Truyện

Truyện (366)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Cô gái Mỹ làm dâu Đà Nẵng

... Tình cờ, cô gặp được anh.
Cô chìm đắm trong bể khơi đầy yêu thương .
Tình yêu của cô và anh không phân biệt tiền tài địa vị, không phân biệt khoảng cách không gian, không có kẻ thắng người thua, chỉ có tình yêu mãi tồn tại ...
 
 

 Cô gái Mỹ làm dâu Đà Nẵng 

Elissa không ngờ lời "tiên tri" của mẹ trong lúc tiễn cô ra sân bay sang Việt Nam, về việc cô sẽ yêu và cưới một chàng trai Việt lại ứng nghiệm nhanh như vậy.
 
Hơn 7 năm sống ở Đà Nẵng, Elissa Lê, 28 tuổi, chưa bao giờ thấy cuộc sống nơi đây tĩnh lặng như những ngày này. Kể từ khi Covid-19 ập đến, con ngõ trước nhà cô ở quận Liên Chiểu, thậm chí có những ngày không nghe thấy tiếng còi xe. Các bãi biển trống không. Ngoài đường thi thoảng vang lên tiếng xe cứu thương. Mỗi lúc vậy lòng Elissa quặn thắt.
 
"Là một công dân Đà Nẵng, không ngày nào vợ chồng mình không cầu nguyện cho sự bình an, mạnh mẽ đến với mọi người và các y bác sĩ đang chống dịch", cô gái Mỹ chia sẻ.
 
Elissa giúp đỡ tài chính cho cặp vợ chồng khuyết tật quê Phú Yên bán bánh mỳ ở Đà Nẵng vì Covid-19 khiến họ không có thu nhập. Vợ chồng Elissa cũng kêu gọi giúp đỡ nhiều người lao động ngoại tỉnh gặp khó khăn khác và kết nối các tổ chức ủng hộ cho phường, quận trong dịch. Ảnh: Như Phương.
 
Với Elissa, Đà Nẵng là mảnh đất khiến cô phải lòng chỉ sau một tháng của mùa hè năm 2012. Năm ấy, cô sinh viên ngành giáo dục của Đại học Seattle đến Việt Nam dạy tiếng Anh tình nguyện. Cô nhớ mãi một sáng ra biển ngắm bình minh, sóng lặng, mặt trời từ từ nhô lên tỏa ra ánh sáng ấm áp, những ngư dân ngoài khơi hớn hở cập bờ. Phút ấy, cô cảm thấy đây là thành phố đẹp nhất thế giới.
 
"Lúc phải lên máy bay về nước, vì nghĩ sẽ không bao giờ được quay lại đây nữa nên tôi đã khóc nhiều đến mức nhân viên an ninh nhìn hộ chiếu mãi không ra", cô gái quê Texas chia sẻ.
 
Về Mỹ, Elissa bước vào năm cuối đại học. Thời điểm đó cha mẹ cô đã chuyển đến thành phố khác ở cùng người anh trai. Cô gái trẻ phân vân không biết sẽ đi theo cha mẹ hoặc dạy học tại quê nhà. Bất ngờ, một ngày trước tốt nghiệp, Elissa nhận được email mời làm việc từ một trường quốc tế ở Đà Nẵng. "Ngay lập tức, tôi biết đây chính là con đường cho mình", cô nói.
 
Ngày tiễn con ra sân bay, bà mẹ ôm Elissa và nói: "Chúa cho mẹ sự bình an và mách rằng con sẽ sang Việt Nam, tìm được người đàn ông của mình và sẽ sống tại đó".
 
Lời của mẹ ứng nghiệm chỉ vài tháng sau khi cô đặt chân đến Đà Nẵng. Trong một buổi cắm trại với các bạn, Elissa quen với Lê Thân Như Phương - chàng trai đã hoàn lương sau những năm tháng tuổi trẻ nghiện ngập, giờ anh tìm thấy lẽ sống trong các hoạt động thiện nguyện. Thời điểm quen nhau, anh đang là cán bộ dự án cho một tổ chức phi chính phủ của Mỹ, hàng ngày chăm sóc, dạy dỗ trẻ mồ côi, trẻ em đường phố.
 
Elissa khâm phục nghị lực làm lại cuộc đời của Như Phương. Còn anh lại ấn tượng với lý do đưa cô gái Mỹ đến Đà Nẵng. Những câu chuyện về văn hóa, món ăn, cảnh vật và con người Đà Nẵng đã rút ngắn khoảng cách giữa chàng trai bản địa và cô gái ngoại quốc.
 
Sau buổi gặp đầu, hai người tiếp xúc với nhau nhiều lần khác ở các hoạt động cộng đồng. Thấy cô gái Mỹ không ngại ôm và nô đùa với các em bé, Phương càng quý mến. "Tình cảm cô ấy dành cho lũ trẻ không một chút giả tạo, có tình yêu và sự chấp nhận trong đó. Tôi thấy được cô ấy là người con gái trong sáng và đầy lòng trắc ẩn", Phương bộc bạch.
 
Tình cảm đặc biệt của Elissa với mảnh đất Đà Nẵng đã se duyên cho cô với Như Phương. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
 
Cuối tháng 10 năm đó, siêu bão Nari khiến cả thành phố tan hoang sau một đêm. Lần đầu tiên Elissa được trải nghiệm bão nhiệt đới. Gió lốc uỳnh uỳnh khiến cô sợ hãi. Nhưng cô an tâm hơn khi được hàng xóm giúp đỡ đổ xăng và chuẩn bị đồ ăn, cùng những tin nhắn động viên từ bạn bè, trong đó có Như Phương.
 
Một chiều, Phương đón Elissa trước cổng trường, hứa sẽ cho cô một bất ngờ. Chàng trai chở cô gái lên cầu Thuận Phước. Đứng ở đây họ có thể ngắm toàn thành phố. Ở đó, Phương đã tỏ tình với cô.
Tình yêu của họ lớn dần lên theo những ngày bên nhau. Cuối tuần, đôi trẻ thường chở nhau đi khám phá nhiều địa điểm trong vùng. Họ cùng tham gia các giải chạy vì trẻ em mồ côi hay chạy để thay đổi định kiến với người nghiện đã hoàn lương.
 
Biết con trai yêu cô gái ngoại quốc, bà Như Lan, mẹ của Phương lo ngại "người phương Tây sống thoáng, không biết vun vén cho gia đình như phụ nữ Á Đông". Nhưng ngay buổi đầu Elissa đến nhà chơi, nỗi lo của người mẹ bay biến.
 
Cô gái vừa bước vào cửa đã cúi đầu lễ phép chào hỏi bằng tiếng Việt và sau đó hoàn toàn không gặp trở ngại nào trong giao tiếp, dù mới sang Việt Nam không lâu. Elissa biết đi xe máy, thành thạo chợ búa. Mỗi lúc cô đội chiếc nón lá, cắp cái làn ra chợ, nhiều người bán hàng vây quanh để được nghe cô nói tiếng Việt.
Bữa cơm đầu tiên ở nhà Phương, Elissa không hề ngại ngùng, giữ ý mà ăn uống tự nhiên nên không khí gia đình rất thoải mái. Từ đó, cô hay theo mẹ Phương học hỏi nấu được nhiều món như phở, bánh tráng cuốn thịt heo, bánh xèo, mì Quảng, đặc biệt món mực chiên mắm...
 
"Tôi hay đi chợ chọn thực phẩm nấu ăn rồi mời anh Phương đến nhà thưởng thức tay nghề. Dần dần tôi nấu được rất nhiều món Việt", cô kể.
Elissa cũng bất ngờ khi thi thoảng bố mẹ Phương lại nói một vài câu tiếng Anh với mình vì để gần gũi hơn với cô con dâu tương lai, bà Lan đã học tiếng Anh giao tiếp. Mỗi dịp cha mẹ cô qua thăm đều được bố mẹ Phương tiếp đón nhiệt tình.
 
Vào một đêm trăng tròn đầu năm 2015, Phương chở Elissa lên bán đảo Sơn Trà, chọn một nơi đẹp nhất có thể ngắm nhìn cả thành phố vào ban đêm. Chàng trai quỳ xuống cầu hôn: "Em là người con gái tôi yêu và muốn sống trọn đời".
Phương kể, để có màn cầu hôn đó, anh đã ấp ủ ý tưởng và xin tư vấn từ nhiều người đi trước. "Tôi tôn trọng Elissa và văn hóa của cô ấy nên đã mua sẵn nhẫn để cầu hôn", chàng trai cho hay.
 
Như Phương luôn thấy vợ xinh đẹp nhất trong tà áo dài. Mỗi dịp lễ Tết hay ngày đặc biệt ở trường cô đều mặc trang phục này. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
 
Hôn lễ của đôi trẻ diễn ra ở nhà thờ 6 tháng sau. Theo nghi thức phương Tây, chú rể không được thấy cô dâu mặc áo cưới trước ngày trọng đại. Đến giờ làm lễ, ánh mắt Phương liên tục dõi về phía cửa. Anh vừa hồi hộp lại mong chờ. Bỗng cô dâu xuất hiện và tiến lại phía mình. Khoảnh khắc thấy Elissa được bố dắt vào, Phương đã không thể thốt nên lời.
"Tôi không ngờ cô ấy lại mặc áo dài trắng trong ngày cưới. Hình ảnh ấy hết sức thiêng liêng và là điều tôi không thể quên trong đời", chú rể kể. Tới hôm nay mỗi lúc nhớ lại thời khắc đó mắt anh vẫn cay cay.
Năm năm hôn nhân của họ đã đi qua trong sự bình yên. Đối với cặp vợ chồng này, chìa khóa giữ lửa yêu đương của họ là sự tôn trọng dành cho chồng và tình yêu dành cho vợ. Vợ chồng Phương cũng thường giúp đỡ nhiều gia đình khác, thậm chí có những đôi kết hôn vài chục năm, hâm nóng lại tình yêu và sửa chữa những khuyết điểm cho nhau.
Covid-19 tràn về Đà Nẵng, nhiều người ngoại tỉnh đang thuê trọ mất thu nhập. Vợ chồng Phương đã tổ chức nhiều cuộc họp trên Zoom với bạn bè để giúp đỡ tài chính cho những mảnh đời khó khăn. Họ cũng kết nối các tổ chức để chung tay ủng hộ vật chất, tài chính cho phường, quận.
"Ngày hôm nay, dù ở nơi đâu chăng nữa, chúng ta không thể trốn chạy thiên tai, dịch bệnh, nghịch cảnh. Nhưng cho dù điều gì xảy ra, vợ chồng tôi tin cá nhân sẽ trưởng thành hơn, tình yêu khăng khít hơn. Giống như trời sẽ đẹp hơn sau bão", vợ chồng Như Phương chia sẻ.
Phan Dương

 Khi "gã nghiện" quay đầu 

Chưa đến 20 tuổi, Lê Thân Như Phương nổi danh là một gã du côn nghiện ngập. Giờ ở tuổi 30, anh trở thành giám đốc một công ty sau khi đã hoàn lương.
 
Trong con xóm nhỏ ở quận Liên Chiểu, Đà Nẵng cuối những năm 2000, hễ thấy gã thanh niên tên Phương bước ra khỏi cửa là hàng xóm quay đầu tránh né. Không ai muốn nói chuyện hay liên quan tới cậu - một đứa trẻ chưa học hết lớp 12 đã nghiện rượu, thuốc lá, ma túy, mở miệng là văng tục chửi bậy.
"Đó là tôi của những năm trước đây. Lúc đó, tôi không nghĩ đó là sự coi thường của mọi người mà chỉ nghĩ, càng hung dữ sẽ có nhiều sự tự tin, tôn trọng", Lê Thân Như Phương bắt đầu câu chuyện kể về cuộc đời mình.
 
Lê Thân Như Phương làm chia sẻ về hành trình thay đổi cuộc đời để truyền cảm hứng cho những người nghiện hoàn toàn có thể quay đầu làm người tử tế. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
Lê Thân Như Phương nghiện rượu, thuốc lá từ rất sớm, rồi trượt dài trên con đường bạo lực, ma túy. Làm lại cuộc đời, cậu thường xuyên chia sẻ câu chuyện của mình để truyền cảm hứng cho những người nghiện trở về làm người tử tế. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
 
Đằng sau đứa trẻ hư hỏng là một gia đình không trọn vẹn. Phương thiếu tình yêu của cha từ bé. Ông thường xuyên vắng nhà và chỉ về khi đã say xỉn, đánh mắng vợ con. "Tôi vẫn nhớ như in một lần đến nhà bạn chơi, thấy nó và bố nói cười như hai người bạn thân, tôi chợt nhận ra mình chưa từng có một người cha như vậy trong đời. Nhìn họ mà tôi khóc trong lòng", Phương kể.
 
Vì hận cha và để che giấu sự tự ti, thiếu thốn của bản thân, Phương càng lớn càng bất cần, hư hỏng. Cậu uống rượu từ năm lớp 7. Lớn hơn chút thì tụ tập dùng thuốc lắc. Tuổi trẻ bồng bột và ngang tàng, lại được đám bạn xấu cổ vũ bằng những câu như 'Mày làm đi, tao chịu cho', 'Có chuyện gì đã có anh em lo'... chàng thanh niên mới lớn ngày càng trượt dài trong tội lỗi.
"Nói thế nhưng khi đánh nhau phải vào viện hay bị công an bắt, bạn bè mỗi người chạy một đường, chỉ có mẹ già phải ngược xuôi lo liệu", Phương nói.
Bà Như Lan, mẹ Phương cả đời cơ cực vì chồng con. Bà nỗ lực gây dựng được một xưởng may nhỏ tầm chục công nhân, song làm được bao nhiêu, cậu con phá đến đó. Khuyên can con không được, bao lần người mẹ phải khóc lóc, van xin.
 
Chưa kịp thi tốt nghiệp lớp 12, cậu tham gia vào một cuộc ẩu đả, bị chém vào đầu và lưng. Thoát thân được về đến nhà, cậu ngất trước cửa trong tiếng thét thất thanh của mẹ.
Lần Phương bị chém, bác sĩ chỉ định phải tĩnh dưỡng 3-6 tháng. Nhưng chỉ được chục ngày, đầu đang quấn băng, Phương vẫn đi khỏi nhà để tụ tập ăn nhậu với chúng bạn. Bà Lan chạy theo, quỳ xuống cầu xin: "Mẹ khổ lắm rồi con ơi, ở nhà cho mẹ đỡ lo". Đứa con vùng vằng hất mẹ ra.
 
"Lúc đó, tôi như con thú mất nhân tính, còn đập đầu vào tường để mẹ sợ không cản đường", Phương kể.
 
Phương những năm 18 tuổi đã sống như một thành phần bất hảo. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
Phương những năm 18 tuổi đã nổi danh là một thành phần bất hảo. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
 
Sau thời điểm đó, Phương tiếp tục sa chân vào ma túy. Những đêm con chưa về là những đêm người mẹ lang thang đầu ngõ. Nhiều hôm cậu trở về lúc 2h, đèn vẫn sáng, mẹ vẫn ngồi chờ. Đã có lúc đứa con thấy có lỗi với mẹ và cũng muốn quay về làm người tốt nhưng không biết làm cách nào. Áy náy phút trước, phút sau cậu lại lạc trôi trong cám dỗ.
 
Cuối năm 2009, Phương bị khởi tố vì sử dụng ma túy và cố ý gây thương tích. Đứng trước vành móng ngựa, hai bên là đồng bọn phải chịu án tù, phía sau là người mẹ khắc khổ, trước mặt là bản án chuẩn bị giáng xuống cho mình, khoảnh khắc ấy gã thanh niên mới lớn thực sự sợ hãi.
 
May mắn, phiên tòa năm đó Phương bị án treo. Bản án như một cơ hội cho chàng trai, nếu không nắm bắt sẽ có kết cục như chúng bạn, hoặc vào tù, hoặc ra nghĩa địa. Trong thâm tâm Phương lúc này cũng đã rệu rã với quá khứ làm điều xấu. "Đi đâu cũng sợ, làm gì cũng lo lắng, thấy công an là thót tim. Những lúc không có rượu, có thuốc, tôi đâu có ngủ được", cậu bộc bạch.
Khao khát được bắt đầu lại, Phương đồng ý theo mẹ đến một trung tâm cai nghiện. Tại đây, cậu được tiếp xúc với những người trước đây đều nghiện ma túy lâu năm nhưng hôm nay tất cả họ đều thay đổi, ăn nói đàng hoàng, có gia đình hạnh phúc, công việc ổn định và làm nhiều việc có ích cho xã hội.
 
Anh Hoàng Vũ, 36 tuổi - một trong những người giúp Phương cai nghiện - kể, lần đầu tiên gặp Phương là trong một kỳ trại dành cho lứa tuổi thanh niên. Cậu mặc chiếc áo sơ mi trắng và quần sẫm màu. "Bình thường cậu ấy hung hăng, bất cần. Nhưng hôm đến trông cậu hiền như cục đất. Tôi biết đấy là lúc Phương đang tìm cách để thay đổi cuộc đời", anh Vũ hồi tưởng.
 
Những ngày đầu tại trung tâm, cơn nghiện thuốc lá, thèm rượu, ma túy hành hạ Phương. Nhiều hôm cậu đờ đẫn, chân tay không nhấc nổi. Anh Vũ cùng các anh em đấm lưng, massage, đút cho Phương ăn. Ngày khỏe hơn, họ kéo Phương đi chơi thể thao. Sau 2 tuần chàng trai bỏ được thuốc lá, không chửi tục, chửi thề. Khoảng một tháng, Phương không còn những cơn thèm ma túy và rượu nữa.
 
Nhưng đây chỉ là sự thay đổi bên ngoài. Để thay đổi một người triệt để cần phải từ bên trong, nghĩa là thay đổi từ trong suy nghĩ và hành vi. Anh Vũ dẫn theo Phương tham gia các hoạt động giúp đỡ người nghèo, trẻ em khuyết tật, tình nguyện ở các vùng sâu xa. Từ một người không nói được lời nào ngon ngọt thì nay Phương phải tập từng lời nói cảm ơn và quan tâm đến người xung quanh – việc tưởng đơn giản với người bình thường nhưng cực kỳ khó khăn với một người từng sống đời du côn như Phương. Đôi tay cậu vốn chỉ biết đánh đấm, nay tập chơi đàn guitar và học hát.
 
Sau khi làm lại cuộc đời, Phương (trái) đã quay lại giúp đỡ nhiều người bạn khác, trong đó có Bảo. Giờ đây Bảo cũng tiếp nối những việc tốt của Phương. Ảnh: Nguyễn Bảo.
Phương (phải) đã giúp đỡ nhiều người bạn khác trở thành người tốt, trong đó có Bảo. Giờ đây Bảo cũng tiếp nối những việc tốt của Phương. Ảnh: Nguyễn Bảo.
 
Nửa năm sau, Phương vào một trường nghề học ngành quản trị khách sạn. Những ngày đầu chàng trai 21 tuổi xấu hổ trước bạn bè vì không biết gõ bàn phím, không biết một chữ tiếng Anh. Nhiều lần chán nản, muốn quay lại con người cũ, những lúc như vậy luôn có những người anh em khích lệ Phương kịp thời. "Tôi luôn giữ trong tâm trí mình nếu họ làm được thì tôi cũng sẽ làm được", cậu nói.
Để nói được tiếng Anh trong ngành khách sạn, Phương vừa học trên trường, Internet ở nhà và chịu khó ra biển bắt chuyện với khách du lịch. Cậu còn nhớ lần đầu tiên ngồi cả buổi mà không đủ can đảm tiến lên bắt chuyện. Mãi tới một lần chỉ đường cho khách, được họ rối rít cảm ơn thì Phương mới bước qua được rào cản. Từ đó, cậu thường ra biển 3 buổi mỗi tuần để giao tiếp với người nước ngoài. Nói sai ở đâu được sửa ở đấy, trình độ giao tiếp tiếng Anh của Phương tăng lên nhanh chóng.
 
Cuối năm 2011, khi đã có một vốn tiếng Anh kha khá, Phương bắt đầu kiếm việc ở một số khách sạn nhỏ. Sau khi tốt nghiệp năm 2012, cậu được nhận vào làm ở vị trí tiền sảnh ở một khách sạn 4 sao khá lớn thời bấy giờ.
Chưa đầy một năm sau, chàng trai quyết định nghỉ việc ở khách sạn, chuyển sang làm nhân viên dự án cho một tổ chức phi chính phủ của Mỹ. Trong đó cậu tham gia nuôi nấng các trẻ em mồ côi, trẻ em đường phố.
"Mỗi khi nhìn các cháu không cha không mẹ, tôi lại thấy hình ảnh của mình trước đây. Nếu không người nào tốt dạy các cháu những điều đúng và trân trọng cuộc sống thì sớm hay muộn sẽ có những điều xấu đến với các cháu", Phương nói.
 
Chính từ các hoạt động này đã cho Như Phương cơ duyên quen biết cô gái người Mỹ Elissa - người vì yêu mảnh đất Đà Nẵng đã rời quê hương đến đây và làm giáo viên trong một trường quốc tế. Phương và Elissa từ đó đồng hành trong nhiều hoạt động giúp đỡ trẻ em và người nghèo ở Đà Nẵng. Riêng Phương, còn giúp được hàng chục người bạn cũ thoát khỏi con đường nghiện ngập.
Nguyễn Đào Bảo, 30 tuổi, một trong nhiều người được Phương giúp hoàn lương chia sẻ, bản thân Bảo nghiện gần chục năm, kinh tế gia đình kiệt quệ, mọi người xa lánh. Ba mẹ và anh chị em không chịu nổi cũng quay lưng.
Năm 2017, Bảo đang lang thang ngoài đường thì vô tình gặp được Phương và được Phương đem về quán pizza của mình cho ăn ở. Nhưng với bản tính của một người nghiện, Bảo lại trộm đồ đạc và lừa tiền của ân nhân để thoả mãn cơn nghiện của mình.
 
"Thật bất ngờ, tôi đang đối xử với Phương bằng bản chất của một con nghiện, lừa lọc, dối trá, trộm cắp nhưng Phương lại quan tâm, cư xử với tôi như một người anh em thân thiết. Cậu ấy vẫn hỏi thăm tận tình, chu cấp tiền ăn uống và dành thời gian chia sẻ về sự thay đổi của cậu ấy cho tôi", Bảo kể.
Chính cách đối xử này đã truyền động lực cho Bảo thêm tin vào con đường Phương đã đi. Sau đó, Bảo được ra Hà Nội cai nghiện bằng tiền của Phương. Đến giờ sau hơn 2 năm, Bảo đã hoàn toàn rũ bỏ được con đường cũ. Hiện anh đang làm tài xế cho một trường quốc tế, bên cạnh giúp đỡ cho các anh em có quá khứ nghiện ma tuý. Bảo cũng đã có gia đình mới êm ấm với vợ và con gái.
 
Như Phương và vợ Elissa đã quen và yêu nhau khi tham gia các hoạt động giúp đỡ cộng đồng. Hiện Elissa dạy ở một trường quốc tế, còn Phương mở một công ty nội ngoại thất có hơn chục nhân viên. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
Như Phương và vợ Elissa đã quen và yêu nhau khi tham gia các hoạt động giúp đỡ cộng đồng. Hiện Elissa dạy ở một trường quốc tế, còn Phương mở một công ty nội ngoại thất có hơn chục nhân viên. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
 
Về phần Lê Thân Như Phương, điều đầu tiên anh cầu nguyện sau khi thay đổi là sẽ không làm mẹ khóc thêm một lần nào nữa. Song trong đám cưới của mình năm 2015, người con này lại khiến mẹ không cầm nổi nước mắt khi nói lời cảm ơn và xin lỗi mẹ.
 
Người mẹ vẫn tiếp tục rơi nước mắt nhiều lần khác khi thấy con phát biểu bằng tiếng Anh giữa hội trường đông người, khi con đi phiên dịch cho các tổ chức phi chính phủ, hay lúc con thành công trong sự nghiệp và có một hôn nhân hạnh phúc.
 
Khi Phương thay đổi thì người cha cũng mềm lại và mối quan hệ giữa hai bố con được chữa lành. Bây giờ cha con ngồi cười đùa vui vẻ như thuở nhỏ Phương hằng ao ước.
Nhưng Phương biết những giọt nước mắt bây giờ của mẹ là từ hạnh phúc và niềm tự hào về đứa con bà yêu thương...
 
 
 
    Sưu tầm và tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang    

Ảnh minh họa

db43c148c6ox4y5hrxvc7lqb668g
Xem thêm...

ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM -Truyện ngắn của PHAN XUÂN SINH

Nhờ các em SAO MAI chuyển lời thăm cuả tôi đến anh PHAN XUÂN SINH và chúc mọi người an bình hạnh phúc.
Câu chuyện hay và cảm động của nhà văn PHAN XUÂN SINH, cựu học sinh SAO MAI ĐÀ NẴNG.

Thầy Tạ Quốc Bảo
-------------------------------------------------------------------------
From: Ta Quoc Bao
Sent: Wednesday, August 26, 2020, 12:27:20 PM PDT
Subject: ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM.

 
<@> BBT-GNST xin chân thành cảm ơn Thầy đã email đến đến chúng em.
Kính chúc Thầy cùng gia đình nhiều niềm vui, sức khoẻ, hạnh phúc và an lành.

Kính mến,
BBT-GNST
Sao Mai
 
 
  ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM  
 
 Truyện ngắn của PHAN XUÂN SINH
 
2010_07_17_PhanxuanSinh_ThiSiVG_03
Sau khi lên ngồi phía sau xe taxi, Hiền nói với người tài xế: “Tôi muốn đi tìm nhà người quen ở Thanh Khê. Lâu quá rồi tôi không đến đây nên chỉ còn nhớ mang máng. Từ ngã ba Thanh Khê vào một con hẻm lớn chừng hai trăm thước, rồi lại quẹo phải chừng năm mươi thước, căn nhà đó nằm bên phải. Người bạn tôi tên Lượm, dân cố cựu vùng nầy. Nhờ anh tìm giùm. Anh đừng lo, tôi sẽ bồi dưỡng cho anh hậu hỉ”.
 
Người tài xế hỏi lại: “Thế chị không tới đây từ bao lâu rồi?”
Hiền trả lời, hình như đã tính trước: “Chừng mười lăm năm”
 “Mười lăm năm, biết bao nhiêu vật đổi sao dời, sợ rằng mọi vị thế đều thay đổi, nhận không ra. Hy vọng anh ấy là dân sống ở đây lâu năm thì hàng xóm láng giềng biết sẽ chỉ cho chị, hy vọng không khó lắm”.
 
Người tài xế cho xe chạy ra đường Hùng Vương, con đường huyết mạch của Đà Nẵng ngày xưa, xe cộ tấp nập nhưng chị không để ý, suy nghĩ miên man. Chị quyết tâm gặp lại Lượm và đứa con gái của chị, sau mười lăm năm chị vượt biên biệt tích, không có một tin tức nào về cha con họ. Dù Lượm có xỉ vả mắng nhiếc chị, có xua đuổi thì chị cũng phải gặp họ để nói một lời xin lỗi, để nhìn lại đứa con gái mà khi chị ra đi nó chỉ mới bốn tuổi. Đứa con mà bao nhiêu năm sống cơ cực ở quê nhà, chị không gửi một đồng bạc nào về cho con bởi lòng ích kỷ vì sợ Lượm sẽ bắt liên lạc, gây khó khăn cho chị.
Trong lúc chị muốn tránh tất cả, để mọi người nghĩ rằng chị đã chết. Khi ra đi trong lúc Lượm còn trong trại cải tạo, gia đình nghèo khổ, tất cả đồ đạc trong nhà đều bán sạch.
 
Cũng vừa lúc đó có những chuyến vượt biên bán chính thức dành cho người Hoa, chị được một người đàn ông quen biết đề nghị giúp chị với điều kiện chỉ một mình chị đi, con phải để lại. Chị đắn đo bao nhiêu ngày, nếu ở lại với tình trạng nầy mẹ con đều chết đói, chi bằng gửi con về bên nội rồi qua đến Mỹ chị gửi tiền về nuôi con.  Chỉ có một con đường nầy giải quyết ổn thỏa bức bách về sự sống còn của chị và con. Thế nhưng oan nghiệt thay…
 
Xe ngừng trước một con hẻm, tài xế quay qua nói với chị: “Đã đến nơi, chị cứ ngồi trên xe, để tôi xuống hỏi những người quanh xóm nầy có biết ông Lượm còn ở đây không?”
 
Chị nhìn quanh nhưng không thể nhận ra có cái gì quen thuộc mà trước đây chị sinh sống. Mọi vật đều thay đổi xa lạ. Tự nhiên chị hồi hộp, tim chị đập mạnh không biết chuyện gì sẽ xẩy ra với chị khi đứng trước mặt anh. Bây giờ chị mới thật sự thấy lo lắng. Chị lấy kính đen ra mang để mọi người trong xóm nầy không ai nhìn ra được chị, người đàn bà có một thời gian dài sống ở đây. Làm sao chị có thể bước xuống xe đi bộ vào con hẻm trước bao nhiêu cặp mắt soi mói nhìn mình. Có phải chăng đây cũng là một hình phạt về cái chuyện mình đã gây ra cho cha con họ. Vì sự ích kỷ của mình, vì gặp một hoàn cảnh nhục nhã mà mình không muốn cho cha con họ biết, nên mình đã cắt đứt liên lạc với chồng con, để bây giờ mọi chuyện đều ngỡ ngàng, cảm thấy xấu hổ.
 
Người tài xế trở ra nói với chị: “ Anh Lượm còn ở đây, nhưng không có ở nhà, đang bán phở ngoài đường cái. Tôi đưa chị ra đó”.
Xe chạy ra đầu hẻm thì ngừng, quán phở nằm bên kia đường. Chị ngồi trên xe nhìn qua quán phở nhận ra anh ngay. Anh đang đứng phía sau nồi nước lèo đang bỏ bánh phở vào tô cho khách. Vẫn bộ râu mép rậm rạp, vẫn nụ cười luôn luôn trên môi mà ngày xưa anh đã chinh phục chị. Chỉ khác một điều là ngày xưa anh là một phi công, còn bây giờ anh là người bán phở. Chị ôm mặt cúi đầu khóc nức nở, thương cho anh quá nhưng bây giờ làm sao đây. Tóc anh nhuốm bạc, da sạm, đôi gò má hóp đủ biết anh sống trong cơ cực, bần hàn, thế mà bao nhiêu năm nay chị không chi viện một đồng bạc nào cho anh và con để sống. Nghĩ tới sự bạc tình của mình, chị cảm thấy xấu hổ. Làm sao cha con anh không oán trách?
 
Người tài xế hỏi chị:
 “Chị xuống xe, hay còn đi đâu khác?”
 “Anh cho tôi xuống đây”. Rồi chị móc ví trả tiền xe, không quên gửi tiền thêm cho tài xế.
Chị vào một quán nước đối diện với tiệm phở của anh bên kia đường, tìm một chỗ ngồi thích hợp để nhìn qua. Chị phân vân không biết làm cách nào để gặp anh, trong lúc khách khứa còn ra vào. Chị gọi một ly café đá rồi hỏi chuyện người bán quán:
 “Tiệm phở bên kia đường bán có khá không chị?”
 “Phở bình dân rẻ tiền, bán cho khách lao động quen biết, kiếm đủ sống?”
Chị muốn hỏi về đứa con gái của chị, nhưng không biết cách nào chị phải hỏi một cách lòng vòng, mông lung:
 “Có một mình anh đó đứng bán, không có ai giúp anh ấy sao?”
 “Trước đây thỉnh thoảng có đứa con gái phụ với cha, bây giờ nó đi học xa chỉ một mình ổng làm”.
Chị ngạc nhiên:
 “Bộ ở đây không có trường sao mà phải đi học xa?”
 “Con bé học giỏi lắm. Lên đại học, ở đây không có ngành đó, nên nó phải vào Sài Gòn”.
Chị cuối mặt thoáng một vẻ vui mừng. Chị nói một cách bâng quơ:
 “Bán phở bình dân mà nuôi con lên đại học, giỏi thiệt”.
Người bán quán dừng tay pha café, nhìn chị như soi mói và trách móc một cách nhẹ nhàng:
 “Ông đó có vợ đi Mỹ nhưng biệt tích, nghe nói bà ta có chồng khác không giúp gì cho cha con ông ấy hết. Tệ thật”.
Một lời cố ý hay vô tình đã làm cho chị thấm đau. Một người dưng bên ngoài không ở trong cuộc, nhưng thấu hiểu được hoàn cảnh của cha con anh, lời của họ như muối xát vào mặt chị, huống gì cha con anh làm sao tránh được sự phẩn nộ? Chị tự hỏi có nên gặp anh ngay bây giờ không? Chị có chịu nổi sự chửi bới nặng nề của anh giữa lúc tiệm đang có khách, có mặt những người lạ.
 
Chị hỏi người bán café:
 “Quán phở bên kia mấy giờ mới đóng cửa?”
 “Sắp đóng cửa bây giờ. Quán chỉ bán buổi sáng và trưa, hai giờ chiều đóng cửa để ông ấy đi chợ lấy hàng về nấu, chuẩn bị cho sáng mai. Ngày nào cũng vậy, tội nghiệp”.
 “Anh ấy không lấy vợ khác sao?”
 “Ông ấy bảo rằng mình nghèo quá không lo cho người ta trọn vẹn, làm khổ thêm một người nữa, mình không đành. Thôi ở vậy nuôi con. Ông ấy cũng có nhiều bà thương, cũng có bà lắm của nhiều tiền, nhưng ông không màng tới, hình như ông sợ chuyện lấy vợ. Một con chim bị thương nên sợ hãi tiếng bật của cung”.
Chị cuối xuống, khóc nức nở như có ai thọc trúng yếu huyệt. Sau cơn giằng xé con tim,  chị gỡ kiếng đen ra lấy khăn lau nước mắt. Ngày xưa anh đẹp trai, một trung úy phi công bay bướm. Nhưng khi kết hôn với chị, anh từ bỏ tất cả các thú vui về sống với vợ con. Lương trung úy của anh cộng với lương giáo viên của chị, hai vợ chồng không giàu có nhưng sống thoải mái. Những ngày sống với nhau thật hạnh phúc, buổi chiều anh chở vợ con trên chiếc xe lambretta đi hóng mát trên bờ sông Hàn. Thứ bảy gửi con cho bà ngoại, vợ chồng đi xem ciné hay nhảy đầm. Một khoảng thời gian ngắn đó đã cho chị hiểu được thế nào là hạnh phúc, mà suốt cuộc đời sau nầy chị không thể nào tìm lại được. Chính chị là người đánh rơi mất cái hạnh phúc tuyệt vời đó, chối bỏ chồng con, chạy theo một thứ danh lợi phồn hoa. Đày ải anh và con lâm vào cảnh bần cùng tồi tệ.  
 
Chị nói thật với người bán café:
 “Tôi là vợ của anh Lượm trước đây và là mẹ của cháu Hậu. Không ngờ rằng tôi đã gây ra nhiều oan nghiệt cho cha con họ quá. Chính tôi cũng không thể tha thứ cho lầm lỗi của mình, thì làm sao tôi đòi hỏi chồng và con tôi tha thứ cho tôi được”.
 “Tôi không ngạc nhiên, vì Hậu giống bà như đúc. Khi nghe bà hỏi thăm ông Lượm là tôi có linh tính đoán ra được bà là vợ của ông ấy trước đây. Bà cứ qua đó gặp ổng, chắc ông mừng lắm”.
 “Không đâu. Tôi nghĩ anh ấy có thể giết tôi cho hả giận, nhưng tôi không sợ. Có lẽ như vậy tôi cảm thấy thanh thản hơn”.
 
Chị trả tiền café, đứng dậy, cám ơn, rồi băng qua đường. Người bán hàng nhìn theo chị vừa lo lắng, vừa thương hại, và cũng vừa có chút trách móc. Anh đang chuẩn bị đóng cửa tiệm, chị bước tới đứng phía sau, gọi khẻ:
 “Anh Lượm”.
Anh quay lui, sững sờ, mắt anh sáng rực, đôi mày anh nhíu lại, rồi anh thốt lên:
 “Hiền đó à, khỏe không em?”
Em không muốn anh hỏi em như vậy. Hãy tát vào mặt em, chửi rủa hành hạ em và nếu cần có con dao thái thịt trên bàn, anh có thể chém em một nhát. Em sẳn sàng tất cả rồi, phải dùng những phương tiện tồi tệ nhất đối với em chứ đừng nhỏ nhẹ với em như vậy. Em không có quyền nhận sự mềm mỏng, sự tha thứ nào của Anh và con…
 
 “Hiền vào quán, anh khóa cửa. Chúng ta nói chuyện không có ai quấy rầy”
Chị nhìn quanh cửa tiệm, vỏn vẹn có năm cái bàn nhỏ, một quày tính tiền, hai bếp lò than kê sát vách tường. Một quán phở bình dân dành cho dân lao động. Tài sản sơ sài của anh khoảng chừng một trăm dollars, thế mà nuôi con ăn học đàng hoàng. Chị kéo ghế ngồi vào bàn, hai tay chống trên bàn mặt cúi xuống, chị gỡ kính ra lau nước mắt, nhưng nước mắt cứ trào. Chị khóc cho ai, cho chị hay cho anh? Chị không còn phân biệt được, nhưng có một điều nước mắt sẽ làm cho người đàn ông phấn chấn và xiêu lòng. Anh kéo ghế ngồi đối diện, không nói một lời, nhìn chị khóc cho hả bớt sự tức tối, đay nghiến chính mình.
 
Sau một hồi lâu, anh mới lên tiếng:
 “Em đừng chống tay lên bàn dơ tay áo. Hôm nay anh chưa lau bàn”.
 “Anh đừng lo, cái dơ bẩn nầy nhằm nhò gì cái dơ bẩn của em đang mang trong người. Mọi người biết chuyện đều xa lánh khinh bỉ em, chửi rủa mắng nhiếc em. Còn anh, sao anh lại tiếp em, không hành xử thô bạo với em, để cho hả dạ mà em đã gây ra cho anh…”
Anh nhìn chị rồi cười:
 “Như vậy thì ích gì cho anh? Thú thật với em, từ lâu anh không còn biết giận hờn là gì cho nên lòng anh mới được thanh thản. Nếu cứ mang hận thù mãi trong người, chồng chất cái nầy lên cái kia, đến bây giờ chắc nó đã dìm anh chết mất. Nhưng thôi, lâu quá mới gặp em, nói chuyện khác cho vui”.
 “Chuyện gì với em cũng không thể vui được. Từ khi ngồi trên máy bay em khóc mãi cho đến bây giờ. Em nghĩ gặp anh, em sẽ bị xua đuổi, sẽ bị nguyền rủa thậm tệ. Em đã chuẩn bị những tình huống xấu nhất. Dù thế nào, dù có chết em cũng phải gặp anh và con, để cho em thấy được mặt, rồi sau đó ra sao cũng mặc”.
“ Cái gì mà ghê gớm đến thế. Tụi mình cũng đã bắt đầu mấp mé đến tuổi già, không bằng lòng cái gì thì nói với nhau, gây cho nhau khó khăn để làm gì? Con Hậu nó đi học ở Sài Gòn, em cần thì anh cho địa chỉ để vào gặp nó. Còn anh bao giờ cũng vậy, tà tà sống qua ngày, không còn bị ràng buộc những bon chen, những tranh giành. Bây giờ anh không còn gì để mất, một cơn bão đã bật tung cội rễ, một canh bạc đã làm khánh tận. Có ngồi than thân trách phận cũng chẳng được gì. Chi bằng mình gạt bỏ tất cả để sống cho mình, cho con. Đủ rồi”.
 
Chị ngồi trước mặt anh, cách nhau một cái bàn, có thể nắm lấy tay nhau được. Thế nhưng sao hai người có một khoảng cách rộng lớn quá. Anh sống cho mình, cho con, nhưng chị cứ nghĩ anh đang sống cho tha nhân, lòng anh mở toang. Anh rộng lượng như Bồ Tát, tính tình anh thay đổi một cách lạ kỳ. Ngày xưa chị khiếp sợ trước cơn giận dữ của anh, đôi mắt anh sáng quắc nhìn chị như ăn tươi nuốt sống. Chị tránh nhìn vào đôi mắt đó, hình như nó có một cái gì đó làm cho chị khiếp sợ, thuần phục. Thế nhưng sau cơn giận, bao giờ anh ôm chị rồi xin lỗi chị trước. Còn bây giờ cũng đôi mắt đó sao nó có vẻ lung linh dịu hiền, có một thần lực sâu kín, một cái nhìn vị tha. Còn chị, chỉ biết bo bo sống cho mình, hẹp hòi, ích kỷ. Luôn luôn nghĩ tới lợi ích, chà đạp lên tất cả, bất chấp dư luận. Chị đã ruồng bỏ  chồng con, xem như họ không có mặt trên cuộc đời nầy. Chị quên họ để dễ bề tái lập một cuộc sống mới cho đở hổ thẹn với lương tâm. Mà làm gì có lương tâm khi con người không còn tình thương yêu đồng loại, đừng nói gì đến tình máu mủ ruột thịt. Anh đang ngồi bên kia đối diện. Cái áo thun cũ mèm, chiếc quần tây mốc thếch, đôi dép Nhật mòn lẳng. Vẫn đôi lông mày rậm rạp, mái tóc muối tiêu bềnh bồng một chút phong trần, vẫn hồn nhiên tươi cười, thanh thản. Một tấm lòng rộng lượng. Trông anh sao oai vệ, lớn lao quá. Còn chị, trong bộ áo quần đắt tiền, sang trọng. Khuôn mặt hồng hào trắng trẻo. Sao chị vẫn cảm thấy mình thấp hèn và u tối quá.
 “Anh thù ghét em, khinh bỉ em, phỉ nhổ em… anh làm đi, hãy làm đi để em được thấy mình bị trừng phạt, bị nguyền rủa. Em không mong anh và con tha thứ, mọi thứ nầy em không xứng đáng nhận lãnh. Về đây, em chỉ mong thấy được anh và con, rồi em có chết cũng thỏa lòng”.
 
 “Tại sao em phải đày ải mình như vậy để làm gì? Được em còn nhớ tình xưa đến thăm cha con anh, đó là diễm phúc lắm rồi. Chúng ta không còn nợ gì với nhau, hãy để mọi chuyện yên nghỉ. Nếu em còn ở đây thỉnh thoảng đến thăm anh, còn vào Sài Gòn thì đến thăm Hậu, nếu em có thì giờ. Cuộc sống của cha con anh như một cổ máy vận hành đều đặng, mười mấy năm không ngơi nghỉ. Em về, tự nhiên anh cảm thấy có một chút giao động, cuộc sống như chựng lại. Hy vọng mọi chuyện sẽ trở lại như cũ”.
 “Có phải chăng đó là lời cảnh cáo? Đừng làm phiền anh phải không?”
Anh nhìn đi chỗ khác:
 “Em nghĩ sao cũng được, bây giờ không phải lúc tranh cãi những chuyện vu vơ. Anh không nói như vậy. Nhưng nếu em nghĩ như vậy thì cũng chẳng sao. Từ lâu anh sống trong cô đơn quen rồi, em về khuấy động lòng anh không ít. Dù có dửng dưng thì cũng bị một cái ”sốc”. Anh thấy tủi thân. Hay là em đừng tới nữa, để anh yên vị với cách sống xưa nay của mình”.
 
Chị bật khóc nức nở, anh đã thẳng thừng đuổi chị nhưng chị cảm thấy như vừa lòng. Bây giờ chị mới nhận được một chút hất hủi, ít ra nó phải mang một cái gì đó thể hiện sự trừng phạt. Mười lăm năm, anh đã đắng cay trong cực khổ, chờ vợ thương tình gửi cho một ít tiền nuôi con, vợ lờ đi. Anh bữa đói bữa no, hy sinh cho con. Những nhọc nhằn trong thời kỳ khó khăn đó, anh không quên được. Bây giờ đời sống đã tạm ổn dù vẫn nghèo khó, vẫn chật vật, nhưng không ở trong tình trạng bức bách như hồi trước. Anh tự cảm thấy bằng lòng với mình. Mỗi tháng gửi cho con một ít tiền ăn học, dặn dò con cố gắng dè xẻn trong số tiền ít ỏi đó. Tội nghiệp con bé, biết cha khổ cực nên không dám tiêu một đồng bạc nào phung phí. Con bé nói với cha nhiều lần là nó phải học. Chỉ có học sau nầy mới giúp được cha thoát khỏi cái cảnh nghèo khó. Con bé khôn lanh từ nhỏ, đã lăn lóc với cha trong mưu sinh, trưởng thành trong chật vật, nên hiểu cái giá trị đồng tiền tạo ra từ mồ hôi, từ khổ nhọc. Chính vì vậy nên anh cũng yên lòng khi phải xa con.
 
Sau khi những xúc động, những ngỡ ngàng gặp lại nhau trôi qua. Bây giờ anh nhìn chị một cách kỹ càng, để xem một con người hiền hậu, thương yêu chồng con của thủa nào, sau một thời gian ngắn đến Mỹ, đã chối bỏ quá vãng của mình một cách dễ dàng, ruồng bỏ chồng con. Anh lắc đầu, không thể hiểu nỗi lòng dạ con người, khéo léo che đậy bên trong một sự phản phúc thối tha. Cái nhận xét của anh có trung thực không? Có cay nghiệt không? Hay anh là một nạn nhân của hoàn cảnh nên phán xét sự việc nghiệt ngã như vậy. Anh đã cố quên đi những uất hận, những khổ đau của một con người sống cô thế nghèo hèn, bằng lòng với những gì mình tạo ra được, cuốn mình trong cô đơn. Từ lâu đã quen sống trong một môi trường chật vật, không còn tha thiết đến chuyện lập lại gia đình. Anh ngán ngẩm với lòng người. Khi mới học tập trở về, nghe tin vợ đến Mỹ, anh mừng lắm. Như vậy đời sống của cha con anh có một tia hy vọng, sẽ được vợ trợ cấp, rồi một ngày nào đó sẽ được vợ bảo lãnh. Thế nhưng năm nầy qua năm khác, trông ngóng dài cổ vợ vẫn biệt vô âm tín. Cha con anh sống trong khổ cực, trong thiếu thốn phải cắn răng chịu đựng. Tất cả các ước mong trong anh đều tan biến, không còn một tia hy vọng nào. Cũng may, giữa lúc khó khăn như vậy thì một người bạn được gia đình bảo lãnh đi Mỹ, bán lại tiệm phở bình dân nầy bằng cách trả góp. Một cái phao vớt anh ra khỏi sự ngụp lặn trong bon chen, dù nó không đắt khách lắm nhưng sau khi trang trải mọi thứ, cha con anh cũng có một cuộc sống tạm ổn.
 
Anh nói với chị:
 “Con Hậu giống em như tạc, nhưng nó không hiền hậu khéo léo bằng em. Nó sống với cha từ nhỏ nên tính tình của nó cứng rắn, dứt khoát”.
Không hiền hậu khéo léo bằng em, sao anh không nói nó không điêu ngoa, không lừa lọc như em. Để em dễ dàng nhận thấy mình còn được một diễm phúc, là con em ít ra nó khác xa mẹ nó về tính nết, về xử sự, về nhân tính…Anh đã ném cho em một cục đường, mà khi nuốt vào mắc ngang cổ họng. Cái đau của sự ngọt ngào nầy như một chất cường toan thiêu đốt em. Sao anh vẫn còn đối xử với em nhẹ nhàng để làm gì? Khi mà em muốn mọi người phải hành hạ em, phải chửi rủa em. Mười lăm năm nay em chưa thấy mặt con, nhưng em biết nó là một đứa bé ngoan, một mình đi xa trọ học, quyết tâm thay đổi cuộc sống khá hơn sau nầy, để giúp cha thong thả trong tuổi già sức yếu. Nội cái suy nghĩ đã đượm cả một nhân sinh quan đạo đức đó thôi, đủ biết nó sống hết mình với thân thuộc. Hậu là con em, nhưng bỏ xa một khoảng cách dài trong quan niệm sống của em. Nó rộng rãi với người thân bao nhiêu thì em nhỏ nhen ích kỷ bấy nhiêu. Quả thật em không còn xứng đáng một người mẹ, nhưng cũng may cho em, an ủi được em là con em đang là một thiên thần, trong lúc em đã là một quỷ sứ.
 
 “Em à, anh phải đi chợ chiều nay, rồi về nhà nấu, để ngày mai dậy sớm bán hàng. Bây giờ đã trễ quá rôi, sợ người ta không chờ mình được”.
 “Anh có thể đóng cửa vài hôm được không? Em năn nỉ anh, cho em xin một cơ hội được gần anh với con vài ngày. Rồi sau đó em sẽ ra đi không còn làm phiền lòng anh nữa”.
 
“Anh nghĩ, chúng ta đã trao đổi với nhau đủ rồi, cái gì cần thì đã nói. Không cần phải kéo dài ra thêm để làm gì. Chân đã bước qua khỏi lằn ranh, không rút lại được. Tiếc nuối làm gì thì cũng vậy thôi”.
Chị gục xuống bàn khóc. Cũng tiếng khóc nầy, cũng con người nầy mà ngày xưa khi giận dỗi chị vào buồng lên gường nằm khóc, dù có tức giận cách mấy nghe chị khóc anh không làm sao chịu được, nó rưng rức, nghẹn ngào đã làm cho anh xốn xang. Bao giờ anh cũng thua cuộc trước. Lấy khăn lau nước mắt, dỗ dành chị. Còn bây giờ, cũng tiếng khóc đó nhưng sao anh cảm thấy xa lạ. Nó không đánh động được lòng anh. Sao vậy? Mười bảy năm từ khi anh vào trại cải tạo, anh không còn được nghe chị khóc. Bao nhiêu năm xa nhau đã làm cho con người anh chai lì, không còn biết rung động, ngược lại anh thù ghét tất cả. Cũng may anh còn đứa con gái là chiếc phao cuối cùng anh vịn vào đó để sống. Những năm đầu, anh oán hận chị nhưng dần dần về sau nguôi ngoai, mang làm gì cái đó trong người cho thêm nặng nề. Tự nhiên cuộc sống được bảo hòa, anh cố quên đi tất cả để sống thoải mái an lạc.
 “Thôi được, anh treo bảng đóng cửa vài ngày vì bận việc gia đình, để khách khỏi phải đợi”.
Anh vẫn chìu chị, anh cứng rắn lắm kia mà, sao lạ vậy? Anh cũng không biết tại sao mình lại mềm lòng như thế. Chỉ vài ngày rồi chị ra đi, anh không nở khi chị trở qua bên kia mà còn mang trong lòng u uất, dù điều nầy xứng đáng với hình phạt bỏ bê chồng con của chị. Thôi, mọi chuyện đâu vào đấy. Gây thêm làm gì những rắc rối cho người khác. Anh phân vân có nên gọi Hậu về thăm mẹ, hay để mẹ vào Sài Gòn rồi đến thăm con. Hậu là đứa con gái cứng đầu, thù ghét dai dẳng chắc gì nó tiếp mẹ, mặc dù nó cần có mẹ. Anh đề nghị với chị nên đánh điện tín gọi Hậu về, dù gì có anh bên cạnh nó cũng không dám đay nghiến mẹ hay lở lời với mẹ. Anh về nhà tắm rửa thay đồ rồi lấy chiếc xe honda cà tàng của mình chở chị ra bưu điện. Chiếc xe nầy thuộc loại cũ mèm, khi qua tay anh nó chưa có hân hạnh chở người, mỗi ngày anh dùng nó chở thịt, bánh phở, rau v.v.. mọi thứ cho tiệm phở của anh. Đây là lần đầu tiên chở người. Sau khi suy nghĩ, anh đánh điện tín cho Hậu với nội dung: “Hậu, Ba đau nặng. Mua vé máy bay về gấp”.
Sau hơn mười bảy năm, bây giờ chị mới ngồi phía sau xe anh chở. Chị cảm thấy thật hạnh phúc, tay chị ôm ngang lưng anh, đầu tựa vào vai, chị được ngửi lại mùi da thịt quen thuộc của những ngày êm ả thủa nào. Chị cảm thấy thương quá, thân hình anh ốm o, vóc dáng như nhỏ lại. Ước gì hai tay chị được ôm siết anh thật chặt như ngày xưa, cái mơ ước thật nhỏ bé, thật đơn giản, đang ở trong vòng tay chị. Thế nhưng nó quá xa vời, chị không đủ can đảm tiến tới thêm, hình như nó đang có một lực cản mà chị không tiến tới được, vừa xấu hổ vừa quý trọng đang âm ĩ trong người chị.
 “Em có cần đi đâu nữa không?”
 “Anh chở em đi vòng thành phố một chút được không? Em muốn nhìn thấy lại thành phố”.
Anh không thấy gì ở chị một sự thay đổi, vẫn nhỏ nhẹ như ngày nào, vẫn còn thùy mị mà sao trong lòng chị thay đổi nhiều như vậy. Anh không muốn hỏi về gia đình của chị ở Mỹ, vì anh sợ đụng tới một sự thật phủ phàng. Thôi hỏi để làm gì, khi mà mọi thứ đều nằm ngoài tay với, biết để rồi ấm ức chứ ích gì. Anh đưa chị đi những nơi mà ngày xưa vợ chồng hay lui tới, khung cảnh tuy có đổi khác, nhưng trong lòng của hai người vẫn còn đọng những dấu ấn. Chị xin anh cho chị về nhà ở vài ngày được không, để chờ con Hậu về rồi tính sau. Anh phân vân, lại làm khó cho anh nữa rồi. Cũng may căn nhà anh mới xây lại năm vừa qua, tuy không tiện nghi nhưng cũng có nơi để chị nghỉ. Ghé qua khách sạn để chị lấy đồ đạc. Anh ngạc nhiên, đi bao lâu mà mang đồ nhiều quá vậy, bốn cái va-li và một cái xách tay, phải nhờ khách sạn gọi taxi chở đồ.
Khi xe về tới đầu hẻm, cả xóm chạy ra nhìn chị. Chị cảm thấy thẹn thùng, cúi đầu đi nhanh vào nhà. Chị còn nghe tiếng trằm trồ: “Bà đẹp quá, giống con Hậu như đúc”. Hàng xóm phụ anh mang va-li vào nhà, không quên chúc mừng anh đoàn tụ. Anh nghe như có cái gì mỉa mai, thấm đau. Có ai biết được nội tình của anh bây giờ. Vợ sờ sờ ở đó mà không phải của mình. Xa nhau lâu ngày khi gặp lại mà trong lòng vẫn bình lặng. 
 “Tối rồi, em muốn ăn gì anh chở đi”.
 “Em ăn chay, mười lăm năm nay”.
Anh nghe như có cái gì đó chói tai. Ăn chay mười lăm năm nay để rồi bỏ bê chồng con như vậy sao? Con người nầy càng gần càng thấy khó hiểu. Những người có tâm nguyện ăn chay thì phải hướng về những điều lương thiện. Việc của chị đối xử với cha con anh mười lăm năm nay không có chút lương thiện tí nào. Anh không thể nào hiểu nổi lòng dạ đàn bà.
 
Hai ngày sau, Hậu về tới nhà. Bước vào cửa, Hậu nhìn thấy chị, kinh ngạc và biết ngay người đó là mẹ mình. Hậu quay mặt vào vách khóc nức nở, tiếng khóc mang nhiều suy nghĩ lẫn lộn: trách móc, thù ghét, mừng tủi v.v.. chị lại gần ôm con. Mười lăm năm bao giờ chị cũng nghĩ tới con, chính vì nó mà chị giữ lại mạng sống nầy. Ai hiểu được cái đau khổ tột cùng của chị. Nước mắt chị rơi trên vai con.
Hậu nói trong nước mắt:
 “Từ lâu con cứ nghĩ mẹ đã chết”.
 “Vâng, chính mẹ cũng nghĩ rằng mẹ đã chết. Hãy tha thứ cho mẹ”.
Khi ra đi, con mắt của con cứ đau đáu trông chờ chị. Mỗi ngày qua đi là mỗi ngày chị cầu nguyện cho chồng con chóng quên chị, xem như chị đã bỏ thây trên biển đông. Chị không liên lạc để cho chồng con nghĩ rằng chị đã chết. Nhưng mỗi lần toan tính quyên sinh là mỗi lần chị thấy đôi mắt của đứa con hốt hoảng nhìn chị, nên chị phải dừng lại ý định nầy. Thế mà chị không đủ can đảm bắt liên lạc với chồng con. Chị sợ rằng sẽ gây cho họ một sự đau khổ, một nhát chém trên lưng mà không bao giờ lành được. Mười lăm năm, chị không thể chờ thêm được nữa. Phải trông thấy được mặt con, mặt chồng rồi qua lại Mỹ quyết định mọi chuyện”.
Chị ôm vai Hậu lay nhẹ:
 “Hậu à, cho mẹ xin lỗi. Về đây mẹ mới biết được một điều là ba và con hận mẹ, nhưng không xua đuổi mẹ. Rồi đây con sẽ hiểu mẹ hơn. Cho đến bây giờ mẹ vẫn ở vậy, không có gia đình. Làm sao mà tái giá được khi mà lòng mẹ bao giờ cũng nghĩ về ba và con. Nhưng thôi chuyện nầy sẽ nói với con sau”.
Anh giật mình nhìn sửng chị. Hậu nín khóc ngay, quay lui nhìn mẹ. Tất cả chờ đợi.
Chị thong thả nói với con:
 “Mẹ không nói dối con. Mười lăm năm nay mẹ chỉ biết đi làm, về nhà tụng kinh rồi đi ngủ, ngày nào cũng vậy. Chỉ có cuối tuần đi chợ mua thức ăn. Mẹ nghĩ rằng Ba bây giờ đã có vợ khác. Không ngờ mọi chuyện không như vậy. Tội nghiệp, tất cả đều do mẹ”.
 “Thật hả mẹ, con mừng quá”.
Chị ôm con vò đầu:
 “Trong bốn cái va-li mẹ mang về, áo quần của con và Ba. Còn mẹ đồ dùng chỉ trong xách tay. Qua lại Mỹ dần dần mẹ sẽ chuyển tất cả tiền về cho con và Ba tùy nghi. Đó là số tiền dành dụm mười lăm năm của mẹ”.
 
                                                                        ********
    Thay đoạn cuối    
 
Thưa chị Hiền,
 
Chị đã kể cho tôi nghe câu chuyện của đời chị. Chuyện quá sức thương tâm của một người đàn bà bị dày vò bởi những nghịch cảnh trên biển đông, trong lúc vượt biển. Mà sau nầy không dám nhìn lại chồng con. Luôn luôn bị dằn vặt, ám ảnh bởi những hình ảnh dã man của một lũ người mọi rợ, dày xéo trên thân thể của những người đàn bà cô thế, vô tội.  Làm cho nhiều người xem mình như đã chết, không dám nhìn lại những người thân, trong đó có chị. Có một điều, sau mười lăm năm chị mới tỉnh người và có một quyết định sáng suốt trở về gặp lại chồng con.
 
Tôi không đủ chữ nghĩa để mô tả lại cái đau khổ tột cùng của chị, cái chờ đợi mỏi mòn của chồng con chị. Tôi là người ghi nhận vô cùng thiếu sót, mong chị lượng tình tha thứ. Song tôi nghĩ dù sao đi nữa câu chuyện nầy cũng làm cho nhiều người cùng hoàn cảnh thấy được chính mình, cho người khác thông cảm những mảnh đời oan ức của những người đàn bà bị làm nhục, bị dày xéo, đọa đày. Tôi nghĩ, tất cả mọi người nghiêng mình kính phục những người như chị. Đó là vấn nạn khổ đau chung của dân tộc chúng ta, trong một hòan cảnh bi đát của đất nước. Thế giới phải sửng sốt, lương tâm của những con người được đánh động và tình thương đã thắng.
 
Tôi mong rằng chị sẽ được sống thanh thản với chồng con, với cộng đồng loài người và tự hào tình thương đã đùm bọc lấy nhau, san sẻ cho nhau và tương kính nhau để sống.
 
Chúc chị và gia đình thành công trên bước đường còn lại.
 
Dallas, ngày 29 tháng 9 năm 2008.
Phan xuân Sinh
Xem thêm...

Bí Mật Bất Ngờ Chiếc Đồng Hồ Khách Để Quên

 

  Bí Mật Bất Ngờ Chiếc Đồng Hồ Khách Để Quên  

Trong một con phố ở thành phố Hoschton, có một tiệm giặt là "Diana". Bà chủ của tiệm giặt là là bà Henry đã 72 tuổi. Chồng bà, ông Henry mới qua đời chưa được bao lâu, bỏ lại mình bà cô đơn trong căn nhà trống vắng.
Việc kinh doanh đã dừng lại từ lâu song bên ngoài, tấm biển hiệu "Diana" vẫn được treo như trước. Tiệm giặt là nằm ở vị trí trung tâm, rất thuận lợi cho việc làm ăn nhưng bà Henry nhất quyết không bán hay cho thuê lại.
Sau một trận bệnh nặng, biết mình không còn sống được bao lâu nữa nên cuối cùng, bà cũng nhờ công ty đấu giá đăng quảng cáo bán đấu giá ngôi nhà của mình.
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách để quên trong túi, chủ tiệm giặt là kinh ngạc khi mở ra xem và phát hiện 1 loạt bí mật bất ngờ (P1) - Ảnh 1.
 
Chỉ có điều khó hiểu là: Gắn liền với nhà đất để bán đấu giá còn có một chiếc đồng hồ quả quýt rất bình thường, không chỉ vậy, bà cụ ra giá khởi điểm cho chiếc đồng hồ này còn cao hơn nhiều so với giá nhà đất. Trên thông tin quảng cáo còn ghi rõ: Ai biết về lai lịch của chiếc đồng hồ sẽ tặng không nhà đất cho người đó.
Thông tin quảng cáo này quá hấp dẫn nên đã thu hút rất nhiều người muốn tìm kiếm vận may.
Hội trường nơi diễn ra buổi tổng duyệt cho buổi bán đấu giá chật kín người, điện thoại reo không ngớt nhưng không một ai có thể nói đúng lai lịch của chiếc đồng hồ.
 
  Robert bí ẩn  
 
Bà Henry đợi bên cạnh điện thoại, thần sắc đăm chiêu, trầm ngâm. Bà rất mong trước khi mình qua đời có thể hoàn thành được tâm nguyện cuối cùng của mình.
Thì ra, chiếc điện thoại đó có ý nghĩa rất lớn đối với bà.
Hơn 50 năm trước, bà Henry và ông Henry kết hôn không lâu, họ đã dùng tên mình là "Diana" để mở một tiệm giặt là. Công việc kinh doanh diễn ra rất thuận lợi.
Vào một buổi chiều tối, khi bà định đóng cửa tiệm thì một thanh niên bước vào. Vài ngày trước, bà đã chào hỏi người này ngay cửa tiệm. 
 
Hôm đó, người thanh niên ấy đi qua cửa tiệm, nhìn thấy bà, anh ta tỏ ra vô cùng kinh ngạc, dường như có điều gì đó thầm kín. Hôm đó trời có mưa nhỏ, bà Henry đã chủ động mời anh ta vào trong tiệm tránh mưa và mới biết anh ta tên Robert, là một thanh niên thất nghiệp.
 
Nhìn dáng vẻ nghèo khổ của đối phương, trước khi đi, bà Henry đã cho anh ta 10 đồng và còn đưa cho anh ta một chiếc ô.
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách để quên trong túi, chủ tiệm giặt là kinh ngạc khi mở ra xem và phát hiện 1 loạt bí mật bất ngờ (P1) - Ảnh 3.
 
Hôm đó Robert đã đến để trả ô và còn để lại một bộ đồ, nhờ bà Henry giặt và nói 3 ngày sau sẽ đến lấy.
Sau khi Robert đi, theo thói quen thông thường, bà kiểm tra xem khách có vô ý để quên đồ gì trong túi hay không.
 
Đột nhiên, tay bà chạm phải một vật bằng kim loại, lấy ra xem, đó là một chiếc đồng hồ quả quýt. Tiếp tục kiểm tra, bà phát hiện thêm trong túi còn có một bức thư.
Tò mò, bà mở chiếc đồng hồ ra xem và lặng người, kinh ngạc: Trên vỏ ngoài của chiếc đồng hồ có kẹp một tấm ảnh thiếu nữ rất xinh đẹp, cô gái đang cười tươi như hoa ấy chính là bà hồi trẻ.
Bà kêu lên thất thanh: "Smith!" và sau đó, nước mắt cứ thế tuôn trào.
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách để quên trong túi, chủ tiệm giặt là kinh ngạc khi mở ra xem và phát hiện 1 loạt bí mật bất ngờ (P1)
 
  Chiếc đồng hồ bí ẩn  
 
Smith là mối tình đầu của bà Henry. Năm 1950, bà và ông Smith đã đính hôn, chiếc đồng hồ kia chính là vật đính ước giữa hai người.
Không lâu sau đó, chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Smith là một thượng úy của quân đội Hoàng gia Anh nên phải sang Triều Tiên tham chiến.
Mặc dù không ngày nào bà không cầu nguyện cho Smith nhưng thông tin bất hạnh vẫn được chuyển về quê nhà, Smith đã qua đời trên chiến trường.
Dẫu vậy, bà vẫn không tin vào sự thật tàn khốc này, bởi Smith đã hứa với bà nhất định sẽ trở về và cưới bà. Mang theo hy vọng cuối cùng đó, bà đã cố gắng sống và chịu đựng nỗi đau đến năm 1953 khi chiến tranh kết thúc. Thế nhưng trong đoàn lính từ Triều Tiên trở về, bà tìm mỏi mắt cũng không thấy bóng dáng người yêu đâu.
Sau một trận bệnh nặng, bà nghe theo sự sắp xếp của gia đình, vội vã kết hôn với ông Henry và mở tiệm giặt là "Diana".
Bà không thể ngờ rằng, Thượng đế vẫn chiếu cố mình, cho mình nhìn thấy vật đính ước giữa mình và Smith năm đó.
Sau một hồi kinh ngạc, bà bắt đầu đặt câu hỏi: "Vậy Robert là ai? Tại sao anh ta lại có chiếc đồng hồ quả quýt này? 
Anh ta cố tình đưa nó cho mình hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, bức thư kia có liên quan gì đến chiếc đồng hồ hay không? 
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách để quên trong túi, chủ tiệm giặt là kinh ngạc khi mở ra xem và phát hiện 1 loạt bí mật bất ngờ (P1) - Ảnh 5.
 
Bức thư là của một người có tên Weber gửi cho Robert. Trong thư, người này nói anh ta mắc bệnh nặng, cần một khoản tiền để chữa bệnh, mong Robert niệm tình bạn bè mà cho anh ta vay 1000 bảng anh…"
Bà Henry thận trọng cất giữ chiếc đồng hồ, muốn đợi Robert quay lại lấy để hỏi mọi chuyện. Thế nhưng 3 ngày trôi qua, rồi đến 1 tháng trôi qua, Robert "bốc hơi" không để lại dấu vết.
 
  Người đàn ông tên Weber bí ẩn  
 
Nhớ ra người đàn ông tên Weber đang mắc bệnh nặng cầu cứu Robert giúp đỡ, lòng bà Henry bất giác cảm thấy bất an. Robert một đi không trở lại, là người biết chuyện, cảm thấy nếu khoanh tay ngồi nhìn người đàn ông tên Web gặp nạn mà không giúp, bà cảm thấy tội lỗi.
Nghĩ vậy, bà Henry liền gửi 1000 bảng Anh đến địa chỉ ghi trên thư. Đó là toàn bộ tài sản riêng của bà trước khi kết hôn. 
Đồng thời, bà cũng gửi kèm một lá thư, nói rõ mọi chuyện và nhờ Weber nếu thấy Robert, hãy nhắn anh ta đến tiệm giặt là lấy đồ của anh ta về.
Thư gửi đi nhưng chẳng nhận được hồi âm. Song bà Henry không vì thế mà bỏ cuộc. Bà quyết định vượt đường xá xa xôi đi tìm Weber nhưng tìm đến địa chỉ trên thư, bà chỉ nghe được những thông tin khiến mình kinh ngạc.
Người trong thôn nói Weber là một người mồ côi không bà con thân thích. Anh ta rong ruổi kháp nơi không làm ăn gì, chẳng ai biết hành tung của anh ta, thậm chí họ cũng chưa từng nghe nói anh ta mắc bệnh nặng…
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách để quên trong túi, chủ tiệm giặt là kinh ngạc khi mở ra xem và phát hiện 1 loạt bí mật bất ngờ (P1) - Ảnh 7.
 
Một cảm giác tê tái xuất hiện trong lòng bà, thậm chí bà đã nghĩ mình đã rơi vào bẫy lừa đảo của một ai đó. Còn may là chiếc đồng hồ vãn còn nên bà vẫn tìm tấy được một chút hi vọng và nguồn động viên to lớn.
Vài năm trôi qua, người giải mã những thắc mắc trong lòng bà vẫn chưa xuất hiện. Đột nhiên một hôm, bà nhận được một tờ hóa đơn chuyển tiền, số tiền trên hóa đơn là 2000 bảng.
Cũng kể từ đó, mỗi năm bà nhận được một khoản tiền tương tự vào những khoảng thời gian không cố định. Người gửi và địa chỉ liên tục thay đổi khiến bà không thể tìm ra.
Khoản tiền này trở thành tâm bệnh lớn nhất của bà Henry, bà không biết nên xử lý thế nào, đành phải cố duy trì tiệm giặt là với hy vọng một ngày nào đó, người có tên Robert kia từ trên trời rơi xuống, giải mã tất cả những điều còn chưa được làm sáng tỏ.
 
Cứ như thế, vài chục năm qua đi, xem ra sức khỏe của bản thân ngày một đi xuống, cuối cùng, bà quyết định thông qua cách bán đấu giá đặc biệt này để "người giấu mặt" xuất hiện, để tài sản của bà và chiếc đồng hồ có chỗ để gửi gắm.
Khi hoạt động tổng duyệt cho buổi triển lãm chuẩn bị kết thúc, bất ngờ có một người đàn ông lớn tuổi xuất hiện. Ông ta nhìn kỹ chiếc đồng hồ, nước mắt chảy thành dòng, sống chết đòi gặp bằng được người ủy thác bán chiếc đồng hồ này, đồng thời nói rằng chiếc đồng hồ là của ông ta.
Bà Henry vội vã nhờ người mời người đàn ông lớn tuổi kia đến. Nhìn thấy bà Henry, người đàn ông buột miệng nói: "Diana? Bà có đúng là Diana trong bức ảnh kẹp trong chiếc đồng hồ?"
Bà Henry lặng người. "Diana" – cái tên này bao nhiêu năm qua không có ai biết đến, hai người đặt câu hỏi cho nhau cùng lúc: "Sao ông biết tên tôi?"; "Sao bà lại có được chiếc đồng hồ này?
 
Người đàn ông lớn tuổi nghẹn ngào giới thiệu mình là Brian, để tìm chiếc đồng hồ này, ông đã dành một nửa thời gian nửa cuộc đời cùng với tài sản tích cóp được, chạy đôn chạy đáo khắp các hãng đấu giá và nhà sưu tập, thật không ngờ chiếc đồng hồ mà ông nhọc công tìm kiếm bao lâu nay đã sớm trở về với chủ của nó.
Người đàn ông lớn tuổi khi đã bình tĩnh trở lại mới chầm chậm kể lại: "Năm đó, tôi với vai trò là "quân liên hợp quốc" đến chiến trường Triều Tiên. Trong một chiến dịch, tôi trở thành tù binh.
Trong trại tù binh, tôi gặp Smith khi đó đang bị trọng thương và viêm phổi. 
Smith biết mình không còn sống được lâu nên đã đưa chiếc đồng hồ lại cho tôi, nhờ tôi sau khi về nước thì đưa cho cô gái có tên Diana và gửi lời xin lỗi của anh ấy đến cô ấy vì đã không thể cùng người mình yêu sống đến hết đời."
Nghe đến đây, bà Henry khóc không thành tiếng. Bao nhiêu năm qua, cuối cùng bà cũng đã biết được thông tin xác thực về Smith. Bà lau nước mắt và hỏi tiếp: "Về sau thì sao?"
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách hàng để quên trong túi áo, cuộc sống của chủ tiệm giặt là thay đổi theo cách không ngờ (P2) - Ảnh 2.
 
"Về sau, có một tối, hai chiến sĩ quân y đến và khiêng Smith đi, nói là phải điều trị cách ly. Smith rưng rưng nước mắt vẫy tay cáo biệt và không ngừng nhắc tôi nhất định phải đưa món đồ anh ấy gửi cho Diana. 
Từ đó về sau, tôi không gặp lại Smith. Sau khi về nước, tôi mang chiếc đồng hồ đi tìm Diana nhưng thật không ngờ, trên tàu hỏa, tôi đã bị kẻ cắp ăn trộm mất."
Khi đó tôi đã vô cùng rối bời, đó có thể là một sự ủy thác nặng nề của người quá cố! Tôi bắt đầu tìm kiếm chiếc đồng hồ đó trong suốt mấy chục năm qua. 
Trong những năm quá, chiếc đồng hộ cũng đã trở thành nút thắt không thể tháo gỡ trong lòng tôi. Cho đến hôm nay, khi nhìn thấy nó và gặp được bà, tôi mới thấy nhẹ nhõm trong lòng."
Bà Henry bất giác nhớ ra khoản tiền bà nhận được hàng năm, vội hỏi: "Vậy số tiền là do ông gửi đến đúng không?"
"Tiền?" Brian lắc đầu: "Những năm qua, để có thể đi khắp nơi tìm kiếm chiếc đồng hồ nên tôi hầu như không có tiền tích lũy. Tôi vẫn muốn hỏi bà, làm sao bà có được chiếc đồng hồ này?"
 
  Robert và Weber  
 
Đúng lúc bà Henry muốn nói cho Brian chuyện ly kỳ liên quan đến chiếc đồng hồ thì điện thoại đỏ chuông. 
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách hàng để quên trong túi áo, cuộc sống của chủ tiệm giặt là thay đổi theo cách không ngờ (P2) - Ảnh 4.
 
Trong điện thoại là giọng một thanh niên, người đó nói: "Có một người tên là Robert, chắc chắn bà còn nhớ chứ ạ?"
Nghe đến cái tên Robert, bà Henry căng thẳng đến mức tim muốn nhảy ra ngoài, vội vã nói: "Tôi nhớ, tất nhiên tôi nhớ! Ông ta vẫn còn sống chứ?"
Người kia trả lời: "Ông ấy là bố cháu, đã qua đời rồi. Trước khi chết, ông dặn cháu nhất định phải báo đáp bà, nói là bà đã cứu ông ấy."
"Chắc cậu nhầm rồi, tôi cứu bố cậu ư? Tôi không làm chuyện này!" Cảm giác khó hiểu biểu lộ ra ngoài khuôn mặt bà Henry.
"Không nhầm đâu ạ, chính là bà đã cứu bố cháu. Thực ra hồi còn trẻ bố cháu tên là Weber, làm nhiều việc xấu. 
Ông ấy nói với cháu là có một hôm, gặp được bà ở bên ngoài tiệm giặt là, ông ấy đã giật mình vì bà và người con gái trong bức ảnh kẹp trong chiếc đồng hồ quả quýt giống hệt nhau. Chiếc đồng hồ đó là bố cháu ăn trộm và chuẩn bị mang đi bán.
 
Hôm trời mưa đó, bà mời bố cháu vào tiệm tránh mưa, còn cho 10 dồng và tặng thêm một cái ô. Bố cháu nói, đó là lần đầu tiên ông cảm nhận được sự tôn trọng và ấm áp, nên quyết định tặng chiếc đòng hồ cho bà. 
Nhưng khi đó vì quá nghèo đói nên ông đã cố tình nhét một bức ‘thư cầu cứu’ trong túi quần cùng với chiếc đồng hồ, không ngờ bà thực sự tốt bụng, đã chuyển cho người có tên Weber kia 1000 bảng Anh.
Bố cháu nhận được tiền thì vô cùng cảm động, ông thề là sẽ làm lại cuộc đời. Kể từ đó, bố cháu đổi hẳn tên thành Robert, không dùng tên cũ nữa. Đợi cháu tích cóp được 2000 bảng, cháu sẽ gửi cho bà. 
Bố cháu ra đi quá đột ngột, khi đó cháu đã thề sau này có một ngày phát đạt, nhất định sẽ đến gặp và thay bố cháu xin lỗi bà. 
Hôm nay, đọc báo thấy thông tin quảng cáo, cháu biết người bà đang tìm nhất định là bố cháu. Qua đây, cháu xin bà hãy chấp nhận lời xin lỗi của cháu và cảm ơn bà một lần nữa đã giúp đỡ bố cháu."
 
  Khoản tiền bí ẩn  
 
Nghe đến đây, bà Henry như có cảm giác giải tỏa được gánh nặng trong lòng. Bao nhiêu điều chất chứa, đèn nặng trong lòng bà mấy chục năm qua cuối cùng cũng có đáp án. 
Chỉ có điều bà không ngờ được rằng, một hành động lương thiện nhỏ bé của mình lại có thể thay đổi được cuộc đời của một con người, có thể khiến anh ta dùng cả đời để báo đáp, cảm ơn.
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách hàng để quên trong túi áo, cuộc sống của chủ tiệm giặt là thay đổi theo cách không ngờ (P2) - Ảnh 6.
 
Bà Henry vội vã nói với người trong điện thoại: "Tiền bố con cháu gửi cho tôi, tôi chưa động đến một đồng, có hơn 100.000 bảng anh, dù thế nào cũng mời cháu đến chỗ ta một chuyến."
Bên kia điện thoại vọng lại câu trả lời đầy kinh ngạc: "Bà ơi, không thể nào, mặc dù chúng cháu luôn muốn tích cóp 2000 bảng anh cho bà nhưng vì cuộc sống khó khăn quá, chúng cháu không có nhiều tiền đến vậy chứ chưa nói đến việc gửi cho bà, chắc bà nhầm rồi ạ."
Nói xong, người thanh niên gác máy.
 
Dù vậy, bà Henry vẫn vui, chỉ cần có số điện thoại, bà không lo không tìm ra địa chỉ của người đó.
Ngày hôm sau, buổi bán đấu giá diễn ra đúng kế hoạch. Sảnh lớn chật kín người, mọi người đều muốn biết kết quả của buổi bán đấu giá cũng như bí mật của chiếc đồng hồ.
Khi người bán đấu giá đang kể lại lai lịch của chiếc đồng hồ, những tràng pháo tay trong hội trường vang lên giòn giã, ai nấy đều cảm động.
Và đúng lúc người bán đấu giá tuyên bố bất động sản của bà Henry, như lời hứa ban đầu, sẽ được trao tặng cho ông Brian, một sự việc không ai ngờ đến đã xảy ra.
Hãng đấu giá nhận được điện thoại của tòa án, nói là có một ông cụ gọi điện đến nói rằng, chiếc đồng hồ có tranh chấp về quyền sở hữu, yêu cầu hoãn bán đấu giá. Người bên tòa án còn nói, ông cụ đó đang trên đường đến nơi diễn ra sự kiện.
 
  Ông cụ bí ẩn  
 
Hội trường bỗng chốc trở nên ồn ào, bà Henry và Brian vô cùng kinh ngạc, nhìn nhau thắc mắc: Người đó là ai? Tại sao lại có liên quan đến chiếc đồng hồ này?
Thời gian trôi qua chậm như hàng thế kỷ, rồi cuối cùng người đàn ông lớn tuổi bí hiểm ấy cũng xuất hiện. Ông cụ ngồi trên xe lăn tiến vào hội trường.
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách hàng để quên trong túi áo, cuộc sống của chủ tiệm giặt là thay đổi theo cách không ngờ (P2) - Ảnh 8.
 
Bà Henry kinh ngạc, bà biết, chủ nhân thực sự của chiếc đồng hồ đã đến. Bà kêu lên một tiếng "Smith" rồi ngất đi. Brian vội chạy lại phía người đàn ông ngồi xe lăn: "Trời ơi, Smith, ông vẫn còn sống!"
Người vừa đến đó chính là ông Smith, người đã "chết" hơn 50 năm qua.
Thì ra, trong đêm ở trại tù binh, Smith đã được chuyển đến một bệnh viên dã chiến cách chiến trường rất xa. Bác sĩ trong viện đã phải tiêm cho ông 10 lọ Penicillin mới có thể cứu ông khỏi tay tử thần. Mặc dù giữ được mạng sống nhưng Smith phải cắt bỏ 2 chân.
 
Ý định muốn chết đi đã nhiều lần xuất hiện trong đầu ông nhưng nhờ niềm khát khao mãnh liệt được thấy người mình yêu, ông đã ngoan cường sống tiếp.
Khi về nước, trên danh sách binh lính trở về, ông dùng tên giả, cấp trên của ông cũng đã bố trí riêng một bệnh viện để chữa trị, tránh gặp người quen. Vì biết rằng chỉ khi mình "chết" đi, người yêu mới có được cuộc sống hạnh phúc. Smith không lấy vợ, sống cuộc đời độc thân nhưng không lúc nào không nhớ về Diana. Tất cả những thông tin về bà, ông đều tìm hiểu được. Tiền nhà nước bù đắp cho những tổn thất mà ông phải chịu, ông đều dồn lại và gửi cho Diana.
 
Khi biết ông Henry qua đời, lại thấy quảng cáo bán đấu giá của người yêu cũ, ông cuối cùng đã không thể ngồi yên, vội vã tìm đến.
Dù sao thì cũng đã đến tuổi gần đất xa trời, cho dù gặp được người yêu cũ một lần rồi chết, ông cũng cam tâm.
Bà Henry cảm thấy mình như vừa đang nằm mơ, chỉ có điều giấc mơ ấy quá dài và quá ly kỳ. Vừa tỉnh dậy, người trong mơ đã đổi hình thù dáng vẻ.
Vậy là khoản tiền lớn mà bà nhận được suốt mấy chục năm qua là do người bà yêu thương nhất gửi đến, bà đã cất giữ bao nhiêu năm mà không hề hay biết.
 
Tìm thấy chiếc đồng hồ khách hàng để quên trong túi áo, cuộc sống của chủ tiệm giặt là thay đổi theo cách không ngờ (P2) - Ảnh 10.
 
Nước mắt tuôn rơi vì hạnh phúc, bà Henry quyết định để lại toàn bộ nhà đất cho Brian, không phải ai cũng có thể dành hơn nửa đời người cũng như tài sản tích lũy được để thực hiện cho bằng được một lời hứa.
Bà cũng quyết định gửi một phần tiền cho con của Robert, dù sao thì ông ta cũng đã tặng chiếc đồng hồ lại cho bà và cuối cùng nó đã trở về tay của chủ nhân đích thực.
 
Còn với mình, bà quyết định về sống cạnh ông Smith, sống nốt quãng thời gian còn lại…

– Nguyễn Nhung


 
    Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang    

Ảnh minh họa

db43c148c6ox4y5hrxvc7lqb668gc6ox4y5hrxvc7lqb668gc6ox4y5hrxvc7lqb668g

                               LIFE IS NOT FOREVER,  LOVE IS ...               

Xem thêm...

Tình Chỉ Đẹp

Tình Chỉ Đẹp

Nguyễn Văn Tới


Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018 và giải vinh danh Tác Phẩm 2019  Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển, ơng định cư tại Mỹ từ 1990, hiện làm việc theo một hợp đồng dân sự với quân đội Mỹ, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Đây là bài mới nhất của Ông. 

***                                

Tình chỉ đẹp khi tình dở dang…? | Mùa Gió Heo May

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi đã vẹn câu thề. Nghe câu này, những người lớn tuổi sẽ than: “Biết zồi, khổ lắm, nói mãi!” như câu nói nổi tiếng của nhân vật Cố Hồng trong tác phẩm “Số Đỏ” của nhà văn Vũ Trọng Phụng trong cuối thập niên 30. Riêng tôi, tôi không tin lắm và cho rằng các nhà thơ, nhà văn bày đặt ra để tiểu thuyết hóa câu chuyện của mình hoặc làm câu chuyện thêm lâm ly hấp dẫn, chứ yêu nhau, không lấy nhau được thì làm sao mà đẹp. 

Vài người còn tếu lâm, thêm bớt như “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, lấy nhau về nham nhở lắm em ơi”. Tôi luôn tin rằng yêu nhau, lấy được nhau, về sống với nhau mới là mối tình tuyệt đẹp. Kinh nghiệm bản thân tôi chứ chẳng đâu xa, yêu vài cô mà không lấy được cô nào cả vì hoàn cảnh, làm tôi ấm ức mãi đến bây giờ. Xin cho tôi trút nỗi niềm tâm sự vì chuyện này xảy ra với tôi 2 lần, vào 2 thời điểm khác nhau.

Vâng, thưa bạn, lần đầu khi vợ chồng tôi có dịp về lại Việt Nam ra mắt cha mẹ vợ vào năm 2000. Khi đi thăm một thằng bạn thân cùng lớp, nó cho hay con nhỏ Tr. đang ở Sài Gòn, đã ly dị chồng, đang nuôi 2 con tuổi còn đi học, mày muốn gặp nó không? Một trời ký ức ùa về, kỷ niệm của một thời học trò lãng mạn, hẹn hò, với cô bạn gái xinh đẹp cùng lớp, làm sao quên được. 

tinh chi dep khi con dang do anh 7

Lúc đó là những tháng ngày đầu năm 1975, tôi 17, nàng sắp trăng tròn 16; tôi mới ra khỏi một trường nội trú chương trình Pháp để xin vào học một trường chương trình Việt. Tôi lớ ngớ bước vào lớp 10 trường trung học Minh Đức, Pleiku, khi niên học đã bắt đầu được nửa năm. Vốn là một học sinh nội trú, 5 năm trời học ở Đà Lạt, toàn nam sinh, nên tôi khù khờ và nhát gái. Thày Doanh chỉ tôi ngồi một chỗ trống, ngay đầu bàn, ở giữa lớp, cách 1 lối đi bên kia là nữ sinh. 

Vừa ngồi xuống, tôi nghe vài tiếng cười rúc rích từ bên con gái vọng sang, tôi quay nhanh qua nhìn, bắt gặp đôi mắt tuyệt đẹp và nụ cười hóm hỉnh, má lúm đồng tiền của cô nữ sinh ngồi đầu bàn song song với tôi. Đôi mắt này tôi có gặp ở đâu rồi, cố moi trí óc mà vẫn không nhớ nổi là ai. Tiếng thày giáo vang lên cắt đứt suy nghĩ của tôi, thày nói tiếng Pháp, yêu cầu tôi tự giới thiệu tên tuổi và từ đâu đến. Ông nhấn mạnh: - “En Francais, s’il vous plait” (Xin lỗi, không có App mẫu tự Pháp trong máy tính cho chữ Francais với C cédille, và chữ Plait mà chữ i phải là dấu mũ chứ không phải dấu Chấm). Thì ra tôi vào đúng lớp Pháp Văn cho những học sinh ngôn ngữ 1 là tiếng Pháp. Thời đó đa số học sinh chọn Anh Văn là sinh ngữ 1, vì người Mỹ đã và đang ở Việt Nam rất nhiều.

Như thói quen ở trường cũ, tôi tự giới thiệu tên tuổi bằng tiếng Pháp một cách lưu loát và khá đúng giọng. Cả lớp im phăng phắc, rồi tiếng xì xào bàn tán vang lên khắp nơi. Thày giáo phải lên tiếng xin mọi ngườ im lặng và cũng bằng tiếng Pháp, thày chào mừng, khen tôi nói tiếng Pháp hay và hy vọng tôi sẽ là một học trò giỏi và sẵn lòng giúp đỡ bạn bè trong lớp khi cần thiết. Tôi hoàn toàn không biết rằng học sinh ngoại trú, tuy sinh ngữ 1 là Pháp Văn, nhưng chỉ học với các thày cô người Việt Nam; trong khi ở trường cũ, suốt 5 năm học, tất cả thày cô của tôi đều là người Pháp, và họ chỉ dạy văn hóa Pháp, không có chương trình Việt, nên khả năng Pháp ngữ của tôi vượt trội so với các bạn cùng lớp ở trường này, ngược lại môn văn chương Việt Nam của tôi thì đứng chót lớp.

Khi tan học, ra khỏi lớp, tôi đẩy chiếc Honda 67 ra tới cổng, gặp cô bạn cùng lớp có đôi mắt tuyệt đẹp cũng đang dẫn chiếc xe đạp Mini đi chầm chậm. Cô và tôi cùng nhìn thấy nhau, bối rối, tôi giả vờ quay đi, nhưng không kịp. Cô gọi: “Bộ anh không nhớ em sao? Em là Tr., em anh V. nè”. Thằng V., đứa bạn học thân thiết, trên tôi 1 lớp, cùng học nội trú, sao quên được. Nó tròn trịa như củ khoai, mà sao có đứa em gái xinh quá là xinh. Tôi và Tr. cùng dắt xe đi song song bên nhau trên đường về. Con đường “dinh ông Tướng” là con đường đẹp nhất ở Pleiku, với hàng cây thông hai bên đường rợp bóng mát. Con đường tôi vẫn đi qua hằng ngày, hôm nay sao bỗng nên thơ lạ. Lòng tôi rộn rã một niềm vui, chân bước đi, lòng lâng lâng như muốn nhảy múa cùng những giọt nắng đang reo vui qua kẽ lá. Sao con đường về nhà hôm nay ngắn quá, đã đến ngã ba rẽ về nhà nàng, tôi lưu luyến không muốn chia tay, đứng nhìn nàng vén tà áo dài, duyên dáng ngồi lên yên xe và đạp đi. Tôi vẫn cứ mải mê nhìn theo cho tới khi nàng khuất bóng sau con dốc.

Mãi hạnh phúc nhé người yêu cũ! | Văn Hóa

Từ đó, nàng và tôi, mỗi ngày tan học, cùng nhau sánh bước đi về trên con đường hoa gấm thơ mộng đó. Nàng dắt chiếc Mini, tôi chiếc 67, cả hai đều muốn đi càng chậm càng tốt, chỉ mong đoạn đường cứ dài ra mãi không bao giờ hết. Thỉnh thoảng tôi đánh bạo liếc qua nhìn. Nàng trong tà áo dài trắng tinh khôi nhẹ bay trong gió, đôi môi không thoa son mà luôn đỏ thắm, mái tóc xỏa bờ vai mềm, bước đi ríu rít như chim sáo nhỏ. Tôi thì thầm “Em Pleiku má đỏ môi hồng…”. Nàng cười tươi hỏi anh đang hát bài gì đó. Tôi luống cuống nói một bài anh thích nhất, nhưng không nói Tr. nghe đâu. 

Chúng tôi yêu nhau từ dạo đó dù không một lời tỏ tình, chưa một lần hôn nhau, nhưng cả hai đều ngầm hiểu bằng ánh mắt thương trao, những ngón tay vô tình chạm vào những ngón búp măng của nàng khi trao nhau những bài thơ tình vụng về kẹp trong cuốn truyện trước lúc chia tay. Một lần, đang sóng bước bên nhau trên đường về, chợt nhìn sang, nàng đang tung tăng những bước chân sáo reo vui, hai tà áo dài bay bay trong gió nhẹ ban chiều; một khoảng nhỏ hình tam giác trắng ngần vô tình lộ ra bên hông tà áo dài. Tôi không biết vùng Tam Giác Quỷ, Bermuda Triangle, kinh hoàng và bí ẩn gây chết chóc đến mức nào, nhưng vùng Tam Giác bé bỏng, dễ thương này đã hạ tôi đo ván, làm tôi ngất ngây say đến mấy ngày. Mối tình học trò, mối tình đầu đơn sơ thanh khiết và đầy mộng mơ đó kết thúc khi cộng sản tràn về tới phố núi mù sương, Pleiku yêu dấu của hai đứa tôi. Chúng tôi không kịp chia tay và mất nhau từ dạo đó.

Yêu phải người lạnh lùng như anh... - GUU.vn

Hôm nay biết tin nàng, sau 25 năm không gặp, hỏi sao lòng tôi không hồi hộp; tim tôi đàn lên phiên khúc mùa Xuân của ngày nào mới biết yêu. Trí tưởng tượng phong phú của tôi đã vẽ ra những cảnh đầy kịch tính như trong phim: hai người sẽ ôm chầm lấy nhau, má kề vai, đầu nàng sẽ gục vào ngực tôi, nước mắt tuôn rơi, nghẹn ngào, thổn thức nói không nên lời và còn nhiều, rất nhiều điều nữa mà chúng tôi sẽ phải kể nhau nghe trong những năm tháng dài bặt tin nhau. 

Tôi mượn bộ đồ cũ của thằng bạn để mặc vào cho giống với người Sài Gòn lúc bấy giờ, nó chở tôi ngồi sau lưng chiếc Honda. Tôi dặn đi dặn lại đừng cho nàng biết tôi ở Mỹ về. Chúng tôi vừa bước vào nhà đã nghe tiếng hét chói tai của một người đàn bà đang la mắng con gái bằng những lời đay nghiến, nhiếc móc chua cay, dấm dẳng không ngừng. Người đàn bà, đầu bù tóc rối, miệng ngoác tới mang tai, vẫn chửi bới không ngừng bằng những lời lẽ đay nghiến ấy, thấy chúng tôi bước vô, bà ta vội im bặt, ngạc nhiên hỏi: “Ủa Đông, ông đi đâu vậy?”. Thằng bạn tôi trả lời: “Đi kiếm bà chứ đi đâu. Có biết ai đây hông?”. Nó chỉ tay qua phía tôi. Nàng nhìn tôi vẻ ngơ ngác, nửa như quen, nửa như lạ, đôi môi run run, hơi mấp máy. Tôi nhận ra nàng ngay lập tức, dù thời gian có phũ phàng thay đổi, tôi biết ngay tôi không lầm. 

Tôi nhỏ nhẹ, giọng lạc đi vì xúc động: “Anh là T. đây, Tr. không nhớ sao?”. Nàng lặng đi một hồi, cặp mắt hơi đỏ, thoáng một làn hơi sương. Đứa con gái đang bị mắng, nhìn chúng tôi thật nhanh với cặp mắt biết ơn, vội vàng biến vào nhà sau. Nàng cố làm ra vẻ thản nhiên mời chúng tôi ngồi chơi uống nước như không có gì xảy ra. Sau vài lời hỏi thăm xã giao, nàng hỏi tôi hiện ở đâu, làm nghề gì. Tôi cũng trả lời chung chung là làm đủ thứ nghề miễn sống được là làm. Tới lúc này nàng vẫn không hề biết tôi từ Mỹ về, nhưng thắc mắc sao nước da tôi trắng trẻo vậy. Tôi nói vẫn sống ở Đà Lạt lâu nay, nên da không bị ăn nắng. 

Nói chuyện một hồi lâu, nàng nhận ra ngay có cái gì đó không bình thường nơi tôi vì cách xài chữ và lối nói chuyện không giống với người trong nước. Thằng bạn tôi, nãy giờ cố nín cười, chịu không nổi, phun luôn một tràng rằng tôi ở Mỹ mới về. Nàng mở to mắt nhìn tôi thật kỹ, săm soi từ đầu đến chân coi có phải tôi thật là Việt kiều không. 

Trước khi từ giã ra về, nàng cầm tay tôi kéo ra một nơi khuất để không ai thấy; trống ngực tôi đập liên hồi như ngày mới yêu nhau. Tôi tưởng tượng ra một nụ hôn đầy nước mắt hay ít ra cũng một cái ôm ghì nồng ấm cho bõ bao năm trời xa cách, nàng hạ giọng thật nhỏ, hỏi: “Anh cho em mượn ít tiền làm vốn được không? Cỡ …. ngàn thôi”. Nghe xong, tôi tá hỏa tam tinh, tưởng như sét đánh ngang tai. Tôi lúng túng: “Để anh bàn với bà xã coi có được không, rồi cho Tr. biết nhé”. Trán nàng cau lại vẻ bực bội: “Có nhiêu đó mà phải xin phép vợ sao?”. 

Tôi thầm kêu trời. Tất cả trong tôi chợt vỡ tan. Sao em lại nỡ nhẫn tâm làm sụp đổ trong tôi hình bóng một cô nữ sinh ngây thơ, duyên dáng, yêu kiều, má lúm đồng tiền, nụ cười e ấp trong tà áo trắng tinh khôi, một hình tượng tôi hằng tôn thờ, luôn ấp ủ, mang theo trong tim từ khi lìa xa mái trường.  

Cứ để thời gian chữa lành mọi thứ.... - GUU.vn

Tôi hụt hẫng, bước vội ra cổng nhưng vẫn hứa sẽ gọi phone lại cho nàng biết sau. Thằng bạn hỏi: “Mượn tiền phải không?”. “Sao mày biết?”. “Nó đã từng hỏi mượn tiền tao và nhiều người rồi, tới giờ chưa trả”. Như bạn biết, vợ chồng người Việt mình bên Mỹ thường có cùng một chương mục ngân hàng, ai xài hoặc viết ngân phiếu chi trả một việc gì, người kia đều biết. Tôi có gan trời cũng không dám ký cho cô bạn gái “ngày xửa ngày xưa” một cái ngân phiếu với số tiền lớn như vậy mà không cho vợ tôi biết. Lòng đau đớn, cảm giác như vừa mất đi một cái gì yêu quý trên đời, tôi nhủ lòng chắc phải “hẹn em kiếp sau, ta nhìn thấy nhau”. Tuy nhiên, tôi vẫn nhờ thằng bạn đem tới cho nàng một món quà của người phương xa, như một kỷ niệm cuối cùng của mối tình đầu thơ mộng ấy. 

                                                                                 *

Mới đây, tháng 10 năm ngoái, năm 2019, vợ chồng tôi qua Úc du lịch. Trước chuyến đi, tôi lục giấy tờ cũ để kiếm địa chỉ cô bạn gái ngày xưa khi còn ở trại tỵ nạn Philippines, hiện cô đang sống ở Úc. Đây là địa chỉ cô ấy cho tôi trước ngày tôi đi định cư ở Mỹ trong khi cô phải ở lại để chờ đoàn tụ với gia đình đang dịnh cư ở Úc. Cô đến trại sau ngày đóng cửa nên phải qua thanh lọc. Cha mẹ cô kiếm một chàng Việt kiều quốc tịch Úc, bay qua Philippines làm diện hôn nhân để cô không phải bị cưỡng ép về lại Việt Nam. 

Tôi chụp hình cái địa chỉ và lưu lại trong phone. Tôi chỉ đem theo hờ, nghĩ rằng sau 30 năm, chắc gì cô ấy còn ở chỗ cũ. Tôi run run nói cho vợ tôi hay về việc này, nếu còn thì kiếm đến thăm, coi như bạn cũ, tha hương ngộ cố … nhân, còn không gặp thì cũng chẳng sao. Vợ tôi nguýt một cái rõ dài.

Hầu hết người Việt Nam đi theo diện Ô-Đi-Ghe như tôi, ai cũng có những kỷ niệm vui buồn ở trại tỵ nạn. Người lớn tuổi thì lo cơm áo, việc định cư cho gia đình, học thêm được chữ nào hay chữ đó; người trẻ như tôi, ngoài công việc thiện nguyện ở trường École-Sans-Frontières, thì chỉ lo học thêm Anh ngữ, đi uống cà phê, nghe nhạc, hay ra khỏi trại đến những bãi biển, hang động tuyệt đẹp trên xứ ngàn đảo này. 

Cô đi vượt biên cùng đứa em gái. Tôi đi một mình. Vợ con chưa có, mèo chó cũng không, độc thân vui tính. Chúng tôi gặp nhau trong một tối coi phim ở trại. Cô đi chung với mấy cô em gái khác ở chung nhà, tôi ngồi một mình với ly cà phê, điếu thuốc cháy đỏ trên tay. Chúng tôi chợt nhận ra nhau là hàng xóm, “nhà nàng ở sát một bên, cách nhau một cái phông tên đầy người”. Nhà chúng tôi ở gần nhau thật, chỉ cần bước qua chỗ hứng nước mấy bước chân mà lúc nào cũng đầy người đi hứng nước về xài. 

Mấy cô nho nhỏ nhận ra tôi là thiện nguyện viên dạy tiếng Phú Lãng Sa cho những người sắp đi định cư ở Pháp. Mấy cô cứ gọi tôi bằng thày, nghe ngượng đến chín cả người. Thành thực mà nói, cỡ như tôi, ở Việt Nam, trường nào dám mướn làm thày. Học chưa xong lớp 10 chương trình Việt, cộng sản chiếm miền Nam, tôi bị đẩy lên non xuống biển, làm nghề “nhất phá sơn lâm, nhì đâm Hà Bá” đến nỗi sốt rét rừng gần chết. Vượt biển qua đến Phi, dọc đường bị sóng nhồi, bao nhiêu chữ nghĩa rơi rụng xuống biển hết trơn. Còn sót vài chữ, ở không buồn, nên khi được mời dạy kèm đồng bào, có thêm tí tiền tiêu vặt, lại được gọi là thày, hỏi sao không mắc cỡ.

Từ đó, những thắng cảnh, những bãi biển hoang sơ ít người đến trên đảo Palawan, không nơi nào không có dấu chân chúng tôi: Underground River, bây giờ là một thắng cảnh nổi tiếng, một tourist hot-spot của đảo Palawan. Paradise Beach Resort với những hàng dừa nghiêng mình soi bóng trong làn nước trong xanh nhìn thấy đáy, với những căn chòi (cottage) nhỏ lợp tranh, vách phên tre nằm ẩn mình dưới bóng mát rừng dừa. 

Có những mối tình chỉ đẹp khi còn dang dở... - GUU.vn

Ngày ấy, hai chỗ này chưa được phát triển thành khu du lịch, chúng tôi là một trong những người khách đầu tiên đặt chân đến chỗ nguyên sơ này. Cát mịn, biển xanh, nắng vàng, nước ấm, gió rì rào nhẹ nhàng trên những ngọn cây dương. Người du khách tưởng mình lạc vào chốn hồng hoang, quên đi nỗi buồn của người biệt xứ vừa đánh mất quê hương.

Chúng tôi lênh đênh trên con thuyền nhỏ gọi là catamaran, vượt sóng ra ngoài đảo xa với 1 người dẫn đường. Chiếc thuyền chui vào một hang động tối om. Chúng tôi được trang bị mỗi người 1 cái đèn đeo trên đầu, người hướng dẫn viên khéo léo chèo chống con thuyền lướt đi dưới những hang động ẩm ướt mùi rêu xanh. Cảnh sắc như thực như mơ. Hai chàng Lưu-Nguyễn lạc vào chốn thiên thai ngày xưa, chắc cũng không được chiêm ngưỡng khung cảnh huyền ảo như chúng tôi lúc bấy giờ.

Chuyện tình trại tỵ nạn nào rồi cũng đến lúc phải chia ly. Tôi mang số thẻ tỵ nạn PA, cô ấy số PS nên phải ở lại chờ thanh lọc. Tôi lên trại chuyển tiếp Bataan. Ngày tôi lên đường định cư, cô ấy đi phà biển hết 1 ngày 1 đêm lên đưa tiễn. Chúng tôi chỉ biết nắm tay nhau không muốn rời trong khi nước mắt cô lưng tròng. Tôi biết tôi xa cô ấy vĩnh viễn không biết ngày nào mới có cơ hội gặp nhau. 

Vợ chồng tôi không đi theo “tour”, chỉ đặt khách sạn trước, nên thời khóa biểu uyển chuyển hơn. Ngày cuối cùng ở Sydney, nhận được 1 cú phone số địa phương, tôi xúc động nhận ra giọng nói của người xưa pha đầy nước mắt. Sau 30 năm, giọng nói trong trẻo như pha lê của cô không thay đổi chút nào. Vợ chồng cô sẽ đến khách sạn và đưa chúng tôi đi khám phá thêm thành phố Sydney.

Lần này, đã có kinh nghiệm, tôi không dám tưởng tượng ra những cảnh trùng phùng đầy nước mắt như lần đầu, mà sẳn sàng đối diện với sự thật dù biết có thể sẽ không như ý muốn. Cô ấy bước ra khỏi xe, chồng cô vẫn ngồi sau tay lái mắt đăm đăm quan sát; tôi tiến đến, bà xã tôi ngồi trong lobby khách sạn ngó ra. Chúng tôi giống như hai tay súng miền viễn Tây đang gờm gờm nhìn nhau, chờ người kia chạm vào tay súng là mình sẽ nổ trước liền. Giây phút hồi hộp và quan trọng nhất rồi cũng tới: Như một phản xạ, tôi đưa tay ra, cô ấy đáp lại bằng cách nắm chặt trong một thoáng thật nhanh, mắt cô hơi ướt và thâm quầng, lòng tôi xôn xao chùng xuống. 

Trận đấu súng bằng mắt của 4 người kết thúc nhanh chóng, không như tôi tưởng. Theo đề nghị của cô, anh chồng đưa chúng tôi đến một Casino. Chúng tôi cùng ăn trưa với nhau vui vẻ. Lòng tôi thật bình yên như chưa bao giờ như thế khi thấy cô ấy hạnh phúc. Hai người có một cô con gái duy nhất vừa xong đại học, có nhà cửa, xe cộ, việc làm bình thường như bất cứ một cặp vợ chồng Việt Nam nào sống trên đất Úc.

Họ đưa chúng tôi đi bộ thăm viếng nhiều nơi khu phố trung tâm của Sydney. Tôi tản bộ và nói chuyện với H., chồng cô ấy, trong khi hai bà vợ đi khá xa phía sau, cũng đang nói chuyện sôi nổi, tôi đoán là những câu chuyện muôn đời mà mỗi khi gặp nhau các bà thường hay nói. Đi lanh quanh, rồi cuối cùng vẫn trở lại Casino lần nữa. Tôi nêu thắc mắc với H. nói rằng Casino ở Mỹ nhiều lắm và tôi không có máu bài bạc, vô làm chi. Anh bất ngờ phun ra câu chuyện mà hình như, lúc nãy khi nói chuyện với anh, tôi có cảm giác anh đã cố gắng che dấu một cách vụng về những uất ức ẩn chứa trong lòng bao lâu nay.

Anh bắt đầu bằng câu: “Anh thật may mắn không lấy được bả, chứ nếu lấy thì giờ này anh còn khổ cho đến hết đời…”. Bao nhiêu tâm sự anh tuôn ra như suối, tôi im lặng lắng nghe vẻ thông cảm chân thành. Đây là lời kể của anh:

“Cô ấy âm thầm đem cầm cố ngôi nhà chúng tôi đang sống mà không cho tôi biết, vì nhà đứng tên một mình cô, lấy được số tiền hơn 350 ngàn đô la Úc và thua hết trong sòng bài. Anh có nhớ căn nhà mà hôm trước anh ghé vào gặp tôi và để lại tin nhắn chứ. Anh còn nhớ anh xưng cháu và gọi tôi bằng chú không? Tôi trông già như một ông lão là do lo lắng và đau khổ chồng chất. Tôi cày 2 “dóp” cho đến ngày hôm nay, vẫn cày như con trâu, chưa dám nghỉ để lấy tiền trả cho căn nhà này và căn condo khác đang cho mướn. Cái condo là do tôi mua với giá rất mắc, trước lúc bong bóng nhà đất bị vỡ, bán thì lỗ, nên phải cho thuê, mỗi tháng trừ mọi chi phí, chỉ còn lại 150 đô la; nếu tháng nào bị hư hao, coi như lỗ. Với hai cái “mortgage payments” mỗi tháng, hỏi sao không già”.

Tôi nhớ ngày đầu đến Sydney, vợ chồng tôi ghé qua địa chỉ. Một ông già dáng dấp Á Đông, vẻ còn nhanh nhẹn, nhưng râu tóc bạc phơ, bước ra mở cửa. Tôi lưỡng lự không biết thưa gởi ra sao vì nếu gọi bác hay chú thì có vẻ quá già, mà mình cũng hơn 6 bó rồi, nếu gọi anh thì sợ vô lễ, lỡ ra đây là ba của cô ấy. Tôi liều mạng: “Thưa chú, đây có phải nhà cô M. và anh H.?”. “Vâng, anh là ai?”. “Thưa cháu là T., bạn em M. lúc còn ở trại tỵ nạn Philippines, sẵn dịp đi chơi, ghé qua thăm hai chị em và gia đình”. “Tôi là chồng của M. đây, cô ấy không có nhà, anh muốn nhắn tin gì không? Tôi có nghe M. nói về anh trước đây”. 

Tôi không tin ở mắt mình. Đây là chồng của M. sao? Tôi vừa quê vừa ngượng, nên lắp bắp: “Anh cho tôi viết mấy lời được không?”. Anh với tay lấy tờ giấy và cây bút, tôi ghi vội số cell-phone và địa chỉ khách sạn, rồi mời anh H. và bà xã đến chơi, tụi mình sẽ ăn mừng buổi hội ngộ. Hôm nay, tuy anh đã cạo râu nhẵn nhụi, cắt tóc gọn gàng, hình như có nhuộm để giấu đi vẻ già nua, nhưng vẫn không giấu nổi sự tàn tạ, nét đau khổ của một người đàn ông cam chịu, nhẫn nhịn, lao tâm lao lực với hai bàn tay thô ráp, sần sùi đầy những vết chai. Anh cho biết anh mới 58 tuổi, nhỏ hơn tôi đến 3 năm, và nhỏ hơn vợ anh 1 tuổi. 

blank

Tôi hỏi bây giờ M. đã bỏ hẳn chưa. Anh hạ giọng: “Bớt chứ chưa bỏ hẳn. Bằng chứng là anh đến chơi mà cô ấy vẫn thích đưa anh đến Casino. Hình như song bài là lẽ sống của cô ấy. Mới tháng trước, ba của M. qua đời, cô ấy có hứa sẽ không đi đến sòng bài nữa, nhưng tôi biết vẫn còn”. Tôi chợt nhớ đến đôi mắt thâm quầng thiếu ngủ của M. và hiểu ra vấn đề.

Anh kết thúc câu chuyện vẫn bằng cái câu anh đã bắt đầu “Anh thật may mắn…”.  Tôi nhìn anh an ủi: “Ngày đó, anh là người may mắn hơn tôi. Anh yêu và lấy được người anh yêu”. Riêng tôi, tôi vẫn uôn ltự hỏi mình có thật sự may mắn không, khi tôi tận mắt chứng kiến hai sự thật trần trụi trước mắt mình: Đời không như mơ. Lần yêu nào tôi cũng không lấy được người mình yêu. Đến bây giờ, tôi vẫn chưa biết câu “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khhi đã vẹn câu thề” có đúng với cuộc đời của tôi hay không?  Rối trí quá bạn ơi. Xin bạn cho tôi một lời khuyên.

Nguyễn Văn Tới. Tháng 6 năm 2020.

 

kim Kỳ sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này