Truyện

Truyện (192)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Tình Bạn Thân Thương

 Tình Bạn Thân Thương 

 
109 bài thơ về tình bạn thân hay, sâu lắng, dạt dào tình cảm
 
Tôi và Tý cùng được bổ nhiệm dạy trường trung học Hòa Vang, một quận ngoại ô thành phố Đà Nẵng. Tôi dạy Lý Hóa Sinh, Tý dạy Pháp văn, thành ra thân nhau.
 
Mùa xuân năm 1975, tôi và Tý đã mất việc vì liên hệ lý lịch xấu của chồng. Phan xuân Phương chồng tôi và Nguyễn văn Xương chồng Tý đều đi tù tại Miền Bắc Vietnam. Trong thời gian nầy chúng tôi thường gặp nhau tâm sự an ủi và trao đổi thư từ của hai ông chồng đã gởi về. Sau gần sáu năm, Phan được trả tự do vào mùa Xuân 1981. Còn Nguyễn phải ở lại tù đến 9 năm. Rồi từ đó, chúng tôi bảo nhau qua lại đến thăm nhau mỗi tuần một lần. Khi thì đúc bánh xèo, lúc thì nấu mỳ Quảng, hoặc đổ bánh bèo, cùng nhau ăn uống vui vẻ, cũng là để bồi dương cho 2 ông chồng sau những năm cơ cực trong lao tù CS.
 
Đến năm 1989 có chủ trương cho những người tù của chế độ cũ được ra đi định cư ở Mỹ theo diện HO. Chúng tôi cũng bảo nhau hằng đêm đốt nhang cầu nguyện Phật Tổ cho hai gia đình cùng đi Mỹ trên một chuyến bay và cùng được định cư một chỗ để được gần nhau như xưa. Đúng như điều mong ước,chúng tôi được sắp vào danh sách HO.4, cùng rời Tân Sơn Nhất ngày 6/9/1990 và cùng đặt chân đến phi cảng quốc tế Los Angeles vào chiều thứ sáu 13/9/1990. Tại đây hai gia đình chúng tôi chia tay nhau.
 
Gia đình Tý và Nguyễn sang Boston bang Massassuset, còn gia đình tôi về Michigan, vùng có Ngũ đại Hồ lạnh giá. Ở Vietnam gặp nhau hằng tuần, đến xứ người tưởng được gần nhau,nhưng lại xa nhau, khiến chúng tôi bùi ngùi lưu luyến. Tý là người mập mạp, vô tư ăn ngủ dễ dàng, còn tôi ngoài cái dáng mảnh khảnh lại thêm tính hay suy nghĩ và mềm yếu. Hai chúng tôi trái ngược nhau, nhưng rất thân nhau bởi vì cùng một quan niệm coi tình cảm là quí hơn tiền bạc. Ôm nhau một lần rồi chia tay đôi ngã. Khi lên máy bay, còn đang loai hoai tìm chỗ ngồi để nghĩ mệt vì đã qua một đường bay quá dài, ít ăn và không ngủ nên cơ thể bất an.
Thình lình nghe các con tôi ôm nhau và la lớn: “Xuống gấp kẻo máy bay cất cánh, có người ở Santa Ana đến bảo trợ.” Mọi người trên máy bay đều nhìn chúng tôi và nghĩ rằng chúng tôi là lũ người điên, vì thấy chúng tôi lục tục kéo xuống. Lần đầu tiên trong đời trên xứ Mỹ tự do, tôi đã mang ơn và luôn nhớ ơn một người Mỹ da màu, đó là bà Julie, một người gốc Phi Châu, sinh trưởng ở Hawai làm việc tại trại tị nạn ở Thailand đã giúp đở tôi liên lạc gấp rút với người Ana. Nhờ đó chúng tôi đã định cư tại nơi đây hơn 10 năm qua. Chúng tôi rất sung sướng được về vùng nắng ấm California có khí hậu giống với Miền Nam Vietnam.

Sau hơn nửa năm mất liên lạc, tôi lại nhận được thư Tý và từ đó cũng giao hẹn mỗi tháng gọi thăm nhau qua lại một lần. Thời gian cứ tưởng êm đềm trôi nhanh trên xứ người. Nào ngờ hơn một tháng không thấy Tý gọi qua, tôi vội gọi Tý, mới hay Tý vào nằm bệnh viện đã nửa tháng. Theo như lời Nguyễn, Tý bị sạn mật phải cắt bỏ túi mật, sau khi mổ thì bác sĩ cho biết gan cũng đầy sạn nên phải mỗ gan lấy sạn ra cho hết. Chỉ rong vòng nửa tháng ở bịnh viện, Tý không ăn uống được, phải truyền dưởng trấp qua một ống dây đưa vào thực quản, nên Tý sụt mất 20 Lbs. Sau đó Tý được bịnh viện cho về thăm nhà và con rồi vào mổ tiếp lần thứ hai.
 
Tôi được nói chuyện với Tý mới biết Tý chỉ đau lâm râm vùng sườn bên phải nhưng chồng Tý lo sợ trợ cấp y tế miển phí bị cắt giảm thì không có tiền để chửa bệnh, nên gấp rút đưa vợ đi mổ mà không tham khảo với nhiều bác sĩ khác ở ngoài bệnh viện hoặc hỏi ý kiến thân nhân và bạn bè.

STT hay về Tình Bạn thân ngắn buồn vui hài hước bá đạo chất nhất
Sau khi mổ, Tý bảo cô ta đau đớn quá sức không rục rịch hoặc xoay trở được thân người,nước từ gan chảy ra cứ thấm ướt cả quần áo mặc dù có một ống dây nhựa đưa từ gan ra một túi nilon đặt bên ngoài sườn phải. Mỗi đêm phải thay hai ba lần quần áo mà nướcvẫn thấm ướt lạnh cảlưng. Qua đó, tôi biết bệnh tình của bạn tôi rất là trầm trọng và khó khăn vì sự quyết định quá vội vàng của chống Tý.. Tôi chỉ biết an ủi để Tý được an tâm. Tôi không thể nào quên được lời nói của Tý: “Chắc Tý chết quá Lê ơi, chỉ tội nghiệp cho thắng út Tú còn quá nhỏ mới 8 tuổi, sợ Nguyễn lấy vợ khác sẽ khổ cho nó”. Tôi gắng gượng cười nói để Tý an tâm: “Không sao đâu, Tý cứ an tâm, Nguyễn bảo đây là bệnh viện lớn nhất nước Mỹ và nổi tiếng nhất thế giới, bịnh tình của Tý sẽ thuyên giảm”.

Vào đúng rạng sáng ngày lễ Lao Động của Mỹ năm 1993, Tý nhập viện sau một cơn đau dữ dội để mổ gấp rút, với vết thương quá nặng ở gan, kèm theo sự bất cẩn của y tá đút lộn ống dây vào khí quản thay vì vào thực quản, nên Tý nghẹt thở và đã ra đi vĩnh viễn. Đây là sự thật như lời Nguyễn kể, và theo thiển ý của tôi cần phải quyết định thận trọng qua sự tham khảo với nhiều bác sĩ cũng như bạn bè vào người thân để đi đến quyết định sống còn của một con người, không thể dựa vào sự miễn phí của bảo hiểm y tế để giết chết sự sống của bạn tôi. Tôi thầm nghĩ nếu chưa mổ xẻ, bạn tôi sẽ chưa chết sớm như vậy. Tôi mất bạn thân, tôi đau đớn vô cùng trong suốt tám năm qua tôi cố quên, nhưng vẫn nhớ không biết Nguyễn mất vợ anh ta có đau đớn như tôi không?
Hiện tại các con của Nguyễn đã thành danh. Cháu lớn đã tốt nghiệp kỷ sư lương khá cao, cháu nhì là một nhà nghiên cứu khoa học và cháu út chuẩn bị vào đại học. Riêng với Nguyễn đã có một bạn đời khác ngay sau đó, trẻ hơn anh 15 tuổi với nhan sắc tầm thường không mặn mà như Tý. Tôi còn nhớ lời Nguyễn bảo với tôi khi Tý vừa mới mất: “Chắc tôi chết mất chị Lê ơi. Mất Tý tôi không thể nào sống nỗi, tôi sẽ ở vậy nuôi thằng Út”. Tôi cũng buồn và khuyên anh ta: “Thôi anh a, có buồn cũng chẳng được gì, thời gian sẽ trả lời tất cả những điều anh nói hôm nay. Tôi chỉ cần anh ở vậy chín năm để nuôi thằng Út đến lúc vào đại học và ra đi làm để bù với những tháng ngày Tý nuôi con thăm chồng là đủ rồi.”. “Tý ơi, việc xảy ra ngoài ý muốn của tôi, chính tôi đang sống mà không còn giữ được chồng mình, thì làm sao tôi giữ được Nguyễn choTý, người đã chết. Dù sao sự hy sinh của Tý vẫn có ý nghĩa hơn những gì xảy ra trong thường tình mà tôi là người còn sống đã thấy được và chắc Tý ở thế giới bên kia cũng thấu hiểu tình tôi đối với bạn”.

Mùa xuân năm 1995, tôi về thăm lại VN sau khi học xong Đại học Đông y và thi đậu bằng hành nghề châm cứu và thuốc bắc tại Mỹ. Tôi ghé về quê, thăm mẹ Tý, thấy thật thương tâm bởi lẽ bà đã quá đau khổ vì sau khi Tý qua Mỹ được nửa năm thì chồng bà chết. Khóc chồng, phần trông nhớ con, bà đã mù hẵn đôi mắt và đang ngồi chống gậy trông ra ngõ chờ Tý. Khi thấy bà, tôi không cầm được nước mắt và cố nín khóc mà nước mắt cứ tuôn rơi. Bà hỏi tôi từng tiếng gần như hụt hơi: “ Sao đi cùng một lần mà không rủ nhau cùng về”. Lời nói êm như một câu trách móc. Tôi cảm thông với nổi đau đớn tận cùng của bà và thầm nghĩ lại lời các con và chồng tôi dặn: “ Về VN gặp mẹ cô Tý phải gắng khôn khéo nói dối để khỏi lộ chuyện cô

Mẹ ơi, chiều 29 con về
Tý mất cho bà yên tâm sống trong hy vọng.. Nói dối nầy không hại gì ai nhưng nuôi được sự sống nên tôi phải làm thế, tuy rằng tính tôi hay nói thật. Tôi trả lời nhanh: “Qua Mỹ con sẽ kể hết cho Tý nghe nỗi nhớ thương, trông chờ của bác đối với nó, và tết năm tới tụi con sẽ cùng về thăm bác. Bác cố gắng tịnh dưởng cho khỏe”. Bà bảo: “Tao cố gắng sống để chờ hai đứa bay cùng về thăm tao một lần”. Bà cầm chặc tay tôi, không cho ra về mặc dù bên ngoài trời đã gần tối hẵn.
Cậu học trò cũ của tôi là em của Tý bảo: “Mẹ buông tay cô ra để cô ấy về kẻo tối vì mai cô phải vào Saigon và qua Mỹ lại.”Tôi vội bước nhanh ra khỏi cửa như trốn chạy hình ảnh thương tâm mà tôi đã chứng kiến.

Trên con đường từ Hòa Vang về Đà Nẳng, ngang qua trường Trung Học Hòa Vang nơi hai chúng tôi đã dạy học, tôi bùi ngùi nhìn vào con đường đất đỏ dẫn đến nhà Tý với hàng dừa xanh mượt ngã la đà nặng trỉu trái. Cũng tại nơi đây chúng tôi thường song đôi chuyện trò, còn các nhóc học sinh chạy nhảy nô đùa. Nước dừa ngọt mát cuống họng sau khi ăn những chén bánh bèo cay nóng chỉ còn là dư hương ngày cũ. Cảnh vật không thay đổi nhưng bạn thân đã vĩnh viễn ra đi không bao giờ gặp lại.
Tôi chưa hứa cụi với ai một điều gì, nhưng sao lòng tôi cứ ân hận mãi điều tôi hứa với mẹ Tý, mà tôi biết không thể nào thực hiện được mà vẫn cứ hứa. Chắc Tý và mẹ đã gặp nhau bên kia thế giới cũng thông cảm và tha thứ cho tôi… Gió lạnh của mùa xuân thấm vào lưng làm tôi ớn lạnh nghĩ rằng hồn Tý đã quyện với trời xanh mây trắng đang bay cao để chứng kiến cho tình cảm của tôi đối với bạn. Tý cứ yên tâm an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng, vì nơi đó không có sự lừa dối phản bội, nơi mà trong đời cuối cùng ai cũng đến.
Ở nơi đây cõi trần tạm bợ, có một người bạn luôn luôn nghĩ đến Tý. Tình bạn bất vụ lợi của chúng mình, thân quí nhau vì tình nghĩa, dù rằng tiền bạc là phương tiện của cuộc sống nhất là trên một xứ sơ mà đạo lý luân thường thiếu sót, chỉ có chủ nghĩa cá nhân, vật chất là trên hết.
 
Tôi viết những dòng nầy để tưởng niệm bạn tôi và vơi đi nổi buồn đã mất bạn thân trên xứ người, và cũng để cảm ơn Trời Đất đã dung dưởng bảo bọc gia đình tôi bình an hơn mười năm ly hương. Cũng tại trên đt tự do nầy, tôi có cơ hội tiếp tục học lại nghề đông y của ông nội và cha tôi mà tôi hằng mơ ước. Chỉ tại nơi đây nhờ sự giúp đở tài chánh của chính phủ Mỹ, tôi mới có phương tiện để làm lại từ đầu và thể hiện thành công ước mơ nhỏ bé nầy. Tuy rằng đời sống không giàu sang dư dã, nhưng cũng được sống đầy đủ trong quảng đời còn lại...
 
 
Tác giả Ythái Lê.

 
                      Cúc Bạch sưu tầm                        
Xem thêm...

Hâm nóng tình già

Hâm nóng tình già

Nguyễn Thị Thanh Dương

Hình vẽ Bảo Huân

Chị Bông gởi tâm sự cho chị Ngân Bình phụ trách mục “Tình Chàng Ý Thiếp” của một tuần báo. Chị than thở chuyện tình cảm hai vợ chồng già nhà chị lúc nào cũng xung khắc cãi nhau.

Ông ấy lát gạch vườn sau chỗ cao chỗ thấp làm chị Bông vấp ngã mấy lần đã không biết điều xin lỗi còn mắng vợ xớn xác.

Chị Bông tiết kiệm ngân quỹ gia đình, ở nhà chuyên mặc đồ thừa của con gái thì ông ấy nói quần áo ngắn cũn cỡn, váy màu mè xanh đỏ như bà bóng …

Chị Ngân Bình khuyên rằng tình vợ chồng bao năm đã cũ mòn rồi, như nồi phở để nguội mất ngon chị cần phải hâm nóng lại.

Chị Bông bèn mạo muội gọi phone chị Ngân Bình để nghe lời khuyên cụ thể hơn:

– Hâm nóng tình già cách nào hả chị?

Chị Ngân Bình hùng hồn:

– Chị hãy làm một chuyến đi xa, nhân dịp này vừa thăm con cháu vừa tạo khoảng cách cho ông chồng chị cảm thấy trống vắng, thương nhớ chờ mong.

Chị Bông lo lắng:

– Nhưng… lỡ kết quả ngược lại là chị… chịu trách nhiệm nghe.

Ðến lượt chị Ngân Bình lo lắng:

– Ủa, tôi đã giúp chị lời khuyên mà còn  chịu trách nhiệm… vụ gì ??

– Tôi thấy mấy ông già vắng vợ, xa vợ dễ ngã lòng lắm, chồng tôi được tự do một mình lỡ ông ấy ra vào mấy quán cà phê đèn mờ có mấy cô tre trẻ phục vụ thì tình vợ chồng nhà tôi không những hâm nóng còn cháy khét luôn đó.

Chị Ngân Bình tự tin:

– Tưởng gì. Bao năm qua chồng chị vẫn ngoan hiền thì làm gì dám “đổi đời” ghê gớm thế…

Chị Ngân Bình nói đúng, có lẽ tình vợ chồng mấy chục năm đã cũ mòn, đã giết chết tình yêu thuở thanh xuân nên người ta đối đãi với nhau không cần gìn giữ, không cần làm đẹp lòng nhau nữa. Ðằng nào cũng là vợ là chồng, xung quanh vòng vây nào con cháu, nào tiền bạc, nào đạo lý, thân nhân họ hàng, bè bạn gần xa, những sợi dây vô hình buộc chặt cuộc đời họ bên nhau khó đứt lìa.

Chị Bông thèm được chồng trân trọng quý mến, thèm được chồng nâng niu yêu thương như thuở ban đầu, cái tình cảm đã mất đi từ lúc nào không hay sau mấy chục năm chồng vợ khi tuổi đời chồng chất.

Nhất định chị sẽ hâm nóng lại tình già nguội lạnh theo lời khuyên của chị Ngân Bình, tình cũ sẽ làm cho mới lại, chị sẽ “đi xa” một khoảng thời gian để anh Bông thấy vợ là cần thiết.


 

Chị tuyên bố cho chồng bất ngờ xem phản ứng anh thế nào:

– Em sẽ đi tiểu bang California thăm con gái và cháu ngoại.

Anh chẳng ngạc nhiên, chẳng “xót xa” vì vợ sắp đi xa mà còn hào hứng tán thành:

– Phải đấy, phải đấy, bà nhớ con nhớ cháu muốn đi thì cứ việc đi.

Chị Bông chạnh lòng nghĩ thầm: “Ðã thế tôi sẽ đi thật lâu cho ông biết thế nào là… tình xa nhé”.

Chị mua vé máy bay đi California 2 tháng. Anh Bông vui vẻ chở vợ ra phi trường và dặn dò:

– Nếu tôi… quên thì gần ngày về bà phone nhắc tôi ra phi trường đón nha.

Trời ơi, thì ra chồng chẳng chờ mong ngày vợ về sao? Ai lại có thể quên ngày… đoàn tụ nhỉ?

Chị Bông tưởng lúc chia tay sẽ bịn rịn lưu luyến. Nhưng anh Bông luôn miệng giục giã:

– Bà vào trong sớm đi cho thoải mái.

Rồi anh Bông hăng hái xách phụ vợ cái túi xách khi chị đứng xếp hàng chờ kiểm hành lý.

Cứ làm như anh muốn tống một của nợ đi cho khuất mắt.

Chỉ có gia đình con gái là bất ngờ thôi. Con gái đón chị Bông về nhà và phân bày:

– Mẹ đột ngột đến thăm, con vội sửa soạn phòng, không biết có thiếu sót gì không?

– Mẹ muốn làm… bất ngờ cho con cháu vui mà, mẹ nhớ con cháu quá nên đến thăm và ở hai tháng đấy.

Con rể cảm động:

– Thật vui khi có mẹ đến chơi, các cháu sẽ tha hồ vòi vĩnh bà kể chuyện và nấu nướng món nọ món kia.

Thế là một công đôi việc, vừa thoả lòng thăm con cháu chị Bông vừa tạo không gian khoảng cách xa nhà để nơi kia chồng sẽ nhận ra vắng mụ vợ già cũng trống trải biết bao.

Nhưng ở với con cháu mới được 5 tuần lễ chính chị Bông đã cảm thấy nhớ nhà, nhớ tất cả những gì liên quan đến đời sống quen thuộc hàng ngày của mình, chị nhớ khu phố mình ở, nhớ cả chợ búa thường đi mỗi cuối tuần.

Chị Bông bảo con đổi vé máy bay về nhà sớm. Chị quyết định không báo cho chồng biết, chị lại muốn chồng bất ngờ, 5 tuần lễ xa nhau đủ cho chồng thấm thía nhớ thương.

Về đến phi trường chị Bông hồi hộp và sung sướng gọi taxi chở về nhà.

Căn nhà thân yêu đây rồi, chị tưởng tượng khi cánh cửa mở ra chồng sẽ mừng rơn ôm chầm lấy vợ, chị sẽ cảm động rưng rưng nói một câu nũng nịu tình tứ:

-Em nhớ anh nên về sớm đó. Anh có nhớ em không?

Anh sẽ như ngày xưa lãng mạn ngọt ngào nói một câu đã đọc được trong tiểu thuyết:

– Những ngày không em đời anh là hoang vu sa mạc.

Nhưng không, anh Bông đứng sững sờ nơi cửa không thốt nên lời. Chị Bông phải lên tiếng:

– Anh kinh ngạc và chết lặng như vừa thấy người từ cõi chết trở về vậy hả? Em, Bông đây mà.

Bây giờ anh mới… hồi tĩnh và hỏi một câu vô duyên:

– Sao bà về sớm thế?

Chị Bông chưa kịp đáp anh thêm câu vô duyên khác:

– Ði thăm con cháu thì ở lại vài tháng cho đã đời đi. Về làm chi…

Chị Bông biết tính “ăn ngay nói thẳng” của chồng, xưa nay nghĩ sao nói vậy không hình thức bề ngoài cho vừa lòng vợ nhưng chị vẫn cụt hứng. Nhìn nét mặt của chồng chị Bông nghi ngờ:

– Anh sao thế? Nhìn mặt anh như chưa tỉnh một cơn mê, cứ làm như em có tội với anh khi bất chợt về nhà sớm vậy đó.

– Chứ còn gì nữa…

– Trời ơi… anh có chuyện gì mờ ám hả? Hả?

– Tôi đang… nghe những bản nhạc tình Bolero bà về không đúng lúc.

Bây giờ chị Bông mới để ý lắng nghe tiếng nhạc vọng ra từ trong phòng, giọng Hoàng Oanh đang tha thiết năn nỉ ỉ ôi: “Chỉ hai đứa mình thôi nhé… đừng cho trăng nép sau hè… chỉ hai đứa mình thôi nhé… trần gian thanh vắng tứ bề…”

Chị Bông gắt:

– Nhạc gì thì cũng là nhạc, liên quan gì đến chúng ta?

– Có chứ. Bà bình tĩnh đừng tưởng tượng quá xa xôi, nghe tôi nói những lời chân thật từ đáy lòng đây. Nhờ bà đi vắng dài hạn tôi bỗng như anh chàng trẻ tuổi độc thân, chẳng nấu nướng gì cả, cơm hàng cháo chợ mà bà vẫn chê bai toàn là gia vị độc hại, bột ngọt, dầu mỡ muối đường không tốt cho sức khỏe ấy, nhưng lạ và ngon khác với cơm bà nấu.

Tôi đã có những ngày tự do thoải mái, muốn ăn gì thì ăn, đi đâu thì đi, làm gì thì làm mà không sợ bị bà xía vô hoạnh họe cấm cản hay liếc dọc liếc ngang vào ra lẩm bẩm. Lúc nào rảnh nằm nghe những bản nhạc tình cảm Bolero tâm hồn tôi lãng mạn, ướt át chơi vơi cảm xúc. Ðang mơ màng thế cho nên thấy bà đột ngột trở về, đứng lù lù nơi cửa tôi không… giật mình sao được.

Chị Bông giận hờn:

– Em hiểu rồi, thì ra anh đang quay về lứa tuổi hai mươi thương nhớ vu vơ đấy… “Chỉ hai đứa mình thôi nhé” bảo đảm là không có hình bóng của em, vì người ta chỉ thương nhớ những gì đã mất, còn những thứ đã đạt được trong tay như em đây có đi xa, đi vắng hay…tiêu đời luôn càng tốt phải không anh?

Anh Bông chẳng thèm dỗ dành vợ mà tỉnh bơ nói tiếp:

– Thí dụ… ngày đó tôi không lấy được bà thì bà mãi mãi là người trong mộng của tôi.Tình yêu thời tuổi trẻ và tuổi già khác nhau xa, ngày xưa hai chúng mình cứ nôn nóng đòi làm đám cưới gấp, một ngày không có nhau là một ngày hoang phí. Nhưng bây giờ có khi vắng xa nhau một ngày là một ngày dễ chịu, dễ thương…

Anh xuống giọng tràn đầy tình cảm:

– Cám ơn bà đã vắng nhà mấy tuần cho tâm hồn tôi trẻ lại. Tóm lại lâu lâu mình cũng cần “chia xa” cho… tình gần nhau hơn.

Chị Bông khen:

– Em mới đi vắng vài tuần mà anh đã ảnh hưởng Bolero quá chừng, ăn nói lãng mạn hẳn ra. Có xa cách mới biết nhớ thương nhau, đó là mục đích của em, em sợ tình nguội lạnh nhạt phai nên đã hâm nóng tình già, tình cũ của chúng mình.Coi như em vắng nhà là đã tặng anh một giấc mộng thanh xuân, tuy ngắn ngủi nửa vời…

– Giấc mộng nào chẳng dở dang nửa vời, có bao giờ chúng ta ngủ mơ đầy đủ một câu chuyện đâu. Có bà bên cạnh là tôi trở về thực tế rồi, bây giờ tôi có nghe thêm hàng trăm bài nhạc tình Bolero mùi mẫn cũng chẳng chạnh lòng nổi, chẳng mộng mơ nổi. Ðể tôi đi tắt nhạc và chiều nay tôi khỏi lái xe đi ăn cơm tiệm, bà nấu gì tôi ăn nấy.

Chị âu yếm nói với chồng:

– Hôm nay em sẽ nấu cho anh một bữa cơm ngon sau 5 tuần lễ xa nhà nhưng không phải chỉ bằng thịt cá rau củ gia vị hành ngò. Ðố anh biết là món gì?

Anh Bông tươi cười:

– Bà làm như bà là cô giáo và tôi là thằng học trò nhỏ của bà để bà “đố vui để học” hả. Tôi nghe bà nói hàng trăm lần rồi, bà nấu bằng tất cả tâm tình của bà chứ gì. Tôi hiểu bà từ đời nào, cũng như bà đã hiểu tôi từ kiếp nào. Cám ơn bà đã hâm nóng tình già, tuy cũ mòn theo thời gian nhưng nó vẫn còn đấy đi đâu mà mất.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

-------------

Hình minh họa- Internet

Ngọc Lan sưu tầm

Xem thêm...

Truyện Ngắn: NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH- Phan Xuân Sinh

NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH


Truyện ngắn của Phan Xuân Sinh 

Tôi từ Sài Gòn về hôm nay thì ngày mai đám giỗ má tôi. Thằng em út tôi đề nghị sáng hôm sau dậy sớm để vào thăm mộ má trước, tới chiều mới làm mâm cơm đám giỗ má sau. Tôi quên không hỏi nó bây giờ má chôn ở đâu? Vì trước đây tất cả mồ mả được qui hoạch chôn vô một chổ, chứ không có nhiều nghĩa địa như ngày xưa. Tối hôm đó tôi đi chơi với mấy thằng bạn tới khuya mới về rồi đi ngủ, còn mọi chuyện thằng em tôi lo tất cả…

Sáng dậy sớm uống một ly cà phê, rồi nó chở tôi trên chiếc xe honda của nó. Tôi chỉ hỏi đường đi có xa không? Nó bảo là đi chừng một tiếng đồng hồ. Rồi hai anh em cứ thế mà đi. Hơn hai mươi năm không về Đà Nẵng, tôi không còn nhớ đường xá, nhất là trong thời kỳ tốc độ xây dựng chóng mặt, nên mọi nơi chốn đều lạ lẫm với tôi. Tôi nhớ thằng em chở tôi qua cầu Trịnh Minh Thế, rồi nhắm hướng chùa Non Nước.

Qua khỏi chùa Non Nước thì tôi không còn biết nơi chốn nó đi tới, vì hai bên đường nhà cửa san sát, nó không còn là đồng quê. Ngày xưa nơi đây là đồng không mông quạnh, là vùng oanh kích tự do. Đơn vị của tôi thường đi hành quân trên vùng nầy, nhưng bây giờ nó đã trở thành một thị trấn khá tấp nập. Đúng là vật đổi sao dời.

Thằng em tôi ngừng xe lại một quán mì Quảng bên đường, nó nói là anh em mình vào ăn một tô mì rồi đi tiếp. Nó sực nhớ là tôi ở Mỹ về nên nó hỏi: “Mà anh có ăn được không? Đây  là quán bình dân, ăn cốt cho no chứ không ngon”. Tôi gật đầu, ngầm bảo với nó là ăn được.

Tôi nhớ ngày xưa còn nhỏ, nhà nghèo đâu dễ gì ăn được một tô mì dù là mì bình dân như bây giờ. Một tô mì phải độn thêm vào hai chén cơm, một muỗng nước mắm mặn. Nó không còn hương vị của mì, thế nhưng khi ăn xong vẫn còn thèm thuồng. Bà chủ quán mang ra hai tô mì, rồi bà nhìn chăm chăm vào mặt tôi như soi mói một cái gì. Có lẽ bà thấy tôi trắng trẻo mập mạp, nên bà nghi tôi không phải dân ở đây.

Thành phố Đà Nẵng về đêm

Tôi cúi đầu hì hụp ăn như không cần biết mọi vật chung quanh mình. Tô mì rất thân quen với con mắt của tôi mặc dù mấy mươi năm mới thấy lại. Cũng vài con tôm bạc, vài lát thịt mỡ, vài cọng hành, một ít đậu phụng rang và nửa cái bánh tráng nướng. Chế biến đơn giản nhưng mùi vị y chang như thời xa xưa mà tôi đã từng nếm qua nhiều lần. Mấy chục năm trên đầu lưỡi của tôi đã tiếp nhận biết bao thứ đậm đặc gia vị, tôi nghĩ rằng cách nấu nướng đơn giản của vùng quê mình sẽ không được ngon miệng.

Thế nhưng tô mì nầy đã làm cho tôi giật mình cảm thấy đã tìm về được nét “đậm đà bản sắc dân tộc” (mà người trong nước hay dùng từ nầy để chỉ những phong tục, tập quán, lễ nghi v.v…mang tính riêng của quê hương). Tôi ăn ngon lành như vừa mới khám phá ra món lạ. Thằng em ngồi bên cạnh thấy tôi ăn nó gật gù thích thú.

Khi ăn xong ngồi uống nước, tôi hỏi bà chủ quán về địa danh vùng nầy. Bà cho biết đây là xã Hòa Lân, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Bà hỏi tôi đã từng đi qua vùng nầy lần nào chưa? Tôi trả lời với bà trong thời chiến tranh tôi có đi lại vùng nầy vài ba lần. Tôi hỏi bà xã Hòa Lân có một cái chùa cách đây bao xa? Bà chỉ tay vào phía trong cách chừng sáu bảy trăm mét. Có lẽ bà tự hỏi tại sao ở đây tôi biết có một cái chùa? Phải là người thân quen với vùng nầy. Chính vì thế bà đọc được trên nét mặt của tôi có chút gì thân thiết, nên bà trả lời rất cặn kẽ và đượm một tí cảm tình.

Tôi nhớ lại năm 1972, trong một cuộc hành quân tại vùng nầy, trung đội của tôi khám phá được một căn hầm y tế gần cái chùa của xã Hòa Lân. Dưới hầm có một nam bác sĩ và một nữ y tá. Thường thường khi phát hiện được một căn hầm thì chúng tôi cột mấy thỏi chất nổ TNT thả xuống theo đường thông hơi rồi giật sập, để tránh trường hợp mở đường máu tẩu thoát. Thế nhưng hôm đó tôi lại không cho lính làm vậy. Sau khi bố trí lính nằm chung quanh hầm  chỉ chừa một khoảng để tác xạ, rồi kêu gọi những người dưới hầm lên đầu hàng, nếu không lên chúng tôi buộc lòng phải phá sập hầm.

Chúng tôi thấy từ dưới hầm chui lên hai người, một nam và một nữ, họ cho biết là dưới hầm không còn ai. Hai người đến gần tôi và yêu cầu tôi cho họ gặp người chỉ huy cuộc hành quân. Tôi nói với họ là người chỉ huy trên máy bay trực thăng, chỉ có tôi trực tiếp tại đây, anh cần gì? Anh chỉ xin một điều là đừng bắn anh. Tôi cười vỗ vai anh, không có ai làm gì anh hết, yên tâm. Anh nhìn tôi với một sự nghi ngờ không biết tôi có thực quyền che chở cho anh không? Anh cho tôi biết anh là bác sĩ và người con gái là y tá, hai người mới đến vùng nầy.

Người bác sĩ trạc bằng tuổi tôi lúc đó, người miền Bắc, khuôn mặt rất tuấn tú. Chỉ có nước da trắng xanh có lẽ vì ban ngày phải nằm dưới hầm. Tôi mời anh hút thuốc để trấn an sự sợ hãi. Có lẽ người ta tuyên truyền rằng chúng tôi là những con người khát máu, lòng dạ lang sói, không một chút tình người, chỉ biết chém giết. Một điều may mắn cho hai người là hôm đó chúng tôi không phá sập căn hầm, cho nên hai người mới được sống sót.

Ngồi chờ máy bay ở sân chùa, anh thấy anh em chúng tôi nói cười vui vẻ không có một chút gì ghê gớm, trên khuôn mặt hồn nhiên. Dần dần sự sợ hãi cũng mất đi, anh thành thật trả lời những gì tôi hỏi. Thật tình thì tôi chỉ hỏi những vấn đề sinh sống ở miền Bắc vì hiếu kỳ muốn biết, chứ không có tính cách khai thác. Tôi biết lúc ấy anh có cái nhìn khác về chúng tôi. Thì té ra chúng tôi cũng là những con người như anh vậy. Chiến tranh thật kinh khủng, không những chém giết nhau mà còn dối trá, lừa lọc. Nhét vào đầu những cái xấu xa, những hận thù. Để khi anh em gặp nhau ngỡ ngàng nghi kỵ. Không biết anh bác sĩ đó có còn sống sau cuộc chiến tranh khốc liệt, tương tàn nầy không? Mong rằng anh đọc được những dòng chữ nầy.

Chúng tôi trả tiền rồi lên xe đi tiếp. Thằng em bây giờ mới nói cho tôi biết là Má chôn ở Cẩm Hải. Tôi giật mình. Sao lại có sự trùng hợp lạ kỳ nầy vậy. Địa danh nầy tôi không thể nào quên được. Ngày 01 tháng 6 năm 1972, tôi mất một bàn chân tại Cẩm Hải trong cuộc chiến. Bây giờ má tôi lại được chôn nơi nầy. Ôi, những oan nghiệt cứ đeo mãi theo tôi thế nầy. Tôi muốn quên đi tất cả, thế mà cứ dây mơ rể má cột chặt tôi vào một nơi chốn đã làn tan nát đời tôi.

Tôi bước xuống xe nhìn chung quanh, tôi không còn nhận ra một dấu vết nào của cái vùng mà ngày xưa tôi đã dẩm nát. Căn cứ Đại Hàn để lại cho Trung Đoàn 51 cũng không còn dấu vết, chỉ có mồ mã bạt ngàn. Nơi đây ngày xưa buổi sáng chúng tôi dẫn lính ra tập thể dục, rồi tắm biển. Những buổi chiều tôi hay đi một mình trên bãi hoặc ngồi nhìn sóng vỗ. Tôi thích tiếng sóng vì âm vang của nó nghe vừa êm tai mà cũng vừa như áp đảo. Tôi không hiểu tại sao người ta lại dùng một bãi biển đẹp như vậy làm nghĩa địa. Thật uổng phí mất một thắng cảnh.



Chúng tôi vào thăm mộ má, tôi rất hài lòng với ngôi mộ được xây dựng đơn giản nhưng rất uy nghi. Nó nói với tôi là ở đây cũng không được chắc chắn, có thể sau nầy người ta trưng dụng đất đai, lại dời mã đi nơi khác. Vì vậy không dám xây một cách hoành tráng được. Tôi bảo là không cần thiết phải làm như vậy, như thế nầy là đủ quá rồi. Trong nghĩa trang nầy dễ nhận ra được một điều là mồ mã nào xây dựng to lớn đẹp đẽ là có bàn tay của Việt kiều.

Đúng vậy, tôi đi xem mấy tấm bia người đứng tên xây dựng đang ở Mỹ, Pháp, Canada, Úc v.v…Thôi thì cũng nở mặt nở mày cho người sống cũng như người chết còn ở lại Việt Nam. Tôi nghĩ rằng họ cố gắng xây dựng mồ yên mã đẹp cho thân nhân vì sau đời họ con cái cháu chắt không còn trở về để lo cho ông bà như họ được.

Nhìn nghĩa địa chúng ta liên tưởng đến đời sống của cõi dương nầy. Âm, dương cũng không cách biệt nhau lắm, có kẻ giàu người nghèo. Có nhiều ngôi mộ nguy nga lộng lẫy, được xây dựng chắc chắc, chạm trổ công phu. Nhưng cạnh đó cũng có những nấm mộ vun đắp sơ sài, không hương không khói. Nằm ở giữa huyệt lạnh mà cũng không thoát được cảnh nghèo khó. Tội nghiệp cho những linh hồn bị cái cảnh dương thế chi phối nặng nề.

Ai nói nằm xuống đất là hết đâu? Không cần phải nhìn đâu xa, nhìn nghĩa trang Cẩm Hải nầy cho ta liên tưởng đến một xã hội bên ngoài. Kẻ thì quá giàu còn người thì quá nghèo. Sự chênh lệch quá đổi làm cho ta phải lặng người, thương cho số phận hẩm hiu của những kiếp người bất hạnh đeo đuổi họ từ dương thế đến cõi âm.

Tôi lấy ba cây hương đến trước mộ má tôi khấn rằng: “Thưa Má, hôm nay con lại về trúng vào ngày giỗ Má nên con vội vàng vào thăm Má. Nơi Má nằm chính là nơi con gửi lại một bàn chân trong cuộc chiến, thương con Má cứ ôm nó vào lòng như ngày xưa Má ôm con vậy. Nếu nhớ con Má có thể vuốt ve nó vì chính nó là thân xác của con. Má không còn sợ cô đơn vì nó là da thịt xương máu của con đang cận kề bên má.

Má phù hộ cho gia đình con có đầy đủ sức khỏe, ăn nên làm ra để có đủ điều kiện về thăm Má thường xuyên”. Tôi không biết Má tôi có nghe lời tôi khấn nguyện không? Nhưng tôi cảm thấy trong lời khấn nguyện thành thật của tôi, có chút chua xót, cay đắng.


Một người đàn ông đi tới và tự giới thiệu với tôi, ông là người chăm sóc những ngôi mộ nầy, ông gìn giữ cẩn thận nên mới được hoàn hảo như ngày hôm nay. Chứ không thì tụi chăn trâu đập phá. Ông xin tôi một số tiền thù lao mà ông đã chăm sóc bấy lâu nay. Thằng em tôi chưng hửng vì nó thường vào thắp nhang cho Má mà có thấy ai đâu, bây giờ lại gặp tình trạng khó xử như thế nầy.

Nó hỏi ông đó là phải trả cho ông bao nhiêu? Ông nói một tràng không ngượng ngập, sượng sùng gì cả: “Ông cho tôi tiền nhiều thì tôi giữ cẩn thận, còn cho tôi tiền ít thì cái mộ nầy sẽ bị hư hại. Tùy theo mức độ tiền nhiều hay ít rồi tôi sẽ tự liệu”. Thằng em tôi thấy vậy, rút đưa cho ông năm chục ngàn. Ông chần chừ chê ít không chịu lấy. Nó phải rút thêm ba chục ngàn nữa, ông mới chịu đi. Sau khi ông đi thì cái đám chăn trâu không biết ở đâu bu lại cả chục thằng, lần đầu thì xin đồ cúng để ăn, sau thì xin tiền.

Chúng nó nói thẳng vào mặt thằng em tôi, nếu không cho tiền thì lần sau vào sẽ thấy cái mã nầy tanh bành. Cái thằng cha vừa rồi đâu có làm gì, hắn ở đâu đâu thỉnh thoảng tới hù dọa mấy ông cho tiền ổng, còn tụi tôi ở đây hằng ngày thì làm lơ, đâu có được. Chúng nó đánh trúng vào tâm lý sợ sệt của anh em tôi, thằng em tôi rút cho mỗi thằng mười ngàn, rồi hối tôi lên xe chạy ngay chứ chần chờ sẽ có người khác đến làm phiền thêm.

Tôi ra khỏi nghĩa trang lòng đầy bối rối, không ngờ những chuyện nhỏ nhặt nầy để lại cho tôi một mối suy tư về lòng dạ con người, không có một chút liêm sỉ, một chút đạo đức nào nữa hết sao? Lâu quá rồi xa quê hương, trên xứ người tôi chưa bao giờ gặp những tình huống làm tiền trắng trợn như vậy. Về chứng kiến những sự thật phủ phàng trong lòng tôi ít nhiều đổ vỡ. Thằng em ngồi phía trước xe xoay ngang mặt, nói với tôi: “Hơi sức đâu mà anh để ý mấy cái chuyện vụn vặt nầy. Ở đây có nhiều chuyện làm tiền trắng trợn hơn nữa. Làm lớn thì ăn lớn, làm nhỏ thì ăn nhỏ. Không cần biết người khác
sống chết ra sao, miễn sao tiền bạc vô đầy túi”.


Thằng em chở tôi ghé vào Hội An đi vòng vòng cho biết, thăm lại thành phố nầy ngày xưa tụi tôi hay la cà mấy cái tiệm cà phê những ngày không đi hành quân. Các tiệm cà phê Chiều ở đường bờ sông, hoặc cà phê Phượng ở phía trước cổng Tiểu Khu là những quán mà chúng tôi hay ngồi nhất. Thành phố vẫn không thay đổi mấy, hình như người ta muốn giữ lại những cấu trúc thời xa xưa. Ở nước ngoài mình quen mắt với đường xá, nhà cửa đồ sộ.

Về nhìn lại Hội An thấy cái gì cũng nhỏ, nhà cửa thấp lè tè nhưng rất dễ thương. Một thành phố từ đầu trên đến xóm dưới đều biết nhau, quen nhau. Không những quen biết thôi mà còn hiểu tường tận gốc gác của nhau nữa. Có lẽ đó là cái đặc thù nhất của Hội An mà dù có đi khắp thế giới tìm một thành phố mà những con người gắn bó, thân thiết như vậy cũng thật hiếm hoi.

Tôi nhớ hồi còn đi học, thỉnh thoảng tôi hay vào Hội An chơi với mấy ông bạn “thi sĩ” của tôi: Hạ Đình Thao, Lê Văn Trung, Lê Anh Huy, Kiều Uyên v.v… Đi xuống gần Cẩm Thanh để ăn mì Bà Đợi hay qua cầu Cẩm Phô để ăn chè. Tối về thì vào chùa Phước Kiến ngủ với Thái Tú Hòa (em ruột nhà thơ Thái Tú Hạp). Thấy tôi đến bao giờ Hòa cũng gọi Cẩm (cô em gái của Hòa) mang cái tô ra bà Cảnh mua một tô cao lầu cho tôi và không quên thêm một chén cơm nguội. Tuyệt vời, không có cái gì ngon bằng.

Cho đến bây giờ hơn bốn mươi năm tôi vẫn còn nhớ như mới ngày nào. Tội nghiệp tụi tôi đứa nào cũng nghèo xơ xác, mình có thể nhịn ăn nhưng khi gặp bạn bè thì đãi bạn một cách hào phóng. Hào phóng ở đây có nghĩa là ăn một tô mì hay uống một ly cà phê chẳng hạn. Chứ làm gì có tiền đãi nhau thịnh soạn được, nhà đứa nào cũng nghèo. Mấy ông nầy ra Đà Nẵng tôi đãi một món đặc sản là đậu phụng chiên với nước mắm. Nước mắm khi khô bám vào hạt đậu, vừa dòn vừa mặn, để ăn với cơm. Ngày nào cũng vậy, chẳng có ai khiếu nại về chuyện ăn uống, để dành tiền đi uống cà phê Diệp Hải Dung.

Phố cổ Hội An


Buổi trưa anh em tôi về lại Đà Nẵng để lo đám giỗ. Tôi có mời vài người bạn đến ăn đám giỗ má tôi. Lâu quá, dễ chừng gần hai mươi năm không gặp lại nhau. Bạn bè người nào cũng quá nhiều thay đổi, từ con người đến cuộc sống, tụi tôi bắt đầu bước vào tuổi già. Thế mà khi ngồi lại nói chuyện với nhau như hồi còn trẻ. Tôi kể cho tụi nó nghe về những gì mà tôi đã gặp sáng nay, tôi thấy trên khuôn mặt chúng nó không có một chút ngạc nhiên. Như vậy, chuyện như thế nầy cũng thường xẩy ra và ai sống tại quê nhà cũng thường gặp. Đời sống khó khăn, con người sinh ra nhiều biến thái.

Sau khi dùng cơm xong, chúng tôi rủ nhau đi uống cà phê. Tôi không nhận ra một chút gì cái thành phố mà tôi đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở đó. Bây giờ nó mang một bộ mặt khác sang trọng và lịch lãm hơn. Những con đường rộng rãi và dân cư đông đúc. Một vài người hỏi tôi nghĩ gì về những thay đổi vội vàng của Đà Nẵng. Tôi trầm tư biết trả lời sao đây? Hơn 30 năm rồi, quê hương nhiều mất mác quá.

Tôi thấy hình như mọi người cố gắng chạy đua cho kịp, thể hiện cho người ta biết mình có tiền có của, mạnh ai nấy xây nhà. Những hình thù nhà cửa thật nham nhở lố lăng, thể hiện một cái thứ trưởng giả học làm sang. Tôi không biết người ngoại quốc đánh giá cách xây dựng nầy ra sao. Chứ còn tôi không chịu được, vừa cỗ của thời Louis nhưng cũng vừa hiện đại của thế kỷ nầy. Nó giống như râu ông nọ cắm cằm bà kia.

Không biết vài chục năm sau, thế hệ con cháu chúng ta đánh giá lối kiến trúc nầy thế nào. Chứ riêng cá nhân tôi nhận thấy vừa hợm hĩnh nhưng cũng vừa tội nghiệp. (Có thể nhận định của tôi sai lầm, vì con mắt của tôi quá trần tục, không có đầu óc mỹ thuật. Cái nhìn có thể sai lạc).

Tụi tôi không còn cái tuổi ngồi hằng giờ ở mấy quán cà phê thuở trước như: Lộng Ngọc, Hạ, Ngọc Lan, Diệp Hải Dung, Thạch Thảo, Star, Danube v.v…để say sưa nghe nhạc. Một thằng bạn dẫn tụi tôi đến một quán cà phê thật yên tĩnh để dễ dàng nói chuyện. Một thằng bạn khác hỏi tôi: “Cái gì ở Đà Nẵng đã gây cho mầy “ấn tượng” nhiều nhất, khi xa nhà?”. Tôi trả lời không chút đắng đo: “Xóm Chuối”. Chúng nó cười ồ lên tưởng rằng tôi nói đùa.

Ai sống ở Đà Nẵng cũng đều biết Xóm Chuối là nơi tập trung mấy cô gái làng chơi, nằm phía sau bệnh viện Toàn Khoa. Nhưng tôi cũng có một kỷ niệm sâu đậm ở đó. Tôi có một cô bồ học ở trường Bồ Đề, nhà ở trong con hẽm đường Trần Bình Trọng, con hẽm nầy ăn thông qua đường Trần Tế Xương (đường nầy có nhà in Trúc Mai). Thường thường thì cô bạn tôi theo đường Trần Tế Xương đi ra đường Yersin cho gần. Tụi tôi thường hẹn nhau ở góc Yersin (bên hông bệnh viện) và cũng gần đường vô Xóm Chuối. (Hẹn xa xa vì sợ gia đình cô ta biết) vì vậy gặp bao nhiêu chuyện phiền phức. Mấy người đàng hoàng đi ngang qua thấy tôi đứng chỗ đó thì nghĩ là tôi tìm gái làng chơi. Còn mấy cô gái làng chơi nghĩ rằng tôi đang đi tìm họ, cho nên họ chạy ra níu kéo tôi.

Một lần hẹn ở đó tôi tởn tới già và cũng nhớ suốt đời cái địa danh nầy. Khi cô bạn của tôi ra ngồi trên yên sau xe, tôi mới bắt đầu càm ràm. Tôi cho rằng cô ta chơi tôi, hạ nhục tôi. Chứ không biết cái chỗ “hang hùm” ở đó sao mà lại hẹn nhau chỗ ấy? Cô ta ngồi phía sau ôm bụng cười ngắc nga ngắc nghẻo, còn tôi thì tức lộn ruột. Sau nầy cô ta mới nói cho tôi biết là cô ta không biết nơi đó là ổ gái mãi dâm. Tội nghiệp cho cô bạn học trò ngây thơ của tôi.

Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện trên đời. Phần đông các bạn trai thuộc thành phần lính tráng của Miền Nam, còn các bạn gái có chồng cũng đi lính. Nên đời sống các bạn sau nầy về kinh tế rất eo hẹp. Chúng tôi rơi vào thế hệ đứng giữa cuộc chiến khốc liệt nhất, cấp bậc không cao, phần đông bỏ thây tại chiến trường. Nếu còn sống sót cũng không đủ tiêu chuẩn đi qua Mỹ theo diện HO.

Vì vậy sau khi học tập trở về đều sống lây lất, làm những công việc nặng nhọc sống qua ngày. Nhìn anh em đó tuổi đời không nhiều nhưng tinh thần lẫn thể xác già cổi trước tuổi. Lâu ngày không gặp nhau, anh em nói mãi không hết chuyện. Khi tiệm cà phê báo cho biết đến giờ đóng cửa, chúng tôi mới chia tay ra về.

Những ngày còn lại, thỉnh thoảng tôi đến thăm một vài người bạn. Buổi chiều tôi rủ vài người về nhà uống rượu. Chỉ có những bữa rượu anh em mới thổ lộ hết tâm tình của mình. Có một điều lạ là trước đây tôi ít uống rượu, tửu lượng của tôi một chai bia hay một ly nhỏ rượu đủ làm cho tôi say.

Thế mà tôi không ngờ rằng về quê lần nầy tôi đã hạ mấy thằng bạn nát rượu. Đã làm cho nhiều người ngạc nhiên mà tôi cũng không ngờ rằng mình uống không thua gì chúng nó. Có lẽ vì vui quá, anh em lâu ngày không ngồi với nhau, về lại quê hương trong nhiều năm xa cách v.v…nhiều yếu tố làm cho tôi cảm thấy thoái mái. Vì vậy mà tôi uống được nhiều.

Cái nhìn của tôi về quê nhà có thể rất phiến diện và vội vàng. Có thể làm cho nhiều người không đồng ý. Nhưng tôi biết làm sao hơn khi mà một thực thể nó đã như vậy, tôi nói lên với tất cả tấm lòng dành cho quê hương mình. Có một điều mà cho đến bây giờ vẫn không nghĩ ra được là mọi người nhìn tôi với con mắt xa lạ, cách biệt trong lúc thâm tâm của tôi muốn hòa đồng, muốn thân thiện. Có một cái gì đó muốn đẩy tôi ra xa ngoài vòng tay của quê hương tôi.

Sau khi trở lại Mỹ, sau nhiều đêm suy nghĩ tôi mới tìm ra được một giải trình cho mình. Có lẽ phần đông mang một mặc cảm thua thiệt vì nghèo khó, nhìn mấy ông bà Việt kiều tiêu tiền hào phóng họ cảm thấy cách xa với họ. Cho nên họ nhìn những người trở về như một loại “cá mè một lứa”. Họ đâu biết rằng có người trước khi về họ đã dành dụm bao nhiêu năm, cũng cày sâu cuốc bẩm, cũng lao tâm lao lực mới có được tiền.

Vì biết bà con bên quê nhà làm ăn khó khăn nên họ phải “gánh” cho đỡ bớt gánh nặng khi phải tiếp họ. Những thành phần thuộc tư bản trong nước bây giờ, cách vung tiền của họ mới khiếp. Các “đại gia” nầy ra tay thì các “hảo hán” có máu mặt của Việt kiều đành phải lép vế.

Dù gì chăng nữa tôi vẫn thấy những ánh mắt nhìn tôi không còn thân thiện, coi tôi không phải là người dân đã sinh ra và lớn lên trên quê hương. Cái nhìn và cách đối đãi của họ với tôi như một người khách. Cách hành xử nầy làm cho tôi thấm đau như có ai đó nhổ toẹt vào mặt mình.

Chúng tôi không có tội gì hết, khi xa quê hương chúng tôi đau lắm vì nơi đây chôn nhau cắt rún, cha mẹ anh em đang hiện diện ở đây và rất nhiều, rất nhiều cái lý do khác không dễ gì dứt bỏ ra được. Thế nhưng trong hoàn cảnh bắt buộc phải rời xa đất nước.

Đó là điều đau lòng cho tất cả những người đang xa xứ. Trong những ngày trở về, tôi ít đi đâu vì tôi mang một mặc cảm xa lạ, nên suốt ngày quanh quẩn trong nhà. Để tìm lại những thân thiện, những tình cảm mà tôi tưởng chừng như bị đánh mất ngay cả những người ruột thịt với mình. Tôi không muốn làm một người khách lạ./



Phan Xuân Sinh

 BBT-GNST


Thành phố Đà Nẵng

 

Xem thêm...

BÂNG KHUÂNG CHIỀU XUÂN

 BÂNG KHUÂNG CHIỀU XUÂN

~~<><><><>~~

“ Ngày thắm tươi bên đời xuân mới
Hồn đắm say bao nguồn vui mới
Xuân về bao ngàn hoa tươi thắm
Ta muốn hái muôn vàn đóa hồng…” 
 

 

Khúc nhạc xuân dìu dặt, tươi vui đang dẫn hồn tôi đến với những ý tưởng dễ thương, đáng yêu trong sự chờ đợi tuyệt diệu. Tôi đang chờ đợi, chờ đợi phút giây được gặp anh - người tình muôn trùng xa cách nay được gặp lại. 

Xuân đã về thật rồi. Nắng xuân nhảy múa điệu đàng trên từng khóm hoa, luống cỏ trong vườn. Nắng khiêu vũ - tôi mỉm cười. Những bước nhảy nắng xoay lướt uyển chuyển có lúc thật cuồng nhiệt rồi đột nhiên ngã người theo làn gió thoảng.

Hồn nhạc hòa trong gió xuân hây hây quyện vào nắng ấm cùng với hương và sắc hoa vẽ nên một bức tranh xuân tươi vui, rộn ràng như lòng tôi đang vui, đang háo hức tưởng tượng phút giây được gặp anh …

Tôi hân hoan rời nhà đến điểm hạn. Điểm hẹn của chúng tôi là quán café Cội Nguồn - nơi mà 10 năm trước đây anh đã từ giã tôi ra đi. Quán vẫn dễ thương và thơ mộng như ngày nào. Tôi đảo mắt tìm kiếm anh. Anh đó ư.Tim tôi đập liên hồi. Đưa tay làm dáng vuốt mái tóc dài tôi lặng lẽ nhìn anh long bồi hồi. Giọng anh vẫn ngọt ngào: 

- Em vẫn như xưa. 

Tôi mỉm cười tinh nghịch : 

- Anh cũng vẫn như xưa. 

Rồi anh nhìn tôi. Tôi nhìn anh đắm đuối. Nhạc vẫn trổi lên dịu dàng, đằm thắm, ca từ tha thiết, quyến rũ: 

“Gió chiều thầm vương bao nhớ nhung
Người yêu thoáng qua như giấc mộng…” 
 

- Anh về lúc nào ? Tôi làm dáng hỏi anh. 

Anh ngập ngừng không trả lời câu hỏi của tôi.

- Em còn giận anh? 

- Không, em không giận anh chỉ thấy tiếc cho anh. 

- Tiếc gì? Giọng anh thật nhỏ. 

- Này nhá, nếu ngày ấy anh không từ giã quê hương ra đi thì bây giờ, em nghĩ cuộc sống của anh chắc chắn sẽ có nhiều màu sắc hơn. Anh tài hoa: nhạc sĩ là anh, họa sĩ cũng là anh rồi anh còn là một nha sĩ. Ba cái sĩ có trong người anh sẽ giúp anh có một cuộc sống đẹp, đầy ý nghĩa, nên thơ và lãng mạn. 

Cầm ly café đen xoay tròn trong tay, giọng anh ngậm ngùi : 

- Gặp lại em, anh mừng lắm. Anh đã đánh mất cái sĩ thứ ba (mỉm cười). Thỉnh thoảng anh có sáng tác nhạc còn vẽ thì thường xuyên hơn. 

Như nhớ ra điều gì anh vội vàng quay người đưa tay với lấy một tấm khung hình khá lớn, mặt trước được phủ bằng một tấm giấy hoa màu tím trao cho tôi. 

- Đây anh tặng em. Tuy 10 năm xa em thật, không gian xa cách vời vợi nhưng em vẫn ở trong anh. 

 

Tôi đoán đây là một tác phẩm hội họa của anh mà người trong tranh có lẽ là tôi - một thời Tôn Nữ của riêng anh. Không hiểu tôi đoán có đúng không nhưng dự đoán của tôi là có cơ sở bởi vì ngày ấy tôi thường xuyên có mặt trong tranh của anh.

Khi thì “Thiếu nữ với hoa mai” tặng tôi nhân dịp xuân về, khi thì “Thơ ngây” quà tặng sinh nhật của tôi và cũng có lúc lại là “Nữ hoàng Cléo” chắc lúc đó tôi là một Cléo sắc sảo. Tôi bâng khuâng nhớ về ngày ấy - thuở tình yêu “vỡ vụn”.

Cuộc tình của tôi đẹp nhưng đầy trắc trở. Tôi, một Tôn Nữ đẹp với cái tên khá dễ thương : Tường Nhi - mọi người đều nói như thế nhưng phải cái tội “đẹp nhưng gò má cao là gái sát phu”; đó là lời bình phẩm của cái xứ Huế nhỏ bé này về tôi.

Có đôi lúc tôi cảm thấy buồn và thật cô đơn mặc dù bên cạnh tôi vẫn có anh. Anh vẫn đi bên đời tôi dệt cho tôi những tia nắng ấm ngày xuân, thổi vào hồn tôi những làn gió thu mát mẻ dịu ngọt của Huế và cứ thế anh đã phải chịu bao điều tai tiếng ác độc khi yêu tôi. Một lần đến chơi nhà anh, trước khi vào nhà tôi đã nghe lén được câu chuyện giữa mẹ anh và anh. 

- Mi mà lấy hắn thì đời mi “tiêu”. Uổng công mạ đẻ con ra nuôi con cực khổ con ơi. 

Anh cãi lại : 

- Răng mà “tiêu” hả mạ ? 

- Rứa mi không thấy gò má hắn cao. 

- Mạ cứ cho con lấy hắn thử con có chết không thì biết liền. 

Tiếng mạ anh hốt hoảng : 

- Ui cha, đừng nói bậy con ơi! Thôi, thôi không bàn cãi nữa. Mạ nói không là không. 

Nghe được đến đó, tai tôi ù lên, tim tôi nhảy lung tung, mồ hôi vã ra; tôi giận run người và quay quả rút lui. Cuộc tình của tôi và anh bắt đầu sóng gió từ đó.

Ngày hôm sau gặp anh tôi buồn bã trao cho anh lá thư mà suốt đêm qua tôi đã không ngủ để viết cho anh những điều mà tôi thấy cần phải nói với anh. Anh thật sự ngạc nhiên khi cầm thư của tôi trong tay. Mắt anh u hoài. 

- Có chuyện gì không thể nói với anh được hay sao mà phải viết thư? Có gì quan trọng không em ? 

- Anh cứ đọc thư em rồi sẽ rõ nhưng chờ đến tối mới được đọc à nha. 

Suốt quãng đường dài đi bên anh tôi suy nghĩ thật nhiều: hay là ta xa anh, tôi tự hỏi. Anh trong trạng thái trầm tư, mắt đăm đăm nhìn xuống đất. Hai đứa tôi mỗi người là một thế giới riêng từ phút này. Đúng là một buổi chiều thật buồn.

Không gian như chùng xuống trùm lên vạn vật một màu lam huyền. Tiếng chân tôi và anh vẫn gõ nhịp đều trên lề đường tiễn chiều xuống dần dần. Anh lặng lẽ đi bên tôi và bao giờ cũng thế khi thấy tôi buồn anh đều im lặng, tiễn thời gian qua.

Anh là một chàng trai hiền hành, đa tài rất có hiếu với mẹ. Mẹ anh một đời tần tảo nuôi con sau anh còn một đàn em 4 đứa đang tuổi ăn học; bà là một phụ nữ sắc sảo, lịch sự có vẻ mến tôi tuy nhiên bà khó lòng chấp nhận cuộc tình của chúng tôi chỉ vì tôi có “đôi gò má cao”. Tôi thông cảm bà nhưng lòng cay đắng. Rồi một chiều xuân anh và tôi ngậm ngùi chia tay … 

- Em vẫn khỏe ? 

Tôi giật mình giọng xa vắng : 

- Dạ em vẫn khỏe vẫn “bên đời quạnh hiu” vì “gò má cao”. Rồi tôi mỉm cười ngước mắt nhìn anh cay đắng : 

- Còn anh? Nghe nói, vẫn “bên đường lẻ bóng”? 

Anh xót xa gật đầu : 

- Chúng mình làm khổ nhau. Ừ, ngày ấy mạ anh có nhận xét về em như thế thật, nhưng quyết định cuối cùng vẫn là anh. Chỉ tại em tự ái. 

Tôi nguýt yêu anh :

- Rứa không phải “không bàn cãi nữa. Mạ nói không là không”? 

- Ừ, mạ anh có nói thế nhưng em cố chấp và nóng nảy quá. Giọng anh trầm buồn. 

Không ngờ lời mẹ anh nói tôi đã để tâm và nhớ nằm lòng, chờ có dịp là tuôn ra dù thời gian xảy ra đã khá lâu. Không hiểu như vậy là tôi có quá đáng không nhưng suốt 10 năm qua tôi đã sống những tháng ngày cô đơn, khắc khoải nhìn thời gian trôi như suối tóc dài sợi nhớ sợi thương.

Không hiểu trong khoảng thời gian xa tôi, anh đã nghĩ thế nào về tôi, về người con gái một thời đã cùng anh đan kết những dấu xưa đầy kỷ niệm đẹp, ngọt ngào xen lẫn đắng cay. Tôi nhìn sâu vào mắt anh, ngỡ ngàng như giấc chiêm bao. Tôi định ôm chầm lấy anh: đây là mơ hay thật! Vẫn màu mắt ấy, đúng là màu của nắng ấm ngày xuân, của tơ trời ngày hạ, của lá đổ ngày thu và của ngày đông sầu muộn. Anh có màu mắt đẹp, quyến rũ như mắt con gái mà một thời tôi đã say đắm mê màu mắt ấy. 

- Em vẫn còn nghĩ tưởng về anh ? 

Tôi mỉm cười lòng nhủ thầm: a, anh không dám hỏi: em vẫn còn yêu anh mà là : em vẫn còn nghĩ tưởng về anh? Tôi nhìn anh giọng trầm tĩnh, dứt khoát: 

- Ừ, em có nghĩ về anh nhưng anh không còn là thần tượng của em. 

Giọng anh lạc đi : 

- Anh không tin.

- Đó là quyền của anh. 

Cả hai chúng tôi đều im lặng giữa chiều xuân bâng khuâng, bâng khuâng buồn và bâng khuâng hoài cảm. Tôi trầm ngâm. Gió xuân lành lạnh. Cái lạnh nhè nhẹ làm tê tái lòng người. Tôi ngẩng mặt lên trời đón ngọn gió xuân tự do mơn trớn, ve vuốt đôi gò má của tôi rồi mỉm cười chua chát: một đứa con gái hiền lành, đẹp, thùy mị; một Tôn Nữ có cái tên dễ thương: Tường Nhi rồi bây giờ là một “thiếu nữ lớn tuổi” dịu dàng, đằm thắm như thế này đây thì “sát” được ai nhỉ ?.

Tôi lại mỉm cười nói thầm cùng anh: anh yêu, em vẫn mãi mãi là người yêu của anh nhưng mong anh thông cảm, mãi mãi em sẽ không phải là người phụ nữ đi bên đời anh. Nước mắt tôi lăn dài trên má - những giọt nước mắt âm thầm đã nhỏ giọt. Anh ơi! Anh có hiểu cho em? Và cả những ai đó nữa đã vô tình hay cố ý đã khoác lên người em chiếc áo “sát phu” rồi bình thản dẫn em băng qua tuổi xuân để đến bây giờ : 

“Tình xưa đã lỡ
Áo xưa đã phai màu
Tóc xưa
Giờ đã nhàu thời gian” (*)


Bùi Kim Chi

-----------

Hình  minh họa- Internet

Hồng Anh st

Xem thêm...
Theo dõi RSS này