Truyện

Truyện (319)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện Ngắn: Apparition - Guy De Maupassant

Truyện Ngắn: Apparition

Tác giả Guy De Maupassant

Guy de Maupassant (1850 – 1893)

Guy de Maupassant (tên đầy đủ là Henri René Albert Guy de Maupassant) là nhà văn Pháp,  thế kỷ XIX,tác giả những tiểu thuyết và truyện ngắn  có khuynh hướng  hiện thực, đôi khi hư ảo. Ông sinh tại Fe1camp, một thị trấn của vùng hành chánh Haute- Normandie. Thời thơ ấu ông được gần gũi dân quê, tiếp cận với thổ ngữ và những sinh hoạt bình thường ở vùng Normandie nên đã hình thành được nguồn cảm hứng dồi dào cho các truyện ngắn của ông. Ông được xem là một trong những tác giả viết truyện ngắn hiện đại lỗi lạc nhất.

Tác phẩm của ông gồm 6 cuốn tiểu thuyết, 3 tập ký sự du lịch, một tuyển tâp thơ và trên dưới 300 truyện kể và truyện ngắn.

Chịu ảnh hưởng của Flaubert, người thầy và cũng là cha đỡ đầu của ông, nên văn phong của ông luôn thể hiện thái độ khách quan hiện thực, nhận xét tinh tế, miêu tả chi tiết tỉ mỉ, sâu sắc.

Ông chết bệnh năm 1893 tại một dưỡng trí viện tư nổi tiếng ở Paris, hưởng dương 43 tuổi.

 

Hiện Hình- Apparition


Tác giả: Guy De Maupassant
Thân Trọng Thủy dịch

 

Một buổi tối trong một khách sạn cổ kính ở đường Grenelle. Sau bữa tiệc thân mật, mọi người đang bàn về sự tạm giam, nhân nói đến một vụ kiện vừa xẩy ra. Mỗi người kể một chuyện mà họ khẳng định là chuyện thật.

Lúc đó hầu tước de la Tour-Samuel, tám mươi hai tuổi, đứng dậy đến dựa vào lò sưởi. Ông nói với giọng run run:

“Tôi cũng có một chuyện lạ, lạ đến độ tôi bị ám ảnh suốt đời. Chuyện cách đây năm mươi sáu năm rồi mà bây giờ không tháng nào tôi không nằm mơ thấy nó. Từ ngày ấy đến nay nó hãy còn là một biểu hiện, một dấu ấn của sự sợ hãi, quí vị ạ. Vâng, tôi đã trải qua mười phút quá hãi hùng đến nỗi từ giờ phút đó đến nay tôi luôn luôn ở trong tâm trạng khiếp sợ. Nghe có tiếng động bất chợt là tôi giật thót tim, những đồ vật mà tôi không thấy rõ trong bóng tối cũng khiến tôi muốn chạy trốn ngay. Tóm lại, cứ về đêm là tôi sợ.

Ôi, tiếc là tôi chẳng hề thú nhận việc đó trước khi bước vào tuổi nầy. Bây giờ thì tôi đã có thể nói hết. Ở tuổi tám mươi hai người ta được phép nhát gan trước những hiểm nguy tưởng tượng, còn trước những hiểm nguy thực sự tôi chưa bao giờ lùi bước cả.   

Câu chuyện đó đã làm xáo trộn tâm trí tôi khiến tôi thầm đau buồn và ghê sợ nhưng tôi chưa bao giờ thổ lộ với ai. Tôi đã giữ kín tận đáy lòng, nơi thường chôn chặt những bí mật đau buồn, những bí mật xấu hổ, những nhược điểm trong đời sống mà không dám nói ra.

Sự việc xẩy ra như thế nào, tôi sẽ kể lại y như vậy, mà không giải thích. Chắc chắn là có thể giải thích được, trừ phi là tôi đã điên. Nhưng tôi đã không điên, tôi sẽ dẫn chứng. Quí vị cứ tha hồ tưởng tượng. Chuyện đơn giản thế nầy đây:

Tháng 7 năm 1827 đơn vị tôi đồn trú ở Rouen. Một hôm khi đi dạo trên bến sông, tôi gặp một người đàn ông, thấy quen lắm nhưng không nhớ đích xác là ai. Do bản năng, tôi dợm dừng bước. Người ấy thấy cử chỉ đó của tôi bèn nhìn tôi và sà ngay vào vòng tay tôi.

Thì ra đó là một người bạn thời trai trẻ mà tôi rất mến. Sau năm năm không gặp nhau, anh ấy có vẻ già đi nửa thế kỷ. Tóc anh bạc trắng và bước đi lom khom như kiệt sức. Biết tôi ngạc nhiên, anh ta kể chuyện đời mình. Một tai họa khủng khiếp đã làm tan nát đời anh.

Yêu say đắm một thiếu nữ, anh đã cưới nàng trong niềm sung sướng ngất ngây. Sau một năm sống hạnh phúc tràn trề và say đắm không nguôi, nàng bị bệnh tim qua đời đột ngột. Hẳn là chính tình yêu đã giết chết nàng.

Ngay hôm an táng, anh ta đã rời bỏ tòa lâu đài, đến sống ở Rouen. Ở đây anh sống cô độc và tuyệt vọng, vì đau khổ mà sức khỏe hao mòn, thảm hại đến nỗi anh chỉ nghĩ đến việc tự tử.

Anh ta nói:

“May gặp anh ở đây, tôi nhờ anh giúp một việc quan trọng. Anh về lâu đài của tôi, tìm đến tủ ngăn kéo trong phòng tôi, phòng của chúng tôi, lấy giùm tôi một số giấy tờ tôi cần gấp. Việc nầy tôi không thể giao cho thuộc hạ hay thư ký của tôi được vì cần tuyệt đối cẩn thận và kín đáo. Mà bản thân tôi thì chẳng còn có gì trên đời nầy nữa để quay về lại căn nhà đó. Tôi sẽ đưa anh chìa khóa phòng mà đích thân tôi đã khóa trước khi bỏ đi, và cả chìa khóa ngăn kéo. Ngoài ra tôi sẽ viết mấy chữ cho ông làm vườn, anh đưa cho ông ta để ông mở cửa lâu đài cho anh. Nhưng để sáng mai anh đến ăn sáng với tôi, mình sẽ nói tiếp chuyện nầy.”

Tôi hứa sẽ giúp anh ấy làm công việc nhẹ nhàng đó. Vả chăng, bất quá chỉ là một cuộc dạo chơi thôi, vì lâu đài của anh ta chỉ cách Rouen khoảng 5 dặm (1). Tôi chỉ mất một giờ cỡi ngựa là cùng.

Ngày hôm sau tôi đến nhà anh lúc mười giờ. Chúng tôi ngồi đối diện nhau ăn sáng, nhưng anh ta nói rất ít. Anh ta xin lỗi tôi về việc đó. Anh nói cứ nghĩ tới việc tôi vào thăm căn phòng nơi chôn vùi hạnh phúc của anh là anh thấy mất tinh thần. Quả thật, tôi thấy anh ta rất kích động, bồn chồn, giống như đang xẩy ra một cuộc chiến bí mật trong tâm hồn.

Cuối cùng anh cho biết cụ thể tôi phải làm gì. Rất đơn giản. Tôi phải lấy về hai xấp thư từ và một tâp giấy để trong ngăn kéo thứ nhất bên tay phải mà tôi sẽ có chìa khóa.

Anh ta nói thêm:

“Tôi không cần phải xin anh đừng đọc những thư từ đó.”

Nghe vậy tôi hơi chạm tự ái nên trả lời hơi gay gắt. Anh ta vội ấp úng:

“Xin lỗi anh, tôi đau khổ quá!”

Và anh ta bật khóc.

Tôi từ biệt anh ta lúc một giờ để thực hiện nhiệm vụ của mình.

Thời tiết đẹp rực rỡ và tôi phóng nhanh ngựa qua những cánh đồng cỏ, tai nghe tiếng hót của chim chiền chiện và tiếng thanh kiếm nhịp nhàng chạm vào chiếc ủng.

Khi vào trong rừng tôi cho ngựa bước chậm lại. Cành cây lướt nhẹ vào mặt tôi, thỉnh thoảng tôi dùng răng bứt một ngọn lá nhai ngấu nghiến, lòng bất chợt cảm thấy hạnh phúc rạo rực khó tả, toàn thân tràn trề sinh lực.

Khi đến gần lâu đài, tôi rút lá thư trong túi ra để lát nữa đưa cho người làm vườn và tôi ngạc nhiên thấy thư đã niêm phong. Tôi sửng sốt và tức giận đến độ suýt quay về không làm tròn công việc được giao nữa. Nhưng tôi nghĩ làm thế thì tỏ ra mình dễ tự ái quá, không tốt. Có thể anh bạn tôi trong lúc bối rối đã vô ý dán thư lại mà thôi.

Hình minh họa

 

Lâu đài có vẻ như đã bị bỏ phế từ hai mươi năm. Cổng mở toang và hư mục, không hiểu tại sao vẫn còn đứng được. Cỏ mọc đầy lối đi, phủ kín các bồn hoa. Nghe tiếng chân tôi đá vào một cánh cửa nhỏ, một ông già từ cánh cửa lớn bên cạnh bước ra và sửng sốt khi trông thấy tôi. Tôi nhảy xuống đất và đưa lá thư cho ông. Ông đọc lui đọc tới, lật qua lật lại tờ giấy, nhìn tôi từ đầu đến chân, xong đút nó vào túi rồi hỏi tôi:

“Thế nào? Ông muốn gì?”

Tôi đáp lại liền:

“Tôi muốn gì ông phải biết chứ! Ông đã đọc lệnh của chủ ông rồi mà. Tôi muốn vào trong lâu đài.”

Ông ta có vẻ mất tinh thần:

“Vậy, ông sẽ vào phòng ông ấy?”

Tôi bắt đầu mất kiên nhẫn:

“Tất nhiên! Mà này, ông lại muốn hạch hỏi tôi đấy à?”

Ông ta lắp bắp:

“Dạ không, thưa ông, chả là…phòng ấy đã không được mở từ sau cái chết… Xin ông vui lòng chờ tôi năm phút, tôi sẽ đi…sẽ vào xem thử…”

Tôi giận dữ ngắt lời:

“A! Này! Ông coi thường tôi à? Ông không thể vào đó được, vì chìa khóa ở đây nầy!”

Ông ta không còn biết nói gì nữa.

"Thưa ông, vậy tôi xin dẫn đường.”

“Ông chỉ cho tôi biết cầu thang ở đâu và để mặc tôi. Tôi sẽ tìm được căn phòng ấy không cần ông dẫn.”

“Nhưng …thưa ông…tuy vậy…”

Lần nầy tôi thực sự nổi nóng:

“Bây giờ ông im đi, nếu không thì hãy liệu hồn!”

Tôi xô ông ta ra và vào lâu đài.

 Trước tiên tôi đi qua nhà bếp rồi qua hai phòng nhỏ của vợ chồng ông ta. Tiếp đó tôi đi qua một tiền sảnh rộng, bước lên cầu thang và nhìn thấy cánh cửa phòng mà anh bạn tôi đã chỉ. Tôi mở cửa ra một cách dễ dàng rồi bước vào trong.

 Căn nhà tối tăm đến độ lúc đầu tôi chẳng thấy gì cả. Tôi dừng lại vì thoang thoảng có mùi ẩm mốc toát ra từ những căn phòng bỏ trống và đóng kín cửa, đúng là những căn phòng chết. Khi quen dần với bóng tối, tôi thấy khá rõ căn phòng ngổn ngang với một cái giường không có khăn trải, còn nệm và gối. Một cái gối còn hằn sâu dấu khuỷu tay hay dấu của một cái đầu ai đó vừa tựa vào.

Mấy cái ghế trông rất hỗn độn. Tôi chú ý đến một cánh cửa, đúng là cửa một tủ áo, hãy còn hé mở.

Thoạt tiên tôi đến mở cửa sổ để đón ánh sáng vào nhưng không mở được vì bản lề đã hoen rỉ. Tôi thử lấy thanh kiếm cạy cũng không được. Do tôi giận vì đã phí sức vô ích và cũng vì mắt tôi đã quen với bóng tối nên tôi không cần có thêm ánh sáng nữa làm gì, tôi bước lại bàn giấy.

Tôi ngồi xuống ghế bành, giở tấm ván kệ, mở ngăn kéo ra. Ngăn kéo đầy ắp. Chỉ cần lấy ba gói nhưng tôi không biết đích xác là ba gói nào, tôi đành phải lục tìm.

Tôi đang mở to mắt để đọc địa chỉ trên các bì thư thì hình như tôi nghe hay đúng hơn là cảm thấy có tiếng sột soạt sau lưng. Lúc đầu tôi không để ý lắm vì nghĩ rằng đó chỉ là tiếng gió lay mấy tấm vải. Nhưng khoảng một phút sau tôi lại nghe một tiếng động khác rõ hơn khiến da thịt tôi nổi gai ốc.

Bị hốt hoảng như vậy, dù chút đỉnh thôi, mà ngốc đến nỗi tôi không dám quay đầu lại, vì quá nhát gan. Tôi tìm được tập thư thứ hai và khi vừa thấy tập thứ ba thì có tiếng thở nặng nề khó nhọc ở sau vai làm tôi hoảng hồn nhảy khỏi đó hai mét. Vừa nhảy tôi vừa quay lại đặt tay vào chuôi kiếm, và nếu không cảm thấy có nó bên hông thì chắc tôi đã bỏ chạy một cách hèn nhát.

Sau ghế bành mà tôi vừa ngồi lúc nãy có một người đàn bà cao lớn mặc đồ trắng đang đứng nhìn tôi. Tôi cảm thấy tay chân run lẩy bẩy, suýt té ngửa xuống đất. Ôi, nếu ai không tự mình gặp phải nỗi khiếp sợ kinh khủng và phi lý đó thì sẽ không hiểu đâu. Tâm trí lơ mơ, tim như ngừng đập, người mềm nhũn như miếng bọt biển, tưởng chừng như mọi thứ trong người đều sụp đổ.

Tôi không tin có ma. Vậy mà tôi đã suy sụp vì sợ người chết và tôi đã đau khổ, ôi đã đau khổ trong một vài khoảnh khắc mà thấy dài hơn cả quãng đời còn lại của tôi, vì không cưỡng lại được nỗi khiếp sợ những điều kinh dị siêu phàm.

Nếu bà ấy không lên tiếng chắc tôi đã lăn đùng ra chết. Nhưng bà ta đã nói, với cái giọng nhẹ nhàng và đau đớn khiến tâm thần rung cảm. Tôi không dám nói là tôi đã tự chủ trở lại, đã tỉnh táo trở lại. Không. Lúc đó tôi bối rối đến độ tôi cũng không biết mình đang làm gì. Nhưng tính tự phụ thầm kín trong tôi, cả lòng kiêu hãnh nghề nghiệp nữa, đã giúp tôi giữ được thái độ đúng mức. Tôi chọn thái độ đó vì tôi và hẳn là vì bà ta, vì bà ta, dù bà là ai, người thật hay bóng ma. Về sau tôi mới nhận thức được những điều đó, vì xin đoan chắc với quí vị là ngay khoảnh khắc bà ấy hiện ra, tôi chẳng nghĩ gì cả. Tôi sợ.

Bà ta nói:

“Ôi, thưa ông, ông có thể giúp tôi một việc lớn không?”

Tôi muốn trả lời nhưng không mở miệng được, chỉ có môt âm thanh mơ hồ thoát ra từ cổ họng.

Bà ta nói tiếp:

“Xin ông làm ơn, ông có thể cứu tôi, chữa lành cho tôi. Tôi đau đớn vô cùng, tôi đau quá. Ôi! Tôi đau quá!”

Và bà ta nhẹ nhàng ngồi xuống ghế bành, nhìn tôi:

“Ông làm ơn!

Tôi gật đầu tỏ ý chấp thuận, vì vẫn mất giọng.

Thế là bà ta đưa tôi một cái lược đồi mồi và thì thầm:

 “Hãy chải tóc cho tôi, ôi, hãy chải tóc cho tôi để tôi khỏi bệnh. Tôi chỉ cần được chải tóc. Ông hãy nhìn đầu tôi mà xem. Tôi đau lắm, tóc làm tôi đau!

 Tôi thấy tóc bà ấy rối tung, rất dài và rất đen, xõa qua lưng ghế bành xuống tới đất.

Sao tôi lại làm việc nầy? Tại sao tôi lại vừa run vừa cầm lấy cái lược, và tại sao tôi lại nắm những lọn tóc dài khiến tôi có cảm giác rờn rợn như cầm những con rắn? Tôi chẳng biết nữa!

Cái cảm giác ấy vẫn còn nguyên trong mấy ngón tay và mỗi lần nhớ lại tôi không khỏi rùng cả mình!

Tôi chải đầu cho bà ấy. Chẳng rõ bằng cách nào mà tay tôi đã chạm, đã sờ vào mái tóc lạnh như nước đá ấy. Tôi xoắn tóc lại, cột rồi tháo ra, rồi tôi bện như người ta bện bờm ngựa. Bà ta thở một hơi dài, nghiêng đầu, có vẻ sung sướng.

Bỗng bà nói “cám ơn!” rồi giật lấy cái lược trên tay tôi và tuôn chạy qua cánh cửa đang hé mở.

Còn lại một mình, trong vài giây tôi thấy hoảng hốt như vừa thức giấc sau cơn ác mộng. Khi tỉnh táo lại, tôi chạy đến cửa sổ dùng hết sức đẩy mạnh cánh cửa.

Một luồng ánh sáng lùa vào. Tôi phóng tới cánh cửa lớn mà bà ấy vừa chạy qua. Cửa đóng kín, không cách gì xê dịch được.

Tôi kinh hãi muốn bỏ chạy thật lẹ. Một sự sợ hãi y như sự hoảng sợ của binh lính lúc đánh nhau. Tôi chộp thật nhanh ba gói thư trên bàn giấy, chạy ra khỏi nhà, nhảy từng bốn bậc cấp một, ra được bên ngoài mà không biết bằng cách nào. Tôi chợt thấy con ngựa cách đó khoảng mười bước. Thế là tôi nhảy phóc lên lưng nó và phóng nước đại.

Đến Rouen thì tôi dừng lại trước nhà tôi. Trao dây cương cho người lính hầu, tôi rút nhanh vào phòng đóng cửa suy nghĩ.

Trong khoảng một giờ, tôi lo lắng tự hỏi có phải mình bị ảo giác hay không. Chắc chắn tôi đã bị một chấn động thần kinh, ảnh hưởng đến não, phát sinh những điều kỳ lạ từ đó mà hình thành quyền lực siêu nhiên.

Tôi gần như tin vào một ảo ảnh, một sự sai lệch của giác quan lúc tôi lại gần cửa sổ. Tôi tình cờ nhìn xuống ngực. Cái áo khoác nhà binh dính đầy những sợi tóc dài của bà ấy quấn quanh mấy khuy áo.

Tay tôi run rẩy gỡ từng sợi tóc một ném ra ngoài. Rồi tôi gọi người lính hầu. Tôi rất xúc động, rất bối rối, không dám đến nhà anh bạn ngay hôm ấy. Hơn nữa tôi cũng muốn suy nghĩ cho thật chín chắn về những gì sẽ nói với anh ta.

Tôi cho mang mấy tập thư đến cho anh bạn và anh ta đã viết biên nhận đưa cho tên lính. Anh hỏi thăm tôi. Nghe nói tôi bệnh, bị say nắng bất chợt, anh ta rất lo.

Hôm sau từ sáng sớm tôi đã đến nhà anh ấy, quyết định sẽ nói cho anh biết hết sự thật. Nhưng anh ta vắng nhà từ chiều hôm trước chưa về.

Trong ngày hôm đó tôi có trở lại nhưng vẫn không gặp anh. Tôi chờ suốt tuần vẫn không thấy anh về. Tôi đành phải báo nhà chức trách. Họ tìm anh khắp nơi mà chẳng rõ tông tích.

Họ tiến hành khám xét tỉ mỉ tòa lâu đài bỏ hoang. Không có gì khả nghi cả. Chẳng có dấu vết nào chứng tỏ nơi đây có che giấu một người phụ nữ.

Cuộc điều tra không đem lại kết quả, mọi tìm kiếm bị bỏ dở.

Và từ năm mươi sáu năm nay, tôi chẳng có tin tức gì. Tôi không biết gì hơn.

 

Kim Kỳ st

Xem thêm...

Bó Hoa Quá Đẹp - Thanh Châu

Bó Hoa Quá Đẹp

Thanh Châu

О лучших в жизни праздниках 8 марта рассказали известные гродненки

Từ lúc ngồi tiếp chuyện Thúy Lan, Chương thấy tâm hồn mình nhẹ bổng, bàng hoàng như bay lên mấy từng mây. Mà chàng không cảm động sao được, Thúy Lan là tiêu biểu cho cái đẹp trong lý tưởng của chàng, Thúy Lan lại thuộc về phái thượng lưu, trí thức, lanh lợi, thông minh, nói năng hoạt bát. Thời thường, Chương vẫn ao ước có dịp được biết nàng; thế mà hôm nay gặp nàng ở nhà bạn, Chương lại bối rối không biết làm thế nào để kéo dài câu chuyện cho nó có duyên.

Mỗi lần ở Nam lên chơi Hà Nội, Thúy Lan thường ở nhà bạn là Vân Anh. Tuy Vân Anh đã có chồng nhưng đôi bạn gái thân yêu nhau từ thuở nhỏ, cùng chơi đùa, cùng học tập một trường, chẳng vì thế mà giảm phần quyến luyến. Chương là bạn thân của chồng Vân Anh, cho nên chàng đã nhiều lần xem ảnh của Thúy Lan; đã nhiều lần chàng được nghe vợ bạn ca tụng những nết hay, vẻ đẹp của người mà hôm nay chàng được cái hân hạnh ngồi đối diện.
- Mời ông xơi nước kẻo nguội...
Tiếng nói trong trẻo của Thúy Lan, Chương cho là tiếng đàn tuyệt diệu ở cõi xa xăm đưa lại. Chàng ngây ngất, kề chén nước vào môi. Chàng vừa nhận thấy cái hương vị thơm tho của chén trà ngon mà chàng cho là nhờ có cái bàn tay xinh xắn, ngọc ngà của Thúy Lan pha nên mới có.
Chàng ngảnh nhìn Thúy Lan. Lúc đó bóng trăng đã rọi quá lên thềm, soi thẳng vào mặt Thúy Lan làm cho cái đẹp cao quý, đài các của nàng thêm vẻ mơ màng, huyền bí.
Ngoài vườn gió thoang thoảng thổi, lá cây rung động xạc xào. Quả tim của Chương lúc đó cũng rung động, là vì đêm đã hơi khuya mà vợ chồng bạn đi chơi từ chập tối vẫn chưa về. Chương muốn rốn ngồi nhưng không tiện mà bỏ ra về thì tiếc những phút êm đềm được ngồi cạnh người mình yêu dấu bấy lâu. Nhưng sau cùng, chàng cũng phải đứng dậy, rút điếu thuốc hút rồi quả quyết cáo từ Thúy Lan, hẹn hôm sau sẽ lại.
Về đến nhà, Chương trằn trọc mãi mà không ngủ được. Hình ảnh của Thúy Lan vẫn phảng phất trước mắt chàng. Chàng vừa cảm ơn sự tình cờ đã xui khiến cho chàng được gặp gỡ Thúy Lan, chàng đã lại trách ngay sự tình cờ sao lại bày ra cái cuộc gặp gỡ éo le ấy. Vì, tự xét thân thế mình, Chương thấy nó chẳng đáng là một kẻ học sinh nghèo, sao lại có cái ý tưởng điên cuồng chực yêu một người xa xôi như trong mộng, một người từ thuở lọt lòng đã quen với cái sống đài các, xa hoa.
Ôi! ở đời sao lại có chỗ cách biệt tầm thường mà quan hệ thế, để cho lòng người phải tan nát?
Tại sao Thúy Lan lại chẳng là con gái một gia đình cũng thường thường như chàng? Tại sao Chương có quyền yêu Thúy Lan mà vẫn không có hy vọng một ngày kia nàng yêu lại?
Nhưng sáng hôm sau ngủ dậy, Chương đã lại vui vẻ như con chim thấy ánh sáng mặt trời, vì tâm hồn thiếu niên bao giờ cũng vậy, những điều lo nghĩ chỉ thoáng qua như cơn gió. Họ chỉ biết cái vui hiện tại, dù cái vui đó rồi cũng chỉ thoáng tan như bọt nước trời mưa.
Chương vui vẻ tưởng đến buổi lại được gặp mặt Thúy Lan, mà lần này thì hẳn Thúy Lan cảm thấy được lòng yêu tha thiết của chàng, vì chàng vừa mua một bó hồng đắt tiền thật đẹp để tặng Thúy Lan.Đàn bà bao giờ cũng thích hoa, mà nhất là Thúy Lan, một cô gái về phái mới, nàng chẳng yêu hoa sao được. Nghĩ thế Chương, lấy làm hớn hở, trân trọng bọc bó hoa vào một mảnh giấy lụa mỏng rồi chàng đến gõ cửa nhà bạn.

Какие подарить цветы маме девушки 
Nhưng chàng thất vọng biết bao, khi chàng được tin Thúy Lan vừa có ô tô của người anh họ đón đi Đồ Sơn nghỉ mát.
Những hai tháng nữa Thúy Lan mới về, mà bó hoa đẹp của Chương chỉ tươi thắm được hai ngày là héo hắt, khác nào tấm lòng của Chương chỉ vui vẻ một lúc rồi tuyệt vọng mà hao mòn.
Cái lâu đài đẹp đẽ chàng vừa xây xong đã đổ nát. Cái hy vọng làm đẹp lòng ai một phút cũng không thành. Thúy Lan đã vô tình giày xéo lên trên quả tim thổn thức vì nàng mà nàng không biết.
Buồn rầu và chán nản, Chương định vất bó hoa xuống đất mà giẫm cho tan nát ra, nhưng nghĩ lại hoa kia vô tội, phải là kẻ phàm phu mới có cái cử chỉ ấy được.
Một thiếu niên thông minh, học thức mà lại giàu tình cảm như Chương thì dẫm nát một bó hoa đẹp sao đang.
Về đến nhà trọ, Chương định tìm cái lọ để cắm những bông hồng không may mắn ấy để trên bàn học. Nhưng chẳng có cái nào đáng để cắm những bông hoa đẹp quá ấy. Chẳng có cái nào vừa ý Chương.
Chàng bỗng thở dài vì một ý nghĩ chua chát vừa hiện ra trong óc. Chàng tự ví mình với những chiếc lọ tầm thường không xứng với những bó hoa quý giá như Thúy Lan.
Chương đương nghĩ ngợi lan man thì bỗng nghe văng vẳng có tiếng hát ở nhà dưới. Chàng nhận ngay ra là tiếng hát của cô Thu, con gái bà chủ nhà trọ đương ngồi khâu bên cửa sổ.
Chương mỉm cười. Chàng đã nghĩ được một cách để khỏi bận bịu với bó hoa. Chàng đem tặng cô Thu bó hoa ấy, thế là xong. Rồi chàng cầm ngay bó hoa xuống nhà đặt bên cạnh cô Thu:
- Sáng nay có người bạn cho tôi bó hồng hái ở vườn nhà. Tôi chắc cô Thu cũng thích hoa nên tôi mang biếu...
Thu sung sướng quá, không dám ngẩng mặt lên, bủn rủn cả tay chân, hai má nàng đỏ bừng. Nàng ôm bó hoa vào lòng mà không tìm được một câu để cảm tạ Chương đã nghĩ tới nàng.
Thu cảm động như thế là vì đã một năm nay, từ ngày Chương đến trọ học nhà Thu, Thu yêu Chương, yêu một cách âm thầm tuyệt vọng, có lẽ suốt đời, Thu còn cảm thấy cái tình yêu ấy, nhưng thà chết chứ không khi nào Thu dám thổ lộ với Chương. Vì Thu biết là Chương không hề để ý tới nàng, vì Thu tự biết mình không đáng được Chương yêu.
Thu cũng có chút nhan sắc đấy, nhưng Chương còn ước vọng những chỗ cao xa, còn lòng đâu mà nghĩ tới một cô con gái cửa nhà đạm bạc như Thu còn phải may thuê, vá mướn để nuôi một mẹ già và săn sóc một đàn em dại.
Biết vậy mà Thu vẫn yêu Chương. Nàng săn sóc tới Chương như một người em gái săn sóc cho người anh ruột.
ấm nước của Chương lúc nào cũng nóng, chỗ học của Chương bao giờ cũng sạch sẽ, ngăn nắp hẳn hoi.Hễ Chương ngủ trưa là Thu nhẹ nhàng khép cửa sổ, sợ chàng chói mắt và dặn các em khẽ mồm "để anh Chương ngủ".
- Anh Chương hôm nay về chậm.
- Anh Chương hôm nay thức khuya.
Những câu nói ấy nàng cố lấy giọng tự nhiên để nói với Chương, nhưng nó ngụ biết bao tình âu yếm, nếu Chương hiểu được lòng Thu.
Thu hy vọng một ngày kia. Cái ngày ấy phải quan trọng mà hoang đường như ngày một cô con gái thường dân lấy được ông Hoàng. Chương sẽ biết cho cái tình khổ tâm và u ẩn của Thu, rồi Chương sẽ ôm Thu vào lòng mà thỏ thẻ bên tai Thu những câu êm ái:
- Chương xin lỗi Thu vì đã để cho Thu phải đau lòng, Chương cũng yêu Thu lắm...
Cái ngày ấy Thu chờ đợi mãi. Có lẽ lúc này đã đến, vì không phải là vô cớ mà Chương lại đem tặng nàng bó hoa đẹp như thế kia.
Thường thường trai gái tặng hoa cho nhau, chỉ là tỏ cho nhau biết nỗi lòng yêu.
Thu thẹn thùng, vuốt ve mấy bông hoa cũng tươi thắm như đôi má của Thu rồi khẽ nói:
- Bó hoa đẹp quá!
Nhưng lúc nàng ngẩng mặt lên thì Chương đã vội vã quay gót bước đi rồi.
Thôi thế là hết, giấc mộng êm đềm của Thu đã hết. Chương chẳng ôm Thu vào lòng, Chương chẳng nói thêm một câu nào nữa, Chương chẳng phải vì yêu Thu mà tặng Thu hoa.
Thế là cái tình tuyệt vọng vẫn theo Thu mà vò héo tấm lòng nàng những ngày gió mưa không người an ủi.
Chương vẫn lạnh lùng đạp bước lên trên quả tim của Thu thổn thức vì chàng mà chàng chẳng biết. Chàng tặng Thu bó hoa là vì chàng chẳng nỡ vứt nó đi. Chỉ có thế thôi.
Nhưng bó hoa đẹp quá! Ôi! Bó hoa chàng tặng Thu đẹp quá, đời Thu không có cái hạnh phúc được chơi. Nàng đối với Chương cũng chỉ như cái lọ tầm thường không đáng dùng để cắm những bông hoa quá đẹp.

Tiểu thuyết thứ bảy, 1934,
In trong tập truyện ngắn Trong bóng tối,

Kim Kỳ sưu tầm


Xem thêm...

Truyện ngắn: Ấm Nắng Giêng Non

Ấm Nắng Giêng Non 

Huỳnh Duy Lộc

Theo bà ngoại của Tân nói lại, lúc anh còn nằm trong bụng mẹ thì tình cảm giữa cha mẹ Tân đã có sự rạn nứt. Khi sinh xong mẹ Tân đã giao anh cho bà ngoại, rời bỏ quê nhà, một huyện lỵ nhỏ bé để lên Sài Gòn. Tuổi thơ Tân èo ọt, thiếu vắng đôi bầu sữa mẹ. Ngoại Tân nuôi anh bằng nước cơm chắt pha đường. Khi Tân khóc bà cho chiếc núm vú bằng cao su vào miệng.

Tình cảm đầu đời của anh được hình thành từ lòng yêu mến cái bình, gương mặt hiền hậu của ngoại, hơi ấm bàn tay và giọng ru à... ơi trăn trở theo nhịp võng đưa: “Trời mưa bong bóng phập phồng. Mẹ đi lấy chồng con ở với ai”. Hình ảnh tình yêu thương của cha mẹ luôn là nỗi khát khao theo Tân suốt những ngày tháng lớn dần lên và luôn là một ẩn số mà suốt đời anh luôn tìm hiểu vẫn chưa đi đến được tận cùng.

Nhà đơn chiếc một bà một cháu nên Tân thường chạy sang nhà dì Năm cùng với Liên, con gái dì đùa giỡn, chơi nhà chòi, bắt ốc... Tình cảm thân thiện ngày càng lớn dần lên theo tuổi tác hai đứa. Tân và Liên vui đùa quấn quýt bên nhau cùng cắp sách đến trường. Ở lớp Tân luôn bênh vực Liên mỗi khi bị mấy đứa con trai nghịch ngợm, hay giúp Liên làm thủ công, bắt bướm, chích phoóc- môn, hái cây dương xỉ ép... Hai đứa rất mê những mẫu chuyện cổ tích mà bà ngoại Tân thường kể, những đêm trăng rằm, ngồi nhai bánh tráng giòn rụm mê say theo giọng bà trầm ấm, lúc vút cao lên theo từng chi tiết của câu chuyện.

Từ khi bỏ quê nhà ra đi, mẹ Tân không trở về. Thỉnh thoảng bà gởi cho ngoại chút tiền. Bà nói với Tân mẹ anh đã lập gia đình và đi làm ăn ở tận miền Trung. Ngày Tân thi đậu đại học, dì Ba sang rước ngoại về bên nhà dì để chăm sóc. Nhà dì cũng gần đó cách nhau mấy bờ đất. Những năm tháng lên Sài Gòn ăn học, lòng anh lúc nào cũng đao đáo nhớ về quê nhà có bến nước, chiếc cầu tre, có ánh mắt trông đợi của Liên và những đêm trăng sáng ngồi nghe bà kể chuyện. Mới thoáng mà đã hơn mười năm. Dù đã trưởng thành nhưng anh cứ ngỡ mình còn nhỏ bé, anh vẫn khao khát được ngồi bên bà nghe kể chuyện và vui đùa bên Liên. Lần này về thăm, tuổi ngoại đã gần bước vào lục tuần, nhưng mắt bà vẫn còn sáng đầy nghị lực. Bà vẫn luôn tỏ ra cho con cháu thấy bà vẫn còn một niềm tin mạnh mẽ, lạc quan vào thế hệ mai sau. Nhưng đôi lúc Tân cũng bắt gặp nỗi lo trong ánh mắt bà, mỗi trưa khi mấy đứa nhỏ chào dì Ba đi học. Tân ngồi cạnh bà, ánh mắt gần như tạ lỗi:

- Con lên Sài Gòn ăn học, đi làm, ít có dịp về thăm bà. Giờ về lại đòi bà kể chuyện, nướng bánh.
Bà anh nhìn nhân hậu, cười nói:

- Con biết suy nghĩ như vậy cũng an ủi lòng bà. Bà chỉ mong con làm việc gì cũng vậy, phải sống thật lòng, luôn quan tâm đến mọi người.
Ngoại Tân ngưng giọng, với tay cầm tách trà đưa lên môi. Anh nhìn hai ánh mắt bà hoe đỏ, lòng anh đầy những lo lắng. Đang lúc bối rối chưa biết hỏi ngoại điều gì thì bà kéo vạt áo bà ba lên lau vệt trầu trên môi:

- Ngoại nuôi con từ nhỏ cũng như nuôi mẹ con vậy. Mưa trên trời mưa xuống, có bao giờ từ dưới mưa lên đâu con. Nếu bà đốt phá rừng thì mẹ con không có gỗ. Còn mẹ con đốt rừng, hủy hoại thiên nhiên thì con phải vất vả thiên tai.
Như chợt nhớ ra điều gì, bà ngưng giọng ngập ngừng.

- Nhưng mà mẹ con...
- Mẹ con sao hả ngoại? - Tân hỏi.
Trầm giọng, ngoại anh nói tiếp:

- Nhưng mà thôi, sau này con lập gia đình, sẽ thấu hiểu điều đó.
Bà lấy lá trầu, phết chút vôi, cho vào miếng cau, những ngón tay gầy guộc của bà cuốn miếng trầu lại cho vào ống. Tay bà ngoáy liên tục, khi chất trầu, cau, vôi đã mềm hòa quyện vào nhau, bà cho vào miệng nhai ngon lành như thể thời bà còn son trẻ nhai miếng thịt vịt xào gừng. Mắt bà hướng về phía xa xa, nghĩ ngợi... Một lát sau bà với tay lấy chiếc ống nhổ lên, nhả bã trầu. Tân nhanh tay xé cho bà miếng thuốc, bà cầm lên nhìn Tân trìu mến. Lòng Tân rượi buồn khi biết bà anh đang khóc. Bà cầm lấy tay Tân, kéo anh xích lại gần, nói trong giọng nghẹn ngào:

- Sao đến tuổi này rồi mà con chưa... lập gia đình?
Tân bối rối, ấp úng trả lời ngoại:

- Dạ con... con cũng tính... nhưng khi tốt nghiệp xong phải đi làm, lo cho tương lai trước đã rồi mới tìm người bạn trăm năm.
Tân xoa bóp hai bờ vai ngoại, nói nịnh:

- Đàn ông mà ngoại, bốn mươi chưa có sự nghiệp thì coi như cuộc đời hư... Có công danh rồi cưới vợ muộn gì ngoại.
Bà giả như giọng hờn trách:

- Bây nói vậy! Cha già con muộn, lúc đó ngồi than.
Bà cười méo xệch bờ môi, xoa đầu Tân như thể anh còn thơ dại:

- Thôi đi, đừng có giấu bà, chắc bây chưa quên được con Liên phải không? Mấy lần gởi thơ về bây luôn nhắc, hỏi thăm nó. Để bà kể chuyện này cho con nghe. Tội nghiệp con nhỏ sống không có hạnh phúc, vợ chồng cự cãi cắng đắng nhau suốt. Chồng nó là thằng rượu chè be bét, đá gà suốt ngày không phụ tiếp vợ con gì cả. Đất vườn cha mẹ để lại cứ bán hết miếng này sang miếng khác. Nó chết vì chứng bệnh xơ gan cổ trướng. Giờ con Liên sống với nhỏ Hoài con gái nó. Cũng lâu rồi có nhiều người thấy nó hiền, siêng năng, giỏi nên thương, gạ mai mối nhưng lòng nó nào ưng chịu. Thôi chút bây qua thăm, nó cũng sang đây chăm sóc bà và nhắc bây hoài.

Tân rót tách trà, cầm hai tay đưa cho bà, nhỏ nhẻ:

- Thôi ngoại nằm nghỉ, con ra sau vườn.
 
Đỡ ngoại nằm xuống, Tân bước vội ra sau, đi vòng qua mấy bờ đất rồi anh đi thẳng ra trước sân nhà bên. Anh đứng lặng nơi bờ sông, chiếc cầu dừa nằm chuồi vào lòng nước ngày xưa, thuở anh và Liên thường bơi nghịch nước khi có ngoại ngồi giặt quần áo, giờ đã trở thành chiếc cầu bằng xi măng. Gió se sẻ chút hơi lạnh, sóng nhẹ va bờ, nước ập vào mấy lỗ hang cua tạo ra những âm thanh bùm bụp quen thuộc. Mắt Tân rượi buồn nhìn những mảng đất ven bờ bị trôi đi do tác động của sóng từ những chiếc đò máy xuôi ngược không ngừng. Bờ mỗi ngày một lở thêm. Thế mà Tân có cảm giác sông giờ sao nhỏ bé không rộng lớn mênh mang như thời thơ ấu mình từng thấy. Sông vẫn chung thủy một màu phù sa, thỉnh thoảng một vài giề lục bình hay thân chuối bập bềnh trôi qua. Mắt Tân rực sáng một niềm vui khi anh tìm lại được màu tím của những cánh hoa lục bình mà ngày xưa anh và Liên thường chơi trò chơi đám cưới. Tân hít thật sâu, căng lồng ngực, nuốt từng ngụm không khí ngây ngất mùi hương mà bấy lâu anh không còn được cảm giác lâng say ấy. Hương sông rất lạ khó mà diễn tả cho được. Hương của sông hòa chút mùi cỏ, rạ, lục bình, trái bần chín, chút phù sa lẫn mùi tanh tanh của cá, gió và nắng. Ai đã từng ngụp lặn, đắm mình trong sông rồi cắt lòng rời xa thì mới thấu được sự giày vò thèm khát nhớ mong nó đến chừng nào. Tân say sưa trôi vào giấc mơ thơ ấu với những âm thanh “chốc” “chốc” của bầy cá lòng tong đua nhau đớp mồi. Anh mường tượng hình ảnh người phụ nữ nào đó đang ngồi rửa chén trên chiếc cầu nơi bến sông phía trên dòng nước, Tân muốn chạy vụt vào nhà gọi “Liên ơi... Liên ơi...” rồi hai đứa dắt tay nhau hồn nhiên, cầm cần câu xuống bến. Anh sẽ giựt thật nhiều cá cho Liên tha hồ ngồi gỡ câu và móc mồi. Tân làm sao quên được ngày Liên áp má vào vai anh mặc cho những giọt nước mắt lăn chảy. Anh nhớ ngày Liên tức tưởi chạy sang nhà báo tin mẹ buộc cô phải lập gia đình với một người mà cô chưa hề để lòng thương nhớ. Chỉ vì lời hứa cho nên khi lâm bệnh nặng biết không qua khỏi, bà muốn được yên lòng khi Liên đã có nơi có chốn. Liên bảo anh toàn quyền quyết định tương lai hạnh phúc hai đứa. Anh phải làm thế nào? Bao câu hỏi dồn dập rối bời. Nếu kêu ngoại sang hỏi cưới Liên cho mình, chưa chắc má cô ưng gả. Dắt đi thật xa! Má Liên thì sao? Bà đang bệnh, Liên là chị gái lớn trong gia đình. Ngày cưới Liên cũng là lúc Tân thi đậu đại học.

Mặt trời bên kia sông dần lên cao, khứu giác Tân cảm nhận một mùi hương hoa ngâu. Anh nghe tiếng bước chân nhẹ nhẹ phía sau lưng. Tân quay người thật nhanh cũng vừa lúc Liên đứng tựa vai vào thân cây dừa. Dù trải qua bao giông bão, Liên vẫn luôn giữ mái tóc đen dài, có điều trên vầng trán cô loáng thoáng những nếp thời gian và đôi mắt như đọng chứa những lo âu, khắc khoải xa vời. Tân bước tới cầm bàn tay trái Liên, bàn tay đã từng ấp ủ nương che, những ngón tay mà có lần anh run run bối rối lần tìm ngón áp út để đeo vào đó chiếc nhẫn được làm bằng hột nhãn. Giờ những ngón tay ấy không còn mềm mại nhưng hơi ấm từ những ngón tay ấy lan tỏa thắm dần, thắm dần vào bàn tay anh như của những ngày nào. Mắt Liên nhìn ra phía bờ sông nghĩ ngợi, bàn tay cô bất động trong bàn tay Tân. Bỗng cô giật thót người thu bàn tay về giấu sau lưng. Tân bối rối nói như hơi thở:

- Em vẫn còn giận anh sao?
Không nhìn Tân, những sợi tóc dài khẽ lay động, Liên nói như lời thì thầm hối tiếc pha lẫn hờn trách:

- Bây giờ anh về nhưng... Liên vội quay người dợm bước, Tân vịn chặt hai bờ vai Liên:

- Anh đã hiểu tất cả. Hãy cho anh cơ hội chuộc lại lỗi lầm của mình. Bé Hoài con gái em,... cần có sự chăm sóc yêu thương dạy dỗ.
Liên oằn người thoát khỏi đôi bàn tay Tân, cùng lúc đó bé Hoài và nhóc Tuấn con của anh Tư người hàng xóm cũng vừa ì ạch kéo lê hai thân chuối xuống cầu. Bé Hoài đặt cây chuối xuống chạy vội đến bên Liên, níu đùi mẹ:

- Mẹ ơi, tụi con tập bơi nghe mẹ.
Liên vuốt tóc con, mỉm nụ cười, rồi dặn dò:

- Đừng ra xa nghe con, bơi cặp theo bờ thôi.
Hai đứa đẩy hai thân chuối xuống nước rồi phóng ùm, mỗi đứa một thân, hai chân đập chùm chũm.
Nhìn theo hai đứa nhỏ bơi, lòng Liên dâng lên một niềm, quay sang Tân:

- Bé Hoài nhỏ giống hệt em, thích bơi và chơi nhà chòi, nhìn hai đứa nó khắng khít, quấn quýt nhau cũng như...
Không đợi Liên nói hết câu, Tân cười hòa theo và nói tiếp lời đồng cảm:

- Giống như em và anh ngày xưa.
Những ngày nghỉ phép năm không như Tân đã nghĩ, nó sẽ kéo dài và dằn vặt anh với những nỗi nhớ mong công việc. Giờ anh cảm thấy nó trôi qua vùn vụt không đủ cho anh cùng bé Hoài rong ruổi bước chân ngoài đồng tìm bắt ốc, hái bông so đũa, hái lá dừa dạy thắt chong chóng hay cắt giấy xếp xuồng hoặc những chiếc thúng, thắp đèn cầy thả trôi theo dòng nước. Mải suy nghĩ đến khi nghe Liên gọi vào ăn cơm Tân mới hay sắp hết một ngày. Ngồi bên Liên và bé Hoài với bữa cơm đạm bạc, nhưng lòng Tân nghe ấm áp hạnh phúc lạ thường. Tân thoáng ngậm ngùi hối tiếc khi gắp những đóa hoa so đũa.
Chỉ còn đêm nay nữa là đã hết năm. Anh phải quay về Sài Gòn với những công việc bộn bề.

 
 
Hoài mang bánh mứt đặt lên bàn thờ. Tân cũng vừa đun sôi ấm nước, anh cho trà vào bình, không quên cho vào đó những đóa hoa ngâu còn đọng sương, anh rót ra tách mang lên. Liên thắp mấy nén nhang, kim đồng hồ cũng vừa chỉ không giờ. Bé Hoài đã thay xong bộ quần áo mới mà Tân đã mua cho. Cô bé hồn nhiên lễ phép chạy ra khoanh tay trước mặt Tân, anh xoa đầu bé Hoài và móc trong túi ra bao giấy đỏ, bé ngoan ngoãn chúc Tết mừng tuổi Tân:
 
- Năm mới đã đến, cháu xin chúc chú dồi dào sức khỏe, công việc thành công, gia đình hạnh phúc.
Tân cúi xuống ôm bé Hoài vào lòng, anh đặt lên trán cô bé một nụ hôn:

- Chú cám ơn, chúc con mau lớn, học giỏi, nghe lời và thương yêu mẹ Hoài.
Hai mắt Liên đỏ hoe, những giọt nước mắt hạnh phúc đang nồng cay mi mắt. Cô bước đến bên Tân, ngồi xuống ôm bé Hoài vào lòng:

- Bé Hoài của mẹ ngoan, khuya rồi đi ngủ.
Bé Hoài câu cổ Liên, hôn lên trán cô rồi ngoan ngoãn vào buồng. Liên đứng dậy, vai cô khẽ chạm vai Tân, cô nói như thì thầm:

- Hoa ngâu nở thơm quá kìa anh, mình ra vườn đi.
Tân cầm lấy bàn tay Liên, hai người sánh bước bên nhau. Sương đêm lành lạnh, Liên nép vào người Tân:

- Thoáng đó mà mau quá phải không anh? Bé Hoài đã tròn mười tuổi.
Tân im lặng choàng tay qua vai Liên. Trời không có trăng nhưng vì sao lấp lánh, những búp ngâu nở rộ trắng xóa, hương tỏa thơm dịu dàng. Liên áp má vào ngực Tân, hai mi mắt cô khẽ khép, Tân luồn những ngón tay gầy guộc mân mê từng sợi tóc cô, giọng anh trầm ấm:

- Anh tin chắc ngày mai trời sẽ nắng ấm. Anh sẽ trở về, hứng lấy những giọt nắng đong đầy hay bàn tay này để sưởi ấm tay em. Bé Hoài sẽ như bao đứa trẻ khác cùng lớp được cha đưa rước mỗi ngày.
 
 
 
Kim Kỳ st
Xem thêm...

NGƯỜI KHÁCH CUỐI NĂM

NGƯỜI KHÁCH CUỐI NĂM

Trạch Anh - Trần Hữu Hội

Từ ngày chị Tích, vợ anh qua đời vì tai nạn, ông anh vợ rời Việt Nam đến định cư ở Hoa Kỳ, Thuyết trở thành người thừa hưởng cái cơ ngơi gồm một căn nhà khá rộng và một khu đất mênh mông, cỏ mọc um tùm quanh năm bởi anh không phải là người làm nông chuyên nghiệp! Thỉnh thoảng, anh thuê người làm cỏ, thường là trước tết âm lịch hàng năm.


Năm nay, những ngày giáp tết đã gần kề, anh khỏi làm vì hôm tháng mười một dương lịch, ngày lễ các Thánh, anh đi thăm mộ vợ ở nghĩa trang về, thấy khu đất um tùm, nhớ đến hai ngôi mộ của người chủ trước, bán lại cho ông anh rồi biệt tăm ba năm nay… anh thuê người làm cỏ, vun nền, thắp nhang cho ngôi mộ, anh cũng gởi lễ cầu hồn cho họ dù không biết tên thánh là gì!


Ánh nắng đã tắt, trong cái chập choạng của buổi chiều, Thuyết rờn rợn người khi thấy một bóng người ngồi ủ rủ nơi mé trái hàng hiên. Bốn năm nay, anh sống đơn độc, năm ngoái anh đón bà chị ruột đã lớn tuổi, cũng côi cút về ở cùng…


Nghe tiếng xe của anh, người lạ ngẩng đầu lên, nhìn anh gật đầu chào cùng lúc bà chị xuất hiện nơi cửa chính, cất giọng nói to, cách nói của người già nghễnh ngãng:
- Anh đây là chủ trước của khu đất, hai ngôi mộ là vợ và con của anh ấy!

Nghe vậy, Thuyết dựng xe đến bắt tay người đàn ông. Cái tên của người khách thoáng qua trí nhớ của Thuyết, anh nhớ tới mớ giấy tờ sang nhượng đất mấy năm nay vẫn nằm trong tủ.
- Chào anh, anh là anh Hào? sao chị không mời anh vào nhà?! Anh đến lâu chưa?
- Cảm ơn anh, cũng mới thôi anh ạ. 
- Anh đã ra thăm chị và cháu chưa?
- Tôi chờ anh về!
- Không biết anh có Đạo hay không. Lễ các Thánh vừa rồi tôi có gởi lễ cầu hồn cho chị và cháu, nhưng không biết tên thánh là gì!
Người lạ lại đưa tay bắt tay Thuyết, anh ta bóp mạnh:
- Tôi cũng Thiên Chúa Giáo. Cảm ơn anh lắm!


Là người theo đạo Thiên Chúa Giáo thuần thành nhưng Thuyết thắp nhang thường xuyên. Anh vào nhà lấy nhang rồi kéo tay người đàn ông cùng đi ra góc vườn. Người đàn ông quỳ sụp xuống nơi ngôi mộ lớn, khóc rấm rức. Thuyết cũng nghèn nghẹn nơi cổ, vợ anh cũng đã chết tức tưởi sáu năm nay, sau hơn mười ba năm chung sống thuận hòa hạnh phúc! Đứa con trai của Anh nay đã vào đại học.


Từ lâu rồi, không hề gặp người đàn ông này để đề nghị đưa hai nấm mộ ra nghĩa trang rồi xây cất tử tế theo ý nguyện của bố vợ anh. Không biết gì về họ, ngoài cái tên Hào, nhưng nhìn người đàn ông gầy gò với những nếp nhăn khắc khổ trên gương mặt sạm đen, trong lòng anh dậy lên một mối cảm thương với anh ta.


Bóng tối phủ lên khu vườn, cảnh vật chìm trong cơn gió se lạnh của những ngày cuối đông. Người đàn ông đứng lên, lúng túng nhìn Thuyết ấp úng:
- Cảm ơn anh đã chăm cho mộ vợ và con tôi bấy lâu nay…
- Anh định đi đâu?
- Tôi tính đi tìm một người quen cũ qua đêm, rồi mai thuê người đưa cô ấy và cháu ra nghĩa trang, mẹ tôi cũng chôn ở đó.
- Sao không ở lại đây với tôi, từ lâu rồi tôi mong gặp anh!


Cả hai vào nhà, mâm cơm được bà chị dọn sẵn, Thuyết mời người lạ cùng ngồi vào bàn. Từ dạo sống như kẻ độc thân, Thuyết có thói quen uống rượu vào buổi chiều, khi thì ở trường cùng với đồng nghiệp, khi thì với một người bạn nào đó, nếu không thì bữa cơm tối anh cũng uống vài cốc, loại rượu trắng ngâm chuối hạt…


Anh mời người khách ngồi vào bàn, đơm cơm rồi rót rượu ra hai cái tách trà:
- Mời anh, từ khi bán lại ngôi nhà, chắc là anh đi làm ăn xa?
- Vâng, tôi lên Buôn Ma Thuột! Tôi đã có trước một đời vợ, cũng có một đứa con trai, chúng tôi chia tay nhau mười năm nay, cô ấy dành phần nuôi con rồi lên Buôn Ma Thuột làm ăn cùng người chồng mới. Hai ngôi mộ này là vợ và con thứ hai của tôi!




Tiếng người đàn ông trầm, buồn buồn kể lại chuyện của mình…Thuyết ngồi nghe trong yên lặng, anh nghĩ đến chặng đường người khách đã trải qua, dài như một cuộc khổ nạn!


Sau khi chia tay người vợ trước, tôi không còn nghĩ đến chuyện chắp nối thêm một lần nữa, bởi thấy rằng trong hôn nhân, với nhiều người là nguồn hạnh phúc, nhưng với số phận của tôi thì hạnh phúc ấy thật mong manh!


Chỉ sau khi sinh đứa con hai năm, cô ấy bắt đầu ngoại tình với một cán bộ tài chính huyện, họ có chung một đường dây huê hụi lớn trong vùng, trên danh nghĩa làm ăn, họ gần gũi nhau cho đến khi tôi bắt gặp, ngay trong phòng ngủ ngôi nhà mình! Ngôi nhà đứng tên cô ấy nên tòa tịch biên sau khi họ bỏ trốn, tôi về ở với Mẹ, lô đất này là của bà ấy. Mẹ tôi mất một năm sau!


Sau khi ra tòa, nhận phần nuôi con, cô ấy và hắn, tên cán bộ tài chính bỏ trốn cùng với mấy tỷ tiền huê hụi và cả của nhà nước…làm khốn đốn nhiều người!


Ba năm trước, tôi mới biết cô ấy đang ở Buôn Ma Thuột, đứa con trai của tôi và cô ấy phải vào tù vì dính vào một vụ cướp! Tôi tìm lên thăm con…Biết sự tình là trong đám thanh thiếu niên của vụ án, con tôi chưa đủ tuổi thành niên, nhưng muốn lo lót trước khi tòa xử, phải chạy một khoản tiền mà cô ấy không có hay không muốn bỏ ra, tôi phải trở về bán lô đất và căn nhà này…Nhưng rồi cũng không lo được cho đứa con thoát vòng tù tội! Tiền mất tật mang, nó ra tòa lãnh án bốn năm tù giam! Cô ấy lại cùng chồng mới trốn đi lần nữa! Họ đã có với nhau hai đứa con… Không đành bỏ con tù tội không ai thăm nuôi, tôi mua một đám đất nhỏ, dựng một cái chòi…rồi hàng ngày đi làm thuê, vừa nuôi bản thân vừa dành dụm hàng tháng đi thăm con trong tù!


Hào nâng cốc hớp một hớp rượu, anh mồi một điếu thuốc, đôi mắt như chìm vào những buồn đau của ký ức. Thuyết cũng nâng cốc, anh cạn ly rồi rót đầy lại hai cốc như chung chia nỗi buồn cùng khách. Gió đêm thổi qua khu vườn làm lao xao cây mãng cầu nơi cửa sổ gần bàn, Thuyết đứng lên đến đóng cửa sổ rồi đóng luôn cửa chính. Bầu trời đêm lưa thưa vài vì sao…như làm buồn thêm cái không khí của những đêm cuối năm. Ngồi lại bàn, Thuyết rụt rè hỏi Hào như sợ câu hỏi khơi thêm nỗi đau trong lòng người đàn ông bất hạnh:
- Anh gặp chị…đây lúc nào? Không biết gọi người vợ thứ hai, người nằm dưới ngôi mộ sau vườn thế nào, Thuyết ngần ngừ rồi gọi: chị…đây.


Hiểu ý Thuyết, Hào lại nhấp thêm ngụm rượu:
- Hân là em gái của Phú, một người bạn của tôi. Chúng tôi quen nhau từ khi cô ấy còn học cấp ba. Hân thích Thơ và nhạc, thỉnh thoảng hỏi tôi về một nhà thơ nào đó của thời tiền chiến. Những bài thơ tôi nhớ được làm cô ấy thích thú. Cô ấy rất thích cái tâm trạng bồi hồi của cô gái trong “Mưa xuân” của Nguyễn Bính, thường lặng yên, chống cằm ngồi nghe tôi đọc những bài thơ: “ Thu xa”, “ Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Quán bên đường”… của Quang Dũng…Tôi cũng biết đàn, chỉ chơi được chút ít để tự đàn, hát những bản nhạc yêu thích, cô ấy nghe hát, cảm nhận với tâm hồn lãng mạn trẻ trung của tuổi mới lớn… Cô ấy thích nghe tôi hát bản: “Hương xưa” của Cung Tiến, “Gợi giấc mơ xưa” cuả Lê Hoàng Long… Chúng tôi giống nhau về sở thích…Những bài thơ, bản nhạc nào tôi thích, Hân cũng thích…


Hết cấp ba, Hân vào Đại Học ở Sài Gòn. Tình cảm của chúng tôi không phải là tình yêu mà chỉ là cảm mến nhau, Hân còn chưa trưởng thành để nói đến tình yêu, cô ấy luôn tôn trọng tôi như một người anh, một người thầy có kiến thức cần thiết cho mình…Cô ấy còn có những ước mơ xa xôi của tuổi mới lớn. Vào Đại học là con đường thênh thang cô ấy mong mỏi lâu nay.


Chúng tôi chia tay nhau trong niềm hy vọng tương lai của Hân. Sài Gòn, nơi mà những cô bé mới lớn mong ước được sống cùng với đời sinh viên…Những tháng đầu, chúng tôi liên lạc nhiều, nhưng rồi cũng thưa dần khi cô ấy bắt đầu hòa nhập được với bạn bè và môi trường mới.


Tôi cũng quên dần cô ấy với những lo toan công việc thường ngày của một công nhân viên, Tôi bận rộn thường xuyên với những việc đo đạc, vẽ bản đồ và những cuốc nhậu tràn bờ…của một cán bộ địa chính…Tôi quen dần với những mối quan hệ nhiều toan tính trong giao tiếp thường ngày… làm cằn cỗi đi tâm hồn tôi. Rồi tôi lập gia đình…


Hân ra trường, Cô ấy làm việc cho một công ty nào đó ở trong ấy.


Lúc này, tôi không còn tâm trí nào để nghĩ đến ai. Vợ tôi xoay trong những cuộc làm ăn, hái ra rất nhiều tiền cùng với những mối quan hệ không minh bạch! Với sự đồng lõa của tay cán bộ tài chính, nhiều lần cô ấy lấy danh nghĩa của tôi để bán khống những lô đất trong thị trấn. Chuyện vỡ lỡ, tôi bị kỷ luật buộc thôi việc…


Trút bỏ tất cả, tôi mua một đám đất rừng. vừa trồng rừng vùa chăn nuôi…Cho đến khi chuyện ngoại tình của cô ấy vỡ lỡ…cùng với những vụ lường gạt huê hụi sau đó!
Tôi gặp lại Hân trong một buổi tiệc mừng tân gia của Phú ở thị xã. Cô ấy cũng ê chề vì yêu rồi lấy nhằm một anh chồng đã có gia đình. Biết được, cô ấy chia tay.


Phú thương em, không an tâm khi để Hân sống đơn độc tại Sài gòn, gọi Hân về, mở một cơ sở Photocopy, đồng thời cho các cơ quan, công ty… trong thị xã thuê máy photocopy cũ, giao cho nàng quản lý.


Niềm vui lẫn nỗi buồn gặp lại nhau trong hoàn cảnh cả hai đều thất bại trong hôn nhân. Tôi uống nhiều… Khi tàn tiệc, Hân không cho tôi về một mình. Đoạn đường từ thị xã về đây ba mươi lăm cây số. Cô ấy chở tôi về rồi nhất định ở lại đêm cùng tôi.


Sau đêm đó, hạnh phúc mà chúng tôi cảm nhận được từ hai tâm hồn hòa cùng thể xác của nhau… cả hai chúng tôi đều tiếc nuối cho những tháng năm qua!!!


Chúng tôi nâng niu từng ngày niềm hạnh phúc muộn màng. Hai chúng tôi cùng mong mỏi một đứa con cho trọn vẹn hạnh phúc chồng vợ…Nàng mang thai sau một năm chung sống. Đứa con lớn dần, là con trai và đã được năm tháng! Tôi không để cô ấy làm một việc gì, cực chẳng đã phải đi xe máy như đi chợ thì tôi chở đi…Khi tôi lo lắng ngăn ngừa tai họa từ hướng này thì bằng ngã khác, tai ương ập đến với chúng tôi!


Năm đó cũng vào những ngày cuối năm, trước lễ giáng sinh vài hôm, trong một lần tắm, cô ấy bị ngã trong phòng tắm, bụng cô ấy dập vào bồn cầu…Tôi kinh hãi nhìn cô ấy đớn đau trong máu và nước! Khi đến bệnh viện thị xã, thì cả cô ấy lẫn thai đều quá yếu. Buộc phải mổ đưa thai ra để chăm cho mẹ… Với thai năm tháng tuổi, bênh viện không đủ điều kiện trợ tim, trợ thở cho cháu. Nửa giờ sau khi đưa ra khỏi tử cung, con chúng tôi ngưng thở! Hân vẫn nằm trong phòng hồi sức! Một nữ y tá bồng cháu ra, trao cho tôi:
- Không thể cứu được cháu, chị vẫn còn hôn mê nhưng đã qua cơn nguy kịch. Anh đem cháu về rồi sáng mai trở lại!


Tôi gọi báo tin cho Phú rồi mượn bạn chiếc xe máy. Phú đến cùng em gái Hân ngay sau khi nghe điện. Trùm cháu trong một cái áo khoác, tôi cột hai tay áo ra sau cổ thành chiếc võng rồi trong đêm, chạy về nhà, Tôi chôn cháu trong vườn để sáng còn trở lại bệnh viện. Tôi vừa chạy xe vừa lầm rầm khấn cầu với cháu: Con ơi, con hãy cứu mẹ!


Vết mổ của Hân nhiễm trùng, tái đi tái lại cộng với lượng máu mất nhiều, cô ấy kiệt sức rồi mất sau mười hai ngày nằm trong phòng hồi sức! Tôi đau đớn tột cùng, đưa Hân về chôn bên con...


Không lâu sau, chưa hồi tâm sau mất mát đau lòng này, tôi được tin con trai vướng vào vụ án!!!


oOo


Suốt đêm hôm ấy và mấy đêm sau nữa, Thuyết không ngủ được, anh trằn trọc với những khốn khổ mà Hào, người khách cuối năm kể lại. Bố vợ anh có ý tự nguyện giúp cho Hào một khoản tiền, đủ để xây cho ba ngôi mộ, luôn cả mộ mẹ của Hào. Hôm xong xuôi, Hào nghẹn ngào ôm Thuyết, mếu máo những lời cảm ơn. Không lớn lao to tát, nhưng ba nấm mộ cũng khá khang trang. Hào trở lại Buôn Ma Thuột.


Chia tay nhau nơi bến xe, tấp nập người đi kẻ về vào những ngày cuối năm… Dáng Hào đơn độc, bước đi liêu xiêu với cái túi xách trên vai. Thuyết cúi đầu quay về, lòng trĩu nặng như mang theo nỗi bất hạnh của Hào.


Anh ngẫm nghĩ: Hạnh phúc của kiếp con người, bao giờ cũng mong manh ngắn ngủi, nhưng nỗi bất hạnh thì xem chừng như trùng trùng, vô tận!!!

 

Kim Kỳ st

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này