Học giả Phan Khôi, một người con xứ Quảng

Đọc lại bài Tình Già, tưởng nhớ đến học giả Phan Khôi, một người con xứ Quảng.

Phan Khôi  là một học giả tên tuổi, một nhà thơ, nhà văn, về sau đứng trong trong nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, cháu ngoại của Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu, đỗ Tú tài chữ Hán năm 19 tuổi nhưng lại mở đầu và cổ vũ cho phong trào Thơ mới.



Ông còn là một nhà báo tài năng, một người tích cực áp dụng tư tưởng duy lý phương Tây, phê phán một cách hài hước thói hư tật xấu của quan lại phong kiến và thực dân Pháp. Ông cũng là một trong số ít nhà báo tiếp thu nhiều tư tưởng mới, đa văn hóa từ Hồng Kông, Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp... Ông còn nổi tiếng vì sự trực ngôn, trước 1945 được mang danh là Ngự sử văn đàn. Ông phê phán chính sách cai trị của người Pháp một cách sát sườn, đối thoại với học giới từ Bắc đến Nam không e dè kiêng nể. Những năm 1956 - 1958 cũng vì cung cách nói thẳng ấy ông đã chịu tai họa và chết trong lặng lẽ vào năm 1959.

Phan Khôi sinh ngày 6 tháng 10 năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, là con của Phó Bảng Phan Trân (tri phủ Điện Khánh) và bà Hoàng Thị Lệ (con gái Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu). Ông có quan hệ họ hàng với nhà cách mạng Phan Thanh và Phan Bôi tức Huỳnh Hữu Nam. Ông học giỏi Nho văn và đỗ tú tài năm 19 tuổi. Sau đó ông gặp cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh và bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của hai cụ.

Năm 1907, ông ra Hà Nội, tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và làm việc cho tạp chí Đăng Cổ Tùng Báo . Khi tờ tạp chí bị cấm ông về Nam Định rồi về Hải Phòng ẩn náu. Ít lâu sau ông lén về Quảng Nam hoạt động trong phong trào Văn Thân cùng với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Trong một cuộc biểu tình đòi giảm thuế, tức vụ Trung Kỳ dân biến, ông bị bắt và giam tại nhà tù Quảng Nam đến năm 1914 thì được ân xá.

Năm 1936 , ông vào Huế  viết cho tờ Tràng An và xin được phép xuất bản báo Sông Hương . Năm 1939 , Sông Hương đóng cửa, Phan Khôi lại trở vào Sài Gòn dạy học chữ Nho và viết tiểu thuyết.

Sau năm 1945 ông từ Quảng Nam ra Hà Nội tham gia kháng chiến với cương vị một nhà văn hóa, sau lại lãnh chức vụ chủ nhiệm Chi bộ Quảng Ngãi của Việt Nam Quốc dân đảng.

Ông ở Việt Bắc suốt 9 năm nhưng vì bị bệnh nên phải vào bệnh viện một thời gian.

Cuối năm 1954, Phan Khôi về Hà Nội cùng với các văn nghệ sĩ khác. Trong thời gian 1956-1957, là một trong những người thành lập tờ Nhân Văn và có các bài phê phán giới lãnh đạo văn nghệ lúc bấy giờ, ông bị cấm sáng tác cho đến khi qua đời ngày 16 tháng 1 năm 1959 tại Hà Nội.

Khi mất, ông được chôn cất tại nghĩa trang Mai Động, sau đó, theo cơn biến động, các ngôi mộ buộc phải thuyên chuyển, bị san phẳng đi. Mộ ông Phan Khôi đã nằm trong những ngôi mộ vô thừa nhận không ai biết, đến nay ngay cả con cháu ông cũng không biết mộ ông nằm ở đâu.

Ông là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, từng làm giám khảo trong các giải văn học của Hội.

Các tác phẩm chính của ông:

- Bàn về tế giao (1918)
- Tình già (thơ mới - 1932)
- Chương Dân thi thoại (1936)
- Trở vỏ lửa ra (1939)
- Tìm tòi trong tiếng Việt (1950)
- Chủ nghĩa Mác và ngôn ngữ (dịch của Stalin, 1951)
- Việt ngữ nghiên cứu (1955)
- Dịch Lỗ Tấn (từ 1955 đến 1957)
- Ngẫu cảm (thơ chữ Hán)
- Viếng mộ ông Lê Chất (thơ chữ Hán)
- Ông Năm chuột (truyện ngắn)
- Ông cũng là một trong những người dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt.

Trong tài liệu nghiên cứu văn học, Phan Khôi không bao giờ được coi như một nhà thơ thực thụ và lại càng không có vai vế gì trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Dù vậy, mỗi khi nói đến phong trào Thơ mới người ta vẫn phải nhắc tới ông với bài thơ Tình già, in ra năm 1932. Lạ một nỗi là chính Phan Khôi cũng không hề có ảo tưởng gì về mình khi làm cái việc công bố bài thơ này. Ông nói về sự mở đường của mình như một bước nhảy liều qua quãng đường bí. "Chẳng phải là tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm đất mới, mà miếng đất tôi kiếm được đó chẳng biết có ở được không, nên mới đem ra trình chánh giữa làng thơ (...). Tôi cầm chắc việc đề xướng của tôi đây sẽ thất bại lần nữa, nhưng tôi tin rằng sau này sẽ có người làm như tôi mà thành công" (Phụ nữ tân văn 10/3/1932). Những chi tiết này không chỉ giúp ta hình dung ra vai trò của ông trong đời sống tinh thần đương thời, mà đồng thời còn để nhận biết con người ông, cách tồn tại của ông trong văn học. Đó là một con người độc đáo, đôi khi đến mức gàn quải. Trong khi muốn bứt ra khỏi mọi lối mòn, muốn tự mình khác đi và giúp cho chung quanh khác đi, con người đó cũng không thoát khỏi những hạn chế của thời đại, của hoàn cảnh xuất thân, và cả những ràng buộc do chính bản thân ông gây ra cho ông. Chính vì vậy, sự tồn tại của ông là bao gồm cả thành công và thất bại, dở và hay, mở đường và đứt gãy.

TÌNH GIÀ
 
Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
- "Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
mà lấy nhau hẳn là không đặng,
Để đến nỗi, tình trước phụ sau,
chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau !"
 
- "Hay! mới bạc làm sao chớ !
Buông nhau làm sao cho nỡ
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!"
 
"Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng.
mà tính việc thủy chung?"
........
 
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.
( 1932 )


Kim Kỳ Sưu tầm

back to top