Truyện

Truyện (362)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Nhà có hoa Mimosa vàng

Nhà có hoa Mimosa vàng

Truyện Ngắn của Nguyễn An Bình

 Tôi đi qua khu chợ bán rau cải để đến nhà Kiệt như đã hẹn. Buổi sáng Đà Lạt se se lạnh sương vẫn chưa tan hết, những sọt rau xanh tươi được các nhà vườn chuyển tấp nập  ra vào khu chợ, xen lẫn tiếng ồn ào bán hàng, trả giá  tạo một khung cảnh mua bán náo nhiệt.

Quấn lại chiếc khăn len mỏng cho đở lạnh, Tôi bước lên mấy bậc thang ở cuối chợ rau len qua một ngách nhỏ là qua một con phố khác. Ở Đà Lạt phố xá thật lạ, khi lên cao khi xuống thấp, có chổ chỉ cần qua vài bậc thang ngắn là có thể ngoặt qua một khu phố khác, không khí mới ồn ào ở nơi nầy thì lại yên ắng, vắng vẻ ở nơi khác ngay.

  Nhà của Kiệt ở gần cuối con phố , cậu ta nói chỉ cần bước vào con phố nầy là nhận ra nhà cậu ta ngay bỏi vì duy nhất ở đây chỉ riêng nhà  Kiệt có trồng cây mimosa vàng.Tôi và Kiệt quen nhau từ khi hai chúng tôi nhận được học bống du học ở Singapore, quê Kiệt ở Đà Lạt, còn quê tôi ở miền Tây.

Chúng tôi học chung ngành công nghệ.Kiệt yêu thích âm nhạc, âm nhạc Ngô Thụy Miên và Trịnh Công Sơn như chảy trong máu của hắn,ca từ trong những bản nhạc của hai nhạc sĩ nầy không chê vao đâu được, đi chơi đâu nếu có dịp là Kiệt đem theo cây ghi-ta để nghêu ngao ca hát, còn tôi lại thích thiên văn, nhưng không vì thế mà hai chúng tôi lại không thân nhau.

Lần nầy về Đà Lạt chúng tôi đi theo chương trình giao lưu giữa sinh viên trường đại học chúng tôi đang học với một trường trung học phổ thông nơi đây, ba Kiệt là hiệu trưởng của trường THPT nầy nên giấy tờ, sinh hoạt, tham quan đều rất thuận lợi.

Hôm nay là ngày cuối của chương trình giao lưu chúng tôi được tự do trọn ngày, ba mẹ Kiệt muốn mời tôi đến nhà chơi. Cùng đến thăm nhà Kiệt hôm nay còn có Mai, bạn gái Kiệt cũng là sinh viên công nghệ Sing có mặt trong đoàn  chúng tôi từ đầu.      

 

Ngôi nhà có cây mimosa vàng nổi bật trên con phố,nó cao lớn nhưng thon thả tươi mát, mùa nầy mặc dù đã vào tháng năm nhưng cây vẫn trổ những chùm hoa vàng  hình cầu rực rỡ,tỏa hương thơm mát dịu.

Tôi nghe nói giống cây nầy có xuất xứ từ Úc được du nhập vào nước Pháp rất sớm và nó  đã theo chân bác sĩ Yersin  đến đây khi ông khám phá ra cao nguyên Lang Biang sau nầy trở thành thành phố hoa Đà Lạt xinh đẹp ngày nay.

Thật ra cây mimosa chẳng có giá trị kinh tế nào đáng kể nhưng vì sắc vàng rực rỡ của nó quyến rũ làm say đắm lòng người nên người ta đã trồng nó trên những con đường,quả đồi để tô điểm thêm cho vẻ đẹp của xứ sở ngàn hoa,cứ thế sắc hoa vàng thấp thoàng từ trong ngõ nhỏ đến một số con đường lớn.

Khác với hoa dã quỳ, cánh to rực rỡ nhưng lại mau tàn, còn hoa mimosa lại bền bỉ hơn, nó nở hết đợt hoa nầy đến đợt hoa khác nhất là vào mùa xuân là thời điểm mãn khai nhất của nó, hoa lại khoe sắc vàng, óng ánh mịn mượt như nhung, nở tung hết cánh li ti từng chùm, hình cầu trông thật thơ mộng,duyên dáng.

Cây có dáng đẹp,cành lá lấp lánh ánh bạc, đặc biệt có hương thơm ngai ngái. Đồng bào dân tộc quen gọi mimosa là cây lá bạc hoa vàng và mùa xuân là mùa của lá bạc hoa vàng trên cao nguyên.

Ngoài loại mimosa vàng nầy còn có loại mimosa khi nở màu hoa tím nhạt cũng rất dễ thương quyến rũ nhưng mấy hôm ở Đà Lạt tôi không thấy ai trồng, chẳng lẽ nó không phù hợp với sự thưởng thức của người dân phố hoa nầy hay sao nhỉ?

 Trồng nhiều là thế, nhưng suốt con phố nhỏ nầy chỉ có ngôi nhà của Kiệt là trồng mimosa nên người ta có thể thấy nó nổi bật và dễ nhận ra hơn những ngôi nhà khác, ngôi nhà có hàng rào bằng gỗ thông, những thanh đứng đóng cách khoảng thật đều đặn, đầu thanh chuốt nhọn hình mũi tên sơn trắng muốt sạch sẽ càng làm nổi bật lên ngôi nhà thấp thóang phía sau.

Tôi đứng tần ngần trước ngôi nhà có cây mimosa vàng đó một lúc thì trong nhà có người chạy ra. Một cô bé khoảng mười sáu, mười bảy tuổi gì đó nhưng lớn như một thiếu nữ, mái tóc dài mượt mà, óng ả  trong nắng sớm Đà Lạt, mặt xinh xắn nhanh nhẹn mở cổng reo lên:

-           A!  anh Tân đến rồi, vào đi anh. Sao anh không bấm chuông.

Tôi ngạc nhiên nhớ là mình chưa từng gặp cô bé nầy, hơn nữa đây là lần đầu tiên mình đến Đà Lạt, làm sao cô bé lại biết tên mình. Tôi hỏi:

 -  Sao bé lại biết anh ?

Cô bé nhìn tôi cười vẻ tinh nghịch:

-          Mình đã gặp nhau rồi mà anh.

Tôi ngớ người ra. Chịu. Không biết gặp cô bé nầy lúc nào, nếu mở miệng ra nói không nhớ sợ cô bé nầy giận mất. Như đọc được suy nghĩ của tôi, cô bé nói luôn:

-           Bốn năm trước em cùng ba mẹ đến sân bay tiễn anh Kiệt đi du học ở Sing, anh lúc đó cũng trong đoàn học sinh Việt Nam đi cùng anh Kiệt mà, đúng không?

        À!  Tôi nhớ ra rồi. Ở sân bay lúc ấy đoàn du học sinh chúng tôi và gia đình những người thân đi tiễn tập hợp lại chụp chung một tấm hình lưu niệm nhưng có một cô bé cứ  níu lấy tay anh khóc thúc thít như không muốn anh nó lên máy bay làm ba mẹ nó phải dỗ dành mãi mới thôi. Thì ra là cô bé đây mà. Tôi nheo nheo mắt cười :

-          Thế bây giờ cô bé có còn khóc nhè nữa không?

Cô bé nhìn tôi nguýt mắt rất hồn nhiên;

-          Lúc đó người ta còn nhỏ xíu chứ bộ.

-          Thế bây giờ bé thành người lớn rồi sao?

-          Thôi! Không giởn với anh nữa đâu. Mới gặp mà anh đã chọc phá Vân rồi.

    Tôi cười giả lả chưa biết nói gì, thì trong nhà có tiếng của Kiệt nói với ra và tiếng cười giòn tan,trong trẻo của Mai, tôi thầm nghĩ cô nầy đã đến trước mình một bước rồi. Vân khép cửa rào lại,giục tôi:

         - Anh vào nhà đi, ba mẹ, anh Kiệt chị Mai đang chờ anh trông nhà đó.

Tôi bước qua khu vườn nhỏ để vào nhà bụng thầm nghĩ: Kiệt có cô em gái dễ thương thiệt.


    Ăn sáng xong, chúng tôi  xin phép ba mẹ Kiệt đi tham quan đỉnh núi Lang Biang. Lang Biang là khu du lịch sinh thái cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 12 km về phía bắc thuộc địa phận thị trấn Lạc Dương, được đánh giá là khu du lịch sinh thái mang vẻ đẹp hoang sơ thuần khiết nhất vùng sơn cước hoang dã của tỉnh Lâm Đồng,nó được ví như nóc nhà của thành phố Đà Lạt.

Lang Biang gắn liền với truyền thuyết về một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết: chàng K’Lang-người dân tộc Cill và nàng H’Biang-người dân tộc Lạch. Do lời nguyền thù hằn giữa hai bộ tộc bắt họ phải chia lìa, họ nguyện bảo vệ tình yêu, bằng cách chết cùng nhau, cái chết của họ đã xóa bỏ hận thù guữa hai bộ tộc.

Ngưỡng mộ trước tình yêu chung thủy của đôi trai tài gái sắc nầy các loài chim muông,cây cỏ đã bảo vệ vun đắp hai nấm mồ của nàng Lang và chàng Biang lâu dần thành ngọn núi có hai đỉnh đứng vững chải giữa trời xanh gọi là Lang Biang, nơi mà bất cứ du khách nào lần đầu tiên đến thành phố hoa Đà Lạt đều mong muốn được chinh phục.

Theo cô hướng dẫn viên, để lên tới đỉnh núi Lang Biang có ba cách: đi xe uoát, đi bộ hoặc leo dây. Nhóm tôi có hai cô gái và thời gian cũng không có nhiều nên chúng tôi chọn cách thuê xe lên đỉnh Lang Biang cho thuận tiện.

Chiếc uoát chạy quanh co trên con đường nhựa dài khoảng 6km từ chân núi để lên tới đỉnh, băng qua những rừng thông bạt ngàn,trên đường chúng tôi bắt gặp những người dân tộc vai mang gùi đem những sản vật mà họ thu hái hay trồng trọt được xuống chân núi để bán hoặc trao đổi hàng hóa, vừa đi vừa nói chuyện líu ríu trông vui mắt.

Núi Rađa Đà Lạt

Cô bé Vân ngồi cạnh tôi lúc nào cũng tỏ vẻ thích thú, liến thoắng hồn nhiên làm tôi cũng cảm thấy dễ chịu,thân thiện. Người tài xế thả chúng tôi xuống đỉnh núi Rađa, đây là đỉnh núi cao khoảng 2000m so với mặt nước biển hầu như quanh năm mây phủ, ở đây du khách có thể thả hồn theo những đám mây đang bồng bềnh trôi.

Lúc còn nhỏ xem phim Tây du ký  tôi mê tít cảnh tiên nữ đang múa điệu nghê thường cho ngọc hoàng và quần tiên xem trong đám mây trôi bồng bềnh dưới chân, cảm giác ấy trở lại trong tôi khi đứng trên đỉnh núi Rađa nầy. Chúng tôi đi dọc theo đỉnh núi để ngắm cảnh.

Đứng trên đỉnh núi nầy chúng tôi có thể ngắm trọn thành phố Đà Lạt mộng mơ trong tầm mắt của mình, nó hiện ra như một bức tranh thủy mặc huyền ảo, nhìn về phía tây xa xa là hồ Dankia-Suối Vàng trông như một tấm lụa đào khổng lồ vắt ngang núi đồi xanh ngắt, bạt ngàn.

Ở lưng chừng núi là một thung lũng rộng, đó là “Thung lũng ngàn năm” nơi rất thích hợp cho du khách cắm trại qua đêm. Đâu đó nhiều nhóm du khách trải bạt ra nghỉ ngơi bày đồ ăn thức uống ra để thưởng thức, vừa ăn uống vừa trò chuyện vui vẻ.

Chúng tôi cũng chọn một khoảng đất rộng để cắm trại. Kiệt bắt đầu gẩy đàn hát, Mai nghe có vẻ chăm chú say đắm. Vân có lẽ nghe anh mình hát quen rồi nên có vẻ lơ đảng nhìn đám mây đang bồng bềnh trôi, đứng lên đi lên phía trước để ngắm cảnh.

Kiệt hất hàm về phía tôi như ngầm bảo đi theo Vân để bảo vệ cho em nó, có chuyện gì không yên với nó đâu.Tôi khẽ nhún vai thì đi vậy để cho ông bà còn tự do trò chuyện chứ. Tôi đi phía sau Vân nhưng không báo cho cô bé biết.

Đang đi Vân bỗng kêu á một tiếng, người chao đảo như muốn ngã, tôi hoảng hốt chạy nhanh tới tay nắm lấy tay Vân kéo mạnh về phía mình, bờ ngực như núm cau mới nhú của cô gái mới lớn vô tình chạm nhẹ vào cánh tay tôi làm tôi giật mình thảnh thốt.

Một cảm giác lâng lâng khó tả làm tôi muốn buông tay Vân nhưng sợ Vân té nên lại thôi.Tôi hỏi Vân để khỏa lấp vẻ bối rối của mình và làm cho cô bé đở ngượng vì tôi thấy gò má của Vân như ửng hồng lên:

-          Cô bé có sao không?

Vân cúi xuống xoa bóp cái chân bị sụp xuống cái lổ nhỏ mà cô không để ý tới,kêu suýt xoa.Tôi noi;

   -  Thôi! Ngồi xuống đây nghỉ một lát đi, xem lại cái chân đã xem có sao không,bé nhé.

  Vân ngoan ngoãn ngồi xuống cạnh đó tôi cũng ngồi xuống theo, bảo Vân đưa chân cho mình xem.Tôi xoa nhẹ bàn chân cho Vân đở đau nói:

  - Không sao đâu, một lát là hết đau thôi mà.

     Vân có vẻ như mắc cở khi tôi xoa lên bàn chân của cô,giọng có vẻ cảm động:

   - Bộ anh đi theo Vân hả? Sao ngay lúc em té mà anh đở Vân vậy?

  Tôi cười có vẻ bí mật:

    -  Bí mật quân sự,không nói được.

  Vân cười nhìn về phía trước.Như chợt nhớ ra điều gì tôi hỏi:

   -  Sao ở con phố của bé chỉ có nhà của bé trồng mimosa vàng vậy?

-      Vậy ngôi nhà mới nổi bật,dễ kiếm chứ anh. Nói vui với anh vậy thôi chứ Vân thích loài hoa mimosa ấy lắm.

-    Sao vậy?

-    Vì loài hoa ấy có một truyền thuyết rất cảm động.

-     Truyền thuyết gì thế bé?

    Giọng Vân có vẻ mơ màng:

-    Ngày xưa ở vùng đất Australia xa xôi tươi đẹp nằm giữa biển khơi đầy nắng ấm có đôi tình nhân yêu nhau say đắm.Chàng là một ngư dân thông minh, vạm vỡ.Nàng là con gái cưng của một gia đình quý tộc, đẹp rực rỡ yêu màu vàng và có tấm lòng nhân hậu,thương người.

Nhưng gia đình nàng lại ép gả cho một gia đình quyền quý.Chàng buồn phiền từ bỏ biển khơi, lên vùng rừng núi xa xôi làm nghề giữ rừng để quên đi mối tình tuyệt vọng, thì thình lình nơi ấy xảy ra một trận cháy rừng dữ dội, chàng đã bất chấp nguy hiểm lăn xả vào để cứu những cánh rừng xanh và các con thú tội nghiệp,rồi ngọn lửa quái ác ấy đã thiêu chết chàng.

Khi hay tin chàng trai bỏ biển lên ngàn để quên đi mối tình dang dở,nàng đã bỏ trốn trong đêm vu quy để đi tìm chàng. Nhưng đến nơi thì chỉ thấy xác chàng bên đống tro than của cánh rừng bị cháy.

Đau đớn tột cùng và nàng đã gục chết bên xác người yêu.Từ đó trên vùng núi cao của đất nước Australia thơ mộng, nơi đôi tình nhân chết cho mối tình bất tử xuất hiện một loài cây thân mộc,lá màu xanh biếc, lấp lánh từng chùm hoa vàng thơm mát. Đó chính là loài hoa mimosa vàng tràn ngập trên thành phố Đà Lạt nầy đó.

-          Vì vậy mà cô bé thích mimosa à?

Vân không trả lời mà lại hỏi tôi:

-           Chuyện tình của họ cảm động quá phải không anh?

-          Bé lãng mạn quá đấy.

Vân cười hỏi qua chuyện khác:

-          Mai anh về miền tây hở?

-          Ừ! Mai anh về.

-           Anh có nhớ Đà Lạt không?

-          Nhớ chứ.

-          Nhớ ngôi nhà có hoa mimosa vàng chứ?

  Tôi nhìn Vân ngập ngừng:

-          Nhớ.

  Rồi tôi nói khỏa lấp:

-          Thôi! Mình đến chổ Kiệt và Mai đi kẻo hai người đó trông.

     Chúng tôi xuống núi thì đã quá trưa.Từ chối khéo buổi cơm trưa nhà Kiệt để về.Trưa nay tôi muốn xuống phố ăn cơm bụi một bửa rồi lang thang một chút,mua vài món quà lưu niệm về cho gia đình. Vân giành ra mở cổng rào cho tôi, trước khi tôi đi Vân đưa cho tôi một tấm thiệp,nhìn tôi nói:

-          Anh Tân nhớ đọc nhé.

   Tôi khẽ gật đầu quay đi. Đi một đoạn xa quay đầu nhìn lại vẫn thấy Vân còn đứng đó,nhìn theo.Thấy tôi quay lại Vân vẫy tay, tôi cũng vẫy tay chào lại rồi tiếp tục bước đi về phía chợ.


    Ngồi trên máy bay nhìn qua cửa sổ,thành phố Đà Lạt đã bỏ lại sau lưng tôi thấy lòng nao nao.Thành phố nầy có gì để nhớ nhỉ? Chợt nghĩ đến tấm thiệp của Vân đưa cho tôi, tôi định về nhà mới mở ra xem nhưng rồi tò mò không biết cô bé viết gì,tôi lấy mở ra xem.

Một chùm hoa mimosa vàng nhỏ ép khô bên cạnh góc thiệp và ở giữa có ghi dòng chữ: “Chờ Vân qua Sing anh nhé.Nhớ dẫn Vân đến China town,anh Kiệt nói nơi đó bán đồ ăn ngon lắm. Đừng quên ngôi nhà có hoa mimosa vàng, được không anh?”.

   Tôi ngẩn ngơ giây lát, rồi tự mỉm cười một mình,thầm nghĩ:

-          Nếu có duyên chúng ta sẽ gặp lại nhau cô bé ạ.

 

 

 

 

= Ngọc Lan sưu tầm =

-Hình Internet-

Xem thêm...

Tình Cảm Thiêng Liêng

Tình Cảm Thiêng Liêng

~~~~<❤️>~~~~

 

Năm cô 6 tuổi, cô mất cả bố lẫn mẹ, họ bị tai nạn ô tô trong lần về quê thắp hương cho ông bà nội, 6 tuổi, cô chưa thể hiểu hết mọi chuyện đang xảy ra trong gia đình, cô chỉ biết khóc suốt ngày vì bố mẹ không quay về.

Cô còn một người anh trai tên là Nam, cậu bé 14 tuổi, dáng người to cao giống bố. Lúc bố mẹ mất, cậu không khóc, không gào thét mà chỉ ôm chặt cô em gái vào lòng cho đến khi ngủ thiếp đi.

Suốt ngày cô đều theo sau anh trai đòi bố, đòi mẹ; cô không thích ăn cơm nửa sống nửa chín của anh trai nấu, không thích mặc bộ đồ nhăn rúm anh trai giặt…

Kể từ ngày hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không về, cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai vì sợ anh lại bỏ cô mà đi.

Đêm hôm đó, trời đã rất muộn, rất muộn nhưng cô không chịu ngủ mà ngồi dậy kéo anh trai và hét to: “Em muốn gặp mẹ!”.

Bỗng nhiên, Nam kéo cô từ trong chăn ra, hai tay nắm lấy đôi vai bé nhỏ của cô và nói:

“Mẹ mất rồi, đừng có tìm mẹ nữa, bố mẹ đều không còn nữa, họ sẽ không quay về nữa đâu!”.

Giọng nói của Nam vang lên rất to khiến cô phải im lặng vì sợ hãi. Sau đó, cô dần dần hiểu được bố mẹ cô mãi mãi không quay về, cô hiểu được trên thế giới này chỉ còn anh trai là người thân duy nhất của mình.

Nam úp mặt xuống giường và khóc thật to, đó là lần đầu tiên cô nhìn thấy anh trai khóc kể từ ngày bố mẹ mất..

Cô nhẹ nhàng cúi xuống rồi nằm trên lưng anh trai, cô dùng đôi tay bé nhỏ của mình ôm lấy anh, cảm giác ấm áp như ôm bố mẹ vậy.

Cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai giống như trước kia từng dựa vào bố mẹ: đi học, cô đòi anh chở đi; tan học, anh trai phải đến đón cô.



Trường của cô cách nhà khá xa, mỗi buổi sáng Nam đều chở cô đến trường, đến nơi người Nam ướt đẫm mồ hôi. Ngồi trên xe, cô nắm chặt lấy vạt áo của anh không rời, cô không khóc đòi bố mẹ như trước nữa. Trước giờ cô chưa từng nói với anh, kể từ khi hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không quay về nữa, trong lòng cô luôn bao trùm một nỗi sợ hãi, cô sợ rằng một ngày nào đó, anh trai cũng sẽ rời xa cô.

Cảm giác sợ hãi đó khiến một đứa bé 6 tuổi trở nên ngoan ngoãn, nghe lời đến lạ. Thế rồi, có mơ cô cũng không tưởng tượng được rằng cuối cùng anh trai vẫn bỏ rơi cô.

Hôm đó là ngày cuối tuần, mới sáng sớm, Nam đã phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ chăm chút buộc cho cô hai bím tóc, mặc cho cô bộ váy màu trắng mà cô không biết anh mua cho cô từ khi nào, sau đó cô được anh trai dẫn đi công viên chơi rất nhiều trò, ăn rất nhiều món, cho đến khi mệt, cô ngủ say trên lưng anh.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, cô thấy mình nằm trên giường của nhà khác còn anh trai thì không thấy đâu nữa.

Cô hốt hoảng chạy đi tìm anh, sau đó một người hàng xóm mà cô gọi là “thím” nói với cô rằng anh trai cô đi làm thuê rồi, từ nay về sau, cô sẽ sống cùng với gia đình họ. Mặc dù cô biết, chú thím là bạn thân thiết của bố mẹ mình nhưng cảm giác bị anh trai bỏ rơi lúc này còn tuyệt vọng, đau đớn hơn khi bố mẹ rời đi. Là anh trai đã bỏ rơi cô, cô đã bị anh trai bán lấy tiền, anh trai không cần cô nữa.

Sau khi biết anh trai cũng bỏ đi không về như bố mẹ, cô nhanh chóng thích nghi với cuộc sống mới, có nhiều sự thay đổi. Sự thích nghi nhanh chóng đó mãi đến khi lớn lên, cô nhận ra rằng đó chính là một kiểu để quên đi đau thương.

Cô chủ động học làm việc nhà, tự giặt quần áo, cô biết đây không phải là nhà của mình, họ không phải người thân của mình nên cô không dần dần không còn dựa dẫm vào ai nữa. Kể từ khi anh trai bỏ đi, cô hòa toàn mất đi quyền được nũng nịu, đòi được yêu chiều. Cô cũng có một người anh trai nữa, người đó hơn cô một tuổi, rất nghịch ngợm và đôi lúc còn bắt nạt cô.

Cũng may là bố mẹ nuôi rất thương cô, mỗi năm họ đều mua quần áo mới cho cô, có đồ ăn ngon cũng luôn để phần. Tình cảm cô đối với bố mẹ nuôi, có yêu thương, nhưng sự cảm kích, ơn huệ lại là phần nhiều.



Năm cô 11 tuổi, lúc đó cô đang học lớp 4, một buổi tối nọ, cô đang giúp mẹ vá lại chiếc áo, bỗng mẹ nuôi nói:

“Mấy năm nay, con không nhớ Nam sao? Lúc đó, nó còn bé, sao có thể chăm lo cho con được?”

Cô im lặng không nói, đúng vậy, cô không nhớ anh trai, mới nghĩ đến cô đã thấy hận, vì thế cô không muốn nghĩ. Cô nói với mẹ: “Mẹ à, đừng nhắc đến anh con nữa”.

Mẹ nuôi thở dài, hình như trong lòng vẫn còn điều gì đó muốn nói nhưng cô đã đi về phòng mất.

Chính xác, cô hận anh, cô không sợ khổ khi đi theo anh, không được đi học thì có gì đáng sợ đâu, cô sẽ theo anh đi kiếm cơm vậy. Nhưng anh đã đập tan mộng tưởng của cô, đã làm mất đi chỗ dựa của người thân duy nhất, đó chính là sự hủy diệt triệt để, không để lại điều gì cả. Vì thế, cô không thể tha thứ cho anh trai mình.

Năm 16 tuổi, thành tích học tập đứng đầu toàn trường giúp cô thi đỗ vào trường cấp ba, người anh lớn hơn cô một tuổi đang học lớp 11.

Một năm sau, khi người anh đó đang chuẩn bị tốt nghiệp cấp ba, bố nuôi nghỉ việc, ông thuê một cửa hàng nhỏ ở chợ để bán rau. Tối hôm đó, đang ngồi học cô khát nước nên đi ra phòng khách uống thì tình cờ nghe được cuộc trò chuyện bên phòng của bố mẹ. Anh trai nuôi nói với mẹ rằng: “Mẹ, con không biết, dù thế nào đi nữa con cũng phải học Đại Học”.

“Không được, cái Mai học tốt hơn con, nó có khả năng thi đỗ Đại Học”. Tiếng nói của bố nuôi nhỏ nhẹ nhưng rất quyết đoán.

“Lấy đâu ra tiền mà nuôi hai đưa ăn học cùng một lúc chứ?” Mẹ nuôi nói.

Nghe đến đó, cô vội quay về phòng, cô không muốn nghe gì nữa. Lúc đó, cô quyết định để cho anh trai học Đại Học, còn cô, học xong cấp ba, cô sẽ đi tìm việc. Bởi từ khi anh trai bỏ cô mà đi, bố mẹ nuôi đã cho cô quá nhiều, cô không muốn thêm gánh nặng cho họ nữa.

Đáng tiếc là anh trai nuôi của cô thi không đỗ và bố nuôi cô vẫn kiên quyết rằng cô phải vào Đại Học.

Cô vẫn kiên quyết: “Con không thi đâu, con quyết định rồi!”.

Tranh luận hồi lâu không được, mẹ nuôi cô từ trong bếp nói vọng ra: “Mai à, con bắt buộc phải thi vào Đại Học. Con có biết không, anh trai con đã gửi đủ số tiền học phí cho con rồi nên con nhất định phải học Đại Học, đừng phụ lòng nó, nó không dễ dàng gì…”. Cô ngẩn người.



11 năm sau, lần đầu tiên cô lại tìm về hồi ức của anh trai mình.

Bố mẹ nuôi nói với cô: “Năm đó, anh trai con biết một đứa trẻ 14 tuổi như nó không có khả năng để nuôi em gái nên nó mới quyết định ra ngoài đi làm kiếm cơm, còn gửi con lại cho bố mẹ. Nó bán nhà và đưa hết số tiền đó cho bố mẹ bởi nó tin rằng bố mẹ sẽ chăm sóc tốt cho con. Buổi sáng sớm hôm đó, trước khi rời đi, anh con ôm con đang ngủ say trong lòng đưa cho mẹ bế, sau đó nhìn con và hứa rằng: “Thím à, con nhất định sẽ về đón em con, mong thím chăm sóc tốt cho nó…”.

“Từ khi con bắt đầu lên lớp 4, mỗi tháng nó đều gửi tiền về cho mẹ, bố mẹ cũng tích góp lại cho nó. Là bố mẹ vô dụng, nhiều năm qua luôn để con phải chịu ấm ức…” Bố mẹ nuôi nghẹn lòng không nói nên lời, họ cầm lấy tay cô và khóc.

Vậy những năm qua anh ấy đi đâu, sống như thế nào?… Hàng loạt câu hỏi hiện lên trong đầu, thì ra anh trai chưa từng bỏ rơi cô, anh trai vẫn luôn yêu cô nhưng bằng cách mà mấy năm qua cô không thể lý giải được.

“Thế tại sao anh lại không về thăm mình chứ, không phải anh đã hứa sẽ về thăm mình rồi ư?…”.

Số tiền gửi từ Sài Gòn về, bên ngoài phong bì không ghi địa chỉ cụ thể, cô hạ quyết tâm nhất định phải vào Sài Gòn tìm anh.

Một năm sau, cô thi đỗ và vào Sài Gòn học tập, cô vẫn không thôi nghĩ đến việc tìm anh trai, thế nhưng giữa đất Sài Gòn rộng lớn như thế, đi tìm một người quả như là mò kim đáy bể.

Tốt nghiệp xong, cô ở lại Sài Gòn và làm việc ở đó, cũng là để tìm anh trai luôn. Vào lúc cô gần như tuyệt vọng, bỗng nhiên cô nhìn thấy một bức ảnh trên mạng: “Trước một quầy báo nhỏ, có một chàng trai người gầy gò ốm yếu miệng, bị mất một tay đang sửa xe đạp…” Khi nhìn thấy dòng chữ ghi tên Nam, cô hoa mắt, người đó chẳng phải là anh trai mình sao? Đúng rồi, là anh ấy.

Cô xem tiếp: “Năm 19 tuổi, người thanh niên làm việc ở một công trường xây dựng, trong lúc đang làm việc thì do gặp sự cố về máy móc nên anh ta đã bị mất đi một cánh tay, từ đó anh lang thang phiêu bạt khắp nơi, làm đủ nghề để mưu sinh: nhặt phế thải, đi bán báo, phát tờ rơi,…Và 3 năm trước, anh ta mở một quầy báo nhỏ vừa bán báo vừa sửa xe đạp. Động lực duy nhất để anh sống lạc quan như thế chính là cô em gái…”.

Khi cô xuất hiện trước quầy báo, anh trai cô đang bận rộn với công việc sửa xe đạp, mặc dù mất một tay nhưng động tác của anh vô cùng nhanh nhẹn và điêu luyện. Cô nhẹ nhàng bước lại gần, nước mắt cô rơi xuống lã chã, trước mắt cô chính là người anh mà cô từng hận vì đã bỏ rơi cô, chính là người yêu thương cô nhất, bất chấp tất cả để lo cho cô một cuộc sống đầy đủ.

“Cô gái, cô…” Anh ngạc nhiên khi nhìn thấy cô, cô khóc nức nở và ngồi xuống nhẹ nhàng lấy khăn lau mồ hôi cho anh.

“Anh à, em là Mai đây!…”

Cô vội vàng ôm lấy anh, đã lâu lắm rồi cô không được ôm anh như vậy, cảm giác đó vẫn ấm áp như hồi bé, cảm giác được an toàn, được yêu chiều…

Tình cảm gia đình luôn thiêng liêng như vậy, nó luôn là chỗ dựa để ta lớn lên, luôn là động lực để ta bước tiếp, dù người thân có làm gì thì hãy luôn nhớ rằng, tất cả đều vì những người mà họ thương yêu mà thôi…!.

 


FB Vương Điền

Hình Internet

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...

NỖI BUỒN MÙA THU

NỖI BUỒN MÙA THU

 Phạm Tín An Ninh 

 

 

 Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân lọai. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng "Buồn Tàn Thu" để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm).

Ông mất đi trong cảnh khôn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá, cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. "Cây đại thụ" Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản "Mùa Thu Chết". Ở Việt nam ta, nếu "con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô" đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây "Les Feuilles Mortes" đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.

Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nổi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc - đặc biệt có Mùa Thu trong đó.

Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của ta hay tây, mà lại là một bài văn xuôi rất... học trò của ông Thanh Tịnh.

"Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được..

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp..."

Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có (một chút) sương thu và gió lạnh.

Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu Năm làm "công tác xóa nạn mù chữ". Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi.

Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm... kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ; nhiều đứa làm quan làm lính cộng hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành giáo sư, bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, chỉ lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.

Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở; đau bệnh thì có mấy thằng bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thuơng miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời. Quân với dân còn hơn cả cá với nước.

Rồi đùng một cái, tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời bi thảm: Mấy ông bạn trên núi nghênh ngang về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với đồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái lấy hết ruộng đất đưa vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau "tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc" lên thế giới đại đồng (!).

Mấy ông lính, ông thầy, ông bác sĩ tự dưng trở thành "những con nai vàng ngơ ngác", cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào "trường cải tạo". Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.

Sau sáu, tám, rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi:

Qua cơn mờ mịt binh đao

đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng

Lạc loài trên chính quê hương

thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành

 Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân, bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ bây giờ phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái "bằng khen", mấy cái huy chương "dũng sĩ" treo tòn ten trên vách mà ngẫm nghĩ con đường cách mệnh đã bỏ gần cả một đời theo đuổi mà sao cái làng quê của mình vẫn cứ xác xơ và những bạn bè ấu thơ giờ thì đã chết hoặc điêu linh tan tác.

Rồi cũng vào một mùa thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. "Mùa thu năm ấy tôi ra đi, mùa thu này nữa tôi... trở về". Khoảng cách giữa hai mùa thu... vậy mà cũng đã hai mươi năm.

Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hơn một năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong nghĩa trang gia tộc.

Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Cái làng Phú Hội của tôi một thời đông vui giàu có như cái tên gọi, bây giờ sao trở nên vắng vẻ điêu tàn. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời.

Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày xưa rì rào trong gió. Tôi chợt nhớ tới bài thơ của một ông bạn già thân thiết:

Tôi về đứng trước ngôi trường cũ

nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm

nhấp nhô những mái nhà rêu phủ

thương hải tang điền mấy biến thiên

Tôi về xuôi một dòng sông chảy

con nước vô tình lặng lẽ trôi

hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể

hai lần tắm ở một dòng thôi

- Tôi về - có phải sông về biển

sao nghe từng con sóng não nề

như thể bây giờ là cổ tích

tôi về - chỉ gặp lại mình... tôi


Bây giờ nhờ tiền tài trợ của mấy ông tư bản, nên ngôi trường vừa được xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành "Trường PTCS Lê văn Tám".

Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò. Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài "thơ trong tù"của bác, thơ "Khóc ông Lê Nin" của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã "từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim" (thơ T.H), và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi "hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc..." hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng?

Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên "anh hùng Lê văn Tám" mà các em được dạy như là một tấm gương, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ (xem Báo Thế Giới - Hà Nội số 39 (154) ngày 27.09.04 trang 22-23, website Talawas ngày 11.10.04 / Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)

Rồi mới đây bà hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy (dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở "thành phố mang tên bác" thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (trong đó có con trai của đồng chí chánh thanh tra sở giáo dục thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng.

Tội nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa "phong bì"?

Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà "mô phạm", những "nhất tự vi sư bán tự vi sư" một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng.

Ngoài Hà Nội, có lẽ vì thành phố thủ đô trữ tình với mùa thu và hương hoa sữa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông "khả kính" ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước "lấy điểm gạ tình" một số nữ sinh viên. Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ "trả bài" cho thầy trong khách sạn!

Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám!) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến: bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ gọi các quan già bằng "chú" mà không phải bằng "anh" thì bị thầy hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.

Mới đây trên đài BBC, ông Tạ Phong Tần, cán bộ sở thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố: "Không ít tiến sĩ, thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nổi." (nguyên văn)

Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin "vui" này đăng đầy trên báo mỗi ngày, để còn thấy mùa thu trên quê nghèo vần còn một chút thơ mộng dễ thương.

Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước tháng 4/75 là một giáo sư toán-lý-hóa nổi tiếng của một trường trung học lớn. Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè.

Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng cử nhân toán từ cái thời 63-64 chỉ còn cùng để... gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào đó trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi.

 

"Thầy có nhớ con không...?"

Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác

người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.

"Thầy còn nhớ con không...?"

Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng

hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè

rụng xuống trên vai người thầy học cũ

"không... xin lỗi.. ông lầm...

Tôi chưa từng dạy học

Xin thối lại ông tiền thuốc... cám ơn!"

Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn

Thầy học cũ mười năm không lầm được

Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc

giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.

Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư

người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,

chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,

biết yêu anh em - đất nước - xóm giềng.

Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,

Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.

Bên hè phố im lìm,

vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.

Câu phủ nhận phải vì câu áo rách

trước đứa học trò quần áo bảnh bao?

Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,

những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.

Mười năm nữa đứa nào trong số đó,

sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?

 Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian, ảm đạm cả đất trời.

Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh: Đâu phải chỉ có mấy ông nhà thơ, mấy ông nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà có những "đỉnh cao" đang ngự trị trên quê hương tôi, dù chẳng có một chút xíu tâm hồn nào, có khi không có cả quả tim, cũng có thể làm cho mùa thu quê tôi... buồn chết được.

 

phạmtínanninh

Xem thêm...

Tình yêu đẹp như vần thơ

Tình yêu đẹp như vần thơ

 ❤️  ԼO Ɣ Є  ❤️ 

Lòng ta chôn một khối tình  

Tình trong giây phút mà thành thiên thu 

Sonnet d’Arvers

 

 

Một chiều xuân khoảng năm 1830, một chàng thanh niên đẹp trai, trạc tuổi hai trên hai mươi, dáng dấp hào hoa phong nhã theo chân Victor Hugo  đến khách thinh của Charles Nodier. Thuở ấy, ở Pháp, phong trào khách thinh (salon littéraire) – một hình thức câu lạc bộ văn nghệ đang thịnh hành.

Victor Hugo bảo gã thanh niên: “Nầy Félix, chuẩn bị tinh thần nhé, cái tao đàn mà tôi đưa cậu đến đây, chẳng những nổi tiếng vì… văn nghệ, mà còn nức danh vì… Mà thôi, chẳng nói trước mất hứng thú. Để cậu vào đấy rồi sẽ biết”.

Dù nhà văn Victor Hugo không có lời giới thiệu nồng nhiệt và ưu ái, nhà thơ Félix Arvers(1) cũng đã biết tiếng tao đàn của ông Charles Nodier, qua những khuôn mặt văn học tài danh thường lui tới như Victor Hugo(2), Lamartine (3), Alfred de Musset (4)… Có điều chàng chưa hân hạnh đặt gót đến nơi đó lần nào, nên còn chưa rõ bên trong có điều gì gọi là nức tiếng, như lời úp mở của Victor Hugo vừa bảo. Chàng bồn chồn, háo hức.

Charles Nodier (5), chủ nhân tao đàn vốn là nhân vật tiếng tăm trong Hàn lâm viện Pháp. Hôm ấy, ông đi vắng. Con gái ông là Marie Nodier ở độ rực rỡ của tuổi trăng tròn, hân hoan chào đón Victor và người bạn mới.

Sau lời giới thiệu của Victor Hugo cho đôi bên hiểu biết nhau, Félix đã sớm trải qua những giờ phút bàng hoàng, vì lắng nghe giọng oanh tao nhã bàn luận văn chương của Marie Nodier. Nhất là được nghe nàng ngồi đánh dương cầm, nhìn dáng người mảnh mai thanh tú và những ngón tay tiên thoan thoắt trên phím ngà, chàng thi sĩ bị ngay tiếng sét ái tình làm ngây ngất như kẻ mất hồn.

Cuối buổi hôm ấy, Félix ra về miên man tư lự, trong lòng tràn ngập nỗi trầm tư. Chàng hiểu tại sao Victor Hugo đã úp mở bảo khéo mình hãy chuẩn bị tinh thần trước khi bước chân vào tao đàn… Félix đã yêu nàng ngay từ phút đầu tiên gặp gỡ. Sau đó, chàng còn lân la đến nơi ấy đôi ba bận nữa nhưng vẫn câm lặng với mối tình chôn chặt trong lòng.

Kể về gia thế, Félix mặc cảm chàng thuộc gia đình người hàng rượu, há dám táo bạo tỏ tình với trang lá ngọc cành vàng? Bởi lẽ về sự nghiệp, chàng chỉ mới xuất thân tập sự với luật sư Guyet Desfontaines với vai trò quản lý văn khế. Bấy nhiêu đó có đủ cho giai nhân để mắt xanh đến chàng chăng? Biết người biết mình, Félix đành ôm mối tình đơn phương câm lặng, tự hứa với lòng sẽ cố tạo cho mình một thanh danh đã. Và lòng tự nhủ hãy tạm dừng chân, không lui tới nhà Marie nữa.

Chàng để cho lòng thanh thản nuôi thêm ý chí phấn đấu trên đường lập thân. Félix miệt mài làm thơ, viết kịch, vừa để kiếm tiền vừa gây tiếng thơm trên văn đàn. Cho đến một ngày kia, nhìn lại sự nghiệp vun bồi, chàng cảm thấy đã có thể ngỏ lời với nàng, với thân sinh nàng. Chàng trở lại chốn xưa với tấc lòng bồi hồi.

Nhưng chàng phải thảng thốt, tê mê nhận lấy một tiếng sét nữa trong cuộc tình đầu đời: Marie Nodier vừa kết hôn với Mennessier! Viên ngọc báu đã về tay người khác. Nghẹn ngào, tuyệt vọng! Tâm hồn chàng vừa lắng dịu sau cơn địa chấn thì một bài thơ tình được hình thành trong óc tim rỉ máu…!

Một buổi chiều, buồn da diết, không nén được lòng sầu khổ, Félix Arvers lại lững thững đến khách thinh. Đến không mục đích! Chàng biết dù có đến nữa cũng chỉ để lịm hồn mình trong thất vọng đau thương. Nhưng đã bao lần không muốn trở lại mà tâm tưởng, gót chân chàng vẫn cứ như có một sức mạnh vô hình dìu chàng về nơi ấy…

Marie Nodier nay đã là bà Mennessier nhưng vẫn tỏ ra thiện cảm với chàng. Một bữa, nàng niềm nở trao Félix một tập lưu bút xinh xắn và trang trọng:

- Xin ông ghi cho đôi dòng kỷ niệm. Các bạn văn thơ của chúng ta đều đã góp mặt trong tập nầy. Chỉ còn mình ông thôi.

Khổ đau mà không thể chối từ, chàng khẽ run tay cầm bút, suy tư. Viết gì đây, Félix cảm thấy khơi động ở lòng mình một tình cảm mông lung vô vọng, bất giác chàng hạ bút ghi lại bài thơ đã thai nghén từ dạo hay tin nàng có chồng. Chàng viết một mạch như để trấn áp những xúc động bùng vỡ thêm ở lòng mình:

 

Tình tuyệt vọng

 

Lòng ta chôn một khối tình,

Tình trong giây phút mà thành thiên thâu.

Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu,

Mà người gieo thảm như hầu không hay.

Hỡi ôi ! người đó ta đây

Để ta thui thủi đêm ngày chiếc thân.

Sao ta đi trọn đường trần

Chuyện riêng chẳng dễ một lần hé môi,

Người dù ngọc nói hoa cười,

Nhìn ta như thể nhìn người chưa quen.

Đường đời ta trót giẫm lên

Ngờ đâu chân đạp lên trên mối tình.

Một niềm tiết liệt đoan trinh,

Xem thơ nào biết có mình ở trong.

Lạnh lùng lòng sẻ hỏi lòng,

Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây.

 

                 Khái Hưng dịch

 Viết xong, chàng đăm chiêu suy nghĩ: nàng đã có chồng, dù thế nào ta cũng không có quyền làm vẩn đục hạnh phúc của gia đình nàng. Yêu nàng, nay dù mộng đẹp vỡ tan, ta càng phải giữ cho tình cảm tốt đẹp. Rồi ý nhị, chàng tinh tế ghi thêm mấy lời dưới chữ ký tên: Bắt chước một bài thơ Ý  (“Imité de l’ltalien”).

Để tâm hồn lắng đọng sự bình tĩnh, Félix xếp tập “Lưu bút” trao lại cho nàng và cáo từ lui gót. Và từ đó, chàng cố tình lẩn tránh nàng. Đôi khi chạm mặt nhau ngoài phố hay trong những cuộc hội họp, chàng luôn giữ cho tình ý nghiêm trang giữa hai người.

Sau khi đọc qua bài thơ của chàng ghi trong tập “Lưu bút”, nàng tuyệt nhiên suốt đời chẳng biểu lộ một thái độ nào để cho ai có thể vin vào đấy mà đoán được tâm trạng nàng. Nàng vẫn lạnh lùng đúng như lời thơ chàng từng ca tụng: Một niềm tiết liệt đoan trinh. Nhưng có ai dám khẳng định, tự sâu thẳm tâm hồn, Marie Nodier thực sự không mảy may cảm động trước mối chân tình của chàng.

Phải chăng định mệnh nghiệt ngã đã khiến cho thi sĩ - giai nhân cam chôn chặt tâm tình thầm kín mãi trong lòng. Tuy nhiên khi bài thơ được loan truyền, ai đọc qua không khỏi xúc động, cảm thấy lòng bồi hồi chạnh tưởng đến giấc mộng tình đi qua trong một thời hoa bướm. Hầu hết khách văn chương với tâm hồn giàu cảm lụy, đều tấm tắc khen thầm bài thơ hay với ý tình nên thơ, cảm động. Và họ cũng tha hồ phỏng đoán coi người phụ nữ ấy là ai?

Ba năm sau (khoảng năm 1833), Félix cho xuất bản tập thơ: “Những giờ nhàn rỗi của tôi” (Mes heures perdues) trong đó có bài thơ nằm trong tập Lưu bút của Marie Nodier. Nhà phê bình nổi tiếng thời bấy giờ là Jules Janin đã viết về bài thơ của Arvers: Hãy ngâm lên những lời thơ diễm tuyệt ấy… Tiếng nói ấy là tiếng nói thần diệu, tình ấy là tình chân thật, thiết tha”. Félix Arvers làm bài thơ ấy khi chàng 25 tuổi. Và đúng như lời dự đoán của Janin, sự nghiệp văn chương của Arvers chỉ cô đọng vào một bài thơ ấy.

Cả thi phẩm của Félix, chỉ riêng bài thơ ấy là còn sống mãi đến bây giờ. Người sau dựa vào bài Sonnet của Arvers, thông cảm với tác giả, đã họa lại hoặc phỏng theo mà sáng tác, tính ra có đến 120 bài trong đó, những tác phẩm của phái nữ như bà Gay, bà Lelouard… được khen nhiều hơn.

Hầu hết các bài thơ ấy đã được các nhà giáo, nhà văn nước ta dịch ra tiếng Việt: Khái Hưng, Nguyễn Vỹ, Bình Nguyên Lộc, Hồ Văn Hảo, Nguyễn Tri Hựu, Nguyễn Thị Giang… Trong đó, bài thơ dịch theo thể lục bát Tình tuyệt vọng của Khái Hưng là giàu âm điệu và gợi cảm hơn nên được nhiều người yêu thơ trân trọng thuộc lòng.

Bài thơ “Tình tuyệt vọng” của Félix Arvers chỉ cô đọng trong 16 câu nhưng chứa đựng một không gian tình cảm thâm thúy vô bờ. Nó ấn tượng tuyệt vời vì người đẹp Marie Nodier vẫn cảm nhận được tấm lòng nhà thơ cũng như nhà thơ đã yêu nàng say đắm thiết tha như một thần tượng của đời mình.

Hai người hiểu sâu sắc và yêu nhau mà vẫn thầm lặng, thờ ơ và cư xử với nhau như người dưng. Cuộc tương ngộ giữa “Tài tử-giai nhân” trên lãnh vực văn chương đã để lại cho người đời một bài thơ tình cảm động và một chuyện tình hiếm thấy, đẹp như mùa xuân.

Bài thơ “Tình tuyệt vọng” của Félix Arvers chắc mãi mãi sẽ là bức tranh hiện thực lãng đãng sương khói yêu đương, minh họa cho những mối tình nên thơ lãng mạn giữa thi sĩ và giai nhân:

 

Thơ viết không xong, thuyền trôi chớ đổ

Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa

(Hồ Dzếnh).

Hay:

“ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề

Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở

 

(Hồ Dzếnh).

-----------

  Nguyễn Thanh     

                    

1) Félix Arvers (1806-1850), nhà thơ Pháp

(2), (3), (4), (5) : Victor Hugo, Lamartine, Alfred de Musset, Charles Nodier:

đều là nhà văn, nhà thơ Pháp nổi tiếng sống vào khoảng cuối thế kỷ 18 - thế kỷ 19.

 

 =Kim Kỳ sưu tầm =

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này