Truyện

Truyện (325)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện Ngắn: Ở trọ

Ở Trọ

Truyện Ngắn của Nguyễn Thị Thanh Dương

Chị Bông dứt phone với anh thợ làm hàng rào và lẩm bẩm: “Anh ta cho giá thay toàn bộ hàng rào 6,000 đồng, hao tốn quá”.

Chị bực mình liếc mắt sang nhà hàng xóm có chung cái hàng rào sau vườn và lẩm bẩm tiếp: “Mà cái nhà hàng xóm này lại không biết điều”.

Trước đó anh hàng xóm người Mễ đã vài lần thẳng thắn từ chối hợp tác cùng chị Bông thay phía hàng rào chung của hai nhà với lý do hàng rào chưa hư hỏng gì và tiền thì họ chưa có luôn.

 Trong vườn chị Bông trồng nhiều cây hoa hồng, mái hiên patio treo chiếc chuông gió nên thơ, nếu được hàng rào đẹp thì khu vườn sẽ càng đẹp thêm.

Cái cell phone chị để trên bàn trong sân patio reo lên, không lẽ anh thợ hàng rào gọi lại…giảm giá? Hay là anh hàng xóm Mễ gọi sang báo tin đã đồng ý làm hàng rào?

Chị Bông vội vàng mở phone, thì ra là chị Huê, người bạn thân thiết.  Giọng chị Huê tưng bừng vui:

– Bông ơi, hai vợ chồng mình mới mua một căn biệt thự đẹp mà giá khá rẻ so với thị trường, vợ chồng chủ nhà ly dị cần bán nhà nhanh, ưu tiên cho tiền mặt, mình đủ điều kiện. Tháng sau bạn sẽ đến ăn mừng tân gia nhé.

Chị Bông ngạc nhiên:

– Ơ kìa, nhà Huê đang ở cũng mới cũng đẹp mà lại đổi nhà à?

– Nhà này mới hơn đẹp hơn và sang trọng hơn. Ðây đúng là căn nhà ước mơ của mình. Hàng xóm toàn là triệu phú trở lên đó nha.

Chị Huê say sưa tả ngôi biệt thự từ ngoài sân vào bên trong đến cả khu vườn, chị Bông nghe đến đâu choáng váng đến đó. Một tiếng sau buông phone mà chị Bông còn thẫn thờ như người mới bị bỏ bùa chưa tỉnh. Bất giác chị ngó quanh khu vườn nhà mình bỗng thấy …tủi, giá mà chị giàu có như chị Huê thì đã thay quách toàn bộ hàng rào khỏi cần kêu gọi anh hàng xóm Mễ đóng góp.

Chị Bông đang ganh tị với căn biệt thự chị Huê vừa khoe. Anh Bông lững thững ra vườn và bắt gặp vợ ngồi im lặng trong ghế xích đu, anh thắc mắc:

– Em nghĩ gì mà thẫn thờ ra thế? Lại bực mình vì anh hàng xóm Mễ vẫn chưa chịu chung tiền thay cái hàng rào mới hả?

– Tại anh Mễ và… tại chị Huê.

– Anh biết rồi, bà Huê không khoe stock của bà ấy lên giá thì cũng khoe cửa hàng bánh mì thịt nguội, giò chả, chè cháo của bà ấy doanh thu ngày càng tăng.

Chị Bông thán phục:

– Anh nói đúng đó, cửa hàng chị ấy đắt hàng lắm, dù đã thuê mướn cả chục người mà hai vợ chồng vẫn bận rộn cả ngày, trong khi vợ chồng mình cùng tuổi về hưu như anh chị Huê thì ăn không ngồi rồi chẳng kiếm ra xu nào ngoài mấy đồng tiền hưu.

– Tội nghiệp, anh chị Huê lớn tuổi rồi mà vẫn làm việc đầu tắt mặt tối. Tóm lại giàu có mà vẫn …  “khổ” vì kiếm tiền. Anh nghe kể rằng có bà già luôn than thở mình mẩy tay chân đau nhức, tai điếc mắt mờ thế mà vẫn…thích mở hầu bao ra đếm tiền, chẳng than mỏi tay đau tay hay mờ mắt gì cả. Thiếu đồng nào bà phát hiện ra ngay.

Chị Bông cãi lại:

– Càng có tiền càng sướng chứ, tội nghiệp gì chị Huê. Vợ chồng chị Huê mới mua một căn biệt thự hơn một triệu, trả tiền mặt nhé. Em nghe mà phát ham, trong khi em muốn thay cái hàng rào chỉ 6,000 đồng cũng không dám làm. Nãy giờ em cứ mơ ước nếu mình trúng số thì sẽ mua căn biệt thự trong khu ấy làm hàng xóm các triệu phú cho oai, hàng xóm với mấy nhà Mễ này chỉ thêm bực mình..

Anh Bông an ủi:

– Hàng rào sau vườn còn tốt chán, anh hàng xóm Mễ từ chối thay mới là đúng rồi. Em đừng “khủng bố” tinh thần nhà anh ta nữa, lần nào gặp mặt họ em cũng hỏi chỉ một câu: “Anh chị suy nghĩ kỹ chưa? Có thay hàng rào với tôi không?”. Mà em không nhớ bài thuyết giảng ở chùa hôm nào à, cuộc đời là cõi tạm, chúng ta đang ở trọ trần gian, đòi chi những điều hoàn hảo.

– Anh chỉ chuyên môn bênh hàng xóm, xe nó đậu đầy lề đường, trở ngại lối đi, chướng cả mắt, anh lại khen xe đậu thế này trông…. nhộn nhịp khu phố. Cuối tuần nó tụ họp bạn bè uống bia trước sân mở nhạc tiếng Spanish ầm ĩ anh cũng khen… vui cả khu phố.

– Sống hòa đồng và nhịn hàng xóm một tí có sao đâu.

– Nếu thế em cũng sẽ đậu xe lòng lề đường và cuối tuần tụ họp bạn bè ngoài sân mở ầm ĩ nhạc Bolero Thanh Tuyền Chế Linh, Hương Lan Tuấn Vũ cho hàng xóm Mễ nghe chơi nhá.

– Vợ chồng Mễ hàng xóm hiền lành dễ thương, chả lẽ vì cái hàng rào mà em đành hanh với họ thế à? Thuyết nhà Phật….

Chị Bông ngắt lời chồng:

– Ôi, anh lại…. thuyết nhà Phật lắm bi quan, nào đời là bể khổ, đời là cõi tạm, kiếp người mong manh, trở về cát bụi, ai mà đang tuyệt vọng sẽ chẳng muốn kiếp lai sinh. Em muốn như anh chị Huê lúc nào cũng phơi phới kiếm tiền và hưởng đời, muốn gì cũng có. Hay là mình gom góp vốn liếng, vay mượn thêm con cái đầu tư mutual fund hay địa ốc đi anh, chơi stock thì càng kiếm nhanh hơn nữa. Vậy anh muốn cái nào?

– Nghĩa là sao? Mình mua nhà cho thuê hoặc mua mutual fund, hoặc chơi stock đu dây với may rủi ấy hả?

Chị Bông giảng giải:

– Anh nhát gan không chơi stock thì thôi. Mua nhà mình chỉ cần down khoảng 20% và lấy tiền thuê hàng tháng trả mortgage, 10 hay 15 năm sẽ trả xong nợ, căn nhà thuộc về mình. Hay là đầu tư mutual fund chậm hơn nhưng 10 năm sau số tiền đầu tư có thể tăng gấp đôi. Tới lúc đó  mình lấy cả vốn lẫn lời ra…mua nhà biệt thự làm hàng xóm các triệu phú luôn.

– Nghe em nói kiếm tiền nhẹ nhàng dễ dàng quá. Anh… không chọn cái nào cả.

Chị Bông cụt hứng giận dỗi trách:

– Hèn gì số mình nghèo là phải. Suốt đời ở căn nhà xấu này thôi.

– Ai mà chẳng muốn cuộc sống đầy đủ cao sang, anh cũng thích nhà cao cửa rộng lắm chứ, nhưng mỗi người một hoàn cảnh. Bao nhiêu năm nay không giàu có được nói chi tuổi xế chiều.

Rồi anh Bông vỗ về:

– Thôi em đừng ganh đua với chị Huê nữa, mình không có tiền bạc và càng không có thời gian để đầu tư đường dài. Em cứ an phận làm hàng xóm mấy anh chị Mễ, mấy anh chị Mỹ đen như hiện nay đi. Vợ chồng mình là khách hàng thường xuyên của CVS pharmacy tại thành phố này, các nhân viên bán thuốc full time thậm chí nhân viên part time thay đổi xoành xoạch mà họ còn nhớ tên nhớ mặt mình. Vậy thì hơn 10 năm nữa mình 80 tuổi, bệnh tình mình đi tới đâu?  Liệu có còn sức khỏe mà hưởng nhà to nhà đẹp không, hả? nếu có thay đổi nhà thì anh sẵn sàng moving đến căn nhà nào… gần bệnh viện nhất để mỗi lần gọi 911 cấp cứu cho tiện.

Hình minh họa

Ðến dự buổi tiệc tân gia nhà chị Huê, căn biệt thự lộng lẫy ấy chị Bông khó thể nào quên, vừa trầm trồ khen ngợi vừa mơ ước khi chị Huê dắt khách đi từng phòng giới thiệu, đây là phòng khách của tôi, phòng bếp của tôi, phòng nào cũng đẹp cũng sang.

Bước vào căn phòng ngủ kê hai chiếc giường mà vẫn còn rộng mênh mông với những tủ, gương sang trọng, chị Huê lại hãnh diện sung sướng:

– Các bạn ơi, đây là phòng ngủ yêu quý của tôi, từ cái giường, khăn trải nệm, gối mền, rèm cửa đều là hàng hiệu….

Bạn bè ai cũng khen vợ chồng chị Huê có phước, con cái đứa nào cũng ăn học thành đạt, gia đình đề huề, anh chị Huê thì giàu có làm ăn tiền vô như nước. Chị Bông hỏi:

– Bao giờ thì anh chị Huê nghỉ bán buôn, ở nhà hưởng nhàn thảnh thơi trong căn nhà đẹp này ?.

Chị Huê phân trần:

– Mình cũng muốn nghỉ lắm. Con cái có công việc của chúng, chẳng đứa nào thích cái nghề bán bánh mì thịt nguội này cả, sang cửa hàng cho người khác thì tiếc rẻ vì công việc làm ăn càng ngày càng phát đạt, tiền cứ chạy vô túi vô nhà băng nên chẳng nỡ ngừng, thôi thì còn sức còn làm, có nhiều tiền tiêu xài cũng sướng tay. Nhờ thế vợ chồng mình mới mua căn biệt thự này dễ dàng.

Chị Huê ghé tai chị Bông khoe thêm:

– Trừ mọi chi phí mỗi tháng vợ chồng mình kiếm mười mấy ngàn, chẳng cần ăn học bằng cấp gì mà tính ra hơn hẳn lương kỹ sư lâu năm, tự mình làm chủ mình và làm chủ gần chục nhân viên từ khâu làm bánh mì, làm giò chả thịt nguội, đến khâu đứng bán cho khách hàng. Thử hỏi là chị có chịu buông bỏ cửa hàng ngồi nhà lãnh vài đồng lương hưu không chứ.

Sau dịp ăn tân gia ấy chị Bông ít có dịp đến nhà chị Huê nhưng thường gặp chị ở cửa hàng bánh mì thịt nguội nổi tiếng ngon nhất của thành phố này. Vợ chồng chị Huê nhanh nhẹn xã giao với khách hàng và tháo vát với công việc, chỉ huy nhân viên đâu ra đấy.

Thế mà một hôm chị Bông nghe hung tin, một người bạn gọi phone báo tin:

– Chị Huê đã qua đời trong giấc ngủ đêm qua vì heart attack.

Trời ơi, một cái chết quá bất ngờ, không hề báo trước. Chơi thân với chị Huê nhưng chị Bông có nghe chị Huê than thở gì về bệnh tim mạch đâu.

Hay là chị Huê làm việc nhiều quá nên căng thẳng và kiệt sức, ảnh hưởng đến tim mạch?

Sau đám tang chị Huê, cửa hàng bánh mì thịt nguội trở lại hoạt động bình thường, bạn bè ai cũng ngạc nhiên, tưởng anh Huê mất đi người vợ yêu dấu mấy chục năm bên nhau anh sẽ mất nguồn cảm hứng kiếm tiền.

Vài tháng sau chị Bông đã nghe bạn bè chung của chị Huê truyền nhau tin đồn anh Huê đang “tình ý” với chị Sương nhân viên quản lý cửa hàng.

Ðó là một thiếu phụ khoảng 45 tuổi, chị ta là mẹ độc thân của ba đứa con. Ðược bà chủ tin cậy chị ta nhanh nhẹn khôn ngoan chăm chỉ làm việc và bây giờ thì được ông chủ độc thân ưu ái.

Ai cũng tưởng họ chỉ “tình ý” và bồ bịch cho đời nhau đỡ buồn. Nhưng một năm sau thì anh Huê chính thức đi thêm bước nữa với chị Sương với lý do để có người phụ anh công việc kinh doanh, cứ làm như anh chỉ cần người làm hơn là cần người tình.

Căn biệt thự lộng lẫy của chị Huê nay đã có nữ chủ nhân mới, thêm ba đứa con của chị ta nên cửa nhà đông vui hẳn lên, lúc nào cũng có một hai chiếc xe loại sang đậu trước sân, chiều tối các khung cửa sổ căn biệt thự đều sáng đèn ấm cúng..

Cửa hàng sản xuất bánh mì thịt nguội đã có nữ chủ nhân mới.

Ngày nào chị Huê từng hãnh diện khoe công việc và tiền bạc nay những huê lợi ấy đã vào túi người khác..

Ngày nào chị Huê từng sung sướng khoe căn phòng ngủ xinh đẹp sang trọng, nay căn phòng ngủ ấy cũng thuộc về người phụ nữ khác.

Và người chồng suốt mấy chục năm thân ái chung đôi của chị cũng thuộc về người khác luôn.

Chị Bông thấy xót xa giùm người bạn đã nằm dưới nấm mộ. Chị than thở với chồng:

– Thương chị Huê quá. Nhớ ngày mới mua căn biệt thự chị Huê hớn hở vui mừng bao nhiêu, chị trang hoàng chăm sóc từng căn phòng, thế mà ở chẳng bao lâu…

Anh Bông lại triết lý nhà Phật:

– Chị Huê đã “ở trọ” trong căn biệt thự ấy, chứ có gì là của chị Huê đâu, kể cả bạc tiền và người chồng yêu dấu. Hết thời hạn thì ra đi. Vợ chồng mình cũng đang “ở trọ” trong chính căn nhà của mình đó. Cuộc sống luôn đi bên cạnh những rủi ro bất trắc, tai nạn hay bệnh hoạn có thể đến bất cứ lúc nào. Chúng ta không chết vì tai nạn, bệnh hoạn thì cũng chết vì tuổi già sức yếu, mười năm, hai mươi năm nữa thôi căn nhà này sẽ thuộc về ai…

Chị Bông giật mình, anh Bông nói đúng quá, sau này vợ chồng chị chết đi, con cái đều có nhà riêng và công việc ở xa, chẳng đứa nào có nhu cầu dọn về đây. Căn nhà này sẽ bán đi và thuộc về người khác.

Chị Bông chợt nhớ tới gia đình một người quen biết, sang Mỹ diện H.O. năm 1990, Sau 5 năm làm việc cật lực họ có chút tiền down một căn nhà. Người vợ lãnh đồ từ hãng và may tại nhà, vừa chăm chỉ may vừa lo cơm nước cho chồng đi làm con đi học, chị hết sức tiết kiệm tiền bạc và cả thời gian, ít giao du với bạn bè, thậm chí từng là con chiên ngoan đạo chị cũng “né” màn đi nhà thờ hàng tuần, chỉ đi vào những dịp lễ lớn, vì đi nhà thờ là “tốn kém”, luôn có mục đóng góp đủ thứ, nay món này mai món khác chẳng bao giờ hết việc. Mục đích chính của chị là làm việc tối đa và tiết kiệm tối đa để có tiền trả nợ căn nhà .

Nhà cửa trả xong, vốn liếng bắt đầu rủng rỉnh thì đùng một cái chị H.O lâm trọng bệnh qua đời. Chồng quan niệm con cái đứa nào cũng có ăn học và có gia đình riêng không phải lo cho chúng nữa, ông ta về Việt Nam cưới một cô hàng xóm lỡ thì nhưng vẫn còn trẻ chán so với ông, bán căn nhà cũ đang ở để mua căn nhà khác mới hơn đẹp hơn cho xứng và le lói với người mới.

Chị H.O này cũng “ở trọ” và ra đi “trắng tay” như chị Huê.

Thế là chị Bông lại an phận tìm vui với căn nhà của mình, khu vườn sau hoa lá và chuông gió vẫn đẹp và nên thơ với cái hàng rào cũ mà chị từng muốn thay bỏ chúng.

Một buổi sáng chị Bông mang rác ra sân trước thì thấy chị Mễ hàng xóm cũng kéo thùng rác ra sân liền tươi cười xã giao, bù đắp cho những ngày chị Bông liếc mắt hay lườm lườm…. sang nhà nó với vẻ lạnh lùng:

– Chị khỏe không? Hôm nay chị không đi làm hả?

Chị Mễ than thở và e dè:

– Tôi bị mất việc rồi, đang hưởng tiền thất nghiệp. Chị đừng rủ tôi thay cái hàng rào nữa nghe

Xong chị ta nửa đùa nửa thật:

– Chỉ còn chồng tôi đi làm, nhà 4 đứa con, nếu tôi mà thất nghiệp dài lâu thì không có tiền trả mortgage căn nhà này đâu, lúc ấy chị sẽ có hàng xóm mới để rủ họ thay hàng rào mới.

Chị Bông cảm thấy như mình có lỗi và ái ngại quá. Hoàn cảnh nhà hàng xóm chẳng khá giả gì thế mà bấy lâu chị cứ “mặt sưng mày xỉa” ngầm với họ vì cái tội không chịu chung tiền làm hàng rào mới. Chị Bông dịu dàng thân mật:

– Chúc chị mau kiếm được việc làm, còn cái hàng rào chung của chúng ta, đúng như chồng chị đã nói, vẫn tốt lắm, thay làm chi cho phí tiền.

Trong ánh mắt chị Mễ thoáng vẻ ngạc nhiên và vui. Chắc vì lần gặp mặt này chị ta thấy chị Bông đã thay đổi thái độ quá bất ngờ.

Chị Bông lại thấy anh Bông nói đúng, chẳng có ai dám bảo đảm ở căn nhà của mình dài lâu chứ đừng nói suốt đời. Ngoài cái chết, người ta phải rời xa căn nhà vì hàng đống lý do, vì công việc, vì trường học của con cái hay vì mất job, vì ly dị v.v… và biết đâu chỉ vì…. nhà hàng xóm. Gia đình anh chị Mễ này không chịu nổi mụ hàng xóm khó tính như chị Bông, một ngày nào đó họ cũng sẽ dọn đi cho khuất mắt?

Chị Bông chẳng cần cái hàng rào mới đẹp nữa cho hao tốn bạc tiền của mình và của hàng xóm và chị càng không mơ nhà to đẹp cao sang nữa khi tuổi đã xế chiều. Vì nhà to đẹp hay nhà cũ xấu cũng chỉ là quán trọ ven đường đời cho ta dừng chân và một ngày nào đó ta sẽ về nơi yên nghỉ sau cùng đó mới là căn nhà vĩnh cửu của riêng ta.

 

 

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...

Người mẹ không quen biết

Người mẹ không quen biết

Nguyễn Thị Thanh Dương

Người đàn bà lớn tuổi nhếch nhác tay cầm chiếc nón lá tay xách cái ba lô bộ đội màu đã cũ. Bà ghé vào một nhà hỏi thăm:

– Cô ơi cho tôi hỏi nhà ông bà Minh Vũ, họ đi đâu cả rồi?

Nhà ông Minh Vũ sát nách nhà cô hàng xóm, sáng nay ông bà đi vắng nên cổng đã khoá.

 Cô nhìn qua cách ăn mặc người đàn bà và nghe giọng nói cũng đoán được:

– Bác từ ngoài Bắc vào thăm ông bà Minh Vũ hả, ông bà vừa đi vắng chốc nữa mới về.

– Ôi, thế thì tôi phải đợi thôi…tôi đáp tàu hỏa từ Bắc vào đây cô ạ.

–  Vậy thì mời bác vào nhà cháu ngồi chơi đợi ông bà Minh Vũ về.

Cô rót một ly nước trà mời bà khách của nhà hàng xóm. Bà khách bắt chuyện:

– Cô ở đây lâu chưa? Ý tôi là cô hàng xóm với ông bà Minh Vũ lâu chưa?

– Lâu lắm rồi bác, cháu chơi với Minh Tâm con út ông bà Minh Vũ từ ngày còn bé đến giờ. Tình hàng xóm giữa bố mẹ cháu và ông bà Minh Vũ rất thân thiết…

Bà khách hỏi lại :

– Thế thằng Minh Tâm cũng ở đây với bố mẹ từ ngày ấy đến giờ nhỉ?

–  Dĩ nhiên rồi, hai ông bà Minh Vũ đều thương yêu và cưng chiều Minh Tâm lắm, chưa ai sung sướng bằng Minh Tâm, con út mà cứ như con một ấy..

Người đàn bà thoáng đăm chiêu im lặng, Cô hàng xóm chẳng biết nói gì thêm

– Cô thấy thằng Minh Tâm thế nào? Nó giống bố hay mẹ?

– Cháu thấy Minh Tâm giống ông Minh Vũ ở cái cao ráo.

Bà khách nửa đùa nửa thật:

– Thế cô thử nhìn xem Minh Tâm có giống tôi tí nào không?

Bây giờ cô hàng xóm mới nhìn người đàn bà kỹ hơn, Minh Tâm giống bà ở đôi mắt mí lót và cái miệng hơi rộng nhưng không kém phần duyên dáng dễ mến. Bà này tuổi trẻ chắc có một thời nhan sắc:

– Vâng, Minh Tâm có vài nét giống bác. Vậy bác là họ hàng về phía ông hay bà Minh Vũ?

Bà khách Bắc lấp lửng:

– Họ hàng xa ấy mà…

Ông bà Minh Vũ về đến nhà thế là người đàn bà vội cám ơn và từ giã cô hàng xóm để sang bên ấy..

Ông bà Minh Vũ có 3 người con, một trai một gái lớn đã lập gia đình ở riêng, cả hai sự nghiệp vững vàng và giàu có chỉ còn hai ông bà với cậu con trai út Minh Tâm, bà ở nhà quán xuyến một cửa hàng tạp hóa ngay gian nhà trước, ông làm công chức nay đã nghỉ việc, kinh tế gia đình khá giả, cậu út tha hồ được bố mẹ cưng chiều

Cậu út cũng thành đạt như anh chị, Minh Tâm tốt nghiệp bác sĩ y khoa xin được làm ngay tại bệnh viện đa khoa Bà Chiểu chẳng phải xa cha mẹ ngày nào…

Bà Minh Vũ thường hãnh diện nói với hàng xóm:

– Thằng Minh Tâm có hiếu lắm nó bảo sẽ ở với bố mẹ cả đời, cô nào lấy nó phải chấp nhận điều kiện ấy.

Minh Tâm đẹp trai học giỏi như thế, cha mẹ nhà cao cửa rộng như thế thì cô nào dám từ chối điều kiện thường tình ấy.. Nghe đâu Minh Tâm đang yêu một cô gái là ái nữ một bác sĩ chuyên khoa nổi tiếng ở Sài Gòn.

Chuyện nhà ông bà Minh Vũ đẹp toàn vẹn như trong tiểu thuyết.

Cả ông bà Minh Vũ đều ngạc nhiên khi thấy người khách lạ bước vào nhà. Vài phút sau ông Minh Vũ vẫn còn ngờ ngợ:

– Có phải bà là…bà Thi?

Bà Minh Vũ đã nhận ra:

– Chào bà Thi, mời bà vào nhà…

Bà khách chậm rãi lên tiếng:

–  Vâng, tôi xin chào hai ông bà…

Bà khách kín đáo ngắm nghía quanh nhà, ngôi nhà cao ba tầng lúc nãy đã làm bà choáng bây giờ vào bên trong nội thất trang trí lịch sự sang trọng càng làm bà khách choáng thêm. Bà cay đắng nghĩ thầm : “Sao mà số họ cứ mãi giàu có sung sướng thế nhỉ…”

Bà Minh Vũ hỏi:

– Chắc bà vào Nam thăm người thân họ hàng và ghé thăm chúng tôi luôn thể, chúng tôi mừng thấy bà vẫn khỏe mạnh.

– Tôi chẳng có tiền bạc và thời gian đi vào tận đây thăm họ hàng nào cả..

Bà khách buông câu nói lửng lơ dường như để cho chủ nhà thấm thía rồi mới nói thêm:

–  Nghe người làng vào Sài Gòn về kể ông bà khá giả, thằng Minh Tâm làm bác sĩ tôi mừng lắm, tôi không ngờ cuộc đời tôi lại có được người con tài giỏi như thế nên tôi mới lặn lội đường xa vào thăm con để xem mặt mũi nó ra sao…

Ông bà Minh Vũ cùng nhìn nhau, cùng một câu hỏi trong đầu không biết bà Thi vào thăm con hay vì mục đích gì qua câu nói vừa rồi…

Khách Bắc vào thăm nhà ông bà Minh Vũ như những nhà khác sau năm 1975. Bà ở tại nhà ông bà Minh Vũ vì không có họ hàng nào khác, họ tiếp bà như một người làng và hơn thế nữa như một người thân trong họ.

Ông Minh Vũ xưa là công tử con nhà giàu nhất làng, học giỏi nhưng cũng giỏi ăn chơi bay bướm, cha mẹ cưới cho ông một bà vợ con nhà gia giáo hiền thục để kềm giữ bước chân hoang đàng của ông nhưng không hiệu quả gì, ăn ở với vợ hai mặt con ông Minh Vũ vẫn chứng nào tật ấy, ông  mê đánh bạc và mê đàn bà, ông Minh Vũ đã gặp bà Thi trong một chiếu bạc, hai người  kề vai tựa má nhau trong chiếu bạc mà nên tình… Mối tình đắm say cả làng đều biết.

Bà Thi có thai đẻ ra thằng con trai, bà một mực bắt ông Minh Vũ cưới bà làm thê thiếp nhưng cha mẹ ông Minh Vũ đời nào chấp thuận một người đàn bà bị chồng bỏ vì ăn chơi bạt mạng rồi lang chạ với hết người này đến người kia về làm dâu con trong nhà mình dù là ngôi vị dâu thứ không chính thức.

Thế là bà Thi đem đứa con còn đỏ hỏn đến giao cho ông Minh Vũ, bà Minh Vũ đã giúp chồng, bà chấp nhận nuôi đứa trẻ thơ vô tội, bà cảm kích tình cảnh đứa trẻ bị mẹ bạc đãi, đã xem con chồng như con chính mình đẻ ra .

Năm 1954 ông bà Minh Vũ và các con di cư vào Nam. Bà Thi biết trước, biết mình sẽ mất đứa con trai nhưng bà không phản ứng gì.

Thế mà hôm nay bà Thi lại vào Nam tìm thăm đứa con bà đã bỏ rơi.

Khi Minh Tâm đi làm về bà Minh Vũ giới thiệu bà khách với con:

– Ðây là dì Thi họ hàng bên mẹ. Dì Thi từ Bắc vào thăm gia đình chúng ta.

Minh Tâm đã quen với những khách từ Bắc vào thăm gia đình mình, nào người thân bên họ cha lại người thân bên họ mẹ nên chàng vui vẻ nhã nhặn :

–  Cháu chào dì Thi đến chơi

Minh Tâm vô tư bao nhiêu thì bà Minh Vũ lo âu bấy nhiêu. Bà Minh Vũ cứ luẩn quẩn bên con, bà sợ sẽ mất con, bà Thi sẽ làm điều gì đó với thằng Minh Tâm của bà.

Ông Minh Vũ bây giờ không còn là ông Minh Vũ ngày xưa nữa, ông đã là người chồng người cha tốt. Gặp lại người xưa bệ rạc ông cảm thương dù trong thâm tâm ông vẫn oán trách bà Thi trong quá khứ đã lợi dụng đứa con làm tiền ông và đã phủi tay ruồng bỏ đứa con không thương tiếc.

Mỗi buổi sáng ông bà Minh Vũ đều đưa bà Thi ra hàng quán ăn điểm tâm, tiếp đãi lịch sự nay món này mai món khác. Sáng nay sau khi đi ăn phở ở đầu phố về thì cả ba người lại ngồi vào bàn hàn huyên chuyện trò, bà Thi đã kể chuyện đời mình:

– Cái số tôi lận đận chẳng ra gì, sau dạo chia tay ông Minh Vũ thì thời cuộc đến, giá mà tôi cũng di cư vào Nam như ông bà thì đỡ khổ thân tôi. Sau đó tôi lấy chồng, trời quả báo hay sao ấy thằng chồng này dữ dằn vũ phu, tôi chán nó mà không làm gì được nó, không dám bỏ nó, vợ chồng với 3 đứa con sống nghèo khổ trong căn nhà tuềnh toàng, vất vả cực nhọc ruộng nương mà cũng chỉ ngô khoai vào bụng..

Bà Minh Vũ bùi ngùi:

– Thế rồi các cháu khôn lớn có khá hơn không?

– Tài thánh gì mà khá lên được hở bà!  3 đứa con tôi có đứa nào được đi học đến cấp hai đâu, chữ nghĩa chỉ một rúm thì chỉ có đi làm ruộng, làm thuê, đời cha mẹ nghèo đời con cháu cũng nghèo theo, căn nhà vẫn nghèo xấu nhất làng…

 

Bà Thi than thở xong và thay đổi ngay thái độ:

–  Nhưng hôm nay tôi đến đây không để nhận những lời an ủi suông của ông bà đâu nhé. Tôi có việc đấy…

Bà Minh Vũ giật mình:

–  Bà nói thế là ý gì?

–  Tôi chẳng có nhiều thì giờ mà ở đây quanh co, nói toạc ra là tôi cần ông bà… giúp đỡ một món tiền về làm vốn…

Ông Minh Vũ nghiêm nét mặt:

–  Bà muốn gì? Bà đang làm tiền chúng tôi đấy hả?

Bà Thi lạnh lùng:

– Ông bà có tất cả những gì mà cả đời tôi không có, hạnh phúc và tiền bạc, thì cũng nên chia cho tôi hưởng chút ít phước đức của ông bà chứ. Hãy đưa tôi một món tiền thì không đời nào thằng Minh Tâm cũng như hàng xóm láng giềng của ông bà biết nó là đứa con già nhân nghĩa non vợ chồng trên chiếu bạc thâu đêm của tôi và ông Minh Vũ. Minh Tâm vẫn mãi là con yêu quý của bà Minh Vũ và tôi mãi là bà dì họ như bà Minh Vũ đã giới thiệu.

Ông Minh Vũ tức giận:

– Bà đã bỏ rơi nó, đã tống của nợ cho tôi, nếu không có nhà tôi thì tôi không biết xoay sở ra sao. Vậy mà hôm nay …

Bà Minh Vũ ngắt lời chồng:

– Kìa ông, chuyện cũ đã qua bao nhiêu năm rồi…

– Nhưng nghĩ lại tôi vẫn còn hận lắm…

Bà Minh Vũ suy nghĩ một lúc lâu rồi ôn tồn nói với bà Thi:

–  Tiền bạc là mồ hôi nước mắt của chúng tôi, nhưng tôi đồng ý, sẽ bàn với nhà tôi đưa bà một món tiền, trước xem như giúp đỡ hoàn cảnh nghèo khó gia đình bà sau là gia đình tôi đang êm ấm không bị xáo trộn, tôi không muốn thằng Minh Tâm bị cú “sốc”, bị tổn thương. Tội nghiệp nó.

Bà Thi hả hê:

– Vậy ông bà quyết định nhanh đi. Khi có tiền trong tay tôi sẽ rời khỏi nhà ra ga xe lửa về Bắc ngay và hứa không bao giờ trở lại. Tôi đã ở đây ăn hại nhà ông bà mấy ngày, ông bà tiếp đãi tử tế lắm tôi cám ơn.

Bỗng Minh Tâm xuất hiện, chàng đang từ thang lầu bước xuống làm ông bà Minh Vũ và bà Thi cùng giật mình sửng sốt:

– Con chào bố mẹ, chào… dì Thi.

Bà Minh Vũ lắp bắp:

– Kìa con… con… chưa đi làm sao?

– Vâng, sáng nay con mệt nên nghỉ ở nhà…

Bà Minh Vũ càng bối rối và lo lắng:

– Mẹ sơ ý quá cứ tưởng con đã đi làm. Thế con…con… đã nghe những gì rồi?

– Tình cờ khi con vừa bước xuống vài bậc thang lầu nghe cha mẹ và dì Thi nói chuyện con càng tò mò nghe thêm và hiểu hết câu chuyện.

Không ai bảo ai cả ông bà Minh Vũ và bà Thi cùng nín lặng chờ đợi Minh Tâm nói tiếp, chàng hướng về phía bà Thi:

– Thưa dì, tôi xin lỗi phải gọi thế dù bây giờ tôi đã biết dì là ai, nhưng tôi khó có thể gọi dì là mẹ khi bỗng dưng một người mẹ không quen biết xuất hiện đã làm tôi ngỡ ngàng và càng làm tôi ngỡ ngàng đau đớn khi người mẹ ấy đem tôi ra làm vật đổi chác bằng tiền. Ngày xưa dì còn trẻ, hư hỏng và nông nổi bỏ rơi tôi, hôm nay dì đã bỏ rơi đứa con của dì thêm một lần nữa, vô tâm hơn, tàn nhẫn hơn…

Chàng xúc động nghẹn lời, mãi mới nói tiếp được:

– Bây giờ dì có ra ngoài đường hét to lên cho cả khu phố hay cả thế giới này biết tôi là đứa con nhân tình nhân ngãi của dì với cha tôi ngày xưa cũng không làm tôi xấu hổ hay đau đớn thêm nữa.

Minh Tâm lấy lại bình tĩnh hơn:

– Nhưng thưa dì, tôi vẫn thương cảm cảnh ngộ cuộc đời của dì. Ngoài bố mẹ tôi, tôi cũng sẽ giúp đỡ dì một món tiền để dì sửa chữa lại căn nhà.

Chàng đi lên lầu lấy tiền và mang xuống đưa cho bà Minh Vũ:

– Mẹ đưa số tiền này cho dì Thi giùm con. Bây giờ con phải đi làm còn hơn ở nhà con sẽ buồn thêm và mệt mỏi thêm.

Minh Tâm quay qua bà Thi:

– Chào dì. Chúc dì về nhà bình an.

Bà Minh Vũ gom số tiền của ông bà và Minh Tâm gói mảnh giấy báo và bỏ vào bịch ni lông gói ghém, cột lại cẩn thận trước khi trao tận tay bà Thi. Ngoài món tiền bà Minh Vũ còn mua mấy bộ quần áo mới làm quà cho con cháu bà Thi. Cái ba lô cũ của bà Thi lúc mới đến lèo tèo vài bộ quần áo cũ nay đã căng đầy lại thêm một túi xách đầy quà của chủ nhà.

Ăn bữa cơm trưa vội vã xong bà Thi giã từ ra về.

Khi bà Minh Vũ vào dọn dẹp lại căn phòng của bà Thi thì thấy gói tiền bọc trong bao ni lông vẫn nằm giữa giường. Tưởng bà Thi bỏ quên nhưng bên cạnh là một mẩu giấy ghi vài hàng:

“Tôi xấu hổ quá, có lẽ cuộc sống nghèo khổ và cái xã hội thiếu tình người bao nhiêu năm nay đã biến tôi thành con người xấu xa đê tiện, tôi ghen tức khi thấy ông bà hạnh phúc sung sướng, tôi tham lam mờ mắt khi thấy ông bà nhà cao cửa rộng.

Minh Tâm, con cho phép mẹ được một lần xưng hô với con thế này. Con đã được ông bà Minh Vũ nuôi dạy thành người tử tế, con tử tế gấp trăm, gấp nghìn lần mẹ. Hãy tha lỗi cho mẹ.

Tôi để lại món tiền này, vì tôi đã nhận món quà khác, một món quà vô giá từ ông bà Minh Vũ và Minh Tâm. Ðó là lòng tử tế, bao dung.”

 

Hồng Anh st

Xem thêm...

Truyện ngắn : Gửi lại mùa trăng

 Gửi lại mùa trăng

Truyện Ngắn : Nguyễn An Bình

Tranh Đinh Cường

Những viên đá cuội vang lên xào xạc sau những bước chân của tôi và Thanh.Tiếng lá thì thầm, xôn xao như chào đón. Vi vu làn gió thổi tạt vào mặt nghe mát lạnh. Đêm nay trăng sáng qua, ánh trăng bàng bạc trải đều xuống vạn vật,cỏ cây. Ánh trăng huyền hoặc soi trên mái tóc Thanh trải dài như một làn lụa mỏng,trắng bạc. Những bóng đen di động trên đám cỏ dại trước mặt.Tôi chỉ cho Thanh thấy,nàng  mỉm cười. Lẫn trong hơi gió, tôi nghe tiếng cười của Thanh cao vút trong khoảng không gian tĩnh mịch, hơi thở của Thanh thơm nồng mùi cỏ dại hòa quyện trong sương đêm đang bắt đầu xuống.Chúng tôi đi quanh bờ hồ im lặng, cả hai nhìn nhau không nói. Thanh ngồi xuống ven bờ, cúi xuống lấy một viên đá cuội trắng ném xuống mặt hồ, viên đá chạm mặt nước tạo những lượn sóng có vòng tròn đồng tâm càng lúc càng xa dần nơi xuất phát,làm ánh trăng chiếu trên mặt nước như tan ra thành từng mảnh,nhấp nhô lên xuống.Tôi chỉ xuống mặt hồ nói với Thanh:
  -Em thấy không? Trăng đã vỡ rồi.
  Thanh cười:
 -Chính em muốn làm cho nó vỡ đấy.
    Tôi hơi ngạc nhiên nhìn nàng:
   -Tại sao thế?
    -Thấy trăng đẹp quá em ghen.
        Tôi ngồi xuống bờ hồ cạnh Thanh, nhìn khuôn mặt rạng rỡ của nàng dưới ánh trăng nói:   -
  -Em chỉ nghĩ bậy.Sao lại ghen?
  -Vì em muốn không ai đẹp hơn em.Anh đi rồi sẽ gặp những cô gái khác đẹp hơn em ,anh sẽ quên em mất.
 Tôi hơi giận Thanh:
 -Sao em lại nói thế?không tin anh sao, cô bé ?
Thanh nhìn tôi, tóc nàng nhờ ánh trăng soi ửng sáng càng tăng thêm vẻ đẹp lạ lùng.Nàng cười vang 
    -Em đâu biết được, anh đi dạy chắc thế nào cũng có nhiều cô học trò xinh xắn lắm, mê anh cho coi. 
  -Nhưng anh chưa đi dạy mà.
  Thanh ngắt lời tôi:
 Rồi anh sẽ đi dạy.Chẳng phải đêm nay anh đến từ giả em ngày mai nhận sự vụ lệnh lên đường đi dạy học sao?
  -Phải rồi, nhưng anh chưa là thầy của ai hết thì làm sao có học trò đẹp hay xấu? Mà anh chắc chắn với em rằng  học trò anh sau nầy đều “xí” hết.
 Thanh nheo nheo mắt :
-Xí như thế nào? Xí hơn em hôn?
  Tôi kêu lên :
-Trời ơi! em đẹp nhất đời nầy.
  Thanh nguýt tôi:
Anh chỉ giỏi tài nịnh.
 Tôi giơ tay lên trời:
 -Anh xin thề…
   Thanh vội kéo tay tôi xuống:
  -Em nói chơi mà.Ai đời thầy giáo mà đi thề thốt với học trò, người ta biết cười chết cho coi.
 Tôi xoa hai tay vào nhau cười:
  -Có được cô học trò như em kêu anh thề vạn lần còn được nữa là…
  Thanh kêu lên:
 -Nè, chưa gì đã muốn làm thầy người ta rồi nhỉ? Oai ghê ta.Thôi thì xin thầy ngồi ngoài đây chơi, học trò buồn ngủ rồi, học trò đi ngủ đây.
Nói xong Thanh dợm bước đứng dậy, làm tôi hoảng hốt vội nắm tay Thanh kéo ngồi xuống lại:
  -Chưa chi đã giận rồi, tánh sao hay dỗi thế.
-Ừ, tánh “tui” dễ ghét vậy đó. Đâu có biểu ai thương tôi làm chi.
  Tôi nói đùa:
  -Ai thương đâu mà nói.
Thanh dí ngón tay lên trán tôi:
  -Thật nhé! “tui” vô đừng có năn nỉ ở lại nghe.
  Tôi làm bộ nói cứng:
  -Ừ, coi ai năn nỉ ai thì biết.
  Nói rồi tôi quay mặt đi nơi khác.Thanh đứng lên một hồi lâu, tôi làm bộ giận không quay lại, Thanh phải năn nỉ:
 -Giận thiệt hở? Có chút vậy cũng giận.
Tôi vẫn im lặng.Thanh ngồi xuống nói nhỏ :
 -Nè, cho em xin lỗi nghe.
  Tôi bậm môi:
 -Hông.
  Thanh nói như muốn khóc:
  -Hông hở? Thiệt hông?
 Tôi thấy tội nghiệp cho Thanh.Tính nàng như vậy đó. Đụng một chút là giận, đụng một chút là khóc, nhưng tôi lại yêu thật nhiều tính trẻ con của Thanh.Thanh làm cho tôi nhớ lúc mình còn nhỏ cũng ưa mè nheo với mẹ. Có lẽ vì đặc điểm nầy mà khi mới quen tôi đã yêu Thanh ngay.Tôi với Thanh học chung với nhau từ lớp đệ tam(lớp 10 bây giờ) ,sau khi đậu tú tài hai, tôi thi vào sư phạm, còn Thanh ghi danh vào học luật. Được ít lâu sau Thanh bỏ học đi làm, còn riêng tôi vẫn đeo đuổi con đường mình đã chọn.Ngày mai sẽ tôi lên đường đi dạy ở một vùng quê nào đó và có lẽ chúng tôi sẽ xa nhau một thời gian.
  Tôi vẫn không quay lại nhưng nghe giọng nói run run của Thanh là tôi biết nàng sắp khóc, không hiểu tại sao lúc bấy giờ tôi lại cứng rắn lạ lùng:
   -Thiệt.
 Thanh nghe xong đứng lên ù chạy vào nhà.Tôi hoảng hốt chạy theo nắm lấy tay Thanh dìu ngồi lại chỗ cũ:
 -Gì vậy? Em chạy đi đâu đó?
  -Em vô nhà.
 -Chi vậy? Trời ơi! Có chút xíu mà cũng khóc, trông kìa, nước mắt ướt tèm lem cả mặt rồi.
Tôi vừa nói vừa lấy khăn lau nước mắt cho Thanh. Tôi bắt qua chuyện khác cho nàng vui:
 -Trông em khóc giống như nàng công chúa ngủ trong rừng được vị hoàng tử đánh thức vậy.Cảm ơn tấm lòng của vị hoàng tử nên những giọt nước mắt của nàng công chúa rơi xuống thành những hạt châu đẹp nhất trên đời.
 Thanh nhìn tôi,chớp chớp mắt:
 -Thật hở anh? Nàng công chúa cũng biết khóc nữa kia à? Vậy mà em tưởng làm công chúa ngày xưa sung sướng lắm chứ?
  Tôi trả lời:
  -Sung sướng lắm chứ em.Suốt ngày nàng công chúa có làm gì đâu chỉ biết mơ mộng thôi.Thế mà nàng lại bị một người ganh ghét bắt nàng ngủ say từ năm nầy qua năm khác trong khu rừng già đầy thú dữ hiểm nguy với lời nguyền rằng khi nào có vị hoàng tử nào hôn lên đôi môi xinh mộng thì nàng mới thức dậy được.
 -Người nào mà ác quá vậy anh?
 Tôi nhìn Thanh cười nói:
 -Đó là bà tiên giận hờn đó em.Mà em không phải là nàng công chúa ngủ trong rừng là gì?
 Thanh hiểu ý tôi muốn phá nàng, nàng dí dí tay lên trán tôi:
-Nè,hổng giởn nữa nghe. Người ta đang nói chuyện đàng hoàng đó.
  -Thì anh cũng đang nói chuyện đàng hoàng mà.    
 Thanh xí dài:
 -Đàng hoàng mà như vậy đó hở?
Tôi dí nhẹ mủi giày xuống đám cỏ dại dưới chân mình nói:
 -Vậy thế nào mới là đàng hoàng?
 Tới phiên Thanh giểu cợt lại tôi:
  -Là phải mang kính cận nè,  phải nghiêm nghị như …ông giáo nè, phải không dám nhìn thẳng vào các cô học trò xinh nè, phải…
 Tôi vội xua tay mặt nhăn nhó:
 -Thôi!thôi! đừng tố khổ nữa cô ơi, nghe mà muốn xỉu.
  -Thì anh bảo muốn đàng hoàng phải làm thế nào mà, em nói cho anh nghe rồi đó.
Tôi nhìn Thanh lắc đầu:
 -Đàng hoàng kiểu đó chắc anh thành ông cụ non mất.
-Anh thành ông cụ non em càng mừng nữa cơ.
 Tôi kí nhẹ lên đầu Thanh một cái:
 -Giỏi lắm! Tôi thưởng cho cô học trò cưng của tôi nầy.
 Thanh nhăn mặt:
  -Người ta đã nói rồi, người ta không phải là học trò của thầy mà. Đừng ỷ làm thầy giáo rồi muốn kí ai cũng được à nghe.
 Tôi đưa tay lên như muốn kí đầu Thanh lần nữa.Thanh tưởng tôi kí thiệt vội chạy qua bên kia hồ, lúc lắc cái đầu:
 -Xí hụt.
 Tôi cười, trông Thanh hồn nhiên, dễ thương quá,tôi ngoắc tay về phía Thanh:
 -Qua đây với anh, trời khuya ở bên đó lạnh lắm.
  -Lạnh thì lạnh, qua đó để anh kí em nữa sao ?
 Tôi lắc đầu:
 -Không kí nữa.
 -Thiệt hông?
Tôi giơ tay lên cao:
-Xin chừa.
Thanh bỏ phía bên kia hồ đi dần về phía tôi:
-Anh làm em thấy mắc cười quá à. Trông anh giống ông Ba Bị ấy.
 Tôi vừa chồm tới, Thanh đã vội chạy ra xa, nàng cười lớn, tiếng cười thật trong trẻo:
   - Đã bảo chừa rồi kia mà, thầy giáo nói mà không biết giữ lời.
 Tôi chối quanh:
- Thì anh có làm gì đâu, anh định giữ em lại thôi mà.
 -  Chối hé.
-  Anh nói thật.
 Thanh ngồi xuống cạnh tôi, giọng vẫn còn đùa cợt:
   - Nói thật như anh có ma nó mà tin.
 - Sao lại không tin? Em không tin nhưng có một người tin.
  Thanh hỏi:
- Ai thế?
Tôi ỡm ờ:
  - Một người con gái.
Thanh chớp mắt:
   - Cô nào tin anh thì chết cả cuộc đời.
 Tôi cầm lấy tay Thanh, nhẹ nhàng nói:
   - Người đó chính là tác giả của câu nói vừa rồi.
 Thanh vẫn để yên bàn tay nàng trong lòng bàn tay tôi, mắt nàng nhìn xuống mặt hồ mơ màng. Ánh trăng chênh chếch, vàng lườm, huyền hoặc. Những gợn sóng nhỏ lăn tăn trên mặt hồ như ngàn con cá bạc quẩy đuôi nhởn nhơ bơi lội một cách thong dong. Trên mặt hồ nước như bốc hơi thành một làn sương mỏng la đà. Chúng tôi ngỡ mình đang sống trong cảnh hư huyền nào khác mà không gian, thời gian chỉ còn lại hai chúng tôi mà thôi.
  Thời gian như trôi chậm lại, không gian chỉ còn ánh trăng vàng mông lung rãi trên mặt nước, cảnh vật như im lặng sẻ chia. Ngày mai tôi đã đi rồi, thật sự bước vào nghề gõ đầu trẻ. Ở  phương trời nào đó tôi vẫn nhớ Thanh, nhớ khu vườn nhỏ, nhớ mùa trăng huyền hoặc soi trên lối cỏ, nhớ mái tóc dài dịu mềm của Thanh bay theo gió mỗi khi đi học về.
Tôi ngước lên, ánh trăng thượng tuần vẫn sáng vằng vặc.Tình tôi đối với Thanh cũng sáng  như ánh trăng vàng. Mùa trăng trong khu vườn nhỏ, có vài chiếc lá rơi xào xạc, tiếng chim ăn đêm kêu từng tiếng rời rạc, khắc khoải.Sương đã rơi đầy trên lối cỏ mù mờ. Tôi chợt thấy lạnh, cái lạnh của sương đêm xuống nhiều, cái lạnh của ngày mai tôi sắp xa Thanh.Tôi đừng lên, dìu Thanh đi về phía nhà:
- Vào nhà đi em. Khuya rồi sương xuống nhiều quá, chắc em lạnh lắm.
 Tôi thấy bờ vai nàng run run, tôi kéo Thanh sát vào người tôi như muốn chuyền hơi ấm cho nàng. Chúng tôi bỏ sau lưng lời than vản của đá cuội, của ánh trăng vàng soi trên mặt hồ, lung linh diệu vợi …

 

Kim Kỳ sưu tầm

Tranh Đinh Cường


    

Xem thêm...

Em Về Vạt Nắng Chiều Xuân

Em Về Vạt Nắng Chiều Xuân

Cứ như là định mệnh, cơn bão tháng Tư thổi bay tôi ra khỏi Đà Lạt vào một ngày cuối tháng Ba năm ấy. Tôi đi mà không kịp từ giã Đà Lạt thương yêu, chập chùng những đồi thông với mối tình đầu vừa chớm nở như nụ hoa xinh trong lòng cô gái mới ngoài hai mươi tuổi. Thật ra mối tình ấy hình như đã đến từ lâu trước khi Lãng ra trường và chuyển về đơn vị, suốt một thời trung học tôi và Hà, em của Lãng đã từng có rất nhiều kỷ niệm, kể cả lần theo gia đình Hà lên trường Võ Bị  ngày lễ mãn khóa của Lãng.


Cuối tháng ba năm ấy, gia đình tôi hối hả chạy về Sài Gòn theo cơn bão lốc của chiến tranh. Cả nhà trú ngụ trong nhà người chú đang làm việc tại Hải Quân công xưởng, Sài Gòn tháng Ba nóng như nung, tin chiến sự mỗi ngày cho tôi biết Đà Lạt thơ mộng của tôi đã không còn nữa. Tôi nghĩ đến Hà, đến Lãng, chẳng hiểu nhà bạn ra sao và Lãng thế nào nơi chiến trường khói lửa, mỗi lần nghĩ đến tim tôi chừng thắt lại, thổn thức trong nỗi chuyếnh choáng của một cơn ác mộng.

Những ngày cuối tháng Tư không khí Sài Gòn lúc nào cũng như lên cơn sốt, một ngày chú Nhân hối hả về đưa cả nhà ra bến tàu, vội vã đến mức mỗi người chỉ mang theo một cái túi xách cá nhân đựng ít quần áo và lương khô phòng hờ lúc cần thiết. Chuyến tàu ra biển Đông vào đêm tối, ban đầu cũng chen chúc hỗn độn vì phải chở một số người quá đông, nhưng rồi  đến lúc tàu càng đi càng xa chẳng còn nhìn thấy chân trời đâu nữa, nhiều người đã  bật khóc vì biết rằng lần này thì mất hẳn quê hương…

Tôi không mang được gì ngoài vài tấm ảnh đen trắng chụp ở ven hồ Xuân Hương, một tấm nơi cổng trường Võ Bị Đà Lạt với Hà và Lãng ngày anh ra trường. Có một tấm hình màu duy nhất ngày anh về phép, như để nhớ lại ngôi trường cũ tiện thể anh đưa tôi và Hà lên chơi rừng Ái Ân bên bờ hồ Than Thở. Người Đà Lạt không lạ gì cảnh buồn của nơi này khi nhìn ra phía xa đỉnh Lâm Viên mờ mờ trong mây phủ. Làm sao tôi quên được vì tấm ảnh chụp ba người dưới gốc thông gìa men theo con dốc nhỏ, nhìn ra mặt hồ lăn tăn gợn sóng và rừng thông buồn xao xác. Lúc đó Hà kiếm cớ đi hái hoa dại, cũng là lần đầu tiên Lãng cầm lấy tay tôi với ánh mắt êm đềm thật sâu lắng như muốn trao gửi điều gì. Tính anh vốn vậy, ít nói và trầm lặng, lao đao trong cảm xúc đón nhận tôi cũng im lặng nhìn anh chới với. Nắng lung linh trên rừng thông tạo những bóng nắng nhảy múa trên mặt cỏ, tim tôi đập mạnh dù biết rằng chẳng cần phải nói ra thì cả hai cũng hiểu được sự say đắm của tình yêu. Sau này khi xa nhau, nhìn tấm hình kỷ niệm tôi hay bị dằn vặt bởi tấm hình chụp ba người mà người ta bảo là điềm của chia ly.


Hơn hai mươi tuổi tâm hồn tôi đã khắc khoải theo những thăng trầm của đất nước, mối tình đầu mơ hồ vẫn đọng lại trong tâm khảm. Ra nước ngoài, hoà nhập vào xã hội mới trong nỗi nhọc nhằn khó khăn của cha mẹ, để rồi sau một thời gian dài đủ nguôi quên Đà Lạt trong trí nhớ, tới gần 30 tuổi tôi mới lập gia đình. Chẳng được bao năm hương lửa chồng tôi cũng qua đời trong một tai nạn xe cộ để lại tôi một mình chơ vơ với hai đứa con còn bé dại, từ đó tôi bắt đầu tin số mệnh.  Số tôi đường tình hình như trắc trở, tình yêu đầu với Lãng chưa ấm một vòng tay, tình yêu sau cũng chẳng trọn con đường trần, thôi thì ở vậy nuôi con chờ ngày chúng khôn lớn với nỗi buồn góa phụ.

Khi các con trưởng thành và đi làm xa, tự nhiên không hiểu sao tôi lại hay nghĩ về quá khứ, đến Lãng, đến Hà và khung trời Đà Lạt, cứ mơ ước một lần trở về con đường quen, cái xóm nhỏ có những căn nhà gỗ ở cuối dốc, từ đó có thể nhìn xuống phía dưới là vườn rau xanh Đà Lạt. Đấy là căn nhà của Hà, ngày xưa hai đứa hay ngồi phía sau nhà nhìn thẳng ra bãi rau xanh phía xa rồi mơ màng nghĩ vẩn vơ, những lúc ấy không biết Hà nghĩ gì nhưng riêng tôi thì bao giờ cũng có hình ảnh Lãng.

Quyết định trở về thăm lại Đà Lạt sau hơn ba mươi mấy năm, kể từ ngày tôi xa Đà Lạt năm ấy. Rủ thêm Quyên người bạn mới quê ở Đà Lạt về cho có bạn, Quyên cũng muốn đi tìm lại chốn cũ thăm người dì ruột và đám em họ. Đà Lạt hôm nay đã thay đổi hết rồi, tôi lạc lõng trong thành phố xưa để đi tìm lại kỷ niệm cũ, ngoài những con đường xưa không thể thay đổi nhưng nhà cửa thì đồ sộ, bóng bẩy và ồn ào hơn như hầu hết các nơi khác. Ba tôi là công chức nên ở nhà chính phủ, căn nhà ấy nay có chủ mới, xây dựng lại tôi nên tôi không còn nhận ra những gì thân quen. Coi như hết, ở tuổi tôi đâu cần tìm cái mới, may ra có thể tìm lại Hà và một số bạn học cùng trường năm xưa.


Ngày hôm sau tôi một mình tìm về xóm nhỏ ngày xưa, với hy vọng mong manh gặp lại người bạn cũ. Nếu gặp Hà tức nhiên tôi sẽ có tin của Lãng, vì tháng Ba năm ấy khi tôi chạy về Sài Gòn thì anh vẫn còn đang lao đao ngoài vòng lửa đạn. Trong lòng tôi chỉ mong mỏi một điều tất cả mọi người đều bình yên, và nếu như gặp Lãng thì cũng mong anh luôn được êm đềm hạnh phúc. Rất may là Hà vẫn còn ở căn nhà gỗ sơn màu xanh nhạt, nhà cửa xây dựng lại trông có phần chắc chắn hơn xưa. Bạn tôi không có nhà, người nhà cho biết Hà đang ở ngoài cửa hàng đan len và bán hàng lưu niệm cho du khách.

Lòng khấp khởi mừng vì sắp gặp lại bạn cũ, tôi sẽ gỉa vờ làm khách du lịch đi mua hàng xem Hà có nhận ra bạn cũ. Không khó lắm tôi đã tìm ra địa chỉ, Hà đang ngồi ở trong quầy, nay đã tròn trịa, gìa dặn hơn trong chiếc áo len màu trứng sáo, khi về già trông Hà thật đôn hậu. Thấy tôi vào Hà chau mày nghĩ ngợi, bất chợt giật mình như cố nhớ xem nét mặt quen quen này ở đâu. Sau một lúc la cà xem mấy tấm khăn phu la treo trên vách, mắt tôi chợt đập vào mấy bức tranh nhỏ vẽ cảnh Đà Lạt đặt gần phía ngoài để thu hút khách du lịch. Tranh lộng trong khung tre, sau những rặng thông đan nhau nhạt nhòa màu thời gian, dải Lâm Viên chập chùng mờ mờ trong sương sớm, nơi góc của bức tranh ký một chữ “Lãng” rất nhỏ khiến tôi bàng hoàng. Đúng lúc đó thì Hà đã theo ra đứng phía sau lưng tôi, ngỡ ngàng gọi tên tôi rồi cứ thế bật khóc nức nở.

Cả hai chúng tôi cùng khóc, có lẽ cả hai cùng đang nhớ về những biến động của thời thế và tang thương của đất nước mấy chục năm trước. Giọng Hà ướt sũng khi hỏi tôi:

“Ngọc về bao giờ thế? Hà cứ tưởng như trong mơ…”

Nghẹn lời khi không nói hết được những gì muốn nói, hai đứa im lặng nhìn nhau. Rồi Hà kể cho tôi nghe bao nhiêu dâu bể cuộc đời xảy ra cho gia đình trong những năm tháng đó, Lãng bị bắt làm tù binh và trở về nhà với một cái chân tật nguyền không phải vì bom đạn.Tôi chỉ vào bức tranh rừng thông với giải núi xa màu xanh xám phủ mây mù hỏi Hà, giọng xúc động:

“Tranh này của anh Lãng?”

Hà gật đầu:

“Phải, nhờ vẽ những bức tranh này mà anh cũng có đủ thu nhập để sống trong bấy nhiêu năm trời.  Chiến tranh băng mình trong lửa đạn không hề hấn gì, thế mà vào tù khi đi lao động lại bị tai nạn, cây đổ gây thương tật đi đứng không còn được như xưa, may là còn sống. Anh ấy vẫn không gặp may, nếu ở tù đủ ba năm thì cũng được đi Mỹ theo diện H.O. Ba mẹ Hà theo nhau về trời, Hà lập gia đình với một người lính cũ, anh ấy rất chịu khó nên cả nhà cũng thoát qua được lúc ngặt nghèo. Đợi mình lập gia đình xong thì anh Lãng nhất định đòi lên rừng ở…”

Tôi trố mắt nhìn Hà:

“Lên rừng? Anh làm gì ở trên rừng?”

Hà bật cười giải thích:

“Nói là rừng chứ không hoàn toàn là rừng. Trên ấy có một làng nhỏ người ta sống bằng nghề làm củi, trồng rau, mình có một bà cô già sống một mình không con cái, cô chuyên làm chao, làm tương nổi tiếng ngon, bán cho người nghèo quanh vùng, thời buổi ấy nhà nào cũng chỉ sống bằng rau dưa chao tương  qua ngày thôi. Cô mình chỉ ăn chay, gần như tu tại gia nên anh Lãng bảo lên đó sống với cô hủ hỉ cho vui nhà vui cửa, giờ rảnh anh phụ cô làm tương chao, phía sau nhà có mảnh vườn nhỏ đủ rau khoai cho hai cô cháu. Anh ấy tu rồi Ngọc ạ, sớm chiều hai buổi công phu theo bà cô và ngồi thiền để khỏi ngẫm nghĩ chuyện đời.”

Nghe Hà kể mà tôi ngậm ngùi, tưởng tượng ra một xó rừng nào đó Lãng đã ru đời mình theo tiếng chuông tiếng mõ. Hà tiếp tục câu chuyện:

“Nhờ sống ở đó mà anh Lãng trở thành họa sĩ, không có trò giải trí anh mới nghĩ ra cần phải vượt lên trên số phận bằng cây cọ. Thấy anh vẽ đẹp quá nên Hà nảy ra ý định đem lộng khung rồi bán những bức tranh nhỏ cho du khách làm quà lưu niệm, vậy mà không hiểu sao tranh bán rất được, mỗi tháng anh phải đem về cho mình hằng chục bức, nhờ vậy đời sống anh thoải mái hơn. Nhưng anh cũng lấy đó làm vui và giúp mình để nuôi các cháu ăn học chứ không nghĩ gì đến bản thân, tội nghiệp quá!”

Hà cười mà đôi mắt còn ướt vì hạnh phúc:

“Cũng nhiều chuyện vui vui khi bán tranh cho anh Lãng, nhờ vậy mà bạn anh từ nước ngoài về thăm Đà Lạt, nhìn ra đỉnh Lâm Viên ngày xưa của mấy anh ấy trong tranh nên đã tìm ra bạn cũ. Họ rủ nhau đến thăm anh, mua tranh với giá cao để giúp bạn và nhờ vậy anh Lãng cũng thật ấm lòng với tình bạn đời quân ngũ. Có người còn muốn giúp anh về lại thành phố mở xưởng vẽ, nhưng anh Lãng thật khác người, từ khi lên rừng sống với bà cô tu tại gia thì anh ấy đã thay đổi hoàn toàn, chẳng bao giờ vui quá hay buồn quá, anh ấy bảo đau khổ bao nhiêu cũng chỉ cần một nụ cười là hoá giải được tất cả.”

Thì ra là vậy, tự nhiên tôi cũng tò mò muốn đến thăm Lãng để xem cuộc sống ra sao mà anh lại “an nhiên tự tại” vui hưởng thú điền viên với rặng thông già. Tôi chợt cười thầm và nhớ lại. Đúng là Lãng, Lãng của ngày xưa ngay cả khi tỏ tình cũng chỉ lặng lẽ trao gửi mà đâu cần nói một lời nào, điều này khiến tôi càng ao ước gặp Lãng, và tôi đã nói điều đó với Hà. Hà gật đầu hóm hỉnh:

“Nhưng Hà nói trước, anh Lãng bây giờ không phải anh Lãng ngày xưa, chỉ tu tâm mà không khoác áo tu, đầu tóc râu ria trắng xoá, nếu gặp lại chắc Ngọc sẽ ngỡ ngàng lắm đó.”

Tôi gật đầu bảo Hà:

“Ngọc sẽ không ngạc nhiên đâu!”

Hà giao cửa hàng cho con gái trông nom rồi cùng tôi rong ruổi đó đây với đất trời Đà Lạt. Cuối năm trời vẫn trong veo và nắng vẫn óng ả, chúng tôi lên “rừng” thăm Lãng như dự định. Không báo trước nhưng Hà biết anh mình  không đi đâu xa vì mới đem tranh xuống phố, nếu có vắng nhà chỉ là lúc anh mang cọ, màu đi vẽ ở một góc nào đó thôi. Kể ra sống như Lãng cũng thú, chẳng vướng bận thê nhi, chẳng lo lắng miếng cơm manh áo vì đã quen ăn chay mấy chục năm trường. Bà cô già kể từ khi Lãng vẽ tranh kiếm được tiền để sống qua ngày đã thôi không làm tương chao, nhưng lo nỗi Lãng là cháu trai không tiện việc săn sóc bà khi nằm một chỗ nên đã xin vào ở hẳn trong chùa sư nữ để tìm nơi nương tựa lúc tuổi già.


Xe ngừng ở ngoài đầu con đường nhỏ, chúng tôi còn phải lội bộ khoảng mười lăm phút mới đến nơi ở của Lãng. Căn nhà nằm ngay đầu dốc nên cao hơn các nhà trồng rau ở phía dưới, vài cây thông xanh trước nhà và phía sau như bao bọc lấy căn nhà nhỏ bằng gỗ màu xám nhạt, từa tựa như những căn nhà miền quê ở Âu Châu.Tự nhiên tôi lại thấy hồi hộp, mấy chục năm rồi kể từ khi xa nhau bây giờ sắp gặp lại thì đã hai màu tóc, người lính trẻ năm xưa kiêu hùng trong màu áo trận, cô gái đang độ xuân xanh má đỏ môi hồng thuở nào nay đã thay đổi nhiều với thời gian. Sẽ như thế nào nhỉ? Thôi mặc kệ tất cả, như định mệnh là bàn tay tai quái đã phủ chụp lên thân phận con người thì chuyện gì đến tất phải đến.

Lãng đang ngồi uống trà nhìn ra khung cửa sổ, bên ngoài là thung lũng thoai thoải có những luống rau xanh thẳng tắp chạy dài xuống chân đồi. Nghe tiếng bước chân anh ngoảnh nhìn lại, hơi ngạc nhiên vì thấy em gái đi với khách lạ, linh tính cho anh biết khách từ xa đến đây, và người khách ấy chỉ có thể là Ngọc vì chả bao giờ Hà chịu bỏ cửa hàng để đi đâu. Tôi chưa kịp lên tiếng chào thì Lãng đã lên tiếng trước, bình thản như hỏi một người quen mới đi đâu về:

“Ngọc đấy à? Em về bao giờ thế?”

Tuy đã chuẩn bị nhưng tôi vẫn bối rối, trước mặt mình là một người đàn ông chưa già lắm mà đầu tóc bạc phơ, sắc mặt hồng hào khoẻ mạnh. Anh đấy ư? Vẻ an nhiên tự tại trên nét mặt bình thản ấy như đã từng vượt trên đầu sóng của số phận khiến tôi thán phục sức chịu đựng của anh, hóa ra tôi vẫn yếu ớt như ngày nào mặc dù đã nhủ lòng đừng khóc. Đến nỗi Lãng phải bước tới bên cạnh tôi, cầm lấy bàn tay gía lạnh vì tiết trời rét buốt tháng chạp, xiết chặt như muốn chuyền hơi ấm:

“Đừng khóc, người từ xa về mang niềm vui đến đây sao lại khóc? Anh đang vui đây vì em đến như một giấc mơ không đợi, mới đó mà ba mươi mấy năm rồi nhỉ?”

Tôi nghe như có tiếng thở dài rất nhẹ sau câu nói đùa của Lãng, bên ngoài hàng thông vẫn reo vi vu như hòa theo chút ngậm ngùi của ngày hạnh ngộ. Bình tâm lại sau những cảm xúc ban đầu, ba người ngồi xung quanh chiếc bàn nhỏ trò chuyện, Lãng rót cho tôi một tách trà nóng, giọng ân cần như xưa:

“Ngọc uống đi, anh không dùng trà từ lâu mặc dù trà là đặc sản của Lâm Đồng. Đây là nước gạo lức rang, anh đã dùng nhiều năm thay trà để tăng cường sức khoẻ . Hằng ngày chỉ tập thêm “Suối Nguồn Tươi Trẻ” là đủ, tuy đầu tóc bạc phơ nhưng cơ thể không bịnh tật, khí hậu trên rừng cũng tốt hơn thành phố em ạ.”

Toàn những chuyện của hôm nay, tôi đang muốn biết dưới đáy biển ngầm của mối tình xưa có vỗ lại những đợt sóng trong trái tim người đàn ông đã một thời yêu tôi và tôi cũng một thời yêu anh say đắm. Hà ngồi đó mỉm cười nhìn anh và bạn, như đang nhớ lại buổi trưa trong rừng Ái Ân bên bờ hồ Than Thở năm xưa, đã giả vờ đi tìm hoa dại cho hai người yêu nhau có dịp bày tỏ nỗi lòng. Bây giờ Lãng nói nhiều chứ không trầm lặng như xưa, hay anh cũng đang bối rối che giấu bằng những câu chuyện đâu đâu trong lần hạnh ngộ?!!

Xế chiều hôm đó khi trời còn vương vất nắng, Lãng đưa chúng tôi đi lang thang xuống chân đồi xem vườn rau và rừng thông nằm rải rác phía xa xa, chỗ ấy có một con suối nhỏ mà anh thường ra đó để vẽ, khung cảnh này tôi đã nhìn thấy trong một tấm tranh của Lãng. Đêm đầu tiên ở lại với Hà trong căn nhà của Lãng, tôi chờ nghe tiếng chuông tiếng mõ và mùi trầm hương để ru mình vào giấc ngủ, chập chờn trong giấc mơ tôi nghe như những giọt nước  mắt mằn mặn bờ môi khi vùi mặt lên vùng ngực ấm của người lính trận trước giờ chia tay. Lãng trở ra đơn vị và cũng chỉ vài tháng sau tôi xa Đà Lạt mãi mãi…


Sáng hôm sau mới bốn giờ đã ngửi thấy mùi nếp thơm phả trong căn nhà nhỏ. Trời mưa, Lãng dậy sớm theo thói quen nhen lửa thổi nồi xôi đậu phọng ăn với muối vừng. Hà còn nằm ngủ nướng vì đêm qua trằn trọc khó ngủ, tôi ra phòng ngoài thì đã thấy Lãng đang ngồi đun nước trên bếp than hồng đỏ rực. Thấy tôi anh nhường chỗ ngồi ấm bên bếp lửa rồi hỏi:

“Ngọc ngủ có ngon không? Lạ nhà chắc cũng hơi khó ngủ, có ấm nước nóng anh đặt trên bếp cho mấy cô rửa mặt, trời cũng lạnh đấy. Ngồi xuống đây cho ấm, bữa nay anh chỉ có món quà nhà quê đãi hai cô thôi. À quên, hôm qua có nải chuối chín tới, mùa nào thức nấy anh không phải mua gì cả, muốn lên đây ăn tết với anh thì quanh đi quẩn lại cũng chỉ bấy nhiêu thứ, không hiểu mấy cô có chịu nổi không?”

Tôi nhìn Lãng mỉm cười không nói, chưa biết tôi có chịu nổi cách sống chay tịnh lành mạnh này được bao lâu, nhưng giờ đây lòng tôi thật êm ả sau những phong ba bão táp trong bấy nhiêu năm đời viễn xứ. Không hiểu sao tôi lại buột miệng hỏi Lãng:

“Sao hồi đó khi còn trẻ anh không lập gia đình cho tuổi già đỡ cô quạnh?”

Lãng nhìn lại tôi, câu trả lời hóm hỉnh mà nghe thấm đến tận tim phổi:

“Anh đã tu rồi mà, tu rồi thì lấy vợ làm gì. Thật ra nếu em ở lại trong khoảng thời gian đó, mới cảm nhận được cái đau tinh thần nơi người ở lại. Anh đã không hoà nhập được với cái mới nên phải tự tách ra tìm cái gì đó cho mình để khỏi phải nghĩ ngợi. Thời gian cũng làm lành tất cả những vết thương, cái chân tật nguyền bị gãy trong lần đốn cây trên rừng thời gian tù tội, anh đau cái đau của thể xác đã đành mà còn mang thêm nỗi nhức nhối vì bị bỏ rơi, bị lãng quên sau khi đã cống hiến tuổi trẻ cho đất nước. Nhiều năm nay anh không nói vì không ai hỏi, đây chính là lý do anh lên rừng ở ẩn sau khi Hà lập gia đình.”

Thương anh quá, tôi hiểu vì sao anh hay vẽ những bức tranh có đỉnh Lâm Viên mây mờ che phủ, với ngàn thông chập chùng trong mảng rừng chiều thăm thẳm. Buổi sáng nơi này trời đang mưa, tự nhiên tôi muốn hát một ca khúc đã quên lời từ lâu, “mưa rừng ơi mưa rừng, tìm đâu hỡi ơi bóng ngày xưa…”. Trôi theo những kỷ niệm vật vờ trong quá khứ, tôi thủ thỉ nói với anh:

“Người ta cứ hay nói 'không thể tắm được hai lần trên một dòng sông', những khi ấy em cho là ngớ ngẩn và rất buồn cười, nhưng đến bây giờ em mới lờ mờ hiểu ý nghĩa của câu này.”

Lãng mỉm cười châm thêm nước sôi vào bình thuỷ, trả lời tôi bằng mấy câu thơ:

“Dẫu anh biết chẳng bao giờ có thể
Tắm được hai lần trên một dòng sông
Sông còn kia mà nước chẳng quay về
Cứ khắc khoải mà trôi ra lòng biển”
(thơ NN)

Tôi nheo mắt nhìn Lãng và chỉ về phía những bức tranh vẽ dở dang trong góc phòng tối:

“Theo em hiểu thì anh tu vì muốn chôn vùi dĩ vãng, nhưng trong những bức tranh em vẫn thấy thấp thoáng hình bóng của dĩ vãng trong đó. Hàng thông ven bờ hồ Than Thở, đỉnh Lâm Viên hai dải núi mờ trong sương, đồi Cù cỏ xanh và hồ Xuân Hương gờn gợn sóng, ngôi trường cũ ẩn hiện không rõ nét nhưng con đường với bóng giai nhân ngày chủ nhật thì không lẫn lộn đi đâu được. Có phải vậy không anh?”

Lãng cười, lâu lắm rồi tôi mới thấy anh vui như thế:

“Em thật thông minh Ngọc ạ, tri âm tri kỷ tri bỉ mà định mệnh lại chia lìa nhau chỉ vì cái tan nát của nước non. Đúng thế, anh vẫn không thể nào quên quá khứ dù khi đến đây sống với bà cô già, anh tập tìm quên cuộc đời trong tiếng chuông tiếng mõ. May có cô để anh bám víu nương tựa và có em Hà nâng đỡ anh trong cuộc sống hằng ngày nếu không anh đã nhảy xuống hồ tự vận, khi nhìn lại mình những lúc ấy mà cứ tưởng rằng ai rất xa lạ…”

Tôi ngồi im chờ đợi anh nói tiếp, vì bản tính Lãng từ ngày xưa ít khi thổ lộ nỗi lòng với ai. Ngay cả những lần về phép rồi trở ra đơn vị, mỗi khi chia tay Lãng cũng chỉ lặng lẽ trao gửi bằng ánh mắt thương yêu, trong khi tôi thắc thỏm âu lo cho anh ngoài trận địa. Mơ màng nhìn ra ngoài cừa sổ, những cây thông ướt sũng nước mưa và gió vẫn rít từng cơn như những tiếng thở dài não nuột:

“Ở gần bà cô nhiều năm mà anh vẫn chẳng thuộc được bao nhiêu kinh kệ, nhưng đã bình tâm lại được nhờ quen dần với tiếng chuông tiếng mõ. Đối với anh lúc đó đời chỉ có hai nơi, một nơi là cõi bên kia và nơi anh đang sống là cõi bên này. Cõi bên kia là bạn đời lính đã ra đi khi tuổi còn xanh, những người thân đã khuất trong gia đình, dù sao thì họ cũng về nơi an nghỉ, anh cầu cho họ tìm được một thế giới tốt đẹp hơn cõi đời đầy khổ luỵ. Cõi bên này xem vậy mà khổ hơn, những người dân sống xung quanh anh hay những nơi anh đã đi qua, họ cam chịu một đời lam lũ vì không có cách nào thoát ra được, họ cũng phải chống chỏi để tồn tại trong vất vả nhọc nhằn. Đời có gì vui đâu, chưa kể bịnh hoạn ốm đau tiền đâu mà chạy chữa, nghĩ vậy nên anh chỉ cầu an cho họ. Nói là tu nhưng đó chỉ là cách giúp cho tâm hồn mình bình thản hơn để chịu cái nghiệp khổ mình phải trả, vượt lên trên cái khổ để nhìn ra  hạnh phúc nhiều khi giản dị đến không ngờ. Dù em không nói nhưng anh cũng hiểu cái khổ mà em phải ôm mang, chẳng qua cũng chỉ là nghiệp mà em phải trả, trả chưa xong thì lòng có khi nào an ổn mà nghĩ tới hạnh phúc.”


Tôi thổn thức lắng nghe từng lời chia xẻ của Lãng, dù chưa kể cho Lãng nghe bao nhiêu mà sao anh đã hiểu và soi thấu tâm hồn tôi cũng đang khắc khoải vì cô đơn. Lãng nhìn tôi đầy thương mến, như một người anh vẫn săn sóc cô em gái nhỏ của mình:

“Nếu anh không lầm thì Ngọc vẫn còn nhiều bổn phận, em vẫn phải đi làm có đúng không?”

Tôi gật đầu trong nỗi phiền muộn, anh nghĩ đúng, tôi còn phải vật lộn với cuộc sống vì chưa tới tuổi nghỉ ngơi, hai đứa con chưa lập gia đình vẫn làm tôi quan tâm nghĩ ngợi. Lại hay hoài nghi về cuộc đời và tình người, tôi khó tìm ra sự an bình như đời sống của anh. Lãng âu yếm nhìn tôi và hỏi:

“Nếu Ngọc bằng lòng thì chiều nay trời hết mưa, anh mời em ra phía sau nhà nhìn ra hàng thông và vườn rau xa xa, anh sẽ vẽ bức tranh để kỷ niệm ngày gặp lại. Mai sau nếu như một lẽ gì đó mình không gặp lại, nhìn bức tranh anh vẫn thấy ấm lòng và tưởng như mình chưa hề xa nhau.”

Hình như trời cũng chiều lòng người, cơn mưa đêm về sáng đã ngưng, trả lại cho bầu trời sắp sang Xuân những tia nắng mềm mại óng ả. Tôi không ngờ Lãng vẽ nhanh quá, cảnh vật quanh đây như tấm ảnh đã ghi vào trí Lãng và anh chỉ cần quơ đôi tay ra là nắm được. Bức tranh có hồn đến không ngờ khi Lãng vẽ thêm vào cảnh phía sau lưng một dáng người phụ nữ ngồi nhìn ra phía xa, ánh nắng chiếu qua mái tóc và đọng lại trên đó lung linh một vạt nắng.

Suốt buổi chiều hôm đó tôi ngơ ngẩn trong trạng thái của người mộng du. Tình yêu ngày nào đã đánh mất như nắm được trong tay, đẹp như một vạt nắng vương trên mái tóc, nhưng chao ơi có ai nắm được nắng bao giờ. Nghĩ đến hai chữ “Định Mệnh” tôi lại rùng mình và nếu cho là mỗi phút giây hiện tại tôi đang có là hạnh phúc, thì hãy hưởng chút hạnh phúc nhỏ bé ấy đi. Không dám hứa với Lãng là sẽ có một ngày gặp lại, thôi thì đến đâu hay đến đó, cũng ngay sáng hôm sau tôi theo Hà trở về phố thị vì bạn cần phải chuẩn bị cho ngày Tết của gia đình. Trước khi chia tay, Lãng chỉ đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ ghi mấy vần thơ:

“Lạ lùng sao có vạt nắng chiều sương
Len lén đến nghiêng vai ngoài song cửa
Ôi vạt nắng hong bàn tay buốt giá
Nắng muộn màng mà ấm cả hồn ta …”

 

Nguyên Nhung

 

Kim Kỳ sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này