Truyện

Truyện (231)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Còn sống tìm nhau - Đàm Hà Phú

 

Còn sống tìm nhau

Đàm Hà Phú

 

Có anh này, kêu bằng anh Tài. Anh Tài chạy taxi hãng. Quê anh Tài ở tuốt miệt Hậu Giang xa xôi. Anh Tài trước làm ruộng, có vợ có con đường hoàng nhưng mà cuộc đời không suôn sẻ nên chị vợ anh chẳng may mất sớm, lúc con gái anh mới chừng ba tuổi. Anh Tài nuôi con một mình mà ở nhà nhớ vợ quá không đành nên lúc đứa nhỏ được sáu tuổi anh Tài đưa con lên thành phố, theo bạn bè học lái xe rồi chạy taxi từ đó tới giờ.

Hai cha con anh Tài ở một phòng trọ nhỏ, trong dãy nhà trọ gần Quốc lộ 50, Bình Chánh. Anh Tài vui vẻ dễ thương, chạy xe khách nào cũng mến, ai cũng cho thêm tiền, có người đi chợ về còn cho mớ rau, miếng thịt, có người dư áo dư quần đều để dành cho anh, nên anh sống cũng khoẻ. Con gái anh Tài, ta gọi bằng con Gái, nó cũng đi học nay tới lớp 6 rồi, tự chạy xe đạp đi học, tự cơm nước chợ búa được luôn, cha con nương nhau mà sống, nhà trọ nhỏ mà mỗi ngày đều cơm nóng canh ngọt, đầy ắp tiếng cười.

Có người thấy anh Tài gà trống nuôi con bèn mai mối người này người kia đặng giúp anh Tài đi bước nữa mà anh đều cười từ chối, anh nói anh nói bị hồi xưa coi cái tuồng Phạm Công – Cúc Hoa quá sợ cảnh mẹ ghẻ con chồng nên anh không dám lấy thêm vợ, anh cười hề hề, hai cha con vui rồi, cần gì nữa.

Blog Cuộc Sống - Hãy yêu thương nhau khi còn có thể, bởi... | Facebook

Tháng Bảy là Sài Gòn bùng dịch. Đúng ngày 9 Tháng Bảy anh chạy cuốc xe cuối cùng, chở một cô gái từ ngoài Bắc vô thăm em. Đó là cuốc xe anh nhớ rõ vì lúc đó là gần nửa đêm, anh đón cô gái về Bình Chánh. Anh nói với người khách, tiện quá tôi chạy cuốc này về cất xe nghỉ luôn. Đó là một cô gái không đẹp không xấu, mà lúc nửa đêm thì có biết xấu đẹp gì, cô cao ráo, mang một cái túi hai quai căng tròn, loại túi dân thể thao hay xách, cô tầm ba mươi và có giọng nói như hát. Cô gái đó vô ở cái nhà ngay đầu hẻm, mà tình cờ, cuối hẻm là nhà trọ nơi anh ở luôn.

Cô gái đó không có đi thăm em như cô nói, cô vào làm giúp việc cho căn nhà đó, họ vừa có người mới sanh nên cần người phụ việc, họ cũng người ngoài Bắc nên gọi về quê tìm đồng hương vào làm cho tiện. Sau này ra vô gặp nhau rồi nói chuyện mới biết, cô có một con trai nhỏ, mới 5 tuổi, hiện đang gửi bà ngoại ở quê, vợ chồng cô đã ly dị, chồng cô lấy vợ mới ở mãi trên Cao Bằng, anh Tài nghe gật gật chớ có biết Cao Bằng ở đâu. Cô gái, ta tạm gọi là cô Xoan, có mái tóc đẹp, có giọng nói nhẹ nhàng và làm việc luôn tay. Hai người, anh Tài và cô Xoan lưu số, tối về nhắn tin qua lại.

Tới đây chắc mọi người đoán ra rồi ha, mà thiệt ra không có gì để đoán đâu, đơn giản thôi. Cô Xoan dương tính đầu tiên, cô được xe cấp cứu đưa đi, rồi sau đó mọi người trong căn nhà cô ở cũng lần lượt đưa đi cách ly chữa trị hết. Anh Tài vẫn nhắn tin cho cô miết, cũng nghe người ta dặn cô nhớ tập thở, phơi nắng, lạc quan lên… Anh Tài ở nhà khó chịu quá, khi hãng taxi kêu gọi tài xế đăng ký chạy trong dịch, anh Tài đăng ký liền. Cuốc xe đầu tiên ngày quay lại chạy, anh Tài đón cô Xoan từ bệnh viện về.

Cô Xoan về nhà vẫn mệt hung, nhà không có ai chỉ còn một ông chú già, không hiểu vì lý do gì, vẫn chưa nhiễm bệnh. Lúc này mọi người ở khu nhà trọ anh Tài đều bỏ về quê, ở Sài Gòn nguy hiểm mà còn bị phong tỏa thiếu ăn khổ quá. Anh Tài tính đưa con Gái về mà nó không chịu nên thôi hai cha con ở lại cầm cự tiếp. Rồi tới lượt anh Tài, sáng ra đi xét nghiệm trước khi lấy xe là dính luôn, có xe chở thẳng vô viện. Anh Tài chỉ kịp nhắn cho bé Gái ở nhà ngoan chờ ba, hai tuần ba về thôi. Rồi anh nhắn cô Xoan coi có qua lại để ý con bé giùm anh.

Hãy trân trọng những người bạn yêu thương khi bạn còn có thể - Học Trường  Đời

Anh Tài không về nhà như cái hẹn hai tuần ban đầu, anh bị nặng hung, một phần do mấy ngày liền chạy xe ngày mười mấy tiếng, ăn uống không đủ, nên cơ thể anh kiệt sức, một phần vì anh lại mắc thêm một chứng bệnh nguy hiểm: Tiểu đường. Cái hẹn hai tuần thành kéo dài hết tuần này qua tuần khác. Cô Xoan qua ở hẳn nhà anh Tài, chăm sóc cho con Gái, sợ nó buồn quá, mà nó buồn thiệt, nó bỏ ăn bỏ uống, đeo cái khẩu tranh xanh ra ngồi ở cửa hóng ba Tài nó về.

Các y bác sĩ chật vật dữ lắm để cứu anh Tài, lúc anh chỉ còn thoi thóp như một cái xác khô, có một nhân viên y tế ngày nào cũng đến với một hộp sữa bắt anh uống và xạc pin điện thoại giúp anh để nhắn tin. Rồi sau anh nhắn tin hết nổi, bệnh viện thu điện thoại để bên ngoài phòng. Cô nhân viên y tế vẫn đưa lon sữa cho anh, anh nói cô làm ơn cho tui nhắn tin cho con Gái, nó mà không còn thấy tin nhắn tui là nó buồn lắm. Cô nhân viên y tế nhân hậu nói, thôi anh nói nội dung đi, rồi tui nhắn tin giùm anh.

Vậy là cô nhân viên y tế trong một bệnh viện dã chiến kiêm luôn người nhắn tin giùm, tất nhiên cô chỉ nhắn vào giờ nghỉ, nhắn tin qua lại với con bé Gái, trong loạt tin nhắn cô nhận được, ngoài con gái anh Tài, thì còn có cô Xoan.

Cô Xoan được gia đình cô đang ở thu xếp một vé máy bay hồi hương, trước khi về cô cũng kịp đăng ký đưa được bé Gái về Hậu Giang bằng xe hồi hương của Phương Trang. Cô Xoan nhắn anh Tài mau khoẻ để về với bé Gái, nó chờ anh miết.

Ngày người ta chuyển anh Tài qua khu thở máy thì anh hôn mê rồi, lành ít dữ nhiều, cô nhân viên y tế vẫn xạc cái điện thoại của anh Tài, cô vẫn nhắn tin động viên bé Gái, và khi thấy quá nhiều tin của cô Xoan chưa được hồi đáp, cô nhân viên y tế bèn đánh liều trả lời loạt tin nhắn của cô Xoan, chủ yếu để cô Xoan đừng nhắn nữa. “Nếu còn sống anh tìm em”.

Vậy mà không biết nhờ con bé Gái cầu nguyện, hay nhờ cô nhân viên y tế hết lòng, anh Tài sống lại một cách kỳ diệu. Anh Tài xuất viện sau 70 ngày cầm cự, hai tuần thành 10 tuần, tới ngày ra viện anh cũng không biết tên tuổi và gương mặt cô nhân viên y tế đã giúp mình. Sau này đọc lại loạt tin nhắn cũ, thấy cái tin “nếu còn sống anh tìm em”, anh Tài đi tìm cô Xoan thiệt. Mùng Hai Tết vừa rồi, anh Tài và con bé Gái xuất hiện trước cửa nhà cô Xoan, ở Thanh Hoá, nghe nói hai người định sẽ làm đám cưới cuối năm nay, ở Sài Gòn.

Tài nói với tôi trong lúc chở tôi đi nhậu, xóm em chết bảy, mà hết ba người là tài xế như em. Lúc sắp chết em sợ lắm, giờ em thấy thương ai được thì thương đi, sống chết mong manh lắm anh Hai. Tài cười lớn, có vụ này vui nè anh, em tìm được chị bác sĩ nhắn tin giùm em rồi anh Hai, người gì mà tốt như thần tiên luôn vậy đó, đám cưới tụi em là bả làm chủ hôn luôn nha anh Hai.

 

Đàm Hà Phú

 

Nam Mai sưu tầm

 

Hãy trân trọng những người thân yêu đi vì không biết lúc nào chúng ta sẽ  mất họ đâu…

 

Xem thêm...

Dĩa cơm tấm của mẹ - Don Hồ

Dĩa cơm tấm của mẹ

Don Hồ

 

Một ngày cuối Tháng Tư nắng đẹp, hai mẹ con ngồi trong quán cơm tấm gần nhà ở miền Nam California.

Đồ ăn được mang ra, hai dĩa cơm tấm bì chả – tàu hũ ky – trứng ốp la bự xự, thật “hoành tráng” với lỉnh kỉnh những món.

Một dĩa được đặt trước mặt mẹ. Mẹ ngắm nghía dĩa cơm một hồi rồi bảo:

– Nhiều thế này rồi sao mẹ ăn hết được hả con, sao không kêu cho mẹ dĩa nhỏ hơn?

Người con đang múc muỗng nước mắm ớt chan lên cơm, ngước mắt lên nhìn mẹ trả lời:

– Dĩa người ta giá bấy nhiêu, giờ mẹ muốn ít hơn thì người ta bỏ lại bớt nhưng cũng vẫn giá đó. Thôi thì ăn được bao nhiêu thì mẹ cứ ăn, không hết thì mình xin cái hộp, bỏ mang về …

Mẹ cười:

– Ờ nhỉ…

Mẹ ngồi ngược nắng, ánh sáng bên ngoài chiếu xuyên qua cánh cửa kiếng rọi lên làm mái tóc bạc của mẹ trắng phau, người con giật mình nheo mắt.

Ánh sáng chói quá, he hé mở lại mắt ra người con như bỗng thấy thấp thoáng mẹ phía trước trẻ măng trong chiếc áo bà ba vàng tươi lụa nội hoá, tóc đen nhánh cột đuôi gà phía sau.

Cái ánh nắng chói chang trên đường Nguyễn Huệ của Sài Gòn lúc 11 giờ trưa làm mồ hôi rươm rướm ra hai bên mang tai người đàn bà vừa bước qua tuổi 40.

Chen vào cái khoảng trống nhỏ giữa hai người bán hàng, mẹ cố tung lên để trải miếng ny lông nhỏ lên trên mặt vỉa hè.

Hai người bán hàng hai bên la bải hải, cố tình đẩy dàn ngay những cái thùng giấy chứa hàng ra để ngăn lại và đuổi đi.

– Cô ơi, chỗ này không được đâu. Đi đi, đi kiếm chỗ khác đi…

Từ sáng sớm tới giờ bị đuổi biết bao nhiêu bận ở nhiều chỗ rồi, tủi thân – giọt nước tràn ly, mẹ hất phăng miếng ny lông của mình ngồi bẹp luôn xuống lề đường ôm mặt hu hu nức nở khóc:

– Mấy người dã man lắm. Mấy người có con, tôi cũng có con. Con tôi chết đói ở nhà, có một chỗ ngồi bán nhỏ thôi mà các người cũng đuổi tôi đi. Ở đâu có được chỗ thì tôi đã đi rồi, ai cũng xua cũng đuổi, tôi đi đâu được bây giờ? Hu hu…

Hai bà bán hàng hai bên sững người liếc lẹ nhau, thở nhẹ, rồi kéo xịch miếng ny lông lót sàn, xếp gọn bớt đồ của mình lại, nhường cho mẹ một khoảng trống rộng hơn.

Thế là từ ấy mẹ có được một khoảng vỉa hè để buôn bán mưu sinh…

Sài Gòn của năm 1976 vẫn còn hoảng loạn lắm.

Thành phố một năm sau khi đổi tên đổi chủ, chưa có gì là rõ ràng cả. Dân thành phố cố gắng sống qua ngày, của cải trong nhà được bán dần để ăn. Những gia đình có người làm ngành nghề gì trong guồng máy của chế độ Cộng Hòa cũ là coi như mất việc ngồi nhà.

Bố cũng thuộc trong diện mất việc đó.

Cả một năm trời nuôi đàn con năm đứa đang trong tuổi lớn, ăn uống như hạm cũng đủ làm bay đi dần của cải dành dụm từ bấy lâu nay.

Bố mẹ đã thử qua bao nhiều nghề để kiếm tiền qua ngày từ làm giấm bán, qua tới làm giá, chẳng có nghề nào thành công!

Ca sĩ Don Ho – Ảnh: Facebook

Một lần có một bác bạn của bố trước đó có một tiệm pharmacy ở đâu đó, còn thuốc. Bác muốn giúp, đưa ra ý kiến:

– Tôi còn một số thuốc, hay là cô chú mang đi bán cho tôi đi, để kiếm lời nuôi các cháu?

Bố thì không thể tông ra ngoài buôn bán rồi vì thuộc diện “công chức chế độ cũ” sẽ bị để ý, có thể bị bắt bớ.

Thế là mẹ từ một bà nội trợ ở nhà nuôi con, phải tông ra đường một mình trên chiếc xe đạp mini ngược xuôi kiếm mối bán mớ thuốc Tây kiếm lời.

Thời ấy dọc trên đường Nguyễn Huệ có những kiosk nho nhỏ xinh xinh đã bị đóng từ ngày 30 Tháng Tư, 1975, không biết ai bắt đầu mà tự dưng tự phát họp lại thành một ngôi chợ bán thuốc Tây. Ai tới trước dành chỗ, trải được miếng ny lông ra thì khoảng vỉa hè đó sẽ thành “đặc khu” của người đó.

Mẹ ra trễ hơn mọi người nhưng cũng may kể từ ngày hôm đó cũng đã được hai bác hai bên (sau trở thành bạn) nhường cho một khoảng nhỏ xíu.

Khoảng buôn bán của mẹ nhỏ xíu xiu, chỉ đủ để bầy lèo tèo dăm ba hộp thuốc, so với những người kế bên trông tội lắm. Hàng ngày thằng con được ra phụ mẹ. Chỉ việc đứng đàng sau, mẹ sai gì thì làm đấy. Cần gì thì lấy phụ.

Nói cho oai thế thôi chứ đồ hàng thuốc thang của mẹ chứa hết cũng chỉ đúng trong một cái giỏ đi chợ. Phải cho thật gọn gàng để bữa nào xui lỡ công an xuống ruồng thì còn gom lẹ tất cả mọi thứ bỏ vào giỏ mà chạy thoát thân chứ không thôi là mất hết!

 Cơm Tấm Xưa ở Quận Gò Vấp, TP. HCM | Foody.vn

Phía đàng sau khoảng hàng của mẹ là một quầy bán cơm. Những nồi thịt kho, chảo đồ xào trông hấp dẫn lắm, lúc nào lỡ mắt ngó qua là cũng phải nuốt nước miếng ừng ực.

Sài Gòn thời ấy đói ăn mà, ở nhà nồi cơm đã phải nấu độn với hạt bo bo phường khóm bán. Quán cơm ấy bán những dĩa cơm gạo trắng phau, những miếng thịt mỡ bóng nhay nháy, những trái trứng kho mượt mà đến độ chỉ muốn mút tới mút lui, không nỡ cắn.

Khoảng buôn bán của mẹ nhỏ bé, bày ít thuốc nên dĩ nhiên là cũng ít khách mua. Người ta chỉ bu vào kiếm trong những xập hàng lớn hơn, nhiều thuốc hơn. Nhiều khi ngồi cả buổi cũng chẳng ai buồn dừng chân tới đảo mắt qua dùm chứ nói chi tới mua.

Buổi trưa là giờ mà thằng con mong chờ nhất, vì được mẹ cho mua một dĩa cơm.

Ôi dĩa cơm của thời ấy sao mà nó ngon đến thế?

Miếng thịt be bé thôi mà sao nó béo đến thế? Thơm đến thế?

Ngay cả miếng dưa leo, miếng cà rốt ngâm ngó cũng đẹp thật đẹp mắt luôn.

Ăn xong cả dĩa mà chả lúc nào no cả, lúc nào cũng còn thòm thèm. Ấy thế mà lúc nào mẹ hỏi: “Ngon không con, no không con?” là thằng con lúc nào cũng: “Ngon quá mẹ ạ. Con no quá!”

Mà chẳng bao giờ thằng con thấy mẹ kêu cơm ăn cả, lúc nào cũng thấy mẹ mua khoai mì mà ăn. Trong khi khoai mì phường khóm bán cho nhà nhà ăn độn với cơm. Khoai mì là món rẻ nhất thành phố thời ấy…

Thoáng thế mà đã 46 năm rồi đấy. 46 năm vật đổi sao dời…

Mẹ giờ không còn phải ăn khoai mì để nhường dĩa cơm lại cho bầy con nữa rồi, nhưng tóc mẹ lại đã bạc phơ, lưng mẹ bắt đầu còng còng …

Đĩa cơm thật to trước mặt trông thật hấp dẫn, bảo đảm ăn no ứ hự mà vẫn còn dư. Nếu mang ngược trở lại thời bán thuốc Tây dạo thuở nào, dĩa cơm này có thể đủ no cho bốn người ăn.

Hai dĩa cơm của hai mẹ con lúc này mà mang ngược trở lại sẽ cho cả gia đình được một bữa ăn linh đình vì thuở ấy bữa cơm gia đình nhiều khi có được ba trái trứng hột vịt thôi mà gói ghém đủ cho tới những bảy miệng ăn.

Bỗng dưng muỗng nước mắm trên tay thấy nhạt hẳn màu đi, nặng trình trịch, nhỏ tong tong trên dĩa cơm như những giọt nước mắt đang lã chã rơi…

 

Ca sĩ Don Hồ


Thứ bảy 30/4/2022

Diễm Kiều sưu tầm

Dĩa Cơm

Xem thêm...

Một Mẩu Chuyện Xưa- Yên Sơn

Một Mẩu Chuyện Xưa 

 

Yên Sơn

Phi trường Phú Bài ngày xưa

(Viết khi chợt nhớ về người bạn cố tri Trần Gia và hai Tôn Nữ)
 
Sau khi ăn trưa, cà phê cà pháo ngoài chợ Đông Ba, Phi Hành đoàn trở lại phi trường Phú Bài đón hành khách để về Saigon. Buổi trưa Huế bầu trời xanh biêng biếc, mây nhẹ như tơ, lòng thanh thản, sảng khoái vô cùng. Tôi đem trả chiếc xe pick up mượn của trạm hàng không quân sự, miệng huýt gió vang vang bài Không Quân Hành Khúc rồi bật cười tự bảo, “mình chẳng cần vượt biên giới, cũng chẳng quyết chiến đấu nên làm gì có chiến công ngang trời được! Nhưng KQVN lướt trên ngàn mây gió là chuyện đương nhiên rồi.”
Đang thảo luận với nhân viên Trạm Hàng Không thì Gia, Sĩ quan Điều Hành Viên của phi vụ, và là bạn trang lứa cùng đơn vị, tới bên nói nhỏ:
- T. ơi! Mi xin giùm ông Trưởng Phi cơ cho tau gởi hai người nhà về Saigon hỉ?
-  Răng mi không hỏi thẳng anh ấy?
-  Tại mi có thớ hơn tau.
- Thớ cái con khỉ khô. Tôi đáp lời hắn,“nhưng mi gởi ai rứa?”
-  Hai O: một đứa em họ, một đứa cháu gọi bằng Cậu.
-  Răng khi nảy ngoài phố mi trốn ở mô mà không “chơi đẹp” với anh em?
- Tau phải chạy về nhà đón hai đứa nớ.
- Chứ không phải mi cố ý trốn tránh bổn phận?
- Dù có ở đó cũng mô có đủ tiền mà đãi!
- Mới lãnh lương có tuần lễ mà răng hết rồi? Chắc tại mi bài bạc hết rồi chứ chi?
- Mô có, tau vừa lãnh lường là phải chuộc thẻ lương, phải đóng tiền cơm tháng, phải trả tiền nhà!
- Thôi mi ơi, đừng tả oán nữa nghe ốt dột quá!
Tôi xin anh TPC với lời bảo lãnh thì được nhận lời. Thường anh em trong phi đoàn vẫn giúp đỡ nhau, hoặc giúp anh em KQ các đơn vị khác mỗi khi có nhu cầu cấp bách miễn là không ảnh hưởng đến an ninh hoặc vi phạm an phi.
Phi trường Tân Sơn Nhất trước 1975 - Ảnh tư liệu- Báo Tuổi Trẻ
 
Những lời đối đáp trên nghe như đùa nhưng không xa sự thuật là mấy. Sự thật xót xa cho số phận của những trang hào kiệt đương thời. Lương sĩ quan phi hành được coi là cao so với các sĩ quan cùng cấp bậc ở các đơn vị khác; dù vậy, cũng chẳng thấm vào đâu với đời sống đắt đỏ ở Saigon. Nếu không phải là con cái thuộc gia đình khá giả, không được gia đình tiếp tế, không xin được ở trong cư xá SQ độc thân thì khó lòng xoay xở. Nhiều khi tôi tự hỏi, lương bổng của mình là thế thì mấy ông bạn có gia đình, các anh em HSQ, Binh Sĩ thì họ sống làm sao!? Thế nhưng, dù có phải “giật gấu vá vai” cách nào đi nữa, phe ta vẫn phải ra vào tươm tất, áo quần bảnh bao theo cái truyền thống được nghe từ vào đời.
 
Gia trở lại phi cơ với hai O áo dài trắng trơn rất nữ sinh, tóc dài rất Huế gọi nhau bằng dì cháu. Tôi đón chào hai nàng sau khi Gia giới thiệu. Dì khoảng đôi mươi, cháu cỡ đôi tám. Bốn con mắt tròn vo, lúng liếng cười nhẹ, lí nhí gật đầu chào rồi cúi đếm bước chân, riu ríu theo sau tôi trước đoàn hành khách xếp hàng lên tàu. Tôi chọn hai chỗ ngồi gần phòng lái cho hai nàng rồi cùng anh TPC làm thủ tục cất cánh. Đi máy bay cũng như đi xe hơi, ngồi càng gần phía trước càng an toàn và đỡ chóng mặt.
 
Về tới Saigon vào lúc chiều đã nhạt nắng. Phi hành đoàn và hai cô nương được xe pick up đưa về phi đoàn. Chúng tôi ký sổ trực cho phi vụ hoàn tất rồi mạnh ai nấy dông. Gia chỉ có một chiếc Honda nên không thể chở cả hai O cùng một lúc. Hắn lại cười cầu tài với tôi, nhờ tôi giúp đưa một O cùng hắn về nhà ngoài phố. Sẵn dịp về nhà ngoài khu Trương Minh Giảng nên tôi vui vẻ nhận lời. Khi Gia hỏi ai muốn đi với tôi, cả hai O đều nhìn nhau không nói.
 
Tôi nói đùa với Gia rằng “mi muốn tau làm em hay làm cháu mi cũng được” rồi đứng nhìn hai O đang xấu hổ cúi gằm mặt nhìn xuống chân. Ngó hai khuôn mặt thẹn thùng ửng hồng đôi má trắng non trông dễ thương chi lạ! Tôi nhìn O cháu buộc miệng nói “O đi với cậu hỉ?” O nhỏ bẽn lẽn chưa biết nói gì, đưa mắt ngó Cậu Dì. Gia vội đỡ lời, “Ừ, Văn Chương đi với cậu T.”
 
 
Hình minh họa - Internet
 
Ra khỏi cổng Huỳnh Hữu Bạc, buổi chiều xe cộ đầy đường phải chen lấn nhau mà đi. Tôi vừa chạy vừa quay lại nói chuyện với cô nhỏ nghe tiếng được tiếng mất. Chỉ biết chắc một điều, tên cô nhỏ là CHTN Văn Chương, học trò Đồng Khánh. Dì CTTN Hoa đang học ở Văn Khoa Saigon, theo dì chơi vài tuần và sẽ trở lại Huế đi học. Tôi nghĩ thầm “lại là con cháu Hoàng tộc”. Xe cộ tấp nập nên phải chen chúc, lạng lách, nhiều lúc phải đạp thắng gấp. Cô nhỏ nói như than. “Cậu lái xe hai bánh như lái máy bay!” Ban đầu cô nhỏ còn ké né cố giữ cứng vào yên xe, cho đến khi quẹo vào hẻm nhà trọ của tôi thì vòng tay cô nhỏ đã ôm chặt hông tôi từ lúc nào. Thấy xe quẹo vào con hẻm xa lạ, cô nhỏ hoảng hốt buông tay hỏi tôi:
- Cậu chở Chương đi mô rứa?
- Yên chí đi, Cậu ghé ngang phòng trọ thay quần áo để ra phố cho dễ coi hơn. O có thể ngồi chờ cậu ngoài xe.
 
Phòng tôi mướn ở trong một con hẻm nhỏ đối diện với một bãi tha ma, là phần nối dài của một căn nhà lớn của một gia đình người Bắc, ngó ra đường Bùi Thị Xuân. Lúc này trời đã nhá nhem tối làm cho con hẻm dài hun hút dưới ánh đèn điện vàng vọt mờ nhạt. Gió lồng lộng chạy dọc theo con hẻm và rượt đuổi nhau vi vút trên mấy tàng cây bên ngoài bờ tường ngăn cách. Tôi dừng xe trước cửa phòng, bảo nàng ngồi trên xe chờ tôi một lát nhưng cô nhỏ vọt ngay vào nhà khi cánh cửa vừa hé:
- Cậu ở chỗ chi mà dễ sợ rứa!
Cái giọng Huế ngọt lịm kéo dài chữ rứa nghe như một khúc nhạc vui. Tôi mỉm cười:
- Bộ O sợ ma hả, ma không sợ mình mắc chi mình sợ ma?
Có lẽ chữ ma đánh động thêm nỗi sợ hãi sẵn có nên cô nhỏ quýnh quíu ôm chặt tôi, hơi thở dồn dập. Không biết mùi hương tóc hay hương thơm con gái xông ngạt ngào vào mũi cùng hơi ấm của thân thể nhẹ run của nàng cũng làm tôi tê điếng một lúc. Hai tay tôi quờ quạng trong vùng ánh sáng mờ ảo, đập nhè nhẹ lên lưng nàng để trấn an. Trong một giây thảng thốt, tôi đặt môi hôn nhẹ lên suối tóc huyền “Không răng mô, có chi mà sợ, để Cậu mở đèn;” rồi nhẹ nhàng gở tay nàng ra, bật điện phòng. Có lẽ ánh đèn điện sáng tỏ làm cô nhỏ đỡ hồi hộp. Căn phòng trọ vuông vắn, nhỏ đủ cho một chiếc giường ngủ nho nhỏ, tủ lạnh nhỏ và tủ áo quần cũng nhỏ. Phòng tắm chung nằm ngoài hành lang.
 
 
Nàng bẽn lẽn ghé ngồi vào một góc giường, đôi mắt chứa đầy vẻ âu lo nhìn tôi. Tôi lấy lon coca cola mời nàng uống và tỏ ý muốn tắm vội một chút nhưng cô nhỏ không chịu. Cô nói với tôi cần phải về ngay kẻo cậu dì trông chờ. Tôi vội vàng vào phòng tắm dùng khăn ướt lau mình, thay quần áo xong trở lại phòng cầm chìa khóa trên tay:
- Cậu đưa O về hỉ ?
Nàng ngó tôi rất nhanh, cười nói nhỏ nhẹ:
- Trông cậu bi chừ giống như một anh chàng sinh viên.
Tôi âm trầm:
- Thì cậu cũng đã là sinh viên mấy năm trước thôi.
 
Chúng tôi cùng lên xe. Bây giờ thì nàng rất tự nhiên ôm hông tôi như cũ và chỉ dẫn cho tôi hướng về nhà ở Quận 2. Màn đêm đã vội vã buông xuống. Phố xá đã lên đèn rực rỡ, xe cộ không còn tấp nập như khi chiều. Tôi cố chọc nàng:
- Cậu đưa O đi ăn kem dừa trước khi về nhà hỉ?
- Không được mô Cậu, mọi người ở nhà chắc đang trông đợi, để hôm khác Chương hứa đi với Cậu
Khi chúng tôi bước vào cổng đã thấy hai anh em nhà họ Trần đang có vẻ ngóng trông. Hoa hết nhìn tôi lại nhìn Văn Chương.
- Răng mi chạy đi mô mà lâu rứa? Gia hỏi.
- Tau phải ghé ngang phòng trọ thay quần áo nì nì.
- Tau tưởng giao trứng cho ác rồi chớ!
- Kể như may cho mi đó, giao trứng cho ác mà trứng còn nguyên lành.
 
Cả hai cùng cười xòa làm cô nhỏ lính quýnh bước chân. Gia và Hoa nài nỉ tôi ở lại dùng cơm với gia đình, cô nhỏ nhìn tôi với ánh mắt đồng tình nhưng tôi ngại ngần từ chối dù trong lòng cũng muốn ở lại. Tôi bắt tay Gia và lưu luyến từ giã hai nàng sau khi hẹn gặp nhau lần tới…
 
Phố lên đèn thôi về đi kẻo muộn
Sợ chia ly nên chẳng dám quay nhìn
                      (thơ Tường Vi Đức quốc)
 
Yên Sơn
------
Hình minh họa- Internet
KQ- Moderator
 
Hình internet
 
 
 
 
 
Xem thêm...

Một thời khó quên Nguyễn Diệu Anh Trinh

Một thời khó quên

Nguyễn Diệu Anh Trinh

Hình ảnh quen thuộc với những người từng sống ở Sài Gòn thập niên 1980 (Getty Images)

Tôi là người phụ nữ nuôi con một mình ở cái thời mà kinh tế đất nước đang đi xuống một cách kinh hoàng sau 1975. Thời bao cấp, mọi thứ đều theo chế độ tem phiếu, buôn bán tự do dĩ nhiên không được chấp nhận. Mọi mua bán bên ngoài các cửa hàng kinh doanh tổng hợp đều bị coi là trái phép, là “buôn lậu”… Sanh con thiếu tình cha, tôi phải tự lăn lóc với đủ thứ nghề để nuôi con. Vốn liếng chẳng có, cơ hội cũng không, ai bày vẽ chuyện gì tôi làm chuyện ấy. Thành công ít, thất bại nhiều, nợ nần chồng chất, bệnh hoạn triền miên…

Tuy nhiên, chính những năm tháng đầy khổ ải ấy, tôi đã học được thật nhiều đáng quý. Đó là những bài học về nghĩa tình. Đó là những kinh nghiệm sống không có trong sách vở học đường. Đó là những vốn liếng tôi mang theo suốt đời với bao trân quí. Có người bạn thân cứ trách nhẹ: Tại sao phải hồi tưởng đến những ngày khổ đau xa xưa ấy làm gì, cuộc đời ngắn ngủi, hãy vui với những gì mình đang có…

Tôi quan niệm rằng quá khứ dẫu vui hay buồn cũng là những bậc thang đưa ta đến hiện tại. Nghĩ về hay nhắc lại quá khứ là để cám ơn những buồn vui mặn nồng của đời sống từng trải qua. Khổ đau và hạnh phúc như là những cung bậc thăng trầm trong một bản nhạc. Nhớ lại đoạn đường đời gian nan của mình thuở đó, tôi không biết nên bắt đầu từ đâu…

Khi con gái nhỏ mới tròn bốn tháng, tình duyên gãy đôi, tôi ôm con về nhà mẹ nương náu. Thật ra đó không phải là nhà mà chỉ là căn phòng nhỏ, chung vách với người hàng xóm. Nhà cầm quyền chỉ định chủ nhà phải thu dọn, nhường một phòng bên gian trái cho gia đình tôi cư ngụ sau khi căn nhà lớn của ba má tôi bị tịch thu. Chín mẹ con và đứa cháu ngoại, là con gái của tôi, tổng cộng mười người, tá túc trong căn phòng nhỏ, không có nhà vệ sinh riêng…

Trong cái ổ chuột tối tăm ấy, giường ngủ hai mẹ con tôi ở ngay lối đi xuống căn bếp dột nát. Khi ngủ vẫn nghe mùi hôi từ phòng tắm, cầu tiêu, cống rãnh. Sáng mở mắt ra là thấy cái gạc măng rê cũ rách bươm trước mắt vì chỗ ngủ của hai mẹ con ở ngay nhà bếp. Mùa mưa phải dùng nylon che tứ tung. Tôi còn nhớ cảm giác hạt mưa bắn vào mặt những khuya có cơn mưa lớn. Chăn màn ẩm mốc. Khi trở mình, chiếc giường tre kêu kẽo kẹt. Những đêm lạnh, hai mẹ con ôm nhau, đứa con rúc vào lòng…

… Ầu ơ, ví dầu cầu ván long đinh; cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.

Khó đi mẹ dắt con đi, con đi trường học, mẹ đi trường đời…

Sài Gòn, khoảng năm 1990 (ảnh: Didier NOIROT/Gamma-Rapho via Getty Images)

Trường đời của tôi từ khi có con bắt đầu với nghề giặt ủi. Mối lái nhận được từ Cúc, cô em dâu buôn bán áo quần cũ ngoài chợ trời. Việc của tôi là giặt ủi và tân trang mớ áo quần cũ trước khi bày bán. Việc này khiến tôi có cảm giác như mình đang tiếp tay với thành phần bất lương vì hàng tôi nhận đa số là đồ ăn cắp, rất hiếm là đồ mua lại từ những người túng thiếu.

Mỗi sáng, chừng bốn năm giờ, khi con gái còn ngủ say, tôi nhè nhẹ thức dậy, rón rén ém mùng chặn gối, sợ con giật mình. Tôi lẹ làng xách thùng đi hứng nước. Từ nửa khuya đến sáng thì mới có nước máy ri rỉ, ban ngày hầu như chỉ dùng nước giếng, thứ nước giếng vàng khè vì rễ cây và phèn. Hai cánh tay tôi rã rời vì múc nước bằng cái gàu với sợi dây nylon đứt không còn chỗ nối. Cái gàu lủng vá đi vá lại bằng dầu hắc nên khi gàu đầy nước thì trọng lượng nặng gấp đôi. Mà phải kéo thật nhanh; nếu không, khi đến miệng giếng, gàu nước chỉ còn một nửa.

Áo quần nhận về ngâm đêm hôm trước bằng xà phòng nước. Thuở đó xà phòng bột rất hiếm, “nhân dân lao động” được phân phối xà phòng nước, nấu từ cây thầu dầu, khi giặt đồ không ra bọt mà chỉ nhơn nhớt và có mùi nồng sặc. Giặt đồ xong, khi phơi còn phải ngồi canh chừng ăn trộm. Những năm sau 1975, tôi từng thấy người thành phố mặc áo quần may từ bao cát (loại bao cát làm công sự và hầm thời chiến tranh). Do đó, trộm cắp quần áo phơi là chuyện xảy ra thường ngày.

 Điều gì ảnh hưởng đến độ sạch và bền của quần áo khi giặt?

Đến khi ủi đồ mới thật khổ vì điện đóm. Để tiết kiệm nhiên liệu, mỗi tuần người ta cúp điện mấy đêm. Đêm nào có điện thì nhấp nha nhấp nháy. Nhà ai cũng dùng đèn bóng vàng vì rẻ tiền hơn đèn neon. Buổi tối, cắm bàn ủi vào là coi như cả xóm tắt tối thui vì bị “hút điện”. Bà con chưởi bới om sòm vì ăn cơm trong bóng đêm. Tôi phải đợi đến nửa khuya mới soạn bàn ra ủi. Xếp đặt đâu vào đó thì trời cũng vừa sáng để mang hàng đi giao, kịp cho người ta bán buổi chợ sớm. Thù lao ít lắm mà công việc thì quá nặng. Mới sanh con được vài tháng, ngày nào cũng phải xách nước nên gân xanh nổi u nổi cục trên hai tay tôi. Thiếu ăn, thiếu ngủ, tôi xanh mét như một tàu lá héo.

Nghề giặt ủi vất vả thế mà chỉ kiếm được ngày hai bữa cơm vào mùa Hè. Đến mùa Đông thì càng thê thảm vì áo quần phơi không khô, nhà thì chật chội. Tôi vừa trông con dại vừa tập đan len để kiếm thêm. Tôi phải nhờ má tôi giúp mới hoàn thành được một chiếc áo. Không may là ngay lúc ấy lại bùng lên phong trào đan len máy. Nghề đan len chỉ nuôi tôi lây lất qua một mùa Đông…

Chợ trời Sài Gòn 1990 (ảnh: Peter Charlesworth/LightRocket via Getty Images)

Với tôi, Tết không có nghĩa có mùa Xuân. Ước mơ luôn là một bữa cơm no và một bộ áo lành lặn cho bé con mình. Ngày nọ, có đứa bạn thương tình bày tôi bán giải khát “sinh tố giằm”, tức là trái cây chín, dùng muỗng giằm nát, cho thêm vào chút sữa đặc. Người bạn tốt bụng còn cho tôi tạm ứng tiền mua trái cây, đường, sữa, nước đá. Buổi tối bán xong thì gom vốn trả bạn. Thuở đó làm gì có tủ lạnh nên mọi thứ phải cất trong thùng chứa đá, tiền lời kiếm được mỗi ngày không đủ mua nước đá bảo quản trái cây qua đêm. Có khi cả ngày tôi bán chỉ được một nửa trái bơ, chút đu đủ, vài quả chuối… Tôi làm chủ quán được vài tháng, cuối cùng dẹp tiệm vì hết vốn và đổ nợ.

Bạn tôi không vì thế mà bỏ tôi. Bạn giúp tôi một cách tế nhị bằng cách gởi con cho tôi trông giùm rồi biếu tôi chút tiền. Sau đó một cô bạn thân khác cũng mang đứa con trai nhỏ đến gởi. Từ đó tôi làm “dịch vụ giữ trẻ tại gia”. “Nhà trẻ” có ba cháu: con tôi và hai đứa con của hai người bạn. Khi các cháu chơi vui thì không sao, lúc có đứa ho hen sổ mũi thì khổ lắm. Nhất là cậu ấm con cô giáo. Nó yếu ớt và có tật khóc nhè dai dẳng. Đặc biệt cậu chỉ thích ngậm vú thật mới chịu ngủ. Rốt cuộc, sau mấy tháng, các cháu ngày càng suy dinh dưỡng. Hai đứa con trai của bạn tôi bụng to, da vàng. Tôi thì gầy gò xanh mét…

Một lần, lại xảy ra “tai nạn nghề nghiệp”, khi bạn tôi mang con đến, kèm theo một “cà mèn” cháo thịt cóc. Bạn tôi giải thích là ông nội cháu ở quê nhờ người ta bắt cóc làm thịt rất kỹ càng, bỏ túi mật rồi mới nấu. Nghe đâu là món gia truyền có vị thuốc chữa được chứng bụng ỏng, da vàng, giúp xổ các chất độc. Trẻ con 

ăn vào còn có tác dụng diệt sán. Hai bà mẹ trẻ là tôi và nhỏ bạn hí hửng. Hôm đó tôi cố ép con tôi và thằng bé kia ăn càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, đứa con của bạn tôi bị ngộ độc phải đưa đi bệnh viện cấp cứu! Hú hồn là cháu không mệnh hệ gì. Con gái tôi, có lẽ nhờ thể trạng tốt, nên không hề hấn…

Sài Gòn 1995 (ảnh: Peter Charlesworth/LightRocket via Getty Images)

Thời kỳ này nhà nước bắt đầu lỏng tay đối với những người buôn bán tư nhân. Bạn tôi có một quầy sách báo và cho thuê truyện. Cô ấy nhờ tôi giao sách báo kiếm thêm thu nhập. Dần dà bạn chia cho tôi một số mối để tôi đi giao sách báo với nguồn hàng từ các nhà xuất bản quen biết. Thế là tôi “gia nhập” làng báo chí và phát hành sách. Tuy nhiên, tôi chỉ có một “phương tiện giao thông”: Đôi chân của mình.

Do đó, tôi không tranh đua nổi vì lúc nào cũng chậm hơn người khác. Nghe tôi than thở và muốn mua một chiếc xe đạp, người bạn của em trai tôi cho biết sẽ bán rẻ chiếc xe cũ của cậu ta. Tôi hối hả đi mượn tiền. Hôm sau, cậu ấy đến, không phải với một chiếc xe đạp như tôi tưởng mà là một cái thúng, chứa ngổn ngang đồ phụ tùng xe đạp cũ gồm dây sên, bàn đạp, ổ bi… Trên vai hắn vác cái sườn xe trầy trụa, không biết sơn màu gì; tay còn lại cầm hai cái bánh xe, ruột gan lòi ra ngoài, căm xe thì cái còn cái gãy.

Nhìn khuôn mặt thất vọng của tôi, cậu ta cười: Không sao đâu chị, từ từ ráp lại, xe còn ngon lắm! Tôi ngậm ngùi trả tiền và nhờ anh mình ráp xe. Thiếu thứ gì thì mua thêm thứ nấy. Rốt cuộc tôi cũng “tậu” được chiếc xe làm phương tiện. Đó là chiếc “xe đạp” đúng nghĩa vì chỉ có thể leo lên đạp. Nó không có yên sau, thậm chí không có “phanh” (thắng xe). Mỗi sáng tôi đi giao sách báo và mỗi chiều đi thu tiền. Chiếc xe đạp lọc cọc cứ xẹp bánh dọc đường, ruột xe chằng chịt, không còn chỗ vá. Đạp được một quãng là phải nhảy xuống móc sên lại. Trong túi tôi lúc nào cũng có một cục đá để đóng vào cái líp xe khi cần…

Ngày nọ tiếp nối ngày kia, vốn này chồng lên vốn khác. Kết quả là… không còn đồng vốn nào. Nợ mang đầy đầu vì tiền lời mỗi ngày không đủ tiêu, thâm vào vốn, mà là vốn vay mượn. Suốt đời, tôi không bao giờ quên một chiều cuối năm, khi hạn chót cần phải trả các món nợ, mà tôi không thể kiếm đâu ra. Tôi đạp chiếc xe cọc cạch lang thang vô định, chiều tối vẫn không dám về nhà, cũng không biết đi đâu. Tôi muốn chết cho xong.

Với chiếc xe lọc cọc, lần nào đi chào hàng tôi cũng thua người ta. Tôi tiết kiệm từng đồng; thậm chí không dám uống nước và ngày nào cũng nhịn ăn. Chỉ nuôi một đứa con nhỏ mà tôi không lo được. Thế thì sống làm gì… Sau những ngày bôn ba, tôi còn bị suy thận. Hai ba lần nhập viện, tôi trối trăn nhờ đứa em gái nuôi giùm đứa con dại của mình… Tuy nhiên, khi tôi hoàn toàn bế tắc, ông anh trai biết chuyện thương tình cho một chỉ vàng để thanh toán hết số nợ sách báo cho đứa bạn thân. Tôi còn nhớ, lúc tôi đến gặp nó để trả nợ, nó tròn mắt ngạc nhiên: Ngày cuối năm chật vật, làm sao tôi kiếm được tiền trả nợ vậy? Tôi không thể giải thích gì hơn ngoài những lời vụng về cám ơn lòng tốt của bạn trong nước mắt. Hai đứa tôi cùng khóc…

***

Bây giờ, nghĩ lại, sau bao nhiêu gian truân, tất cả những gì còn lại từ cuộc đời, đối với tôi, là sự thấm thía của tình nghĩa trên suốt những chặng đường gập gềnh. Cho đến bây giờ, tôi không bao giờ có thể quên những người thân cũng như bạn bè một thời gắn bó và giang tay giúp đỡ khi tôi vò võ nuôi con và một thân một mình bôn ba giữa chợ đời mênh mông. Lòng tôi mãi khắc ghi những thời khắc ấy với những con người ấy…

Atlanta, 4|2022

 

Nguyễn Diệu Anh Trinh

 

Hồng Anh sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này