Kim Quy

Kim Quy

Truyện Ngắn: MỘT CHUYẾN VỀ QUÊ ĂN TẾT

  • Đăng tại Truyện

MỘT CHUYẾN VỀ QUÊ ĂN TẾT

Truyện Ngắn của Nguyễn thị Thanh Dương 

Từ ngày đặt mua vé máy bay để cả nhà cùng về Việt Nam ăn Tết, anh Bông thấy lòng lâng lâng, vui vẻ, anh nôn nao chờ đợi từng ngày. Anh sẽ về Việt Nam vào đúng ngày 23 Tết, kịp đưa ông Táo về trời, rồi hưởng 3 ngày Tết, những điều thật cũ mà bỗng mới trong anh, rồi anh sẽ đi thăm bà con, lối xóm, bạn bè gần xa, phố cũ thân quen…

Chỉ có mấy tuần lễ ở Việt Nam, mà anh sẽ sống lại cả một phần đời ròng rã mấy chục năm đã qua. Bao nhiêu kỷ niệm sẽ sống lại trong anh như chưa hề xa cách10 năm nay. Thấy người ta về chơi Việt Nam nhiều quá, anh cũng ham, nhưng mãi tới bây giờ vợ chồng anh mới có đủ điều kiện.Từ ngày được người chị ruột anh bảo lãnh sang Mỹ, vợ chồng anh miệt mài làm việc và sanh con đẻ cái, thì giờ đâu, tiền bạc đâu mà về Việt Nam như thiên hạ? Bởi chị muốn, thà không về thì thôi, đã về phải cho đích đáng.

Cứ ngày nào rảnh là chị Bông lại đi mua đồ, lúc thì ở Mall đang on sale, lúc thì ở chợ Wal-Mart, chỉ còn vài ngày nữa là ngày lên đường, thì mấy cái va ly đã đầy ngắc.

Buổi tối, thấy chị đang xem xét lại các món quà, anh hỏi chị : 
- Xong hết rồi hả em?
- Coi như…tạm xong!
- Ủa! còn thiếu món gì nữa?
- Đây nè, đọc đi thì biết! Chị đưa cho anh lá thư của má chị, từ Việt Nam gởi sang. Và anh đọc:“ Hai con và hai cháu yêu quý của má, Được tin gia đình con sẽ về Việt Nam vào dịp Tết này, má mừng quá trời. Má vốn hay mất ngủ, có tin vui này má càng mất ngủ hơn (vậy con nhớ mang về cho má ít thuốc ngủ).

Các con về đây má sẽ nấu các món ăn ngày Tết Việt Nam như cá lóc kho nước dừa, khổ qua nhồi thịt hầm, gỏi cuốn tôm thịt, bánh tráng cuốn tai heo, dưa giá, dưa món.. v..v. Lâu lâu mới có dịp về Việt Nam, vậy con mua cho má đủ loại mỹ phẩm từ A tới Z, để nhà xài, và biếu tặng bà con lối xóm làm quà.…

Đọc tới đây, anh quay ra phàn nàn với chị:
- Cái điệu này, em phải…bê luôn cả chợ Wal-Mart về cho má xài quá!

Rồi anh lại đọc thư tiếp: “Đó là phần quà lặt vặt. Sau đây là ba mục tiêu chính:


- Thứ nhất là khi về tới Việt Nam, con mua cho thằng em con một cái xe gắn máy, để nó có chạy với người ta.
- Thứ nhì là em gái con sắp lấy chồng, con cho má tiền để làm đám cưới và cho nó ít vốn để về nhà chồng làm ăn, buôn bán, có của thì họ đỡ khinh nhà mình con à!
- Thứ ba là con mua cho má đôi bông tai, sợi dây chuyền và chiếc vòng cẩm thạch đeo tay. Hồi nào tới giờ mang tiếng là có con gái ở nước ngoài mà má đơn sơ quá cũng kỳ. Má đeo vàng bạc lên người là làm tăng giá trị…cho con. Người ta sẽ khen con hiếu thảo biết lo cho má, biết thương yêu má…”

Anh Bông càng đọc càng toát mồ hôi như đang đọc một …truyện ma! Chịu không nổi, anh lại ngừng đọc thư:


- Em ơi, bộ má tưởng em vừa trúng số độc đắc hả? má có hiểu tụi mình đang phải trả góp tiền nhà không? Trả góp tiền hai cái xe không? Cả nhà mình toàn xài đồ on sale không?
- Em không nói làm sao má biết? Mà ngu gì nói ra cho mất…thể diện!

Anh Bông đọc tiếp lá thư “Thôi, má chỉ đơn sơ có bấy nhiêu. Chúc gia đình con lên đường bình an và đoàn tụ với má trong dịp Tết này. Má đang trông chờ các con từng giây từng phút.
Ký tên,
Mẹ hiền của các con.
Tái bút: À quên, con nhớ mua cho má vài chục mét vải “soa” để má may đồ bộ, vải soa ngoại mặc mới sang, nhìn vô là biết đồ “ngoại” liền.”

Anh Bông lại phê bình:


- Lạ lùng ghê! Ở Việt Nam đòi vải vóc,quần áo ngoại, trong khi người ở Mỹ lại thích về Việt Nam mua sắm quần áo, khen rẻ và đẹp.
- Người đời ai chẳng thích của lạ ! Chị bênh vực cho má chị.

Tưởng đã hết lá thư, ai dè vẫn còn một đoạn nữa :“Tái bút đợt hai: À quên,ngoài ít thuốc ngủ như má đã dặn ở trên, con mua thêm vài thứ thuốc Tây khác như thuốc nhức đầu, đau bụng, thuốc cảm, cúm,thuốc ho, tiêu chảy, thuốc giảm đau, và…nhiều loại nữa mà bây giờ má chưa kịp nghĩ ra. Để phòng khi ốm đau là có thuốc uống liền, mà lại thuốc thứ thiệt nữa, bảo đảm sẽ khỏi bịnh, ở Việt Nam thuốc tây cũng làm giả nữa con ơi.

Tái bút đợt ba: À quên, Mấy lần trước con nói chuyện với má, khen nước mắm ở bển ngon lắm, toàn đồ xuất khẩu từ Thái Lan, từ Việt Nam qua. Nào nước mắm mực, nước mắm hai con cua, nước mắm cá cơm Phú Quốc.Vậy con có thể mang về cho má, mỗi nhãn hiệu vài chai để Tết này má ăn thử cho biết không?.Con sướng thiệt! đồ ăn nào cũng ngon, cũng rẻ, chứ má ở Việt Nam thứ gì cũng giả được hết, có ngày chết vì ngộ độc ăn uống không biết chừng! Thôi, hẹn được nếm thử nước mắm cao cấp của con mang về. Nếu còn thiếu gì thì má sẽ gởi thư sang bổ sung sau”.

Anh Bông buông rơi tờ thư xuống bàn:
- Trời ơi, một lá thư tái bút tới ba đợt, mà còn e chưa đủ. Má em tưởng từ đây về Việt Nam gần như Sài Gòn -Chợ Lớn vậy đó, đòi xách về mấy chai nước mắm!! Lên máy bay, thời buổi chiến tranh, khủng bố này, ngửi mùi nước mắm là cả máy bay phải di tản khẩn cấp ngay.

Chị Bông than thở:
- Tội nghiệp má quá! Đến chai nước mắm cũng ước ao, vì ở Việt Nam món gì cũng rổm, cũng giả, bất chấp mạng sống của con người..

Anh Bông lẩm nhẩm tính toán:
- Không kể tiền máy bay, tiền quà cáp đáp ứng theo những yêu cầu của má em chắc cũng lên đến chục ngàn đô chứ ít gì!

Chị Bông gạt đi:
- Nhiêu thì nhiêu! Cả chục năm nay mới về, xài cho đáng, cho thật hoành tráng, người ta còn cho cha mẹ, anh em vài chục ngàn đô, xây nhà cao cửa rộng kia kìa.
- Người ta khác, mình khác May mà gia đình anh ở cả bên này.

Nếu không, hãy thử tưởng tượng má anh cũng ra một cái list như má em thì chắc mình phải…bán nhà để lo tròn chữ hiếu cho đôi bên ?
- Bởi biết vậy nên em mới dám dốc hết sức lực cho má em. Anh à, mình còn làm ra tiền, hãy vui vẻ để ăn một cái Tết Việt Nam và người nhận quà cũng vui vẻ nghe anh.
Chị dịu dàng năn nỉ, đó là những lúc chị cần đến anh, chứ bình thường, chị là người được anh năn nỉ. Vợ đã tính rồi thì làm sao anh cãi lại được?

Xếp lại gọn gàng kẹo bánh quà cáp xong, chị Bông quay ra xếp quần áo của chồng con và tới phần chị, chị lôi từ trong closet ra đủ loại áo quần, váy ngắn, váy dài, quần jean, quần tây, áo xanh, áo đỏ…Cái nào chị cũng ngắm nghía rồi bỏ vào valy.

Anh ngạc nhiên:
- Sao em mang nhiều quần áo thế? Em có phải là người mẫu đi trình diễn thời trang đâu? mình về Việt Nam có ba tuần, mang vài bộ là đủ rồi.

Chị lườm nguýt anh:
- Để người ta cười em hả? Việt kiều gì có ba bộ quần áo?
- Nhưng cái áo lạnh lông xù to kềnh to càng kia em mang theo
làm gì? Chật cả va li
- Em sẽ mặc cái áo này. Chị khẳng định.
- Tết ở Việt Nam nắng ấm, mà em mặc áo lạnh? Anh kêu lên.
- Dĩ nhiên, ai mà không biết điều đó, nhưng cái áo lạnh lông xù đẹp thế này không mang về cũng uổng. Nếu không đời nào người ta biết rằng ở bên đây em đã mặc cái áo mùa Đông lộng lẫy như tài tử Hollywood này.
- Và đời nào người ta biết rằng em đã mua cái áo này ở tiệm đồ cũ có mười đồng bạc?
- Suỵt! Về bên Việt Nam anh đừng có lỡ miệng nói ra nhé. Nếu không đừng trách em.

Chỉ nhìn chị lúi húi xếp ra xếp vào hết bộ nọ đến bộ kia, anh cũng thấy hoa mắt và nhức cả đầu, thà lên giường, dù mất ngủ cũng còn sung sướng hơn .Tới khuya, chị vào giường thấy anh vẫn còn thao thức, chị ngạc nhiên:
- Tưởng anh ngủ rồi chứ? Bộ nôn nóng về Việt Nam nên chưa ngủ được hả?

Anh nói lẫy:
- Phải, nôn nóng quá nên lòng dạ nào mà ngủ được!
Trong bóng đêm chị không nhìn thấy khuôn mặt kém vui của anh, bởi chính lòng chị đang vui, đang nôn nóng thật sự, chị tưởng anh cũng thế. Chị âu yếm ôm lấy anh, thủ thỉ:
- Thôi ráng ngủ đi, mai còn đi làm, để dành sức khoẻ vài ngày nữa về Việt Nam chơi vui…

Chợt chị cao giọng vì chợt nhớ ra:
- Anh nè, em báo anh một tin vui nữa là dì Ba và dì Tư ở dưới quê Cần Thơ sẽ dẫn đàn con, đàn cháu lên Sài Gòn ăn Tết với tụi mình đấy, nên em cũng cần một ít tiền mặt để tặng hai dì và lì xì cho xấp nhỏ.

Anh giật cả mình:
- Lại thêm một món tiền chi phí nữa hả? Dì ba, dì Tư nào? Có phải hai bà Dì có ông bố ghẻ là anh em con chú con bác với bà ngoại kế của em đó không?
- Chứ còn ai vào đây nữa.Vòng vo tam quốc thế mà anh nhớ không sai tí nào! Chị tấm tắc khen anh.

Anh cố phân bày:
- Xét ra hai dì đâu có dính líu máu mủ ruột thịt gì với nhà mình đâu em.
- Dù sao cũng là liên hệ, là tình cảm bấy lâu. Mấy lần em gởi quà về, má cao hứng về quê chơi và cho hai dì chút tiền. Bây giờ nghe tin mình về Việt Nam ăn Tết, hai dì lên chơi đáp lễ.

Thấy anh không hào hứng, chị đề nghị:
- Hay là…em gọi phone về cho hai dì, nói đừng lên thành phố nữa, nghe?

Anh mừng quá, nói như reo lên:
- Đúng đó em, đường xá xa xôi, từ quê lên tỉnh tội nghiệp mấy dì quá.
- Nhưng bù lại tụi mình… sẽ về quê thăm họ để bày tỏ nhiệt tình, cũng vẫn biếu họ tiền và lì xì xấp nhỏ. Vậy anh chọn cách nào?

Anh cụt hứng:
- Cách nào cũng tốn tiền như nhau, có gì đâu mà lựa chọn?
Chị vẫn cao hứng:
- Khác chứ anh, nếu mình về quê, sẽ được nhìn lại cảnh làng quê êm đềm. Em sẽ nói hai dì nướng gà bọc đất sét cho anh thưởng thức món đặc sản đồng quê.
- Êm đềm cái gì? Trầy da tróc vẩy mới đến được ngôi làng khỉ ho cò gáy đó. Anh nhớ thuở mới cưới em, theo em về quê ngoại, mang tiếng ở Cần Thơ, tưởng đâu ngay bến Ninh Kiều, ai dè trong một ngôi làng hẻo lánh ở thị xã Long Tuyền, mấy lần xe, mấy lần đò, mấy lần đi bộ qua cánh đồng hoang mới tới… một con rạch, đứng bên này bờ phải hò hét lên thật to, cho người bên kia bờ nghe thấy mà đem ghe ra chở mình sang. Lúc đó mới thật sự tới được nhà hai bà dì của em. Cho nên anh chẳng ngu gì chịu gian khổ lần nữa để ăn món gà bọc đất sét nướng của dì em trong mùa đại dịch cảm cúm này.
- Ừ nhỉ, em quên mất đang dịch cúm gà. Khổ quá, Tết nhất người Việt mình cần có món gà để cúng quẩy, để làm cỗ, món nọ món kia, thế mà phải nhịn.Vậy thôi, cứ để hai dì lên thành phố cho mình đỡ mệt, bù lại, mình cho hai dì tiền rộng rãi để chi phí xe cộ đường xa.


Chị lại cao giọng lần nữa, và làm anh giật mình lần nữa:
- Anh nè ! Thấy anh nằm im, chị hỏi:
- Ủa, anh ngủ rồi hả?
- Em cứ “Anh nè” hoài làm sao anh ngủ nổi ? Mỗi cái “Anh nè”
là thêm một chi phí, cũng như thư của má, mỗi lần tái bút má lại “À quên” là thêm những món cần gởi. Hai má con em giống nhau y chang.
- Anh nè, em mới nghĩ ra một điều vô cùng tuyệt vời, mình phải đi Đà Lạt nữa, mùa Xuân Đà Lạt chắc là đẹp lắm? thành phố của các loài hoa mà . Ngày tư ngày Tết bao cả nhà một chuyến du Xuân cho vui và thuê thợ quay phim, chụp hình làm kỷ niệm. Mình sẽ thuê một cái xe van lớn nghe anh. Nghĩ cho cùng, hồi còn ở Việt Nam, vợ chồng mình nghèo, đâu dám mơ đi Đà Lạt chơi, nay có điều kiện, tội gì không hưởng?
- Trời ơi! Không phải chỉ má em tưởng em trúng số độc đắc. Mà chính em, làm như em đang xài tiền trúng số vậy đó. Em có biết là sau chuyến đi Việt Nam ăn Tết này, vợ chồng mình sẽ sạt nghiệp không?
- Nhằm nhò gì! Người ta năm nào cũng về, mình 10 năm mới về thì tốn kém mấy cũng chơi luôn. Anh hờn mát quay mặt vào trong tường. Chị lại gọi:
- Anh nè…
Anh cảm tưởng như đang bị chị “khủng bố”, anh kinh hòang gắt :
- Gì nữa? Em có biết mỗi lần em gọi “Anh nè” là anh giật bắn người lên như vừa dẫm chân vào gai nhọn hay cục than đỏ hồng không?
Chị nũng nịu:
- Anh nè, lần này em chỉ muốn chúc anh ngủ ngon thôi mà. Good night anh !

Nói xong chị ôm hôn anh, dịu dàng và dễ thương quá, làm lòng anh mềm lại. Cái trò “mỹ nhân kế” của chị không bao giờ cũ đối với anh. Nhưng nghĩ tới sắp sửa phải ra bank rút cả chục ngàn đô cho một chuyến về Việt Nam ăn Tết, anh thấy xót xa quá!

Dĩ nhiên đi chơi là phải tốn kém, phải quà cáp cho người thân, nhưng cái giá này quá đắt, thậm chí vô lý, trong khi ở đây, cuộc sống hàng ngày có bao nhiêu lo âu tính toán, vậy mà về Việt Nam cứ tiêu xài vô tư, thoải mái, cho đẹp mặt đẹp mày. Rồi về lại méo mặt méo mày.

Anh cố tìm giấc ngủ, mấy đêm trước anh còn đi vào giấc ngủ với bao nhiêu là hình ảnh vui tươi, tuyệt vời của ngày Tết Việt Nam. Vậy mà đêm nay những hình ảnh đẹp đẽ ấy biến đi đâu hết?
Anh mong sao sáng mai thức dậy, đọc báo thấy tin chính quyền Việt Nam vừa…ra lệnh cấm không cho Việt Kiều về quê ăn Tết nữa. Chắc lòng anh sẽ…vui như Tết. Khỏi phải đi đâu cả.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

Hình Internet

Ngọc Lan sưu tầm

 

Nghệ thuật xăm mình

Nghệ thuật xăm mình

Sean Bảo

Nhận xác vua Anh Quốc Harold II.

Theo Lĩnh Nam Chích Quái (phần Hồng Bàng Thị Truyện) thì người dân Bách Việt đã có tục xăm mình hình thủy quái để tránh thuồng luồng gây hại khi xuống nước đánh bắt cá. Các binh sĩ thời nhà Trần cũng xăm lên tay 2 chữ “Sát Thát” chống quân xâm lược Nguyên Mông. Cũng theo các nhân vật huyền thoại đầy ly kỳ của Kim Dung, các bí kíp võ lâm thường được xăm lên da, vĩnh viễn theo thân xác chủ nhân khát vọng bá chủ thiên hạ.

 

Xăm mình có từ ngàn xưa ở mọi tầng lớp. Người La Mã xưa xăm mình để đánh dấu giúp nhận dạng các nô lệ, tù nhân, kẻ đào ngũ. Họ dùng vỏ cây, rỉ đồng và acid sulfuric làm mực xăm. Xăm mình phổ biến bắt đầu từ trong quân đội, nơi các binh sĩ đối diện với các chết, nơi chốn đấu trường nhận dạng phe phái và cả nhận dạng khi bị giết.

Trong một trận chiến xưa năm 1066, vua Anh Harold II khi chống trả quân Norman xâm lăng, bị chém lột áo quần không còn nhận dạng được, phải nhờ vết xăm hàng chữ: Edith và England trên ngực, thì hoàng hậu mới nhận ra.

Từ xăm mình theo tiếng anh Tattoo, dựa theo tiếng thổ dân các quần đảo nam Thái Bình Dương gọi là Tatau, khi thuyền trưởng James Cook đến vào năm 1769, nhìn thấy các hình xăm đầy trên cơ thể thổ dân.

Ở Mỹ thời hoang sơ, trước khi các nhà thám hiểm và thương buôn Châu Âu đến, người thổ dân da đỏ cũng xăm mình vằn vện, vừa ngụy trang, đe dọa kẻ thù và tín ngưỡng thần linh. Người Châu Âu ghi chép sổ sách, đặt tên và nhận dạng họ qua các vết xăm. Khi cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc, giữa các quốc gia Anh, Pháp và người Mỹ ở thuộc địa, thì sổ sách tuyển binh cũng dựa vào các vệt xăm và phân định các bộ lạc, các nhóm lính.

Ðến khi cuộc chiến 7 năm 1754-1763 giữa Pháp và Anh tranh giành thuộc địa ở Bắc Mỹ, quân đội Hoàng gia Anh ép nhập ngũ các thủy thủ Mỹ, mặc dù họ có “Sailor Protection Certificate”, giấy xác nhận thủy thủ năm 1796 là công dân Mỹ đều bị phớt lờ và xé bỏ. Ðể tránh nhập ngũ họ phải xăm mình làm dấu mình là thủy thủ Mỹ. Cánh tay phải có xăm hình chiếc tàu, tay trái là năm sinh. Ngoài ra còn có quê quán, người thân…

Thủy thủ Mỹ xăm mình vào tay để xác minh mình có Sailor Protection Certificate năm 1796

Trong mắt người Mỹ trắng thì xăm mình là “tội phạm”, “mọi rợ”, không khai hóa và văn minh. Quan niệm này thay đổi khi Nội Chiến nổ ra. Các lính hải quân là những người đầu tiên xăm mình trong các binh chủng. Họ xăm mình để nói lên cá tính đặc thù và của cả nhóm. Họ cũng tin rằng xăm mình sẽ hù dọa, làm kẻ thù hoảng sợ khi đối diện trận chiến.

Những hình xăm thường là lá cờ Mỹ, Con Ó, Chú Sam, Nữ thần Columbia tượng trưng cho nước Mỹ mới khai sanh, tướng George Washington… Chiến tranh lan rộng thì xăm mình cũng lan đến các kỵ binh và bộ binh. Dù trước đó các hình xăm đã được xăm từ các bàn tay vô danh trong khắp chốn dân dã, nhưng Martin Hildebrandt được xem là nghệ nhân xăm mình đầu tiên được sử sách ghi lại.

Năm 1846 Hildebrandt di cư từ Ðức đến mở tiệm xăm đầu tiên ở New York. Từ năm 1846 và đến những năm đỉnh điểm của nội chiến, Hildebrandt đã trổ tài xăm mình lên hàng ngàn binh sĩ Union khi ông gia nhập Quân đoàn Potomac của Union.

Hình xăm phổ biến là con heo và con gà trên chân, vì chúng là 2 con vật sống sót khi tàu đắm, bởi gà heo thường nhốt trong cũi gỗ, khi tàu đắm nổi trên sóng nước. Hình xăm còn mô tả các trận chiến, các chiến hạm Monitor và Merrimac, Alabama và Kearsage… Một nhóm thủy thủ tự xưng là “Star Gang” đã xăm trên trán ngôi sao để thể hiện lòng ái quốc với chiến hạm Alabama.

Ngoài sự thể hiện cá tính qua nét xăm, binh lính xăm mình hầu hết cho việc nhận dạng cá nhân trong cuộc chiến tranh kinh hoàng, mà cái chết là điều tất yếu. Nét xăm với các hình vẽ, ký hiệu, màu sắc đặc trưng là một tấm thẻ bài trong quân ngũ. Cái neo cho hải quân, đầu ngựa cho kỵ binh, súng dài cho bộ binh…

Các vạch thêu cấp bậc, các lon quân hàm đều bị rách nát, bị lột, nhưng các hình xăm trên thân hình các chiến binh thì còn mãi. Binh lính còn xăm mình để tưởng nhớ các kỷ niệm với các huynh đệ cùng vào sanh ra tử, những người thân yêu nơi xa, những kỷ niệm khó quên trong đời, với các chữ cái, ký tắt tên gọi hay quê nhà…

Dụng cụ kim xăm thô sơ

Hildebrandt không chỉ xăm mình cho phe Union mà còn cho các binh sĩ của phe Confederate. Với các chiến sĩ phe miền Nam, ông thường lấy giá thấp hơn, bởi lẽ họ không có tiền… Thời đó, phương thức xăm mình rất cổ điển, đau đớn và thiếu an toàn vệ sinh.

Khi Robert Sneden, một lính Union bị bắt làm tù binh và nhốt trong trại giam khét tiếng Andersonville của Confederate, Sneden đã chứng kiến một tay xăm mình tên Old Jack đã dùng 6 đến 12 cây kim nhỏ 0.35mm, cột lại và xăm cho các tù binh. Giá từ 1 đến 5 đô (chừng 30-150 đô ngày nay). Old Jack nhúng kim vào mực đen, đỏ. Mực được trộn với bột thuốc súng. Kim được châm vào da ở góc nghiêng 45 độ, hơn 1 giờ để hoàn thành một hình xăm. Máu và mực được lau rửa bằng nước lã, nước tiểu. Ít khi có cồn hay rượu rum hoặc brandy để sát trùng. Da thịt sưng vù, tấy đỏ, đau nhức vài ngày trời.

Xăm mình trở nên phổ biến, và các lều trại đều có các amateur hành nghề, bởi các binh sĩ ngày ấy đều không muốn bị chôn cất trong các huyệt mộ vô danh. Các hình xăm thông dụng là trái tim, lá cờ, súng, lá chắn, tên họ, binh chủng… đến các vị thần Vệ nữ, đôi khi các phụ nữ đẹp khỏa thân một nửa.

Một thủy thủ đoàn trên tàu sau chiến trận đã xăm hình ngôi sao trên trán. Nhưng các nét xăm này lại là mối nguy cho họ ở trận chiến sau này. Trong một trận giáp lá-cà, một pháo thủ xăm hàng chữ Fort Pillow trên cánh tay (nơi quân Union bị thảm sát). Phe Union khi thấy nét xăm đã giận dữ vây quanh. Lưỡi lê và các viên đạn ghim nát chàng lính này.

Maud Wagner, phụ nữ Mỹ trắng đầu tiên xăm mình

Martin Hildebrandt, nghệ nhân xăm mình đầu tiên cho lính Mỹ

Phải đến năm 1880 khi O’Reilley phát minh ra máy xăm bằng điện, dựa theo cây bút chạy bằng điện của Thomas Edison, thì xăm mình mới được nâng lên thành nghệ thuật bằng các họa tiết sắc màu tinh tế, gọi là tattaugraph. O’Reilley mở studio xăm mình năm 1875 ở New York và dạy nghề, ông tuyên bố: “Một thủy thủ không có hình xăm cũng giống như con tàu thiếu rượu mạnh, không thể ra khơi được”.

 Khách hàng xăm mình không chỉ là binh sĩ mà còn có các sĩ quan. Ngay cả phụ nữ. Ở các bến cảng và đô thị đều mọc lên các studio xăm mình. Vết xăm theo các thủy thủ lênh đênh sóng nước đi khắp thế giới.

Xăm mình đã phổ biến ở các đoàn xiếc, các gánh trình diễn các show kỳ dị, quái đản… vào những năm 1850. Nổi bật là gánh xiếc P.T. Barnum gây tiếng vang quốc tế. Ngoài các tiết mục xiếc và thú vật, còn có các người da đỏ, đàn bà, người lùn, thú vật được xăm mình.Maud Wagner, được xem là phụ nữ Mỹ trắng đầu tiên xăm mình.

Những năm đầu 1900, bà làm diễn viên xiếc, nhào lộn và uốn dẻo ở Hội chợ Quốc tế St. Louis. Ở đó bà gặp Gus Wagner, một nghệ nhân xăm mình nổi tiếng. Từ một nét xăm trên cánh tay, dần dà bà xăm luôn toàn bộ thân thể. Họ cưới nhau và Wagner trở thành tay xăm chuyên nghiệp.

Các mẩu xăm của thủy thủ

Trong một thời gian dài, xăm mình vẫn đứng bên lề dòng chảy văn hóa nghệ thuật chính thống của Mỹ, chỉ phổ biến ở binh sĩ, các băng đảng, các nhóm bikers, rạp xiếc… Phải đến sau 1970, khi các phong trào phản chiến, trào lưu phản văn hóa, các hoạt động và xu hướng nổi loạn thể hiện sự độc lập cá tính, thì các ban nhạc, các ngôi sao thể thao, các diễn viên điện ảnh đã xăm mình dù ở chỗ kín hay phơi trần.

Xăm mình đã hòa nhập trở thành nghệ thuật body art trong mắt người dân Mỹ. Xăm mình cũng chịu nhiều thăng trầm trong lịch sử, quân lính bị cấm đoán mang họa tiết phụ nữ khỏa thân trong Thế chiến 2, cũng như giới hạn kích thước và một số nơi trên cơ thể. Do nguy cơ lây bệnh viêm gan siêu vi mà tiểu bang New York đã cấm các nghệ nhân hành nghề xăm mình cho đến năm 1997; Massachusetts cấm đến năm 2000.

Theo thống kê gần đây thì 38% người dân Mỹ ở độ tuổi từ 18 đến 29 có ít nhất một hình xăm. 17% trong số đó hối tiếc là đã xăm mình. Và phần lớn lý do là đã xăm tên người yêu muôn thuở. Nay cái thuở “thiên thu” đẹp ngời ấy không còn nữa.

“Xa quê hương, nhớ mẹ hiền”. “Hận đời đen bạc, hận kẻ bạc tình”. Những hình xăm trái tim yêu quê hương, yêu người tình, nhớ mẹ, thương con…không nằm trong lá thư từ tiền tuyến mà còn nằm trên làn da sậm màu chinh chiến, nằm trên lồng ngực oai hùng, nơi tuổi trẻ và chí lớn mang hoài tình yêu bất tử cho quê hương đất nước. Ðó là những hình ảnh chàng lính trẻ trong bất kỳ cuộc chiến tang thương nào.

Khám phá thế giới hình xăm truyền thống ở Nhật Bản

෴෴ ❤️෴෴

Một nghệ nhân xăm mình Nhật Bản đã dành cả đời để bảo quản và truyền bá văn hóa xăm truyền thống của đất nước qua những hình vẽ rồng, hiệp sĩ và samurai.

Một phụ nữ Nhật Bản với hình xăm kín lưng. Dù xăm mình đã trở thành một loại hình nghệ thuật ở nhiều nước phương Tây, ý nghĩa của nó đang dần mai một ở Nhật Bản.

Nhiều người Nhật Bản xem hình xăm là dấu hiệu của sự đe dọa, hoặc biểu hiện mối liên kết với xã hội đen.  Thị trưởng Toru Hashimoto của thành phố Osaka từng cấm công chức địa phương này xăm trổ từ năm 2012.

Hình xăm từng là biểu tượng lịch sử của Nhật Bản. Một người có thể chọn xăm kín toàn thân hoặc trên một số bộ phận cơ thể nhất định. Vào thời Edo (1603 - 1868), xăm là một hình thức trừng phạt tù nhân trong các trại giam. Đến thế kỷ 18, phần lớn vũ nữ trong phố đèn đỏ đều xăm mình. 

Nghệ nhân Horiyoshi đời thứ 3 đã dành phần lớn cuộc đời để bảo quản và lưu truyền giá trị nghệ thuật của truyền thống xăm mình tại Nhật Bản, với những hình vẽ rồng, hiệp sĩ và samurai. "Những hình chạm trổ đều phải gắn với bối cảnh lịch sử.

Tuy nhiên, ý nghĩa này không còn nguyên vẹn trong thời hiện đại. Phần lớn mọi người chỉ thích những hình vẽ trông thật 'ngầu' hoặc dữ tợn, nhưng nó vô nghĩa", ông Horiyoshi nói. 

Nghệ nhân Horiyoshi đời thứ 3 đã dành phần lớn cuộc đời để bảo quản và lưu truyền giá trị nghệ thuật của truyền thống xăm mình tại Nhật Bản, với những hình vẽ rồng, hiệp sĩ và samurai. "Những hình chạm trổ đều phải gắn với bối cảnh lịch sử.

Tuy nhiên, ý nghĩa này không còn nguyên vẹn trong thời hiện đại. Phần lớn mọi người chỉ thích những hình vẽ trông thật 'ngầu' hoặc dữ tợn, nhưng nó vô nghĩa", ông Horiyoshi nói. 

Những người muốn xăm tại cơ sở của ông phải đặt chỗ từ rất sớm. Ông không nhận học viên và luôn tự mình chạm trổ cho khách.

Người nghệ nhân kỳ cựu cũng thành lập một trung tâm lưu trữ vào năm 2000, bảo quản những hình ảnh, tài liệu liên quan đến hình xăm theo lịch sử.

 

Kim Quy st và tổng hợp

  

Triệu phú Sài Gòn xưa

Triệu phú Sài Gòn xưa

════♣ ♣════

 

Tôi vốn xuất thân ‘phó thường dân’. Từ thời thực dân Pháp, đến Việt Nam Cộng Hòa rồi lại sang chế độ này… thời nào tôi cũng là anh ‘phó thường dân’ nên rất khó viết về những nhân vật vang bóng một thời của Sài Gòn xưa. Họ là những ‘nhân vật nổi tiếng’ (cả tiếng ‘lành’ lẫn tiếng ‘dữ’) nên rất khó len vào ‘thế giới’ của họ. Có chăng chỉ là những góp nhặt các tư liệu để viết về họ. Tuy nhiên, sẽ là một thiếu sót lớn nếu không có ít dòng về những nhân vật này. Họ chính là những ‘viên gạch vàng’ và cũng có thể là những ‘hòn đất xấu xí’ trong việc xây dựng một cộng đồng nhiều màu sắc của Sài Gòn.

 

Nhưng họ là ai? Câu trả lời tùy thuộc vào việc xắp xếp họ theo nhóm. Có thể bao gồm những người cầm quyền, những ông Tướng cầm quân, những người tranh đấu cho lý tưởng, những ‘thiểu số’ tài phiệt cầm trong tay tiền của ‘đa số’ dân chúng và kể cả những ‘anh hùng hảo hán’ nắm trong tay sinh mạng của người khác.

Đối với Sài Gòn ngày xưa, giàu đến mức ‘triệu phú’ được coi là ‘nứt đố đổ vách’. Chẳng bù với thời nay, tiêu chuẩn giàu đã lên đến mức ‘tỷ phú’ hay cao hơn nữa là ‘triệu phú đôla’. Mới đây, theo một danh sách không chính thức, một số nhà giàu người Việt, đặc biệt là ‘tư sản đỏ’, thậm chí đã gia nhập ‘câu lạc bộ tỷ phú’ của thế giới. Tiền của họ từ đâu đến? Hỏi tức là đã trả lời…

Theo đạo lý từ nghìn xưa, người ta chỉ trọng những người làm giàu một cách chân chính, bằng mồ hôi nước mắt và tài trí của chính mình. Những kẻ làm giàu ‘cơ hội’ cuối cùng cũng bị thế gian điểm tên, chỉ mặt.

Ngạn ngữ Anh có câu: “Một lương tâm tội lỗi không cần kẻ buộc tội” (A guilty conscience needs no accuser). Mỗi con người đều có ngày phán xét cuối cùng của riêng mình. Hơn nữa, người Việt vẫn thường quan niệm, của phi nghĩa không bền, hoặc của thiên trả địa… Vấn đề chỉ là thời gian.

Khuôn viên bên trong nhà chú Hỏa, nay là Bảo tàng Mỹ thuật SG.

Ngày trước, Chú Hỏa (1845-1901) hay Hứa Bổn Hòa, Hui Bon Hoa, Jean Baptiste Hui Bon Hoa, một thương nhân người Việt gốc Hoa, là một trong những người giàu nhất Sài Gòn. Chú Hỏa gốc ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, tên khai sinh là Hứa Bổn Hòa (Hui Bon Hoa), thuộc dòng dõi những người nhập cư vào miền Nam Việt Nam sau khi người Mãn Châu đánh bại nhà Minh.

Vào thời Pháp thuộc, để vinh danh Chú Hỏa, một con đường đã được mang tên Hui Bon Hoa và sau này, vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa, đường được đổi tên thành Lý Thái Tổ, nơi có tiệm phở Tàu Bay nổi tiếng Sài Gòn với tô ‘xe lửa’. Trên đường Lý Thái Tổ, gần Ngã 6 Cộng Hòa, có một cụm gồm 7 biệt thự chiếm một khu đất hình tam giác là tài sản của Chú Hỏa ngày nào. Hiện giờ khu ‘tam giác vàng’ này đã trở thành khu Nhà khách Chính phủ…

Một số nhà của chú Hỏa. Từ trái sang phải: Số 97 Phó Đức Chính;

Khách sạn Majestic; Khách sạn Palace – Long Hải.

Theo lời đồn đãi có tính cách ‘huyền thoại’, việc làm giàu của chú Hỏa ngoài sự cần cù, chịu thương chịu khó, cũng còn có chút may mắn. Người ta kể, có một ông Tây qua Nam kỳ làm ăn, sau một thời gian dài đã gom góp được một số tài sản rất lớn. Vì một tai nạn bất ngờ, ông chết mà chẳng kịp trăng trối. Luật sư yêu cầu con cái ông sang Việt Nam thừa kế di sản của người cha quá cố.

Người con này lại không có ý định sống ở Việt Nam nên cho phát mãi hết tài sản của cha mình. Tài sản này rất lớn, gồm nhà cửa, đồn điền, cơ sở kinh doanh và một số tiền lớn gửi ở ngân hàng. Người con bán tất cả đồ đạc trong nhà vì người chủ mới không muốn sử dụng đồ đạc của người chết.

Lúc đó chú Hỏa đang mua bán ve chai. Chú bèn đến thầu mua tất cả những đồ lặt vặt ấy. Trong số những đồ đạc linh tinh này, có một tấm thảm đã cũ nhưng còn dùng được. Chú Hỏa đem tấm thảm chải sạch bụi, định để bán lại thì khám phá ra cả một tài sản to lớn gồm vàng lá, tiền vàng, giấy bạc loại lớn và một số kim cương… Có số tiền ‘từ trên trời rơi xuống’ này, chú Hỏa bắt đầu mua sắm nhà cửa, đất đai, xây nhà cho thuê, đầu tư kinh doanh và trở thành người giàu tiếng tăm nhất trong giới người Hoa lẫn người Việt tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn vào đầu thế kỷ 20.

Từ một anh Tàu mua bán ve chai trên đường phố, Chú Hỏa nhập quốc tịch Pháp và đổi tên thành Jean Baptiste Hui Bon Hoa. Chú Hỏa thành lập công ty Hui Bon Hoa, một công ty bất động sản sở hữu trên 20.000 (huyền thoại?) căn nhà ở Sài Gòn, đồng thời xây dựng rất nhiều Công trình công cộng có giá trị lớn ở vùng Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Khách sạn Majestic đường Tự Do, Bệnh viện Sài Gòn đường Lê Lợi, Bệnh viện Từ Dũ đường Cống Quỳnh, khu Nhà khách Chính phủ đường Lý Thái Tổ, nhiều ngân hàng, Trụ sở thương mại ở Quận 5 và các công trình nhà riêng, chùa chiền, bệnh viện khác đều của Chú Hỏa.

Dinh cơ đồ sộ, biệt thự nguy nga của chú Hỏa chiếm cả một khu vực rộng lớn gần 200 hécta ở quận Nhì, bao gồm khu tứ giác Phó Đức Chính – Nguyễn Công Trứ – Hồ Văn Ngà – Calmette.

Bỏ qua những yếu tố Chính trị – Xã hội. Chú Hỏa đã đóng góp một vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ mặt Thành phố Sài Gòn với tấm lòng của một người giàu có hướng ra cộng đồng. Nhà biên khảo Vương Hồng Sển từng nhận xét: “Tuy làm giàu cho mình đã đành, nhưng Chú Hỏa cũng giúp ích rất nhiều cho sự mở mang thịnh vượng kinh tế miền Nam”. Sự nghiệp của ông ở Việt Nam vẫn được con cháu tiếp tục sau khi ông mất. Mãi đến sau năm 1975 họ đều đi ra nước ngoài sinh sống. Lý do vì sao thì chắc mọi người đã rõ…

 Ở Sài Gòn vào những thập niên 40-50, nhãn hiệu Xà bông Cô Ba rất phổ biến, không những tại Việt Nam mà còn lan rộng sang tận xứ Cao Miên và Lào. Xà bông thơm Cô Ba nổi danh trong mấy thập niên liền, đủ sức đánh bạt xà bông ngoại hoá, nhập cảng từ Pháp.
 
Nếu người miền Bắc khâm phục nhà ‘tài phiệt’ Bạch Thái Bưởi thì ở miền Nam có ông Trương Văn Bền (1883 – 1956), chủ nhân nhãn hiệu Xà bông Cô Ba. Cả hai đều thành công trên thương trường nhưng lại không hề trải qua trường lớp và dĩ nhiên, cũng không bằng cấp. Họ là những con người có đầu óc kinh doanh, tháo vát, nhiều sáng kiến.

Xà bông Cô Ba từng vươn sang thị trường Đông Dương như Lào,

Campuchia và có mặt tại các thị trường Hồng Kông, Singapore.

Trước khi làm một nhà doanh thương, ông Bền còn là một người thuộc Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ. Gia sản đồ sộ của Trương Văn Bền là do công sức của ông làm ra. Không phải ông Bền làm giàu bằng ruộng đất, ông có một lối đi riêng bằng con đường công nghiệp đáng để làm gương cho những người đi sau. Là người Việt gốc Hoa, sinh năm 1883 tại Chợ Lớn, ông Trương Văn Bền sinh trưởng trong một gia đình khá giả. Ông có đi Pháp nhiều lần, nhưng chưa hề học qua một trường lớp nào.

Theo bảng lượng giá để đánh thuế của Phủ Toàn Quyền Đông Dương ở Hà Nội, năm 1941, ông Trương Văn Bền phải đóng thuế cho chính phủ một số tiền lên tới 107.000 đồng, trong khi đó, giá vàng khoảng 60 đồng/lượng. Điều này đủ nói lên quy mô công việc kinh doanh của ông.

Là người nhạy cảm trong kinh doanh, ông Bền biết rõ một tiềm năng kinh tế Việt Nam chưa được khai thác: đó là cây dừa. Từ năm 1918, ông đã lập xưởng ép dầu dừa (dùng trong kỹ nghệ xà bông, mỹ phẩm) mỗi tháng sản xuất 1.500 tấn.

Năm 1932, hãng xà bông Trương Văn Bền được thành lập tại đường Quai de Cambodge trong Chợ Lớn (trước chợ Kim Biên bây giờ), ban đầu sản xuất 600 tấn xà bông giặt mỗi tháng. Từ khi Xà bông Cô Ba, xà bông thơm đầu tiên của Việt Nam, ra đời đã đánh bạt xà bông thơm của Pháp, nhập cảng từ Marseille, nhờ phẩm chất tốt, giá thành thấp.

Ông Trương Văn Bền, cô Ba và gia đình.

Trong thương trường, ông Bền chủ trương luôn cải tiến chất lượng và sản phẩm phải hợp với túi tiền người tiêu dùng. Ông nhìn xa thấy rộng, không theo lối chụp giựt, ăn xổi ở thì. Mặc dầu có địa vị cao trong xã hội, nhưng ông Bền không tự mãn. Ông luôn luôn tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm mỗi lần có dịp qua Pháp.

Khi máy giặt được phát minh và nhập cảng vào Việt Nam, ông Bền liền sản xuất loại bột giặt để thích ứng ngay. Loại bột giặt Viso của ông Trương Văn Khôi, và bột giặt Việt Nam của hãng xà bông Trương Văn Bền (lúc đó đổi thành Hãng Xà bông Việt nam), có đủ sức cạnh tranh với bột giặt nhập cảng từ Mỹ.

Người Sài Gòn không ai không biết đến xà bông Cô Ba. Hình ảnh quen thuộc của Cô Ba với mái tóc vấn cao in nổi ngay trên cục xà bông thơm, ngoài hộp xà bông bằng giấy carton cũng có in hình người đàn bà ‘búi tóc’. Nhiều giai thoại kể lại rằng người đàn bà in hình trong cục xà bông thơm chính là người vợ thứ của ông Bền. Cái hay của ông Trương Văn Bền là biết áp dụng tâm lý trong kinh doanh, đưa hình ảnh Cô Ba, người mang đậm vẻ đẹp của phụ nữ miền Nam làm nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hoá của mình.

Khi đã định hình được tên tuổi sản phẩm và thị trường tiêu dùng, Trương Văn Bền đặc biệt chú trọng vào khâu quảng cáo, khuếch trương thương hiệu. Trong suốt thời gian dài, hầu hết báo chí thời đó đều đăng quảng cáo “Dùng xà bông xấu, mục quần áo” hoặc “Người Việt Nam nên xài xà bông Việt Nam” của Hãng Xà bông Trương Văn Bền.

Trong các cuộc triễn lãm được mở cửa hàng năm tại Sài Gòn và các tỉnh, bao giờ gian hàng của ông Bền cũng được thiết kế huy hoàng nhất với mô hình một cục xà bông khổng lồ, gây được sự chú ý và tò mò đặc biệt của người xem. Chưa dừng lại ở đó, tại các gian hàng còn bán xà bông gọi là ‘chào hàng’ với giá rẻ hơn bên ngoài đến 25%. Trương Văn Bền còn đưa nhãn hiệu xà bông Việt Nam vào những hình thức nghệ thuật dân tộc được người Việt yêu thích như vọng cổ, thơ lục bát, đề cao tinh thần dân tộc, lòng yêu nước. Có thể nói, từ giới bình dân đến trí thức đều biết, đều dùng và đều yêu mến sản phẩm của ông.

Với sự ra đời của Hãng Xà bông Trương Văn Bền ở Nam Kỳ năm 1932, Việt Nam có được một xưởng công nghệ quy mô, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế trong thời kỳ phôi thai. Các xưởng ép dầu, xưởng làm xà bông, tạo công ăn việc làm cho hơn 200 công nhân. Khi công việc làm ăn phát đạt thêm, ông Bền còn xuất tiền cất một dãy phố 50 căn, gần Ngã Sáu Chợ Lớn, nằm góc đường Armans Rousseau (đường Hùng Vương ngày nay) và Général Lizé (đường Minh Mạng).

Ông Bền có nhiều con. Tôi được nghe nhắc tới ông Trương Khắc Trí, từng là Chủ Tịch ban Quản Trị Việt Nam Công Thương Ngân Hàng (thành lập năm 1953) tại Sài gòn. Người con trai út, ông Trương Khắc Cần, thay cha quản lý hãng Xà bông Việt Nam cho tới năm 1975. Ông Trương Khắc Cần được nhà nước ‘ưu ái’ cho phép hiến tặng tất cả tài sản mà gia đình thân phụ ông tạo lập từ hơn nửa thế kỷ, để được đi định cư tại Pháp!

Sau năm 1975, Công ty Trương Văn Bền và Các con trở thành Nhà máy Hợp doanh Xà bông Việt Nam thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ. Năm 1995, đơn vị này trở thành công ty Phương Đông thuộc Bộ Công nghiệp. Tháng 7/1995, công ty Phương Đông liên doanh với tập đoàn Procter & Gamble (P&G) lập một nhà máy mới ở Sông Bé.

Trong ký sự Một tháng ở Nam Kỳ, nhà văn Phạm Quỳnh có nhắc đến ông Trương Văn Bền, với giọng văn của thập niên 1940: “Ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc Kỳ về xem nhà máy dầu và nhà máy gạo của ông ở Chợ Lớn.

Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên, đã to tát như thế mà chúng tôi thấy hứng khởi trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông, ngõ hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nhà và thoát ly được cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp”.

Trong số những người thành công với nghề y dược tại Sài Gòn trước đây, Dược Sĩ La Thành Nghệ là một khuôn mặt nổi bật, được nhiều người biết tiếng. Vốn người Triều Châu, sinh trong gia đình giàu có, La Thành Nghệ được du học bên Pháp và đậu bằng Dược Sĩ. Điểm qua những nhân vật giàu có, tiếng tăm thuộc ngành Y Dược thời đó còn có các Dược Sĩ Trần Văn Lắm, Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Thị Hai…

La Thành Nghệ được phong là ‘vua thuốc đỏ’, một sản phẩm rất tầm thường, giá trị thấp, nhưng được mọi giới ưa chuộng và rất phổ biến từ thành thị tới thôn quê. Khi chiến tranh càng ngày càng leo thang, nhu cầu sử dụng thuốc đỏ càng nhiều thì La Thành Nghệ được phép làm đại lý độc quyền phân phối thuốc đỏ, đem lại cho ông một nguồn lợi rất lớn.

Ít ai nghĩ rằng với một thứ sản phẩm tầm thường, rẻ tiền như thuốc đỏ mà làm nên sự nghiệp kếch xù của La Thành Nghệ. Trước khi miền Nam thất thủ, những ai có dịp đi qua đường Tự Do chắc đã thấy Laboratoire La Thành, nằm giữa hai nhà hàng La Pagode và rạp Eden.

Thuốc đỏ, tiếng Pháp gọi là Mercure au Crome, một thứ dung dịch màu đỏ, dùng bôi lên các vết thương nhẹ để sát trùng. Thời đó, thuốc đỏ do Laboratoire La Thành sản xuất, được sử dụng trong các bệnh viện, các Quân Y Viện, các Bệnh Viện Dã Chiến, các Trung Tâm Y Tế, các đơn vị Quân Y… và rất được dân chúng từ thành thị tới thôn quê ưa chuộng vì nó rẻ tiền mà lại hiệu nghiệm. La Thành Nghệ còn nhập cảng các loại thuốc trụ sinh, một thứ thần dược trị các vết thương.

Ngoài hai loại thuốc đỏ và trụ sinh, Laboratoire La Thành còn sáng chế một thứ Pommade để trị bịnh phong tình. Bịnh này thường có mụn đỏ chung quanh háng và bộ sinh dục. Muốn điều trị chỉ cần xức Pommade vào chỗ đó, sau khi rửa vết thương cho sạch bằng thuốc đỏ. Chỉ vài ba lần xức Pommade, người bịnh cảm thấy dễ chịu, không ngứa rát và bình phục!

Thanh niên bị bịnh phong tình thường có mặc cảm không muốn đến Bệnh Viện hay đi Bác Sĩ tư để chữa trị. Họ mua thuốc Pommade của dược sĩ La Thành Nghệ và tự chữa lấy. Nhờ biết được yếu tố tâm lý ấy, sản phẩm của La Thành Nghệ bán chạy như tôm tươi.

Khi trở nên giàu có, La Thành Nghệ sống thầm lặng, ít khoe khoang hay ăn chơi trác táng như một số nhà giàu khác. Ngược lại, dân ăn chơi Sài Thành, không ai không nghe tiếng hoặc biết đến ‘Công Tử’ Hoàng Kim Lân, con của ‘Vua dây kẽm gai’ Hoàng Kim Quy. Tôi được nghe, có lần tại vũ trường Maxim, ông Hoàng Kim Lân đứng lên giữa sân khấu tuyên bố: “Hôm nay là ngày sinh nhựt của tôi. Tôi xin đãi tất cả quý vị có mặt tại đây. Quý vị tha hồ ăn uống bất cứ món gì mà không phải trả tiền”. Tiếp theo sau đó, rượu sâm banh chảy ra như suối và khách ăn chơi vỗ tay như sấm để tán thưởng sáng kiến độc đáo của mạnh thường quân Kim Lân!

Trở lại chuyện La Thành Nghệ, ông là người chỉ giao thiệp với giới nhà giàu và thượng lưu, trí thức ở Sài Gòn. Tuy sống trên đống vàng, nhưng ông không phung phí tiền bạc để mang tai tiếng như nhiều người khác. Năm 1967, La Thành Nghệ ra ứng cử Nghị sĩ Quốc Hội, chung liên danh Bạch Tượng với Dược Sĩ Trần Văn Lắm và đắc cử. Ông Trần Văn Lắm có lúc làm Phó Chủ Tịch Thượng Viện và Tổng Trưởng Ngoại Giao dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tuy nhiên, danh nghĩa Nghị sĩ Quốc Hội chỉ để trang trí cho La Thành Nghệ hơn là nghề hái ra tiền như viện bào chế La Thành của ông. Do đó, trong thời gian tham chính, dư luận hay báo chí không nghe ông tuyên bố hay có hành động chính trị nào… Ông cũng tránh xa các áp-phe làm ăn của các ông tai to mặt lớn khác.

Dược Sĩ La Thành Nghệ cuối cùng lại là nạn nhân của Tổng Thống Trần Văn Hương, người đã gây khó khăn cho những người di tản bằng sắc lệnh cấm Công Chức, Sĩ Quan và thanh niên trong tuổi Quân Dịch ‘di tản’ vào những ngày cuối cùng của Sài Gòn. La Thành Nghệ vượt biển quá sớm, bị Hải quân VNCH bắt đem về đất liền, ở lại Sài Gòn và cuối cùng ‘được’ cho đi học tập cải tạo.

Một Dược Sĩ khác cũng thành công và nổi tiếng nhờ thứ thuốc ban nóng, cảm ho của trẻ em là ông Nguyễn Chí Nhiều. Ông Nhiều lập Nguyễn Chí Dược Cuộc, sản xuất vài thứ thuốc thông dụng trong đó nổi bật nhất là Euquinol, thuốc ban nóng dành cho trẻ em.

Thuốc Euquinol trở nên quen thuộc đối với các bà nội trợ từ thành thị đến nông thôn. Hễ ai có con nóng đầu, người nhà hay lối xóm liền thúc hối… mua thuốc Euquinol. Euquinol được bào chế theo dạng thuốc Tây bằng bột màu trắng, khác với hình dạng gói thuốc cao đơn hoàn tán của các tiệm thuốc Bắc. Euquinol của Nguyễn Chí Nhiều vừa rẻ tiền, vừa hiệu nghiệm, lại được quảng cáo sâu rộng, được bày bán trong các tiệm thuốc tây và cả các tiệm tạp hoá nên dân chúng mua dễ dàng. Dần dần, thuốc ban Euquinol đánh bại thuốc “Ngoại Cảm Tán” của nhà thuốc Nhị Thiên Đường vốn độc chiếm thị trường mấy thập niên trước đó.

Ông Nguyễn Chí Nhiều là người có sáng kiến, biết lợi dụng các cuộc tranh tài thể thao để quảng cáo sản phẩm của mình. Hễ có cuộc đua xe đạp đường trường nào là cũng có các xe thuốc Euquinol đi kèm. Sau này ông trở thành ‘ông bầu’ của đoàn cua-rơ mang tên Euquinol.

Đoàn xe đạp này là một ê-kíp gồm những tay đua do chính ông tuyển chọn và tài trợ để tập dượt và tranh tài trong các cuộc đua Vòng Cộng Hoà từ năm 1956 trở đi. Đội xe đạp Euquinol là một đội đua chuyên nghiệp, Dược Sĩ Nguyễn Chí Nhiều phát lương để họ tập dợt. Chính ông bỏ tiền ra mua xe đạp và cung cấp phụ tùng.

Khi đã trở thành cua-rơ của đội họ khỏi bận tâm lo sinh kế, ngoài chuyện cố tâm luyện lập. Vì thế đội Euquinol thường lập được nhiều thành tích, chiếm các giải đồng đội và cá nhân trên các đường đua.

Những nhà thuốc tây xưa nhất ở Sài Gòn phải kể đến các tiệm Pharmacie Mus của ông Beniot, Pharmacie Sohrenne, Pharmacie Normale, Pharmacie de France… Đó là những nhà thuốc Tây mà chủ nhân đều là Dược Sĩ người Pháp. Nhà thuốc nào cũng có phòng bào chế riêng để chế thuốc theo toa bác sĩ.

Nhà thuốc của người Việt có Cường Lắm ở góc đường Mac Mahon (Công Lý) và đường Bonard (Lê Lợi), chủ nhân là Dược Sĩ Trần Văn Lắm. Dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, ông Lắm trở thành Thượng Nghị Sĩ và Ngoại Trưởng. Ngoài ra còn có Pharmacie Lý, chủ nhân là Dược Sĩ Nguyễn Thị Lý; Pharmacie Dương Hữu Lễ của Dược Sĩ Dương Hữu Lễ ở đường Rue d’Espagne (Lê Thánh Tôn) và Pharmacie Nguyễn Văn Cao ở góc đường Chợ Mới và đường Bonard.

Pharmacie Nguyễn Văn Cao ở đường Bonard.

Trong các ngành Công Kỹ Nghệ của Việt Nam Cộng Hòa (1954-1975), nhiều người cũng biết làm giàu bằng cách ‘chuyên môn hóa’ việc buôn bán một mặt hàng thông dụng, rẻ tiền nhưng có lợi tức lớn lao ít ai ngờ. Thời thế đã giúp họ làm giàu nhanh chóng nhưng cũng không loại trừ khả năng họ phải ‘đóng thuế’ cho phía bên kia để được yên ổn làm ăn. Như vậy, họ phải chịu hai đầu thuế của cả miền Bắc lẫn miền Nam.

Tuy nhiên, những chi phí này được tính vào giá thành sản phẩm và thiệt thòi là… người tiêu dùng. Trong số những nhân vật giàu có này phải kể đến ‘Vua vương quốc Chợ Lớn’ là Bang Trưởng Triều Châu Trần Thành; ‘Vua sắt thép, dệt may’ Lý Long Thân; ‘Vua lúa gạo’ Trần Thành, Mã Hỉ và Lại Kim Dung; ‘Vua nông cụ’ Lưu Kiệt, Lưu Trung; ‘Vua ngân hàng’ Nguyễn Tấn Đời và ‘Vua bột giặt Viso’ Trương Văn Khôi.

Giới Đông Y cũng có những tên tuổi lừng lẫy với các loại thuốc gia truyền, rẻ tiền nhưng lại hiệu nghiệm. Người ta thường nhắc đến Võ Văn Vân, người sáng lập nhà thuốc mang cùng tên với các sản phẩm như “Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn” trị bịnh yếu sinh lý, tráng dương, bổ thận, dùng cho đàn ông để tăng cường sinh lực và “Bá đả quân sơn tán” trị bịnh đau lưng, nhức mỏi rất công hiệu.

Hồi đó, các xe quảng cáo của Nhà thuốc Võ Văn Vân còn khoe rằng “Bá đả quân sơn tán” là thuốc dùng khi bị té, đặc biệt là các võ sĩ, người lao động chân tay như làm ruộng, làm công (vác lúa, chèo ghe, móc mương, bồi vườn…) đều ‘phải’ uống thuốc này, vì nó ‘hiệu nghiệm như thuốc tiên’!

Vào khoảng những năm 1955-1957, các nhà thuốc thường tổ chức những xe thuốc đi bán dạo ở miền quê. Mỗi xe có người làm trò vui như xiếc, ảo thuật, phụ họa với dàn kèn trống để thu hút khán giả. Xen kẽ vào những trò vui ấy là màn bán thuốc.

Người nhà quê lúc ấy gọi các xe bán thuốc dạo là “Sơn Đông Mãi Võ”. Tuy là Đông Y Sĩ, nhưng ông Võ Văn Vân lại cho các con qua Pháp du học các ngành Y và Dược. Trong số các con của Võ Văn Vân, có ông Võ Văn Ứng, từng nổi tiếng là Mạnh Thường Quân của túc cầu Sài Gòn qua cái tên thân mật là ‘Bầu Ứng’. Ông Võ Văn Ứng còn làm Tổng Giám Đốc Nam Đô Ngân Hàng và Khách Sạn Nam Đô.

Một nhà thuốc Đông Y khác, cũng nổi tiếng cùng thời, là Nhà Thuốc Võ Đình Dần ở Chợ Lớn. Thuốc ích khí bổ thận “Cửu Long Hoàn”, chuyên trị mệt mỏi, lao tâm lao lực, được quảng cáo sâu rộng, nên bán rất chạy. Thời đó, hầu như ai cũng thuộc lòng câu: “Một viên Cửu Long hoàn bằng 10 thang thuốc bổ” của nhà thuốc Võ Đình Dần.

Nhà thuốc này cũng có một đội ngũ chuyên môn đi bán dạo khắp thôn quê, gồm 5 xe cam nhông Sơn Đông Mãi Võ. Theo nhà văn Hồ Trường An, thuốc Cửu Long hoàn được các người lao tâm, lao lực, thức đêm, làm việc nhiều như các vũ nữ ở các vũ trường, các nghệ sĩ sân khấu cải lương, các tay cờ bạc… tóm lại những kẻ ‘lấy ngày làm đêm’, đều dùng Cửu Long hoàn, để phục hồi sức lực.

Nhà thuốc Nhành Mai ở Phú Nhuận, nổi tiếng với món thuốc dưỡng thai hiệu Nhành Mai. Ngoài ra, món thuốc dán hiệu Nhành Mai, trị mụn nhọt rất hay. Không cần phá miệng mụn nhọt, chỉ cần trét thuốc vào miếng vải cắt tròn, lớn cỡ đồng xu, ở giữa có đục lỗ, rồi dán lên mụt nhọt. Chừng vài ngày sau, gỡ miếng vải ra thì mủ và cùi nhọt… lòi ra.

Hồi Sài Gòn còn xe điện chạy theo lộ trình Galliéni (Trần Hưng Đạo) Sài Gòn – Chợ Lớn và Boulevard de la Somme (Hàm Nghi) đến chợ Tân Định, hai bên thành xe điện có nhiều bảng quảng cáo như: Một viên Cửu Long Hoàn bằng 10 thang thuốc bổ của nhà thuốc Võ văn Vân, Thuốc xổ Nhành Mai, Dầu khuynh diệp bác sĩ Bùi Kiễn Tín, Kem đánh răng Hynos ‘cha-cha-cha’ mang hình anh Bảy Chà ‘đen như cột nhà cháy với hàm răng trắng bóc’, thuốc lá Jean Bastos và thậm chí cả… Hòm Tôbia ‘danh tiếng nhất’.

Nhà thuốc Đại Quang do người Tàu ở Chợ Lớn cũng nổi tiếng với món thuốc “Huyết Trung Bửu”, loại thuốc điều hoà kinh nguyệt dành cho phụ nữ. Thuốc này từ khi xuất hiện trên thị trường đã đánh bạt “Nữ Kim Đơn” vì nhờ quảng cáo mạnh trên các báo chí.

Đã vậy, hãng Đại Quang cũng như nhà thuốc Ông Tiên (của Nguyễn Hoàng Hoạnh), cứ mỗi năm cho ra cuốn sách quảng cáo, có truyện ngắn, thơ, có chuyện lịch sử, bài ca vọng cổ… để giới thiệu các thứ thuốc của hãng mình cho khắp đồng bào Lục tỉnh.

Nhà thuốc Đại Từ Bi cũng có xe cam nhông bít mui, bán dạo khắp Nam Kỳ, từ thành thị đến thôn quê, đặc biệt là các tài tử biết đờn ca vọng cổ, biết đóng tuồng cải lương, hát giúp vui mỗi khi xe neo ở một địa điểm nào đó để bán thuốc. Tuồng tích phần nhiều kể chuyện Ông Trương Tiên Bửu, Kim Vân Kiều, Cánh Buồm Đen…

Trước năm 1954, dân Nam Kỳ, nhứt là dân ‘thủ cựu’ ở thị thành và dân ở các vùng nửa chợ nửa quê, dân miệt vườn… đều chê thuốc Tây nóng nên không dùng. Cũng vì thế các tiệm thuốc Bắc mọc lên như nấm.

Người khách trú, một khi mở tiệm thuốc, ngoài các dược thảo, dược phẩm, còn bán thêm các loại cao đơn hoàn tán do các nhà thuốc Việt Nam bào chế, lại thêm các loại thuốc đặc chế từ bên Tàu như Thượng Hải, Hồng Kông, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây nhập cảng vào. Thị trường thuốc Tây, thuốc Nam, thuốc Bắc tại Sài Gòn và cả miền Nam phát triển mạnh. ‘Trăm hoa đua nở, trăm nhà… uống thuốc’!

Bên cạnh mỹ phẩm như Bạch Ngọc Cao, một loại kem xức cho da mặt mịn màng, còn có Bóng Nha Duyên dùng để chà răng cho trắng. Bóng Nha Duyên xúc miệng không thơm bằng phấn chà răng của Tây đặc chế như Kool, Gibbs, nên bán không chạy. Dân miệt vườn thì dùng xác cau khô để chà răng, chưa quen với việc dùng bàn chải…

Đến khi kem đánh răng Leyna xuất hiện với hình nữ minh tinh Kim Vui cười phô hàm răng trắng đều, và sau đó là kem Hynos của ông Vương Đạo Nghĩa (1965) với người đàn ông da đen cười răng trắng nhởn, thì Kool, Gibbs, Perlon bị cáo chung. Bóng Nha Duyên cũng rút lui không kèn không trống.

Kem đánh răng Perlon.

Điểm nổi bật của ông chủ trẻ Vương Đạo Nghĩa là nghệ thuật quảng cáo cho kem đánh răng Chú Chà Và Hynos sau khi anh được thừa hưởng gia tài từ một ông chủ người Mỹ có vợ Việt. Hình ảnh chú Hynos xuất hiện hầu như khắp hang cùng ngõ hẻm Sài Gòn. Bên cạnh đó, điệp khúc Hynos cha cha cha… trên đài phát thanh và trên chiếc Deux chevaux (2CV) bán hàng tại các chợ Sài Gòn.

Người ta nói ông chủ Hynos đã không ngần ngại trích ra 50% lợi nhuận cho việc quảng cáo. Có thể nói, đây là một tỷ lệ quảng cáo đáng kể và hữu hiệu trong bối cảnh nền thương mại của Sài Gòn xưa đang trên đường hội nhập vào thế giới tư bản.

 

Nguyễn Ngọc Chính
Trích từ cuốn “ Hồi ức một đời người” của tác giả.

 

 


Hồng Anh sưu tầm

 

Theo dõi RSS này