Truyện

Truyện (349)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Khi tóc không còn xanh…

Khi tóc không còn xanh…

Nguyễn Thị Thanh Dương

 ◄ ► ◄ ► 

 

Tôi thu xếp ít quần áo và vài thứ lặt vặt cần thiết vào trong chiếc va ly nhỏ, sửa soạn cho một chuyến đi vài ngày. Bác ruột tôi vừa qua đời tại thành phố Wichita, tiểu bang Kansas. Gia đình bác mới từ Washington D.C. dọn về đây được mấy tháng nay. 
 
Lòng tôi buồn vời vợi đang nghĩ  nên nói cách nào cho đám anh chị em họ của tôi về chuyện của gia đình mình đang đến hồi sụp đổ khi mà bấy lâu nay họ chỉ thấy tôi khoe ra bên ngoài một màu hạnh phúc?
 
Chồng tôi về tới nhà, thấy tôi bên chiếc va ly anh chỉ hỏi một cách bình thường:
- Em sắp đi đâu?
- Bác Lân em vừa qua đời, em phải về tham dự tang lễ.
 
Anh lạnh lùng, ngắn gọn:
- Cho anh gởi lời chia buồn đến họ.
 
Chúng tôi đang làm đơn ly hôn. Anh, người đàn ông thành đạt của tôi cũng là một người bay bướm trăng hoa. Suốt thời gian 20 năm chung sống tôi đã cố gắng chịu đựng vì các con, vì muốn gìn giữ tài sản của gia đình không thể để mất vào tay người đàn bà khác.
 
 Nhưng cho tới hôm nay thì sức chịu đựng của tôi đã cạn kiệt, như giòng nước lũ làm vỡ bờ chảy xối xả những giận hờn và tủi nhục. Anh đã lừa dối tôi, có một tình yêu khác với một cô gái trẻ đẹp, chính anh thẳng thắn đề nghị ly hôn tôi để cưới cô gái đó làm vợ.
 
 
 
Sau những ngày tang lễ bác và những lần tâm sự với các anh chị họ về tình trạng gia đình của tôi hiện nay. Các anh chị đều nói hạnh phúc của tôi không thể cứu vãn được nữa, chia tay là giải thoát cho cả hai. Khi đã chia sẻ được những điều đau khổ tôi thấy nhẹ lòng.
 
Wichita thành phố không qúa lớn cũng không qúa nhỏ và cũng chẳng có gì hấp dẫn tôi vào lúc này, mà còn hai ngày nữa tôi mới phải trở về nhà, dù là ngôi nhà bất hạnh, có người đàn ông tôi từng yêu thương, qúy trọng, nay đã quay mặt phản bội hất hủi tôi.
  
Đến tiểu bang Kansas, thành phố Wichita lại không xa mấy thành phố Liberal, chỉ 4 tiếng lái xe, làm tôi bỗng dưng tha thiết nhớ đến thành phố Liberal nghèo nàn nhỏ bé với khỏang 15 ngàn dân, nơi mà ngày đầu tiên đến Mỹ gia đình chúng tôi đã ở đây và trong ký ức tôi cũng nhớ đến John, người bạn thân thuở đó. Thuở tôi mới 15 tuổi.
 
Gia đình chúng tôi đi vượt biển, đến trại tị nạn Bidong, Mã Lai. Sau 9 tháng gia đình chúng tôi đến Mỹ nhờ sự bảo trợ của một gia đình người Mỹ. Đó là ông bà Smith, nhà truyền giáo, họ chỉ có 1 người con trai, anh tên John, lớn hơn tôi 1 tuổi. Năm ấy anh 16 mà đã phổng phao, đẹp trai cao ráo.
 
BM
  
Nhà chúng tôi ở không xa căn nhà của ông bà Smith, nơi hứơng Nam của thành phố Liberal. Nhà ông bà Smith đúng là một căn nhà nông thôn, mảnh sân rất to rộng phía trưóc trồng trọt dưa hấu, xung quanh nhà những cây lê, cây táo và cây đào lần lượt thi nhau nở hoa.
 
Nhưng được trồng nhiều nhất là cây táo. Tôi không có ai để chơi ngoài John hay sang nhà trò chuyện, mấy đứa em tôi cũng thích xúm vào hóng chuyện và cũng là cách để chúng tôi tập luyện tiếng Anh.
 
Thỉnh thoảng tôi cũng chạy sang nhà John, nhất là vào những lúc cây có trái chín trên cành. Ôi, tôi mê những cây táo vào mùa thu qúa, có loại mọc thẳng, cành vươn cao và trái cũng ở trên cao, có loại cành mềm, khi đậu trái thì chĩu cành lòa xòa sát xuống đất đến nỗi tôi chỉ việc ngồi xổm mà tha hồ hái trái.
 
Lại còn vườn dưa hấu trước sân tôi hay cùng John háo hức vạch tìm trong đám lá những trái dưa hấu nhỏ vừa hiện ra và thích thú theo dõi chúng cho đến khi lớn lên to tròn vươn lên khỏi đám lá. Không gì ngon ngọt bằng trái dưa hấu vừa cắt cuống trong vườn, bổ ra ăn ngay tại chỗ trong một buổi trưa hè mà John thường làm cho hai đứa cùng ăn.
 
BM
  
John nói chuyện với tôi đủ thứ, từ những chuyện hàng ngày của anh cho đến những ước mơ mai sau, anh lấy vợ thì sẽ về sống ở một nông trại. Anh say sưa tả cái nông trại của gia đình anh trước kia ở tiểu bang Texas, có một căn nhà gỗ bề ngang dài, bên cạnh là chuồng bò bằng hàng rào gỗ sơ sài. Anh khoe biết cách vắt sữa bò.
 
 Anh đã chạy rong trên cánh đồng cỏ khô hay đi trên con đường đất mà mỗi khi gío mùa hè lồng lộng thổi làm tung bụi mịt mù và cả những khi mấy con bò đua nhau về chuồng cũng làm bụi mù tung lên như gío đã thổi.
 
Đất Texas có nhiều nơi khô cằn gần như sa mạc, cả mấy chục acre đất nhà anh với nhiều bụi xương rồng rải rác và những bụi cây đã là to lớn vĩ đại với thằng bé lên 10 như anh thuở đó.
 
  Anh yêu thích ở nông trại, một trời một cõi như của riêng mình. Tôi cũng say sưa nghe John kể, như đi lạc vào một cảnh trong phim ảnh, vì nó xa lạ với tôi, chứ tôi chẳng đời nào thích sống ở những nơi khỉ ho cò gáy như thế.
 
Tôi luôn mơ nước Mỹ với những thành phố nhộn nhịp phồn hoa như New York mà tôi đã thấy trong phim ảnh làm tôi thích thú, tôi sẽ dạo bước trên những vỉa hè có những cửa hàng sang trọng. Cuộc sống sẽ là một chuỗi ngày vui.
 
BM
  
Hai năm sống ở Liberal thì cha mẹ tôi quyết định sẽ dọn đi tiểu bang khác, vì tương lai của mấy chị em tôi, để chúng tôi được sống ở thành phố lớn, học ngôi trường lớn và có cộng đồng người Việt Nam đông hơn.
 
Tôi qúa chán thành phố Liberal nhỏ bé này rồi và đã đợi chờ quyết định này của cha mẹ từ lâu. Thành phố gì mà chỉ có 1 phi trường nhỏ xíu, chỉ đủ cho mấy chiếc máy bay nhỏ thỉnh thoảng đến rồi đi, lặng lẽ, buồn hiu. Muốn đầy đủ tiện nghi, người ta phải đến phi trường ở thành phố Wichita hay Amarillo.
 
Ngay chiều hôm đó, tôi hí hửng chạy sang nhà John để báo tin vui này. Đó là một buổi chiều mùa hè đầy nắng. Tôi quen thuộc thò tay vào trong mở chốt cánh cổng rào bằng gỗ ngoài sân, mỗi lần đến nhà John tôi đều nhanh nhẩu làm thế, tự nhiên như nhà mình, và đi bộ trên con đường dài mà hai bên là vườn dưa hấu đang độ chín, trước khi đến căn nhà nhỏ bằng gỗ khiêm nhường. May qúa John có nhà, mà mấy khi John đi vắng đâu, anh thích ở nhà giúp cha mẹ làm vườn, ngoài những khi thỉnh thoảng theo cha mẹ đi truyền đạo trong thành phố vào dịp cuối tuần.
 
BM
  
Trời nắng nên tôi và John  không hẹn mà cùng bước về phía những cây táo trồng quanh mảnh sân trước, nơi mà chúng tôi thường đến đó tán gẫu và ngắm hoa táo nở đẹp vào tháng năm hay hái táo vào cuối tháng chín, cùng ăn, cùng chia nhau nếm thử quả táo ngọt với niềm vui thích. 
 
Tới một cây táo to lớn, cành rậm rạp, tháng này táo đang kết trái sau một mùa hoa xum xuê. John ngồi xuống trước rồi đến tôi. Tôi chẳng thèm ngắm những trái táo xanh nhỏ dễ thương trên cành mà lên tiếng hớn hở khoe ngay:
 
- Anh John ơi,  gia đình tôi sắp rời khỏi thành phố này rồi.
 
Mặt Johm hoảng hốt như vừa nghe một tin kinh khủng lắm:
 
- Sao? Em sẽ đi…có thật không?
- Thật đấy, bố tôi nói cuối tuần này sẽ dọn đi. Ngày mai cha mẹ tôi sẽ sang từ gĩa cha mẹ anh. Bây giờ tôi cũng sang để chào tạm biệt anh.
 
Giọng John vẫn bàng hoàng:
-  Em sẽ trở lại đây không?
 
Thấy gương mặt buồn lo của John, tôi tội nghiệp hứa liều không cần suy nghĩ:
- Chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm John và cha mẹ của John chứ. Vì cha mẹ John là người đã giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều khi mới đặt chân đến Mỹ mà.
 
John bỗng vụt đứng dậy:
- Hãy đợi anh ở đây, anh sẽ trở lại ngay trong giây lát.
 
John chạy bay vào nhà và lại chạy bay ra chỗ cây táo, không để tôi phải đợi lâu, anh đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ có ghi sẵn tên John và số điện thoại nhà anh, mà chắc là anh vừa ghi vội, giọng anh tha thiết như năn nỉ:
 
- Em hãy giữ lấy số điện thoại này, khi nào đến nơi ở mới thì liên lạc với anh. Em hứa đi!
 
Tôi cảm động, một lần nữa tôi hứa liều:
 
- Vâng, khi có nơi ở mới tôi sẽ gọi cho anh.
- Đừng thất lạc nhau nhé. Em hứa đi!
- Vâng, không bao giờ !
 
BM  
 
Nhưng khi đến California thì tôi bận rộn với cuộc sống mới và những lời hứa vội vàng với John bỗng chỉ là một trò đùa, tôi vứt đi mảnh giấy mà anh đã kỳ vọng trao vào tay tôi, đã dặn dò tôi và chắc là đã chờ đợi mỏi mòn kể từ ngày tôi rời thành phố nhỏ.
 
 Nối lại nhịp cầu liên lạc với John làm gì trong khi ở cái tuổi 17 tôi mơ hồ hiểu John đã yêu thích tôi, mà tôi dù có cảm tình với anh thì tôi cũng không thể nào lấy anh, vì mộng ước của anh và tôi hoàn toàn trái ngược.
 
Đành rằng gia đình anh là người ơn của gia đình tôi, họ hiền lành đạo đức, John sẽ là người chồng, người cha tốt như tấm gương của cha mẹ anh, nhưng tôi không thể lấy người chồng ít học làm nông trại và tôi chỉ quanh quẩn sống với chồng trong mấy chục acre đất hoang vu, chốn đồng khô cỏ cháy với mấy con gà, con bò như anh đã vẽ ra.
 
Tôi đã từng nghe chuyện nhà nông khốn khổ, trồng 1 acre bắp chỉ bán được khỏang 80 đồng theo gía sỉ, hay những vụ cam trúng mùa ở Florida, gía cam bán ra mà như cho không, chỉ 50 cent cho một thùng cam và những vụ khoai tây trúng mùa ở Idaho cũng xuống gía rẻ bèo như thế. 
 
Giấc mơ tuổi mới lớn của tôi là giàu sang phú qúy, lấy người chồng có địa vị, học cao hiểu rộng. Ở thành phố mới tôi đã miệt mài học hành, chính bản thân tôi cũng sẽ vươn cao. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đi làm và kén chọn người chồng tương lai.
 
Tôi đã bỏ qua nhiều cơ hội lập gia đình vì chê họ không xứng đáng với tôi, cho đến khi gặp người chồng hiện tại. Năm ấy tôi đã 30 tuổi, chồng tôi là một người thành đạt trong học vấn và trong kinh doanh. Tôi đã đạt được ước mơ và vui hưởng  hạnh phúc trong những năm đầu.
 
BM  
 
Vì rảnh rỗi và tò mò tôi quyết định thuê xe để lái từ thành phố Wichita đến thăm thành phố Liberal, nói cho đúng hơn để thăm lại gia đình ông bà Smith và John của ngày xưa xem họ thế nào? 
 
Tôi hình dung ra ông bà Smith đã già, họ đã nghỉ hưu không đi truyền giáo nữa. Còn John đã có vợ con và đang sống ở một trang trại nào đó, anh John sẽ là hình ảnh ông Smith nông dân chất phác và hiền hậu ngày xưa, anh chăm chỉ lao động nuôi bò, trồng trọt, các con anh sống và lớn lên ở nông trại, chúng biết cách vắt sữa bò và bám lấy nông trại không dám đi đâu xa giống như anh.
 
Sau 4 giờ lái xe, tôi đã trở về nơi chốn cũ. Thành phố nhỏ, đường kính lớn khỏang hai miles thì có gì là khó mà không tìm ra ngôi nhà của ông bà Smith nơi cuối phố, dù tôi đã xa cách  30 mấy năm rồi.
 
Nhưng tôi vẫn hỏi thăm, có vẻ như gia đình Smith có uy tín với cư dân ở đây lắm.  Người ta nói nhà Smith vẫn ở chỗ cũ. 
 
Khi tôi xuống xe, đứng ngẩn ngơ nơi cánh cổng rào gỗ năm xưa, bỗng thấy ngậm ngùi, có thể cánh cổng gỗ đã từng hư cũ, từng được thay đổi, làm lại cái khác nhiều lần rồi, và cái chốt mở cửa không phải là miếng gỗ mà tay tôi đã từng chạm vào năm xưa, nhưng vẫn giống thế, và như thể vẫn chờ đợi tôi trở về để chạm tay vào. 
 
Tôi run run thò tay vào mở chốt cửa, lại ngậm ngùi hơn vì ngẫu nhiên bây giờ đang là mùa hè, hai bên lối đi của mảnh sân vẫn trồng dưa hấu, lá xanh rậm rạp và xung quanh vẫn là những cây đào, cây lê, cây táo…dù có thể những loại cây này năm xưa đã gìa, đã cằn cỗi, được thay thế bằng  những cây trồng sau này.
 Thế giới đổi thay bao nhiêu thứ mà nhà ông bà Smith dường như không hề thay đổi. Khu vườn của họ vẫn là những hình ảnh cũ.
 
BM
  
Tôi đi vội trên con đường dài, hồi hộp nhìn chăm chăm vào ngôi nhà trước mặt đang đóng cửa, không còn tâm trí nào nhìn ngắm vườn dưa hấu xem có nhiều trái hay không. Rồi tôi gõ cửa và chờ đợi. Mãi sau mới có tiếng mở cửa, hiện ra trước mặt tôi là bà Smith, bà đã gìa đi -dĩ nhiên.
 
 Sau vài phút ngỡ ngàng nghe tôi tự giới thiệu thì bà đã nhận ra tôi, bà mời tôi vào nhà, rưng rưng nước mắt bà trách móc:
 
- Thì ra là cô, tại sao mãi hôm nay cô mới trở lại đây? John đã chờ đợi cô mấy năm trời.
 
Tôi ngạc nhiên và xúc động, nước mắt cũng rưng rưng như bà Smith:
 
- Thật thế sao? Tôi xin lỗi, tôi vô cùng xin lỗi vì đã không thực hiện điều đã hứa với John
- Cô đâu có biết, ngay khi gia đình cô đi được một tuần là John đã chờ đợi cô gọi phone về từng ngày.  Nó luôn tin tưởng cô sẽ gọi phone cho nó và một ngày nào cô sẽ trở về Liberal.
 
Bà Smith gục đầu xuống và khóc nấc lên, kể tiếp:
 
- Nó đau khổ và héo hon cho đến khi hoàn toàn tuyệt vọng…
- Trời ơi, tôi không ngờ.
 
Tôi cố ngăn giòng nước mắt, vuốt ve cánh tay bà an ủi như an ủi cho chính mình và hỏi thăm:
 
- Số phận tôi và John không thể gần nhau thôi mà. Bây giờ anh ấy ra sao?
- Sau đó John lấy vợ, Christine là con gái một nhà truyền giáo bạn thân của vợ chồng tôi, cô gái hiền lành ngoan ngoãn và rất yêu John, đã làm lành vết thương lòng của John.
Nhà vợ chồng nó cũng ở gần đây.
 
- Thế anh ấy không sống ở nông trại như anh ước mơ sao?
 
Bà Smith lau nước mắt, thoáng một niềm vui:
 
- Đó chỉ là ước mơ của một thằng bé tuổi vị thành niên, một thằng bé nhà quê mà suốt thời thơ ấu sống nơi trang trại. Khi John và Christine yêu nhau, cả hai cùng vào đại học. Họ đã tốt nghiệp y khoa và đang hành nghề bác sĩ ngay tại thành phố Liberal này.
 
Tôi ngạc nhiên và vui mừng reo lên:
 
- Không ngờ John học gỉoi và có chí đến thế!
- Tôi tin là nhờ có tình yêu của Christine.
- Với nghề nghiệp bác sĩ cả hai vợ chồng John có thể đi đến những thành phố lớn lập nghiệp dễ dàng, nhưng sao họ vẫn ở lại nơi đây?
- Chúng tôi đã quen sống ở thành phố nhỏ, từ ngày ông Smith mất đi, John càng không muốn xa mẹ. Nhưng nó dù bận hành nghề, vẫn không quên phụ giúp tôi gieo trồng và làm vườn mỗi khi mùa Xuân về. Đó là niềm yêu thích của John, của chúng tôi.
 
BM
  
Họ thật thủy chung, bao năm qua vẫn ở nơi này, ở căn nhà này dù họ có điều kiện để thay đổi. Bao năm qua họ vẫn trồng trọt làm vườn như nhà nông khi đến mùa dù họ có là ai đi nữa. Tôi đứng dậy chào tạm biệt bà Smith. Bà bỗng nắm cánh tay tôi, lo lắng dặn dò:
 
- Phải đấy, cô nên về ngay đi và xin cô hãy hứa với tôi một điều.
 
Tôi nói với tất cả chân tình:
 
- Tôi xin hứa bất cứ điều gì tôi có thể.
- Cô hãy đi và đừng bào giờ trở về đây nữa, bao nhiêu năm qua, vết thương lòng của John đã lành. Tôi tin là John đã quên cô, nó đang sống yên vui hạnh phúc bên vợ con. Nhưng nếu cô xuất hiện sẽ gợi lại nỗi đau cũ.  Cô hãy hứa lại một lần nữa cho tôi yên lòng.
 
Tôi chậm rãi nói từng lời rõ ràng cho bà Smith nghe rõ:
 
- Tôi xin hứa đây là lần cuối cùng đến đây. Thôi, xin chào bà.
 
Tôi đi ra cửa, bước trên con đường thân quen của thuở  tôi 17 tuổi lòng đầy kiêu kỳ tham vọng và John 18 tuổi hãy còn ngây thơ ngốc nghếch, muốn tán tỉnh tôi mà đưa ra một ước mơ nghèo nàn, đơn giản. Tình yêu chân thật của anh John nhà quê chẳng mấy khi đi đâu xa khỏi cái tiểu bang Kansas với những cánh đồng lúa mì mênh mông chỉ là một trò cười đối với tôi.
 
BM
  
Nhưng hôm nay, ở cái tuổi không còn trẻ nữa, khi mái tóc không còn xanh nữa, sau những vật chất phù hoa tôi đã nếm biết bao vị đắng, trải qua bao phũ phàng của tình nghĩa vợ chồng.
 
 Và sau cuộc trò chuyện với bà Smith, tôi chợt nhận ra một tình yêu hồn nhiên trong sáng của John dành cho tôi. Cái hạnh phúc mà bây giờ vợ của John đang hưởng tôi biết là vững chắc, đẹp đẽ biết bao nhiêu. Điều mà tôi không hề có. Tôi chợt nghĩ đến mấy câu thơ tôi đã đọc đâu đó và yêu thích:
 
Giờ đây không có ai, không có một tình yêu nào để cho tôi thể hiện sự thủy chung đằm thắm đơn giản như thế… Khi ra đến ngoài cổng, tôi quay lại khép cánh cổng rào bằng gỗ. Tôi biết mình vừa khép lại một qúa khứ, một bầu trời xanh và mất nó vĩnh viễn.
 
----
 
Hình minh họa- Internet
 
Ngọc Lan sưu tầm
 
Xem thêm...

Truyện ngắn: HOA HUỆ TRẮNG

HOA HUỆ TRẮNG

Truyện ngắn: Nguyễn Minh Phúc

~~<><><>~~

Buổi trưa , tôi thường ra coi tiệm cho vợ về ăn cơm. Vợ chồng tôi có một tiệm nhỏ bán hoa tươi ở chợ. Gọi là tiệm cho sang, thật ra đó chỉ là một cái sạp nhỏ mấy mét vuông nằm lọt thỏm giữa khu chợ suốt ngày đông đúc và lắm tiếng ồn.

Được cái, sạp nằm ngay ngã tư con lộ chính nên khá đông khách. Và, với một thằng viết văn làng nhàng như tôi, nhờ vậy cũng sống tạm qua ngày cùng người vợ giỏi giắng và sạp bán hoa tươi đắt khách quanh năm.
 

Quả chính cái sạp nầy nuôi cả nhà tôi nhưng điều tôi thích hơn vẫn là hàng ngày, cứ mỗi buổi trưa ra sạp lại được nhìn ngắm thỏa thích những đóa hoa tươi thắm, đủ màu sắc khoe rực rỡ trên bước chân người qua lại. Một gian nhà đầy hoa, có loại tôi biết tên, loại không biết tên cứ như làm lòng tôi dịu hẳn lại trong cơn kiếm sống tất bật hàng ngày, trong những trang viết đầy gai góc.

Không gì làm lòng ta thanh thoát, dịu êm và lắng đọng hơn bằng hoa, hình như R. Tagore bảo vậy. Tôi tin ông thi hào Ấn Độ nầy khi nói về hoa như là một thứ tôn giáo trong đời sống. Nó cũng làm người ta mê mải, đam mê, đắm đuối tôn thờ..

Chẳng phải các loài hoa đều được đặt những nơi cao quý nhất đó sao? Chẳng phải những tình yêu thuần khiết nhất đều bắt đầu từ biểu tượng một loài hoa. Và các đôi trai gái yêu nhau. Có lời tỏ tình nào êm dịu, tuyệt vời hơn khi tặng nhau một đóa hồng hay hoa “ Xin đừng quên tôi” chớm nở.
 

… Nhưng thôi, tôi chỉ mơ mộng tí chút khi ngồi chễm chệ trên chiếc ghế thật cao, đảo mắt nhìn quanh xem có ai đi ngang qua mà mời mọc : “ Hoa tươi đây, hoa Đà Lạt mới đem về đây… Mời anh chị ghé mua… Bảo đảm giá cả và chất lượng…” Vợ tôi bảo tôi mời khách như vậy, giọng nói phải nhẹ nhàng, từ tốn người ta mới chịu vào.

Cái thằng tôi đôi khi cũng được việc. Thần sắc tôi trông tội nghiệp thế nào không biết nhưng cứ hễ ai ghé vào sạp, nghe tôi chào mời, nỉ non một hồi, không ít thì nhiều, thế nào họ cũng mua hoa giúp tôi.


Khách hàng quen thuộc nhất của tôi lại là một thằng bé. Vâng, một thằng bé đâu chừng mười bốn, mười lăm tuổi dáng lêu khêu, gương mặt hiền lành, dễ thương, hầu như trưa nào cũng đến chỗ tôi mua hoa. Nó mua không nhiều, mỗi lần một bó nhỏ giá chỉ có vài ngàn nhưng lại lựa rất kỹ, mà chỉ đặc biệt mua hoa huệ trắng.

Lúc đầu, tôi cũng ngạc nhiên. Hỏi nó mua hoa làm gì, nó chỉ lắc lắc đầu không nói không rằng một câu. Riết rồi tôi thây kệ! Mắc gì đến tôi. Nó có tiền nó mua, tôi có hoa tôi bán. Cứ ba ngàn một bó sáu chiếc mà đếm tới. Ngữ nầy chắc mang tặng bồ, tặng bịch gì đây. Ôi, cái thằng con nít ranh hỉ mũi còn chưa sạch, mới chừng ấy tuổi chưa nứt mắt đã tí tởn làm người lớn, tôi nhủ thầm trong bụng như vậy.


Trả tiền tôi lúc nào cũng là những tờ giấy bạc nhàu nát như bộ đồ thằng bé đang mặc. Nó đến và đi lặng lẽ, đôi mắt đen mở to lấp lánh niềm vui và bước đi như chạy lẫn vào trong khu phố đông người. Tôi cứ băn khoăn tự hỏi không biết nó làm gì, mua hoa tặng ai…

Thi thoảng, có vài cánh hoa đẹp còn dôi ra trong chậu, tôi nhã ý tặng nhưng nó nhất định không lấy. Buổi trưa, dù trời nắng hay mưa, cứ như đến giờ hẹn, nó lại đến tôi mua hoa huệ trắng với những đồng tiền nhàu nát rồi bươn bả bước đi không nói một lời nào…



 

… Bẳng đi một thời gian khá lâu, tôi không gặp thằng bé. Vợ tôi lúc nầy bán hoa luôn vào buổi trưa nên tôi không phải trông chừng sạp. Tôi có hỏi về thằng bé mua hoa huệ trắng thì cô ấy lắc đầu quầy quậy:


- Thằng bé nào thế, sao em không biết? Mà trăm người bán vạn người mua, hơi đâu để ý. Nó mua hoa làm gì? Hay là nó lại gạ ông rồi ăn cắp hoa đấy! Trẻ con bây giờ táo tợn lắm…


Tôi không biết nói gì thêm và quên bẵng chuyện mua hoa huệ trắng. Mãi cho đến một hôm, tôi nhớ là chiều thứ bảy, sẵn mới lãnh tiền nhuận bút, tôi hào phóng dẫn vợ con đi ăn tiệm. Quán đông nghịt người. Tôi đang cắm cúi ăn thì một giọng trẻ con rụt rè phát ra từ sau lưng:


- Cháu… Cháu mời chú đánh giày…


- Không! Tôi lạnh lùng đáp.


- Chú làm ơn! Từ sáng giờ cháu chưa đánh được đôi giày nào! Tiếng thằng bé khẩn khoản.


- Đã bảo là không mà, tôi gắt.


Tôi bực mình ngoái nhìn lại và chợt nhận ra thằng bé. Cặp mắt lóng lánh thơ ngây và gương mặt dễ thương kia thì không lẫn vào đâu được nhưng nụ cười hạnh phúc mỗi lần mua hoa của tôi thì biến đâu mất. Nhường lại là gương mặt buồn thiu như chực khóc..


- Cháu có phải là thằng bé vẫn thường mua hoa của chú! Tôi hấp tấp hỏi mà lòng xốn xang.


- Dạ.. Là cháu. Thằng bé lí nhí.


- Thì ra… cháu làm nghề đánh giày! Mà sao lâu lắm chú không thấy cháu đến mua hoa! Tôi hỏi.


- Dạ…Thằng bé ngập ngừng hồi lâu mới trả lời. Dạo nầy cháu đánh giày ế quá chú ạ! Có khi cơm còn không đủ ăn!


Miếng đồ ăn trên miệng tôi bỗng đắng ngắt. Tôi nghẹn như không nuốt nổi, thương cảm nhìn thằng bé gầy rộp đi so với lần đầu tôi gặp. Tôi nhìn kỹ nó. Vẫn bộ đồ cũ nát, nhiều chỗ rách hơn và nước da nhợt nhạt chắc vì thiếu ăn thiếu ngủ. Nhìn các con tôi đang nô đùa, vui vẻ tíu tít trò chuyện quanh bàn ăn thừa mứa, bất giác tôi thấy chạnh lòng.


- Thế ba mẹ cháu đâu? Tôi hỏi.


Như chạm vào nỗi đau nào đó,thằng bé không trả lời, cặp môi mím chặt lại. Mắt nó ngân ngấn nước. và chẳng nói thêm một câu nào, thằng bé lửng thửng ôm thùng đánh giày bước đi trước khi tôi kịp kêu nó lại. Buổi ăn tiệm của tôi xem như đã hỏng.

Trên đường về, tôi cứ ân hận là không kịp hỏi chỗ ở của nó để may ra, tôi còn gặp lại nó, ít ra cũng giúp được nó tí gì. Nhưng tôi chắc rằng, điều ấy thằng bé cũng chẳng nói ra đâu…
 

Lúc nầy, cửa hàng bán hoa của vợ tôi ế ẩm. Tôi bỏ ngang công việc viết lách buổi trưa ra trông chừng cửa hàng. Với lại, tôi cũng có ý đợi thằng bé với nỗi cồn cào khôn tả. Bao nhiêu câu hỏi trong đầu của tôi về thằng bé chưa giải đáp được.

Nó con nhà ai, ở đâu? Sao nó lại cứ để dành mua hoa với đồng tiền đánh giày ít ỏi? Tôi chỉ biết chắc một điều tiền nó dành dụm mua hoa là những đồng bạc lẻ nhàu nát. Ở đâu ra nếu không phải là tiền của nó chắt chiu từ những lần đánh giày hiếm hoi trong ngày?

Và câu hỏi lởn vởn nhiều nhất trong đầu tôi là nó mua hoa để làm gì trong khi nó phải nhịn ăn, nhịn mặc… Nó xuất hiện trước tôi như những điều bí ẩn mà cho dù có cố cách nào, tôi cũng không giải đáp nổi…
 

Ơn trời, trưa nay tôi lại gặp nó. Cũng cái dáng lêu khêu, nước da đen sạm và đôi mắt long lanh và trên người là bộ đồ rách rưới. Trên tay cầm chiếc hộp đánh giày, nó xăm xăm tiến về cửa hàng, moi ra những đồng tiền cũ nát và chìa ra cho tôi:


- Chú bán cho cháu bó hoa huệ trắng như mọi lần. Nó nói, mắt ngời hạnh phúc.


Lần nầy thì tôi không hỏi nó nữa. Tôi đã có cách của mình để khám phá bí mật của thằng bé. Lựa hoa cho nó xong, tôi lặng lẽ kín đáo nhìn nó. Đôi mắt nó như nở bừng lên với niềm vui vô hạn. Sau tiếng cám ơn ngắn ngủi, thằng bé tung tăng bước lẫn vào giữa đám đông với bó hoa trên tay đung đưa trước mặt.


Tôi nhanh nhẹn rảo bước theo thằng bé. Chút nữa thì tôi mất hút nó trong đám đông khu chợ. Nó bước đi như chạy mà không hề hay rằng tôi đang hấp tấp theo sau. Một ngã quặt, rồi một ngã tư, tiếp đến là đường ra ngoại ô. Nó ra đây làm gì nhỉ? Trời đang chuyển cơn mưa lớn… Mặc! Tôi cứ đi theo nó mà trong lòng ngổn ngang bao nhiêu là câu hỏi…


Cái nghĩa trang thành phố hiện ra trước mắt tôi. Thằng bé vẫn xăm xăm tiến bước như đã quá quen các đường ngang ngõ tắt quanh các ngôi mộ. Mưa đã bắt đầu rơi. Sau một hồi quanh quất, nó đứng trước một ngôi mộ thấp lè tè cỏ mới lên xanh. Tôi đứng nấp sau chiếc mộ lớn, tò mò xem nó sẽ làm gì.


Nó đứng đấy, trước ngôi mộ không bia kia, nghiêm trang, thành kính, mắt ngời hạnh phúc, miệng mấp máy như khấn nguyện điều gì. ..Mưa rơi mỗi lúc một nặng hạt. Nó cứ đứng như thế, co ro trong chiếc áo cũ mỏng manh, rách nát với bó hoa huệ trắng, run rẩy cầm trên bàn tay gầy guộc đặt bó hoa tươi trước ngôi mộ thấp bé, cỏ đã ướt đẫm nước mưa.


Không thể chờ lâu hơn, tôi bước gần đến nó. Thằng bé như không hề biết đến sự hiện diện của tôi, hai chân quỳ trước mộ và tôi nghe nó nói tiếng được, tiếng mất giữa màn mưa :


- Con lại đến thăm mẹ đây, mẹ ơi! Con mang cho mẹ những đóa huệ trắng mà mẹ rất thích khi còn sống! Xin mẹ phù hộ cho con trong cuộc đời nầy… Con nhớ mẹ lắm…. Mẹ ơi…


Tôi lặng người nhìn thằng bé. Nó vụt lớn lên trong tôi, cao sang, thanh khiết như những bông huệ trắng khẽ rung lên, tuyệt đẹp, tinh tuyền.


Mưa xối xả rơi trong nghĩa trang mà lòng tôi cứ ấm áp đến lạ kỳ. Những đóa huệ trắng như sáng rực lên giữa màn mưa đen kịt ./.

 

------------

-Hình Internet 

 = Hồng Anh st =

 



 

 

Xem thêm...

NỬA THU- Truyện ngắn của Hoàng Nga

NỬA THU

Truyện ngắn của Hoàng Nga

~~<><>~~

Không biết mưa từ lúc nào, sáng sớm, nửa khuya, hay mới vừa, nhưng khi tôi áp mặt vào cửa nhìn ra ngoài, những hạt nước bay ngả nghiêng đập vào mặt kính tạo ra thứ tiếng động đặc biệt không thể lẫn lộn với bất cứ âm thanh nào làm tôi có cảm tưởng như cơn mưa đã đến từ lâu lắm rồi và sẽ không bao giờ chấm dứt. Cơn mưa nhanh, hạt nối hạt chẳng ngừng làm mờ cả khoảng không gian rộng lớn bên ngoài.

Mưa buồn. Đều đặn rơi khiến tôi không nghe thấy cả tiếng Lũy mở cửa, tiếng chân anh bước vào phòng. Mãi cho đến lúc anh hỏi đùa tôi đã làm được bài thơ nào chưa, tôi mới giật mình quay lại. Lũy bật ra một tràng cười. Bóng dáng anh to lớn, che khuất cả một phần khung cửa sau lưng tôi. Tôi hỏi nãy giờ anh làm gì mà bỗng dưng lại hiện ra một cách đáng sợ như vậy. Lũy lại cười. Đáp anh làm vài việc vặt dưới basement.

Từ chỗ tôi đứng, nhìn ra ngoài, là khoảnh vườn đầy những loại cây lá nhiệt đới mà Lũy đã ra sức tim kiếm, mang về trồng trọt, chăm sóc trong nhiều năm liền. Cây lớn, nhỏ. Cao, thấp không đều nhau.

 Lũy trồng cây hoàn toàn không theo một thứ tự nào cả, anh nói sự ngăn nắp, trật tự trong một khu vườn như vậy, sẽ làm mất đi tính cách tự nhiên của đất trời. Tôi đã đùa với Lũy, tôi yêu hai cây cọ châu Phi với những nhánh lá thật lớn nằm ở cuối vườn, chẳng phải vì sự không ngăn nắp trật tự đầy cố gắng, hay vì sự tự nhiên cố ý, mà chỉ vì chúng nhắc nhở cho tôi nhớ đến bóng dáng oai phong lẫm liệt của anh mà thôi.

Lũy lại gần tôi, cùng đứng nhìn ra ngoài. Mưa càng lúc càng lớn nên trời chuyển sang tối hơn. Tôi hỏi Lũy cơn mưa này có làm anh nhớ gì không. Lũy đáp anh đang nhớ đến những cơn dông của Sài Gòn. Tôi so vai:

- Mưa lớn, giống những cơn giông của miền nam thật, nhưng trời lại tối quá làm em nhớ miền trung. Nhớ Huế lạ.

Lũy bật cười to lên:

- Bao lâu rồi em không về Huế?

Tôi nhẩm tính:

- Dễ chừng trên ba mươi năm.

Lũy nghiêng mặt, nhìn tôi một lúc rồi lắc đầu:

- Nói nhớ miền trung thì còn nghe được, chứ em làm sao có thể nhớ Huế với chừng ấy năm không về thăm?

Tôi quay hẳn lại phía Lũy:

- Anh không biết có những điều, những khung cảnh đến trong trí một người, rồi nằm luôn ở đó không chịu biến mất đi hay sao? Nhất là những kỷ niệm vui, dễ thương, hiền hòa. Em nghĩ hệt như các dữ kiện khó xóa nào đó trong máy vi tính, em chắc không thể nào quên Huế được mặc dầu có thể chẳng bao giờ em có dịp về đó lần nữa.

Tôi tiếp:

- Em nhớ Huế vì em đã về Huế vào những năm tháng ký ức còn trắng tinh, chưa có chỗ để đựng những điều phiền toái của cuộc đời. Những gì em nhìn thấy, những gì đẹp nhất về Huề cứ nguyên vẹn trong em như vậy từ hồi đó đến giờ.

Tôi từng kể với Lũy, Huế trong ký ức tôi, chẳng bao giờ là những gì thiên hạ vẫn thường hay ca tụng. Huế không Trường Tiền, không Thiên Mụ, không sông Hương, không núi Ngự, cũng chẳng bến Vân Lâu...

Mà trong tôi, Huế chỉ là những đêm trăng rất sáng sau mảnh vườn thơm ngát hương hoa lài nhà người bác họ. Là những sáng trời mưa dầm, con bé mười, mười một, mười hai tuổi tôi thẩn thơ dưới hàng hiên, đưa tay tinh nghịch đón những hạt nước trời trong veo rơi xuống từ mái ngói.

Là những chập choạng hoàng hôn, trốn cả nhà ra cuối vườn hái mấy đóa trà mi, hải đường dấu cuối đáy giỏ, chờ đem về bên kia đèo ép vào sách. Là những nhá nhem tối, hai mắt nhắm chặt, co chân chạy một mạch không thở, băng ngang qua nhà từ đường vào phòng khách lớn để khỏi phải nhìn thấy những ngọn đèn bạch lạp le lói, khỏi phải ngửi mùi trầm và nhang dễ vẽ lên trong trí tưởng tượng những hình ảnh ma quái, kinh dị.

Tôi nói với Lũy, Huế trong tôi, còn đằm thắm chén mắm tôm chua chấm thịt luộc. Thơm ngát tô canh khế nấu nước mưa. Cay tê dại thẩu mứt gừng, không xắt mỏng như vẫn thường thấy, mà các o tôi lại để nguyên nhánh, bóc vỏ cẩn thận, tỉ mỉ bằng con dao têm trầu bén ngót, rồi sên với lửa liu riu hàng giờ trong thau đường cát trắng tinh.

Huế trong tôi, còn ngọt lừ trên đầu lưỡi chùm nhãn lồng, dòn tan trái chùm ruột vừa mới hái sau vườn... Hơn ba mươi năm tôi không về Huế, chắc chắn vị giác, khứu giác tôi đã đổi thay theo thời gian, nhưng tôi vẫn có cảm giác sẽ không bao giờ tìm ra nơi đâu miếng nem nướng đậm đà hơn nơi ba tôi hay dẫn đi ăn bên kia cầu Gia Hội, sẽ không thấy ở đâu chén chè bắp thơm hơn mùi cốm non ở thôn Vỹ Dạ bác tôi nấu những lần cha con tôi về thăm.

Tôi kể:

- Dưới mắt em hồi đó, Huế xinh đẹp không bắt đầu từ những con đường dẫn vào thành phố như có người từng viết, mà từ lưng chừng đèo Hải Vân. Lần nào về Huế, em cũng chỉ mong chiếc xe chở khách bị dừng lại ở đỉnh đèo vì bị mây che hết lối.

Thử tưởng tượng nỗi sung sướng của em khi được ngừng lại như vậy đi! Em nghĩ chắc chắn người lớn đã rầu rĩ lắm, nhưng còn em, thì anh biết em làm gì không? Chao ơi, em mừng như bắt được vàng, bị la cách gì đi nữa em cũng đưa cả hai tay ra ngoài cửa sổ xe để bắt gặp cái cảm giác lành lạnh chạy dọc từ lòng bàn tay lên đến vai, rồi từ đó xuống đến xương sống.

 Bao giờ em cũng ước ao được giữ lại một cụm mây để mang về nhà. Và cuối cùng thì để em dịu xuống, chiều ý em, ba sẽ đọc những câu thơ cổ, tả cảnh trời nước, mà có lẽ ba biết chắc là khi trời quang đãng, xe chạy qua được phía bên kia chân đèo thì em chẳng còn nhớ được chữ nào.

Lũy bật cười:

- Nghe cũng lãng mạn quá ha!

Tôi cười theo Lũy. Bỗng sực nhớ lại có lần nào đó Lũy bảo anh thích nhìn những hạt mưa rớt rơi trong vườn, và thường ghi lại bằng ống kính từng hạt long lanh còn đọng trên lá bởi chúng luôn luôn làm những kỷ niệm êm đềm thuở ấu thời quay trở về với anh.

Và cũng như tôi, anh nói hầu hết tất cả những gì anh canh cánh mang trong lòng ấy, chẳng hề to tát, lớn lao. Hầu như cũng chỉ là cái nhớ nhung một gánh hàng rong, một thúng cá nồng nàn mùi muối biển cửa Thuận An hứa hẹn bữa cơm chiều ngon miệng.

 Cũng chỉ những chén chè đậu ngự, đậu ván, những trái bắp nướng, những hạt đậu phụng dòn tan béo ngậy tan ra giữa hai hàm răng. Cũng chỉ cái thời tiết khắc nghiệt, những trưa nắng khét mùi nhựa đường, những tiếng gió rít lạnh người khi trời bão to quét ngang về thành phố.

Chiều hôm qua, lúc nhìn thấy Lũy đứng ngắm nhìn hàng phút những hạt nước đọng trên một nhánh lá vả, tôi đã tự hỏi không biết trước những hình ảnh đẹp ấy, Lũy đã ngắm bằng đôi con mắt người làm nghệ thuật, hay bằng cái nhìn từ quá khứ, mà khi đưa cho tôi xem những bức hình tuyệt mỹ, gương mặt đầy vẻ bồi hồi của anh làm tôi thật cảm động. Tôi bảo:

- Em nghĩ những kỷ niệm ấu thời của bất cứ người nào cũng không bao giờ to tát lớn lao đâu anh. Nhưng bình thường vậy đó, nhỏ vậy đó, mà thỉnh thoảng hiện về, quẫy lên, là chúng sẽ biến thành những con kình ngư làm đau lòng nhức dạ chúng ta.

Tôi cười, quê hương là vậy đó mà. Lũy hỏi chùm khế ngọt, hay con diều biếc. Tôi trêu nếu khế không ngọt và diều đứt dây thì có quê hương không nhỉ. Lũy phì cười theo. Chúng tôi nhắc với nhau về những nơi từng đi qua ở Huế, ở quê nhà, những trò chơi thuở nhỏ, những món ăn chừng như chỉ còn nằm trong quá khứ. Lũy bảo:

- Có nhiều khi vẩn vơ một mình, anh vẫn thường nghĩ, quê hương của con cái chúng ta hẳn đã là một nơi nào đó trên xứ này, bởi chúng được sanh ra, lớn lên tại đây, nên chúng cũng có những buồn vui thời thơ nhỏ như chúng ta ngày xưa, nhưng anh cứ tự hỏi khi bắt buộc phải rời xa chốn chôn nhau cắt rốn, rời xa nơi chúng ra đời, không biết chúng có đớn đau cùng khủng như mình không.

Nhìn nét mặt Lũy, tôi biết lần này anh không đùa, nên thận trọng trả lời:

- Con cái mình, khi rời xa nơi chúng yêu mến, nơi chúng từng ở, chắc chắn sẽ buồn lắm chứ, nhưng để có những chuyến trở về, đầu phải như chúng ta, ray rứt, day trở và ngậm ngùi, nên chúng sẽ không bao giờ bị những nỗi đớn đau, cùng khủng dày vò mình một cách tội nghiệp.

Tôi nói vậy, vì cả Lũy lẫn tôi đều có những kinh nghiệm buồn bã, xót xa tương tự nhau trong lần trở về. Cũng bùi ngùi và ngơ ngác khi đứng trước căn nhà cũ đã thuộc về những con người xa lạ. Lũy nói:

- Nghe em nói nhớ Huế, và giữ đậm nét về Huế, mà bỗng thấy sợ.

- Sợ? Anh sợ điều gì?

Tôi ngạc nhiên nhìn Lũy. Anh nhìn lại tôi:

- Thật ra chữ sợ này anh nên để trong hai ngoặc kép. Vì ý anh muốn nói tuy anh không đi nhiều, không sống ở nhiều lục địa khác nhau như em, nhưng dẫu sao thì cũng đã đi, đã dời chỗ tới lui vài nơi do cuộc sống và cả những ham muốn thúc đẩy, nhưng kể từ ngày các con anh lớn lên thêm vài tuổi, anh bỗng hết còn muốn đó đây, hết muốn dời nhà như trước nữa. Anh nghĩ, tha phương, đó đây nhiều quá, rồi các con anh cũng sẽ cưu mang những tâm tư buồn bã như anh.

Tôi thở dài:

- Em hiểu điều anh muốn nói. Và thật ra chính em cũng chỉ muốn sống một đời bình lặng, yên ổn như bao người, nhưng anh thấy đó, cuộc sống không cho phép, nói đến hai chữ “cũng đành“ mà buồn.

Lũy im lặng. Tôi nghĩ đến những đoạn đời phiêu bạt của mình. Nghĩ đến những ước mơ bình thường của tôi -lẫn của Lũy- về một mái gia đình. Những quẫy đạp tội nghiệp, đau đáu bám theo mình nhiều tháng năm dài cho đến khi không còn đủ sức để ước mơ.

Tuy nhiên tôi biết không như tôi, Lũy vẫn còn đi tìm và còn mơ về một chốn bình an. Tôi bỗng muốn đùa với anh rằng anh hãy còn quá nhiều lạc quan và yêu đời, nhưng sợ Lũy buồn, tôi nói sang chuyện khác:

- Hôm nào đó anh có muốn ăn cá nục kho cho đỡ nhớ Huế không? Em kho cá cũng thuộc loại ngoại hạng đấy.

Lũy bảo anh sẽ chờ tôi trổ tài để xem tôi giỏi đến đâu. Mấy hôm nay tôi về, Lũy nấu cho tôi ăn. Và không như nhiều người đàn ông sống một mình khác, anh nấu ngon, nấu giỏi. Lũy bảo do thói quen thích chăm chút lo lắng cho con cái nhiều năm liền. Tôi trêu anh, cái thói quen ấy của anh chỉ làm đau lòng phụ nữ. Nhất là những người phụ nữ phải gồng gánh một mình cả đời như tôi và... bà Trần Tế Xương.

Tôi nói:

- Em đi năm châu bốn biển, nhưng chưa thấy hải sản ở đâu tươi ngon như ở đây. Thiên nhiên ưu đãi cái xứ này quá.

Lũy cười:

- Vậy mà em bỏ nơi này đi đến hơn mười lăm năm mới trở lại.

Tôi không biết trả lời sao, nên lại nhìn ra khoảng không gian ướt nước bên ngoài. Không tưởng tượng được thời gian mình bỏ đi đã lâu đến vậy. Đóa hoa, ngọn cỏ ở quanh đây trong mắt tôi, vẫn cứ như ngày hôm qua. Chưa tàn.

 Nhưng bất chợt tôi sực nhớ đã gần cuối tháng tư, đã lưng chừng nửa mùa thu ở miền nam bán cầu, nghĩ vội đến những bước bắt đầu lại cho cuộc sống mới ở nơi này, bỗng không tôi thấy mệt mỏi lạ. Mơ hồ, tôi nhận ra khi những động lực bắt buộc con người vươn tới trước chừng không còn nữa với mình, tôi tự hỏi lòng, chẳng biết rồi đây tôi có dang tay, thả nốt một quãng đời kế tiếp rơi vào hư vô hay không.

Thấy tôi im lâu quá, Lũy tiếp bằng giọng giễu cợt:

- Anh thấy nãy giờ em nói ra điều gì cũng có vẻ hết sức mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn như em bảo nhớ Huế mà hơn ba mươi năm không hề về thăm, rồi gọi đây là xứ tốt tươi, xứ đượm sữa và mật ong như em vẫn thường ví von, nhưng cũng bỏ đi thật lâu. Và lạ hơn nữa là khi về lại đến đây thì có vẻ như chẳng muốn ổn định lâu dài.

Tôi bật cười:

- Nếu như vậy, có lẽ phải nói là nơi đây đất không lành với em.

Hôm tôi vừa mới về, bằng một giọng cũng hết sức giễu cợt, Lũy đã hỏi tôi lần này có chịu ở lại luôn xứ này hay chưa. Và lúc hỏi tôi như thế, mắt anh long lanh cười. Tôi biết Lũy chỉ muốn trêu tôi vì nhiều lần tôi đã nói với anh, mãi cho đến tận tuổi năm mươi, tôi vẫn chưa hề đặt bất cứ điều gì trong cuộc sống có thể lên hàng tối quan trọng, cũng như chưa hề có nơi đâu khiến tôi muốn dừng chân.

Lũy nói tôi có thể cho anh biết lý do tại sao hay không. Tôi thở dài:

- Bình thường trong đời sống, có những điều vốn đã không “nặng ký“ đối với em, đến lúc những bổn phận phải cưu mang trong nhiều năm trời tự dưng hết đi, chẳng hạn em đã không còn phải lắng lo những cái gọi là hằng ngày cho con cái như cơm ăn áo mặc, sách vở áo quần, thì mọi thứ quanh em bỗng lại càng trở nên mất trọng lượng. Tất cả các ước muốn và ước mơ của em gần như không còn, hoặc có còn chăng nữa, cũng không dữ dội, không mạnh mẽ để bật em dậy.

Tôi từng kể cho Lũy nghe ngày cầm xấp hồ sơ ly dị với chữ ký và mộc dấu của tòa án trên tay, tôi đã lật tới lật lui nhiều lần, vì cái cảm tưởng mình không giống ai cứ đến với tôi. Tôi thấy mình lạ. Dị kỳ. Tôi nói:

- Thay vì xa xót, đắng cay, hay chua chát, thì em lại ngẩn ngơ cố nhớ lại những cảm giác của ngày mình ký giấy hôn thú, để so sánh thử xem nó khác với những gì đang hiện diện trong tâm em như thế nào.

Lũy hỏi:

- Rồi em có tìm thấy sự khác biệt nào không?

Tôi lắc đầu:

- Không. Chẳng có sự khác biệt nào cả.

Không? Lũy ngạc nhiên hỏi. Tôi gật đầu:

- Vì vậy em mới thấy mình không bình thường. Em vẫn nghĩ em không phải là kẻ coi thường những sự kiện quan trọng trong đời sống một con người, cũng không là một người thờ ơ, vô trách nhiệm với bản thân và với người chung quanh, nhưng chẳng hiểu sao bất cứ điều gì xảy ra với em, từ điều lành đến điều dữ, chuyện lớn đến chuyện nhỏ, đều hiếm khi làm em bối rối hoặc hoảng hốt quá độ. Vui, với em, gần như cũng chỉ chừng mực, giới hạn ở một mức nào đó mà thôi. Và buồn, thì có thể nói là em thường rất tỉnh táo, rất bình tĩnh để chấp nhận.

 Có thể vì em vẫn hay nghĩ đến những trường hợp xấu nhất có thể xảy ra với mình ngay cả khi chưa hề có một báo động về những dấu hiệu xấu ấy, vì vậy khi chuyện dữ đến, em luôn có cách để đối phó. Thiên hạ chơi chữ, hay bảo em là con người biết trực diện với sự thật. Nhưng càng ngày, em càng thấy chẳng những thế thôi, mà em còn biết cách để trực diện với sự... giả nữa anh Lũy ạ.

Tôi phá ra cười khi dứt câu. Lũy làm thinh đôi giây. Anh cũng từng kể cho tôi nghe, anh có trái tim bọc thép, do nhiều lần phải “đương đầu“ với những quyết định phũ phàng và tàn nhẫn của những người anh yêu hoặc từng yêu anh.

Và có lẽ “trái tim bọc thép“ của tôi đang nghĩ đến một bàn tay nào đó có khả năng tháo gỡ cái vỏ bọc của mình, nên anh quay sang ngó tôi, bảo, em cần phải có một người cột chân để ổn định ở một nơi nào đó. Tôi lại phì cười:

- Anh định khuyên một người phụ nữ không có nhu cầu làm vợ như em nên đi lấy chồng, lập gia đình hay sao đây?

Lũy nhăn mặt:

- Một người phụ nữ độc thân mà không có nhu cầu làm vợ! Em ví von nghe cũng thuận tai đấy chứ nhỉ?

Tôi thu tay ôm lấy vai. Không biết nhìn đi đâu nên lại nhìn ra trời mưa. Mưa, mưa dầm dề. Mưa trút nước. Mưa tựa hồ những đợt sóng dữ không dứt đổ xuống đời tôi những tháng năm vừa qua đi trong quá khứ. Tôi xa xót nghĩ đến điều Lũy từng nói, rằng đi mãi, tìm kiếm mãi, đến tuyệt vọng, nhưng vẫn chưa được thấy đốt xương sườn của mình ở nơi nào.

Tôi quay mặt hẳn về phía Lũy. Nhớ mình mới vừa đề nghị sẽ kho cho anh nồi cá nục kiểu Huế, tôi hỏi anh:

- Anh có nghe nói về loại cowfish bao giờ chưa nhỉ?

Lũy gật:

- Hình như đó là một loại cá có nọc độc.

Tôi mỉm cười:

- Không những nó chỉ có nọc độc thôi anh, mà loại cá này trước khi dãy chết, hoặc dẫu có bị chết bất đắc kỳ tử đi nữa, nó cũng sẽ không quên nhả hết nọc độc trong người ra để làm chết luôn những con cá khác ở chung quanh nó.

Lũy lườm tôi:

- Em định nói gì anh phải không?

Tôi đưa cả hai bàn tay lên che miệng cười:

- Thấy anh thật giống hệt con cowfish, chết mà cũng không muốn chết một mình, còn định rủ người khác chết chung cho vui! Nếu không thích giang hồ lãng du nữa, và cảm thấy cần dừng gót thì anh cứ đi kiếm người cột chân, kiếm người nào đó làm anh… mất độc lập tự do hạnh phúc đi. Chứ anh xui em làm như vậy chi cho khổ đời em!

Lũy không đáp. Chỉ lắc đầu, rồi nói, mưa dầm dề kiểu này, lười ra đường kiểu này, có lẽ cho tới khi em về, cũng chưa có nổi một nồi cá kho.

 

 Hoàng Nga

Hồng Anh st

                                            

     

 

Xem thêm...

Nhà có hoa Mimosa vàng

Nhà có hoa Mimosa vàng

Truyện Ngắn của Nguyễn An Bình

 Tôi đi qua khu chợ bán rau cải để đến nhà Kiệt như đã hẹn. Buổi sáng Đà Lạt se se lạnh sương vẫn chưa tan hết, những sọt rau xanh tươi được các nhà vườn chuyển tấp nập  ra vào khu chợ, xen lẫn tiếng ồn ào bán hàng, trả giá  tạo một khung cảnh mua bán náo nhiệt.

Quấn lại chiếc khăn len mỏng cho đở lạnh, Tôi bước lên mấy bậc thang ở cuối chợ rau len qua một ngách nhỏ là qua một con phố khác. Ở Đà Lạt phố xá thật lạ, khi lên cao khi xuống thấp, có chổ chỉ cần qua vài bậc thang ngắn là có thể ngoặt qua một khu phố khác, không khí mới ồn ào ở nơi nầy thì lại yên ắng, vắng vẻ ở nơi khác ngay.

  Nhà của Kiệt ở gần cuối con phố , cậu ta nói chỉ cần bước vào con phố nầy là nhận ra nhà cậu ta ngay bỏi vì duy nhất ở đây chỉ riêng nhà  Kiệt có trồng cây mimosa vàng.Tôi và Kiệt quen nhau từ khi hai chúng tôi nhận được học bống du học ở Singapore, quê Kiệt ở Đà Lạt, còn quê tôi ở miền Tây.

Chúng tôi học chung ngành công nghệ.Kiệt yêu thích âm nhạc, âm nhạc Ngô Thụy Miên và Trịnh Công Sơn như chảy trong máu của hắn,ca từ trong những bản nhạc của hai nhạc sĩ nầy không chê vao đâu được, đi chơi đâu nếu có dịp là Kiệt đem theo cây ghi-ta để nghêu ngao ca hát, còn tôi lại thích thiên văn, nhưng không vì thế mà hai chúng tôi lại không thân nhau.

Lần nầy về Đà Lạt chúng tôi đi theo chương trình giao lưu giữa sinh viên trường đại học chúng tôi đang học với một trường trung học phổ thông nơi đây, ba Kiệt là hiệu trưởng của trường THPT nầy nên giấy tờ, sinh hoạt, tham quan đều rất thuận lợi.

Hôm nay là ngày cuối của chương trình giao lưu chúng tôi được tự do trọn ngày, ba mẹ Kiệt muốn mời tôi đến nhà chơi. Cùng đến thăm nhà Kiệt hôm nay còn có Mai, bạn gái Kiệt cũng là sinh viên công nghệ Sing có mặt trong đoàn  chúng tôi từ đầu.      

 

Ngôi nhà có cây mimosa vàng nổi bật trên con phố,nó cao lớn nhưng thon thả tươi mát, mùa nầy mặc dù đã vào tháng năm nhưng cây vẫn trổ những chùm hoa vàng  hình cầu rực rỡ,tỏa hương thơm mát dịu.

Tôi nghe nói giống cây nầy có xuất xứ từ Úc được du nhập vào nước Pháp rất sớm và nó  đã theo chân bác sĩ Yersin  đến đây khi ông khám phá ra cao nguyên Lang Biang sau nầy trở thành thành phố hoa Đà Lạt xinh đẹp ngày nay.

Thật ra cây mimosa chẳng có giá trị kinh tế nào đáng kể nhưng vì sắc vàng rực rỡ của nó quyến rũ làm say đắm lòng người nên người ta đã trồng nó trên những con đường,quả đồi để tô điểm thêm cho vẻ đẹp của xứ sở ngàn hoa,cứ thế sắc hoa vàng thấp thoàng từ trong ngõ nhỏ đến một số con đường lớn.

Khác với hoa dã quỳ, cánh to rực rỡ nhưng lại mau tàn, còn hoa mimosa lại bền bỉ hơn, nó nở hết đợt hoa nầy đến đợt hoa khác nhất là vào mùa xuân là thời điểm mãn khai nhất của nó, hoa lại khoe sắc vàng, óng ánh mịn mượt như nhung, nở tung hết cánh li ti từng chùm, hình cầu trông thật thơ mộng,duyên dáng.

Cây có dáng đẹp,cành lá lấp lánh ánh bạc, đặc biệt có hương thơm ngai ngái. Đồng bào dân tộc quen gọi mimosa là cây lá bạc hoa vàng và mùa xuân là mùa của lá bạc hoa vàng trên cao nguyên.

Ngoài loại mimosa vàng nầy còn có loại mimosa khi nở màu hoa tím nhạt cũng rất dễ thương quyến rũ nhưng mấy hôm ở Đà Lạt tôi không thấy ai trồng, chẳng lẽ nó không phù hợp với sự thưởng thức của người dân phố hoa nầy hay sao nhỉ?

 Trồng nhiều là thế, nhưng suốt con phố nhỏ nầy chỉ có ngôi nhà của Kiệt là trồng mimosa nên người ta có thể thấy nó nổi bật và dễ nhận ra hơn những ngôi nhà khác, ngôi nhà có hàng rào bằng gỗ thông, những thanh đứng đóng cách khoảng thật đều đặn, đầu thanh chuốt nhọn hình mũi tên sơn trắng muốt sạch sẽ càng làm nổi bật lên ngôi nhà thấp thóang phía sau.

Tôi đứng tần ngần trước ngôi nhà có cây mimosa vàng đó một lúc thì trong nhà có người chạy ra. Một cô bé khoảng mười sáu, mười bảy tuổi gì đó nhưng lớn như một thiếu nữ, mái tóc dài mượt mà, óng ả  trong nắng sớm Đà Lạt, mặt xinh xắn nhanh nhẹn mở cổng reo lên:

-           A!  anh Tân đến rồi, vào đi anh. Sao anh không bấm chuông.

Tôi ngạc nhiên nhớ là mình chưa từng gặp cô bé nầy, hơn nữa đây là lần đầu tiên mình đến Đà Lạt, làm sao cô bé lại biết tên mình. Tôi hỏi:

 -  Sao bé lại biết anh ?

Cô bé nhìn tôi cười vẻ tinh nghịch:

-          Mình đã gặp nhau rồi mà anh.

Tôi ngớ người ra. Chịu. Không biết gặp cô bé nầy lúc nào, nếu mở miệng ra nói không nhớ sợ cô bé nầy giận mất. Như đọc được suy nghĩ của tôi, cô bé nói luôn:

-           Bốn năm trước em cùng ba mẹ đến sân bay tiễn anh Kiệt đi du học ở Sing, anh lúc đó cũng trong đoàn học sinh Việt Nam đi cùng anh Kiệt mà, đúng không?

        À!  Tôi nhớ ra rồi. Ở sân bay lúc ấy đoàn du học sinh chúng tôi và gia đình những người thân đi tiễn tập hợp lại chụp chung một tấm hình lưu niệm nhưng có một cô bé cứ  níu lấy tay anh khóc thúc thít như không muốn anh nó lên máy bay làm ba mẹ nó phải dỗ dành mãi mới thôi. Thì ra là cô bé đây mà. Tôi nheo nheo mắt cười :

-          Thế bây giờ cô bé có còn khóc nhè nữa không?

Cô bé nhìn tôi nguýt mắt rất hồn nhiên;

-          Lúc đó người ta còn nhỏ xíu chứ bộ.

-          Thế bây giờ bé thành người lớn rồi sao?

-          Thôi! Không giởn với anh nữa đâu. Mới gặp mà anh đã chọc phá Vân rồi.

    Tôi cười giả lả chưa biết nói gì, thì trong nhà có tiếng của Kiệt nói với ra và tiếng cười giòn tan,trong trẻo của Mai, tôi thầm nghĩ cô nầy đã đến trước mình một bước rồi. Vân khép cửa rào lại,giục tôi:

         - Anh vào nhà đi, ba mẹ, anh Kiệt chị Mai đang chờ anh trông nhà đó.

Tôi bước qua khu vườn nhỏ để vào nhà bụng thầm nghĩ: Kiệt có cô em gái dễ thương thiệt.


    Ăn sáng xong, chúng tôi  xin phép ba mẹ Kiệt đi tham quan đỉnh núi Lang Biang. Lang Biang là khu du lịch sinh thái cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 12 km về phía bắc thuộc địa phận thị trấn Lạc Dương, được đánh giá là khu du lịch sinh thái mang vẻ đẹp hoang sơ thuần khiết nhất vùng sơn cước hoang dã của tỉnh Lâm Đồng,nó được ví như nóc nhà của thành phố Đà Lạt.

Lang Biang gắn liền với truyền thuyết về một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết: chàng K’Lang-người dân tộc Cill và nàng H’Biang-người dân tộc Lạch. Do lời nguyền thù hằn giữa hai bộ tộc bắt họ phải chia lìa, họ nguyện bảo vệ tình yêu, bằng cách chết cùng nhau, cái chết của họ đã xóa bỏ hận thù guữa hai bộ tộc.

Ngưỡng mộ trước tình yêu chung thủy của đôi trai tài gái sắc nầy các loài chim muông,cây cỏ đã bảo vệ vun đắp hai nấm mồ của nàng Lang và chàng Biang lâu dần thành ngọn núi có hai đỉnh đứng vững chải giữa trời xanh gọi là Lang Biang, nơi mà bất cứ du khách nào lần đầu tiên đến thành phố hoa Đà Lạt đều mong muốn được chinh phục.

Theo cô hướng dẫn viên, để lên tới đỉnh núi Lang Biang có ba cách: đi xe uoát, đi bộ hoặc leo dây. Nhóm tôi có hai cô gái và thời gian cũng không có nhiều nên chúng tôi chọn cách thuê xe lên đỉnh Lang Biang cho thuận tiện.

Chiếc uoát chạy quanh co trên con đường nhựa dài khoảng 6km từ chân núi để lên tới đỉnh, băng qua những rừng thông bạt ngàn,trên đường chúng tôi bắt gặp những người dân tộc vai mang gùi đem những sản vật mà họ thu hái hay trồng trọt được xuống chân núi để bán hoặc trao đổi hàng hóa, vừa đi vừa nói chuyện líu ríu trông vui mắt.

Núi Rađa Đà Lạt

Cô bé Vân ngồi cạnh tôi lúc nào cũng tỏ vẻ thích thú, liến thoắng hồn nhiên làm tôi cũng cảm thấy dễ chịu,thân thiện. Người tài xế thả chúng tôi xuống đỉnh núi Rađa, đây là đỉnh núi cao khoảng 2000m so với mặt nước biển hầu như quanh năm mây phủ, ở đây du khách có thể thả hồn theo những đám mây đang bồng bềnh trôi.

Lúc còn nhỏ xem phim Tây du ký  tôi mê tít cảnh tiên nữ đang múa điệu nghê thường cho ngọc hoàng và quần tiên xem trong đám mây trôi bồng bềnh dưới chân, cảm giác ấy trở lại trong tôi khi đứng trên đỉnh núi Rađa nầy. Chúng tôi đi dọc theo đỉnh núi để ngắm cảnh.

Đứng trên đỉnh núi nầy chúng tôi có thể ngắm trọn thành phố Đà Lạt mộng mơ trong tầm mắt của mình, nó hiện ra như một bức tranh thủy mặc huyền ảo, nhìn về phía tây xa xa là hồ Dankia-Suối Vàng trông như một tấm lụa đào khổng lồ vắt ngang núi đồi xanh ngắt, bạt ngàn.

Ở lưng chừng núi là một thung lũng rộng, đó là “Thung lũng ngàn năm” nơi rất thích hợp cho du khách cắm trại qua đêm. Đâu đó nhiều nhóm du khách trải bạt ra nghỉ ngơi bày đồ ăn thức uống ra để thưởng thức, vừa ăn uống vừa trò chuyện vui vẻ.

Chúng tôi cũng chọn một khoảng đất rộng để cắm trại. Kiệt bắt đầu gẩy đàn hát, Mai nghe có vẻ chăm chú say đắm. Vân có lẽ nghe anh mình hát quen rồi nên có vẻ lơ đảng nhìn đám mây đang bồng bềnh trôi, đứng lên đi lên phía trước để ngắm cảnh.

Kiệt hất hàm về phía tôi như ngầm bảo đi theo Vân để bảo vệ cho em nó, có chuyện gì không yên với nó đâu.Tôi khẽ nhún vai thì đi vậy để cho ông bà còn tự do trò chuyện chứ. Tôi đi phía sau Vân nhưng không báo cho cô bé biết.

Đang đi Vân bỗng kêu á một tiếng, người chao đảo như muốn ngã, tôi hoảng hốt chạy nhanh tới tay nắm lấy tay Vân kéo mạnh về phía mình, bờ ngực như núm cau mới nhú của cô gái mới lớn vô tình chạm nhẹ vào cánh tay tôi làm tôi giật mình thảnh thốt.

Một cảm giác lâng lâng khó tả làm tôi muốn buông tay Vân nhưng sợ Vân té nên lại thôi.Tôi hỏi Vân để khỏa lấp vẻ bối rối của mình và làm cho cô bé đở ngượng vì tôi thấy gò má của Vân như ửng hồng lên:

-          Cô bé có sao không?

Vân cúi xuống xoa bóp cái chân bị sụp xuống cái lổ nhỏ mà cô không để ý tới,kêu suýt xoa.Tôi noi;

   -  Thôi! Ngồi xuống đây nghỉ một lát đi, xem lại cái chân đã xem có sao không,bé nhé.

  Vân ngoan ngoãn ngồi xuống cạnh đó tôi cũng ngồi xuống theo, bảo Vân đưa chân cho mình xem.Tôi xoa nhẹ bàn chân cho Vân đở đau nói:

  - Không sao đâu, một lát là hết đau thôi mà.

     Vân có vẻ như mắc cở khi tôi xoa lên bàn chân của cô,giọng có vẻ cảm động:

   - Bộ anh đi theo Vân hả? Sao ngay lúc em té mà anh đở Vân vậy?

  Tôi cười có vẻ bí mật:

    -  Bí mật quân sự,không nói được.

  Vân cười nhìn về phía trước.Như chợt nhớ ra điều gì tôi hỏi:

   -  Sao ở con phố của bé chỉ có nhà của bé trồng mimosa vàng vậy?

-      Vậy ngôi nhà mới nổi bật,dễ kiếm chứ anh. Nói vui với anh vậy thôi chứ Vân thích loài hoa mimosa ấy lắm.

-    Sao vậy?

-    Vì loài hoa ấy có một truyền thuyết rất cảm động.

-     Truyền thuyết gì thế bé?

    Giọng Vân có vẻ mơ màng:

-    Ngày xưa ở vùng đất Australia xa xôi tươi đẹp nằm giữa biển khơi đầy nắng ấm có đôi tình nhân yêu nhau say đắm.Chàng là một ngư dân thông minh, vạm vỡ.Nàng là con gái cưng của một gia đình quý tộc, đẹp rực rỡ yêu màu vàng và có tấm lòng nhân hậu,thương người.

Nhưng gia đình nàng lại ép gả cho một gia đình quyền quý.Chàng buồn phiền từ bỏ biển khơi, lên vùng rừng núi xa xôi làm nghề giữ rừng để quên đi mối tình tuyệt vọng, thì thình lình nơi ấy xảy ra một trận cháy rừng dữ dội, chàng đã bất chấp nguy hiểm lăn xả vào để cứu những cánh rừng xanh và các con thú tội nghiệp,rồi ngọn lửa quái ác ấy đã thiêu chết chàng.

Khi hay tin chàng trai bỏ biển lên ngàn để quên đi mối tình dang dở,nàng đã bỏ trốn trong đêm vu quy để đi tìm chàng. Nhưng đến nơi thì chỉ thấy xác chàng bên đống tro than của cánh rừng bị cháy.

Đau đớn tột cùng và nàng đã gục chết bên xác người yêu.Từ đó trên vùng núi cao của đất nước Australia thơ mộng, nơi đôi tình nhân chết cho mối tình bất tử xuất hiện một loài cây thân mộc,lá màu xanh biếc, lấp lánh từng chùm hoa vàng thơm mát. Đó chính là loài hoa mimosa vàng tràn ngập trên thành phố Đà Lạt nầy đó.

-          Vì vậy mà cô bé thích mimosa à?

Vân không trả lời mà lại hỏi tôi:

-           Chuyện tình của họ cảm động quá phải không anh?

-          Bé lãng mạn quá đấy.

Vân cười hỏi qua chuyện khác:

-          Mai anh về miền tây hở?

-          Ừ! Mai anh về.

-           Anh có nhớ Đà Lạt không?

-          Nhớ chứ.

-          Nhớ ngôi nhà có hoa mimosa vàng chứ?

  Tôi nhìn Vân ngập ngừng:

-          Nhớ.

  Rồi tôi nói khỏa lấp:

-          Thôi! Mình đến chổ Kiệt và Mai đi kẻo hai người đó trông.

     Chúng tôi xuống núi thì đã quá trưa.Từ chối khéo buổi cơm trưa nhà Kiệt để về.Trưa nay tôi muốn xuống phố ăn cơm bụi một bửa rồi lang thang một chút,mua vài món quà lưu niệm về cho gia đình. Vân giành ra mở cổng rào cho tôi, trước khi tôi đi Vân đưa cho tôi một tấm thiệp,nhìn tôi nói:

-          Anh Tân nhớ đọc nhé.

   Tôi khẽ gật đầu quay đi. Đi một đoạn xa quay đầu nhìn lại vẫn thấy Vân còn đứng đó,nhìn theo.Thấy tôi quay lại Vân vẫy tay, tôi cũng vẫy tay chào lại rồi tiếp tục bước đi về phía chợ.


    Ngồi trên máy bay nhìn qua cửa sổ,thành phố Đà Lạt đã bỏ lại sau lưng tôi thấy lòng nao nao.Thành phố nầy có gì để nhớ nhỉ? Chợt nghĩ đến tấm thiệp của Vân đưa cho tôi, tôi định về nhà mới mở ra xem nhưng rồi tò mò không biết cô bé viết gì,tôi lấy mở ra xem.

Một chùm hoa mimosa vàng nhỏ ép khô bên cạnh góc thiệp và ở giữa có ghi dòng chữ: “Chờ Vân qua Sing anh nhé.Nhớ dẫn Vân đến China town,anh Kiệt nói nơi đó bán đồ ăn ngon lắm. Đừng quên ngôi nhà có hoa mimosa vàng, được không anh?”.

   Tôi ngẩn ngơ giây lát, rồi tự mỉm cười một mình,thầm nghĩ:

-          Nếu có duyên chúng ta sẽ gặp lại nhau cô bé ạ.

 

 

 

 

= Ngọc Lan sưu tầm =

-Hình Internet-

Xem thêm...
Theo dõi RSS này