Truyện

Truyện (285)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện Ngắn: Lá Vẫn Xanh

Lá Vẫn Xanh

Truyện Ngắn của tác giả Võ Hồng

Từ ngày vợ chàng mất đi, Giang đã gián tiếp giải quyết được một thắc mắc: việc xuất hành năm mới. Bảo mất  tính nay đã được bốn mùa xuân rồi, và cứ sáng tinh sương ngày mồng một đầu năm, Giang lên xe ra nghĩa trang thăm mộ Bảo. Việc đó đã thành ra một bổn phận có thể gọi là thiêng liêng, chữ "thiêng liêng" mà ít khi chàng dùng đến. Dù không phải là một người có óc dị đoan, - chứng cớ là bàn tay chàng chưa hề bị một ông thầy tướng nào cầm lấy để xem xét, đo và đoán - nhưng chàng vẫn ngại khi xuất hành trong cái buổi mai trang trọng bắt đầu cả một chuỗi ba trăm sáu mươi lăm ngày của một năm. Lòng tin của những người xung quanh đã ảnh hưởng đến chàng khá mạnh, thâm nhiễm vào chàng như một chứng bệnh ngoại cảm. Sự lo nghĩ vẩn vơ về những điềm, những triệu, những rủi may mà trước đây chàng dửng dưng không lưu tâm, từ ngày Bảo mất đi, đã đến ám ảnh chàng thường xuyên hơn những cơn ác mộng. 

    Bảo mất đi, cái tai họa lớn giáng xuống đời chàng, giáng xuống gia đình chàng khiến tâm hồn chàng xao xuyến mất tin tưởng. Và như một cơ thể yếu không đủ sức kháng cự với bệnh, tâm hồn bị lung lạc hoang mang đã dễ dàng lây phải chứng bệnh sợ sệt lo âu kia.

   Xuất hành đầu năm! Quả thật trước đây chàng không hề băn khoăn nghĩ đến điều đó. Giả thử mà có một lần nào nghĩ đến và tìm một hướng để xuất hành thì chắc chắn cũng không ngoài ý định tinh nghịch. Chẳng hạn xuất hành sang phương Ðông để gặp núi, sang phương Tây để gặp sông, sang phương Nam để gặp giếng và sang phương Bắc thì mắc phải hàng rào. Nhưng nay tâm trí đã phải băn khoăn vì nỗi lo mới đó thì may thay hoàn cảnh lại tự đưa ra cách giải quyết: xuất hành đi thăm mộ là phải. Ở nơi đất khách quê người này, gia đình nhỏ của chàng chỉ có năm người, thế mà nay Bảo mất đi, vĩnh viễn ra nằm một mình lẻ loi ở nơi đầu núi, bỏ bốn cha con chàng hiu quạnh trong một căn nhà nhỏ mà mặc dù đã bốn năm qua, vẫn chưa cởi bỏ màu tang tóc. Nhưng tuy hiu quạnh, bốn cha con vẫn hủ hỉ bên cạnh nhau. Chỉ tội nghiệp cho Bảo. Suốt năm chàng ít có dịp ra thăm mộ. Công việc làm ăn bận rộn, việc nhà rối rắm một mình, chàng không mấy lúc thấy mình thảnh thơi thong thả. Ðến ngày đầu năm mọi việc xếp lại, mọi người yên vui trong gia đình, vậy đi thăm viếng vợ vào lúc này là một việc rất hợp lý. Từ xế chiều ngày mồng một trở về sau, chắc chắn là chàng sẽ bị quay cuồng vào nhịp sống của năm mới. Sự quay cuồng bắt đầu bằng những cuộc viếng thăm xã giao để được nối theo bằng những ngày đi làm liên tiếp, những nỗi lo lắng không ngừng.

   - Ba phải chở thằng Hào đó, - tiếng con Hằng, con lớn của chàng.

   - Ừ, để ba chở.

    Thủy, con bé nhất phụng phịu:

   - Không, ba chở con. Ðể chị Hằng chở anh Hào.

   - Ai chở cũng được, miễn đi tới nơi thì thôi. Ba phải chở anh vì anh nặng hơn con. Chị Hằng chở, đạp không nổi.

   - Nhưng anh Hào gầy...

    Nói xong Thủy phá ra cười. Hào liếc nhanh Thủy mà đôi mày nhíu lại, vẻ nghiêm trang. Ý nó không vui vì bị phê bình là gầy, một sự thực mà nó không phản đối nhưng nó không muốn ai nhắc tới. Giang trải khăn ra bàn và đặt bình hoa ở giữa. Những hộp đựng mứt, kẹo bánh... xếp làm bốn hàng. Nửa bàn còn lại bị chiếm bởi những ly tách đủ loại. Chàng vừa xếp đặt vừa đợi ba đứa con sửa soạn ăn mặc. Xếp đặt đâu đó cho đầy đủ là cốt để khi thăm mộ về có khách tới ngay thì chàng cũng đã có đủ quà ở tiện tay để tiếp khách. Này là gói thuốc lá đặt vào đĩa trên có hộp diêm. Còn cái gạt tàn thuốc. Chàng gọi con Bốn, con nhỏ ở, chạy đi rửa cái gạt tàn thuốc đầy ứ những tro và mẩu thuốc lưu lại từ năm cũ. Ở xa lông cũng phải một lọ hoa nhỏ và thêm một đĩa hạt dưa. Mấy chai rượu đặt ở đầu tủ buffet như thế kia trông cũng được. Nhưng còn... Chàng vứa chợt nhớ vừa chạy vào phòng riêng mở toang mấy hộc bàn tìm cái khóa mở nút chai. Trong khi đó, mấy đứa con lần lượt chạm phải vấn đề:

   - Ba ơi, trời nực thế này mà con Thủy khoác cả áo len vào. Con cởi ra nó không chịu.

    Chàng vừa lục lọi ngăn kéo vừa nói lại:

   - Kệ nó.

    Tiếng Hằng cãi:

   - Nhưng một lát nữa, nắng lên phải cởi áo len ra rồi bỏ đâu?

   - Ừ, thôi cũng được.

    Cái lối giải quyết ba phải này, lâu nay đã là lối giải quyết quen thuộc của chàng. Thật ra, khó có ai bình tâm để vừa nghĩ, vừa giải quyết đến ba, bốn việc một lượt, giải quyết minh bạch, gẫy gọn. Mà nào có ra việc cho cam. Biết thế nào Thủy cũng bất bình vì dự trù của Thủy bị bác đi, trông mong ba bào chữa cho thế mà cuối cùng ba lại "y án" với chị, chàng bước xuống phòng các con để tìm cách vỗ về Thủy. Nhưng tiếng giày vừa đến cửa thì Hào đã nhảy ra:

   - Ba chải giùm tóc cho con đi.

    Chàng chỉ xuống chân:

   - Sao lại mang xăng đan thế kia? Mang giày vô.

    Hào cau mặt:

   - Nhưng đâu mất một chiếc tất.

   - Hỏi con Bốn coi. Bốn ơi, tất của em để đâu?

    Con Bốn đang thắt nơ cho Thủy, nghe hỏi đến bít tất bít tất, vội bỏ Thủy chạy lại mở va li. Trong khi đó, Hằng ra bấm bánh xe đạp rồi la lên:

   - Bốn ơi, đêm qua mày lấy xe của tao đi chơi bị gai hay sao mà xẹp cả bánh trước thế này?

    Thấy có chàng ở đó, Bốn sợ bị rầy nên vừa nhìn Hằng nháy mắt ra hiệu vừa lí nhí nói:

   - Ðâu có. Ðêm qua tôi đâu có đi chơi. Xuống tiệm chị Minh Châu mua cái dây dừa cột gàu mà.

    "Lúc nào cũng Minh Châu" chàng cười thầm. Con nhỏ này có một đặc tính là mê những cô bán hàng đẹp. Dù họ có bán đắt hơn những bà già xấu xí, nó vẫn nhào vô mua. Chẳng những đến mua mà thôi mà lúc ở nhà, trong mọi câu chuyện nó đều không quên nhắc đến những cô ấy. Chẳng hạn có đứa nào than rằng "năm nay trời mưa to" thì nó bảo "Cô Mỹ Lộc mới mua cái áo mưa ni lông màu hoa cà". Hỏi: "Sao mua thịt bò dai vậy?" thì nó nói: "Chị Thu Tâm bán hàng xén cũng la với con rằng sao độ rày người ta chỉ bán toàn những thịt bò dai". Và mỗi lần nói đến tên những cô đẹp mà nó ngưỡng mộ, giọng nói của nó không còn tự nhiên nữa. Không còn là cái giọng quê mùa của chính nó mà có pha một chút gì nũng nịu của giọng Huế, một chút gì ngọt ngào của giọng Sài gòn, đài các của Hà nội. Chàng nói:

   - Ðồ đạc của em mỗi đứa mỗi ngăn sao còn để lộn xộn để mất công đi tìm?

    Và chàng nói tiếp luôn vì lời lẽ dặn vừa rồi không có gì lạ đáng để nó phải suy gẫm và phát biểu ý kiến trở lại. Ðó là một câu chàng đã nhiều lần lặp lại, cũ và vô hại như một lời cám ơn.

   - Dắt giùm cái xe ra cho tao. Tám giờ rồi.

    Chàng cung tay nhìn đồng hồ và ngạc nhiên thấy rằng mình nói đúng. Tuy vậy, phải đến tám giờ mười phút mọi người mới sẵn sàng để lên xe. Chàng soát lại các cửa tủ, bỏ ví cẩn thận vào túi quần, khóa cửa phòng riêng, khóa cửa phòng khách. Nắn lại các túi để biết chắc chắn là không bỏ quên, không bỏ sót, chàng lên xe. Hằng chở Thủy đứng đợi ở cách xa chàng gần ba mươi thước. Hào ngồi sau lưng chàng. Khi hai xe khởi hành thì kim dài của chiếc đồng hồ tay đâm ngang giữa con số bốn.

    Các phố hầu hết đóng cửa, thường chỉ mở hé một cánh cửa để ra vào. Nếu có nhà nào mở rộng cánh thì y như mắt chàng chạm phải một cành mai hoa vàng đứng trong một cái lọ độc bình sứ. Những cành mai rẻ tiền chỉ lác đác ít hoa và nhiều lá ở chót cành, trông khổ như cái đầu uốn tóc lâu ngày, chân tóc dài ra suôn đuột, đẩy lui phần uốn éo ra mãi tận chót cùng.

    Thường, những cành mai như thế này phải nhờ những cành thiếp chúc Tết che lấp sự trống trải. Tiếp theo là những hộp mứt, hộp kẹo nằm đầy bàn, những cốc pha lê, tách sứ men bóng lộn. Chủ nhân thì chững chạc, nghiêm trang. Những cái vẻ hấp tấp hàng ngày bị đẩy lui vào bóng tối của đêm ba mươi. Ánh sáng của ngày mồng một như có năng lực mầu nhiệm làm huỡn đãi mọi cử chỉ vội vã, làm chững chạc mọi vẻ người lau nhau.

    Xe chàng đi rất chậm, một phần vì phải đợi con, một phần vì những xe khác cứ từ những con đường ngang đâm bổ ra. Chàng đi kèm sát bên con vừa nhắc chừng, vừa ra lệnh:

   - Con đi sát vào bờ lề một chút.

   - Hễ có ô tô thì con đạp chậm lại để ba thêm "ga" chạy vọt lên.

   - Coi chừng, con Thủy ngồi thẳng. Ðừng ngó nghiêng mà trẹo xe, mất thăng bằng.

   Sự cởi mở của chàng mở đường cho con bi bô theo. Thủy nói:

   - Ngồi ở đằng sau mỏi lắm nên con phải trở mình đó chớ.

   - Thế mày tưởng phải đạp như tao là sướng chắc?

    Hào đề nghị:

   - Thôi Thủy qua đây ngồi với ba, tao qua ngồi với chị Hằng cho.

    Câu nói vô tình mà phù hợp với ý nghĩ của Thủy. Nhưng Thủy vẫn giữ một giọng hờn dỗi:

   - Anh Hào ngồi bên ba sướng hơn con

Vừa lúc ấy có tiếng còi ô tô thét lên quá gần khiến xe mấy cha con loạng choạng. Hai tay lái lại bám sát vào lề đường. Những cô bé cậu bé cứ mê mải nhìn xuống đôi giày đôi guốc mới của mình mà đi lọt ra giữa đường hồi nào không biết. Nhiều cô cậu khác cứ dán mắt vào quần áo mới của người qua đường mà rốt cuộc đi lộn hàng ngũ phải kêu réo nhau, chạy tìm nhau, tống cả vào xe. Các anh thanh niên, chị thiếu nữ đi từng đoàn, lây cái sức mạnh của sự đoàn kết và say sưa vì ý xuân, men xuân nên đi nghênh ngang một cách có ý thức, bất chấp mọi người.

    Xe chàng đến cầu xóm Bống gặp đèn đỏ phải dừng lại. Thật rắc rối. Sống mãi ở Nha Trang, quen với sự đi lại tự do, nay gặp phải một ánh đèn đỏ khiến cơn giận vụt đến, mau như sự nhức nhối gây ra do một miếng đồ ăn cứng chạm phải cái răng sâu. Trước kia, hồi còn ở Sài Gòn, đèn xanh đèn đỏ đã thành một điển lệ khiến mỗi lần đi đến ngả tư là chàng cũng như mọi người phải chuẩn bị để nhẫn nại. Thời gian ở Nha Trang quả đã làm chàng hư nết đi. Mọi năm cứ sáng tinh sương chàng đi thăm mộ thật sớm rồi về thật sớm nên sự đi lại qua cầu tự do. Năm nay vì muốn cho con đi cùng mà thành phải đi trưa, phải bị ánh đèn xanh đỏ hạn chế tự do. Chàng dừng xe, cúi nhìn xuống đường nhựa để giận.

    Những chiếc xe du lịch, xe đạp, xe ngựa, xe lôi, xe gắn máy nối đuôi nhau chạy ngược lại chàng. Chàng trả thù, không nhìn vào những chiếc xe du lịch. Chắc chắn ở trong đó có những bộ mặt hãnh diện nhìn ra - nhất là những bộ mặt đàn bà - làm bộ ngây thơ, nghiêm trang hay nhí nhảnh, nhưng tất cả đều cốt để người khác nhìn vào mà thèm muốn, mà thán phục, mà say mê. Muốn chọc giận họ hơn, mỗi lần nghe tiếng còi, chàng đưa mắt từ từ nhìn thẳng lên mui xe rồi lơ đãng nhìn ra bể. Ðể họ sung sướng hụt. Những ý nghĩ vẩ vơ nầy làm rơi cơn giận, khiến chàng hơi hơi vui nữa. Chàng quay sang nói chuyện với con:

   - Cầu nầy gọi là cầu xóm Bống đây. Bống là tên của cái xóm chài lưới kia. Doi đất có nhiều nhà mà các con thấy đó là xóm Cồn. Còn phía nầy là cái đầm. Chợ Nha Trang còn gọi chợ Ðầm là vì vậy.

    Thế còn dãy nhà nào cao ở chót núi kia ba? Thủy hỏi.

   - Ðó là dãy nhà của mấy ông cha dòng Phan-xi-cô.

    Hào vội vàng hỏi tranh:

   - Người ta leo núi đi đâu mà nhiều thế kia hở ba?

   - Người ta đi Tháp Bà đấy. Lên Tháp Bà để lễ.

   - Lễ là cái gì?

   - Là thắp hương rồi vái ông thần để xin cho được sức khỏe, mua may bán đắt.

    Lời giải thích tuy có vẻ giản dị nhưng chắc Hào và Thủy không hiểu nổi. Nhất là nghĩa của chữ "vái". Hình như ở nhà chưa có lần nào chàng nói tiếng "vái" ấy mà cũng chưa hề có lần nào chàng làm cái việc vái. Nhưng sở dĩ chúng không hỏi thêm vì có nhiều người đứng ở bên cạnh. Và cũng chính vì lẽ đó chàng cũng thôi không giải thích nữa. Vừa lúc ấy đèn đổi màu, dãy xe cộ chuyển mình chảy như một dòng sông, bò tới đều đặn như một con cuốn chiếu. Bên kia đầu cầu, một dãy xe cộ và người nối đuôi chờ. Dãy này ngắn hơn: người ta đang bận đi, chưa về. Ðường lên Tháp Bà ở liền chân cầu. Bên những cái sạp mới dựng bán hương, đèn, những anh thợ ảnh chạy lăng xăng, những chú nhỏ lãnh giữ xe đạp mời khách ồn ào. Ði quá Tháp Bà, con đường quốc lộ trải nhựa láng và hẹp lại. Những căn nhà lợp lá, vách đất và nền đất vàng nằm dưới những tàng mít lá xanh mướt. Người đi cũng khá tấp nập. Thanh niên chỉ có sơ mi trắng. Nếu đeo ca vát thì hoặc quá ngắn hoặc quá dài, hoặc úp cong như một cái lá. Thiếu nữ thì áo thường một màu chớ không hoa hè như ở phía bên đầu cầu. Bàn chân đen và to nong vào những đôi guốc quá nhỏ. Những cái áo dài đen đập cũn cỡn trên đầu gối của mấy ông già. Hình như ở phía bên này có nhiều ông già hơn.

    Lúc xe đi gần tới nghĩa trang, tự dưng tâm hồn chàng u tối lại như có một áng mây dài che kín bóng mặt trời đang le lói khiến bóng râm sa sầm xuống. Con đường này mới năm nào lần đầu tiên chàng bước đến là lúc đưa vợ chàng ra nằm vĩnh viễn nơi đây. Chàng mường tượng như còn thấy cái xe tang đứng dừng nơi này, thấy đoàn người đi đưa kéo dài như không muốn dứt. Ba đứa con, ba đứa con của chàng...

    Tiếng Hằng hỏi:

   - Dựng xe ở ngoài cổng hở ba?

   - Ừ.

    Chàng nghe tiếng mình như có hơi lạc đi.

    Nghĩa trang nằm thoai thoải theo triền chân núi. Những ngôi mộ nằm xếp thành hàng ngay ngắn. Kiểu mộ gần giống nhau: một bờ thành đá tráng xi măng vuông vức, trước tô thành tấm bia. Lòng mộ đắp đất. Thỉnh thoảng mới có một ngôi mộ kiến trúc phức tạp hơn, có làm mái che, có đắp hình lân hình phụng, có bàn thờ, có câu đối. Giả đặt nằm thảnh thơi giữa một cảnh trí riêng biệt thì những ngôi mộ xa hoa này sẽ có đầy đủ giá trị mỹ thuật. Ðặt vào đây không hợp vì mỗi phần đất dành cho người quá cố không hơn hai thước bề ngang và nhất là bên cạnh đó có những ngôi mộ chỉ đắp sơ sài bằng sỏi. Rải rác có nhiều người xì xụp trước những ngôi mộ. Từng vòng khói hương bay cuộn trong nắng.

    Hào tiến lên nhanh nhất đi về phía mộ má để tỏ ra là mình thạo. Bé Thủy lật đật chạy theo. Sự hăng hái của con khiến chàng đau xót. Con chàng nhỏ quá chưa biết ý nghĩa của sự chết, chưa cảm thấm thía cái buồn của việc đi thăm mộ, cúi xuống đọc tấm bia rồi vẫy tay gọi chàng:

   - Ba ơi! Ðây mộ của má đây rồi.

    Hằng đi bên chàng, nhẹ nhàng. Lúc đứng trước mộ, chàng im lặng nhìn những phiến đá lạnh. Lúc sống vợ chồng nào gặp nhau sau chừng một năm cách biệt cũng bắt đầu bằng cái nhìn im lặng như vậy mà biết bao nhiêu đầm ấm hẹn sau. Với chàng hôm nay thì lạnh lùng là thái độ vĩnh viễn. Chàng đặt tay lên phiến đá, tưởng tượng như đưa tay cầm bàn tay ấm áp của vợ xưa. Hằng rút trong một cái túi nhỏ cầm tay lấy ra một bó hương và bao diêm đưa cho chàng. Chàng lặng lẽ cầm lấy châm đốt. Ánh lửa bùng lên, khói hương tỏa ra, bị gió thổi bạt đi, không kịp trắng.

    Chàng cúi đầu vùa thổi tắt ngọn lửa, vừ nghĩ thầm: "Em ơi, hôm nay anh đưa con đến mộ thăm em. Ba đứa con em giao lại cho anh đã lớn từng ấy đó". Nghĩ đến đây, chàng dừng lại lén đưa mắt nhìn sang ba con để chắc chắn độ lớn của mỗi đứa, như để ghi chặt vào tâm tư rằng ba đứa con đã lớn như vậy. Và chàng nghĩ tiếp "Một năm qua, anh không năng ghé lại đây thăm em, nhưng chắc em đã tha thứ vì em hiểu tính anh hơn ai hết ở trên đời này. Lòng anh và cử chỉ của anh nhiều khi mâu thuẫn nhau nhất là khi những cử chỉ ấy có tính chất hình thức, xã giao. Anh chưa quên em".

    Ðó là một sự thật. Cả ngay trong sự suy nghĩ, chàng cũng cân nhắc cẩn thận chữ dùng. Chàng không muốn nghĩ rằng "anh không thể quên được em". Chữ "không thể" hời hợt nếu không nỡ nói là giả dối. Khi cúi xuống cắm nhang vào bát hương, chàng thấy có nhiều chân nhang mới cắm màu đỏ tươi và có cả tàn nhang vung vãi. Chắc những người quen đi thăm mộ sớm ghé lại thắp hương dùm. Trong cái thành phố nhỏ này, người ta không lạ nhau mấy. Chàng nhìn vào nét khắc của bia. Màu vàng của nét chữ đôi chỗ bị phai. 

Thằng Hào lấy ra cây nến cắm hai bên lư hương. Chàng châm nến. Ánh lửa hắt hiu ánh lên mặt bốn cha con quây quần trước bia mộ. Mới chín giờ hơn nhưng ánh nắng gắt. Ngọn lửa trong ánh nắng có một vẻ gì vừa thảm đạm vừa tàn nhẫn. Chợt Thủy hỏi:

   - Bây giờ má ở đâu ba,

  - Má ở trên trời.

    Ðó là cách trả lời tiện lợi nhất trong các cách trả lời mà phải một năm góa bụa chàng mới tìm ra.

   - Má có ăn Tết không ba?

    Hào "xi" ngay:

   - Mày cứ nói bậy. Ðã ở trên trời mà còn ăn Tết cái gì?

    Rồi như để khinh bỉ sự dại dột, sự ngớ ngẩn của em, Hào bỉu môi nhắc lại vừa dằn mạnh giọng:

   - Ba đã nói má ở trên trời mà còn hỏi có ăn Tết không!

    Chàng cầm lấy tay Hào nói:

   - Thủy nó hỏi vậy là ý nó thương má nó. Chúng ta ăn Tết, nào bánh mứt, nào rượu trà, thế mà thiếu má chung hưởng. Thủy nghĩ đến má không biết má có được ăn Tết ở đâu không.

   - Nhưng mà đã ở trên trời rồi thì đâu còn ăn Tết nữa?

   - Con lớn con biết chớ em còn nhỏ, em đâu biết được Nhưng mà thôi, các con cúi đầu lạy má đi rồi thưa với má...

    Nói tới tiếng "cúi đầu lạy má", khóe mắt chàng đã thấy nóng, nước mắt như sắp chảy ra, do đó tiếng nói nghẹn ngào. Chàng dừng lại không nói tiếp thì Hằng đã hỏi:

   - Ý ba muốn con thưa cái gì?

   - Thưa cái gì mà con muốn nói cho má nghe đó. Chẳng hạn thưa rằng năm nay con đã học đến lớp mấy rồi, con học khá hay dở. Con cũng có  thể nói cho má con nghe trong nhà có chuyện gì xảy ra, ví dụ cây dừa ở bờ giếng đã nứt bẹ trỗ bông, con chó Tô bây giờ đâm ra sủa láo và hay cắn lộn với chó hàng xóm nhưng lúc nào cũng thua.. vân vân. Chắc chắn những điều đó má con muốn biết vì chúng đều dính dáng đến những người những vật mà má con yêu mến.

   - Nhưng má ở trên Trời chắc má đã thấy hết biết hết.

   - Có thể như vậy. Nhưng nói thủ thỉ với má là một cách biểu lộ lòng thương yêu. Lú má còn sống con thường thủ thỉ nói chuyện với má. Dễ thường những điều con nói đều lạ đối với má con sao?

    Hằng còn đang ngần ngừ chưa biết trả lời sao thì Thủy hỏi:

   - Con thưa với má rằng tháng này con đứng thứ nhì. Chắc má khen con lắm.

   - Phải đó.

    Hào nói;

   - Ðể con mét với má rằng chị Bốn ở nhà coi nhà rủ con Ngâu vào chơi để nó lấy mất cây bút máy của chị Hằng.

   - Ừ.

    Chàng vừa trả lời vừa đứng dậy.

   - Các con có thể nói lầm thầm, hoặc nghĩ thôi mà không cần nói to

Chàng đứng thẳng người, đưa mắt nhìn một lượt chu vi của nghĩa trang. Những người viếng mộ khá đông, khác với những năm trước chàng đến quá sớm nên thường không gặp một ai ở đây cả. Một người đàn bà chừng bốn chục tuổi đi giữa một bầy sáu, bảy đứa con từ cổng nghĩa trang bước vào. Chàng biết chắc cái đoàn người ríu rít này sẽ rẽ sang tay trái vì khu tay trái dành cho mộ đàn ông. Nhưng họ đi thẳng lên dốc, dừng lại bàn thờ đặt ở giữa đường chính. Người đàn bà đốt một bó hương lớn, khấn vái một cách thành kính rồi cắm vào cái bát hương to. Bàn thờ này không thấy ghi tên ai nhưng chàng đoán chắc là để dành thờ vị thần Hậu thổ nào cai quản cuộc đất này. Gia đình nào muốn vào thăm mộ của thân nhân mình hình như trước hết đều phải qua khấn vái và gián tiếp xin phép ở đó. Chàng tự trách mình mấy năm nay đã vô tình mà hóa ra thất kính. Ai lại cứ xăm xăm đi về phía mộ vợ mình, bất chấp cả hệ thống, cả qui chế. Chàng nghĩ thầm: Người đàn bà bao giờ cũng chu đáo. Chắc thế nào cũng có nhiều anh đàn ông thật thà và hấp tấp như mình quên lễ bàn thờ Hậu thổ.

    Một người đàn ông ăn mặc tầm thường cúi lom khom cắm một bó nhang trước một ngôi mộ đắp đất sỏi. Người ấy đứng thẳng dậy vái vội vã mấy cái rồi sang một cái mộ khác cách đó mươi thước, móc túi lấy một bó nhang, xòe diêm châm, cắm xuống đất rồi lại lật đật vái. Công việc xảy ra không quá năm phút, vội vã hấp tấp như một đoạn phim cũ bị cắt, nối, hình ảnh nhảy nhót. Theo cái đà gấp gáp đó và với cái túi còn đầy những bó nhang đem theo, chàng biết con người này còn phải lo trả gấp một mớ nợ thăm viếng đầu năm ở cái nghĩa trang này. Một bà cụ đứng xuýt  xoa mãi ở một ngôi mộ. Nhìn xa thấy bó hương cháy đã gần tàn mà cụ vẫn đi đi lại lại chẫm rãi quanh đó. Chừng năm, bảy cây hoa vạn thọ được trồng ở trước bia và trên lòng mộ. Sự chăm sóc tỉ mỉ và lòng quấn quít của những cặp vợ chồng già làm chàng cảm động. Nó không có giá trị hơn những tấm lòng thay đổi của những người trẻ, vì già rồi thì còn thay đổi với ai? Nhưng mà cảm động.

    Một đôi vợ chồng dễ thường mới cưới đi lượn từ mộ này sang mộ khác. Họ đọc những tên người quá vãng, có lẽ để tìm một tên bà con. Nhưng trên tay người đàn bà chỉ có cái xác nhỏ màu đỏ để cầm đi phố và người đàn ông thì một tay thọc vào túi quần, một tay đưa ngang lưng vợ như vì thói quen. Dù lây cái không khí trang nghiêm tang tóc nơi đây mà họ đi xa xa nhau một chút nhưng không dấu được sự âu yếm nhau.

    Giang đi về phía mộ của một người bạn. Những chân hương cũ đã phai màu đứng nghiêng ngã. Cách đây độ bảy tháng, khi đi đưa linh cữu anh bạn đến chôn nơi đây, chàng thương hại thấy người vợ bạn lăn lộn khóc. Phải nhiều người ôm giữ chị lại. Nước mắt vốn dễ lây, chẳng những các người đàn bà đi đưa đám đều ràn rụa nước mắt mà cả chàng đứng cạnh đó cũng bùi ngùi muốn khóc. Chừng năm tháng sau, ngẫu nhiên chàng nghe tin người vợ bạn về quê và lấy chồng. Nhiều người bảo rằng người chồng đó là người tình của chị, chị có khi người chồng trước còn sống. Chàng lặng yên nhìn tấm bia mộ hồi tưởng lại vẻ mặt có duyên, dáng dấp thanh nhã của ngời bạn xưa và tâm hồn nghệ sĩ của bạn. Chàng chưa kịp kết luận thì hai đứa con đã chạy lại đứng cạnh. Thủy nói:

   - Ba ơi, con nói với má rồi. Nhưng má ở trên trrời thì làm sao má nghe được?

   - Dù má ở đâu đi nữa mà khi mình thắp hương vái thì linh hồn má về ngay với mình.

    Hào ngửng mặt lên nghe, miệng há ra và lông mày nhíu lại. Nỗi thắc mắc đọc được trên cái vẻ thẫn thờ suy nghĩ. Chàng nói:

   - Hồi ba còn nhỏ, đi học lớp Năm ở một trường làng. Có một anh học sinh lớn đi tắm sông bị chết đuối. Gia đình đem chôn anh ta ở cái trủng, -người ta gọi nghĩa trang của người Tàu là cái trủng- ở gần trường học. Nhiều anh em khi đi học hay ghé lại thăm mộ anh. Một bữa kia anh em tới thăm mộ  như thường lệ thì thấy có một bức thư dán trên thành đá ngang hông ngôi mộ. Ðó là một bức thư gới thăm anh Ca (Ca là tên anh bạn bị chết đuối) viết trên một trang giấy học trò, nét gạch xiên xẹo. Bức thư bắt đầu bằng: Thiện đức le (đọc là lơ) 12 tháng 5 năm 1929 và lời lẽ văn hoa theo kiểu thời bấy giờ:

    "Nghiên châu bút ngọc, tạm bức thư lan, trước kính thăm quí hữu bình an"... vân vân. Cuối cùng ký tên là Nguyễn Thới. Có cả chữ "nay thơ" nữa.

   - Nguyễn Thới là ai vậy ba?

   - Là anh học trò lớp tư tác giả bức thư đó.

   - Thế anh ta viết để làm chi vậy?

   - Anh ta tin rằng dán bức thư vào tường mộ thì tối anh Ca sẽ hiện hồn về đọc thư. Nhiều anh em tin theo như vậy. Và người ta còn hẹn nhau sẽ đến xem thư của anh Ca viết trả lời, cũng sẽ dán lên tường mộ, cạnh thư của anh Thới.

   - Anh Ca viết hở ba?

   - Ừ. Anh em tin rằng anh Ca sẽ viết trả lời và tự dán cho anh em xem.

   - Thế ba có xem không?

   - Không có, vì anh Ca không viết trả lới mà cũng không dán.

    Hằng nói:

   - Cái ý kiến đó cũng hay, hở ba? Một người nhà quê mới học lớp Tư mà có sáng kiến...

    Chàng mỉm cười:

   - Mới học lớp Tư mà xác to bằng ông xã rồi. Nhưng thôi, đã trưa lắm. Lại lạy má rồi đi về.

    Khi trở lại mộ thì hương đã gần tàn. Có gió phe phẩy thổi, ngọn lửa ở đầu hương cháy ngún thật mau. Ba đứa con lần lượt theo thứ tự lớn nhỏ lại đứng chắp tay trước mộ. Chàng thẫn thờ nhìn ngôi mộ vợ rồi lặng lẽ quay đi, bước chầm chậm theo con. Trên đường về, không còn ai muốn nói chuyện nhiều vì trời nắng đã gắt. Tiếng bánh xe lăn bon bon trên đường. Cầu xóm Bống không bị tắt nghẽn lâu nữa. Những bộ com lê giày da đen còn sót lại trên đường đang vội vã rảo tránh nắng. Các cái cổ thắt ca vát phải ngọ ngoạy liên tiếp.

    Vượt quá cầu Bống, về đến công trường Cộng hòa, lòng chàng thấy vui vui, coi như đã về đến nhà rồi vậy. Những vẻ mặt quen thuộc tươi cười chào chàng. Áo mới, dép mới, cái đầu tóc chải công phu khiến những khuôn mặt đàn bà trông như mới lại, gần như lạ đi, chẳng khác những ngôi nhà vừa sơn quét. Những người đàn ông chững chạc và nhu mì hơn trong những bộ áo quần thường màu tối. Có lẽ những người chàng gặp đi vào giờ này đều ở trên đường về nhà họ.

    Khi xe dừng trước cổng nhà, con Tô nhảy xồ ra sủa vang lên, bị lóa mắt vì bề ngoài chững chạc của bốn người quen. Lúc cởi áo ngoài và cởi giày, cùng với cái thú được thoải mái tay chân, tâm hồn chàng thấy nhẹ nhàng vui vẻ vì cái bổn phận đối với vợ đã trả xong, trả trọn vẹn hơn mọi năm bởi chàng đã chìu con, nhẫn nại đưa con đi thăm mẹ chúng. 

   Ba đứa con sau khi bỏ mũ, đã lật đật chạy ra nhập bọn chơi với lũ bạn bè. Vừa lúc ấy con Tô lại cất tiếng sủa, đem theo một ông khách đến thăm đầu năm. Ông khách khác tiếp theo ông khách này. Và cứ liên miên như vậy, chàng lo tiếp khách, con lo chơi với bạn bè, cái Tết sum vầy của mọi nhà chịu bất lực không sum họp cái gia đình bé nhỏ của chàng. Những bổn phận riêng tư, những nỗi vui chơi cũng riêng tư, chỉ có vào giờ ăn là cha con quây quần cùng nhau.

    Nhưng ngày mùng một Tết bạn bè có quyền ngồi nói chuyện la cà bất chấp thời giờ thành ra các con phải tự ý ăn cơm trước. Vừa tiếp khách vừa bị khách rủ đi thăm nơi này nơi khác, rốt cuộc, bộ quần áo mặc hồi sớm tinh sương phải đến mười giờ tối mới hoàn toàn cởi ra được. Tìm hỏi con thì Hằng đang nhập bọn với con Bốn, con Nga, con Anh quây quần ở bàn đánh cá ngựa.

   - Còn thằng Hào? Chàng cất tiếng hỏi.

   - Thưa thầy thằng Hào coi đánh "tôm cua" ở ngoài trụ sở Phong trào.. Tiếng con Bốn trả lời.

   - Còn Thủy?

    Ba cái mặt ngơ ngác nhìn nhau. Hằng nói nhỏ:

    - Chết cha! Từ hồi tám giờ đến giờ sao không thấy con Thủy lẩn quẩn ở nhà?

   - Hay nó sang bên con Sa?

   - Không có đâu - chàng gạt liền. Hôm qua tao đã dặn kỹ, ngày mồng một không được đi sang nhà ai hết, cả nhà của con Sa nữa. Sợ người ta kiêng.

   - Thế thì nó ở đâu? - Con Bốn vừa tự hỏi vừa chạy xuống nhà bếp.

    Hằng ra đứng ở cửa kêu:

   - Thủy ơi.

    Không có tiếng trả lời.

    Giang mở cửa phòng mình nhìn vào rồi quay ra bảo:

   - Thôi đừng tìm em nữa. Em nó ngủ ở trong phòng ba đây.

    Chàng bước lại bàn viết. Thủy ngồi ở ghế mà lưng cúi sấp xuống, nghiêng mặt gác lên mặt bàn, mắt nhắm. Tiếng thở đều đặn. Tay trái đè lên một mảnh giấy còn tay phải cầm lỏng lẻo một cây bút. Chàng cúi xuống trang giấy. Những hàng chữ viết ng nghiêng, chữ to cạnh chữ nhỏ, khoảng cách không đều và bôi xóa, nét mực nhoè nhoẹt. Tuy vậy, chàng cũng có thể đọc được:

    Má ơi,

    Con đi thăm mộ má mà không có má, má ở trên trời. Con học lớp Năm không có má chải tóc cho con, má con Nguyệt thắt bím cho nó đẹp lắm. Con đi học trời mưa trợt ướt áo đầm anh Hào lấy tờ giấy thấm của con. Má nhớ trả lời cho con rồi dán lên trên mộ.

 

Võ Thị Tri Thủy

Kim Kỳ st

Xem thêm...

Những Mùa Xuân Thanh Bình Cũ - Penseé Đà Lạt

Những Mùa Xuân Thanh Bình Cũ

**  Penseé Đà Lạt **

Khi  ngọn gió đông thổi ập vào thành phố nhỏ cùng với những trận mưa tuyết đổ xuống làm trắng xóa mọi lối đi, ngàn cây nội cỏ,  là lúc bà Thùy thấy nhớ quê hương da diết. Bà thì thầm một mình: “Tết sắp đến nơi quê nhà mình rồi!“. Hình ảnh cha mẹ già và các em còn lại ở Việt Nam với cái không khí sắp đến Tết Nguyên Ðán khiến hai vai  bà run lên trong nỗi nhớ gia đình ngập tràn trong lòng, nước mắt bà trào ra những giọt nóng, rơi xuống gò má giá lạnh của người đàn bà đã ngoài ngũ tuần. Bà Thùy cảm thấy cô đơn quá trong căn nhà rộng thênh thang này. Chồng bà đang ở chỗ làm, hai con gái đứa đã có gia đình riêng, êm ấm bên chồng con; đứa đi học ở tỉnh xa, lâu lâu mới về thăm. Bạn bè bà vẫn nói với bà bằng giọng so sánh: „Số của chị an nhàn sung sướng, có mấy ai được như vậy đâu“. Quả đúng như vậy. Ðã định cư gần 20 năm ở nước ngoài, tuy không giàu có nhưng ổn định vì cả hai vợ chồng bà đều có việc làm đều đặn, con cái đã trưởng thành, học hành tới nơi tới chốn. Bà chẳng còn mơ ước gì khác nữa, nhưng… sao cứ những ngày giáp Tết VN thì bà Thùy lại cứ thấy tim bà như thắt lại, rồi bà ngồi suy tư, nghĩ ngợi nhiều lắm. Bà tự hỏi vì sao dân mình lại sống xa nhà nhiều đến thế, trước kia có mấy ai thích đi xa gia đình, xa những người ruột thịt bao giờ?  Bà thấy nghẹn ở cổ và nghe khó thở quá khi nghĩ ra được cái nguyên nhân đắng nghét khiến gia đình bà và nhiều người khác phải lìa bỏ quê hương sống rải rác khắp mọi nơi trên quả địa cầu này. Hai mắt của bà bỗng dưng ráo hoảnh, bà tỉnh táo hơn khi nhớ lại những cái Tết Nguyên Ðán thanh bình trước đây khi bà còn là cô gái nhỏ mười một, mười hai  tuổi…

doc dao phien cho tet “mot nam mot lan” o giua thu do - 3

„…Ðầu tháng Chạp Âm lịch, gia đình cô bé Thùy đã rộn ràng nhập hàng hóa để bán cho dịp Tết. Nhà ở và cũng là cửa hàng số 246 nằm trên  đường Võ Di Nguy Phú Nhuận, đối diện với  trường Tiểu Học Võ Tánh, nơi Thùy học. Căn nhà dài lắm,  đâu chừng 32 mét mà cô bé Thùy suốt ngày lăng xăng, ra vào không biết mỏi chân. Những lúc đông khách, tuy còn nhỏ nhưng cô đã có thể ra phụ với cha mẹ và anh trai những công việc như gói hàng, thối lại tiền cho khách… Thùy ưa thích được làm công việc này lắm, nên những khi vừa tan trường từ con đường trước mặt, băng qua vào đến nhà, cô cất cặp rồi ra ngay cửa hàng để cùng được „bận rộn“ với gia đình mà thấy lòng cô vui khôn tả.

Dù bận rộn với công việc kinh doanh, cha của cô lại là người có tâm hồn nghệ sĩ đáo để. Những lúc cửa hàng vãn khách, khi con đường Nguyễn Huệ đã có chợ hoa, ông xách máy hình lang thang dọc theo phố hoa để „săn ảnh". Ông chụp bất kỳ những gì ông bắt gặp. Nếu là những phụ nữ duyên dáng xinh đẹp đang lựa mua hoa Tết, chụp xong ông còn hỏi địa chỉ để gửi tặng. Ảnh đen trắng rửa ra nhiều đến hàng trăm tấm khổ nhỏ, đa số là ảnh phụ nữ e ấp bên các loài  hoa, số còn lại là những chậu hoa, loài hoa đẹp mà ông đã chụp vì thú vui đến quên cả vợ con đang tất bật buôn bán ở nhà!.

nhung-dieu-dac-biet-chi-co-o-tet-mien-nam

Một hai tuần trước Tết, cha cô bé Thùy chở về nhà hàng chục cây hoa để chưng tết. Nào là Thược Dược vàng, tím;  Cúc Đại Đóa trắng, vàng; Vạn Thọ bông lớn, màu vàng đậm, nhạt. Hai bên cửa hàng ông đặt 2 chậu Quất xum xuê những quả tròn lẳn, da vàng bóng láng, kết lủng lẳng những bao lì xì in hình mấy ông Phúc, Lộc, Thọ trông thật bắt mắt. Khách vào mua hàng đều trầm trồ trước những cây cảnh được bày trí, và khách còn vui lòng hơn khi nhận được những bao lì xì „lấy hên“ từ tay cô bé Thùy trao tặng. Bên trong phòng khách cũng tràn ngập hoa Tết khiến căn nhà như rực rỡ, vui tươi hơn trong dịp xuân về.

nhung-dieu-dac-biet-chi-co-o-tet-mien-nam

Trước ngày đưa ông Táo về trời hai ba bữa, vì là con trai lớn nên anh của cô bé Thùy được phép lau chùi bộ lư đồng trên bàn thờ ông bà nội của cô. Anh vừa làm vừa huýt gió nghe vui lắm vì anh đã được cha cô hứa sẽ mua cho chiếc xe Honda mới, thay cho chiếc xe đạp „cuộc“ đã cũ để đi học và để „lấy le“ với bạn bè cùng trường. Còn cô, vào giữa trưa, lúc cửa hàng đóng cửa, cùng mẹ đi chợ mua sắm đồ cúng đưa ông Táo vào ngày Hai Mươi Ba tháng Chạp Âm lịch. Cô thấy mẹ cô mua trái cây đủ loại, nhang đèn, giấy tiền vàng bạc và một xấp giấy nghe gọi „Cò bay, ngựa chạy“ gì đó mà không thể thiếu được. Rồi bà dẫn cô tới khu bán cá, chọn mua một con cá chép thiệt bự, mang về nhốt trong thau, đổ nước cho nó còn sống, bơi lội thỏa thích chờ đến giờ cúng thì đặt nó trước bàn thờ có  hoa quả, bánh trái, rượu đế đã dọn sẵn. Cha cô thắp nhang, lâm râm khấn vái một hồi, ông lấy xấp giấy tiền vàng bạc và cả xấp „Cò bay, ngựa chạy“ châm lửa đốt trong một cái thau nhôm. khi cháy gần hết, ông đổ 3 chung rượu cúng vào, đứng dậy xá xá mấy cái rồi bắt con cá bỏ vô thau nước trở lại. Ông nói phải làm y như vậy thì ông táo mới có „tiền“ làm lộ phí về trời, „báo cáo“ tốt đẹp những gì đã xảy ra trong gia đình nhà ông suốt một năm qua.

nhung-dieu-dac-biet-chi-co-o-tet-mien-nam

Những ngày sau đó chỉ còn cha và anh của cô bé Thùy cùng với sự trợ giúp của một người anh họ đứng bán hàng cho tới tận trưa Ba Mươi Tết. Mẹ của cô lo đi chợ mua nếp, đậu xanh, thịt mỡ, lá chuối, dây lạt, để chiều Hai Chín tháng Chạp, bà trải chiếu ngồi giữa căn bếp rộng, quây quanh là đủ thứ đồ dùng cho việc gói bánh tét, bánh ít. Bởi nhà nhiều con nên mỗi năm má của cô gói hơn hai chục đòn mặn, ngọt đủ cả treo đầy gác bếp. Mùi bánh tét khi nấu chín thơm lừng hương nếp quện với mỡ thịt, khiến cô nghe thèm chảy nước miếng. Ngoài ra mẹ cô còn đặt trên bếp một nồi thịt, kho với trứng hột vịt và nước dừa tươi hấp dẫn. Món này cuốn bánh tráng, dưa giá, củ kiệu thì ngon „tuyệt cú mèo“! Cái không khí rộn ràng, chuẩn bị cho những ngày sắp Tết trong nhà khiến tâm hồn non trẻ của cô náo nức chi lạ. Thường ngày cô buồn ngủ sớm, vậy mà sắp tới Tết, cô lẽo đẽo theo má  lụi hụi làm cái này, chuẩn bị cái kia tới khuya trờ khuya trật mới chui vô giường, báo hại sáng ngày tới trường, ngồi trong lớp cô ngáp dài ngáp ngắn, cũng may sắp tới Tết cô giáo dễ dãi cho học trò được vui chơi nhiều hơn bắt học hành chăm chỉ.

images1034190_1

Năm nay cô bé Thùy sẽ thêm một tuổi, cô sắp 13!. Cô reo lên khi mặc thử chiếc áo dài đầu tiên mẹ đặt may cho cô. Thật là ngộ khi lớp vải ôm sát lấy thân hình còn nhỏ xíu của cô khiến cô cứ giật mình từng chập vì cô tưởng cô không mặc thứ gì trên người. Chiếc áo dài may bằng loại vải gì mà nhẹ hều, đi qua đi lại một chút là hai tà áo trước sau cứ bay lên khiến cô lính quýnh đưa tay giữ chặt chúng lại. Cô nhìn bóng cô trong kiếng thấy mình cũng „ngồ ngộ“ dữ đa, cô toét miệng cười, xoay bên này, ẹo bên kia một hồi cô thấy tự nhiên hơn, hai tà áo có bay cô không thèm giữ lại nữa. Tết này cô sẽ „diện“ chiếc áo dài này mỗi khi đi chơi với gia đình nên cô cần „biểu diễn“ trước cho quen.

Sáng ngày Ba Mươi tháng Chạp Âm lịch, bà con nội ngoại của cô đem quà tới cúng hoặc biếu gia đình cô chất đầy một cái bàn dài trong phòng ăn. Thôi thì đủ thứ: Dưa hấu loại một mấy cặp, Bưởi Biên Hòa gần chục trái da vàng ươm, tươi rói; Vú sữa trái nào trái nấy bóng láng, da mỏng rất ngon... nhiều không sao kể hết. Cha của cô tiếp bà con mệt nghỉ, chị giúp việc nấu nước pha trà đãi khách không ngơi tay. Ngoài khách mua hàng phía trước, kẻ ra người vào nhà cô nườm nượp, cô quên không nói, cha cô là con trai độc nhất lãnh phần cúng tế nên mỗi năm Tết đến là nhà cô như mở hội.

Tới mười hai giờ trưa thì anh hai của cô ra kéo hai tấm cửa sắt đóng cửa hàng lại, mọi chuyên bán buôn coi như tạm nghỉ cho tới ngày tốt đã được cha cô coi kỹ trong cuốn lịch Tam Tông Miếu, mới khai trương trở lại.

Khi bà con đều đã ra về thì cha mẹ cô cũng chuẩn bị cho buối cúng Giao Thừa vào lúc nửa đêm mà cha cô gọi là Lễ Trừ Tịch. Cô còn nhớ như in lời giải thích của cha cô cho con cái hiểu thêm: „Trừ Tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt qua năm mới, giữa giờ Hợi ngày 30 hoặc nếu tháng thiếu, thì ngày 29 tháng Chạp năm trước và giờ Tý ngày Mồng Một tháng Giêng năm sau“.

Khi mẹ của cô đã sắp dọn xong các thứ để cúng như trái cây, bánh tét… trên bàn thờ tổ tiên và một mâm tương tự như vậy được đặt trước sân nhà, thì cha của cô bảo anh em cô đi tắm gội sạch sẽ, mặc những bộ quần áo mới vào để buỗi cúng được trịnh trọng hơn. Chẳng phải chờ đợi lâu khi những tiếng pháo đón Giao Thừa đồng loạt vang lên vào lúc nửa đêm, cả gia đình cô cùng đứng trước bàn thờ ông bà khấn vái với lòng ghi nhớ công ơn những người đã khuất, cầu mong một năm mới thịnh vượng an khang cho gia đình, con cái học hành tấn tới, ngoan ngoãn, hiếu đễ… Khi đứng dưới trời đêm Trừ Tịch, một bầu không khí linh thiêng thấm sâu vào tâm hồn cô bé Thùy, tỏa lan ra thành những xúc cảm về một quê hương thanh bình, xóm làng no ấm, sau nữa là tình cảm đầm ấm trong lòng cô đối với cha mẹ và anh em ruột thịt.

Hai loc dau nam 1

Lễ Giao Thừa ở nhà xong, cha mẹ cô cùng nhau đi lễ chùa Xá Lợi gần trường nữ Trung Học Gia Long, khi về thể nào cha cô cũng đem về một cành lộc hái từ cây cối trong vườn nhà chùa, những mong trong năm mới sẽ được Trời Phật ban cho nhiều lộc ăn, lộc để. Cha cô đem cành lộc này cắm chung vào bình hoa trên bàn thờ cho đến khi tàn khô. Có lần cha cô đi chùa một mình vì tuổi của mẹ cô năm đó không hạp để „xông đất“, e không đem lại những điều may mắn cho năm mới. Anh em cô thức suốt đêm ăn uống những thức ăn đã cúng trong lễ Giao Thừa hoặc cắn hột dưa, ăn mứt không biết chán.

Sáng ngày Mồng Một, cha mẹ cô sau khi đã làm lễ cúng ông bà xong, áo quần chỉnh tề ngồi ở phòng khách để anh em cô tới chào mừng chúc Tết. Anh trai cô đại diện cho đám con nít là cô và mấy đứa em còn nhỏ xíu chúc cha mẹ cô một năm buôn bán phát tài, mạnh khoẻ. Cha mẹ cô vuốt đầu anh trai cô khen ngoan và cũng chúc lại anh em cô nhiều điều tốt đẹp kèm theo những bao lì xì dúi vào tay…“

Có tiếng mở cửa lách cách từ chiếc chìa khóa khiến giòng hoài niệm của bà Thùy bị cắt đứt giữa chừng. Bà lên tiếng hỏi: „Anh về đó à?“. Ông Thư chồng bà còn đang đứng ở căn phòng nhỏ phía trước cửa chính cởi nón áo, miệng xuýt xoa: „Trời lạnh kinh khủng em à, sao em không mở lò sưởi lên?“. Vừa bước vào phòng khách, nhìn thấy bà ông kêu lên: „Em làm sao thế này, mặt nhợt nhạt thế kia…“, nhưng rồi ông khựng lại, nhìn vào mắt bà khẽ hỏi: „Em lại nhớ nhà phải không?“. Bà Thùy từ nãy giờ vẫn im lặng không trả lời chồng, nhưng đúng là vài giờ trước đây bà đang thả hồn về với cha mẹ của bà hiện nay đã rất già, hay đau ốm luôn. Bà thì thầm với ông Thư một câu mà bao nhiêu năm nay mỗi khi nhớ quê hương, cha mẹ, bà vẫn nói: - „Bao giờ mình có lại được những mùa xuân thanh bình xưa cũ, hở anh?“. 

Penseé Đà Lạt Những ngày cuối năm 2008

Hồng Vân sưu tầm

 

Xem thêm...

Hạnh phúc không ở cuối con đường

Hạnh phúc không ở cuối con đường

******

Những hiểu lầm vô tình nối tiếp, đã làm vấp những bước chân của hạnh phúc. Khi số mệnh bắt ta trả giá, tất cả đã trở nên muộn màng.

truyen ngan hay, hanh phuc khong o cuoi con duong

1. Mẹ ở quê lên

Sau khi kết hôn hai năm, chồng tôi bàn với tôi đón mẹ lên ở chung để chăm sóc bà những năm tuổi già.
Chồng tôi mất cha từ ngày anh còn nhỏ, mẹ chồng tôi là chỗ dựa duy nhất, mẹ nuôi anh khôn lớn, cho anh học hết đại học.

“Khổ đau cay đắng” bốn chữ ấy vận đúng vào số phận mẹ chồng tôi! Tôi nhanh chóng gật đầu, liền đi thu dọn căn phòng có ban công hướng Nam, phòng có thể đón nắng, trồng chút hoa cỏ gì đó.
Chồng tôi đứng giữa căn phòng ngập tràn nắng, không nói câu nào, chỉ đột ngột bế bổng tôi lên quay khắp phòng, khi tôi giãy giụa cào cấu đòi xuống, anh nói: “Đi đón mẹ chúng ta thôi!”.

Chồng tôi vóc dáng cao lớn, tôi thích nép đầu vào ngực anh, cảm giác anh có thể tóm lấy cả thân hình mảnh mai bé nhỏ của tôi, nhét vào trong túi áo. Mỗi khi chúng tôi cãi cọ và không chịu làm lành, anh thường nhấc bổng tôi lên đầu quay tròn, cho đến lúc tôi sợ hãi van xin anh thả xuống. Nỗi sợ hãi hạnh phúc ấy làm tôi mê mẩn.

Những thói quen ở nhà quê của mẹ chồng tôi mãi không thể thay đổi. Tôi thích mua hoa tươi bày trong phòng khách, mẹ chồng tôi sau này không nhịn được bảo: “Bọn trẻ các con lãng phí quá, mua hoa làm chi? Nào có thể ăn được như cơm!”.

Tôi cười: “Mẹ, trong nhà có hoa nở rộ, tâm trạng mọi người cũng vui vẻ”.

Mẹ chồng tôi cúi đầu cằn nhằn, chồng tôi vội cười: “Mẹ, người thành phố quen thế rồi, dần dần mẹ sẽ quen thôi!”.

Mẹ chồng tôi không nói gì nữa, nhưng mỗi lần thấy tôi mang hoa về, bà vẫn không nhịn được hỏi mua hoa mất bao nhiêu tiền, tôi nói, thì bà chép miệng. Có lần thấy tôi xách túi lớn túi nhỏ đi mua sắm về, bà hỏi cái này bao nhiêu tiền cái kia giá bao nhiêu, tôi cứ kể thật, thì bà chép miệng càng to hơn.

Chồng tôi véo mũi tôi nói: “Đồ ngốc, em đừng nói cho mẹ biết giá thật có phải đỡ hơn không?”.

Cuộc sống hạnh phúc đã lẳng lặng trôi những âm điệu không êm đềm.

Mẹ chồng tôi ghét nhất là thấy chồng tôi dậy nấu bữa sáng, với bà, làm đàn ông mà phải vào bếp nấu nướng cho vợ, làm gì có chuyện ngược đời đó?

Trên bàn ăn sáng, mặt mẹ chồng tôi thường u ám, tôi giả vờ không nhận thấy. Mẹ chồng tôi bèn khua bát đũa canh cách, đấy là cách phản đối không lời của bà.

Tôi là giáo viên dạy múa ở Cung thiếu niên, nhảy múa đã đủ mệt rồi, mỗi sáng ủ mình trong ổ chăn ấm áp, tôi không muốn phải hy sinh nốt sự hưởng thụ duy nhất ấy, vì thế tôi vờ câm điếc trước sự phản ứng của mẹ chồng. Còn mẹ chồng tôi thỉnh thoảng có giúp tôi làm việc nhà, thì chỉ làm tôi càng bận rộn thêm.

con duong

Ví như, bà gom tất thảy mọi túi nilông đựng đồ và đựng rác trong nhà lại, bảo chờ gom đủ rồi bán đồng nát một thể, vì thế trong nhà chỗ nào cũng toàn túi nilông dùng rồi; Bà tiếc rẻ không dùng nước rửa bát, để khỏi làm bà mất mặt, tôi đành phải lén lút rửa lại lần nữa. Có một buổi tối, mẹ chồng tôi bắt gặp tôi đang lén rửa lại bát, bà đóng cửa phòng đánh “sầm” một cái, nằm bên trong khóc ầm ĩ.

Chồng tôi khó xử, sau việc này, suốt đêm anh không nói với tôi câu nào, tôi nũng nịu, làm lành, anh cũng mặc kệ. Tôi giận dữ, hỏi anh: “Thế em rốt cục đã làm sai cái gì nào?”.

Anh trừng mắt nhìn tôi nói: “Em không chịu nhường mẹ đi một chút, ăn bát chưa sạch thì cũng có chết đâu?”.

Sau đó, cả một thời gian dài, mẹ chồng tôi không nói chuyện với tôi, không khí trong gia đình gượng gạo dần. Thời gian đó, chồng tôi cũng sống rất mệt mỏi, anh không biết nên làm vui lòng ai trước.

Mẹ chồng tôi không cho con trai nấu bữa sáng nữa, xung phong đảm nhận “trọng trách” này. Mẹ chồng tôi ngắm con trai ăn sáng vui vẻ, lại nhìn sang tôi, ánh mắt bà trách móc tôi làm không trọn trách nhiệm của người vợ. Để tránh bị khó xử, tôi đành ăn tạm gói sữa trên đường đi làm.

Lúc đi ngủ, chồng tôi hơi buồn trách, hỏi tôi: “Rodi, có phải em chê mẹ anh nấu cơm không sạch nên em không ăn ở nhà?”. Lật mình, anh quay lưng về phía tôi lạnh lùng, mặc kệ tôi nước mắt tủi thân lăn tràn trề.

Cuối cùng, chồng tôi thở dài: “Rodi, thôi em cứ coi như là vì anh, em ở nhà ăn sáng được không?”. Thế là tôi đành quay về ngồi ở bàn ăn ngần ngại mỗi sáng.

Sáng đó, tôi húp bát cháo do mẹ chồng nấu, đột nhiên lợm giọng, mọi thứ trong dạ dầy tống tháo hết ra ngoài, tôi cuống cuồng bịt chặt miệng không cho nó trào ra, nhưng không được, tôi vứt bát đũa (chú thích: người Trung Quốc ăn cháo bằng đũa, không dùng thìa như ở Việt Nam) nhảy bổ vào toa-lét, nôn ọe hết.

Khi tôi hổn hển thở được, bình tâm lại, thấy mẹ chồng tôi đang khóc lóc than thân trách phận bằng tiếng pha rặt giọng nhà quê, chồng tôi đứng ở cửa toa-lét giận dữ nhìn tôi, tôi há miệng không nói được nên lời, tôi đâu có cố ý.

Lần đầu tiên tôi và chồng tôi bắt đầu cãi nhau kịch liệt, ban đầu mẹ chồng tôi ngồi nhìn chúng tôi, rồi bà đứng dậy, thất thểu đi ra khỏi cửa. Chồng tôi hằn học nhìn tôi một cái rồi xuống nhà đuổi theo mẹ.

2. Những tháng ngày tăm tối

Suốt ba ngày, chồng tôi không về nhà, cũng không gọi điện. Tôi đang giận, tôi nghĩ từ ngày mẹ chồng tôi lên đây, tôi đã cực nhục đủ rồi, còn muốn gì tôi nữa? Nhưng kỳ lạ làm sao, tôi vẫn cứ buồn nôn, ăn gì cũng chẳng thấy ngon, thêm vào đó việc nhà rối ren, tâm trạng tôi cực kỳ tồi tệ. Sau đó, một đồng nghiệp bảo tôi: “Rodi, trông sắc mặt cậu xấu lắm, đi khám bác sĩ xem nào”.

Kết quả khám của bác sĩ là tôi đã có thai. Tôi hiểu ra sáng hôm đó vì sao tôi nôn ọe, trong cảm giác hạnh phúc có xen lẫn chút oán trách, chồng tôi và cả bà mẹ chồng đã từng sinh nở, vì sao họ không hề nghĩ đến lý do ấy? Ở cổng bệnh viện, tôi gặp chồng tôi.

Mới chỉ ba hôm không gặp mặt, chồng tôi đã trở nên hốc hác. Tôi đáng lẽ định quay người đi thẳng, nhưng trông anh rất đáng thương, tôi không nén được gọi anh lại. Chồng tôi nghe tiếng thì nhìn thấy tôi, nhưng làm như không quen biết, trong mắt anh chỉ còn sự căm thù, ánh nhìn ấy làm tôi bị thương.
Tôi tự nói với mình, không được nhìn anh ấy, không được nhìn anh ấy, tôi đưa tay vẫy một chiếc taxi chạy qua. Lúc đó tôi mong muốn làm sao được kêu lên với chồng tôi một tiếng: “Anh ơi, em sắp sinh cho anh một đứa con rồi!” và được anh bế bổng lên, quay tròn hạnh phúc, những cái tôi mơ ước không xảy ra, trên chiếc taxi, nước mắt tôi chầm chậm rơi xuống.

Tunnel di alberi

Vì sao một vụ cãi nhau đã làm tình yêu trở nên tồi tệ như thế này? Sau khi về nhà, tôi nằm trên giường nhớ chồng, nhớ đến sự căm thù trong mắt anh. Tôi ôm một góc chăn nằm khóc. Đêm đó, trong nhà có tiếng mở ngăn kéo. Bật đèn lên, tôi nhìn thấy gương mặt đầy nước mắt của chồng tôi. Anh ấy đang lấy tiền.

Tôi lạnh lùng nhìn anh, không nói gì. Anh coi như không có tôi, cầm tiền và sổ tiết kiệm rồi đi. Có lẽ anh đã quyết định rời bỏ tôi thật sự. Thật là một người đàn ông khôn ngoan, tình và tiền rạch ròi thế. Tôi cười nhạt vài cái, nước mắt lại “ồn ào” lăn xuống.

Ngày hôm sau, tôi không đi làm. Tôi dọn lại toàn bộ suy nghĩ của mình, đi tìm chồng nói chuyện một lần cho rõ. Đến công ty của chồng, thư ký hơi lạ lùng nhìn tôi, bảo: “Mẹ của tổng giám đốc Trần bị tai nạn giao thông, đang trong viện”.

Tôi há hốc mồm trợn mắt, chạy bổ tới bệnh viện, khi tìm được chồng tôi, mẹ chồng tôi đã mất rồi. Chồng tôi không nhìn tôi, mặt anh rắn lại.

Tôi nhìn gương mặt gầy gò trắng bệch xanh tái lại của mẹ chồng, nước mắt tôi tuôn xuống ào ạt, trời ơi! Sao lại ra thế này? Cho đến tận lúc chôn cất bà, chồng tôi cũng không hề nói với tôi một câu, thậm chí mỗi ánh mắt đều mang một nỗi thù hận sâu sắc.

Về vụ tai nạn xe, tôi phải hỏi người khác mới biết đại khái là, mẹ chồng tôi bỏ nhà đi mơ hồ ra phía bến xe, bà muốn về quê, chồng tôi càng theo bà càng đi nhanh, khi qua đường, một chiếc xe buýt đã đâm thẳng vào bà…

Cuối cùng tôi đã hiểu sự căm ghét của chồng, nếu buổi sáng hôm đó tôi không nôn, nếu chúng tôi không cãi nhau, nếu như… trong tim anh ấy, tôi chính là người gián tiếp gây ra cái chết của mẹ anh.

Chồng tôi im lặng dọn đồ vào ở phòng mẹ, mỗi tối anh về nhà nồng nặc hơi rượu. Và tôi bị lòng tự trọng đáng thương lẫn sự ân hận dồn nén tới không thể thở được, muốn giải thích cho anh, muốn nói với anh rằng chúng ta sắp có con rồi, nhưng nhìn vào đôi mắt lạnh lùng của anh, tôi lại nuốt hết đi những lời định nói. Thà anh đánh tôi một trận hoặc chửi bới tôi một trận còn hơn, cho dù tất cả đã xảy ra không phải do tôi cố ý.

Ngày lại ngày cứ thế trôi đi trùng lặp, chồng tôi về nhà ngày càng muộn. Tôi cố chấp, coi anh còn hơn kẻ lạ. Tôi là cái thòng lọng thắt trong trái tim chồng tôi.

Một lần, tôi đi qua một tiệm ăn châu Âu, xuyên qua lớp cửa kính trong suốt kéo dài từ trần nhà xuống sát mặt đất, tôi nhìn thấy chồng tôi ngồi đối diện một cô gái trẻ, anh nhè nhẹ vuốt tóc cô gái, tôi đã hiểu ra tất cả.

Ban đầu tôi sững sờ, rồi tôi bước vào tiệm ăn, đứng trước mặt chồng, nhìn anh trân trối, mắt khô cạn. Tôi chẳng còn muốn nói gì, cũng không thể nào nói gì. Cô gái nhìn tôi, nhìn chồng tôi, đứng lên định bỏ đi, chồng tôi đưa tay ấn cô ngồi xuống, và, anh cũng trân trối nhìn tôi, không hề thua kém.

Tôi chỉ còn nghe thấy tiếng trái tim tôi đang đập thoi thóp, đập thoi thóp từng nhịp một từng nhịp một cho tới tận ranh giới tái xanh của cái chết. Kẻ thua cuộc là tôi, nếu tôi cứ đứng thế này mãi, tôi và đứa bé trong bụng tôi sẽ cùng ngã.

Đêm đó, chồng tôi không về nhà, anh dùng cách đó để nói cho tôi biết: Cùng với cái chết của mẹ chồng tôi, tình yêu của chúng tôi cũng đã chết rồi.

Chồng tôi không quay về nữa. Có hôm, tôi đi làm về, thấy tủ quần áo bị động vào, chồng tôi quay về lấy vài thứ đồ của anh. Tôi không muốn gọi điện cho chồng tôi, ngay cả ý nghĩ ban đầu là giải thích mọi chuyện cho anh, giờ cũng đã biến mất hoàn toàn.

Tôi một mình sống, một mình đi bệnh viện khám thai, mỗi lần thấy những người chồng thận trọng dìu vợ đi viện khám thai, trái tim tôi như vỡ tan ra. Đồng nghiệp lấp lửng xui tôi nạo thai đi cho xong, nhưng tôi kiên quyết nói không, tôi điên cuồng muốn được đẻ đứa con này ra, coi như một cách bù đắp cho cái chết của mẹ chồng tôi.

Khi tôi đi làm về, chồng tôi đang ngồi trong phòng khách, khói thuốc mù mịt khắp phòng, trên bàn nước đặt một tờ giấy. Không cần liếc qua, tôi đã biết tờ giấy viết gì.

Trong hai tháng chồng tôi không về nhà, tôi đã dần dần học được cách bình tĩnh. Tôi nhìn anh, gỡ mũ xuống, bảo: “Anh chờ chút, tôi ký!”. Chồng tôi cứ nhìn tôi, ánh mắt anh bối rối, như tôi.

Tôi vừa cởi cúc áo khoác vừa tự dặn mình: “Không khóc, không khóc…”. Mắt rất đau, nhưng tôi không cho phép nước mắt được lăn ra. Treo xong áo khoác, cái nhìn của chồng tôi gắn chặt vào cái bụng đã nổi lên của tôi. Tôi mỉm cười, đi tới, kéo tờ giấy lại, không hề nhìn, ký lên đó cái tên tôi, đẩy lại phía anh.

“Rodi, em có thai à?”.

Từ sau khi mẹ chồng gặp tai nạn, đây là câu đầu tiên anh nói với tôi. Tôi không cầm được nước mắt nữa, lệ “tới tấp” tràn xuống má.

Tôi đáp: “Vâng, nhưng không sao đâu, anh có thể đi được rồi!”. Chồng tôi không đi, trong bóng tối, chúng tôi nhìn nhau. Chồng tôi nằm ôm lấy người tôi, nước mắt thấm ướt chăn. Nhưng trong tim tôi, rất nhiều thứ đã mất về nơi quá xa xôi, xa tới mức dù tôi có chạy đuổi theo cũng không thể với lại.

Không biết chồng tôi đã nói “Anh xin lỗi em!” với tôi bao nhiêu lần rồi, tôi cũng đã từng tưởng rằng tôi sẽ tha thứ, nhưng tôi không tài nào làm được, trong tiệm ăn châu Âu hôm đó, trước mặt người con gái trẻ ấy, ánh mắt lạnh lẽo chồng tôi nhìn tôi, cả đời này, tôi không thể nào quên nổi. Chúng tôi đã cùng rạch lên tim nhau những vết đớn đau. Phía tôi, là vô ý; còn anh, là cố tình.

3. Hận cũ hóa giải, nhưng quá khứ không bao giờ trở lại!

Trừ những lúc ấm áp khi nghĩ đến đứa bé trong bụng, còn với chồng, trái tim tôi lạnh giá như băng, không ăn bất cứ thứ gì anh mua, không cần ở anh bất cứ món quà gì, không nói chuyện với anh.

Bắt đầu từ lúc ký vào tờ giấy kia, hôn nhân cũng như tình yêu đã biến mất khỏi đời tôi. Có hôm chồng tôi thử quay về phòng ngủ, anh vào, tôi ra phòng khách, anh chỉ còn cách quay về ngủ ở phòng mẹ.
Trong đêm thâu, đôi khi từ phòng anh vẳng tới tiếng rên khe khẽ, tôi im lặng mặc kệ. Đây là trò anh thường bày ra, ngày xưa chỉ cần tôi giận anh, anh sẽ giả vờ đau đầu, tôi sẽ lo lắng chạy đến, ngoan ngoãn đầu hàng chồng, quan tâm xem anh bị làm sao, anh sẽ vươn một tay ra tóm lấy tôi cười ha hả. Anh đã quên rồi, tôi lo lắng là bởi tôi yêu anh, còn bây giờ, giữa chúng tôi còn lại gì đâu?

Chồng tôi dùng những tiếng rên ngắt quãng để đón ngày đứa bé chào đời. Dường như ngày nào anh cũng mua gì đó cho con, các đồ dùng của trẻ sơ sinh, đồ dùng của trẻ em, ngay cả sách thiếu nhi, từng bọc từng bọc, sắp chất đầy gian phòng anh.

Tôi biết chồng tôi dùng cách đó để cảm động tôi, nhưng tôi không còn cảm thấy gì nữa. Anh đành giam mình trong phòng, gõ máy tính “lạch cà lạch cạch”, có lẽ anh đang yêu đương trên mạng, nhưng việc đó đối với tôi không có ý nghĩa gì.

Đêm cuối mùa xuân, cơn đau bụng dữ dội khiến tôi gào lên, chồng tôi nhảy bổ sang, như thể anh chưa hề thay quần áo đi ngủ, vì đang chờ đón giây phút này tới. Anh cõng tôi chạy xuống nhà, bắt xe, suốt dọc đường nắm chặt bàn tay tôi, liên tục lau mồ hôi trên trán tôi.

Đến bệnh viện, anh lại cõng tôi chạy vào phòng phụ sản. Nằm trên cái lưng gầy guộc và ấm áp, một ý nghĩ hiện ra trong đầu tôi: “Cả cuộc đời này, còn ai có thể yêu tôi như anh nữa không?”.

Anh đẩy cửa phòng phụ sản, nhìn theo tôi đi vào, tôi cố nén cơn đau nhìn lại anh một cái nhìn ấm áp. Từ phòng đẻ ra, chồng tôi nhìn tôi và đứa bé, anh cười mắt rưng rưng. Tôi vuốt bàn tay anh. Chồng tôi nhìn tôi, mỉm cười, rồi, anh chậm rãi và mệt mỏi ngã dụi xuống. Tôi gào tên anh… Chồng tôi mỉm cười, nhưng không thể mở được đôi mắt mệt mỏi…

Tôi đã tưởng có những giọt nước mắt tôi không thể nào chảy vì chồng nữa, nhưng sự thực lại khác, chưa bao giờ có nỗi đau đớn mạnh mẽ thế xé nát thân thể tôi.

Bác sĩ nói, phát hiện chồng tôi ung thư gan đã vào giai đoạn cuối cùng, anh gắng gượng cho đến giờ kể cũng đã là kỳ tích. Tôi hỏi bác sĩ phát hiện ung thư khi nào? Bác sĩ nói năm tháng trước, rồi an ủi tôi: “Phải chuẩn bị hậu sự đi!”.

Tôi mặc kệ sự can ngăn của y tá, về nhà, vào phòng chồng tôi bật máy tính, tim tôi phút chốc bị bóp nghẹt. Bệnh ung thư gan của chồng tôi đã phát hiện từ năm tháng trước, những tiếng rên rỉ của anh là thật, vậy mà tôi nghĩ đó là…

Có hai trăm nghìn chữ trong máy tính, là lời dặn dò chồng tôi gửi lại cho con chúng tôi: “Con ạ, vì con, bố đã kiên trì, phải chờ được đến lúc nhìn thấy con bố mới được gục ngã, đó là khao khát lớn nhất của bố… Bố biết, cả cuộc đời con sẽ có rất nhiều niềm vui hoặc gặp nhiều thử thách, giá như bố được đi cùng con suốt cả chặng đường con trưởng thành, thì vui sướng biết bao, nhưng bố không thể.

Bố viết lại trên máy tính, viết những vấn đề mà con có thể sẽ gặp phải trong đời, bao giờ con gặp phải những khó khăn đó, con có thể tham khảo ý kiến của bố…

Con ơi, viết xong hơn 200 nghìn chữ, bố cảm thấy như đã đi cùng con cả một đoạn đời con lớn. Thật đấy, bố rất mừng. Con phải yêu mẹ con, mẹ rất khổ, mẹ là người yêu con nhất, cũng là người bố yêu nhất…”.

Từ khi đứa trẻ đi học mẫu giáo, rồi học Tiểu học, Trung học, lên Đại học, cho đến lúc tìm việc, yêu đương, anh đều viết hết.

Chồng tôi cũng viết cho tôi một bức thư:

“Em yêu dấu, cưới em làm vợ là hạnh phúc lớn nhất đời anh, tha thứ cho những gì anh làm tổn thương em, tha thứ cho việc anh giấu em bệnh tình, vì anh muốn em giữ gìn sức khoẻ và tâm lý chờ đón đứa con ra đời…

Em yêu dấu, nếu em đang khóc, tức là em đã tha thứ cho anh rồi, anh sẽ cười, cảm ơn em đã luôn yêu anh… Những quà tặng này, anh sợ anh không có cơ hội tự tay tặng cho con nữa, em giúp anh mỗi năm tặng con vài món quà, trên các gói quà anh đều đã ghi sẵn ngày sẽ tặng quà rồi…”.

Quay lại bệnh viện, chồng tôi vẫn đang hôn mê. Tôi bế con tới, đặt nó bên anh, tôi nói: “Anh mở mắt cười một cái nào, em muốn con mình ghi nhớ khoảnh khắc ấm áp nằm trong lòng bố…”.

Chồng tôi khó khăn mở mắt, khẽ mỉm cười. Thằng bé vẫn nằm trong lòng bố, ngọ nguậy đôi tay hồng hào bé tí xíu. Tôi ấn nút chụp máy ảnh “lách tách”, để mặc nước mắt chảy dọc má…

Hồng Vân sưu tầm

anh bia facebook con duong mua thu dep nhat

Xem thêm...

Cánh én mùa Xuân

























CÁNH ÉN MÙA XUÂN

LÝ THỊ MINH CHÂU

Con đường len lỏi qua những cánh rừng nối các buôn bản vùng cao lại với nhau giống như con rắn khổng lồ trên lưng có vệt vảy trắng. Hàng cây xanh hai bên đường đưa tay vẫy vẫy, mùa này bắt đầu gió. Gió lùa qua ô cửa xe phần phật, Thu đưa tay đón, thích thật. Cảm giác mát rượi theo cánh tay vào phả khắp người Thu. Cái nóng bởi hơi người, bởi chật chội tạm thời tan biến đâu đó. Thu gác tay lên thành cửa mơ màng.

Tia nắng lửng chiều xiên xiên hình như cũng muốn vui đùa với chiếc xe thì phải. Nó chạy vun vút phía bên kia hàng cây hay thong thả bước như người du nhàn, rồi đột ngột tiến lên hay đột ngột dừng lại. Thì ra, xe chạy bao nhiêu nắng theo bấy nhiêu, xe nhanh nắng nhanh, xe chậm nắng chậm, xe dừng nắng cũng dừng. Thật là thú vị khi phát hiện ra điều này, Thu khen mình một nụ cười. Rồi khi xe chạy cập theo mé sông thì nắng lại nhảy ùm xuống nước, những tia nắng xinh xinh khi nãy gom lại thành hình ông mặt trời, băng băng trên nước như một đóm lửa tinh quái, hắt ngược vào mắt Thu cái nhìn giễu cợt. Nhắm mắt lại không thèm chơi với nắng nữa, Thu nghĩ về người ta.

Người ta là cán bộ Phòng giáo dục của một huyện gần nơi trường đại học Sư phạm mà Thu từng theo học. Trong một chuyến thực hành dã ngoại, người ta đã làm quen với Thu. Đó là năm cuối của học kỳ. Chẳng biết có phải là yêu hay không nhưng người ta thường đưa đón Thu những khi người ta rảnh rỗi, những chiều thứ sáu hay những ngày cuối tuần. Người ta không đẹp và có vẻ khó thân thiện nhưng chẳng hiểu sao Thu lại thích người ta. Tuần nào không gặp người ta Thu rất buồn. Có lẽ vì cuộc sống xa nhà, quen khép kín trong bốn bức tường gác trọ, ít có dịp đi đây đi đó nên khi có ai vồn vã săn đón, Thu làm sao có thể từ chối. Ai đó từng bảo tình yêu là liều thuốc đắng nhưng ngọt ngào. Có lẽ điều này rất đúng với Thu, chúng đan xen nhau, chen lấn nhau, chúng làm cho Thu cảm thấy bất an sao ấy.

Ngày đó, người ta hứa với Thu đủ điều, nào là sẽ giúp lo cho Thu chỗ dạy ổn định, giúp lo cho Thu thăng tiến…vân vân và vân vân…Người ta hứa nhiều lắm và Thu cũng tin nhiều lắm.

Ngày đó, Thu làm gì có nhiều tiền để gọi điện thoại thoải mái, cần liên hệ với người ta thì Thu nhắn tin. Người ta bảo :“ Anh thích nghe tiếng em nói cơ, tiếng của con chữ rắc rối lắm, khi thì em nhắn có dấu khi thì không, đoán tới đoán lui mệt cả óc. “ Vậy là, người ta bao cấp tiền điện thoại cho Thu từ đó. Chưa bao giờ Thu gọi mà người ta không trả lời, nếu có bận bịu gì thì người ta cũng bảo :” Anh đang họp, tí nữa anh gọi lại. “ Còn bây giờ, cũng số điện thoại ấy nhưng chỉ là những tiếng tít..tít..vu vơ. Nhắn tin thì người ta không trả lời. Thì ra chiếc điện thoại có quá nhiều chức năng. Khi đem người ta đến với nhau, chiếc điện thoại trở thành chiếc cầu nối cho hai tâm hồn. Khi muốn chia tay ai đó hay không muốn bị quấy rầy, chiếc điện thoại biết từ chối khéo léo bằng cách im lặng. Sau nhiều ngày buồn bã, Thu quyết định chia tay người ta một cách dứt khoác. Thu thay số điện thoại của mình và đăng ký công tác đến vùng sâu, vùng xa này. Có thể thiên hạ bảo Thu trốn chạy, có thể người ta vui khi biết Thu đã đi xa, còn Thu thì đinh ninh là người ta đã thay dạ đổi lòng. Mặc, ai nghĩ gì nghĩ, đã dứt khoác rồi thì phải kiên định. Tuy là con gái nhưng Thu không thích đặt để mình vào chỗ yếu đuối. Thu đâu phải là yểu điệu thục nữ thành phố, Thu là con nhà nông chính hiệu kia mà. Quen vất vả gian lao rồi, quen cuộc sống thiếu thốn rồi, còn gì nữa đâu để mà lo sợ.

Xe rẽ vào con đường nhỏ, nhiều ổ voi, ổ gà. Đêm đã xuống, thị trấn vàng vọt ánh đèn đường màu dã quỳ. Không gian sống ở nơi này có vẻ trầm lắng, xe cộ thưa thớt, thiên hạ còn lông nhông những bộ đồ ngủ nhăn nhó ra đường. Vài quán cà phê cũng thưa thớt khách, tiếng nhạc vui cũng hoá thành buồn. Chắc bây giờ ngôi trường nơi Thu đến đã đóng cửa, còn chăng là ông gác dan. Xe vào bến, khách đã xuống hết, Thu cũng xuống mà chưa biết phải làm sao, ông tài xế hỏi Thu về đâu ông giúp.

- Ở đây có nhà nghỉ trọ qua đêm không chú.

- Cô từ xa đến ?

- Dạ, cháu về dạy học ở trường phổ thông trung học nơi đây.

Ai mà chẳng biết, ở những thị trấn nghèo và dân cư thưa thớt như thế này thì chỉ có một trường trung học công lập.

- Tôi đưa cô đến đó để người ta sắp xếp, việc gì phải nghỉ nhà trọ, nhà trọ ở đây bẩn lắm cô giáo à, toàn là con buôn trọ thôi.

Lần đầu tiên được gọi là cô giáo, Thu thẹn ửng má, cô đưa tay vuốt vuốt mái tóc loà xoà của mình, còn đang chần chừ thì ông tài xế đã giục :

- Lên xe đi, tới đó không ai lo thì tới chỗ trọ cũng đâu muộn.

Nghe có lý, Thu lên xe. Ông tài xế vui vẻ chuyện trò :

- Trước đây tôi cũng dạy học.

- Sao không tiếp tục hả chú hay là chú đang “ tăng gia “ thêm ?

- Tôi nghỉ dạy lâu rồi cô ạ, thời bao cấp kia. Hồi đó, khó khăn lắm, đâu được như bây giờ.

- Cháu có nghe, nhưng nhiều người vẫn bám trụ được mà chú.

- Cô nói đúng, bởi nhà họ khá. Còn tôi, khi có đứa con thứ hai thì đuối, nhà vợ giàu có, vợ tôi không quen cảnh túng thiếu nên cứ nằng nặc bảo tôi kiếm công việc khác.

Xe dừng lại trước cổng trường, ông không bóp còi mà xuống xe bấm chuông. Không đúng như Thu dự đoán, ông gác dan ôm đồm :

- Phải cô Thu không.

- Dạ cháu đây ạ.

- Thầy hiệu trưởng dặn tôi khi nào cô đến thì gọi điện cho thầy. Cô vào đây.

Vừa nói ông vừa đỡ cái xách nặng trĩu trên tay Thu, Thu quay lại cảm ơn ông tài xế nhiệt tình, ông vẫy tay chào trước khi cho xe lao đi.

- Cô dùng trà ?

- Cho cháu xin cốc nước lọc thôi ạ, uống trà ban đêm cháu không ngủ được. Hơn nữa bụng trống hoác chưa ăn gì, uống trà say chết.

Ông gác dan nhìn quanh quẩn, ánh mắt ông báo cho Thu biết là chỗ ông không có gì để đãi khách. Thu đưa mắt tinh nghịch nhìn ông thông cảm. Có tiếng xe máy nổ bong bong ngoài sân, ông gác dan ngồi yên một chỗ chỉ ngoái đầu ra cười. Thu biết đó không phải là thầy hiệu trưởng nhưng Thu vẫn đứng dậy gật đầu chào người trung niên mới vào.

- Đây là thầy Song, dạy hoá. Còn đây là cô Thu, mới đến.

Ông gác dan làm cử chỉ đẹp. Song đưa tay bắt tay cô thật lâu :

- Cô đi đường có mệt không ?

- Dạ, chút xíu.

- Đường xá ở đây còn khiêm tốn lắm cô ạ.

Song quay sang ông gác dan :

- Anh giúp cột hành lý của cô giáo lên xe tôi. Tôi đưa cô ấy về cư xá.

Rồi Song quay sang Thu :

- Thầy hiệu trưởng đã bố trí cô ở đó cùng phòng với một cô giáo còn độc thân.

Song bắt tay tạm biệt ông gác dan : “ Đi nghe anh. “ rồi quay sang Thu, Song nhỏ nhẹ : “ Ta đi thôi “, và Song đi trước. Ông gác dan chợt nhớ ra điều gì, vói vọng theo : “ Cô giáo chưa ăn gì đâu đó thầy Song “. Rồi ông cao giọng sành điệu : “ Quán Phở bà Lúc giờ này chắc còn “. Song cười, cho xe vút đi.

Bên bát phở nghi ngút khói, Song ôn tồn :

- Nghe nói cô ở trên tỉnh sao lại xuống đây, trên đó điều kiện sống không tốt hơn à ?

- Có đấy thầy ạ, nhưng xin vào trường có tiếng tăm một chút thì chẳng dễ tí nào. Em không có khả năng…

- Gọi bằng anh thôi, cho thân thiện cô ạ, chữ thầy thiêng lắm chỉ dành cho học trò. Tôi không “ đứng đắn “ đến độ cô phải gọi thế đâu.

- Nhưng…

Song đã hiểu sai từ này :

- Tôi năm nay ba mốt, chắc chỉ hơn cô vài tuổi…

Thu không trả lời trực diện câu hỏi của Song :

- Chắc nhà thầy gần đây..

- Nữa, đã bảo…

- Em quên

- Cũng gần cô ạ.

Song lấp lửng. Khi quán chẳng còn ai, hai người ra về. Song dừng xe trước dãy nhà liền kề cấp bốn, đây là chung cư của các thầy cô giáo. Trước hàng hiên nhà nào cũng có vài chậu hoa lan. Mấy giò kim điệp đang hoa đung đưa theo gió, màu vàng của nó trở nên sáng loáng dưới ánh đèn điện. Đẹp quá. Chẳng hàng rào, chẳng cổng kín, hoa cứ phơi phới đua sắc đua hương mà chẳng ai lấy cắp. Một khái niệm đẹp về cư dân nơi này vừa đến với Thu, chả bù nhà ở phố rào sắt bưng bít trước sau, không tù túng mới là chuyện lạ.

Thu được bạn chung phòng đón trước cửa, đó là cô gái Stiêng, nước da ngăm ngăm, thân hình đầy đặn. “ Không việc gì phải nhận xét vội “, hai người cười với nhau. Cô gái giúp Thu mang hành lý vào nhà. Cô vồn vã :

- Bạn ăn cơm chưa, mình dọn.

- Dạ cảm ơn chị, em ăn rồi, thầy Song vừa mời phở.

- Bữa nay anh Song hào phóng quá ta.

- Này này, quên đi nghe cô giáo, khi trước tôi cũng đón cô, cô nhớ tôi mời cô ăn gì nào ?”.

- Lâu quá, em quên mất rồi

- Tội tui chớ, Lam.

Rồi Song bâng quơ không biết với ai :

- Bên phòng tôi có sẵn nước nóng, qua lấy về tắm, khỏi phải nấu.

Thì ra Song cũng ở nơi này, Thu vui lên vì có bạn, ít nhất thì hai người cũng đã ngồi chuyện trò với nhau khá lâu. Trong lúc hai chị em loay hoay sắp xếp đồ đạc thì Song ra về lúc nào không biết. Khi cánh tủ áo ọt ẹp kịp đóng lại cũng là lúc Song xách vào một xô nước nóng hôi hổi.

- Nóng lắm đấy, pha nước thêm vào.

- Phiền thầy quá.

- Lại nữa…điện nấu chớ tui có nấu đâu.

Thu lí nhí cảm ơn.

Hai năm làm cô giáo ở thị trấn bé nhỏ này tưởng đâu phải gian lao vất vả lắm, tưởng đâu thiếu thốn lắm, ngược lại, Thu được nhiều cái hơn mình tưởng. Tình người. Đó là cái quý nhất, giàu sang cũng không mua được. Kế đến là lòng thơm thảo, từ lễ to lễ nhỏ của họ tộc, thầy cô giáo nào được mời thì cũng được ngồi chiếu trên, cùng mâm với trưởng làng, trưởng bản. Hết gạo, hết mắm có phụ huynh học sinh giúp đỡ, thường thì biếu tặng. Có bó rau ngon họ cũng mang đến, có trái cây đầu mùa nào mà Thu và các thầy cô giáo ở đây không được ăn. Người ta biếu tặng thầy cô giáo một cách tự nguyện, chẳng phải để nhờ cậy gì. Hai ba giờ khuya đi chợ, tiện đường, họ để lên thềm nhà cô giáo vài thứ nông sản hay con cá được móc cẩn thận trên song cửa. Thu làm sao biết ai tặng cho mình, còn người cho cũng đâu cần thầy cô giáo phải biết họ là ai. Không muốn nhận cũng không thể. Cứ thế, ân tình càng ngày càng sâu, Thu chưa bao giờ có ý nghĩ rời xa nơi này. Hai năm qua, Thu đã nhận quá nhiều sự chăm sóc của Song. Song chưa bao giờ ngỏ lời yêu cô cả, nhưng ánh mắt Song đã nói hết những lời say đắm đó. Thu không dám so sánh Song với người ta, chỉ thoáng lơ mơ là Song chân thành và hay giúp đỡ người khác. Từ chuyện chăm sóc giò hoa, vun xới dây trầu cho tới chuyện leo lên nóc nhà lợp lại mái dột cho gia đình neo đơn nào đó đâu phải là chuyện hiếm gặp. Song là vậy, vui vẻ, hoà đồng, có chút mặc cảm tự ti. Gia đình Song nghèo, ở cái quê cũng nghèo, trời hành vài cơn bão mỗi năm sao mà không nghèo được. Song còn mẹ già ở đó, Song từng tâm sự với Thu : “ Anh năn nỉ hoài mà mẹ anh chẳng chịu lên đây. Đã vậy, bà còn nói : Tao ở nhà, có chị mày qua lại là được rồi, mồ mả tổ tiên ở đây cả mà mày bảo tao đi đâu. Cứ bay nhảy chán đi, khi nào thích thì về. “.

Quê Song nghe nói ở xa lắm, cách một tết Song mới về thăm mẹ một lần. Năm nay Song rủ Thu cùng về quê anh ăn tết nhưng Thu chưa nhận lời. Khác Song, Thu năm nào cũng đón giao thừa ở quê, không về một lần chắc mẹ cũng không trách mắng, chỉ cần gọi điện thoại báo cho bà là được. Thu nghĩ vậy.

Những ngày cuối năm nơi này thật nhộn nhịp, lúa được mùa, được giá, người dân thi nhau sắm sửa hẹn đón cái tết thật linh đình. Ai cũng bảo :” Nhớ đến cô giáo nhé, ngày nào cũng được, chẳng phải kiêng cữ gì đâu. “. Thu vâng dạ cho xong chuyện để khỏi phật lòng người ta, cô cũng không quên rào trước đón sau : “ Nếu cháu về quê, thì hẹn bác sang năm vậy nhé. “

Ai cũng lo sắp xếp hành trang cho cuộc trở về, Thu cũng thế. Đang loay hoay với đủ thứ quà biếu của phụ huynh học sinh thì nghe Lam to nhỏ với ai đó ngoài hiên : “ Chú tìm Thu hả, nó ở trong nhà. “. Người ta đến tìm Thu, xin Thu tha lỗi cho người ta đã không vì Thu mà hết lòng, hết dạ. Người ta có nỗi khổ tâm riêng. Người ta vin ra nhiều lý lẽ để bào chữa cho hành vi sai trái của mình. Người ta tha thiết mời Thu về thành phố ăn tết với người ta, mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả thôi nếu Thu đồng ý. Thu đang phân vân chưa biết chọn câu trả lời nào thích hợp nhất mà không làm người ta cảm thấy khó chịu thì Song đến. Song hớn hở bắt tay người ta, càng hớn hở hơn khi nghe Thu bảo :

- Anh nhớ lấy vé xe cho em luôn nhé.

- Không thay đổi chứ ?

Thu gật đầu dứt khoát.

Phía bên kia sông nắng thật đẹp, cánh đồng lúa xanh mơn mởn thoả thích rì rào, đôi cò trắng vỗ cánh bay tít về tận chân trời. Người ta đưa mắt nhìn về xa xôi. Một cánh én làm sao nên được mùa xuân.

__________________________________  

 
Kim Kỳ sưu tầm
 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này