Truyện

Truyện (337)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Tình yêu có thể mang đến những phép màu

Tình yêu có thể mang đến những phép màu

~~~~❤️❤️~~~~

Một câu chuyện có thật lại như cổ tích

Cuộc đời luôn tồn tại những phép nhiệm màu, chỉ cần chúng ta có tình yêu thương thì tất cả khoảng cách về địa lý, thời gian, ngay giữa sự sống và cái chết, số phận cũng sẽ an bài cho ta gặp lại nhau.

Trong thế chiến thứ hai, có một người đàn ông họ Wall tên là Martin. Martin Wall là một tù nhân chiến tranh, bị giam tại trại tù binh ở Siberia, từ đó phải rời xa quê hương Ucraina, bỏ lại người vợ là Anna và cậu con trai Jacob.

Vài năm sau đó, anh ta và gia đình mỗi người một phương, bặt vô âm tín, thậm chí sau khi anh ta bị bắt một thời gian, đến cả việc người vợ Anna sinh thêm một đứa con gái tên là Sonia mà anh ta cũng không hề hay biết.

Thêm một vài năm nữa, Martin được trả tự do, lúc này anh ta kiệt quệ cả về sức khỏe lẫn tinh thần, nhìn bề ngoài như một ông già lọm khọm. Không chỉ có vậy, trên tay và chân của anh còn lưu lại nhiều vết sẹo, điều khiến anh đau lòng hơn nữa, là anh không còn khả năng sinh con.

Sau khi được ra tù, chuyện đầu tiên mà Martin làm là tìm kiếm cô vợ Anna, và cậu con trai Jacob. Cuối cùng, anh cũng nghe ngóng được tin tức của họ từ hội Chữ Thập Đỏ, người ta nói rằng vợ con của anh đã chết trên đường đi tới Siberia. Martin đau khổ tột độ. Đương nhiên, anh vẫn không hề biết rằng mình còn có một cô con gái trên thế gian này.

Thật ra thì, không lâu sau khi Martin bị bắt, Anna đã may mắn đưa được con trai Jacob chạy trốn đến nước Đức. Cô gặp được một đôi vợ chồng nông dân tốt bụng tại đó, đôi vợ chồng này đã giữ mẹ con họ ở lại. Vì vậy, Anna sống yên ổn tại đó, đồng thời cô cũng giúp họ làm việc đồng áng và dọn dẹp nhà cửa.

Cũng vào thời gian này, cô sinh đứa con gái Sonia. Anna tin rằng, chỉ cần Martin còn sống, họ nhất định sẽ trùng phùng, nhất định có thể tạo lập một cuộc sống mới. Nhưng, đời không là mơ. Vài năm sau đó, cuộc chiến tranh tàn khốc đã đưa nước Đức đến bờ vực của sự thất bại. Anna và hai đứa con vô cùng vui mừng, họ cho rằng sẽ có cơ hội để đoàn tụ với Martin.

Tuy nhiên, điều họ không ngờ là, Hồng quân Liên Xô đã tập trung những người dân di cư như họ lại, đưa họ lên một con tàu đông đúc như tàu chở súc vật, nói rằng đưa họ về nhà, nhưng thực chất là đưa họ đến trại tập trung đầy chết chóc ở Siberia.

Hi vọng của Anna vụt tắt, cô cảm thấy tuyệt vọng, rồi sinh bệnh nặng. Cô cảm thấy mình sống không được bao lâu nữa, chỉ ngày qua ngày cầu nguyện: “Cầu xin ông trời, hãy phù hộ cho hai đứa trẻ bất hạnh của con!”.

Một ngày nọ, Anna gọi Jacob đến bên cạnh và nói: “Con trai của mẹ, mẹ bệnh nặng lắm rồi, có lẽ không sống được bao lâu. Mẹ sẽ ở trên trời phù hộ các con. Jacob, con phải hứa với mẹ, không bao giờ được bỏ rơi em gái Sonia”.

Sáng sớm hôm sau, Anna qua đời. Người ta đem thi thể của cô chất lên xe hàng và chở đến một khu nghĩa địa đầy rẫy những ngôi mộ vô danh. Còn hai đứa trẻ thì bị đem lên tàu hỏa, đưa đến một cô nhi viện gần đó.

Còn Martin – người đang chìm đắm trong tuyệt vọng, lúc này đang làm việc như cỗ máy trong một nông trang. Một buổi sáng, Martin gặp Greta – một cô gái làm cùng nông trang với anh. Greta luôn mỉm cười để ý đến anh.

Martin không ngờ rằng, cô gái luôn lạc quan yêu đời, thông minh lanh lợi này lại là bạn học hồi xưa của mình. Bôn ba nhiều nơi, trải qua thời gian thăng trầm, xảy ra vô số sự việc, mà họ lại có thể gặp nhau ở đây, thật là thần kì!

Chẳng bao lâu sau, họ tổ chức hôn lễ. Martin cảm thấy cuộc sống của mình tìm lại được ánh mặt trời, cuộc sống lại trở nên có ý nghĩa. Greta cũng cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhưng cô luôn mong mỏi bản thân có một đứa con để yêu thương, chăm sóc.

Đến một ngày, Greta khẩn cầu với chồng: “Martin, có nhiều đứa trẻ trong cô nhi viện, chúng ta hãy nhận một đứa về nuôi có được không?”. Martin phản bác: “Greta, sao em lại có ý nghĩ như vậy, anh không thể chịu thêm bất cứ sự đả kích nào nữa, em có hiểu không?”. Greta vô cùng buồn bã.

Nhưng cuối cùng tình yêu mãnh liệt của cô dành cho trẻ em đã thuyết phục được Martin. Vào một buổi sáng, Martin nói với Greta: “Đi nào, chúng ta đi đến cô nhi viện nhận nuôi một đứa trẻ”. Greta vui mừng khôn xiết, lập tức lên tàu đi đến cô nhi viện.

Greta bước trên hành lang tối tăm của cô nhi viện, nhìn về phía lũ trẻ đang xếp thành hàng, chăm chú quan sát, cân nhắc. Nhìn thấy những khuôn mặt trầm mặc, những ánh mắt cầu xin của lũ trẻ, Greta chỉ muốn mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả chúng vào lòng và đưa về nhà. Nhưng cô biết rằng, điều đó là không thể.

Đúng vào lúc này, có một đứa trẻ cười thẹn thùng bước về phía cô. Greta quỳ xuống, xoa đầu đứa trẻ: “Cháu à, cháu có đồng ý đi theo cô không? Đến một nơi có cả cha lẫn mẹ?”.

“Đương nhiên cháu đồng ý, nhưng cô đợi chút, cháu đi gọi anh trai. Chúng cháu phải đi cùng nhau, cháu không thể bỏ lại anh trai mình được”.

Greta cảm thấy vô cùng băn khoăn, bất lực lắc đầu: “Nhưng cháu à, cô chỉ có thể đưa một mình cháu đi thôi”. “Không, cháu muốn đi cùng anh trai mình. Trước đây chúng cháu cũng có mẹ, khi mẹ qua đời đã dặn dò anh trai không được bỏ rơi cháu”.

Lúc này, Greta cảm thấy bản thân không muốn chọn bất kì đứa trẻ nào khác, bởi vì đứa trẻ trước mặt cô vô cùng đáng yêu, đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cô. Tuy nhiên, cô nghĩ rằng mình phải về thương lượng lại với Martin.

Khi về đến nhà, Greta lại khẩn cầu Martin: “Martin, có một chuyện em muốn thương lượng với anh. Em phải nhận nuôi hai đứa trẻ, bởi vì đứa trẻ mà em chọn có một người anh trai, nó không thể rời bỏ anh trai của mình. Em mong anh đồng ý nhận nuôi đứa trẻ này được không?”

“Greta, vậy sao em không chọn đứa trẻ khác, mà lại nhất quyết là bé gái này? Theo anh thấy thì tốt nhất đừng chọn đứa nào cả”.

Lời nói của Martin Wall, khiến Greta vô cùng đau lòng, cô thậm chí còn không muốn đi cô nhi viện nữa. Nhìn thấy bộ dạng buồn bã của Greta, trong lòng Wall chợt trào dâng niềm thương cảm. Tình yêu rốt cuộc lại giành chiến thắng.

Lần này, Martin và Greta cùng đi đến cô nhi viện, Martin cũng muốn gặp đứa bé gái đó. Đứa bé gái ra ngoài hành lang tiếp đón họ, lần này, cô bé nắm chặt tay cậu bé đi cùng. Đó là một cậu bé gầy gò, trông rất yếu ớt, nhưng cặp mắt của cậu bé lại ngập tràn sự dịu dàng và lương thiện. Lúc này, cô bé mở to đôi mắt sáng lóng lánh, nhẹ nhàng hỏi Greta: “Cô đến đón chúng cháu phải không?”

Greta chưa kịp trả lời, thì cậu bé đứng bên cạnh đã mở lời: “Cháu đã đồng ý với mẹ là sẽ không bao giờ bỏ rơi em gái. Khi mẹ cháu mất, cháu đã hứa như vậy. Vậy nên, đáng tiếc là em gái cháu không thể đi cùng với hai người”.

Martin âm thầm quan sát hai đứa trẻ vừa đáng yêu lại đáng thương này. Một lát sau, anh tuyên bố đầy quả quyết: “Chúng tôi nhận cả hai đứa trẻ này”. Martin đã bị cậu bé gầy gò ốm yếu trước mắt thu hút đến nỗi không thể kháng cự nổi nữa rồi.

Vậy là Greta đưa hai anh em đi thu dọn quần áo, Martin đến văn phòng làm thủ tục nhận nuôi. Sau khi Greta thu dọn đồ đạc, đưa hai đứa trẻ đến văn phòng, liền thấy Martin bần thần lúng túng đứng ở đó. Gương mặt trắng bệch, đôi tay run rẩy, dường như không dám kí vào thủ tục nhận nuôi.

Greta sợ hãi hỏi: “Martin! Anh làm sao vậy? Martin?”

“Greta, em nhìn những cái tên này xem!”. Greta nhận lấy tờ thủ tục nhận nuôi có ghi tên hai đứa trẻ: “Jacob Wall; Sonia Wall, Mẹ: Anna (Bartel) Wall; Cha: Martin Wall”.

“Em có biết không Greta, hai đứa trẻ này là con ruột của anh! Một là đứa con trai mà anh tưởng rằng đã chết từ lâu, một là đứa con gái mà anh chưa từng gặp mặt!”

Martin xúc động đến nỗi nước mắt nhạt nhoà, anh vừa nói vừa quỳ xuống, ôm chặt hai đứa trẻ vào trong lòng, thán phục nói: “Kì tích, thật là kì tích! Ôi! Cảm ơn trời đất đã phù hộ chúng tôi, ôi! Greta, nếu như không phải em đã thỉnh cầu anh nhận nuôi chúng, nếu như không có trái tim nhân ái của em, có lẽ anh đã không thể gặp được kì tích này mất rồi”.

Đúng vậy, dưới sự vẫy gọi của tình yêu, mọi kì tích đều có thể xảy ra!


 

 
Kim Kỳ sưu tầm
 
Xem thêm...

Truyện Ngắn: CÂU CHUYỆN NGOÀI BẾN TẦU

CÂU CHUYỆN NGOÀI BẾN TẦU

 

Tác giả: Heinrich  Böll


Dịch giả: Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng

Heinrich Böll (1917- 1985)

 

Ghi chú tiểu sử tác giả:

Heinrich Böll (1917- 1985) là một nhà văn, nhà báo Đức và cũng là một nhà giáo tại đại học. Thời Hitler ông đang theo học Lịch sử và Cổ ngữ tại đại học thì bị động viên, rồi nhiều lần bị thương.

Sau khi Đức Quốc xã bại trận ông là tù binh của Anh và Mỹ một thời gian ngắn (1945).

Được trả tự do H. Böll học tiếpVăn chương Đức, nhưng dần dần ngả nhiều về "trường văn trận bút", viết từ ký sự, cho đến truyện ngắn, truyện dài, nhiều tác phẩm được viết thành kịch bản cũng như quay thành phim. Năm 1958 ông được giải văn chương của thành phố Wuppertal và năm1967 được trao giải văn chương "Georg Büchner", một giải thưởng cao quý của "Hàn lâm viện Ngôn ngữ và Thi Văn Đức". Bảy năm sau H. Böll được giải Nobel về văn chương (1972).

Ông từng là Chủ tịch Văn bút Đức (1970-72) và Chủ tịch Văn bút Quốc tế (1971- 74). Lúc sinh thời là người chống chiến tranh, tham dự tích cực phong trào Hòa bình và tranh đấu cho nhân quyền với thái độ chính trị có vẻ tả khuynh. Do đó để tưởng nhớ ông Đảng Xanh của Đức đã lập một Foundation (Stiftung) với tên “ Heinrich-Böll-Stiftung” (1997). Tác phẩm của ông để lại là một kho tàng đồ sộ, nhiều bộ "Heinrich Böll toàn tập" của các nhà xuất bản khác nhau ở Đức bao gồm những tác phẩm đã xuất bản của ông cũng như những tác phẩm mới ra mắt công chúng lần đầu. 

 

~~><~~><~~><~~

 

Tại một bến tầu ở bờ biển phía tây Âu Châu có một người áo quần nghèo khó nằm dài trên chiếc thuyền câu của mình và lim lim mơ màng ngủ. Một du khách ăn mặc sang trọng lắp một cuốn phim mầu mới vào máy ảnh để chụp cảnh thơ mộng: trời xanh, biển đậm với những đợt sóng hiền lành trắng như tuyết, với chiếc thuyền đen xậm và chiếc mũ đỏ của người đánh cá.

"Tách", và vì chuyện gì tốt cũng phải ba lần mà cũng để chắc ăn, "tách", thêm một lần thứ ba nữa. Những tiếng động khô cứng và gần như đáng ghét đó đánh thức bác chài đang ngủ mơ màng. Bác ngái ngủ đứng dậy, ngái ngủ lấy tay với bao thuốc, nhưng trước khi bác tìm thấy, du khách đã săn đón chìa trước mặt bác  một bao, không đưa tận miệng, nhưng rút ra đặt một điếu thuốc vào tay bác chài, rồi một tiếng "tách" thứ tư của chiếc bật lửa chấm dứt sự lễ phép săn đón đó. Một nỗi bối rối căng thẳng gây nên do sự lễ phép quá nhiều nhưng khó đo lường và khó có chứng cớ rõ rệt khiến du khách vì hiểu tiếng địa phương tìm cách bắt chuyện cho đỡ trống trải.

- "Chắc rồi hôm nay bác sẽ đánh được một mẻ cá lớn?".

Bác chài gật đầu.

- "Chả là người ta bảo hôm nay tốt trời".

Bác chài lại gật đầu.

- "Vậy mà bác không ra khơi?".

Bác chài lắc đầu, người khách nóng nẩy thêm. Rõ ràng khách bận tâm về tình cảnh của bác chài ăn mặc nghèo khó khi khách buồn bã nghĩ đến dịp may bị lỡ của bác.

- "Ơ hay, bác thấy trong người không được khoẻ?"

Lúc này bác chài mới bỏ cách nói bằng cử chỉ để nói thành lời.

- "Tôi thấy dễ chịu hết cỡ", bác nói, "chưa lúc nào tôi thấy dễ chịu như bây giờ." Bác đứng dậy vươn mình như muốn chứng tỏ mình lực lưỡng thế nào.

- "Tôi thấy khỏe «số dách»".

Nét mặt người khách du lịch trở nên băn khoăn khổ sở hơn, chừng như không thể nín được câu hỏi muốn làm vỡ tung lồng ngực mình:

- "Chứ tại sao bác không ra khơi?".

Câu trả lời đến tức thì, cộc lốc: "Vì sáng nay tôi đã ra rồi".

- "Mẻ lưới khá chứ?".

- "Khá lắm đến nỗi tôi chẳng cần đi một lần nữa, tôi đã đánh được bốn con tôm hùm trong một giọ, và gần 20 con cá".

Bác chài lúc này tỉnh như sáo, vỗ vai trấn tĩnh người du khách. Vẻ mặt của người này biểu lộ một cảm giác tuy không thích hợp với bác, nhưng bầy tỏ một sự xúc động. Bác nói để du khách được nhẹ nhõm trong lòng:

- "Cho ngày mai và cả ngày mốt tôi cũng đánh đủ cả rồi. Ông hút với tôi một điếu?".

- "Vâng, cám ơn bác".

Những điếu thuốc được đưa lên miệng, "tách" một cái lần thứ năm, người khách lạ ngồi xuống bên mép thuyền lắc đầu, bỏ máy ảnh xuống vì bây giờ hắn cần dùng cả hai tay để nhấn mạnh thêm cho lời mình nói.

- "Tôi không muốn xía vô chuyện của bác, khách nói, nhưng bác thử nghĩ xem. Bác ra khơi hôm nay hai lần, ba lần, hay bốn lần, rồi bác sẽ đánh được ba, bốn hay năm chục, có khi cả trăm con cá. Bác nghĩ coi".

Bác chài gật đầu.

- "Không những hôm nay mà cả ngày mai, ngày mốt, du khách nói, ờ, vào bất cứ ngày nào tốt trời bác ra khơi hai, ba, bốn lần, bác biết sự gì xẩy ra không?"

Bác chài lắc đầu.

- "Chậm lắm chỉ một năm bác sẽ mua được một cái "mô-tơ" cho thuyền đánh cá, chỉ hai năm bác mua được cái thuyền thứ hai, chỉ ba hay bốn năm có thể bác sẽ có một cái thuyền buồm nhỏ, với hai cái thuyền và một cái thuyền buồm dĩ nhiên bác sẽ đánh được nhiều cá hơn, bác sẽ...". Sự hứng khởi làm tiếng nói của du khách bị đứt quãng, "bác sẽ xây một nhà ướp lạnh nhỏ, có lẽ cả một nhà nướng cá, rồi sau đó một nhà máy làm cá. Bác sẽ bay bằng trực thăng để tìm luồng cá và sẽ chỉ huy các thuyền buồm của bác bằng vô tuyến điện. Bác có thể xin được quyền đánh cá mập, mở một quán ăn đặc biệt về đồ biển, xuất cảng tôm hùm sang Paris không cần người trung gian, rồi...". Sự hứng khởi làm tiếng người khách du lịch đứt quãng.

Lòng buồn rười rợi, thú vui nghỉ hè hầu như biến mất, du khách lắc đầu nhìn sóng êm ả cuốn vào bờ, giữa đợt sóng lũ cá hầu như không biết sợ hãi là gì, nhẩy lên choi choi. "Rồi thì, du khách nói tiếp, sự kích thích lại làm cho tiếng bị ngắt quãng nữa.

Bác chài đập nhẹ vào lưng du khách như người ta thường làm với một đứa trẻ nhỏ khi nó bị nghẹn

- "Rồi thì làm sao?" Bác chài khẽ hỏi.

- "Rồi bác có thể yêm tâm ngồi ở bến tầu này mơ màng ngủ trong nắng và ngắm vẻ đẹp tuyệt vời của biển". Người khách đáp với sự hứng khởi mà trầm tĩnh.

Bác chài nói:

- "Nhưng, chính điều dó tôi đang làm đây thôi, tôi ngồi yên ổn ở bến tầu và ngủ mơ màng, chỉ bị tiếng chụp ảnh của ông làm rộn ".

Người khách du lịch bỗng nhiên tỉnh ngộ bởi lời nói của bác chài, bỏ đi trong suy nghĩ về câu nói đó. Bởi vì trước kia cũng có lần du khách cho rằng mình làm việc để rồi một ngày nào đó không phải làm gì nữa... Và niềm thương hại bác chài ăn mặc nghèo khó không còn lưu lại một dấu vết nào trong lòng du khách, có chăng chỉ còn một chút ganh tị thèm muốn.

 

Heinrich Böll

Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng (dịch)

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Truyện ngắn: Ông Trời có mắt, nhưng còn đợi...

Ông Trời có mắt, nhưng còn đợi...
 
Truyện ngắn của : Lev Nikolayevich Tolstoy
 
Hiếu Tân dịch

Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1828 – 20 tháng 11 năm 1910 là một tiểu thuyết gia người Nga, nhà triết học, người theo chủ nghĩa hoà bình, nhà cải cách giáo dục, người ăn chay, người theo chủ nghĩa vô chính phủ tín đồ Cơ Đốc, nhà tư tưởng đạo đức, và là một thành viên có ảnh hưởng của gia đình Tolstoy.

Tolstoy được yêu mến ở khắp mọi nơi như một tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong tất cả các nhà viết tiểu thuyết, đặc biệt nổi tiếng với kiệt tác Chiến tranh và hoà bình và Anna Karenina; miêu tả sự phóng khoáng và hiện thực của cuộc sống Nga, hai tác phẩm là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực. Là một nhà luân lý ông có tiếng với tư tưởng chống lại cái ác thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm của ông Vương quốc Chúa Trời trong bạn (tiếng Anh: The Kingdom of God Is Within You), cái mà có ảnh hưởng bởi những hình tượng của thế kỷ 20 như Mahatma Gandhi và Martin Luther King, Jr.

Lev Nikolayevich Tolstoy

(tiếng Nga: Лев Никола́евич Толсто́й ) 


Trong thành phố Vladimir có chàng thương nhân trẻ tuổi tên là Ivan Dmitrich Aksionov. Chàng có hai cửa hiệu và một ngôi nhà. Aksionov là một chàng đẹp trai, có mái tóc quăn tít vàng hoe, lúc nào cũng vui vẻ, và rất thích hát. Hồi trước, khi còn quá trẻ, chàng có thói quen uống rượu, và hễ quá chén là hay gây ồn ào náo loạn; nhưng sau khi lấy vợ chàng đã bỏ rượu, chỉ họa hoằn mới uống.
Vào một ngày hè chàng muốn đi hội chợ Nizni, nhưng khi nói lời tạm biệt vợ con thì vợ chàng bảo: “Anh ơi, đừng đi hôm nay, em vừa mơ thấy một điềm xấu về anh”
Aksionov cười và bảo “Em lại sợ anh ăn chơi tốn kém chứ gì”
Vợ chàng bảo: “Em không biết em sợ cái gì, chỉ biết rằng em có một giấc chiêm bao rất xấu. Em mơ thấy khi anh từ hội chợ trở về, và khi anh bỏ mũ ra thì tóc anh bạc trắng”
Aksionov cười “Đó là điềm tốt đấy em ạ” chàng bảo. “Em cứ chờ đấy nếu anh bán hết hàng, em sẽ mua quà hội chợ về cho em”
 
 1
Chàng chào tạm biệt vợ con rồi lên đường.
Đi được nửa đường, chàng gặp một thương nhân quen biết, và hai người cùng vào một quán trọ nghỉ qua đêm. Hai người cùng uống trà, rồi vào ngủ ở hai buồng cạnh nhau.
Aksionov có thói quen dậy sớm, và , muốn đi sớm cho mát, chàng đánh thức xà ích trước rạng đông, bảo anh ta chuẩn bị ngựa xe. Rồi chàng đến gặp chủ quán (sống ở ngôi nhà nhỏ phía sau) trả tiền trọ rồi tiếp tục lên đường.
Khi đi được khoảng hai mươi lăm dặm, chàng dừng lại để cho ngựa ăn. Aksionov nghỉ một lát ở hành lang quán trọ, rồi chàng đi vào trong sảnh, gọi một ấm xamôva, rồi lấy ghi ta ra bắt đầu chơi.
 

Vasilkovsky Sergey – A Quiet Evening in Poltava (Russian Landscapes)

Bỗng có một chiếc xe tam mã chuông reo leng keng chạy thẳng vào, từ trên xe một sĩ quan bước xuống, theo sau là hai người lính. Ông ta bước đến chỗ Aksionov và bắt đầu hỏi chàng, rằng chàng là ai và từ đâu đến. Aksionov trả lời đầy đủ và nói “Mời ông dùng chén trà với tôi”. Nhưng viên sĩ quan tiếp tục chất vấn chàng, rằng “Đêm qua anh ngủ ở đâu? Anh ở một mình, hay có người thương nhân nào cùng đi? Sáng nay anh có trông thấy người thương nhân ấy không? Tại sao anh rời khỏi nhà trọ trước khi trời sáng?”
Aksionov tự hỏi tại sao người ta lại hỏi anh thế, nhưng chàng vẫn kể lại toàn bộ những gì đã xảy ra, rồi thêm “Tại sao ông lại thẩm vấn tôi như thể tôi là quân trộm cướp ấy? Tôi đi công việc buôn bán của tôi, và không cần thiết phải căn vặn tôi như thế”
Lúc đó viên sĩ quan gọi hai người lính đến, nói “Tôi là sĩ quan cảnh sát của huyện này, và tôi thẩm vấn anh bởi vì người lái buôn cùng nghỉ trọ với anh đêm qua, sáng nay người ta thấy anh ta bị cắt đứt cổ họng. Chúng tôi phải khám xét đồ đạc của anh”
 
Họ đi vào nhà. Những người lính và viên sĩ quan mở tung hành lý của Aksionov để khám. Bỗng người sĩ quan rút ra một con dao từ một chiếc xắc, kêu lên: “Con dao này của ai?”
Aksionov nhìn, và khi thấy một con dao đẫm máu được lấy ra từ túi của chàng, thì chàng rụng rời.
“Tại sao trên con dao này có máu?”
Aksionov cố gắng trả lời, nhưng khó khăn lắm mới thốt ra một lời, mà chỉ lắp bắp “Tôi không biết, không phải của tôi”. Người sĩ quan cảnh sát nói: “Sáng nay người ta thấy người lái buôn kia nằm trên giường, cổ họng bị cắt. Anh là người duy nhất có thể làm việc này. Ngôi nhà đó khóa cửa bên trong, không có ai vào đó nữa. Đây là con dao vấy máu trong túi của anh, và bản mặt của anh với bộ dạng anh đã tố cáo anh! Hãy kể lại anh đã giết anh ta như thế nào, và lấy cắp bao nhiêu tiền?”
 
Russian Landscapes - Wikimedia Commons
 
Alsionov thề rằng chàng không làm việc ấy, rằng chàng không nhìn thấy người lái buôn kia từ lúc hai người uống trà xong, rằng chàng không có tiền nào khác ngoài khoản tám ngàn rúp tiền riêng của chàng, và rằng con dao ấy không phải của chàng. Nhưng giọng chàng nghẹn, mặt chàng tái, người chàng run như người có tội vậy.
Viên sĩ quan cảnh sát thét những người lính trói Aksionov lại và quẳng chàng lên xe. Khi họ trói chân chàng và ném chàng lên xe, Aksionov làm dấu thánh giá và khóc. Chàng bị tước hết tiền nong đồ đạc và bị đưa đến một thị trấn gần nhất và bị giam ở đó. Cuộc điều ra về nhân thân của chàng được tiến hành ở Vladimir. Những thương nhân và các cư dân khác của thành phố nói rằng trước kia chàng có uống rượu và chơi bời, nhưng chàng là một người tốt. Rồi phiên toà được mở, chàng bị kết tội giết người lái buôn từ Riazan đến, và cướp của anh ta hai mươi ngàn rúp.
Vợ chàng tuyệt vọng, và không biết phải tin vào cái gì nữa. Các con chàng đều còn nhỏ, đứa bé nhất chưa rời vú mẹ. Nàng đưa cả mấy đứa con cùng đi, đến thị trấn nơi chồng nàng bị giam giữ.
 
 
Lúc đầu nàng không được phép gặp chàng, nhưng sau bao nhiên van xin, cuối cùng nàng cũng được các quan cho phép, và được dẫn tới gặp chàng. Khi trông thấy chồng mặc áo tù và bị xiềng xích, nàng ngã lăn ra bất tỉnh hồi lâu. Rồi nàng kéo mấy đứa con vào lòng, ngồi sát gần chàng. Nàng kể cho chàng mọi chuyện ở nhà, và hỏi chuyện xảy ra với chàng như thế nào. Chàng kể lại tất cả, và nàng hỏi “Bây giờ ta phải làm gì?”
“Chúng ta phải thỉnh cầu Sa hoàng không để người vô tội phải chết”
Vợ chàng bảo rằng nàng đã gửi đơn thỉnh nguyện lên Sa hoàng, nhưng không được chấp nhận.
Aksionov không trả lời, trông chàng vô cùng chán nản thất vọng.
 
Rồi vợ chàng nói: “Việc em mơ thấy tóc anh bạc trắng không phải là không có ý nghĩa gì. Anh còn nhớ không? Lẽ ra hôm ấy anh không nên đi” Nàng luồn những ngón tay vào mớ tóc chàng, nàng hỏi “Vanya yêu dấu, anh nói thật với vợ anh đi, không phải là anh đã làm chuyện đó chứ?”
“Cả đến em nữa, cũng nghi ngờ anh ư?” Aksionov nói, và úp mặt vào lòng bàn tay, chàng khóc.
Lúc đó một người lính đến nói vợ con chàng phải ra, và chàng nói lời vĩnh biệt vợ con chàng.
Khi họ đi rồi, Aksionov nhớ lại những lời đã nói, và khi chàng nhớ rằng chính vợ chàng cũng nghi ngờ chàng, thì chàng tự nhủ. “Dường như chỉ có Thượng đế mới biết sự thật, mình phải kêu cầu Người, mình chỉ trông chờ lòng thương xót duy nhất từ Người nữa mà thôi”.
 
 

Vasiliy Polenov – River Svinka near Aleksin (Russian Landscapes) 

2
Và Aksionov không viết thêm một lời thỉnh cầu nào nữa, từ bỏ mọi hy vọng, và chỉ cầu nguyện Chúa.
Aksionov bị kết án phạt đánh bằng roi và đày đến các hầm mỏ. Chàng bị đánh bằng gậy có mấu, và khi các vết thương kín miệng, chàng bị đày đi Siberia cùng với những tội phạm khác.
Hai mươi sáu năm trời Aksionov sống như một tội phạm ở Siberi.Tóc ông bây giờ bạc trắng như tuyết, râu dài, thưa và đốm bạc.Mọi vui vẻ cười đùa biến mất, lưng ông còng xuống, ông đi chậm, nói khẽ, không bao giờ cười, nhưng thường xuyên cầu nguyện.
Trong tù Aksionov học khâu giày, kiếm được một ít tiền, ông dùng tiền đó mua quyển Đời các Thánh. Ông đọc quyển sách này khi còn đủ ánh sáng trong tù, và chủ nhật ông đi nhà thờ, ông đọc kinh và hát thánh ca, vì giọng ông vẫn còn tốt.
 
Những người giám quản trại tù thích Aksionov vì ông hiền lành ngoan ngoãn dễ bảo, các bạn tù tôn trọng ông, họ gọi ông là “Bố già” là “ông Thánh”. Khi họ muốn thỉnh cầu giám quản điều gì, họ đều nhờ Aksionov làm người phát ngôn, và khi trong đám tù nhân có cãi cọ, họ tìm đến ông nhờ phân xử.
Aksionov không bao giờ nhận được tin nhà, thậm chí ông không biết vợ con ông còn sống hay không.
Một hôm có một đoàn tù nhân mới đến trại. Buổi tối đám tù cũ tụ tập quanh tù mới và hỏi họ đến từ thành phố hay làng xã nào, và họ bị tội gì. Giống như những người tù cũ khác, Aksionov ngồi gần đám tù mới và buồn bã nghe những điều họ nói.
 
Một trong những tù phạm mới, một người đàn ông khoảng sáu mươi cao to khỏe mạnh, râu hoa râm cạo sát, đang kể cho mọi người nghe tại sao ông ta bị bắt.
“Ồ các bạn ạ” Ông ta nói “Tôi chỉ lấy một con ngựa đóng vào xe trượt tuyết, thế mà tôi bị bắt và bị kết tội ăn trộm.Tôi nói tôi chỉ lấy để về nhà nhanh hơn, và sau đó đã thả nó ra, ngoài ra, người đánh xe là bạn của tôi, và tôi nói như thế không có gì sai. Nhưng họ bảo “Không, anh đã ăn trộm nó”. Nhưng tôi đã ăn trộm như thế nào và ở đâu thì họ không nói được.Tôi đã có lần thực sự làm một chuyện sai quấy, và lẽ ra tôi phải đến đây lâu rồi, nhưng lần đó tôi lại không bị phát hiện.Còn bây giờ chẳng làm sao tôi lại phải đến đây. Ừa, nhưng tôi vừa nói dối các bạn đấy, trước đây tôi đã bị bắt đưa đến Siberi, nhưng tôi không ở lâu”
 
 

Issak Levitan – Summer (Russian Landscapes )

 
 3
“Ông từ đâu đến?” một người hỏi/
“Từ Vladimir. Gia đình tôi ở thành phố ấy. Tên tôi là Makar, người ta thường gọi là Semyonich”
Aksionov ngẩng đầu lên hỏi: “Semyonich, ông cho tôi biết, ông có biết tin gì về gia đình nhà buôn Aksionov ở Vladimir không? Họ còn sống cả không?”
“Có biết không à? Tất nhiên tôi biết chứ. Nhà Aksionov giàu, mặc dầu cha của họ đang ở Siberi. Hình như một tội phạm như chúng ta! Còn ông, Bố già, vì sao ông phải đến đây?”
Aksionov không muốn nói nỗi khổ của mình ra làm gì. Ông chỉ thở dài, và nói “Vì tội của tôi, tôi đã phải ở tù hai mươi sáu năm nay”
“Tội gì?” Makar Semyonich hỏi.
 
Nhưng Aksionov chỉ nói “Thôi được rồi, chắc là tôi đáng thế” Ông không nói gì hơn, những các bạn tù kể cho các tù mới đến tại sao Aksionov phải đến Siberi, một người nào đó đã giết người lái buôn, và đã đặt con dao vào trong đồ đạc của Aksionov, và Aksionov đã bị kết án oan.
Khi Makar Semyonich nghe thấy thế, ông ta nhìn Aksionov, đập tay lên đầu gối mình, và kêu lên. “Ôi thật là kỳ lạ! Kỳ lạ quá đi mất! Nhưng sao trông ông già đến thế, Bố già?”
Những người khác hỏi ông ta tại sao ông ta lại ngạc nhiên như thế, và ông ta đã gặp Aksionov ở đâu, nhưng Makar Semyonich không trả lời. Ông ta chỉ nói “Thật kỳ lạ là chúng ta lại gặp nhau ở đây”
Những lời lẽ này khiến Aksionov nghĩ ngợi liệu người này có biết ai đã giết người lái buôn kia không, nên ông nói “Hình như, Semyonich, ông đã có nghe về vụ đó, hay có lẽ ông đã gặp tôi trước đây chăng?”
“Làm sao mà tôi lại không nghe? Thiên hạ đồn rầm cả lên. Nhưng đã lâu lắm rồi, tôi đã quên những gì tôi nghe được”
“Có lẽ ông có nghe ai là người đã giết người lái buôn ấy?” Aksionov hỏi.
Makar Semyonich cười đáp: “Đó chắc là cái người mà người ta tìm thấy con dao trong túi xắc! Nếu người khác dấu con dao ở đó, “Chưa bắt được tay thì chưa phải là ăn cắp” như người ta thường nói. Làm sao người ta dấu con dao vào túi của ông được trong khi nó nằm dưới đầu ông? Như thế chắc chắn sẽ làm ông thức dậy”
 
 Khi Aksionov nghe những lời đó, ông cảm thấy chắc chắn kẻ này đã giết người lái buôn. Ông đứng lên và đi chỗ khác. Suốt đêm đó Aksionov thức chong chong. Ông cảm thấy tột cùng đau khổ, mọi hình ảnh lại hiện lên trong trí ông. Có hình ảnh của vợ ông khi ông tạm biệt nàng để đi hội chợ. Ông thấy như nàng đang có mặt ở đây, khuôn mặt nàng, đôi mắt nàng hiện lên trước ông, ông nghe tiếng nàng nói cười. Rồi ông thấy đàn con, còn nhỏ xíu, như hồi đó, một đứa mặc chiếc áo choàng bé tí, đứa kia còn ôm vú mẹ. Rồi ông nhớ lại bản thân mình, khi ấy còn trẻ trung và vui vẻ. Ông nhớ cái lúc ông ngồi chơi ghi ta trong sảnh của nhà trọ nơi ông bị bắt, lúc ấy sao ông thanh thản vô tư thế. Ông nhìn thấy rõ ràng trong tâm trí, nơi ông bị đánh đòn, những kẻ tra tấn ông, và những người đứng xem xung quanh, những xiềng xích, những tội đồ, và hai mươi sáu năm đời ông trong lao tù, và ông già sụm trước tuổi. Nghĩ về tất cả những điều đó khiến ông đau đớn đến mức chỉ muốn tự tử.

Isaak Brodsky – Golden Autumn (1913) Russian Landscapes

 
“Và tất cả những cái đó đều do thằng khốn kiếp kia gây ra!” Aksionov nghĩ. Cơn điên giận Makar Semyonich lớn đến mức ông khao khát trả thù, dù cho bản thân ông có thể tiêu mạng về chuyện đó. Ông cầu nguyện suốt đêm, nhưng không tìm thấy yên lành. Ban ngày ông không đến gần Makar Semyonich, thậm chí không nhìn hắn.
Nửa tháng trời trôi qua như thế. Ban đêm Aksionov không thể chợp mắt, đau đớn cùng cực đến mức không biết làm gì nữa.
Một hôm khi đang bước đi trong nhà giam ông nhận thấy có những hòn đất lăn ra từ trong một ngăn tù nằm. Ông nhìn lại để xem chuyện gì. Bỗng nhiên Makar Semyonov trườn ra từ một ngăn và ngước nhìn lên Aksionov với bộ mặt sợ hãi. Aksionov định bước qua không nhìn hắn, nhưng Makar nắm tay ông giữ lại, và bảo ông rằng hắn đang đào một lỗ dưới chân tường, đất thì bỏ vào ủng để mỗi ngày đổ ra đường khi tù nhân được dẫn đi lao động.
 
“Cụ giữ im lặng, cụ nhé, rồi cụ cũng được ra. Nếu cụ tiết lộ, họ sẽ đánh tôi đến chết, nhưng tôi sẽ giết cụ trước”
Aksionov run lên giận dữ khi nhìn xuống kẻ thù của mình. Ông giật tay ra và nói “Tôi không muốn trốn, và anh không cần giết tôi, anh đã giết tôi từ lâu rồi. Còn việc anh bảo tôi có làm thế hay không, đã có Chúa chỉ cho tôi”
 
Hôm sau khi đoàn tù được dẫn đi lao động, những người lính coi tù nhận thấy có người tù nào đã dốc một ít đất trong ủng ra. Nhà giam bị khám xét và người ta tìm thấy đường hầm. Trại trưởng đến và tra hỏi tất cả tù nhân để tìm ra kẻ đã đào hố. Nhưng tất cả đều chối, không ai biết gì hết. Người nào biết cũng không tố cáo Makar Semyonich, vì biết rằng hắn sẽ bị đánh đòn đến chết. Cuối cùng ông trưởng trại quay sang Aksionov vì biết ông là người trung thực, ông ta nói:
“Anh là người thật thà, hãy nói cho tôi biết: ai đã đào hố này?”
Makar Semyonich đứng như thể hắn không liên can gì, nhìn Trại trưởng không nhiều bằng liếc nhìn Aksionov. Môi và tay Aksionov run run, một lúc lâu ông không thốt ra lời nào. Ông nghĩ “Sao ta lại phải che chở cho hắn là kẻ đã tàn hại đời ta? Phải để hắn trả cho những gì ta đã phải chịu. Nhưng nếu ta nói ra, họ có thể đánh hắn đến chết, và cũng có thể ta đã ngờ sai hắn. Và, nói cho cùng, làm thế có gì tốt cho ta?”
“Nào, anh già”, Trại trưởng nhắc lại, “Nói cho tôi biết sự thật: ai đã đào dưới chân tường này?”
Aksionov liếc nhìn Makar Semyonich, và nói. “Tôi không thể nói, thưa ông. Không phải ý Chúa là tôi nên nói. Ông có thể làm gì tôi cũng được, tôi đang ở trong tay ông”
Dù Trại trưởng có cố thế nào, Aksionov vẫn không nói gì thêm, nên việc đó phải cho qua.
 
 

Efim Volkov – October - Russian Landscapes 

4
Đêm hôm đó, Khi Aksionov đang nằm trên giường và mới chỉ bắt đầu lơ mơ, thì có kẻ khẽ khàng ngồi xuống giường ông. Ông nhìn kỹ trong đêm tối và nhận ra Makar.
“Anh muốn gì ở tôi?” Aksionov hỏi. “Tại sao anh đến đây?”
“Makar Semyonich im lặng.Vì vậy Aksionov ngồi dậy và nói “Mày muốn gì? Cút ngay, không tao gọi lính gác”
Makar Semyonich cúi xuống người Aksionov và thì thầm “Ivan Dmitrich, xin ông tha tội cho tôi”
“Về chuyện gì?”
“Tôi là kẻ đã giết người lái buôn và giấu con dao vào đồ của ông. Lúc ấy tôi muốn giết cả ông nữa, nhưng tôi nghe có tiếng động bên ngoài, nên đã giấu con dao vào trong xắc của ông rồi chuồn ra cửa sổ”
 
Aksionov im lặng, và không biết nói gì. Makar Semyonich tụt xuống khỏi giường và quỳ trên mặt đất: “Ông Ivan Dmitrich, xin ông tha tội cho tôi!” hắn nói. “tha tội cho tôi! Vì tình yêu Chúa, xin tha tội cho tôi! Tôi sẽ thú tội đã giết người lái buôn, và ông sẽ được thả, và có thể về nhà”
“Mày nói thì dễ lắm” Aksionov nói “nhưng tao đã chịu tội thay cho mày hai mươi sáu năm trời. Bây giờ tao có thể về đâu? Vợ tao đã chết, các con tao đã quên tao rồi. Tao không có chỗ nào mà về”
 
Makar không đứng dậy, mà dập đầu xuống đất. “Ông Ivan Dmitrich, xin tha tội cho tôi” Hắn khóc. “Khi họ đánh tôi bằng gậy có mấu cũng không khó chịu đựng hơn thấy ông thế này, thế mà ông còn thương tôi, mà không nói ra. Vì Chúa, xin tha cho tôi, tôi đau lòng lắm” Và hắn nức nở.
Khi Aksionov nghe thấy hắn nức nở, ông cũng bắt đầu khóc “Chúa sẽ tha tội cho anh” ông nói. “Có thể tôi còn xấu gấp trăm lần anh” Và với những lời đó, ông thấy lòng mình nhẹ bỗng, và nỗi khao khát nhớ nhà rời khỏi ông. Ông không còn thấy mong muốn ra khỏi tù chút nào nữa, mà chỉ mong chờ giờ phút cuối của mình sớm đến.
Mặc dù Aksionov đã nói như thế, nhưng Makar Semyonich vẫn thú tội của hắn. Nhưng khi lệnh thả ông được mang đến, thì Aksionov đã chết nhẹ nhàng .
 
 
 Kim Kỳ sưu tầm
 
Xem thêm...

Hôm Nay Tôi Đi Học Trượt Tuyết

Related image
Related image
 

    Một Câu Chuyện Vui:   

Tác giả: Nguyễn Văn Tới
Với bài đầu tiên “Hôm nay tôi Đi Xe Đạp”, tác giả được trao giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2017. Ông hiện hiện sống và làm contractor (hợp đồng) ngành hàng không ở Vail, Arizona cho quân đội Mỹ. Sau đây là bài viết thứ hai.

  Hôm Nay Tôi Đi Học Trượt Tuyết   

Vợ chồng tôi vừa từ Arizona đến Pinetop, thành phố ở độ cao 7200 feet.
 
Arizona đúng là xứ sa mạc thứ thiệt của Bắc Mỹ còn được gọi là Sonoran Desert bao gồm phần Tây Nam của Arizona và California, một phần Tây Bắc Mễ Tây Cơ (mexico) thuộc vùng Sonora, Baja California, và Baja California Sur.

Ôi cái xứ đồng khô cỏ cháy, chó ăn đá, gà ăn muối, nóng như lò lửa, khô như ngói, chẳng có gì để mà coi, mà chơi, mà ngắm, mà yêu, mà “đất lành chim đậu, đất hổng lành đất nhậu luôn chim”... Bạn không phải là người đầu tiên và cũng không là người cuối cùng nói câu đó; chính tôi cũng từng nghĩ rằng không thể nào sống ở vùng đất nóng cằn cỗi này, thế mà tôi đã sống ở đây gần 25 năm rồi đấy.

Sau nhiều năm chịu nóng để chạy theo cơm áo gạo tiền, sau tết Tây năm nay, vợ chồng tôi làm một chuyến bỏ rừng lên núi, quyết ra đi tầm sư học… trượt tuyết cho bõ bao năm trời chỉ có mơ mà chưa một lần thực hiện.

Không biết người Việt mình ở các tiểu bang lạnh lẽo, hoặc đang sống ở châu Âu, khi mới tập tành trượt tuyết ra sao? Mong các cao nhân chỉ giáo thêm. Riêng tôi thì đây là một trải nghiệm mới lạ và là một cái “thú đau thương” khó mà quên được. Xin chia xẻ với mọi người muốn chơi môn thể thao thú vị này.

Từ Tucson, theo hướng Đông Bắc, chúng tôi lái xe đến thành phố Pinetop, sau 4 giờ quanh co đèo núi ở độ cao 7200 feet, với tuyết giá bao phủ khắp nơi. Bầu trời xám xịt, bông tuyết bay lất phất đẹp như trong tranh. Giời ạ! Mới mấy tiếng trước đây, trên đường đi qua, toàn xương rồng, đá sỏi, quang cảnh hoang sơ như trong phim cao bồi Viễn Tây; bây giờ quanh mình một màu trắng tinh khôi và những cành thông trĩu nặng bông tuyết.

Quay kính xe xuống 1 chút đủ để cái lạnh tràn vào, bông tuyết đáp nhẹ trên mặt và cánh tay, hít một hơi dài, lá phổi căng phồng cái không khí trong lành, mát lạnh. Sao mà nó tuyệt vời đến thế! Có là người quanh năm sống vùng sa mạc khô cằn mới cảm nhận được cái cảm giác lâng lâng, đổi thay kỳ diệu này mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta.

Cùng đi với vợ chồng tôi là Quỳnh và Thái, đôi uyên ương rất đẹp đôi, hạnh phúc vì cả vợ lẫn chồng có cùng chung sở thích: nàng thích gì, chàng thích cái đó. Chúng tôi đi khác xe và hẹn cùng gặp tại Sunrise Ski Resort. Chúng tôi đến trước, xe Quỳnh Thái cũng đến sau khoảng nửa giờ.
 
Tôi được Thái và Quỳnh xốc nách đứng cho khỏi té.
 
Không để mất thời gian, chúng tôi vào mướn trang thiết bị (ski gear) gồm 1 cặp ski, 2 cây gậy (poles) và đôi ủng (boots) cộng thêm tiền mua vé đi Lift là đủ bộ cho môn học trượt tuyết. Vì không muốn mất nhiều thời gian và tiền bạc học trượt tuyết với với các huấn luyện viên của resort, nên Thái tình nguyện “làm thày”, chỉ tôi những động tác căn bản làm thế nào để khỏi té và biết tăng giảm tốc độ hoặc quẹo phải quẹo trái.

Nghề chơi nào cũng lắm công phu. Theo huấn luyện viên bất đắc dĩ phán ngày đầu tiên, học viên giữ được thăng bằng và học đi bộ với cặp ski nặng trịch dưới chân là đã thành công rồi. Ngày thứ hai mới nói dến chuyện trượt tuyết được nếu sáng dạ. Trong khi hai chàng miệt mài cung kiếm trên chiến trường thì Quỳnh cũng đang đi mây về gió, lao vun vút ngoài kia, trong màn tuyết rơi trắng xóa.

Cũng xin nói qua về cuộc tình đẹp như mơ Quỳnh và Thái: Cùng một chuyến tàu vượt biên, cùng 1 trại tị nạn, chia tay khi định cư, nàng dân CÀ NA ĐIÊN (CANADIEN), chàng Mỹ gốc Việt; chim én đi, nhạn về giữa hai bờ biên giới của mối tình “love without borders”, cuối cùng chàng rước được nàng về dinh, rồi từ đó cho ra đời 2 cô công chúa và 1 hoàng tử. Gia đình hạnh phúc, con cái nên người, hai ông bà giờ mới yên tâm mà nghĩ đến chính mình, bắt đầu lo “èn doi” đời sống cho chính đôi uyên ương.

Bà xã tôi vì tự lượng sức mình nên không dám tham gia, ngồi trong nhà kính nhâm nhi món Freedom Fries với cheese ngó ra coi “tướng công” của mình đang vật lộn và chiến đấu với… chính mình, tả xung hữu đột, lúc tiến công lúc lùi vào chỗ vắng thủ thế để khỏi bị người ta ủi vô mình. Ngồi coi mà bả liên tục kêu tên Đức Chúa Trời, Oh my God! O mon Dieu! Lạy Chúa con lia lịa khi thấy chàng 4 vó đưa lên trời, bàn tọa đáp xuống nghe cái đụi. Khách ngồi bên tưởng bả đạo đức lắm vì suốt buổi lẩm bẩm gọi Chúa cứu giúp, gọi Ngài cứu khổ không ngừng.

Bên ngoài nhiệt độ xuống khoảng 10 F, trời rét căm căm mà lưng tôi đổ mồ hôi hột, mặt mày căng thẳng vừa khốn khổ điều khiển cặp ski sao cho thẳng vừa la làng thật to “watch out…” coi chừng! Quân vương giáng lâm… từ trên trời xuống để thần dân tránh mình chứ mình thì vô phương tránh họ. Kẻ nào cả gan dám cản đường ta là tự mình tìm vào chỗ chết nhé, đừng trách trẫm đây vô tình.

Tưởng cũng nên nói qua về trang thiết bị cho các cụ nào chưa biết còn lạ lẫm về môn thể thao trượt tuyết này. Cặp ski được làm bằng composite (sợi carbon) vật liệu nhẹ, đầu mũi hơi cong lên phía trước, dài khoảng một sải tay. Phía trên, chỗ để đôi ủng gài vào là một dàn cơ được điều chỉnh bằng lò xo (spring loaded) sao cho khít khao mà chặt chẽ để nó sẽ ngoạm vào đôi ủng thật chặt, do đó sẽ giúp cặp giò ống điếu của ta cứng cáp hơn. Một chiếc ủng nặng khoảng 5 pounds, đươc làm bằng nhựa dẻo và dầy có 4 cái khóa răng cưa điều chỉnh độ chặt, thay cho dây giày để giữ chân mình thật sít sao. Khi mang đôi ủng vào chân rồi, trước khi bước vào đôi ski, ta bước đi như Robot Cop cứ khật khà khật khưỡng như con nít tập đi.
 
Vậy mà cũng tốt nghiệp
 
Phần cổ đôi ủng cứng để giử đôi chân ta thẳng trong khi trượt vì thế giữ thăng bằng tốt hơn. Thêm hai cây gậy (poles) bằng nhôm hoặc sợi carbon, rất nhẹ mà cứng, dùng để đẩy ta tiến về phía trước và cũng để tháo đôi ủng ra khỏi cặp ski khi ta “vồ ếch” trong tư thế tréo cẳng ngỗng mà tay không với tới đôi chân; khi đó ta dùng mũi cây gậy đẩy cái khóa để thả lỏng chân ra khỏi đôi ski. Nói chung, một cụ nhà ta tuổi 5,6 bó mà vác trọn bộ trang thiết bị đi bộ trên tuyết đến nơi mà mình muốn cũng cong xương sống, róng xương sườn.

Quần áo thích hợp cho môn thể thao này, ngoài thermal underwear (đồ lót giữ nhiệt) và phụ trang lẩm cẩm, cần áo và quần bên ngoài đặc biệt không thấm nước. Tưởng tượng một cụ nhà ta mới vào nghề như tôi, cứ té lên té xuống mà chơi cái quần jean dầy và cái áo jacket thường thì nước sẽ ngấm vào như nỗi “buồn vào hồn không tên”; nó sẽ len lỏi vào ngóc ngách kín nhất mà nó có thể bò tới được. Nói theo “pha học” thì nóng nở ra, lạnh co lại. Cái gì phải teo thì nó teo mất luôn, khi cần xài, muốn kiếm “nó” coi bộ không dễ tí nào. Chưa kể là cái ướt nó cứ lì một chỗ nhất định không di dời cho dù nhà lước “cưỡng chế” thế lào nó cũng mặc. Dọa bảo “bố náo bố nếu” cho mày đi “Bố Ná” (Bố Lá: một địa danh trại cải tạo của cộng sản sau 1975) nó cũng cóc ngán.

Vì thế để chuẩn bị và an toàn cho cái thân già, các cụ phải trang bị tận răng, thêm đôi bao tay cũng loại không thấm nước thì mới mong khi “tác nghiệp” xong vẫn còn nguyên vẹn tấm hình hài và hào khí, cờ vẫn bay, trướng vẫn phất phới mà trở lại gặp bu nó. 

Trở lại việc tu luyện võ công, phải cám ơn ông thày Thái, rất kiên nhẫn với tên học trò tối dạ mà xương cốt đang trên đà thoái hóa. Đến ngày thứ hai mà võ công Sáu Cam tôi mới vẫn chỉ dám đi chỗ Bunny slope là cái chỗ dành cho quý vị con nít trượt mà thôi, không dám mơ đến những nơi như Black Diamond slope dành cho dân nhà nghề. Thế mà cũng vẫn bị sứt càng gãy gọng như điên.

Đang mơ thành người James Bond 007 ½ (không-không-bảy-rưỡi) trong phim “The world is not enough”; tôi cao hứng tưởng mình là chàng “thông-điệp-diên” hào huê phong tê bại xụi, chợt thấy mình thả dốc lao nhanh như hỏa tiễn, vì tốc độ nhanh quá nên quíu, gió thổi rào rào bên tai, mờ mờ nhân ảnh đi qua, không còn biết phải nàm thao, đôi ski lướt qua một mô đất cao phủ đầy tuyết, thế là “bay đi cánh chim biển hiền hòa” (phim quay chậm khúc này), cả khối thịt bốc lên lộn trên không đúng một vòng; rõ ràng hai bàn tay chới với vươn ra phía trước như con chim ưng sắp sửa vồ mồi, thế mà không hiểu sao bàn tọa lại đáp xuống trước nhẹ nhàng như… bao gạo, ski bay đằng ski, gậy đi đằng gậy, nón len đi một nẻo, may mà 2 con mắt vẫn còn, xin lỗi, cặp kiếng đeo mắt vẫn còn mà mặt mũi tóc tai phủ đầy tuyết.

Nói các cụ thương, người Mỹ có câu “No pain no gain”, tôi tự an ủi là chưa “để lại cái nón sắt bên bờ lau sậy này” là hên lắm rồi, tuy nhiên miệng vẫn lẩm bẩm “có bầm thân, mới thành nhân”.

Hai ngày khổ luyện qua mau chóng, chàng hào kiệt bước vào chốn giang hồ mưa máu gió tanh. Ngó qua ngó lại thấy cao thủ thi triển khinh công ào ào như gió cũng hơi chột dạ. Nhiều cao thủ mới 6,7 tuổi mà sao chúng nhà nghề quá xá!
 

Đồ nghề trượt tuyết: 1 cặp ski, 2 cây gậy và mũ an toàn.
 
Rồi cũng tới lúc phải “xuống núi” theo lời sư phụ, tôi xếp hàng leo lên cái ghế cáp treo (lift) như người ta, ngồi kế một trự khổng lồ, hắn ta nhìn tôi thật nhanh và hỏi: “First time?” Thằng này tinh thật! Chắc thấy bộ dạng ngơ ngáo, ngô ngố, ngồ ngộ như gà mắc đẻ của mình, hắn biết ngay là lính mới tò te. Rồi cả hai cũng lên dần đến đỉnh đồi. Lúc sắp tới nơi, vì cứ tưởng ghế treo phải dừng lại rồi mình mới xuống, không, nó không bao giờ dừng mà cứ tiếp tục di chuyển xoay thành một vòng tròn (loop), mình phải nhẩy, do không chuẩn bị trước nên tôi ngồi ngây như tượng gỗ đến lúc tên khổng lồ hét to “jump”, tôi chợt tỉnh, vội vàng phóng cái ào xuống với cặp ski và gậy, loạng choạng, ski (chân) nam đá ski (chân) xiêu, ngã bổ chổng, 4 vó lại đưa lên giời, lồm cồm ngồi dậy được đúng lúc cái ghế trống phía sau vừa trờ tới giáng thêm 1 cái nên thân vào đầu, ba mươi sáu ông sao quay mòng mòng, may nhờ lúc nhỏ trong nhà rất cứng đầu bị gọi là thằng “đầu bò đầu biếu” nên thiết thủ đầu vương này sống sót hay nhờ cái nón len dầy cộm “kíu” mạng chứ không là bị “cắt (cách) mạng” rồi.

Khoan đã, chưa hết tuồng, còn phải xuống núi nữa mới được được sư phụ cho cái “lai xần”, cấp bằng trượt tuyết. Gió vù vù bên tai, người người bỏ lại hai bên, mặt vểnh lên nhìn đời bằng cả hai con mắt, (nhìn bằng nửa con mắt là có cơ vào nhà thương tú đờ xuỵt) lòng sướng hiu hiu, đôi ski thấy nhẹ nhàng tự tin, cứ phom phom mà xuống núi như đi chơi. Cảm giác như là trên đời này chả đứa nào bằng ông, khi ngó lại, ông cũng chẳng bằng đứa nào!

Rồi cũng tốt nghiệp trượt tuyết như người ta. Giống như bác sĩ thường hỏi bệnh nhân than đau đớn khi khám bệnh là “of the scale of 10, where are you?” (từ 1 đến 10, bạn đau cỡ nào?), nếu bệnh nhân trả lời number 8, nghĩa là 8 trên 10, đau lắm, còn 5/10 thì đau vừa.

Riêng “trình độ” trượt tuyết của tôi, xin thưa các cụ là nhà cháu số 10/10, nghĩa là đội sổ. Dầu sao cũng vẫn được lên lớp là vui rồi!

Chưa bao giờ tôi thấm thía hai chữ “mệt nhừ” đúng nghĩa như lúc này. Đã mệt mà còn bị nhừ nữa các cụ ơi! Bắp thịt đau nhức, xương cốt rã rời tưởng long ra thành từng khúc. May mà về lại khách sạn, được ngâm mình vào hồ nước nóng (Jacuzzi) mà người trong nước gọi là “bể sục”, có water jets (luồng nước nóng áp suất mạnh) mát xa các đốt xương, ôi chao nó đã nàm thao ấy! Dựa lưng vào thành hồ, để nước nóng mơn trớn làn da và các bắp thịt mệt mỏi, tay cầm chai bia lạnh, ngó xuyên tường kính ra ngoài trời, tuyết trắng xóa đang rơi tơi bời (tombe la neige), thánh cũng không bằng!

Về lại phòng, ngả lưng lên giường là tưởng như đến niết bàn! Thăng ngay lập tức.

 Tác giả:   Nguyễn Văn Tới   
 
Related image

Image result for Học Trượt Tuyết photos

   Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang   db43c148
 
 
 
Photo:
Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. 
Sống ngày nào, vui ngày nấy.
- Qua một ngày mất một ngày.
- Vui một ngày lãi một ngày. 
Hy vọng những điều tốt đẹp sẽ đến... với tất cả mọi người. 
 
<@> Mong gặp lại.
 
Related image 
Image result for fallingsnow skiing photos
Related image
Related image
Image result for fallingsnow skiing photos
Related image
Image result for falling snow skiing photos
How to Parallel Turn
Xem thêm...
Theo dõi RSS này