Truyện

Truyện (205)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

TẾT TRUNG THU

TẾT TRUNG THU

Thanh Thương Hoàng

✧✧✧✧

Thời thơ ấu của chúng ta ai chẳng trải qua những "Tết Trung Thu rước đèn đi chơi" và rồi sau đó xúm xít quây quần bên nhau "phá cỗ". Những tiếng trống ếch, những tiếng hát hồn nhiên trong sáng của từng đàn trẻ thơ đi dưới trăng rằm sáng vằng vặc đã đeo đẳng theo đuổi chúng ta trong suốt cuộc hành trình dài dằng dặc của đời người. Trăng Thu bây giờ ở xứ người vẫn sáng vằng vặc nhưng hình như không phải trăng xưa! Nhưng dù sao chúng ta cũng "trông trăng" để tưởng nhớ... Hôm nay tôi ngồi viết những giòng chữ này với một tâm trạng bâng khuâng, ngậm ngùi, nuối tiếc những cái đã qua, đã mất, không bao giờ còn lấy lại được nữa. Ôi, những đêm trăng rằm tháng tám thời thơ ấu...

Ông Nội tôi - một ông "đồ Nghệ"- sinh "bất phùng thời", giữa lúc thiên hạ bỏ chữ Nho học chữ Tây, ông mang gia đình rời bỏ thành thị về chốn thôn quê hẻo lánh thuộc một tỉnh sát biên giới Việt Hoa để hành nghề "thầy đồ" với đám học trò ngu ngơ chưa theo kịp trào lưu mới.

Tết Trung Thu năm đó tôi được 8, 9 tuổi. Chúng tôi háo hức chờ đợi cái ngày này từ cả tháng trước. Với tuổi thơ chúng tôi chỉ có hai ngày trong một năm vui vẻ và sung sướng nhất là Tết Nguyên Đán và Tết Trung Thu. Năm đó, trước Tết Trung Thu một ngày, ông Nội tôi tập họp tất cả bọn học trò lại. Có khoảng ba chục tên, tuổi từ 8 tới 15, 16. Thì ra ông cụ giảng giải cho chúng tôi về sự tích (huyền thoại)Tết Trung Thu. Hơn nửa thế kỷ trôi qua rồi nên tôi chỉ còn nhớ mang máng những điều ông kể. Vậy cứ xin viết ra đây.

Theo truyền thuyết, Tết Trung Thu bắt đầu từ đời Nhà Đường bên Tầu, dưới trào vua Duệ Tôn (tức Đường Minh Hoàng). Đêm rằm tháng tám năm đó thấy vầng trăng tròn trịa tỏa ánh sáng vằng vặc khắp thế gian, đẹp quá, thơ mộng quá, nhà vua nổi hứng cùng viên nội giám lặng lẽ rời khỏi cung điện vi hành ra ngoại thành để hưởng cảnh trăng thanh gió mát giữa chốn thiên nhiên bao la bát ngát. Vua tôi hai bóng cứ mải mê lội dưới trăng đi mãi tới một ngôi chùa mà không hay biết.

 

Ngôi chùa u u minh minh, như ẩn như hiện trong không gian bàng bạc một mầu trắng tinh khôi, như sương như tuyết, khiến nhà vua có tâm hồn thi sĩ bàng hoàng tưởng mình lạc vào cõi niết bàn. Còn đang lòng hỏi lòng thực hay mơ thì nhà vua nhìn thấy một lão tăng đầu tóc bạc phơ râu dài quá ngực, từ chánh điện chống thiền trượng ung dung bước ra cung kính cúi đầu làm lễ trước nhà vua. Nhà vua chưa hết ngạc nhiên thì lão tăng lên tiếng: "Đêm trước lão tăng trong giấc ngủ mơ màng thấy rồng vàng xuất hiện trước chùa. Sáng ra lại nghe tiếng con chim khách kêu vang nơi cây bồ đề bên hiên, lão tăng đoán chắc có đại quý nhân viếng thăm. Ngóng chờ mãi từ sáng tới giờ mới thấy mặt rồng xuất hiện".

 

Nhà vua chối, nói mình chỉ là một kẻ lãng du mải dong duổi theo ánh trăng lạc tới chốn này, lại tình cờ gặp được đại sư, âu cũng là có chút căn duyên, vạn hạnh. "Dường như trong lòng đại nhân đang mơ màng ao ước được nhập cõi thần tiên?". Lão tăng hỏi. Nhà vua đáp: " Đó là một ước mơ từ bao đời con người mong muốn. Nhưng làm sao có được, dù chỉ trong khoảnh khắc". Lão tăng chợt cất tiếng cười sang sảng như tiếng chuông vàng nổi lên giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch, rồi nói: "Không có gì khó cả, nếu đại nhân muốn sẽ được toại ý!". "Nếu được vậy thật vạn hạnh cho kẻ này!". Liền đó lão tăng giơ cao cây thiền trượng lên trời, miệng lẩm nhẩm đọc thần chú gì đó, phút chốc biến thành một chiếc cầu vồng ngũ sắc. Đầu trên giáp cung Quảng Hàn, đầu dưới giáp mặt đất. Lão tăng cầm tay nhà vua đi lên cầu vồng, chỉ giây lát đã bước vào cõi thần tiên nơi cung trăng. Nhà vua thấy hiện ra từng bầy tiên nữ xiêm y đủ mầu sặc sỡ cầm tay nhau múa hát khúc Nghê Thường. Tiếng chim hót hòa với tiếng sáo, tiếng đàn thánh thót vang lừng trong gió ngợi ca mùa xuân bất tận. Rồi hoa, rồi lá, rực rỡ bát ngát muôn hương sực nức. Quả là cõi tiên có khác trần thế. Dường như bốn mùa đều là mùa Xuân !

 

Nhà vua còn đang ngất ngây nơi cảnh tiên thì bất ngờ lão tăng cất tiếng: "Ta về thôi, cảnh tiên chỉ nên hưởng vậy thôi!". Lão tăng vừa dứt lời, trong chớp mắt nhà vua đã thấy mình đứng bên cạnh viên nội giám và nhìn lại không thấy lão tăng đâu nữa. Trở về cung điện, để kỷ niệm ngày du Nguyệt điện, nhà vua bèn đặt ra Tết Trung Thu và chỉ dẫn dân gian làm những cái bánh tròn trịa tượng trưng hình mặt trăng. Do đó hàng năm dân gian tới ngày rằm tháng tám trăng tròn là tổ chức ăn bánh uống rượu ngắm trăng. Người ta còn gọi Tết Trung Thu là tết trông trăng. Và cũng từ đó bọn trẻ con được "ăn theo", lâu dần theo thời gian biến thành Tết trẻ con "đêm trung thu rước đèn đi chơi" và người lớn trở thành "ăn theo".

 

Kể xong câu chuyện ông Nội tôi vuốt chòm râu dài bạc trắng, cười nói: "Vậy các con hãy vui chơi thỏa thích đi. Tuổi thơ thần tiên của đời người ngắn lắm. Ngắn như ông vua lên cung Quảng vậy. Thoáng đấy đã mất rồi! Chỉ ít năm nữa thôi các con sẽ trở thành người khác".

 

Năm sau ông Nội tôi mất, gia đình tôi dọn về Hà Nội. Thủa đó, bọn trẻ chúng tôi sống ở miền Bắc, tùy theo hoàn cảnh gia đình giầu nghèo được bố mẹ mua sắm cho những đồ chơi cũng như bánh kẹo. Con nhà giầu thì ngoài những bộ quần áo "hộp" ra (tất nhiên) được bố mẹ sắm cho những đồ chơi "cao cấp" như đèn kéo quân, tiến sĩ giấy, đèn lồng (bằng giấy đỏ) , đèn con cá, con rồng...

 

Buổi tối ngọn nến nhỏ bên trong những cái đèn này được thắp lên và bọn trẻ tụ họp thành đàn đi theo các "đàn anh" múa lân diệu võ dương oai, diễu hành khắp phố với tiếng trống ếch, phèng la khua rộn rã. Diễu hành hết đường nọ phố kia tới khi trăng lên đỉnh đầu tròn vành vạnh mới kéo nhau về nhà "phá cỗ". "Cỗ" là những chiếc bánh nướng nhân thập cẩm và những chiếc bánh dẻo nhân đậu xanh hay trứng. Ngoài ra còn những cái bánh nho nhỏ hình con cá, con gà, ngôi sao… Còn con nhà nghèo thì cũng cố tự tạo cho mình (hoặc nhờ bố làm giúp) một cái đèn và cũng "dung giăng dung giẻ" vui chơi như ai.

 

Bọn trẻ con Hà Nội thủa đó hay "bắt" bố mẹ dẫn tới phố Hàng Gai và Hàng Thiếc. Hai phố này chuyên bán đồ chơi Trung Thu cho trẻ con. Phố Hàng Gai thì bán đủ các loại đèn Trung Thu. Nhà nào nhà nấy trưng bầy đầy ắp trước cửa hàng những chiếc đèn đủ hình thù lồng giấy kính mầu đỏ sặc sỡ vô cùng hấp dẫn với bọn nhỏ. Còn Hàng Thiếc thì bầy bán các đồ chơi làm bằng thiếc. Nào tầu bay, tầu thủy, ô tô cho tới con thỏ, con chim, con cá. Những thứ này cũng sơn xanh đỏ vàng trắng đủ mầu nhưng không có "trang bị" máy móc như ngày nay nên máy bay, ô tô, chim cò không bay được, phải dùng tay đẩy, hoặc buộc giây kéo đi.

 

Còn bánh trung thu muốn mua bánh ngon nổi tiếng phải tới phố Hàng Buồm của người Tầu, có hai hiệu Đông Hưng Viên và Mỹ Kinh. Họ làm những chiếc bánh nướng và bánh dẻo rất lớn đặt trên cái mâm gỗ "triển lãm" trước quầy hàng trông thật hấp dẫn và gợi thèm muốn. Nhà giầu thì mua cả mâm bánh, còn nhà nghèo thì cũng ráng mua cho được hộp bánh có hai bánh nướng, hai bánh dẻo. Những cái bánh Trung Thu thời đó chúng tôi được ăn tới bây giờ vẫn còn thấy ngon, mặc dầu bánh thời nay đặc sắc hơn nhiều!

 

Sau này vào Saigon lập nghiệp, các con tôi mỗi Tết Trung Thu tới, chúng nó ngoài bánh trái còn được mua cho những đồ chơi như máy bay, tầu thủy, xe tăng, chim cò sản xuất bên Nhật, bên Mỹ trang bị máy móc rất "hiện đại". Chỉ việc bấm nút điều khiển là máy bay, xe hơi phóng ào ào, chim cò bay nhẩy loạn sạ. Nhưng chúng chỉ vui chơi một thời gian ngắn là dẹp bỏ liền không thương tiếc. Trong khi ngày trước chúng tôi vẫn nâng niu từng cái đèn, từng món đồ chơi và giữ gìn như những vật thân thương, cất đi mùa sau dùng tiếp. Tôi nhớ nhà có một lồng đèn kéo quân đẹp lắm, mẹ tôi cất giữ đến hơn mười năm.

 

Nhưng khi nhìn đám con tôi tay cầm lồng đèn nhập bọn với lũ trẻ trong Làng Báo Chí vừa đi vừa cất tiếng hát vang. Nào là: "Tết Trung Thu rước đèn đi chơi. Em rước đèn đi khắp phố phường...". Nào là: "Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già ôm một mối mơ...". Lòng tôi không khỏi bâng khuâng sao xuyến. Dĩ vãng cứ thế ùa về.

Khi bị bắt đưa lên trại tù cải tạo Gia Trung thuộc miền cao nguyên Pleiku, quả thực gần mười năm trời tôi không hề nhớ trên đất nước này còn có cái ngày gọi là Tết Trung Thu. Có bao giờ chúng tôi được nhìn trăng lên đâu. Mới 6, 7 giờ tối đã bị nhốt vào "chuồng" kín mít. Thế mà khi nhận được lá thư của đứa con gái thứ ba gửi, tôi ôm mặt suýt bật khóc. Trong thư con tôi viết: "Bố ơi, Tết Trung Thu năm nay nhà mình không có tiền mua nổi một chiếc lồng đèn nhỏ cho út Thư chơi. Con thấy nó đứng trước cửa nhà lặng nhìn lũ trẻ hàng xóm rước đèn đi qua với tất cả sự thèm thuồng khao khát. Tội nghiệp em con quá!".

 

Bây giờ sang đất Hoa Kỳ gần 10 năm, cứ tới ngày rằm tháng tám là tôi lại một mình đối bóng nhìn trăng. Hộp bánh Trung Thu bạn bè mua cho tôi để đến mốc trong tủ lạnh. Tôi không còn thấy hứng thú việc thưởng thức bánh ngọt, uống ly trà thơm nhìn trăng lên nữa. Câu nói của ông Nội tôi hồi nhỏ như còn vẳng bên tai: "Tuổi thơ thần tiên của đời người ngắn lắm. Ngắn như ông vua lên cung Quảng vậy. Thoáng đấy đã mất rồi. Chỉ ít năm nữa thôi các con sẽ trở thành người khác".

 

Trong cuộc đời tôi đã trở thành "người khác" nhiều lần! Đêm nay, lại thêm một rằm tháng tám nữa tới. Vẫn như mọi năm, không có tiếng trống ếch với từng đàn trẻ thơ rước đèn ca hát dưới trăng. Nhà nhà không có giăng đèn kết hoa, cửa đóng kín. Ngoài đường im ắng, thỉnh thoảng một tiếng xe hơi phóng vụt qua. Bỗng dưng tôi nhớ tới hai câu thơ của cụ Tản Đà:

 

"Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi.

Trần thế em nay chán nửa rồi"

 

Trăng Thu bây giờ ở xứ người vẫn sáng vằng vặc nhưng hình như không phải trăng xưa... Và tôi đang là "thằng Cuội già" ngồi dưới gốc cây đa to "ôm một mối mơ"?!

 

 Thanh Thương Hoàng

 

 

 Tiểu sử tác giả Nhà Văn, Nhà Báo

Thanh Thương Hoàng

 

Nhà văn, nhà báo Thanh Thương Hoàng tên thật là Nguyễn Thanh Chiểu, nguyên quán Nghệ An . Sinh năm 1930 tại Hải Ninh, Bắc Việt.

1953: Vào Saigon.

1954: Khởi sự viết văn, viết báo. Ðã xuất bản 12 tác phẩm gồm truyện dài, truyện ngắn.

 

Trước 1975: Ký giả, Chủ bút, Chủ nhiệm, Tổng Thư Ký nhiều tờ báo lớn ở Saigon, Chủ tịch Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam và là sáng lập viên Làng Báo chí Việt Nam tại Thủ Ðức.

 

Sau 30 tháng Tư, 1975: bị đi tù "học tập cải tạo" trong nhiều trại tập trung ngót 10 năm về tội "văn nghệ sĩ báo chí phản động".

Tháng 5, 1999: Do sự can thiệp của các hội đoàn, cơ quan ở hải ngoại và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông đã được sang định cư tại Hoa Kỳ. Hiện ông cư trú tại San José, California và vẫn tiếp tục viết báo, viết văn.

---------------

Ý nghĩa của chiếc lồng đèn Trung Thu truyền thống

món quà tuổi thơ của biết bao thế hệ

Những chiếc lồng đèn đủ sắc màu được chế tạo từ các vật dụng gần gũi với đời sống hằng ngày như giấy, vải, lụa, giấy nilon nhiều màu, tre và nến nhưng lại chứa đựng rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Chiếc lồng đèn trung thu truyền thống có đa dạng hình dáng như đèn cá chép, đèn ông sao, đèn kéo quân,... đã trở thành món quà chất chứa bao hoài niệm tuổi thơ của mỗi người và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

Lồng đèn ông sao

Đây là loại lồng đèn phổ biến nhất đối với người Việt Nam trong dịp rằm tháng Tám. Không khó để bắt gặp những chiếc lồng đèn đủ sắc màu với hình dáng ngôi sao năm cánh được bao bởi một vòng tròn được bày bán ở hầu hết các cửa hàng. Loại lồng đèn này có cách tạo khá đơn giản, ban đầu được làm từ loại giấy nilon ngũ sắc và về sau này thì các nghệ nhân còn trang trí thêm các hoạt tiết, dây kim tuyến đủ màu trông bắt mắt và hợp thời đại hơn.

Hình ảnh ngôi sao 5 cánh được bao bọc bởi vòng tròn tượng trưng cho ngũ hành âm dương trong phong thủy, vì thế chiếc lồng đèn này tượng trưng cho sự cân bằng và hài hòa của các mối quan hệ trong đời sống, giữa người với người và giữa người với thiên nhiên vạn vật.

Lồng đèn cá chép

Đèn cá chép là một trong những lồng đèn truyền thống và mang nhiều ý nghĩa đối với trẻ em. Hình ảnh cá chép không chỉ gắn liền với những truyền thuyết thời xa xưa mà còn hiện diện trong đời sống của người dân Việt Nam từ bao đời nay.

Cá chép xuất hiện trong truyền thuyết vượt vũ môn để hóa rồng, là phương tiện đưa ông Táo về trời vào ngày 28 tết âm lịch hằng năm,... Vì thế chiếc lồng đèn cá chép mang ý nghĩa biểu trưng cho sự cố gắng không ngừng và vươn lên vượt khó trong mọi hoàn cảnh. Ngoài ra, lồng đèn cá chép còn được trang trí rất lung linh và lộng lẫy với giấy nilon đỏ cùng các họa tiết đủ màu khác.

Lồng đèn kéo quân

Có nguồn gốc từ Trung Hoa nên chiếc lồng đèn kéo quân này gắn liền với ý niệm tưởng nhớ đến vua Lục Đức, một người vừa tài giỏi mưu lược lại còn giàu lòng hiếu nghĩa trong xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ.

Chiếc lồng đèn mang ý nghĩa tượng trưng cho sự hiếu thảo, tình yêu thương của những người con dành cho ông bà cha mẹ.

Lồng đèn tròn

Ở Việt Nam, lồng đèn tròn là loại thường được bán suốt cả năm, giống như đèn ông sao, vì thế nó không chỉ phục vụ cho hoạt động vui chơi rước đèn của trẻ em trong dịp Trung thu mà còn được dùng để trang trí. Với hình dáng tròn và lấp lánh bởi ánh nến phát ra từ bên trong, người ta cho rằng đây là biểu tượng cho mặt trăng vào ngày rằm tháng tám, vừa tròn lại vừa sáng rực. Hiểu rộng ra thì đây còn thể hiện cho sự tôn vinh nét đẹp nhẹ nhàng của thiên nhiên (ánh trăng) cùng ước nguyện cảm tạ trời đất cho một mùa màng bội thu.

 

 
 

Hình minh họa- internet

Kim Quy st

 
Xem thêm...

Thư Gửi Người Em Saigon - Yên Sơn

Thư Gửi Người Em Saigon

Yên Sơn

 

Để hồi đáp bức thư “Lâu Ghê Mới Gặp!” (*)

Còn có khi nào mình gặp lại
Chút tình miên viễn trả hư không

 

LÁ THƯ GỬI NGƯỜI EM GÁI của Nhạc Sĩ ĐOÀN CHUẨN !! | www.cuuhocsinhphuyen.com

Kingwood, ngày… tháng… năm…

Mình đã gặp lại nhau, đi với nhau trọn một tuần lễ đầy – dù hầu hết đi với đại gia đình của anh ngoài một vài lần riêng lẽ, nhất là lần cuối cùng ngồi đối diện nhau trong quán café quen thuộc – mà vẫn không thể nói được tất cả điều thầm kín trong cùng tận đáy lòng. Nay, nhân dịp hồi đáp thư em gửi, anh mượn nó để nói hết những gì cần nói một lần rồi thôi.

Anh không biết là em vô ý viết lộn hay cố tình viết lộn con số thời gian? 40 năm chứ đâu phải 20 năm hả em! Rất có thể em cố tình để nghe nó nhẹ bớt những trải nghiệm đau thương trong đời sống của mỗi chúng ta; hay là để nghe cho có lý về một cuộc tình dang dở của đôi tình nhân sau một thời gian dài biệt tăm, mất bóng. Phải rồi, đâu có ai phải đau thương trong hoài vọng suốt hơn nửa đời người phải không em? Sẽ rất khó cho người ta tin một người con gái có dư điều kiện, có thừa bản lãnh, thông minh, xinh đẹp như em mà vẫn sống như một loại chùm gởi trên thân cây Việt Nam ruỗng mục 40 năm dài!

Về lời bài hát “Gửi người em gái miền Nam” Nhạc Đoàn Chuẩn, lời Từ Linh,  Phố núi và bạn bè... Chút gì để nhớ!

Vâng, chúng mình đã không gặp nhau 40 năm dài; thời gian có thể đã dài cho một số phận nhỏ nhoi nào đó. Nhìn chung quanh quán café anh cũng thấy hoàn toàn khác lạ so với khung cảnh ấm cúng, riêng tư thuở nọ. Dĩ nhiên 40 năm mọi việc đã đổi khác hơn nhiều, nhưng có quá nhiều cái đổi khác làm cho người Saigon cũ nhức nhối, làm cho anh trở thành lạc lõng, xa lạ trên chính quê hương mình. Anh có cảm tưởng mình đang ở một đất nước nào đó ở thế giới thứ ba chứ không phải chính giữa Saigon, Hòn Ngọc Viễn Đông của thời trước 1975. Cảm tạ ơn trên em không quá thay đổi theo cái xã hội bát nháo, vô cùng rối loạn nầy mặc dù chúng ta có già hơn xưa rất nhiều. Chúng ta đã gần đi trọn một cuộc đời; tóc anh đã bạc gần trắng đầu và tóc em cũng đã lốm đốm màu sương… dù anh có vẻ ngạc nhiên khi nhận ra em không có quá nhiều thay đổi như những người đàn bà trang lứa.

Anh thật sự rất ngạc nhiên đến ngỡ ngàng để biết, để nghe em kể về đời sống của riêng em. Anh dù có nằm mơ cũng không thể tưởng tượng được một người con gái giỏi giang, đầy kiêu hãnh đến cao ngạo như em lại có một cuộc đời thật lạ. Đâu có ai có thể tưởng tượng sau bao nhiêu thăng trầm, lăn lộn trong cuộc sống mà em vẫn là một người con gái trinh bạch!

Anh xin lỗi đã xỉ vả, mắng mỏ cái thằng đàn bà – Lã Quới Vỹ – đã làm hỏng đời em. Nó là ai mà dám đối xử thậm tệ với em như vậy? Anh bất cần nó là ai, nếu nó còn thô bạo như vậy anh sẽ không tha nó đâu nếu anh gặp lại. Thấy em chống đỡ yếu ớt rồi ngồi im không nói anh càng nổi giận. Anh không biết tại sao anh giận dữ như vậy nếu không phải vì tình yêu em còn sâu đậm nhường ấy. Vâng, anh còn yêu em nhiều lắm nhưng… yêu để mà yêu, để mà tiếc một thời đã qua chứ anh bây giờ đang có một gia đình hạnh phúc, một người vợ tuyệt vời, anh không đòi hỏi gì hơn và anh cũng biết em rất vui khi biết như thế.

Mặc dù em đã hai lần lắc đầu khi anh ngỏ lời cầu hôn với em năm xưa. Cho tới bây giờ anh vẫn không biết tại sao em lại làm như vậy trong khi em đã làm tất cả những gì của một người đang yêu chứ đâu phải riêng anh tự biên tự diễn, yêu đương một chiều. Bằng chứng cho đến bây giờ em vẫn còn yêu anh mới nhận lời gặp anh, đi chơi chung với đại gia đình cả một tuần lễ; nói với anh những lời tử tế, chia sẻ với anh những vui buồn của cuộc sống mà nhất quyết không nhận ở anh bất cứ một thứ gì dù anh tha thiết ước muốn giữa lúc em có bao nhiêu khó khăn giăng mắc. Em vẫn kiêu kỳ, em vẫn là em.

Vâng, anh yêu em hơn là anh tưởng. Vài lần nắm được tay em cũng đã làm anh rung động chơn chất, giống như thưở ban đầu. Chúng ta đã cùng bật cười thành tiếng lần nắm tay nhau dưới gầm bàn trong một nhà hàng đông khách nọ. Nói đến đây anh lại nhớ những ngày xưa thân ái quá chừng. Ba Mẹ hai bên đã coi chúng ta như chồng vợ sắp cưới mà cũng chỉ được vài lần lén lút hôn nhau khi xe lửa qua hầm Đèo Cả trong lần anh xin phép đưa em về thăm quê hương Miền Trung của anh. Những nụ hôn vụng trộm để lại men say chất ngất giữa lòng trời đêm đầy trăng sao vời vợi. Em nói đúng, em là hiện thân của một dĩ vãng tuyệt vời của chúng ta, là đại diện của một Saigon dấu yêu đã thất lạc trong anh, trong lòng những người Sagon xưa cũ. Kể từ hôm em dứt khoát lắc đầu khi anh nói với em sẽ không có lần nữa; anh cay đắng rời khỏi sân trường, rủi dong chinh chiến, rồi vận nước điêu linh đưa đến suy tàn, anh đã theo dòng người vượt thoát làn sóng đỏ bắc phương.

Người phương bắc như em đã chứng kiến 40 năm qua, đâu có ai tin vào sự hoang đường giả tưởng mỵ dân của những kẻ rao giảng giải phóng ngoài những tên đồ tể lợi dụng lớp bọc để mưu cầu lợi ích riêng tư. Ai giải phóng ai tự nó đã trả lời. Chiếm miền Nam để đưa toàn dân đến thiên đường xã hội chủ nghĩa!? Thiên đường mù đó đã chứng minh là một bánh vẽ vô duyên, trâng tráo khi dân quân miền Bắc tiến vào thủ đô Saigon. Thế giới đại đồng của họ là một bình phong cho những cướp giựt trắng trợn; tình đồng chí của họ là những bao che cho nhau giữa những lục lọi, chiếm đoạt, giết chóc, hà hiếp miền Nam. Họ hô hào Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc cho ai nếu không chỉ dành riêng cho chính họ – những người miền Bắc đói kém và gia đình cách mạng điên cuồng ăn bánh vẽ! 40 năm! Một đất nước đầy tài nguyên, không có chiến tranh; một dân tộc cần cù chịu khó, thông minh… lại đứng gần áp chót của nghèo khổ, chậm tiến. Chưa kể tới một xã hội Việt Nam càng ngày càng băng hoại; từ tình cảm con người với con người, tới học đường, văn hóa, chính trị; đến tất cả cơ quan công quyền từ anh công an đứng đường cho đến quan chức ở thượng tầng lãnh đạo!

Thôi em nhé, dẹp hết đi, mình nói chuyện hiện tại, kẻo không máu của anh lại trào ra mắt, niềm tức giận làm nghẹn cả cổi, đầu óc mụ mị, u tối thêm.

Em hỏi anh gia đình vợ con ra sao, hạnh phúc không? Anh chưa kịp trả lời thì em đã rào đón trước, “đừng có than vợ khen con như hầu hết quý vị đàn ông mà em thường gặp. Và em chỉ muốn nghe chuyện của cá nhân anh thôi.” Em à, trước nhất anh không phải những người đàn ông em đã gặp; em biết tính anh mà, nếu không thể tốt hơn thì chẳng thể nào tệ hơn so với những ngày xa em. Một tuần đi chơi chung với gia đình chắc em cũng đã cảm nhận điều đó. Dù chúng ta cũng đã có lúc ngồi riêng với nhau nhưng sao vẫn không nói được điều muốn nói đang cháy bỏng trong lòng. Cá nhân anh không có thành tích gì đặc biệt và đáng hãnh diện cho lắm. Nhưng hãy xem như chúng mình là hai người bạn thân lâu ngày gặp lại; em hỏi anh trả lời thật thà, đứng đắn để biết về nhau thôi chứ không nhằm khoe cái hạnh phúc của riêng anh trước một cuộc đời em cay nghiệt.

Theo em biết đó, ngày cuối Tháng Tư 1975 anh đã phải chạy mất dép, bỏ lại cả gia đình cha mẹ anh chị em. Được bà Mẹ nuôi người Mỹ bảo trợ anh ra khỏi trại tỵ nạn sau vài tuần lăn lóc mất định hướng. Ra khỏi trại tỵ nạn ngày Thứ Bảy, sáng Chủ Nhật bà dắt đi nhà thờ để cảm tạ Chúa, Thứ Hai đi làm bán thời gian với một người bạn nhà thờ của Bà ấy… Kể từ đó, cuộc đời anh với bao nhiêu thăng trầm, nghiệt ngã… vì anh có nghề ngỗng gì đâu ngoài nghề học trò và nghề làm lính chiến! Anh đã cố gắng tối đa trở lại trường, vùi đầu vào sách vở, vừa đi làm vừa đi học, để không có thì giờ trống nghĩ ngợi, thương nhớ và lo lắng về gia đình vốn không có một tin tức nào, không biết trôi nổi ở đâu. Ba năm sau anh lập gia đình với một cô bạn học chung trường, chung lớp khi được tin Ba Mẹ anh chị em vẫn được bình an, chỉ tội cho anh Ba đã bị chúng nó đày ải trong các trại tù gọi tên cải tạo lâu dài.

Mãỉ tới năm 1980, vợ chồng anh mới xong đại học và cùng lúc chào đón đứa con trai đầu lòng; ba năm sau thêm một cô nương xinh xắn. Hai vợ chồng lại lao đầu vào thương mại nhưng không thành công cho lắm sau sáu năm xoay trở đủ chiều. Anh muốn có bốn đứa con cho vui nhà vui cửa nhưng trời chỉ cho có ba đứa. Cậu con trai út cách chị nó 6 tuổi. Hiện tại lũ nhỏ đã khôn lớn, đứa nào cũng đã học xong bốn năm đại học, riêng con bé học lên tới Cao học về Quản trị Tài chánh và cũng là đứa duy nhất đã an bề gia thất. Riêng anh đã nghỉ hưu vài năm rồi trong khi bà xã còn vài năm nữa mới chịu nghỉ.

Em nhắc lại bài thơ của em anh đã đọc thuộc lòng cho em nghe hôm sum họp. Em biết tại sao anh thuộc lòng bài thơ không có gì đặc sắc đó so với vô số bài viết giá trị của em không? Chắc em đã biết nhưng anh muốn một lần nói ra cho nhẹ lòng. Đó là vì anh ghen, anh tức, anh tự ái. Em từ chối lời cầu hôn của anh để rồi làm thơ cho mấy thằng Mi, thằng Thức! Thằng Mi dở dở ươn ươn sao sánh bằng anh được; còn thằng Thức thì hết bồ ny tới bồ khác, đâu phải túyp người của em! Cho đến sau nầy anh mới nghiệm ra rằng em chỉ cố tình trêu chọc anh một cách vô tâm, hoặc cố ý thử lòng anh vậy thôi… ai ngờ sự thiếu chín chắn, thiếu kiên nhẫn của anh đã làm nên cảnh chia ly lâu dài. Suy đi nghĩ lại chỉ có anh mới xứng đáng làm người yêu, làm chồng của em thôi – không phải anh hợm mình như em biết đó – nhưng tại sao em cương quyết chối từ? Nếu em nói còn ham chơi, còn tiếc thời con gái, muốn tự do thêm một thời gian nữa sao em không thẳng thắn nói với anh? Anh sợ mất em chứ anh cũng đâu có gấp muốn lập gia đình! Lứa tuổi đôi mươi lo thân chưa được thì làm sao nuôi vợ nuôi con hả em? Tất cả chỉ vì anh quá yêu em và sợ mất em. Anh sợ mất em, đơn giản chỉ có thế thôi!

Hôm gặp em lần cuối trước khi rời Việt Nam, anh ao ước em có thể tới phi trường tiễn anh đi; vậy mà em lắc đầu. Lại lắc đầu! Anh cũng biết sự chia tay nào cũng buồn bã nhưng kinh nghiệm cái lắc đầu của em lần đó, anh sợ mình không đủ thời gian để chờ đợi thêm 40 năm nữa. Anh cố nài nỉ để nghe em nói “nếu có bao giờ anh thong dong tự tại một mình, anh thu dọn về đây sống với em những ngày tháng cuối đời.” Anh nói, “em chọc anh thôi chứ em cũng thừa biết là anh yêu vợ thương con đến nhường nào.” Em cười mỉm rồi cúi mặt để cho nước mắt lã chã rơi.

Em kể anh nghe giai thoại hài của bạn Ngọc nào đó của em – Chuyện “Lâu ghê mới gặp”. Mới đầu nghĩ lại anh bật cười khan một mình. Nhưng rồi, từ từ anh mới nghiệm ra… giai thoại cười của em kể dường như đầy ẩn dụ cay đắng đối với hoàn cảnh của chúng mình, của em. Thôi em à! Chuyện chúng mình đã là như thế, dù muốn dù không cũng nên chấp nhận thôi. Tình cảm anh với em cũng giống như tình cảnh Ba Má Ngọc. Họ cãi nhau, ly dị, nhưng trong lòng vẫn còn yêu nhau. Kịp đến khi nhận biết thì mọi chuyện đã muộn màng. Anh biết em vẫn còn yêu anh lắm và anh cũng đã nói với em “anh còn yêu em nhiều hơn anh tưởng”, nhưng số phận đã an bài cho mỗi chúng ta có riêng một lối về.

Xin hãy xem nhau như là một người bạn thân mến hơn bất cứ một người bạn thân mến nào. Mai sau – nếu không là 40 năm kế tiếp – chúng ta lại có dịp hạnh ngộ nhau lần nữa, dù chỉ để ngồi bên nhau, ngó nghiêng mà giải bày những u uất trong đời nhau như chúng ta đã làm trong mấy lần riêng lẽ vừa qua. Hãy nói với nhau bằng tất cả chân tình câu “Lâu ghê mới gặp” mà không cần phải tủi buồn, cay đắng gì thêm, em nhé.

Thương quý,

Yên Sơn

(*) Chú thích: Trích đoạn bài viết “Lâu Ghê Mới Gặp” của Nguyễn Thị Minh Ngọc:

“Bạn đồng nghiệp tấu hài của Ngọc gặp nhau cứ chào: “Chà! Lâu ghê mới gặp!” rồi ré lên cười từng cơn trước khuôn mặt bẽn lẽn với một chút gì hạnh phúc của má nó. Thấy em ngơ ngác, tụi nó kể:

– Cô Ngân biết không, đêm qua lúc nhắc tụi em nhớ đến dự lễ 49 ngày của Ba nó, Ngọc có kể hai giai thoại trong ngày ba nó mất.

Giai thoại một, ai cũng biết ba má nó ly dị nhau đã lâu. Hình như ba nó bị một tình địch hành hung lén, nặng tới độ phải đưa vào bệnh viện cấp cứu trong trạng thái hôn mê. Chỗ ông nằm tấp nập các cô vô thăm. Khi má đưa tay lên mũi của ông xem hơi thơ, ba nó bỗng cắn chặt ngón tay bà như muốn nói một điều gì rồi… ông tịch luôn. Các cô khóc rộ lên, bị má nó trừng mắt: “Câm ngay mấy con đĩ chó kia, chồng tao phải để tao khóc trước!” Khi các bà kia tạnh im phăng phắc xong, má nó mới bung người ra khóc như một người lĩnh xướng, các bà Hai, bà Ba, bà Tư mới nỉ non làm dàn đệm đồng khóc bè theo.

Giai thoại hai, má nó lãnh phần tắm rửa thi thể cho ba nó. Xong phần tay chân mặt mũi, xong đến cổ, thân mình, bụng… tới chỗ “đàn ông” nhất, bà khựng lại vài giây rồi thở ra, có lẽ với một chút ngậm ngùi: – “Chà! Lâu ghê mới gặp!”

 

-------

 Yên Sơn
Xem thêm...

Đường Về Ôi Quá Dài ! - Yên Sơn

Đường Về Ôi Quá Dài ! 

Yên Sơn

~~<❤️>~~

Ba anh em hắn đi làm về từ một hãng bán xe hơi khá lớn trong vùng, nơi mà hắn được mướn làm tài xế giao nhận xe từ dealer này qua dealer các làng xóm lân cận khác; còn hai chú em thì rửa xe và trong những giờ rỗi việc phụ hai bà Mễ già lo sạch sẽ hãng xưởng. Ngày làm 8 tiếng, được trả công $2.00/g. Công việc đỡ vất vả hơn nhiều dù tiền lương hàng tuần có ít hơn; hai chú nhỏ tạm vui vẻ chấp nhận trong hoàn cảnh không còn chọn lựa nào hơn. Nghĩ tới cơn nắng Hạ vừa trải qua, chỉ có một tháng dài mà như vô tận. Cái nắng cháy da còn để lại dấu vết đen đúa trên hai tay trần và mặt mũi anh em hắn cũng thấy rùng mình!

Buổi chiều mùa thu thật dịu yên, ánh nắng vàng chênh chếch trải đều trên những khu dân cư thưa thớt, đường sá không rộn ràng như ở phố, thỉnh thoảng vài chiếc xe chạy thong thả trên con đường tráng nhựa phẳng lì. Lâu lâu lại thấy vài người cưỡi ngựa, buông lỏng dây cương, thong dong bên nhau một cách nhàn hạ.

65 Chrysler New Yorker | Chrysler new yorker, Mopar, ChryslerHãng không xa nhà nhưng anh em hắn cũng dùng xe – chiếc Chrysler 8 máy, đời 68, được ông chủ vừa bán lại với giá $600. Nhà là một cái cottage house (loại nhà khách ngắn hạn) với một phòng tắm, một nhà bếp nhỏ, một phòng ngủ, một phòng khách. Nhà ở phía sau vườn nhà chính, đi qua một khoảng sân rộng trồng đầy hoa và những rau cỏ, nơi mà mỗi sáng ông bà chủ nhà vẫn bên nhau cặm cụi làm vườn. Những luống hoa đủ màu sắc làm tăng vẻ thơ mộng cho căn nhà hắn thuê cũng làm cho anh em hắn đỡ tủi thân.

Đời sống của anh em hắn cũng âm thầm, lặng lẽ trong những nhớ nhung vời vợi. Anh em hắn cứ nêu lên câu hỏi mà không ai có thể trả lời được: “làm sao để biết tin tức gia đình”. Thời gian nhàn hạ về đêm quá nhiều cho những xót xa, cho những xao động, cho những lo nghĩ tương lai! Không lẽ cứ thế này, cứ sống lặng lẽ âm thầm nơi hoang vắng này!?! Không biết bắt đầu từ ngày tháng nào mà cả ba anh em đều uống bia thay nước, thuốc lá cầm tay!

Nhiều lúc hắn muốn nói với chú nhỏ không được uống bia, không được hút thuốc, mà biết nói làm sao trong khi hắn liền tay phì phà khói thuốc và đêm về cứ nốc bia khan? Bù lại, anh em hắn rất thương mến, nhường nhịn nhau, ai cũng muốn củng cố tinh thần người khác trong khi chính mình lại thấy bất định vô cùng! Hắn bao giờ cũng được hai chú em nhường ưu tiên tắm trước mỗi chiều đi làm về.

Hai chú thường nói là hắn “quyền huynh thế phụ” nên mỗi mỗi đều nghe lời và luôn nhường nhịn. Í da, hắn muốn dùng cái quyền này nói hai chú nhỏ đừng bày đặt uống bia hút thuốc như hắn nhưng không thể mở miệng được nên đành phải cười trừ! Hắn vẫn luôn ghi nhớ lời dạy bảo của Ba là tập tính công bình và trọng tinh thần dân chủ nên không bao giờ át giọng hoặc chiếm tiện nghi với các em. Quyết định gì cũng đem ra thảo luận để lấy ý kiến số đông; đi chợ thì hầu hết cùng đi cho vui, nấu ăn chia đồng đều, nhưng hai chú nhất định không để cho hắn rửa chén, quét nhà.

Trong khi hai chú chia nhau đứa đọc sách học tiếng Anh – người bạn Mễ ở sở thất nghiệp mang tới hôm qua cùng với cây đàn guitar cho mượn khi biết hắn thích nghêu ngao đàn hát – đứa kia lo nấu cơm tối. Hắn ra ngoài tưới nước mấy cụm cúc vàng trước cửa nhà mà hắn đã theo ông bà chủ đi chợ mua về trồng vào cuối tuần qua. Hắn nhớ hoài câu thơ dễ thương của Nguyên Sa “áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc“, vì không khác gì người thi sĩ tài hoa này viết giùm cho hắn (ngời con gái để lại Saigon vẫn hay mặc áo dài màu vàng mỗi lần đi chơi với hắn). Buổi chiều mùa Thu Pearsall khí trời dịu mát hẳn ra. Nhìn những cụm hoa vàng lung linh trong gió Thu nhè nhẹ và giữa không gian thinh vắng lạ lùng, từng chiếc lá vàng âm thầm rơi khiến lòng hắn bồi hồi, se thắt! Hắn nhớ cha mẹ, anh em đến xót xa! Hắn chợt nghĩ tới bản nhạc Lòng Mẹ của Y Vân và thèm hát quá chừng! Hắn trở vào lấy cây đàn ra ngồi trên chiếc ghế cũ trước cửa, lòng rưng rưng nhớ mẹ vô vàn

“Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào… Dù cho mưa gió không quản thân gầy Mẹ hiền. Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền. Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm. Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên”.

Hát đến đây hắn bỗng nghẹn ngào, giọng lạc đàn lơi! Dạ phải Mẹ ơi! Lặn lội gieo neo nuôi chúng con tới ngày lớn khôn để chúng con đi làm lính, mong lũ con bảo vệ được quê hương gấm vóc; nhưng Mẹ có ngờ đâu hả Mẹ?! Đứa con lớn của Mẹ đã thua đau, thua đậm tưởng đã vùi thây nơi chiến trường, còn hắn và hai em thì thân nay đất khách quê người, lỡ cu-li, lỡ học trò, trôi nổi bơ vơ, không một tin tức gia đình! Hắn chợt hồi tưởng lại khúc phim cũ về người anh ly biệt!

* * *

Nhớ lại những tháng ngày cuối cùng của Quân đội Miền Nam thật là thê thảm. Anh lớn hắn BĐQ trấn giữ ở Hố Bò, Trãng Bàng… ngày cuối tháng Ba 1975, giặc tràn vào, căn cứ thất thủ, anh gọi Không Quân yểm trợ và hắn ngẫu nhiên đang bao vùng ngay lúc đó…. được điều động tới giải vây… nhưng thật là vô dụng, giặc tràn ngập căn cứ, ông anh đã yêu cầu trút bom đạn thẳng xuống đầu, nghĩa là ngay giữa lòng quân ta, lúc đó đang đánh cận chiến trong vô vọng với biển người giặc cộng! Hắn nhớ như in trong đầu câu nói tuyệt vọng nhưng đầy cương quyết, dũng liệt của anh:

– Giặc đã tràn ngập căn cứ! Bạn phải trút ngay xuống đầu tôi, tôi thà chết chứ không muốn bị giặc Hồ bắt sống! Vĩnh biệt!

Tiếng máy “cụp” khô khan, căn cứ phía dưới bên cánh trái khói lửa mịt mù! Hắn đã vừa khóc vừa xông vào trận, trút hết hỏa lực xuống trận địa rồi thẫn thờ rời trận địa chết lịm trong nỗi đớn đau cùng cực trong đời!

Cuộc sống hắn xáo trộn tơi bời hết mấy tuần lễ nhưng vẫn đi bay gần như mỗi ngày. Hắn tình nguyện bay, hắn năn nỉ được bay, hắn sôi máu vì hờn căm không còn chỗ chứa. Hắn theo dỏi chiến trường phía Tây, hắn mở rộng tai nghe ngóng tin tức. Đơn vị của anh hắn đã được báo cáo mất liên lạc! Hắn ước ao, hắn cầu nguyện một phép lạ cho anh hắn an toàn trở về!

Bỗng một hôm anh hắn tìm tới chỗ trọ của anh em hắn ngay trong lòng Saigon, với bộ quân phục rách bươm, người ngợm không giống ai, xanh như tàu lá! Hắn còn đang bàng hoàng, thảng thốt, ngỡ như chiêm bao thì anh hắn đã ôm chầm lấy hắn nói quắn quít trong nước mắt! “Em ơi! Hết rồi! Nhà tan, nước mất!” Rồi anh nói luôn một hơi: “Anh về đây chỉ còn anh và thằng đệ tử truyền tin, thầy trò đã băng rừng, lẫn trốn suốt từ ấy đến naỵ. Anh nhục nhã quá, không giữ được căn cứ, không bảo vệ được đồng đội của mình, cả đơn vị hầu như bị tiêu diệt, số còn lại thất lạc nơi đâu không rõ! Rất tiếc anh không đủ can đảm chết theo anh em, anh vẫn nghĩ còn nước còn tát, vẫn hy vọng gở lại mối nhục này! Anh đã về lang thang ở Saigon mấy hôm nay, dự định trình diện để tìm cơ hội phục thù, nhưng thấy tình hình hiện nay không còn hy vọng nữa, anh đến thăm các em xong tìm cách trở về với gia đình, với cha mẹ, anh đã xa lìa gia đình khá lâu rồi!” Đó là ngày 27/4/1975!

Anh em hắn đã ôm nhau khóc sướt mướt! Hắn biết anh lớn là người không sợ trời, không sợ đất, anh đã tình nguyện đi bao nhiêu binh chủng dữ dằn khác nhau, gan lì và dũng mãnh lắm. Trong đời hắn chưa bao giờ thấy anh ấy khóc! Hắn đã năn nỉ anh ở lại với hắn vì tình hình nguy ngập quá mà đường về quê thì đầy bóng giặc thù! Anh bảo hắn yên tâm, nếu anh đã về từ cõi chết thì không còn gì để sợ nữa, anh cần về với cha mẹ và gia đình giữa cơn loạn lạc! Anh em hắn ăn với nhau bữa cơm chia tay đầy nước mắt!

Dòng tư tưởng bị đứt đoạn bởi hai bàn tay vịn nhẹ trên vai hắn, hai chú em đã đứng đó từ hồi nào! Thấy mắt chúng đỏ hoe, hắn cũng không thể kềm giữ được những giọt nước mắt của chính hắn! Ba anh em ôm chầm nhau để mặc hao dòng nước mắt nối nhau lăn dài!

Một lúc lâu cơn đau buồn lắng đọng, chú em nhỏ mượn cây đàn dạo tiếp bản nhạc lỡ chừng, ba anh em cùng hát trong sụt sùi ngấn lệ…

Lòng Mẹ chan chứa trên bao xóm làng gần xa. Tình Mẹ dâng tới trăng ngàn đứng lặng để nghe. Lời ru xao xuyến núi đồi suối rừng rặng tre. Sóng ven Thái Bình im lìm khi tiếng Mẹ ru.

…Dù ai xa vắng trên đường sớm chiều về đâu. Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu. Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng nhạt mầu. Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu.

Vâng Mẹ ơi! Chưa lúc nào trong đời bằng lúc này chúng con mong ước được về nương tựa mẹ cha! Chưa lúc nào trong đời bản nhạc này đã làm chúng con vun tràn niềm xúc động!

Anh em hắn đứng dậy tính đi vào dùng cơm tối nhưng cả ba cùng khựng lại vì một cô nương tóc vàng xuất hiện phía cửa sau đang vẫy tay chào. Có lẽ thấy anh em hắn ngỡ ngàng và nhìn mình chăm chăm, cô bé tiến về phía anh em hắn, cất giọng tự nhiên:

– You guys hát tiếp đi, tôi rất thích nghe loại âm nhạc you guys vừa hát, đó là loại nhạc gì mà tôi chưa từng được nghe. Lời nhạc nói về cái gì mà nghe rất là buồn bã?

Hắn chưa kịp trả lời thì cô bé đã liếng thoắn nói tiếp:

– Tôi chắc đó là nhạc Việt Nam phải không?
– Ủa cô nói chưa từng nghe bao giờ sao cô biết đó là nhạc Việt Nam?
– Tôi nghĩ người Việt Nam chắc phải hát nhạc Việt Nam! Cô bé nheo một mắt.
– Làm sao cô biết chúng tôi là người Việt Nam mà không là Tàu, Nhật, Đại Hàn?
Cô bé nhoẻn miệng cười ranh mãnh, chỉ vào hắn nói tiếp:

– Tôi còn biết you guys đang hát bản homesick (nhớ nhà) và tên you là Twan, là anh lớn trong 3 người, you guys là người tỵ nạn mới tới, mướn căn nhà này được gần hai tuần lễ và đang làm cho hãng bán xe Ford gần đây nữa.

– Tôi chắc là ông bà chủ nhà đã nói với cô. À mà cô liên hệ ra sao với ông bà chủ nhà?
– Họ là ông bà nội của tôi. Buổi trưa tôi vừa đến đây cùng với ba mẹ để thăm ông bà Nội vài hôm trước khi trở lại trường.

Hai chú em hắn nói chuyện sợ mỏi tay nên hắn tự nhiên làm phát ngôn viên cho cả ba. Cô nhỏ tự giới thiệu tên Deana Tricks. Hai chú em cũng lần lượt tự giới thiệu tên và cô nhỏ đưa tay ra bắt tay từng người. Khi bắt tay hắn dường như cô nhỏ cố ý giữ hơi lâu, ngó thẳng vào mắt hắn làm hắn ngại ngùng ngó lãng chỗ khác. Thấy cô nhỏ linh mẫn và thân tình, lại thông minh, lanh lợi, bạo dạn có thừa làm hắn cảm thấy vui vui:

– Cô đến từ đâu, và ở lại bao lâu?
– Chúng tôi ở Houston đến. Phải lái xe hơn bốn tiếng đồng hồ. Mỗi mùa nghỉ hè Ba Mẹ tôi thường cho tôi về thăm Nội trước khi nhập học. Ở đây yên tĩnh và buồn quá, toàn nông trại bao la, tôi chưa bao giờ thích ở lâu nhưng nghe Ba Mẹ tôi nói sẽ ở lại tới Chủ Nhật mới về!

– Cô tới đây được mấy lần rồi?
– Dường như mỗi năm từ lúc tôi có thể nhớ được. Đến nỗi tôi biết mọi ngõ ngách ở đây.
– Ở đây có gì… “hay” không?
– Nông trại bạt ngàn, chả có gì hơn ngoài một con suối nhỏ có thể tắm được, câu cá được và mấy nơi cho mướn ngựa cưỡi đi chơi!

Chúng tôi chưa kịp nói gì hơn thì cô bé tiếp lời:
– You guys thích đi câu, đi tắm suối và cưỡi ngựa không?
– Câu thì được, thích tắm suối nhưng chưa từng cưỡi ngựa!
– Tôi thích cả ba vì đó là niềm vui duy nhất tôi tìm được ở đây.
– Cô có dự tính làm những công việc đó lần này?
– Dĩ nhiên, Ba Mẹ tôi tính sáng mai đi cưỡi ngựa, còn tắm suối thì lúc nào thích lại đi, cách đây không xa lắm; câu cũng được nhiều cá nữa. Có thể hôm nào tôi xin Ba Mẹ dẫn you guys đi tắm suối, đi câu, đi cưỡi ngựa. You guys nghĩ sao?

Cô nhỏ này quả nhiên rất ư tự nhiên và thân tình, nói những điều muốn nói, làm những điều muốn làm. Hắn đã được học hỏi trong sách vở về phong tục, tập quán, và con người dân Mỹ, và năm xưa cũng đã du học hơn một năm ở bên này, nhưng cũng không khỏi bối rối về sự thân tình của cô nhỏ, nhất là chỉ mới gặp nhau lần đầu. Hắn nghĩ nếu gặp cô nhỏ trong cương vị ngày xưa chắc là dễ chịu hơn hoàn cảnh bây giờ!
– Cám ơn Deana nha, để cuối tuần sẽ tính!
– Còn tính gì nữa, hẹn sáng thứ Bảy nha?
Đang bối rối chưa biết trả lời ra sao thì chú em nhắc hắn đã hơi muộn. Hắn ngó đồng hồ tay, cô bé vọt miệng:
– You guys chưa ăn tối hở? Okay, tôi cũng đi về hẹn ngày mai được nghe you guys hát tiếp nha! Mong sẽ không hát bản homesick nữa nha, nhạc tình thôi! Cô nhỏ nheo mắt chìa tay.

Hắn mỉm cười bóp nhẹ bàn tay xinh xắn đưa ra, chào tạm biệt! Chờ cô nhỏ khuất bóng đàng sau khuôn cửa sau khi vẫy tay chào lần nữa, hắn ngồi vào bàn ăn cùng hai em. Chú em kế vừa bới cơm vừa nói:
– Chết anh Tư rồi, dường như nghe có tiếng sét… hmm, hmm… đâu đây! Dành nói suốt, không cho em út “tập” nói tiếng Anh gì hết!

Nói xong cùng chú nhỏ cười rộ lên. Hắn giơ tay dọa đánh, chú em rụt đầu le lưỡi làm trò hề.
– Tại anh sợ hai đứa nói mỏi tay tội nghiệp đó mà!
– Trời! Người ta đi làm hãng Mỹ rồi à nghen.
– Okay, vậy chiều mai anh làm thinh cho hai chú “tập” héng! Không đòi hỏi viện trợ nha?

Nói xong hắn xô nhẹ vai chú lớn. Chú nhỏ lại nói:
– Ui trời ơi, còn ăn hiếp mấy em nữa. Mới xa chị Ngọc Anh mấy tháng mà đã muốn phụ tình rồi! Em liên lạc được sẽ méc chị ấy biết!

Hắn bỗng tắt biến nụ cười khi nghe nhắc cái tên thân thuộc. Hắn cố nuốt trôi miếng cơm mắc nghẹn lở chừng. Chú em biết lỡ lời nên hai chú cũng lặng yên ăn cơm. Xong chén cơm, hắn âm thầm đứng lên tới tủ lạnh lấy xách bia ra ngồi trước cửa. Chú nhỏ nói theo:
– Anh Tư à, em lỡ lời nhắc nhớ, xin lỗi anh!
– Chú đâu có lỗi gì. Anh vẫn luôn nhớ nghĩ đến chị đó mà. Cũng chỉ là nỗi buồn bất chợt mà thôi!

Ngoài trời màn đêm phủ tràn khắp nẻo, vẻ hoang sơ quạnh quẽ khôn lường. Hắn nghĩ tới Ngọc Anh, nhớ xót xa con người tưởng rằng đã cùng hắn nên duyên nên phận. Nếu chiến tranh không leo thang cao độ thì đã gắn bó nhau một đời! Phải chi hắn không khờ dại như con trừu non, không cả tin là Saigon không thể nào rơi vào tay giặc một cách đường đột, bất ngờ; phải chi hắn liều lĩnh như mấy đứa bạn mang vợ con vào doanh trại ở những ngày cuối thì giờ này có thể nàng đã cùng hắn chia sẻ ngọt bùi, tân khổ; cùng nhau trôi nổi gian truân, trên bước đường hoạn nạn có nhau thì đâu đến nỗi cô tịch dường này! Bây giờ nghĩ lại hắn giận mình sao ngu hết biết! Hắn thở dài thườn thượt, nỗi muộn phiền dâng cao chất ngất. Ngọc Anh ơi không biết bây giờ em ở đâu, làm gì, có được bình an?

Hắn đắm chìm trong niềm thương nhớ bật lên câu hát mơ hồ: “Không còn ai, đường về ôi quá dài, những đêm xa người. Chén rượu cay, một đời tôi uống hoài, trả lại những tin vui cho nhân gian đợi chờ!”

Lời nhạc trong bài “Phôi Pha” của Trịnh Công Sơn tự nhiên ăn sâu vào tiềm thức của hắn chỉ chực trào dâng trong hoàn cảnh bùi ngùi! Hắn không ưa gì họ Trịnh, nếu không nói là căm giận cho sự ngu muội, đâm sau lưng chiến sĩ của người nhạc sĩ thiên phú này; nhưng có một điều hắn không thể phủ nhận họ Trịnh phải là một thiên tài âm nhạc! Phải chi họ Trịnh dùng khả năng thiên phú đó để phục vụ cho ước muốn khiêm nhường của quân dân cán chính miền Nam là được sống trong thanh bình, trong cơm no áo ấm, được hít thở không khí tự do dân chủ. Vâng! Phải chi!!! Cứ quay đầu nhìn lại đoạn đường đi qua hắn thấy mình chao đảo quá, ngu ngơ quá! Cứ phải nghĩ đến cái câu vô nghĩa… phải chi, phải chi!!!

Hắn cứ ngồi miên man chìm sâu trong vũng buồn rầu vô tận với bao nhiêu điếu thuốc, bao nhiêu chai bia. Trong tâm tư lẫm nhẫm hát lời ca buồn: “Thôi về đi, đường trần không có gì, tóc xanh mấy mùa. Có nhiều khi tựa vườn khuya bước về, bàn chân ai rất nhẹ tựa hồn những năm xưa“! Hắn ngủ quên trên ghế trước hàng hiên lúc nào không biết, cho tới khi chú em kế ra dìu hắn vào phòng, hắn mới thấy thấm lạnh, sương đêm ướt đẫm cả tóc tai áo quần! Hắn vừa khật khưỡng đi vừa lẩm bẩm hát, giọng nhừa nhựa như âm thanh vọng về từ cõi nào xa lắm: “Không còn ai, đường về ôi quá dài, những đêm xa người! Chén rượu cay, một đời tôi uống hoài, trả lại từng tin vui cho nhân gian đợi chờ“!

 -------------

Yên Sơn

 

 

Xem thêm...

Phi vụ cuối cùng của một TINH LONG

 

Phi vụ cuối cùng của một TINH LONG

Yên Sơn

Tay run run cầm tờ phóng ảnh Phi Vụ Lệnh (PVL) cuối cùng đã mờ nhạt – dù sau này đã được ép nhựa – sau bao nhiêu năm tháng “săm soi” ở mỗi độ tháng tư về hay mỗi lần nhớ bạn bè xưa, nhớ không gian cũ. Mỗi lần cầm tờ PVL trên tay là y như thấy lại tất cả những dấu yêu trong dĩ vãng bừng bừng sống lại, có những phút huy hoàng, có vạn điều cay đắng!

Đã 40 năm qua rồi nhưng sự xúc động vẫn còn nguyên vẹn khi hình dung từng khuôn mặt, từng giọng nói, tiếng cười của 9 Phi hành đoàn (PHD), gồm 6 Phi hành đoàn chính thức và 3 Phi hành đoàn túc trực với hơn 80 nhân sự có tên trong tờ Phi Vụ Lệnh cuối cùng của đêm 28 rạng 29/4/1975. Nhưng đặc biệt nhất là Phi hành đoàn Tinh Long 07 của Trung úy Trang Văn Thành. Phi hành đoàn rất anh dũng, đã đánh một trận oanh liệt cuối cùng, rửa hận thay anh em và đã hy sinh cho quê hương dấu yêu trong giờ thứ 25.

* * *

Chiều 28/4 anh em có mặt tại phi đoàn rất sớm và rất đông sau khi phản tặc Nguyễn Thành Trung dội bom phi trường. Và trong phi vụ lệnh đêm nay, tôi có tên bay với Trung úy Trần Văn Hiền, Tinh Long 2, sau phi vụ đầu tiên của Trung úy Trang Văn Thành.

7g30 cất cánh. Trời chưa tối hẳn. Tuy nhiên, khi chuẩn bị vào Vùng trách nhiệm lúc 8 giờ, trời đã nhá nhem tối. Hiền ra lệnh tắt tất cả đèn đóm trên tàu, chia nhau canh phòng không và SA-7.

Chiến trường hôm nay không xa thành phố bao nhiêu. Được Trung úy Thành bàn giao chiến trường cho biết là phòng không và SA-7 của địch quân rất dữ dội. Thế là 10 đôi mắt mở banh để canh chừng từng vuông đất. Chúng tôi lặng lẽ nhập vùng trong đêm tối; thế nhưng có lẽ chúng đã nghe tiếng phi cơ nên vui vẻ dàn chào một trời đạn pháo khi chúng tôi chưa kịp bắn một viên đạn nào. Có lẽ trong chiến trận ai cũng biết là mình chưa khai hỏa mà địch đã phủ đầu thì mức độ sợ hãi đến tê điếng cả người. Đoàn viên ai cũng muốn TPC khai hỏa để lấy tinh thần, nhưng vì đạn dược của chúng ta vô cùng quý hiếm nên đành phải chờ cơ hội. Chúng tôi phải liên tục lạng lách vả mồ hôi và bắt buộc phải tăng giảm cao độ liên tiếp. Địch quân trong thế thượng phong, đạn pháo liên tục bắn lên như một trời sao, đặc kín cả không phận. Ở dưới đất, hàng hàng lớp lớp xe vận tải của chúng bật đèn sáng choang, nối đuôi nhau tiến vào thủ đô như chỗ không người! Tôi chợt ao ước giá chúng tôi được trang bị bằng bom! Chúng tôi vô cùng phẫn uất nhưng vẫn không làm gì được vì chúng tôi không thể bắn liều, bắn ẩu ở cao độ không hiệu nghiệm. Mỗi lần cố xuống thấp nhập trận là phòng không của chúng lại đặc trời, lại phải lạng lách vả mồ hôi, phải bắn trái sáng chống hỏa tiễn tầm nhiệt, phải tang cao độ an toàn.

Trong suốt hai tiếng đồng hồ trên không phận, chúng tôi hoàn toàn trong tư thế tự vệ và thụ động, không có lấy một cơ hội nhỏ để bắn trả thù! Tôi bỗng nghĩ nếu gặp Trung úy Thành Cam-bu-chia chắc đã một mất một còn với lũ giặc Cộng này rồi. Tôi đã bay với Thành ở nhiều chiến trường nổi tiếng như Đại Lộc, Thường Đức, Đức Dục ở Quảng Nam; Vùng núi đồi Tây Nguyên khi biệt phái Phù Cát. Sự gan dạ của Thành có lẽ nhờ tin vào bùa chú, hoặc nằm trên sợi dây chuyền có nanh heo rừng lúc nào cũng đeo lủng lẳng trên cổ. Tôi thích bay với Thành vì muốn thử thách sự can đảm của mình được bao nhiêu; hơn nữa, tôi thật tình không muốn đạn dược của phe ta, vốn đã khan hiếm, bị phí phạm nếu đánh trận ở một cao độ kém hiệu quả. Mỗi lần nhận nhiệm vụ yểm trợ quân bạn, tôi thật sự muốn tham dự trận địa một cách tích cực, giúp giảm thiểu xương máu của các chiến hữu thân thương của các binh chủng bạn đang ngày đêm kiên cường trực diện với kẻ thù.

Cổng Phi Long-Hình internet

Phải nói lần đầu tiên trong đời đánh trận tôi cảm thấy ê chề, lo âu và bất lực. Không khác gì một võ sĩ thượng đài mà đã bị người ta trói buộc tay chân. Không ai nói với ai điều gì nhưng trong ánh mắt của mỗi người là một trời thất vọng và lo âu. Nguy cơ địch quân đánh chiếm Saigon chỉ có thể đếm từng giờ!

Về tới phi đoàn, tôi vội vã chạy về cư xá Sĩ Quan độc thân ở gần cổng Phi Long, vì có hai chú em học trò trọ học ngoài phố được tôi đưa vào trong căn cứ lúc trưa. Mấy ngày qua, an ninh, quân cảnh được lệnh không cho bất cứ dân sự nào vào trong căn cứ nếu không phải vợ con của quân nhân trong trại gia binh hoặc phải có giấy phép đặc biệt. Sở dĩ hai chú nhỏ vào được là nhờ tôi có giao tình đặc biệt với anh em an ninh, phòng thủ trong căn cứ. Giao tình đặc biệt đó là vì tôi ở trong đội tuyển volley Không đoàn và là huấn luyện viên võ thuật Không Quân nên quen mặt với anh em mà có được biệt lệ.

Gần 11g đêm tôi về tới phòng trọ. Chưa kịp chợp mắt thì phi trường bị pháo kích nặng nề. Hai chú học trò tranh nhau chui trốn vào gầm giường! Tôi cũng chết điếng khi nghe tiếng đạn rít xé tai và rớt xuống bên ngoài căn cư xá của mình… nhưng chờ hoài không nghe tiếng nổ! Tản sáng ra xem mới biết là tử thần từ chối khuya qua, chiếc đạn hỏa tiễn 122 ly cắm sâu vào lòng đất, đưa một phần đuôi lên trời!

Chưa kịp hoàn hồn thì nghe cả khu cư xá la ơi ới chỉ trỏ nhau nhìn lên bầu trời. Một Tinh Long đang bị bắn rơi! Biết chắc là bạn mình nhưng không biết là ai. Tôi bàng hoàng, xúc động làm tim đau nhói như muốn nghẹt thở. Tôi lên xe tính chạy vào phi đoàn để xem bạn nào nhưng vừa quẹo ra cổng cư xá thấy súng đạn vất bừa bãi bên trường huấn luyện tân binh phía đối diện… Tôi chợt nghĩ là anh em chúng tôi cần súng đạn để tử chiến nếu Việt cộng tràn vào căn cứ. Tôi dừng xe, gom một mớ súng đạn đem về phòng giao cho hai chú nhỏ. Hai chú học trò khoái chí cầm từng cái súng lên xem. Tôi chỉ vẽ sơ sơ cách sử dụng và dặn không được bắn ai nếu không phải là VC, rồi lên xe vọt đi.

Khi chạy gần tới khu gia binh, tôi lại chợt nghĩ anh em cần thực phẩm cho những ngày tới. Tôi chạy thẳng lên tiệm tạp hóa của Trung sĩ Ngọn ở khu gia binh – người vừa bay với tôi đêm qua. Đập cửa mua được mấy bao gạo và mấy chai nước mắm. Tiệm của Ngọn không có bán gì khác. Tôi nghĩ thế cũng tạm đủ và chạyđem về cư xá xong mới vào phi đoàn.

Trong lúc này, phi trường vẫn đang bị pháo kích và người người đang chạy xuôi chạy ngược. Tôi bất kể, cứ phóng xe trên đường. Khi đi ngang qua khu dinh trại nữ quân nhân KQ, thấy người ta đang tản thương vì cư xá vừa bị trúng đạn pháo kích, gây thiệt hại nặng nề. Tôi quay tìm đường khác. Dường như đầu óc tôi lúc này không suy nghĩ được gì ngoài mấy chữ “mình phải vào phi đoàn”. Tôi không có chủ đích nào ngoài việc muốn biết bạn mình vừa tử nạn gồm những ai.

Không còn nhớ lúc ấy là mấy giờ! Thấy phi đoàn ngổn ngang, vắng vẻ và có nhiều dấu hiệu bất bình thường. Vài người bạn rất ngạc nhiên hỏi tôi “còn chưa chạy nữa sao, người ta kéo nhau chạy đi hết rồi?” Tôi cố gắng tìm gặp một vài anh em còn lãng vãng, được cho biết là chiếc Tinh Long bị bắn rơi là của Trang Văn Thành và Tào Thuận. Tôi nghĩ anh bạn nói lộn tên TPC, vì Thành đã bay Tinh Long 01 rồi. Và nhìn vào PVL thấy là của ông Phi đoàn trưởng Hoàng Nuôi. Người bạn xác định là khi được điều động lúc 5:30 sáng, ông Nuôi không đi mà kêu gọi người khác bay thế. Trung úy Thành còn ngủ lại nên tình nguyện đi, kéo theo Trung úy Tào Thuận là người trực bay chuyến kế thay cho Thiếu úy Hưởng vắng mặt. Dù tình trạng chiến trường rất tồi tệ nhưng không ai nghĩ ra Tinh Long phải xung trận sau 6 giờ sáng. Đây là chuyện bất thường. Vì thế nhân viên các PHD túc trực thường vọt sớm, nhất là trong tình thế hiện tại. Do đó, ngoài hai phi công nói trên, không ai biết chắc nhân viên nào và có bao nhiêu người đi trên phi vụ đó cho tới hơn ba chục năm sau, khi chúng tôi lo việc bốc mộ Tinh Long 07, mới tìm được Thượng sĩ Nguyễn Văn Chín, người duy nhất nhảy dù, dù không kịp bung trọn vẹn nhưng còn sống sót

Tôi cấp tốc quay xe về cư xá, vơ vội 2 khẩu M16 và mấy dây đạn, nai nịt súng dao như thường ngày đi bay, đèo hai chú em lên chiếc Lambretta chạy ra các bãi đậu để tìm phi cơ khả dụng. Lúc này VC vẫn pháo kích lai rai vào phi trường. Dường như tôi không có thời gian để sợ nên cứ chạy vòng các bãi đậu của AC119K. May mắn, tôi gặp được một chú nhân viên phi đạo AC119K, biết tôi tìm phi cơ bay đi nên nói với tôi, “Trung úy chạy theo em, vì em biết ở đâu còn được phi cơ khả dụng, nhưng Trung úy cho em theo với nghe”. Tôi mừng ơi là mừng, buồn ngủ gặp ngay chiếu manh, 3 anh em chạy xe theo sau hắn.

AC-119G Gunship - Hình minh họa- internet

Quang cảnh phi trường lúc này hoang vắng nhiều; phần thì mọi người đang tránh pháo kích, phần đã ra đi còn hầu hết đổ dồn ra các cổng để xuất trại. Theo chú phi đạo hết chỗ này tới chỗ khác; những chiếc khả dụng đã không còn trong ụ. Chú lại gọi tôi theo để tìm những chiếc hư hại sơ sơ có thể bay được. Dường như tôi không suy nghĩ được gì hơn là chạy theo chú. Chú chỉ chiếc nào thì tôi nhảy lên phòng lái xem xét phi cụ và thử quay máy. Có chiếc máy nổ nhưng không có xăng; chiếc có xăng nhưng các phi kế đều hỏng… Sau cùng, tới sát trạm hàng không quân sự, chúng tôi tìm được một chiếc như ý nguyện. Việc đầu tiên là xem tổng thể, leo lên cánh coi mực xăng hai bên, vào phòng lái quay máy, thử hai ống phản lực… tất cả đều hoạt động “có vẻ” bình thường, chỉ có vài phi kế không quan trọng có kim chỉ vạch đỏ… Có lẽ không còn chọn lựa nào tốt hơn trong khi thời gian đã gần trưa, tôi quyết định ra đi với chiếc phi cơ này.

Đang gấp rút xem xét lần cuối cùng và không biết chú phi đạo đi đâu mất tiêu trong lúc hai chú em chở nhau trên xe chạy quanh bãi đậu. Tôi ra dấu bảo hai chú lên tàu. Bỗng nhiên thấy chú phi đạo trở lại với chiếc xe hơi màu trắng, hai chỗ ngồi, mui trần. Chú nói “thôi ông thầy tự lo lấy nghen, em có được chiếc xe này chắc người ta bỏ lại, em cần chạy về nhà đưa Ba Mẹ em vào trong này. Chúc ông thầy may mắn.” Tôi chưa kịp phản ứng thì chú đã chạy đi mất. Cùng lúc đó hai chú em cũng nói “thôi anh Tư chạy một mình đi, tụi em cũng về tìm Ba Mẹ”. Nói xong hai anh em chở nhau chạy biến về phía cổng Huỳnh Hữu Bạc. Tôi hoảng hốt tắt máy, nhảy xuống đất vừa chạy theo vừa kêu gọi hai chú em trở lại nhưng không kịp. Hai chú đã mất hút trong dòng người ùn ùn kéo ra cổng. Tôi đứng chôn chân bên hông trạm hàng không…

Đang lúc ngẩn ngơ, tiến thối lưỡng nan, tôi chợt thấy một toán người vừa ở các bunker gần bên xuất hiện và vội vàng lên chiếc tàu của tôi, họ quay máy vọt đi. Tôi la lớn, chạy theo đứng chặn trước mũi máy bay đưa hai tay cản lại, ra dấu tàu này của tôi… nhưng con tàu cứ sấn tới, bất kể sự an nguy của tôi. Tôi nhảy tránh sang một bên nhìn theo con tàu vội vã băng về hướng phi đạo. Thật ra tôi đã nhận diện được cả hai pilot cướp tàu của tôi, họ là đoàn viên Tinh Long chung đơn vị chứ đâu phải ai xa lạ. Tuy vậy, sau này liên lạc lại nhau ở Mỹ, tôi có hỏi họ tại sao tàn nhẫn lấy tàu của tôi đi mà còn không cho tôi đi theo… nhưng dĩ nhiên cả hai đều chối là không phải họ! Tôi nói với họ “nói là nói chơi cho biết chứ tôi hoàn toàn thông cảm hoàn cảnh lúc đó; hơn nữa tôi cũng còn sống nhăn ở đây”. Tuy nhiên, rất có thể họ mang mặc cảm nặng nề nên bao nhiêu lần chúng tôi tổ chức Tinh Long Hội Ngộ ở Texas và California vẫn chưa thấy hai người này về tham dự.

Tôi đứng ngó đoàn người chạy ra cổng một lát. Tự nói với mình là bằng mọi cách phải rời khỏi nơi này, rời khỏi Saigon. Kinh nghiệm Cộng sản mà Ba Mẹ tôi đã nói cho lũ anh em chúng tôi từ nhỏ “Cộng Sản là những con người không tim óc; là hiện thân của lọc lừa, dối trá, trả thù và giết chóc”. Phi trường đã vắng người, pháo kích cũng đã ngưng nhưng tôi không còn phương tiện để đi đâu… Đang bước ngập ngừng vô định thì thấy hai chú em xuất hiện “Anh Tư, họ không cho ai ra hết. Quân cảnh bắn dưới chân làm mọi người chạy ùa trở lại!” Tôi mừng muốn bật khóc. Ba Mẹ và các anh chị em của tôi không biết bây giờ ở đâu, ra sao. Tôi đã không thể về thăm gia đình gần hai năm qua và hơn hai tháng nay không thể liên lạc được. Đại gia đình chỉ còn lại 3 anh em ở đây, nhất định phải sống chết có nhau. Tôi cầm tay lái tính chở hai chú em chạy quanh các bãi đậu phi cơ khác cầu may để xem có chiếc nào sắp cất cánh hay không.

Vừa chuẩn bị chạy đi thì nghe tiếng gọi to sau lưng: “Th. ơi chạy theo anh, anh cần co-pilot”. Vừa lúc một chiếc pick-up màu xanh của KQ vượt qua mặt do Th/t Phan Vũ Điện cầm tay lái và chở trên thùng đằng sau một số người gồm có cơ phi và áp tải. Tôi mừng như bắt được vàng, chạy vụt theo tuốt bên bãi đậu phía đông bắc phi trường gần trạm hàng không dân sự.

C.130 - Hình minh họa- internet

Tôi không còn lòng dạ nào để nhìn cảnh hoang tàn của phi trường trong lúc này. Chúng tôi phóng xe như điên đến bên chiếc C.130. Tôi dẫn hai chú em vọt lên cửa pilot, thu xếp cho hai chú ngồi yên một chỗ. Tôi lên phòng lái ngồi vào ghế hoa tiêu phụ, lướt qua cuốn checklist trong khi anh Điện quay máy và de ra khỏi ụ. Anh áp tải Hoàng nói là người ta nhảy lên tàu nhiều quá. Anh Điện ra lệnh vừa chạy vừa đóng cửa đuôi vì tình trạng phi cơ không hoàn hảo sợ không kham nổi trọng lượng quá tải. Anh tống ga chạy như giặc đuổi sau lưng. Chúng tôi ra phi đạo ngay ở taxiway đầu tiên, khoảng nửa sân chứ không có giờ tới cuối phi đạo như bình thường. Anh Điện tăng ga tối đa, nhả thắng, chiếc phi cơ lao về phía trước như con voi điên bất kham. Tôi phụ anh Điện giữ vững cần lái. Trên mặt phi đạo có một vài nơi có đồ đạc vung vãi. Vừa chạy vừa tránh… gần tới cuối phi đạo mà vẫn chưa lấy đủ tốc độ bình thường để cất cánh… Trong lúc tôi và một số sĩ quan có mặt trong buồng lái xanh mặt thì anh Điện nhẹ nhàng nâng con tàu lên khỏi mặt đất hướng về hướng trường đua Phú Thọ. Thân tàu rung rất mạnh, chứng tỏ chưa đủ tốc độ an toàn. Anh Điện cố gắng bay lài lài lên chứ không nâng cao độ nhanh như bình thường được. Tôi bàng hoàng nghĩ thầm “chắc chết phen này vì rớt máy bay, đi không ai tìm xác rơi rồi đây!” Đã vậy, chúng tôi bắt buộc phải quẹo trái bay về hướng Vũng Tàu ngay lập tức, nếu không sẽ bị phòng không của Việt Cộng. Anh Điện không dám cua gắt vì sợ mất lực nâng. Cũng may, C.130 có 4 động cơ bán phản lực nên rất mạnh. Tàu rung một lúc thì trở lại bình thường, giúp chúng tôi bốc mình lên cao độ an toàn bay thẳng ra Vũng Tàu.

Lúc này tôi khá bình tĩnh, thấy thần chết đã bận đi nơi khác. Tôi nhìn đồng hồ tay thấy hơn 1 giờ chiều. Mở tần số không lưu, nghe loạn xạ những lời bàn tán, lời hướng dẫn cộng thêm ý kiến, ý cò của mấy ông sĩ quan cao cấp tháp tùng đang trong phòng lái… người muốn xuống Côn Sơn cùng với vợ con được di chuyển từ sang sớm, kẻ muốn qua Bang-Kok tỵ nạn; người muốn đi Utapao Thái Lan, kẻ muốn đáp xuống biển (ditching) để Hạm Đội 7 cứu… làm cho anh Điện điên đầu nổi sung hét lớn. Cuối cùng mọi người đi đến một thỏa thuận chung là đáp Utapao theo hướng dẫn của bạn bè trên tần số đang bay về hướng đó.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ từ lúc cất cánh, đi Vũng Tàu vòng qua Utapao, chúng tôi đáp xuống phi trường này khoảng hơn 3 giờ chiều ngày 29/4/1975. Mọi người thở phào nhẹ nhõm đã được tai qua nạn khỏi khi con tàu chạm bánh xuống phi đạo an toàn và chạy bang về trạm tiếp liên. Máy bay vừa tắt máy thì đã có một toán lính Mỹ bước lên tàu, lục xét và tịch thu tất cả vũ khí có trên tàu trước khi được hướng dẫn xuống máy bay. Hơn 100 nhân mạng nối đuôi nhau theo một binh sĩ Mỹ hướng dẫn nhập đoàn tỵ nạn. Chúng tôi vừa rời máy bay thì lại thấy một toán quân nhân khác bắt thang cao sơn bỏ tất cả cờ VN và bảng số tàu. Tôi ngậm ngùi nhìn hành động đó mà khóc thầm “thế là hết, miền Nam đã bị xóa sổ”!

Vâng, Miền Nam đã bị xóa sổ sau đó không đầy nửa ngày! Khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng qua làn sóng điện nghe được ở trại Utapao làm cho nhiều người bật khóc gồm có tôi. Tôi nghĩ nhiều đến Ba Mẹ và các anh em không biết bây giờ lưu lạc nơi đâu. Nghĩ tới người vợ hứa hôn chỉ ở cách tôi không hơn 6 cây số mà không thể mang theo được. Thế là hết, vĩnh biệt Saigon, vĩnh biệt người thân, vĩnh biệt đời chim, cánh gió! Tôi lặng lẽ khóc như chưa từng được khóc! Khóc cho tôi bơ vơ không biết mai này đời sẽ về đâu; khóc cho bạn bè vừa nằm xuống sáng qua trong phi vụ cuối cùng bảo vệ thủ đô!

Tháng 4/2015

PVL cuối cùng

 

Ghi chú thêm:

Tinh Long là biệt hiệu của Phi đoàn 821. Là một trong hai phi đoàn vận tải tác chiến thuộc Không đoàn 53 Chiến Thuật, trực thuộc Sư đoàn 5 Không Quân VNCH, đóng tại phi trường Tân Sơn Nhất, cách trung tâm thủ đô Saigon 6 cây số về hướng tây bắc.

Phi đoàn Tinh Long có khoảng 300 nhân viên phi hành; là phi đoàn có quân số đông nhất trong ngành bay. Ngoài căn cứ chính ở Tân Sơn Nhất còn có hai biệt đội luân phiên yểm trợ cho Vùng I đặt tại phi trường Đà Nẵng và Vùng II ở phi trường Phù Cát.

Sau hiệp định Paris 1972, trong kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, Không Quân Mỹ đã trao cho KQVNCH khoảng 16 chiếc AC119K còn lại, vận tải vũ trang tân tiến nhất mà họ đã mang vào VN từ cuối năm 1969 và đầu năm 1970 để tham dự các trận chiến quy mô nhằm chống biển người, xe tăng và những đoàn xe tiếp liệu của CSBV dọc đường mòn Trường Sơn. Trong số 26 chiếc mang vào chiến trường, thực ra chỉ có 18 chiếc khả dụng.

Được chế tạo đặc biệt cho chiến trường Việt Nam bởi hãng Fairchild-Hiller, hoàn tất vào cuối năm 1969. Chiếc AC119K có chiều dài 26.3 mét, chiều cao 8.1 mét và độ sãi của cánh là 33.3 mét. Hình dáng như một chiếc hộp bay; KQ Mỹ đặt cho biệt danh là Flying boxcar và KQVN gọi đùa là “quan tài bay”. Có 2 chong chóng với công suất mỗi chiếc là 3500 mã lực và 2 ống phản lực J-85 cực mạnh dùng để mang khối sắt khổng lồ (18,000 kg empty hoặc 29,000 kg full load) bốc mình lên trên không gian

AC119K còn có tên Stinger nữa; có lẽ người ta muốn nói tới hỏa lực và sự hiệu nghiệm của nó đối với chiến trường VN. AC119K được trang bị 4 cây đại liên minigun 6 nòng, với 31, 000 viên đạn mỗi cây cộng thêm 2 cây đại bác 20 ly 6 nòng, M61AI; mỗi cây với 4500 viên đạn nổ lại khi va chạm. Ngoài ra, AC119K cũng được trang bị một viễn vọng kính (NOS/NOD – được trông coi bởi một sĩ quan chuyên môn) có sức khuếch đại hai triệu lần ánh sáng trăng sao để nhận diện mục tiêu và một đài radar hồng ngoại tuyến (FLIR/IR – được trông coi bởi một sĩ quan chuyên môn khác) để dò tìm và theo dõi mục tiêu trong đêm tối; một hệ thống phóng trái sáng có độ mạnh 20 ký lô Watt, tương đương 1 triệu rưỡi sức ánh sáng đèn cầy có thể soi sáng tỏ một sân vận động to lớn trong đêm đen. Tuy nhiên, ở chiến trường VN không sử dụng loại trái sáng này cho mục đích thật sự của nó mà chỉ dùng để chặn đường hỏa tiễn tầm nhiệt, SA-7, của địch quân nhắm vào phi cơ. Cũng may, Tinh Long chỉ hành quân ban đêm nên có phần tương đối dễ để nhận diện vị trí phòng không và đường đi của SA- 7 để tránh.

AC-119 Gunship- Hình minh họa - internet

Theo sách vở, AC-119K’s rất hiệu nghiệm cho cả đại liên 7.6 ly và đại bác 20 ly ở cao độ 3,500 bộ khi yểm trợ hỏa lực cho quân bạn hoặc chống biển người; 5,500 – 7,000 bộ dùng để chống chiến xa và các đoàn xe tiếp liệu.

Mỗi PHD Tinh Long có 10 nhân viên, 5 sĩ quan và 5 hạ sĩ quan gồm: 1 Hoa tiêu (Trưởng phi cơ “TPC”), 1 Hoa tiêu phó: (Co-pilot “CP”), 1 Điều hành viên (ĐHV), 1 NOS (Night Observation Sight); 1 IR (Infrared Radar-Hồng ngoại tuyến), 1 Cơ phi (Flight Engineer), 1 Áp tải (cũng là IO: Illuminator Operator), và 3 Xạ thủ phi hành (G: Gunner).

Mỗi đêm Tinh Long có 8 phi vụ gồm 6 phi vụ chính thức từ 6g chiều đến 6g sáng; và 2 phi vụ túc trực (hai phi vụ này được điều động hay không cũng còn tùy nhu cầu chiến trường). Mặc dù nhiên liệu đủ để một chiếc AC119K đủ sức bay 5 tiếng đồng hồ liền, nhưng mỗi phi vụ Tinh Long chỉ trách nhiệm phần không gian của mặt trận 2 tiếng đồng hồ, chưa kể giờ đến vùng và giờ rời vùng về đáp. Khi phi vụ kế tiếp vào Vùng nhận bàn giao trách nhiệm xong thì phi vụ trước mới được phép rời vùng.

Tinh Long bay đêm nên ban ngày hoặc là ngủ bù, hoặc là lo công chuyện bản thân, trừ phi tới phiên phải trực văn phòng hoặc có những công tác đặc biệt mới có mặt ở phi đoàn vào ban ngày. Vì thế, dù có cận kề lằn ranh sinh tử mỗi đêm, chúng tôi vẫn được gọi là “lính thành phố” khi thấy chúng tôi hay “theo em xuống phố trưa nay đang còn chất ngất cơn say

Khi tình hình chiến tranh khốc liệt, mỗi người phải bay 3 hoặc 4 đêm liên tục mới được nghỉ một đêm. Dù vậy, bổn phận của đoàn viên Tinh Long là mỗi ngày đều phải gọi điện thoại cho Sĩ Quan trực tại phi đoàn; hoặc vào tận nơi để biết mình có tên trong phi vụ lệnh hay không. Phi vụ lệnh được Bộ tham mưu Phi đoàn cắt cử mỗi ngày và có thể được thay đổi theo nhu cầu chiến trường. Phương tiện điện thoại thời gian này cũng rất hiếm hoi. Chỉ có một số ít ở ngoài phố mới sử dụng phương tiện này, còn những người sống trong căn cứ là đợi đến khoảng 4 giờ chiều mang theo mùng mền chiếu gối vào thẳng Phi đoàn. Nếu có tên bay thì ở lại, không có thì vọt về. Tất cả nhân viên có tên trong phi vụ lệnh đều phải có mặt lúc 4:30 chiều để kiểm soát mọi cơ phận trên tàu, chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến bay trong đêm. Theo nguyên tắc, ai có tên bay trong đêm thì phải ngủ tại phi đoàn sau khi kiểm tàu. Bỏ bay hoặc trễ chuyến sẽ lãnh nhận những hình phạt nghiêm trọng. Thế nhưng vẫn có chàng mắt trước mắt sau là biến mất cho tới lúc lên xe ra tàu.

 

Yên Sơn

Xem thêm...
Theo dõi RSS này