yêu thì cơ thể sẽ giải phóng các chất cảm ứng có thể sản sinh ra trạng thái này và kích thích 12 vùng não bộ trong cùng 1 thời điểm.

(Ảnh: We25.vn)

8.  Nắm tay người mình yêu có thể giúp giảm căng thẳng và đau đớn về mặt thể chất cũng như tinh thần

Các bằng chứng chỉ ra rằng, các cặp đôi yêu nhau sâu đậm luôn có nhiều cách để giúp đỡ đối phương đương đầu với khó khăn mệt mỏi. Một trong những cách đó là nắm lấy tay người mình yêu, nó giúp bạn quên đi những mệt mỏi và u sầu cũng như cảm nhận được tình cảm và suy nghĩ của đối phương.

(Ảnh: huffingtonpost.com)

9. Chỉ nhìn vào mắt nhau cũng có thể khiến hai người yêu nhau

Trong tình yêu, câu nói “đôi mắt là cửa sổ tâm hồn” không chỉ là câu nói đùa, bởi lẽ chỉ cần một  1 hành động đơn giản là nhìn vào mắt nhau thôi cũng khiến 2 người xa lạ đến mấy  cũng có thể dễ dàng “phải lòng” nhau.

Khi có ai đó nhìn vào mắt bạn, cơ thể của bạn sẽ sản sinh ra một chất với tên gọi feniletilamina – thứ có tính quyết định tới việc “tiếp tục” hay “bỏ chạy” của não bộ. Do đó, nếu bạn quyết định “tiếp tục”, nghĩa là nhìn lại người ấy, vô hình bạn đã găm mũi tên của thần Cupid vào đối phương rồi đấy.

(Ảnh: Zing TV – Zing.vn)

Không cần bạn phải xinh đẹp hay giỏi giang đến nhưng với tinh thần vui vẻ và lạc quan là đủ để làm người đối diện luôn có một cảm giác hấp dẫn không thể từ chối.

10. Nét tương đồng giữa các đôi yêu nhau

Các nhà khoa học ở trường ĐH Liverpool (Anh) giải thích rằng, não của chúng ta thường ưa thích những khuôn mặt thân quen. Do đó, bạn sẽ thấy rất nhiều đôi yêu nhau trông giống nhau như anh trai và em gái. Nếu các đôi nam nữ khác nhau có hình dáng khuôn mặt càng giống nhau thì khả năng bên họ gắn kết với nhau càng lâu.

(Ảnh: Soha)

Một nghiên cứu với 200 đối tượng nghiên cứu với những gương mặt đã được chỉnh sửa theo phương pháp kỹ thuật số, các nhà khoa học phát hiện ra rằng phần lớn những người tham gia nghiên cứu  thích những khuôn mặt có nét tương đồng với mình hoặc người thân của mình.

11. Lượng hormone ảnh hưởng tới cách cư xử trong tình yêu

Oxytocin là một loại hormone được tiết ra ở vùng dưới đồi, dự trữ ở thùy sau của tuyến yên. Khi vùng dưới đồi gửi một tín hiệu thần kinh đến tuyến yên thì oxytocin sẽ được giải phóng, chất hóa học này đảm nhận vai trò như một liên kết trong tình yêu.

(Ảnh: usmagazine.com)

Một nghiên cứu mới đây tại trường Đại học Zurich (Thụy Sĩ) đã chỉ ra rằng: “Những người đàn ông có nhiều oxytocin hơn thường chọn gải pháp im lặng trong những cuộc xung đột với người yêu. Đó là những người thường cười khá nhiều, hay giao tiếp bằng ánh mắt và thường xử sự khá tốt dù xảy ra bất đồng.”

12. Nhận biết tình cảm qua khoảnh khắc

Các nhà khoa học thuộc trường Đại học Pennsylvania (Mỹ) khi nghiên cứu hành vi của những người độc thân chỉ ra rằng con người không cần quá nhiều thời gian hay thông tin để biết tình cảm của mình với người khác.

Họ phát hiện ra rằng cả nam và nữ đều có khả năng nảy sinh tình cảm trong khoảnh khắc gặp mặt bất ngờ nhờ sử dụng những dấu hiệu thị giác ban đầu. Những yếu tố khác như tôn giáo, giáo dục hay thu nhập đóng vai trò không nhiều trong chuyện tình cảm.

(Ảnh: psihologiy.net)

Tóm lại, lời khuyên dành cho ai muốn có một bạn “gấu” đồng hành trong mùa đông giá lạnh này là luôn thường trực trên khuôn mặt một nụ cười tươi tắn và chân thành!

Còn rất nhiều điều lý thú đằng sau chủ đề liên quan đến tình yêu. Mong rằng bạn sẽ có những thời gian vui vẻ và thư giãn sau khi đọc những thông tin thú vị mà bài viết đã gửi đến mọi người.

Sơn Tùng

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Các nhà nghiên cứu đã tìm ra được những sự thật thú vị liên quan đến tình yêu bao gồm những lợi ích mà nó mang lại hay cách mà nó tác động lên các cặp đôi.

 Bí mật hóa học của tình yêu

Tình yêu tác động lên não bộ giống với tác động của Cocain

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Các nhà khoa học nghiên cứu về tác động của tình yêu vừa công bố một phát hiện mới, theo đó cho thấy cách não bộ phản ứng với tình yêu cũng giống như khi người ta sử dụng ma túy. Khi đang yêu, não bộ sẽ giải phóng các chất hóa học thần kinh như norepinephrine, dopaminem adrenalin và oxytocin. Kết quả là chúng sẽ tạo ra cảm giác sung sướng và hạnh phúc, cùng với đó là những cảm giác nôn nao trong người. Tổng cộng có tới 12 phần trong não cùng lúc hấp thụ những hóa chất này, khiến tình cảm yêu đương là một trong những hiện tượng thần kinh mạnh mẽ và phức tạp nhất của con người.

Tình yêu là chất giảm đau tự nhiên

Ít ai biết rằng tình yêu cũng giống như một liều thuốc giảm đau tự nhiên. Các cặp đôi khi thân mật sẽ nhận được một liều lượng lớn oxytocin, hóa chất giúp giảm cảm giác đau, thậm chí chấm dứt những cơn đau đầu trong bốn giờ đồng hồ. Một nghiên cứu khác cho thấy khi các cặp đôi nắm tay, mức độ đau đớn và căng thẳng của họ được giảm đi rất nhiều. Thậm chí họ không cần ở bên cạnh nhau để có thể tận hưởng được lợi ích này. Các nhà khoa học đã tiến hành thí nghiệm, trong đó họ cho người tham gia xem ảnh của bạn đời trước khi thực hiện một loạt câu đố chữ. Những người được xem ảnh cảm thấy bớt đau đầu hơn rất nhiều so với những người không được xem ảnh.

Trái tim của các cặp đôi sẽ có chung một nhịp đập khi ánh mắt họ gặp nhau

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Các nghiên cứu tâm sinh lý tại đại học California đã hé lộ cách thức liên lạc vô hình được thể hiện qua ánh mắt của những người đang yêu. Thí nghiệm này theo dõi các cặp đôi yêu nhau, họ được yêu cầu nhìn thẳng vào mắt người mình yêu trong ba phút liên tục. Các nhà khoa học đã theo dõi nhịp tim, đặc biệt là sự thay đổi nhịp tim sau khi các cặp đôi nhìn nhau. Theo đó, nhịp tim của mỗi cặp đôi đều trở nên đồng bộ, trong đó của phụ nữ thường xuyên được điều chỉnh. Không ai biết nguyên nhân và cách thức hoạt động của hiện tượng này. Giả thuyết lớn nhất hiện nay cho rằng đó đơn giản là sự đồng cảm của một người với bạn đời của mình.

Một tình yêu bí mật sẽ làm gia tăng cảm xúc của cặp đôi

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Một trong những câu truyện nổi tiếng nhất về tình yêu chính là Romeo và Juliet. Theo đó, cặp đôi này phải giữ kín mối quan hệ của mình để tránh áp lực xã hội. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một hiện tượng tâm lý diễn ra trong não bộ với những mối tình bí mật: Phenylethylamine, một hóa chất thần kinh, tăng nhanh khi con người phải giữ bí mật về mối quan hệ của mình. Phenylethylamine cũng có rất nhiều trong sô cô la, nhưng bị phá hủy rất nhanh trong hệ tiêu hóa, trước khi kịp hấp thụ lên não bộ. Tuy nhiên khi tình yêu được công khai, cặp đôi đó sẽ gặp phải tình trạng suy giảm chất hóa học này.

Các hóa chất thần kinh giúp gia tăng sự chung thủy

Những sự thật kỳ lạ mà khoa học lý giải về tình yêu

Những người có một mối quan hệ lâu dài thường đã trải qua giai đoạn đầu của tình yêu lãng mạn, quá trình này kéo dài khoảng một năm. Trong giai đoạn tiếp theo, não bộ thể hiện tình yêu qua một loạt chất hóa học mới. Một trong số đó là oxytocin, loại hormone mang lại cảm giác tin tưởng giữa con người. Trong các mối quan hệ nghiêm túc, oxytocin giúp làm tăng sự chung thủy của người đàn ông. Cụ thể, mức oxytocin càng cao, người đàn ông càng cảm thấy khó chịu với những sự tiếp cận từ người khác giới. Tuy nhiên, oxytocin không hoàn toàn ngăn chặn được các đợt sóng não, khi những người đàn ông tham gia thử nghiệm đều có thể thấy những phụ nữ khác hấp dẫn.

Những cặp đôi quá giống nhau sẽ không ở bên nhau lâu

Một câu thành ngữ nổi tiếng có nói rằng: trái dấu sẽ hút nhau, nhưng nhiều nghiên cứu chứng minh điều này chỉ đúng một phần. Những cặp đôi quá giống nhau hoặc quá khác biệt thì mối quan hệ thường sẽ không kéo dài được lâu.

Chúng ta không thể phủ nhận rằng, để hai người có tình cảm với nhau họ phải chia sẻ với nhau một số điểm chung nhất định. Nhưng trong một tình yêu hấp dẫn, cả hai phải có những điều mới mẻ để học hỏi và tìm hiểu về nhau, sự giống nhau sẽ đem đến sự nhàm chán. Giống như vợ thám tử Mori trong series truyện trinh thám Thám tử lừng danh Conan nổi tiếng đã từng nói: “Bạn không thể nào yêu một người mà bạn biết rõ đến từng cọng lông chân của họ.”

Tình yêu khác với cảm giác đam mê và ham muốn nhất thời

Tình yêu khác với cảm giác đam mê và ham muốn nhất thời

Sự hấp dẫn về mặt thể xác là một phần quan trọng của tình yêu đối với hầu hết chúng ta, nhưng tình yêu hoàn toàn khác với ham muốn. Đây là lý do tại sao tình một đêm và những tình cảm bắt đầu do rượu bia thường không dẫn đến những mối quan hệ lâu dài.

Nhiều nghiên cứu quét não đã cho thấy khu vực não thuộc về động lực/phần thưởng được kích hoạt khi chúng ta có ham muốn, trong khi tình yêu làm sáng lên những phần não kết nối với sự quan tâm và đồng cảm.

"Đau tim” không chỉ là một ẩn dụ

Khoa học đã cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy các sự kiện dữ dội, đau thương như chia tay, ly dị, mất đi người yêu dấu, bi chia tách về mặt thể xác với người yêu hoặc bị phản bội có thể gây ra những đau đớn thực sự trong một số khu vực trái tim. Tình trạng này được gọi là Hội chứng Trái tim Tan vỡ. Rối loạn cảm xúc sâu sắc kích hoạt não bộ tạo ra một số hóa chất làm trái tim yếu đi đáng kể, dẫn đến tức ngực và khó thở. Tình trạng này thường bị chẩn đoán nhầm là đau tim và nó có xu hướng ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn.

Tình yêu vừa là một cảm giác nhất thời vừa là một trạng thái tâm trí lâu dài

Chúng ta thường nghĩ câu nói “khi hai người yêu nhau thì trái tim họ cùng chung một nhịp đập” rất sáo rỗng, nhưng nghiên cứu mới đã chỉ ra rằng chúng ta trải nghiệm tình yêu trong khoảnh khắc như là một trạng thái hợp nhất.

Trong khoảnh khắc kết nối sâu sắc này, những người đang yêu nhau có sự tương thông về những biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ và cả nhịp điệu sinh lý. Nhưng tình yêu cũng có thể là một trạng thái tinh thần và cảm xúc lâu dài, trong đó chúng ta quan tâm sâu sắc đến nhau, cảm thấy xúc động trước nỗi đau của nhau và có động lực để giúp nhau giảm bớt khổ đau.

Sự gắn bó + Quan tâm + Sự thân mật = Tình yêu tột bậc

 

Lý thuyết tam giác về tình yêu cho thấy một công thức rõ ràng về các thành phần của các loại tình yêu khác nhau. Có ba loại tình yêu là sản phẩm của hai cặp thành phần cơ bản khác nhau: tình yêu lãng mạn = đam mê + thân mật, tình yêu đồng hành = thân mật + cam kết, và tình yêu mù quáng = đam mê + cam kết. Tất nhiên, thứ chân thật và mạnh nhất mẽ trong tất cả là tình yêu tột bậc, bao gồm cả ba thành phần trên.

Nhìn vào mắt nhau có thể làm hai người xa lạ yêu nhau

Đôi mắt là tấm gương phản chiếu tâm hồn của chúng ta, vì vậy, có lẽ không có gì ngạc nhiên khi chỉ cần nhìn vào mắt nhau, hai người xa lạ có thể phải lòng nhau, ngay cả khi họ không biết gì về đối phương. Khoa học đã chứng minh rằng khi ai đó nhìn chằm chằm vào bạn, cơ thể người đó tạo ra một chất hóa học gọi là phenylethylamine, có liên quan đến phản ứng “chiến đấu hay bỏ chạy”. Vì vậy, nếu bạn quyết định tiếp tục nhìn họ, bạn đang yêu cầu thần Cupid bắn mũi tên cho mình.

Tình yêu không nhất thiết là mãi mãi, nhưng nó có thể

Chúng ta đều biết rằng một tình yêu cố định, không thay đổi có thể xảy ra nhưng nó không phải là chuẩn mực. Trên thực tế, một số nhà lý thuyết thậm chí còn đặt câu hỏi về việc bản thân con người có phải là một thực thể cố định, không thay đổi không, chúng ta không giống như chúng ta ngày này 10 năm trước.

Kinh nghiệm sống có thể làm con người thay đổi về mặt sinh học, cách suy nghĩ và hành vi, do đó các mối quan hệ cũng có nguy cơ bị tác động khi một người có nhu cầu phải thay đổi hay cả hai người yêu nhau phát triển theo những hướng khác nhau. Điều đó đã được nhà nghiên cứu Art Aron và các đồng nghiệp tại Đại học Stony Brook chứng minh.

 

Hồng Vân sưu tầm

Tuyển chọn những ảnh bìa facebook đẹp nhất về tình yêu

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời

Đệ nhất Cộng hòa

____Lê Nguyễn ___

Thế hệ những người sinh vào thập niên 1940 tại miền Nam nay còn không ít, cũng không nhiều. Số người không còn phần vì tuổi tác, bệnh tật, phần vì đã trải qua nhiều thăng trầm dâu bể của những năm trước và sau 30-4-1975: chiến trận, tù đày, những cuộc vượt biển kinh hoàng…, số người còn trụ lại kẻ thì sống tha hương trên xứ người, người ở lại Việt Nam thì phần đông cũng lang thang bên lề cuộc sống, tuổi tác chất chồng, sống bằng ký ức hơn là những dự phóng tương lai.

Trong tay không còn bao nhiêu tư liệu chính thức về một thời kỳ giáo dục đã trải qua năm, sáu mươi năm, chỉ còn một mớ ký ức sót lại trong đầu, hy vọng rằng những bạn đọc là chứng nhân của thời kỳ này sẵn lòng bổ khuyết, đính chính cho những sai sót của một bộ nhớ đã trải qua nhiều thử thách của thời gian và thời cuộc. Bởi vậy mà mấy bài viết này có tên là “Ký ức vụn”, không mang ý nghĩa một biên khảo, mà chỉ nhằm giúp người đọc có chút ý niệm tổng quát về một nền học đã mai một từ hơn nửa thế kỷ đã qua.

miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Học viện Quốc gia Hành chánh được xây mới năm 1962.

CHUYỆN HỌC

Sơ lược việc học trước thời Đệ Nhất Cộng Hòa

Những năm trước năm 1954, không thấy có chương trình giáo dục mầm non dành cho lứa tuổi dưới 6. Thường một đứa bé đến 6 tuổi, thậm chí 7-8 tuổi hay hơn nữa, mới được cha mẹ cho đi học lớp đầu đời là lớp năm, bậc tiểu học. Trước thời Đệ nhất Cộng hòa, hệ thống giáo dục tại Việt Nam cũng có ba bậc học chính là Tiểu học, Trung học và Đại học, song ở hai bậc học đầu, mỗi bậc lại chia thành hai cấp. Ở bậc Tiểu học, lớp khởi đầu là lớp Năm hay lớp Đồng ấu (Cours Enfantin), kế đến là lớp Tư hay lớp Dự bị (Cours Préparatoire), lớp Ba hay lớp Sơ đẳng (Cours Elémentaire). Cả ba lớp này thuộc cấp Sơ học, học xong, học sinh thi lấy bằng Sơ học Yếu lược (Primaire Elémentaire).

miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa

Sau cấp Sơ học là cấp Tiểu học gồm ba lớp: lớp Nhì một năm (Cours Moyen de 1ère Année), lớp Nhì hai năm (Cours Moyen de 2è Année), và lớp Nhất (Cours Supérieur). Xong lớp Nhất, học sinh thi lấy bằng Tiểu học (Certificat D’Etude Primaire Complémentaire Indochinois, viết tắt là C.E.P.C.I), ai thi đỗ mới được học lên bậc Trung học. Thời đó, có bằng CEPCI đã đủ tự hào với làng trên xóm dưới rồi, “trâm” tiếng Tây với Tây đủ để trẻ em trong làng khiếp sợ. Thời kỳ trước Đệ nhất Cộng hòa, học sinh đỗ Tiểu học xong không vào ngay lớp Đệ nhất niên mà còn phải trải qua một lớp trung gian là lớp Tiếp liên (Cours Certifié), hết năm này mới vào lớp Đệ nhất niên của bậc Trung học. Thời Pháp thuộc, bậc học này cũng chia làm hai cấp: Cao đẳng Tiểu học và Trung học. Bốn năm Cao đẳng Tiểu học gồm các lớp: Đệ nhất niên, Đệ nhị niên, Đệ tam niên và Đệ tứ niên. Học xong bậc này, học sinh thi lấy bằng Thành Chung (Diplôme d’Étude Primaire Supérieur Franco-Indigène), người Việt bình dân lúc bấy giờ vẫn quen gọi là “bằng Đít-lôm”.

miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa

Sau bằng Thành chung, học sinh học lên bậc Tú tài. Kể từ cuối thập niên 1920, chương trình thi bậc Tú tài đã được Nha Học chính Đông Pháp qui định, gồm hai kỳ thi cách nhau một năm, kỳ thi lấy bằng Tú tài I hay Tú tài bán phần (Baccalauréat Première Partie) và kỳ thi Tú tài II hay Tú tài toàn phần (Baccalauréat Deuxième Partie, gọi tắt là BAC). Người dự thi Tú tài toàn phần bắt buộc phải có bằng Tú tài bán phần.

Việc học thời Đệ Nhất Cộng Hòa

Chương trình Tiểu học thời Đệ nhất Cộng hòa không còn kéo dài sáu năm như trước đó, vẫn là các lớp Năm, Tư, Ba, Nhì, Nhất, song không còn kỳ thi Sơ học Yếu lược và không còn hình thức lớp Nhì một năm và lớp Nhì hai năm nữa. Sau khi học xong chương trình lớp nhất, học sinh tham dự kỳ thi Tiểu học.

Vào đầu thập niên 1950, khi vào lớp Tư, học sinh đã bắt đầu được dạy tiếng Pháp, chương trình thi các năm 1954-1955 còn có bài ám tả tiếng Pháp (sau này là chính tả, dictée française), song chỉ có tính nhiệm ý, không bắt buộc. Thời Đệ nhất Cộng hòa, các lớp từ Đệ nhất niên đến Đệ tứ niên được đổi tên lần lượt thành các lớp Đệ thất, Đệ lục, Đệ ngũ và Đệ tứ; bậc Cao đẳng Tiểu học được đổi thành bậc Trung học Đệ nhất cấp. Tại bậc học này, học sinh lớp Đệ thất được dạy sinh ngữ hai là Anh ngữ. Như vậy, gần như không có một sự chọn lựa nào từ phía người học, do Pháp ngữ được học từ bậc Tiểu học và Anh ngữ được học từ bậc Trung học nên mặc nhiên trong học và thi, Pháp ngữ là sinh ngữ 1 (điểm thi có hệ số 3), Anh ngữ là sinh ngữ 2 (điểm thi có hệ số 2). Sau khi học xong lớp Đệ tứ, học sinh thi lấy bằng Trung học Đệ nhất cấp thay cho bằng Thành chung. Bậc Tú tài thời Đệ nhất Cộng hòa được gọi là Trung học Đệ nhị cấp, gồm ba lớp: Đệ tam, Đệ nhị và Đệ nhất.

miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa

Bước vào lớp Đệ tam, học sinh chọn một trong 4 ban:

  • Ban A – Các môn học chủ yếu là Lý Hóa – Vạn vật (nay là Sinh vật), các môn khác là môn phụ
  • Ban B – Các môn học chủ yếu là Toán – Lý – Hóa
  • Ban C – Còn gọi là Ban Văn chương – Sinh ngữ, các môn học chủ yếu là Văn-Triết học (riêng cho lớp Đệ nhất); Sử Địa-Anh Pháp
  • Ban D – Còn gọi là ban Cổ ngữ, các môn học chủ yếu là Văn – Hán ngữ hay La tinh ngữ.

Về trường học, thời Đệ nhất Cộng hòa, số trường tư chiếm tỉ số áp đảo. Thường mỗi tỉnh có một trường trung học công lập chính nằm ở tỉnh lỵ, ví dụ ở Gia Định có trường Hồ Ngọc Cẩn, ở Định Tường có trường Nguyễn Đình Chiểu, ở Cần Thơ có trường Phan Thanh Giản, ở Bình Định-Qui Nhơn có trường Cường Đễ… Các trường này dạy đến hết bậc Trung học Đệ nhị cấp. Ở mỗi quận trong các tỉnh lớn, có một trường Tiểu học công lập và/hoặc trường Trung học Đệ nhất cấp.

Hệ thống các trường trung học thời Đệ nhất Cộng hòa phát triển nhanh do sự tăng đột biến gần một triệu người di cư từ bắc vào nam, khiến số học sinh tăng nhanh. Tại Sài Gòn – Gia Định những năm sau 1954, ngoài mấy trường trung học công lập cố cựu có từ thời Pháp thuộc như Pétrus Trương Vĩnh Ký, Gia Long…, một số trường công lập lớn (đến lớp Đệ nhất) được di từ miền bắc vào hoặc chủ yếu dành cho con em người di cư như Chu Văn An (dành riêng cho nam), Trưng Vương (dành riêng cho nữ), Hồ Ngọc Cẩn (dành riêng cho nam), Trần Lục (dành cho nam, đến bậc Trung học Đệ nhất cấp)… Vào thời kỳ này, do các trường công lập không đáp ứng được hết yêu cầu của khối lượng học sinh tăng cao, một hệ thống trường tư thục hình thành và phát triển rất nhanh tại Sài Gòn – Gia Định. Có thể kể một số trường có tiếng tại khu vực quận Nhất và quận Ba (cả mới lẫn cũ) như Tân Thanh, Tân Thịnh, Vạn Hạnh, Việt Nam Học Đường, Huỳnh Thị Ngà, Huỳnh Khương Ninh, Vương Gia Cần, Lê Bá Cang, Trường Sơn, Nguyễn Bá Tòng, Bùi Chu, Hưng Đạo… với một đội ngũ giáo sư tư thục hùng hậu, không ít người xuất thân từ giới văn chương.

miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa

Bên cạnh những trường dạy thuần túy chương trình Việt do chính quyền hay tư nhân quản lý, còn một số trường được thành lập từ thời Pháp thuộc dạy chủ yếu bằng tiếng Pháp, hoạt động song hành với các trường Việt, tiêu biểu là trường Chasseloup-Laubat, sau đổi thành Jean Jacques Rousseau (nay là Lê Quý Đôn), dành cho nam sinh (cố quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk [1922-2012] từng theo học trường này); trường Marie Curie dành cho nữ sinh; trường Taberd…

Ở bậc Đại học, thời Đệ nhất Cộng hòa, chỉ có hai viện Đại học công lập chính là Viện Đại học Sài Gòn và Viện Đại học Huế với một quy mô nhỏ hơn. Đại học tư có Viện Đại học Đà Lạt của giáo hội Công giáo với hoạt động không đáng kể. Viện Đại học Sài Gòn bao gồm nhiều phân khoa khác nhau: như Đại học Khoa học (Khoa học Đại học đường), Đại học Kiến trúc, Đại học Luật khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa, Đại học Y khoa, Đại học Dược khoa, Đại học Nha khoa. Ở cấp đại học, ngoài các phân khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn, còn có Học viện Quốc gia Hành chánh trực thuộc Phủ Tổng thống (đại diện là Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống), chuyên đào tạo các viên chức hành chánh trung cao cấp, và Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (Phú Thọ) đào tạo các kỹ sư công chánh, điện lực, hàng hải… Viện Đại học Huế có một quy mô hoạt động nhỏ hơn với bốn phân khoa: Khoa học, Văn khoa, Luật khoa, và Sư phạm.

Thời đó, các Viện trưởng Đại học và Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh được xếp ngang Thứ trưởng một bộ. Ngoài những trường đào tạo công chức chính ngạch như Đại học Sư phạm, Học viện Quốc gia Hành chánh, phải thi tuyển vào và sinh viên được hưởng một khoản học bổng đáng kể hàng tháng, hầu hết các phân khoa Đại học khác đều theo thể thức ghi danh, các sinh viên không phải thi tuyển vào, chỉ ghi danh nhập học và không phải đóng một khoản học phí nào trong suốt các năm học. Một chuyện vui vui xảy ra tại trường Đại học Văn khoa Sài gòn những năm 1959 – 1963: học sinh ghi danh vào lớp Dự bị quá đông, không đủ ghế ngồi, nhiều người phải ngồi cả dưới đất. Vì thế, trước giờ phòng học mở cửa, sinh viên tụ tập đông đảo phía trước, khi cửa mở, mọi người ném sách, tập tá lả vào trong, sách tập ai nằm trên ghế-bàn nào thì người đó được vào ngồi nơi đó (ghế ngồi học gắn kèm mặt bàn kéo ra phía trước để viết, rất gọn). Thỏa thuận bất thành văn này được tôn trọng triệt để, không thấy ai đôi co với ai bao giờ. Sau khi lấy xong chứng chỉ dự bị, sinh viên chọn các chứng chỉ ưa thích hoặc phù hợp với năng lực riêng, chuyện chen chúc trong phòng học không còn nữa…

*********

Giáo án, sách giáo khoa và đội ngũ giảng dạy thời Đệ nhất Cộng hòa

 

Chương trình giáo dục trung và tiểu học thời Đệ nhất Cộng hòa do Bộ Giáo dục soạn thảo chung cho tất cả các trường trên toàn quốc. Chương trình này có tính ổn định lâu dài và chỉ có những thay đổi nhỏ trong quá trình thực hiện. Thời đó, không có hai từ “giáo án” và cũng thực sự không có việc giáo viên soạn thảo bài dạy theo một tiêu chuẩn nào, trình cho một giới chức nào. Người dạy học thời đó dựa vào chương trình chính thức do Bộ Giáo dục soạn thảo và dạy học sinh theo cách thức riêng của mỗi người, miễn sao trong kết quả cuối năm, nhiều học sinh đạt điểm cao nhất trong môn họ đã dạy. Nếu có soạn thảo “giáo án” chăng thì đó chỉ là những ghi chép riêng tư, sắp xếp ý tưởng giảng dạy để tự nhắc mình cho bài giảng có hiệu quả.

Ở bậc Tiểu học, sách giáo khoa các lớp Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng (lớp Năm, lớp Tư và lớp Ba) được Nha Học chính Đông Pháp soạn thảo thống nhất cho cả nước từ các thập niên 1920-1930 và được áp dụng tại miền Nam cho đến nửa sau thập niên 1950. Bộ sách có tên chung là “Việt Nam Tiểu Học Tùng Thư”, gồm nhiều đề mục khác nhau, sử dụng cho ba lớp sơ học: Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng, gồm nhiều chuyên mục khác nhau: Quốc văn Giáo khoa thư; Luân lý Giáo khoa thư; Sử ký – Địa dư Giáo khoa thư; Cách trí Giáo khoa thư; Vệ sinh Giáo khoa thư; Toán pháp Giáo khoa thư… Ban soạn thảo các sách giáo khoa này gồm 4 vị có tên tuổi và uy tín trong học giới: Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận.

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2)
Sách Quốc văn Giáo khoa thư lớp Sơ đẳng, bản in năm 1927 (Nguồn: thuongmaitruongxua.vn)

Tuy bộ sách có nhiều chuyên mục khác nhau, song được nhắc đến nhiều nhất là bộ Quốc văn Giáo khoa thư, ấn tượng đầu đời sâu đậm nhất của những người đi học vào thời kỳ chuyển tiếp giữa nền học cũ với nền học thời Đệ nhất Cộng hòa. Dù ở lớp nào, các bài học cũng đều mang ý nghĩa nhân văn, đi dần từ những bài dễ đọc, dễ hiểu ở lớp Đồng ấu và Dự bị đến những bài ở lớp Sơ đẳng, đòi hỏi học sinh tập suy luận trước những vấn đề được đặt ra, từ những bài ở sách Quốc văn Giáo khoa thư lớp Dự bị như Khuyến hiếu đễ; Người ta cần phải làm việc; Làng tôi; Nên giúp đỡ lẫn nhau; Lễ phép với người tàn tật… đến những bài dành cho lớp Sơ đẳng như Ai ơi chớ vội khoe mình; Lòng kính yêu chị; Chớ nên ham mê cờ bạc; Không nên báo thù; Không nên khinh những nghề lao lực…

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2)
Hai trang sách trong quyển Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp Sơ đẳng in năm 1927.

Bên cạnh sách giáo khoa thường được các trường Tiểu học sử dụng, còn có loại sách “Tập Đọc Vui” được soạn thảo và phát hành song song với sách giáo khoa, gồm những bài đọc vui, bổ ích về mặt hình thành nhân cách cho trẻ thuộc các lãnh vực: học đường, gia đình, thân thể, việc học và chơi… Trong tinh thần “Tiên học lễ, Hậu học văn” áp dụng xuyên suốt trên cả nước, nền giáo dục Tiểu học Đệ nhất Cộng hòa kế thừa nền giáo dục Hoàng Xuân Hãn năm 1945 và nguồn sách giáo khoa của Việt Nam Tiểu Học Tùng Thư do bộ tứ Kim-Ngọc-Phúc-Thận biên soạn, coi trọng việc Đức dục ngang với Trí dục và Thể dục. Ấn tượng mạnh về bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư khiến những thế hệ ra đời từ thập niên 1950 trở về trước luôn nhắc nhở đến chúng như một hoài niệm về thời thơ ấu, với những bài học đáng nhớ là kim chỉ nam cho họ trong cách xử sự ở đời. Vào thập niên 1960 trở về sau, dù không còn là sách giáo khoa cho học trò nữa, song Quốc Văn Giáo Khoa Thư vẫn len lỏi vào ngóc ngách tâm hồn của nhiều thế hệ, vào cả trong tác phẩm Hương Rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, với truyện ngắn Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư nhắc đến những bài học không thể nào quên.

Khoảng thập niên 1990, nhà xuất bản trẻ TPHCM có sáng kiến in lại mấy tập sách giáo khoa này, theo yêu cầu của những độc giả có tuổi muốn tìm lại những hình ảnh của một thời học hành tuổi nhỏ. Nhiệt tình đó đáng ca ngợi, song đáng tiếc là sách in lại bằng giấy trắng láng, hình ảnh thiếu sự đậm đà, sắc nét khiến tác phẩm được phục hồi mất đi khá nhiều giá trị của sự hồi tưởng, hoài niệm một thời đã qua.

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2)
Sách học Anh ngữ L’anglais vivant dành cho học sinh lớp Đệ Thất thập niên 1950.

Nửa sau thời Đệ nhất Cộng hòa, khoảng năm 1958, Bộ Quốc gia Giáo dục định ra các triết lý giáo dục gồm ba yếu tố cơ bản là: Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng, sách giáo khoa cho bậc Tiểu học được soạn mới, song vẫn giữ cốt cách của Quốc văn Giáo khoa thư và Luân lý Giáo khoa thư.

Ở bậc Trung học, thời Đệ nhất Cộng hòa, Nha Tổng Giám đốc Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục là cơ quan cao nhất thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục chịu trách nhiệm về việc dạy và học tại miền Nam. Cơ quan này bao gồm một số đơn vị trực thuộc gồm: Nha Trung học, Nha Tiểu học, Nha Tư thục, Nha Khảo thí và cơ quan Thanh tra. Tại cấp tỉnh, trong lúc các Ty Tiểu học trực thuộc chính quyền địa phương theo hệ thống ngang (thuộc Nha Tiểu học theo hệ thống dọc), thì các trường Trung học chỉ thống thuộc duy nhất Nha Trung học theo hệ thống dọc mà thôi. Ở bậc học này, Bộ Quốc gia Giáo dục có một quan điểm khá thoáng về mặt sách giáo khoa. Hầu như không có một bộ sách giáo khoa nào do cơ quan giáo dục chính thống biên soạn và phát hành để thầy và trò dạy và học theo.

Thời đó, dù là giáo sư tư thục hay công lập, mọi giáo chức có quyền dạy học sinh theo cách thức riêng của mình, không phải tuân theo một phương pháp giảng dạy nào, miễn sao tôn trọng đúng nội dung chương trình giáo dục do Bộ Quốc gia Giáo dục soạn thảo, giúp học sinh đạt được kết quả như ý trong các kỳ thi. Trên thị trường, nhiều sách giáo khoa (hay sách tham khảo) được bày bán, do các giáo sư tư thục lẫn công lập biên soạn. Mỗi tác giả có cách biên soạn của riêng mình, sách nào hay hoặc phù hợp với chương trình dạy và học sẽ được nhiều giáo chức tham khảo trong giảng dạy, học sinh tìm mua để đọc thêm.

Những năm cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960, về quốc văn, loại sách “Luận đề văn chương” của các giáo sư tư thục Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Duy Diễn, Nguyễn Văn Mùi… tràn ngập thị trường, được giới dạy văn và học sinh tham khảo nồng nhiệt. Mỗi sách luận đề khảo về văn chương của một tác giả cổ điển như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến…, sách khổ nhỏ, không dày, viết cô đọng, được cả thầy và trò ưa chuộng. Bản thân người viết bài này được làm học trò môn văn năm Đệ tứ (1958 – 1959) với giáo sư Nguyễn Duy Diễn, người đã mang lại cho cậu thiếu niên 14-15 tuổi một tình yêu nồng nàn đối với môn văn học nước nhà. Tiếc rằng thầy mất quá sớm, khoảng giữa thập niên 1960, khi tuổi đời còn trẻ.

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 2)
Sách “Luận đề văn chương” thời Đệ nhất Cộng hòa.

Với môn Văn, ngoài loại sách luận đề văn chương, còn có các sách quốc văn dành tham khảo của giáo sư Dương Quảng Hàm (1898 – 1946) (Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển), của các giáo sư Hà Như Chi, Phạm Thế Ngũ, Phan Ngô … Về lịch sử – địa lý có sách của ông bà giáo sư Tăng Xuân An, giáo sư Nguyễn Văn Mùi…; sách toán của các giáo sư Đinh Qui – Bùi Tấn – Lê Nguyên Diệm, Bùi Hữu Đột… sách ngoại ngữ, nhất là Anh ngữ, có loạt sách L’anglais vivant của nhà xuất bản Ziên Hồng được nhượng quyền khai thác từ nhà Hachette của Pháp… Thông thường, các nhà biên soạn sách giáo khoa đã được thị trường chấp nhận và tác phẩm của họ được sử dụng rộng rãi trong việc giảng dạy của các thầy cô và thỏa mãn nhu cầu tham khảo của các em học sinh trung học. Sự chọn lọc, đào thải của thị trường sách giáo khoa giúp các giáo chức, học sinh tìm được những sách đứng đắn, có chất lượng để dạy và học.

Ở bậc Đại học, với chủ trương một nền đại học tự trị, chính quyền Đệ nhất Cộng Hòa dành cho các viện Đại học Sài Gòn và Huế một quyền hạn rộng rãi trong việc sắp xếp chương trình giảng dạy, bố trí một đội ngũ giáo sư đại học phù hợp. Thông thường sách giáo khoa ở bậc học này do chính giáo sư các bộ môn soạn thảo và giảng dạy, không thông qua những tác giả trung gian khác.

Ở trường Đại học Luật khoa, có thể tham khảo, học tập sách của các giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thạc sĩ Luật, từng đảm nhận chức vụ Ngoại trưởng trong chính phủ Ngô Đình Diệm; Vũ Quốc Thúc, Thạc sĩ Kinh tế, Khoa trưởng trường Đại học Luật khoa; Nguyễn Độ, Tiến sĩ Hành chánh công (1952); Vũ Quốc Thông (Thạc sĩ Luật, từng làm Bộ trưởng Y tế, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh trước 1.11.1963); Nguyễn Văn Bông (Thạc sĩ Công pháp Quốc tế, sau ngày 1.11.1963 được cử làm Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh)…; ở Đại học Văn khoa có sách của các giáo sư Nguyễn Đăng Thục, dạy chủ yếu môn Triết học Đông phương, Nguyễn Khắc Hoạch, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Văn Trung, Bùi Xuân Bào… Ở các phân khoa Khoa học, Y khoa, Dược khoa… bài giảng và sách học được soạn chủ yếu dựa vào các tài liệu khoa học phổ biến ngoài nước. Cần nói thêm là hầu hết các giáo sư đại học tại miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa xuất thân từ các trường đại học Pháp, và theo chế độ giáo dục của nước này, bằng Thạc sĩ là bằng cấp cao nhất, trên bằng Tiến sĩ một bậc.

Hầu hết sách giáo khoa các bậc học Tiểu học, Trung học và Đại học thời Đệ nhất Cộng hòa đều theo khuynh hướng phi chính trị hóa, chú trọng chủ yếu đến việc rèn luyện con người trên các mặt Đức, Trí và Thể dục. Người viết sách giáo khoa cung ứng cho thị trường không bị một áp lực nào hay phải tuân theo một sự chỉ đạo nào. Đối tượng chủ yếu mà họ nhắm đến là các giáo chức cần tài liệu để hoàn thiện sự giảng dạy, đội ngũ học sinh, sinh viên cần tham khảo thêm ngoài các bài giảng ở trường.

**********

 

GIÁO CHỨC THỜI ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA

I. Đôi nét về ngạch trật và chế độ lương bổng của công chức thời Đệ nhất Cộng hòa

Trước khi đề cập đến thành phần giáo chức thời Đệ nhất Cộng hòa, xin trình bày sơ lược về chế độ ngạch trật và lương bổng dành cho các thành phần công chức nói chung.

A – Vấn đề ngạch trật

Vào những năm 1954-1963 (và cho đến hết thời Đệ nhị Cộng hòa) tại miền Nam, chế độ lương bổng dành cho các tầng lớp công chức khá ổn định và hài hòa ở hầu hết các ngành nghề, các lãnh vực khác nhau. Công chức thời ấy có hai thành phần chính: chính ngạch và ngoại ngạch.

Công chức chính ngạch: Thường là những người được đào tạo ở các trường chính quy và được chia làm ba hạng chính:

  • Hạng A – Dành cho những người tốt nghiệp Đại học trở lên
  • Hạng B – Dành cho những người có trình độ Trung học và chưa tốt nghiệp Đại học
  • Hạng C – Dành cho những người có trình độ Tiểu học.

Công chức ngoại ngạch: Thường được tuyển dụng thông qua các hợp đồng lao động và gồm các hạng:

  • Hạng A – Thường làm việc dưới dạng khế ước (giáo sư đại học, bác sĩ, luật sư…)
  • Hạng B gồm:

– B1: Dành cho những người có bằng Tú tài 1, Tú tài 2 trở lên nhưng chưa tốt nghiệp đại học
– B2: Dành cho những người có bằng Trung học Đệ nhất cấp đến Tú Tài I
– B3: Dành cho những người có trình độ Trung học, nhưng chưa có bằng Trung học Đệ nhất cấp

  • Hạng C – Dành cho những người có bằng Tiểu học hoặc trình độ Tiểu học
  • Hạng D – Dành cho những người làm công việc tay chân, trình độ học vấn thấp.

Ở hạng chính ngạch, các thành phần công chức hạng A gồm: bác sĩ, kiến trúc sư, luật sư, thẩm phán tòa án, giáo sư đại học, giáo sư Trung học Đệ nhị cấp, Đốc sự Hành chánh (tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh), Kỹ sư (các ngành Công chánh, Kiến thiết, Điện, Nông Lâm Súc…)… Ở thành phần ngoại ngạch hạng A, thường không có chế độ công nhật, chỉ có chế độ khế ước, ký kết giữa người lao động và cơ quan sử dụng (trường Đại học, bệnh viện công…)

Ở hạng B, thành phần chính ngạch được phân biệt theo các hạng B1, B2 và B3 của nhân viên ngoại ngạch

  • Tương đương hạng B1 gồm các ngạch Cán sự Y tế, Cán sự Điều dưỡng, Cán sự Công chánh và Kiến thiết, Giáo sư Trung học Đệ nhất cấp, Giáo học bổ túc, Kiểm sự Nông chính, Tham sự Hành chánh…
  • Tương đương hạng B2 gồm các ngạch Y tá, giáo viên Tiểu học, Thơ ký Hành chánh, Huấn sự Nông chính
  • Tương đương hạng B3 gồm Thơ ký Đánh máy, Tá sự Nông chính

Ở hạng C, gồm chủ yếu ngạch Tùy phái, Tống thơ văn.

Ở hạng D gồm các lao công, không có chính ngạch, thường lao động dưới dạng “phù động đồng hóa công nhật”, được hưởng lương công nhật.

Ở mỗi hạng công chức, cần phân biệt rõ hai yếu tố “ngạch” và “trật”. Ngạch là tên gọi chung, ví dụ: Kỹ sư, Đốc sự Hành chánh , Cán sự Y tế …; Trật là những bậc khác nhau, được sắp xếp từ thấp đến cao trong khuôn khổ một ngạch, ví dụ “kỹ sư hạng ba, kỹ sư hạng nhì, kỹ sư hạng nhất …” là các trật của ngạch Kỹ sư.

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 3)
Trường Đại học Sư phạm thuộc Viện Đại học Huế.

B – Vấn đề lương bổng

Thời Đệ nhất Cộng hòa (và cho đến hết thời Đệ nhị Cộng hòa), chỉ số lương là yếu tố cơ bản trong lương bổng của người công chức. Chỉ số lương này nhân với chỉ số đắt đỏ của từng thời kỳ thành lương căn bản. Trong 9 năm đầu (1954-1963), chỉ số lương hầu như không thay đổi ở hầu hết các ngành nghề, nếu có thay đổi, cũng chỉ là những điều chỉnh tối thiểu. Mỗi ngạch trật có một thang chỉ số lương từ trật thấp nhất đến trật cao nhất mà người công chức thời ấy thường gọi là “plafond” (tột trần).

  • Công chức hạng A – Chỉ số lương từ thấp nhất 430 đến cao nhất là 1.160
  • Công chức hạng B

– Tương đương hạng B1: Chỉ số lương từ 320 đến tối đa 740 – 79
– Tương đương hạng B2: Chỉ số lương từ 250
– Tương đương hạng B3: Chỉ số lương từ 220

  • Công chức hạng C – Chỉ số lương từ 160.

Các loại phụ cấp ngoài lương: Bên cạnh lương căn bản, người công chức thời Đệ nhất Cộng hòa được hưởng nhiều khoản phụ cấp khác nhau, có thể kể:

  • Phụ cấp gia đình – Vào khoảng 800đ/tháng cho vợ và 600đ/tháng cho mỗi đứa con dưới 18 tuổi.
  • Phụ cấp chức vụ – Dành cho những người giữ chức vụ chỉ huy tại công sở, ở cấp quận là Quận trưởng, Phó Quận trưởng, ở cấp Tỉnh từ Chủ sự phòng trở lên, ở Trung ương từ cấp Trưởng ban trở lên.

Một ví dụ cụ thể:

  • Phụ cấp chức vụ Phó Quận trưởng, Trưởng ty cấp tỉnh: 900đ/tháng
  • Phụ cấp chức vụ Chủ sự phòng cấp Tỉnh: 600đ/ tháng
  • Phụ cấp chức vụ Trưởng ty cấp Trung ương (Phủ, Bộ, Tồng Nha, Nha): 1.000đ/tháng
  • Phụ cấp chức vụ Chủ sự cấp Trung ương: 800đ/tháng
  • Phụ cấp chức vụ Trưởng ban cấp Trung ương: 500đ/tháng
  • Phụ cấp nhà ở và điện nước – Dành cho Tỉnh trưởng, Phó Tỉnh trưởng cấp địa phương, từ cấp Chánh Sự vụ Sở trở lên ở cấp Trung ương.
  • Phụ cấp gia nhân – Dành cho cấp Giám đốc Nha có nhiều Sở trở lên ở trung ương.
  • Phụ cấp giao tế phí và kinh lý phí – Dành cho Tỉnh trưởng và Phó Tỉnh trưởng tại địa phương. Các đương sự chỉ được chi xài cho các khoản giao tế và đi kinh lý trong phạm vi phụ cấp được qui định
  • Phụ cấp nước độc – Dành cho những người làm việc tại các địa phương có khí hậu khắc nghiệt, dễ ngã bệnh, nhiều nhất là bệnh sốt rét. Ngoài ra những người này còn được cộng thêm 50% thâm niên công vụ dùng để tính mỗi kỳ thăng trật.

II- Giáo chức thời Đệ nhất Cộng hòa

Những chi tiết ở phần I áp dụng chung cho mọi thành phần công chức, trong đó có các giáo chức làm việc trong guồng máy giáo dục. Thời Đệ nhất Cộng hòa, giáo chức chính ngạch gồm các thành phần chính sau:

  • Giáo viên Tiểu học – Có bằng Trung học Đệ nhất cấp trở lên, được đào tạo một năm tại trường Quốc Gia Sư Phạm, chỉ số lương ban đầu 250.
  • Giáo học bổ túc – Có bằng Trung học Đệ nhất cấp trở lên, được đào tạo ba năm tại trường Quốc Gia Sư Phạm, chỉ số lương ban đầu 320 (sau thời Đệ nhất Cộng hòa tăng lên 350) (Đến năm 1962, điều kiện văn bằng tối thiểu để được đào tạo tại trường Quốc Gia Sư Phạm là Tú Tài I.)
Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 3)
Trường Sư phạm Sài Gòn, tiền thân là Trường Quốc gia Sư phạm.
  • Giáo sư Trung học Đệ nhất cấp – là những người có bằng Tú tài II (Tú tài toàn phần), được đào tạo cấp tốc, nhằm giải quyết phần nào tình trạng khan hiếm giáo chức vào những năm cuối thập niên 1950, so sự gia tăng đột biến số học sinh xuất phát từ cuộc di cư của gần một triệu đồng bào miền Bắc vào Nam. Chỉ số lương khởi điểm của thành phần giáo chức này là 400.
  • Giáo sư Trung học Đệ nhị cấp – là những người có bằng Tú Tài II được đào tạo trong 3 năm, sau lên 4 năm, chỉ số lương từ 430 (sau từ 470)
  • Giáo sư Đại học – Là những giáo sư có bằng tiến sĩ và thạc sĩ (trên tiến sĩ), không qua đào tạo trong nước. Thời Đệ nhất Cộng hòa, hầu hết các giáo sư này học tại nước ngoài, chủ yếu là ở Pháp. Chỉ số lương của ngạch giáo sư thực thụ từ 640-690 trở lên. Do không được đào tạo trong nước, mặt khác theo qui chế tự trị của bậc đại học, việc tham gia giảng dạy của thành phần này được thực hiện dưới dạng khế ước ký kết với các viện đại học. Dưới cấp giáo sư đại học là các giảng sư, thường là những người có bằng tiến sĩ, chưa có bằng thạc sĩ. Bên cạnh hai thành phần giảng dạy đại học chính thức trên, còn có thành phần giảng viên đại học, là những người không chính thức làm việc cho trường hay phân khoa đại học mà chỉ giảng dạy theo hợp đồng và có thời hạn nhất định.
Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 3)
Giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thạc sĩ Luật, Ngoại trưởng thời Đệ nhất Cộng hòa.

Đối với các giáo sư Trung học Đệ nhất cấp, Đệ nhị cấp, Giáo học bổ túc và giáo viên Tiểu học, trong phần lớn thời kỳ đầu của Đệ nhất Cộng hòa, cả miền Nam có ba trường đào tạo chính:

  • Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập năm 1957, trước đó là trường Cao đẳng Sư phạm, chủ yếu đào tạo giáo sư Trung học Đệ nhất cấp)
  • Trường Đại học Sư phạm Huế trực thuộc Viện Đại học Huế
  • Trường Quốc gia Sư phạm Sài Gòn, sau là Trường Sư phạm Sài Gòn

Hai trường trên đào tạo giáo sư trung học, nhiều nhất là trung học đệ nhị cấp, dạy đến lớp Đệ nhất (nay là lớp 12). Trường thứ ba đào tạo giáo học bổ túc và giáo viên Tiểu học, đáp ứng nhu cầu giáo dục tiểu học của toàn miền Nam, từ vĩ tuyến 17 trở xuống.

Với thành phần giáo chức tư thục, qui định thời đó dành cho bậc Tiểu học là phải có ít nhất bằng Tiểu học, dạy bậc Trung học Đệ nhất cấp phải có tối thiểu bằng Trung học Đệ nhất cấp, dạy bậc Trung học Đệ nhị cấp phải có bằng Tú Tài II trở lên. Ở bậc Trung học Đệ nhất cấp, những người có bằng Trung học Đệ nhất cấp thường được phân công dạy các lớp thấp như Đệ thất, Đệ lục (lớp 6, lớp 7), các lớp Đệ ngũ, Đệ tứ (lớp 8, lớp 9) dành cho người có bằng Tú tài. Người viết bài này từng chứng kiến hiện tượng có trường tư thục vì thiếu giáo sư, đã tuyển người có khả năng giảng dạy nhưng không có điều kiện về bằng cấp qui định, đến cuối niên khóa, khi làm sổ Học bạ cho học sinh, phải thay tên người dạy thực sự bằng tên người khác có đủ điều kiện về văn bằng. Ở bậc Trung học Đệ nhị cấp, ngoài các giáo chức chuyên nghiệp có tiếng, các trường tư thục còn sử dụng sinh viên đang học mấy năm cuối cùng bậc Đại học, nhất là sinh viên Đại học Sư phạm và Đại học Khoa học.

Những năm 1954-1963, số giáo sư Trung học Đệ nhị cấp rất thiếu, mặt khác, số trường trung học công lập dạy đến hết lớp Đệ nhất không phải tỉnh nào cũng có, vì thế số sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm được đưa về các tỉnh lớn để điền khuyết nhân số còn thiếu, ở tỉnh Gia Định có trường Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh Định Tường (Mỹ Tho) có trường Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ) có trường Phan Thanh Giản, tỉnh Khánh Hòa (Nha Trang) có trường Võ Tánh, tỉnh Bình Định (Qui Nhơn) có trường Cường Để … một số học sinh Đệ nhị cấp ở các tỉnh nhỏ phải đi qua tỉnh lớn để học. Giáo viên Tiểu học tốt nghiệp trường Quốc gia Sư phạm được phân bổ xuống tới các trường Tiểu học cấp Quận. Sang nửa sau thập niên 1960, các trường Tiểu học cấp xã được bồ sung một thành phần giáo chức đặc biệt là “giáo viên ấp tân sinh”, gánh nặng giáo dục trên vai các giáo viên Tiểu học công lập mới nhẹ bớt.

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 3)
Luật sư, giáo sư Vương Văn Bắc, từng là Ngoại trưởng VNCH.

Thời Đệ nhất Cộng hòa, các giáo sư đại học là một thành phần xã hội ở trên cao, cách biệt rất lớn với hàng ngũ giáo chức trung, tiểu học và sinh viên đại học. Thời đó, số cư dân có xe gắn máy không nhiều, vậy mà hầu hết các giáo sư đại học đều đi dạy bằng ô tô. Điều đó không khó hiểu, vì khi còn là sinh viên du học nước ngoài, phần lớn họ đã sinh trưởng trong các gia đình thượng lưu, họa hoằn lắm mới có người ngoi lên từ giai cấp trung hay hạ lưu. Trong khuôn khổ ngành Đại học theo chế độ tự trị, các giáo sư đại học lúc bấy giờ toàn tâm toàn ý cho công cuộc giáo dục, đào tạo thế hệ trí thức tương lai, mà không hề chịu một sức ép nào, về kinh tế cũng như về chính trị. Trong suốt thời VNCH, nhiều giáo sư đại học được mời tham gia chính phủ trong cương vị Tổng, Bộ trưởng, thời Đệ nhất Cộng hòa có: Vũ Quốc Thông (Bộ trưởng Y tế) Vũ Văn Mẫu (Bộ trưởng Ngoại giao), Nguyễn Quang Trình (Bộ trưởng Giáo dục)…; thời Đệ nhị Cộng hòa có: Nguyễn Văn Tương (Phủ Đặc ủy Hành chánh, tương đương Bộ trưởng Nội vụ), Trần Văn Kiện (Ủy viên Tài chánh, tương đương Bộ trưởng Tài chánh), Nguyễn Duy Xuân (Bộ trưởng Kinh Tế), Vương Văn Bắc (Bộ trưởng Ngoại giao)… Riêng luật sư, giáo sư Vương Văn Bắc, với cương vị Ngoại trưởng những năm cuối của nền Đệ nhị Cộng hòa miền Nam, ông rất thành công qua việc thiết lập bang giao với nhiều nước châu Phi và là người khởi đầu việc đàm phán khai thác dầu khí với các nước sản xuất dầu hỏa ở Trung Đông. Ông là tiêu biểu của giới trí thức trẻ đầy năng lực của miền Nam, tri thức rộng, dạy học hay, làm chính trị nhiều sáng kiến và thành công. Riêng người viết bài này luôn say mê những giờ Chính trị học của ông tại giảng đường Học viện Quốc gia Hành chánh những năm 1962-1963, một kỷ niệm khó quên của thời đi học.

***********

VIỆC THI CỬ

1. Trước kỳ thi

Đơn vị chính trong các kỳ thi trên toàn miền Nam trước 1975 là cấp Tỉnh. Trường trung học công lập chính thức của tỉnh là nơi trực tiếp thực hiện những thủ tục cần thiết dưới sự sắp xếp của Nha Khảo thí và các cơ quan liên hệ của Bộ Giáo dục như Nha Trung học, Nha Tiểu học, đoàn Thanh tra.

Mấy tháng trước ngày thi, các trường tư thục trong tỉnh phải nộp học bạ của tất cả thí sinh thuộc trường mình cho trường Trung học công lập tỉnh kiểm nhận, và chỉ khi nào học bạ được kiểm nhận hợp lệ, học sinh liên hệ mới được cấp số báo danh để dự kỳ thi sắp tới.

Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một trang học bạ của học sinh lớp Đệ Tứ (lớp 9) trường tư được trường công lập của tỉnh kiểm nhận mấy tháng trước kỳ thi. Đó là điều kiện bắt buộc của học sinh trường tư để được cấp số báo danh cho kỳ thi sắp mở.

Cũng mấy tháng trước kỷ thi, các giáo sư công lập đang dạy chính môn nào thì được Nha khảo thí yêu cầu đề xuất một số đề thi thuộc môn đó (thường từ 3 đến 5 đề thi). Những đề thi này chỉ có tính tham khảo, nếu có được chọn đi nữa thì xác suất được chọn cũng rất nhỏ, so với số đề thi đề xuất trên cả nước.

2. Trước ngày thi

Việc chọn đề thi do một tiểu ban của Bộ Giáo dục gồm phần lớn là các Thanh tra trung học đảm trách. Khoảng một tuần lễ trước ngày thi, bộ phận này bị cấm trại 24/24 tại trụ sở cho đến ngày thi xong. Không một ai, kể cả Bộ trưởng Giáo dục được phép tiếp xúc với những người này. Họ có những nhiệm vụ quan trọng sau:

– Thảo luận kỹ, chọn ra những đề thi cho từng môn thi, căn cứ vào đề xuất của các giáo sư từng bộ môn đã tập trung về Bộ cách đó mấy tháng.

– Quyết định xong toàn bộ các đề thi, họ đánh máy trên giấy stencil (giấy sáp) và tự tay quay roneo các đề thi đã chọn xong. Vì trong ngày thi, đề thi được phát tận tay mỗi thí sinh, nên số đề được quay roneo vô cùng to lớn, nhiều hơn tổng số thí sinh cho kỳ thi đó. Sau khi công việc khó nhọc này hoàn tất, họ dựa vào số thí sinh do các tỉnh báo cáo, cho toàn bộ đề thi vào những thùng kín có hai ống khóa, được niêm phong cẩn thận, chờ đại diện hội đồng thi các tỉnh lên nhận về.

– Trước khi kỳ thi diễn ra, mỗi tỉnh có một Hội đồng thi tập trung tại trường trung học công lập của tỉnh, gồm phần lớn các giáo chức trong tỉnh. Một ngày trước ngày thi, Hội đồng cử người về Bộ để đưa đề thi về tỉnh, tùy mỗi địa phương mà đi bằng đường bộ hay đường hàng không. Nếu đi đường bộ, họ được xe cảnh sát hộ tống chặt chẽ. Trong suốt những năm trước 1975, chưa hề nghe có một scandal vào về việc tiết lộ đề thi, đủ biết sự bảo mật được thực hiện chặt chẽ như thế nào.

Khi về đến tỉnh, thùng đựng đề thi được đưa ngay đến trụ sở Tòa hành chánh tỉnh. Viên chức giữ chức vụ Phó Tỉnh trưởng sẽ thay mặt ông Tỉnh trưởng sở tại, chủ trì một tiểu ban tiếp nhận và bảo quản đề thi. Họ niêm phong và ký tên trên tất cả giấy niêm phong, cho hết vào một tủ sắt trong phòng Phó Tỉnh trưởng, niêm phong tủ sắt với chữ ký của các thành viên trong tiểu ban (đại diện trường trung học công lập tỉnh, đại diện Ty cảnh sát, tòa án, Hội đồng tỉnh…).

Sáng ngày thi, chỉ một khoảng thời gian ngắn đủ để mang đề thi đến mỗi trường thi, người của hội đồng thi và đại diện mỗi trường thi đến Tòa hành chánh tỉnh, phá niêm phong, nhận đề thi về các trường thi. Khi họ về đến nơi thì chỉ còn một thời gian tối thiểu để các giám thị phát đề thi đến tận tay thí sinh.

– Thường là một ngày trước ngày thi, các trường thi có thông lệ viết bằng phấn số báo danh của thí sinh trên từng bàn học trong phòng thi. Điều này không quan trọng đối với thí sinh Tú Tài, song rất cần thiết đối với thí sinh Trung học Đệ nhất cấp (cấp 2), nhất là thí sinh Tiểu học, giúp họ đến trường thi trước ngày thi, xem và biết trước sẽ ngồi ở phòng nào trong ngày thi. Trước khi có cách làm này, nhiều em gần đến giờ thi, chạy cuống quýt, không biết tìm phòng thi ở đâu, nếu tìm được phòng trễ quá, theo nội qui trường thi, sẽ không được vào phòng thi nữa. Tác giả bài viết này từng là một cậu học sinh như thế trong kỳ thi Tiểu học năm 1954.

3. Trong ngày thi

Trong phòng thi, thường ban tổ chức bố trí một bàn hai thí sinh ngồi ở hai đầu bàn, mỗi phòng có hai giám thị là giáo viên (tiểu học) hay giáo sư (trung học), thường là một nam, một nữ.

Đến giờ thi, thí sinh được phát riêng cho mỗi người:

– Đề thi in trên giấy in roneo dày, màu vàng, chữ rất rõ ràng.

– Giấy làm bài thi khổ to, có rọc phách giữa phần khai báo của thí sinh và bài làm.

– Giấy làm nháp thường có ba màu: xanh lục, vàng nhạt, hường. Thí sinh ngồi chung một bàn được phát giấy nháp khác màu nhau.

Khoảng 5 đến 10 phút trước khi hết giờ làm bài, các giám thị thông báo cho thí sinh biết để xem lại bài. An ninh phòng thi rất chặt chẽ, những người không có nhiệm vụ trong trường thi không được phép đến gần trường thi.

4. Sau ngày thi

* Việc học và thi tại miền Nam những năm 1954-1963 (và sau đó) dựa trên những ý niệm căn bản sau:

– Chỉ có ưu tiên trong học tập, hoàn toàn không có ưu tiên trong thi cử. Thành phần học sinh được ưu tiên trong học tập là con của quân nhân, công chức “hi sinh vì nhiệm vụ” (tử trận, tử nạn trong lúc thi hành nhiệm vụ, chết vì bệnh do công vụ gây nên…) hoặc của những thường dân hi sinh mạng sống để cứu người… Họ được thu nhận vào trường Quốc gia Nghĩa tử, được tạo những điều kiện học tập tốt nhất, bù đắp với sự bất lợi do thiếu cha hay thiếu mẹ so với các học sinh bình thường khác. Họ được miễn học phí, được cấp học bổng và nhiều phương tiện khác trong học tập. Với những điều kiện ưu đãi đó, họ phải cố gắng học tập như mọi người và trong kỳ thi, không được hưởng bất cứ sự ưu đãi nào.

– Tuy nhiên, có một trường hợp duy nhất được cộng điểm. Để khuyến khích học sinh rèn luyện thể lực, khoảng 2-3 tháng trước kỳ thi, Ty thể dục thể thao tỉnh tổ chức kỳ thi thể dục cho toàn thể học sinh trong tỉnh. Kỳ thi gồm nhiều môn phối hợp: chạy xa, nhảy xa, nhảy cao, ném tạ…, ai được từ 11/20 điểm trở lên thì được cộng số điểm sau khi trừ 10 vào tổng số điểm thi đã nhân với hệ số. Ví dụ một học sinh đạt điểm thi thể dục 13/20, cậu ta được cộng thêm 3 điểm vào tổng số điểm thi. Việc cộng thêm điểm này không đáng kể lắm nếu ta biết rằng tổng số điểm trung bình cần để đậu trong kỳ thi thường vượt quá con số 100, sau khi đã nhân với hệ số từ 2 đến 4, tùy theo môn thi.

– Những năm 1954-1963, tại miền Nam, bài thi được cho điểm trên cơ sở tối đa 20 điểm. Tùy theo tính cách quan trọng nhiều hay ít của các môn học và thi, mỗi môn được nhân với một hệ số khác nhau, ví dụ ở kỳ thi Tú Tài II (Tú Tài toàn phần) ban C, môn Triết học hệ số 3; Pháp văn sinh ngữ 1 hệ số 3; Anh văn sinh ngữ 2 hệ số 2; Sử Địa hệ số 2. Như vậy tổng số điểm tối đa các môn thi là 200, số điểm trung bình tối thiểu để đậu kỳ thi viết là 100/200.

– Mỗi kỳ thi Trung học Đệ I cấp, Tú Tài I và Tú Tài II đều có một kỳ thi viết và một kỳ vấn đáp. Thí sinh nào đạt điểm trung bình từ 10/20 trở lên được chấm đậu trong kỳ thi viết. Việc công bố kết quả thi viết diễn ra tại một trường học có sân rộng, loa được bắc nhiều nơi, một người trong ban tổ chức kỳ thi đọc trên loa tên và số báo danh của những người đậu kỳ thi viết, theo thứ tự từ nhỏ đến lớn, cũng là thứ tự mẫu tự của tên. Những thí sinh đậu trong kỳ thi viết mới được tham dự kỳ thi vấn đáp mở ra sau đó vài ngày.

Những người không đủ 10/20 điểm để đậu trong kỳ thi viết được chia làm hai hạng:

. Ai có từ 8 đến dưới 10/20 điểm trung bình được thi kỳ 2 mở cách kỳ 1 khoảng 2 tháng. Công việc nấu sử sôi kinh diễn ra ngay sau đó, trong kỳ nghỉ hè.

. Ai dưới 8/20 điểm trung bình không được dự thi kỳ 2, đợi sang năm sau thi tiếp

– Tùy theo số điểm trung bình trong kỳ thi, tính cả thi viết lẫn thi vấn đáp, người ta chia số người đậu theo các hạng sau:

. Hạng Thứ (passable): Từ 10 đến dưới 12/20 điểm

. Hạng Bình Thứ (Assez bien): Từ 12 đến dưới 14/20 điểm

. Hạng Bình (Bien): Từ 14 đến dưới 16/20 điểm

. Hạng Ưu (Très bien): Từ 16 đến dưới 18/20 điểm

. Hạng Tối ưu (Excellent): Từ 18 đến 20/20 điểm.

Trong kỳ thi Tú Tài, thường chỉ có hai ban A (chủ yếu các môn Lý Hóa-Vạn vật) và B (chủ yếu các mônToán-Lý Hóa) là có thí sinh đậu hạng Bình hay Ưu, vì các bài Toán, Lý Hóa, Vạn vật chấm điểm theo đúng, sai, ai làm bài đúng hoàn toàn dễ kiềm được 16-18 điểm. Riêng ban C với các môn chính: Triết học, Pháp (dissertation morale: luận đề luân lý), Anh (dịch), Sử Địa, kiếm được từ 10 đến 12/20 điểm trung bình đã rất vất vả nên hầu như chưa thấy ai học ban C mà đậu hạng Bình trở lên.

Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một chứng chỉ thi đậu Tú Tài II cấp năm 1962

– Hàng năm, những kỳ thi tuyển vào các trường đào tạo công chức và có học bổng như Đại học Sư phạm, Quốc gia Hành chánh, Kỹ thuật Phú Thọ đều được mở ra giữa hai kỳ 1 và 2 của kỳ thi Tú Tài II, ai thi rớt kỳ 1, chờ thi kỳ 2, sẽ không có cơ hội tham gia các kỳ thi tuyển vào Đại học năm đó.

– Tỉ lệ thi đậu hàng năm của 3 kỳ thi trung học dao động từ 25% đến 45%, thấp nhất thường là ở kỳ thi Tú Tài I, chỉ khoảng 30%-35%, cao nhất là kỳ thi Tú Tài II, từ 35% đến 45%. Điều này dễ hiểu: trình độ học sinh lớp Đệ Nhị (để thi Tú Tài I) không đồng đều bằng học sinh lớp Đệ Nhất (để thi Tú Tài II) vừa đậu xong Tú Tài I năm trước.

Mặt khác, số thí sinh trường tư thường đậu thấp hơn thí sinh trường công, chiếm khoảng 70% -90% số thí sinh thi đậu của trường công. Lý do: Trình độ học sinh trường tư rất không đồng đều, phải chờ nhau, nên không tiến nhanh được. Cần nhớ là trong kỳ thi Tú Tài I, 100% thí sinh trường công đều có bằng Trung học Đệ nhất cấp, trong khi thí sinh trường tư thi Tú Tài I không cần có bằng Trung học Đệ nhất cấp. Chỉ riêng sự khác biệt này đủ làm nên sự chênh lệch về tỉ lệ thi đậu ở mỗi loại trường.

Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một chứng chỉ thi đậu Trung học Đệ nhất cấp cấp năm 1959.
Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một chứng chỉ thi đậu Tú Tài I cấp năm 1961. Người ký là Phó Tổng Giám Đốc Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục Phan Thế Roanh, con trai danh sĩ Phan Mạnh Danh, tác giả tập Bút Hoa.

– Trong kỳ thi Tú Tài (và cả Trung học Đệ nhất cấp), có một thành phần “thí sinh tự do” là những người không có điều kiện học thường xuyên tại trường học. Họ là những quân nhân, công chức hoặc người thi rớt nhiều năm liền. Quân nhân, công chức thường ghi danh học các lớp ban đêm và ban mà họ chọn nhiều nhất là ban C. Họ được miễn điều kiện học bạ, nhưng vẫn phải thi như bất cứ thành phần nào khác, không có chuyện “chuyên tu” hay “tại chức” như sau 1975.

– Sau khi có kết quả thi cả viết lẫn vấn đáp, những thí sinh đã đậu chính thức được cấp sớm một chứng chỉ bằng một tờ giấy A4, có khi chỉ bằng nửa tờ A4. Họ sao y tờ chứng chỉ này dùng cho mọi việc cần thiết: thi tuyển, ghi danh vào đại học, xin việc làm… Phải mấy năm sau họ mới được cấp văn bằng chính thức, khổ to, viết chữ đẹp, giấy cứng, thường chỉ có tác dụng lộng kính treo trong nhà, mọi việc đều nhờ vào tờ chứng chỉ.

– Hàng năm, nhiều nước cấp học bổng cho học sinh, sinh viên Việt Nam, thường là học bổng toàn phần, gồm học phí, chi phí ăn, ở trong suốt mấy năm học. Bộ Giáo dục đăng thông báo trên các báo vài tháng trước khi có kỳ thi tuyển chọn, ai muốn đi du học nộp đơn và hồ sơ dự tuyển. Đến lúc này, thứ hạng trong kỳ thi Tú Tài mới phát huy tác dụng, thường những người đậu từ hạng Bình trở lên được du học miễn thi, có năm phải từ hạng Ưu. Những người đậu hạng Bình Thứ hay Thứ phải dự kỳ thi tuyển, thường là về môn ngoại ngữ (Anh hay Pháp) liên quan đến nước cấp học bổng. Nhiều nhân tài miền Nam nên danh từ những học bổng toàn phần này.

– Sau Đệ nhất Cộng hòa (1963), các kỳ thi vấn đáp được bỏ dần, đến giữa thập niên 1960, bắt đầu thử nghiệm việc thi trắc nghiệm, được gọi vui là “A,B,C khoanh”. Đến đầu thập niên 1970, việc thi được đẩy mạnh về mặt khoa học kỹ thuật, tiến dần đến cách chấm thi bằng kỹ thuật xuyên phiếu với sự hướng dẫn và giúp đỡ của các chuyên viên thuộc hãng IBM. Lúc đó, một ngạch công chức mới ra đời, đó là ngạch xuyên phiếu viên.

Lê Nguyễn
29.11.2018

Kim Phượng st.

 

60 tấm ảnh màu đẹp nhất của đường phố Saigon thập niên 1960-1970

60 tấm ảnh màu đẹp nhất của đường phố Saigon

thập niên 1960-1970

Đường phố sạch đẹp, hiện đại và văn minh là những ấn tượng đầu tiên khi xem chùm ảnh về đường phố của thành đô Saigon ở dưới đây.

Saigon trước 1975 có vẻ đẹp hào nhoáng, nhộn nhịp của nếp sống xưa, nhưng cũng có nhiều góc ảnh mang lại vẻ đẹp thanh bình hiếm có.

  Đường phố sạch đẹp, hiện đại và văn minh là những ấn tượng đầu tiên khi xem chùm ảnh về đường phố của thành đô Saigon ở dưới đây

Saigon trước 1975 có vẻ đẹp hào nhoáng, nhộn nhịp của nếp sống xưa, nhưng cũng có nhiều góc ảnh mang lại vẻ đẹp thanh bình hiếm có.

Saigon 1965 – Photo by William S. Fabianic. Đây là đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) lúc còn cho lưu thông 2 chiều. Khúc này là ngã tư Phan Đình Phùng và Trương Minh Giảng (nay là Trần Quốc Thảo). Đi tới nữa là ngã ba Phan Đình Phùng – Nguyễn Gia Thiều (chỗ có thấy hàng rào sắt màu xanh lá cây), là Consulat Général de France (trước 1966 hoặc 1967 là trường tư thục Lê Quý Đôn) do KTS Phạm Văn Thâng thiết kế. Ở bên phải của người chụp tấm hình này là Toà Tổng Giám Mục, kế bên là biệt thự của tổng giám đốc công ty Shell do KTS Nguyễn Văn Hoa thiết kế. Còn ở bên trái là biệt thự của tổng giám đốc Chartered Bank, cũng do KTS Hoa thiết kế đầu thập niên 1960, đã bị chính phủ đập phá để xây trường mầm non và chỉ còn lại hồ bơi.

Saigon 1967, Photo by Bill Mullin. Đường Trường Công Định (nay là đường Trường Định) chạy băng qua công viên Tao Đàn

Saigon 1967-1968 – đường Tự Do. Photo by Dave DeMilner

Saigon 1965 – Đường Tự Do, Photo by John A. Hansen

Saigon 1969, Đường Tự Do, gần góc Tự Do – Nguyễn Thiệp ở bên phải hình. STAR HOTEL tại số 123 đường Tự Do, nơi trước kia là cửa hàng PHARMACIE NORMALE (123 Rue Catinat). Photo by Rick Fredericksen

Saigon 1965 – Đường Trần Hưng Đạo, nhìn từ Plaza BEQ (135 Trần Hưng Đạo). Bên phải là Metropole Hotel.

Saigon 1968 – Đường Lê Lai nhìn từ tầng 5 KS Walling trên đường Phạm Ngũ Lão. Photo by Brian Wickham

Saigon 1965, đường Trần Hưng Đạo

Saigon 1964 – Công trường Chiến sĩ (trước khi có Hồ Con Rùa) nhìn từ đường Trần Quý Cáp (Nay là Võ Văn Tần), bên phải là ra Nhà thờ Đức Bà – Photo by Iparkes

Saigon 1969 – đường Nguyễn Huệ. Photo by Wayne Trucke

Saigon 1965 – Đường Hồ Huấn Nghiệp, nối từ đường Tự Do tới Công trường Mê Linh. Photo by John Hansen

Đường Tự Do – Công viên Chi Lăng 1967-1968, nay đã bị Vincom chiếm dụng riêng. Photo by Henry Bechtold

Con đường Duy Tân cây dài bóng mát

Gần cuối đường Tự Do nhìn về phía sông Saigon. Ngay chỗ xe Taxi là ngã tư Tự Do – Ngô Đức Kế – Photo by Iparkes

Hình này chụp lúc chưa có Nhà Hàng Maxim sát bên khách sạn Majestic.

Góc hình ngược hướng với tấm hình bên trên, nhìn từ sông Saigon về phía đường Tự Do. Photo by Layered

Đường Tự Do

Saigon 1965-66 – Đường Phan Văn Đạt. Photo by Dale Ellingson
Phía xa là Công trường Mê Linh với bệ tượng đài Hai Bà Trưng

Saigon – Tháng 3 năm 1965 – Ngã tư Tự Do – Ngô Đức Kế – Photo by John A. Hansen 3. Đường Tự Do (tức Catinat thời Pháp thuộc) mang đậm dấu ấn kiến trúc Pháp.

Saigon 1971 – Moslem Mosque – Đường Thái Lập Thành. Photo by Mike Vogt. Đường Thái Lập Thành (nay là Đông Du) bắt đầu từ đường Tự Do, kế tiếp là ngã tư Hai Bà Trưng và ngã tư Thi Sách, và kết thúc tại đường Đồn Đất (nay là Thái Văn Lung).

Chợ Saigon Xuân Canh Tuất 1970 – Góc Lê Lai – Phan Châu Trinh

Saigon 1972 – Đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai). Ngã tư đằng trước là Hồng Thập Tự – Công Lý (nay là Nguyễn Thị Minh Khai – Nam Kỳ Khởi Nghĩa). Bên phải là trường Lê Quý Đôn.

Saigon 1965-66 (9) – Ngã 6 Phù Đổng khi chưa có tượng Phù Đổng Thiên Vương. Bên trái là đường Phạm Hồng Thái. Đường ngang cạnh cây xăng SHELL là Phan Văn Hùm (là bến xe đò, nay là đường Nguyễn Thị Nghĩa). Photo by Gene Long.

Saigon 1974 – Đường Hàm Nghi. Xe taxi con cóc và xe La Dalat

Đường Nguyễn Huệ, Saigon 1971 – Photo by Mike Vogt. Phía trước là ngã tư Ngô Đức Kế.

Saigon 1968 – Đường Phạm Ngũ Lão Saigon Nov 1968 – Photo by Brian Wickham

Saigon – đường Nguyễn Huệ, gần trụ đồng hồ

Saigon 1969 – Ngã tư Lê Thánh Tôn – Công Lý, phía xa là đường Lê Lợi. Photo by Brian Wickham

Saigon 1967, kẹt xe trên đường Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi)

Saigon thập niên 1960. Đường Pasteur nhìn từ đầu cầu Mống. Người chụp đứng trên đầu cầu Mống ở đầu đường Pasteur. Phía trước là ngã tư Pasteur – Nguyễn Công Trứ. Bên phải là một phần mặt hông trái và góc sau của Ngân Hàng Quốc Gia tại góc Pasteur – Nguyễn Công Trứ. Phía xa là ngã tư Hàm Nghi – Pasteur. (tại góc đó có Tòa đại sứ Đài Loan và Giao Thông Ngân Hàng).

Saigon 1969 – Đường Pasteur, bên phải là Đại Học Kiến Trúc, bên trái là công viên Vạn Xuân. Sau này công viên này bị xóa bỏ và đưa vào khuôn viên của nhà thi đấu Phan Đình Phùng ngày nay.

Saigon 1965 – Đường Pasteur khúc giữa của đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) và Nguyễn Du). Photo by Charles Cox

Saigon 1969 – đường Nguyễn Huệ. Photo by Wayne Trucke

Saigon 1968 – trên Đại lộ Cách Mạng 1-11. Photo by J. Patrick Phelan.
Đại Lộ Cách Mạng 1-11 (đoạn nối dài đường Công Lý) được đặt theo ngày đảo chánh Ngô Đình Diệm. Sau 1975 trở thành đường Nguyễn Văn Trỗi (Từ cầu Công Lý tới Hoàng Văn Thụ)

Saigon 1965-66 – Đường Công Lý – Photo by Thomas W. Johnson

Biểu ngữ trên đường Công Lý

Saigon 1969-70 – Đường Nguyễn Huệ cạnh góc Ngô Đức Kế – Photo by David Staszak

Saigon 1972 – Đường Ngô Đức Kế

Saigon 1967-1968 – Đường Đinh Tiên Hoàng đoạn gần Cầu Bông

Saigon 1967-1968, Casino Dakao đoạn ngã 3 Đinh Tiên Hoàng – Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu)

Saigon 1969-70. Đường Phạm Ngũ Lão

Ga xe lửa Bến Thành – Saiogn năm 1964-1965, nay trở thành công viên 23-9. Góc hình được nhìn từ đường Lê Lai về phía Trần Hưng Đạo. Ở góc trên trái nhìn thấy một chút mặt đứng của tòa nhà Hỏa Xa Đông Dương phía sau các mái nhà tôn.

Ga xe lửa Sài Gòn xưa khá rộng, nằm giữa các trục đường Phạm Ngũ Lão, Võ Tánh (Nguyễn Trãi bây giờ), Lê Lai và công trường Quách Thị Trang (nơi hiện đang xây dựng nhà ga tàu điện metro) – tương ứng với toàn bộ Công viên 23-9 và bến xe buýt hiện nay.

Saigon 1971 – Tượng đài Trần Nguyên Hãn nhìn từ trên cầu vượt dành cho khách bộ hành. Phía sau tượng đài nhìn thấy phần chân của cầu vượt bộ hành thứ hai từ bùng binh nối qua bến xe buýt. Nhà có mái ngói cao nhất trong hình là Nhà chú Hỏa, trên đường Phó Đức Chính.

Saigon 1969-70 – Chợ Bến Thành – Photo by David Staszak

Saigon 1969, cầu bộ hành trước chợ Bến Thành

Saigon đầu năm 1968, trước ngày Tết Mậu Thân

Vòng xoay Công trường Mê Linh đầu đường Hai Bà Trưng – Photo by Thomas W. Johnson

Đường Nguyễn Văn Thinh (nay là Mạc Thị Bưởi), ngã 3 với đường Phan Văn Đạt (đường ra công trường Mê Linh)

Saigon 1968,Photo by Darrel Lang. Đường Võ Di Nguy ở Phú Nhuận, nay là Nguyễn Kiệm.

Đường Tổng Đốc Phương (nay là Châu Văn Liêm) ở Chợ Lớn. Bùng binh là Tượng đài Chiến sĩ Vô danh giữa ngã tư Hồng Bàng – Tổng Đốc Phương

Saigon 1969 – đường Nguyễn Huệ. Photo by Wayne Trucke

Saigon1964 – Đường Lê Lợi. Photo by Al Adcock

Saigon 1968 – Đường Nguyễn Huệ. Photo by Sonnyb

Saigon 1969-70 – Đường Nguyễn Huệ. Photo by David Staszak
Ngã ba Nguyễn Huệ – Tôn Thất Thiệp. Bên trái là Tòa Hòa Giải

Saigon 1968 – Đường Hai Bà Trưng. Photo by Sonnyb

 Saigon 1969 – Đường Trần Hưng Đạo, Photo by Sonnyb. Chỗ gẫy góc về bên trái là ngã tư Trần Hưng Đạo – Cộng Hòa (nay là Nguyễn Văn Cừ). Ở giữa ảnh gần phía trên là nhà thờ Cầu Kho (nhìn thấy mặt sau, nhà có tháp trắng)

Saigon 1968 – Cổng vào Căn cứ Không quân TSN, nay là đầu đường Cộng Hòa nơi có cầu vượt vòng xoay Lăng Cha Cả.

Saigon 1968 – đường Lê Lợi. Photo by Larry Burrows

Góc Lê Lợi – Tự Do

Đại lộ Nguyễn Huệ sau cơn mưa

Đường Hồng Thâp Tự trước trường Lê Quý Đôn

Saigon về đêm

Một số hình ảnh về Đại Lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn) dẫn vào Dinh Độc Lập:


Nguồn ảnh: manhhai’s flickr

Kim Phượng st

 
Theo dõi RSS này