Truyện

Truyện (324)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện Ngắn: Người chồng tốt

Truyện Ngắn: Người chồng tốt

 

Thanh Vân phóng tác

 

Hình minh họa

 

- Phong, hãy trả lời rõ ràng cho em ngay! Tiếng Phượng gắt gỏng ở đầu giây điện thoại- Em chỉ cần hỏi anh một câu, em  muốn anh trả lời ngắn và gọn: Anh đã thay nước hồ bơi chưa? Trả lời ngay cho em đi!

- Phượng, em hãy nghe anh...

- Sáng thứ bảy, nước hồ đã đục lắm rồi, anh đã hứa với em là sẽ thay nó. Hôm nay là thứ ba, anh đã làm chưa?

- Anh nhớ là anh đã hứa với em và anh cũng nhớ hôm nay là thứ ba, và cũng vì vậy mà anh cần nói chuyện với em...

Phong ghé sát miệng vào ống nói và hỏi nho nhỏ:

- Phượng, tối nay.... tối nay Hùng có về nhà cùng em không?

- Có chứ, thì cũng như mọi bận khác.

- Anh hiểu, nhưng chiều nay  ...lại khác.Anh cần nói chuyện với em.Đã lâu lắm rồi....

- Chào anh- Phượng nói và gác ngay máy xuống.

Phong cũng đặt máy xuống theo và đứng im lặng thật lâu trước chiếc điện thoại, chàng đang suy nghĩ thật nhiều, đang đắn đo từng quyết định một."Có chứ, thì cũng như mọi bận...'tiếng Phượng còn dội lại

trong tai chàng.  Khi nào thì chuyện này sẽ chấm dứt đây?

 Chưa bao giờ có một chuyện như vậy   xảy ra trong đời này, thật là chướng mắt và khó tha thứ: Một người đàn bà có chồng đem về nhà mổi tuần ba lần  một ông thầy dạy bơi thật trẻ, nói là để luyện bơi cho nàng nhưng thật ra hai người đã ở ngoài sân hàng giờ trong bóng tối mênh mông của những đêm Hè trong khi Phong ngồi chờ ở phòng khách, lòng ngổn ngang trăm mối , vừa lo sợ vừa hãi hùng vì chàng hiểu những màn học bơi kia chỉ là một hài kịch và hai người đang trêu gan chàng trong bóng tối,

    Phong là một người đàn ông vừa lùn vừa mập lại thêm bệnh hói đầu. "Một tên vô tích sự" Phượng thường phê bình chàng như vậy mặc dù chàng làm vườn rất giỏi và là một thợ hồ khá thiện nghệ. Hầu  như chỉ có một mình chàng xây căn nhà này cho Phượng. Chàng đã trồng cho nàng những khóm hồng tuyệt mỹ và trong căn nhà kiếng nhỏ xíu, chàng đã lập được một vườn hoa Lan thơm ngát quanh năm...cho vợ. Chàng đã xây cho vợ một sân thượng để nàng tắm nắng và một sân tennis cho nàng giải trí. Và sau cùng, năm ngoái, một hồ bơi hình trái tim cho nàng...Tất cả đều dành cho Phượng và... cái thằng trẻ tuổi đẹp trai và xấc láo...."Ông thần khỏe đẹp Vũ Hùng"!

    " Anh xin em Phượng, chiều nay đừng ...."Phong đi qua căn phòng khách và bước ra sân thượng. Đêm xuống dần, những con dế mèn bắt đầu gáy vang trong đám cỏ tối. Nhiều đám mây đen đang vần vũ trên trời, Phong thầm mong tối nay trời mưa thật  to, như vậy mọi chuyện sẽ được giải quuyết ổn thỏa, Phượng và Hùng sẽ không còn cách nào biểu diễn cảnh học bơi trong bóng tối được.

    Phong bước xuống sân và đi dần ra hồ bơi, chàng đứng lặng ngắm những tia sáng cuối cùng của mặt trời  đang lung linh trên mặt nước hồ xẫm màu. Chàng cố hình dung  những chuyện gì đã xảy ra vào những tối thứ ba, thứ năm, thứ bảy giữa ông thầy dạy bơi trẻ tuổi đẹp trai và bà vợ trẻ của mình. Tất cả những gì chàng thấy được từ trước đến nay từ phòng khách chỉ là những tia nước dội bắn lên và những gì chàng nghe được chỉ là những tiếng reo sảng khoái của Hùng khi hắn ta lộn nhào từ cầu nhảy trên cao xuống nước(lần nào Phượng cũng xuýt xoa khen ngợi"anh ta lộn hai vòng trước khi rơi xuống nước,thật là nguy hiểm và đẹp mắt). Sau đó là tiếng la của nàng "em xuống đây Hùng ơi". Tiếng động của cầu nhảy lại vang lên lần  nữa, nhẹ hơn và tiếng nước dội lại cũng bé hơn nhiều. Sau đó là sự im lặng nặng nề, đồng loã, một sự im lặng dài lê thê...

"Chúng nó làm gì dưới  mặt nước phẳng lặn và tối đen kia"Lần nào Phong cũng tự hỏi. "Anh ta dạy tôi bơi ngửa" hay" Chúng tôi bơi dưới nước" Phương thường trả lời những thắc mắc của Phong bằng giọng nói và nụ cười diểu cợt. Nhưng thật ra chúng nó làm gì? Tại sao Hùng lại bị vết cào ở trên lồng ngực nẩy nở của anh ta và tại sao có lần Phong thấy một dấu bầm đỏ trên cằm của Hùng? Nhưng tệ hại hơn cả là tại sao Phong, ừ chính chàng, không có cái can đảm, cái quyền làm chồng để ngăn chận sự đó, hay ít nhất chàng cũng phải ra hồ bơi để xem một lần sự gì đã thật sự xảy ra giữa vợ anh và tên Hùng kia?

Ồ đúng thật, Phong không có can đảm làm các việc đó  nên chàng đã định bụng từ lâu là sẽ  mắc một dàn đèn quanh hồ bơi, như vậy chàng có thể nhìn thấy hai người kia một cách  thật rõ ràng từ phòng khách.

"Ai cũng soi sáng hồ bơi của  họ cả" chàng nói với vợ và tiếp"Anh thấy như vậy thật đẹp và thật lịch sự". Phương chỉ cười mủi và trả lời ngang ngược:"Anh xây hồ bơi đó cho em, vậy nó thuộc quyền sở hữu của em, và em không muốn có dàn đèn chiếu sáng hồ bơi của em. Chỉ vậy thôi!

" Nhất định là không rồi. Không, chuyện này không phải dành cho em đâu Phượng ơi"! Phong vừa lẩm bảm vừa rời mắt khỏi mặt nước hồ đầy bí ẩn, chàng lắng nghe tiếng động của đêm hè xong trở lại phòng khách. Chàng ngồi xuống và chờ đợi , đắm mình trong những ý nghĩ riêng tư, trong những kỹ niệm...Một thời gian ngắn trôi qua , khi cơn giận và sự đau khổ làm chàng run rẩy cả người, Phong hấp tấp đứng lên, di lại mở ngăn kéo của bàn viết và lôi ra cây súng nhỏ. Đây chỉ là một cây súng do Nhật sản xuất, một kỹ niệm của thời chiến tranh. Kỹ thuật xấu, nòng nhỏ , sự chính xác không được bảo đảm.... nhưng  súng này cũng đủ sức giết một người đàn ông, mặc dù nó còn trẻ, còn sung sức. Súng này cũng có thể kết liểu đời sống một người đàn bà phản bội, lăng loàn....Có tiếng xe hơi vọng lại từ con đường dẫn vào nhà  và Phong vội vã cất ngay khẩu súng lục. Chàng thở phào nhẹ nhỏm vì khỏi tiếp tục nghĩ đến chuyện đó nữa. Mặc dù rất thù ghét Hùng đến có thể giết ngay hắn ta , còn Phượng thì cứ trêu gan chàng mổi ngày mổi nhiều thêm  đến có thể đưa chàng đến chổ loạn trí, nhưng chàng cũng còn đủ sáng suốt để khỏi nạp mình cho pháp luật và sau đó là lên ghế điện bằng một hành động ghen tương mù quáng.

    Cửa ra vào mở rộng, Phượng bước vào. Nàng mặc một áo đầm mỏng màu vàng nhạt khoe đôi tay trần trắng nỏn, mái tóc đen dài bao bọc khuôn mặt tươi trẻ với đôi mắt đen nhánh và cặp môi mọng khêu gợi,no tròn. Sau lưng nàng là Vũ Hùng, cao lớn với mái tóc hớt cao, dợn sóng, đa tình. Hùng mặc một chiếc quần thể thao, một áo thun ôm sát  người và một áo khoác ngoài màu sắc thật chói  chang mà chỉ có những người biết mình đẹp trai mới dám măc một cách thoải mái.

    - Anh thừa biết hôm nay là thứ ba và nước đã đục ngàu từ hôm thứ bảy -Phượng cau có nói với chồng- vậy thì cần gì phải làm to chuyện trong điện thoại như vậy....

    -Anh không làm to chuyện đâu cưng...

    -Vậy cái gì mà cứ  lảm nhảm trong máy?

    - Tại anh ước ao rằng .... có thể một hôm.... em sẽ về nhà một mình..

    -Vậy thì không có em rồi! Và em cũng xin anh đừng ăn nói như vậy trước mặt Hùng.

Phượng bỏ đi thay áo trong khi Hùng nói với Phong:

    -Tôi thừa biết là ông không có cảm tình với tôi nhưng nếu ông chịu nhìn nhận là tôi đã dạy bơi không công cho vợ ông....

Nói tới đây Hùng cười lớn, một cái cười đầy nam tính , trêu chọc, thách đố, xong chàng xoay lưng lại nói lớn:

    -Anh cá với em là anh sẽ xong trước đó Phượng ơi!

Nói xong chàng ra khỏi phòng.

Phong chờ đợi. Tiếng dế mèn vọng lại, yếu ớt, xa xăm....Ngăn kéo bàn viết vẫn còn mở, như vậy nếu chàng muốn  , nếu chàng bắt buộc phải làm, chàng vẫn có thể rút súng ra: Đừng bắt anh phải hành động như vậy Phượng ơi. Anh xin em,đừng bắt anh phải xuống tay "Phong nghĩ thầm".

Một phút sau Hùng bước ra.Như thường lệ, anh ta mặc một quần tắm màu đỏ dính sát vào người. "Như một pho tượng sống, Phong nghĩ thầm, một pho tượng thật nẩy nở với màu da rám nắng, những bắp thịt cứng ngắt và vô tri như đá vậy.

    Hùng chẳng thèm nhìn đến Phong, anh ta hét lớn:"Phượng, xong chưa?". Rồi bỗng nhiên anh ta chống hai tay xuống đất, hai chân đưa thẳng lên trời, rồi trong tư thế đó, anh ta đi khắp phòng khách một lúc thật lâu."Hắn tưởng đâu hắn đang ở nhà hắn chắc! Phong nghĩ thầm và hấp háy đôi mắt , chàng nghĩ nếu chàng muốn bắn vào đầu của Vũ Hùng đang ở dưới đất không biết có dễ dàng không?Chàng ngắm nghía rồi kết luận là phía đằng sau đầu, nơi cái gáy, có lẽ là mục tiêu dễ nhắm hơn.

    Phượng bước vào, nàng mặc chiếc áo tắm hai mảnh màu trắng để lộ những đường cong thật gợi cảm. Thấy Hùng nàng bật cười:

    -Trời ơi Hùng, sao anh giống trẻ con vậy?

Vũ Hùng vẫn giữ nguyên tư thế cũ trả lời:

    -Anh chỉ dãn gân cốt một tý để chút nữa làm những việc khác hấp dẫn hơn.

Phong chú ý đến cái nhìn đắm đuối của Phượng trên thân thể Hùng, đôi môi nàng hé mở, mọng nước, tham lam....

Chợt Vũ Hùng lộn người lại, nhìn Phượng bằng đôi mắt tán thưởng và thèm muốn, đầy hứa hẹn xong chạy nhanh ra ngoài. Phượng sửa soạn nối gót Hùng  nhưng Phong gọi giật lại:

    -Em, cưng ơi...

Phượng nhét những cọng tóc còn ở ngoài vào trong chiếc nón tắm màu trắng, nàng đứng một chân trông thật gợi cảm, chân kia giơ cao lên khỏi mặt đất. Điệu bộ duyên dáng của nàng nhắc lại cho Phong thời gian hai người, cái thời chưa cưới nhau, thuở mà Phượng đã thề thốt và hứa hẹn   với chàng thật nhiều điều mà nàng chẳng có ý định giữ lời chút nào hết.

    _ Anh xin em Phượng, đừng để anh ngồi một mình đêm nay...

Phượng bật cười. Ngoài kia có tiếng  rung rinh của cầu nhảy dưới những động tác thể thao của Vũ Hùng.

    _ Anh xin em, Phong năn nĩ. Anh xin em một lần thôi! Anh chắc là trời sắp mưa rồi....

    _ Không, trời sẽ không mưa đâu!

    _ Em hảy nghe đây, em hảy ngồi xuống một chút đi.ít nhất cũng một phút thôi....

    _ Cũng có thể lắm nếu anh biết bơi....Phương ngạo mạn trả lời.Nếu anh không cục súc như hòn gạch, không mập ú như con heo, không quá già, có thể chơi tennis và nhất là còn làm được bổn phận của người đàn ông...

    _ Nhưng anh cũng biết làm khối chuyện! Phong phản đối. Anh biết trồng hoa, biết xây nhà cửa. Tất cả chỉ vì anh lớn tuổi hơn Vũ Hùng mà thôi. Người đàn ông nào cũng biết tìm cho mình những thú vui khác với những thứ em kể.

    _ Anh chỉ là một ông già lẩm cẩm! Phượng khinh bỉ trả lời và đi ra ngoài.

Phong đứng phắt dậy và đi theo nàng:

    _ Anh xin em đừng đi, anh van em...

Phượng xoay người lại nhìn chồng, đôi mắt không dấu vẻ khinh thường và bất mãn:

    _Đừng bao giờ năn nỉ em, đừng bao giờ cả...

Tiếng rung chuyển của chiếc cầu nhảy vẫn tiếp tục cho đến khi có tiếng la "Yippy!" quen thuộc của Hùng vọng vào. Anh ta rung chiếc cầu nhảy một lần chót. Một sự im lặng, tiếp theo là tiếng thân hình rơi xuống mặt nước,

    _ Lại thêm một cú  lộn hai vòng thật nguy hiểm. Phong nói trống không...

    _ Tuyệt diệu! Phượng kêu lên. Thật ra Hùng làm cái gì cũng tuyệt cả.

Phượng xoay lưng lại  chỗ Phong đứng và chàng hiểu rằng, mặc những lời năn nỉ, Phượng sẽ không bao giờ nghe lời chàng và sẽ ra với Hùng như nàng đã từng làm tuần này qua tuần khác. Chàng lắng nghe, ngoài hồ bơi  thật im lặng và cả nghìn câu hỏi lại trở về ám ảnh chàng. Phong hiểu rằng chàng không thể nào chịu đựng thêm sự đó nữa.

    _ Phượng, chàng gọi bằng một giọng cáu kỉnh và rút khẩu súng từ ngăn kéo ra, chàng chỉa ngay vào mình vợ.

Phương hơi nghiêng người lại, thấy khẩu súng bèn xoay hẳn người đối diện với chồng:

    _ Đừng bao giờ nên đùa với súng cưng ơi! Nhiều khi nó cũng có thể nguy hiểm đó. -Nàng nói trong khi một nụ cười chế nhạo nở trên môi.

    Bàn tay Phong run lên. Hai mắt chàng ngắm kỹ chỗ da trắng ở giữa hai mảnh áo tắm. Chàng nghĩ thầm  nếu chàng ấn tay vào cò súng, một lổ nhỏ đầy máu sẽ hiện ra trên nền da mịn màng đẹp đẽ đó.

Phong nhắm chặt mắt lại xong mở ra ngay. Giọng chàng run rẩy:

    _ Phượng, anh đã xin em, đã năn nỉ em. Bây giờ thì anh đe dọa em  đây, đừng ra bơi tối nay...

Phượng lại mỉm cười:

    _ Anh có thể cho biết tại sao tối nay lại quan trọng như vậy?

    _ Phượng, em hiểu cho anh...chuyện nó đến từ từ, châm chạp cho đến khi người đàn ông nghĩ là không còn thể chịu đựng nữa.

    _ Ồ anh đừng lo, em biết là anh còn chịu đựng được nữa mà!

    _ Phượng, anh thề với em, nếu em bước thêm một bước nữa để đi ra ngoài anh sẽ...anh sẽ...

    Anh sẽ làm gì hở cưng?

    _ Anh sẽ giết em!

Đôi mắt của Phượng nhíu lại một phút để ngắm chồng. Xong nàng nổi lên cười, một cái cười cao ngạo không chứa đựng một sự sợ hãi nào.

    _ Anh muốn biết sự thật không anh Phong? Vậy thì để em nói cho nghe:Thà em chết ngay còn hơn là gần anh thêm một phút nữa.

Phong hạ nòng súng xuống:

    _ Em mê nó đến thế à?

    -Vâng đến thế đó! Phượng vừa cười vừa lùi ra phía cửa.

Khẩu súng lắc lư vô dụng trong tay Phong. Chàng hiểu rằng những lời hăm dọa của chàng  đã chẳng đem lại kết quả gì. Thật tình chàng đã cố gắng. Phong nghĩ thầm như vậy khi nghe tiếng cười nho nhỏ của vợ vọng vào, tiếng chân trần của nàng chạy trên nền xi măng để đi đến hồ bơi.

    - Em tới đây Hùng ơi! Hảy nhìn em đây này!

Có tiếng rung nhẹ của cầu nhảy xong tiếng nước bắn lên cao..... và rồi là sự im lặng đồng lõa mà tiếng dế mèn gáy trong đêm  làm tăng thêm phần bí mật đến độ làm cho Phong không thể nào chịu đựng thêm nữa....

Chàng đứng lên, để cây súng vào lại ngăn kéo và từ từ tiến ra hồ bơi. Hai chân chàng run rẩy như muốn xụm xuống và mồ hôi toát ra đầy người.Chàng dừng lại nghe ngóng, xong đi nhanh lại cạnh họ. Sự này chưa bao giờ chàng dám làm vì trong quá khứ chưa bao giờ chàng dám khuấy động sự thân mật của vợ chàng và Vũ Hùng. Tối nay tất cả đều khác hẳn. Tất cả đều được chàng giải bày . Chàng năn nỉ, chàng đã đe dọa  nhưng tất cả đều vô ích. Phượng đã lựa chọn Vũ Hùng , nàng bằng lòng chết còn hơn ở lại với chàng.

   "Phượng, chàng thầm thì, Phượng ơi...Giờ thì chàng phải làm một công việc cuối cùng. Chàng đứng sững sờ trong sự im lặng đã từng làm chàng đau đớn xong đưa mắt nhìn xuống hồ bơi đang bị bóng tối bao trùm.Thoạt đầu chàng chẳng nhận thấy gì ngoài mặt nước đen ngòm trong một màn đêm còn tối đen hơn nữa. Một vài phút sau, khi mắt đã quen với bóng tối, chàng thấy hai xác người nổi lềnh bềnh...

Phong thụt lùi. Chàng không đủ can đảm nhìn tiếp. Một tiếng nấc nghẹn ngào trong cổ họng chàng phát ra và Phong loạng choạng đi về lại phòng khách, chàng không còn giữ ý cho không có tiếng động. Phượng và Vũ Hùng đã vĩnh viễn có nhau và đâu thèm để ý đến chàng nữa.

Phong ngồi phịch xuống chiếc ghế bành ở phòng khách. Sự im lặng nặng nề thêm . Những con dế tiếp tục gáy và chàng tiếp tục chờ đợi. Chàng chờ đợi... chờ đợi  ..   run rẩy, mình toát đầy mồ hôi, chàng cảm thấy toàn thân như bị nhuốm bệnh, xong đến khi không còn chịu đựng được nữa, sự im lặng làm đầu óc chàng như muốn nổ tung lên, chàng nặng nề đứng dậy và lê chân đến máy điện thoại. Những ngón tay run rẩy bắt đầu bấm số   và lúc đầu Phong không làm sao nói được nên lời. Sau cùng với tất cả sự cố gắng, chàng đã bắt đầu nói được , chàng lắp bắp và nói không đầu không đuôi gì cả.

    _ Trời ơi, tôi đã hết sức cố gắng, đã làm hết sức tôi....nhưng đã quá muộn, ông hiểu không.. Tôi muốn nói, tôi có ý định gắn  một dàn đèn quanh hồ bơi nhưng vợ tôi không chịu. Tôi đã  xả nước hồ bơi như nàng mong muốn, nhưng nước bơm vào chưa xong, chỉ mới có một vài tấc thôi, ông hiểu không chỉ có một vài tấc  mà thôi, đêm thì tối đen  và họ không biết gì về chuyện đó cả....

Người trung sĩ cảnh sát nói sẽ cho một xe cứu thương và một xe tuần tiểu tới ngay  rồi nói tiếp"

    _ Ông đừng tự trách mình nữa ông Phong ạ.Ông không có lỗi gì, đây chỉ là một tai nạn , ông hoàn toàn không có lỗi gì cả.

    _ Cám ơn ông- Phong nức nở trả lời.

Chàng đặt điện thoại xuống và ngồi im lìm thật lâu, xong lấy hai tay bưng mặt, chàng khóc không ngừng, chàng nhớ đã làm tất cả để cứu nàng... Tất cả những cái gì mà một người đàn ông yêu vợ có thể làm được. Chàng đã binh vực cho mình, đã năn nỉ, đã dọa nạt, đã van xin nàng nhưng nàng đã muốn chọn Hùng. Chết đối với nàng còn hơn ở lại với chàng. Vậy thì Phong không được trách móc mình nữa ... Chàng không bao giờ được nghĩ là mình đã giết vợ, đã làm một điếu gì ghê tởm....

    Phương đã lựa chọn theo Hùng, còn Phong chàng hoàn toàn vô tội. Từ khi lấy Phượng, chàng đã chiều chuộng, đã tôn thờ nàng, vậy chàng phải luôn luôn nghĩ rằng chàng là Một Người Chồng Tốt.

 

 

                             

Hồng Anh sưu tầm                       

 

 

Xem thêm...

CHUYỆN TÌNH TRÊN PHÁ TAM GIANG

CHUYỆN TÌNH TRÊN PHÁ TAM GIANG

Truyện Ngắn của Nguyễn An Bình

Chiều trên Phá Tam Giang. Hình Internet

Du tắt máy cho thuyền của minh tiến từ từ vào khoảng nước trống dành cho chỗ họp chợ mỗi ngày, rồi dùng mái chèo bơi nhẹ vào khu chợ nổi. Đã gần 4 giờ sáng một vùng đầm phá Tam Giang còn chìm trong bóng đêm bỗng sáng dần lên từ những ánh đèn pin. Ánh đèn pin từ tám hướng đổ về theo sự di chuyển của hàng trăm chiếc thuyền bé nhỏ rải rác khắp nơi. Rồi những chiếc thuyền ấy tiến đến gần nhau khiến ánh đèn chụm lại, tạo nên một điểm sáng lớn giữa mênh mông sông nước.

Đó là cảnh họp chợ tại chợ nổi thôn Mỹ Thạnh khi chúng ta quan sát từ trong bờ. Trên đầm phá, tiếng mái chèo khua nước, tiếng gọi bạn í ới, tiếng cười đùa của các ngư dân rộn ràng khi gặp nhau. Không ai biết cái chợ nổi Mỹ Thạnh có từ bao giờ, Du chỉ biết từ nhỏ đã theo ba mạ đi bán tôm cá đánh bắt được trên đầm phá là đã thấy nó rồi. Ngày trước nó chỉ là nơi họp chợ của dân trong làng trong việc mua bán trao đổi thủy hải sản.

Bây giờ cái chợ nổi nầy là nơi họp chợ của cả một vùng đầm phá vì sự lâu đời và sự di chuyển thuận tiện của nó. Khi bóng đêm còn chưa tan hết, chợ đã bắt đầu đón nhận những ghe thuyền của người dân sống bằng nghề sông nước sau một đêm đánh bắt vất vả đổ về đây và thương lái cũng chờ đón để mua. Cuộc mua bán diễn ra nhanh chóng khoảng một hai giờ rồi tan.

Người bán muốn bán nhanh để về nhà thu xếp ngư cụ, công việc gia đình, ngủ một giấc để chuẩn bị cho buổi đánh bắt ngày hôm sau, còn người mua hay thương lái cũng muốn mua nhanh để kịp phiên chợ sáng của chợ huyện, chợ lớn thành phố, nếu họp chợ quá lâu tôm cá sẽ không còn tươi ngon nữa hoặc lỡ cả một phiên chợ không bán được. Cả một khoảng sông nước sáng lên từ những ánh đèn pin như thế xen lấn trong tiếng ồn ào làm cho chợ nổi càng lúc càng thêm đông đúc, náo nhiệt.

Tuy gọi là chợ nhưng đa số ai đến họp chợ ở đây đa số đều biết nhau, biết tên họ, quê quán tuổi tác của nhau khác với những ngôi chợ trên bờ. Ngoài việc mua bán tôm cá thủy hải sản cũng là dịp mọi người thăm hỏi sức khỏe công việc của nhau, thông tin cho nhau những tin tức mà họ nghe được chẳng hạn cái chết thương tâm của hai đứa con ông An đuối nước khi đi bắt nuốc, đám ma của ông Lê được nhiều quan chức đến điếu vì con ông đang có chức quyền cao ở tỉnh…Chính vì thế buổi họp chợ ngoài việc mua bán, trao đổi còn là niềm vui của những người quen biết được gặp nhau.

Cô Nụ một thương lái quen cho chiếc xuồng nhỏ của mình cập mạn thuyền của Du cười bổ bả:

- Thế nào chú Du, đêm qua đánh bắt được nhiều chứ, có gì bán cho tôi nào?

Du cười nhẹ:

- Ít thôi cô ạ nhưng bù lại có mấy con cua nên cũng bù cho một đêm vất vả.

- Cậu đưa đây cho tôi cân nhé.

Nói xong cô Nụ nhanh nhẹn đở lấy cái xô đựng thủy sản từ tay Du, phân loại và lấy cân cân lấy, tính toán rồi lấy tiền trả cho Du, sau đó dùng mái chèo bơi đi. Du hỏi với theo:

- Cô Nụ ơi, có thấy thuyền của Duyên đến họp chợ chưa cô nhỉ?

Vừa bơi thuyền cô Nụ vừa trả lời:

- Chưa thấy bóng dáng cô ấy đâu, chắc một lát nữa đến thôi mà, cậu chờ đi, chưa gì đã nhớ rồi à?

Du còn nghe tiếng cười có vẻ đùa vui của người đàn bà trong gió. Kệ cô ta đi, có gì mà mình phải mắc mớ giấu diếm nhỉ? Trai gái lớn lên yêu nhau là chuyện thường tình mà. Du cười một mình và cảm thấy vui vẻ hạnh phúc. Anh và Duyên từ nhỏ sống cùng thôn, tuy nhà một đứa ở đầu thôn còn một đứa ở gần cuối thôn, cả hai cùng học chung lớp từ tiểu học, lên cấp 2, chưa hết cấp 3 phải bỏ học vì hoàn cảnh. Mỗi ngày đi học cùng về chung một đường, ngày mưa cũng như ngày nắng nên tình cảm cũng tự nhiên mà đến vậy thôi.

Hoàn cảnh mỗi đưa nghỉ học có hơi khác nhau. Năm Du học lớp 10, một hôm ba Du đi giăng lưới ở phá về đột ngột cảm lạnh rồi mất, Du phải nghỉ học thay ba kiếm sống trên phá, còn Duyên học xong lớp 11, mạ cô bỗng dưng bệnh qua đời, ông già buồn tình bỏ bờ xuống nước, suốt ngày ở trên chồ lấy công việc đánh bắt, chăm nom nò sáo nuôi thủy sản để làm vui.

Thương ông già cô đơn, một mình thui thủi sống đơn độc giữa bốn bề sóng nước mênh mông, bệnh tật thất thường ai lo? Duyên đành nghỉ học theo ba ra chồ để sống. Thời gian hai đứa từ đó gặp nhau cũng ít ỏi đi, thường ở phiên chợ sớm nầy thôi nên mặc dù mua bán đã xong Du cũng nấn ná chờ Duyên đến.

Du chèo thuyền len lỏi vào chợ nổi tìm Duyên. Duyên đã thấy thuyền Du từ xa nhưng còn bận xem cân hàng lấy tiền đã, hơn nữa vội gì lên tiếng người ta để ý. Duyên biết khi cân cá xong thế nào Du cũng tìm nàng. Du cho thuyền cập mạn song song với thuyền của Duyên hỏi:

- Cân xong chưa Duyên?

Duyên nhìn anh nói nhẹ:

- Gần xong rồi anh. Anh chờ em một chút nhé.

- Ừ! Thì chờ.

Cả hai cho thuyền thong thả rời chợ nổi, Du cầm một chiếc hộp nhỏ đưa sang cho Duyên nói gọn lỏn:

- Tặng em.

Duyên dừng tay chèo đón lấy:

- Gì vậy anh?

- Đoán đi.

- Không đoán cũng biết. Cái kẹp tóc đúng không?

Du chưng hửng ngạc nhiên:

- Sao đoán hay vậy.

Duyên cười:

- Ông nầy mau quên quá.

- Quên sao?

- Chẳng phải mấy hôm trước anh nói trên nhà chồ gió thổi nhiều lắm, làm tóc Duyên rối hết rồi nhìn coi không đẹp để anh mua cái kẹp tóc cho Duyên.

- Ừ nhỉ. Anh mau quên thật. Còn gói thuốc bánh nầy em đưa cho ba nhé.

Duyên nhìn Du cười cà rởn:

- Cho người ta nói lại đó. Ba của ai nè.

- Thì ba của Duyên.

- Nhưng ai gọi là ba:

- Thì ba của Duyên cũng là… ba của anh mà. Nói chi ngộ hè.

- Cưới con người ta hồi nào mà gọi là ba?

- Trước sau gì cũng gọi là ba. Gọi trước cho quen miệng không được sao?

- Anh khôn thí mồ. Mà anh mua thuốc cho ba hoài, ổng hút càng nhiều càng ho thêm có ích chi mô?

- Người già quen tật khó bỏ được mà, em hiểu cho ba đi. Hơn nữa ở chồ bốn bề lộng gió, lạnh người hút cho ấm mà.

Đến một chỗ rẽ, họ chia tay. Duyên cho thuyền ra phá về chồ, còn Du hướng lên bờ để lo cho một ngày mới đang chờ đợi phía trước. Lòng họ cảm thấy ấm áp một chút vì được gặp nhau dù chỉ là giây phút ngắn ngủi.

 

Từ ngày ba mất, Du phải bỏ học, thay ba kiếm sống trên phá để lo cho mạ và đứa em gái đang tuổi ăn tuổi mặc, con bé lại sắp thi tốt nghiệp nên cũng cần được chăm sóc nhiều hơn. Mạ đôi khi trái gió trở trời lại lăn ra bệnh, tất cả gánh nặng cơm áo Du đều phải cáng đáng lo toan nhưng anh không phiền hà về chuyện đó. Cũng như dân vạn chài, sáng sớm Du đã dong thuyền ra phá để thả lừ bủa lưới, buổi trưa khoảng 2 giờ lúc nầy nước cao, con nước đứng, tôm cá đi ăn nhiều là có thể kéo lừ thu hoạch. Sau đó lại chọn hướng gió thả lừ tiếp, mỗi tay lừ dài khoảng 10m, dân chài nào cũng có vài chục hoặc hàng trăm tay lừ như thế. Đợt thả lừ nầy chờ nửa đêm là kéo lên thu hoạch và đem ra chợ sớm để bán.

Thuở ba Du còn sống, tôm cá còn nhiều giăng lưới thả lừ không đi xa mấy, đánh bắt tôm cá cũng đủ cái ăn cái mặc hằng ngày, tuy không khá giả hơn ai nhưng không phải lo toan nhiều về cuộc sống. Nay tôm cá ngày một ít đi, người ta lại đánh bắt nhiều, có kẻ lại dùng xung điện, lưới cào để tận diệt, tôm cá nào sinh sôi nẩy nở cho kịp để thỏa mãn lòng tham của con người kia chứ, nên muốn đánh bắt được nhiều tôm cá thuyền càng lúc càng phải đi xa bờ hơn nữa.

Hoàn cảnh của gia đình Du đã khổ mà nhiều gia đình trên đầm phá cũng khổ không kém, Có người nghèo đến nỗi không sắm được chiếc thuyền để bủa lưới thả lừ, ngày ngày chỉ biết mò trìa, suốt ngày ngâm mình trong dòng nước lạnh lẻo để bắt trìa cũng chỉ đủ miếng cơm hằng ngày. Đó là chưa nói đến chuyện thời tiết, mấy hôm vừa rồi xảy ra một tai nạn rất thương tâm làm chết cả gia đình.

Anh Hải ở thôn bên đang kéo lừ bỗng cơn dông từ đâu ập đến, sóng duềnh cao làm thuyền lật, anh cố gắng kéo vợ con lên bờ, đuối nước cả gia đình cùng chết, đau đớn hơn thuyền của người mẹ chồng kéo lưới gần đó nghe tiếng người đàn bà kêu cứu nhưng sóng lớn quá không thể nào đến được, chừng biết ra người bị nạn là gia đình con trai mình khóc hết nước mắt. Cũng có người may mắn thoát chết, đó là vợ chồng anh Phiên ở Điền Hải.

Đêm đó thuyền thả lưới gặp sóng to, gió thổi mạnh làm chiếc thuyền dạt ra cửa biển. Hai vự chồng cố gắng chèo chống đở đến kiệt sức cho đến khi thuyền sắp chìm. Họ đánh liều bỏ thuyền cột phao vào người rồi để mặc cho người trôi theo dòng nước. Cũng may sóng đây họ tầp vào đê chắn sóng và họ được một chiếc tàu cá cứu sống. Biết được điều đó, Du cũng không thấy buồn cho hoàn cảnh của mình.

Một buổi sáng, thuyền chú Ba Địa – bạn của ông Bảy, ba Duyên cập vào nhà chồ, chú cột dây, gọi ông Bảy ơi ới rồi cùng ông Bảy đem lên nhà chồ mấy can nước, một số vật dụng cần thiết mà ông Bảy nhờ mua như mắm, muối xà bông, bột ngọt. Từ ngày vợ mất, ông Bảy buồn tình ra chồ sống, ít khi lên bờ. Mấy thứ lặt vặt thường hay nhờ chú Ba Địa lên bờ mua hộ vì chú về nhà trên bờ thường xuyên. Ông Bảy gọi Duyên đem bình rượu thuốc mà ông ngâm để dành khi có bạn đến chơi, Duyên lúi húi ra sau nướng miếng khô cá cho hai ông nhấm rượu. Nhìn theo Duyên chú Ba Địa hỏi ông Bảy:

- Con nhỏ năm nay bao nhiêu rồi anh?

Ông Bảy nhìn ông bạn già của mình:

- Chậc. Ông hỏi tui mới nhớ. Con nhỏ năm nay đã hai hai còn gì. Mới đây mau quá. Mạ nó mất đã năm năm rồi, lúc đó nó mới mười bảy tuổi. Tui bỏ ra đây sống một mình, nó thương tui bỏ học ra đây sống cùng tôi cho tới bây giờ.

- Con gái lớn rồi phải lo dựng vợ gả chồng cho nó đi chớ. Ông không nghe người ta nói có con gái trong nhà như hủ mắm treo đầu giường sao?

Ông Bảy vặn vẹo:

- Chú nầy nói lạ, con mình mình biết chứ. Nó đâu phải như con gái người ta lo ăn diện đâu mà chú lo.

- Tui nghe nói nó với thằng Du con bà năm Nghĩa quen nhau lâu rồi đó.

- Chuyện nầy tui biết. Hai đứa nó sống cùng thôn, từ nhỏ tới lớn học chung lớp chung trường mà. Tính tình thằng Du cũng là đứa hiều hậu tui cũng ưng, mà nói thật hoàn cảnh của nó nghèo quá tui không đành cho con Duyên chịu khổ.

- Ừ! Bạn già với nhau thì tui nói vậy, thàng Du tui cũng chịu chứ con của bà Thu ở nhà hàng bên Cồn Tộc hay thằng con của thằng cha Nhung trưởng công an xã là tui không ưng cái bụng đâu đó.

- Chuyện của gia đình tui mà chú khéo lo. Thôi vô một ly cho ấm bụng cái đã.

Duyên ở bên trong đang trở miếng khô cá, nghe hết. Cô tủm tỉm cười. Cô biết ông Bảy thương cô nên nói vậy thôi. Ngọn lửa trên bếp bập bùng làm hồng thêm má người thiếu nữ, chợt cô giật mình khi nghe tiếng cha gọi:

- Duyên ơi, đang nướng cá à. Có mùi khét rồi đấy. Cái con nầy…

Hoàng hôn trên Phá Nam Giang

Khi chú Ba Địa về rồi, ông Bảy ngồi trầm ngâm một mình,lặng im không nói năng nhưng trong bụng ông nghĩ lung lắm: Duyên năm nay cũng đã hai hai rồi chứ còn nhỏ nhít gì nữa đâu, ở cái xứ đầm phá nầy ngày xưa ở cái tuổi ni đã là đàn bà một nách mấy con rồi chứ có phải sống độc thân như vậy đâu.

Từ ngày vợ mất ông cảm thấy hụt hẩng trong lòng, bỏ ra chồ ở, vui cùng sông nước. Con bè thương cha ra chồ để săn sóc ông bỏ cả ước mơ làm cô giáo của mình. Ông biết thế nên ông thương con bé lắm chứ. Ông cũng biết tình cảm của con gái ông với thằng Du ở đầu thôn, hai đứa học chung quen nhau từ thời để chỏm, tắm còn ở truồng làm gì lão không biết, tánh tình cũng hiền hậu ăn ở tử tế mọi xóm giềng, ông không có gì chê trách nếu Du làm rể ông, nhưng ngặt nổi thằng nầy gia đình nghèo quá, một mình gồng gánh chuyện gia đình, mẹ già ốm yếu ho hen, còn đứa em gái còn đang học hành, gả con gái cho nó liệu con mình có chịu khổ nổi hay không? Hay vài ba bửa lại cắn đắn bỏ nhau thì khổ đời con gái ông tội nghiệp.

Mà có phải con Duyên không ai để ý đến đâu. Bà Thu chủ nhà hàng ở Cồn Tộc, có của ăn của để lại là mối quen biết làm ăn, chuyên thu mua tôm cá nò sáo của gia đình ông nhiều lẩn ướm hỏi Duyên cho con trai bả, mới hôm qua đây thôi chứ có xa xôi gì đâu khi lão đem tôm cá cho nhà hàng bả còn dạm hỏi, nhắc lại nếu ưng con bả thì sau đám cưới bà ta giao lại nhà hàng nầy cho vợ chồng nó, bả rút về Huế lo mấy cửa hàng hải sản ngoài đó.

Lão có lạ gì thằng Quân con bà Thu đâu, nó ỷ gia đình giàu có khá giả, không chịu lo học hành. Học chưa hết lớp mười hai đã bỏ ngang,tối ngày đàn đúm ăn nhậu, phá trời không mời thiên lôi, tuy chưa có tai tiếng gì nhưng ông không ưa ngữ thanh niên ấy, Ông nhớ hôm Duyên đi cùng ông đến nhà hàng để cân cá, nó nhìn con Duyên chăm chú như muốn ăn tươi nuốt sống con bé, Duyên không thích cái nhìn như muốn lột da lột thịt nó nên nó đứng tránh xa ra dù thằng Quân cố tình bắt chuyện, chớt nhã. Lão biết hết chớ, nhưng lão tảng lờ thản nhiên như không biết. Mấy lần sau Duyên ghét không đi theo ba nữa, thằng Quân thấy lạ lân la hỏi ông:

- Ủa! Hôm nay cô Duyên không đi với bác sao?

Ông ầm ừ cho qua chuyện:

- Nó bận rồi.

Thằng Quân nhìn ông như dò hỏi:

- Chắc má con có thưa chuyện hỏi cưới Duyên cho con với bác rồi chứ?

Ông trả lời gọn lỏn:

- Có.

Thằng Quân háo hức:

- Con thật lòng thương Duyên. Rồi bác nghĩ sao?

- Nghĩ sao là nghĩ sao?

- Bác ủng hộ chứ?

- Cậu nầy hỏi lạ? Chuyện ăn ở một đời của nó sao lại hỏi tui, sao cậu không hỏi con Duyên? Nó ưng đâu tui gả đó.

- Bác nói là Duyên ưng ngay mà.

- Tui là cha nó nhưng chuyện nầy là tự nó quyết định cậu ơi.

Ông Bảy biết về làm dâu nhà bà Thu thì Duyên sung sướng đấy, được làm chủ cả người ta, thậm chí muốn gì có nấy, không còn phải ngày đêm sống trên nhà chồ nhỏ bé chật chội, hằng ngày đối mặt với sóng nước mênh mông, vắng người hiu quạnh nhưng biết sống có lâu bền không khi có thằng chồng phá gia chi tử, tối ngày chỉ lo nhậu nhẹt đàn đúm. Lại nữa, còn lão Nhung, trưởng công an xã, mượn cớ đi tuần tra bọn ngư tặc lộng hành thường hay ăn trộm tôm cá của bà con trên đầm phá ghé nhà chồ của ông thường xuyên, mỗi lần có chút rượu vào là lời ra hỏi cưới con Duyên cho thằng con trai thứ của chả.

Lão Nhung tâng bốc thằng con trai thứ lão thấu trời xanh: nào là đẹp trai có phong độ như tài tử ci-nê-ma, nào là sui gia với chả tôm cá trong nò sáo của lão không thằng ăn trộm nào dám sờ mó tới, ông cứ yên tâm ngủ thẳng cẳng…

Ai mà không biết tánh khí thằng con trai lão Nhung: vợ chồng lão chiều chuộng con quá mức nên thằng nhỏ có thèm học hành gì đâu, ham đua đòi ăn diện, mai xe nầy một xe nọ, học chưa xong một nghề để nuôi thân thì lấy gì để nuôi vợ con. Lão chỉ ừ hử cho qua chuyện vì thẳng thừng từ chối thì mích lòng, hơn nữa lão cũng không nở xa con, nó luôn biết ý cha không bao giờ làm ông buồn lòng, nếu ông muốn đám nào chắc nó sẽ nghe theo dù nó không muốn. Thôi thì cứ thư thả đã. Hôm lão Nhung rề rà câu chuyện cưới hỏi, cũng có mặt chú Ba Địa nhà chồ gần đó, chú nói kháy một câu:

- Vậy chớ hôm nọ hồ của nhà ai bị bọn trộm khoắng gần sạch hết mấy trăm ký cua vậy ta?

Lão Nhung chưng hửng mặt quạu quọ:

- Tui mà bắt được bọn ăn trộm cua trong hồ của tui là tui xử liền. Cái thứ không biết kiêng nể ai cả. Chú đừng tưởng tui bỏ qua chuyện đó nghe, tui đang tìm kiếm thủ phạm đó. Còn cái nò sáo của chú đó, khéo mà trông chừng, kẻo nó ra tay thì đừng trách tui không nói trước à nghe.

Rồi chả đứng lên, phủi đit cái phạch, quày quả bước xuống đò nổ máy đi mất. Hai ông già còn ở lại đưa mắt nhìn nhau phá lên cười.

Du cho thuyền ra phá từ lúc nắng chiều đã nhạt. Anh thông thả neo thuyền chổ anh đánh dấu thả lừ buổi trưa. Giờ nầy còn sớm, anh nhìn những sợi nắng còn sót lại trong một ngày sắp tàn rải trên sông một màu đỏ ửng lấp lánh. Anh trông về phía xa, chổ nhà chồ của Duyên mà thấy nhớ và thương cô tha thiết, không biết cô giờ nầy đang làm gì có nhớ anh không?

Tội nghiệp cô, sống thui thủi trên nhà chồ nhỏ bé kia, làm bạn với sóng nước mênh mông bên ông già trầm lặng ít nói, luôn đau đáu nhớ thương người vợ đã mất chắc cô buồn lắm. Chẳng có ai làm bạn để chia sớt nỗi vui buồn. Anh muốn giúp cô thoát khỏi nỗi buồn hiu quạnh kia nhưng anh biết phải làm gì bây giờ, hoàn cảnh của anh chắc cô cũng hiểu, chờ đợi có lẽ là một sự bất công đối với cô, con gái có thì, anh nằm xuống khoang thuyền, lấy bao thuốc rút một điếu gắn lên môi, đốt lửa rồi chợt thở dài buồn hiu.

Đêm đã dần khuya, trời bắt đầu trở gió, từ xa vài tia chớp ngoằn nghoèo rạch những vết chân chim lên bầu trời tối sẩm, Du thầm nghĩ có lẽ khuya nay trời mưa. Anh hy vọng kéo lừ xong trời hãy mưa. Gió bắt đầu thổi, mưa bắt đầu trút nước, sóng lô nhô từng đợt sóng .Cái lạnh như len vào từng thớ thịt của anh. Anh lặng lẽ cắm cúi kéo lừ, trút cá dính trông lồng vào xô.

Bỗng anh nghe trong tiếng gió, có tiếng ai kêu cứu. Anh ngừng tay lắng nghe. Đúng rồi có tiếng người kêu cứu, hình như xuất phát từ nhà chồ của Duyên thì phải. Đúng là tiếng Duyên rồi. Chuyện gì thế. Anh vội buông lừ xuống nước nổ máy. Con thuyền chồm lên sóng, băng băng hướng về phía nhà chồ. Trong giây phút nầy sau Du cảm thấy con thuyền đi sao chậm thế. Tiếng kêu cứu càng lúc càng rõ hơn, đúng là tiếng Duyên:

- Cứu, cứu với. Ai cứu với.

Thuyền anh lướt tới ánh lửa trên nhà chồ mỗi lúc một gần. Trên nhà chồ Duyên đã thấy dáng thuyền của anh. Cô bụm tay nói to giọng như bị tiếng mưa át đi:

- Anh Du ơi cứu ba em với. Bọn trộm cá, bọn trộm cá…

Tiếng cô như nấc nghẹn lại. Du nhìn về phía nò sáo thấy hai chiếc thuyền đang nhầp nhô trên sóng, tiếng ông Bảy hét lên dữ dội:

- Lũ ăn cướp. Bọn bây là một lũ ăn cướp.

Ông đưa chiếc chèo giơ cao đánh vào lũ trộm cá. Một đứa đỡ mái chèo của ông giật mạnh làm ông lúi húi ngã sấp, thuyền chao đảo rồi lật úp. Du giận dữ hét lên một tiếng thật lớn tăng tốc cho thuyền mình đâm thẳng vào mạn thuyền của bọn trộm cá. Chiếc thuyền dạt qua một bên, chao đảo chòng chành như sắp lật. Hoảng hốt hai tên trộm nổ máy cho thuyền chạy ra xa trốn mất. Du vội vàng đỡ lấy ông Bảy người bấy giờ đã mềm nhủn bất động:

- Bác Bảy ơi có sao không? Con là Du đây bác Bảy ơi.

Trên chồ Duyên cũng sợ hãi không kém:

- Anh Du ơi! Ba em có sao không?

Du lính quính:

- Anh cũng không biết nữa. Phải đưa bác đi cấp cứu thôi.

Du đón vội Duyên xuống thuyền rồi nhắm hướng bờ mà lướt tới.

Mấy hôm nay nằm trong trạm xá làm ông Bảy cảm thấy khó chịu, buồn bực không yên. Một phần ông thấy mình bất lực trong việc bảo vệ tài sản của mình. Ai đời có trộm đến nhà chẳng những không bắt được chúng mà còn bị bọn chúng đánh cho bất tỉnh. Một phần mắc cở với Du, thấy mình có lỗi với nó quá. Đáng lý ra mình nên tin tưởng nó hơn, giao con Duyên cho nó sớm hơn nếu lỡ ông có mệnh hệ nào con nhỏ biết nương tựa vào ai. Nếu không nhờ có Du đêm ấy không biết ông có còn sống không? Âu là trời muốn thử lòng ông đây mà. Hàng xóm đến thăm, ai cũng mừng cho ông tai qua nạn khỏi. Thằng cha Nhung cũng đến thăm càm ràm:

- Đã trộm cá còn đánh người tội nặng đây. Phen nầy tui quyết bắt cho được bọn ác ôn nầy. Tui đã nói với ông rồi làm sui gia với tui là bọn chúng không dám đụng tới nò sáo của ông mà.

Thằng cha Nhung đi rồi, chú Ba Địa xí một tiếng rõ to:

- Chả là cái gì mà bọn trộm sợ chứ. Tối ngày chỉ lo tìm cách gài độ ăn nhậu là hay nhất.

Ông Bảy không nói gì, liếc nhìn ra ngoài sân thấy Du và Duyên đang ngồi trên băng đá trò chuyện với nhau, mặt mày đứa nào đưa nấy hình như tươi rỡ. Chắc tụi nó mừng ông sắp xuất viện về nhà đây mà. Mấy hôm nay cực cho chúng nó quá. Mấy ngày ông nằm đây, Duyên phải chầu chực lo cơm nước thuốc thang cho ông, chuyện nò sáo ông giao cho ông bạn già là chú ba Địa coi giùm, còn thằng Du nó cũng lăng xăng chạy tới chạy lui lo lắng cho ông như chính cha ruột của nó không bằng.

Tới bây giờ ông mới cảm thấy mình già rồi, cần có một người đàn ông khỏe mạnh trong nhà để con gái của ông có nơi nương tựa gởi gắm. Ông tính rồi qua tết thong thả sẽ làm đám cưới cho hai đứa rồi giao hẳn nò sáo, hồ nuôi tôm cho chúng làm ăn. Ông sẽ lên bờ sống. Trong thâm tâm ông cảm thấy mình có lỗi với vợ quá. Ai đời thương vợ mà lại bỏ tuốt ra ngoài chồ sống mấy năm nay để bả nằm hiu quạnh một mình giữa những người xa lạ, thương vợ gì kỳ vậy ta?

 

Mấy hôm sau trước khi ra chồ trở lại, ông Bảy ra phần mộ của bà, bày mâm quả, đốt nhang khấn nguyện:

- Bà nó ơi, có sống khôn thác thiêng về đây chứng giám cho lòng thành của tui đối với bà. Qua tết tui sẽ làm đám cưới cho con Duyên và thằng Du. Chắc bà biết thằng Du con chị năm Nghĩa ở đầu thôn của mình chớ. Nó là thằng tốt đáng tin cậy. Tui giao con Duyên cho nó, giao hết tài sản trên đầm cho tụi nó. Tui lên bờ sống với bà. Bà chờ tui với nghe bà ơi.

Khói hương từ những cây nhang bốc lên, thoang thoảng bay trong gió sao nghe thấy có mùi thơm lạ.

NGUYỄN AN BÌNH

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Người vợ câm

Người vợ câm

Truyện Ngắn của Thomas Burke 


Nhà văn Anh  ( 1886 - 1945 ) 

Thomas Burke 

 

Sinh tại Clapham, ngoại ô thành phố Luân Đôn, nước Anh. Cha chết khi còn rất nhỏ, ông sống với người chú, sau được gởi vào một cô nhi viện. Ở tuổi mười lăm, ông rời trường học đi làm kiếm sống, ông phụ việc cho một cửa hàng bán sách cũ. Ông tập tành viết lách từ sớm, truyện ngắn đầu tiên ông viết lúc mới 16 tuổi. Được khích lệ, ông hoàn thành tập " Đêm thành phố " ( Nights in Town ), gồm những bức phác thảo về đời sống dân lao động ở Luân Đôn. Sau đó, ông viết tiếp " Limehouse Nights" , nói về đời sống cơ cực của kiều dân Trung Hoa ở Limehouse, ngoại ô thủ đô Luân Đôn, với nhân vật Quong Lee. Tác phẩm được đón nhận nồng nhiệt, các nhà xuất bản Anh và Mỹ bắt đầu đặt hàng ông. Ông sáng tác nhiều thể loại, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận, thơ, thậm chí còn viết lời cho một số ca khúc.

Truyện " Người vợ câm " giới thiệu dưới đây nguyên bản là truyện The Dumb Wife, được Alfred Hitchcock giới thiệu trong tuyển tập " Stories They Wouldn’t Let Me Do on TV " in năm 1957.

***
Chuyện tình này thật tăm tối, cũng tăm tối như các dãy nhà buồn tẻ chắn không cho ánh sáng soi tới những con đường dọc theo bến cảng. Ở những con đường xám xịt này, vắng hẳn tiếng động, không thấy khung cửa sổ hiếu khách, buổi chiều nào cũng thấy lạnh lẽo. Nơi đó, những vỉa hè chật hẹp tạo thành ranh giới ngăn những cư dân già nua gầy ốm với những mảng đá lót đường không dội lên tiếng bước chân đi.

Tuy nhiên, dù những tình cảm khác chết đi, cái đẹp, tình yêu và sự hy sinh vẫn tồn tại dai dẳng ở đó. Tại những nơi vắng vẻ bên trên dòng sông của thành phố Luân Đôn, những điều bất chính lan truyền và nở rộ, có khuynh hướng huỷ hoại những gì đẹp đẽ và dũng cảm. Tuy vậy, cái đẹp vẫn tồn tại. Ngay trong lòng bóng tối, tình yêu bắt rễ và tạo nên một nỗi đắm say bất diệt từ những khu vườn chang nắng, những ánh trăng soi, những khúc nhạc xuân.

Tại một trong những con đường buồn tênh như thế, cách xa khu Trung hoa một chút, có một tiệm giặt ủi của người Tàu. Bao nhiêu năm dài, một phụ nữ lai châu Á vẫn ngồi nơi chiếc cửa sổ phía trên của tiệm. Chị ngồi đó, ngày qua ngày, tháng qua tháng, gợi nên lòng trắc ẩn nơi những kẻ bất hạnh mà những khổ đau chưa làm tắt cạn sự thương cảm. Mọi người biết một phần câu chuyện của chị. Chị là vợ của ông chủ tiệm giặt ủi, ông Ng Yong, và chị bị câm.

Chừng nào trời còn sáng, chị vẫn còn ngồi nơi cửa sổ và nỗi buồn phiền đã xoá đi mọi biểu lộ cảm xúc trên khuôn mặt vốn bình thản của chị. Chị không nhìn gì, không nghe ngóng gì. Chị bất động và lặng lẽ, như một pho tượng. Và đôi mắt nhỏ phản ánh một nỗi khiếp sợ âm thầm đến độ khiến cho những người lạ đi ngang qua cửa sổ đều muốn bước nhanh chân để sớm ra tới đường chính của khu phố này. Người ta không bao giờ biết được chuyện gì xảy ra mỗi ngày sau khuôn mặt cứng đờ đó. Chỉ có thể tưởng tượng thôi. Có tình cảm hận thù, lo sợ, báo oán, chạy trốn nào, có ý tưởng đen tối nào, có hồi ức còn đen tối hơn nữa nào đang chất chứa trong cái đầu ấy? Điều đó, chúng ta không thể biết được.

Thỉnh thoảng, không hề báo trước, chị dứt đi nét vô hồn vô cảm và chợt nổi cơn thịnh nộ. Chị chạy ra cửa và những nỗ lực để nói đạt tới cực điểm. Nhưng trong khi chị tuyệt vọng quơ tay về hướng kho cảng Antilles, thì miệng chỉ ú ớ vài âm thanh không thành tiếng. Lúc này, chồng chị chạy đến. Ông buồn rầu nắm lấy tay chị và với vẻ quyết liệt dịu dàng, cố kéo chị về chốn ẩn lánh cô đơn của chị. Hàng xóm ái ngại cho ông và khâm phục thái độ của ông trong thử thách này.

Ông giải thích với họ nỗi bất hạnh ập lên nhà ông, và nhiều khi, họ cũng giúp ông dỗ dành người bệnh. Là người chồng chu đáo, ông luôn theo vợ những lần hiếm hoi chị đi dạo. Khi chị cứ quẹo hết đường này sang đường khác, như thể muốn tìm một nơi chỉ mình chị biết, và khi khách qua đường dừng lại, ngạc nhiên nhìn khuôn mặt van nài và đôi môi nhấp nháy vô vọng của chị, ông lại lôi kéo chị đi. Người lạ tránh ra xa còn những người quen biết hai vợ chồng tới gần để tiếp sức ông.

Mọi người chỉ biết có thế. Còn đây là toàn bộ câu chuyện.

Khi Moy Toon sinh ra ở Poplar, từ người mẹ gốc Anh và cha gốc Tàu, chị không được chào đón nồng nhiệt lắm. Bên gia đình mẹ hoàn toàn không biết đến chị, còn phía gia đình cha chỉ mong sao chị khỏi chết đói. Mồ côi từ rất sớm, chị vào làm trong một trà thất khu kiều dân Trung hoa, đảm nhận những công việc nặng nhọc nhất. Tại đây chị đã sống qua những năm cực khổ, không đếm tháng đếm ngày. Chị không nghĩ ngợi gì nhiều. Chị không cảm xúc nhiều. Chị ít khi hỏi chuyện gì. Có thể chị hài lòng với số phận, kiểu như một người nô lệ sinh ra trong cảnh đoạ đày và không được học hỏi gì. Chị đã thừa hưởng tính chịu đựng của người phương Đông nhiều hơn là tính hoài nghi và ý thức đấu tranh của người phương Tây.

Sự việc diễn ra như nó vốn như thế và chị chấp nhận như vậy. Chị lớn lên nơi kho cảng phức tạp. Chị ít được giáo dục về đạo đức, những gì chị biết chỉ giới hạn trong những điều được dạy cho một phụ nữ ở tầng lớp cu li. Và chị trải qua những năm tháng tuổi trẻ trong cơn mê muội.

Một tối kia, có một chàng thuỷ thủ đến phòng trà trong tình trạng say khướt. Chị đã thấy anh này nhiều lần ngoài đường và đã mến mộ, theo kiểu của chị, dáng đi tự nhiên, khuôn mặt rám nắng biển của anh. Tối hôm đó, trong khi đang say mèm, anh chàng đã để ý đến cô gái có nét duyên pha trộn giữa sự linh hoạt Âu Tây và sự nghiêm trang phương Đông. Anh đã tán tỉnh chị. Thực ra, anh chỉ cần mở lời, vì cô gái lai đã bị chinh phục ngay bởi người đàn ông kỳ diệu xuất hiện trong đời chị.

Nhiều đêm khác nữa tiếp nối đêm hôm đó. Anh chăm sóc chị từng li từng tí , gọi chị là Baby Doll hoặc đặt nhiều bí danh ngọt ngào khác, tặng chị những món quà rẻ tiền. Khi trở về đất liền, lần sau đó, anh lại tiếp tục đi chơi với chị, vui sướng được gần chị. Vài tháng sau, anh chào từ biệt chị vĩnh viễn và báo với chị là anh sắp cưới vợ, chuyển đến ở một khu vực khác tại Luân Đôn. Chị không còn gặp lại anh nữa. Chị chấp nhận việc anh ra đi, thản nhiên, không oán hận, cũng như chấp nhận mọi chuyện khác, dù là vui vẻ hay buồn đau, và cũng không đòi hỏi gì nơi anh.

Sau đó đứa con ra đời. Chủ nhà hàng không hài lòng lắm về cách hành xử ăn ở lầm lạc vụng về của chị. Tuy thế ông vẫn lo lắng phần nào cho cô người làm và đứa bé sơ sinh được mang gởi cho một bà già ở Blackwall, vốn là người khá quen biết trong cộng đồng kiều dân Trung hoa. Moy Toon yêu đứa bé điên cuồng. Với chị, đấy là kỷ niệm sống động của cuộc phiêu lưu duy nhất xảy ra trong đời và chị say mê đứa bé. Ban đầu, chị không chịu xa con. Bằng cách giữ đứa bé bên cạnh mình, chị tỏ ra khinh thường những người xem nhẹ việc làm mẹ phi thường của chị. Rồi, dần dà chị lại thấy lời họ khuyên là đúng.

Với đứa con, chị không thể hy vọng kiếm được khoản tiền khiêm tốn đang cần, bởi chị không muốn sống như cách những cô gái thuộc tầng lớp và cùng xuất thân như chị. Chị chỉ có một tình yêu duy nhất và, vì lợi ích của con, chị muốn mình nghiêm túc. Chị thích chế độ làm việc cực nhọc ở phòng trà hơn là những cuộc dan díu mờ ám ngoài đường phố. Chị biết là dù được gởi cho những người xa lạ, đứa bé sẽ nhận được những sự chăm sóc cần thiết mà chị không làm được. Vì thế chị để cho sự khôn ngoan thắng thế tình cảm của mình và chịu gởi đứa bé, với điều kiện là chị được thăm con mỗi khi chị muốn.

Trong sáu năm liền, chị tiếp tục cuộc sống khô cằn của mình. Chị ít nhiều mang ơn là cuộc đời chẳng thú vị gì mỗi tuần lại đứt đoạn bởi những lần chị đi thăm con. Có điều là, trong những năm đó, nhiều lúc chị phải khóc thầm ban đêm. Chị nhớ sức sống trẻ thơ và những cử chỉ dịu dàng của đứa con mà chị không thể công khai đón nhận, và chị cố vươn tay về phía con một cách vô vọng trong bóng đêm. Nó đã lớn, trở thành một bé trai khoẻ mạnh so với tuổi nó, hay chạy chơi trên đường phố cảng. Có những buổi chiều chị vui thích hoá trang cho con thành thuỷ thủ: áo hạ sĩ, nút vàng, mũ cát két có lưỡi trai gắn vô số quân hàm. Chị gọi nó " cậu thuỷ thủ bé nhỏ của mẹ" và những buổi chiều như thế bù đắp cho những đêm dài cô đơn của chị.

Vào đúng lúc này Ng Yong xuất hiện. Ông đã mua lại tiệm giặt ủi của người đồng hương khi ông này về xứ, và làm ăn phát đạt. Thế nhưng, nhìn kỹ nhà mình, ông phát hiện còn thiếu một thứ. Đó chính là một người vợ. Ông nhận ra rằng người vợ sẽ như là một món đồ gỗ đẹp làm cho cửa hiệu hoàn chỉnh hơn. Ông bắt đầu tìm kiếm một người, và ở phòng trà Trăm Rồng Vàng, ông tìm thấy Moy Toon. Chị chính là món hàng ông đang cần. Ông hỏi thăm chủ phòng trà, và được biết chị không có ràng buộc nào và đang thuộc sở hữu của ông chủ.

Ng Yong rất nghiêm khắc về đức hạnh của phụ nữ ( ông tự đặt mình vào vị trí của người có thể mua ) và đặt ra cho ông chủ hàng loạt câu hỏi về cuộc đời và hạnh kiểm của cô gái. Chủ phòng trà Trăm Rồng Vàng trả lời: không hẳn là thành thật hoàn toàn, nhưng với một sự phóng khoáng có che đậy về vẻ chân thành lôi cuốn. Khi Ng Yong yêu cầu bảo đảm món hàng chưa bị ô uế, ông chủ cam kết ngay. Trên đời không có một nhà buôn nào tự ý làm giảm giá trị món hàng của mình, và ông cũng biết nếu để lộ một mối quan hệ mờ ám nào thì giá bán món hàng sẽ giảm đi nhiều.

Moy Toon cũng được báo trước về bước khai mở cuộc thương lượng và người ta cho chị rõ, bằng cách khoe sự phát đạt của Ng Yong, rằng hoàn cảnh của chị sẽ cải thiện đến mức nào nếu lấy được ông ta. Người ta cũng thêm rằng cần thiết phải giấu kín chuyện đứa con. Người ta thúc ép chị phải từ bỏ nó mãi mãi, nhưng về điều này thì chị không trả lời gì cả. Về cuộc hôn nhân được đề nghị, chị không bác bỏ. Ng Yong đã già, nhưng chị không để ý lắm sự khác biệt tuổi tác, tính cách người Trung hoa của chị khá rõ để làm quen với việc này. Chị nhìn thấy trong cuộc hôn nhân này cơ hội được giúp đỡ, và, một cách gián tiếp, làm cho cuộc sống con trai được tốt hơn. Vì vậy, chị sẵn sàng lấy chồng mà không suy nghĩ gì nhiều hơn. Không lúc nào chị tự hỏi liệu có giữ được bí mật không. Về điều đó, chị hoàn toàn tự tin.

Và như thế, một thời gian sau, Ng Yong gặp thẳng chị, hỏi han chị và tuyên bố ông hài lòng về chị và về tính khiêm tốn của chị. Nhưng ông cũng không quên giảng dạy dài dòng về cách cư xử của người vợ. Ông ngồi trước mặt chị, trong gian bếp của phòng trà, đôi bàn tay mập mạp đặt trên đầu gối, cái đầu già nua gật gù, những thầm kín của đôi mắt được che giấu sau hai mí mắt xếch khiến những trí óc tò mò của bạn bè không sao đoán được. Ông nói, vợ của Ng Yong phải biết vâng lời, luôn phục vụ đức ông chồng, không bao giờ được hỏi, chăm lo việc nhà thường xuyên và chu đáo, cắt đứt mọi quan hệ với những người của phòng trà, và, hơn hết thảy, phải thật thà và chung thuỷ. Vợ phải hoàn toàn thuộc về ông, chỉ mình ông thôi. Ông trích dẫn nhiều đoạn trong Tứ Thư nói về phụ nữ đức hạnh, và những đoạn khác, rồi giọng ông chỉ còn thì thầm khi nhắc đến hình phạt dành cho người vợ nào không tôn trọng điều luật thứ nhất.

Bài thuyết giáo đó, Moy Toon nghe chẳng nhiệt tình lắm, chị trả lời các câu hỏi có vẻ hơi thư thái nhưng vẫn giữ một giọng khiêm tốn. Thế là, vụ việc được cam kết. Còn có nhiều buổi tối mặc cả để thoả thuận được mức giá trung bình. Tiền được trả cho quán Trăm Rồng Vàng và Moy Toon bước qua ngưỡng cửa nhà Ng Yong.

Tất cả những gì ông yêu cầu về chăm sóc và phục tùng, chị đều thực hiện. Nhưng chị không từ bỏ đứa con. Người ta không đòi trái tim chị và chị giữ nó. Con trai là thần tượng của chị và chị tôn sùng nó như một thần tượng. Còn những chuyện khác, chị phục tùng Ng Yong tốt. Chị không có ý muốn làm khác. Chị đặt hết trách nhiệm để đoán biết sở thích của ông, chăm sóc nhà cửa và không nhìn một người đàn ông nào khác.

Thật ra cũng khó để làm khác vì ông chồng luôn luôn ở bên cạnh chị. Có lẽ thái độ khiêm tốn của chị chưa thuyết phục hoàn toàn được ông. Ông chăm chú theo dõi chị. Ông không bao giờ để chị được tự do, thậm chí cả khi chị đi chợ, chị có cảm tưởng là cặp mắt ông vẫn đang theo dõi chị.

Bởi lẽ đó, chuyện chị gặp con trở nên phức tạp. Nếu cứ mỗi thứ năm lại đến nhà ở Canning Town, như chị vẫn làm sáu năm nay, thế nào cũng làm ông Ng Yong nghi ngờ. Ông sẽ để ý việc chị vắng mặt thường xuyên và định kỳ. Ông sẽ cật vấn chị và sẽ không hài lòng với câu trả lời của chị. Ông sẽ đi theo hoặc sai người khác đi theo, như thế là lộ bí mật. Lúc đó, chỗ nương thân duy nhất của chị sẽ là đường phố và hai mẹ con chị sẽ chết đói.

Chị suy nghĩ nhiều lắm để tìm ra giải pháp mới rồi quyết định là những cuộc gặp tới đây sẽ để như là ngẫu nhiên. Hai mẹ con sẽ gặp nhau vào những thời điểm không báo trước, và cứ mỗi lần lại định nơi hẹn sắp tới. Sự thận trọng khuyên chị nên từ bỏ, như tuổi Thìn mách bảo.

Giờ đây chị đang hưởng niềm an ủi đầy tin cậy và cuộc sống hàng ngày đã ổn rồi. Thà đành chấp nhận chỉ nhìn thấy con từ xa, không nói chuyện được mà chỉ biết tin tức qua người lạ, còn hơn là nguy cơ đánh mất sự an bình hiện tại và cả cảnh sung túc, chỉ vì thú vui được ôm hôn con, bởi lẽ, nếu sự thật bị lộ, chị sẽ bị đuổi ra khỏi nhà, điều đó đồng nghĩa với khốn khổ và thiếu thốn. Đầu óc chị không vượt qua được những ý nghĩ này. Những bài thuyết giáo của chồng về sự trung thực vợ chồng, chị không còn nhớ gì cả, như thể chúng đi vào một bên tai và ra phía bên kia. Chồng chị sẽ rất giận dữ, sẽ đuổi chị, hai mẹ con sẽ đau khổ. Và chị không thể tưởng tượng ra cảnh khổ. Chị ghét nó, chị sợ nó.

Tuy nhiên, một đêm, trong tháng đầu tiên sau ngày cưới, chị không ngủ được, chị nhớ đến con, tưởng tượng hai cánh tay nó ôm lấy cổ và giọng nó nói bên tai xin vài xu. Con trai của chị. Sáng hôm sau, thông qua nhiều người trung gian, chị cố sắp xếp để nhắn với bà giữ con chị dẫn nó đến Tunnel Garden vào buổi trưa hôm sau nữa. Nơi đó, chị có thể ở bên cạnh con và người phụ nữ kia, lắng nghe con nói chuyện. Nếu Ng Yong hay bạn bè có nhìn thấy chị trong hoàn cảnh đó, chị có thể nói, có vẻ như thật, là người phụ nữ và thằng bé là người xa lạ, khi chơi đùa, thằng bé làm chị chú ý và chị bắt chuyện với mẹ nó. Điều này chẳng có gì xấu . Chuyện xảy ra như vậy, tốt đẹp cả.

Lần kế tiếp, chị chọn một tiệm bánh kẹo gần Blackwall và đứa bé được nhét đầy các loại bánh. Chị ở lại với con một tiếng đồng hồ và khi về, chị thấy ông Ng Yong đang chờ chị ở đầu cầu thang, trong khi, vào giờ này, ông thường bận trông coi xưởng giặt. Ông nói chị ở bên ngoài khá lâu, chị trả lời chị đi chợ ở Sandwell vì chợ này thứ gì cũng rẻ hơn. Chị nói thêm là chị về trễ do sửa đường. Ông nhìn chị vẻ lạ lùng và chăm chú nhưng chị không để ý. Cặp mắt chị chứa đầy hình ảnh con trai: nó thật đẹp, bộ điệu thật mạnh dạn!

Sau khi suy nghĩ, chị ấn định chỗ gặp lần tới là một hầm nay dùng vào việc khác, trong một góc khuất kho cảng Antilles. Chị đã phát hiện kho này cách đây mấy năm, và nó cũng không thay đổi gì mấy. Chị với anh thuỷ thủ đã ở đó vài giờ vào một buổi tối mùa hè ẩm ướt vì không kiếm được chỗ trọ tạm thời nào. Chui vào đó rất dễ, và vì trong kho chẳng có gì để đánh cắp nên không có ai canh chừng. Chỗ này bị bỏ hoang từ khi nước sông tràn ngập vào. Người ta cũng định xây lại nhưng mỗi lần thuỷ triều lên, nước lại ngập tới nửa thân người. Một lối đi hẹp dẫn xuống đó qua một cầu thang với những bậc cấp bị mọt, được che khuất đến nỗi ai biết là có nó thì mới tìm ra.

Chính nơi này đứa bé được dẫn tới. Nó không sợ đường hầm được Moy Toon lấy đèn pin rọi sáng. Chị tự nhủ, thằng bé có tâm hồn của cha, vì nó thích phiêu lưu, chạy lon ton quanh quẩn khắp nơi, làm cho trái tim mẹ nó rộn rã tiếng cười. Chị đứng cạnh con, mặt sáng ngời tự hào. Chị khuyến khích những trò tinh nghịch của con, không bận tâm đến điều gì khác ngoài cái vòng tròn con chạy nhảy bên trong. Nhưng, giữa lúc cậu bé đang vui đùa, người phụ nữ dẫn nó tới bỗng đưa ngón tay lên căng thẳng:

" Nghe kìa! Im lặng đi!"

Thằng bé dừng lại đột ngột, Moy Toon ôm con vào lòng. Họ lắng nghe.

"Ơ...ơ...! Có người đến, người phụ nữ kêu lên. Tôi đã nghĩ đến đây là gặp rắc rối mà. Giờ ta phải làm sao đây? Chúng ta đi đâu? Ôi! Ôi! Tôi, tôi sẽ ra khỏi đây. Đây là chuyện của các người. Không phải chuyện của tôi. Không muốn dính dáng... "

Cuống quýt xoay tròn váy và giày, bà leo lên cầu thang bằng những bước nặng nề. Vẫn đứng bên dưới, Moy Toon nghe một âm thanh giống như tiếng va chạm đục và tiếng thét sắc vút: "Ôi!", và sau đó, " Coi chừng!"

Tiếp theo là khoảnh khắc hoảng loạn. Người phụ nữ đã nhìn thấy cái gì đó khiến bà sợ hãi, và ý nghĩ đầu tiên của Moy Toon, theo phản xạ, là dành cho con trai. Lúc này đây, chị không còn sức nghĩ ngợi gì nữa. Chị nhìn thấy cách đó ba bước một cái hốc mà con chị đã thám hiểm khi chơi. Hốc này được giữ bởi một cánh cửa lớn có ổ khoá và then cài bằng sắt. Chị nắm lấy cánh tay con và kề sát miệng vào tai con:

" Vào đây đi, con yêu. Nhanh lên, vào đi. Con đừng làm ồn nhé. Làm vì mẹ con nhé!"

Đứa bé hiểu và nhảy vào cái hốc. Moy Toon đóng cửa và nhanh chóng khoá lại. Chị quay lui lấy đèn pin và bật tắt đèn, rồi xoay người lại và nhìn thấy Ng Yong đang bước xuống bậc thang cuối cùng, bàn tay giơ lên, với một cử chỉ hăm doạ mà theo bản năng chị tuân theo ngay. Ông vào hầm, đứng im, nhìn phải, nhìn trái. Cú sốc bất ngờ do việc ông đến thình lình và do đã cố đóng cửa khiến chị hụt hơi, không biết làm gì, nói gì. Chị tựa vào tường, thở hổn hển, trong đầu chỉ nảy có một ý nghĩ: "Ông đã nhìn thấy gì? Ông đã nhìn thấy gì?" Chị thầm cầu mong sao cho ông lên tiếng.

Cuối cùng, ông bình thản nói:

- Vậy là đây là nơi cô đến gặp tình nhân. Đưa nó ra.

- Tình nhân? Em ? .. Không, em không có tình nhân!

- Vậy thì cô làm gì ở đây?

- Mà... kìa... Anh đừng buồn cười thế! Tình nhân ư? Em đến đây để...

- À, đúng rồi, cô đến đây- chính chỗ này đây- để tán gẫu với một mụ già chứ gì? Thôi đi, đưa tình nhân của cô ra đi.

- Nhưng, em..., em làm gì có tình nhân.

Bỗng nhiên, chị chợt hiểu rằng để cứu con trai, cách tốt nhất là bám lấy ý nghĩ về một tình nhân, phát triển cái ý đó.

" Thế này, vâng, em muốn nói là, giả thử là... "

Ông giơ tay lên:

" Nhìn tôi đây này."

Bản năng phục tùng khiến chị ngước mắt lên, nhìn ngay vào mặt ông và những điều chị nhìn thấy khiến chị hốt hoảng. Chị ấp úng:

" Nhưng, em đâu có tình nhân... em không có...

- Cô... cô... người tôi đã tin tưởng. Đồ chó đẻ!

- Nhưng, em muốn nói là... em..."

Từ miệng ông thoát ra tiếng càu nhàu. Tay ông đút trong túi. Chị quan sát, mắt lồi ra: ông lục lọi trong áo vét bằng vải. Chị thấy ông lôi ra con dao dài cong, lưỡi bị cùn do lâu ngày không dùng. Ông nắm lấy chiếc cán bằng ngà, chĩa mũi dao về phía chị và chầm chậm, đi ngang, bình tĩnh, tới gần chị. Giống như những giọt nước rơi xuống, những lời lẽ giáo huấn về đức hạnh phụ nữ thấm dần đầu óc chị.

" Cô đã chọn đúng chỗ. Ở đây ta hoàn toàn yên ổn. Ta đã cho cô biết ta trừng phạt thói bất tuân như thế nào."

Mỗi lần ông bước tới một bước, chị lại bước lui một bước, tránh xa ông. Ông đi theo chị. Chị run rẩy thụt lùi, tay dang ra. Càng lúc chị càng đứng tựa vào tường, chừng như mong cho nó hút đi. Ông tiếp tục theo chị từng bước. Cả hai nhẹ bước trên nền đất ẩm. Chị vẫn thụt lùi từng bước, mắt nhìn thẳng vào ông. Ông đi theo chị. Đi theo mãi cho đến lúc chị đi tới cuối bức tường, chỗ hàng rào sắt hướng ra sông. Ở đó, chị đứng yên, mồm há ra, bị dồn đến đường cùng. Như một con thỏ, chị bị thôi miên bởi lưỡi thép cùn đang từ từ đưa đi đưa lại trước cổ họng, càng lúc càng gần hơn. Chị cảm thấy nó chạm vào ngực, rồi thấy nó chích vào da. Khi ấy, chị mở miệng thật lớn để hét:

" Xin thương cho! Xin anh thương cho! Em không có tình nhân!"

Tuy nhiên, dù chị đã mở to miệng vẫn không tiếng nào thoát ra được. Lưỡi dao dựng đứng lại và nhích ra khỏi cổ chị vài centimet. Rồi Ng Yong để nó rơi trên người chị và đứng lùi. Ông ngắm nhìn chị hồi lâu trước khi nói lại:

" Tình nhân của cô đâu?"

Ông nhấp nháy đôi môi, vài âm thanh không rõ bật ra. Chị lắc đầu, chắp tay van xin. Ng Yong cất dao vào áo vét và lắc đầu: sự hoảng sợ Moy Toon cảm thấy khi bị phát hiện và sự đe doạ hình phạt đã khiến đôi tay ông ta không muốn trừng phạt nữa. Chị đã bị trừng trị bằng một phương tiện khôn khéo và tinh vi hơn bất cứ lưỡi dao thép nào: chị đã câm.

Ông nắm lấy tay chị. Chị run run khi ông chạm vào, ông mỉm cười với chị. Ông dẫn chị tới những bậc cấp dẫn ra đường. Trong khi ông dẫn chị đi, chị vùng vẫy và đưa tay chỉ cánh cửa lớn của cái hốc, miệng đưa ra vài âm thanh nhỏ khản đục: " Myw... Myw..."

Ng Yong cũng nhìn phía cửa và mỉm cười hiểu biết. Ông đẩy chị bước lên bậc cấp. Chị vùng vẫy thoát ra khỏi đôi tay của ông và khoát tay, mấp máy môi như muốn diễn đạt điều gì. Nhưng ông kéo chị ra ngoài, lặng lẽ, cho đến lối đi hẹp, và không ai để ý đến họ trước khi hai người ra đến đường cái. Ông dẫn chị về đến tận nhà và, với nhừng người hỏi thăm thương cảm, ông kể là vợ ông bị kích thích thần kinh sau khi chứng kiến một tai nạn ngoài đường. Từ đó chị mất hẳn tiếng nói và mất trí.

 

THÂN TRỌNG SƠN 
dịch và giới thiệu.


( Trích Alfred Hitchcock présente Histoires Abominables, 
coll. Livre de Poche Policier, nxb Robert Laffont, 1973 )

 
 
Kim Kỳ sưu tầm
 
 
 
Xem thêm...

Tình yêu có thể mang đến những phép màu

Tình yêu có thể mang đến những phép màu

~~~~❤️❤️~~~~

Một câu chuyện có thật lại như cổ tích

Cuộc đời luôn tồn tại những phép nhiệm màu, chỉ cần chúng ta có tình yêu thương thì tất cả khoảng cách về địa lý, thời gian, ngay giữa sự sống và cái chết, số phận cũng sẽ an bài cho ta gặp lại nhau.

Trong thế chiến thứ hai, có một người đàn ông họ Wall tên là Martin. Martin Wall là một tù nhân chiến tranh, bị giam tại trại tù binh ở Siberia, từ đó phải rời xa quê hương Ucraina, bỏ lại người vợ là Anna và cậu con trai Jacob.

Vài năm sau đó, anh ta và gia đình mỗi người một phương, bặt vô âm tín, thậm chí sau khi anh ta bị bắt một thời gian, đến cả việc người vợ Anna sinh thêm một đứa con gái tên là Sonia mà anh ta cũng không hề hay biết.

Thêm một vài năm nữa, Martin được trả tự do, lúc này anh ta kiệt quệ cả về sức khỏe lẫn tinh thần, nhìn bề ngoài như một ông già lọm khọm. Không chỉ có vậy, trên tay và chân của anh còn lưu lại nhiều vết sẹo, điều khiến anh đau lòng hơn nữa, là anh không còn khả năng sinh con.

Sau khi được ra tù, chuyện đầu tiên mà Martin làm là tìm kiếm cô vợ Anna, và cậu con trai Jacob. Cuối cùng, anh cũng nghe ngóng được tin tức của họ từ hội Chữ Thập Đỏ, người ta nói rằng vợ con của anh đã chết trên đường đi tới Siberia. Martin đau khổ tột độ. Đương nhiên, anh vẫn không hề biết rằng mình còn có một cô con gái trên thế gian này.

Thật ra thì, không lâu sau khi Martin bị bắt, Anna đã may mắn đưa được con trai Jacob chạy trốn đến nước Đức. Cô gặp được một đôi vợ chồng nông dân tốt bụng tại đó, đôi vợ chồng này đã giữ mẹ con họ ở lại. Vì vậy, Anna sống yên ổn tại đó, đồng thời cô cũng giúp họ làm việc đồng áng và dọn dẹp nhà cửa.

Cũng vào thời gian này, cô sinh đứa con gái Sonia. Anna tin rằng, chỉ cần Martin còn sống, họ nhất định sẽ trùng phùng, nhất định có thể tạo lập một cuộc sống mới. Nhưng, đời không là mơ. Vài năm sau đó, cuộc chiến tranh tàn khốc đã đưa nước Đức đến bờ vực của sự thất bại. Anna và hai đứa con vô cùng vui mừng, họ cho rằng sẽ có cơ hội để đoàn tụ với Martin.

Tuy nhiên, điều họ không ngờ là, Hồng quân Liên Xô đã tập trung những người dân di cư như họ lại, đưa họ lên một con tàu đông đúc như tàu chở súc vật, nói rằng đưa họ về nhà, nhưng thực chất là đưa họ đến trại tập trung đầy chết chóc ở Siberia.

Hi vọng của Anna vụt tắt, cô cảm thấy tuyệt vọng, rồi sinh bệnh nặng. Cô cảm thấy mình sống không được bao lâu nữa, chỉ ngày qua ngày cầu nguyện: “Cầu xin ông trời, hãy phù hộ cho hai đứa trẻ bất hạnh của con!”.

Một ngày nọ, Anna gọi Jacob đến bên cạnh và nói: “Con trai của mẹ, mẹ bệnh nặng lắm rồi, có lẽ không sống được bao lâu. Mẹ sẽ ở trên trời phù hộ các con. Jacob, con phải hứa với mẹ, không bao giờ được bỏ rơi em gái Sonia”.

Sáng sớm hôm sau, Anna qua đời. Người ta đem thi thể của cô chất lên xe hàng và chở đến một khu nghĩa địa đầy rẫy những ngôi mộ vô danh. Còn hai đứa trẻ thì bị đem lên tàu hỏa, đưa đến một cô nhi viện gần đó.

Còn Martin – người đang chìm đắm trong tuyệt vọng, lúc này đang làm việc như cỗ máy trong một nông trang. Một buổi sáng, Martin gặp Greta – một cô gái làm cùng nông trang với anh. Greta luôn mỉm cười để ý đến anh.

Martin không ngờ rằng, cô gái luôn lạc quan yêu đời, thông minh lanh lợi này lại là bạn học hồi xưa của mình. Bôn ba nhiều nơi, trải qua thời gian thăng trầm, xảy ra vô số sự việc, mà họ lại có thể gặp nhau ở đây, thật là thần kì!

Chẳng bao lâu sau, họ tổ chức hôn lễ. Martin cảm thấy cuộc sống của mình tìm lại được ánh mặt trời, cuộc sống lại trở nên có ý nghĩa. Greta cũng cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhưng cô luôn mong mỏi bản thân có một đứa con để yêu thương, chăm sóc.

Đến một ngày, Greta khẩn cầu với chồng: “Martin, có nhiều đứa trẻ trong cô nhi viện, chúng ta hãy nhận một đứa về nuôi có được không?”. Martin phản bác: “Greta, sao em lại có ý nghĩ như vậy, anh không thể chịu thêm bất cứ sự đả kích nào nữa, em có hiểu không?”. Greta vô cùng buồn bã.

Nhưng cuối cùng tình yêu mãnh liệt của cô dành cho trẻ em đã thuyết phục được Martin. Vào một buổi sáng, Martin nói với Greta: “Đi nào, chúng ta đi đến cô nhi viện nhận nuôi một đứa trẻ”. Greta vui mừng khôn xiết, lập tức lên tàu đi đến cô nhi viện.

Greta bước trên hành lang tối tăm của cô nhi viện, nhìn về phía lũ trẻ đang xếp thành hàng, chăm chú quan sát, cân nhắc. Nhìn thấy những khuôn mặt trầm mặc, những ánh mắt cầu xin của lũ trẻ, Greta chỉ muốn mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả chúng vào lòng và đưa về nhà. Nhưng cô biết rằng, điều đó là không thể.

Đúng vào lúc này, có một đứa trẻ cười thẹn thùng bước về phía cô. Greta quỳ xuống, xoa đầu đứa trẻ: “Cháu à, cháu có đồng ý đi theo cô không? Đến một nơi có cả cha lẫn mẹ?”.

“Đương nhiên cháu đồng ý, nhưng cô đợi chút, cháu đi gọi anh trai. Chúng cháu phải đi cùng nhau, cháu không thể bỏ lại anh trai mình được”.

Greta cảm thấy vô cùng băn khoăn, bất lực lắc đầu: “Nhưng cháu à, cô chỉ có thể đưa một mình cháu đi thôi”. “Không, cháu muốn đi cùng anh trai mình. Trước đây chúng cháu cũng có mẹ, khi mẹ qua đời đã dặn dò anh trai không được bỏ rơi cháu”.

Lúc này, Greta cảm thấy bản thân không muốn chọn bất kì đứa trẻ nào khác, bởi vì đứa trẻ trước mặt cô vô cùng đáng yêu, đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cô. Tuy nhiên, cô nghĩ rằng mình phải về thương lượng lại với Martin.

Khi về đến nhà, Greta lại khẩn cầu Martin: “Martin, có một chuyện em muốn thương lượng với anh. Em phải nhận nuôi hai đứa trẻ, bởi vì đứa trẻ mà em chọn có một người anh trai, nó không thể rời bỏ anh trai của mình. Em mong anh đồng ý nhận nuôi đứa trẻ này được không?”

“Greta, vậy sao em không chọn đứa trẻ khác, mà lại nhất quyết là bé gái này? Theo anh thấy thì tốt nhất đừng chọn đứa nào cả”.

Lời nói của Martin Wall, khiến Greta vô cùng đau lòng, cô thậm chí còn không muốn đi cô nhi viện nữa. Nhìn thấy bộ dạng buồn bã của Greta, trong lòng Wall chợt trào dâng niềm thương cảm. Tình yêu rốt cuộc lại giành chiến thắng.

Lần này, Martin và Greta cùng đi đến cô nhi viện, Martin cũng muốn gặp đứa bé gái đó. Đứa bé gái ra ngoài hành lang tiếp đón họ, lần này, cô bé nắm chặt tay cậu bé đi cùng. Đó là một cậu bé gầy gò, trông rất yếu ớt, nhưng cặp mắt của cậu bé lại ngập tràn sự dịu dàng và lương thiện. Lúc này, cô bé mở to đôi mắt sáng lóng lánh, nhẹ nhàng hỏi Greta: “Cô đến đón chúng cháu phải không?”

Greta chưa kịp trả lời, thì cậu bé đứng bên cạnh đã mở lời: “Cháu đã đồng ý với mẹ là sẽ không bao giờ bỏ rơi em gái. Khi mẹ cháu mất, cháu đã hứa như vậy. Vậy nên, đáng tiếc là em gái cháu không thể đi cùng với hai người”.

Martin âm thầm quan sát hai đứa trẻ vừa đáng yêu lại đáng thương này. Một lát sau, anh tuyên bố đầy quả quyết: “Chúng tôi nhận cả hai đứa trẻ này”. Martin đã bị cậu bé gầy gò ốm yếu trước mắt thu hút đến nỗi không thể kháng cự nổi nữa rồi.

Vậy là Greta đưa hai anh em đi thu dọn quần áo, Martin đến văn phòng làm thủ tục nhận nuôi. Sau khi Greta thu dọn đồ đạc, đưa hai đứa trẻ đến văn phòng, liền thấy Martin bần thần lúng túng đứng ở đó. Gương mặt trắng bệch, đôi tay run rẩy, dường như không dám kí vào thủ tục nhận nuôi.

Greta sợ hãi hỏi: “Martin! Anh làm sao vậy? Martin?”

“Greta, em nhìn những cái tên này xem!”. Greta nhận lấy tờ thủ tục nhận nuôi có ghi tên hai đứa trẻ: “Jacob Wall; Sonia Wall, Mẹ: Anna (Bartel) Wall; Cha: Martin Wall”.

“Em có biết không Greta, hai đứa trẻ này là con ruột của anh! Một là đứa con trai mà anh tưởng rằng đã chết từ lâu, một là đứa con gái mà anh chưa từng gặp mặt!”

Martin xúc động đến nỗi nước mắt nhạt nhoà, anh vừa nói vừa quỳ xuống, ôm chặt hai đứa trẻ vào trong lòng, thán phục nói: “Kì tích, thật là kì tích! Ôi! Cảm ơn trời đất đã phù hộ chúng tôi, ôi! Greta, nếu như không phải em đã thỉnh cầu anh nhận nuôi chúng, nếu như không có trái tim nhân ái của em, có lẽ anh đã không thể gặp được kì tích này mất rồi”.

Đúng vậy, dưới sự vẫy gọi của tình yêu, mọi kì tích đều có thể xảy ra!


 

 
Kim Kỳ sưu tầm
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này