Kim Phượng

Kim Phượng

Nước mắm còn, Việt Nam còn - Nguyễn thị Cỏ May

  Nước mắm còn, Việt Nam còn

*** Nguyễn thị Cỏ May  ***

 “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Đó là câu nói thời danh của cụ Phạm Quỳnh khi đánh giá “Truyện Kiều” của cụ Nguyễn Du.

Cụ Phạm Quỳnh đã coi truyện Kiều là cái hồn của non sông đất nước bởi vì nó đại diện cho vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ của người Việt Nam. Điều đáng buồn là tiếng Việt ngày nay đang lâm vào tình trạng xô bồ bát nháo trong cách nói, cách viết của một số người Việt trên các  bảng hiệu, bảng quảng cáo, trên báo chí in và nói, cả trong tác phẩm văn chương. Người ta nói ngôn ngữ của một nước thể hiện chủ quyền quốc gia của  nước đó. Mình  phải  nói đúng, viết đúng tiếng nước mình. Ngôn ngữ có trường tồn thì nền độc lập tự chủ mới trường tồn. Tiếng Việt còn hay mất là tùy thuộc vào lòng yêu quý tiếngViệt, yêu nước Việt của toàn dân. “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…, tiếng nước tôi tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi….” (Phạm Duy).

Học theo cách nói của tiền bối Phạm Quỳnh, Cỏ May tôi nay xin thưa “Nước mắm còn, Việt Nam còn, người Việt Nam còn”.

Nước mắm có lịch sử lâu dài gắn liền với người Việt Nam. Nó không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Việt Nam, nhất là trong văn hóa ẩm thực của người Việt. Không ai có thể hình dung một bữa cơm của người Việt Nam lại có thể thiếu chén nước mắm. Bởi nó vừa là thứ nêm nếm làm cho món ăn vừa miệng, vừa đem lại chất dinh dưỡng cho nguời ăn. Cứ nhìn bữa ăn của người nhà quê Việt Nam chỉ có chén nước mắm với dĩa rau luộc, thế mà họ mạnh khỏe làm việc đồng áng cả ngày. Người đánh cá, khi lưới vướng mắc ở độ sâu rất sâu, cả vào mùa lạnh, bèn uống một ly nhỏ nước mắm nguyên chất rồi  nhảy xuống biển lặn gỡ lưới. Xong trồi lên, người vẫn mạnh khỏe bình thường.

Đem hỏi một vị Giáo sư Sinh Hóa ở Đại học Khoa học Sài gòn (Luận án của ông về Nước Mắm ở Đại học Marseille cuối thập niên, 50 – ông gốc Phan Thiết), được ông cắt nghĩa “1 phần  nước mắm của người nhà quê bằng 1 con cá, tức bằng phần cá của bữa ăn”.

 

  Vậy mà trong những năm vừa qua, doanh nhân người Việt Nam  cấu kết với gian thương Tàu chệt và nhà cầm quyền cộng sản ở Việt Nam dám làm nước mắm giả, không cần có đủ cá, thay thế bằng hóa chất độc hại, để bán giá rẻ, chiếm thị trường, làm giàu mau lẹ, giết chết nước mắm Việt Nam thứ thiệt và cả người tiêu dùng.

Vậy phải chăng đây đúng là hiện tượng “Nước Mắm không còn”? Còn “Tiếng Việt Nam” có còn nguyên vẹn không? Hay cũng đã bị biến thể? Hậu quả dẫn đến mất chủ quyền, rồi mất nước!

Nước mắm trong văn hóa và lịch sử Việt Nam

Những nhà làm bếp lớn nói “nước mắm chính là linh hồn của ẩm thực Việt Nam” vì món ăn Việt Nam, dù có đủ các thứ thịt cá, rau cải, dầu mỡ, muối đường, gia vị,… mà chỉ thiếu nước mắm thì món ăn đó chắc chắn sẽ không có ai bảo đó là món Việt Nam. Trái lại, món tây, món tàu mà nêm nước mắm vào thì sẽ có ngay hương vị (gu–gout) Việt Nam.

Một nhà bếp trẻ Việt Nam, học làm bếp ở Mỹ, giành được giải thưởng cao quí sau cùng trong một cuộc thi ở NY, với 3 người cùng vào chung  kết, cùng làm 3 món giống nhau. Báo chí hỏi: bí quyết của anh để được giải thưởng? Anh cười trả lời: “Không có bí quyết gì cả. Chỉ có thêm vài giọt nước mắm!”.

Nói về khẩu vị ăn nước mắm thì phải bái phục người Miền Trung. Họ ăn cực kỳ mặn, tuy nước mắm của Miền Trung vốn có độ mặn đã cao mà họ ăn nguyên chất chớ ít khi chịu pha chế như dân Nam kỳ. Phải chăng nhờ vậy mà dân Miền Trung có tiếng gan lì, chịu khó, làm việc gì là làm tới cùng, ít khi chịu bỏ cuộc? Không như dân Nam kỳ, gặp khó thì phủi tay. Chỉ thích lè phè. Nên khi chống giặc cộng sản, cũng lại theo chủ trương nam kỳ quốc “cà nhỏng chống xâm lăng”!

Giá trị của nước mắm vì thế trở nên độc đáo trong nghệ thuất nấu ăn và còn là một yếu tố làm cho văn hóa dân tộc trường tồn  mạnh mẽ.

Quy trình làm nước mắm truyền thống

chén nước mắm không thể thiếu trong bữa ăn gia đình người Việt

Nhưng nước mắm được chánh thức đưa vào lịch sử Việt Nam từ bao giờ?

Theo Bộ Nông nghiệp cho biết hiện cả nước có khoảng hơn 2900 cơ sở sản xuất nước mắm cung cấp cho thị trường mỗi năm 215 triệu lít, trong số đó, xuất cảng từ 3 -5%, đem về cho Việt Nam được 15 triệu mỹ kim/năm.

Riêng Miền Nam chiếm 46% cơ sở sản xuất trên cả nước và 39% sản lượng nước mắm ngon nhứt vì biển trong Nam ấm nên cá cho nhiều protéines hơn (nước mắm ở Trung có 3-4% protéines, nước mắm Phú Quốc có từ 11-16% protéines).

Image result for nước mắm truyền thốngmột cơ sở sản xuất nước mắm ở Phú Quốc

Hương vị của nước mắm là thứ mê hoặc, không riêng cả nước Việt Nam, mà còn không ít người ngoại quốc khi đã quen mùi nó. Và địa vị lịch sử của nó cũng có bề dày khá quan trọng. Rất đáng cho dân ăn nước mắm trân trọng và gìn giữ.

Theo nhà sử học Trần Đức Anh Sơn, người vừa bị đảng cộng sản khai trừ khỏi đảng vì viết sử đúng lịch sử mà không đúng chủ trương của đảng thì Đại Việt sử ký toàn thư, khắc in vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) có ghi chép: “Đinh Dậu, Ứng Thiên năm thứ 4 (997)… Mùa hạ, tháng 4, nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương. Vua sai sứ sang nước Tống đáp lễ. Vua Tống ban chiếu thư khen ngợi. Trước kia sứ Tống sang thường mượn cớ đòi cống nước mắm, nhân thế bắt đóng góp”. Đoạn sử liệu này cho thấy muộn lắm là vào trước năm 997, người Việt đã biết làm và ăn nước mắm. Hơn nữa, nước mắm chắc  phải ngon  hơn xì dầu  nên vua tàu, tuy ở xa vạn dặm, cũng vẫn “ngửi thấy” mùi thơm của nước mắm bắt thèm, mới đòi triều đình Đại Việt  triều cống.

Trong Phủ biên tạp lục (của Lê Quý Đôn, ấn hành vào cuối thế kỷ XVIII), Lịch triều hiến chương loại chí (của Phan Huy Chú, đầu thế kỷ XIX), Gia Định thành thông chí (của Trịnh Hoài Đức, đầu thế kỷ XIX) và trong các bộ sử của triều Nguyễn như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và Đại Nam nhất thống chí, nước mắm được xem là thổ sản của nhiều địa phương ở Đàng Trong.

Danh dong khai niem 'nuoc mam' de tranh bi kien? hinh anh 3

Phủ biên tạp lục ghi nhận nước mắm là đặc sản của xứ Thuận Quảng, là thứ mà các chúa Nguyễn bắt phải nộp thuế biệt nạp, thay thế cho thuế đinh, nghĩa là thay vì phải nộp thuế thân, thì các nhà làm nghề nước mắm, hàng năm phải nộp về cho triều đình một lượng nước mắm nhứt định.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, trong phần Quốc dụng chí, năm Thuận Thiên thứ 5 (1013), đời Lý Thái Tổ, triều đình quy định nước mắm là một trong 6 loại thổ sản phải đóng thuế biệt nạp. Đến thời Lê, vào năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743), triều đình ban hành hạn mức số lượng nước mắm mà các phường nghề phải nộp. Cụ thể, ở xứ Thuận Quảng, ai có phương tiện đánh bắt cá để làm nước mắm thì mỗi năm phải nạp 3 chĩnh nước mắm, người làm thuê mỗi năm nạp 1 chĩnh. Năm 1769, số nước mắm do nhà nước thu qua hình thức thuế biệt nạp này lên đến 3.000 chĩnh.

Nghệ An cũng là một địa phương sản xuất nước mắm có tiếng thời Tự Đức (1848 – 1883), nhưng nước mắm xứ Nghệ thì nặng mùi đến độ Cụ Cao Bá Quát đã phải:

Ngán thay cái mũi vô duyên.

Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An”.

Về mặt chữ nghĩa, nước mắm trong các tư liệu trên được ghi bằng Hán tự là thủy hàm (水 鹹) hay hàm thủy (鹹 水), nghĩa là “nước mặn”. Cái tên, đọc lên, nghe chữ nghĩa bác học lắm nhưng hoàn toàn không có mùi. Mà nước mắm không có mùi thì không phải là nước mắm!

Trong cuốn “Đông phương phong tục văn hóa từ điển” do các nhà nghiên cứu Trung Hoa biên soạn, khi nêu đặc trưng văn hóa ẩm thực của người Việt, họ liệt kê 4 món ẩm thực tiêu biểu của người việt, xếp theo thứ tự là: nước mắm, thuốc lào, bánh chưngtrầu cau. Chữ “nước mắm” trong sách này được viết là Việt Nam ngư lộ (越 南 魚 露). Ngư là “cá”, lộ là “giọt sương móc”. Ngư lộ là “giọt sương tiết ra từ cá”. Cách gọi này diễn tả phần nào từ đâu có nước mắm, nhưng vẫn chưa đủ gợi lên mùi vị gì cả, mà nước mắm được thiên hạ biết đến, nhớ và ghiền, là nhờ cái mùi có một không hai của nó. Vì thế, có lẽ nên giữ cái tên vốn có của nó là nước mắm. Và khi dịch sang ngôn ngữ khác thì cũng nên giữ nguyên tên của nó là nước mắm mới đúng.

Image result for garum fish sauce 500 usd

Nước mắm còn được người phương Tây đưa vào sử sách của họ.. Cristophoro Borri, một giáo sĩ người Ý đã từng sống ở Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII, đã viết trong cuốn hồi ký Xứ Đàng Trong năm 1621 của ông như sau: “Người Đàng Trong ăn cá nhiều hơn ăn thịt. Họ chuyên chú đánh cá chủ yếu là vì họ rất ham thứ nước ‘sốt’ gọi là ‘balaciam’ làm bằng cá ướp muối cho mềm và làm nhão ra trong nước. Đây là một thứ nước cốt cay cay tựa như mù tạt (moutarde) của ta, nhà nào cũng dự trữ một lượng lớn đựng đầy trong chum vại như tại nhiều nơi ở châu Âu người ta dự trữ rượu.

Hơn 170 năm sau, phái bộ người Anh do bá tước George Macartney dẫn đầu, có ghé thăm cảng Đà Nẵng vào năm 1793. Viên quan trấn thủ cửa Hàn đã làm bữa tiệc chiêu đãi khách với “những đĩa thịt bò xắt miếng vuông, chấm thứ “nước rất ngon” khiến các thành viên trong phái bộ cứ tấm tắc khen, còn George Macartney phải ghi nhớ thứ nước chấm độc đáo ấy – nước mắm – vào trong nhật ký hành trình của mình (Trần Đức Anh Sơn, Nước mắm trong văn hóa và lịch sử Việt Nam, Văn hóa Nghệ An, 6/2016)

Nguồn gốc nước mắm không phải ở Việt Nam

Người không biết ăn  nước mắm, dứt khoát người đó không phải là người Việt Nam thứ thiệt. Nhưng nước mắm, thứ quốc hồn quốc túy đó, lại có nguồn gốc không phải ở Việt Nam, mà cũng không ở Á châu, tuy có luận thuyết cho rằng nước mắm gốc Chàm, cũng như mắm, áo dài, …

Người Pháp ở vùng Bretagne cũng biết làm và sử dụng “nước mắm” từ 2.000 năm trước. Theo Ts. Françoise Coulon, quản thủ ở Bảo tàng Mỹ thuật Rennes, thì từ đầu Công nguyên, dân Bretagne đã biết cách ướp cá biển với muối để chiết ra một thứ nước cốt mà họ gọi là garum và dùng nó như một thứ thực phẩm. Những sử liệu đang lưu giữ tại thư viện của Bảo tàng Mỹ thuật Rennes ghi lại cách làm garum của người Bretagne xưa kia. Và khi khai quật các phế tích trong vùng Bretagne, các nhà khảo cổ học Pháp đã phát hiện những công cụ bằng gốm dùng để sản xuất và để đựng  “nước mắm” này. Nhưng ngày nay, người Pháp và cả riêng người bretagne không ăn nước mắm và cũng  không còn làm nước mắm nữa.Một câu hỏi lớn, không lời đáp!

Người Thụy Điển cũng có một thứ “nước mắm” riêng của họ, gọi là surstromming. Thứ “nước mắm” này được làm từ cá harreng cho vào thùng gỗ lớn, cho muối vào để ướp. Sau 48 giờ, khi cá bắt đầu mềm thì người ta ngắt đầu cá và vứt bỏ phần ruột, cho thêm muối vào và ướp tiếp. Thùng cá ướp đó được để  ngoài trời từ 8 đến 12 tuần, dưới nhiệt độ từ 40 đến 60 độ F, cho đến khi thân cá nát ra và trở thành một loại mắm có mùi hôi kinh khiếp, chính người Thụy Điển cũng chịu không nổi nhưng đó lại là một món đặc sản ngon của họ. Thư tịch cổ Thụy Điển còn cho biết, vào thời Trung cổ, chính quyền chỉ cho phép bán surstromming vào các ngày thứ Năm của tháng Tám mà thôi. Và mỗi phiên chợ surstromming là những ngày hội ẩm thực đáng nhớ của người Thụy Điển. Nhưng họ thích ăn surstromming như một loại mắm hơn là thứ nước mắm.

Theo sử sách ghi lại, nước mắm có nguồn gốc từ thời Đế quốc La Mã (từ năm thứ 27 trước CN), có tên gọi là garum, được chưng cất bằng cách ướp cá với muối rồi ủ cho lên men, giống hệt với cách làm nước mắm ở Việt Nam. Nhưng người La Mã dùng ít muối hơn nên garum chứa nhiều dưỡng chất hơn và đậm đà hương vị hơn.

Image result for garum fish sauce

    Đây là một tấm khảm khai quật được từ phần nền một cửa hiệu bán garum

ở Pompeii, thành phố bị núi nửa chôn vùi vào năm 79 sau CN,

cho thấy nước mắm đã trở nên phổ biến như thế nào vào thời đó.

Related image

Bình La-mã đựng nước mắm

Nước garum cũng có nhiều loại khác nhau và nhiều đẳng cấp khác nhau. Loại dành cho nô lệ thì rất rẻ, ai cũng mua được, trong khi đó giá của một chai garum thượng hảo hạng dành cho giới quý tộc rất mắc, có thể lên đến một số tiền tương đương với 500 đô ngày nay.

Khi Đế quốc La Mã sụp đổ cùng với sự tràn ngập của bọn cướp biển, sẵn sàng chém giết, đốt phá, công thức chế biến garum cũng từ đó mà biến mất. Tuy nhiên, bằng cách nào đó, có lẽ là thông qua việc giao dịch và trao đổi hàng hóa với người Trung Hoa trên Con Đường Tơ Lụa từ trước đó, nước mắm đã du nhập vào phương Đông, đầu tiên là tại Trung Hoa, sau đó lan dần đến Hàn Quốc, Nhật Bản, rồi đến khu vực Đông Nam Á trong vòng 1.000 năm sau đó.

Danh dong khai niem 'nuoc mam' de tranh bi kien? hinh anh 2

Ở các nước Á châu có nước mắm, mỗi nơi có tên gọi nước mắm khác nhau:

Miến Điện gọi nga–pya-ye; Tàu gọi yuolu; Đại Hàn gọi ack-jeot; Nam Dương gọi bakassabg, trassi ; Nhật Bản gọi shotturu; Mã Lai gọi badu; Phi Luật Tân gọi patis; Thái Lan gọi nam pla; Miên gọi teuk trey; Ấn Độ gọi loma ilish.

Dù không phải được người Việt phát minh ra đi nữa nhưng từ thế kỷ X đến nay (có nơi nói từ thề kỷ VI), nước mắm đã trở thành món ăn gắn liền với mảnh đất và tâm hồn người Việt. Có đi đâu xa, người ta vẫn luôn nhớ và thèm đến thứ gia vị nồng ấm này và mong ngóng đến ngày trở về quê hương. Nhưng ở Việt Nam ngày nay, dưới chế độ cộng sản cai trị, quốc ngữ đã bị nhà nước chủ trương sửa đổi cho không còn tiếng Việt Nam nữa, nước mắm bị gian thương kết hợp với nhà nước làm giả để triệt tiêu thứ nước mắm truyền thống, không chỉ vì lợi nhuận mà còn nhằm bứng gốc dân tộc.

Nếu bảo đó là chánh sách phá sản, tiêu diệt dân tộc và đất nước của cộng sản, không biết có nói thái quá không?

Nguyễn thị Cỏ May

Nam Mai ST

  Image result for hình ảnh chén nước mắm

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống

người Việt vào thập niên 1930

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Bộ Chuyên khảo bằng tranh vẽ về Đông Dương (Monographie dessinée de l’Indochine) là một series đồ sộ gồm 520 bức vẽ bằng bút chì, in li-tô và phần lớn đều tô màu. Nội dung tranh mô tả phong cảnh, cách sinh sống của dân nước ta vào khoảng đầu thập niên 1930. Nói chính xác thì có 4 bộ về xứ Bắc, 1 bộ về miền Trung, 6 bộ về miền Nam và 2 bộ về Cao Miên và Ai Lao.

Tranh vẽ theo sự gợi ý của ông Jules Gustave Besson, Chánh Thanh tra các Trường Mỹ thuật và Mỹ nghệ ở miền Nam và cũng là Hiệu trưởng của Trường Mỹ thuật Gia Định đến hơn 10 năm. Học sinh của trường Vẽ Gia Định đã tham gia đông đảo để thực hiện chương trình này, tác phẩm của họ đã được Hội Ấn nghiệp và Trang Trí tập họp lại và in thành « Vựng tập về Thương mại, Văn hóa, Lãnh thổ, và Con người đất Gia Định ». Sách do Nhà xuất bản Paul Geuthner in theo các bản vẽ đã thực hiện trong các năm 1935-1938-1943.

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 1

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 2

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 3

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 4

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 5

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 6

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 7

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 8

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 9

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 10

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 11

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 12

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 13

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 14

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 15

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 16

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 17

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 18

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 19

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 20

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 21

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 22

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 23

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 24

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 25

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 26

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 27

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 28

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 29

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 30

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 31

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 32

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 33

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 34

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 35

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 36

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 37

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 38

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 39

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 40

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 41

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 42

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 43

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 44

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 45

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 46

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 47

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 48

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 49

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 50

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 51

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 52

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 53

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 54

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 55

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 56

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 57

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 58

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 59

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 60

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 61

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 62

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 63

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 64

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 65

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 66

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 67

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 68

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 69

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 70

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 71

Hồng Vân

Các phụ nữ vùng nông thôn của Sài Gòn xưa mặc áo dài trong bữa cơm gia đình.

Gửi tới tất cả những người mẹ trên thế giới này: "Cám ơn mẹ!"

Gửi tới tất cả những người mẹ trên thế giới này:

"Cám ơn mẹ!"

Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta vẫn xem sự hiện diện của những người mẹ là một điều hiển nhiên mà quên mất việc bày tỏ sự biết ơn với người phụ nữ vĩ đại ấy vì những điều nhỏ nhặt mà họ đã và đang làm để giúp cho chúng ta có thể trưởng thành được như ngày hôm nay. Mẹ đã động viên chúng ta, giúp đỡ chúng ta, cùng chúng ta khóc, cùng chúng ta cười. Đôi khi chúng ta không biết rằng một lời cám ơn đơn giản lại chứa đựng một giá trị lớn lao vô cùng. Vì thế Xin gửi đến tất cả những người mẹ trên thế gian này! Cám ơn mẹ vì đã là mẹ của con!

Cám ơn mẹ vì đã mang con đến với thế giới này

Cám ơn mẹ vì đã trao cho con một cuộc sống đáng quý vô cùng, để cho con học được bao nhiêu điều hay, gặp được thật nhiều con người thú vị. Và trên hết, đã để cho hai mẹ con mình được gặp nhau!

Cám ơn mẹ vì đã nấu cho con thật nhiều món ăn ngon

Cám ơn mẹ vì đã thức dậy vào mỗi sớm mai để chuẩn bị bữa sáng lẫn bữa trưa cho con trước khi con đến trường. Cám ơn vì bữa ăn nhẹ ngon lành sau mỗi chiều con tan lớp và cả bữa ăn tối thật tuyệt vời nữa.

Cám ơn mẹ vì đã luôn muốn con tự yêu lấy bản thân mình trước khi học cách yêu thương người khác

Cám ơn mẹ vì đã dạy cho con học cách yêu thương, vì câu nói "Để biết yêu thương người khác, trước hết con phải yêu thương chính bản thân con."

Cám ơn mẹ vì đã dạy cho con cách quản lý tiền bạc

Cám ơn mẹ vì khoản tiền trợ cấp và không bao giờ cho thêm dù chỉ một xu lẻ. Điều đó đã dạy cho con biết giá trị của đồng tiền và xóa tan đi tư tưởng "mọi thứ trên đời này đều là miễn phí" trong đầu của con.

Cám ơn mẹ vì đã luôn vị tha dẫu cho con có làm tổn thương cảm xúc của mẹ

 

Cám ơn mẹ vì "làn da thật dày" mỗi khi nghe con nói những điều gây tổn thương và luôn cố tỏ ra như không hề buồn bã. Con biết mẹ có thể để cho con chết đói hoặc tự tìm đường đến trường sau mỗi cuộc tranh cãi ngớ ngẩn, nhưng không, mẹ vẫn làm bữa trưa cho con và đưa con đến trường.

Cám ơn mẹ vì đã dạy cho con cách giải quyết mọi xung đột hàng ngày

Cám ơn mẹ vì đã dạy con cách im lặng và không hành động cảm tính về những thứ không có ý nghĩa đối với con. Cám ơn vì đã dạy cho con biết cách đứng lên và đấu tranh vì những điều mà con tin tưởng.

Cám ơn mẹ vì đã dạy cho con cách làm người

Cám ơn mẹ vì đã dạy cho con biết cách cư xử, biết nói "làm ơn" và "cám ơn" với mọi người. Giờ đây con đã hiểu được một con người không biết cách cư xử sẽ tồi tệ đến thế nào, và con luôn tự hào rằng mẹ đã dạy cho con cách làm người đúng đắn.

Cám ơn mẹ vì đã hiểu rõ có những điều "chỉ hai mẹ con mình biết"

Cám ơn mẹ vì đã luôn luôn lắng nghe con tâm sự, luôn giữ bí mật về những điều thầm kín mà ngoài mẹ ra con không còn tin tưởng ai khác để giãi bày.

Cám ơn mẹ vì đã dày công chỉ dạy cho con về định nghĩa của hai chữ "công bằng"

Cám ơn mẹ vì đã dạy cho con biết không phải tất cả mọi thứ trên cuộc đời này đều tự nhiên mà diễn ra theo ý muốn của con. Con cần phải làm việc chăm chỉ để biến ước mơ thành hiện thực và không nên tự quyền.

Cám ơn mẹ vì đã dạy cho con biết thế nào là kiên nhẫn

Cám ơn mẹ vì đã dạy cho con biết cách chờ đợi và học cách kiên nhẫn, bởi lẽ đó chính là điều mà mẹ đã ngày ngày phải trải qua trong cuộc sống này.

Cám ơn mẹ vì đã luôn trả lời mọi câu hỏi của con và dạy cho con biết đặt câu hỏi là một điều thật tuyệt

Cám ơn mẹ vì đã trả lời mọi câu hỏi "tại sao, thế nào, là ai, cái gì" của con. Cám ơn vì đã dạy cho con biết đặt câu hỏi là một điều nên làm bởi tri thức là một công cụ tuyệt vời trong cuộc sống, và con sẽ chẳng bao giờ biết được nếu như con không hỏi.

Cám ơn mẹ vì một tình bạn thật tuyệt vời


Cám ơn mẹ vì đã luôn là một người bạn thân thiết của con. Mẹ luôn bên con mỗi khi con vui, con buồn, khi con chán chường thất vọng hay khi con giận dữ. Cám ơn vì đã là người bạn tốt nhất của con, dẫu cho thật nhiều năm về sau con mới có thể nhận ra điều đó.

Cám ơn mẹ vì đã dạy con luôn phải là chính mình


Cám ơn mẹ vì đã cho con biết sẽ ổn thôi nếu con luôn là chính mình. Mẹ đã dạy cho con cách tự hài lòng với chính bản thân và trở thành một bản thân tốt nhất nếu như con muốn.

Cám ơn mẹ vì đã trở thành người ủng hộ lớn nhất trong mọi sự kiện của cuộc đời con

Cám ơn mẹ vì sự hiện diện lớn lao trong cuộc đời con, cùng con đi qua mỗi cột mốc quan trọng trong đời và luôn ủng hộ con, chứng kiến con đường mà con trưởng thành.

Cám ơn mẹ vì đã luôn nở nụ cười

Cám ơn mẹ vì những nụ cười mà mẹ đã dành cho con từ khi con sinh ra cho đến tận ngày hôm nay. Và chỉ đơn giản là, cám ơn mẹ vì đã cười.

Kim Phượng st

Image result for hình bìa về mother

Theo dõi RSS này