Truyện

Truyện (314)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Em Về Vạt Nắng Chiều Xuân

Em Về Vạt Nắng Chiều Xuân

Cứ như là định mệnh, cơn bão tháng Tư thổi bay tôi ra khỏi Đà Lạt vào một ngày cuối tháng Ba năm ấy. Tôi đi mà không kịp từ giã Đà Lạt thương yêu, chập chùng những đồi thông với mối tình đầu vừa chớm nở như nụ hoa xinh trong lòng cô gái mới ngoài hai mươi tuổi. Thật ra mối tình ấy hình như đã đến từ lâu trước khi Lãng ra trường và chuyển về đơn vị, suốt một thời trung học tôi và Hà, em của Lãng đã từng có rất nhiều kỷ niệm, kể cả lần theo gia đình Hà lên trường Võ Bị  ngày lễ mãn khóa của Lãng.


Cuối tháng ba năm ấy, gia đình tôi hối hả chạy về Sài Gòn theo cơn bão lốc của chiến tranh. Cả nhà trú ngụ trong nhà người chú đang làm việc tại Hải Quân công xưởng, Sài Gòn tháng Ba nóng như nung, tin chiến sự mỗi ngày cho tôi biết Đà Lạt thơ mộng của tôi đã không còn nữa. Tôi nghĩ đến Hà, đến Lãng, chẳng hiểu nhà bạn ra sao và Lãng thế nào nơi chiến trường khói lửa, mỗi lần nghĩ đến tim tôi chừng thắt lại, thổn thức trong nỗi chuyếnh choáng của một cơn ác mộng.

Những ngày cuối tháng Tư không khí Sài Gòn lúc nào cũng như lên cơn sốt, một ngày chú Nhân hối hả về đưa cả nhà ra bến tàu, vội vã đến mức mỗi người chỉ mang theo một cái túi xách cá nhân đựng ít quần áo và lương khô phòng hờ lúc cần thiết. Chuyến tàu ra biển Đông vào đêm tối, ban đầu cũng chen chúc hỗn độn vì phải chở một số người quá đông, nhưng rồi  đến lúc tàu càng đi càng xa chẳng còn nhìn thấy chân trời đâu nữa, nhiều người đã  bật khóc vì biết rằng lần này thì mất hẳn quê hương…

Tôi không mang được gì ngoài vài tấm ảnh đen trắng chụp ở ven hồ Xuân Hương, một tấm nơi cổng trường Võ Bị Đà Lạt với Hà và Lãng ngày anh ra trường. Có một tấm hình màu duy nhất ngày anh về phép, như để nhớ lại ngôi trường cũ tiện thể anh đưa tôi và Hà lên chơi rừng Ái Ân bên bờ hồ Than Thở. Người Đà Lạt không lạ gì cảnh buồn của nơi này khi nhìn ra phía xa đỉnh Lâm Viên mờ mờ trong mây phủ. Làm sao tôi quên được vì tấm ảnh chụp ba người dưới gốc thông gìa men theo con dốc nhỏ, nhìn ra mặt hồ lăn tăn gợn sóng và rừng thông buồn xao xác. Lúc đó Hà kiếm cớ đi hái hoa dại, cũng là lần đầu tiên Lãng cầm lấy tay tôi với ánh mắt êm đềm thật sâu lắng như muốn trao gửi điều gì. Tính anh vốn vậy, ít nói và trầm lặng, lao đao trong cảm xúc đón nhận tôi cũng im lặng nhìn anh chới với. Nắng lung linh trên rừng thông tạo những bóng nắng nhảy múa trên mặt cỏ, tim tôi đập mạnh dù biết rằng chẳng cần phải nói ra thì cả hai cũng hiểu được sự say đắm của tình yêu. Sau này khi xa nhau, nhìn tấm hình kỷ niệm tôi hay bị dằn vặt bởi tấm hình chụp ba người mà người ta bảo là điềm của chia ly.


Hơn hai mươi tuổi tâm hồn tôi đã khắc khoải theo những thăng trầm của đất nước, mối tình đầu mơ hồ vẫn đọng lại trong tâm khảm. Ra nước ngoài, hoà nhập vào xã hội mới trong nỗi nhọc nhằn khó khăn của cha mẹ, để rồi sau một thời gian dài đủ nguôi quên Đà Lạt trong trí nhớ, tới gần 30 tuổi tôi mới lập gia đình. Chẳng được bao năm hương lửa chồng tôi cũng qua đời trong một tai nạn xe cộ để lại tôi một mình chơ vơ với hai đứa con còn bé dại, từ đó tôi bắt đầu tin số mệnh.  Số tôi đường tình hình như trắc trở, tình yêu đầu với Lãng chưa ấm một vòng tay, tình yêu sau cũng chẳng trọn con đường trần, thôi thì ở vậy nuôi con chờ ngày chúng khôn lớn với nỗi buồn góa phụ.

Khi các con trưởng thành và đi làm xa, tự nhiên không hiểu sao tôi lại hay nghĩ về quá khứ, đến Lãng, đến Hà và khung trời Đà Lạt, cứ mơ ước một lần trở về con đường quen, cái xóm nhỏ có những căn nhà gỗ ở cuối dốc, từ đó có thể nhìn xuống phía dưới là vườn rau xanh Đà Lạt. Đấy là căn nhà của Hà, ngày xưa hai đứa hay ngồi phía sau nhà nhìn thẳng ra bãi rau xanh phía xa rồi mơ màng nghĩ vẩn vơ, những lúc ấy không biết Hà nghĩ gì nhưng riêng tôi thì bao giờ cũng có hình ảnh Lãng.

Quyết định trở về thăm lại Đà Lạt sau hơn ba mươi mấy năm, kể từ ngày tôi xa Đà Lạt năm ấy. Rủ thêm Quyên người bạn mới quê ở Đà Lạt về cho có bạn, Quyên cũng muốn đi tìm lại chốn cũ thăm người dì ruột và đám em họ. Đà Lạt hôm nay đã thay đổi hết rồi, tôi lạc lõng trong thành phố xưa để đi tìm lại kỷ niệm cũ, ngoài những con đường xưa không thể thay đổi nhưng nhà cửa thì đồ sộ, bóng bẩy và ồn ào hơn như hầu hết các nơi khác. Ba tôi là công chức nên ở nhà chính phủ, căn nhà ấy nay có chủ mới, xây dựng lại tôi nên tôi không còn nhận ra những gì thân quen. Coi như hết, ở tuổi tôi đâu cần tìm cái mới, may ra có thể tìm lại Hà và một số bạn học cùng trường năm xưa.


Ngày hôm sau tôi một mình tìm về xóm nhỏ ngày xưa, với hy vọng mong manh gặp lại người bạn cũ. Nếu gặp Hà tức nhiên tôi sẽ có tin của Lãng, vì tháng Ba năm ấy khi tôi chạy về Sài Gòn thì anh vẫn còn đang lao đao ngoài vòng lửa đạn. Trong lòng tôi chỉ mong mỏi một điều tất cả mọi người đều bình yên, và nếu như gặp Lãng thì cũng mong anh luôn được êm đềm hạnh phúc. Rất may là Hà vẫn còn ở căn nhà gỗ sơn màu xanh nhạt, nhà cửa xây dựng lại trông có phần chắc chắn hơn xưa. Bạn tôi không có nhà, người nhà cho biết Hà đang ở ngoài cửa hàng đan len và bán hàng lưu niệm cho du khách.

Lòng khấp khởi mừng vì sắp gặp lại bạn cũ, tôi sẽ gỉa vờ làm khách du lịch đi mua hàng xem Hà có nhận ra bạn cũ. Không khó lắm tôi đã tìm ra địa chỉ, Hà đang ngồi ở trong quầy, nay đã tròn trịa, gìa dặn hơn trong chiếc áo len màu trứng sáo, khi về già trông Hà thật đôn hậu. Thấy tôi vào Hà chau mày nghĩ ngợi, bất chợt giật mình như cố nhớ xem nét mặt quen quen này ở đâu. Sau một lúc la cà xem mấy tấm khăn phu la treo trên vách, mắt tôi chợt đập vào mấy bức tranh nhỏ vẽ cảnh Đà Lạt đặt gần phía ngoài để thu hút khách du lịch. Tranh lộng trong khung tre, sau những rặng thông đan nhau nhạt nhòa màu thời gian, dải Lâm Viên chập chùng mờ mờ trong sương sớm, nơi góc của bức tranh ký một chữ “Lãng” rất nhỏ khiến tôi bàng hoàng. Đúng lúc đó thì Hà đã theo ra đứng phía sau lưng tôi, ngỡ ngàng gọi tên tôi rồi cứ thế bật khóc nức nở.

Cả hai chúng tôi cùng khóc, có lẽ cả hai cùng đang nhớ về những biến động của thời thế và tang thương của đất nước mấy chục năm trước. Giọng Hà ướt sũng khi hỏi tôi:

“Ngọc về bao giờ thế? Hà cứ tưởng như trong mơ…”

Nghẹn lời khi không nói hết được những gì muốn nói, hai đứa im lặng nhìn nhau. Rồi Hà kể cho tôi nghe bao nhiêu dâu bể cuộc đời xảy ra cho gia đình trong những năm tháng đó, Lãng bị bắt làm tù binh và trở về nhà với một cái chân tật nguyền không phải vì bom đạn.Tôi chỉ vào bức tranh rừng thông với giải núi xa màu xanh xám phủ mây mù hỏi Hà, giọng xúc động:

“Tranh này của anh Lãng?”

Hà gật đầu:

“Phải, nhờ vẽ những bức tranh này mà anh cũng có đủ thu nhập để sống trong bấy nhiêu năm trời.  Chiến tranh băng mình trong lửa đạn không hề hấn gì, thế mà vào tù khi đi lao động lại bị tai nạn, cây đổ gây thương tật đi đứng không còn được như xưa, may là còn sống. Anh ấy vẫn không gặp may, nếu ở tù đủ ba năm thì cũng được đi Mỹ theo diện H.O. Ba mẹ Hà theo nhau về trời, Hà lập gia đình với một người lính cũ, anh ấy rất chịu khó nên cả nhà cũng thoát qua được lúc ngặt nghèo. Đợi mình lập gia đình xong thì anh Lãng nhất định đòi lên rừng ở…”

Tôi trố mắt nhìn Hà:

“Lên rừng? Anh làm gì ở trên rừng?”

Hà bật cười giải thích:

“Nói là rừng chứ không hoàn toàn là rừng. Trên ấy có một làng nhỏ người ta sống bằng nghề làm củi, trồng rau, mình có một bà cô già sống một mình không con cái, cô chuyên làm chao, làm tương nổi tiếng ngon, bán cho người nghèo quanh vùng, thời buổi ấy nhà nào cũng chỉ sống bằng rau dưa chao tương  qua ngày thôi. Cô mình chỉ ăn chay, gần như tu tại gia nên anh Lãng bảo lên đó sống với cô hủ hỉ cho vui nhà vui cửa, giờ rảnh anh phụ cô làm tương chao, phía sau nhà có mảnh vườn nhỏ đủ rau khoai cho hai cô cháu. Anh ấy tu rồi Ngọc ạ, sớm chiều hai buổi công phu theo bà cô và ngồi thiền để khỏi ngẫm nghĩ chuyện đời.”

Nghe Hà kể mà tôi ngậm ngùi, tưởng tượng ra một xó rừng nào đó Lãng đã ru đời mình theo tiếng chuông tiếng mõ. Hà tiếp tục câu chuyện:

“Nhờ sống ở đó mà anh Lãng trở thành họa sĩ, không có trò giải trí anh mới nghĩ ra cần phải vượt lên trên số phận bằng cây cọ. Thấy anh vẽ đẹp quá nên Hà nảy ra ý định đem lộng khung rồi bán những bức tranh nhỏ cho du khách làm quà lưu niệm, vậy mà không hiểu sao tranh bán rất được, mỗi tháng anh phải đem về cho mình hằng chục bức, nhờ vậy đời sống anh thoải mái hơn. Nhưng anh cũng lấy đó làm vui và giúp mình để nuôi các cháu ăn học chứ không nghĩ gì đến bản thân, tội nghiệp quá!”

Hà cười mà đôi mắt còn ướt vì hạnh phúc:

“Cũng nhiều chuyện vui vui khi bán tranh cho anh Lãng, nhờ vậy mà bạn anh từ nước ngoài về thăm Đà Lạt, nhìn ra đỉnh Lâm Viên ngày xưa của mấy anh ấy trong tranh nên đã tìm ra bạn cũ. Họ rủ nhau đến thăm anh, mua tranh với giá cao để giúp bạn và nhờ vậy anh Lãng cũng thật ấm lòng với tình bạn đời quân ngũ. Có người còn muốn giúp anh về lại thành phố mở xưởng vẽ, nhưng anh Lãng thật khác người, từ khi lên rừng sống với bà cô tu tại gia thì anh ấy đã thay đổi hoàn toàn, chẳng bao giờ vui quá hay buồn quá, anh ấy bảo đau khổ bao nhiêu cũng chỉ cần một nụ cười là hoá giải được tất cả.”

Thì ra là vậy, tự nhiên tôi cũng tò mò muốn đến thăm Lãng để xem cuộc sống ra sao mà anh lại “an nhiên tự tại” vui hưởng thú điền viên với rặng thông già. Tôi chợt cười thầm và nhớ lại. Đúng là Lãng, Lãng của ngày xưa ngay cả khi tỏ tình cũng chỉ lặng lẽ trao gửi mà đâu cần nói một lời nào, điều này khiến tôi càng ao ước gặp Lãng, và tôi đã nói điều đó với Hà. Hà gật đầu hóm hỉnh:

“Nhưng Hà nói trước, anh Lãng bây giờ không phải anh Lãng ngày xưa, chỉ tu tâm mà không khoác áo tu, đầu tóc râu ria trắng xoá, nếu gặp lại chắc Ngọc sẽ ngỡ ngàng lắm đó.”

Tôi gật đầu bảo Hà:

“Ngọc sẽ không ngạc nhiên đâu!”

Hà giao cửa hàng cho con gái trông nom rồi cùng tôi rong ruổi đó đây với đất trời Đà Lạt. Cuối năm trời vẫn trong veo và nắng vẫn óng ả, chúng tôi lên “rừng” thăm Lãng như dự định. Không báo trước nhưng Hà biết anh mình  không đi đâu xa vì mới đem tranh xuống phố, nếu có vắng nhà chỉ là lúc anh mang cọ, màu đi vẽ ở một góc nào đó thôi. Kể ra sống như Lãng cũng thú, chẳng vướng bận thê nhi, chẳng lo lắng miếng cơm manh áo vì đã quen ăn chay mấy chục năm trường. Bà cô già kể từ khi Lãng vẽ tranh kiếm được tiền để sống qua ngày đã thôi không làm tương chao, nhưng lo nỗi Lãng là cháu trai không tiện việc săn sóc bà khi nằm một chỗ nên đã xin vào ở hẳn trong chùa sư nữ để tìm nơi nương tựa lúc tuổi già.


Xe ngừng ở ngoài đầu con đường nhỏ, chúng tôi còn phải lội bộ khoảng mười lăm phút mới đến nơi ở của Lãng. Căn nhà nằm ngay đầu dốc nên cao hơn các nhà trồng rau ở phía dưới, vài cây thông xanh trước nhà và phía sau như bao bọc lấy căn nhà nhỏ bằng gỗ màu xám nhạt, từa tựa như những căn nhà miền quê ở Âu Châu.Tự nhiên tôi lại thấy hồi hộp, mấy chục năm rồi kể từ khi xa nhau bây giờ sắp gặp lại thì đã hai màu tóc, người lính trẻ năm xưa kiêu hùng trong màu áo trận, cô gái đang độ xuân xanh má đỏ môi hồng thuở nào nay đã thay đổi nhiều với thời gian. Sẽ như thế nào nhỉ? Thôi mặc kệ tất cả, như định mệnh là bàn tay tai quái đã phủ chụp lên thân phận con người thì chuyện gì đến tất phải đến.

Lãng đang ngồi uống trà nhìn ra khung cửa sổ, bên ngoài là thung lũng thoai thoải có những luống rau xanh thẳng tắp chạy dài xuống chân đồi. Nghe tiếng bước chân anh ngoảnh nhìn lại, hơi ngạc nhiên vì thấy em gái đi với khách lạ, linh tính cho anh biết khách từ xa đến đây, và người khách ấy chỉ có thể là Ngọc vì chả bao giờ Hà chịu bỏ cửa hàng để đi đâu. Tôi chưa kịp lên tiếng chào thì Lãng đã lên tiếng trước, bình thản như hỏi một người quen mới đi đâu về:

“Ngọc đấy à? Em về bao giờ thế?”

Tuy đã chuẩn bị nhưng tôi vẫn bối rối, trước mặt mình là một người đàn ông chưa già lắm mà đầu tóc bạc phơ, sắc mặt hồng hào khoẻ mạnh. Anh đấy ư? Vẻ an nhiên tự tại trên nét mặt bình thản ấy như đã từng vượt trên đầu sóng của số phận khiến tôi thán phục sức chịu đựng của anh, hóa ra tôi vẫn yếu ớt như ngày nào mặc dù đã nhủ lòng đừng khóc. Đến nỗi Lãng phải bước tới bên cạnh tôi, cầm lấy bàn tay gía lạnh vì tiết trời rét buốt tháng chạp, xiết chặt như muốn chuyền hơi ấm:

“Đừng khóc, người từ xa về mang niềm vui đến đây sao lại khóc? Anh đang vui đây vì em đến như một giấc mơ không đợi, mới đó mà ba mươi mấy năm rồi nhỉ?”

Tôi nghe như có tiếng thở dài rất nhẹ sau câu nói đùa của Lãng, bên ngoài hàng thông vẫn reo vi vu như hòa theo chút ngậm ngùi của ngày hạnh ngộ. Bình tâm lại sau những cảm xúc ban đầu, ba người ngồi xung quanh chiếc bàn nhỏ trò chuyện, Lãng rót cho tôi một tách trà nóng, giọng ân cần như xưa:

“Ngọc uống đi, anh không dùng trà từ lâu mặc dù trà là đặc sản của Lâm Đồng. Đây là nước gạo lức rang, anh đã dùng nhiều năm thay trà để tăng cường sức khoẻ . Hằng ngày chỉ tập thêm “Suối Nguồn Tươi Trẻ” là đủ, tuy đầu tóc bạc phơ nhưng cơ thể không bịnh tật, khí hậu trên rừng cũng tốt hơn thành phố em ạ.”

Toàn những chuyện của hôm nay, tôi đang muốn biết dưới đáy biển ngầm của mối tình xưa có vỗ lại những đợt sóng trong trái tim người đàn ông đã một thời yêu tôi và tôi cũng một thời yêu anh say đắm. Hà ngồi đó mỉm cười nhìn anh và bạn, như đang nhớ lại buổi trưa trong rừng Ái Ân bên bờ hồ Than Thở năm xưa, đã giả vờ đi tìm hoa dại cho hai người yêu nhau có dịp bày tỏ nỗi lòng. Bây giờ Lãng nói nhiều chứ không trầm lặng như xưa, hay anh cũng đang bối rối che giấu bằng những câu chuyện đâu đâu trong lần hạnh ngộ?!!

Xế chiều hôm đó khi trời còn vương vất nắng, Lãng đưa chúng tôi đi lang thang xuống chân đồi xem vườn rau và rừng thông nằm rải rác phía xa xa, chỗ ấy có một con suối nhỏ mà anh thường ra đó để vẽ, khung cảnh này tôi đã nhìn thấy trong một tấm tranh của Lãng. Đêm đầu tiên ở lại với Hà trong căn nhà của Lãng, tôi chờ nghe tiếng chuông tiếng mõ và mùi trầm hương để ru mình vào giấc ngủ, chập chờn trong giấc mơ tôi nghe như những giọt nước  mắt mằn mặn bờ môi khi vùi mặt lên vùng ngực ấm của người lính trận trước giờ chia tay. Lãng trở ra đơn vị và cũng chỉ vài tháng sau tôi xa Đà Lạt mãi mãi…


Sáng hôm sau mới bốn giờ đã ngửi thấy mùi nếp thơm phả trong căn nhà nhỏ. Trời mưa, Lãng dậy sớm theo thói quen nhen lửa thổi nồi xôi đậu phọng ăn với muối vừng. Hà còn nằm ngủ nướng vì đêm qua trằn trọc khó ngủ, tôi ra phòng ngoài thì đã thấy Lãng đang ngồi đun nước trên bếp than hồng đỏ rực. Thấy tôi anh nhường chỗ ngồi ấm bên bếp lửa rồi hỏi:

“Ngọc ngủ có ngon không? Lạ nhà chắc cũng hơi khó ngủ, có ấm nước nóng anh đặt trên bếp cho mấy cô rửa mặt, trời cũng lạnh đấy. Ngồi xuống đây cho ấm, bữa nay anh chỉ có món quà nhà quê đãi hai cô thôi. À quên, hôm qua có nải chuối chín tới, mùa nào thức nấy anh không phải mua gì cả, muốn lên đây ăn tết với anh thì quanh đi quẩn lại cũng chỉ bấy nhiêu thứ, không hiểu mấy cô có chịu nổi không?”

Tôi nhìn Lãng mỉm cười không nói, chưa biết tôi có chịu nổi cách sống chay tịnh lành mạnh này được bao lâu, nhưng giờ đây lòng tôi thật êm ả sau những phong ba bão táp trong bấy nhiêu năm đời viễn xứ. Không hiểu sao tôi lại buột miệng hỏi Lãng:

“Sao hồi đó khi còn trẻ anh không lập gia đình cho tuổi già đỡ cô quạnh?”

Lãng nhìn lại tôi, câu trả lời hóm hỉnh mà nghe thấm đến tận tim phổi:

“Anh đã tu rồi mà, tu rồi thì lấy vợ làm gì. Thật ra nếu em ở lại trong khoảng thời gian đó, mới cảm nhận được cái đau tinh thần nơi người ở lại. Anh đã không hoà nhập được với cái mới nên phải tự tách ra tìm cái gì đó cho mình để khỏi phải nghĩ ngợi. Thời gian cũng làm lành tất cả những vết thương, cái chân tật nguyền bị gãy trong lần đốn cây trên rừng thời gian tù tội, anh đau cái đau của thể xác đã đành mà còn mang thêm nỗi nhức nhối vì bị bỏ rơi, bị lãng quên sau khi đã cống hiến tuổi trẻ cho đất nước. Nhiều năm nay anh không nói vì không ai hỏi, đây chính là lý do anh lên rừng ở ẩn sau khi Hà lập gia đình.”

Thương anh quá, tôi hiểu vì sao anh hay vẽ những bức tranh có đỉnh Lâm Viên mây mờ che phủ, với ngàn thông chập chùng trong mảng rừng chiều thăm thẳm. Buổi sáng nơi này trời đang mưa, tự nhiên tôi muốn hát một ca khúc đã quên lời từ lâu, “mưa rừng ơi mưa rừng, tìm đâu hỡi ơi bóng ngày xưa…”. Trôi theo những kỷ niệm vật vờ trong quá khứ, tôi thủ thỉ nói với anh:

“Người ta cứ hay nói 'không thể tắm được hai lần trên một dòng sông', những khi ấy em cho là ngớ ngẩn và rất buồn cười, nhưng đến bây giờ em mới lờ mờ hiểu ý nghĩa của câu này.”

Lãng mỉm cười châm thêm nước sôi vào bình thuỷ, trả lời tôi bằng mấy câu thơ:

“Dẫu anh biết chẳng bao giờ có thể
Tắm được hai lần trên một dòng sông
Sông còn kia mà nước chẳng quay về
Cứ khắc khoải mà trôi ra lòng biển”
(thơ NN)

Tôi nheo mắt nhìn Lãng và chỉ về phía những bức tranh vẽ dở dang trong góc phòng tối:

“Theo em hiểu thì anh tu vì muốn chôn vùi dĩ vãng, nhưng trong những bức tranh em vẫn thấy thấp thoáng hình bóng của dĩ vãng trong đó. Hàng thông ven bờ hồ Than Thở, đỉnh Lâm Viên hai dải núi mờ trong sương, đồi Cù cỏ xanh và hồ Xuân Hương gờn gợn sóng, ngôi trường cũ ẩn hiện không rõ nét nhưng con đường với bóng giai nhân ngày chủ nhật thì không lẫn lộn đi đâu được. Có phải vậy không anh?”

Lãng cười, lâu lắm rồi tôi mới thấy anh vui như thế:

“Em thật thông minh Ngọc ạ, tri âm tri kỷ tri bỉ mà định mệnh lại chia lìa nhau chỉ vì cái tan nát của nước non. Đúng thế, anh vẫn không thể nào quên quá khứ dù khi đến đây sống với bà cô già, anh tập tìm quên cuộc đời trong tiếng chuông tiếng mõ. May có cô để anh bám víu nương tựa và có em Hà nâng đỡ anh trong cuộc sống hằng ngày nếu không anh đã nhảy xuống hồ tự vận, khi nhìn lại mình những lúc ấy mà cứ tưởng rằng ai rất xa lạ…”

Tôi ngồi im chờ đợi anh nói tiếp, vì bản tính Lãng từ ngày xưa ít khi thổ lộ nỗi lòng với ai. Ngay cả những lần về phép rồi trở ra đơn vị, mỗi khi chia tay Lãng cũng chỉ lặng lẽ trao gửi bằng ánh mắt thương yêu, trong khi tôi thắc thỏm âu lo cho anh ngoài trận địa. Mơ màng nhìn ra ngoài cừa sổ, những cây thông ướt sũng nước mưa và gió vẫn rít từng cơn như những tiếng thở dài não nuột:

“Ở gần bà cô nhiều năm mà anh vẫn chẳng thuộc được bao nhiêu kinh kệ, nhưng đã bình tâm lại được nhờ quen dần với tiếng chuông tiếng mõ. Đối với anh lúc đó đời chỉ có hai nơi, một nơi là cõi bên kia và nơi anh đang sống là cõi bên này. Cõi bên kia là bạn đời lính đã ra đi khi tuổi còn xanh, những người thân đã khuất trong gia đình, dù sao thì họ cũng về nơi an nghỉ, anh cầu cho họ tìm được một thế giới tốt đẹp hơn cõi đời đầy khổ luỵ. Cõi bên này xem vậy mà khổ hơn, những người dân sống xung quanh anh hay những nơi anh đã đi qua, họ cam chịu một đời lam lũ vì không có cách nào thoát ra được, họ cũng phải chống chỏi để tồn tại trong vất vả nhọc nhằn. Đời có gì vui đâu, chưa kể bịnh hoạn ốm đau tiền đâu mà chạy chữa, nghĩ vậy nên anh chỉ cầu an cho họ. Nói là tu nhưng đó chỉ là cách giúp cho tâm hồn mình bình thản hơn để chịu cái nghiệp khổ mình phải trả, vượt lên trên cái khổ để nhìn ra  hạnh phúc nhiều khi giản dị đến không ngờ. Dù em không nói nhưng anh cũng hiểu cái khổ mà em phải ôm mang, chẳng qua cũng chỉ là nghiệp mà em phải trả, trả chưa xong thì lòng có khi nào an ổn mà nghĩ tới hạnh phúc.”


Tôi thổn thức lắng nghe từng lời chia xẻ của Lãng, dù chưa kể cho Lãng nghe bao nhiêu mà sao anh đã hiểu và soi thấu tâm hồn tôi cũng đang khắc khoải vì cô đơn. Lãng nhìn tôi đầy thương mến, như một người anh vẫn săn sóc cô em gái nhỏ của mình:

“Nếu anh không lầm thì Ngọc vẫn còn nhiều bổn phận, em vẫn phải đi làm có đúng không?”

Tôi gật đầu trong nỗi phiền muộn, anh nghĩ đúng, tôi còn phải vật lộn với cuộc sống vì chưa tới tuổi nghỉ ngơi, hai đứa con chưa lập gia đình vẫn làm tôi quan tâm nghĩ ngợi. Lại hay hoài nghi về cuộc đời và tình người, tôi khó tìm ra sự an bình như đời sống của anh. Lãng âu yếm nhìn tôi và hỏi:

“Nếu Ngọc bằng lòng thì chiều nay trời hết mưa, anh mời em ra phía sau nhà nhìn ra hàng thông và vườn rau xa xa, anh sẽ vẽ bức tranh để kỷ niệm ngày gặp lại. Mai sau nếu như một lẽ gì đó mình không gặp lại, nhìn bức tranh anh vẫn thấy ấm lòng và tưởng như mình chưa hề xa nhau.”

Hình như trời cũng chiều lòng người, cơn mưa đêm về sáng đã ngưng, trả lại cho bầu trời sắp sang Xuân những tia nắng mềm mại óng ả. Tôi không ngờ Lãng vẽ nhanh quá, cảnh vật quanh đây như tấm ảnh đã ghi vào trí Lãng và anh chỉ cần quơ đôi tay ra là nắm được. Bức tranh có hồn đến không ngờ khi Lãng vẽ thêm vào cảnh phía sau lưng một dáng người phụ nữ ngồi nhìn ra phía xa, ánh nắng chiếu qua mái tóc và đọng lại trên đó lung linh một vạt nắng.

Suốt buổi chiều hôm đó tôi ngơ ngẩn trong trạng thái của người mộng du. Tình yêu ngày nào đã đánh mất như nắm được trong tay, đẹp như một vạt nắng vương trên mái tóc, nhưng chao ơi có ai nắm được nắng bao giờ. Nghĩ đến hai chữ “Định Mệnh” tôi lại rùng mình và nếu cho là mỗi phút giây hiện tại tôi đang có là hạnh phúc, thì hãy hưởng chút hạnh phúc nhỏ bé ấy đi. Không dám hứa với Lãng là sẽ có một ngày gặp lại, thôi thì đến đâu hay đến đó, cũng ngay sáng hôm sau tôi theo Hà trở về phố thị vì bạn cần phải chuẩn bị cho ngày Tết của gia đình. Trước khi chia tay, Lãng chỉ đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ ghi mấy vần thơ:

“Lạ lùng sao có vạt nắng chiều sương
Len lén đến nghiêng vai ngoài song cửa
Ôi vạt nắng hong bàn tay buốt giá
Nắng muộn màng mà ấm cả hồn ta …”

 

Nguyên Nhung

 

Kim Kỳ sưu tầm

Xem thêm...

Giọt mưa trên tóc

Giọt mưa trên tóc

 

https://baomai.blogspot.com/

Đường Hai Bà Trưng. Chiều. Một trai một gái tuổi độ 17, 18, đạp xe về hướng Tân Định, đi song song. Bỗng, trời nổi gió ào ào rồi mây đen kéo về vần vũ. Mọi người đều hối hả, đi như chạy, để tránh mưa. Đứa con trai giục:

- Đạp lẹ lên Kim! Qua khỏi đoạn này mới có chỗ đụt.

Đứa con gái gật đầu, chồm lên nhấn mạnh bàn đạp, nhưng chỉ vài phút sau mưa đã rơi lắc rắc xuống hai đứa làm chúng nó cười lên hăng hắc, cái cười hồn nhiên thanh thoát khi thấy mình bị mưa đuổi kịp, cái cười còn nguyên nét trẻ con trong trò chơi “cút bắt”! Chúng nó vội tấp vào mái hiên một tiệm giày. Sau khi dựng xe đạp lại ngay ngắn, Kim nhìn bạn, hơi ân hận:

 

- Tại Nghĩa đợi Kim mới bị mưa ướt đó. Phải hồi nãy Nghĩa đạp đi trước thì đâu có sao?

Đứa con trai tên Nghĩa vừa nhìn quanh vừa trả lời, người hơi lắc qua lắc lại giống như cành cây đong đưa trong cơn gió thoảng:

- Mình đi chung mà Kim.

 

Nghe bạn nói, Kim yên lặng nhìn ra mưa mà nghe lòng thật ấm cúng. Sự nhạy cảm của người con gái ở tuổi đó đã giúp Kim nhận thấy một tình yêu nho nhỏ đang nhen nhúm giữa hai đứa, một “cái gì” vừa nhẹ nhàng vừa tinh khiết, mà lại vừa thật là rung động. Một “cái gì” cứ bắt phải cần có nhau; một “cái gì” cứ bắt phải nghĩ đến nhau. Một “cái gì”... Một “cái gì”... Không biết nữa! Kim cảm thấy nóng hai vành tai. Kim nhìn xuống chiếc áo bà ba trắng đang dán vào người từng mảng nhỏ. Tự nhiên, Kim khoanh tay lại che ngực, rồi tự trách thầm:

 

“Phải nghe lời má đội nón thì bây giờ đã có cái gì để ôm cho đỡ ngượng. Con gái gì mà đi đâu cũng đầu trần! Cho đáng...”. Thật ra, Kim thấy đội nón bực bội quá, cứ nghe ngứa ngáy trên đầu như mấy ngày chưa gội và sau đó khi lấy nón ra tóc cứ như bị dán keo nằm nhẹp xuống coi thật chướng mắt. Cho nên, thảng hoặc có đi đâu với má thì Kim cầm theo cái nón lá cho khỏi bị rầy, kỳ dư là đi đầu trần – dù đi học hay đi lao động cũng vậy. Thành ra, tóc Kim bồng lên thật đẹp, đen huyền xõa xuống ngang vai, chao qua chao lại khi Kim nghiêng đầu và lúc nào cũng tự do phất phơ theo chiều gió. Mấy thằng bạn cùng lứa – nhứt là Nghĩa – thường hát ghẹo: “Nắng lên, gió lên cho tóc em bồng...” Và Kim thấy hãnh diện với “mái tóc em bồng”  đó.

 

https://baomai.blogspot.com/

 

Cơn mưa thật lớn. Vỉa hè, mặt đường... đều lai láng nước. Làm như là nước từ dưới đất dâng lên!

 

Bên kia đường là nhà thờ Tân Định với bức tường cao kéo dài. Bên này, chỗ nào có mái hiên là có người đứng đụt. Cách chỗ hai đứa đứng vài căn phố là tiệm nước mà phía trước là chiếc xe mì với hàng ghế đẩu đứng trong mưa chờ khách.

 

Mái hiên chỗ hai đứa đụt bỗng nghiêng triền qua một bên, đổ ào nước xuống như một dòng thác. Không bảo nhau mà cả hai đứa cùng nhảy lùi vào trong và cùng đứng về phía mái hiên không đổ nước. Khoảng trống không bị ướt dưới mái hiên bây giờ thu hẹp lại chỉ còn một góc nhỏ vừa đủ cho hai đứa đứng. Không đứng sát vào nhau, nhưng đứng thật gần nhau...

 

Nghĩa quay nhìn phía sau: cửa lưới sắt tiệm giày đóng im lạnh ngắt. Bên trong tủ kiếng, kệ hàng trống bốc, bụi đầy. Nhìn sang Kim, Nghĩa nói:

- Kim biết không? Ông chủ tiệm giày này đã đưa gia đình vượt biên cách đây ba bốn tháng...

- Sao Nghĩa biết?

Kim ngạc nhiên, bởi vì nhà Nghĩa ở xóm Chi Lăng, còn đây là chợ Tân Định.

Nghĩa chỉ tay sang nhà thờ:

- Con nhỏ em của Nghĩa học ở trường nhà thờ bên kia. Chiều nào Nghĩa cũng tới đón nó. Trong khi chờ đợi, nghe mấy anh xích lô nói chuyện với nhau mới biết.

- Họ đi thoát không?

- Không biết nữa. Mà không phải có tiệm giày đi thôi đâu. Cả dãy phố này đều lần lượt chui hết. Cho nên nhà nào nhà nấy đóng cửa im ỉm, Kim thấy không? Nhà Nước tịch thâu lâu rồi sao không thấy cấp cho ai hết.

Kim nhìn ra mưa, bâng khuâng:

- Không biết họ đi có thoát không?

Im một lúc, bỗng Nghĩa ngập ngừng hỏi nhỏ:

- Gia đình Kim có định... có định... đi không Kim?

Kim nhìn bạn, nửa ngạc nhiên, nửa dò xét. Rồi khi thấy không có gì khác lạ trên gương mặt của người bạn trai, Kim thở dài nhìn ra mưa:

- Gia đình Kim mà đi đâu, Nghĩa! Chạy gạo hằng ngày thì lấy vàng đâu mà đi chui?

Nghĩa bối rối, người hơi lắc lư:

- Thì... hỏi là hỏi vậy thôi, chớ Nghĩa cũng biết...

Ba của Kim làm thầy giáo. Hồi thời “ngụy”, bị động viên, rồi chạy chọt được biệt phái trở về đi dạy học – để khỏi đi đánh giặc. Qua trào Việt Cộng, hai chữ “biệt phái” đã làm cho họ nghi là CIA nên bắt đi học tập từ đó đến giờ. Ở nhà, má và chị Hai của Kim chạy ngược chạy xuôi lảnh đồ về may để nuôi năm miệng ăn và góp nhóm chút đỉnh để lâu lâu đi thăm ba của Kim một chuyến. Cho nên, nói chuyện “lo đi vượt biên” cũng như chuyện xuống biển mò trăng...

 

Bên gia đình Nghĩa cũng không hơn. Ngày xưa, ba Nghĩa làm kế toán ngân hàng, bây giờ đan giỏ chầm nón ở tổ “Mây Tre” Phú Nhuận với má Nghĩa. Hai ông bà sáng đi tối về, đèo nhau trên xe đạp. Nghĩa và con nhỏ em đi học, tối về dán bao giấy bỏ mối cho mấy bà ngoài chợ gói hàng. Bữa cơm gia đình thường là tương chao hoặc ba  cái trứng luộc dầm nước mắm. Chuyện “vượt biên” đúng là chuyện mò trăng đáy biển!

 

Bỗng Kim nhìn Nghĩa, một thoáng tinh ranh nằm trong ánh mắt:

- Còn Nghĩa? Có tính đi không?

Nghĩa phì cười, miệng rộng huệch:

- Kim trả thù hả?

Kim cười bằng mắt, nhái lại câu của Nghĩa khi nãy, người cũng nhẹ lắc lư:

- Thì... hỏi là hỏi vậy thôi.

Không bảo nhau mà cả hai cùng phá lên cười, cái cười che giấu sự sung sướng bên trong của mỗi đứa, cái cười của những người cùng cảnh ngộ gặp nhau, cái cười không phải của niềm vui mà là của sự an ủi. Rồi chúng nó nhìn nhau một thoáng, trước khi quay nhìn đi nơi khác để cảm thấy thật gần gũi nhau vô cùng.

Mưa thôi ồ ạt nhưng vẫn chưa dứt hột thì nửa vùng trời đã hé nắng ở đằng kia. Ánh nắng xiên xiên thật sáng, thật trong làm như vừa được mưa lau sạch  bụi! Nắng chiều mà giống như nắng sáng.

Nắng xuyên mưa đổ xuống chỗ Kim và Nghĩa, giống như vệt đèn pha sân khấu. Nghĩa nhìn Kim đứng trong vùng ánh sáng đó bỗng nhớ tới vở kịch thần thoại Liên Xô mà hai đứa đóng trong trường cách đây mấy tháng, trong đó Nghĩa làm người cùng khổ còn Kim là bà tiên áo trắng, mái tóc đầy kim tuyến lấp lánh như kim cương. Bây giờ, những giọt mưa đọng lại trên tóc Kim cũng lấp lánh như kim cương trong tia nắng chiều nghiêng chụp xuống. Đẹp quá!

 

Kim chợt bắt gặp cái nhìn ngây dại của bạn, nóng bừng hai tai.

- Nhìn gì kỳ vậy Nghĩa?

Nghĩa giật mình, người hơi lắc lư:

- Nghĩa đang nhìn mấy giọt nước trên tóc Kim. Nó... Nó...

Kim mỉm cười, lắc mạnh đầu mấy cái rồi đưa hai tay vuốt tóc tém vào ót. Tóc được gom lại, dính vào nhau thành một cái đuôi cong cong.

Nghĩa tiếp:

- Nó giống như kim cương. Thật giống kim cương. Uổng quá!

- Cái gì uổng?

 

  • mưa xuân2

Kim ngạc nhiên hỏi. Nghĩa đang tiếc rẻ hình ảnh đẹp của Kim khi nãy với những giọt mưa trên tóc, bất ngờ bị hỏi vặn, không biết phải trả lời làm sao. Nghĩa đưa tay gãi ót, chặc lưỡi:

- Thì...

Mắt Nghĩa bỗng sáng lên, mặt hí hửng. Một ý nghĩ vừa thoáng qua trong đầu, Nghĩa chụp lấy như người sắp chết đuối chụp lấy cái phao:

- Uổng quá chớ! Nếu là kim cương thiệt thì Kim dư sức đưa gia đình đi vượt biên rồi.

Rồi Nghĩa cười lên ha hả, cái cười của người vừa thoát nạn. Kim cũng cười theo bạn, nhưng cười vì cái ý nghĩ ngộ nghĩnh bắt nguồn từ những giọt mưa trên tóc.

Trời cũng vừa hết mưa. Đường phố khi nãy vắng tanh, bây giờ đầy người trở lại. Làm như mưa ngừng cho nước rút xuống để rừng người mọc lên! Nghĩa và Kim nhập vào đoàn người đạp xe về ngã Phú Nhuận. Không khí sau mưa mát rượi. Hai đứa đều có cảm giác như mặt mũi mình vừa được rửa sạch trong cơn mưa.

Đến ngã tư Phú Nhuận, Nghĩa vẫy tay chào bạn:

- Thôi, “bye” nghe Kim.

Rồi cắm đầu đạp nhanh về hướng Gia Định trong lúc Kim quẹo sang trái để về cổng Phi Long.
 

***

 

Sau bữa cơm tối, ba gọi Nghĩa và con nhỏ em vào buồng, kéo ngồi xuống chiếc chiếu trải dưới đất, vẻ nghiêm trọng, thấp giọng nói:

- Hổm rày ba má giấu tụi con. Bây giờ, tới lúc phải cho tụi con biết. Khuya nay mình vượt biên.

Nghĩa cảm thấy choáng váng mày mặt, mồ hôi đổ ra như tắm. Trước mắt Nghĩa bỗng là một khoảng trống không mơ hồ. Nghĩa không còn thấy ba. Nghĩa không còn thấy em. Nhưng Nghĩa còn loáng thoáng nghe tiếng ba nửa xa nửa gần:

- Ba sẽ chở má. Nghĩa chở em. Mình đạp xuống cầu Kinh, bỏ xe ở nhà bác Tám rồi băng ruộng ra bờ sông cách đó chừng năm trăm thước. Ghe chờ ở đó. Tụi con đừng đem gì theo hết. Cứ đi tay không như mình đi thăm bác Tám vậy. Hiểu chưa?

Nghĩa gật đầu như người máy, nhưng Nghĩa không hiểu. Thật tình không hiểu! Ba má vẫn hay than vắn thở dài: “Phải chi nhà mình có chút đỉnh gì để liều một chuyến vượt biên như thiên hạ coi ra sao”. Khi gặp bạn bè, ba thường chép miệng: “Tôi mà biết bị kẹt lại như vầy, tôi đã đưa gia đình di tản cha nó hồi bảy mươi lăm rồi! Bây giờ thì thôi. Đành muôn năm ở lại với Bác!”.

 

https://baomai.blogspot.com/

 

Vậy mà bây giờ... bây giờ... Nghĩa không hiểu! Thật tình không hiểu! Mới hồi nãy đây, còn đứng đụt mưa chung với Kim, còn đùa nhau về chuyện vượt biên – lý do để hai đứa thấy gần nhau hơn nữa – còn đạp xe song song trên đường dài – dù đường dài có dài thăm thẳm chắc hai đứa lúc nào cũng đạp xe song song... Vậy mà bây giờ... bây giờ... Sao nó giống như ngã tư Phú Nhuận, mỗi đứa đi về một hướng, hai hướng ngược nhau trên một đường thẳng, nghĩa là chẳng bao giờ gặp lại nhau  dù có kéo mãi về vô tận. Và những giọt mưa trên tóc. Ờ... những giọt mưa trên tóc! Những gì hồi nãy mới thấy đây, mới hiện diện đây, những rung động, những cảm nhận thật rõ ràng mới đây, hồi nãy, khi đứng đụt mưa với Kim dưới mái hiên tiệm giày... bây giờ sao giống như giọt mưa trên tóc, chỉ một cái lắc đầu đã rơi mất trong không gian! Còn Kim?... Kim?... Kim sẽ làm sao? Một câu hỏi thật ngớ ngẩn nhưng nói lên chiều sâu của tình yêu vừa chớm, thứ tình yêu chưa rõ nét như bước chân chập chững của trẻ thơ, thứ tình yêu còn thơm mùi giấy mực học trò, còn thật thà như đọc cửu chương hai! Nghĩa bỗng thấy cần phải gặp Kim. Gặp ngay bây giờ. Không biết để làm gì, nhưng phải gặp. Không biết sẽ nói cái gì, nhưng cứ gặp trước cái đã. Có một cái gì thúc đẩy từ bên trong. Có một cái gì kêu gọi từ bên ngoài. Nghĩa không hiểu nữa. Cảm thấy thật cần thiết, thật cấp bách!

Nghĩa bước ra phòng khách, với tay lên kệ lấy đại hai quyển sách gì đó rồi nói với ba đang soạn giấy tờ trên bàn:

- Con đem trả sách cho thằng Tuân.

Khi thấy ba nhìn mình soi mói, Nghĩa tiếp:

- Trả cho nó học.

Ba gật đầu:

- Ờ... Nhưng ba cấm con nói “chuyện đó” với bất cứ ai, dù là bạn thân cũng vậy. Nghe chưa?

Nghĩa gật đầu, đẩy xe đạp ra sân. Ba nói với theo:

- Trả rồi về ngay nghe con, Nghĩa.

Nghĩa "dạ" rồi phóng lên xe, đạp thật nhanh. Trên đường Phan Đăng Lưu (Chi Lăng cũ), Nghĩa ném hai quyển sách vào một đống rác rồi đi thẳng.

 

Nhà Kim ở xóm cổng Phi Long. Nghĩa vẫn quen lui tới. Vậy mà bây giờ sao thấy nó xa thăm thẳm. Mặc dù xe đã lao nhanh nhưng Nghĩa vẫn có cảm tưởng như hãy còn quá chậm. Nghĩa vừa nhấn mạnh bàn đạp vừa nghĩ miên man: “Không biết phải nói làm sao đây? Ba đã cấm thì mình làm sao nói? Mà không nói làm sao Kim hiểu? Không biết mình đi có thoát không? Rồi cuộc đời sẽ ra sao? Không có Kim mình sẽ ra sao? Còn Kim? Kim sẽ ra sao? Ra sao?... Ra sao?...”.

 

Thật nhiều câu hỏi để không có được một câu trả lời. Người con trai đó cảm thấy thật chơi vơi, tất cả đều vuột khỏi tầm tay, tất cả đều vượt khỏi tầm suy luận của nó, nó không hiểu được gì hết, không chủ động được chuyện gì hết! Lần đầu tiên, người con trai đó nhận thấy cuộc đời này quá nhiều rắc rối chớ không đơn giản như những bài toán ở trong trường, mà mình thì giống thằng học trò dốt nhìn tấm bảng đen thấy nó rộng bằng cái sân banh...

Khi Nghĩa vừa thắng xe trước cổng nhà Kim thì con chó chạy ra sủa mấy tiếng rồi chồm lên cửa sắt vẫy đuôi mừng. Có tiếng má của Kim hỏi vọng ra:

- Ai đó?

- Dạ thưa cháu.

Nghĩa trả lời.

- Nghĩa hả? Đi đâu tối vậy?

Rồi đèn dưới hiên được bật lên, một bóng đèn nhỏ xíu tỏa ánh sáng vàng vọt như ánh sáng cây đèn dầu. Má của Kim bước ra mở cổng:

- Cháu ngồi chơi. Em nó tắm rồi ra bây giờ. Bác còn phải vô may tiếp mớ đồ để mai giao...

Nghĩa “dạ”, rồi dựng xe vào tường rào. Con chó chạy lại quắn quýt mừng rồi chạy vào trong sủa mấy tiếng như để báo là nhà có khách! 

 

Nghĩa nhìn quanh: nhà vắng teo, chỉ nghe có tiếng máy may xành xạch đều đều. Nghĩa nghĩ: “Chắc mấy đứa nhỏ về dưới quê hết rồi. Chớ không thì đã chạy ào ra mừng như mọi khi”. Sân nhà Kim tuy nhỏ nhưng tráng xi măng sạch sẽ. Ở góc sân có cây mận khá lớn, tàng gie ra phủ lấy sân như cây lộng. Dưới gốc mận, có mấy gộc củi to đặt đứng để làm ghế ngồi. Trên thân cây mận, hãy còn treo mấy giỏ phong lan mà ba của Kim trồng hồi đó.

 

Khi Nghĩa vừa ngồi xuống cạnh gốc mận thì Kim cũng vừa bước ra hiên nhà. Tóc Kim chải ngược về phía sau, để lộ khuôn mặt đều đặn với đôi mắt ngời tinh anh. Kim dừng ở hiên một chút... như để định hướng, rồi mới bước tiếp ra sân. Chỉ trong một thoáng đó thôi – một thoáng dừng lại của Kim – Nghĩa bỗng thấy không gian chìm mất chỉ còn lại gương mặt của người bạn gái là hiện hữu, là sinh động, là rạng rỡ... Nghĩa thấy gương mặt đó thật rõ, thật sáng. Thấy mái tóc hãy còn láng nước, tóc mai còn dán vào má vào tai. Thấy vầng trán rộng, thấy đôi mày dài. Thấy ánh sao trong mắt, thấy nét cười phớt nhẹ làn môi... Chỉ trong có một giây thật ngắn ngủi – như một chớp mắt – mà sao ngần đó nét, ngần đó chi tiết được Nghĩa nhìn thấy hết, thâu nhận rõ hết. Phải chăng đó là hình ảnh của Kim mà Nghĩa muốn ghi lần cuối cùng vào tim vào óc? Ghi lấy để giữ lấy mãi mãi, bởi vì, sẽ không còn có lần nào khác nữa để Nghĩa được nhìn Kim như bây giờ...

 

Kim vừa bước về hướng Nghĩa, vừa hỏi:

- Ủa? Đi đâu mà tối vậy Nghĩa?

Yên lặng. Từ cái thoáng dừng lại khi nãy của Kim, từ cái thoáng đặt hết tâm tư vào gương mặt của người bạn gái, Nghĩa không còn cảm nhận được sự hiện diện của mình. Tiếng của Kim, Nghĩa nghe loáng thoáng như trong chiêm bao.

 

Nghĩa chỉ sực tỉnh khi Kim đã ngồi đối diện. Người con gái đó có dáng ngồi thật thẳng, thật ngoan, thật dễ thương với hai bàn tay đặt nằm thoai thoải trên đầu gối. Ở Kim, toát ra một cái gì vừa tươi mát vừa tinh khiết, lại vừa trầm lặng với sức sống căng đầy. Nghĩa cảm thấy bối rối, không biết phải nói cái gì, nói làm sao, rồi miên man nghĩ: “Chắc Kim sẽ buồn lắm khi nghe mình nói. Chắc Kim cũng sẽ... cũng sẽ đau khổ lắm khi biết mình đi. Bây giờ còn ngồi đây với nhau chớ lát nữa đây, rồi ngày mai, rồi mãi mãi sẽ không còn gặp nhau nữa. Vĩnh viễn không gặp nhau nữa. Vĩnh viễn... Vĩnh viễn...”. Nghĩa thấy thương Kim. Nghĩa thấy thương Nghĩa. Nghĩa thấy thương hai đứa. Nghĩa muốn khóc! Nghĩa không dám nhìn thẳng mặt Kim. Nghĩa nhìn đôi bàn tay thon nhỏ của Kim, đôi bàn tay ngoan hiền nằm trên đầu gối. Đôi bàn tay đó đã từng vẫy gọi Nghĩa trong đám đông, đã từng vỗ vào nhau thành nhịp khi Nghĩa đàn, và một hôm, đã từng kết lại giùm Nghĩa cái nút áo, sau một lần vật lộn với bầy em của Kim. Đôi bàn tay đó, rồi đây, suốt cuộc đời về sau, Nghĩa sẽ không còn được cầm lấy, nắm lấy, hay nhìn thấy, dù là trong giấc mộng. Không tự chủ được, Nghĩa nghiêng người tới cầm lấy hai bàn tay của Kim. Một cử chỉ thật đột ngột làm Kim sửng sốt định rút tay về, nhưng khi thấy Nghĩa chẳng có nét gì sỗ sàng nên để yên. Nghĩa giữ tay Kim trong tay mình như giữ một vật gì đẹp nhứt, quí nhứt của cuộc đời này. Như hơi thở. Như nhịp tim. Như tình yêu... tình yêu... tình yêu...

 

Yên lặng. Nghĩa ngồi như pho tượng. Lưng khom khom, đầu chúc xuống, cùi chỏ chống lên đùi làm hai vai nhô lên. Kim không nhìn thấy mặt Nghĩa, nhưng Kim “nhìn” thấy tâm tư của Nghĩa trong đôi bàn tay và trong dáng ngồi của bạn. Đôi bàn tay muốn nắm thời gian ngừng lại và dáng ngồi nói lên niềm thống khổ vô biên...

 

Yên lặng. Rồi có tiếng Kim hỏi, thật trầm tĩnh: "Nghĩa đi hả?"

 

Không có tiếng trả lời. Nhưng Nghĩa gật gật đầu, cái đầu đã ở sẳn tư thế cúi thấp xuống của một người nhận chịu số phận! Rồi vai Nghĩa bỗng run run, Nghĩa gục xuống tay nấc lên khóc. Bấy giờ – và chỉ bấy giờ – những ngón tay của hai đứa mới đan vào nhau, tự nhiên đan vào nhau, giữ lấy nhau, giữ chặt lấy nhau. Không biết tại sao? Không biết để làm gì? Mà cần gì phải biết, khi tất cả đều vô nghĩa? Vô nghĩa!

 

Yên lặng. Không gian không còn nữa. Thời gian không còn nữa. Vũ trụ bây giờ nằm trọn trong lòng tay hai đứa, một vũ trụ rách nát, đau thương. Ở đó, giữa những ngón tay đan chặt vào nhau, tình yêu vừa mới sinh ra, còn măng non nhưng sao đã thấy già nước mắt....

 

Yên lặng. Kim không khóc. Kim vẫn ngồi thẳng, nhìn thẳng, tuy tâm hồn đã tê dại. Phải một lúc lâu sau, thật lâu sau, Kim mới trở về với chính mình để nhận thấy rằng bỗng nhiên mình già đi mười mấy tuổi! Kim nhìn xuống Nghĩa, chỉ thấy cái đầu tóc ngắn, cái ót gầy gầy, đôi vai nhô cao. Hình ảnh cuối cùng của Nghĩa là đây chăng? Người con trai có đôi mắt xếch xếch, có cái cười rộng huỵch làm cho một bên má lúm đồng tiền, người con trai đã làm Kim rung động, người con trai đã làm Kim xao xuyến, người con trai đó, bây giờ, Kim chỉ nhìn thấy được có cái ót và đôi vai thôi! Rồi mai mốt... mai mốt... Một chua xót đang trạo trực dâng lên. Kim cắn môi kềm lại. Yên lặng...

 

 https://baomai.blogspot.com/

Một lúc sau, Kim hỏi, giọng lạc đi:

- Chừng nào?

Nghĩa ngồi thẳng lên, tay vẫn không rời tay Kim, mặt còn đầy nước mắt, giọng cũng lạc đi:

- Khuya!

Kim nhìn gương mặt méo mó vì đau khổ của Nghĩa bỗng nghe xúc động dạt dào. Kim muốn chồm tới ôm lấy Nghĩa, ôm lấy gương mặt đầy nước mắt đó áp vào má mình, ôm thật chặt, xiết thật chặt, để mọi niềm đau được cùng chia sớt, để mọi nỗi hận được cùng xẻ đôi. Nhưng Kim gượng lai, gượng lại vì lễ giáo, và gượng lại vì sợ không rời nhau ra được nữa... Trào lòng dâng dậy miên man, Kim nhắm nghiền mắt lại, siết những ngón tay của Nghĩa, siết với hết sức mình, siết thật mạnh, siết thật đau, siết như để nén một trời thống khổ, siết như để bóp vỡ một cái gì uất nghẹn trong tim, siết như đang cố gắng nuốt một liều thuốc đắng, siết như... siết như để chia tay lần cuối trước khi lìa đời… Kim cắn răng để đừng bật khóc!

 

Yên lặng. Lâu sau, Nghĩa buông tay Kim đứng lên, lủi thủi lại lấy xe đạp. Kim bước theo, nhẹ như một cái bóng. Kim mở cổng, tiếng cổng rỉ sét rên lên. Nghĩa dẫn xe ra, không dám nhìn lại cũng không dám nói một lời, chỉ phóng lên xe đi thẳng. Kim đóng cổng, cổng sắt lại rên lên trước khi kêu cái rầm khô khan. Kim có cảm tưởng như mình vừa bị nhốt trong tù. Ngoài kia, đã là một thế giới khác.

 

Khi Kim bước lên cầu thang để lên gác – cái gác lửng ba làm cho Kim ngủ và học riêng một mình trên đó – Kim bỗng nghe hai chân mình yếu đi, chẳng còn chút sức lực nào hết. Kim cố bám từng nấc thang, mồ hôi đổ ra như tắm. Lên đến bên trên, Kim chỉ còn đủ sức gieo mình xuống giường, úp mặt xuống gối, khóc ngất... Bao nhiêu nước mắt trần gian xin gởi hết cho Kim, người con gái mang tâm trạng người góa phụ.

***

 

Trời mưa Paris. Ở đây không có “mưa rồi chợt nắng” như ở Sàigòn. Ở đây, mưa không ngập tràn cống rãnh, mưa không đưa rác trôi quanh phường phố. Cũng không có trẻ con cởi truồng chạy giỡn trong mưa. Cho nên, chẳng có gì để gợi nhớ như mưa Sàigòn...

 

https://baomai.blogspot.com/

 

Nghĩa ngồi một mình uống cà phê trong một bar ở khu Maubert. Hai cô đầm tránh mưa kéo vào ngồi bàn trước mặt. Những giọt mưa trên mái tóc vàng gợi nhớ những giọt mưa trên mái tóc đen của Kim hồi đó. Hồi đó, nghĩa là đã hơn bảy năm. Bảy năm không một tin tức gì hết của Kim, mặc dù đã gởi không biết bao nhiêu thơ, đã nhắn không biết bao nhiêu lời qua bạn bè của hai đứa! Cứ im lìm trống rỗng, làm như những chuyện gì đã xảy ra hồi đó chỉ là một ảo ảnh, một giấc mơ...

 

Những giọt mưa trên tóc hai cô đầm trước mặt vẫn lấp lánh dưới ánh đèn trong bar càng gợi lại hình ảnh Kim trong lần đụt mưa hồi đó với những giọt mưa trên tóc, rõ ràng như Nghĩa đang nhìn bây giờ. Vậy mà bây giờ….

 

Nghĩa đốt điếu thuốc. Hít một hơi dài bỗng nghe khói thuốc thật đắng và làm cay chảy nước mắt!

 

BMhttps://www.youtube.com/watch?v=6XEcApJZHFM

 

 
Tiểu Tử
Hồng Vân sưu tầm
 
mưa xuân4
 
Xem thêm...

Em đi bỏ lại con đường

Em đi bỏ lại con đường

▂ ▃ ▅ ▆ █ ★█ ▆ ▅ ▃ ▂

 

 

 Ba tôi là một người đẹp trai và rất có duyên. Ông có một vẻ khôi hài tưởng như hời hợt nhưng nếu hiểu ông thật nhiều, người đối diện sẽ nhận ra sự sâu sắc trong mỗi câu đùa bỡn đó. Ba tôi rất đào hoa. Nếu trong đời tôi mà gặp được một người như ông, tôi sẽ yêu ngay không do dự. Nhưng ba khá khó hiểu và hay làm tôi sợ mỗi khi ông buồn vì bị mẹ chì chiết.

Ba tôi theo đạo công giáo, ngày xưa khi lấy ba tôi mẹ cũng phải theo đạo, nhưng sau đám cưới không bao lâu bà không thèm đi nhà thờ nữa. Còn ba, thỉnh thoảng tôi thấy ông trở về từ nhà thờ vào sáng chủ nhật, mắt buồn vô hồn ngân ngấn nước. Ba nói ông vừa xưng tội. Tôi chưa thấy ba có lỗi với ai, ngay cả một con côn trùng nhỏ nhoi ông cũng không nỡ giết. Ông tốt bụng đến mức hay bị lợi dụng. Vậy tại sao ông cứ hay xưng tội. Hay là ông có lỗi với mẹ vì chỉ có mẹ là không bao giờ hài lòng với ông?

 Mẹ không xứng với ba nếu xét về ngoại hình. Mẹ không xấu, thậm chí nếu nhìn kỹ sẽ thấy mẹ rất có nét. Nhưng có thể vì lúc nào mẹ cũng cau có còn ba thì tươi cười nên trông mẹ rất khó coi bên cạnh ba. Mẹ hay nói "Tao đã từng yêu ổng" nhưng ba thì chưa bao giờ nói gì về tình yêu của hai người. Tuy đào hoa nhưng chưa bao giờ ba phản bội mẹ. Năm tôi 19 tuổi, khi vào năm nhất đại học tôi phải lòng người thầy trẻ của mình. Thầy khá đẹp trai nhưng chưa đẹp bằng ba tôi. Lần đầu tiên biết yêu tôi khó giấu những cảm xúc của mình, về nhà tôi hay nhắc đến thầy, nhắc nhiều đến nỗi ba tôi nhận ra và nhìn tôi nhẹ nhàng hỏi "Yêu rồi sao?". Ánh mắt ba rất lạ lùng. Vừa khích lệ nhưng cũng vừa răn đe. Rồi ba nói tiếp "Con gái rồi sẽ hiểu ba!". Nhưng tôi chẳng hiểu gì sất và còn đang bận tâm đến mối tình đầu của mình. Cho tới hôm nay, khi tôi đã kịp yêu thêm hai người nữa mà vẫn chưa đi tới hôn nhân thì tôi phát hiện ra ngăn tủ bí mật của ba.

Người người, nhà nhà sốt với những cung đường phượng tím ở Đà Lạt

Những tấm hình đen trắng ba tôi đã chụp từ lâu được xếp kỹ lưỡng trong những phong bì ngả vàng. Bên ngoài mỗi phong bì được viết chủ đề của tập ảnh và các mốc thời gian. Hình lúc ba còn trẻ đẹp trai quá sức tưởng tưởng nhưng chưa bao giờ ba đêm khoe với tôi. Thậm chí tôi nghĩ mẹ cũng không biết gì. Hồi đi học ở đại học văn khoa Sài Gòn ba có khuôn mặt thật ngây thơ với đôi mắt đen trong sáng, lúc tham gia vào ban nhạc trẻ "Sur le Mont" chuyên hát nhạc Pháp thì ba "bày đặt" để tóc hippy hơi dài, nhìn có vẻ quậy nhưng mặt vẫn hiền queo. Và mỗi xấp hình gợi cho tôi nhiều tò mò khi đọc thấy dòng chư bên ngoài phong bì "Những ngày tháng đẹp". Đây rồi, thì ra là hình ba chụp với một cô gái xinh xắn, khuôn mặt trái xoan và đôi mắt tròn đen cũng to như mắt của ba.

Trong ngăn kéo bí mật, ngoài mấy xấp hình ra, tôi còn tìm thấy mấy tấm thiệp chúc sinh nhật ba của một người bạn tên Lan và bất ngờ thấy cả một lá thư mà ngoài phong bì không có tên người gởi cũng như người nhận. Thư viết bằng mực xanh, nét chữ nghiêng đều rất nữ tính. Thư cũng không đề ngày nhưng tôi thấy nét chữ của ba đề bên trên "nhận được ngày...". Tôi bắt đầu đọc...

https://baomai.blogspot.com/

"Duy nhớ,

Trong đời Lan, Lan đã nhận được nhiều bức thư thổ lộ của các chàng trai. Nhưng Lan không ngờ là có lúc tới phiên Lan, Lan cũng làm cái việc "vạch áo cho người xem lưng".

Lan không xác định được từ khi nào, Lan đã phải lòng Duy. Và kể từ ngày đó, Lan luôn luôn khổ sở và day dứt. Lan không quan tâm Duy có tình cảm với Lan hay không, Lan không có ý mong chờ Duy nói gì đó với mình. Vì Lan thích làm người chủ động. Và người thích chủ động đó, cho tới ngày hôm nay mới dám thổ lộ lòng mình một cách chân thành nhất vì người ta có nỗi khổ tâm riêng. Khi Lan biết mình có tình cảm với Duy thì Lan đã có anh Minh rồi. Điều này xảy ra trước khi anh Minh đi khá lâu. Và khi anh Minh đi du học xa, Lan không còn gặp ảnh thường xuyên nữa thì Lan ngạc nhiên thấy mình không nhớ đến ảnh. Mà người Lan thấy hằng đêm trong những giấc mơ, làm Lan thao thức, nghĩ ngợi lại là Duy. Lan thấy có lỗi với anh Minh, nhưng nếu người ta có quyền sống thật với lòng mình và có thể hiểu được vì sao mình lại xử sự như vậy thì cuộc đời đỡ rắc rối hơn rất nhiều.

Lan có thể gọi tên tình cảm của mình dành cho Duy. Đó là tình yêu, trong sáng và chân thành. Lan hy vọng Duy không cười Lan vì Lan là con gái mà lại đi bước đầu tiên. Duy không săn sóc, không chiều chuộng Lan, thậm chí sinh nhật Lan cũng không nhớ. Nhiều lúc Duy chững chạc và sâu sắc, rất người lớn làm Lan kính trọng.. Nhưng đôi khi Duy lại hời hợt và mất phương hướng, trẻ con quá làm Lan tổn thương.

Sở dĩ Lan muốn Duy biết Lan yêu Duy là vì Lan hy vọng Duy sẽ nghĩ khác đi về cuộc đời này. Duy sẽ sống có ý chí hơn và tích cực hơn. Duy đừng xem trọng những vấn đề tài chính hơn tình cảm con người. Duy có đủ điều kiện xây dựng một gia đình hạnh phúc, Duy chỉ thiếu một tham vọng tiến thân và thừa những ý nghĩ tiêu cực.

Lan biết mình không dễ dàng yêu ai. Vì vậy một khi Lan đã yêu Duy thì cũng có nghĩa là Duy xứng đáng. Xin Duy đừng cho là Lan kiêu ngạo, mà Duy có nghĩ vậy cũng không sao..

Còn vài ngày nữa anh Minh về. Rồi Lan sẽ tiếp tục làm người yêu của ảnh hay ảnh sẽ không chịu đựng nổi khi biết là trong tim Lan đã có thêm hình bóng của một người con trai khác. Sau khi đọc xong thư này, vì một lý do nào đó, chắc Duy sẽ tránh mặt Lan. Lá thư này chỉ để Duy hiểu Lan hơn, vậy thôi. Lan không đòi Duy phải có tình cảm phản hồi đâu, đừng lo!

Lan"

***

Có nên chờ đợi để về với tình cũ Có nên chờ đợi để về với tình cũ

Cô Lan này đúng là một người đặc biệt, vừa sắc sảo vừa bộc trực, vừa kiêu kỳ vừa khiêm tốn. Tôi tò mò muốn biết số phận cô sau này, cô sẽ lấy "anh Minh"? Còn ba tôi, sao một cô gái tuyệt vời như cô Lan mà ông không cố gắng dành lấy để rồi cưới mẹ tôi mà sống không hạnh phúc?

Ngày mai ba sẽ đi công tác ở châu Âu về. Chùm chìa khoá ba giao cho tôi để vào công ty dọn dẹp phòng làm việc đã giúp tôi vô tình phát hiện ra ngăn tủ bí mật.. Hẳn ba đã trân trọng những kỷ niệm của mình nhiều lắm nên mới không muốn chia sẻ với ai. Nhưng tôi cũng nóng lòng muốn nghe ba tâm sự. Dù gì tôi cũng lớn rồi, và tự nhiên tôi có cảm tình với cô Lan quá.

Ba về. Tôi nhìn lại ba. Ba đã thay đổi khá nhiều so với thời những tấm hình trong ngăn tủ. Mắt ba không còn vẻ hiền lành của một chàng trai mới lớn. Nhưng mắt ba vẫn còn buồn và nụ cười vẫn còn tươi. Đến bây giờ tôi mới nhận ra ba mình có một vẻ đẹp mâu thuẫn như cá tính của ông: vừa chững chạc và sâu sắc nhưng đôi khi lại hời hợt và mất phương hướng. Tôi đưa trả chùm chìa khoá cho ba:

- Con đã dọn dẹp. Sao những lần đi công tác trước ba không bắt con dọn phòng giùm luôn? Bề bộn lắm!

- Đọc hết rồi chứ?

Tôi không biết ba muốn nói gì. Giọng ba trầm, mắt ba sâu, miệng ba mím lại. Dù đã già ba vẫn còn rất đẹp trai. Thì ra ba cố tình cho tôi phát hiện ra ngăn kéo bí mật. Đã tới lúc ba muốn chia sẻ với tôi? Ba nhìn tôi dịu dàng và rồi tôi cũng thú nhận: "Đọc hết!". Không cần rào trước đón sau, ba vô đề ngay như đã chờ đợi ngày được tâm sự với con gái lâu lắm rồi:

- Lan và ba học chung lớp ở ĐH và cùng tham gia vào ban nhạc của khoa. Đó là mối tình duy nhất của cuộc đời ba. Nhưng ba đã không đủ can đảm để dành lấy nó. Con đã yêu và thất bại nhiều lần, nhưng có thể con chưa hiểu tình yêu là gì. Con chưa từng biết đến một mối tình lớn làm người ta suốt đời khắc khoải. Hôm nay ba muốn nói hết cho con nghe, con sẽ hiểu chuyện ba mẹ hơn và biết đâu con sẽ thành công hơn trong tình yêu sau này. Đừng ngắt lời ba.

Ba mở ngăn tủ lấy xấp hình chụp với cô Lan ra xem qua một lần nữa, rồi ba giở lá thư úa vàng ra, tay run run xúc động.

- Lan đã yêu ba biết nhường nào, thậm chí Lan có thể bỏ tất cả để đến với ba. Nhưng ba không dám. Bao nhiêu năm qua ba tự hỏi vậy mình có yêu Lan nhiều như Lan đã yêu ba không? Nếu yêu sao ba còn để mặc cảm, sự xấu hổ và hèn nhát chi phối khiến ba đã chạy trốn Lan. Ba và Lan học chung lớp nhưng khi Lan có anh Minh rồi thì hai người mới có dịp hiểu nhau hơn lúc cùng tham gia vào ban nhạc "Sur le Mont".

Thật ra tình yêu không phân biệt kẻ đến trước người đến sau. Nhưng ba lúc đó là một thằng sinh viên nghèo học xa nhà, rồi ra trường cũng không có sự nghiệp cho ra hồn mà chỉ là một tên thư ký cho hãng bia của Pháp. Còn Lan vừa học giỏi vừa xinh đẹp lại tháo vát nên làm trong một lãnh sự quán. Anh Minh của Lan còn xuất sắc hơn, nhà lại có quyền thế, gìau lắm. Đặc biệt ba biết anh ta yêu Lan vô cùng và theo đuổi Lan hơn một năm trời mới được Lan chấp nhận. Con coi làm sao ba không có mặc cảm cho được.

Ba ngừng lại, mắt ba mở to thất thần như hối tiếc một điều tốt đẹp mình đã vô tình đánh mất.

- Khi Lan đưa cho ba lá thư này, Lan nói "Đọc đi!" - Ba lắc đầu cười - Lan lúc nào cũng nói những câu ra lệnh với ba, nhưng lần đó nói xong Lan vụt chạy vào nhà. Và ba đã không gặp lại Lan ròng rã 30 năm qua. Ba ngỡ ngàng cầm lá thư trong tay, không ngờ được. Chắc con có thể tưởng tượng ba xúc động thế nào khi đọc những dòng chữ bộc bạch lòng mình của Lan. Ba đã khóc nức nở như một đứa trẻ, vì hạnh phúc, vì tủi thân, vì bối rối. Ba đọc đến thuộc lòng, nhắm mắt cũng hình dung được nét chữ của Lan. Ba muốn gọi điện cho Lan gặp nhau nói hết mọi chuyện nhưng không đủ can đảm. Ba tự cấm mình không được nhớ đến Lan và ba đã tránh mặt Lan như Lan dự đoán,. Ba tự thuyết phục mình "Yêu là phải hy sinh", Lan không thể nào hạnh phúc được với một người như ba. Nói yêu Lan làm gì khi mà ba không đủ sức lo cho Lan một cuộc sống tương đối. Còn với anh Minh, Lan sẽ có tất cả. Anh ta vừa có tài lại vừa có đức. Rồi Lan sẽ quên ba và lại tìm được sự đồng điệu với anh Minh sau thời gian xa nhau. Sau đó một năm Lan lấy chồng, ba cũng không đến dự vì lúc đó thật ra ba đang làm việc trên một chiếc tàu du lịch đi vòng quanh thế giới. Ba đã đổi việc làm để được ra đi, để trốn chạy đất Sài Gòn nhiều kỷ niệm. Con biết Lan lấy ai không?

- Anh Minh chứ còn ai vô đây nữa! 

''Em đi rồi anh đừng phụ lòng chị ấy nữa nhé''1

- Không, anh ta cũng không có cái diễm phúc đó! - Ba cười, buồn đến mức tôi muốn bật khóc - Ba đã tự lừa dối mình. Trong thư Lan có nói là không nhớ gì đến anh Minh mà chỉ nghĩ đến ba. Vậy mà ba vẫn cố thuyết phục mình, Lan rồi sẽ hạnh phúc với anh ta. Sau khi anh Minh về ít lâu, chỉ chừng một tháng là Lan xin đi du lịch sang Pháp. Ba nghĩ Lan cũng muốn trốn chạy, trốn anh Minh và trốn tất cả những gì làm anh khổ sở. Rồi qua bạn bè chung của hai người, ba biết tin Lan làm đám cưới với một kiến trúc sư người Pháp và sang định cư luôn ở quê chồng. Lan vẫn liên lạc với bạn bè trong nhóm trừ ba Lan chắc là buồn và giận ba lắm. Khi nghe Lan lấy một người nước ngoài trong thời gian ngắn như vậy ba suy nghĩ rất nhiều. Ba chắc Lan khó có hạnh phúc với một cuộc hôn nhân như vậy. Ba muốn viết thư cho Lan nhưng tồi lại thấy mình không xứng đáng. Và ba đã cố gắng vươn lên như Lan hằng mong mỏi. Ngày xưa ba không bao giờ nghĩ mình có thể trở thành một thương nhân vì tánh ba dễ mủi lòng và sống thiên về tình cảm. Nhưng có lẽ vì không muốn cứ mãi là một người đàn ông yếu hèn mà ba đã cố gắng và thành công với việc kinh doanh.

Ba ngừng lại, nhìn căn phòng làm việc sang trọng của mình và mỉm cười chua chát:

- Ba đã từng xem trọng vật chất khi ba còn quá khó khăn, đến khi tiền bạc quá nhiều ba mới hiểu tình cảm mới là điều đáng quí và khó tìm. Lúc trước ba không dám lấy ai và nghĩ cũng không ai muốn lấy ba. Nhưng sau khi Lan lấy chồng được bốn năm, bà nội hối ba lập gia đình vì sự nghiệp của ba đã khá vững chắc rồi. Ba lấy mẹ con như một sự sắp đặt, ba biết trước mình sẽ không thể nào hạnh phúc, vậy mà ba vẫn chấp nhận cưới. Ba có tội với mẹ con. Sau khi con ra đời ba mới giật mình vì đã tạo ra một con người không bằng tình yêu. Ba có tội với con. Ba không muốn lặp lại lỗi lầm này với một đứa con nữa nên mẹ con căm ghét ba. Ba muốn trả lại tự do cho mẹ nhưng bà từ chối.

- Con hiểu mẹ - Tôi lên tiếng - và con cũng hiểu ba.

- Con chưa hiểu ba đâu, chính ba còn không hiểu nổi ba nữa là! - Ba lại cười buồn

- Câu chuyện chưa kết thúc. Ba tình cờ gặp lại anh Minh sau 23 năm Lan lấy chồng. Con không tin được đâu, anh ta không lấy vợ. Anh nói với ba "anh đã cho Lan hết tình yêu của mình nên anh không thể nào yêu ai khác". Ba thấy mình cũng có tội với anh.

- Cô Lan này có phước thiệt! - tôi buột miệng - ai cũng yêu cô ta đến trọn đời.

- Đã rất nhiều lần ba muốn gặp lại Lan khi đi công tác sang Pháp nhưng ba sợ. Hai lần rồi ba cầm địa chỉ Lan, đáp xe lửa rồi taxi đến trước căn nhà Lan ở nhưng ba không dám xuống xe. Ba lúc đó đã 46 và 50 tuổi mà vẫn còn nguyên sự rụt rè cả thẹn ngày nào. Nhưng lần đi công tác này ba quyết định phải gặp cho được Lan để về kể cho con nghe đoạn cuối của câu chuyện.

rasa kesepian

Tôi mở to mắt lắng nghe đoạn gay cấn nhất của một câu chuyện tình 30 năm sau

 - Cô Lan có đẹp không? Cô sống hạnh phúc không?

 - Ba không gặp được Lan

- Sao??

- Trước khi đến nhà ba quyết định gọi điện thoại. Ba nhận ra ngay giọng Lan, Lan cũng nhận ra ba "Duy hả? Có chuyện gì không? Sao lâu quá không gặp?" - Ba lắc đầu cười - Tánh tình không thay đổi!!" "Lan biết thế nào cũng có ngày Duy tìm Lan nhưng không ngờ lâu dữ vậy. Lan viết sẵn di chúc để lại một cái hộp cho Duy rồi". Ba đề nghị gặp mặt nhưng Lan từ chối. "Thôi! Bây giờ Duy già rồi, nhăn nheo , bệ vệ, xấu thấy mồ còn để Lan thấy làm chi. Duy đang ở đâu để Lan cho người đem quà đến. Bao nhiêu năm qua không liên lạc , nhưng giờ đã nói chuyện với nhau rồi thì sau này Lan sẽ viết thư". Ba nài nỉ bao nhiêu Lan cũng không chịu, cứ nói không muốn thấy ba đã già. Hai mươi phút sau cú điện thoạị đó, một chàng tây lai đẹp trai đem đến cho ba cái hộp, nói tiếng Việt rất giỏi.

"Con là Michel Minh Duy mẹ con gởi bác hộp này. Con đã qua Việt Nam nhiều lần. Con đã từng cho xe chạy đến trước nhà bác ở Việt Nam theo lời mẹ con biểu để "thám thính" - cậu ta cười lém lỉnh - con phải ngồi trong xe rình bác gái để về nói lại là mẹ con đẹp hơn vợ bác. Sau này về làm ăn con sẽ đến nhà bác chơi, mẹ con xúi phải "cưa" con gái bác!"

Ba tôi bật cười lớn, cười sặc sụa. Khi ba nguôi cơn cười, tôi thấy trong mắt ba có nước. Ba mở va li lấy ra một hộp giấy và cho tôi xem những tấm thiệp sinh nhật. Mỗi năm người đàn bà đó đã viết cho ba tôi một tấm thiệp nhưng bà đã không bao giờ gởi. Còn ba tôi, ba nói: "Cho đến giờ ba cũng không nhớ được ngày sinh nhật của Lan".

Trong cuộc đời những chuyện như thế không phải ít. Mấy ai trong cuộc đời chọn được một kết cuộc hợp lý cho mình? Mấy ai đủ dũng cảm để gạt đi những con mắt người đời để mà sống cho riêng mình? Thế nên đừng trách sao con người luôn nuối tiếc khi nhìn lại quá khứ.

 
BM

Em đi bỏ lại con đường !

 
Bỏ mặc căn nhà, bỏ mặc tôi
Bỏ mặc nơi đây, bỏ mặc người
Bỏ trăm năm sau, ngàn năm nữa
Bỏ mặc tôi là, tôi là ai ?

Em đi bỏ lại con đường
Bờ xa cỏ dại, Vô Thường nhớ em...
Ra đi, em đi bỏ lại dặm trường
Ngàn dâu cố quạnh, muôn trùng nhớ thêm !
 
 
Bỏ mặc đêm dài, bỏ mặc tôi
Bỏ mặc gian nan, bỏ mặc người
Bỏ xa xôi yêu và gần gũi
Bỏ mặc tôi buồn giữa cuộc vui !

Bỏ mặc mưa về, bỏ chiều phai
Bỏ mặc hư vô, bỏ ngậm ngùi
Bỏ đêm chưa qua, ngày chưa tới
Bỏ mặc tay buồn không bàn tay !
 
Bỏ mặc vui buồn, bỏ mặc ai
Bỏ mặc chân không, bỏ mặc người
Bỏ tôi hoang vu và nhỏ bé
Bỏ mặc tôi ngồi giữa đời tôi...
 

 Lương Phúc Thọ

Kim Phượng st

2013/August/229-em-di-bo-lai-con-duong-thumb1-1757-C_p.jpg

 

Xem thêm...

Chuyến Đi Về Phương Nam

Chuyến Đi Về Phương Nam

Truyện ngắn của Jennifer Bassett 

Lương Lê Giang dịch

Jennifer Bassett làm cho tờ Oxford Bookworms Library. Trước khi đến với nghiệp văn chương bà là giáo viên tiếng Anh. Bà đã viết "Hồn ma Opera" (The Phantom of the Opera), "Vụ mưu sát tổng thống", (The President's Murder), "Vé một chiều" (One - Way Ticket). Truyện ngắn "Chuyến đi về phương nam" dưới đây được in trong tập "Vé một chiều" được lấy cảm hứng từ những chuyến đi dọc ngang Châu Âu bằng tàu hoả của bà. Bà thích "thế giới khép kín" trên tàu hoả, những câu chuyện thú vị với những người bạn đồng hành: "Người ta kể cho bạn nghe về cuộc đời mình khi đi tàu bởi biết rằng sẽ chẳng khi nào gặp lại bạn nữa".

Tôi chẳng khi nào lưu lại vùng quê một thời gian dài. Ở đó thật buồn. Tôi muốn đi đây đi đó, muốn thấy những miền đất lạ, gặp gỡ mọi người. Nhìn chung, đó là một cuộc sống dễ chịu. Khi cần tiền thì tôi kiếm việc làm. Tôi có thể làm đủ thứ - từ việc nhà hàng, khách sạn, đến xây dựng và thu hoạch trái cây. Ở Châu Âu người ta có thể thu hoạch trái cây hầu như quanh năm. Tất nhiên, bạn cần có mặt đúng nơi, đúng lúc. Đấy không phải là công việc nhẹ nhàng, tuy nhiên cũng kiếm được kha khá. 

Mùa đông tôi thích đi về phương nam. Sinh hoạt dưới ánh mặt trời thật dễ chịu, còn Bắc Âu mùa đông vô cùng lạnh giá. Tháng 10 năm ngoái tôi ở Venice. Ba tuần liền tôi làm vài việc lặt vặt tại một khách sạn, sau đó tôi nhẩn nha dời xuống phương nam. Khi nào có thể tôi luôn luôn đi tàu. Tôi thích tàu hoả. Trên tàu người ta có thể đi lại, có thể gặp gỡ nhiều người. 

Tôi rời Venice và đi Trieste. Tôi mua vé loại thường đi tàu chậm tới Sofia. Chuyến tàu này qua Nam Tư và mất khá nhiều thời gian - một ngày rưỡi cả thảy. Nhưng với tôi việc đó chẳng thành vấn đề. 

Tàu rời Trieste lúc 9 giờ sáng thứ năm. Lúc đầu khách vắng hoe, nhưng tới Zagreb khách lên đông hơn. Hai cô gái đi dọc hành lang qua khoang của tôi. Họ dòm qua cửa nhưng lại bỏ đi. lát sau một phụ nữ đứng tuổi bước vào. Tìm được chỗ của mình bà liền lăn ra ngủ. Hai cô gái đi ngược dãy hành lang và lại nhìn vào khoang. Tàu dời Zagreb. Tôi nhìn qua cửa sổ chừng mươi phút rồi cũng chìm vào giấc ngủ. 

Khi tôi thức giấc, hai cô đã có mặt trong khoang. Trông họ có vẻ thân thiện vì thế tôi lên tiếng: 

- Chào các cô. 

- Chào anh! - họ đáp lại. 

- Các cô là người Mỹ - tôi nói - Hoặc người Canada, phải không? 

- Người Mỹ - cô cao hơn đáp và nở nụ cười - Còn anh 23 tuổi, tên anh là Tom Walsh, anh có cặp mắt xanh và mẹ anh sống ở Bumham bên Anh chứ gì? 

- Làm sao cô biết tất cả những thông tin đó? - tôi hỏi. Cô thứ hai phá lên cười: "Thì người ta xem hộ chiếu. Nó nằm trong túi áo khoác của anh đấy thôi". 
"Ồ, phải rồi". Chiếc áo khoác nằm trên ghế sát bên tôi. Tôi lấy cuốn hộ chiếu ra khỏi túi và nhét vào trong túi xách - Thế các cô là ai? - Tôi hỏi. 

Họ đáp lời tôi. Melanie và Carol quê Los Angeles. Họ nói thích Châu Âu. Họ nói đã đến nhiều xứ sở: Anh, Hà Lan, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Italia, Đan Mạch, Nam Tư, Bulgaria, Hy Lạp... 

- Tôi đang trên đường tới Bulgaria - tôi nói - Ở lại đó khoảng một tháng. Sau đó tôi sẽ rời xuống miền nam sống qua mùa đông. Tôi sẽ đến Síp, cũng có thể là Bắc Phi". 

- Ồ, vậy sao? Chúng tôi yêu đất nước Bulgaria. Sofia là một thành phố tuyệt vời". 

- Các cô làm gì để kiếm tiền nào? 

- À, anh biết không - Carol mỉm cười - Đôi khi chúng tôi kiếm một việc vặt vãnh nào đấy. Thôi thì đủ cả. Thế còn anh? 

- Phải đấy - Melanie xen vào - Kể cho chúng tôi nghe về anh đi - chàng Tom Walsh có cặp mắt xanh. Anh đang làm gì vậy hả? 

Thế là tôi kể cho họ nghe. Họ là những cô gái tốt. Họ lớn tuổi hơn tôi, có lẽ độ 27, 28 gì đó, nhưng tôi mến họ. Chúng tôi chuyện phiếm và cười đùa hàng tiếng đồng hồ. Tôi kể họ nghe nhiều chuyện về đời mình. Một số chuyện là có thật, một số thì không. Tuy nhiên cả hai đều cười và bảo rằng tôi là một gã cừ. Tôi hỏi họ về Bulgaria bởi tôi không biết gì về xứ ấy. Họ nói họ biết rõ Sofia. 

"Này Carol - Melanie cất lời - Chúng mình sẽ ở Bela Palanka một hai ngày rồi cuối tuần này qua Sofia gặp Tom. Chúng mình có thể gặp cậu ấy vào đêm thứ bảy tại khách sạn Marrmara". 

"Tuyệt! Đó là một khách sạn ngon lành - Carol bảo tôi - Rẻ nhưng tốt. Anh nghĩ sao hả Tom?". 

- Còn gì bằng! - Tôi đáp - Cứ thế nhé. 

Tàu đi rất chậm. Mãi sáu giờ tối chúng tôi mới đến Belgrade. Nhiều hành khách xuồng tàu. Lúc này trong khoang chỉ còn tôi và hai cô gái. Trưởng tàu đi tới kiểm tra vé của chúng tôi rồi lại bỏ đi. 

Carol đưa mắt nhìn Melanine: "Này Mel, sao cậu và Tom không xuống toa hàng ăn nhỉ? Mình không thấy đói và mình muốn chợp mắt khoảng một tiếng đồng hồ". 

- Ờ... đồ ăn trên tàu đắt lắm - tôi nói - Lúc này tôi lại chẳng dư dả gì cho lắm. tôi sẽ kiếm việc làm ở Sofia. 

- Ôi, Tom! - Melanie thốt lên - Sao anh không nói với chúng tôi? Xem này, anh là một chàng trai tử tế phải không nào? Chúng tôi còn đủ tiền cho tuần này. Chúng tôi có thể đãi anh mà. 

- Tất nhiên rồi - Carol tán thành - Mà này, đến Sofia, chúng tôi có thể đưa anh vào một nhà hàng sang trọng nhất thành phố. Đó là một nơi hết ý. Chúng tôi thích chỗ đó lắm. 

Tôi còn có thể nói gì chứ? Tôi đang đói. Họ lại có tiền còn tôi thì không. Thế là tôi và Melane xuống toa hàng ăn lót dạ. Khi chúng tôi quay lại, Carol vẫn ở một mình trong khoang. Melanie thả chân lên ghế và thiếp đi. 

Đến Nis thêm một số hành khách lên tàu. Có hai ông lão vào khoang chúng tôi. Họ vừa nhìn chân Melanie đặt trên ghế vừa nói chuyện ầm ĩ. Carol phì cười, còn Malanie mở mắt và ngồi bật dậy: 

- Chúng mình sắp đến chưa? - cô hỏi Carol và nhìn ra ngoài cửa sổ. 

- Sắp đến rồi. Khoảng nửa tiếng đồng hồ nữa, mình nghĩ gì vậy. 

- Tại sao các cô lại xuống Bela Palanka? - tôi hỏi - Các cô sẽ làm gì ở đó? 

Malanie mỉm cười: "Tìm một khách sạn rẻ tiền, gặp gỡ mọi người, thăm thú thành phố... anh biết đấy". 

- Chỉ một hai ngày thôi mà - Carol nói. 

- Nhưng có quái gì ở đấy đâu! 

- Ồ, anh chẳng biết được đâu - Malanie cười - Gặp anh ở Sofia, được chứ? Đêm thứ bảy đấy. 

- Khách sạn Marmara. Lúc 8 giờ", Carol bổ sung - Đừng quên nhé! 

- Nhất định rồi - tôi đáp - Hẹn gặp lại hai cô ở đó. 

Tàu vào ga Bela Palanka và dừng bánh. Hai cô gái xuống tàu và đứng lại trên sân ga. Qua cửa sổ họ mỉm cười với tôi. "Thứ bảy. Lúc 8 giờ", Malanie hét lên. "Nhớ rồi", tôi đáp. Họ không nghe được lời tôi bởi tiếng ồn ào trên sân ga. Họ mỉm cười, nhấc túi xách và bước đi. Quả là những cô gái tuyệt vời. Tôi nghĩ mình sẽ có những phút giây thú vị tại Sofia.

Tàu rời Nam Tư và vượt qua biên giới vào Bulgaria lúc 2 giờ sáng. Sau đó dừng lại tại một làng nào đó mà tôi không nhớ tên. Tôi ăn một quả táo và ngó qua cửa sổ. Bỗng nhiên có nhiều cảnh sát xuất hiện trên tàu. Hành khách trên khoang đứng cả dậy và bắt đầu xầm xì. 

- Chuyện gì đang xảy ra thế? - Tôi hỏi ông lão ngồi bên bằng tiếng Italia. 

- Tôi không biết - Ông trả lời bằng thứ tiếng Italia tệ hại - Có lẽ họ tìm một người nào đó. Xem kìa. Cảnh sát đang hỏi một số người vừa xuống tàu. 

Lát sau hai viên cảnh sát bước vào khoang của chúng tôi, một người cao gầy còn người kia thì thấp béo. Họ nhìn chăm chú vào từng người... và rồi lại hướng vào tôi. 

- Làm ơn đi theo chúng tôi - Gã mập nói bằng tiếng Anh. 

Tôi mở miệng nhưng cảnh sát có bao giờ thích những câu hỏi của đám thanh niên tóc dài. Vì thế tôi im lặng, xách túi và đi theo họ. Trong nhà ga có rất nhiều cảnh sát và một số người vừa xuống tàu. Tôi nhận thấy tất cả bọn họ đều còn trẻ. Một số tỏ ra sợ hãi, một số có vẻ rầu rĩ. Cảnh sát khám xét từng chiếc túi, và sau đó mọi người lại lên tàu. Hai viên cảnh sát dẫn tôi đến bên một chiếc bàn. "Làm ơn cho xem hộ chiếu của anh - gã mập nói. - Và làm ơn mở túi xách ra". Họ kiểm tra hộ chiếu của tôi và mở túi. Bàn bên có một nữ cảnh sát trẻ có mái tóc đỏ. Cô ta có khuôn mặt dễ thương, vì thế tôi mỉm cười với cô ta và cô ta cười đáp trả. 

- Aaah! - Gã cảnh sát cao kều bỗng reo lên. Tất cả mớ quần áo dơ của tôi đã được trút ra bàn. Gã nhấc chiếc túi của tôi lên và dốc xuống. Từng bó đôla Mỹ rơi khỏi túi xuống mặt bàn. Toàn những tờ đôla mới cứng. Những bó lớn toàn tờ 50 đô. Nhiều tiền quá. 

Tôi há hốc mồm không thể thốt lên lời. Bỗng chốc tôi trở thành một người được quan tâm. Rất nhiều cảnh sát chạy đến đứng sau tôi. 

- 50.000.... 100.000.... 150.000... Ở đây có đến 200.000 đôla - gã cao kều nói. - Chiếc túi mới tuyệt vời làm sao, thưa ngài Tom Walsh! 

Tôi nhanh chóng hoàn hồn. "Nhưng đây đâu phải là túi sách của tôi!" - tôi hét lên. 

Gã ngoác miệng cười đắc chí: "Lạ nhỉ. Có tên anh trên đó cơ mà. Nhìn xem!". 

Tôi đưa mắt nhìn, tất nhiên là có tên tôi, và đương nhiên đấy là túi của tôi. Làm thế nào mà 200.000đôla lại chui vào đó được? 

- Anh không được mang đôla Mỹ vào đất nước chúng tôi - gã mập nói. Gã có mái tóc xám cắt ngắn và đôi mắt đen ti hý. Gã ta không hề cười cợt. 

- Nhưng tôi không mang chúng - tôi nói nhanh. - Chúng không phải là tiền của tôi. Trước đây tôi chưa từng nhìn thấy chúng, và... 

Có nhiều tiếng ồn ào ngoài sân ga, tôi nhìn qua cửa sổ thấy con tàu. Nó bắt đầu từ từ lăn bánh. 

"Này! - Tôi la lên. - Đấy là chuyến tàu của tôi...". 

Gã cao kều phá lên cười. Đây là một ngày trọng đại của gã. "Ồ không - gã nói. - Anh sẽ không lên chuyến tàu đó nữa, sẽ phải ở lại đây với chúng tôi, tại đất nước xinh đẹp này". Gã cười đắc chí. 

Thế là tôi không đến được Sofia vào ngày thứ bảy. Tôi rất tiếc vì điều đó. Tôi muốn nói đôi điều với Melanie và Carol, hỏi họ một hai câu. Anh là một tràng trai tử tế, Tom ạ. Hẹn gặp anh ở Sofia, được chứ? Đưa anh đến khách sạn sang trọng nhất thành phố. Phải. Tuyệt lắm. 

Và tôi không đến được Síp cũng như Bắc Phi mùa đông năm ấy. Tôi phải đi cải tạo. Trong tù cuộc sống đâu có an nhàn. Tuy nhiên mùa đông ấy khá ấm áp và đồ ăn không đến nỗi tệ. Tôi gặp một số người thú vị. Có một người quê ở Georgia, một nơi bên bờ biển Đen, tên anh là Boris. Một gã rất cừ. Khi ra tù tôi và anh sẽ sang Australia... có lẽ đến Brisbane hoặc Sydney. Kiếm một việc làm trên tàu và bắt đầu một cuộc sống mới. Hy vọng mọi chuyện sẽ tốt đẹp.

 
 
Kim Kỳ st
Xem thêm...
Theo dõi RSS này