THƯ TÌNH LẠC CHỖ

THƯ TÌNH LẠC CHỖ
 
 Peter Lovesey - Kim Ngọc dịch
 
 
 

     Jonathan Wilding là một em bé bốn tuổi, xinh xắn với những búp tóc hoe vàng rũ trên đôi má bầu bĩnh. Em bé nghịch ngợm ấy tất bật đạp xe khắp làng để phát thư. Thế em nhét gì vào hộp thư của mỗi nhà? Những bức thư của Sally,mẹ em. Jonathan tìm thấy xấp thư ấy ở ngăn dưới tủ, lẫn trong mớ đồ vật linh tinh, khi em tìm một trái banh nỉ thay thế qủa banh vừa bị đánh văng qua tường nhà hàng xóm. Trong hộp một xấp thư được buộc cẩn thận bằng ruy băng màu. Thế là em có thể thực hiện ước mơ em hằng ôm ấp, dù tuổi đời còn rất nhỏ: trở thành người phát thư.


   Ông Halliwell, bưu tá của làng, là thần tượng của Jonathan. Em thường ngắm ông với chiếc mũ kết, bộ đồng phục màu xám, vai đeo chiếc túi màu hạt dẻ, đạp xe rong ruỗi khắp làng. Halliwell có bộ râu rậm, giọng nói sang sảng, luôn tìm những lời thích hợp khi nói chuyện với những người ông găp, kể cả trẻ em. Đôi khi ông dành cho Jonathan đặc ân được đi cạnh ông suốt con đường, hoặc giữ xe đạp cho ông, dựng sát một tường rào.


    Xế trưa hôm ấy, chiếc cặp đeo trên vai chứa đầy thư, Jonathan thực hiện một chuyến phát thư đặc biệt. Do một sự trùng hợp may mắn, Jonathan có vừa đủ thưđể kết thúc một cách mỹ mãn. Em rảo qua cả hai bên đường, nhà nào cũng nhận được thư. Em trở về nhà hết sức vui vẻ.


    Jonathan đang xem truyền hình khi tiếng gõ cửa đầu tiên vang lên. Lúc ấy Sally đang chiên cá dưới bếp. Bernard, chồng chị-tác gỉa những bức thư trên, thích món cá chiên. Anh là sĩ quan cảnh sát từ nhỏ đến lớn, Sally và Bernard vẫn sống ở ngôi làng này chỉ biết mặt nhau mà chưa bao giờ nói chuyện. Năm mười tám tuổi, họ yêu nhau tha thiết và chấp nhận cùng nhau đối mặt với sự xa cách. Bernard theo học ở Học viện cảnh sát Hendon, cách làng hơn ba trăm cây số. Vào dịp nghỉ cuối tuần trước khi anh lên đường, lễ đính hôn được tổ chức. Họ hứa sẽ viết thư cho nhau mỗi ngày.


    Ôi những bức thư tình ngọt ngào! Sally vẫn đỏ mặt sung sướng mỗi khi nhớ lại. Những trang giấy ấy là chứng cứ hùng hồn của mối tình nồng cháy mà Bernard dành cho chị. Họ đã vượt qua vài giai đoạn khó khăn sau hôn nhân. Sally luôn cảm thấy lòng lâng lâng mỗi khi đọc lại những bức thư này. Nghe tiếng gõ cửa, Sally gọi: "Michael, con ra xem ai đến". Michael là con trai đầu lòng mới mười tuổi, cậu bé đã tỏ ra tự hào khi được đóng vai người đàn ông mỗi khi cha vắng mặt. Michael nói vọng vào:


    -Bà Nugent. Mẹ à. Bà ấy muốn nói chuyện với mẹ.


     Sally lau tay, ra xem bà hội trưởng hội từ thiện cần gì, có lẽ lac quyên. Bà Nugent lên tiếng trước:


    -Tôi nghĩ bức thư này của chị.


    Sally cầm phong thư, mở to mắt, vẫn chưa thể hình dung được mối liên hệ nào giữa bức thư và bà hàng xóm.


   -Ai đó đã nhét thư này vào hộp thư nhà tôi. Có lẽ do sự nhầm lẫn. Thư đã bị xé trước đó. Tôi không hề đọc thư. Chị có thể tin lời tôi.


    Đờ người vì kinh ngạc, Sally không tìm ra được từ thích hợp để trã lời. Nếu có một vực thẳm mở ra dưới chân chị, hẳn chị sẽ lao vào đó ngay. Sally chỉ biết lí nhí cám ơn. Sau cùng đầu óc chị hoạt động trở lại. Đây là lá thư nào trong xấp thư ấy. Làm sao có thể đến tay bà hàng xóm? Hẳn là do một trong hai đứa con trai của chị.


    Ngay sau đó,c ác sự cố dồn dập xảy đến. Bà March, ở nhà đối diện, đến với hai phong thư trên tay. Sally cầm lấy, ấp úng vài lời cảm ơn, đi nhanh lên phòng chứa đồ linh tinh và nhận ra rằng nỗi e sợ của chị được khẳng định: chiếc hộp trống không. Chị gọi to:


   -Michael! Jonathan! Hai đứa lên đây ngay!


   -Có ai gọi cửa nữa, mẹ ơi.


    Việc dọn dẹp đành phải gác lại. Cửa chính cứ liên tục mở ra, khép vào trong vòng hai mươi phút sau đó. Những bức thư tình của Sally được liên tục trã về chủ cũ bởi những người láng giềng đỏ mặt, cười ngượng ngịu hoặc buông lời trách móc nhẹ nhàng. Một số người còn cho biết mình đã đọc thư, tán thưởng với nét mặt ngây thơ gỉa vờ. Đối với Sally, đây là một thử thách còn tệ hơn việc bị nói xấu trước đám đông.


    Sally nhét vội xấp thư vào ngăn kéo khi nghe tiếng Bernard vọng xuống trên lầu:


    -Ai đến nhà vậy?


    -Có lẽ cả xóm. Em sẽ kể cho anh nghe sau. Món cá chiên bị khét rồi .


    -Một chú nhóc lại phát minh trò mới à?


    -Thật tình em chưa rõ.


    Chuông lại reo. Cô Sharp mang đến hai bức thư. Thật kinh khủng khi phải kể cho chồng nghe câu chuyện kỳ cục này. Sally cảm thấy chị không đủ sức chịu đựng một mình. Và chắc chắn trước sau gì Bernard cũng biết. Anh khóac áo ấm chuẩn bị ra ngoài.


    Bernard luôn tỏ ra nghiêm khắc với Michael ,nhưng lại không như thế với Jonathan. Kết qủa thật hiển nhiên. Michael là một bé trai trầm tĩnh nghiêm trang, tháo vát và có khả năng tập trung tư tưởng dễ dàng. Thú tiêu khiển ưa thích của cậu là đọc sách, sưu tầm tem và những vật thu nhỏ. Còn Jonathan tỏ ra liều lĩnh, táo bạo, luôn để quần áo, tay chân lấm lem, dù cha mẹ nhiều lần nhắc nhờ. Cậu bé biết mình được yêu chiều và không ngần ngại khai thác lợi thế ấy.


   Dù biết tính khí hai trẻ khác nhau, Sally luôn cố gắng đối xử với các con thật công bằng. Chị hỏi Michael trước:


    -Xế trưa nay con làm gì?


    -Con xắp xếp các con tem


    -Con không vào kho ?


     -Không, mẹ a!


  Còn Jonathan hào hứng thừa nhận chơi trò bưu tá với xấp thư tìm được. Cậu bé kể lại từng chi tiết. Lát sau, Jonathan được lệnh lên gường, mông đỏ với vài lằn roi.


   Buổi sáng trôi qua chậm chạp. Jonathan xem ra ngoan hơn mọi ngày và điều đó cũng dễ hiểu.
  

   Sally soạn lại xấp xấp thư. Chị xếp các bức thư theo thứ tự thời gian. Còn thiếu một bức thư. Ai trong số những cư dân trong làng nhận thư mà không trã lại cho chị? Chị điểm lại những gương mặt đã gặp lúc chiều, hình dung vị trí từng ngôi nhà. Cuối cùng, dòng suy tưởng của chị dừng lại nơi ngôi nhà của Ruby Simonne. Ruby không trã lại thư.
 
  Ruby cùng tuổi với Sally. Hai người học chung lớp ở trường trung học, nhưng không phải là bạn thân. Điều đáng nói là Ruby từng là người trong mộng của Bernard trong gần một năm, trước khi anh ngỏ lời yêu Sally. Có lẽ Ruby vẫn còn ôm nỗi cay đắng về qúa khứ nên không muốn trã lại thư?

 Thế là Sally càng thêm quyết tâm thu lại bức thư còn thiếu. Vào xế trưa, Sally đến nhà Ruby, nhấn chuông. Nhưng Ruby không ra mở cửa. Sally ấn chuông một lần nữa, rồi lần thứ ba. Việc lấy lại bức thư là điều quan trọng hơn những trò hờn dỗi thời đi học. Sally gọi to:
 
   -Ruby tôi muốn nói chuyện với chị.
 
 Vẫn không có tiếng trã lời.
 
  -Tôi biết chị đang giữ một vật thuộc về tôi. Mong chị trã lại cho tôi.
 
 Cũng chẳng ai đáp lại. Sally đành trở về nhà. Chị viết một bức thư ngắn lời lẽ lịch sự, yêu cầu Ruby trã lại bức thư. Chị tự tay đem đến nhà Ruby, nhét vào hộp thư. Sally đợi cả ngày hôm sau, nhiều lần ra xem hộp thư, nhưng không ai trã thư cả. Sally thất vọng, tâm trí không thể nghĩ đến việc gì khác. Chị lo lắng vì tình yêu dành cho chồng. Đêm ấy, Sally trằn trọc, nghĩ cách để lấy lại bức thư.

  Hôm sau, khi Bernard đến sở và hai trẻ đến trường, Sally rời nhà, đến nhà của Ruby. Chị mang theo chiếc que đan. Sally định xem hộp thư của Ruby, dù biết đây là việc làm bất hợp pháp. Có thể Ruby chưa mở hộp thư. Cái hộp chỉ được khóa lỏng lẻo, nhanh chóng bung ra.


   -Chị làm gì ở đây vậy?


 Sally quay lại, cố giữ giọng tự nhiên :


   -Tôi tìm bức thư của tôi.


   -Thư vớ vẩn của chị, tôi không giữ nó.


   -Tôi không muốn hành động như thế này.Nhưng thư của tôi,tôi mong chị trã nó cho tôi.


 Ruby hỏi:


   -Đứa con nào của chị chơi trò ấy?


   -Đứa em.


   -Thế nó cao cỡ nào?


   Sally đưa tay ra dấu.


   -Cỡ này


   -Chị nhìn hộp thư nhà tôi đi. khi dì tôi còn sống, những đứa trẻ nhà bên hay ngic̣h phá hộp thư, dì tôi đã đặt hộp thư lên cao. Con trai chị chắc không thể với tới hộp thư.


 Sally thừa nhận Ruby có lý. Lẽ ra chị phải sớm nhận ra điều này. Chị lắc đầu, sắp sửa bật khóc .


  -Tôi không biết phải nói sao đây.


  -Anh ta biết chưa?


  -Chưa


Lại một khoảng khắc im lặng, rồi Ruby phá lên cười:


 -Thật tội nghiệp cho chị. Lần đầu tiên từ mười hai năm nay, tôi không muốn đổi vị thế của tôi với chị. Chị xéo đi!


  Khi Bernard đi câu về, Sally thu hết can đảm để nói thật với chồng, nhưng anh ngắt lời:


  -Nếu là chuyện những bức thư, em không cần phải lo. Jonathan đã kể cho anh nghe sáng nay. Thằng bé đã ra vẻ người lớn lắm. Nó bảo cứ thấy mẹ băn khoăn, cuống quýt nên nó nghĩ chính nó là người phải nói cho anh biết.


  -Anh không giận sao?


  -Anh có thể cư xử khác hơn sao?


 Sally định nói đến bức thư còn thiếu,nhưng lại thôi.


 Tối ấy, khi chuẩn bị đi ngủ, Bernard đưa ra một bức thư.


 -Em tìm cái này phải không?


Chị giằng nó từ tay anh:


 -Phải, anh tìm thấy nó ở đâu?


 -Chẳng phải ở nơi cách xa cả ngàn cây số. Anh hỏi Jonathan có phải nó ngừng lại phát thư ở mỗi nhà không.


 -Em cũng đã hỏi câu ấy...


  Jonathan nói mỗi nhà, tức là gồm cả nhà chúng ta. Thằng bé hào phóng ấy không bỏ quên nhà chúng ta.


  -Ở đây ư? Nhưng em không tìm thấy thư ấy.


  -Anh cũng không thấy.


  -Là Michael?


  -Em hãy nhìn con tem. Thư này được gửi đi vào ngày 1.7.1969, ngày Thái tử Charles nhận tước Ông hoàng xứ Wales. Đây là con tem kỷ niệm và phong bì được đóng dấu ngày phát hành, nó đáng gía ngàn vàng dưới con mắt một nhà sưu tập tem.


 Michael đã giữ nó ngay từ đầu.


  -Con mình tìm thấy phong thư trên thảm, nó vứt lá thư và nhét phong bì vào album tem .Anh nhặt lá thư trong giỏ giấy. Anh nghĩ Michael chẳng hề liếc mắt đến lá thư đâu.


 Sally đỏ mặt


  -Em hy vọng thế.Anh không phạt con chứ?


 Bernard lắc đầu:


  -Không. Anh còn hứa với con anh sẽ lục lại xấp thư của anh xem có còn con tem qúy nào nữa không.


  -Xấp thư của anh? Thư nào?


  -Thì thư tình em gửi cho anh.


  -Anh vẫn còn giữ những thư em viết à?


 Bernard cầm tay vợ:


 -Phải. Nhưng anh đã cẩn thận cất chúng trong ngăn tủ và khóa lại.

 

 

KIM KỲ sưu tầm 

back to top