Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1206)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (74)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (53)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (337)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống

người Việt vào thập niên 1930

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

Bộ Chuyên khảo bằng tranh vẽ về Đông Dương (Monographie dessinée de l’Indochine) là một series đồ sộ gồm 520 bức vẽ bằng bút chì, in li-tô và phần lớn đều tô màu. Nội dung tranh mô tả phong cảnh, cách sinh sống của dân nước ta vào khoảng đầu thập niên 1930. Nói chính xác thì có 4 bộ về xứ Bắc, 1 bộ về miền Trung, 6 bộ về miền Nam và 2 bộ về Cao Miên và Ai Lao.

Tranh vẽ theo sự gợi ý của ông Jules Gustave Besson, Chánh Thanh tra các Trường Mỹ thuật và Mỹ nghệ ở miền Nam và cũng là Hiệu trưởng của Trường Mỹ thuật Gia Định đến hơn 10 năm. Học sinh của trường Vẽ Gia Định đã tham gia đông đảo để thực hiện chương trình này, tác phẩm của họ đã được Hội Ấn nghiệp và Trang Trí tập họp lại và in thành « Vựng tập về Thương mại, Văn hóa, Lãnh thổ, và Con người đất Gia Định ». Sách do Nhà xuất bản Paul Geuthner in theo các bản vẽ đã thực hiện trong các năm 1935-1938-1943.

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 1

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 2

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 3

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 4

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 5

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 6

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 7

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 8

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 9

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 10

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 11

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 12

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 13

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 14

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 15

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 16

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 17

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 18

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 19

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 20

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 21

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 22

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 23

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 24

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 25

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 26

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 27

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 28

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 29

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 30

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 31

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 32

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 33

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 34

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 35

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 36

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 37

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 38

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 39

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 40

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 41

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 42

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 43

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 44

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 45

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 46

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 47

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 48

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 49

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 50

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 51

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 52

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 53

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 54

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 55

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 56

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 57

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 58

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 59

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 60

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 61

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 62

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 63

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 64

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 65

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 66

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 67

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 68

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 69

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 70

Chiêm ngưỡng bộ tranh vẽ cuộc sống người Việt vào thập niên 1930 - 71

Hồng Vân

Các phụ nữ vùng nông thôn của Sài Gòn xưa mặc áo dài trong bữa cơm gia đình.

Xem thêm...

Ta Về Một Bóng Trên Đường Lớn...

TA VỀ MỘT BÓNG TRÊN ĐƯỜNG LỚN…

Tô Thùy Yên

Tiểu sử:

Tô Thùy Yên là một nhà thơ nổi tiếng người Việt Nam. Ông là tác giả bài thơ Chiều trên phá Tam Giang mà một phần của nó đã được Trần Thiện Thanh phổ nhạc. Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gò Vấp. Cha là chuyên viên phòng thí nghiệm viện Pasteur Sài Gòn, sau về công tác ở Bệnh Viện Chợ Rẫy.

Thuở nhỏ học trung học Trường Petrus Trương Vĩnh Ký, có ghi danh theo học ở Trường Đại HỌc Văn Khoa Sài Gòn, ban văn chương Pháp một thời gian rồi bỏ dở.

Ông bắt đầu có thơ đăng trên báo Đời Mới (Thập niên 1950 ) trước khi xuất hiện và nổi tiếng trên tạp chí Sáng Tạo. Tô Thùy Yên, Mai Thảo , Thanh Tâm Tuyền cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng là những người nòng cốt của nhóm Sáng tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh "Thơ Tự Do" trên văn đàn Miewefn Nam vào thập niên 1960. Ông là người miền Nam duy nhất trong nhóm Sáng tạo.

Cuối năm 1963 ông nhập ngũ phục vụ ngành chiên tranh chính trị. Chức vụ cuối cùng là thiếu tá, trưởng phòng Tâm lý chiến.

Tô Thùy Yên lập gia đình với vợ chánh là bà Huỳnh Diệu Bích, nhưng ông còn có thời gian chung sống và có mấy con với nhà văn nữ Nguyễn Thị Thụy Vũ .

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông bị nhà cầm quyền cầm tù ba lần, tổng cộng gần 13 năm. Cuối năm 1993 cùng gia đình sang Hoa Kỳ định cư theo dạng tù nhân chính trị . Hiện nay ông đang ở Houston tiểu bang Texas (Theo Wikipedia ).

 

 ◄ ◊► ◄ ◊ ►

 

Chúng tôi hân hạnh giới thiệu bài viết của cô Thảo Dân, bình luận rất sâu sắc bài thơ Ta Về của Tô Thùy Yên. Càng ngạc nhiên biết cô là giáo viên miền Bắc, sinh năm 1974.

Xưa giờ, tôi vẫn tự nhận mình mê thơ Nam hơn thơ Bắc. Bởi lẽ, với riêng tôi, thơ là tiếng nói thốt lên tự đáy lòng, không cần phiên dịch, không cần triết lý, không cần gò bó trong những trúc trắc diễm lệ câu từ. Thơ càng chau chuốt, bóng bẩy thì, hình như, cái tình càng ơ hờ, nhạt nhẽo. Thơ cũng không phải nơi để gửi gắm triết lý. Làm việc đó, văn xuôi và triết học tốt hơn nhiều. Thơ để cảm, để yêu, để nơi trái tim gặp gỡ trái tim. Vậy mà có một ngoại lệ, nhà thơ tôi yêu thích trong âm thầm, khá lâu bền, lại là người được giới phê bình nhận xét “Người Nam nhưng mang hồn thơ Bắc”: Nhà thơ Tô Thùy Yên.

Thật ra, trong cảm nhận của tôi, thơ Tô Thùy Yên có cả Nam, Trung và Bắc, có đủ triết, sử, đời. Nếu chọn đại diện duy nhất thơ cho một nước Việt Nam thống nhất, tôi trân trọng đề cử Tô Thùy Yên. Trong cái hệ lụy chung của Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, thì nó cũng để lại một trái đẹp lạ lùng, đó là sự pha trộn, làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn hóa miền Nam, và dường như, Tô Thùy Yên là thi nhân đặc biệt bắt được nhịp thở thời ông sống và nhập cả vào thơ điệu tâm hồn Bắc Trung Nam, làm nên một vóc dáng thơ vạm vỡ, uy nghi, lạ lẫm trong dòng chảy văn chương dân tộc với ngôn ngữ vừa dân dã vừa bác học, vừa bình dị vừa sang trọng, không lẫn vào ai khác.

Nếu nói thơ Chế Lan Viên độc đáo ở siêu hình, thì thơ Tô Thùy Yên siêu hình không kém. Nếu nói sự tráng lệ của câu chữ trong thơ Yến Lan, sự cổ điển của Quách Tấn, tìm trong thơ Tô Thùy Yên, đủ cả. Cảm hứng về thiện nhiên, vũ trụ trong thơ Huy Cận, Tô Thùy Yên không thua, chưa muốn nói còn rợn ngợp hơn. Về lối viết cách tân của Trần Dần hay sự tài hoa của Quang Dũng, Tô Thùy Yên có nhiều câu không hề kém cạnh.

Thơ Tô Thùy Yên mang phong vị thơ Bắc ở cách diễn đạt văn chương, ở lớp lang từ ngữ ước lệ, tượng trưng của Đường luật, ở cách dùng ca dao độc đáo, duyên dáng. Tôi gọi Tô Thùy Yên là Nhà thơ không quê hương. Ông sinh ra ở Gia Định nhưng quê hương ông là Việt Nam. Thơ ông nói với ta như thế.

Thơ Tô Thùy Yên thể hiện một sự trái ngược khá lạ lùng. Ông là một trong 5 thành viên của nhóm Sáng Tạo (mà duy nhất ông là người Nam), một nhóm thơ mong muốn thổi vào thi ca Saigon khi đó một sự cách tân cả về nội dung lẫn hình thức, nhưng trong những sáng tác của ông, ta thấy ông lại dùng tấm áo gấm cổ điển để gói bọc nội dung siêu hình, giàu tính triết học, vô cùng hiện đại.

Bài thơ Cánh đồng con ngựa chuyến tàu viết năm 1956 khá tân kỳ. Đặt vào hoàn cảnh quốc gia Việt Nam Cộng Hòa khi đó, nó mang tính thời sự rất cao nhưng vẫn không bớt chất lãng mạn, bay bổng. Bài thơ mở ra bức tranh động với hình ảnh cánh đồng một màu xanh cây cỏ nhưng không bằng phẳng êm xuôi mà có “gò nổng cao” và “thung lũng sâu”, như ẩn dụ về đường đời đầy thử thách.

Trên nền màu xanh của cỏ cây, chú ngựa nâu đang rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu, còn đoàn tàu vẫn vô tri vô giác chạy mau, chạy mau, chạy mau để rồi rốt cuộc ngựa thua. Gục đầu, gục đầu, gục đầu ngã lăn và để lại trên tấm thảm xanh trải dài hút mắt một vết nâu.

Dường như, trong hai hình ảnh sóng đôi con ngựa và toa tàu không chỉ là cuộc phân tranh giữa “thảo mộc phương Đông và Tây phương cơ giới” như nhà phê bình Đặng Tiến nhận xét, mà dường như, ý thơ còn muốn mở ra điều sâu kín hơn: Con tàu văn minh rất hiện đại nhưng không có hồn vía, không có sự sống, không có cảm xúc và vẫn chịu sự điều khiển của con người. Con ngựa (phải chăng là ẩn dụ về con người?), tuy phải trải qua những cung đường gập ghềnh, thử thách, nhưng luôn được sống trong những giây phút thăng hoa, có thể thắng thua trên đường đời nhưng luôn được làm chủ cảm xúc, luôn được là mình.

Bài thơ là khúc hoan ca về cái tôi kiêu hãnh. Hoặc nữa, nó còn là một lời dự báo, một âu lo ngấm ngầm trong tiềm thức: Một ngày nào đó, nền văn minh công nghiệp sẽ tàn phá tất cả, bỏ lại loài người bị tước bỏ môi trường sống, không còn được thung dung như chú ngựa nâu an nhiên thuộc về cội nguồn thiên nhiên cây cỏ đồng hoang?

Nhưng, trong phạm vi một bài viết ngắn, không thể ôm đồm. Chỉ xin mạo muội chia sẻ một số suy cảm sơ sài về bản trường thi lộng lẫy trong kho tàng văn chương Việt Nam, được nhiều người ca tụng: TA VỀ.

TA VỀ- bản trường thi nhiều lớp lang, cảnh trí: cảnh trí đất trời, cảnh trí con người và cảnh trí của cõi lòng thê thiết. Mỗi khổ thơ tách riêng có thể thành một bài thất ngôn tứ tuyệt độc lập, chặt chẽ, hoàn hảo. Điệp ngữ “Ta về” được dùng như chiếc chìa khóa mở ra nội tâm nhà thơ từ lúc đặt chân xuống đường lớn, trả lại thân phận tự do.

Bài thơ là tiếng lòng của một người, cũng là tiếng lòng của hàng ngàn người miền Nam bị đày ải khắp các nhà tù từ Nam chí Bắc, từ rừng hoang heo hút, hiểm trở đến những nơi đồng chua nước mặn… Đọc bài thơ, ta hiểu về lịch sử, tâm sử, chứ không chỉ là lời giãi bày khi trở lại quê nhà, thậm chí nhóm câu thơ tình ái trong bài cũng gợi về dòng lệ tràn của bao nhiêu thân phận thiếu phụ chờ chồng từ những trại cải tạo sau 1975.

Không riêng bài thơ này, mà trong toàn bộ sáng tác của Tô Thùy Yên, dường như ông luôn là người chép sử, luận triết bằng thơ. Ta gặp ở đây lối kết cấu nghệ thuật như trong thơ cổ. Trang đời mới mở ra sau cánh cổng nhà tù: Trở về, qua truông qua phá, gặp người quen cũ trên đường, gặp cha mẹ, gặp vợ con, đi thăm làng xóm, nhớ người còn người mất, tìm lại chính mình những ngày tháng cũ, đan xen là những suy tưởng để tìm lại mình và phá bỏ những xiềng xích tâm hồn 10 năm dằng dặc.

“Mười năm”, không phải quãng thời gian dài nhất mà một người tù VNCH phải trải qua. Lâu nhất phải kể đên Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Thiếu tướng Đỗ Kế Giai, Thiếu tướng Trần Quang Khôi, Thiếu tướng Phạm Ngọc Sang, Thiếu tướng Phạm Duy Tất, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Mạch Văn Trường…đều bị tù từ tháng 5/1975- 1992, tức là 17 năm tù.

Những người bị tù ít nhất cũng vài ba năm. Bản thân Tô Thùy Yên có tổng cộng 13 năm trong tù. Nhưng lần đầu, cũng là lần lâu nhất: 10 năm. Như vậy, nên hiểu “mười năm” vừa chỉ thời gian có thật, vừa là khái niệm ẩn dụ, tròn một thập kỷ, đủ để thương hải tang điền, đủ cho người thay đổi và đời thay đổi.


Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai 
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ 
Mười năm đá vẫn ngậm ngùi thay.


“Ta về” được nhắc đi nhắc lại 16 lần, không phải tiếng reo vui, không phải lời báo tin mừng mà cả bài thơ nặng trĩu trầm ngâm suy tưởng. Ta về là kết thúc một phần đời đau khổ. Ta về để mở ra chương đời khác chưa biết có đỡ bi thảm hơn không. Ta về với những giấc mơ mười năm xóa trắng. Ta về mà như tiếng địch ngân xót xa sầu thảm của tráng sĩ thất trận qua sông.

Tôi hình dung ra một con người quần nâu, áo vải phai màu bởi nắng mưa xứ Bắc, thập thững đi cô độc trên đường. Đường vắng. Người gầy, bóng đổ. Cả bóng lẫn người đều câm lặng. Một cuộc trở về ngậm ngùi, không người thân đưa tiễn, không ai biết mà đón đợi.

Ca dao có câu Mình về em chẳng cho về/ Em níu vạt áo em đề câu thơ. Phút chia tay, bút mực đâu mà đề thơ lên áo. Là dòng lệ của nàng vẽ lên áo một chữ Tình đó thôi. Đề thơ chỉ là cái cớ để bên nhau lâu thêm một chút. Cuộc tiễn đưa dùng dằng, lưu luyến.

Nhưng với thân phận người tù cải tạo khi đó, còn sống mà trở về đã là việc thần kỳ, được rời bỏ địa ngục trần gian phút nào là biết mình được sống phút đó, còn có mong chi ai đề thơ vạt áo. Mười năm mong mỏi.

Vậy mà sao khi trở về lại “đau mềm phế phủ” đau thấu tâm can, đến nỗi đá cũng còn thay người ngậm ngùi rơi lệ? Bởi nhớ lại những đọa đày khó giấy bút nào tả xiết? Là nhớ những đoạn trường mẹ già, vợ dại con thơ truân chuyên đường xa dặm thẳm tàu xe cả tuần lễ mới tới nơi thăm nom, để dành cho một chút thức ăn từ những chắt chiu tằn tiện? Hay đau đứt ruột bởi những huynh đệ chi binh chia ngọt xẻ bùi, bảo bọc nhau qua ngày tháng khó, giờ chỉ là những nấm mồ hoang cô quạnh nằm lại nơi đất khách?

Trong bài “Tàu đêm” tái hiện cảnh đoàn tàu chở những người tù miền Nam đi đày biệt xứ, Tô Thùy Yên viết những dòng rền vang, chát chúa như lời trăng trối tuyệt vọng khi đoàn tàu như trong một cơn giông lửa, giữa đêm chạy về nơi vô định, về nơi cuối trời, và với nhiều thân phận, đó là chuyến đi về nơi cuối đời.

Khi chạy qua những xóm làng tối đen im lìm của miền Bắc, những bến cảng, nhà kho, người tù nhớ mẹ, nhớ em, nhớ phố phường hoa lệ…, hình dung mình như một thứ sinh vật khổ đau bị nghiến dưới đường ray lịch sử vô tình, người tù tuyệt vọng thốt lên những tiếng kêu bi thảm để mong loài người mê sảng trong thứ chủ nghĩa giáo điều tăm tối đang im lìm kia, thức dậy để biết có những đồng bào, đồng loại đang còn có linh hồn, để cùng nhau sống.


Tàu ơi hãy kéo còi liên tục
Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
Lay động những tầng mê sảng tối
Loài người hãy thức, thức cùng nhau

Ngược lại, khi trở về, chỉ là những thanh âm im lặng. Một mình một bóng. Và khi trở về, người tù hồi tưởng lại đoạn đời lao tù


Vĩnh biệt ta- mười- năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt sạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.


Khổ thơ này là lời đoạn tuyệt 10 năm xa loài người, 10 năm sống trong âm ty địa ngục nhưng, ta vẫn bắt gặp tâm trạng kiêu hãnh kín đáo của kẻ chiến bại. Tựa vào rừng mà tồn tại. Câm lặng như rừng để giữ gìn chất Người dù cho bị đày đọa đến suy thoái cả hình hài, hoang dã như thời tiền sử. Thân bại nhưng vẫn âm thầm sống, mãnh liệt sống để danh không liệt.


Có lẽ, khổ thơ này chỉ nên đọc và cảm nhận, không cần bình luận gì nhiều về thân phận người tù. Để hiểu thêm, xin giới thiệu một vài khổ thơ trong bài “Mùa Hạn” nói về cảnh ngộ người tù, ông viết năm 1979 ở Nghệ An nhưng phải tới 15 năm sau nó mới được in trong “Thơ Tuyển”, năm 1995 ở Mỹ.


Ở đây địa ngục chín tầng sâu
Cả giống nòi im lặng gục đầu
Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt,
Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau.
Bước tới, chân không đè đá sắc
Vai trần chín rạn gánh oan khiên
Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc
Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng.


Tô Thùy Yên đã chép lại một thời kỳ tăm tối mà ông và chiến hữu đã trải qua, thời kỳ kinh khủng, giữa thời đại văn minh mà con người bị đày đọa như súc vật đến nỗi, chung xiềng mà không dám nhìn mặt, nghiến đến chết cứng hàm răng, mắt ứa máu, vì thương bạn, thương mình, vì thân phận bị cầm tù đau xót, vì mang nỗi hận của hùm thiêng khi đã sa cơ, chỉ tồn tại với nước khe, cơm độn, nắng cháy, cát bay, rừng khô rụm, sông hồ nẻ, đá nứt, muông thú không còn, khoai sắn cũng bị dân làng đào sạch, thú hóa con người đến mức cầu được chết đi vì sống nhục nhằn hơn đau khổ hơn là chết.

Để tồn tại và vượt thoát, có người tù còn nói câu để đời: “Con gì nhúc nhích được là ăn hết”. Đó vừa là bản năng sống, vừa là bản lĩnh người. A.I.Solzhenitsyn có tác phẩm Tầng đầu địa ngục đoạt giải Nobel Văn chương năm 1970, tái hiện cuộc sống của những nhà khoa học hàng đầu của Liên xô bị giam cầm như trong địa ngục dưới thời Stalin, khiến cả thế giới bàng hoàng về sự độc ác mà con người phải trải qua.

Nhưng đó vẫn là Tầng đầu, tầng cao nhất mà Dante có thể nghĩ ra trong Thần khúc để dành chỗ cho khoa học gia, những người dám chống lại cả Chúa, còn những người tù trong thơ Tô Thùy Yên, thì đó là Tầng thứ 9. Đủ cho người đọc lạnh người.

Hành trình trở về qua truông qua phá, lặng lẽ, im lìm, trời câm đất nín, đời im lìm, đóng váng. Người tù trở về, là người tự do trong thân phận cá chậu chim lồng đâu còn có thể hót lên bài ca cũ. Nhưng may mắn, họ không bị chai sạn tâm hồn, vẫn có thể “ngẩn ngơ trông trời đất cũ” cho dù đó không phải sự “ngẩn ngơ” lãng mạn tìm thi hứng, mà đó là nỗi xót xa cho phận người, phận mình, xót xa cho nỗi hưng phế suy vong của lịch sử.


Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi, đất bạc màu.


Thời gian mười năm được nhắc lại, nhẹ như hơi thở mà chất chứa bao điều. Thế giới già đi, quê hương tan nát sau bao mùa bom đạn, quê hương tàn tạ sau mỗi chuyển dời. Đất bạc màu bởi người chết, người bị tù đày, người đi lên vùng kinh tế mới? Chỉ biết quê hương không còn là quê cũ trù phú, xanh tươi, sum vầy. Điệp ngữ “đất bạc màu” nghe như tiếng thở dài nuối tiếc, xót xa, bất lực. Trước sau, tấm lòng kẻ sĩ vẫn là nỗi trăn trở khi đặt những bước chân đầu tiên trở lại sau mười năm xa vắng.

Tô Thùy Yên- Tranh Đinh Cường

Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió chuyển mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ.
Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã mấy ghi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi.


Có lẽ ám ảnh bởi không gian vũ trụ siêu hình, nên trong thơ Tô Thùy Yên hay nhắc về các loài chim, dường như nó trở thành một hệ thống thi pháp khi ông diễn tả về thời gian, không gian: Con chim thần thoại mắt khoen sâu/ Giật mình như đã ngàn năm ngủ/ Giữ bụi lông, cất khản tiếng gào (Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc) Ở đâu còn bóng chim huyền diệu/ Hót gọi tiền thân ta tái sinh (Mùa hạn) Núi xa chim giục giã hoàng hôn (Tưởng tượng ta về nơi Bản Trạch) Con chim nào hớt hải kêu van (Bất tận nỗi đời hung hãn đó) Con chim động giấc gào cô đơn (Trường Sa hành) Biển Bắc tuyệt mù con nhạn lạc (Mòn gót chân sương nắng tháng năm) Con chim lạc bạn kêu vườn rộng (Vườn hạ), Giữ khuya có tiếng chim ai oán (Nỗi đợi) Thương nhớ nghe chừng sông biển cạn/ Nghe chừng gãy những cánh chim bay (Tháng Chạp buồn)…

Hình ảnh “bóng chim qua trễ” như một ám ảnh cô độc, lẻ bầy, cũng là chỉ sự trễ muộn của đời người, đi với “gió chuyển mùa” càng gợi sự trống vắng. Tất cả đều đã hư hao, muộn màng, tất cả đã lỡ thời theo ngọn gió heo may của tuổi chớm đông. Để rồi còn lại, vẫn là nỗi trăn trở khi những vọng động của lịch sử sẽ ngưng ngơi, rơi vào thinh không im lặng, mười năm, bao nỗi bi thương của dịch chuyển thời thế, bao đau khổ của núi lở sông bồi, đau thương, ly tán. Đã ai ghi…vừa là câu hỏi, vừa là lời tự sự mà lại như một tiếng than thầm. Mười năm ấy, cổ lục chưa từng có sử gia biên chép. Biết bao nhiêu máu lệ, ghi mấy cho vừa. Phải vậy chăng, mà Tô Thùy Yên tình nguyện làm người chép sử bằng thơ?

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở 
Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.


Đây là một khổ thơ có thể cắt riêng thành một bài tứ tuyêt tài hoa, chứa đựng những triết lý nhân sinh sâu sắc. Người xưa dạy, rộng lớn nhất là đại dương, rộng hơn đại dương là bầu trời, rộng lớn hơn cả bầu trời chính là lòng người.

Tô Thùy Yên đã giải phóng mình khỏi nỗi hận thù, thấm nhuần giáo lý từ bi hỉ xả của nhà Phật, để lòng mình sánh ngang với trời đất, lắng nghe và cảm tạ lượng đất trời. Vì mình từ tâm nên mới nhìn thấu đất trời từ tâm.

Ai đã từng trải qua những cảnh ngộ mà nhà thơ từng trải, sẽ hiểu rằng, được sống, được trở về từ nơi đã từng đày đọa mình “thành vượn cổ sơ”, là may mắn đến nhường nào. Chính vì thế, cuộc đời dù cay đắng vẫn đáng yêu đáng sống, khi vượt qua địa ngục trần gian càng biết trân quý những vẻ đẹp quanh mình. Ngắm một đóa hoa nở cũng đủ coi như ân điển. Thấp thoáng từ những câu thơ tài hoa là nụ cười an nhiên của người đã qua kiếp nạn, thấm đẫm tinh thần của Lão, Trang, nhìn thấy Đạo ngay từ cánh hoa, ngọn cỏ. Tâm thiện mở ra tận cùng mới cảm nhận được sự từ tâm vô lượng của vũ trụ.

Tô Thùy Yên đã chạm tới cái vô hạn của nhân chi sơ tính bổn thiện. Không phải tới khi trải qua khổ nạn, Tô Thùy Yên mới thấu lẽ vô vi. Trong thời kỳ chiến tranh, ông đã có những vần thơ xót xa cho người lính phía bên kia chiến tuyến vừa sốt rét vừa đói lả nhưng vẫn xích lời nguyền sinh Bắc tử Nam để rồi từ đó bật lên khát khao nhân bản, giá như cả hai đều gom góp sức lại thì mặt đất này khác đến bao nhiêu.

Ngay thời điểm chiến tranh đang hồi ác liệt, mà có sự bao dung, vượt lên trên chiến tuyến đó, còn là gì nếu không phải tâm thế của người vượt thoát giỏi các giới hạn, mà cụ thể trong hoàn cảnh này, là vượt lên hận thù ý thức hệ để nhìn xa hơn cho tương lai dân tộc, bởi nhân thức được sự hữu hạn của kiếp người?

Khổ thơ tiếp theo bừng thức như ánh sáng chói lòa trong một giấc mơ:


Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.


Ngập tràn không khí cổ thi của một thời chinh chiến. Nhà nhà, người người lên đường theo tiếng trống trận, theo điệu kèn xuất binh hùng tráng. Nô nức ra đi nô nức lên đường. Đến cả con ngựa đá cũng không cầm lòng được, cũng biết sang sông. Những câu thơ linh hoạt hẳn lên, bừng sáng, giàu màu sắc, hình ảnh, âm thanh, gợi tôi nhớ tới lời sấm Ngựa đá sang sông của cụ Trạng Trình, sông đổi dòng để ngựa đá qua bờ bên kia, thời cuộc thay đổi.

Phải chăng, đó chính là ước mộng của một chiến binh kiêu dũng, vừa thoát ngục tù từ bên kia chiến tuyến đã mơ tìm lại nước, ước mơ tìm được đấng minh quân để tạo dựng cơ đồ? Không hiểu sao, đọc khổ thơ này, trong trí óc tôi lại cứ hiện lên hình ảnh bao con người có vẻ ngoài lầm lũi, cam chịu, nhẫn nại đang ngày đêm âm thầm cho những cuộc vượt thoát. Bằng đường biển, đến con ngựa đá cũng sang sông, cũng muốn ra đi. Giấc mộng mãi mãi chẳng viên thành, chỉ còn lại thực tại ê chề cay đắng nên lời thơ như có máu lệ sa xuống đầu ngọn bút.

Ta về như lá rơi về cội…đoàn tụ , xum vầy, nhân quần tề tựu quanh bếp lửa. Bởi mười năm mới được trở lại nhà. Giang hồ có kẻ “một tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”, huống chi người mười năm mới được ngồi bên bếp lửa đang độ cuối thu. Chén rượu hồng đây rưới xuống. Cho bạn. Cho thù. Cho những ai còn sống và đã khuất. Cho chiến hữu còn âm u đất lạ quê người trong cảnh lao tù, cho cả những người đã tự chọn cho mình một con đường, bỏ nước ra đi. Tha thứ và làm lại từ đầu cho được thành người, không để kẻ nào vùi dập. Ngôn từ ngậm ngùi, hình ảnh đẹp bi tráng, không khí cổ thi vẫn đậm đặc.

Ta về như hạt sương trên cỏ…hạt sương đẹp, khúc xạ cả mặt trời, trong sáng, tinh khôi nhưng lại ngắn ngủi, phù du đến vô thường, nên người ta hay ví sự ngắn ngủi của kiếp người, của cuộc đời như là sương trắng.. Hạt sương trên cỏ chính là bước đi của thời gian, ngắn ngủi hữu hạn đặt cạnh vô cùng vô tận để rồi chợt nhận ra satna bên cạnh vĩnh hằng.

Tuy mong manh nhưng lại chứa sức sống mãnh liệt của không gian, thời gian, đa diện, đa sắc, phải vì thế chăng mà ở câu thơ sau tác giả nhắc tới sinh, dị, diệt trong Đạo Phật để tìm cho thấy cái tâm thế an nhiên tự tại. Đời người như gió như sương. Đời người như chớp mắt. Đặt cạnh số phận dân tộc, nó càng mong manh, vô thường. Ai rồi cũng hư vô. Vậy mà hạt sương bé bỏng vẫn phải tội tình. Hãy liên hệ với thực tại khi đó của thân phận những người tù vừa ở trại cải tạo về để cảm nhận tâm thế chấp nhận hoàn cảnh và lời than thầm của nhân vật trữ tình.


Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh…

Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên…


Một loạt hình ảnh tỉ dụ với những hình ảnh chỉ sự hữu hạn, mong manh, hư vô, đẹp đến mơ hồ.

Ta về khai giải bùa thiêng yểm
Thức dậy đi nào gỗ đá ơi
Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
Một lần kể lại để rồi thôi.


Có bùa thiêng nào kể lại được nỗi nhà mười năm xa vắng? Gỗ đá không thức dậy. nhưng cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Từng mái, vách, tường xiêu, nhện giăng, khói ám, mối xông, giậu nghiêng cổng đổ, thềm cỏ um tùm, khách cũ không còn ai, người mất, người tù, người biệt tích...há chẳng phải cảnh vật đang kể lại một câu chuyện vô ngôn của cảnh nhà đơn chiếc, cha mẹ già như đĩa dầu hao, vợ lặn lội chạy ăn từng bữa nuôi con chờ chồng, những đứa con lớn lên không có bóng dáng cha đó sao? Đoạn thơ nói về cảnh vật mà người đọc hình dung ra bao biến cải bể dâu, nhớ tới câu thơ của Nguyễn Gia Thiều: “Phong trần đến cả sơn khê/ Tang thương đến cả hoa kia cỏ này”.

Chỉ cần nhắc một lần để rồi phải sống. Hãy nhớ, bên cạnh yếu tố triết học, những ám ảnh không gian, thời gian, cảm thức sâu sắc về lẽ biến dịch, về sự tuần hoàn, thơ Tô Thùy Yên chính là thi sử, là những trang đời âm thầm máu lệ của ông và những đồng hữu thời hậu chiến, và vượt lên tất cả là khí phách là thái độ sống của một người quân tử, không trói buộc lòng mình vào hận thù, khắc hận thù vào trong dạ nhưng không để nó làm vẩn đục đời sống tinh thần.

Những câu thơ dành cho người vợ tào khang khiến người đọc không khỏi xúc động.


Ta về như tiếng kêu đồng vọng
Rau mác lên bờ đã trổ bông
Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng 
Chờ anh như biển vẫn chờ sông.


Ca dao Nam Bộ có câu: Chờ anh em quá sức chờ/ Chờ cho rau mác lên bờ trổ bông. Rau mác cùng họ với lục bình, nhưng lá nhọn như hình lưỡi mác. Hoa cũng tim tím như lục bình nhưng bông nhỏ và ít hoa hơn. Nếu lúc bình nổi lênh đênh trên mặt sông, kênh rạch, thời gian sinh trưởng ngắn thì rau mác có thể sống nhiều năm, mọc cố định ở đồng bưng, về mùa nước nổi, rau mác theo nước vươn lên, cọng trắng phau, mập tròn, có thể bứt làm thức ăn. Rau mác luôn mọc chòi lên bờ, như ước muốn thoát khỏi thân phận cây dại. Rau mác trổ bông quanh năm, vậy mà cô gái đã trách chàng trai để mình “quá sức chờ” lối nói thậm xưng chỉ sự ngóng trông đằng đẵng.

Vậy mà 10 năm đợi chờ, bao nhiêu mùa rau mác trổ bông? Đủ thấy tấm lòng người vợ trung trinh với tiếng lòng đồng vọng. Em vẫn chung thủy đợi chờ, như lẽ tất nhiên, như điều bình dị, như lòng biển mênh mông nhẫn nại. Có người cho rằng, đây là so sánh thiếu tế nhị, thiếu mềm mại và không thích đáng. Kể ra không phải không có lý. Biển vĩ đại, sóng ngầm, bão tố, phong ba…đặt người đàn bà trong so sánh với biển, dữ dội quá, tuồng như không giống với những phẩm chất dịu hiền, thương khó mặc định của đàn bà Việt.

Nhưng hãy đọc lại bao trang viết về những người vợ có chồng đi cải tạo, vừa lặng thầm chăm lo cha mẹ, vừa như con gà mẹ xù cánh che chở nuôi dạy con khỏi sự cô lập, kỳ thị của người đời, vừa thu vén chắt bóp thăm chồng đường xa vạn dặm, không chỉ đối mặt với bao khó khăn về vật chất, mà cái khổ lớn nhất là sự chịu đựng, o ép, đe dọa về tinh thần, thì không so sánh nào sâu sắc, hàm ơn bằng hình ảnh người vợ chờ chồng như biển chờ sông.

Ta về như nước Tào Khê chảy
Tinh đẩu mười năm đã nhạt mờ…
…Người chết đưa ta cùng xuống mộ
Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
Khóc người ta khóc ta rơi rụng
Tuổi hạc ôi ngày một một hao.


Những câu thơ này đặc phong vị Bắc. Nó làm người đọc liên tưởng tới câu ca dao thao thiết Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn/ Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ và Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ. Tôi không biết khi viết những điển tích, những chỉ dấu Bắc kỳ tuyệt đẹp này, ông đã đọc những câu ca dao Bắc này chưa, nếu chưa, thì quả thực chất Bắc đã ngấm vào hồn thơ ông hồn nhiên, nhuần nhị như năm xưa Tướng quân Trần Nhật Duật lên miền ngược uống rượu với người Man, thuần thục đến mức được coi như gã người Man chính hiệu.
Tôi đặc biệt thích khổ thơ:


Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt sắp vô danh.


Tại sao lại là “bóng ma hờn tủi”? Là bởi vì bị bức tử về tinh thần, bị o ép về mặt thân xác, đã thành một con ma người tồn tại ở cái buổi nghi kị, tố giác, căm thù và độc địa. Nhưng nhân vật trữ tình trong thơ Tô Thùy Yên, luôn luôn cảm nhận rõ cảnh ngộ, thân phận, và có phần nào an phận, nhưng tuyệt đối không cúi đầu. Vượt lên tất cả nghịch cảnh là sự tiếc nuối, xót xa, thương yêu, bao dung và tha thứ. Buộc phải “chết”, bị ép vào tuyệt lộ nhưng vẫn không bao giờ đánh mất mình. Mười năm ta vẫn cứ là ta. Điềm đạm, ngang tàng, uy vũ bất năng khuất.

Nếu ở khổ thơ trên, một bông hoa nở cũng đủ để nhà thơ cúi đầu cảm tạ, thì tới đây, ông lại “thương từng phế liệu”, những dấu tích thời chiến, dấu tích của cuộc đời khác, thuở được làm người. Một mối tương liên khi nhìn những mảnh phế liệu mà nghĩ tới phận mình, mình giờ đây có khác gì mảnh phế liệu thành vô danh ngay trên mảnh vườn nhà.

Nhìn thấy ở mỗi sự vật đều có linh hồn, để mà thương lấy mình, để mà sống cho nhân ái khoan hòa. Tâm thế đó dường như là một chất riêng của thơ Tô Thùy Yên. Ông vượt thoát các giới hạn, không phải để lảng tránh, mà để đối mặt, nhìn rõ bản chất, không để hận thù mà để thứ tha. Bởi thế, tôi cho rằng, thơ Tô Thùy Yên còn giàu Phật tính, không chỉ riêng trong bài thơ này.

Ta về như hạc vàng thương nhớ
Một thuở trần gian bay lướt qua
Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
Đành không trải hết được lòng ta.


Từ ngàn xưa, trong tâm thức văn hóa Á Đông, Hạc được ví như chim thiêng, là linh vật bất tử trong thế giới loài chim. Hạc có sải cánh dài rộng, bay vút trời cao, vượt muôn trùng mây, sánh với người ưu tú có năng lượng sống dồi dào, mạnh mẽ đương đầu khó khăn sóng gió, lại trong sạch thuần khiết giống bậc quân tử, tiếng kêu thánh thót của nhân tài. Do đó, Hạc được xem như biểu tượng của trí tuệ và cốt cách thanh cao, vượt khỏi đời tầm thường tục lụy.

Đây là khổ thơ xứng làm cái kết cho bản trường thi lộng lẫy, thể hiện sự song hành giữa cái hữu hạn bên cạnh cái vô hạn, giữa thanh cao và tục lụy, giữa buông xả và luyến thương. Đời là cõi tạm, còn ta chỉ như loài chim quý trót nặng lòng thương nhớ trần gian một thuở làm người mà về lại bên đời, để rồi vỗ cánh. Thế thì những tù đầy, oan trái còn xảy ra thêm vài lần nữa cũng có gì đáng sợ. Trong tầm vòng giới hạn của kiếp người, Tô Thùy Yên đã làm được điều mà ông hằng trăn trở.

Dù đời người hữu hạn, vũ trụ vô cùng, nhưng bằng những thi phẩm để lại cho đời, ông xứng là con chim hạc bay qua miền đất này và cất tiếng lòng bi tráng, thống thiết, thánh thót, chạm tới tận cùng những cung bậc cảm xúc.

TA VỀ- Đâu chỉ là về với quê hương bản quán mà nó còn là cuộc trở về với bản thể, trở về với chính mình để truy tìm những câu hỏi lớn: Rốt cuộc, sau bao nhiêu thống khổ, ta là ai? Ta là cánh hạc vàng bay trong chiều thương nhớ để dâng đời khúc hát của một đời ly loạn, không phải để hận thù, chia biệt, mà để loài người biết thương xót nhau thêm.

Trong lần trả lời phỏng vấn của báo Người Việt gần đây, Tô Thùy Yên có kể lại một kỷ niệm rằng, thập niên 90, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong khi thu xếp để chờ đi Mỹ, khi đến nhà chơi có nói:

“Đất nước này rồi sẽ phải trải qua những biến động lịch sử tan tác kinh hồn chẳng thể cản tránh được, tôi ra đi xa lánh, anh còn ở lại, anh hoặc là ai đó sẽ phải viết một bài thơ mà chất liệu là núi xương sông máu, là hàng triệu cái xác chết”.

May mắn, tới bây giờ thi nhân Việt Nam chưa ai phải viết ra tác phẩm như Thanh Tâm Tuyền dự đoán, nhưng với khối lượng sáng tác đáng nể, Tô Thùy Yên đã tạc lên một Cõi Người, một Cõi Phật, một Cõi Lão, Trang, một Thời Đại đặc biệt bằng thi ca, và như thế, trong mắt những người yêu thơ Tô Thùy Yên, thì ông mãi mãi MỘT BÓNG TRÊN ĐƯỜNG LỚN.

 

Thảo Dân.

Kim Kỳ sưu tầm

Xem thêm...

Một nghệ sĩ được tái sinh từ vết thương của chiến tranh Việt Nam

Một nghệ sĩ được tái sinh từ vết thương

của chiến tranh Việt Nam

Nghệ sĩ cựu chiến binh Việt Nam Jesse Trevino trước tác phẩm "Mi Vida" của ông tại bảo tàng Nghệ thuật Mỹ Smithsonian ở Washington, DC, hôm 14/3. Người nghệ sĩ 73 tuổi mất cánh tay phải khi chiến đấu ở Việt Nam nhưng đã vượt qua nỗi đau để học vẽ bằng tay trái.
 
Jesse Trevino là một sinh viên hội họa ở New York trước khi bị động viên và đưa sang chiến trường Việt Nam. Từ chiến trường trở về với nhiều vết thương trên người và chỉ một cánh tay lành lặn, ông đã rơi vào khủng hoảng.
 
“Tôi căm giận tất cả thế giới,” người sau này trở thành một trong những nghệ sĩ nổi tiếng và được yêu mến nhất ở San Antonio, Texas, nhớ lại.
 
BM
  
Trevino đã phải đối mặt với cuộc chiến hai lần: một ở Việt Nam và một ở ngay chính quê hương mình. Là một cựu binh thương tật không được chào đón khi trở về Mỹ, Trevino đã rơi vào trầm cảm và không biết làm gì với cánh tay không thuận còn lại.
 
Nhưng nghệ thuật đã giúp ông quên đi nỗi đau chiến tranh và vượt qua chính mình để có được một sự nghiệp thành công, mà nếu được chuyển thể thành kịch bản cho một bộ phim Hollywood thì có lẽ sẽ bị khước từ vì nó khác thường đến nỗi không thể tin được.
 
Ra trận
 
BM
Hai tác phẩm nghệ thuật của Jesse Trevino vẽ năm 1984 (trái) và 2014 (phải).
 
Sinh ra ở Monterrey, Mexico, năm 1946, gia đình Trevino chuyển tới San Antonio sinh sống khi ông mới 4 tuổi. Với tài năng nghệ thuật của mình, Trevino đã chiến thắng nhiều cuộc thi và giành được xuất học bổng tại trường nghệ thuật Art Students League ở New York năm 1965.
 
Một năm sau đó, Trevino bị gọi nhập ngũ và được điều đến Việt Nam, nơi ông bị nhiều vết thương rất nặng.
 
Đầu năm 1967, ông bị trúng một viên đạn bắn tỉa, rồi sau đó vấp phải một bẫy mìn và toàn thân văng đi xa 9m với 10 mảnh đạn găm trên người. Bị tê liệt toàn thân và đẫm trong máu, Trevino tưởng mình đã chết trong lần bị thương đó trên một cánh đồng lúa ở Việt Nam. Nhưng ông thề rằng nếu còn sống sót ông sẽ quay trở lại San Antonio chứ không phải New York, nơi ông sẽ vẽ về con người và những nơi chốn thân quen nhất đối với ông.
 
BM  
 
Khi tôi trở về, chẳng ai quan tâm đến tôi cả,” Trevino nói. “Không có một ai chờ đợi tôi để nói ‘cám ơn’ hoặc một điều gì đó. Tôi cảm thấy tức giận với cả thế giới.” Khi trở về San Antonio, Trevino lại phải đối mặt với một cuộc chiến khác: nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần.
 
Với 350 vết khâu trên người, Trevino sống với những vết thương gây đau đớn hàng ngày. Sau nhiều năm với những nỗ lực phục hồi không được, năm 1970, ông đã phải đi đến một quyết định xé ruột khi chặt bỏ bàn tay và phần trên của cánh tay phải. Ông hy vọng việc bỏ đi phần cánh tay này sẽ giúp ông thoát khỏi sự đau đớn. Nhưng sau đó ông bị ám ảnh rằng ông không thể tạo ra nghệ thuật thực sự với bàn tay trái của mình.
 
BM
  
“Khi tôi mất cánh tay phải, tôi không thể vẽ được nữa,” Trevino nói. “Toàn bộ cuộc đời tôi thế là xong.”
 
Trong suốt 6 tháng sau khi mất đi cánh tay phải, ông rơi vào tuyệt vọng. Những giận dữ và thất vọng được ông thể hiện trên 1 bức tường đen trong phòng ngủ. Đó là lúc “Mi Vida” ra đời.
 
 
“Mi Vida”
 
BM
"Mi Vida" được Trevino vẽ trong 2 năm từ 1971-1972.

Với sự động viên của một người bạn cùng sự giúp đỡ của gia đình, Trevino quyết tâm học vẽ bằng bàn tay trái. Tuy nhiên, phải mất 3-4 năm sau ông mới bắt đầu lại một cuộc đời mới, trong đó ông đã hoàn thành chương trình đại học ở San Antonio trước khi lấy bằng thạc sĩ và tiến sĩ.
 
Bức chân dung một người bạn có tên Armando Albarran, người bị mất hai chân khi chiến đấu tại Việt Nam và cũng là người đã động viên ông trở lại với con đường nghệ thuật, là bức họa đầu tiên Trevino vẽ bằng tay trái.
 
BM
  
Nhưng tác phẩm nghệ thuật lớn đầu tiên của ông là “Mi Vida” mà ông gọi đó là “Cuộc đời tôi” được bắt đầu vào năm 1971.
 
Trên bức tường với nền sơn màu đen cao gần 2,5m và rộng 4,2m, Trevino vẽ một tấm huân chương Purple Heart (Trái tim Tím) rất lớn treo lủng lẳng trên một cánh tay giả ở chính giữa. Purple Heart là tấm huân chương của quân đội Mỹ nhân danh tổng thống được trao cho những ai bị thương hoặc thiệt mạng trong lúc phục vụ trên chiến trường.
 
Trong những tháng sau đó, ông thêm vào dưới nền của trái tim khuôn mặt của một người con gái mà ông yêu sau khi gặp lại cô – một bạn học cũ thời phổ thông của ông nhưng sau đó đã mất trong một tai nạn xe hơi. Dần dần, ông lại vẽ thêm vào những đồ vật như lon bia, điếu thuốc lá, tách cà phê và cả những viên thuốc giảm đau. Đó là những thứ giúp ông chống chọi lại những cơn đau về thể chất và những khó khăn khi hòa nhập lại với cuộc sống đời thường và nghệ thuật sau khi trở về từ Việt Nam.
 
BM
  
“Nó là tấm chân dung của cuộc đời tôi,” Trevino nói về “Mi Vida”, bức tranh tường hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Mỹ Smithsonian ở thủ đô Washington trong một triển lãm về chiến tranh Việt Nam. “Mất vài năm tôi mới hoàn thành được nó. Tôi trút hết những giận dữ cũng như những buồn bực của mình trong đó.”
 
Tuy nhiên đó là tác phẩm duy nhất Trevino vẽ về chiến tranh Việt Nam.
 
Tôi vẽ rất nhiều thứ khác nhau. Tôi vẽ về San Antonio – nơi tôi sống, về văn hóa, và tất cả những thứ đó. Tôi không vẽ cái gì về chiến tranh nữa.”
 
BM
  
Những tác phẩm nghệ thuật của Trevino rực rỡ trong các sắc màu mạnh, bắt nguồn từ lịch sử và văn hóa của cộng đồng người Mỹ gốc Mexico. Nhiều trong số những tác phẩm ấy đã có mặt trong các bộ sưu tập của các bảo tàng và đem về cho ông những giải thưởng danh giá.
 
"Nghệ thuật của Jesse là một sự biểu đạt quan trọng của chủ nghĩa biệt lệ Mỹ liên văn hoá," theo nhận định của Gabriel Velasquez, một kiến trúc sư quen biết và làm việc với Trevino nhiều năm.
 
BM
  
"Trevino trở về từ cuộc chiến tranh với những vết thương, những mất mát, và cả những cái được từ việc đề cao tất cả những thứ mà sau này trở nên vô cùng quan trọng đối với con người và đối với nghệ thuật của ông," Velazquez nói.
 
Mong được vẽ ở Việt Nam
 
Trong những tháng ngày đau đớn về thể xác lẫn tinh thần, Trevino không bao giờ nghĩ ông muốn quay trở lại Việt Nam, nơi ông mất đi cánh tay phải và mất đi hy vọng có thể tiếp tục theo đuổi nghệ thuật.
 
“Tôi không muốn trở lại nơi tôi đã bị thương,” Trevino nói khi nhớ lại thời gian chống trọi với sự tuyệt vọng.
 
Đối với Trevino, mỗi ngày, mỗi giây phút ở Việt Nam là “địa ngục,” mặc dù ông cho biết, là một nghệ sĩ, ông trân trọng vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam.
 
BM
  
“Nhưng nghệ thuật đã làm tôi quên đi (chiến tranh) Việt Nam và những gì xảy ra với tôi (ở Việt Nam). Tôi không còn nghĩ về nó nữa.”
 
Trevino đã phải bắt đầu lại từ đầu sau khi trở về từ chiến trường Việt Nam nhưng ông cảm thấy may mắn vì ông đã có thể làm được tất cả những thứ đó.
 
“Tôi tham gia chiến tranh Việt Nam và trở thành một người nghệ sĩ tốt hơn chính mình trước đây,” Trevino nói và giải thích rằng ông đã tìm hiểu để biết tại sao ông lại đến Việt Nam và những gì xảy ra với ông từ những nghiên cứu ở trường học sau khi trở về.
 
Những gì xảy ra với Trevino đã làm ông thức tỉnh.
 
“Đó là một phần của cuộc đời tôi. Nó làm thay đổi con người tôi – làm tôi trở thành con người tốt hơn, một nghệ sĩ tốt hơn. Nó thức tỉnh tôi.”
 
 
BM
Jesse Trevino bên các tác phẩm nghệ thuật của mình.
 
"(Trevino) sống với nỗi đau. Ông sáng tác nghệ thuật qua nỗi đau," Velasquez, hiện là giám đốc điều hành hiệp hội cộng đồng Avenida Guadalupe ở San Antonio, nói. "Cuộc đời của ông là một minh chứng cho những tội lỗi của cuộc chiến tranh nhưng cũng là sự chiến thắng của tinh thần con người."
 
BM

 

Và giờ đây, người nghệ sĩ 73 tuổi muốn được trở lại Việt Nam. Ông muốn tạo ra một tác phẩm nghệ thuật cho người Việt.
 
 
“Tôi muốn vẽ một bức tranh tường cho người Việt Nam hay một tác phẩm nghệ thuật gì đó cho chính phủ (Việt Nam),” Trevino nói. 
 
“Nó sẽ là một cái gì đó mà người dân (Việt Nam) sẽ thưởng thức như một tác phẩm nghệ thuật cho công chúng.”
 
 
Kim Quy sưu tầm
 
Xem thêm...

Mẹ… đừng yêu con quá

Happy Mother's Day May 12, 2019

Mẹ… đừng yêu con quá

Truyện Ngắn của Nguyễn Thị Thanh Dương

Long vừa từ cuộc hẹn với Ngọc Ngà, người vợ sắp cưới trở về nhà, lòng chàng vui vui vì bước đầu gặp thuận lợi. Ngọc Ngà đồng ý đám cưới xong sẽ ở chung với mẹ chồng một thời gian đầu cho phải phép vì Long là con một, sau đó ngày rộng tháng dài hai vợ chồng sẽ mua nhà ở riêng, Ngọc Ngà thích xây dựng một tổ ấm riêng của mình dù nó to nhỏ thế nào nàng cũng vui.

Về nhà Long lên tiếng ngay với mẹ:

– Mẹ ơi, con vừa đi gặp Ngọc Ngà, chúng con bàn về đám cưới……

 

– Ngày giờ đã định xong hết rồi, còn gì nữa mà bàn hả con?

Long hí hửng:

– Là cưới xong chúng con sẽ ở chung với mẹ đó.

Long tưởng mẹ sẽ vui mừng như mình nhưng bà thản nhiên:

– Tất nhiên rồi, nhà này của con, con không ở thì ai vào đây mà ở chứ.

Long cụt hứng, chẳng lẽ chàng kể công với mẹ là con đã mất bao lời dịu dàng phân bày và cả năn nỉ Ngọc Ngà mới thông cảm đồng ý ở chung. Thời đại này, nhất là ở Mỹ cuộc sống riêng tư là hàng đầu, có nàng dâu nào muốn ở chung với nhà chồng, với mẹ chồng đâu.

Chàng hãnh diện khoe:

– Mẹ sẽ có nàng dâu quý Ngọc Ngà, con cưng cành vàng lá ngọc của nhà người ta về nhà mình….

Mẹ chàng vẫn thản nhiên và cũng hãnh diện:

– Con cũng là kim cương hột xoàn của mẹ chứ thua kém gì. Trên thế giới có những viên kim cương nổi danh, vô giá. Con của mẹ cũng vô giá….

Long quen được mẹ yêu mà vẫn cảm động:

– Thế thì mẹ sẽ có cả hai thứ quý trong nhà, con dâu và con trai của mẹ.

Gia đình đến Mỹ được khoảng tám năm thì cha Long qua đời khi Long mới 12 tuổi, mẹ chàng làm công nhân trong một hãng xưởng. Mẹ luôn thương yêu và khuyên nhủ Long hãy ngoan và chăm chỉ học hành.

Mẹ sống rất tằn tiện để tiếp tục trả góp căn nhà cũ rẻ tiền đang ở và nuôi con tới khi khôn lớn .

Mỗi khi nghĩ về mẹ Long đều ngạc nhiên, thấy mẹ thật tài giỏi, thật tuyệt vời, một phụ nữ nhà quê trình độ học vấn thấp, mẹ tự xông xáo tìm việc làm chỗ này chỗ kia mà toàn là hãng xưởng Mỹ (mẹ bảo làm hãng Mỹ giờ giấc và quyền lợi đàng hoàng). Khi bị lay off mẹ đang được hưởng tiền thất nghiệp mà luôn nhấp nhỏm như người ngồi trên đống lửa, lo tìm việc tứ tung. Nếu nhân viên sở An sinh xã hội để ý nhìn vào giấy khai thuế hàng năm của mẹ chắc phải khen thầm bà này chăm chỉ làm việc hết mình.

Dù khi xin việc hay khi ra ngoài xã hội có vốn liếng mấy chữ tiếng Anh mà mẹ cũng đều xong việc, chẳng biết mẹ đã nói tiếng Anh thế nào mà họ hiểu được. Thỉnh thoảng mẹ mới cần nhờ đến Long giúp đỡ.

Long đã học xong kỹ sư và đi làm vài năm, có chút tiền trong tay mới dám tính tới chuyện cưới vợ.

Ngọc Ngà cũng tốt nghiệp đại học, nàng đang làm việc cho một công ty trong cùng thành phố.

o O o

Căn nhà nhỏ rất cũ, rộng chỉ 1,350 sqft… Ngày dâu về ở chung mẹ chồng đã hớn hở giới thiệu với con dâu và vẽ ra một tương lai đầm ấm:

– Nhà có những 3 phòng, mẹ ở một, còn 2 phòng tha hồ cho hai con sử dụng, đẻ một hai đứa con ở cũng vừa, nếu đẻ nhiều hơn thì mẹ ngủ chung với cháu hay ngủ ngoài phòng khách cũng được. Ăn thì nhiều chứ ở bao nhiêu, miễn là tiết kiệm tiền các con ạ.

Ngọc Ngà đã thở dài nói riêng với chồng:

– Thời nay căn nhà nhỏ cũng từ 2,000 sqft. trở lên, căn nhà của mẹ vừa cũ vừa nhỏ mà mẹ tính chuyện lâu dài chúng ta sẽ ở đây tới khi sinh vài đứa con ư?

Long dỗ dành vợ:

– Thì mình cứ tới đâu hay tới đấy, cuộc sống luôn có những thay đổi mà em.

Ngày đầu tiên người mẹ đã nghiêm chỉnh nói với hai con:

– Kể từ hôm nay gia đình chúng ta có 3 người, hai con đi làm tiền bạc để riêng dành dụm mai này lo cho con cái, mọi sinh hoạt trong cuộc sống mẹ… bao hết.

Ngọc Ngà ngạc nhiên kêu lên:

– Chúng con phải đóng góp phần mình cho công bằng chứ.

Long giãy nảy lên:

– Kìa mẹ, đừng lo toan như con vẫn là thằng bé 12 tuổi của mẹ ngày xưa.

Người mẹ dõng dạc:

– Mặc kệ con bao nhiêu tuổi, hai con làm bao nhiêu tiền. Mẹ 50 tuổi chưa già, vẫn đi làm ra tiền, căn nhà này đã trả xong, tiền mẹ làm ra để lo cho các con chứ cho ai? Bao giờ mẹ già yếu hay không đi làm được nữa hãy tính.

Cả nhà cùng rời nhà đi làm buổi sáng, chiều người mẹ về sớm nhất vì chỗ làm gần nhà. (Xin việc làm bà luôn “ưu tiên” hãng nào địa chỉ, zip code gần nhà mới nộp đơn. Nơi quá xa bà miễn dòm ngó vì lẽ bà không dám lái xe đường xa).

Bà lo bữa cơm chiều xong hai con mới về đến, con dâu chỉ việc dọn dẹp bếp và rửa chén bát khi ăn cơm xong.

Những món ăn mẹ chồng nấu quanh quẩn rau luộc hay rau nấu canh tôm khô, giá rau rẻ theo mùa, thịt kho trứng, cá kho, tôm rim… món nào cũng mặn đối với Ngọc Ngà, nàng chẳng dám kêu ca và luôn tự nhủ “Hãy cố chịu đựng chỉ một thời gian ngắn thôi mà”.

Nàng ngạc nhiên thấy mẹ chồng tự làm đủ thứ, cuối tuần bà hì hục xay thịt heo làm giò, hay xay cá làm chả cá, bà còn biết tráng bánh cuốn bằng chảo không dính, làm bánh bông lan bằng nồi cơm điện.

Thì ra bà học làm những món này trên youtube, có khi tới khuya còn thấy bà ngồi ngoài phòng khách xem youtube trên ti vi, chắc đang say mê nghiền ngẫm một món ăn mới.

Những món mẹ chồng làm không ngon bằng chợ, bà biết thế nên đã từng phân bua với hai con:

– Tuy mẹ làm không ngon, không hoàn hảo, nhưng bảo đảm vệ sinh an toàn sức khỏe, không dùng hàn the bột ngọt bột nổi và nhất là tiết kiệm tiền. Tội gì để nhà hàng để chợ búa ăn lời khi mình có thể làm được.

Thế là mỗi cuối tuần để vui lòng mẹ, vợ chồng Long phải ăn ở nhà do mẹ đảm đang trổ tài và tiết kiệm ngân quỹ gia đình

Hôm thì mẹ nấu phở, nấu bún riêu, bún măng, có khi đổi món ăn bánh xèo, bánh cuốn, ăn xôi khúc, xôi vò… đủ cả. Sợ con chưa vừa ý bà còn bảo:

– Hai đứa thích ăn món gì khác thì cứ… order mẹ làm cho, một buổi tối mẹ lên youtube là biết làm ngay.

Ngọc Ngà than thở với chồng:

– Thế này thì mình không có cơ hội bước chân ra hàng quán nữa. Nói anh đừng buồn nhé, những món ăn một buổi tối xem youtube của mẹ thì làm sao ngon cho được, chúng ta thỉnh thoảng phải ăn những món… dở dở ương ương.

Long chỉ biết bào chữa cho mẹ mình:

– Anh biết thế, nhưng được cái mẹ nấu nướng với… tất cả tấm lòng.

Một buổi sáng Thứ Bảy Ngọc Ngà thức dậy sớm, nàng muốn giúp mẹ chồng dọn dẹp cho sạch cái tủ lạnh mà mẹ đã chất chồng và nhồi nhét đủ thứ trong tất cả các ngăn mát vì mỗi lần nàng mở tủ lạnh cần tìm món gì thì gặp bao nhiêu là chướng ngại vật.

Nàng lôi ra mấy cái hộp nhỏ, hộp đựng tí cá kho không biết của tuần lễ nào còn dư lại, hộp khác đựng vài con tôm, đựng tí nước tương ăn dở dang, mẩu chanh héo vàng, bó sả còn mấy cọng xơ xác, nửa củ hành tây, nửa quả ớt, nửa quả dưa leo… Tội nghiệp những “một nửa” này, mẹ giam giữ chúng bơ vơ trong tủ lâu ngày và dường như đã quên mất sự hiện diện của chúng.

Ngọc Ngà thẳng tay vứt bỏ tất cả vào thùng rác, nàng lau chùi lại các ngăn tủ lạnh thoáng mát cho sạch sẽ, chốc thể nào mẹ chồng cũng hài lòng.

Nhưng không, Ngọc Ngà ở trong phòng đã nghe tiếng bà thảng thốt la toáng lên:

– Ối giời ôi… con ôi là con ôi… Sao lại vứt bỏ hết các thứ mẹ đã cất để dành trong tủ lạnh rồi.

Ngọc Ngà chạy ra bếp:

– Có những thứ lặt vặt mẹ để quên trong tủ lạnh lâu quá con mới vứt bỏ thôi.

– Ai bảo con là mẹ quên, con có muốn mẹ nhắc lại các thứ mà con đã đang tay vứt bỏ đi không, hả?

– Những thứ ấy có đáng gì đâu mẹ.

Người mẹ tự ái lên, đay nghiến:

– Phải, với con thì chúng không đáng gì, nhưng với mẹ tất cả đều là tiền, mẹ chắt chiu tiết kiệm như thế bao lâu nay nuôi chồng con ăn học nên người đấy.

Bà cụ thể hơn:

– Quả chanh quả ớt không đáng gì nhưng con có thể mang ra khỏi chợ một quả ớt, một quả chanh khi chưa trả tiền không?

Ngọc Ngà chạy vào phòng và bật khóc tức tưởi. Long đã chứng kiến tất cả, chàng thương vợ nhiệt tình muốn lấy lòng mẹ chồng lại bị tổn thương, nhìn nét mặt còn giận dữ của mẹ Long như đứng giữa ngã ba đường.

Làm sao Ngọc Ngà hiểu nổi cách mẹ chàng đã sống và tiết kiệm, mỗi khi thịt cá, rau quả sale rẻ mẹ mua chất đầy trong tủ lạnh dù nhu cầu chưa cần đến. Những hộp, những chai lọ không bao giờ mẹ vứt bỏ mà cất đi để dùng lại khi cần đựng chút gì là mẹ có ngay hộp hay lọ đúng kích cỡ, tiện lợi vô cùng. Những bao bịch đi chợ về mẹ dùng đựng rác cũng đủ, có bao giờ mẹ phải mua bao rác đúng kiểu của nó đâu.

Ðám mây mờ nào trên bầu trời rồi cũng tan đi, mẹ chồng nàng dâu lại bình thường như cũ, nhất là khi Ngọc Ngà báo tin mang thai, mẹ chồng vui mừng chăm sóc con dâu.

Bà nấu những món ăn có lợi cho thai phụ và baby, bà dặn dò con dâu phải biết nghỉ ngơi và đi đứng cẩn thận cho khỏi vấp ngã.

Bà xôn xao dự tính làm như chính bà sắp đi đẻ, để dành vacation cả năm, bà sẽ có 3 tuần lễ ở nhà chăm sóc con dâu và cháu nội. Hơn thế nữa bà sẽ xin đổi làm ca chiều thay vì ca sáng để chăm sóc cháu nội cho tới khi bố hay mẹ nó đi làm về. Thế là đứa bé luôn được ấp ủ trong vòng tay người thân, khỏi phải đi gởi trẻ và lại… tiết kiệm được bộn tiền.

Cháu nội trai của bà đã ra đời, tên Mỹ trong giấy tờ bà không biết thế nào là hay nên vợ chồng Long toàn quyền đặt theo ý mình, còn tên Việt Nam ở nhà bà gọi nó là Cu Tèo như bố nó ngày xưa là Cu Tí.

Bà gần gũi cháu và thương yêu nó như ngày xưa đã thương yêu cha nó. Cu Tèo là hình ảnh cu Tí ngày xưa của bà.

Bà luôn bồng bế cháu, nựng nịu cháu, nó khóc một chút là bà xót xa dỗ dành, lấy bình sữa cho cháu bú bất kể lúc nào, bà sợ cháu đói, cháu “khổ”.

Vợ chồng Long sốt ruột, họ muốn nuôi con theo kiểu khác, không chiều chuộng quá đáng, không cho bé quen hơi vòi vĩnh.

Mẹ chồng luôn mang kiến thức, kinh nghiệm mấy chục năm về trước của bà nội, bà ngoại hay bà cố nào đó để chỉ bảo con dâu nên mẹ và con dâu thường xuyên có những bất đồng.

Ngọc Ngà mấy lần vùng vằng đòi chồng ra ở riêng, chàng luôn đứng về những lý lẽ chính đáng của vợ, mẹ đã bao che cho gia đình này kỹ quá, vợ chồng Long không thể tự lập sống theo ý mình, kể cả việc nuôi đứa con mình sinh đẻ ra.

Có một người bạn của Long, bà nội ở nhà chăm sóc cháu mới hơn 1 tuổi, bà vừa bế cháu vừa ăn đậu phộng rang, thằng bé chẳng biết gì cũng với tay đòi ăn, bà cưng chiều cháu liền đút cho nó một hai hột đậu phộng, thằng bé đã phải đi cấp cứu trong tình trạng khó thở ho sặc sụa vì mắc kẹt hột đậu phộng trong họng.

Long tưởng tượng ra nét mặt kinh ngạc và thất vọng của mẹ, lẻ loi và cô đơn của mẹ trong căn nhà này nếu Long nói lời ra riêng nên chưa dám nói.

Người mẹ quá thương yêu con, đứa con trai duy nhất mồ côi cha lúc còn bé, bao nhiêu tình thương yêu trên cuộc đời này mẹ đã dành hết cho chàng. Ðôi lúc Long lại…trách mẹ, giá ngày xưa góa bụa ở tuổi còn trẻ mới ngoài 30 mẹ đừng ở vậy nuôi con, mẹ cứ tái giá ngay lập tức, sinh liên tiếp vài đứa con nữa và… bớt thương chàng đi một chút có lẽ chàng không lâm vào cảnh khó xử như ngày nay.

Cuối tuần này mẹ chồng than nhức đầu, Ngọc Ngà không bỏ lỡ cơ hội, nàng nói với mẹ chồng:

– Mẹ uống thuốc rồi nghỉ ngơi cho khỏe. Trưa nay mẹ đừng nấu nướng gì nhé, để con lo.

Hai vợ chồng cùng baby ra phố, sau khi mua sắm và đi chợ, vợ chồng Long ghé vào nhà hàng. Thỉnh thoảng lại được ăn những món ngon đúng ý mình thật tuyệt vời, chỉ là món bình thường, tô phở tái nạm gầu gân sách mà Long biết chẳng bao giờ mẹ chàng có thể nấu ngon bằng dù bà cố bắt chước mua đủ thứ như nhà hàng đã làm.

Ngọc Ngà ăn dĩa bánh cuốn nóng,  sao mà ngon thế, miếng bánh cuốn vừa mỏng vừa dai, miếng chả quế vừa béo vừa thơm. Ở nhà mẹ chồng tráng bánh cuốn chảo cũng nóng đấy nhưng bột bánh không dai, có giò chả đấy nhưng làm tại nhà chưa đạt tiêu chuẩn. Tổng hợp lại là một dĩa bánh cuốn kém chất lượng mà vẫn phải ăn.

Ăn xong Ngọc Ngà order hộp cơm tấm sườn bì chả kèm theo ly chè sương sa hột lựu mang về cho mẹ. Hy vọng về nhà mẹ đã đỡ mệt và ăn ngon lành hai thứ này.

Quả thật mẹ chồng đã khỏe lại, bà ngồi lù lù nơi bàn có vẻ như đang chờ đợi vợ chồng Long về. Vừa thấy mặt là người mẹ trách mắng:

– Sao hai con không để cu Tèo ở nhà với mẹ, đày đọa nó ra ngoài đường nắng gió thế…

Long nói với mẹ:

– Chúng con muốn mẹ nghỉ ngơi nên mang cu Tèo đi chợ luôn, Ngọc Ngà đã mua đầy đủ rau ria cá thịt như mẹ đã từng mua.

Bà bắt bẻ:

– Nhưng hai con đi những chợ nào? Con có biết là cùng một món đồ mà mỗi chợ bán một giá khác nhau và chúng ta có thể tiết kiệm được vài đồng dễ dàng không?

Rồi bà kể kinh nghiệm…ngày xưa:

– Lúc còn ở Việt Nam mẹ đi chợ biết trả giá, kỳ kèo thêm một bớt hai nên luôn mua được giá rẻ.

Liếc nhìn hộp cơm tấm và ly chè sương sa của mình với ánh mắt… lạnh lùng, người mẹ xót xa:

– Hai món này mẹ làm ở nhà được mà, youtube chỉ dẫn hàng đống kìa. Ly chè sương sa giá “cắt cổ” những $4.99.

Long khoe:

– Nhưng là món ngon mẹ thích do Ngọc Ngà chọn mua cho mẹ đấy, ai cũng làm ở nhà như mẹ thì hàng quán dẹp tiệm cho rồi.

Người mẹ lại tự ái lên:

– Con còn cố cãi mẹ à? Ðáng lẽ con phải nhắc nhở vợ lần sau đừng phung phí như thế chứ.

Ngọc Ngà xụ mặt xuống và đi về phòng, cả buổi sáng vui vẻ bỗng tan biến mất khi về đến nhà.

Mẹ chẳng hài lòng, vợ thì giận dỗi, Long bực bội thốt lên:

–  Mẹ quá đáng lắm, cũng phải để chúng con sống theo ý mình chứ.

Người mẹ sững sờ nhìn con trai trong vài giây và cay đắng:

– À thì ra bấy lâu nay công tôi thương yêu lo lắng vun xới cho cái nhà này là làm phiền con mình đấy.

Lần này Ngọc Ngà nhất định đòi ra ở riêng. Long cũng xiêu lòng theo, mẹ chàng vẫn còn trẻ và còn sức khỏe để sống một mình. Bao giờ mẹ già thì vợ chồng con cái chàng lại về sống chung để lo cho mẹ. Bây giờ chàng phải sống cho chính mình, cho gia đình riêng bé nhỏ của mình và tránh những xung đột, những sứt mẻ tình cảm mẹ chồng nàng dâu có thể xảy ra trong tương lai.

Vài hôm sau Long nói với mẹ quyết định dọn nhà, người mẹ đã ràn rụa nước mắt:

– Nhà này của các con, còn đi đâu nữa?

Nhìn mẹ chồng khóc Ngọc Ngà chạnh lòng, năn nỉ:

– Mẹ ơi, chúng con chỉ muốn tự lập cho quen, dù ở đâu chúng con vẫn là con là cháu của mẹ.

Ngọc Ngà nhất định chọn thuê căn apartment ở thành phố lân cận, chỗ làm ở giữa nhà cũ và nơi ở mới, thời gian đến chỗ làm không thay đổi nhưng từ nhà cũ đến apartment phải mất 1 giờ xe. Nàng biết bà mẹ chồng không dám lái xe đi xa, lại là đến thành phố lạ.

Ngọc Ngà nói cho chồng hiểu:

– Không phải em muốn kẻ đầu sông người cuối sông, nếu ở gần, mẹ thương con nhớ cháu ngày nào cũng đến thăm thì cũng như không, chẳng thay đổi được gì. Chúng ta sẽ chủ động về thăm mẹ khi muốn, chắc chắn là mẹ buồn nhưng mẹ sẽ quen thôi, cũng như cha mẹ em sống ở tiểu bang khác cả năm mới gặp chúng ta một hai lần có sao đâu.

Ngày vợ chồng Long dọn đồ đạc đi, người mẹ cố níu kéo bồng bế cháu nội đến giây phút chia tay, Long phải hết lời hứa hẹn và an ủi mẹ mới cất bước nổi ra xe về nơi kia.

 

Ðược sống riêng theo ý mình thật là tuyệt vời, Ngọc Ngà quên những lời mẹ chồng luôn dặn dò chắc nịch như đinh đóng vào cột:

– Chớ bao giờ mua những thứ vô bổ không thiết thực trong đời sống con nhé. Thí dụ như những bức tranh vô giá của danh họa Picasso cho dù có…. onsale đại hạ giá rẻ bèo cũng chẳng nghĩa lý gì đối với chúng ta. Muốn treo tranh con cứ treo hình thằng cu Tèo nhà mình là đẹp nhất.

– Chớ bao giờ mua những rau quả trái mùa con nhé. Hãy nhịn đến giữa mùa giá rẻ tha hồ ăn.

Rau muống trái mùa những $3.99 một pound nàng vẫn mua về, chỉ nhặt lấy ngọn rau cho mềm để xào tỏi. Ôi nếu mẹ chồng mà nhìn thấy những cọng rau muống đắt giá này bị nàng bỏ đi chắc chắn bà sẽ đau lòng lắm.

Nhãn tươi Florida, Hawaii đầu mùa $6.99 một pound nàng mua về mấy pound ăn chơi. Bà biết sẽ đau ruột lắm…

Cuối tuần vợ chồng nàng đi phố và ăn tiệm, chẳng tội tình gì nàng phải chui vào bếp nấu nướng trong hai ngày nghỉ cuối tuần.

Ngọc Ngà thấy mình hạnh phúc hoàn hảo nếu không có chuyện gởi cu Tèo cho day care, buổi sáng vợ chồng nàng phải dậy sớm sửa soạn cho con và mang nó đến đó. Buổi chiều cũng vội vã đến day care đón con cho đúng giờ. Hôm nào kẹt xe bụng dạ càng sốt ruột lo âu.

Cu Tèo mới về nơi ở mới vài tháng mà nó cũng hao người đi vì  “vất vả” như bố mẹ, sáng nó đang ngủ ngon lành bị mẹ đánh thức dậy “bắt” bú sữa, Ngọc Ngà cho con bú no mới yên tâm chứ trông đợi gì cô nhà trẻ, rồi thay tã lót, thay áo quần và ra ngoài đường phố bất kể sớm mai ấy gió lạnh hay mưa sa.

Chiều Cu Tèo cũng bị cô nhà trẻ bế thốc lên khi đang say sưa ngủ để giao trả cho bố mẹ.

Sau mấy tháng ở riêng vợ chồng cùng tổng kết, được sống theo ý mình thích thật đấy nhưng thêm bận rộn lại hao tốn bộn tiền, nào tiền thuê nhà, tiền gởi trẻ, tiền ăn uống, chợ búa. Muốn mua nhà phải để dành thêm một thời gian nữa mới có tiền down kha khá.

Chiều nay về đến nhà Ngọc Ngà lao vào bếp lo cơm nước như mọi ngày, con khóc đói sữa cũng chưa có ngay như bà nội nó phục vụ hầu hạ hôm nào.

Long phải thốt lên:

– Hồi ở với bà nội cu Tèo sung sướng bao nhiêu. Chúng ta đi làm về cơm nước mẹ nấu sẵn, chúng ta chỉ việc thảnh thơi chăm lo cho con.

Ngọc Ngà ỉu xìu:

– Em biết rồi, thế mà trước khi lấy chồng em không hề muốn ở chung, giờ em mới hiểu ở chung với cha mẹ con cháu được đỡ đần biết bao nhiêu, nhất là người thương con thương cháu quá nhiệt tình như mẹ anh. Tâm hồn em cũng đang… giằng co đây, nhưng được cái này thì phải mất cái kia thôi, chả lẽ lại quay về với mẹ? kịch bản cũ tái diễn chán lắm, mà anh đừng ngồi đấy than thở nữa, pha sữa cho con đi..

Long bối rối

– Mấy thìa sữa, mấy nước hả em?

Ngọc Ngà gắt gỏng:

– Ngày nào anh cũng pha sữa cho con mà còn hỏi là thế nào?

– Nó gào khóc, em hối thúc càng làm anh sốt ruột và quên hết…

Trong nhà đang ầm ĩ tiếng cu Tèo khóc, tiếng Long lẩm bẩm thở than và cả tiếng dao thớt khua thì bên ngoài bỗng có tiếng gõ cửa đồng thời với tiếng chuông cửa không ngừng nghỉ. Ngọc Ngà phán đoán:

– Giờ này chỉ mấy đứa đi phát tờ giấy quảng cáo cho nhà hàng hay bảo hiểm nhà xe, anh khỏi cần mở cửa.

– Anh cũng đoán thế, mà anh có ba đầu sáu tay đâu vừa pha sữa cho con vừa ra mở cửa cho họ được .

Tiếng gõ cửa càng dồn dập, tiếng chuông cửa càng dai dẳng hối thúc, Long quăng mọi thứ trên bàn ra mở cửa để cho kẻ phá rối một bài học, nhưng chàng há hốc miệng ngạc nhiên mãi mới kêu lên:

– Mẹ… thì ra… là mẹ…

– Phải, mẹ đây.

Bà bước vào nhà, một cái liếc mắt rảo quanh là bà biết việc gì cần làm. Bà bế ngay thằng cu Tèo dỗ cho nó nín khóc, một tay bế cháu một tay bà pha bình sữa chỉ trong chớp mắt là xong trong khi Long vẫn ngẩn ngơ tự hỏi làm cách nào mẹ chàng…dám lái xe đường xa đến thành phố lạ này?

Cho cháu bú bình sữa, người mẹ thong thả bảo hai con:

– Hai đứa đừng ngạc nhiên đứng sững như trồng cây chuối thế. Các con tưởng “ngăn sông cách chợ” thế này là mẹ chịu thua không đi thăm con cháu được hả. Mẹ tìm bản đồ trên iPhone để lái xe đến đây, mẹ nấu đồ ăn theo youtube dở thì mẹ nấu lại, mẹ đi đường theo bản đồ chỉ dẫn, đi sai thì mẹ đi lại cũng sẽ đến nơi. Cánh cửa nào nỡ khép khi ta quyết tâm đi đến hả con.

Ngọc Ngà cảm động lí nhí:

– Cám ơn mẹ đã đến thăm chúng con

Long ngợi khen:

– Con từng thán phục mẹ không biết nhiều tiếng Anh mà vẫn nói được tiếng Anh cho thiên hạ hiểu, hôm nay mẹ thêm tài không biết đi đường xa mà vẫn đến một thành phố lạ, đến nhà chúng con được. Mẹ có… bí quyết gì?

– Ối giời, mẹ nói tiếng Anh phải phụ họa khua chân múa tay, “vũ điệu” ngắn dài cho tới khi nào người ta hiểu mới thôi chứ có bí quyết gì đâu…Còn hôm nay lái xe đường xa, con có biết là trên highway mẹ đã đi lộn mấy exit không? Vòng mấy lượt U turn không? Chỉ vì không nghe kịp lời chỉ dẫn. Vào thành phố mẹ căng thẳng suýt vượt đèn đỏ mấy lần không? Lái xe loạng quạng vì mãi tìm tên đường bị người ta bấm còi xe inh ỏi làm mẹ hết hồn mấy phen không? Nhưng nghĩ đến thằng cu Tèo mẹ lại tỉnh người ra..

Mẹ ngọt ngào tiếp:

– Mẹ không chỉ đến thăm mà còn bàn với hai con chuyện nhà mình. Suốt mấy tháng các con dọn đi mẹ buồn lắm, mẹ đã hiểu ra thương yêu và lo lắng cho con cháu nhiều quá đôi lúc cũng xâm phạm quyền riêng tư của chúng. Long đã nói đúng, mẹ cám ơn con.

Long ân hận:

– Mẹ ơi con đã lỡ lời.

– Ðể mẹ nói tiếp, mẹ muốn các con lại về với mẹ. Từ hôm nay mẹ sẽ sống khác, hai con cứ sống theo cách của mình, đường đời còn lại của mẹ đi cùng hai con thôi.

Ngọc Ngà cảm động đến long lanh giọt lệ:

– Chúng con cũng đang tự trách mình đã dọn ra riêng, chúng con muốn về với mẹ cho cu Tèo được bà nội phụ tay chăm sóc.

– Còn điều này nữa, căn nhà của chúng ta đã quá cũ, ngày đó bố mẹ mới qua Mỹ vài năm, đồng tiền eo hẹp nên chọn mua nhà vừa nhỏ vừa cũ cho rẻ tiền. Hôm nay đã khác, chúng ta sẽ bán căn nhà ấy đi và mua căn mới rộng rãi hơn cho thoải mái hai con ạ. Nãy đi trên highway mẹ thấy bảng cắm nhiều builder nổi tiếng, kiểu nhà đẹp lắm, các con hãy đến xem và chọn căn nào thích nhất. Mẹ còn đi làm, sẽ phụ các con tiền trả mortgage hàng tháng, mẹ quyết không để nhà băng ăn lời chúng ta dài hạn đâu.

Ngọc Ngà tế nhị:

– Ngày nào trên đường đi làm con cũng thấy những căn nhà mơ ước ấy, mẹ sẽ giúp chúng con tìm được căn nhà cho gia đình chúng ta mẹ nhé. Con cám ơn mẹ nhiều lắm.

Long hào hứng:

– Phải nhờ mẹ…trả giá kỳ kèo bớt một thêm hai, tiết kiệm được đồng nào hay đồng ấy chứ mấy tay bán nhà nhìn theo tâm lý người mua, chúng con không kinh nghiệm bằng mẹ đâu.

Thằng cu Tèo bú no nhoẻn cười nhìn bà nội. Ngọc Ngà đang nhanh tay nấu nướng cho kịp bữa cơm chiều ấm cúng.

Bà vừa hôn cháu vừa nói với hai con:

– Mẹ biết rằng mẹ sẽ đến được đây nhưng…không về được vì trời tối, lạ đường lạ phố, nên mẹ đã lên kế hoạch là tối nay mẹ ngủ lại với thằng cu Tèo, mẹ nhớ nó quá…cu Tèo ơi, cu Tèo của bà ơi…

 

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này