Truyện

Truyện (314)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện ngắn: CON BÉ VÀ CÂY HOA CẢI DẦU

CON BÉ VÀ CÂY HOA CẢI DẦU

Truyện Ngắn của: SHIGA Naoya  (1883-1971)

 

Viết truyện ngắn và truyện dài. Shiga Naoya được xem là « vua truyện ngắn », là nhà văn tiêu biểu của loại tự truyện, là một « thánh chủ » của nền văn học Nhật hiện đại. Ông theo học đại học Tokyo, nhưng không tốt nghiệp ngành nào. Ông bắt đầu viết từ năm 21 tuổi : « Con bé và cây hoa cải dầu » là truyện ngắn đầu tay. Sự nghiệp viết văn của ông chịu ảnh hưởng nặng nề và phản ánh một đời sống gia đình bất hạnh : mất mẹ năm 12 tuổi, ông có những quan hệ sóng gió với bố, đi từ xung khắc đến đoạn tuyệt, rồi hoà giải. Tác phẩm của ông - phần lớn đã được dịch ra Anh ngữ - có thể được chia làm 3 loại : loại dựa trên kinh nghiệm và quan sát (« As far as Abashiri », « An Incident »...) ; loại dựa vào đời sống tư tưởng và trí tưởng tượng (« The Little girl and the Rapeseed Flower », « The Razor », « Han's crime »... ) ; và loại ít nhiều là tự truyện (« The Death of my mother and the new mother », « Reconciliation », « The Paper door »...)
_________________

 

Hôm đó là buổi chiều xuân trong sáng êm đềm. Một con bé đang nhặt củi đóm trên sườn núi.
Chặp sau, khi ráng chiều đỏ thắm xuyên qua các tàng cây thưa thớt, con bé đem mớ củi nhặt được xuống đồng cỏ, bắt đầu sắp vào giỏ trên lưng.
Thình lình, con bé có cảm tưởng như nghe như ai gọi mình.
- Hả ?
Con bé buột miệng. Nó đứng lên nhìn chung quanh nhưng chẳng thấy người nào.
- Ai gọi tôi ?
Con bé lại lớn giọng hỏi nữa. Nhưng cũng chẳng ai trả lời.
Sau hai ba lần có cảm tưởng đó, con bé chợt phát hiện là tiếng gọi phát ra từ cây hoa cải dầu nhỏ đơn độc đang ngẩng đầu lên trong đám cỏ dại.
Con bé lau mặt với tấm vải quàng đầu rồi nói :
- Tao nghĩ chắc mày cô độc lắm trong một chỗ như vầy.
Cây hoa trả lời với giọng thân mật :
- Em rất cô độc.
Con bé hỏi với giọng quở trách :
- Vậy sao mày đến đây làm chi ?
- Một hạt dính vào ngực con chim chiền chiện rồi rớt xuống đây. Em làm gì được !
Cây hoa nói một cách buồn rầu. Rồi nó nhờ con bé mang nó theo xuống làng dưới chân núi, nơi nó có nhiều đồng loại.
Con bé thấy xót xa cho cây hoa cải dầu, quyết định làm nó thoả mãn. Khẽ khàng gỡ khỏi đất, con bé cầm nó trong lòng tay khum khum và xuống đường núi về làng.
Dọc đường, một con suối nhỏ trong veo chảy róc rách. Thời gian trôi qua. Cây hoa nói :
- Tay chị nóng khủng khiếp. Em thấy đầu nặng quá, không ngẩng thẳng lên được.
Theo mỗi bước đi của con bé, cây hoa yếu ớt lắc lư cái đầu rũ gục.
Cả chặp lâu, con bé không biết phải làm gì.
Rồi thình lình con bé nảy ra một ý tuyệt vời. Vội vàng ngồi xổm xuống bờ đường, con bé lặng lẽ ngâm rễ cây hoa vào nước.
- Aaa !
Cây hoa thốt lên với giọng hồi sinh, sôi nổi. Nó nhìn lên con bé. Nhân đó con bé nói như truyền lệnh :
- Từ chỗ này, mày cứ đi theo nước.
Lắc đầu một cách khó khăn, cây hoa nói :
- Lỡ bị cuốn đi cách xa chị quá, em sợ chết !
- Không việc gì phải sợ cả.
Con bé vừa nói vừa thả trôi cây hoa.
- Em sợ ! Em sợ !
Bị giòng nước cuốn đi tức khắc, cây hoa ré lên hãi hùng khi thấy nước kéo mình càng lúc càng xa con bé. Nhưng con bé không nói không rằng, vòng tay ra sau lưng sửa lại cái giỏ nhảy nhót trên lưng và chạy theo sau.
Cây hoa thở dài nhẹ nhõm. Rồi vui vẻ từ mặt nước nhìn lên, nó nói với con bé đủ thứ chuyện.
Một con bướm từ đâu bay tới dập dờn vui nhộn. Nó phá phách, vỗ nhẹ cánh nhảy nhót quanh đầu cây hoa. Cây hoa có vẻ khoái chí. Nhưng rồi con bướm rộn ràng bất định đó lại bay đi chỗ khác.
Thấy trên chóp mũi con bé lốm đốm mồ hôi như những hạt trân châu, cây hoa nói với giọng ái ngại :
- Bây giờ tới phiên chị cực quá.
Con bé trả lời ngắn gọn :
- Ðừng lo cho tao.
Ngỡ bị mắng, cây hoa im lặng.
Một lát sau con bé giật nẩy mình vì tiếng kêu thét của cây hoa. Rễ nó bị vướng vào đám cỏ dại nhấp nhô trên giòng nước như một suối tóc dài, cây hoa ráng cựa quậy đầu ra trước ra sau, kiệt sức.
- Ðược rồi. Yên đó một lát.
Hụt hơi, con bé ngồi xuống tảng đá bên bờ suối.
- Làm sao em yên được với chân cẳng vướng víu như thế này ? Em thấy chẳng thoải mái chút nào.
Giọng phàn nàn của cây hoa càng lúc càng tha thiết. Con bé đáp :
- Mày như vậy là khỏe rồi.
- Em không khỏe. Dừng lại thì tốt, nhưng kiểu này thì khiếp lắm. Làm ơn, chị làm ơn vớt em lên.
Cây hoa nài nỉ, nhưng con bé không muốn nghe, chỉ mỉm cười nói :
- Mày như vậy được mà.
Chẳng bao lâu sức mạnh giòng nước làm rễ cây hoa trượt ra. Với giọng khẩn trương chói tai « Em bị cuốn đi đây này », một lần nữa cây hoa lại bị cuốn xuôi theo giòng. Giật mình, con bé chạy theo.
Khi còn cách nhau không bao xa, cây hoa rụt rè nói :
- Cực chị quá !
- Không sao cả.
Con bé dịu dàng trả lời. Rồi vì cây hoa không còn lo âu nữa, nó chạy trước cách xa khoảng chừng mười lăm bộ.
Ðã trông thấy làng dưới chân núi. Con bé nói to :
- Không còn bao xa nữa.
- Ờ há !
Cây hoa trả lời đằng sau. Chúng không nói gì với nhau một lát. Âm thanh duy nhất là tiếng lách tách, lách tách của đôi dép rơm con bé chạy, trộn lẫn với tiếng róc rách của suối.
« Chaach » ! Tiếng nước toé lên bất ngờ dưới chân con bé. Cây hoa kêu thét lên như thể sắp chết. Con bé giật mình dừng lại nhìn ra sau. Từng cánh hoa lá tái mét vì sợ, cây hoa gượng lên khỏi mặt nước la bải hải « Nhanh lên ! Nhanh lên ! ». Con bé vội vàng kéo nó ra khỏi nước.
- Chuyện gì vậy ?
Nâng niu cây hoa vào ngực, con bé quay nhìn giòng nước sau lưng.
- Có cái gì phóng ra từ chân chị đấy.
Cây hoa nói giọng hổn hển :
- Con cóc cáy đấy, chị. Nó ngụp xuống một lần rồi bất thần ở đâu trồi lên trước mặt em. Thiếu chút nữa là dám mặt tụi em chạm vào nhau. Miệng nó nhọn và có vẻ cáu kỉnh như con yêu Hà Bá vậy.
Nghe cây hoa nói, con bé cười vang. Cây hoa nói giọng trách móc :
Ðâu có gì tức cười đâu. Nhưng mà khi em ré, con cóc giật mình đấy. Nó mất hồn mất vía lặn xuống.
Nói tới đây thì cây hoa cải dầu cũng cười vang lên.
Chẳng bao lâu, chúng về tới làng.
Con bé tức khắc trồng cây hoa trong đám đất sau nhà.
Không giống trên sườn núi khô cằn đầy cỏ dại, ở đây đất đai màu mỡ. Cây hoa cải dầu lớn nhanh như thổi.
Và ở đó, giữa bạn bè với đồng loại, cây hoa cải dầu mãi mãi sống yên vui hạnh phúc.
MIÊNG
Dịch theo bản tiếng Anh của Lane Dunlop :
«The Little Girl and The Rapeseed Flower».


Paris, Février 19

 

Kim Kỳ st

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Lan huệ sầu ai

Lan huệ sầu ai 

Truyện ngắn của Quý Thể 

 

… Lan huệ sầu ai lan huệ héo

Lan huệ sầu đời trong héo ngoài tươi…( Ca dao)

 

Sau này khi đã biết mọi chuyện Thu mới hiểu vì sao anh chàng Thế, một thanh niên khỏe mạnh,  đẹp trai, độc thân, xưa nay vốn là người được các cô gái mến mộ,  là công chức trong biên chế nhà nước có  vị trí  vững vàng, có nghề nghiệp, có  một căn nhà tuy nhỏ gọn gàng, là tổ ấm lý tưởng cho cặp vợ chồng son. Tại sao đang là một người tốt như thế anh ta lại giở chứng, có nhiều hành động khả nghi về đạo đức. Anh ta cứ lấp ló rình mò sau hè nhà cô Thu, nhất là mỗi lần Thu xách khăn tắm,  cái thau nhựa lớn, áo quần vô phòng tắm xối nước ào ào. Thu ngại lắm, từ trong, qua các khe hở nhìn ra nàng quan sát anh ta rất rõ, thấy anh đứng lại phía sau phòng tắm, nơi có cái vòi nước tắm chảy ra  đi vào vùng đất thấp trồng rau muống của mụ Tôn. Thu cẩn thận coi lại chốt cửa, lấy chiếc khăn lông to móc lên cây đinh che kín những nơi ván hở, Thu vẫn chưa yên tâm. Thu nghe người ta nói bọn đàn ông con trai có cái tật thích dòm trộm. Thu sợ anh chàng hàng xóm nổi chứng tọc mạch này.


Tắm xong nàng vội vàng xô cửa đi ra thấy anh ta khệ nệ xách thùng nước đầy. Thu hỏi, hỏi là hỏi đùa thôi xem anh ta trả lời sao:                          

- Cúp nước hả?

- Nước bên nhà tôi chảy yếu quá…


Thu nín cười, thầm nghĩ anh ta nói láo chẳng biết ngượng. Mấy ngày gần đây nhờ lá đớn của tổ dân phố gởi lên công ty cấp nước, họ đã cho người xuống sửa và nước chảy rất mạnh, lên lầu hai lầu ba dễ dàng. Có đêm nước mạnh quá vỡ ống nước chảy tràn ra đầy đường. Thu đi làm mang guốc cao gót cả tấc phải xắn quần, nhón gót đi qua những nơi nước đọng. Thế mà hắn ta dám nói nước chảy yếu. Thực là anh chàng kì quặc, không hiểu hắn ta muốn giở trò gì?

                                       



Thế vướng vào cái nghiệp mê trồng phong lan từ dịp anh đến thảo cầm viên xem thú. Lần đầu tiên Thế khám phá ra trong sở thú Sài gòn cũng có cái nhà kính  trồng cây cảnh. Theo lời mấy người ở đây thì khu nhà kính đã có từ thời người ta xây  khu chuồng nuôi thú từ thời ông toàn quyền Đông Dương gì đó còn ngự trong dinh Norodom (dinh Thống Nhất bây giờ) nghĩa là đã hơn trăm năm. Trong nhà kính có khu giành trồng phong lan và các giống cây ôn đới. Rất nhiều chậu phong lan được đặt trên bậc xi măng xây trên hồ nước lớn. Tất cả mọi thứ trong khu vườn đều cũ kĩ ẩm ướt và đầy rêu phong. Nơi đây âm u và lúc nào cũng mát rượi. Giữa cái nóng đổ lửa của buổi trưa hè Sài gòn mà đứng đây thấy  như vừa lạc vào khu rừng mưa nhiệt đới. Đây cũng là lần đầu tiên Thế mới có tâm trạng thoải mái,  có thời gian rỗi thưởng thức hương sắc của loài hoa vương giả, và thế là anh đâm mê nó.


Tình yêu cứ thế lớn dần lên, anh quyết trồng lan, chọn hoa lan làm tình yêu, theo anh nghĩ yêu hoa còn đỡ hơn yêu thứ hoa biết nói  mà anh đã có kinh nghiệm đau khổ chết lên chết xuống của thời yêu cô Tuyết. Như tất cả mọi người có học trên đời, việc trước tiên là tìm mua sách nói về phong lan để tạo cho mình chút vốn liếng mà nói chuyện với đồng nghiệp. Càng đọc Thế càng thấy yêu thích loài hoa này, thực  thanh cao, nó không cần đất, chẳng cần phân, chỉ hớp sương gió thôi mà cống hiến cho đời bao đóa hoa hương sắc mặn mà. Anh bắt đầu đi tìm mua hoa, chỉ mấy ngày sau anh đã sưu tầm được một số loài hoa quí, Đồng thời anh cũng tạo cho mình một thế giới màu xanh nho nhỏ bên cạnh của sổ thư phòng. Sách vở bày sao anh làm vậy mà còn làm một cách kỉ càng hơn. Cuộc sống của anh đã đổi khác. Anh sống theo cách mới và một thời khóa biểu mới, buổi sáng dậy sớm chăm sóc cho hoa, buổi tối đi ngủ sớm hơn. Anh thay đổi hàng loạt bạn, lớp bạn cũ dành cho việc nhậu nhẹt thì nay anh đã lặng lẽ giã từ. Thế đã có lớp bạn mới, những người đồng điệu, thường lớn tuổi, thích hoa lá, yêu thiên nhiên, ngồi dưới giàn đàm đạo chuyện hoa, chuyện thế sự, chuyện văn thơ.  Thực là những cuộc gặp mặt thú vị tao nhã thanh cao, khác hẳn cảnh nhậu nhẹt chè chén om sòm trước đây. Nhờ những cuộc trao đổi và sách vở giờ đây từ chỗ mù tịt, i tờ, chẳng biết gì, giờ đây anh đã có thể phân biệt được đâu là nghinh xuân, cách lan, bạch ngọc, nhất điểm…Đâu là hoa nhà, hoa rừng, hoa nội, hoa ngoại, hoa cấy mô…Giờ đây ngoài thời gian ngồi ở cơ quan chán phèo anh giành hết cho lan. Việc công có phần chểnh mảng, ngồi cơ quan chỉ trông cho hết giờ về nhà cùng lan. Có người hăm : Coi chừng cuối năm mất cái tiên tiến! Nghe thế anh chỉ cười, nhủ thầm, tiên tiến sao bằng có được mấy giò phong lan trổ hoa.


Tình yêu thôi thúc tình yêu. Từ ngày biết lan, trồng lan, chăm sóc cho lan thì lan như cô Tuyết năm nọ, bắt đầu hành hạ anh. Càng bị hành hạ anh lại càng yêu loài hoa khó tính này. Chỉ có điều lan anh trồng tốn tiền, tốn công chăm sóc, điều kiện vườn tược không thua sút ai thế mà vườn lan nhà anh vẫn không tốt tươi lên được. Anh không tìm ra nguyên nhân, hỏi thì mỗi người nói một cách. Anh đã đổi giống, đổi nước, đổi phân, đổi cả cách chăm sóc thế mà lan cũng không khá lên được. Thất bại chẳng làm anh nãn, nó còn kích thích anh phải cố gắng hơn. Cho đến một hôm anh nghe ông cụ Luận 89 tuổi, đi đâu cũng khoe có ba đời làm nghề trồng phong lan, dạn dày kinh nghiệm trồng lan cũng chỉ nhờ biết  luận thuyết âm dương. Cụ nói:

- Lan là hoa, nhưng là hoa thuần âm, màu nhạt, màu sắc thường thường nghiêng qua sắc lạnh. Nó ở trong rừng sâu, dưới bóng râm, bên cạnh suối mát, hớp sơn lam chướng khí mà sống.  Nó là giống thuần âm


Thế hỏi:

- Thuần âm là sao ?

- Là không dính một chút dương nào, nó chịu hơi đàn bà con gái…


Thế cho là đúng, người đời thường ví phụ nữ với hoa, phụ nữ là âm, hoa không là âm còn là gì ? Anh nghĩ, âm thịnh dương suy và ngược lại dương thịnh thì âm suy. Phải rồi, mình chủ vườn là đàn ông, bạn bè cũng thuộc hàng đực rựa, thứ thiệt, còn là thứ đực rựa cực dương,  cái gác này xưa nay chưa có cô gái nào dám léo hánh đến, đi ngang qua liếc mắt vô thấy  đã mất hồn, may ra mấy con mụ sồn sồn dạn dày trận mạc năm bảy lửa  mới dám đặt chân vào. Tóm lại chỗ mình ở đây dương thịnh quá âm suy là phải rồi ! Ông cụ nói:

- Ngày xưa vua chúa và những nhà giàu có quyền thế  họ nuôi đầy tớ gái để chăm sóc lan.
Nghĩ ngợi một lúc ông cụ mới bật mí:

- Tốt nhất là tưới cho lan thứ nước mấy người đẹp tắm rửa !


Ông cụ chỉ như thế song biết tìm đâu ra cái thứ nước dặc biệt này? Phải chi ông mách thứ phân vô cơ, hữu cơ, tổng hợp, hay vi sinh gì còn dễ kiếm. Cho đến một hôm Thế thấy cô Thu xách cái gàu nhựa, tay cầm khăn tắm với chai dầu gội đầu hiệu  Sunsilk bồ kết, đi vô phòng tắm khép cửa lại lục đục trong ấy một lúc, nghe tiếng nước ào ào. Nhìn nước thải chảy ra từ cái ống nhựa phía sau buồng tắm  mà…phát thèm! Ôi thứ phân tuyệt diệu trời cho đây rồi !


Và thế là anh ta muốn  xách thùng đi hứng. Nhưng  chẳng biết phải làm thế nào để lấy thứ nước quí báu này ? Không lẽ đặt thẳng" vấn đề" với cô gái xinh đẹp hàng xóm chưa mấy quen biết này? Ai chịu cho, hỏi thế kì cục chết. Thôi chỉ còn có nước liều ! Anh đem thùng ra phía sau nhà tắm hứng.  Trong lúc chờ nước chảy đầy anh nhẫm mấy câu lục bác cho bài thơ hoa. Đến khi đầy thì xách về. Vì thế mà nảy sinh ra sự hiểu lầm đáng tiếc.


Không biết có phải nhờ thứ nước cô Thu hay do sự tình cờ nào  mà vườn lan bỗng chốc tốt tươi khác thường. Anh thầm cảm ơn cụ Luận và nhất là cảm ơn cô Thu, một người có công chỉ dẫn còn người kia đã cung cấp chất kích thích tố tăng trưởng tuyệt vời này. Giờ đây vườn lan xanh mướt và đã bắt đầu nhô lên mấy cái cuốn dài hứa hẹn những chùm hoa tuyệt mỹ.


Xưa nay anh Thế vốn là người ít nói,  ít dám quan hệ với phái đẹp. Không phải anh là hoạn quan hay thái  giám hoặc ghét bỏ phái đẹp gì, chỉ vì anh nhút nhát, lại nghĩ mình còn khó khăn, sự nghiệp chưa có gì nên chẳng  dám đèo bòng. Thế nhưng khổ nổi, cái tính nhút nhát lạnh nhạt ấy lại được cô Thu hiểu theo một khía cạnh  “tích cực” có lợi cho anh. Theo cô Thu anh là người đàn ông  điềm tĩnh, đứng đắng, tự tin, thông minh…toàn là đức tính quí hiếm. Xưa nay côThu vốn không ưa hạng ba hoa khoác lác, xun xoe, nịnh đầm, Cô ta ngấm ngầm để ý đến anh. Song từ khi thấy anh quanh quẩn nơi chỗ tắm, cô có hơi nghi ngờ đến cái tư cách, song cô thấy ngoài việc quanh quẩn ra trước rồi lại ra sau của anh, chưa thấy cử chỉ sàm sỡ nào. Thu lại giải thích cái hiện tượng bất thường ấy theo hướng tốt có lợi cho Thế. Cô nghĩ anh hâm mộ nhan sắc cô mà chưa  dám ngõ lời nên quanh quẩn thế, và cô hứa sẽ tạo điều kiện để anh kết thân.


Một hôm cô mạnh dạn leo lên gác, cô chưa tìm ra được lí do  làm quen thì thấy giàn phong lan xanh tốt cô buột miệng khen, khen lấy lệ khen chơi  chứ chẳng có chủ ý gì:

- Trời ơi vườn lan của anh đẹp quá. Có mấy chùm sắp nở đây nầy.


Thế rất hả dạ, cùng với niềm vui đó anh chẳng suy nghĩ gì, nói ngay:

- Chiều thứ bảy tuần nay mời cô lên đây thưởng thức hoa, dùng trà nói chuyện văn thơ. Có mấy cành phong lan chớm nở, tôi tính đến thứ bảy này chúng sẽ mãn khai…


Thu nhận lời. Còn cả một tuần lễ nữa mới đến ngày hẹn  nhưng đầu óc cô gái rộn ràng bao tính tóan. Tình yêu là thứ công việc không đâu ra đâu nhưng bận rộn suốt ngày. Nàng cứ xoay quanh chuyện tóc tai, phấn son, áo quần, dày dép…Nàng phân vân mãi không biết hôm ấy mặc gì, phấn son ra sao, giày dép thế nào. Xưa nay Thu có quan niệm khá rõ ràng về sắc diện người phụ nữ. Theo nàng thì làn da là cái quan trọng nhất. Muốn có làn da đẹp phải biết giữ gìn. Cách tốt nhất là tránh ánh nắng gay gắt và nhất là tránh các hóa chât có hại da. Thu nghe người ta nói, xà phòng dù là loại nào của hãng xưởng nào cũng làm bằng chất cơ bản là xút ăn da. Đã là xút ăn da thì dứt khoác không bao giờ đụng đến. Vì thế trước đây mỗi khi tắm rửa không bao giờ Thu đụng chạm đến bánh xà phòng. Làm cá xong, rửa tay nàng cũng hết sức cẩn thận, chỉ chạm sơ qua rồi xả nước sạch ngay.


Thế nhưng lần này được anh Thế mời đến dự tiệc thưởng hoa thì sao? Không lẽ tắm suông ? Đây là cuộc hẹn hò đặc biệt, có thể phá lệ. Thu liền ra chợ mua bánh xà phòng loại thơm nhất tốt nhất đắt tiền nhất. Và nàng đã tắm với bánh xà phòng nầy, kì cọ thật kĩ. Lần đó anh Thế nhận được số nước tắm nhiều gấp đôi, anh rất mừng. Anh vui quá nên vô tâm không chú ý đến thùng nước hôm nay có khác những ngày thường, nó nhiều hơn, phảng phất hương thơm và nhất là nước không trong như những lần trước, nó hơi đục. Đem nước về anh vội vàng cho vào bình tưới ngay. Anh tưới gấp đôi ngày thường  thôi thúc cho hoa nở nhanh hơn đẹp hơn để kịp tiếp người đẹp.


Sáng ngày thứ bảy Thế ra phố mua bánh ngọt, trà ngon, anh kê bàn, đặt ghế đãi khách. Cả buổi sáng và buổi trưa anh bận rộn chuẩn bị cho buổi tiệc trà dưới giàn lan. Chuẩn bị xong thì khách khứa cũng vừa tề tựu đến. Giờ đây anh mới nhìn lên giàn. Trời ơi ! Cả giàn lan héo rủ thảm thương! Ôi phải chi cô Thu đừng có quá lo lắng cho bữa tiệc, cứ như thường lệ, không dùng xà phòng tắm thì đã chẳng xảy ra cái cảnh đau lòng " Lan huệ sầu ai lan huệ héo!!!"


Tuy thế câu chuyện lại không kết thúc một cách bi thương. Đây là một câu chuyện tình có hậu kiểu như trai tài gái sắc, qua bao nhiêu sóng gió lại được gặp nhau thành vợ chồng, con cái đầy nhà ăn ở với nhau răng long tóc bạc.

 

Mấy giò phong lan héo rũ nhưng cuộc tình hai người lại thắm tươi!./.

 

Kim Kỳ st

Xem thêm...

Happy Father’s Day, Daddy!

Happy Father’s Day, Daddy!


 Tác giả : CAM LI NGUYỄN THỊ MỸ THANH

Hình minh họa

1

Mẹ tôi kết thúc nét chữ cuối cùng trên mặt chiếc bánh kem, rồi nghiêng đầu ngắm nghía. Mẹ lẩm bẩm:
– Happy Father’s Day! Được rồi há Bình! Tất cả mọi người đều được chúc mừng.
Tôi cười nhẹ:
– Phải đó mẹ, mọi người đều được chúc mừng.
– Này nhé, con thử nghĩ mà xem. Lễ Mẹ là để mọi người vui sướng vì mình sinh ra là đã có mẹ. Lễ Cha cũng vậy, là để chúng ta tôn vinh cha của mình. Chứ nếu quan niệm rằng Lễ Mẹ là để chúc mừng những người được làm mẹ, Lễ Cha là để chúc mừng những người được làm cha, thì sẽ có rất nhiều người bị bỏ sót, và bị buồn, vì đâu phải ai cũng được làm cha hay làm mẹ.
– Dạ.
– Vậy thì mọi người đều được ăn mừng. Năm nay vợ chồng An mới sinh con, cũng được chúc mừng, Bình và Chu còn độc thân vẫn được chúc mừng, vì các con đã có ba. Lễ này, … là để các con nhớ về ba của các con.
– Mẹ hay lắm! Ai cũng được như mẹ thì thế giới này sẽ không có ai bị buồn.
– Ừ! Thế giới này tràn ngập những điều mâu thuẫn và rắc rối. Mẹ mong cuộc đời của các con sẽ không nhiều rắc rối…
Mẹ im bặt. Tôi không muốn nói thêm một điều gì… Vì tôi biết một câu nói nào trong lúc này cũng sẽ rất dở. Tôi làm bộ huýt sáo một khúc nhạc, rồi đi lau chùi và kê lại bàn ghế. Trong khi làm, tôi len lén đưa mắt nhìn mẹ. Mẹ đang đứng ngắm chiếc bình toàn hoa tím mà mẹ đã cắm rất sớm sáng nay. Vâng, mẹ tôi yêu hoa màu tím.

Tôi đi ra vườn. Khu vườn nhỏ cũng toàn màu tím. Màu tím không buồn như người ta thường nói, mà là một màu rất “hay”, theo tôi là như vậy. Tôi cũng không biết phải diễn tả thế nào, chỉ biết dùng chữ “hay”, thế thôi. Tôi vốn đã là một người không yêu văn chương từ khi còn bé, bây giờ lại say mê khoa học nên tất cả những gì gọi là chữ nghĩa bay bướm thì tôi chịu thua. Chỉ có một điều mà tôi biết rất rõ: đó là mỗi khi nhìn màu tím thì tôi không bị nhức đầu như khi nhìn những màu sắc khác. Lạ là như vậy! Và, có lẽ với tôi, màu đỏ là màu tôi rất sợ. Nó thường nhắc tôi nhớ đến thời gian tôi hầu như chết đi và được sống lại sau một tai nạn xe hơi. Tôi bị chấn thương ở não, và tôi đã nằm liệt nửa năm trời. Tôi rùng mình, nghe lành lạnh suốt sống lưng. Ôi! Tôi muốn quên khoảng đời này lắm!

Có một tiếng động nhẹ nơi góc vườn bên kia. Tôi đi đến, nhìn thấy ông David đang ngồi ở bộ bàn cao. Ông đang dùng sơn màu tím với những độ đậm nhạt khác nhau để sơn lên những viên đá cuội. Ông thường trang trí cho những vật dụng trong khu vườn này như vậy. Thấy tôi, ông giơ tay chào và hỏi:
– Hôm nay không đi làm thêm giờ hả Bình?
– Không ạ. Chủ nhật, lại là Father’s Day.
Ông David gật gù:
– Tốt lắm!.. À, chỗ ở mới của Bình và Chu thế nào?
– Dạ… cũng được lắm. Không rộng bằng nhà của anh An nhưng tiện lợi vì gần sở. Mai mốt mời ông đến chơi.
– Dĩ nhiên rồi! Này Bình, giúp tôi đem những chiếc bình hoa đến đây. Tôi phải trang trí thêm một chút.
Nhìn ông cúi đầu chăm chú với những chiếc bình và sơn, cọ, tôi cảm thấy rất vui. Tất cả những việc làm có vẻ “hobby” như thế, ông không làm cho riêng ông, mà là cho mẹ tôi. Bằng mọi vẻ nâng niu, ông đã làm cho khu vườn nhỏ và cả căn nhà trở thành một nơi chốn đầm ấm. Chúng tôi, ba anh em An, Bình, Chu, không còn ở trong căn nhà này nữa. Anh An có gia đình, ra ở riêng. Tôi và Chu cũng thuê nhà ở riêng. Chúng tôi có cách sống như những gia đình người Mỹ điển hình. Nhưng thỉnh thoảng, thường là cuối tuần, chúng tôi vẫn về thăm mẹ và ông David. Chúng tôi vẫn có chung một mái nhà hòa thuận.

2

Trước bữa ăn, cả nhà cùng nói “Happy Father’s Day!”. Vậy thôi, thật đơn giản. Mẹ tôi nói nhỏ với tôi câu mà mẹ vẫn thường nói:
– Người Mỹ đơn giản lắm! Họ nói những câu nói ngắn và như đã có sẵn lâu đời chứ không chúc tụng dài dòng như người mình. Như vậy những người vốn tính ít nói đỡ phải bối rối.
Trong ba anh em, tôi là đứa hay trêu mẹ tôi nhất. Tôi nói:
– Thì vậy. Không phải ai cũng văn chương như mẹ.
Mẹ đưa tay giả vờ ký đầu tôi, cười:
– Cái thằng này! Mẹ không văn chương thì mẹ buồn chết. David thì cũng nói năng ngắn gọn. Khi nào ông thấy mẹ lầu bầu mà không giải thích cho ông hiểu thì ông nói là mẹ đang tụng kinh.
Hai mẹ con cười với nhau. An tinh ý, liếc nhìn ông David rồi nhìn tôi, nói lớn:
– Bình! English, please!
Ông David cười tủm tỉm trong khi Chu thì lắc đầu, cúi xuống tìm món ăn khoái khẩu của cậu ta. Mẹ vừa cười vừa nói lại bằng tiếng Anh:
– Chuyện riêng của tôi, của mẹ con tôi…
Ông David kêu lên:
– Chuyện riêng? Còn có chuyện riêng sao?
– Phải, rất riêng!
– Được! Vậy tôi không dám nghe đâu!
Cả nhà cùng cười vui vẻ.

Bỗng trong lúc đó tôi lên cơn đau đầu dữ dội. Tôi đứng dậy ôm đầu, chạy đến chiếc ghế sofa vật mình xuống. Cả nhà kinh hoảng. Ông David và mẹ định gọi xe cấp cứu, nhưng tôi đã dịu lại. Ông David gọi điện thoại ngay cho bác sĩ của tôi. Theo lời khuyên của bác sĩ, mọi người sẽ theo dõi tình trạng của tôi và giữ liên lạc với ông.

Tôi đã qua cơn đau. Tôi không muốn phải vào bệnh viện nằm trong khi đang có cuộc họp mặt gia đình. Ông David và An đưa tôi vào phòng cho tôi nghỉ. Tôi bỗng như mơ màng thấy lại màu đỏ quen thuộc. Tôi nhắm mắt lại, rùng mình. Ông David lo lắng:
– Sao thế? Lại thấy chuyện cũ?
Tôi hỏi lại:
– Sao ông biết?
– Triệu chứng này, tôi đã quen mà. Cậu không nhớ là mấy lần cậu lên cơn như vậy là đều có tôi chứng kiến hay sao?
Tôi bỗng nắm chặt lấy bàn tay của ông, giống như đứa bé sợ lạc mẹ. Nắm như thế, tôi chợt nghe như mọi nỗi căng thẳng và sợ hãi đã tan biến. Ôi thật lạ kỳ! Tôi cảm nhận một cảm giác an toàn…

Không biết mọi người đã làm gì, nhưng tôi thì đã thiếp ngủ được một giấc. Khi tôi thức dậy, gương mặt của mẹ tôi hiện ra. Bên cạnh mẹ là ông David. Tôi mỉm cười. Thấy tôi không sao, ông David đi ra nhà ngoài với mọi người.

Tôi muốn diễn tả với mẹ một điều gì nằm sâu trong lòng. Nhưng thật khó khăn. Tôi đã là một kẻ không biết văn chương mà! Nhưng mẹ đã lên tiếng trước:
– Mẹ nghĩ mẹ đang có cùng cảm giác với con đây, Bình ạ.
– Dạ…
– David… như là một người mang đến cho mẹ con mình sự bình yên.
– Phải…
– Con cũng nghĩ như vậy?
– Dạ. Nhưng mình nói điều này cũng thừa mẹ ạ! Cả nhà mình đều đã biết.
– Cả nhà mình đều biết. Nhưng mẹ không thấy thừa khi nói đến. Mẹ luôn luôn cảm kích David. Bao nhiêu năm nay, mẹ luôn nói lời cám ơn David.
Mẹ tôi xoa trán tôi như lúc tôi còn nhỏ, và cũng giống như lúc tôi bị tai nạn. Trên đường đi học về, tôi bị lạc tay lái và… chiếc xe của tôi tông mạnh vào một cái cây lớn bên lề đường. Lúc đó tôi không còn biết mình là ai, và ở đâu nữa. Một màu đỏ khủng khiếp bao lấy tôi. Rồi hết… Tôi thức dậy trong bệnh viện, thấy mẹ ngồi trước mặt, đang xoa trán tôi, nhưng tôi không cựa quậy nổi. Tôi cũng không nói được. Cả người tôi cứng như một khối đá. Tôi thấy rõ sự tuyệt vọng trong đôi mắt của mẹ. Nhưng mẹ không để cho sự tuyệt vọng đó bật ra khỏi mi mắt. Mà tôi, ôi!, tôi ở trong trạng thái hầu như tê liệt đó, làm sao biết được hai giọt nước mắt tuyệt vọng ấy mẹ đã để rơi ở đâu…

Nhưng An thì rất rõ. Chính An tìm ông David để ông cùng đến cứu mẹ. Phải, mẹ đã không kềm được nỗi tuyệt vọng và mẹ đã tấp xe vào sát lề đường để gào khóc một mình. Mẹ như kiệt sức sau những ngày chống chọi trong bệnh viện mà không thấy một tiến triển tốt nào cho tôi. Ông David đã nâng mẹ đứng dậy và giúp mẹ tiếp tục chiến đấu.

3

– Con có muốn ăn một chút nước súp không? Con hầu như chưa ăn gì cả.
– Vâng, mẹ! Con muốn ăn.
Mẹ đứng lên để ra ngoài lấy súp cho tôi. Tôi hơi nhỏm lên để nhìn cho rõ dáng người của mẹ. Qua bờ vai mẹ, tôi như thấy lại hình ảnh một người đàn bà còn quá trẻ dắt díu ba đứa con thơ chạy trong dòng người chập chùng ngày di tản. Ba đã mất trong những ngày cuối cùng của chiến cuộc. Ký ức của chúng tôi chỉ còn lưu lại hình ảnh của ba qua một vài tấm ảnh gia đình mà mẹ mang theo được. Tôi lúc đó mới có ba tuổi, anh An năm tuổi, còn em Chu mới thôi nôi. Hai thằng nhóc tôi chỉ biết ăn và khóc nhè. Anh An có vẻ chửng chạc hơn, dù cũng chỉ là một thằng bé. An biết giữ em cho mẹ đi sắp hàng nhận thức ăn và các hàng cứu trợ. Ông David đã đến với mẹ con chúng tôi từ những ngày đó.

Phải! Mẹ vẫn kể cho chúng tôi nghe chuyện về một ông bụt hiền từ luôn an ủi những người bất hạnh. Khi quen với ông David, anh em chúng tôi cứ ví ông như một ông bụt. Nhưng cuộc đời của ông bụt này cũng không hoàn toàn may mắn. Người vợ yêu quý của ông mất đi sau một cơn bạo bệnh. Hai đứa con sinh đôi của ông, một trai và một gái, được mười tuổi, được gửi bà nội trông nom phụ vì ông phải đi công tác triền miên. Ở trại tạm cư này, ông đã làm bạn với chúng tôi. Ông giúp đỡ từng ly từng tí để mẹ con chúng tôi có nơi ở yên ổn, mẹ có việc làm để nuôi lớn chúng tôi. Mười lăm năm sau, lúc tôi bị tai nạn xe hơi, ông vẫn là người bạn của gia đình chúng tôi. Tôi dần hồi phục, cũng như có một phép lạ! Những cơn đau tái phát thưa thớt dần. Bác sĩ bệnh viện nói tôi có thể hy vọng trở lại bình thường.

Mẹ tôi đứng vững, vượt qua mọi khó khăn nghiệt ngã. Ông David vẫn là người bạn của chúng tôi. Hai người con của ông đã trưởng thành và có cuộc sống riêng. Và… có một hôm, mẹ nói cho chúng tôi nghe về tình cảm giữa mẹ và ông David, hỏi chúng tôi nghĩ sao nếu mẹ cùng ông chung sống. Ba anh em chúng tôi nhìn nhau cười, và cũng thật đơn giản và tự nhiên, chúng tôi cùng nói:
– OK, mẹ!
Thật đơn giản. Thật rất con người! Chúng tôi đã có với nhau một mái nhà đầm ấm.

Người mang chén súp vào cho tôi là ông David. Ông cười nhẹ nói với tôi:
– Ăn cho khỏe đi, rồi nằm nghỉ. Đêm nay chắc là Bình phải ở lại đây rồi! Đang mệt, đừng nên về nhà, không có ai coi chừng.
– Tôi khỏe rồi, David!
– Nhưng Bình ở lại đây, mẹ sẽ rất vui. Tôi cũng vui. Trước đây chúng ta đã từng ở một nhà.
Ông đi ra. Ông vẫn thế đó, không nói nhiều.

Tôi bước xuống giường, đến bên chiếc bàn ở góc phòng, nhìn vào tấm ảnh của ba tôi, tấm ảnh mà mẹ và anh em tôi rất yêu mến. Tôi thốt lên nho nhỏ “Ba ơi!”. Người trong ảnh nhìn tôi. Người cha chiến sĩ của con! Con không được nhìn thấy ba từ lâu lắm, cũng không nhớ nhiều về ba vì khi ấy con còn quá nhỏ. Chỉ biết rằng mỗi năm, đến lễ Father’s Day, chúng con có cùng một ý nghĩ là hãnh diện về một người cha, thế thôi! Ba vẫn ở bên chúng con mãi mãi!

Tôi bỗng giật mình. Ô! Còn một điều nữa, bây giờ tôi mới thấy lạ. Bao năm ông David sống bên chúng tôi, như một món quà mà định mệnh mang đến, chúng tôi vẫn quen gọi ông là “David”. Rất thân thuộc, rất tự nhiên. Tự nhiên như mẹ gọi tên chúng tôi. Tự nhiên như chúng tôi gọi nhau bằng tên “An, Bình, Chu” vậy. Không gò ép, không yêu cầu. Mà ai cũng quý mến cái tên gọi “David”, phải chăng vì cái tên tự nó đã nói lên con người của ông, vốn đã là “thân yêu”, là “chăn dắt”, là “bụt” rồi! Nhưng tại sao yêu quý ông như vậy mà chúng tôi chưa bao giờ gọi ông bằng một tiếng đặc biệt hơn, thân yêu hơn? Phải, chúng tôi chưa hề gọi ông là “cha”.

Tôi sung sướng trong một cảm giác chưa từng có: tôi thấy mình như có một chút gì gọi là “văn chương”. Vậy thì tôi phải thể hiện cái “văn chương” ấy mới được. Tôi bước ra. Mọi người còn đang chuyện trò. Tôi vẫy tay ra hiệu cho An và Chu đến gần tôi. Ba anh em tôi thì thầm với nhau. Chu mở tủ lạnh lấy ống nặn kem mẹ còn giữ lại, đưa cho tôi. An bưng ổ bánh ra. Tôi nắn nót như đứa học sinh lớp mẫu giáo vẽ nét chữ đầu tiên trong đời. Bên cạnh dòng chữ mẹ đã nặn “Happy Father’s Day”, tôi nặn thêm chữ “Daddy”.

Ba anh em chúng tôi bưng ổ bánh đến trước mặt mẹ và ông David. Một việc thật tự nhiên và đơn giản như vậy, nhưng đã làm tất cả chúng tôi rưng rưng cảm động. Ba anh em tôi đồng thanh nói:
– Happy Father’s Day, Daddy!

 

Kim Kỳ st

 

 

Xem thêm...

Truyện ngắn: QUYỂN SÁCH BỎ QUÊN

QUYỂN SÁCH BỎ QUÊN

Truyện ngắn của VÕ PHÚ

 

Hình minh họa

Hắn mê Nhất Linh, tác giả của nhiều tập truyện trong Nhóm Tự Lực Văn Đoàn, như cá mê nước. Hắn mê và tôn thờ Nhất Linh như một vị anh hùng, thần tượng đời hắn. Mỗi lần đến tiệm sách, hắn đều tìm những quyển sách của Nhất Linh hay những sách nào có liên quan đến ông, để mua.
Từ Mỹ hắn bay về Việt Nam, vào những tiệm sách cũ như Hồ Huấn Nghiệp trên Đường Đồng Khởi và Hai Bà Trưng, Hiệu Sách Cũ ở đường Võ Thị Sao, Nhà Sách 28 Đồng Khởi, 250B Trần Hưng Đạo, những tiệm sách trên Đường Nguyễn Chí Thanh.... để tìm cho bằng được những quyển sách xưa của Nhất Linh, những quyển sách mà ông viết trong cuộc đời văn nghiệp của ông.
Hắn có hầu hết những quyển sách của Nhất Linh, nhưng hắn chê. Hắn bảo sách mới, in đẹp, bìa mầu, nhưng những quyển ấy đều tái bản tại Hải Ngoại. Những quyển sách hắn muốn là những quyển xuất bản lần đầu, trong thời gian Nhất Linh còn sống.
Cả tháng trời hắn đi từ Sài Gòn ra Hà Nội, lùng sục khắp nơi để tìm mua những bản gốc của Người Quay Tơ, Xóm Cầu Mới, Lan Rừng, Nghèo, Đoạn Tuyệt... Hắn chỉ còn thiếu bộ trường thiên tiểu thuyết Giòng Sông Thanh Thủy nữa, nên hắn cố tìm cho bằng được trước khi trở về Mỹ.
Một buổi nọ, trong một tiệm sách cũ, hắn được sự giới thiệu của người chủ quán về một người tên Linh Nhất. Theo như sự giới thiệu thì ông Linh Nhất nào đó có máu đam mê sưu tầm sách cổ và cũng thích Nhất Linh, nên tự gọi mình là Linh Nhất. Hắn lần theo địa chỉ của người chủ quán đưa và đến nhà người ấy để tìm sách. Cả ngày trời hắn tìm kiếm, rốt cuộc cũng đạt được mục đích.
Nhà của Linh Nhất ở trên đồi cao. Trước khi đến, hắn phải vượt qua hai con suối và đi qua rất nhiều con đường nhỏ khác. Nếu không nhờ hai đứa mục đồng dẫn đường thì có lẽ hắn không thể nào tìm ra được.
Sau khi dẫn hắn tới trước cửa nhà, hai đứa mục đồng lấy tiền dẫn đường rồi quay về. Hắn đang suy nghĩ, tìm cách nào để người chủ nhà cho hắn vào và cho hắn xem sách.

oOo

Trước nhà của Linh Nhất trồng rất nhiều hoa lan, có loại như con chuồn chuồn, loại như mặt người, loại như con bướm, loại như phượng hoàng, đủ loại đủ mầu sắc, và có cả những loại mà hắn chưa bao giờ thấy, rất kỳ quái. Hắn có đọc qua tiểu sử của Nhất Linh, hắn biết ông ấy rất thích hoa lan và đã trồng, ghép, được rất nhiều loại hoa lan quý và hiếm. Đang loay hoay trước một chậu hoa lan lạ, hắn định đưa mũi vào ngửi, hắn chợt nghe tiếng:
- Không được ngửi!
Hắn quay lại, thấy người thiếu nữ trẻ, độ chừng hai sáu, hai bảy tuổi. Cô ta đội nón, che khăn mặt và đeo găng tay làm vườn. Hắn định lên tiếng. Cô gái nói:
- Hoa đó không được ngửi. Hên là tôi tới kịp, bằng không chậu hoa không còn nữa.
- Tôi không phải là ăn trộm, thưa cô.
Hắn giải thích.
- Vâng, xin ông đừng hiểu lầm ý tôi. Tôi không nói ông lấy chậu hoa này, nhưng nếu ông mà ngửi vào thì ngày mai nó sẽ vàng và bảy ngày sau thì nó sẽ chết.
- Ồ....
- Mà ông đến mua lan à?
- Không, thưa cô. Tôi đến để tìm ông Linh Nhất.
- Ông ấy qua đời rồi hơn ba năm nay rồi. Mà ông tìm ông ấy có chi không?
- Tiếc quá! Xin lỗi cô là gì của ông ấy?
- Ông ấy là gia gia của tôi.
- Gia gia?
- Là Nội tôi ấy mà. Mà ông tìm Gia Gia tôi có chuyện gì không?
- Chẳng giấu gì cô, tôi đến đây là vì có người giới thiệu nội của cô có nhiều sách cổ, và có thể có sách tôi muốn tìm.
- Vâng, nội tôi có rất nhiều sách cũ, nhưng không biết ông muốn tìm quyển nào? Của ai?
- Cuốn "Giòng Sông Thanh Thủy" của Nhất Linh.
- À à....Tôi nghĩ chắc có, nhưng không chắc lắm. Phải đợi Gia tôi về rồi ông hỏi.
- Chừng nào ông ấy về?
- Tôi cũng không biết chắc, có thể chiều nay, cũng có thể vài ngày, nửa tháng.
- Ồ! Chẳng giấu gì cô, tôi ở tận bên Mỹ về đây. Tôi không thể chờ được lâu như vậy. Hay là cô vào tìm hộ xem Gia Gia cô có những quyển sách tôi muốn không?
- Ừa, cũng được. Để tôi hỏi Ma tôi thử sao.
Cô gái bỏ đi vào trong. Lát sau, cô trở ra với một người phụ nữ khác. Bà ta độ chừng bốn chín, năm mươi tuổi. Chắc có lẽ là mẹ của cô gái vì hai người giống nhau như khuôn đúc, vã lại, cô ấy gọi bà là Ma. Có lẽ, Gia Gia là ông Nội, Gia là Cha, và Ma nghĩa là Mẹ? Hắn nghĩ vậy!
Người phụ nữ tới bên hắn và tự giới thiệu:
- Tôi là con dâu ông Linh Nhất, ông muốn tìm sách à?
- Dạ vâng, thưa chị.
- Nhưng chồng tôi không có ở nhà. Mọi sự trong nhà đều do ông ấy lo liệu, nhưng ông đây không có thời gian đợi chồng tôi về. Thôi thì, tôi để cho ông vào tìm, nhưng muốn gì thì cũng đợi chồng tôi về, ông ấy sẽ quyết định.
- Vâng, thưa chị, cám ơn chị và cô nhiều lắm.
Ba người vào nhà. Người đàn bà nói với con gái:
- Lan à, con kêu thằng Hoàng, dắt chú ấy lên gác để cho chú ấy xem sách. Nhớ cầm theo đèn pin để thấy đường mở cửa sổ cho sáng nhé. Đem đèn hột vịt lên đó lỡ ngã, cháy là khổ.
Rồi bà quay qua hắn, bà nói:
- Từ ngày ba chồng tôi mất, chúng tôi không lên gác thường. Chỉ có thằng con trai, lâu lâu nghịch ngợm, trốn lên đó đọc sách.
Lan trở lại với người con trai to, cao, trẻ khoảng chừng mười tám, mười chín tuổi. Chắc có lẽ tên cậu ta là Hoàng. Hắn đang suy nghĩ. Lan nói:
- Hoàng, dẫn chú này lên gác, xem có quyển sách gì đó không?
- Dạ

Hình minh họa


Cầu thang lên gác làm bằng gỗ, mỗi bước đi, hắn có thể nghe tiếng răng rắc. Hắn run trong lòng, nhưng tự nói với mình là chắc không sao, không sợ!
Trên gác, bụi bám đầy. Căn phòng tối ôm, chỉ vài chấm sáng lờ mờ chui vào từ khe hỡ của cửa sổ. Hoàng bấm đèn pin, đi đến các cửa sổ và mở tung chúng ra. Ánh sáng được dịp chạy vào, căn phòng bật sáng. Hắn nhìn quanh căn phòng. Phía ngoài, cạnh cửa ra vào, là những vật dụng lỉnh kỉnh, thúng, nia, khung gỗ, thùng giấy "cạt-tông" để bừa bộn không thứ tự. Nhưng, bên trong của một góc phòng, là những kệ sách được bày rất gọn, theo thứ tự, ngăn nấp. Dưới sàn, có vô số sách báo, tranh ảnh được chất lên thành đống. Hắn đi vội lại bên kệ sách và xem những quyển sách cũ. Có rất nhiều quyển rất xưa viết bằng chữ Hán, có quyển viết bằng chữ Nôm. Có cả từ điển Hán Việt, từ điển Pháp Nôm, và nhiều quyển sách khác từ Thời Pháp Thuộc.

Hắn thích sách, nhưng không chuộng những loại sách này. Hắn chỉ ghé mắt sơ qua, để rồi cũng tìm thấy được những quyển sách mà hắn muốn tìm. Những quyển sách rất cũ của Tự Lực Văn Đoàn, để một kệ riêng. Hắn chăm chú nhìn tựa đề từng quyển. Sau khi lấy xong bộ sách Giòng Sông Thanh Thủy để qua một bên, hắn tiếp tục đọc các tựa còn lại. Quyển nào hắn cũng thấy quen và cũng đã đọc qua. Đến ngăn cuối của kệ sách là một quyển tập viết tay, trên đó viết: "Lan Đêm - Truyện Nhất Linh". Hắn tò mò, cầm quyển tập trên tay. Lớp bụi bám đầy trên quyển tập, hắn phủi và thổi bớt lớp bụi trên ấy. Đám bụi bay đầy, hắn ho sặc sụa. Hắn nhẹ nhàng, lật trang tập đầu tiên. Trang đầu là hình vẽ của một đóa hoa lan hình con bướm. Dưới hình vẽ có thủ bút của tác giả Nhất Linh-Nguyễn Trường Tam và hàng chữ "Viết cho những ngày sống tại Vườn Lan- Đà Lạt năm 1957."

Hắn cầm quyển tập và ngồi bệt xuống đất, say sưa đọc.
"Lan Đêm" câu truyện nói về một anh chiến sĩ yêu nước. Tuy anh là một người chiến sĩ, nhưng tâm hồn anh rất nghệ sĩ. Anh yêu thiên nhiên, cây cỏ, nhất là yêu hoa lan say đắm. Mỗi lần đi hành quân, đến nơi nào có hoa lan, anh đều ghi xuống những chi tiết về cây lan ấy. Ví như những đặc điểm, mầu sắc, thân cây, địa điểm và thời gian phát hiện. Anh viết những chi tiết ấy xuống với hy vọng rằng mai sau, khi đất nước thanh bình, anh sẽ đến tìm chúng và rước chúng về trong trong vườn nhà anh.
Có một lần chàng chiến sĩ lãng mạn ấy cùng đoàn quân đi qua một khu rừng. Lúc đó, mặt trời đã lặn, mọi người đều mệt mỏi và họ quyết định dựng lều ngủ qua đêm tại đây. Giữa khuya, anh thức giấc, ngửi được một mùi thơm rất dịu dàng và quyến rũ. Anh lần theo mùi thơm ấy và phát hiện ra mùi thơm đó thoát ra trên một nhành hoa lan.
Đêm đó, trăng mồng một, lờ mờ. Anh không thể thấy hình dáng của cánh hoa. Anh chỉ ngửi được mùi thơm dịu thoát ra trên một thân cây cổ thụ. Càng ngửi, anh càng say mê và thiếp đi lúc nào không hay.

Sáng thức dậy, anh mới biết đoàn quân đã rời khỏi từ lúc nào. Anh hối hả nối bước theo đoàn quân. Nhưng, đi được chừng vài phút, anh nghe nhiều tiếng nổ vang dội phía trước. Và, anh phát hiện ra rằng mọi người trong đoàn hành quân đều hi sinh. Anh quay trở lại tìm gốc lan, nhưng tìm hoài, anh vẫn không tìm ra gốc lan ấy. Anh mệt và ngất đi, cho đến khi các chiến sĩ khác đến cứu anh.
Sau khi đất nước hòa bình, anh trở về mua một mảnh đất bên con suối mơ và bắt đầu thực hiện ước mơ trồng hoa lan của mình. Anh đi từ Nam đến Bắc để tìm lại các giống lan mà mình đã gặp khi xưa. Duy chỉ có một loài anh không bao giờ tìm được đó là hoa lan đã cứu anh trong đêm hành quân ấy. Và anh, chưa bao giờ thấy được cánh hoa lan ấy nở như thế nào. Anh đã nuôi dưỡng và ghép không biết bao nhiêu giống lan, nhưng không thể nào gây được giống lan nào có mùi thơm như đêm ấy. Đến gần cuối đời, một người con gái Ekrê, người dân tộc thiểu số sống trong rừng lân cận, đến tặng anh một giò lan có mùi thơm năm xưa. Anh ngửi xong, anh ngủ. Ngủ giấc ngàn thu.
Hắn đọc xong tập truyện và thiếp đi lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy thấy mình nằm trên giường, xung quanh là bốn bức tường trắng. Hắn đưa mắt nhìn quanh và dừng lại ở một góc phòng. Trên bàn đặt một giỏ lan. Giỏ lan mà hắn thấy trong trang đầu của quyển tập "Lan Đêm".

Ngọc Lan st

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này