Truyện

Truyện (341)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

CHIẾC DƯƠNG CẦM CŨ

CHIẾC DƯƠNG CẦM CŨ

Truyện Ngắn: Bùi Thanh Xuân

-Tác giả lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Bùi Thanh Xuân sinh năm 1956, hiện sống tại Đà Nẵng .

Chúng tôi hân hạnh gởi đến quý độc giả và văn hữu truyện ngắn mới nhất của ông :“Chiếc Dương Cầm Cũ”.

Tạp Chí Hợp Lưu

 

Tôi thường hay đọc những câu chuyện của nhiều tác giả lạ quen trên các trang web văn học hoặc trên trang mạng xã hội Face Book, có những câu chuyện rất hay của nhiều người viết văn không chuyên với lối kể chuyện thật thà, đơn giản nhưng sâu sắc.

Một người phụ nữ đã lớn tuổi thường hay nói về nỗi buồn đời mình. Hình như người ấy độc thoại, viết cho mình chứ không phải cho một ai khác, tôi nhận ra điều này bởi vì không thấy người ấy trả lời hay “like” hay hỏi ai đó trong những bình luận. Trong bất cứ bài viết nào cũng vậy, một người phụ nữ lạ lùng, bí ẩn có “nickname” nguyetnga

Một hôm, tôi đọc được đoạn văn, chợt giật mình nhận ra có điều gì đó gần gũi quá, và dường như nhận ra mình trong đó

“ Khi tôi mở mắt ra, nhìn khuôn mặt bối rối của anh ấy, định bật cười, chế giễu, con trai chi mà nhát quá ! nhưng cũng kịp nén lại. Bởi trong cái giây phút thần tiên ấy, tôi nằm gối đầu lên cánh tay anh trên bãi cát mịn đêm trăng, cảm nhận hơi ấm từ đôi môi anh, khuôn mặt anh đẹp như thiên thần nhỏ, tôi muốn bật dậy, choàng cổ anh, đắm đuối trong nụ hôn cùng anh.

Nhưng tôi cũng như anh, rụt rè, nhút nhát, đôi môi ấy chỉ phơn phớt trên má đầy bụi bặm của tôi rồi dừng lại.

Trong đêm thánh thiện, ánh trăng huyễn hoặc rắc ánh vàng mờ nhạt lên những sợi tóc phất phơ trên đầu anh,vắt ngang khuôn mặt rạng ngời trẻ con của anh, nó trôi dần, trôi dần.. trôi mãi miết ba, bốn mươi năm sau.

Ôi, khoảnh khắc lung linh, huyền ảo ấy cứ ở mãi trong tim tôi bao nhiêu năm nay...”

Tôi nhận ra Nga, người em gái cũ

Tôi gặp lại em trên đường phố Saigon vào đầu tháng năm,năm bảy mươi lăm.

Nga hớt hải băng qua đường, gọi tên tôi giật ngược giữa dòngxe cộ ồn ào, em lạc mất gia đình khi chuẩn bị trở về sau biến cố tháng tư, đang lần tìm đến bến xe. Nga hỏi tôi có trở về không, rồi nhìn khuôn mặt bơ phờ, áo quần nhếch nhác, chắc cũng hiểu tôi chẳng còn đồng nào. Nga nói hay là anh đi cùng em, anh hết tiền rồi phải không ?

Chẳng cần phải giữ sĩ diện vào lúc túng quẫn, tôi gật đầu đồng ý.

Tôi và Nga là anh em hàng xóm, láng giềng cũ.

Ba mẹ Nga là chủ cây xăng, khá giàu có, sung túc, còn tôi chỉ là con nhà lao động bình thường. Hai gia đình gần nhau, Nga ở ngoài đường chính còn nhà tôi phải đi vào con hẻm vòng vèo nhưng sát vách phía sau.

Tôi hơn em ba tuổi và đang là sinh viên khoa học năm hai ở Saigon, phải sống xa gia đình. Lúc còn học cấp ba, tôi thường hay qua nhà dạy kèm cho em, cũng chỉ là tình anh em trong giới hạn quan hệ nam nữ, nhưng thực ra cả tôi với em đều hiểu chẳng có thể một tình bạn hay anh em giữa người nam và nữ để có thể thật gần gũi nhau

Chúng tôi tự dấu kín tình cảm của mình, trong hai năm học ở Saigon, những lá thứ đi, về cũng chỉ trong giới hạn vừa đủ để khỏi quên nhau.

 Một người thứ ba nữa, Thanh là con trai của một công chức, hắn với tôi cũng bạn bè đồng môn. Nhà hắn sát vách nhà Nga, lên đại học, hắn theo y khoa Huế.

Hằng đêm tôi thường nghe tiếng dương cầm vang lên trên tầng hai nhà em. Nga nói với tôi rằng em muốn sau này trở thành một nghệ sỹ dương cầm. Mơ ước của em tan theo mây khói khi đất nước hòa bình, chỉ vài tháng nữa là thi tú tài.

Gia đình em bị xếp vào diện tư sán, bị kiểm kê, tịch thu tài sản và ngôi nhà rộng lớn phía trước, chỉ còn lại phần hẹp phía sau để rồi cả nhà tan tác, phiêu bạt khắp nơi.

Nga không theo gia đình mình, ở lại thành phố sống với vợ chồng anh trai, em lăn lóc lề đường buôn bán kiếm sống. Tôi và Thanh chuyên nghiệp hơn, trở thành tài xế xe ôm bất đắc dĩ.

Những ước mơ tan vỡ, tôi mau chóng thích nghi với cuộc sống mới, vất vả nhất là Nga, còn Thanh dù muốn hay không cũng phải cố làm kiếm miếng ăn chứ chẳng còn trông mong sự giúp đỡ của mẹ cha. Cơm áo gạo tiền,khốn khó quá khiến tôi và Nga ít gặp nhau hơn. Nhưng tôi với Thanh chiều nào cũng ngồi với nhau làm ly rượu gạo, ít cố cổi cho vơi buồn phiền.

Thỉnh thoảng tôi đến thăm Nga, em vẫn còn giữ chiếc dương cầm cũ, những ngón tay em lại lướt trên bàn phím, thường trước khi ra về, em vừa đàn vừa hát bài Hương Xưa cho tôi nghe.

 

Một chiều tôi với Thanh lững thững đạp xe chậm rãi trên con đường quen thuộc hằng ngày đi qua. Hắn dừng xe lại khi ngang ngôi trường cũ nhìn vào, cây phượng hoa đã tàn từ lúc nào, hắn tiếc nuối  “Tau vẫn đứng chổ ni bất kể mưa hay nắng, ngày mô cũng rứa, mỗi ngày một lần”. Tôi hỏi để làm chi, hắn thở dài nói chẳng để làm chi.

" Xe thồ ! "

Cô gái đứng bên kia đường vẫy tay gọi, hắn nhanh hơn tôi, phóng xe vụt đi. Cô gái nói gì với hắn không rõ, hắn gọi tôi.

" Nguyên ơi ! mi chạy đi "

Tôi lắc đầu, hắn chỉ cho cô gái về hướng tôi đang đứng, cô gái bước qua đường.

" Anh cho tôi về Thanh Thủy nhé "

" Sao cậu ấy không chở cô? "

" Tôi không hiểu, anh ấy bảo rằng từ sáng tới chừ anh chưa có cuốc nào nên nhường "

" Ồ, thằng ác quỷ cao thượng, thôi được, tôi chở cô đi "

Hắn không hề cao thượng, hắn đợi một người khách khác.

Thanh đợi Nga tan buổi chợ trở về.

 Chiến tranh biên giới bùng nổ, tôi tham gia quân tình nguyện Việt Nam, chiến đấu giải phóng Campuchia. Chiến trường khốc liệt, tôi trở thành người lính trinh sát, cứng cỏi, gan dạ. Để trả giá cho lòng gan dạ của mình, tôi nằm viện sáu tháng với đủ loại vết thương trong người.

Nhưng vết thương đau đớn nhất khi ngày trở về sau bốn năm chiến đấu là tôi mất Nga.

Thanh và em lấy nhau hai năm trước, sinh được một cô con gái.

Lỗi chẳng phải tại Nga hay Thanh, chính tôi đã bỏ Nga mà đi kia mà. Sau một tuần trở về, tôi đến thăm vợ chồng em trong ngôi nhà tồi tàn ba mẹ Thanh để lại. Hôm đó Thanh đi vắng từ vài ngày trước, Nga vui mừng mời tôi vào nhà, pha cốc nước đặt trên bàn rồi em lẳng lặng đến bên chiếc dương cầm.

Những ngón tay Nga lướt trên bàn phím, bài Hương Xưa của Cung Tiến tôi rất thích được em đàn cho nghe. Hết bản nhạc, Nga đứng dậy, trong đôi mắt em long lanh giọt nước mắt. Tôi không nỡ để sự ăn năn hành hạ em, vội vã ra về.

 Hai tháng sau tôi trúng tuyển vào đại học bách khoa Saigon, quyết tâm làm lại cuộc đời mình.

Chúng tôi không còn gặp lại nhau nữa, cho đến tận mùa thu năm hai ngàn mười tám, ba mươi lăm năm sau.

Ra trường, tôi làm việc rồi lấy vợ cùng quê, cũng là bạn học với Nga, sống ở Saigon, một hai năm mới về thăm quê nhưng chưa lần nào gặp lại vợ chồng Nga. Tôi có cuộc sống riêng cùng với gia đình mình, Nga và Thanh có cuộc sống riêng của họ, gặp lại cũng chẳng để làm gì mặc dù trong trái tim tôi luôn có em.

Vợ chồng tôi không còn phải làm việc vất vả nữa, cùng về hưu khi con cái đã lớn, trưởng thành, lập gia đình và có sự nghiệp riêng, chúng tôi quyết định về lại nơi mình sinh ra, lớn lên để sống.

Thỉnh thoảng tôi cùng vợ lang thang trên những con đường cũ, những biệt thự xưa dần biến mất, những sân vườn thu hẹp lại, giàn hoa ti gôn cũng không còn nhìn thấy trên những con đường rộng thênh thang. Trước những ngôi nhà có tường rào bao quanh, tôi nhận ra màu hồng thay thế hoa ti gôn, hoa hồng leo.

 

Cuộc sống vốn bất thường, nhưng sự thay đổi lớn lao có khi khiến mình hụt hẫng.

Và trong một lần hụt hẫng đó, tôi gặp Thanh đang thẫn thờ trước tòa cao ốc, nơi trước đây là ngôi biệt thự được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Không biết Thanh kiếm tìm thứ gì ở đó, trông thấy hắn như người mất hồn.

Gần bốn mươi năm không gặp lại nhưng với tôi, khuôn mặt Thanh không thay đổi lắm, chỉ có vài nếp nhăn nhưng trông hắn điệu đàng, sạch sẽ hơn nhiều.

Tôi đến bên cạnh gọi khẽ, Thanh quay lại sững sờ nhìn tôi.

Thanh lôi tôi vào quán cà phê, chuyện trò với nhau hơn ba tiếng đồng hồ. Tôi hỏi bây giờ vợ chồng con cái thế nào rồi, sống ở đâu. Thanh ậm ừ cho qua chuyện, không dưng tôi lại nỗi cáu với hắn, muốn biết về cuộc sống của Nga, hắn thản nhiên buông mấy tiếng lạnh lùng “Ly dị ba mươi năm rồi, tau sống ở Mỹ”.

Tôi đứng bật dậy, cố kìm chế tiếng chửi thề, hất chiếc ghế qua bên bước vội ra khỏi quán.

 Về lại ngôi nhà cũ của ba mẹ mình, tôi thẫn thờ nhìn qua ngôi nhà phía trước. Không còn nghe tiếng dương cầm du dương năm nào, không còn khung cửa sổ thỉnh thoảng trông thấy bàn tay Nga chạm vào khung ngoại, nhìn xuống bên dưới mĩm cười, lòng tôi đau nhói.

Đôi lúc vợ tôi có nhắc đến Nga, muốn cùng tôi đến thăm nhà cô ấy, dù sao cũng là bạn cũ. Một tối chuyện trò với vợ, tôi hỏi em đã qua thăm Nga chưa, hôm nay anh gặp Thanh, em trả lời rằng đã đến thăm mấy hôm trước, Nga bây giờ đỡ khổ hơn vì con cái phụng dưỡng ít nhiều nhưng lúc nào cũng buồn.

Hai hôm sau tôi quyết định một mình đến thăm Nga, món quà mang theo không phải là chiếc dường cầm to lớn. Tôi tặng Nga hộp quà có chiếc đàn organ Yamaha. Tất nhiên, món quà và chuyến thăm tôi không nói cho vợ biết.

Nga nhận món quà, cám ơn rồi đến bên chiếc dương cầm cũ.

Những ngón tay không còn mềm mại như xưa nhưng cũng đủ thôi miên tôi quay về những năm tháng hai đứa gần bên nhau:

 

“ Người ơi, chiều nào có nắng vàng

hiền hòa sưởi ấm nơi nơi

Người ơi, chiều nào có thu về

cho tôi nhặt lá thu rơi

Tình có ghi lên đôi môi

Sầu có phai nhòa cuộc đời

Người vẫn thương yêu loài người

và yên vui sốngcuộc sống vui. “

 

Khi tiếng đàn kết thúc, Nga đứng dậy, bước ra nhìn tôi hồi lâu, hai mắt đỏ hoe, những giọt nước mắt chảy dài xuống má. “Anh vẫn còn thích bài Hương Xưa chứ” Tôi cầm bàn tay sần sùi của Nga, đặt lên đó một nụ hôn, và chắc chắn cũng là lần cuối cùng. “ Ừ, anh vẫn còn thích. Cám ơn em còn nhớ là anh rất thích”.

Tôi giúp Nga hạ nắp dương cầm, trước khi từ biệt, tôi nói với em rằng mình đã đọc tất cả những câu chuyện trên FB của em, xin lỗi em.

 

 

“Ba mươi lăm năm qua, ánh trăng đêm và những nụ hôn anh dành cho tôi vẫn vĩnh cửu, êm đềm.Tôi vẫn nhớ tiếng sóng vỗ vào bờ cát đêm khuya, khi anh tựa vào vai tôi ngủ vùi. Tôi đã khóc vì quá hạnh phúc và hy vọng. Chính cái hạnh phúc mong manh và niềm hy vọng ấy đã giết chết tâm hồn tôi.

Tôi mở mắt ra, nhìn khuôn mặt bối rối của anh lúc ấy, định bật cười chế giễu, con trai chi mà nhát quá! Nhưng cũng kịp nén lại. Bởi trong cái giây phút thần tiên ấy, tôi nằm gối đầu lên chân anh, cảm nhận hơi ấm từ đôi môi anh.

Từ từ mở mắt nhìn, khuôn mặt anh đẹp như một thiên thần nhỏ. Tôi muốn ngồi dậy để ôm cổ anh và đắm đuối trong nụ hôn cùng anh. Nhưng tôi cũng như anh, rụt rè, nhút nhát.

Và hơn hết, trong đêm thánh thiện trên bãi biển ấy, ánh trăng đêm huyền thoại, huyển hoặc rắc ánh vàng mờ nhạt lên những sợi tóc bay phất phơ trên đầu anh. Nó thần tiên quá. Ánh trăng vắt ngang khuôn mặt rạng ngời trẻ con của anh, nó trôi dần, trôi dần.

Ôi! một thời khắc lung linh huyền ảo ấy cứ ở mãi trong tim tôi bao nhiêu năm nay.

Cuộc đời không phẳng lặng, sóng gió thổi bạt tôi đi muôn hướng, chống chọi mãi rồi cuối cùng cũng đành buông xuôi cho số phận.

Mặc kệ! Muốn cuốn tôi đi về đâu cũng được.

Tại sao tôi cứ mãi trốn chạy thế này? Tại sao tôi lại độc ác, nhẫn tâm với chính tôi như vậy chứ? Tại sao tôi mãi hận thù để tự hủy hoại tâm hồn và thể xác tôi như thế?

Điều khiến tôi thỏa mãn là sự khao khát trả thù và tôi đã trả thù được rồi. Tôi hả dạ lắm! Bây giờ không còn phải oán hận ai nữa, nhưng cái giá tôi phải trả cho sự hận thù ấy lớn quá, phải đánh đổi cả cuộc đời mình .”

Hình như tôi vừa đi qua một cơn mê. Trong cơn mê sảng của ray rứt, giày vò mình, tôi nhận ra sự vô tâm hay cái tính nhút nhát của thằng con trai hơn bốn mươi năm trước. Có phải những dòng tâm sự trên là của Nga không ? Có phải ánh trăng trên bãi biển là của tôi và Nga trong chuyến trở về sau biến cố bảy lăm không? Cái đêm trăng ấy thật lạ lùng. Bốn mươi ba năm, tôi còn nhớ, còn giữ được gì ?

“Trăng đang lên!

Trăng rơi đầy khắp bãi biển, trải dài ngút mắt trên cát vàng. Trăng choàng  trên những ngọn sóng xô dạt vào bờ. Trên mặt biển ánh trăng dập dềnh. Nhiều trăng quá! Biển đêm Nha trang đẹp lạ lùng.

Tôi nhiều lần ngồi trước biển, nghe sóng vỗ vào bờ trong những đêm trăng nhưng chưa bao giờ cảm nhận được cái đẹp của biển dưới ánh trăng như ở đây. Những hòn đảo ngoài xa nhàn nhạt dưới trăng.

Mặt biển mênh mông chập chùng được trăng rải sắc vàng giống như một tấm thảm khổng lồ nhấp nhô gợn sóng. Như mơ, như thực. Tôi và Nga đều bị mê hoặc bởi cảnh vật ở đây, tựa vai nhau trên bãi cát.

Nhiều người cũng xuống đây ngắm trăng. Họ nhẹ nhàng bước đi trong im lặng như sợ trăng vỡ, sóng tan. Người đông lắm! Có lẽ họ cũng như chúng tôi, mệt mỏi sau cuộc chiến.

Chúng tôi im lặng như vậy không biết trong bao lâu. Gió mùa hè từ xa khơi thổi về lành lạnh giữa đêm khuya. Tôi tìm bàn tay Nga giấu vào trong hai tay mình. Hơi ấm của hai chúng tôi truyền cho nhau, ôm Nga vào người, đầu em trên vai tôi. Không còn thơm mùi bồ kết, tóc Nga vẫn còn  mùi khen khét của khói và gió bụi đêm qua, tôi vẫn thích thú được hôn lên mái tóc ấy.

Ánh trăng soi rõ khuôn mặt mệt mỏi, u buồn của Nga.  Sự im lặng huyễn hoặc thôi miên cả hai đứa, trôi dần rồi đắm chìm trong hạnh phúc ngọt ngào, em ngước mắt nhìn tôi:

-Rồi một mai Nga đi lấy chồng, còn Nguyên có một gia đình khác. Chúng ta gặp lại nhau. Nói sao nhỉ?

Tôi nhẹ nhàng:

-Có lẽ chúng ta sẽ quên hết, phải không?

-Nga không biết, có lẽ quên hết thôi.

Trăng trôi dần về hướng tây, chúng tôi mệt mỏi nằm xoài người ra trền nền cát ấm, thật gần. Tôi nghe mùi da thịt con gái, cảm nhận hơi ấm. Hai tay đặt dưới đầu, Nga nhìn lên trời đêm, thao thức, còn tôi nằm nghiêng, nhìn cô không chớp mắt, xoa nhẹ vành môi của em. Nga không phản đối hay trách móc.

Tôi muốn ôm gọn Nga vào lòng quá, nhìn em mềm mại trên bãi cát như con mèo nằm trên ghế salon.dịu dàng, xinh đẹp lắm. Có phải tạiánh trăng phủ đầy tấm thân nhỏ nhắn của em chăng?  Tôi đã nhìn thấy Nga long lanh ở đó, trong đêm huyễn hoặc nhiều trăng đó…”



Tuổi già lẩm cẩm lúc nhớ, lúc quên. Cái cần quên thì lại nhớ, điều cần nhớ để giữ cho mình thì lại hay quên, sự nghễnh ngãng có khi là tai họa

Nhà chỉ có hai vợ chồng già, tôi lại hay thức khuya, có khi ngủ gục bên cạnh máy tính chưa kịp tắt.

Vợ tôi muốn trở vào Sai gòn sống cùng con cháu, nhỡ ốm đau còn có con cháu mà gọi.Tôi không hiểu vợ tôi muốn sống gần con cháu hay chỉ là muốn cùng tôi chạy trốn quá khứ của tôi.

Phụ nữ thật kỳ diệu, có những thứ giác quan mà đàn ông không bao giờ hiểu được.

 

Bùi Thanh Xuân

Tháng 7/2019

 

 (Hình minh họa-Internet)

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...

Đôi Mắt Phượng. (Truyện ngắn- Nguyễn Đạt Thịnh)

Đôi Mắt Phượng 

(Truyện ngắn- Nguyễn Đạt Thịnh)

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

  Image result for Truyện "Đôi Mắt Phượng" - Nguyễn Đạt Thịnh 

 Tôi là một quân y sĩ ra trường năm 1974; đơn vị đầu tiên, cũng là đơn vị cuối cùng của tôi, là một tiểu đoàn Nhẩy Dù. (Xin bạn đọc cho phép tôi được bất chấp văn phạm, viết hoa hai chữ “Nhẩy Dù”, vì đó là những chữ tôi thương yêu nhất.)

Tôi lập gia đình năm 22 tuổi, ngày còn là một sinh viên quân y. Mẹ tôi bảo “chờ ra trường, có việc làm, có lương nuôi vợ, rồi hẵng cưới vợ.” Tôi biết mẹ tôi có lý, nhưng tình yêu cũng không vô lý. Tình yêu thúc dục tôi cưới Phượng ngay. Nàng quá đẹp; thằng Quỳnh, thằng Khương, thằng Ðịnh, những đứa bạn cùng lớp bảo tôi, “Phượng đẹp ngây ngất.”
Phượng là nữ sinh đệ nhất Trưng Vương; nàng cũng yêu tôi nhưng xin một năm đính hôn để học hết trung học. Tôi chờ; một năm dài được chia thành 52 tuần lễ ngắn hơn, đánh dấu bằng 52 ngày chủ nhật chúng tôi gặp nhau.
Không phải là một nhà văn, tôi không mô tả được nét đẹp của Phượng; tôi chỉ biết là Phượng rất đẹp, và nhất là có một sức hút dễ sợ; chỉ cần gặp Phượng một lần là không người đàn ông nào quên được nàng.
Xin đừng hiểu lầm Phượng là “típ” người nở nang, ăn mặc khêu gợi; sức hút của Phượng là sức hút ngầm do duyên dáng, do tình ý, chuyển đi từ đôi mắt. Ðôi mắt thật là tình. Mẹ tôi phán là đôi mắt lẳng lơ; tôi không thích hai chữ này vì nó làm mất đẹp cặp mắt trữ tình của Phượng.
Trước hôn nhân tôi mê mệt với đôi mắt ấy; sau hôn nhân tôi khổ sở, bực bội cũng vì đôi mắt ấy. Không một người đàn ông nào, dù chỉ gặp Phượng lần đầu, không có cảm tưởng đã yêu nàng và tình yêu của họ không bị nàng hất hủi. Ít nhất Phượng cũng không xua đuổi, không vô tình với họ. Tôi mất một số bè bạn cũng vì Phượng. Chỉ một vài lần gặp Phượng, chạm mắt với Phượng cũng đủ để họ thầm nghĩ là tôi đã mọc sừng.
Dĩ nhiên vợ tôi không thể có tình ý với tất cả mọi người, nhưng cái khổ là đôi mắt đắm đuối của Phượng không nhìn mọi người một cách thản nhiên như người ta nhìn những vật vô tri quanh mình.
Giờ này, vợ tôi không còn trên cõi đời trần tục nữa tôi mới thấm thiá hiểu được một việc rất giản dị, rất tầm thường là không tạo ra đôi mắt của chính mình, Phượng không có trách nhiệm gì về những đổ vỡ đôi mắt gây ra. Chỉ có 0tácgiả đôi mắt đó – ông Thợ Tạo – mới đúng là người tôi phải oán trách.
Ði đôi với cặp mắt tình tứ là một đồng tiền rưỡi (một ở bên má trái, và một nửa ở cạnh môi dưới) trên khuôn mặt tươi như hoa, trắng mỏng manh. Cái đồng tiền rưỡi ấy, dù chỉ có đồng rưỡi nhưng lai có ma lực giết người. Xin hiểu hai chữ “giết người” theo nghĩa trắng của nó.
Tôi hèn nhát? Có thể; nhưng tôi làm gì hơn được? Không chỉ yêu thương vợ, tôi vẫn còn say mê vợ tôi sau 3 năm chăn gối.
 Mẹ tôi, chị tôi đề quyết vợ tôi đã cho tôi ăn bùa mê, thuốc lú. Tôi hiểu quan điểm những người thân của tôi; tôi hiểu cả định mệnh của tôi, của vợ tôi, và của cả những người say mê vợ tôi nữa.
Tôi vừa nói tôi hiểu định mệnh của vợ tôi. Ðiều đó cần được giải thích rõ hơn; đôi khi tôi nghĩ Phượng cũng đáng trách, nhưng trong đa số những đổ vỡ quanh nàng, Phượng chỉ thụ động, đáng thương. Phượng sợ và tránh né tất cả mọi gặp gỡ. Những buổi liên hoan của đơn vị tôi, những cuộc họp khóa, họp bạn của tôi, luôn luôn Phượng cáo bệnh hay tìm cớ bận con để không tham dự.
Sở dĩ tôi phải dài lời nói về vợ tôi như vậy, lả để người đọc hình dung được cái ray rứt, khổ sở của tôi trong 14 tháng tù khổ sai được cộng sản đánh bóng bằng hai chữ “cải tạo.”Sau 3 ngày học tập binh sĩ đem loan truyền với chúng tôi cái tin tưởng học tập qua loa, ra về đúng kỳ hạn. Ðiều đó làm đa số sĩ quan cấp úy chúng tôi yên lòng khăn gói lên đường với 10 ngày tiền ăn. Nhiều anh lười, không đem theo cả mùng mền, tính ngủ nhờ với bạn bè cũng đủ qua khoảng thời gian 10 ngày ngắn ngủi.
Dĩ nhiên là chúng tôi đã lầm; chỉ ngay sau khi cái bẫy xập xuống đầu chúng tôi, cộng sản trắng trợn vứt bỏ mặt nạ “đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù.”
Bài học đầu tiên chúng tôi được nghe qua giọng nói hằn học căm hờn của một anh cán bộ quản giáo Bắc Việt. Anh ta oang oang bảo chúng tôi, “Các anh quên hết địa vị xã hội của các anh đi. Kể từ ngày hôm nay, vợ con các anh sẽ ngửa tay xin nhân dân từng hột cơm; và vài tháng sau vợ các anh chỉ còn nước đi làm đĩ để sống.”
Chúng tôi thắc mắc về thời gian 10 ngày, hắn cười khẩy, vẻ mặt câng câng, đểu cáng, “Các anh chỉ có 10 ngày ăn thôi ư? Ðừng lo, cứ ăn hết 10 ngày đó đi đã; sau đó ăn bám vào sức sản xuất của nhân dân.”
Trước mỗi cửa phòng giam, cộng sản cắc cớ bắt chúng tôi phải dán lên khẩu hiệu “không có gì quý bằng độc lập, tự do.” Cán bộ Việt Cộng còn phụ giải “người đi trên sa mạc thấy không có gì quý bằng nước uống. Các anh sẽ thấy đối với các anh thì không có gì quý bằng tự do.”
Ðề cao cái giá của tự do trong nhà giam quả là việc làm vừa châm biếm, vừa độc ác. Nhưng không phải chỉ trong nhà giam tôi mới thấm thía hiểu tự do là quý. Sau này ra khỏi trại cải tạo, sống trong cái nhà giam lớn hơn là nguyên cả Miền Nam Việt Nam tôi càng thấy rõ không phải chỉ một mình tôi, mà cả 20 triệu người dân Nam Việt đều đang khắc khoải giữa sa mạc thống trị, thèm khát ngụm nước tự do.Xin trở lại với trại cải tạo và với vợ tôi; tôi bị giam 2 tháng hơn thì một buổi chiều nghe loa gọi lên văn phòng. Tôi tái người, nghĩ ngay đến những vụ thủ tiêu, biệt giam, thường xẩy ra đối với những thành phần cộng sản gọi là ngoan cố.Bản chất hiền lành, tôi không ra mặt chống đối bọn giảng viên, quản ngục. Cái tội của tôi chỉ là không nuốt trôi được mớ lý thuyết rẻ tiền, lẩm cẩm của cộng sản. Nhưng đối với chúng, đó không phải là một khinh tội. Tôi lo lắng chờ đợi một hình thức trừng phạt vì trọng tội trí thức.
Lên đến văn phòng, tôi được một anh binh ba Bắc Việt, mặt non choẹt, đưa vào phòng chính ủy. Và tôi đã chết đứng khi thấy Phượng trong đó.
Giọng đầy cải lương, nhân vật số một của trại giam bảo tôi, “Xét thành tích học tập tốt của anh, nhân dân đặc biệt cho anh được nhận sự chăm nuôi của gia đình.”
Tôi học tập tốt? Thật là mai mỉa; những âm thanh giảng huấn chan chát của bọn cán bộ cộng sản đối với tôi không một mảy may khác những tiếng cuốc đất trong giờ lao động sản xuất. Tôi đoán hiểu cái lý do đã khiến “nhân dân đặc biệt cho phép” tôi được nhận sự thăm nuôi của gia đình.
Cặp mắt nẩy lửa vì giận, tôi nhìn Phượng. Vợ tôi đã đến cái nước đi làm đĩ như bọn cộng sản tiên đoán rồi ư? Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt vẫn tình tứ, nhưng buồn thăm thẳm và ướt đẫm. Những giọt lệ lăn dài trên đôi má nhung mịn màng làm lòng tôi se thắt. Tôi thèm bước tới, ôm Phượng vào vòng tay, và hôn dài trên đôi mắt đắm đuối ấy. Nhưng dĩ nhiên ngoại cảnh không cho phép tôi làm việc tôi thường làm đó.
Vợ tôi nghẹn ngào, “Bé Mai nhớ anh lắm.” Bé Mai! Ðứa con gái 2 tuổi của tôi, báu vật của vợ chồng tôi! Tôi đứng khựng như trời trồng trước cái hình ảnh nhỏ bé, thương yêu mà vợ tôi vừa gợi ra.
Suốt 10 phút gặp gỡ, tôi không nói được một lời nào với Phượng cả. Cổ họng tôi nghẹn cứng; rồi bên tai tôi văng vẳng thật xa có tiếng nói của tên chính ủy: “Thôi, xách đồ ăn về phòng đi, Tuần sau lại được thăm nuôi nữa.”
Ðêm đó tôi không chợp mắt. Tôi hình dung những chuyện đã xẩy ra giữa vợ tôi và tên chính ủy cộng sản trước khi tôi được dẫn vào và sau khi tôi bị đưa ra khỏi văn phòng hắn. Tôi không tin đã có gì quá đáng trong phòng làm việc. Nhưng sau đó hắn có thể đến nhà tôi hay bảo vợ tôi đến một chỗ nào đó.
Tuần sau và những tuần kế tiếp, Phượng đều đều đến thăm tôi, mỗi lần đem theo một món ăn mà trước kia tôi ưa thích. Tôi nuốt những món khoái khẩu mà có cảm tưởng như mình đang ăn rơm khô, không mùi, không vị. Mỗi lần thăm viếng chúng tôi được nói chuyện với nhau 10 phút. Toàn những chuyện bâng quơ. Cả hai đứa chúng tôi đều không dám đả động tới điểm ngờ vực đau xót của tôi.
Có lần Phượng nói với tôi bằng cái giọng thiết tha nhưng nghiêm trọng, “Em chỉ xin mình tuyệt đối tin tưởng là em yêu mình. Suốt đời em, em chỉ yêu có một mình mình. Mặc dù những gì đã xẩy ra hay sẽ xẩy ra thì tình em yêu mình vẫn mãi mãi là sự thật duy nhất.”
Qua tâm linh, tôi biết Phượng nói thật. Tôi muốn quên những việc đáng buồn đã xẩy ra; quên không được, tôi cố gắng bào chữa cho Phượng. Nhưng ghen tương, ích kỷ, cũng không phải là những cảm nghĩ nhỏ trong lòng người chồng.Những cuộc thăm viếng kéo dài được 4 tháng thì một hôm Phượng bảo tôi, “Tuần sau em về Long Xuyên với má; sống ở thành phố không có sinh kế gì hết.”
Tôi hăng hái khuyến khích vợ tôi xa lìa Saigon. Ít nhất về ruộng sống với mẹ Phượng cũng đỡ phải lo 2 bữa ăn hàng ngày, cái lo to lớn của người thị dân sau ngày bị giải phóng.“Mỗi tuần được gặp em là niềm an ủi lớn cho anh,” tôi bảo vợ. “Nhưng cái nhìn ngờ vực, khó chịu của 2,000 anh em đồng đội, đồng cảnh trước việc anh được uu đãi làm anh khổ sở. Anh muốn chịu chung những đầy ải với họ.”
Tuần sau Phượng không đến thăm tôi nữa. Cuộc sống khổ sai không hạn định trở thành dài hơn vì thiếu sự chia cắt của những tiêu mốc ngắn hạn. Tôi trở lại vị trí của cái máy người, vô tri giác, không phản ứng, bảo đi thì đi, bảo học thì học, bảo lao động thì lao động. Những bạn nào đã sống trong trại cải tạo của Việt Cộng hẳn đồng ý với tôi là cộng sản đã thành công trong việc làm chúng tôi mất hết tri giác. Không vui, không buồn, không hy vọng, thất vọng, không mong chờ bất cứ một điều gì nữa. Cuộc sống hàng ngày như một bộ máy được điều động bằng những tiếng còi, những khẩu lệnh. Phần ăn quá đói làm tất cả chúng tôi tìm được cái khôn ngoan của loài vật: không làm một cử động thừa, không nói một câu thừa để không phí phạm bất cứ một phấn thật nhỏ nào cái sinh lực le lói còn trong xác người.
Tăng Thanh Hà đẹp hút hồn trong ảnh lịch 9
Chính trong trạng thái vật vờ của một xác chết chưa chôn ấy, tôi nhận được giấy phóng thích. Cầm tờ giấy chấm dứt cuộc sống tù ngục của mình trong tay, tôi dửng dưng như cầm một tờ truyền đơn học tập. Nói dửng dưng cũng vẫn chưa đúng; tôi không ý thức được những thay đổi tờ giấy mang lại cho tôi. Nhẩn nha nhơi từng hột bắp của bữa ăn trưa đói khổ tôi nghe cơ thể khoan khoái với chút bồi dưỡng ít oi. Trái bắp có trong tay vẫn quý hơn hai chữ “tự do” mới viết trên giấy.
Một cán bộ bảo tôi, “Chiều nay anh khỏi lao động; về sửa soạn nóp, chén trả lại nhà kho.”
Khỏi lao động, một tin mừng khác. Tôi trở về căn phòng giam hôi hám nhưng mát rượi như một thiên đàng so sánh với cái hỏa ngục lao động sản xuất mà các bạn tôi đang chịu đựng ngoài trời.
Bốn giờ chiều Phượng đón tôi ngoài cổng trại giam. Người vợ đài các của một bác sĩ mặc cái áo bà ba vải bông và cái quần đen, đứng vịn một chiếc xe đạp đàn ông cũ kỹ. Có thể tôi sẽ ít ngỡ ngàng hơn nếu từ trong thế giới tù ngục bước ra được gặp lại thế giới cũ của mình với xe honda, với áo dài. Tôi đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ sau chưa đầy 2 năm mất nước.
Thế giới bên ngoài nhà tù không phải ít khe khắt, ít đọa đầy; suốt một năm trời tôi phải sống trong chế độ “quản chế của nhân dân”; tôi xin giải thích những chữ văn hoa này. Chế độ “quản chế của nhân dân” có nghĩa là tôi phải làm mọi không công, phải sợ sệt tất cả mọi người. Bất cứ ai trong phường cũng có quyền phán xét là tôi chưa giác ngộ, cần học tập thêm, là tôi lại đi tù nữa.
Tôi cúi mặt trước tất cả mọi người, dù đó chỉ là một đứa con nít. Tôi vâng dạ, tôi tuân lệnh, không cần biết lệnh đến từ đâu. Một bà hàng xòm gọi tôi đến coi chứng bệnh cho thằng con tám tuổi. Sau khi quan sát kỹ mọi triệu chứng, tôi bảo bà là con bà bị thương hàn và không có cách nào hay hơn là đưa nó đi bệnh viện. Bà quắc mắt, “Anh đi học tập ra mà con như vậy đó hả? Nhân dân có quá nhiều nhu cầu để bệnh viện thừa chỗ trống cho một đứa con nít nóng lạnh. Anh không biết cách nào khác nữa sao?”
Tôi đề nghị bà đừng cho con ăn gì hết để ruột không hư. Bà ta cáu kỉnh nạt, “Lang băm tư bản.”
Sau khi tôi về không hiểu bà có nghe lời tôi khuyến cáo không, nhưng rất may là đứa trẻ lành bệnh. Suốt nửa tháng trời tôi hồi hộp lo sợ: cái chết của đứa trẻ vì thiếu thuốc, thiếu chăm sóc có thể đưa tôi trở lại trại cải tạo như không.
Nguồn an ủi của tôi là số người thiếu ý thức như bà hàng xóm mà tôi vừa kể tương đối rất ít; đa số dân Saigon sống trong một tình đoàn kết ngấm ngầm nhưng khắng khít. Một bà cụ dúi cho tôi gói gạo nhỏ qua câu nói chí tình, “Bác sĩ phải ăn thêm mới sống nổi, tôi già rồi, thiếu thốn chút đỉnh cũng không đến nỗi nào.” Bà vợ của một công chức còn đang tù tội cho tôi đôi giầy. Ông hàng xóm sát vách cho cái áo.Nhưng mọi nguồn vui của tôi đến từ Phượng thì nàng cũng là nguyên nhân của mọi buồn khổ. Phượng làm đĩ ra mặt, không còn e dè gì tôi nữa cả. Vợ tôi không chỉ tống tình cán bộ cộng sản để thăm nuôi tôi nữa, mà xuống đến tận chân thang của xã hội: mỗi ngày vài lần những anh phu xích lô đến gọi Phượng đi khách. Những lần đầu tiên Phượng còn ngượng với tôi, nhưng sau quen dần, nàng chỉ bảo tôi, “lát em về.”
Phần tôi, tôi vẫn phải tình nguyện xung phong trong mọi công tác nặng nhọc của phường như hốt rác, quét đường, trồng cây, thông cống, … . Tôi xung phong để được chấm điểm, xung phong để khỏi trở lại lao tù cải tạo. Ðôi khi nghĩ quẩn tôi cho rằng đi tù mà còn tự do hơn chế độ nhân dân quản chế.Tăng Thanh Hà đẹp hút hồn trong ảnh lịch 14Thêm một lần nữa, tôi tuyên dương sự thành công của cộng sản. Chúng đã hoàn toàn đập tan uy thế của giới chỉ huy, giới trí thức miền Nam. Suốt một năm ra khỏi tù, tôi không được phép làm bất cứ một việc gì cả. Nói một cách khác, tôi phải ăn bám vào đồng tiền vợ tôi ngày ngày bán thân tạo ra. Sau 31 năm, nghĩ lại tôi vẫn rùng mình khiếp sợ.
Tôi xin độc giả ngưng đọc một phút để hình dung cái nhục nhã của tôi, của tất cả giới trí thức miền Nam. Tôi không đủ can đảm để nói bất cứ câu gì với vợ tôi về việc làm của nàng; cả hai chúng tôi cúi đầu chịu phép trước guồng máy xã hội mới.
Nếu một ngày tù dài bằng một ngàn năm sống tự do thì 365 ngày bị trói tay, thất nghiệp, sống đói khổ dưới quyền quản chế của nhân dân, và nhìn vợ đi làm đĩ chắc phải dài hơn sự hiện hữu của cả hệ thống vũ trụ.
Giữa hai vợ chồng tôi nẩy sinh ra một tình trạng ngượng ngập khó tả, Ít khi tôi dám nhìn thẳng vào mắt Phượng, và gần như không bao giờ tôi dám nói với nàng chuyện gì khác hơn là những câu đối thoại tầm thường quanh sinh hoạt nho nhỏ trong nhà.
Thỉnh thoảng bà mẹ vợ tôi lén lút đem được ít gạo, ít thịt lên cho chúng tôi. Qua những cuộc tiếp tế lậu này, tôi khám phá thêm được một bí mật: vợ tôi không hề về Long Xuyên với mẹ như nàng đã nói với tôi. Phượng đã làm gì, ở đâu, trong 7 tháng trời tôi nghĩ nàng về quê sống với mẹ? Cả đến câu hỏi này cũng chưa lần nào tôi dám hỏi Phượng. Tôi trốn chạy một sự thật phũ phàng nào nữa đó sẽ đến, nếu Phượng phải trả lời tôi.
Tối 30 tháng Chín 1978, sau khi theo một anh xích lô “đi khách” về, Phượng kéo tôi vào phòng trong cùng với bé Mai. Trên bộ ván thay cho cái giường nệm đã đi vào chợ trời từ hai năm trước, Phương mở gói thịt quay ra rồi bảo tôi, “Mình ăn với em.”
Từ sau ngày mất nước đây là lần đầu tiên tôi lại được nhìn thấy miếng thịt quay; Phượng lăng xăng bới cơm, và vợ chồng con cái chúng tôi ăn uống ngon lành như chưa bao giờ được ăn ngon đến như thế.Nhưng đó không phải là điều ngạc nhiên duy nhất của tôi; ăn uống xong, vợ tôi kéo từ trên đầu tủ xuống một gói giấy: bên trong là một bộ đồng phục thanh niên xung phong. Tay chân run rẩy, Phượng trải bộ quần áo lên mặt bộ ván, rồi giọng nói cũng run rẩy nàng bảo tôi, “8 giờ sáng mai, mình mặc đồng phục này đứng đón tàu ở bến Bạch Ðằng.”
“Ðón tầu? Ðể đi đâu?”
Không trả lời câu hỏi của tôi, vợ tôi chỉ lập cập nói, “Em đã đóng đủ 10 cây cho họ rồi.”
Mười cây vàng! Tôi choáng váng với con số lớn khiếp đảm đó.“Vàng đâu mà em có đến 10 cây?” Câu hỏi buột miệng không nuốt trở vào được nữa, tôi chỉ còn biết nhìn vợ tôi, câu xin lỗi ngầm chứa trong ánh mắt. Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt thăm thẳm tình tứ trên khuôn mặt vẫn còn đẹp dù đã gầy đi và dạn dầy phong trần.
Sau một phút im lặng, nàng nghẹn ngào, “Em không biết mình có tin hay không, nhưng sự thật lúc nào em cũng yêu mình.”Tôi ôm Phượng vào lòng; giữa một xã hội thù hận, cái bóng mát yêu thương nhỏ bé thật là vô giá. Mặc dù Phượng chưa nói, nhưng tôi cũng đoán hiểu mục đích vượt thoát của chuyến đi ngày mai, và hiểu 10 lượng vàng, giá của chuyến đi là kết quả của những canh dài Phương đem thể xác ra cho thiên hạ dầy vò để góp nhặt từng đồng hầu mua tự do cho tôi.
 
Tăng Thanh Hà đẹp hút hồn trong ảnh lịch
Cổ nghẹn lại, tôi không nói được một tiếng nào cả; tôi vừa sung sướng trước những bằng chứng hiển nhiên của một mối tình to lớn, bền chắc, vừa xấu hổ nhận những hy sinh nhục nhã của vợ.
Phượng bảo tôi, “Em chỉ đủ tiền đóng cho mình; nhưng em với con vẫn đi theo mình.” Nàng giải thích cho tôi hiểu chuyến tầu vượt thoát là tầu thầu việc chuyên chở thanh niên xung phong đi làm rừng ở cửa Cần Giờ. Sáng mai, tôi sẽ cùng với 30 người nữa đội lốt thanh niên xung phong xuống tầu tại bến Bạch Ðằng. Ðàn bà, trẻ con đi đường bộ xuống ngã ba Ðồng Chanh, chờ tại đó và sẽ đổ lên tầu. Họ là những người đi lậu, không đóng vàng.
“Người ta đi lậu nhiều lắm,” Phượng bảo tôi. “Em cũng trà trộn vào đám người đó; không lẽ người ta xô mình xuống sông. Sợ gì?”
Tôi sợ. Rùng mình tôi nghĩ đến cảnh “người ta xô vợ con tôi xuống sông”, nhưng có sợ tôi cũng không giải quyết được cái khó không tiền và đành theo mọi xếp đặt của Phượng.Ðêm đó tôi trằn trọc không ngủ, Phượng cũng không ngủ. Vào khoảng gần sáng nàng hỏi tôi, “Mình đã đủ tin vào tình em yêu mình để tha thứ hết mọi việc cho em chưa?”
“Anh tin. Anh yêu mình.”
“Em còn một tội nữa, chưa thú nhận được với mình.”
 Trong bóng đêm, tôi lặng thinh lo lắng. Ngần đó bất hạnh chồng chất vào một cuộc sống ngắn ngủi, cay cực, còn chưa đủ nữa hay sao.
Vợ tôi thở dài, “Lúc đó em còn khờ quá nên chuyện mới xẩy ra. Em phải nói dối mình là em về Long Xuyên với má. Thật ra em không muốn mình buồn.”
Dù vợ tôi chưa nói ra, nhưng tôi cũng đoán hiểu.
“Em có con?” tôi hỏi.
Rúc đầu vào ngực tôi, vợ tôi thút thít khóc, “Mình tha cho em.”Ðứa con chỉ là hậu quả đương nhiên của những việc làm mà tôi đã nhìn vợ tôi hàng ngày đi theo những bác phu xích lô để làm. Bây giờ tôi lại hiểu mục đích cao cả của việc làm đê tiện đó. Tôi thương Phượng hơn là trách nàng.
“Ngày mai em muốn cho con cùng đi?”
“Nếu mình đồng ý.”
Dĩ nhiên tôi đồng ý; đồng ý đưa những người thân nhất đời mình vào chuyến đi địa ngục, vào vòng tay tử thần.
Trước 5 giờ sáng hôm sau, trong bộ đồng phục thanh niên xung phong, tôi chở Phượng và bé Mai trên chiếc xe đạp mà mấy tháng trước Phượng đã dùng để đón tôi ra khỏi trại tù cải tạo. Mặc dù giờ hẹn là 8 giờ, nhưng tôi vẫn đi sớm để hàng xóm đừng để ý đến bộ đồng phục của tôi. Hơn nữa, Phượng còn ghé Phú Nhuận, nơi nàng gởi nuôi thằng Vình, đứa trẻ ra đời trong thời gian tôi ở tù.
Mọi việc xuôi lọt, và tương đối dễ dàng: 7 giờ sáng tôi đến điểm hẹn; nhiều người cũng mặc đồng phục như tôi đã có mặt; nhìn thái độ ngỡ ngàng, dè dặt của họ, tôi hiểu họ cũng như tôi, ngoài bộ áo thanh niên xung phong, chúng tôi không xung phong làm gì hết.
Phượng bảo tôi, “Mình chờ ở đây, em qua Tân Thuận đón đò máy.”
Nhìn vợ lưng đai một đứa con, chở đứa thứ nhì trên thanh ngang xe, ra sức đạp chiếc xe cót két, tôi nghe đứt ruột. Nửa tiếng đồng hồ sau tôi xuống tàu, chọn chỗ ngồi ngay bên hông, hy vọng giúp đỡ Phượng đưa con lên. Khoảng 8 giờ 45, tàu đến ngã ba sông Ðồng Chanh; bốn chiếc đuôi tôm xáp lại, đàn bà trẻ con ồn ào dành nhau leo lên. Tôi đỡ bé Mai trên tay Phượng, rồi kéo Phượng, tay còn bồng thằng Vinh lên theo. Cuộc đổ bộ của khoảng 70 đàn bà, trẻ con lên tàu không những đã công khai mà còn ồn ào, hỗn độn, tranh dành, la lối, đính chánh hùng hồn cái huyền thoại gán cho cộng sản một hệ thống an ninh bao trùm và hữu hiệu. Hàng chục khách thương hồ và ít nhất là 4 người tài công đuôi tôm đã chứng kiến và chắc chắn cũng đã biết mục đích của chuyến đi, nhưng cộng sản vẫn không bắt buộc được họ khai báo, phản phúc đồng bào ruột thịt.
Mười rưỡi, tàu ra đến cửa biển Cần Giờ, và trưa hôm đó quê hương thương yêu chỉ còn là một vệt dài dậm hơn mầu biển. Ðến lúc này các “giới chức” trên tàu mới hò hét chửi mắng những người vượt thoát lậu. Họ bảo chỉ dự trù lương thực và nước uống cho những người có ghi tên và có góp vàng. Những người khác sẽ không có khẩu phần.
Phần ăn và nhất là phần nước uống ít oi của tôi được chia làm 4; bao tử trống nhưng tâm tư vợ chồng chúng tôi tràn đầy hạnh phúc. Vợ tôi ngồi sát bên tôi, tay ẵm thằng Vinh, bé Mai nằm gọn trong lòng tôi; đầu vợ chồng tôi đội chung một cái áo, vừa làm nón cho người lớn, vừa làm mái nhà cho trẻ con.
Ngồi bó rọ trong cái cảnh mà nếu được nhìn thấy, chắc mọi người phải gọi là địa ngục trần gian, vợ chồng tôi bàn chuyện thiên đàng mộng tưởng. Cái thiên đàng của chúng tôi rất giản dị: bất cứ nơi nào cho tôi được đem sức đàn ông ra đi làm, làm bất cứ việc gì để nuôi vợ, nuôi con.
Tôi bảo Phượng, “Anh sẽ làm việc, làm ngày, làm đêm, để không bao giờ em và con còn phải thiếu thốn khốn khổ nữa.”“Em thương mình,” Phượng thủ thỉ bên tai tôi. “Không bao giờ em còn làm mình buồn nữa.”
Tất cả những cam kết, hứa hẹn, dự tính đẹp như mộng ấy, chúng tôi đem ra làm thức ăn để đánh lừa cơn đói. Khẩu phần của tôi mỗi bữa khoảng 2 chén cơm chỉ vừa đủ cho 2 đứa nhỏ. Phượng và tôi nhắp một đầu đũa để cầm hơi.
 Qua đến ngày thứ 3, vì đói quá, khi đi lãnh cơm tôi thò tay vào nồi, vừa bốc thêm một nắm cơm vừa nói, “Cho tôi xin thêm chút cơm.”
Một quả đấm bay vào mặt tôi; yếu đuối sau 14 tháng bị giam cầm đói khổ, yếu đuối sau 3 ngày thiếu cơm, thiếu nước, tôi té ngửa dưới sức mạnh của quả đấm trời giáng.
“ÐM quân ăn cướp. Ðã đi lậu mà còn đòi ăn nữa hả.”
Quả đấm tuy đau, nhưng tôi vẫn mừng vì cà mèn cơm chưa đổ. Bưng cà mèn đầy cơm hơn nhờ bốc thêm được một nắm về mái lều to bằng manh áo, tôi sung sướng nhìn Phượng được ăn thêm miếng cơm thứ nhì. Tôi an ủi vợ, “Mình đi được 3 ngày rồi, nhiều lắm 2 ngày nữa cũng phải đến Thái Lan hay Mã Lai.”
Héo hắt cười, Phượng nhìn tôi. Tôi muốn thuyết phục cho vợ yên lòng, nhưng chính giọng nói của tôi cũng không vững.
Mũi tàu vẫn hướng về phía Nam, điều làm tôi thắc mắc. Mặc dù không có cả đến một tấm địa đồ nhỏ trong tay, nhưng tôi vẫn mường tượng được vị trí của Thái Lan và Mã Lai so với Việt Nam. Tôi góp ý với những người điều khiển tàu là nên cho mũi tàu chếch thêm về hướng Tây Nam. Tôi chưa nói dứt lời, một ông vạm vỡ nạt ngang, “Anh biết gì mà nói.”
Ðến ngày thứ 5 của chuyến hải hành, vợ tôi lả đi vì đói, vì mệt và say sóng. Phượng dựa vào thành tàu, mắt nhắm nghiền, đầu gục xuống. Tôi van xin ông ngồi cạnh nửa thước khoảng trống để vợ tôi có thể ngả lưng trong thế nằm co quắp. Hai đứa bé không còn khóc được nữa; tiếng khóc của chúng trở thành những tiếng rên nho nhỏ.
Tôi mò xuống bếp tán tỉnh xin phụ việc. Khoản thù lao tôi mong mỏi chỉ là mỗi bữa một chén nước cơm cho trẻ con uống. Chúng không còn sức để nhai và nuốt vật cứng nữa. Một ông “giới chức” hất hàm hỏi tôi, “Trước kia anh làm nghề gì?”
Dĩ nhiên việc đi cải tạo không phải là một nghề, mà cũng không phải là việc đem ra khoe được, tôi đành khai, “Thưa ông, tôi làm bác sĩ.”
“Biết chích không?”
“Dạ biết.”
Thế là tôi biến thành thầy Hai chích dạo. Bà vợ ông giới chức bị bệnh đái đường; ông đem theo một xách thuốc cần thiết cho bà, nhưng thiếu thầy Hai chích. Ðường lên, bà nằm mê man từ 2 ngày nay. Tôi được đưa vào khoang để chích insuline cho bà. Bữa đó không những có được chén nước cơm, mà trong cà mèn còn thêm được một miếng thịt.
Ðược dinh dưỡng, vợ tôi và 2 đứa trẻ cũng tỉnh táo hơn. Chiều hôm đó tôi lại có thêm một thân chủ: gia đình một người Trung Hoa nhờ tôi chăm sóc cho đứa con bị cảm nắng. Họ tạ thầy một hộp Sumaco, khiến bữa ăn chiều của chúng tôi có thể nói là thịnh soạn.
Cà mên cơm đầy ăn với cá hộp giúp Phượng đủ sức ngồi dậy săn sóc con. Hai đứa trẻ vẫn đuối, nhưng nhờ được uống nước cơm nên không đến nỗi bị lả đi như hôm trước nữa.
Sáng hôm sau tôi trở lại chích thuốc cho bà giới chức; nhờ insuline làm tan đường, bà đã ngồi dậy được, tỉnh táo hơn. Uy tín lang băm của tôi gia tăng nhanh chóng, số thân chủ cũng gia tăng vì sau 5 ngày ngồi bó rọ phơi nắng, gần như tất cả mọi người đều cảm thấy mệt đuối, đau nhức, nhiều người sốt, cảm, và ho.
Nỗi khổ tâm của tôi là trị bệnh không dược liệu; đem kinh nghiệm 14 tháng giúp bạn tù trị bệnh bằng phương pháp kháng bệnh, tôi chỉ dẫn mọi người cách hô hấp, cánh tập trung tư tưởng để tự kỷ ám thị.
Nhờ hành nghề bác sĩ, khẩu phần của gia đình tôi trở nên sung túc hơn rất nhiều. Mỗi gia đình vượt biển đều có thủ theo một vài thứ thực phẩm khô, họ chia cho tôi một ít để thù lao bác sĩ.
Ðến ngày thứ 7, nhờ được ăn no hơn vợ tôi đã bình phục và hai đứa trẻ cũng tỉnh táo. Trưa hôm ấy chúng tôi gặp hoạn nạn: chiếc áo mái nhà của tôi bị gió biển cuốn đi, vợ tôi lục giỏ tìm cái áo khác ra căng lều. Lần này tôi có ý cột kỹ tay áo vào thành tầu.
Tối hôm đó, đang gục đầu trong thế ngủ ngồi tôi nghe như một biến chuyển lớn đang xẩy ra. Giật mình tôi thức dậy trong tiếng reo hò của mọi người.
“Tới rồi. Thấy đất rồi.”
“Cảm ơn trời phật. Chuyến đi quá dài nhưng rồi cũng đến.”
Giọng quát của một giới chức, “Ngồi cả xuống; chạy tới, chạy lui, mất thăng bằng lật tàu chết cả đám bây giờ.”
Mọi người ngoan ngoãn ngồi trở xuống, nhưng tiếng ồn ào vẫn không ngớt. Người ta bàn tán, “Chắc là Mã Lai.”
“Có lẽ như vậy, vì nó là hòn đảo, chứ Thái Lan thì đã thấy lục địa.
“Không chừng Nam Dương.”
“Rất có thể là Úc.”
Vợ tôi nắm tay tôi bóp mạnh. Tôi nghe như những mừng vui của Phượng đang được chuyền sang tâm hôn tôi mà không cần một lời nói. Mọi người mừng vì chuyến hải hành 8 ngày đã đến đích. Cuộc hành trình của riêng tôi và Phượng đã kéo dài gần 4 năm, mà mỗi ngày là một cơn ác mộng bất tận cho cả 2 chúng tôi cũng đang chấm dứt với chuyến đi này. Nỗi mừng của chúng tôi, vì vậy mà to lớn hơn tất cả. Chúng tôi mừng đến không nói được nên lời, không hò reo được như mọi người. Tôi ngồi yên, không buồn chồm lên nhìn hòn đảo mà tàu đang tiến vào nữa. Niềm vui của tôi đã quá đầy từ ngày bước chân xuống tàu rời bỏ quê hương địa ngục, trên những bằng chứng xác nhận tình yêu tuyệt vời của Phượng đối với tôi. Không một người bạn đồng thuyền nào thỏa mãn bằng tôi.
Ông bạn ngồi cạnh gợi chuyện, “Hình như hòn đảo nhỏ quá.”
“Vâng,” tôi lơ đãng đáp.
“Không chắc đã có người trên đảo.”
“Vâng.”Mũi tàu vẫn hướng vào hòn đảo cô đơn trong khi niềm lạc quan trên tàu lắng xuống. Khoảng cách thu ngắn dần làm mọi người thấy rõ kích thước nhỏ bé của hải đảo. Nhưng giữa khoảng ngàn trùng của đại dương nhấp nhô hòn đảo kia vẫn là đất, vẫn bảo đảm vững vàng. Hơn nữa, nó cũng lớn tối thiểu bằng 20 lần con tàu dài 15 thước, rộng 3 thước với 140 người trong lòng tàu.
Ða số góp ý kiến nên ngừng lại đảo.
 “Biết đâu bờ bên kia lại không có một làng chài lưới.”
“Ghé nghỉ ngơi một ngày, đi lại cho dãn gân; ngồi bó gối mãi, mỏi quá.”
“Có thể tìm nước ngọt, đánh cá tăng thêm thực phẩm trước khi tiếp tục đi nữa.”
Cuối cùng, những giới chức trên tầu quyết định cho tầu chạy một vòng quanh đảo để quan sát trước. Và đó là quyết định cuối cùng của họ với tư cách chỉ huy chiếc tiểu hạm tử thần: mới chạy được nửa vòng đảo, tàu chạm đá ngầm, vỡ đáy, lật nghiêng qua 30 độ. Phượng văng từ thành tàu bên này sang thành tàu bên kia, thằng Vinh tuột tay mẹ, rơi thẳng xuống biển. Trên đà nghiêng của con tàu, tôi phóng nhanh đến bên Phượng, trao vội bé Mai cho nàng và nhẩy xuống biển để chỉ vừa kịp nắm tay đứa bé chưa đầy năm, theo nó ngụp vào một đợt sóng lớn. Sóng đưa tôi và thằng Vinh vào gần bờ, và do đó tôi trở thành người đầu tiên đặt chân lên hòn đảo san hô thê lương, sau này biến thành nơi gởi xác của nhiều người trong chúng tôi.
Tăng Thanh Hà đẹp hút hồn trong ảnh lịch 6
Việc làm đầu tiên của tôi là bồng thằng Vinh đưa lên cao để vợ tôi nhìn thấy mà yên lòng. Cách bờ khoảng 15 thước, mọi người nhốn nháo; tiếng kêu khóc thật là thê thảm, nhiều người nhẩy xuống nước chạy vào bờ.
Sau khi bị vỡ đáy, con tàu mắc cạn đang từ từ trở lại thế thăng bằng, mặc dù vẫn còn hơi nghiêng, nhưng người trên tàu không đến nỗi phải bám cứng vào thành tàu để khỏi rơi xuống biển nữa.
Nhờ người coi chừng thằng Vinh, tôi lội xuống nước trở ra mạn tàu bồng bé Mai, và xách gói hành lý khiêm tốn của chúng tôi, rồi dắt Phượng lên đảo. Nhiều người khác cũng làm như chúng tôi; họ lìa bỏ con tàu mà không cần biết là đi đâu, nhắm mắt đưa chân, như 8 ngày trước rời bỏ quê hương Việt Nam.
Ðó là sai lầm của chúng tôi. Hòn đảo san hô khô cằn, lởm chởm, không dung nạp chúng tôi. Tìm được một chỗ bằng phẳng để ngồi xuống cũng đã khó chứ chưa nói đến việc ngả lưng.
Sau gần một tiếng đồng hồ loay hoay tìm kiếm, tôi chọn được một hốc đá tương đối rộng rãi để định cư. Cái áo làm mái nhà đổi vai trò trở thành tấm chiếu cho trẻ con ngồi.
“Ðau đít quá ba ơi,” bé Mai nhăn nhó nói.
Tôi ẵm con lên, đặt nó ngồi trên bọc quần áo, rồi bảo Phượng, “Em coi chừng con, anh đi quanh tìm xem có con ốc, con sò nào không.”
Tôi ngỡ mình là người nhanh chân trong việc đi kiếm ăn, nhưng hơn chục người khác cũng đã lom khom trong các hốc đá tìm kiếm như tôi. Cái may của tôi là trong một kẹt đá nhỏ, tôi chụp được hai vợ chồng một chú tôm hùm khá to, mỗi con khoảng hai kí.
Phượng reo mừng, “đồ biển sẵn thế này là không phải lo đói nữa.” Phượng lầm, mà tôi cũng lầm. Ðồ biển không sẵn như chúng tôi tưởng, hoặc ít ra thì đó cũng không phải là nguồn thực phẩm đủ cung cấp cho 140 người đói khát.
Tôi đi nhặt rác và rong biển về làm củi nướng tôm; tôi cũng tìm được một mảnh ván nhỏ cho Phượng ngồi. Bữa ăn đầu tiên trên hoang đảo, cách tìm thực phẩm, nướng và ăn bốc theo kiểu thượng cổ, vừa ngon lại vừa vui. Vợ chồng, con cái chỉ ăn hết một con tôm, con thứ nhì để dành.
“Em chưa thấy con tôm hùm nào lớn đến như vậy,” Phượng vừa chôn vỏ tôm xuống cát vừa bảo tôi.
Mới 6 giờ chiều, mặt trời còn cao mà gió biển nghe đã lạnh; tôi lo lắng bảo Phượng, “Có bao nhiêu quần áo em lấy mặc hết cho con. Cả em nữa.”
Gói hành lý được mở ra, tắp hết lên người. Mỗi đứa trẻ mặc 4 áo, 3 quần. Phượng được 3 áo, 2 quần. Tôi mặc thêm cái sơ mi nửa ra ngoài bộ đồng phục chưa thay từ ngày đi.
Gia đình ông hàng xóm sát hốc đá nhà tôi định xuống tầu tránh lạnh nhưng bị đuổi trở lên. Một số thanh niên tổ chức chiếm độc quyền cư ngụ trên tầu. Họ cũng ngưng, không phát thực phẩm như trước nữa.
Ðêm hôm đó một người đàn bà chết, có lẽ vì quá lạnh. Chúng tôi xuống tầu mượn được một cây xà beng và một cái búa để đục đá chôn người xấu số. Ðó là người đầu tiên và người cuối cùng được chôn. Lý do thứ nhất khiến chúng tôi không chôn người chết nữa là vì đục đá làm mồ là một công trình quá khó mà lại không hiệu quả. Lớp đá vụn lấp xác chết không chặt được như đất nên chỉ một ngày sau mùi thối đã xông lên nồng nặc. Lý do thứ nhì chua chát hơn: người ta không muốn vùi đi mấy chục kí thịt của người chết trong lúc tất cả đều đói.
Xác chết đầu tiên tôi thấy bị xẻ thịt là xác một thiếu nữ trắng trẻo, xinh xắn. Tôi đang đi nhặt ốc thì nhìn thấy xác cô, khuy áo bị cổi banh ra, chỗ đôi nhũ hoa chỉ còn thịt lầy nhầy và mấy rẻo xương lồng ngực. Một tiếng đồng hồ sau, tôi trở lại, cô đã bị lột truồng, bắp vế, bắp chuối bị xẻo mất.
Tôi rùng mình. Suốt 2 năm chinh chiến tôi cũng đã chứng kiến nhiều cái chết ghê rợn do súng đạn gây nên, nhưng quả thật chưa một xác chết nào làm tôi khiếp đảm hơn.
Thượng Ðế ơi, người đã sinh ra con người như sinh vật khôn linh hơn mọi sinh vật khác, sao người lại còn bày ra những thử thách trớ trêu đó để làm gì? Ðể chứng minh là con người cũng không hơn gì loài cầm, loài thú ư?
Tôi trở về hốc đá với khuôn mặt chắc phải vô cùng sầu thảm; nhìn tôi, Phượng bảo, “Mình đuối lắm rồi, để em đi kiếm thực phẩm thay mình.”
“Em không đi đâu hết,” tôi gạt phăng.
 Vợ tôi nhìn tôi lo sợ; có thể Phượng thấy phản ứng của tôi không bình thường, chưa bao giờ tôi gắt gỏng với nàng, ngay cả những lần nàng theo bác phu xích lô đi khách. Quanh chúng tôi, người ta phát điên, người ta đánh nhau chỉ vì những chuyện không đâu. Tình trạng tuyệt vọng, kinh hoàng làm chúng tôi thành hốt hoảng. Có thể Phượng nghĩ tôi cũng đang có những triệu chứng bắt đầu. Tôi an ủi vợ, “Anh không muốn em đi đâu hết. Quanh chúng ta đang có trên 100 người mất tự chủ. Em phải ở cạnh anh.”
Thật ra tôi chỉ muốn tránh cho Phượng khỏi nhìn thấy xác người thiếu nữ không vú, không đùi. Kéo đầu Phượng gục vào vai, tôi vỗ về, “Rồi mọi chuyện sẽ khá hơn; thế nào chẳng có một thương thuyền đi qua đây.”
Tôi nói để mà nói, nhưng tôi nghĩ Phượng không mấy tin, không mấy quan tâm đến những điều tôi nói.
Chúng tôi đã đói khát gần 1 tuần lễ; quanh bờ biển không còn một cái vỏ hào nào nguyên vẹn. Người đầu tiên vừa đập vỡ con hào để lấy ruột, thì chỉ vài phút sau đã có người đến đập lần thứ nhì, hy vọng vớt vát một chút gì còn xót lại.Ðến tuần thứ nhì không ai còn dấu diếm chuyện ăn thịt người nữa. Gần như tất cả mọi người đều đã ăn thịt đồng loại. Tệ hơn là họ không chờ nạn nhân chết hẳn mới xẻ thịt. Ðể thịt và ruột gan không lạnh tanh, họ xẻ thịt những người đang thoi thóp, ngắc ngoải. Xương và đầu người chết bị ném xuống biển, cám dỗ hàng bầy cá mập.
Nhìn những con cá hung hãn chồm vào đến tận bờ để chia phần thịt người, tôi bàn với ông hàng xóm phương pháp bẫy cá mập. Chúng tôi đào một vũng cạn, rồi lấy đá be bờ khá cao. Sườn vũng nước nghiêng vào bờ, bên trong sâu hơn bên ngoài bờ biển.
Mượn cái đầu của một bà lão vừa bị xẻ thịt, chúng tôi thả mồi chờ cá mập; thời gian chờ đợi không lâu hơn 20 phút: theo đà sóng một con cá mập nhỏ, khoảng trên dưới 40 kí, trườn vào bẫy.
Sóng rút ra, cá mập mắc cạn và chết ngay sau vài chục nhát búa và xà beng của chúng tôi. Chúng tôi lôi cá lên cạn xẻ thịt; khoảng vài chục người đến hôi món thịt cá mập. Việc xẻ thịt chưa xong, con cá mập thứ nhì đã lại trườn vào bẫy trước tiếng reo hò mừng vui của hơn 100 con người đói khổ. Thịt cá mập béo ngậy và tanh rình, nhưng vẫn giúp chúng tôi tránh được ăn thịt người, và cái bẫy cá mập của tôi trở thành nguồn cung cấp thực phẩm khá dồi dào cho những nạn nhân mắc cạn. Cái khổ của chúng tôi là trên đảo san hô không còn một thứ gì có thể sử dụng thay củi nữa cả; một vài người liều lĩnh xách búa ra định bửa tầu lấy gỗ, nhưng chỉ cần một phát súng bắn chỉ thiên của nhóm thanh niên khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, lại có võ khí, đang chiếm giữ con tàu, cũng đủ làm những người liều nhất trở thành khôn ngoan, lui nhanh vào bờ.
Cầm miếng cá sống, vừa xệu xạo cắn, Phượng vừa hỏi tôi, “Mình có còn tin được câu người ta thường nói ‘trời xanh có mắt’ nữa không?”
Tôi thở dài. Nếu quả trời có mắt thì cặp mắt đó đã nhắm lại từ 4 năm nay rồi. Bé Mai chỉ còn là một cái xác nhỏ xíu, gầy ốm, thoi thóp níu vào cuộc sống. Thằng Vinh khá hơn đôi chút, nhưng cũng nằm lả, đôi mắt gần như không bao giờ hé mở.
Tôi nhai miếng cá trong miệng đến thành nước rồi cúi xuống mớm cho con. Phượng thút thít khóc. Cũng như tôi, vợ tôi hiểu mạng sống của đứa con gái chúng tôi thương yêu, nâng niu, đang tàn lụi dần và sẽ tắt hẳn, khi gió biển, nắng cháy, và thiếu dinh dưỡng, cướp đi những sinh lực cuối cùng. Bé Mai bỏ đi tối hôm đó. Ôm con trong tay tôi nghe hơi thở nó yếu dần, yếu dần trước khi tắt hẳn. Cơ thể của đứa con yêu thương vẫn mềm mại nhờ chút hơi ấm của tình phụ tử ủ ấp.
Tôi lặng đi ngồi ôm xác con trong gió biển cắt da; khoảng một tiếng đồng hồ sau Phượng hỏi tôi, “Con có khá hơn không mình?”
Tôi hiểu nghĩa câu hỏi này: Phượng muốn biết bé Mai đã chết chưa, nhưng chữ “chết” ghê rợn không phát ra được trên đôi môi người mẹ. Tôi lặng thinh để vợ tôi ngỡ là tôi đã thiếp đi trong mòn mỏi. Nhưng rồi tôi thiếp đi thật; sức chống đỡ của cơ thể chỉ có giới hạn. Giữa những hoàn cảnh phi lý nhất, thể chất vẫn giữ nguyên những đòi hỏi bình thường của nó. Ôm xác con trong tay, ngồi giữa một cô đảo Thái Bình Dương, tôi ngủ ngon lành.
Tôi bị mặt trời nhiệt đới đánh thức; mở mắt dạy trong ánh nắng chói lòa, tôi hốt hoảng nhận ra là bé Mai không còn nằm trong tay tôi nữa. Phượng cũng không thấy đâu cả. Tôi cất tiếng gọi vợ, tiếng sau lớn hơn tiếng trước, những tiếng cuối cùng trở thành tiếng gào kinh hoảng.
Những người chung quanh nhìn tôi; cặp mắt họ không thiện cảm, nhưng cũng không ác cảm, mà chỉ là những cập mắt vô can mất hết khả năng xúc động. Cái khổ đau, bất hạnh của tôi, tôi cứ tự gánh lấy. Phần riêng của họ cũng đã quá lớn, họ không thể chia xẻ thêm với ai chút gì nữa cả.
Tay ẵm thằng Vinh, tôi phóng nhanh xuống bờ biển vừa chạy quanh đảo, vừa gọi Phượng. Vợ tôi ngồi xẹp trên một phiến đá, vẻ mặt sầu khổ. Ôm chầm lấy vợ, tôi hỏi, “Em đi tìm con?”
Vợ tôi không nói được một tiếng nào cả.
“Họ đã xẻ thịt bé Mai?” Phượng gật đầu rồi gục vào vai tôi thút thít khóc; tôi lặng đi, tê tái.
Nguyên ngày hôm đó vợ chồng chúng tôi không nói thêm với nhau một câu nào nữa. Trước những đổ vỡ thương đau toàn diện, chúng tôi không còn khả năng khóc, than.
Sáng hôm sau, sau một vòng đi tìm thực phẩm thất bại như từ nhiều ngày nay, tôi trở về hốc đá và tình cờ khám phá ra nguyên nhân giúp bé Vinh còn tương đối mạnh khỏe: Phượng đang cho con bú. Tôi ngạc nhiên vì từ trước đến giờ Phượng không hề làm việc đó. Cả bé Mai cũng bú sữa bò từ khi mới lọt lòng.
Phượng bối rối nhìn tôi, trong lúc tôi nhìn bé Vinh: môi đứa bé đỏ lòm. Tôi kéo vú Phượng ra để thấy một vết cắt còn mới trên đầu vú. Tôi tìm thấy nhiều vết cắt khác ở đầu ngón tay, ở cổ tay người mẹ khốn khổ. Thở dài, tôi cúi đầu. Phượng đang trút tàn lực sang để nuôi một mầm sống. Việc làm vô cùng đáng kính phục đó chắc chắn sẽ làm tôi trở thành góa bụa sớm hơn.
 Dĩ nhiên tôi không ngăn cản, cũng không phiền trách gì Phượng. Ðiều độc nhất tôi có thể làm là cố gắng hơn nữa trong việc tìm kiếm thực phẩm để nuôi Phượng và bé Vinh, nhưng số người đói khát thì đông mà số thực phẩm lại giới hạn nên gần như chúng tôi
không còn tìm ra bất cứ một thứ gì, dù chỉ là cỏ, là cây, để nhai trong miệng.Image result for Truyện "Đôi Mắt Phượng" - Nguyễn Đạt Thịnh
Bốn ngày sau ngày bắt gặp Phượng cho con bú bằng máu, tôi tìm được một con cua khá lớn. Phượng ăn gượng gạo rồi lại nằm ngay. Vợ tôi đuối đến mức tôi phải xé từng miếng thịt cua, đút vào miệng cho nàng.
 Suốt tuần sau, tôi chỉ tìm được vài con ốc. Nhìn những triệu chứng sắp chết của vợ, tôi nghe đứt ruột. Tôi không dám đi kiếm thực phẩm xa nữa, sợ người ta đến ăn thịt Phượng.
Hai ngày sau, đang nửa mơ, nửa tỉnh, tôi chợt nghe nhiều tiếng súng; tiếp theo là tiếng reo hò. Bàng hoàng choàng dậy, tôi nhìn theo hướng nhìn của mọi người và thấy một chiếc tàu đang từ từ tiến lại.
Tim tôi ngừng đập; cuối cùng trời vẫn còn có mắt, chúng tôi sắp được cứu sống, và tôi vẫn còn Phượng, còn người vợ mà trong hoạn nạn tôi thấy tình yêu trở thành to lớn hơn, bền chặt hơn. Tôi sẽ lại được mê mệt, được khổ sở với cặp mắt đa tình của Phượng.
Trong tiếng reo hò của những người đồng cảnh ngộ, tôi cúi xuống thủ thỉ bảo vợ, “Hôm trước em hỏi anh có còn tin là ‘trời xanh có mắt nữa không’; bây giờ anh trả lời em là anh tin. Anh tin cuối cùng rồi ông trời vẫn có mắt.”
Nhưng tôi đã lầm. Ðối với những kẻ bất hạnh, vô phước như tôi, ông trời (nếu có ổng) đã vĩnh viễn nhắm mắt, quay mặt đi.
Con tầu tôi đang nhìn theo là một ngư thuyền của Ðài Loan. Họ neo xa bờ chừng 2 cây số, rồi cho ghe nhỏ vào chở người đại diện của chúng tôi ra thương lượng. Cuộc thương lượng, nói trắng ra chỉ là một cuộc trả giá.
Người đại diện trở về cho chúng tôi biết tầu Trung Hoa đòi một số vàng lớn mới chịu cứu chúng tôi. Số người có vàng đề nghị chia số người Trung Hoa đòi hỏi trên đầu người; những kẻ trắng tay như tôi ngồi lặng thinh, dự thính.
Chiều hôm ấy người đại diện của chúng tôi trở ra ngư thuyền Trung Hoa với một phản đề nghị. Cuộc trả giá kéo dài cho đến tối, và ông ta ngủ lại trên tầu đánh cá. Sáng hôm sau ông trở lại với 3 người Tầu, và bắt đầu cuộc ghi danh, góp vàng.
Những người có vàng để góp lần lượt được xuống ghe máy để ra tàu trước cặp mắt thèm thuồng của chúng tôi. Khoảng xế chiều việc đưa những người góp vàng ra tàu hoàn thành. Người Trung Hoa chở vào cho chúng tôi một thùng cá và bảo, “Các anh ăn uống tạm tối nay. Sáng mai chúng tôi sẽ vào chở tất cả ra tàu.”
Thì ra họ chỉ muốn làm khó dễ để lột một số vàng của những người có tài sản. Sáng hôm sau toàn bộ chúng tôi được chở ra tàu; một thủy thủ Trung Hoa giúp tôi bồng bé Vinh, trong lúc tôi bồng Phượng xuống ghe.
Yếu đuối, tôi ngã mấy lần, Phượng mở mắt nhìn tôi, cặp mắt tình tứ, đắm đuối ngày xưa, giờ này đã mất thần.
Xuống tầu, tôi xin một ly sữa, đút cho Phượng, nhưng vợ tôi không còn nuốt được nữa. Tôi biết cơ thể nàng đã mất hết hydrate; giải pháp độc nhất còn lại là nuôi bằng nước biển, nhưng làm gì có thứ đó trên một ngư thuyền.
Phượng lịm dần và hơi thở thật sự tắt hẳn vào đêm hôm đó. Xác nàng bị chuồi xuống biển theo hình thức thủy táng.
TÔI DỨT CÂU CHUYỆN vào lúc 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 2004, rồi bảo thằng Vinh, “Ba hứa ngày con học xong, ba sẽ kể lại câu chuyện về mẹ con cho con nghe; ba đã thực hiện lời ba hứa.”
Nó bước đến trước ghế tôi ngồi, quỳ xuống, gục đầu lên đùi tôi, “Ba đau khổ nhiều quá,” lời nó nghẹn lại. “Con thương ba.”
Tôi vuốt tóc nó, “ba thương con.”
 “Con muốn vinh danh mẹ,” thằng Vinh bảo tôi. Năm đó nó 26, vừa ra trường thuốc Austin, và đang tập sự tại nhà thương Memorial Hertman, Houston, nơi tôi làm việc.
 “Bằng cách nào?” tôi hỏi nó.
“Con muốn về Việt Nam để cùng bác sĩ Nguyễn Ðan Quế tranh đấu giải thể chế độ cộng sản dã man đã giết mẹ con, giết chị Mai, và làm ba buồn khổ suốt cuộc đời.”
“Môi trường tranh đấu tại hải ngoại thuận lợi hơn môi trường quốc nội,” tôi bảo Vinh. “ Tiếng nói của con sẽ lớn hơn, vì có một đối tượng rộng hơn, quyền hạn hơn.”
Nó nghe lời tôi, và giờ này bác sĩ Trần Phượng Vinh, con của bác sĩ Trần Quang trở lại trường đại học; môn học mới của nó là điện ảnh.
Họa sĩ Thương Thương, hôn thê của nó đã vẽ xong từ năm ngoái bức tranh quảng cáo cuồn phim đầu tay ÐÔI MẮT PHƯỢNG của tài tử kiêm đạo diễn Phượng Vinh.
Nó đóng vai trung úy quân y của Sư Ðoàn Nhẩy Dù, trung úy Trần Quang.
 

Nguyễn Đạt Thịnh

Thanh Hương st

 

IMG_1341

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Phớt tình, tình theo

 Phớt tình, tình theo

Truyện Ngắn:  Ngân Bình

Khi tôi bước vào bàn tiệc, hơn mười đôi mắt trợn tròn nhìn tôi với vẻ kinh ngạc.

– Xin lỗi! Tôi đến trễ vì hôm nay đông khách quá.

Ðưa tay kéo cổ áo bị trễ xuống, tôi mỉm cười tươi tắn. Vài tiếng lao xao nổi lên:

 – Ai! Ai mà lạ vậy ta?

– Nếu gặp chị ngoài đường, chắc tôi không nhận ra. Xin lỗi… lúc này, chị lạ quá. Cứ như là người nào khác vậy.

Tôi nghiêng đầu, vuốt nhẹ đuôi tóc ôm sát ót, cười ròn rã một cách tự nhiên:

– Ồ! Có sao đâu, người ta còn nói tôi lột xác nữa kìa. Ha! ha! Thật sự, tôi cũng cảm thấy như thế.

– Ủa! Lúc này chị làm ở đâu và làm gì mà… đông khách?

– Tôi làm việc cho một trung tâm thẩm mỹ. Tôi thật sự vui và thích công việc mới này.

Mọi người im lặng nhìn tôi với ánh mắt soi mói. Cái nhìn như muốn bóc từng mảng thịt da của người đối diện. Nếu bình thường, chắc tôi đã nóng mặt vì ngượng ngùng. Nhưng bây giờ, ngay phút giây này, tôi lại tận hưởng cái cảm giác thoả mãn lạ lùng chưa từng có.

– Chừng nào Bối trở về hả chị?

Tôi nhún vai, trả lời bằng giọng thờ ơ:

– Dạ! Cũng… không biết nữa.

– Thiệt?

– Bộ từ trước đến giờ tôi hay nói dối lắm sao?

– Không phải, tại vì…

Câu nói bỏ lửng không làm tôi khó chịu, mà lại càng tăng thêm sự thích thú trong lòng. Bữa tiệc tiếp tục trong bầu không khí ồn ào với những câu chuyện rôm rả, nhưng những ánh mắt đổ dồn về tôi vẫn không thay đổi. Thắc mắc. Ngờ vực. Hoang mang.

Tôi đứng lên, đi về phía phòng vệ sinh, bấm điện thoại nhắn tin cho chị Bích Toàn “Kết quả đúng y như chị dự đoán”, trong khi phía sau tôi có tiếng thì thào:

– Kiểu này chắc tiêu thằng Bối!

– Em đã đổi việc làm mới rồi hả, sao không báo cho anh biết?

Tôi nháy mắt với chị Bích Toàn:

– Ùm!…Đâu có gì quan trọng, anh bận tâm làm gì, cứ đi chơi cho thỏa thích.

– Anh định… đổi vé máy bay, về sớm hơn một tuần.

– Thôi! Chi cho tốn tiền. Vả lại, anh chẳng từng nói, ở bên đó vui hơn, còn về đây chỉ có hai vợ chồng, ra vào nhìn mặt nhau hoài bắt chán sao?

– Ơ!…ơ…

– Thôi! Em cúp máy đây. Em có việc phải đi gấp.

– Em… anh muốn…

Tôi tắt máy, nằm lăn xuống thảm, cười sảng khoái.

– Em đã tin lời Toàn nói chưa?

– Tin. Quá sức tin nữa chứ. Nếu không có chị, chắc giờ này em đang ủ rũ, ra vào trông ngóng. Nhớ lại những lần trước, em thấy mình dại dột, phí thời gian, tiêu hao sức khỏe vì buồn bã.  Cám ơn chị đã mở mắt cho em, giúp em chọn cách sống vui vẻ, tích cực, không để cho người khác nắm giữ niềm vui, nỗi buồn của mình.

– Có gì đâu mà cám ơn. Giúp được em hay bất cứ người phụ nữ bất hạnh nào, Toàn đều cảm thấy rất hạnh phúc.

Tôi nhổm dậy, nghiêng đầu nhìn chị Bích Toàn:

– Em có chút thắc mắc muốn hỏi chị?

– Thắc mắc gì? Có phải là… chị đủ tài, đủ sắc, sao đến giờ này vẫn không chịu lập gia đình? Thật sự, có nhiều người theo đuổi, trong đó có những người rất chân thành, nhưng Toàn không cảm thấy rung động trước người đàn ông nào.

Nhìn đôi mắt tròn xoe của tôi, chị Bích Toàn đưa ngón tay gõ nhẹ vào trán tôi.

– Nè! Đừng nghĩ  Bích Toàn này bất bình thường như nhiều người đã đồn đãi nha. Có thể, vì Toàn là người cứng rắn và khô khan tình cảm, mà cũng có thể  vì Toàn bị ám ảnh tâm lý từ hồi còn nhỏ. Nhớ lúc ba mẹ mất, Toàn mới mười lăm tuổi. Lúc ấy, Toàn sống với người chị ruột, lớn hơn Toàn mười tuổi. Cuộc hôn nhân bất hạnh của chị Ly đã để lại một ấn tượng hãi hùng trong lòng Toàn.

Ông anh rể đẹp trai là một người  đàn ông hào hoa. Với ngoại hình hấp dẫn, anh ta tha hồ lăng nhăng tình cảm, nhưng lại cấm vợ không được ghen. Chị của Toàn bầm giập với nhiều trận đòn, vì cái tội dám đi bắt ghen làm mất mặt anh ấy. Lòng Toàn đau như cắt khi nhìn thấy chị mình bầm môi, tím má, có khi chảy máu mồm vì người chồng vũ phu, tàn nhẫn.

Mỗi lần như thế, Toàn phải siết chặt nắm tay để ghìm cơn nóng giận. Lần cuối cùng thì Toàn không dằn được khi anh nắm tóc chị Ly, kéo xềnh xệch dưới mặt đường, còn chị thì cố bò lết theo sức kéo của anh cho bớt đau.

Bằng tất cả sự căm giận dồn nén từ bấy lâu nay, Toàn nhảy lên, tung một cú đá vào lưng anh ta. Trong khi anh chới với ngã xuống, Toàn bồi thêm hai cú đấm vào mặt anh, máu mũi ứa ra. Những người hàng xóm, từ đầu vẫn im lặng chứng kiến, đồng loạt ồ lên, vỗ tay ủng hộ. Có lẽ, quá bất ngờ trước hành động của Toàn -vì từ trước đến nay, ít người biết Toàn đã học võ từ lúc tám tuổi,

Toàn luôn nhớ lời ba căn dặn, học võ là để tự vệ, chứ không phải để áp đảo người khác-  nên anh không chống trả nổi, chỉ lồm cồm ngồi dậy, sải chân chạy. Toàn vừa nhón gót rượt theo, chị Ly nắm áo Toàn vừa khóc, vừa nói “Em không được đánh anh Lương”. Các bà trong xóm nhao nhao “Ðể con Toàn đánh nó một trận cho bỏ tật ăn hiếp vợ”. Sợ Toàn nghe lời xúi giục, chị  gào lên “Chuyện gia đình chị, để chị giải quyết, em không được hỗn với anh Lương?”.

Anh Lương trở về nhà sau hai ngày biệt dạng. Và chỉ qua một đêm, sáng hôm sau, chị Ly dúi vào tay Toàn một ít tiền, cúi đầu nói khẽ  “Em cầm tiền mua vé xe đò về Long Xuyên ở với cậu Tám đi”. “Là ý của chị hay anh Lương?”.

Tránh đôi mắt hằn hộc của Toàn, chị Ly ấp úng “Xin lỗi em, chị phải bảo vệ hạnh phúc gia đình của chị”. “Hạnh phúc? Chị nói thật hay tự dối gạt mình? Bị đánh đập hàng ngày cũng hạnh phúc à? Sao chị có thể chấp nhận thứ hạnh phúc lạ đời đó?”.Chị Ly nói trong tiếng tắt nghẹn “Số phận chị đã được an bài như thế rồi. Vả lại, các con chị không thể thiếu cha, em hiểu không? Em thương chị thì đừng ở đây nữa”. 

“Thì ra! em bị đuổi đi chỉ vì dại dột bênh vực chị của mình”. Toàn cố kìm nước mắt, bỏ chạy, sau khi vất những tờ giấy bạc xuống sàn nhà. Nhưng trong cái rủi cũng có cái may. Nhờ vậy mà Toàn được theo gia đình cậu Tám đi vượt biên.

– Chị đừng trách chị Ly tội nghiệp. Mỗi người một số phận chị à!

Nét mặt chị Bích Toàn đanh lại:

– Toàn ghét những người đàn bà cam phận, thiếu quyết tâm vượt qua số phận. Khi mình thua từ bước đầu thì sẽ thua suốt cuộc đời.  Toàn thích em, vì em chịu nhìn lại chính mình và dám thay đổi.

– Cũng nhờ có chị mở mắt, chứ trước kia em cũng đã từng đầu hàng số phận. Dựa theo cách sống của  chính mình, mẹ luôn dạy dỗ em “Khi có gia đình, phải săn sóc, chiều chuộng chồng từ miếng ăn, giấc ngủ, không  được làm trái ý chồng”, nên dù bất mãn chuyện gì em cũng làm thinh chịu đựng. Chẳng hạn trong năm nay, đây là lần thứ ba Bối về Việt Nam, nhưng không bao giờ anh ấy nói với em.

Chỉ một ngày, trước khi lên đường, Bối mới bảo em sắp xếp hành trang cho anh. Ðiều này làm em cảm thấy bị tổn thương. Và khi em đặt câu hỏi thì Bối quát tháo một cách giận dữ. Em không muốn cãi vã, nên cố gắng nhịn nhục, và suốt thời gian Bối vắng nhà, em sống trong tâm trạng ngờ vực, buồn bã, chán nản. Chán nản đến nỗi không muốn nhìn vào gương, để khỏi phải nhìn thấy mình trong đó với khuôn mặt nhợt nhạt, tóc tai lùi xùi được cột túm lại bằng một sợi dây thun màu xám xịt.

Cho đến khi đi theo Việt Hằng, nghe chị nói chuyện về đề tài “Ý chí vượt qua số phận” và ngưỡng mộ chị, một  người phụ nữ  xinh đẹp, mạnh mẽ, tự tin. Chính chị đã làm cho em thức tỉnh để nhận ra mình đã đánh mất bản thân kể từ ngày lấy chồng. Rồi em nhớ đến câu nói của Bối như dao cứa mỗi khi em muốn mua một món trang sức hay một chiếc áo đắt tiền “Ðồ ra đồ, người ra người.

Những thứ này chỉ tổ tốn tiền, chứ không làm cho em sang trọng và đẹp đẽ hơn đâu”. Câu nói cay độc đó nhận chìm em trong mặc cảm thân phận. Ngược lại, cũng bằng một câu nói, nhưng chị  đã  đánh thức em sau cơn ngủ mê “Toàn rất thích khuôn mặt của em. Thật ra, mắt, mũi, miệng của em không có gì đặc biệt, nhưng nó lại kết hợp hài hòa để tạo thành một nét rất lạ. Hôm nào, ghé qua trung tâm thẩm mỹ của Toàn đi, Toàn sẽ trang điểm cho, để em nhìn thấy nét độc đáo của mình”.

Thú thật, em không tin lời chị, nhưng  vì tò mò nên em muốn thử. Và sau những đêm soi mình trong bóng đêm với những phân vân, ngần ngại, em quyết định làm một cuộc cách mạng. Quả thật, em không dám tin người phụ nữ xinh đẹp với mái tóc được cắt tỉa khéo léo, với khuôn mặt trang điểm sắc sảo, với chiếc áo đầm ngắn, màu hồng đậm, bó sát thân hình thon thả để lộ cặp chân dài thẳng tắp trong tấm gương trước mặt chính là em.

Thật là một sự thay đổi tuyệt vời.  Có đôi lúc, em hoang mang tự hỏi, sự thay hình, đổi dạng này có quá đáng không? Nhưng em lại nhớ lời chị nói, làm đẹp bản thân không đồng nghĩa với  việc đánh mất đạo đức. Làm đẹp bản thân nhưng vẫn làm tròn trách nhiệm người vợ, chăm sóc chồng con chu đáo thì đó là cách giữ gìn hạnh phúc gia đình tuyệt hảo nhất.

Chị Bích Toàn nheo mắt cười đắc ý:

– Trời! Không ngờ cô học trò của tôi thuộc bài làu làu.Nhưng khoan đã, phải chờ xem kết quả có xảy ra đúng như Toàn dự đoán không rồi hãy khen. Bây giờ, hãy vào trong thử bộ quần áo này rồi hai chị em mình ra phố dung dăng, dung dẻ cho thiên hạ lé mắt chơi.

Tôi bước theo chị Bích Toàn mà trong đầu vẫn nhớ như in lời khuyên bảo của chị  sau khi nghe tôi bộc lộ niềm tâm sự “Em hãy nhớ,  mình làm đẹp là cho chính mình, chứ không vì ai hết, nên phải bỏ ngoài tai cái luận điệu cũ rích, có chồng rồi còn muốn ai nhìn nữa mà diện. Bởi vì, khi biết mình đẹp, em sẽ cảm thấy tự tin hơn.

Ðó cũng là một trong những phương cách giữ chồng. Ðiều quan trọng là đừng để cho người đàn ông của em nhìn thấy em lụy vì tình. Em phải xác định rõ ràng, tôi yêu anh và có thể hy sinh tất cả vì anh, nhưng tôi sẽ không lụy vì anh, nếu anh không biết xem trọng tình nghĩa vợ chồng.

Một mai, có lâm vào hoàn cảnh bất hạnh, đừng ôm gối khóc thầm mà hãy đứng dậy, chưng diện thật đẹp, lái xe ra phố nhìn thiên hạ, để thấy trong thiên hạ cũng có người dừng lại ngắm mình, tức khắc nỗi buồn sẽ biến mất.  Ðừng tự đày đọa khi mình đã bị người khác đày đọa. Hãy thử suy nghĩ theo cách nghĩ của Toàn. Biết đâu, em sẽ khám phá ra chính con người của mình có những ưu điểm mà mình không biết hoặc bỏ quên.

Và tôi đã tin chị Bích Toàn như một tín đồ ngoan đạo. Tôi theo chị đi khắp nơi để xem trình diễn thời trang, dự những lớp dạy trang điểm, học cách đi, cách đứng, cách giao tiếp để trở thành người phụ nữ duyên dáng. Những khám phá mỗi ngày cho tôi niềm vui và sự tự tin đến nỗi tôi đã từng nghĩ, nếu một ngày nào đó Bối nói với tôi “Anh muốn ly dị”, như bạn bè đã từng hù dọa tôi, mỗi lần nghe tin Bối về Việt Nam một mình, tôi sẽ bình tĩnh trả lời với nụ cười thản nhiên, lạnh lùng “Nếu anh thật sự muốn điều đó, ngay bây giờ mình có thể đến văn phòng luật sư”.

Tôi không hình dung được thái độ của Bối, nhưng trong lòng lại cảm thấy nhẹ nhàng chứ không nặng nề, lo âu như trước kia.

 

Ðúng như chị Bích Toàn quả quyết, Bối trở về nhà sớm hai tuần chứ không phải một tuần như đã nói. Nhờ chuẩn bị tinh thần trước, nên tôi không chút bối rối khi thấy Bối ngồi xem TV nơi phòng ăn, lúc vừa bước vào nhà.

– Ồ! Anh về sớm sao không báo trước để em đi đón?

Tôi tựa lưng vào bàn, hai chân bắt chéo, một tay khoanh trước ngực, một tay cầm ly nước đưa lên môi. Ðôi mắt Bối không rời khỏi tôi, người vợ đã chung sống hơn năm năm mà giờ đây – có lẽ – anh cảm thấy lạ lẫm với ngoại hình quá mới mẻ.

– Vì anh muốn dành cho em sự bất ngờ.

Dọn một nụ cười duyên dáng, tôi nheo mắt:

– Bất ngờ cho anh hay bất ngờ cho em?

Bằng ánh mắt nghiêm nghị, Bối hỏi tôi:

– Sao em đổi việc làm mà không hỏi qua ý kiến của anh?

Tôi ngửa mặt nhìn lên trần nhà, nói bằng giọng nhẹ nhàng:

– Vậy! Mấy lần về Việt Nam, có khi nào anh hỏi ý kiến của em không?  Ðừng lặp lại câu nói “em là vợ hay là mẹ mà muốn kiểm soát tôi”. Xưa như trái đất rồi anh ơi!

Bối tái mặt, hỏi gằn:

– Em muốn trả đũa anh?

Tôi vẫn ngọt ngào với nụ cười tươi:

– Không phải trả đũa mà là “thực thi sự công bằng”.

Khác với sự tưởng tượng của tôi, Bối không nổi giận như vẫn làm như thế mỗi khi có điều gì không hài lòng. Anh đổi thái độ mềm mỏng:

– Ðúng như bạn anh nói. Em thay đổi nhiều. Phải công nhận, bây giờ em rất đẹp.

Tôi đoán không sai khi Bối đặt câu hỏi về việc làm mới của tôi trong lần gọi điện thoại về, trong khi tôi chưa hề nói với anh về sự thay đổi đó. Ngoài người bạn đã từng chắc lưỡi báo động “kiểu này chắc tiêu thằng Bối” trong bữa tiệc hôm nọ còn ai nữa. Tôi mỉm cười khoan khoái, không những không trách móc, mà còn thầm cám ơn anh ta.

– Lúc này em chịu khó ăn diện ghê!

Tôi nhìn thẳng vào mắt Bối, nói rõ ràng từng câu, từng chữ:

– Bấy lâu nay em hà tiện, không dám mua, không dám sắm cho bản thân mình, trong khi anh lấy tiền về Việt Nam vung vít, tiêu pha cho người khác. Nghĩ lại, em thấy mình thật dại, nên bây giờ em phải “thực thi sự công bằng”.

– Anh không xài tiền cho ai hết. Anh cũng không làm điều gì có lỗi với em. Chỉ là anh muốn gặp gỡ,  vui chơi với đám bạn cũ.

Cái lối phủ nhận quyết liệt, đỏ mặt tía tai, theo thói quen mỗi khi bị ai gán cho Bối những việc anh không làm, nên tôi tin là anh nói thật, nhưng vẫn cứng giọng:

– Chuyện anh làm chỉ có anh biết. Chưa chắc mẹ và các chị bên nhà biết  được, còn em thì lại càng mù tịt. Nói thật, bây giờ em không tin ai hết mà chỉ tin chính mình và sống cho mình. Em sẽ làm những gì em muốn và thích, như anh đã từng làm như thế. Ðó là em đang “thực thi sự công bằng”.

Bối nhìn tôi với một chút bàng hoàng. Vẻ hung hãn thường ngày bỗng dưng biến mất, Bối nhìn tôi một cách e dè.

Cũng từ ngày ấy, Bối đối xử với tôi mềm mỏng hơn, lịch sự hơn. Tôi không hiểu trong đầu Bối suy nghĩ gì khi đôi lần tình cờ bắt gặp anh đang ngắm tôi bằng ánh mắt dịu dàng, ẩn chứa sự hài lòng trong đó.

Có lần, tôi nghe Bối trả lời cho người bạn gọi sang từ Việt Nam “Chắc không về được đâu. Ði hoài có ngày mất vợ mày ơi!”. Chị Bích Toàn cười giòn trên điện thoại khi nghe tôi kể lại.

– Toàn đã bảo rồi mà, theo tình tình bỏ, bỏ tình tình theo. Bây giờ  em đã tin chưa?

 

Ngân Bình

Hình minh họa-Internet

Ngọc Lan sưu tầm

 

 

Xem thêm...

CHÉN NƯỚC MẮM VÀ BAO VẢI BỘT MÌ

CHÉN NƯỚC MẮM VÀ BAO VẢI BỘT MÌ

Trần Mộng Tú

 

Sang Mỹ cả gần bốn mươi năm rồi, thế mà mỗi lần dọn cơm lên bàn cho chồng con tôi vẫn lúng túng với chén nước mắm. Hôm nay có cần không? Bao giờ nhìn bữa ăn dọn ra, cũng chần chừ giữa có và không một phút. Cuối cùng thế nào cũng phải rót một chút nước mắm vào cái chén nhỏ, đặt giữa bàn.

Có khi suốt bữa ăn không ai chấm vào, nhưng không có nó, hình như bữa ăn chưa gọi được là hoàn tất. Dù sau này các con đã ra riêng, chỉ có hai vợ chồng, đã bỏ thói quen ăn mặn, thế mà chén nước mắm vẫn luôn luôn hiện diện trong bữa ăn.

Thập niên đầu, khi các con còn nhỏ chưa dùng nước mắm chấm trong bữa ăn thì tôi còn cha mẹ. Cha mẹ ăn cơm bao giờ cũng có chén nước mắm, chanh, ớt để bên cạnh như một thói quen, một điều ắt có như cái bát, đôi đũa vậy. Dù bất cứ hôm đó ăn món gì, có cần đến nước mắm chấm hay không?

Rót chút nước mắm ra cái chén nhỏ, mùi thơm mằn mặn bốc lên, như ngửi thấy cả quê nhà, sao mà nó gợi tình, gợi cảnh thế, nó Việt Nam quá đỗi. Không có chén nước mắm, bữa ăn không gọi là đầy đủ được và lại càng không phải bữa ăn của một gia đình Việt Nam. Đĩa thịt, đĩa cá, bát canh, đĩa xào, bầy đầy bàn. Nhìn đi, nhìn lại, vẫn như thiêu thiếu một cái gì? À, thì ra thiếu chén nước mắm. Thế là chưa ngồi xuống ghế được.

Ai đó cất tiếng:
- Chưa có nước mắm.
- Hôm nay, có món nào cần chấm đâu.
- Sao lại không, cứ mang nước mắm ra đây, thế nào cũng cần đến.

Thế là người đi tìm chén rót nước mắm, người đi kiếm chanh ớt đem ra. Chưa có chén nước mắm, bữa ăn chưa bắt đầu. Chén nước mắm sao mà quan trọng thế!

Trong những truyện viết về quê nhà nghèo khổ, bao giờ mâm cơm nhà nghèo, không có thịt cá gì, cũng được tả bằng chén nước mắm để cạnh đĩa rau cho cả nhà cùng chấm vào ăn với cơm hẩm. Chén nước mắm là phần bổ dưỡng nhất cho cả nhà vì nó có chất đạm từ cá. Nó giúp cho miếng rau trở nên đậm đà để miếng cơm hẩm dễ ăn hơn.

Chén nước mắm đó nhiều khi được chắt ra từ một cái tĩnh nước mắm đặt ở trong bếp, hay ngoài mái hiên nhà. Tĩnh nước mắm mẹ làm bằng những con cá cha đánh lưới đem về. Những con cá nhỏ sót lại sau khi đã lựa những con cá lớn mang ra chợ bán để mua gạo, mua vải may quần áo, mua thuốc đề phòng ốm đau.

 

Đôi khi chén nước mắm đó là chén cuối cùng làm ra từ những con cá cha đem về. Vì lần đi biển vừa qua cha đã không trở lại bờ nữa. Cả nhà chấm chung chén nước mắm đó thì làm sao mà quên được. Nếu một người nào đó trong gia đình, thoát được cảnh cơ hàn, có đời sống khá giả hơn, ăn những món ngon hơn, chắc đôi khi hồi tưởng lại, khó lòng mà quên được cái chén nước mắm ngày xa xưa đó. Những giọt nước mắm thơm và mặn như những giọt lệ.

Sống đời văn minh, phú quý nên sinh lễ nghĩa. Bây giờ trong gia đình ăn cơm chung với nhau, rất nhiều nhà không còn chấm chung một chén nước mắm nữa. Không biết từ bao giờ, người ta nhiễm thói quen, chén nước mắm của ai người đó chấm, chấm chung không lịch sự, không vệ sinh dù là giữa những người trong một gia đình. 

Từ chỗ riêng tư này chén nước mắm thành ra lạc lõng, nó không được đặt ở giữa bữa ăn nữa, nó mất hẳn cái đia vị quan trọng cho bữa ăn của cả gia đình. Chấm chung một chén nước mắm mới thấy cái ấm cúng, cái tình chia sẻ trong bữa ăn.


Chỉ có mâm cơm của người Việt mới có chén nước mắm. Nói không ngoa, chén nước mắm nhất định góp phần làm nên văn hóa ẩm thực Việt Nam. 

Từ chuyện ăn sang đến chuyện ngủ. Tôi nhớ ở quê nhà, anh, chị, em, trai gái, lên bốn, lên năm, thường được ngủ chung với nhau, có khi đến bảy, tám tuổi vẫn ngủ chung giường. Gia đình khá giả một chút thì có phòng riêng cho con trai, con gái, nhưng vẫn không có chuyện mỗi người một giường.

Với gia đình nghèo, khi còn bé, anh chị em đều nằm chung giường không phân biệt trai gái. Nghèo hơn nữa thì cả cha mẹ và con cái nằm chen chúc ngủ với nhau trên một cái giường trong gian nhà một phòng. Mùa hè quạt cho nhau, mùa đông ủ hơi ấm cho nhau. Chuyện ngủ như thế thì chuyện ăn, chấm chung môt chén nước mắm là lẽ đương nhiên.

Những cô cậu của thời chấm chung chén nước mắm, anh chị em nằm chung một giường này, khi đi xa họ có bao nhiêu điều để nhớ. Nhớ lúc ăn thì phải nhường từ miếng cơm, phải nhịn từ giọt nước chấm. Lúc ngủ chị co người lại nhường chỗ cho em nằm, anh chịu lạnh nhường chăn cho em đắp. Kỷ niệm mặn và ngọt ùa vào đời sống, theo họ mỗi ngày, nhắc họ bổn phận phải bù ngang, đắp dọc, sống sao cho đời sống có ý nghĩa hơn.

Chuyển sang đời sống Âu Mỹ hiện tại, mỗi người phải có một phòng riêng. Nhất là trẻ em, trai và gái, chúng không phải chung phòng. Ngay cả những người xin hưởng trợ cấp nhà cửa, nhà nước cũng xếp cho một căn nhà có đủ phòng cho các em khác phái tính. Các em được học từ nhỏ: Cái này là của tôi, không phải chia với ai cả. Sự riêng tư phải được tôn trọng.


Căn buồng nhỏ của cậu bé hay cô bé là chỗ riêng tư, không ai có quyền được bước vào. Muốn vào, phải gõ cửa, phải xin phép mới được vào. Vào rồi, cũng không được nhìn với cặp mắt kiểm soát. Ngay cả bố mẹ chỉ làm việc này khi con không có mặt ở đó. Khi ăn thì miếng ăn nào đã chạm tay vào là phải cầm lên, không được đặt xuống, miếng nào đã bỏ vào đĩa mình không gắp sang đĩa người khác dù thân đến đâu.

Ăn riêng, ngủ riêng, mỗi con người trưởng thành có một ốc đảo cho riêng mình. 
Có buồn không nhỉ? Có người cho rằng, như thế là dậy đứa trẻ đời sống văn minh, kỷ luật và tự lập. Nhưng đôi khi, sự ích kỷ cũng đi theo nó.

Chẳng biết ở những vùng thôn quê Âu Mỹ, người ta sống thế nào nhỉ. Có cái gì chung đụng mỗi ngày để làm hành trang nhét vào túi trên đường tha hương không? Khi trưởng thành nơi xa lạ, có gì để nhớ?

Có chứ, chồng tôi lớn lên ở nông trại Mỹ, thuộc vùng Dillon bang Montana (1949-1957) Anh kể cho tôi nghe về chuyện đi học.Từ lớp một đến lớp năm học trong một phòng học (One-room school) Mấy nông trại liền nhau chỉ có một cô giáo. Học trò nào may mắn ở trong nông trại có lớp đó tọa lạc thì không phải đi xa, còn những trò ở nông trại khác cũng phải dậy từ sáng tinh mơ để đến trường, học mấy tiếng và khi về thì trời cũng sắp sang chiều. Khi các con lớn lên, nhiều gia đình gửi con ra tỉnh học, hoặc bán trại đi như trường hợp gia đình chồng tôi, vì họ biết là họ sẽ có việc làm ở tỉnh (Mẹ chồng tôi là Trung Úy Y Tá thời Đệ Nhị Thế Chiến).


Những thầy hay cô dạy ở “Một phòng học cho cả trường” đó chắc chắn sẽ được học trò của mình nhớ đến khi họ đi xa, họ đã trưởng thành.


Có khác gì lắm đâu với những lớp học của Thầy Đồ ngày trước ở quê nhà Việt Nam.


Thời Suy Thoái Kinh Tế Thế Giới (Great Depression 1929-1939) những bà mẹ Mỹ ở nông trại đã biết truyền tay nhau những công thức nấu ăn không có muối, làm bánh rất ít đường. Biết mỗi chủ nhật, mọi người mang thức ăn đến nhà thờ ăn chung với nhau để người có nhiều hơn chén đường, muỗng muối chia sẻ cho người không có chút muối, đường nào (Do đó có chữ pot luck).


Những bà mẹ Hoa Kỳ khôn ngoan còn biết dùng bao bột mì, bao thực phẩm gia súc may quần áo cho con mặc đi học. Họ nói người chồng nông phu của mình đòi hỏi nơi bán bột mì, bán thực phẩm cho gia súc phải in hoa vào bao thì họ mới mua. (Nên những xưởng bán thực phẩm đã cho in hoa vào những bao vải). Tiền bạc vào thời kỳ khủng hoảng đó rất khó khăn nên công thương, nông nghiệp phải nhượng bộ với nhau.

Trong cái trường chỉ có một phòng học đó có nhiều em thấy mình mặc quần áo giống bạn (dù không phải là đồng phục) nên các em hiểu thế nào là cùng chung sự thiếu thốn.

Hóa ra ở đâu những nông gia, những người nghèo cũng có những nét đáng yêu trong đời sống khổ cực. 

Đôi lúc làm vườn, nhớ đến quê nhà tôi hay nghêu nghao câu hát: Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói/ Có những cánh đồng cát dài/ Có luỹ tre còm tả tơi/ Ruộng khô có những ông già rách vai/ Cuốc đất bên đàn trẻ gầy/ Có người bừa thay trâu cày/ Làng tôi luôn luôn vương vài đám khói/ Những mái tranh buồn nhớ người/ Xơ xác điêu tàn vì ai/ Nửa đêm thanh vắng không một bóng trai/ Có tiếng o nghèo thở dài/ Vỗ về trẻ thơ bùi ngùi. (Quê nghèo- Phạm Duy)

Đôi lúc tôi nghe chồng tôi kể chuyện nông trại ở quê nhà, ngày còn trẻ, tôi cũng
nhớ đến câu hát của anh học trò nghèo: When I was just a youngster and hardly in my teens/ I went to school on many a day with my faded old blue jeans/ The patches they were many the seat was all thread bare/ But a poor girl didn’t notice and a poor boy didn’t care (Life of a poor boy- E.C McCarty)

Từ chén nước mắm trong mâm cơm Việt Nam đến những chiếc áo may bằng bao bột mì trong nông trại Mỹ là một chặng đường thật xa nhưng cho tôi nhìn thấy cái đẹp của sự chung đụng chia sẻ ở nơi nào cũng giống nhau. Nhất là cái chung trong hoàn cảnh túng nghèo. Cái đẹp đó đi vào văn chương và âm nhạc rung động mình suốt cả một đời.

tmt
Tháng 5/2014

 

Ngọc Lan sưu tầm

Tranh lụa Nguyễn Phan Chánh

sưu tầm từ Internet
 

Bức tranh lụa “L'atelier de broderie” (Xưởng thêu) của họa sĩ Lương Xuân Nhị

Xem thêm...
Theo dõi RSS này