Truyện

Truyện (192)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Tình Cảm Thiêng Liêng

Tình Cảm Thiêng Liêng

~~~~<❤️>~~~~

 

Năm cô 6 tuổi, cô mất cả bố lẫn mẹ, họ bị tai nạn ô tô trong lần về quê thắp hương cho ông bà nội, 6 tuổi, cô chưa thể hiểu hết mọi chuyện đang xảy ra trong gia đình, cô chỉ biết khóc suốt ngày vì bố mẹ không quay về.

Cô còn một người anh trai tên là Nam, cậu bé 14 tuổi, dáng người to cao giống bố. Lúc bố mẹ mất, cậu không khóc, không gào thét mà chỉ ôm chặt cô em gái vào lòng cho đến khi ngủ thiếp đi.

Suốt ngày cô đều theo sau anh trai đòi bố, đòi mẹ; cô không thích ăn cơm nửa sống nửa chín của anh trai nấu, không thích mặc bộ đồ nhăn rúm anh trai giặt…

Kể từ ngày hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không về, cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai vì sợ anh lại bỏ cô mà đi.

Đêm hôm đó, trời đã rất muộn, rất muộn nhưng cô không chịu ngủ mà ngồi dậy kéo anh trai và hét to: “Em muốn gặp mẹ!”.

Bỗng nhiên, Nam kéo cô từ trong chăn ra, hai tay nắm lấy đôi vai bé nhỏ của cô và nói:

“Mẹ mất rồi, đừng có tìm mẹ nữa, bố mẹ đều không còn nữa, họ sẽ không quay về nữa đâu!”.

Giọng nói của Nam vang lên rất to khiến cô phải im lặng vì sợ hãi. Sau đó, cô dần dần hiểu được bố mẹ cô mãi mãi không quay về, cô hiểu được trên thế giới này chỉ còn anh trai là người thân duy nhất của mình.

Nam úp mặt xuống giường và khóc thật to, đó là lần đầu tiên cô nhìn thấy anh trai khóc kể từ ngày bố mẹ mất..

Cô nhẹ nhàng cúi xuống rồi nằm trên lưng anh trai, cô dùng đôi tay bé nhỏ của mình ôm lấy anh, cảm giác ấm áp như ôm bố mẹ vậy.

Cô bắt đầu dựa dẫm vào anh trai giống như trước kia từng dựa vào bố mẹ: đi học, cô đòi anh chở đi; tan học, anh trai phải đến đón cô.



Trường của cô cách nhà khá xa, mỗi buổi sáng Nam đều chở cô đến trường, đến nơi người Nam ướt đẫm mồ hôi. Ngồi trên xe, cô nắm chặt lấy vạt áo của anh không rời, cô không khóc đòi bố mẹ như trước nữa. Trước giờ cô chưa từng nói với anh, kể từ khi hiểu ra rằng bố mẹ mãi mãi không quay về nữa, trong lòng cô luôn bao trùm một nỗi sợ hãi, cô sợ rằng một ngày nào đó, anh trai cũng sẽ rời xa cô.

Cảm giác sợ hãi đó khiến một đứa bé 6 tuổi trở nên ngoan ngoãn, nghe lời đến lạ. Thế rồi, có mơ cô cũng không tưởng tượng được rằng cuối cùng anh trai vẫn bỏ rơi cô.

Hôm đó là ngày cuối tuần, mới sáng sớm, Nam đã phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ chăm chút buộc cho cô hai bím tóc, mặc cho cô bộ váy màu trắng mà cô không biết anh mua cho cô từ khi nào, sau đó cô được anh trai dẫn đi công viên chơi rất nhiều trò, ăn rất nhiều món, cho đến khi mệt, cô ngủ say trên lưng anh.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, cô thấy mình nằm trên giường của nhà khác còn anh trai thì không thấy đâu nữa.

Cô hốt hoảng chạy đi tìm anh, sau đó một người hàng xóm mà cô gọi là “thím” nói với cô rằng anh trai cô đi làm thuê rồi, từ nay về sau, cô sẽ sống cùng với gia đình họ. Mặc dù cô biết, chú thím là bạn thân thiết của bố mẹ mình nhưng cảm giác bị anh trai bỏ rơi lúc này còn tuyệt vọng, đau đớn hơn khi bố mẹ rời đi. Là anh trai đã bỏ rơi cô, cô đã bị anh trai bán lấy tiền, anh trai không cần cô nữa.

Sau khi biết anh trai cũng bỏ đi không về như bố mẹ, cô nhanh chóng thích nghi với cuộc sống mới, có nhiều sự thay đổi. Sự thích nghi nhanh chóng đó mãi đến khi lớn lên, cô nhận ra rằng đó chính là một kiểu để quên đi đau thương.

Cô chủ động học làm việc nhà, tự giặt quần áo, cô biết đây không phải là nhà của mình, họ không phải người thân của mình nên cô không dần dần không còn dựa dẫm vào ai nữa. Kể từ khi anh trai bỏ đi, cô hòa toàn mất đi quyền được nũng nịu, đòi được yêu chiều. Cô cũng có một người anh trai nữa, người đó hơn cô một tuổi, rất nghịch ngợm và đôi lúc còn bắt nạt cô.

Cũng may là bố mẹ nuôi rất thương cô, mỗi năm họ đều mua quần áo mới cho cô, có đồ ăn ngon cũng luôn để phần. Tình cảm cô đối với bố mẹ nuôi, có yêu thương, nhưng sự cảm kích, ơn huệ lại là phần nhiều.



Năm cô 11 tuổi, lúc đó cô đang học lớp 4, một buổi tối nọ, cô đang giúp mẹ vá lại chiếc áo, bỗng mẹ nuôi nói:

“Mấy năm nay, con không nhớ Nam sao? Lúc đó, nó còn bé, sao có thể chăm lo cho con được?”

Cô im lặng không nói, đúng vậy, cô không nhớ anh trai, mới nghĩ đến cô đã thấy hận, vì thế cô không muốn nghĩ. Cô nói với mẹ: “Mẹ à, đừng nhắc đến anh con nữa”.

Mẹ nuôi thở dài, hình như trong lòng vẫn còn điều gì đó muốn nói nhưng cô đã đi về phòng mất.

Chính xác, cô hận anh, cô không sợ khổ khi đi theo anh, không được đi học thì có gì đáng sợ đâu, cô sẽ theo anh đi kiếm cơm vậy. Nhưng anh đã đập tan mộng tưởng của cô, đã làm mất đi chỗ dựa của người thân duy nhất, đó chính là sự hủy diệt triệt để, không để lại điều gì cả. Vì thế, cô không thể tha thứ cho anh trai mình.

Năm 16 tuổi, thành tích học tập đứng đầu toàn trường giúp cô thi đỗ vào trường cấp ba, người anh lớn hơn cô một tuổi đang học lớp 11.

Một năm sau, khi người anh đó đang chuẩn bị tốt nghiệp cấp ba, bố nuôi nghỉ việc, ông thuê một cửa hàng nhỏ ở chợ để bán rau. Tối hôm đó, đang ngồi học cô khát nước nên đi ra phòng khách uống thì tình cờ nghe được cuộc trò chuyện bên phòng của bố mẹ. Anh trai nuôi nói với mẹ rằng: “Mẹ, con không biết, dù thế nào đi nữa con cũng phải học Đại Học”.

“Không được, cái Mai học tốt hơn con, nó có khả năng thi đỗ Đại Học”. Tiếng nói của bố nuôi nhỏ nhẹ nhưng rất quyết đoán.

“Lấy đâu ra tiền mà nuôi hai đưa ăn học cùng một lúc chứ?” Mẹ nuôi nói.

Nghe đến đó, cô vội quay về phòng, cô không muốn nghe gì nữa. Lúc đó, cô quyết định để cho anh trai học Đại Học, còn cô, học xong cấp ba, cô sẽ đi tìm việc. Bởi từ khi anh trai bỏ cô mà đi, bố mẹ nuôi đã cho cô quá nhiều, cô không muốn thêm gánh nặng cho họ nữa.

Đáng tiếc là anh trai nuôi của cô thi không đỗ và bố nuôi cô vẫn kiên quyết rằng cô phải vào Đại Học.

Cô vẫn kiên quyết: “Con không thi đâu, con quyết định rồi!”.

Tranh luận hồi lâu không được, mẹ nuôi cô từ trong bếp nói vọng ra: “Mai à, con bắt buộc phải thi vào Đại Học. Con có biết không, anh trai con đã gửi đủ số tiền học phí cho con rồi nên con nhất định phải học Đại Học, đừng phụ lòng nó, nó không dễ dàng gì…”. Cô ngẩn người.



11 năm sau, lần đầu tiên cô lại tìm về hồi ức của anh trai mình.

Bố mẹ nuôi nói với cô: “Năm đó, anh trai con biết một đứa trẻ 14 tuổi như nó không có khả năng để nuôi em gái nên nó mới quyết định ra ngoài đi làm kiếm cơm, còn gửi con lại cho bố mẹ. Nó bán nhà và đưa hết số tiền đó cho bố mẹ bởi nó tin rằng bố mẹ sẽ chăm sóc tốt cho con. Buổi sáng sớm hôm đó, trước khi rời đi, anh con ôm con đang ngủ say trong lòng đưa cho mẹ bế, sau đó nhìn con và hứa rằng: “Thím à, con nhất định sẽ về đón em con, mong thím chăm sóc tốt cho nó…”.

“Từ khi con bắt đầu lên lớp 4, mỗi tháng nó đều gửi tiền về cho mẹ, bố mẹ cũng tích góp lại cho nó. Là bố mẹ vô dụng, nhiều năm qua luôn để con phải chịu ấm ức…” Bố mẹ nuôi nghẹn lòng không nói nên lời, họ cầm lấy tay cô và khóc.

Vậy những năm qua anh ấy đi đâu, sống như thế nào?… Hàng loạt câu hỏi hiện lên trong đầu, thì ra anh trai chưa từng bỏ rơi cô, anh trai vẫn luôn yêu cô nhưng bằng cách mà mấy năm qua cô không thể lý giải được.

“Thế tại sao anh lại không về thăm mình chứ, không phải anh đã hứa sẽ về thăm mình rồi ư?…”.

Số tiền gửi từ Sài Gòn về, bên ngoài phong bì không ghi địa chỉ cụ thể, cô hạ quyết tâm nhất định phải vào Sài Gòn tìm anh.

Một năm sau, cô thi đỗ và vào Sài Gòn học tập, cô vẫn không thôi nghĩ đến việc tìm anh trai, thế nhưng giữa đất Sài Gòn rộng lớn như thế, đi tìm một người quả như là mò kim đáy bể.

Tốt nghiệp xong, cô ở lại Sài Gòn và làm việc ở đó, cũng là để tìm anh trai luôn. Vào lúc cô gần như tuyệt vọng, bỗng nhiên cô nhìn thấy một bức ảnh trên mạng: “Trước một quầy báo nhỏ, có một chàng trai người gầy gò ốm yếu miệng, bị mất một tay đang sửa xe đạp…” Khi nhìn thấy dòng chữ ghi tên Nam, cô hoa mắt, người đó chẳng phải là anh trai mình sao? Đúng rồi, là anh ấy.

Cô xem tiếp: “Năm 19 tuổi, người thanh niên làm việc ở một công trường xây dựng, trong lúc đang làm việc thì do gặp sự cố về máy móc nên anh ta đã bị mất đi một cánh tay, từ đó anh lang thang phiêu bạt khắp nơi, làm đủ nghề để mưu sinh: nhặt phế thải, đi bán báo, phát tờ rơi,…Và 3 năm trước, anh ta mở một quầy báo nhỏ vừa bán báo vừa sửa xe đạp. Động lực duy nhất để anh sống lạc quan như thế chính là cô em gái…”.

Khi cô xuất hiện trước quầy báo, anh trai cô đang bận rộn với công việc sửa xe đạp, mặc dù mất một tay nhưng động tác của anh vô cùng nhanh nhẹn và điêu luyện. Cô nhẹ nhàng bước lại gần, nước mắt cô rơi xuống lã chã, trước mắt cô chính là người anh mà cô từng hận vì đã bỏ rơi cô, chính là người yêu thương cô nhất, bất chấp tất cả để lo cho cô một cuộc sống đầy đủ.

“Cô gái, cô…” Anh ngạc nhiên khi nhìn thấy cô, cô khóc nức nở và ngồi xuống nhẹ nhàng lấy khăn lau mồ hôi cho anh.

“Anh à, em là Mai đây!…”

Cô vội vàng ôm lấy anh, đã lâu lắm rồi cô không được ôm anh như vậy, cảm giác đó vẫn ấm áp như hồi bé, cảm giác được an toàn, được yêu chiều…

Tình cảm gia đình luôn thiêng liêng như vậy, nó luôn là chỗ dựa để ta lớn lên, luôn là động lực để ta bước tiếp, dù người thân có làm gì thì hãy luôn nhớ rằng, tất cả đều vì những người mà họ thương yêu mà thôi…!.

 


FB Vương Điền

Hình Internet

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...

NỖI BUỒN MÙA THU

NỖI BUỒN MÙA THU

 Phạm Tín An Ninh 

 

 

 Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân lọai. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng "Buồn Tàn Thu" để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm).

Ông mất đi trong cảnh khôn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá, cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. "Cây đại thụ" Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản "Mùa Thu Chết". Ở Việt nam ta, nếu "con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô" đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây "Les Feuilles Mortes" đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.

Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nổi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc - đặc biệt có Mùa Thu trong đó.

Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của ta hay tây, mà lại là một bài văn xuôi rất... học trò của ông Thanh Tịnh.

"Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được..

Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp..."

Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có (một chút) sương thu và gió lạnh.

Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu Năm làm "công tác xóa nạn mù chữ". Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi.

Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm... kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ; nhiều đứa làm quan làm lính cộng hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành giáo sư, bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, chỉ lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.

Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở; đau bệnh thì có mấy thằng bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thuơng miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời. Quân với dân còn hơn cả cá với nước.

Rồi đùng một cái, tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời bi thảm: Mấy ông bạn trên núi nghênh ngang về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với đồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái lấy hết ruộng đất đưa vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau "tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc" lên thế giới đại đồng (!).

Mấy ông lính, ông thầy, ông bác sĩ tự dưng trở thành "những con nai vàng ngơ ngác", cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào "trường cải tạo". Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.

Sau sáu, tám, rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi:

Qua cơn mờ mịt binh đao

đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng

Lạc loài trên chính quê hương

thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành

 Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân, bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ bây giờ phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái "bằng khen", mấy cái huy chương "dũng sĩ" treo tòn ten trên vách mà ngẫm nghĩ con đường cách mệnh đã bỏ gần cả một đời theo đuổi mà sao cái làng quê của mình vẫn cứ xác xơ và những bạn bè ấu thơ giờ thì đã chết hoặc điêu linh tan tác.

Rồi cũng vào một mùa thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. "Mùa thu năm ấy tôi ra đi, mùa thu này nữa tôi... trở về". Khoảng cách giữa hai mùa thu... vậy mà cũng đã hai mươi năm.

Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hơn một năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong nghĩa trang gia tộc.

Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Cái làng Phú Hội của tôi một thời đông vui giàu có như cái tên gọi, bây giờ sao trở nên vắng vẻ điêu tàn. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời.

Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày xưa rì rào trong gió. Tôi chợt nhớ tới bài thơ của một ông bạn già thân thiết:

Tôi về đứng trước ngôi trường cũ

nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm

nhấp nhô những mái nhà rêu phủ

thương hải tang điền mấy biến thiên

Tôi về xuôi một dòng sông chảy

con nước vô tình lặng lẽ trôi

hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể

hai lần tắm ở một dòng thôi

- Tôi về - có phải sông về biển

sao nghe từng con sóng não nề

như thể bây giờ là cổ tích

tôi về - chỉ gặp lại mình... tôi


Bây giờ nhờ tiền tài trợ của mấy ông tư bản, nên ngôi trường vừa được xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành "Trường PTCS Lê văn Tám".

Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò. Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài "thơ trong tù"của bác, thơ "Khóc ông Lê Nin" của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã "từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim" (thơ T.H), và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi "hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc..." hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng?

Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên "anh hùng Lê văn Tám" mà các em được dạy như là một tấm gương, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ (xem Báo Thế Giới - Hà Nội số 39 (154) ngày 27.09.04 trang 22-23, website Talawas ngày 11.10.04 / Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)

Rồi mới đây bà hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy (dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở "thành phố mang tên bác" thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (trong đó có con trai của đồng chí chánh thanh tra sở giáo dục thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng.

Tội nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa "phong bì"?

Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà "mô phạm", những "nhất tự vi sư bán tự vi sư" một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng.

Ngoài Hà Nội, có lẽ vì thành phố thủ đô trữ tình với mùa thu và hương hoa sữa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông "khả kính" ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước "lấy điểm gạ tình" một số nữ sinh viên. Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ "trả bài" cho thầy trong khách sạn!

Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám!) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến: bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ gọi các quan già bằng "chú" mà không phải bằng "anh" thì bị thầy hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.

Mới đây trên đài BBC, ông Tạ Phong Tần, cán bộ sở thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố: "Không ít tiến sĩ, thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nổi." (nguyên văn)

Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin "vui" này đăng đầy trên báo mỗi ngày, để còn thấy mùa thu trên quê nghèo vần còn một chút thơ mộng dễ thương.

Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước tháng 4/75 là một giáo sư toán-lý-hóa nổi tiếng của một trường trung học lớn. Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè.

Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng cử nhân toán từ cái thời 63-64 chỉ còn cùng để... gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào đó trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi.

 

"Thầy có nhớ con không...?"

Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác

người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.

"Thầy còn nhớ con không...?"

Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng

hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè

rụng xuống trên vai người thầy học cũ

"không... xin lỗi.. ông lầm...

Tôi chưa từng dạy học

Xin thối lại ông tiền thuốc... cám ơn!"

Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn

Thầy học cũ mười năm không lầm được

Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc

giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.

Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư

người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,

chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,

biết yêu anh em - đất nước - xóm giềng.

Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,

Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.

Bên hè phố im lìm,

vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.

Câu phủ nhận phải vì câu áo rách

trước đứa học trò quần áo bảnh bao?

Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,

những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.

Mười năm nữa đứa nào trong số đó,

sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?

 Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian, ảm đạm cả đất trời.

Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh: Đâu phải chỉ có mấy ông nhà thơ, mấy ông nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà có những "đỉnh cao" đang ngự trị trên quê hương tôi, dù chẳng có một chút xíu tâm hồn nào, có khi không có cả quả tim, cũng có thể làm cho mùa thu quê tôi... buồn chết được.

 

phạmtínanninh

Xem thêm...

Tình yêu đẹp như vần thơ

Tình yêu đẹp như vần thơ

 ❤️  ԼO Ɣ Є  ❤️ 

Lòng ta chôn một khối tình  

Tình trong giây phút mà thành thiên thu 

Sonnet d’Arvers

 

 

Một chiều xuân khoảng năm 1830, một chàng thanh niên đẹp trai, trạc tuổi hai trên hai mươi, dáng dấp hào hoa phong nhã theo chân Victor Hugo  đến khách thinh của Charles Nodier. Thuở ấy, ở Pháp, phong trào khách thinh (salon littéraire) – một hình thức câu lạc bộ văn nghệ đang thịnh hành.

Victor Hugo bảo gã thanh niên: “Nầy Félix, chuẩn bị tinh thần nhé, cái tao đàn mà tôi đưa cậu đến đây, chẳng những nổi tiếng vì… văn nghệ, mà còn nức danh vì… Mà thôi, chẳng nói trước mất hứng thú. Để cậu vào đấy rồi sẽ biết”.

Dù nhà văn Victor Hugo không có lời giới thiệu nồng nhiệt và ưu ái, nhà thơ Félix Arvers(1) cũng đã biết tiếng tao đàn của ông Charles Nodier, qua những khuôn mặt văn học tài danh thường lui tới như Victor Hugo(2), Lamartine (3), Alfred de Musset (4)… Có điều chàng chưa hân hạnh đặt gót đến nơi đó lần nào, nên còn chưa rõ bên trong có điều gì gọi là nức tiếng, như lời úp mở của Victor Hugo vừa bảo. Chàng bồn chồn, háo hức.

Charles Nodier (5), chủ nhân tao đàn vốn là nhân vật tiếng tăm trong Hàn lâm viện Pháp. Hôm ấy, ông đi vắng. Con gái ông là Marie Nodier ở độ rực rỡ của tuổi trăng tròn, hân hoan chào đón Victor và người bạn mới.

Sau lời giới thiệu của Victor Hugo cho đôi bên hiểu biết nhau, Félix đã sớm trải qua những giờ phút bàng hoàng, vì lắng nghe giọng oanh tao nhã bàn luận văn chương của Marie Nodier. Nhất là được nghe nàng ngồi đánh dương cầm, nhìn dáng người mảnh mai thanh tú và những ngón tay tiên thoan thoắt trên phím ngà, chàng thi sĩ bị ngay tiếng sét ái tình làm ngây ngất như kẻ mất hồn.

Cuối buổi hôm ấy, Félix ra về miên man tư lự, trong lòng tràn ngập nỗi trầm tư. Chàng hiểu tại sao Victor Hugo đã úp mở bảo khéo mình hãy chuẩn bị tinh thần trước khi bước chân vào tao đàn… Félix đã yêu nàng ngay từ phút đầu tiên gặp gỡ. Sau đó, chàng còn lân la đến nơi ấy đôi ba bận nữa nhưng vẫn câm lặng với mối tình chôn chặt trong lòng.

Kể về gia thế, Félix mặc cảm chàng thuộc gia đình người hàng rượu, há dám táo bạo tỏ tình với trang lá ngọc cành vàng? Bởi lẽ về sự nghiệp, chàng chỉ mới xuất thân tập sự với luật sư Guyet Desfontaines với vai trò quản lý văn khế. Bấy nhiêu đó có đủ cho giai nhân để mắt xanh đến chàng chăng? Biết người biết mình, Félix đành ôm mối tình đơn phương câm lặng, tự hứa với lòng sẽ cố tạo cho mình một thanh danh đã. Và lòng tự nhủ hãy tạm dừng chân, không lui tới nhà Marie nữa.

Chàng để cho lòng thanh thản nuôi thêm ý chí phấn đấu trên đường lập thân. Félix miệt mài làm thơ, viết kịch, vừa để kiếm tiền vừa gây tiếng thơm trên văn đàn. Cho đến một ngày kia, nhìn lại sự nghiệp vun bồi, chàng cảm thấy đã có thể ngỏ lời với nàng, với thân sinh nàng. Chàng trở lại chốn xưa với tấc lòng bồi hồi.

Nhưng chàng phải thảng thốt, tê mê nhận lấy một tiếng sét nữa trong cuộc tình đầu đời: Marie Nodier vừa kết hôn với Mennessier! Viên ngọc báu đã về tay người khác. Nghẹn ngào, tuyệt vọng! Tâm hồn chàng vừa lắng dịu sau cơn địa chấn thì một bài thơ tình được hình thành trong óc tim rỉ máu…!

Một buổi chiều, buồn da diết, không nén được lòng sầu khổ, Félix Arvers lại lững thững đến khách thinh. Đến không mục đích! Chàng biết dù có đến nữa cũng chỉ để lịm hồn mình trong thất vọng đau thương. Nhưng đã bao lần không muốn trở lại mà tâm tưởng, gót chân chàng vẫn cứ như có một sức mạnh vô hình dìu chàng về nơi ấy…

Marie Nodier nay đã là bà Mennessier nhưng vẫn tỏ ra thiện cảm với chàng. Một bữa, nàng niềm nở trao Félix một tập lưu bút xinh xắn và trang trọng:

- Xin ông ghi cho đôi dòng kỷ niệm. Các bạn văn thơ của chúng ta đều đã góp mặt trong tập nầy. Chỉ còn mình ông thôi.

Khổ đau mà không thể chối từ, chàng khẽ run tay cầm bút, suy tư. Viết gì đây, Félix cảm thấy khơi động ở lòng mình một tình cảm mông lung vô vọng, bất giác chàng hạ bút ghi lại bài thơ đã thai nghén từ dạo hay tin nàng có chồng. Chàng viết một mạch như để trấn áp những xúc động bùng vỡ thêm ở lòng mình:

 

Tình tuyệt vọng

 

Lòng ta chôn một khối tình,

Tình trong giây phút mà thành thiên thâu.

Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu,

Mà người gieo thảm như hầu không hay.

Hỡi ôi ! người đó ta đây

Để ta thui thủi đêm ngày chiếc thân.

Sao ta đi trọn đường trần

Chuyện riêng chẳng dễ một lần hé môi,

Người dù ngọc nói hoa cười,

Nhìn ta như thể nhìn người chưa quen.

Đường đời ta trót giẫm lên

Ngờ đâu chân đạp lên trên mối tình.

Một niềm tiết liệt đoan trinh,

Xem thơ nào biết có mình ở trong.

Lạnh lùng lòng sẻ hỏi lòng,

Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây.

 

                 Khái Hưng dịch

 Viết xong, chàng đăm chiêu suy nghĩ: nàng đã có chồng, dù thế nào ta cũng không có quyền làm vẩn đục hạnh phúc của gia đình nàng. Yêu nàng, nay dù mộng đẹp vỡ tan, ta càng phải giữ cho tình cảm tốt đẹp. Rồi ý nhị, chàng tinh tế ghi thêm mấy lời dưới chữ ký tên: Bắt chước một bài thơ Ý  (“Imité de l’ltalien”).

Để tâm hồn lắng đọng sự bình tĩnh, Félix xếp tập “Lưu bút” trao lại cho nàng và cáo từ lui gót. Và từ đó, chàng cố tình lẩn tránh nàng. Đôi khi chạm mặt nhau ngoài phố hay trong những cuộc hội họp, chàng luôn giữ cho tình ý nghiêm trang giữa hai người.

Sau khi đọc qua bài thơ của chàng ghi trong tập “Lưu bút”, nàng tuyệt nhiên suốt đời chẳng biểu lộ một thái độ nào để cho ai có thể vin vào đấy mà đoán được tâm trạng nàng. Nàng vẫn lạnh lùng đúng như lời thơ chàng từng ca tụng: Một niềm tiết liệt đoan trinh. Nhưng có ai dám khẳng định, tự sâu thẳm tâm hồn, Marie Nodier thực sự không mảy may cảm động trước mối chân tình của chàng.

Phải chăng định mệnh nghiệt ngã đã khiến cho thi sĩ - giai nhân cam chôn chặt tâm tình thầm kín mãi trong lòng. Tuy nhiên khi bài thơ được loan truyền, ai đọc qua không khỏi xúc động, cảm thấy lòng bồi hồi chạnh tưởng đến giấc mộng tình đi qua trong một thời hoa bướm. Hầu hết khách văn chương với tâm hồn giàu cảm lụy, đều tấm tắc khen thầm bài thơ hay với ý tình nên thơ, cảm động. Và họ cũng tha hồ phỏng đoán coi người phụ nữ ấy là ai?

Ba năm sau (khoảng năm 1833), Félix cho xuất bản tập thơ: “Những giờ nhàn rỗi của tôi” (Mes heures perdues) trong đó có bài thơ nằm trong tập Lưu bút của Marie Nodier. Nhà phê bình nổi tiếng thời bấy giờ là Jules Janin đã viết về bài thơ của Arvers: Hãy ngâm lên những lời thơ diễm tuyệt ấy… Tiếng nói ấy là tiếng nói thần diệu, tình ấy là tình chân thật, thiết tha”. Félix Arvers làm bài thơ ấy khi chàng 25 tuổi. Và đúng như lời dự đoán của Janin, sự nghiệp văn chương của Arvers chỉ cô đọng vào một bài thơ ấy.

Cả thi phẩm của Félix, chỉ riêng bài thơ ấy là còn sống mãi đến bây giờ. Người sau dựa vào bài Sonnet của Arvers, thông cảm với tác giả, đã họa lại hoặc phỏng theo mà sáng tác, tính ra có đến 120 bài trong đó, những tác phẩm của phái nữ như bà Gay, bà Lelouard… được khen nhiều hơn.

Hầu hết các bài thơ ấy đã được các nhà giáo, nhà văn nước ta dịch ra tiếng Việt: Khái Hưng, Nguyễn Vỹ, Bình Nguyên Lộc, Hồ Văn Hảo, Nguyễn Tri Hựu, Nguyễn Thị Giang… Trong đó, bài thơ dịch theo thể lục bát Tình tuyệt vọng của Khái Hưng là giàu âm điệu và gợi cảm hơn nên được nhiều người yêu thơ trân trọng thuộc lòng.

Bài thơ “Tình tuyệt vọng” của Félix Arvers chỉ cô đọng trong 16 câu nhưng chứa đựng một không gian tình cảm thâm thúy vô bờ. Nó ấn tượng tuyệt vời vì người đẹp Marie Nodier vẫn cảm nhận được tấm lòng nhà thơ cũng như nhà thơ đã yêu nàng say đắm thiết tha như một thần tượng của đời mình.

Hai người hiểu sâu sắc và yêu nhau mà vẫn thầm lặng, thờ ơ và cư xử với nhau như người dưng. Cuộc tương ngộ giữa “Tài tử-giai nhân” trên lãnh vực văn chương đã để lại cho người đời một bài thơ tình cảm động và một chuyện tình hiếm thấy, đẹp như mùa xuân.

Bài thơ “Tình tuyệt vọng” của Félix Arvers chắc mãi mãi sẽ là bức tranh hiện thực lãng đãng sương khói yêu đương, minh họa cho những mối tình nên thơ lãng mạn giữa thi sĩ và giai nhân:

 

Thơ viết không xong, thuyền trôi chớ đổ

Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa

(Hồ Dzếnh).

Hay:

“ Đời mất vui khi đã vẹn câu thề

Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở

 

(Hồ Dzếnh).

-----------

  Nguyễn Thanh     

                    

1) Félix Arvers (1806-1850), nhà thơ Pháp

(2), (3), (4), (5) : Victor Hugo, Lamartine, Alfred de Musset, Charles Nodier:

đều là nhà văn, nhà thơ Pháp nổi tiếng sống vào khoảng cuối thế kỷ 18 - thế kỷ 19.

 

 =Kim Kỳ sưu tầm =

 

Xem thêm...

NGHIỆP - Truyện Ngắn của Trần Yên Hòa

 NGHIỆP

Truyện Ngắn của Trần Yên Hòa

Anh nhớ lại. Cũng lâu. Cũng rất lâu. Hồi đó anh là con trai mới lớn.  Anh mới bước chân vào đại học. Chưa yêu ai và mộng ước thật cao vời. Đó là những ngày anh sắp đi Sài Gòn học Đại Học. Sài Gòn rộng bao la và đầy hấp lực. Nơi đó là ánh sao trời. Là hòn ngọc. Là nơi anh có thể tung hê mình để bước lên đài danh vọng.

Sài Gòn, giấc mơ Sài Gòn là một hấp dẫn lạ lùng và anh tôn thờ nó. Nơi quê anh, nơi chốn quê mùa chân đất. Chỉ là những con đường đất đỏ, là bờ ruộng, bờ ao. Là cái xóm nhỏ với những mái nhà tranh lụp xụp của chú ba Tình, tư Nhỏ, hai Nhơn…Là những ông bà hai Cận, bà Ngộ, ông Đàn, ông Sử, ông Yên…ai cũng áo quần lem luốt, lam lũ với con trâu, cái cày. Không được rồi, anh phải thoát ra nơi đây.

Có một cô bé nhà sát con đường cái. Cô gái tên là Nữ. Hình như không đi học. Có người chị làm thợ may, hàng ngày vẫn ngồi bên máy may để may hàng cho khách trong xóm. Anh chạy xe đạp qua lại hàng ngày. Anh qua nhà em nhưng không có nghiêng nghiêng sân nắng…chỉ có em đứng bên bức mành thưa ngó ra.

Anh đi anh về hàng ngày, hàng tuần…biết bao nhiêu bận. Anh rộn rả, tất bật với giấc mơ anh. Kẻ sắp đi xa với nhiều mộng ước. Rồi còn bạn bè, rồi còn cha mẹ, anh chị em tíu tít. Anh không nghĩ gì, không nghĩ đến ai. Nơi đây anh không có người yêu nào…Những dáng dấp nữ sinh chỉ là một hình bong trong giấc mơ hoa.

Nữ cứ mỗi sáng, mỗi chiều, đứng bên bức mành tre của căn nhà ộp ẹp nhìn anh đạp xe đi ra, đi vào, đạp xe tung tăng đây đó. Anh không biết gì đến người con gái kia. Cô gái im lặng, âm thầm hướng mắt theo anh trong những lúc anh đi qua lại trước nhà cô. Cô nghĩ gì, anh đâu có biết.

Một buổi trời đà chạng vạng tối. Hôm đó không biết chiếc xe đạp của anh cho ai mượn mà anh phải đi bộ về nhà. Anh đi không suy nghĩ gì hơn là những chuẩn bị cho một chuyến đi xa. Bỗng  Nữ xuất hiện trên con đường hẽm đi vào nhà anh. Anh thấy cô cũng như bao cô gái láng giềng khác. Anh gật đầu chào. Cô dừng lại nói:

        - Anh Nghiệp, mấy ngày nữa anh đi?

        - Ơ, ơ Nữ. Tôi còn khoảng ba ngày nữa là đi rồi. Chúc Nữ ở nhà bình yên, vui vẻ nhé.

Anh dợm bước đi, nhưng Nữ nói tiếp:

        - Anh Nghiệp, anh đi em buồn lắm. Xa anh em buồn lắm anh biết không? Anh đi em không có gì tặng anh, em có thêu chiếc khăn tay tặng anh thôi. Anh nhận cho em vui.

 

Nghiệp ngạc nhiên và có hơi cảm động. Có chuyện này sao? Sao anh không hiểu gì, không biết gì. Anh cũng thật ngu ngơ. Mười chin tuổi, chưa có một người con gái nào lọt mắt xanh anh. Bây giờ có cô gái hàng xóm đón đường và nói những câu tâm tình anh thật hoang mang xen lẫn bồi hồi. Anh nghĩ mình cũng phải có một lời nói hoặc cử chỉ nào đó nhẹ nhàng với cô.

Anh cầm chiếc khăn tay được xếp ngay ngắn, không có bao hoặc hộp gì đựng cả. Chỉ là một mảnh vải trắng được cắt ra làm chiếc khăn.

Nghiệp nói:

-        Nữ cho làm tôi cảm động quá.Cảm ơn Nữ nghe. Nữ ở nhà cố giữ gìn sức khoẻ.

Anh chỉ nói được bấy nhiêu, chứ thực ra anh biết gì mà nói thêm.

 Nữ đứng thật gần anh. Anh thấy cô có đôi mắt lớn,mái tóc dài phủ kín ngang vai.Gương mặt tròn, thật tròn của một cô gái mới lớn. Nàng đứng bên anh, tự động cầm tay anh, rất trân quý.

Nữ nói:

-        Anh cho em cầm tay anh chút, mai anh đi xa rồi, biết bao giờ gặp lại anh.

Cô âu yém, cô vuốt ve đôi bàn tay anh, cô hôn lên đó, nhẹ nhàng trìu mến. Tự nhiên sức bật của đứa con trai mười chín tuổi, chưa biết thân thể một người con gái là gì. Cùng với bóng đêm của con đường hẽm vắng hoe. Nghiệp xoay đầu cô gái lại và anh hôn nàng. Hôn mạnh bạo, tha thiết, khốc liệt. Anh đưa tay, rờ rẩm, sờ soạn đôi vú nhỏ căng đầy. Trong cơn bấn loạn của thể xác, anh đã nói, anh yêu em, Nữ.

Nữ cũng run rẩy trong tay anh, cũng hôn anh nồng nhiệt.

Cô rót vào tai anh những lời tình yêu mật ngọt, mà anh nghĩ là rất chân thành, từ trái tim cô.

-        Anh đừng quên em nhé. Em yêu anh từ lâu rồi mà không dám tỏ cùng anh. Bây giờ được anh nói lời yêu em quá cảm động, anh à. Em sẽ chờ đợi ngày anh quay trở về.

Sau cơn động tình bất chợt, anh lấy lại bình tĩnh,và thấy mình thật ác độc, thật là anh chưa nghĩ đến cô, chưa có một chút bóng hình nào của cô trong đầu óc anh từ ngày anh nhà anh dời về đây. Ngày hai buổi đạp xe đi học, đi qua nhà Nữ bốn lần, như vậy mà anh chưa lần nào nghĩ đến cô gái thường vẫn hàng ngày thập thò trong cánh cửa phên liếp này.

Bây giờ tự nhiên cô đón đường anh, nói lời yêu, tặng anh chiếc khăn tay, cầm tay anh mân mê và cơn bốc đồng đầy dục tính của đứa con trai mười chin tuổi đã buộc miệng anh nói ra những lời yêu thương. Anh thấy hối hận. Nhưng sự việc đã qua rồi. Anh nghĩ, mình con trai, đàn ông, như là cánh bướm. Có gì đâu mà suy nghĩ. Và mình cũng chưa đi đến sự tận cùng…

Hai người chia tay nhẹ nhàng. Anh cầm tay nàng và nói lời từ biệt. Rồi anh đi bộ về nhà.

  Ròng rã 4 năm học ở Sài Gòn, anh không có một lời thăm hỏi em, anh không có một cánh thư. Đến một ngày, anh nghe người bà con cùng xóm báo tin rằng, nàng đã chết. Không biết vì lý do gì. Người bạn nói:

-        Cô Nữ đã chết rồi, cổ tự tử.

Anh cũng có cảm thương. Nhưng rồi thôi. Dòng đời vẫn trôi, và Nghiệp vẫn đeo đẳng hoài đến những giấc mộng chưa thành của mình.

 

 Trong cuộc đời một người con trai đến một người đàn ông…Nghiệp có biết bao cuộc tình vắt vai. Những cuộc tình như cơn mưa bóng mây, đến rồi đi. Qua đi như những giấc mơ đẹp, thế thôi. Người nhận và người cho đều yên lòng ra đi. Có ngó lại cũng chỉ là những vết son tươi đẹp, đỏ chói về những cuộc tình qua.

Và đến mối tình của Thơ Thơ.

 Anh cũng sống cô đơn, cô độc một mình. Kim đã đi một hướng khác. Một lối khác. Chuyện tình đến một lúc nào đó, hết duyên, hết nợ cũng sẽ chia lìa. Anh không tiếc nuối vì sự kéo dài buồn thảm đã hết. Mỗi người mỗi ngã.

Đến lúc anh gặp Thơ Thơ trong hãng làm việc. Thơ Thơ cũng trải qua đò mấy chuyến, nhưng chuyến nào cũng không xuôi chèo mát mái.

Hai người làm quen vì làm chung một dây chuyền sản xuất. Thơ Thơ có đôi mắt lớn và nụ cười đẹp. Nghiệp thích nụ cười của Thơ Thơ. Nụ cười có nốt lúm đồng tiền, không biết là tự nhiên hay do thẩm mỹ tạo nên. Nhưng dù gì thì gì. Nụ cười có má lúm đồng tiền cũng được các nhà thơ ca tụng nhiều. Anh yêu là vì thế.

Thơ Thơ sống ở trong một Apt với 2 đứa con của hai người (tình). Chuyện cũng chẳng sao. Nhưng trước khi anh dọn tới ở chung với Thơ Thơ, anh đã nói:

-        Em cứ coi anh như người ở trọ nhà em nhé. Anh trả tiền thuê nhà, tiền ăn đầy đủ. Có gì thì anh và em săn sóc lẫn nhau. Em chịu không?

Thơ Thơ vẻ mặt rất buồn:

-        Anh muốn sao cũng được. Em không ép. Tình, nhất là tình yêu không thể ép. Sống với nhau được bao lâu thì tùy anh. Em cũng lớn tuổi rồi. em mong mối tình anh là tình cuối.

 Anh chấp nhận chuyện đó. Nhưng trong thâm tâm Nghiệp vẫn có một cái gì đó không yên, ray rức mà anh mãi kiếm tìm. Một người vợ trẻ, đẹp, hiền ngoan là điều mà bất cứ người đàn ông nào cũng mong ước. Có lẽ bước chân anh chưa mỏi nên anh mãi kiếm tìm…

Thơ Thơ coi anh như người chồng thật sự. Cha mẹ nàng đến, anh em nàng đến, nàng biểu anh kêu ba, mẹ, xưng anh, xưng em với các em, anh như người con trong nhà. Nàng nấu ăn ngon, và rất thích nấu nướng. Thứ bảy chủ nhật là những ngày vui…tiệc tùng liên hoan, rượu bia ê hề…rồi đến những nhà người bạn khác, anh vẫn giới thiệu nàng là bà xã tôi. Thơ Thơ sung sướng trông lộ rỏ lên mặt.

 Nhưng mà anh vẫn thấy không yên, vẫn trong lòng một nỗi ray rức, dày vò, tìm kiếm…Tìm kiếm cái gì đây…một người yêu, một người vợ với đầy đủ ý nghĩa của nó, trẻ, sang, đẹp, và hiền ngoan. Cái tìm kiếm giữa nơi chốn đầy ắp Lý Thông này làm sao mà được. Nghiệp sống với Thơ Thơ vẫn mang trong long niềm phản bội âm thầm đó.

Thơ Thơ vẫn hồn nhiên, ngày ngày đi làm, vẫn chăm sóc con, vẫn chăm sóc anh như một người chồng. Nhiều lần, Thơ Thơ nói với anh với giọng đầy xúc cảm:

-        Mình làm giấy kết hôn nhau đi anh. Em yêu anh, em muốn có một sợi  dây ràng buộc mình với nhau lại. Người ta nói đó là sợi chỉ hồng, là ông tơ bà nguyệt. Nhưng em nghĩ cái hôn thú vẫn là sợi dây cột chặt mình nhất. Anh có tin như vậy không. Em yêu anh. Em muốn anh làm chồng em, mãi mãi. Cho đến ngày em nhắm mắt.

Nghiệp trù trừ, do dự. Giấc mộng của anh chưa thành mà. Với Thơ Thơ anh vẫn nghĩ chỉ là sân ga, là bến đò. Sẽ dừng tạm rồi đi. Năm năm, Bảy năm. Mười năm, hay bao nhiêu đi nữa. Nhưng cột chặt nhau bằng tờ hôn thú anh chưa muốn. Anh còn ham mê đi tìm một thứ ảo hơn…là thực.

Và anh đã tìm ra Hương Hoa.

 

Ngày anh hẹn với Hương Hoa, xách vali áo quần bước ra khỏi nhà Thơ Thơ, Thơ Thơ vùng tới giật lại cái va ly. Nàng hét lên trong đau đớn:

- Anh Nghiệp. Nghiệp đừng bỏ em. Anh đừng bỏ em. Tôi nghiệp em, Nghiệp ơi. Em vẫn nghĩ anh sẽ sống với em, ở với em suốt đời. Em không cần hôn thú, không cần một tờ giấy nào ràng buộc cả. Chỉ có anh hàng ngày, đi ra đi vào. Có tiếng nói anh, giọng cười anh, bong dáng anh là em đủ sống, đủ hít thở một ngày. Anh đừng bỏ em. Nghiệp ơi!

Nhưng anh đã quyết. Vì anh đã có Hương Hoa bên kia bờ đại dương réo gọi. Anh về với em nhé. Em đợi em hằng ngày hằng bữa. Em mong anh, và em cũng yêu anh nữa. Nghiệp!

 Nghiệp đã ham mồi bắt bóng. Anh hất vòng tay Thơ Thơ ra khỏi cái va ly. Thơ bây giờ quỳ xuống đất, đầu tóc rũ rượi, nàng chấp hai tay, em lạy anh, em lạy anh, đừng đi anh, đừng bỏ em. Không có an hem chết mất. Nghiệp ơi.

Anh đẩy tay Thơ Thơ và quay ngoắc đi. Mình phải thực hiện mộng tưởng của mình chứ. Phải cứng rắn. Đừng mềm lòng. Phải đạt tới đích.

Anh bỏ va li lên xe vài lái đi. Thơ Thơ đứng bên lan can nhà nhìn theo chiếc xe lăn bánh. Nàng quỵ xuống như một cành cây rũ.

 **

Bây giờ thì Nghiệp qụy xuống. Hương Hoa cũng nói với anh những điều như thế. Em không thể sống với anh với những điều kiện tồi tàn như thế này. Không được mua xe mới, không được gởi nhiều tiền ở ngân hàng, không được đi shopping, đi làm về phải chui vào căn nhà housing chật hẹp. Em phải xa thôi. Em phải đi thôi. Em xin trả nợ anh kếp sau.

Anh quỵ xuống. Anh lẩm bẩm, biết có kiếp sau không mà trả nợ, hởi em.

Sau này anh biết Hương Hoa xa anh không phải vì những điều nàng nói ra, đó chỉ là cái cớ cho anh tỉnh người ra. Nhưng sự thật nàng đã đi một hướng khác. Nàng đã mắc vào vòng cương tỏa của cái Nghiệp khôn cùng. Nàng không cần đàn ông nữa. Nàng đi theo tiếng gọi của thân thể, của giới tính. Nàng không thích đàn ông, không thích...không thích. Nàng theo người bạn gái mà nàng gọi là cưng. Mình yêu cưng...

Cuối cùng thì Nghiệp cũng ngộ ra. Anh chợt nhớ một câu trong kính Bát Nhã:
"Xá Lợi Tử!  Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị."

Đúng là Nghiệp. Tên anh là Nghiệp.
"Nghiệp" báo phải không? Cả anh và nàng.

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này