Truyện

Truyện (319)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện ngắn Hoa vông vang của tác giả Đỗ Tốn

Truyện ngắn Hoa vông vang   

*** Đỗ Tốn ***

 

Nhà văn Đỗ Tốn sinh năm 1921 mất năm 1973 khi ông đang làm Phó Quản Đốc đài Tiếng Nói Quân Đội tại Sài Gòn, với cấp bậc Thiếu Tá.

Xuất bản lần đầu năm 1945 và được tái bản vào năm 1961, Hoa vông vang là truyện ngắn đầu tay của Đỗ Tốn. Cũng như hầu hết các sáng tác thời kỳ ấy, cái chất lãng mạn Tây học với cách nhìn phóng khoáng về cuộc sống của các nhân vật là hiện trưng của truyện.

Nhất Linh rất thích truyện Ðỗ Tốn, có lần so Ðỗ Tốn với Thạch Lam: “Tôi thấy hai nhà văn này có nhiều chỗ giống nhau và tôi tin Ðỗ Tốn sẽ là một Thạch Lam thứ hai trong văn giới nước ta.” 

Ảnh NTC

Ngày ấy Đẩu là một chàng trai mười tám, lòng đang tưng bừng mới nở, trông ai cũng đẹp. Suốt ngày vui cười, sẵn sàng yêu-đương, chàng thấy tương lai toàn mầu rực-rỡ. Đang đầy tin tưởng thì một hôm chàng gặp Phượng Trinh, một nữ sinh tóc còn cặp sau gáy. Tuy không biết nàng bao nhiêu tuổi nhưng Đẩu cứ cho là mười sáu, và chàng nhủ thầm: “Chỉ mười sáu mới có thể có được cặp mắt sáng thế”.

Lúc ấy là một buổi trưa mùa đông; dưới gió qua vòm cây, Phượng-Trinh đang cười trong ánh nắng rung-rinh cùng mấy chị em bạn học. Đẩu có mộng ước gì đâu thế mà sao khi vừa gặp, chàng đã vội ngây người đứng ngắm rồi kêu khẽ: “người trong mộng của ta đây rồi”. Tay xách cặp, chân đi đôi guốc phi-mã gót cao, lúc ấy Trinh mặc chiếc áo mầu xanh gió thổi tung bay thấp thoáng ánh mặt trời. Thế là lòng chàng trai mới mẻ vội chọn nàng giữa trăm bông thắm; Đẩu đi xa xa theo Trinh về,… thì ra Trinh đi qua nhà chàng, nàng ở phố gần đấy.

Từ đấy mỗi ngày hai buổi học tan, Đẩu vội vàng đạp xe thật nhanh về để ngắm Trinh qua, và những chiều nào được nghỉ sớm thì chàng đi bộ lên gần trường Trinh học đứng đợi nàng về để lẳng lặng đi theo sau. Song vì quá yêu chàng đâm nhút nhát nên chỉ dám nhìn thôi, vả lại Đẩu e Phượng-Trinh cho lẫn mình vào con nhà phường-phố bậy bạ nên chàng chỉ theo xa xa. Theo đến gần nhà mình thì Đẩu đi sang bờ hè bên kia rảo bước về cửa nhà đứng đợi. Lần nào chàng cũng nhìn Trinh đi ngang qua với đôi mắt si-ngây… và cũng đã nhiều lần chàng theo đến tận nhà Trinh. Cứ như thế mãi, dần dần Trinh cũng hiểu, vì có nhiều bận Đẩu thấy Trinh đã vào trong sân rồi vừa đóng cổng vừa đưa lén mắt ngượng ngập trông trộm lại chàng. Phượng-Trinh cũng đã để ý tới chàng trai si mê mình. Mỗi chiều đi học về nàng thường đi thật chậm vui chuyện ríu rít cùng hai chị em bạn về cùng đường – có bận Đẩu thấy giữa truyện vui Trinh đứng lại vui thú cười rũ-rượi để rơi cả cặp sách; như một con chim non say nắng mới, Trinh luôn luôn ríu rít cười nói rả-rích làm vui cả lòng, Đẩu đứng nhìn.

***

Tuổi trẻ có một lần mới mẻ nhất: Đẩu yêu không có tận cùng bờ bến. Sách học của chàng chỉ nhằng những tên Phượng-Trinh viết đủ các kiểu.

Rồi một buổi đầu xuân Đẩu hỏi Tân, một cô bạn học của Phượng-Trinh, thì Đẩu mới biết Trinh là tên gọi ở nhà, chứ “ở trường chỉ gọi nàng là Phượng thôi”. Tân nói lại cho Đẩu biết là các bạn ở lớp đã biết chuyện Đẩu theo Phượng và trêu chế Phượng nhiều lắm… nhưng Phượng không hề cãi lại mà chỉ đỏ mặt cười chạy trước những dịp cười của các bạn…

– Phượng yêu Đẩu rồi đấy…

Tân nói thế làm Đẩu sung sướng ngây cả người rồi hỏi:

– Thật à?… Thế thì tôi chết mất!

Chàng trai mới có mười chín, mỗi khi sung sướng quá là chỉ kêu chết.

Từ đấy Đẩu là người sung sướng. Có khi chàng đứng nói chuyện một mình với bờ thang là thường.

Rồi Đẩu viết một lá thư mà chàng đã tốn bao công nắn nót gọt rũa. Hồi hộp đợi mấy hôm cũng không thấy Phượng-Trinh giả lời, Đẩu suốt ngày băn khoăn trông ngóng người đưa thư! Rồi có một buổi kia Đẩu gặp Tân, nàng nói:

– Đẩu bỏ một lá thư vào xe Phượng phải không? Phượng nhờ tôi nói với Đẩu từ rày đừng làm thế, lỡ người ngoài người ta trông thấy thì người ta coi Phượng vào hạng người gì !… có muốn nói gì cứ nói thì hơn…

Nghe xong Đẩu tươi tỉnh đưa tay lên gãi gáy bừng-bừng sung sướng rồi đáp:

– Lúc ấy còn nói thế khỉ gì được mà nói!

Không biết Phượng-Trinh có hiểu cho anh như thế ?… Chỉ biết sau đó, Đẩu luôn luôn viết thư nhờ Tân đưa thì Trinh nhận. Tuy Trinh có trả lại(*) song ít lắm, chẳng đủ lấp một chút trong không gian to tát của lòng Đẩu. Trinh đã trả lại ít hay chính Đẩu đòi mong quá nhiều !… Nhưng lấp sao được lòng anh thuở ấy, lấp sao được biển cả đương lúc sóng tình dồn dập gào thét.

Có một ngày chủ-nhật Đẩu cùng cha đi săn bắn về mệt, nên hôm sau Đẩu nằm nghỉ ở nhà rồi viết một lá thư cho Tân, trong thư chàng nói: “Thế nào, Tân đã xin hộ Trinh cho tôi một tấm hình chưa, cố vào nhá, trăm sự nhờ Tân đấy ! À, hôm qua tôi vừa đi săn về, mệt và mệt, phải nằm nhà nghỉ… nhưng nhớ Trinh lắm…”. Và hôm sau Tân nói nàng có cho Phượng xem mảnh thư ấy, và mặc dầu nó nguệch ngoạc nhỏ bé, Phượng cũng đã xin lấy mảnh thư đó. Và Đẩu sung sướng đến ngạt thở khi Tân bảo:

– Thư nào của Đẩu, Phượng cũng giữ cất đi cả…

Thôi, hồn Đẩu phơi phới như lên tới trời xanh !… và những lúc ấy, những lúc quá tin tưởng ấy, anh đã tưởng đời anh sẽ theo một con đường nhất định…

Nhưng tính Đẩu cũng rất trẻ con, trong thư luôn luôn chàng viết những câu không đâu, chẳng hạn: “Cái mũi của Trinh trông ngon như viên kẹo đraa-giê ấy” hoặc “tôi thích bắt Trinh mang thả trên đồi cỏ để xem Trinh ca hát chạy nhẩy như một con sơn ca”. Tuy thế Trinh cũng vẫn chỉ trả lời: “Thư Đẩu viết vớ-vẩn lắm”… nhưng Trinh sung-sướng.

Đã mấy tháng trời theo đuổi mà vẫn chưa lần nào Đẩu được Trinh hẹn hò cho gặp riêng một lần. Người thiếu nữ ngoan ngoãn vẫn tin ở tình chàng trai, nhưng chỉ sẵn lòng đợi chàng đến hỏi làm vợ. Tình yêu mà nàng hiểu là thành thực chỉ có thể đưa tới cuộc hôn nhân,… mà Đẩu cũng thành thực muốn thế, song mới có mười chín tuổi chàng đã tính đến chuyện vợ con sao được ! Vả lại chưa được cùng nhau hẹn hò một câu, chàng trai chưa dám chắc gì mà giạm hỏi,… tuy đã bao lần trong mắt Phượng-Trinh chàng tưởng được thấy hạnh phúc, chàng đọc thấy, nhận thấy một vẻ gì dịu dàng xô đẩy lòng chàng.

“Hay đó chỉ là một hạnh phúc đơn sơ khó kiếm”. Đẩu vẫn băn khoăn tự hỏi thế những lúc không hiểu.

“Ừ, sao không hẹn với nhau một câu, sao không thả hết tình yêu ?” Nhưng duyên số…

Rồi một ngày chủ nhật mà gió đã nóng, Đẩu đang lang thang ở phố thì gặp một giọng nói vui vẻ bay đến tai hỏi:

– Phượng đâu ? Sao lại đi chơi một mình thế ? Không đi với Phượng à ?…

… Tiếp theo là một dịp cười. Đẩu ngơ ngác nhìn lên thì ra Tuyết, cô bạn học cùng lớp với Phượng-Trinh đang đứng trên bao lơn tươi cười nói xuống. Đẩu mỉm cười cảm ơn. Độ năm phút sau bất ngờ Đẩu gặp Phượng-Trinh thật. Nàng mặc áo mầu tím, đang đi mua hàng may áo nực cùng hai chị. Gặp Đẩu, Trinh bẽn lẽn không dám nhìn, nhưng có một lần Đẩu bắt gặp mắt Trinh ghé qua gáy chị nhìn trộm mình làm chàng sung sướng run cả người. Hôm sau Đẩu vội nhờ Tân đưa cho Trinh một lá thư, trong có đoạn:

“Hôm qua đi phố chơi, tôi đang lang thang thì nghe thấy một giọng nói từ trên trời bay xuống hỏi “Phượng đâu ? Sao lại đi chơi một mình thế, không đi với Phượng à ? Tôi nhìn lên thì ra Tuyết, Trinh ạ – Đấy, đối với tất cả thì Phượng là của tôi đấy, thế mà tôi cứ chưa dám chắc ! Trinh thử hỏi hộ cô Phượng, cô Phượng có cái mũi xinh xinh ấy mà, xem cô Phượng có phải là của tôi không ?”.

Tuy thế Trinh cũng chỉ trả lời lại Đẩu: “Thư Đẩu viết vớ vẩn lắm”.

***

Những giấc mộng đẹp sao hay ngắn ngủi, tuổi trẻ vô tình qua mau như đàn mòng khoang vun vút bay qua cánh đồng rộng để vội vã lẩn biến vào cảnh trời đông u ám; nghỉ hè năm sau đã lại tới, rồi tới mùa thu ! Một hôm đương ở rừng quê thì Đẩu được bạn viết thơ cho biết Trinh đi lấy chồng. “Cưới chạy tang, bố chết,… trông Trinh chẳng vui gì sốt cả v.v…”.

Như những vết thương đứt quá mạnh làm ta tê đi không thấy đau, mấy ngày đầu Đẩu không thấy buồn ; nhưng sau, nhiều lúc tự nhiên chàng thấy như mất một mục-đích trong đời, chàng cảm thấy chán nản. Tuy thế chàng vẫn yêu Trinh như trước và vẫn mang máng tin là Trinh yêu mình. Đẩu vẫn nói một mình: “Cứ để mặc anh tin em nhá.”

Chàng trai muốn quên mau, song những ngày buồn nản qua không vội-vã nên có lúc ngừng ngựa mơ màng ngắm lá vàng bay giữa rừng vắng chàng lại đau thương nhắn hỏi:

– Gió ơi, sao làm tình chóng đứt ?…

Hoa tình rụng rời, bình tĩnh cũng dần dần trở lại, nhưng trong lòng Đẩu đã bớt tin-tưởng !

Khá lớn lên, chàng trai sớm vội đua theo các bạn vào cuộc đời chơi bời phóng đãng; dần dần chàng đã trở thành khôn khéo; quen ra vào nơi tửu-điếm(**) nên chàng nói dối đã không ngượng lời, mắt đầy gian trá, nhưng lúc ấy thì người đời lại tin chàng. Từ một đứa trẻ, Đẩu đã trở thành một người,… và những mối tình dễ dãi ở mọi chốn chơi bời cứ tiếp tục mà qua mãi. Giữa cái cuộc vui nhả nhớt, chàng đắm say tươi cười ; thật lòng trai quên sầu cũng dễ như yêu,… nhưng lòng anh đã kém trong sạch, bây giờ khó tìm đâu cho thấy được vẻ sợ-sệt nhút-nhát si ngây thuở mười tám: một ít vẻ đẹp đã mất.

Đẩu đã yêu khắp nơi đến nấc cùng, đâu chàng cũng yêu đến si-dại, tuy thế vị ngọt hoa tàn của chuyện qua vẫn mang-mang ủ-ấp lòng Đẩu một nỗi nhớ thương nhẹ nhàng như làn gió thoảng qua của một buổi sớm nào êm dịu xa-xôi. Đẩu vẫn chẳng thể quên được người xưa, luôn luôn lòng chàng như nhớ tiếc mối tình ngây thơ cũ, như thiếu chút nắng dịu, thiếu vẻ nồng-nàn mà mắt Trinh chiếu lại. Đã bao lần yêu, đã bao lần sóng gió trong lòng, thế mà khi lắng hết chỉ riêng hình Trinh còn lại như vẫn còn sau cơn bão táp một cây cổ-thụ. Chuyện qua đã ăn rễ sâu vào tận thớ tim Đẩu.

Sau đó ít lâu, Đẩu thôi học và về ấp ở với cha mẹ. Hồn Đẩu phức tạp, chàng yêu đồng núi quê hương nhưng chàng cũng không quên làn không khí say sưa của cuộc đời chơi bời; từ nơi ấy Đẩu luôn luôn trở về thủ đô. Một hôm gặp Tuyết nàng nói cho Đẩu biết:

– Phượng khen Đẩu bây giờ ngoan lắm, về quê làm ăn rồi, lần nào đến nhà tôi chơi, Phượng cũng nhắc đến Đẩu.

Ngây cả người, Đẩu không hiểu sao Phượng Trinh lại biết mình về quê làm ăn, “mà mình có làm ăn gì đâu !”… Nhưng Tuyết đã nhìn chàng nói nhỏ:

– Phượng vẫn yêu Đẩu lắm…

Trời, Đẩu muốn khóc lên được! Thấy Đẩu ngây đờ yên lặng, Tuyết mỉm cười nói tiếp:

– Lần nào gặp tôi Phượng cũng nhắc đến Đẩu, cũng như Đẩu gặp tôi cứ hỏi chuyện Phượng ấy mà… Sao hai người không lấy nhau nhỉ…

… Rồi Tuyết kể:

– Ngày sắp cưới Phượng ấy, Phượng có chạy đến tôi; tôi có sao không lấy Đẩu có hơn không thì Phượng nói: “Tại Đẩu không đến hỏi… mà đợi thì biết Đẩu có ý định lấy Phượng không mà đợi cơ !… Phượng bảo “Chả lẽ em lại mang trầu cau đến hỏi Đẩu à ?…”

Nghe xong, Đẩu đau đớn hỏi trách:

– “Sao Tuyết không nói cho tôi biết ngay từ ngày ấy”… thì Tuyết trả lời:

– Ngày ấy tôi cũng có ý tìm Đẩu, nhưng hình như Đẩu ít khi có mặt ở Hà-nội thì phải…

Khẽ gật đầu, Đẩu yên lặng bâng khuâng…

Từ đấy chàng chỉ biết mang câu duyên-số ra để tự an-ủi và cũng từ đấy chàng càng tin chắc rằng chẳng bao giờ nữa Phượng-Trinh quên chàng, Đẩu vẫn nhủ thầm:

– Ai quên được những ngày đẹp đẽ trong đời…

Chuyện qua Đẩu vẫn giữ quý như một kho vàng. Lắm lúc bâng khuâng nghĩ lại, Đẩu vẫn thường cau có tự hỏi: “Sao lại cứ nhớ, sao không quên đi cho tâm hồn được thư thái”… nhưng rồi chàng lại nói ngay: “Không, đừng bắt ta quên… Ở đời có những vết thương êm ái. Như ta lúc này ai dám bảo nhẹ buồn là khổ khi đó là dư âm của một thời rạo-rực trở về vang lại trong hồn”. Những khi ở Hà-nội, Đẩu vẫn hay đi nhà thờ, nhưng nay không phải vì ai nữa mà tin tưởng ở đạo giáo. Vả lại xuân đầu chỉ có một lần, chàng không muốn bỏ một cái gì của những ngày tuổi trẻ tươi thắm đã qua.

Ảnh NTC

Một hôm vô tình Đẩu đi xe ngang qua nhà vợ chồng Trinh. Nhìn vào, chàng thấy Trinh đang đứng trong căn vườn nhỏ như mơ màng. Có thế thôi mà về tới nhà chàng cũng sung sướng mãi và cả ngày nhắc nhở”: Có lẽ phút này Trinh đang nghĩ đến ta, có lẽ… có lẽ!”. Rồi trên quyển sổ tay biên trăm thức lặt vặt, chàng viết mấy dòng: “Có lẽ như ngày nào đôi mày hơi đưa lên, em nhìn vào nơi nào không định. Nghĩ gì thế em? Em, trông gì ở nơi xa ấy, có phải là anh ? Em sao chẳng đáp lại tiếng gọi của lòng anh?”

Bất ngờ một hôm Đẩu gặp lại Tuyết, hai người vui vẻ trò chuyện xa gần, nhưng rồi cũng nhắc đến Phượng-Trinh… Đẩu hỏi:

– Vừa rồi mới gặp, tôi trông Trinh như có vẻ buồn ấy… gia đình Trinh có chuyện gì không vui không?

Tuyết cười đáp:

– Sao Đẩu lại hỏi thế. Phượng-Trinh ngoan lắm, chồng Phượng chẳng trách Phượng điều gì cả… Bố mẹ chồng cũng vậy.

Đẩu nhíu đôi mày, nói:

– Không biết tại sao tôi trông Phượng như không được vui; Phượng có được sung sướng không?

Tuyết thoảng cười:

– Đẩu cũng biết tính Phượng trẻ trung vui đùa là thế, mà chồng thì tính nết như ông cụ ấy…

Tuyết ngừng lại, mắt chớp bâng khuâng rồi mỉm cười nhìn Đẩu nói tiếp:

– Lấy Đẩu thì cố nhiên là vui hơn… À, ngày xưa ấy mà, dạo Phượng chưa đi lấy chồng ấy, một lần Phượng thấy trong sách ảnh của tôi có tấm ảnh của Đẩu chụp ngồi ở đống rơm, thế rồi Phượng cứ lấy, làm tôi phải đòi mãi.

Đẩu đứng yên lặng bùi ngùi trong sung-sướng! Thấy bạn có vẻ buồn tiếc, Tuyết hạ giọng:

– Thôi chả cần Đẩu ạ, hình Đẩu ở trong tim Phượng tôi tưởng cũng đủ rồi.

Từ đấy mỗi lần gặp người yêu cũ là Đẩu thấy như mình đang sống lại thời mê say thuở mười tám. Trong mắt Phượng-Trinh chàng thấy lại một ít tuổi nhỏ, một chút nắng sưởi cho lòng chàng ấm dịu, chút nắng thừa của một thời xa xôi. Những lúc đó, Đẩu chỉ biết đứng nhìn theo cho tới nẻo đường đã khuất mà tà áo Trinh còn phấp phới bay, rồi chàng bàng hoàng ngẩn ngơ nói một mình:

– Trời ơi, đôi mắt đen quá, sáng quá, phải chăng là những tấm gương phản chiếu mầu tươi sắc thắm của những ngày rực rỡ…

Đến một hôm chẳng hẹn trước, Tuyết rủ Đẩu đến nhà Phượng-Trinh chơi. Gặp lại bao nỗi ngượng ngùng, Trinh cười sung sướng, song bẽn lẽn cũng ruộm hồng đôi má; còn Đẩu thì ngày ngất cảm động ngắm bạn lòng cũ. Trước mặt chàng trai giọng Trinh nói chuyện với Tuyết mất cả tự nhiên; Đẩu ngồi nhìn lòng lâng lâng sung sướng; có một lúc Trinh mỉm cười e lệ quay sang hỏi Đẩu:

– Hình như dạo này không hay gặp ông đi lễ.

Phượng Trinh gọi Đẩu bằng “ông”! Nhưng làm thế nào, nàng đã có chồng! Nghe Trinh gọi mình như thế, Đẩu thấy nhói vào tim, nhưng hiểu tình thế mới, chàng vội trả lời:

– Độ này tôi ở nhà quê luôn… thỉnh thoảng mới về Hà-nội, thành ra Trinh không gặp.

Ngừng một giây, Đẩu mỉm cười nói tiếp :

– Với lại ngày xưa tôi có đi lễ bao giờ đâu,… từ ngày biết Trinh tôi mới đi nhà thờ đấy chứ… Trinh đã cứu vớt một linh-hồn mà Trinh không biết.

Răng trên khẽ cắn lên môi dưới e-thẹn, Trinh mỉm cười đỏ hồng cả má rồi đưa ngón tay lên miệng cắn cắn cảm động, đoạn nàng nhìn Tuyết cười ngượng nghịu cất tiếng bảo:

– Đi lễ thế thì chả… được phúc.

Bai-thuoc-chua-benh-tu-cay-vong-vang

Nhưng mắt nàng sáng ngời, phải chăng vì duyên cũ! Ánh sáng ấy cũng đủ khêu lại lòng Đẩu ngọn lửa đã gần tàn; và trông Trinh cười đắm say. Đẩu thấy nụ cười tươi thắm ấy như đưa chàng vào một vườn thắm nhẹ gió vừa. Đẩu ra về với ít hoa nở lại trong lòng, với ít tin tưởng rằng sẽ chẳng bao giờ hương tình cũ đến nỗi tan bay hết. Đời còn tươi đẹp và tươi lại vườn tình đang úa. Đẩu sung sướng trở lại nơi đồi núi quê hương và mang theo trong tim đôi mắt tươi cười của Trinh, đôi mắt trong sáng như tráng làn nước trong đã bao lần làm anh ngây ngất khi buổi đầu dịu dàng nhìn lại…

Vài hôm sau, một chiều vừa cưỡi ngựa đi chơi núi về thì Đẩu nhận được một phong thư, trong Tuyết viết: “Hôm qua Phượng lại nhà tôi chơi và bảo: “Bữa nọ, lúc vào tới phòng tiếp khách, thoạt trông thấy Đẩu, Phượng choáng váng ngạc nhiên đứng dừng lại…”.

Thôi thế cũng đủ làm Đẩu sung sướng đến rưng rưng nước mắt. Tay vẫn cầm lá thư, lơ đãng, chàng lững thững đưa bước ra phía đồi sau nhà. Trời mát! tóc thoảng nhẹ bay phất phơ trên trán… bâng khuâng vô tình đứng trông mấy bông vông-vang phất phơ lên bụi cỏ đương kín đáo cúp lại trong gió chiều êm đềm, Đẩu lại thấy lòng bỗng tràn đầy tin tưởng như buổi mới,… và man mác hy-vọng, chàng nhủ khẽ:

– Hoa còn có loài chiều hôm cúp vào để sớm mai nở lại em ạ, thì tình ta sao chả có lúc nối theo…

HẾT

(*): Hồi âm (lời người chép truyện trú thích)

(**): Quán rượu (lời người chép truyện trú thích)

 

Hồng Vân sưu tầm

 Ảnh bìa hoa dại

Xem thêm...

GIÁ HẠNH PHÚC

GIÁ HẠNH PHÚC

Võ Công Liêm

Đầu tháng sáu hàng phượng vĩ dọc đường đã trổ bông,nở rộ,không chừng cuối tháng thì phượng rải đầy đường hoa,lá trên đại lộ Bình Minh.Phượng được trồng hai bên lề đường,với hành lang lát gạch ô vuông chạy dài;mùa hè phượng đỏ thắm,soan không có hương đậm nhưng sắc quyến rũ. Mỗi bên đường là những dinh thự lớn,vườn lớn với nhiều sắc hoa và cây cảnh qúi giá,tọa lạc trong một khuôn đất rộng rãi,được bao quanh hàng rào sắt sơn đen.Bộ mặt của vùng nầy Tây hóa từ cơ sở chính quyền,cửa hàng,bệnh viện,trường học đều được thiết kế như một thị thành bên Pháp.Hàng phượng mọc dài từ cầu đúc xi-măng đến ga thành phố.Những nhánh soan sà mình,đong đưa như muốn liếm lòng đường mỗi khi gió thổi tới.Vào hạ; nắng ban mai trải rộng cả khung trời,thoảng huơng lúa mới len vào,gây ấn tượng mùa nghỉ hè sắp đến của các trường học.Thường niên vào tháng nầy,giới ôm sách nôn nao được nghỉ tay để ngao du sơn thủy,cái hào hứng của tuổi học trò là lúc đó,cái rộn ràng chia tay,cái âu yếm của kỷ niệm…thật là xao xuyến vô cùng.

Người và vật ở đây như gắng bó với nhau từ mấy thế kỷ qua,dần dà nó trở nên truyền thống cố hữu mà những nơi khác khó tạo ra được một không gian và phong thái như vậy;hay tại hồn thiêng đất nước nó nặn ra con người ở đây như thế.Mà chỉ có một khoảnh đất đó thôi,xa vài chục cây số thì cái hương vị đó lại khác rồi.Kỳ bí ở cái chỗ đó!Bởi thế nó cấu tạo ra những cuộc tình lãng mạn và đôi khi cũng rất lạ lùng.Tình yêu chớm nở như phượng, đám người trẻ khi ở tuổi trăng tròn đã cảm thấy biến chứng trong người qua hình thức sinh lý cũng như tâm lý,cho nên những chàng trai đang ở lớp trung học không sao tránh khỏi tơ vương, vướng vít vào hồn khi phải thấy,phải ngắm người con gái ở đây.Có những chàng trai trẻ đặt câu hỏi tại sao?Tại sao lạ thế nhỉ?Tại sao mình phải”si”như thế? Ngay cả vua cũng chịu huống chi ba kẻ thần dân thiên hạ.Khải là nạn nhân của sự thắc mắc đó từ khi còn ở lớp mười hai trung học,người đã phải lòng một thiếu nữ trường bên.

 

    -Sao hôm nay về trể rứa? Người mẹ nói.Nàng cúi đầu chào mẹ rồi lặng lẽ đi thẳng vào buồng. Nàng lấy gương lên soi mặt, vuốt lại mái tóc cho gọn, đoạn nhẹ nhàng bước xuống hiên sau, tiến về phiá mẹ.

-Thưa mẹ hôm nay con họp bạn ở trường cho nên về không như thường lệ. Chắc mẹ chờ con để cùng ăn cơm tối ? Nàng nói Bà Thìn chăm chú đếm tiền cắt,tiền giấy,lẩm nhẩm chẳng phải nghe câu hỏi,rồi ngẩn đầu nhìn con.

-Mẹ vừa trả tiền công cho Hạo,nhưng một hai anh không chịu lấy,cứ bảo dịp khác rồi hãy trả.Con biết Hạo chớ? Anh ta cần cù và chịu khó,tánh tình ai cũng mến. Bà Thìn nói.Nàng nghe qua,dạ dạ,thưa thưa rồi ngoảy xuống bếp làm cơm. Đứng bếp mà miên man nghĩ đến người yêu.Nàng nhớ chàng từng phút,từng giây,xa một lúc mà đã thấy hình ảnh chàng hiện ra trong trí;thật khó phai mờ.Kể cả đêm hôm tối trời,nhất là mỗi khi nằm nghe mưa,nàng cảm thấy lẻ loi và ớn lạnh.Chỉ có nàng thổn thức điều đó,không biết ở đầu cõi xa kia chàng có nghĩ về mình không? Đó là câu hỏi nàng luôn luôn đặt trong đầu,hình như định mệnh muốn nhắc đến điều gì? Nàng sợ mất cái thanh cao diệu vợi này;mà phập phồng lo sợ sự cố xẩy ra bất ngờ.Lửa phụt cao ngọn, hơi nóng táp tới người,trách cá kho đã reo âm ỉ,bốc mùi mặn dể đưa tới đói bụng cho hai mẹ con bà Thìn.

-Coi chừng lửa ,kẻo cháy khô cá.Nghe không?Bà Thìn vói miệng nói vọng vào.

-Con hạ lửa rồi mẹ.Nàng nói.

Bên ngoài trời đã sậm tối,một vài nhà kế cận đã lên đèn.Nàng vuốt tóc và nghe như nước mắt lăn trên gò má nàng.Cơm canh đã lên bàn,ngọn đèn điện đổ xuống bàn,toả cái thứ ánh sáng chụp mủ như phòng điều tra,khảo cung tội  phạm.

-Mời mẹ ăn cơm.Nàng nói.Bà Thìn mỉm cười nhìn con với đôi mắt tự mãn,có được đứa con gái nết na,ham học và yêu kiều như thế thì thế nào cũng có người để mắt,tới ngày đó chắc mẹ con bà Thìn hạnh phúc lắm.Trong bữa ăn,nàng quên mình đang ăn,tâm trí để vào những câu hỏi rồi tự trả lời lấy,cuối cùng tình yêu vẫn nằm lịm trong tim như chế ngự hết thảy mọi điều.Nàng nghĩ bâng quơ:-tình yêu có cái gì mơ hồ, úp mở, đôi khi nó tàng ẩn những điều khó hiểu mà ai sa vào rồi cũng lụy,cũng đam mê,lắm khi còn phải hy sinh.Chắc có thần ái tình nằm nơi đâu hoặc có thể gần bên nàng?xúi nàng phải hành động một cách liều lĩnh khó ngăn được.Mà thật sự; có ngăn cũng không được. Ái tình như phù phép.Nàng đầu hàng với lý luận phi đạo đức như thế.Nhưng nàng đã yêu; đạo đức chỉ là cái”xái”thuốc phiện sau khi hút,người hút không nhìn đằng xa mà nhìn khoái cảm.Nàng rùng mình vì cảm thấy như mình đang đương đầu với đối tượng ái tình…

Nàng sợ mẹ lo lắng và buồn nếu biết mình có tình yêu;cái thứ tình yêu ngày nay nó theo trào lưu tiến hóa của xã hội,nay là của mình,mai là của người khác,thay trắng, đổi đen,thời nào cũng có cái thứ đùa giỡn ái tình,ngày nay bội phần, đủ loại tầng lớp trong xã hội; đùa dể,có khi không biết đùa người ta còn bày cho đùa.Nàng biết hết tình lý của cuộc đời.Với số tuổi hai mươi ngoài, nghe,thấy không biết bao nhiêu chuyện giữa đời.Nàng biết như một kinh nghiệm sống để tránh né.Nhưng chắc chắn người tình của nàng là loại người mẫu mực,con nhà lành;nàng tự tin. Tình yêu của nàng thuộc loại tình lý tưởng cổ điển; đẹp lắm!không như ngày nay.

 

Hình minh họa

    Dựng chiếc xe máy Honda đời mới,trong sân trường văn khoa.Khải ngồi trên  ghế xe,rung rung đôi chân,lấy tay xốc xới mái tóc,sửa lại cổ áo sơ-mi,ngoài khoác thêm áo jacket chống gió,ngoại hình trông điển trai,hiền lành,nước da trắng so với dân địa phương thì da đậm màu hơn;Khải đâu có làm gì mà sạm nắng,ngoài chuyện học với ái tình,cơm ăn áo mặc có mẹ lo chu đáo vì Khải con trai độc,dưới Khải có người em gái, tên thường gọi Mộng Thúy.Cha Khải qua đời đột ngột, để lại một cửa hàng thiết bị vật tư ở trung tâm thành phố.Bà Đào mẹ Khải thay thế chồng điều hành cửa hàng,thu nhập bề bộn,nhờ cái miệng ngọt ngào và một ít nhan sắc còn lại cho nên thu hút đám đấu thầu xây dựng trong tỉnh.Khải ít nói giống cha,nhưng năng động,có hiếu với mẹ,cho nên Đào nuông chiều.Nhưng không phải vì thế mà Khải làm mẹ buồn,dù việc nhỏ.Một chàng sinh viên đủ điều kiện ăn học giữa thời buổi này không phải là ít,nhưng đứng trong góc xã hội nhìn ra, chàng quá hạnh phúc,những chàng trai cùng trang lứa muốn có một hạnh phúc như thế không phải dể.Chàng đúng là típ thư sinh ngày nay.

Ngồi đợi người yêu đã gần tiếng đồng hồ,Khải rút di động,bật nắp gọi.Không nghe nói,sập máy nhét vào túi,ngẩn đầu nhìn trời rồi lại nhìn mình trong gương chiếu hậu xe,săm se,tính nhổ ít sợi râu non.Nàng đến,đứng bên cạnh.Khải mừng ríu lên.

-Em mới đến.Khải nói.

-Anh chờ em lâu không?Em mong giờ qua nhanh để anh khỏi phải nôn nao chờ đợi.Em xin lỗi anh.Hôm nay anh đi đâu mà diện dẫm thế? Nàng nói.

-Anh đi đón em.Thôi! lên xe anh đưa em đi ăn.Khải nói

-Có mục gì đây mà đi ăn?Nàng hỏi.

Trời chiều,gió từ sông thổi lên,nghe vi vu qua hàng cây dương liễu ở công viên,cây cao đổ lá vàng bay phất phới giữa trời,người về từ các cơ quan mỗi lúc mỗi đông, đường phố đầy ứ xe và người.Khải lanh tay lái,luồng lách để xe khỏi nằm chờ, ra khỏi đoạn đường kẹt xe,Khải cho xe phóng nhanh,nàng ôm vào người Khải, đôi vú của nàng áp sát lưng Khải,nàng muốn giữ thế ngồi để khỏi phải chạm vào người Khải,chàng ngoảnh lui nhìn người yêu mỉm cười thỏa mãn,gió đuổi theo tóc,vướng vào nhau,mùi tóc hây hây như mùi rạ khô,cũng vì cái hương rạ nầy mà làm cho nhiều người say đắm mà sinh ra thử lửa với ái tình.Tình yêu có nhiều ma thuật khó lường.Ngay cả cái mùi da thịt của thiếu nữ là hương hoa;hoa hường,hoa mận,hoa lài,hít vào đâm say ngay,một thứ độc dược vô hình.Vậy mà người đời ưa hít thở những thứ đó,mà những thứ đó là bùa mê,thuốc lú mấy ai hay!

-Em lạnh không? Ôm sát vào anh.Khải nói

Tiếng dạ dịu dàng của nàng nghe bên tai.Khải cảm thấy có cái gì làm cho mình yêu đời thêm,phấn khởi hơn.Xe vút nhanh thì đã đến quán ăn. Đèn vàng trong quán đã bực sáng,tạo không gian bên ngoài và trong quán một hình ảnh huyền ảo, dể dàng lôi cuốn thực khách.Khải cầm tay nàng,hướng tới bàn ăn,chàng kéo ghế mời nàng ngồi.Nàng nhẹ nhàng,khép nép ngồi xuống ghế, đưa mắt nhìn cám ơn với nụ cười nhếch môi kín đáo,tự nhiên nàng cảm thấy e lệ bên cạnh Khải. Đi chơi với Khải một đôi lần nhưng lần nầy tự nhiên thấy lạ từ mọi phiá,nàng nén cử chỉ đó để chung vui với Khải và tỏ ra tự nhiên một cách sành sỏi.Tiếng nhạc từ giàn máy thổi tới hai người,một tình khúc nghe quen quen và gợi nhớ.

-Em chọn món ăn đi.Khải nói.

-Anh ăn gì thì em ăn theo anh.Nàng nói.

-Chắc anh thường đến đây.Nàng hỏi.

-Không; lần đầu.Anh thấy tiệm nầy tương đối thoáng và lịch sự,nên thử xem họ có đối đãi như thế không, để lần sau chúng mình còn trở lại.Khải nói.

Cảnh trời bên ngoài đã ngả màu sậm tối, ngoài lộ xe sáng ánh đèn, đêm bắt đầu rộn ràng,làm cho cảnh vật trở nên sinh động hơn.Đi chơi đêm thấy thích hợp hơn ngày.

Hai cái đầu ngúc ngắc như muốn cụng vào nhau cho thỏa chí,khách đến quán mỗi lúc mỗi đông,nghe rõ tiếng tách,chén va vào nhau át cả tiếng nhạc, âm nhạc đã bị đẩy lùi giữa lúc nầy.Khách đến đây hầu hết tìm lạc thú ẩm thực, ít ai đến đây mang theo ái tình vào chốn nầy;trật chỗ,cái không khí chén chú,chén anh mà bày tỏ đôi lời với người yêu thì không đúng điệu nhà nghề chút nào cả.Hiền lành như Khải cũng ý thức điều đó.Nhưng Khải muốn chiêu đãi nàng những món ăn, vừa ngon vừa lạ.Thế nên họ chỉ nói quanh vào món ăn,ly nước rồi nhìn nhau cười nói trong hạnh phúc lứa đôi và đọc được những suy tư trong mắt và nhặt ra được tình ý với nhau, họ tìm thấy cái ước ao sâu lắng của tâm hồn.Mà thật; đàn ông uống say hay bộc trực,nói toạc những gì bí ẩn. Đàn bà thì đằm thắm hơn,không bộc trực nhưng không giấu được; bởi khi thoả mãn với nhu cầu,khi nắm bắt cái mình muốn một cách sung sướng thì hiện rõ trên mặt,trên mắt,lộ thần hẳn ra thì làm sao không tỏ  được điều muốn nói,những thứ đó trong tình trường họ luôn luôn mong đợi,có ba chữ thôi: “em-yêu-anh” nếu được nói lên thành tiếng thì hạnh phúc biết chừng nào.

Ra khỏi quán,Khải nắm tay nàng và đi chậm rãi trên viả hè.Gió đêm hiu hiu thổi,nàng cảm thấy lạnh đôi vai. Ôi! đẹp làm sao.Thơ mộng làm sao.Nàng muốn ngã đầu vào vai chàng để lấy hơi ấm;có thể đi suốt đêm nay mà không buồn về.Cả hai muốn như thế.Nhưng hệ lụy của gia đình đôi bên không cho phép,cả hai muốn níu thời gian chậm lại để tình yêu lên ngôi.Nhưng không được!

-Anh đưa em về đi thôi.Mẹ em nóng ruột chờ em.Bà yếu bóng viá lắm.Nàng nói.

-Thế em không báo cho mẹ hay?Khải nói.

-Có anh ạ!Em dối với mẹ là đi ăn sinh nhật con nhỏ cùng lớp.Em ân hận đã dối mẹ.Vì thế em nôn nao về để xin lỗi mẹ.Nàng nói.

Câu nói chân tình và biết phải trái của nàng đã làm cho Khải quan tâm,một sự quan tâm cần thiết mà Khải dành cho tương lai với nàng,tuy những tiếng nói chơn chất,mộc mạc đó Khải thấy được tâm hồn phục thiện của nàng.Từ đó Khải tin ở mình,tin ở nàng. Đó là mối tình chân của một cuộc tình hôm nay.

Chiều bỏ đi,trời đêm lại tới,khí lạnh đã bủa vây thành phố,Khải ôm xe,nàng ôm Khải ,hai bánh xe Honda như vó ngựa,quét bóng tối để về nhanh như yêu cầu của người tình.Tới nơi;Khải cầm tay nàng,mân mê từng đầu ngón tay,bàn tay đàn bà khác bàn tay đàn ông cả triệu lần,dù có phải là bàn tay lao động nó vẫn khác,ngược lại nó tác dụng một cách thiết thực và có ngôn ngữ riêng của nó; cho nên được cầm tay là một khoái cảm chung,nhiều khi còn gợi hứng với tay cầm,có lẽ những phút giây như thế làm Khải bồi hồi,chàng tỏ ra lúng túng lúc chia tay,muốn nói điều gì chăng,nhưng vẫn ngập ngừng.Khải mở xách tay lấy ra một gói qùa,bỏ vào lòng tay nàng.

-Anh tặng em món quà nầy.Khải nói.

-Tặng em món quà?Quà gì giữa lúc nầy,với mục đích gì?Nàng nói.

-Em quên rồi sao?Hôm nay;ngày nầy,năm ngoái anh được quen em.Thời gian nầy đã đánh dấu anh,không bao giờ quên, dẫu có gì vẫn không bao giờ.Khải nói.

-Chết!em vô tình quá,em vụng về quá,anh tha lỗi cho em và em xin nhận nơi anh tấm lòng cao qúi nầy.Em cảm thấy hạnh phúc vô cùng.Nàng nói.

-Mở ra xem đi!Khải dục.

-Trời ơi;sao anh làm thế?Chiếc đồng hồ Seiko đắt tiền mà anh phải mua tặng em.Em không dùng đâu. Đây là kỷ vật đời em.Nàng nói với hàng lệ chảy.

-Đồng hồ là thời khắc,là dấu yêu giữa hai ta.Xin em đừng đánh giá sai lạc. Khải nói.

Hai người cụng đầu nhau không nói,giữa không gian tĩnh lặng.Tiếng chó sủa nghe gần,nàng có cảm giác như mẹ nàng thấy nàng đang đứng cạnh một người đàn ông lạ mặt,nàng rùng mình và quảy gót bước đi.Bỗng nàng nghe tiếng gọi tên mình,ngoái lui đợi câu nói.

-Ngà!Tiếng Ngà dừng lại một lúc,rồi lại nói:-Anh yêu em.Khải nói.

Người và xe phóng vào bóng đêm,tiếng máy gầm lên như tiếng hú của loài thú hoang lạc bầy và nghe tiếng xe mòn dần về cõi xa.Tiếng cửa mở nhà Ngà nghe rõ giữa đêm.

 

 Trần Hạo; sau 10 năm từ miền Bắc trở về.Chàng biến thể từ cái vỏ bề ngoài  đến cái hồn bên trong.Cái sự thay đổi như thế đã làm cho bà con,xóm giềng thêm có vấn đề.Có người nói Hạo buồn vì người ta phụ tình chàng,không giữ lời thề trước ngày ra đi,có người đề xuất vì tiếp nhận sự đổi đời cho nên không thức thời hoặc vì phụ thân khuất bóng hay vì mẹ khóc thương chồng,thương con mà nay mù loà,người ta đẻ ra đủ thứ chuyện cho chàng.Hạo cho đó là thị phi và cũng chẳng buồn phải thanh minh,thanh nga làm gì cho mệt sự đời;bởi Hạo đi qua nhiều chặng đường,từ đường tình đến đường đời,chua-cay-mặn-đắng Hạo nếm tuốt,lên-voi-xuống-chó Hạo đều dự phần và đã đi qua bao nhiêu chế độ,bao nhiêu biến thiên của lịch sử,Hạo nhận hết như một sự cố bất di bất dịch của con người;thời nào cũng thế.Với bao ngôn từ,mỹ ngữ cũng chẳng cảm hoá được ai.Chàng cho tất cả là cơ duyên của cái duyên tiền định.Hạo tin vào điều nầy; đôi khi Hạo nghĩ sâu xa hơn, đó là nghiệp dĩ mà mình phải trả cho nên chàng nhận tuốt để giải tội đời sau.Rồi tất cả đi vào cõi phù du.Do đó Hạo bình tâm với cuộc sống hôm nay,cố gắng thực thi một con người tốt. Điều đó thật khó cho Hạo phải đương đầu với đời,mà đời là thủ đoạn,lừa dối,mánh mung,chôm chỉa làm sao mà lường,làm sao mà thánh thiện.Cuối cùng Hạo dấn thân như mọi người trong cõi đời này.

Với số tuổi gần 40 không vợ,không con,cảnh nhà neo đơn,một mình Hạo là rường cột,may mà còn có căn nhà cha ông để lại, nay vừa phụng thờ vừa phụng dưỡng.Hạo có một cái đáng qúi ở chỗ làm ăn vất vả nhưng không bao giờ để mẹ buồn hoặc lên lời than thở.Yêu mẹ những đêm hôm tối trời,mưa gió,Hạo hành động như nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ.Từ ngày chồng mất,mẹ Hạo trở nên ít nói,không nêu vấn đề lớn,nhỏ với ai, một phần đôi mắt mù loà của bà.Mấy điểm đó làm Hạo yêu mẹ hơn.Ngày nay Hạo làm đủ nghành nghề,từ việc sổ sách đến việc khuân vát, đẩy xe,chở mướn không quản ngại hay tự ái với chức năng;chàng kiên nhẫn để vượt qua.

Hạo ngồi nghỉ tay,nuốt hết tô cháo lòng, đưa bát nước chè lên miệng núc ừng ực.Bà Thìn đã đứng cạnh bên.Hạo nhìn bà Thìn mỉm cười tươi.

-Chiều nay anh chở mớ củi đầu cửa hàng bà Hạnh về nhà cho tôi.Anh cho biết bao nhiêu để thanh toán một lần với tiền chở hôm trước luôn thể.Bà Thìn nói.

-Giữa cháu và bác đâu có xa xuôi gì mà phải lo.Cứ để đó!Hạo nói.

Không biết chăm làm ăn như thế mà Hạo có nghĩ đến chuyện tương lai hay phải lòng ai trong thị xã nầy chưa?Bà con ta ít khi nghe anh đặc vấn đề nầy.Hạo đâu phải cục gỗ,Hạo thèm ăn đồ chua, đồ mặn nhưng không nói thèm,không có thằng đàn ông nào trong cõi đời này mà nói không thèm ăn.Dzỗm!Sư cũng đòi ăn chớ người trần mắt tục.Có điều không nói ra thôi.Hạo nằm trong vị trí của nhà sư đấy.Nhiều khi thầm yêu ai mà đâu có nói nên lời,để dành đó chờ tối lửa,tắt đèn rồi hẳn hay. Đó là nét thay đổi của Hạo,so với thời tuổi trẻ anh là thứ chọc trời khuấy nước. Đâu có hiền,nhưng vì đời bắt anh phải hiền.Anh hiền để sống.Khôn thật!Hạo thường ví mình:- đời dạy đời,nghề dạy nghề.Cho nên Hạo tâm niệm “thương cha chớ chọc ăn mày”Nhờ vậy;sống trong cảnh khó mà Hạo vẫn tìm thấy hạnh phúc.

 

Hình minh họa

      “Em yêu!Anh nóng ruột muốn gặp em;tại sao lại lánh mặt anh?Không lẽ từ buổi anh về nhà em, anh đã làm gì em buồn,rồi em giận anh?Anh cứ thắc mắc trong lòng hay em nghĩ anh phũ phàng em.Biết bao nhiêu lần hò hẹn,bao nhiêu lần mình nắm tay nhau, thề non hẹn biển, bao nhiêu lần trao nhau nụ hôn, chưa đủ để em cảm hoá tình yêu?Hay em còn nghi ngờ anh.Hơn một năm từ khi yêu em,anh cứ tưởng tình mình đã lâu lắm rồi, thì chắc hiểu nhau nhiều hơn để rồi chúng mình sẽ đi tới con đường hạnh phúc dài lâu;chắc em cũng như anh đều mong muốn như vậy.Thế thì;lý do gì em không cho anh gặp em.Xin em đừng buộc vào người anh cái án treo như thế.Khổ  lắm!nếu đời anh không có em thì anh còn thiết gì hơn.Anh vẫn nhớ mãi hôm ở nhà em  vào buổi chiều xế bóng,vắng mẹ; đó là một đánh dấu lớn lao nhất của anh.Anh biết em quá thương yêu anh mà phải xử thế như vậy.Sau đó em khóc.Anh hứng những hạt lệ đó  vào tim anh.Giờ em hiểu anh chưa? Đọc thư nầy,em cho anh một cơ hội để gặp em.Yêu em mãi mãi.Nguyễn Phước Khải”.

Ngà cầm trong tay lá thư Khải gởi,nàng yêu Khải nhiều hơn,hơn bao giờ vì Khải vô tư,chưa hiểu rõ vai trò của người đàn bà,nhất là thiếu nữ như nàng.Ngà hiểu và nhận thức được điều đó,dù phụ nữ Âu hay Á, xưa hay nay,rừng rú hay đô thị,văn minh hay lạc hậu,hiền hay dữ,cái lằn biên đó không được vượt tuyến, nó nằm trong vị trí bảo thủ, được phong kín rủ là.Nếu sự cố xẩy ra ngoài ý muốn hay dự mưu thì người phụ nữ xem như phạm tội có thể”ném đá”như cái thuở xa xưa (?)thời nay hiện đại hơn có thể phục hồi lại được.Nhưng không ai đứng ra mà phán xét,buộc tội,ném đá:nên đem lòng vị tha ra mà đối đãi. Vì cả hai bên đều là những kẻ “nhúng-chàm”thì xem như đã vào đời...Ngà so sánh và xử lý được cảnh đời.Nhưng có sao đâu.Khải là người tình của mình thì làm chi phải xa mặt cách lòng.Nhưng sớm muộn Ngà phải nói cho mẹ biết.Ngà nghĩ chưa phải lúc này, sợ làm cho mẹ thêm ưu phiền,nàng đuổi quanh ý nghĩ đó suốt hai tuần nay từ khi lánh mặt không gặp Khải.Ngà bức rức giữa tình và hiếu,thần sắc nàng không còn linh động như trước đây,cười nói mất tự nhiên với bạn đồng song,ngay cả những khi trực diện với mẹ trong sinh hoạt hằng ngày.Bà Thìn tin tưởng ở Ngà là đứa con ngoan cho nên bà không nói những gì có tác hại đến tinh thần Ngà.Vẫn thương yêu,trìu mến như thuở nào,Ngà biết mình may mắn có được một người mẹ như thế.Bởi Ngà mất cha khi tuổi còn nhỏ,cho nên gần gủi với mẹ,và được mẹ bày khôn vẻ khéo.Vì thế không một mảy may gì xẩy ra mà Ngà giấu mẹ.Bản chất bà Thìn có lòng thương người và rộng lòng tha thứ.Bà thường hay ngóng con về sau buổi học.Ngà còn vài năm nữa là tốt nghiệp văn khoa.Nhưng từ khi quan hệ với Khải học lực của nàng có phần sút giảm.Ngà chậm rãi đẩy xe máy vào nhà thì nghe tiếng mẹ nói từ sau bếp vọng ra.

-Bửa ni sao về sớm rứa con?Bà Thìn nói.

-Dạ thưa mẹ chẳng còn gì để làm cho nên con về sớm.Ngà nói.

Ngà vào buồng,ngồi xuống ghế nhìn quanh buồng với tiếng thở dài,nàng lắng nghe những dư âm ngày cũ nhưng bây giờ đã bay xa.Ngà cần tiếng nói của Khải. Đứng dậy và lần mò xuống bếp phụ mẹ.Thấy gương mặt mẹ vui,chắc ngày nay mẹ thu nhập khá cho nên nấu nướng thêm nhiều món ăn. Đôi khi cái vui buồn bên nhau cũng giảm đi những phút giây căn thẳng và gần gủi bên nhau mẹ con bà Thìn không cảm thấy lẻ loi,vô vị.Trong bửa ăn hai mẹ con kể đủ loại chuyện,chuyện mưa nắng,chuyện xe cán chó,chó cán xe rồi ôm bụng cười nghiêng ngửa,không còn thấy là mẹ con.Cái thứ hạnh phúc đó cũng khó kiếm ở đời này.

-À;sao hơn hai tuần nay không thấy Khải đến chơi?Hay bận thi cử?.Bà Thìn hỏi.

-Dạ thưa mẹ,anh vẫn bình thường,chắc lúc nầy anh bận chuyện nhà.Anh cứ nhắc với con;bửa cơm hôm đầu tháng, mẹ nấu ngon.Anh nói;cơm miệt vườn còn ngon hơn cơm đô thị.Ngà nói

-Ồ!anh ta khéo khen,chớ đâu bằng người ta được hỡi con.Bà Thìn nói.

Trong lời qua,tiếng lại với con, bà Thìn thường hạ tiếng nói mỗi khi nhắc đến Khải.Bà tuyệt nhiên không lộ tỏ thái độ bất chính kiến của mình với Ngà và Khải.

Bà Thìn có cái nhìn xa về tương lai con mình,bà không sợ người ta đụng chạm đến nhân phẩm con bà,nhưng trong sự kết nghĩa dù dưới hình thức nào,người ta nhìn quá khứ,nhìn cái đạo đức làm người là chính,bà không có tham vọng để được vinh hoa.Bà muốn cuộc đời đến với con mình  là nghĩa tình chớ không phải là nghĩa tận, phải bên nhau trọn đời dù dưới mái tranh nghèo mà hạnh phúc hơn phải sống đọa đày trong lầu son gác tiá.Bà Thìn sợ cảnh đó.Cho nên cái chung thủy của bà đối với phiá nhà chồng lúc nào cũng sắc son,nội ngoại qúi cái tấm bụng của bà là thế.Bà Thìn cười nói với con,nhìn vào tưởng bà vô tư,lạc quan.Không!bà đã điều nghiên và nhìn thấy được thực trạng của con người,trắng, đen như thế nào, bà định nghĩa một cách rõ ràng nhưng bà không nói đấy thôi. Đời nay con người là muôn mặt,từ to đầu đến nhỏ…đều thế cả; đâu còn nhân-nghĩa-lễ-trí-tín.Vì thế bà khôn khéo dạy con.

-Qua năm là con tới 27,28 rồi đó,mẹ nghĩ con ra trường là lập gia đình, đừng quá muộn.Mẹ đâu có sống hoài bên con để chăm sóc, để nâng niu.Mẹ gìn giữ ngôi nhà nầy do ba con để lại và nay được coi như ngôi từ đường của giòng họ,tiếc thay ba mẹ không có con trai,cho nên nhà nầy tương lai là của con.Mẹ trông cậy vào con.Bà Thìn nói.

Ngà lắng nghe lời mật ngọt của mẹ mà không khỏi bùi ngùi.Ngà cảm thấy như lời trăn trối của mẹ,nàng vụt òa khóc,nàng run run và hôn vào tay mẹ.

-Con xin nghe lời mẹ dạy.Con cũng muốn sắp xếp việc hôn nhân để mẹ vui.Con xin hứa.Ngà nói với tiếng sụt sùi.

-Thôi được;mẹ đi nghỉ vì mai còn nhiều việc phải làm.Bà Thìn nói.

Ngà gục đầu xuống bàn,tóc gục theo,để lại một không gian lạnh ngắt giữa lúc nầy,nàng muốn giải bày tâm sự,nhưng giải bày với ai?chỉ còn lại Khải là người duy nhất hiểu được tâm tư của nàng.Nghĩ tới đây,Ngà sợ những đổi thay bất ngờ,nàng nhắm nghiền đôi mắt để xoá những suy nghĩ hãi hùng,như đe dọa nàng.

Bên ngoài,trời đã đi vào đêm,thỉnh thoảng gió đầu xa ào tới xán vào cửa gây tiếng động mạnh,Ngà hoảng hồn, đứng dậy vuốt tóc và đi về phiá buồng ngủ.

Những đốm sao lung linh,có một vì sao lạc, xẹt ngang giữa lưng trời.Gió rít dữ dội.

      Nhìn lại tình yêu của Khải và Ngà thấm thoát gần ba năm.Chóng thật!bảo sao không mau già.Cuối hè nầy Khải ra trương luật.Cái nghiệp nầy khó dụng võ nếu không có ai đở đầu, đưa đường dẫn lối thì có nước ngồi rung đùi;chẳng lẽ học xong ôm cái mảnh bằng ở nhà mẹ nuôi.Khải hiểu hoàn cảnh đó.Với lại phải có cái gì đã rồi mới tính hôn nhân với Ngà.Việc học của nàng không phải là cứu cánh cho chàng.Sở học như thế cũng đủ bản lĩnh để sống bên nhau.Khổ một điều lượng dân nơi đây không phải là mực độ lớn cho thương trường cạnh tranh,hay đầu mối của pháp lý,nghành nghề như Khải phải là nơi tranh giựt,nơi có nhiều cư dân thì mới dể kiếm ra tiền, đó là nhu cầu pháp lý.Khải muốn nhìn xa hơn để hoạt động nghề nghiệp, ngỏ hầu đem lại nhiều phúc lợi cho đời sống.Không biết sự thể có như ý muốn và thuận lợi cho Khải không.Bây giờ Khải mới thật sự biết lo cho thân mình,những năm tháng trước đây chàng vô tư và hồn nhiên như tuổi thơ, bởi người mẹ quá yêu con, cho nên bao che mọi điều và gần như bà Đào khống chế hết cả cuộc đời Khải.Tình yêu,bè bạn bà Đào kiểm soát chặt,bà không muốn Khải vướng vào những gì ngoài ý muốn của mình.Khải hiểu được tâm ý của mẹ cho nên tình yêu giữa Khải và Ngà bà Đào hoàn toàn không hay biết.Đào chỉ thấy Khải lo ăn học và chưa biết chi,dù rằng Khải đã gần tới tuổi 30. Đào thường khoe với bà con,bạn bè:-thằng Khải nhà tôi hiền lành,chăm học và ít nói như cha nó. Đào luôn luôn tự hào điều ao ước của mình.Nhưng bà đâu có thấy cái bên trong ít nói đó.Ở đời này anh nào ít nói chưa hẳn là hiền, đôi khi còn bạo hơn kẻ nói nhiều và còn nhiều trò độc đáo hơn cả người thường. Đào đâu có thấy bên trong của máy vi tính, Đào tưởng Khải học bằng vi tính; đàng hoàng thôi!Nhầm;chính cái đó đưa đến cái tò mò của lạ trong người Khải.Mà mấy ai hay?Chỉ mình Khải hay.Tình sống lâu bên nhau càng đậm nước, đậm như thuốc Bắc,thuốc Nam,cứ cô 4 chén lấy 1 chén là thuốc đúng lượng,chửa trị có hiệu quả.Khải thấm nhuần điều đó.Nhiều lúc Khải đã làm cho Ngà chặc lưỡi bất ngờ.Chàng ngồi tựa cửa sổ trên lầu hai nhìn xuống phố,tay cầm cốc cà phê sữa nóng, độc ẩm nghĩ về tương lai,nghĩ về Ngà,nghĩ về mẹ. Đó là ngã ba đường mà Khải đang đứng giữa trục lộ giao thông của ba tình huống khó xử.Cái xử lý khó nhất là đường tình,liệu mẹ có chấp thuận cho mình cưới Ngà làm vợ? Đang mơ màng. Điện thoại di động réo, đứng dậy, mở máy, đi thẳng vào buồng.

-Alô! À;em .Anh đến ngay.Khải nói.

Ngà ngồi một mình trong quán cà phê,với đôi mắt buồn,cứ dớn dác nhìn xuyên qua cửa kính,ngong ngóng đợi Khải.Cả nữa tiếng mà chưa thấy tới.Sao lạ thế?Nàng nghĩ

ngợi mông lung,nghĩ về mình,nghĩ về Khải,rồi lại lẫm bẩm trong miệng như người mất hồn,ly cà phê đã biến thành ly đá lạnh,Ngà chẳng buồn nhìn ai trong quán và cũng chẳng phải nghe tiếng nhạc,lúc nầy gần như mọi điều đối với nàng là khẩn trương,không còn gì thích thú cả.Thời gian như chậm lại.Khải vẫn chưa tới.Thường khi Ngà kiên nhẫn đợi chờ,không hề trách cứ,nhưng hôm nay nàng tỏ ra giận Khải.Giận lắm;gần cả tiếng đồng hồ.Thoạt nghĩ về cơn hờn dỗi thì thấy Khải dựng xe trước quán và vội vã đi vào với gương mặt không mấy vui,hình như chàng có vấn đề gi chăng?

-Có việc gì mà lâu thế anh?Ngà nói với giọng trách cứ.

-Anh có chút việc, giải quyết xong mới đến đây.Anh xin lỗi phải để em đợi.Khải nói.

Ngà cúi đầu không nói,gương mặt nàng buồn vời vợi.Khải chưa hiểu lý do gì mà sự tình ra như thế.E mẹ nàng có điều gì không tốt?hay việc học hành.Nếu thế thì Ngà nói ngay như mọi khi, đằng này nàng lãnh đạm,thờ ơ một cách tuyệt vọng.

-Nói anh nghe đi.Chuyện gì thế Ngà;thật tình anh không hiểu.Anh xin em.Khải nói.

Hai hàng nước mắt chảy chậm trên mặt nàng,tóc che kín khó mà nhận thấy.Nàng chần chờ để xem cái điều mình muốn nói có kích động cho Khải và ngay cả cho mình?Cuối cùng nàng nói.

-Em mất kinh nguyệt tháng nay.Em sợ quá!Sợ ảnh hưởng lớn cho hai đứa mình.Ngày mai em đi khám để biết kết quả.Ngà nói.

-Tháng nầy tháng mấy ?Anh quên hết.Khải nói.

-Cuối tháng 5 anh ạ.Ngà nói.

Cử chỉ và lời nói của Khải tỏ ra không mấy hào hứng khi được tin nầy,mà ngược lại như hung tin,nếu lọt tai mẹ Khải thì bao nhiêu kế hoạch vỡ cả.Biết ăn nói làm sao với đôi bên.Cuộc đời là thế;sau niềm vui là cái buồn đến,tiệc bắt đầu là hào nhoáng,thịnh soạn,nhưng khi ra về bàn tiệc là bãi chiến trường,chả mấy ai quan tâm.

Tình yêu có như thế không?Nó còn thê thảm hơn cả bàn tiệc.Biết thế mà sao đời vẫn săn đuổi.Giờ Khải thấy khổ.Không có nỗi khổ nào đau bằng khổ ái tình.

-Nếu sự việc như đã thế.Anh nghĩ sao?Ngà nói.

-Anh sẽ nói cho em hay.Giờ anh chưa biết kết quả như thế nào cả.Nhưng anh sẽ sắp xếp ổn cho chúng ta.Em bình tâm.Mọi việc rồi đâu sẽ vào đó.Khải nói.

Bây giờ Ngà thấy tươi lên.Ngà tin đây là trách nhiệm của Khải.Khải tính nhanh bài toán trong đầu và sẽ lập kế hoạch hành động.Khải tin vào lời nói của mình sẽ chinh phục được mọi người,dù bất cứ hoàn cảnh nào.Tình yêu nó có nhiều thể loại;khi yêu  tình là trang giấy trắng, đến khi yêu rồi tình là gió cuốn và khi tình chín rồi là tình phiêu lưu.Khải,Ngà là giai đoạn ba của chén thuốc nấu cô,chỉ việc uống,dù đắng.

 

   Cuối tháng sáu trường đại học luật tổ chức lễ mãn khoá và trao bằng tốt nghiệp, rất đông quan khách và phụ huynh đến dự.Ở hàng ghế đầu dành cho các vị khách qúi và một số nhân hào của chính quyền.Bà Mộng Đào trông lộng lẫy với chiếc áo dài cổ truyền,vàng bạc đeo đầy người,bà trang điểm vừa mắt cho nên cái tướng của bà ra dáng mệnh phụ,ở thành phố nầy hầu như ai cũng biết bà Mộng Đào;bà là mạnh thường quân cho một số hội đoàn và có thế lực, nhờ sự quan hệ buôn bán cũng như quan hệ với giới cửa quyền,bà mạnh vì bà có tiền;cho nên kỳ thi tuyển nào Khải cũng trót lọt.Chẳng phải âu lo hoặc trở ngại,bình tâm như vại.Thời nào cũng thế mới lạ chứ!Căn bệnh nầy hết thuốc chữa.Bệnh gia truyền thì còn lạ gì phải chữa.Tội cho đám dân đen,lúc nào cũng ăn sau,nằm dưới,họ an phận nhưng hạnh phúc; đó là cái giá họ phải đổi lấy mới có được.Cuối hàng ghế,Ngà ngồi một mình bất động.Khải đứng ở bục cao, dõi mắt tìm Ngà.Nhận ra rồi; Khải ngoảy đít đi vào hậu trường.Hình như Khải đau khổ vì sự hiện diện của mẹ và Ngà là hai đối tượng phản đề. Đây là buổi lễ quan trọng cho những người trúng tuyển,họ tranh nhau chụp hình lưu niệm cho nên việc đến đây để được vinh danh là niềm hãnh diện chung,cạnh đó cũng có một số người đến để se sua cái bề thế của mình.Khải phải đứng cạnh mẹ để chào đón những người bạn thân quen của mẹ và ôm nhau chụp hình lia chia.Phút sau; Khải ra khỏi vòng tay mẹ,lầm lủi tìm Ngà để chụp hình kỷ niệm.Kỷ niệm một cuộc tình…Nhưng Ngà không còn quanh đây.Nàng đã ra đi.Khải cảm thấy như ân hận điều gì.

Trên đường trở về nhà; Ngà nuốt nước mắt trong họng,nàng suy nghĩ; tại sao xung quanh Khải luôn luôn có hàng rào cản lối đi, điều đó Ngà biết từ những năm đầu yêu Khải và biết mẹ Khải không phải như mẹ mình.Cả hai bà cùng lớn lên một thời,cũng có con để yêu thương,nhưng mỗi bà mỗi chế độ yêu khác nhau,phát sinh từ đẳng cấp xã hội,từ thói lề hủ lậu và từ chỗ ít văn hóa mà ra.Dù dưới dạng thức nào, điều quan trọng là sống dưới một gia dình có lễ giáo, tất có tinh thần đạo đức,thì ít nhiều cũng hiểu được đạo làm người,nếu không từ nguồn đó ra,chắc chắn là loại thứ dân, dù nằm trong tháp ngà vẫn là thứ dân hạ lưu.Vì vậy có những cư xử khác nhau giữa đời.

Ngà đi thẳng vào nhà, nằm dài trên giường,mẹ nàng giờ nầy còn ở chợ,cho nên sinh khí trong nhà lắng xuống.Ngà mệt mỏi,buồn nôn và lịm dần trên giường ngủ.

Nắng bên ngoài đã xuống đầu mái, để lại những tia nắng yếu trên mấy tàu lá chuối trong vườn.Ngà ngủ say,xếp mình bán thân ,chỉ còn nghe tiếng thở dội trên lồng ngực nàng.

 

     Cầm trong tay mảnh bằng cử nhân luật,Khải mân mê như đứa trẻ cầm kẹo,cái thú vị là người ta mua cho ăn.Khải biết sức lực mình.Thế nhưng cũng không phải vì thế mà lộng kính ngó chơi;uổng công chạy chọt!Nếu có việc làm thì hành xử thế nào với chức năng?Không khéo thằng tội phạm nó biện lý cho chính nó cũng không chừng.Cái xã hội đầy ắp những ông tú, ông cử như Khải e trở thành đống rát,thì đất nước nầy nhờ ai?Cái sở học ngày nay đi lần tới cái thất học.Vì vậy sinh ra chứng nói phét,nổ sảng,hoá thành căn bệnh thời đại.Khải ngồi suy tư đời mình,suy tư tình duyên của mình.Khải phải thuyết phục mẹ để cho mình cưới Ngà trước khi kiếm việc làm,tuy là nghịch với giòng đời,mẹ Khải có thể làm những gì Khải yêu cầu nhưng cái chuyện chấp nhận Khải cưới Ngà là chuyện vô tưởng của bà Mộng Đào.Mẹ Khải là người háo danh, đầy lòng tham, ích kỷ  với cái nhìn thiển cận thì làm sao thỏa mãn ý Khải,dù rất yêu qúi con.Bà đã sắp xếp cuộc đời tương lai cho Khải rồi; nhưng chưa hành động đấy thôi.Khải hiểu ý mẹ, do đó không đặc vấn đề này với mẹ.Không cần Khải phải phân bua, Ngà thừa biết điều đó và chẳng thiết về làm dâu con nhà bà Mộng Đào. Đang suy nghĩ mông lung.Khải nghe tiếng gọi của mẹ dội vào buồng.

-Sau một ngày con nhận bằng tốt nghiệp mẹ đã liên lạc với chú Thể ở Sài gòn,chú sẽ tận tình giúp con làm việc mà nhu cầu công tác đó hiện nay đang cần.Chú Thể là bạn thâm tình của ba mẹ lâu nay,chú là dân có máu mặt ở đô thị lớn trong Nam.Mẹ nghĩ con vào đó thích hợp với môi trường hoạt động nghề nghiệp,ở đây tiếng ồ ạt đấy nhưng mà khó xuất quân.Nhất là nghành nghề của con.Con quyết định,thì cuối tuần nay đi ngay để nhận công tác.Mẹ Khải nói.

-Sao vội thế mẹ,con nghĩ ít nhất cũng qua tháng tới mới tính được việc làm ăn và cho con có thời gian để chuẩn bị tinh thần. Đi vào đó mọi bề đều xa lạ với con,cho nên con chưa hình dung ra được dữ kiện sẽ ra sao.Khải nói.

-Chú Thể lo mọi chuyện cho con,chỗ ăn,chỗ ở,việc làm một cách chu đáo.Mẹ tin tưởng con người của chú.Vì vậy con hãy xem chú như cha mình, đừng làm chú buồn.Không có gì mà con ngại núi,ngại sông.Chuẩn bị đi thôi; đừng để phải lỗi hẹn.Nghe mẹ đi rồi đời con sẽ sung sướng,hạnh phúc có điạ vị trong xã hội.Mẹ nói.

Ở cái thế chẳng đặng đừng;chống đề nghị của mẹ thì lấy gì để sống, mà bỏ đi như thế ăn nói làm sao với Ngà.Gia thế của Ngà rất đáng thương,tình yêu của Ngà đối với Khải quá đẹp, thì nở lòng nào,dù xa nhau một ngày.Khải nằm trong hoàn cảnh khó xử.Bỏ thì thương,sương thì nặng,nghĩa tình thật là khó giải.Khải ôm đầu mà thở vắng than dài.Tình người ngó thế mà khó trung dung,được cái nầy thì mất cái khác,cuộc đời không bao giờ thuận chiều;bóng tối với ánh sáng.thủy với hỏa,tốt với xấu những thứ đó là nghịch lý,là phản đề.Khải phải tìm lối thoát bây giờ.

-Tuần tới anh đi Sài Gòn nhận công tác.Anh không biết việc làm tiến trình ra sao và sẽ đi về đâu.Nếu ổn anh thu xếp đưa em vào ở với anh.Chúng mình sẽ có một mái ấm gia đình như thế không phiền hà tới ai.Khải nói.

- Em phải hỏi ý mẹ và xem mẹ có đồng ý cho em theo anh không.Ngà nói.

-Em cho anh biết sớm.Khải nói.

Hai kẻ nhìn nhau nhưng lòng buồn vô tận,vì cả hai đều nằm trong thế bí.

Trời chiều đầy mây xám kéo đến,gió mạnh thổi tung những hàng cây dọc bờ sông,chắc trời muốn mưa,khách đi đường đã thấy vội vàng,những hàng quán chợ chiều cũng thu xếp gọn để tránh cơn mưa dữ sắp đến.Tia chớp rạch bầu trời xám và sau đó vang lên tiếng sấm mạnh,người ta sợ những cơn thịnh nộ của thiên nhiên như lời đe dọa.Ngà sợ sấm động, ôm cứng lấy người Khải.Hai người khoát vai nhau đi về cuối đường,giữa lúc nầy họ như kẻ thất hồn thì ngại gì cơn mưa tới.

-Anh đưa em vào quán nước gần đây,trông em không được khoẻ. Đi nhanh thôi.Khải nói.

-Anh gọi cho em tách trà chanh nhé.Khải nói.

Ngà ngồi xuống ghế trông dáng tuyệt vọng,dưới mắt Ngà là sụp đổ dù có đứng dậy, đứng dậy của người nhiễm bịnh,nàng mất hẳn sinh khí sống.Ngà suy nghĩ;nếu cuộc đời là bình thường thì việc cưới hỏi ở lúc nầy là bình thường.Ngà không thể chấp nhận một cuộc hôn nhân chạy trốn như kẻ cướp giựt.Thật là vô lý!Chắc chắn mẹ Ngà tự ái lắm và mất mặt với bà con,xóm giềng;bỗng nhiên người ta tha con mình đi như mèo tha con,không một lời thưa trình với chén rượu hay đôi lời giả từ ra đi.Vô duyên thật!Đó là suy nghĩ thầm kín của Ngà.

-Em muốn về thôi anh.Em mệt quá!Em sẽ cho anh hay, dự tính mà anh đã bày tỏ với em hôm nay.Ngà nói.

-Trời sắp mưa.Em nán lại đây với anh,tạnh cơn mưa chúng mình cùng về.Khải nói.

Hai đứa nhìn nhau mà không nói,mưa bắt đầu rải xuống đường, nặng hạt,gió,mưa tung hoành đổ xuống đây, ước chừng như muốn vùi dập quán cà phê để gió cuốn đi.Ngà khoanh tay,run cầm cập,mặt tái xanh,nàng muốn oẹ cho nhẹ cơn đau.Ngà gục xuống bàn,thở dốc từng chặng.

-Em buồn nôn?Anh đưa em vào phòng vệ sinh nhé!Khải nói.

-Em nghỉ khoẻ, chốc lát sẽ qua thôi.Ngà nói.

Khải bỏ chỗ ngồi, ôm vào nàng để truyền hơi ấm.Thuở trước mà có được cảnh nầy là cảnh hạnh phúc của tình yêu,có nói trăng,nói cuội đều được xem là lời tình.Trong giờ phút nầy,tình thế nầy, chả ai buồn nói mà có nói chăng cũng chẳng giải quyết được gì.Chi bằng ngồi nghe mưa,may ra mưa giải hoá được đôi điều.

Mưa dữ nhưng lại mau dứt,bầu trời hén sáng,phố phường lên tiếng động,còi xe đua nhau ré,thúc đẩy vì mưa đã làm lở chuyến ngược xuôi của họ.

 

     Sài Gòn đúng là thành phố xô bồ,nhìn lượng xe đuổi nhau cũng nhận ra được sự bon chen,háo hức của tầng lớp dân đô thị,thời gian không dừng lại,những trục tuyến ngày đêm như mạng nhện,giăng khắp phố phường,không rảnh tay để được nghỉ ngơi.

Chưa tới 7 giờ Khải đã dậy,lạ chỗ,lạ không khí,lại thêm tiếng xe bên ngoài đánh thức giấc ngủ của Khải.Chàng ngồi độc ẩm,chén trà hoa lài không còn quyện hương thơm nữa,lạt nhách!Chàng đâu còn nhàn nhả để thưởng thức ngon dở.Vúi như tơ vò.Khổ tới nơi rồi.Khi xưa ở nơi chốn quen thuộc,bình yên,gặp ai cũng thưa với bẩm.Giờ đây chủ mặc chủ,tớ mặc tớ.Họ đang bận chạy theo tiền tài và danh vọng.Hơi sức đâu mà chào với hỏi.Quá ngán!Khải thấy cảnh đời không còn lý tưởng hay chính mình đánh mất lý tưởng.Khải ném suy nghĩ đó sang một bên và trở về với thực tại.Vào buồng tắm; dội một cái cho khoẻ rồi tính chuyện đi quan hệ.Sống lẻ loi như thế làm Khải muốn điên lên.Ngày còn bên mẹ,bên người yêu,Khải tợ như con chim muốn bay,muốn đậu tùy thích.Giờ đây có khác chi thằng tù. Ăn vội tô hủ tiếu với ly cà phê sữa sáng nay.Nhanh chân phóng xe máy đến gặp một vài nhân vật quan trọng. Đầu tiên là ông chú mà mẹ bảo xem như cha. Đồng hồ đã điểm 8 giờ.Khải đứng trước cửa phòng giám đốc, bụm tay gõ khẽ lên cửa.Khải nghe tiếng nói từ bên trong.

-Mời vào.Giám đốc nói.

-Cháu chào chú.Khải nói.

-Khải đây phải không?Mẹ khoẻ không?Giám đốc nói.

Lần đầu xáp mặt với Huỳnh Thể.Khải chới với.Mỗi khi mẹ nói đến chú Thể,Khải cứ nghĩ là một con người hào hoa phong nhã,tốt bụng,một người vui tính, cởi mở.Nay nhìn tận mắt, Khải mới thấy mẹ mình quá suy tôn”thần tượng”chú Thể như thế.

Gương mặt Thể trầm lặng, tiết kiệm lời nói,thỉnh thoảng mỉm nụ cười lạc,hình vóc Thể ốm cao,mặt vau lại,chỉ có bộ lông mày rậm tướng là nổi bậc trên mặt.Trong câu chuyện ,phát ngôn như có tính ra lệnh,nếu ai làm phật ý thì tự ái dâng trào và tỏ ra thù ghét ngay.Một loại người như thế phải cẩn trọng lời ăn tiếng nói.Khải thông minh nhận ra được điều đó.Nhưng có sao đâu! Đã vào hang cọp thì phải bắt cho được cọp.Không nhẽ bỏ về.Khải rơi vào cái thế nghẹt thở.

-Hôm nay tôi bận đi họp.Ngày mai cũng giờ nầy đến gặp chú.Chỗ ở thế nào?Thể nói.

Khải dạ lấy lệ chứ thực lòng cũng không muốn nán lại nơi đây và cũng không muốn đối chất với”ông chú”lắm luật lệ.Khải đẩy cửa,bước ra ngoài.Giờ tan tầm trưa,nhân viên các cơ quan gần đó toả ra như ong vỡ tổ,huyên náo ,nhanh chân tìm cơm ăn dọc bên đường.Họ ăn uống nhanh không phải trễ giờ làm mà nhanh vì đói,nói là đói cho gọn từ ngữ,chớ 8 giờ làm,nhưng thực ra còn phải cà phê,thuốc lá,ba dẽm dăm ba điều gần cả tiếng đồng hồ,loay hoay thì tới giờ trưa.Chủ tớ đều thế cả; mà mỗi tháng báo cáo đều tốt hết.Khải bị cuốn theo làn sóng kiếm cơm trưa.Thôi; họ làm được mình làm được,không nhẽ cà-vạt,vét-tôn mà ngồi đường xơi cơm chung với đám ăn xin.Khải phải hoà đồng mới đuổi kịp văn minh đô thị.Thời thế phải thế thời.

 

        Nhanh quá đi thôi!mới đó mà cả năm Khải sống và làm việc ở Sài Gòn.Đôi khi ngồi ngả lưng trên ghế xoay, đội tay trên đầu, nhớ về Ngà,nhớ những con đường tình đã đi qua mà thấy nhớ thương người yêu. Nhưng rồi lại thôi; bởi công việc bề bộn,trên bàn giấy đầy ấp giấy tờ chưa giải quyết hết,chưa kể những lúc chạy riêng,thì giờ đâu nữa mà thư với từ. Đêm nào cũng về nhà gần nửa đêm,bên nầy hẹn,bên nọ mời nhậu suốt, đâu có ăn cơm nhà.Khải bận tú-rua cho nên chóng quên,ngoài ra Khải còn thù tiếp với nhiều mỹ nhân trong tiệc mời. Đang ngáp thì điện thoại bàn reo,Khải khiếp!

-Có mấy hợp đồng ký bên xuất khẩu tiến tới đâu rồi anh Khải.Giám đốc công ty Ngoại thương nói.

-Dạ thưa giám đốc việc đang tiến trình cả hai bên.Hợp đồng này đem lại cho cơ quan nhiều lợi nhuận.Mình chỉ xuống bút một cái là đạt yêu cầu ngay.Khải nói.

Giám đốc nghe Khải báo cáo sơ lược thấy đúng ý cười lớn, đứng dậy lấy ly rót rượu ngoại mời Khải uống.Cả hai cụng ly cười nói hả hê.

-Anh vừa mới nhận công tác chưa tới năm mà thành thạo hơn cả người làm năm mười năm.Anh Thể tìm đúng đối tượng,chọn mặt gởi vàng.Giám đốc nói.

-Dạ thưa giám đốc mọi sự khởi đầu nan.Tất cả là chiêu độc chú Thể tôi truyền bí,chớ thưa giám đốc có chi mà thành thạo.Khải nói.

-Ui chà!một cái thưa giám đốc,hai cái thưa giám đốc, mất hết tình nghĩa.Cứ gọi là bác như xưa nay là đẹp. À;mời Khải chiều nay đi ăn nhà hàng với gia đình tôi nhé.Trung Kiên nói.

Giám đốc Ngoại thương tục danh là Lê Ngưỡng,nhưng từ khi trèo lên ghế giám đốc thường được gọi là anh Hai giám đốc,hay gọi là anh Trung Kiên.Gọi Ngưỡng  chỉ   có

vợ là Liễu gọi mỗi khi trao tình ở phòng the.Ngưỡng và Liễu gốc Quảng Bình được chuyển vào Nam sau ngày giải phóng, đã đi qua nhiều đơn vị khác nhau, cuối cùng về đây gần 10 năm và đóng chốt luôn,bạn đồng niên với Ngưỡng giờ làm lớn cả.Nhìn lại tấm hình chụp hồi mới vào đây, đôi Ngưỡng Liễu là hai bộ xương cá khô,giờ khác hẳn,béo bổ ra phết,tiếp cận với khách nước ngoài cho nên ra Tây hơn ra Việt.

 

    Hoàn giờ đây tròn một năm.Còn ít hôm là ăn mừng sinh nhật cháu ngoại của bà Thìn.Ngà và Thìn dồn tài lực vào buổi lễ hôm đó.Có đông bà con nội ngoại và một số bạn bè, xóm giềng được mời.Cho nên bà Thìn lo sắp xếp thật chu đáo để vơi đi tiếng thị phi vì bà không muốn nghe ai nhắc đến việc tình phụ con mình,tuy nhiên bà cũng mừng thầm là con gái mình không rơi vào tay ngạ qủi.Ngà và mẹ quyết tâm giáo dục Hoàn trở nên người tốt,có nhân tâm. Đó là niềm tin yêu  của hai mẹ con bà Thìn.Hơn cả năm qua,Ngà đoạn tuyệt hẳn cái quá khứ bi thảm đó,xoá mờ cái tình yêu vụng dại của tuổi trưởng thành.Ngà nhận thức và lớn dần trong tư tưởng.

-Chắc mẹ phải nhờ Hạo giúp sắp xếp và trình thiết cửa nhà trong ngày sinh nhật cháu Hoàn.Chứ mẹ con mình đâu có tay làm mấy việc nầy,với nhờ anh đi mượn thêm ít ghế ngồi.Con nghĩ sao?Bà Thìn nói.

-Sợ phiền anh không mẹ.Ngà nói.

Từ khi Ngà mang cái thai “vô thừa nhận”với con trai bà Mộng Đào,ai lại không biết việc nầy, đương nhiên Mộng Đào quá thừa biết từ khi mới rạng ra.Mẹ Khải không phải là tay mơ, đầy mưu lược.Ngà ôm nỗi đau đó vào người và coi như số phận đã định, có cưỡng cũng không được.Một phần lỗi lầm có mình trong đó, cho nên Ngà không lấy làm ân hận,chỉ ân hận làm cho mẹ buồn, đó là tội lỗi.Thế thôi.Nàng quyết tâm chọn lựa cuộc đời còn lại cho mình.Ngà kiếm được việc khi nàng đã mang thai 3 tháng,Ngà dạy ở trường phổ thông cấp một huyện,sớm đi chiều về cho tới khi nghỉ đẻ.Cu Hoàn giống Khải như hai giọt nước.Ngà cảm thấy hạnh phúc có được đứa con trai,bà Thìn cũng thế, có cháu ngoại trai để bồng bế, đó là ao ước của bà Thìn,nay có cháu trai ở với bà là xem như mộng trở thành thực.

 

      Suốt cả thời gian dài,Hạo sống cô độc như thế,cũng chẳng thấy gái trai gì cả. Đố ai mà biết được thâm ý của Hạo.Nghe tin đồn Ngà chửa hoang,Hạo như trên trời rớt xuống đất,ngất ngư.Cứ nhủ thầm “để coi” và Hạo để coi cho tới bây giờ.Hạo sốt sắng mỗi khi bà Thìn cậy giúp điều gì.Mỗi lần đến làm gì cho bà Thìn,Hạo đưa mắt nhìn trộm Ngà,rồi nghoảnh lưng đi xa.Nhưng lại thích chăm sóc Hoàn,bồng bế,hôn hít có nhiều khi bế đi khắp cả khu phố;khác gì cha con.Vắng Hạo,cu Hoàn lại nhớ. Đòi gặp bác Hạo cho bằng được.Bà Thìn chìu cháu và bế tới giao cho Hạo.

Hạo thường bế cu Hoàn chờ mẹ từ trường về.Hai mẹ con vui mừng khi gặp nhau.Ngà quên đi Hạo đứng cạnh. Điềm nhiên bế con đi về nhà,sực nhớ ra Hạo,Ngà ngoảnh cổ nhìn Hạo với lời cám ơn.Cu Hoàn vói miệng gọi tên Hạo trong tiếng nói ấp ớ.

-Con bước ra đó gọi anh Hạo vào đây cho mẹ nhờ.Bà Thìn nói.

-Có việc gì mà khẩn trương thế mẹ.Ngà hỏi.

-À; thì cứ gọi.Cả buổi nay anh giữ thằng nhỏ suốt, đâu có làm ăn gì.Có thế mẹ mới bán được buổi chợ.Tội người ta.Nói nhờ chớ kêu anh vào để ăn cơm với gia đình mình cho vui rứa mà.Bà Thìn nói.

Chờ nước sôi,luộc bó rau muống,bà Thìn nghĩ đến Hạo,thương Hạo vừa mất mẹ mấy tháng qua.Nay lủi thủi một mình,nghĩ mà động lòng.Ở đời này mấy người nghèo thường gặp khổ,nghèo gặp eo.Thế rồi ôm bụng mà chịu.Hạo cũng có chữ nghĩa thời trước,ra đời cũng vinh hoa lắm,nhưng sanh không nhầm thời cho nên khổ,thêm tuổi lớn,lý lịch không sạch,bị vướng thì kiếm đâu cho hợp với khả năng để làm. Đành lòng  làm cu-ly xe kéo để kiếm cơm nuôi thân.Hoàn cảnh như thế Hạo biết phận mình mà không nghĩ đến hôn nhân.Nhiều lần bà Thìn kể tiểu sử Hạo cho Ngà nghe.Nhưng không làm cho Ngà đoái tưởng mà cho chuyện thường tình có sao đâu.Ngà sinh sau đẻ muộn đâu có hiểu thấu đáo tình người.Ngà lớn lên trong một xã hội đổi mới cho nên đâu có thấy phiá sau lưng cuộc đời.Thời gian sẽ làm mờ tất cả,chỉ có tiếng thơm muôn thuở mà thôi.Thế nhưng đời vẫn đuổi theo như con ngựa đuổi theo củ cà-rốt.

     Cúc Anh ngồi trước đài gương,xem mái tóc vừa mới nhuộm màu vàng ngô,nàng muốn làm sao cho giống Tây thôi. Đưa mấy ngón tay lên xem,móng sơn đen,móng sơn đỏ vừa làm ở tiệm móng hôm qua.Coi bộ đắc ý,ngắm tới,ngắm lui rồi mỉm cười trong gương.Quần là áo lượt suốt ngày,chả mấy đụng tay vào việc nhà.Từ ngày là vợ Khải,chưa một lần Cúc Anh ra thăm quê chồng hay ra mắt với bà con nội ngoại hoặc về thăm quê của đấng sanh thành.Chả hiểu lý do gì;mỗi lần Khải đưa đề nghị về quê là khăng khăng không muốn đi,nhưng nói đi nhảy đầm, đi du lịch là đi ngay.Về mặt tình cảm giữa đôi vợ chồng nầy hình như nghịch số và khắc khẩu,thường bất đồng ý kiến đưa tới chuyện bất hòa.Biết thế;nhưng Khải kêu ai bây giờ.Từ chỗ sợ đụng chạm với Cúc Anh,chàng biến ra lãnh cảm. Gả Cúc Anh cho Khải,vợ chồng Trung Kiên xem như hết trách nhiệm.Ngưỡng ngao ngán với đứa con gái đầu lòng,chị cả mà hư đốn,không gương mẫu  cho đám em.May mà ép thằng Khải lấy làm vợ,không thì đứng đường.Khải gánh cục nợ cho giám đốc Trung Kiên, cũng vì kẹt cứng nhiều thứ trong nghề nghiệp.Mộng Đào thấy cái cảnh sống của con dâu rồi đó.Bà nghiến răng chịu trận,chớ có ai vô đó mà trách với hờn.Giờ có thương Khải cũng không đem Khải về được.Khải không còn dưới quyền lực của người mẹ.Mộng Đào biết điều đó.Bà ngậm bồ hòn.Thăm con đâu có một ngày,hôm sau đáp máy bay trở về,mang theo nỗi tuyệt vọng của cuộc đời.Trời không chiều lòng bà.Quá nhiều rồi!

Khải và Cúc Anh như hai thái cực,mấy khi chia xẻ tình cảm nồng nàn;có làm tình  chăng cũng là làm bất đắc dĩ,sướng sung gì mà tình với tứ.Trước tình cảnh đó Khải nhớ về Ngà.Ngà sao dịu dàng,nết na,việc nhỏ,việc lớn đều làm được,không hề từ nan, âu yếm vỗ về Khải,chăm sóc từng chi tiết có đâu như Cúc Anh.Khải nghĩ tới tình xưa và nhìn tình nay mà ngao ngán cho cuộc tình.Cúc Anh chỉ biết có mình,chẳng biết làm vợ và cũng chẳng biết làm dâu con.Cúc Anh sinh chứng từ khi bác sĩ thử nghiệm và cho biết là không có con; vì thế Cúc Anh bất cần đời, ăn chơi quên ngày mai.Gặp phải mẹ quá thương con, nên có được chút nào của Ngưỡng kiếm được thì lại chuồi vào tay Cúc Anh.Nàng khoái disco và ánh đèn màu.

-Nè con! cất lấy và dành dụm cho tương lai. Đừng hoang phí.Mẹ biết con tri kỷ lắm,có thế cũng đở phần nào cho thằng Khải.Lúc nầy trông anh ta gầy và lo lắng công ăn việc làm.Con hãy bồi dưỡng cho Khải.Bà Liễu nói.

-Ồ!mẹ khéo lo.Anh thiếu gì thức ăn mà bồi dưỡng.Có thứ mời ông, ông lại chê.Anh cho là là xài không đúng chổ.Cúc Anh nói.

Bà Trung Kiên thả câu nói chậm rãi đến với Cúc Anh rồi lặng lẽ đẩy cửa ra về.Ngoài đường đã vào tối,quẹt trong mắt Liễu những đốm sáng chói,tạo một thứ ảo giác lung linh khó chịu.Liễu nhắm mắt lại và nhìn lui quảng đời mình đã đi qua với Ngưỡng.Liễu đâu có làm ăn gì,thế mà không chăm nổi bầy con,hư cả đám;cha mẹ chạy theo đời,con cũng chạy theo luôn.Chỉ mình Trung Kiên làm là quá thừa, luơng hướng của Trung Kiên đủ để chi vào cái khoản vặt.Trung Kiên nhiều mánh lắm.Sợ gì?Cho nên vợ con Trung Kiên phè cánh nhạn.

-Dạ thưa bà về thẳng nhà hay bà muốn ghé nơi đâu?Người tài xế nói.

-Về thôi!Tôi mệt lắm.Bà Trung Kiên nói.

Cổng sắt mở.Chiếc Mercedes ML500 nằm khiêm tốn như con chó ngoan giử nhà trước sân biệt thự tráng lệ.Trên lầu hai, đèn buồng ngủ bực sáng,nghe tiếng ca cải lương đổ xuống đường giữa đêm hôm của thành phố hoa lệ nầy.

Ôi!trời ơi;sao lắm thứ trong cuộc đời này thế. Bao phủ cả một khung trời thịnh trị cho một đất nước phồn vinh và giàu mạnh(!).

 

   Nhà bà Thìn đèn,hoa rực rỡ.Căn giữa nhà tiền đường mở rộng cửa.Cu Hoàn mặc áo quần mới,giày dép đàng hoàng, đứng loanh quanh bên cạnh bà ngoại.Dưới hiên sau bà con nội ngoại,bạn bè bà Thìn loay hoay ba cái món trầu rượu.Trong buồng chị em bạn phụ tay trang điểm cô dâu,sửa lại khăn vành trên đầu cho được ngay, áo rộng tay màu đỏ,kiền vàng,hoa tai,móng tay,móng chân phết sơn đỏ,cổ quàng thêm khăn choàng màu mở gà,nhìn toàn thể từ đầu tới chân cho một nàng dâu vùng ngoại ô như thế là đầy đủ lắm rồi.Môi hồng,má phấn ,rảy lên tóc mấy giọt nước hoa nội hoá,phản mùi hoa bưởi,ngần ấy đủ lôi cuốn với hai họ.Nhìn quanh chỉ có mình Ngà là lộng lẫy.Nàng mỉm cười tự mãn.Xong!Mọi sự như đã rồi.

-Nè;chị em ơi,giờ nạp lễ sắp đến rồi đó.Chuẩn bị để rước dâu.Bạn đồng nghiệp nói.

Ngoài ngõ;cánh nhà trai đang chờ giờ tốt mới xin nạp lễ.Có lọng,có đèn đề huề. Đám nhà trai chả có bao nhiêu,hầu hết mấy hương chức lớn tuổi;trao đổi, dặn dò chú rể.Hạo khăn đóng, áo tứ thân dệt bằng gấm nội hoá, trông Hạo uy nghi như một quan trường thuở xưa.Chàng ngóng cổ nhìn vào trong,nôn được thấy vợ mình.

-Tới giờ nạp lễ,rước dâu rồi đó.Cụ già nói.

Dẫn đầu mâm cau trầu rượu tiến vào ,ngang qua cổng đan lá và bẹ dừa,có dán chữ vu qui,giấy vàng lóng lánh ngũ sắc,đầy đủ hoa lá cành với hai chữ lớn Trần-Nguyễn,ngoằn ngoèo như rồng bay phượng múa.Thiết kế nầy do anh em chở mướn ra sức trình bày cho Hạo.

Nói cho ra lễ nghi,chớ xong đâu vào đó Hạo về dưới mái nhà bà Thìn,bên cạnh có Ngà và cu Hoàn.Hoàn bây giờ được 2 tuổi,mẹ và bà ngoại dạy rằng:- Ba của Hoàn đấy!Nhớ nhé! Hạo hân hoan đón nhận tình yêu nầy như là mối tình đầu của đời chàng.Ngà âu yếm ôm Hạo vào lòng với nước mắt lưng tròng.Hạo và Ngà đã vượt qua bao thử thách,giờ mới tìm thấy được cái chân lý của hạnh phúc.

Bà Thìn đứng trong bếp nhìn ra ngoài  với nụ cười mãn nguyện.Bà có cảm giác như sống lại những ngày xưa thân ái, tràn đầy tình người như bà đã mong đợi từ lâu.

 

 

    Mười lăm năm sau,vào một buổi sáng mùa xuân.Dưới cơn mưa phùn của xứ Huế.Người ta thấy một người đàn ông đứng tuổi,tóc hoa râm xuống xe,búng dù,cúi đầu đi chậm rãi về hướng thôn Đầm Rau để tìm lại những gì đã sống và đã mất. Ông đứng tần ngần khá lâu trước một ngôi nhà cũ.Căn nhà nầy đã gieo hạt giống mới mà ông đã bỏ quên. Ông chỉ muốn được nhìn thôi.Thấy hai người đàn ông,một già một trẻ tiến về phiá người đàn ông cầm dù đang đứng chờ chuyến xe đò về phố.

-Xin lỗi ông;chắc ông ở đây? Ông có biết nhà bà Thìn còn ở đây không?Người đàn ông cầm dù nói.

-Bà ngoại tôi.Bà mất được mấy năm rồi.Cậu con trai chừng 15 tuổi nói.

-Ông quen bà?Người cha đứa nhỏ nói.

Xe đến; cả ba cùng lên xe,họ ngồi gần bên nhau trong cùng một dãy ghế.Người đàn ông cầm dù liếc mắt nhìn cậu trai mỉm nụ cười hiền hậu. Đứa trẻ đưa mắt nhìn qua cửa sổ xe và dõi mắt theo bóng chạy thụt lùi của hàng cây bên đường.

Trời hết mưa bay và vén lên ngọn nắng xuân,phản phất hương trầm đâu đây của một cố đô trầm mặc nầy ./.

 

 

Kim Kỳ st

Xem thêm...

Bát mì hoành thánh cho cậu bé ăn xin

Related image
 
Bát mì hoành thánh cho cậu bé ăn xin
Diêu Gia Trang là một khu dân cư nhỏ cấp thôn ở Trung Quốc. Gần đó có rất nhiều các nhà máy nhỏ nên người dân khắp nơi đổ về đây làm việc rất đông. Thiên Kỳ và vợ là Mạn Lệ mở một cửa hàng mì  hoành thánh tại đây. Mặc dù cửa hàng không lớn nhưng vì hai vợ chồng thật thà, hòa nhã, đồ ăn vừa rẻ vừa ngon nên khách đến rất đông, việc làm ăn thuận lợi hơn nhiều so với những cửa hàng khác trong thôn. Một buổi trưa nọ, có một cậu bé ăn xin ăn mạc rách nát, chừng 10 tuổi đứng trước một quán mỳ và giơ bàn tay bé xíu về phía trước nói: "Cô ơi, cô cho cháu chút gì ăn được không?"
"Cút, cút, cút ngay, đừng làm ảnh hưởng đến việc làm ăn của tao, thật bực mình", bà chủ quán mì  gào lên. Cậu bé ăn xin lủi thủi quay đi, sang nhà kế bên nhưng vẫn bị đuổi thẳng.
"Chú ơi, lâu lắm rồi cháu chưa được ăn gì, chú có thể cho cháu chút cơm thừa không ạ?" – cậu bé ăn xin mắt ngấn nước cầu cứu Thiên Kỳ.
"Đi đi, đi đi, không nhìn thấy ta đang bận lắm hay sao?" – Thiên Kỳ đang rán hoành thánh, vừa đảo cái xẻng xào nấu trong tay vừa nói.
Mạn Lệ nghe thấy vậy liền đập vào vai chồng một cái, nói: "Sao mình lại nói với trẻ con như vậy?" Rồi cô quay sang cậu bé ăn xin nói: "Cháu bé, vào đây, ngồi đây, cô cho cháu một bát mì  nóng nhé." Vừa nói, cô vừa kéo cậu bé vào một góc nhỏ trong quán.
Một lúc sau, Mạn Lệ mang ra một bát vằn thắn nóng hổi: "Nào, ăn đi, ăn từ từ thôi không nóng. Nếu ăn hết bát này mà chưa no thì cứ bảo cô." Nói xong, cô tiếp tục ra ngoài mời đón khách.
Cậu bé ăn xin vẫn rưng rưng nước mắt, nhưng vì đã bị cơn đói giày vò quá lâu, cậu vội ăn thật nhanh, nhanh đến mức chẳng kịp cảm nhận được mùi vị của món ăn, chỉ cảm thấy vô cùng ấm áp.
Cho cậu bé ăn xin bát mì, nửa tháng sau, 1 sự cố xảy ra đã thay đổi cuộc đời chủ quán - Ảnh 1.
Húp sạch giọt nước dùng cuối cùng, cậu bé đặt bát xuống bàn rồi lẻn đi mất. "Cái thằng bé này, ăn xong là đi, đến một câu cảm ơn cũng không có" 
– Thiên Kỳ giọng khó chịu. Nhưng vợ anh nhanh chóng đỡ lời: "Anh lớn thế rồi mà cứ như trẻ con vậy!"
Vốn dĩ cho rằng đứa trẻ ăn xin sẽ còn quay lại song vài ngày sau đó, cậu bé ấy không hề lộ diện.
Related image
 
Sự cố xảy ra sau nửa tháng
Chớp mắt đã nửa tháng trôi qua. Hôm đó, khi tiễn những người khách cuối cùng, đồng hồ đã chỉ gần 2h sáng. Những cửa hàng khác đã đóng cửa tự bao giờ, ngoài đường tối om không một bóng người.
Thiên Kỳ đứng trong quán đấm bóp vai, Mạn Lệ cởi tạp dề, phủi bụi bẩn trên người. Đúng lúc đó, một cái bóng người nhỏ xuất hiện, kéo tay hai vợ chồng và chỉ tay ra ngoài nói: "Cô, chú, mau đóng cửa lại, có người xấu."
Đứa trẻ đó chính là cậu bé ăn xin. Hai vợ chồng Thiên Kỳ vội nhìn theo hướng tay cậu bé chỉ, thấy một nhóm 4 người, mặt bịt khăn đen, tay cầm gậy sắt đang chạy lại phía cửa hàng của họ.
Thiên Kỳ vội vã kéo cửa cuốn xuống, khóa chặt cửa lại từ phía trong. Mạn Lệ và cậu bé ăn xin sợ hãi, cảm giác không dám thở mạnh.
Thiên Kỳ tay cầm dao phay, hai chân run rẩy nhưng vẫn cố nói thật to: "Tao đã báo cảnh sát rồi, chúng mày không đi sẽ bị bắt. Lần này coi như chúng mày gặp may." Nói rồi, anh cố gắng tạo ra tiếng động thật mạnh từ con dao trên tay để thị uy với lũ người xấu.
Cho cậu bé ăn xin bát mì, nửa tháng sau, 1 sự cố xảy ra đã thay đổi cuộc đời chủ quán - Ảnh 2.
Đợi đến khi bên ngoài yên tĩnh hẳn, hai vợ chồng mới thở phào nhẹ nhõm nhưng vẫn giữ thái độ cảnh giác.
Đặt con dao lên mặt bàn, Thiên Kỳ trút một hơi thở thật dài: "Cậu bé, làm sao cháu biết chúng sắp đến cướp cửa hàng của ta?"
"Một tuần trước, cháu vô tình nghe thấy họ nói cô chú làm ăn tốt, nhất định là kiếm được rất nhiều tiền. Đợi đến ngày nào cô chú đóng cửa muộn một chút họ sẽ đến cướp. Cháu muốn nói với cô chú nhưng không biết lúc nào họ sẽ đến, sợ cô chú không tin lời cháu.
Vì thế nên ngày nào cháu cũng nấp ở gần đây nghe ngóng, cho đến vừa rồi, cháu thấy họ tiến về phía cửa hàng của cô chú nến cháu vội chạy đến đây báo tin."- cậu bé ăn xin vừa vân vê gấu áo vừa lí nhí trả lời.
Thiên Kỳ vô cùng kinh ngạc. Nếu như không trải qua tình huống này, có lẽ anh sẽ không bao giờ tin một đứa trẻ lại dũng cảm đến vậy. Anh tiếp tục hỏi: "Vậy, vậy vì sao cháu giúp đỡ chúng ta?"
Cậu bé cúi đầu, do dự một lát rồi trả lời: "Cháu xin ăn lâu lắm rồi nhưng cô chú là những người đầu tiên không mắng cháu, còn cho cháu ăn no. Cô chú quả là người tốt."
Nói xong, cậu bé cảm thấy tủi thân, khóc tướng lên.
Mạn Lệ ôm đứa trẻ vào lòng, không ngừng an ủi. Đợi đến khi cậu bé bình tĩnh trở lại, hai vợ chồng mới hỏi thăm về thân thế của nó.
Cậu bé có tên Mao Mao, 12 tuổi. Vì không được ăn uống đầy đủ nên cậu nhỏ hơn so với tuổi. Từ nhỏ, Mao Mao đã sống trong cô nhi viện.
Đến năm 6 tuổi, cậu bé được một cặp vợ chồng xin về nuôi. Nhưng 3 năm sau đó, vì họ sinh được con trai, khó chịu với con nuôi nên ngược đãi Mao Mao, về sau đuổi cậu bé ra khỏi nhà.
 
Hồi kết tốt đẹp
Trời dần về sáng, vợ chồng Thiên Kỳ quyết định đóng cửa một ngày đưa Mao Mao về nhà.
Nhìn cậu bé ngủ say, Mạn Lệ nói với chồng: "Thiên Kỳ, chúng ta cũng hơn ba mươi tuổi rồi mà chưa có con. Mao Mao ngoan ngoãn như vậy, hay chúng ta nhận nó làm con nuôi."
Thiên Kỳ nhìn vợ rồi nhìn đứa trẻ, cười thật tươi rồi gật đầu.
Cho cậu bé ăn xin bát mì, nửa tháng sau, 1 sự cố xảy ra đã thay đổi cuộc đời chủ quán - Ảnh 3.
Anh gọi điện về cho mẹ, kể với bà việc nhận con nuôi. Mạn Lệ về làm dâu nhà anh đã hơn mười năm những vẫn chưa có con. Mặc dù trong lòng cảm thấy tiếc nuối nhưng vì con dâu vừa hiếu thuận vừa đảm đang nên bà Quách không trách cứ gì. Bây giờ nhận con nuôi dù sao cũng là việc tốt, bên bà rất ủng hộ hai con. Ngay trong ngày hôm đó, hai vợ chồng Mạn Lệ đưa Mao Mao đi làm thủ tục nhận con nuôi. Kể từ đó, họ trở thành người một nhà, cuộc sống của vợ chồng Thiên Kỳ cũng đã thay đổi rất nhiều từ khi có một cậu con trai biết yêu thương bố mẹ nuôi.
Một năm sau đó, Mạn Lệ sinh được một bé gái. Cả nhà đều cho rằng, đây chính là đứa bé mà Mao Mao đã mang đến cho họ, vì thế mà vợ chồng Thiên Kỳ càng yêu thương cậu con nuôi hơn.
Mao Mao cũng rất thương em, niềm vui lớn nhất của cậu mỗi ngày là chọc cho em cười khanh khách.
 
●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●

Lý giải tại sao người Hoa ở Việt Nam rất giàu nhưng luôn ở nhà cũ, nhà tồi tàn

Người ta nói người Hoa ở khu Chợ Lớn giàu nứt vách là chuyện có thật, nhưng điều kỳ lạ mà bạn có thấy được ở khu người Hoa là nhà cửa của họ lại rất cũ kỹ, không được chăm chút như người Việt mình. Đó là bí mật của họ và người Việt mình cũng nên học hỏi khá nhiều ở họ chứ nhỉ.
Những người Hoa sang Việt Nam hầu như đều rất giàu có. Không chỉ riêng ở Việt Nam mà đi đâu trên thế giới người ta cũng thấy Chinatown (phố người Hoa) thì phải nói là họ tài giỏi tới cỡ nào. Kể 1 vài điển hình về người Hoa giàu nứt vách ở SaiGon nè, mà giàu từ tay trắng đi lên nữa đó:
– Nước rửa chén Mỹ Hảo: ông chủ hiện thời – Lương Vạn Vinh – người từng bắt đầu bằng việc bán một mớ đồ cũ trên vỉa hè
– Giày dép Biti’s:ông chủ Vưu Khải Thành – người từng chuyển từ nghề đông y sang làm giày dép
– Bánh kẹo Kinh Đô: ông Trần Kim Thành chỉ bắt đầu từ việc xoay xở với những bạn hàng nhỏ lẻ ở Campuchia
– Cửa hàng bánh ABC: ông Kao Siêu Lực -người đi làm thuê cho một hiệu bánh và sau đó tự khởi nghiệp …
Còn đây là những lý do khiến cho họ giàu nhưng không bao giờ mua đất cất nhà lầu:

1. Người Hoa không thích phô trương
Người Trung Quốc bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên thế kỷ 19. Sau đó, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, Chợ Lớn. Thời kì này người Hoa sang Việt Nam theo các đợt tuyển mộ phu đồn điền của người Pháp.
Rồi họ sang với hai bàn tay trắng và làm nên sự nghiệp nên họ rất quý những đồng tiền họ làm ra, họ tiết kiệm lắm.
Không giống như người Việt mình thích hô hào phóng đại thêm tên tuổi để có gì vay mượn, xoay chuyển càn khôn,….mà người Hoa không giàu họ sẽ từ từ lặng im làm giàu. Người Hoa đã giàu họ cũng im lặng để duy trì tài sản của họ mà thôi.
 
2. Tâm linh “Nhà là nơi bắt đầu và cũng không nên thay đổi”
Người Trung Quốc xưa rất coi trọng việc chọn đất làm nhà, cất mộ. Họ cho rằng gia chủ có ăn nên làm ra hay không, phần lớn đều liên quan đến việc chọn nhà, cất mộ, có chọn được đất lành, hướng tốt hay không. Người Hoa rất kỹ về phong thủy nên đã làm ăn được ở đâu thì không thay đổi. Quán xá dù nhỏ, nếu làm ăn phát đạt vẫn chỉ làm thêm cơ sở mới, không xây lên.
Họ nghĩ rằng chính nơi họ bắt đầu ấy phong thủy tốt, giúp họ làm ăn khấm khá cho nên họ sẽ tiếp tục duy trì như trước. Họ sợ “sai 1 li sẽ đi 1 dặm”, sợ “mất tất cả những gì đang có” nên thà họ sống ở chỗ cũ mà vẫn duy trì được suộc sống như trước thì vẫn hay hơn.
 
3. Coi trọng nguồn cội
Họ sống kiểu “hệ sinh thái” mà. Hỗ trợ, tương trợ nhau mà sống cho nên không cần phải lo lắng gì cả. Người làm ăn tốt thì giúp đỡ người nghèo, người lớn giúp đỡ người trẻ,….Người Hoa họ có cả một cộng đồng hỗ trợ: bạn hàng cho mua thiếu lâu hơn, các đàn anh trong nghề chỉ vẽ đôi đường và còn giới thiệu đối tác, người trong tộc luôn ủng hộ…sống như vậy quá tốt rồi nên đâu ai nghĩ tới chuyện phải đổi đi nơi khác.
Họ dạy nhau phải biết “Kính nghiệp” . Điều đó có nghĩa là mình làm giàu chưa đủ mà còn phải biết chia sẻ cách làm giàu, chia sẻ nỗi khổ với người thất bại, kết nối cộng đồng lại với nhau.
 
4. Trọng nghĩa khí
Mỗi năm, khu hội quán Nghĩa An bên cạnh trường tiểu học Chính Nghĩa, quận 5 đều có tổ chức bán đấu giá những cái lồng đèn tuyệt đẹp để lấy tiền chăm lo đời sống và giáo dục cho con em gốc Hoa. Số tiền tự nguyện mà cứ tăng dần, chục triệu, trăm triệu, rồi một tỉ, hai tỉ đồn,…không ai tiếc tiền cho thế hệ trẻ, kể cả người chẳng phải ruột thịt
Nhiều khi tiền bạc họ để dành dụ còn giúp đỡ người trong họ phường chứ không hẳn là phải mua đất cất nhà rần rần đâu.
 
5. Công bằng về tài sản
Bất kể người con trai thuộc ngôi thứ nào nếu tỏ ra uy tín cũng đều được người cha tin tưởng giao tay hòm chìa khóa. Người con nào là phá gia chi tử, bị liệt vào hạng thất dụng thì không được giao việc liên quan đến tiền bạc mặc dù vẫn được thương yêu.
Người hoa quan niệm là họ cho con cái những thứ tinh túy, cho “cần câu” chứ không cho “con cá”. Bởi vậy mua đất nhiều cất nhà nhiều cũng không nghĩa lý gì cả. Nếu con cái họ giỏi, tự ắt nó cũng làm ra được những thứ đó. Còn con cái họ không ra gì thì cho chỉ phí phạm thêm thôi
 
6. Người Hoa ít ham rẻ, chủ yếu ăn uống, mua sắm ở chứ không nghĩ nhiều tới chuyện nhà cửa
Đối với họ thì chất lượng và uy tín quan trọng nhất. Họ không tham của rẻ, không sống theo kiểu ăn nhín ăn bớt. Rất quan tâm đến đời sống con cháu nên bản thân ai nấy đều tự nhắc nhở mình phải tuân thủ quy tắc làm “điều răn” ấy. Cuối cùng họ chăm cái ăn hơn cái ở vì cái ăn ảnh hưởng tới đời sống và sức khỏe họ nhiều hơn. Tiền dồn vào ăn uống chứ không đầu tư vào nhà là vậy.
 
7. Người Hoa không muốn thấy “kẻ ăn mày” trong cộng đồng của họ
Một trong những triết lý của họ là cần–kiệm. Họ không có thói quen xài tiền như nhiều người dân khác ở Sài Gòn. Kiếm ít thì xài ít, kiếm nhiều cũng dùng tiền giúp đỡ người trong cùng bang.
Họ luôn sẵn sàng hỗ trợ việc làm, giúp người khác tự mưu sinh. Đối với họ, giúp là phải giúp cho giàu, không phải chỉ để có ăn cho qua ngày đoạn tháng. Và nhờ vậy không có bất mà không bao giờ thấy “kẻ ăn mày” trong cộng đồng của họ.
 
●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●

Bí quyết thành công của người Hoa ở Chợ Lớn

Ngày nay, cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn đã phát triển không chỉ gói gọn trong quy mô Sài Gòn nữa, mà đã dần trở thành những Danh Nhân lớn nhất trên đất Việt.

Bí quyết thành công của người Hoa ở Chợ Lớn
 
 
Nội dung nổi bật:
- Bí quyết thành công của các doanh nghiệp người Hoa ở Chợ Lớn: Phải biết yêu nghề và kính nghiệp.
- Người ta bảo “thà cho vàng chứ không chỉ đàng làm ăn” nhưng với cộng đồng người Hoa, sức mạnh tập thể và sự hướng dẫn là một trách nhiệm rất lớn.
- Họ khởi nghiệp khác với người Việt, vì có cả một cộng đồng hỗ trợ: bạn hàng cho mua thiếu lâu hơn, các đàn anh trong nghề chỉ vẽ đôi đường và còn giới thiệu đối tác, người trong tộc luôn ủng hộ…

Phải biết yêu nghề kính nghiệp
Trước năm 1975, người Hoa gốc Minh Hương đã tạo ra những cái tên, cũng là những đỉnh cao của nghề nghiệp tại Sài Gòn: vua thép, vua gạo, vua bột giặt, vua xà bông, vua bột mì… Cho đến khúc quanh thời cuộc của ngày thống nhất thì những cái tên này mới dần bị suy tàn, nhưng lại chuẩn bị cho một cuộc tái sinh…
Và xuất phát điểm lại từ số không. Có người bắt đầu bằng việc bán một mớ đồ cũ trên vỉa hè để nuôi mộng lớn như ông Lương Vạn Vinh, ông chủ hiện thời của nước rửa chén Mỹ Hảo. Có người chuyển từ nghề đông y sang làm giày dép như ông Vưu Khải Thành của Biti’s. Cũng có người xoay xở với những bạn hàng nhỏ lẻ ở Campuchia như gia đình ông Trần Kim Thành của Kinh Đô. Hay cũng có người bắt đầu lại bằng việc đi làm thuê cho một hiệu bánh như ông Kao Siêu Lực, giờ có một chuỗi cửa hàng bánh hàng đầu là ABC…
Ông Cổ Gia Thọ - Chủ tịch Công ty Thiên Long nhớ lại câu chuyện về hai người đàn anh đã giúp đỡ mình lúc khởi nghiệp: “Chúng tôi gọi anh Lý Ngọc Minh (Chủ tịch Công ty gốm sứ Minh Long - pv) và anh Vưu Khải Thành là những đại ca cổ thụ trong cộng đồng doanh nghiệp người Hoa không chỉ vì khả năng kinh doanh, mà còn là sự bảo bọc, hướng dẫn anh em làm ăn và luôn sẵn sàng chia sẻ những khó khăn của nhau nữa…
 
Với ông Cổ Gia Thọ, một trong những ân tình mà ông nhớ là việc ông Vưu Khải Thành hay tổ chức hội nghị khách hàng, chia sẻ những định hướng, thảo luận việc mở rộng thị trường… và sẵn lòng để những doanh nhân trẻ hơn, non nghề hơn như ông Thọ vào tham dự để nghe, để học, để tạo ra những kết nối kinh doanh. Người ta bảo “thà cho vàng chứ không chỉ đàng làm ăn” nhưng với cộng đồng người Hoa, sức mạnh tập thể và sự hướng dẫn là một trách nhiệm rất lớn.
“Hai mươi mấy năm trước, khi tôi còn bập bẹ làm một cơ sở bút bi nhỏ xíu thì anh Thành đã là người sáng lập và chủ tịch của hội công kỹ nghệ gia quận 6, như một kiểu hiệp hội doanh nghiệp bây giờ để làm điểm gặp gỡ, kết nối và chia sẻ công chuyện với nhau. Lúc đó tôi không quen anh Thành, nhưng xin đi sinh hoạt, và dần dần học được nhiều điều lắm. Chẳng hạn sự thẳng thắn, trung thực và cương quyết. Trước đây, tôi là người hay rụt rè để ra những quyết định quan trọng nhưng anh Thành khuyên phải biết nắm cơ hội và chấp nhận những rủi ro, thất bại nếu muốn làm chuyện lớn…”, ông Thọ kể.
Cộng đồng doanh nghiệp người Hoa vẫn thường nhắc nhở nhau học tập nguyên tắc  của hai ông Lý Ngọc Minh và Vưu Khải Thành trong kinh doanh. Theo đó, nguyên tắc Lý Ngọc Minh là: Đơn giản mà hiệu quả;  An toàn hai lần; Làm cho bằng được; Vui vẻ cởi mở; Hợp tác chân tình. Nguyên tắc Vưu Khải Thành yêu cầu: Giải phóng tư tưởng; Thực sự cầu thị; Tích cực tìm tòi; Mạnh dạn sáng tạo; Kiên trì phấn đấu; Không ngại gian nan; Học tập nước ngoài; Không ngừng vươn lên.
Còn theo ông Cổ Gia Thọ, một trong những bí quyết thành công trong kinh doanh của người Hoa là: Phải biết yêu nghề kính nghiệp. Qủa thật, nếu không dốc trọn cuộc đời cho một công việc mà mình đã chọn, thì không có cách nào tạo ra những đế chế vững vàng đến mực được gọi là vua của một nghề. Và hiện nay, đã lấp lánh những ông vua của từng ngành, mà đa phần đều là người gốc Hoa: vua gốm sứ Lý Ngọc Minh, vua giày dép Vưu Khải Thành, vua bánh Kao Siêu Lực, vua nước rửa chén Lương Vạn Vinh, vua nhựa Trần Duy Hy, vua vải Thái Tuấn Chí…
 
Hệ sinh thái kinh doanh của người Hoa
Khái niệm “hệ sinh thái” (ecosystem) dùng trong kinh doanh dạo này hay được nhắc đến nhiều thông qua chuyện người Israel xây nguyên một bệ phóng cho các doanh nghiệp trẻ với định vị “quốc gia khởi nghiệp” nhưng nếu chịu khó nhìn ngó, thì tự thân các doanh nhân gốc Hoa ở Việt Nam cũng đã xây nên những nền tảng đáng kể cho công chuyện làm ăn của họ và con cháu. Họ khởi nghiệp khác với người Việt, vì có cả một cộng đồng hỗ trợ: bạn hàng cho mua thiếu lâu hơn, các đàn anh trong nghề chỉ vẽ đôi đường và còn giới thiệu đối tác, người trong tộc luôn ủng hộ…
Đầu tiên, đó là vai trò của các bang hội, tức là các “bang” và các “hội”. Không còn là những tổ chức mang màu sắc chính trị như thời Thiên địa hội của đời trước ông Vương Hồng Sển nữa, mà những bang hội sau này hoạt động như những thành luỹ gìn giữ giá trị văn hoá truyền thống của một cộng đồng người gốc Hoa chung một nguồn cội. Đó có thể là hội quán Phước Kiến của những người từ vùng giáp ranh Đài Loan sang miền Nam lập nghiệp, có thể là hội quán Triều Châu (hay Tiều Châu), hội quán Quảng Đông…
 
Sau này, ranh giới địa lý của những bang hội này cũng dần xoá nhoà, họ sinh hoạt chung với nhau nhiều hơn, nhưng vẫn khá kín tiếng và ít giao du với người bên ngoài. Người bang trưởng, hay hội trưởng, là người đức cao vọng trọng trong cộng đồng, phải chăm lo nhiều thứ. Thường thì để làm chức này, người ta phải bỏ ra nhiều tiền để đóng góp cho cộng đồng và thay vì để lấy chức quyền thì họ lấy cái trách nhiệm và niềm tự hào được đóng góp cho cộng đồng. Còn nhớ mỗi năm, khu hội quán Nghĩa An bên cạnh trường tiểu học Chính Nghĩa, quận 5 đều có tổ chức bán đấu giá những cái lồng đèn tuyệt đẹp để lấy tiền chăm lo đời sống và giáo dục cho con em gốc Hoa. Không giương cờ gióng trống hot boy hot girl hay trực tiếp truyền hình MC nổi tiếng gì cả, chỉ có những “đại bô lão” ngồi ghế, con cháu em út quây xung quanh trong một không gian ngập sắc màu, trang phục truyền thống. Nhưng con số cứ tăng dần, chục triệu, trăm triệu, rồi một tỉ, hai tỉ đồng được hô lên thu tiền ngay, làm chương trình công khai sổ sách ngay. Những cái tên khá quen như Trầm Bê hay còn xa lạ như một bà cụ đã già lắm được cẩn thận ghi chép lại, và họ cũng sẽ là những người được cộng đồng nhắc đến, được những người trẻ nhìn đó mà làm gương.
 
Bang hội này, giống như một lớp màn chắn, không cho những biến đổi quá nhanh của xã hội xông vào làm hỏng đi truyền thống của họ. Con cháu có thể đi học trường Hoa ngữ song song với trường Việt ngữ, được dạy những bài vỡ lòng về làm ăn theo kiểu công tử phải đi cọ thùng, và quan trọng nhất, họ được dạy bởi những bài học sống động của thực tiễn kinh doanh trong cộng đồng người Hoa.
 
●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●

Triết lý kinh doanh của người Hoa nhìn từ Sài Gòn - Chợ Lớn

Từ thời xa xưa, ở Sài Gòn đã phổ biến câu nói “Ăn mày Tàu".

Triết lý kinh doanh của người Hoa nhìn từ Sài Gòn - Chợ Lớn
Là vì đi ăn xin ở đâu thì đi, nhưng không thể vào khu người Hoa ở Chợ Lớn để xin được, vì người Hoa tuyệt đối không cho tiền người đi ăn xin, mà ngược lại họ sẵn sàng đưa tay ra để giúp đỡ, tạo cơ hội công ăn việc làm cho người nghèo khổ, sa cơ lỡ vận, để tự mưu sinh và sau đó có thể làm giàu.
Với người Hoa, cái gì cần xài, không sợ tốn kém, cái gì lãng phí khó mà móc được “hầu bao” của họ. Tướng quân Quản Trọng cũng đã từng khuyên vua, "Bệ hạ nên cho dân nghèo cái cần câu, hơn là cho con cá". 
Đối với cộng đồng người Hoa sinh sống tại Việt Nam hay với quốc gia nào khác, họ đều mang theo tinh hoa của triết lý này để thi thố làm ăn nơi xứ lạ, quê người. Nhiều câu châm ngôn trong cuộc sống và kinh doanh mà người Hoa nào cũng thuộc lòng và nhắc nhở cho nhau như: "Buôn Ngô buôn Tàu, không giàu bằng buôn hà tiện", hay "Biển rộng mặc biển, thuyền chèo có ngăn”…
Không thể phủ nhận tính cần và kiệm của người Hoa. Hai chữ “cần, kiệm” không chỉ có ý nghĩa triết lý suông, mà nó đã trở thành triết lý kinh doanh của người Hoa trong mọi thời đại. Vào các thập niên đầu và giữa thế kỷ XX, có nhiều tấm gương làm giàu nay đã trở thành giai thoại từ cộng đồng người Hoa ở Sài Gòn. 
 
Chuyện kể rằng, Quách Đàm và chú Hỏa xuất thân từ nghèo khó, cuộc sống của họ chỉ dựa vào gánh ve chai, nhưng do cần kiệm miệt mài làm việc mà họ trở thành đại phú gia thời ấy. Hay giai thoại "công tử co thùng", đối với các đại phú gia Hoa kiều trước khi muốn con cái gìn giữ và phát triển sản nghiệp của gia đình, họ gửi các chàng công tử này đến các cơ sở để rèn luyện tính kiên nhẫn ngay từ nhỏ. 
Để xin được vào làm việc tại một cơ sở nào, họ cũng phải trải qua quá trình xét tuyển như những người công nhân khác. Khi được tuyển vào, công việc trước tiên các chàng công tử này là phải xuống bếp cọ thùng như những công nhân. Đây là một cách đào luyện con cái họ khi trở thành doanh nhân có đủ kinh nghiệm và tính kiên nhẫn trong vai trò người chủ trong tương lai.
 
Một yếu tố khác mang tính đặc trưng của người Hoa. Đó là tính cộng đồng của họ rất cao.Trong kinh doanh, họ lập ra nhiều bang hội, nhưng các bang hội không phải là nơi tụ hội ăn chơi mà để nâng đỡ, tạo cơ hội cho mọi người trong cộng đồng có thể gây dựng cơ nghiệp làm ăn. 
Trước khi có tín dụng ngân hàng cho vay dự án kinh doanh, các bang hội người Hoa đã biết triển khai tín dụng, qua hình thức "hụi thảo", một loại hình chung tay giúp vốn cho những người muốn ra làm ăn nhưng thiếu vốn. 
Nhưng sau khi giúp vốn, người Hoa còn tích cực hơn với "hậu tín dụng", đó là chung tay giúp doanh nghiệp còn non trẻ. Nếu là mở hàng ăn thì họ kéo nhau đến ăn, nếu sản xuất giày dép thì họ tìm đến mua giày… 
 
Nhưng trước hết, chính những đối tác được giúp đỡ đó phải chứng tỏ sự tích cực về tính kiệm cần cao độ. Một số đại gia có thương hiệu vang dội ngày nay là do từng được giúp và áp dụng tinh thần kiệm cần, như thương hiệu giày dép Bình Tiên, bánh ngọt Đức Phát… là những điển hình cụ thể. 
Bắt đầu là "tiểu phú do cần" sau trở thành "đại phú do trời". Trời nói ở đây là thời cơ khách quan đưa tới. Nhưng thời cơ chỉ đưa tới cho những ai có tâm thành, sẵn sàng năng lực để tiếp nhận khai thác. Đến đây thì triết lý kinh doanh phương Đông của người Hoa đã gặp triết lý kinh doanh của phương Tây, "Hãy tự giúp mình trước, rồi trời sẽ giúp anh sau". Nhiều nhà nghiên cứu lý giải việc kinh doanh thành công của người Hoa là vì họ rất coi trọng chữ tín, trong làm ăn họ luôn đặt chữ tín lên hàng đầu. Trong nhiều lần tiếp xúc với giới truyền thông, một cựu Phó Tổng của Công ty CP Kinh Đô, cho biết: “Người Hoa có tầm nhìn kinh doanh rộng và dài. Họ luôn nhạy bén, có khát vọng đột phá, đi đầu và làm ăn lớn, chữ “tín” cũng xuất phát từ chỗ này”. 
Công ty bánh Kinh Đô (trước 1975 có tên gọi là Công ty Đô Thành), ban đầu chỉ là cơ ngơi nhỏ tại quận 6, Sài Gòn nhưng bây giờ cơ ngơi của Kinh Đô có tới 9 công ty, có mặt từ Nam chí Bắc. Trên thương trường, Kinh Đô có thể xem là một trong những đại gia đáng gờm trong ngành sản xuất mặt hàng bánh kẹo...
 
Theo Tiến sĩ Trần Khánh, Viện Nghiên cứu Đông Nam á, những nét đặc trưng về văn hóa kinh doanh người Hoa: “Nền tảng gia đình và chữ “tín” là báu vật; đề cao vai trò của tổ chức xã hội, nghiệp đoàn truyền thống; chấp nhận mạo hiểm và quyết đoán trong kinh doanh, được sự giúp đỡ đắc lực của tập thể, gia đình và bè bạn; đa dạng hóa, đa phương hóa hoạt động đầu tư; kết hợp giữa cách làm truyền thống với kiến thức và thực tiễn kinh doanh hiện tại...”.
 
Tại TP.Sài Gòn, cộng đồng người Hoa chỉ chiếm 7% dân số (khoảng 500.000 người), nhưng tỉ trọng doanh nghiệp người Hoa lại chiếm 30% trên tổng số doanh nghiệp có mặt tại Thành phố Sài Gòn, nơi được xem có vị trí đầu tàu kinh tế của cả nước.
 
Điều đáng nói, hầu hết các doanh nghiệp này đều ăn nên làm ra, trong đó không ít doanh nghiệp có sản phẩm chủ lực cho thị trường, rất quen thuộc với người tiêu dùng không chỉ ở TP.HCM mà còn trong phạm vi cả nước. 
Chẳng hạn Công ty CP Bánh kẹo Kinh Đô, Công ty Bút bi Thiên Long, Công ty Dệt Thái Tuấn, Công ty Dây cáp điện Tân Cường Thành, Công ty CP Sản xuất ống thép Hữu Liên - Á Châu...
 
Trước 1975, khi Sài Gòn là “thủ đô” của chính quyền cũ, khu vực Chợ Lớn là nơi tập trung hàng nhập khẩu và hàng nội địa lớn nhất ở các tỉnh phía Nam. Người Hoa gần như giữ độc quyền về hoạt động thương mại (khoảng gần 90% bán buôn, 50% bán lẻ, 80% - 90% xuất nhập khẩu…). 
Những nhà buôn tầm cỡ của người Hoa thường là những đại lý độc quyền, tổng phát hành và phân phối hàng cho các đại lý nhỏ, các cơ sở kỹ nghệ, sản xuất, kinh doanh. Họ có quan hệ làm ăn buôn bán với hơn 40 nước ở khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh hệ thống các nhà buôn lớn, người Hoa ở quận 5 và Chợ Lớn còn làm chủ nhiều tiệm buôn nhỏ, vừa bán sỉ, vừa bán lẻ, đủ mọi mặt hàng, giống như những cửa hàng tạp hóa, mà người Hoa thường gọi là “chạp phô”. 
Chợ Lớn thực sự giữ vai trò trung tâm, chi phối thị trường thành phố Sài Gòn và Nam Việt Nam, tại khu vực này có một hệ thống chợ quy mô lớn, hoạt động có tính chất chuyên ngành như chợ Bình Tây, An Đông, La Cai, Tân Thành, Hòa Bình, Kim Biên…
 
= Sưu tầm by Nguyễn Văn Công =
 
Ảnh minh họa.
Xem thêm...

Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

 Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?

Mùa đông năm ấy thật lạnh, tuyết rơi nhiều khiến mặt đất biến thành một sân trượt tuyết trơn láng. Anh rùng mình khẽ xoa đôi bàn tay lạnh cóng kiên nhẫn ngồi đợi cô đến. Nơi anh và cô thường hò hẹn là một công viên nhỏ đối diện nhà cô. Anh đưa mắt nhìn lên cửa sổ phòng cô, đã hơn 7h tối mà sao cô vẫn chưa xuống anh khẽ thở dài lấy một cành cây nhỏ vẽ nhưng vòng tròn trên nền tuyết cứng. Trong mỗi vòng tròn đó anh đều viết một chứ “yêu” và tất cả chữ yêu đó đều hợp lại thành tên cô. Anh chăm chú vào kiệt tác của mình như quên cả thời gian…

Còn cô vẫn lén đứng bên cửa sổ theo dõi mọi cử động của anh. Trái tim cô xót xa khi nhìn anh ngồi một mình lạnh giá. Tình yêu của anh dành cho cô chứa đựng biết bao nhiêu đau đớn và hi sinh. Anh luôn tự ti và trách móc mình kém cỏi vì chỉ là một người công nhân không thể xứng đáng với cô, sinh viên của một trường đại học. Tình yêu của họ xen lẫn với biết bao đau khổ dằn vặt khi gia đình cô ra sức ngăn cấm. Đã biết bao lần cô muốn rời xa để không mang thêm áp lực đau khổ đến cho anh nhưng trái tim cô lại không thể. Cuối cùng không chịu được cô lao xuống cầu thang…

Cô đứng trước mặt anh. Anh vui mừng chạy đến ôm chặt cô vào lòng: “Cuối cùng em cũng đã đến, anh đã sợ em không thể gặp anh!”. Bàn tay anh khẽ vuốt mái tóc cô, anh dịu dàng nhìn cô nói:“Hôm nay anh phải về nhà thăm bố mẹ một thời gian. Nhưng anh sẽ rất nhớ em!”, “Ban ngày mẹ em đi làm anh có thể gọi điện cho em, em sẽ chờ điện thoại của anh, như vậy sẽ giống như chúng mình được ở bên nhau vậy, sẽ không buồn nữa!”. Cô nép mình bên vai anh thầm thì.

“Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?” 

Trong mỗi vòng tròn đó anh đều viết một chứ “yêu” và tất cả chữ yêu đó đều hợp lại thành tên cô (Ảnh minh họa)

Anh khẽ ôm chặt cô hơn và chỉ cho cô thấy tác phẩm trên tuyết mà anh đã làm tặng cô. Trên nền tuyết trắng tên cô được viết bằng hàng trăm chữ yêu hợp lại, trái tim cô run lên vì xúc động, cô biết anh yêu cô rất nhiều. Anh khẽ lấy tay kéo cao cổ áo cho cô, rồi dặn dò: “Em ở lại nhớ chú ý học hành thật tốt, đừng nhớ đến anh nhiều quá ảnh hưởng đến việc học. Khi nào buồn em cũng đừng nhốt mình trong phòng mà hãy ra ngoài đi dạo, đi chơi với bạn bè. Những lúc không có việc gì thì đan cho anh cái áo len, đến mùa xuân anh sẽ mặc nó được chứ? Như vậy thì lúc nào cũng sẽ có cảm giác anh luôn ở bên em, em sẽ không thấy cô đơn nữa!”. Nói rồi anh rút ra trong túi một gói giấy nhỏ nhét vào tay cô: “Đây là một ít tiền lương tháng này của anh. Anh đã giữ một ít tiền để đi đường và mua ít quà cho gia đình, còn đâu em giữ lại để mua cho mình một bộ quần áo mới nhé! Cẩn thận đừng để mẹ em biết nếu không anh sợ em phải chịu khổ”. Cô cầm gói tiền của anh trong tay mà nước mắt lăn dài…

Sau đó cô đưa anh ra bến tàu. Khi anh bắt đầu bước lên xe, cô nhét gói tiền vào túi anh và nói: “Anh hãy cầm số tiền này mua thêm ít quà cho bố mẹ, còn em sẽ giữ một đồng coi như là món quà Tết anh tặng cho em. Trên đường đi nhớ bảo trọng anh nhé!” Anh chưa kịp phản ứng gì thì đoàn tàu đã nhanh chóng chuyển bánh. Anh vội vã gọi với lại theo cô: ”Giữ gìn sức khỏe em nhé! Anh nhớ em rất nhiều!”. Cô gật đầu vẫy tay nhìn bóng anh khuất xa dần…

Về đến nhà, việc đầu tin là anh gọi điện về cho cô. Nhưng mẹ cô cầm máy, bà lạnh lùng nói: “Anh có phải là người công nhân đang theo đuổi con gái tôi không? Xin anh hãy tránh xa con gái tôi, nó đang ốm và không muốn gặp anh! Lần sau xin anh đừng bao giờ gọi điện đến nữa”. Anh đau đớn, lẳng lặng dập máy, nghĩ đến cô đang ốm, lòng anh thấp thỏm không yên.

Còn cô cả ngày chỉ nằm trên giường chờ điện thoại của anh, nhưng mấy ngày rồi vẫn không thấy anh gọi về, trong lòng cô cũng lo lắng không yên. Để bớt nhớ anh, cô đi mua len về đan áo như lời anh dặn. Cho đến một ngày chuông điện thoại reo vang, cô nhấc máy vừa nói được tiếng alo thì mẹ cô đã tiến lại gần. Cô chỉ kịp nghe thấy giọng anh gấp gáp: “Là em có phải không? Em sao rồi? Sao không nói gì? Em bị cảm đã đỡ chưa? Trả lời anh đi…Em!”. Cô không kịp nói gì thì mẹ cô đã ngay lập tức dập máy. Bà tức giận thẳng thừng nói với cô: “Nếu con còn ngang bướng tiếp tục giao du với thằng công nhân đó, thì nhà này coi như không có đứa con gái này nữa!”. Cô đứng đó chết lặng. Chờ mẹ đi rồi cô mới bắt đầu khóc nấc lên, cô nhớ anh vô hạn…

Nhớ lời anh cô rời khỏi nhà ra ngoài đi dạo cho lòng khuây khoảm cô lại đến nơi anh và cô thường gặp nhau, nhìn những chữ “yêu” anh viết cho cô còn sót lại trên tuyết, nước mắt cô lại rưng rưng. Cô bước lên xe bus sang nhà người bạn thân tiếp tục công việc đan áo của mình. Đường đi phủ một lớp tuyết cứng dày trơn nhẫy, mặc dù xe đi rất chậm nhưng vẫn bị trượt bánh nhiều lần. Bỗng cô nghe thấy một tiếng “ầm” xé tai, cùng với những mảnh kính nát vụn bắn tung tóe, cuộn len trong túi cô văng ra ngoài cửa sổ. Cô chỉ kịp nghe tiếng ai thất thanh: “Hai xe đâm nhau rồi”, tay nắm chặt chiếc áo len đang đan dở cô thiếp đi không biết gì…

  Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?

 Đã hơn ba ngày đêm, cô vẫn hôn mê không tỉnh. Bố mẹ cô khóc sưng cả mắt, tuyệt vọng ngồi bên giường bệnh chờ phép màu xảy ra. Bác sỹ nói nếu cô tỉnh dậy, còn tâm nguyện gì phải làm ngay vì có thể thời gian của cô không còn nhiều nữa. Đến nửa đêm ngày thứ tư cuối cùng bàn tay cô cũng khẽ động đậy, mẹ cô vụt tỉnh dậy ôm chầm lấy cô òa khóc, giọng bà khản đặc: “Con gái! Con có điều gì muốn nói không? Hãy nói cho mẹ, đừng ngủ nữa con…” Cô mấp máy môi nói được những tiếng đứt đoạn: “Áo..áo…len… mang cho con!”. Mẹ cô sực tỉnh tìm cái áo len cô vẫn ôm chặt trong tay từ bữa xảy ra tai nạn đưa cho cô. Cô run run muốn giơ tay với lấy nhưng không đủ sức nữa, cô khẽ thều thào vài tiếng “Con…nhớ… anh ấy!”. Bà vội gọi chồng đi tìm số điện thoại của chàng trai và nhắn anh đến bệnh viện ngay! Nghe thấy tên anh, cô khẽ mỉm cười rồi lại thiếp đi…

Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

Mẹ cô đau đớn cứ ôm cô mà khóc. Bà vô cùng ân hận vì đã ngăn cản cô đến với anh, bà nghĩ có lẽ tâm nguyện của con gái bà là đan xong cái áo len tặng người con trai ấy. Nghĩ vậy bà lau nước mắt và cặm cụi ngồi đan nốt phần còn lại. Nước mắt của bà cùng máu trên người cô dính vào từng sợi len khiến chiếc áo len trở lên nặng trĩu…

Khi anh đến bệnh viện thì cũng là ngày thứ năm, khuôn mặt anh hốc hác, hai mắt thâm quầng lao đến phòng bệnh của cô. Nhìn thấy cô vẫn thiếp đi trên giường, anh ngẹn ngào nắm chặt đôi bàn tay của cô òa khóc. Như một phép màu, cô từ từ mở mắt, anh vội lau nhanh những giọt nước mắt trên mặt mỉm cười nhìn cô ấm áp: “Anh đã quay trở lại rồi đây! Em đừng lo lắng nữa nhé, có gì từ từ nói thôi..” Cô mấp máy định nói điều gì mà không thành tiếng, khóe mắt cô những giọt nước mắt thi nhau chảy, rồi cô lại thiếp đi.

Anh cứ thế ôm cô khóc nấc lên. Có lẽ dường như nghe thấy tiếng khóc của anh, cô lại từ từ mở mắt, cô dùng hết sức lực thều thào những tiếng cuối cùng: “Đừng khóc nữa…Kiếp sau…em sẽ chờ đợi anh!”. Nói rồi cô nhắm mắt bất động. Bác sĩ đến. Giọng ông nghẹn lại: “Cô ấy đi rồi! Cô ấy phải muốn gặp anh lắm nên mới có thể chờ anh được lâu đến vậy, đó đúng là một kỳ tích. Bởi não của cô ấy hầu như đã bị chết đến 90% rồi! Anh hãy vững vàng mà sống không nên phụ lòng cô ấy!”

Mẹ cô cũng tiến lại, bà rưng rưng đưa cho anh cái áo len đã đan xong và nói đây là kỷ vật cuối cùng cô để lại. Anh run run cầm chiếc áo trên tay, nhìn thấy những giọt máu khô trên áo, anh chao đảo quỳ xuống ôm lấy cô gào lên tức tưởi:

“Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?”

Hồng Vân sưu tầm

 

qnh-bia-hai-nguoi-om-nhau-8

anh-bia-tinh-yeu-dep-lang-man (13)

Xem thêm...
Theo dõi RSS này