Truyện

Truyện (314)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Cánh én mùa Xuân

























CÁNH ÉN MÙA XUÂN

LÝ THỊ MINH CHÂU

Con đường len lỏi qua những cánh rừng nối các buôn bản vùng cao lại với nhau giống như con rắn khổng lồ trên lưng có vệt vảy trắng. Hàng cây xanh hai bên đường đưa tay vẫy vẫy, mùa này bắt đầu gió. Gió lùa qua ô cửa xe phần phật, Thu đưa tay đón, thích thật. Cảm giác mát rượi theo cánh tay vào phả khắp người Thu. Cái nóng bởi hơi người, bởi chật chội tạm thời tan biến đâu đó. Thu gác tay lên thành cửa mơ màng.

Tia nắng lửng chiều xiên xiên hình như cũng muốn vui đùa với chiếc xe thì phải. Nó chạy vun vút phía bên kia hàng cây hay thong thả bước như người du nhàn, rồi đột ngột tiến lên hay đột ngột dừng lại. Thì ra, xe chạy bao nhiêu nắng theo bấy nhiêu, xe nhanh nắng nhanh, xe chậm nắng chậm, xe dừng nắng cũng dừng. Thật là thú vị khi phát hiện ra điều này, Thu khen mình một nụ cười. Rồi khi xe chạy cập theo mé sông thì nắng lại nhảy ùm xuống nước, những tia nắng xinh xinh khi nãy gom lại thành hình ông mặt trời, băng băng trên nước như một đóm lửa tinh quái, hắt ngược vào mắt Thu cái nhìn giễu cợt. Nhắm mắt lại không thèm chơi với nắng nữa, Thu nghĩ về người ta.

Người ta là cán bộ Phòng giáo dục của một huyện gần nơi trường đại học Sư phạm mà Thu từng theo học. Trong một chuyến thực hành dã ngoại, người ta đã làm quen với Thu. Đó là năm cuối của học kỳ. Chẳng biết có phải là yêu hay không nhưng người ta thường đưa đón Thu những khi người ta rảnh rỗi, những chiều thứ sáu hay những ngày cuối tuần. Người ta không đẹp và có vẻ khó thân thiện nhưng chẳng hiểu sao Thu lại thích người ta. Tuần nào không gặp người ta Thu rất buồn. Có lẽ vì cuộc sống xa nhà, quen khép kín trong bốn bức tường gác trọ, ít có dịp đi đây đi đó nên khi có ai vồn vã săn đón, Thu làm sao có thể từ chối. Ai đó từng bảo tình yêu là liều thuốc đắng nhưng ngọt ngào. Có lẽ điều này rất đúng với Thu, chúng đan xen nhau, chen lấn nhau, chúng làm cho Thu cảm thấy bất an sao ấy.

Ngày đó, người ta hứa với Thu đủ điều, nào là sẽ giúp lo cho Thu chỗ dạy ổn định, giúp lo cho Thu thăng tiến…vân vân và vân vân…Người ta hứa nhiều lắm và Thu cũng tin nhiều lắm.

Ngày đó, Thu làm gì có nhiều tiền để gọi điện thoại thoải mái, cần liên hệ với người ta thì Thu nhắn tin. Người ta bảo :“ Anh thích nghe tiếng em nói cơ, tiếng của con chữ rắc rối lắm, khi thì em nhắn có dấu khi thì không, đoán tới đoán lui mệt cả óc. “ Vậy là, người ta bao cấp tiền điện thoại cho Thu từ đó. Chưa bao giờ Thu gọi mà người ta không trả lời, nếu có bận bịu gì thì người ta cũng bảo :” Anh đang họp, tí nữa anh gọi lại. “ Còn bây giờ, cũng số điện thoại ấy nhưng chỉ là những tiếng tít..tít..vu vơ. Nhắn tin thì người ta không trả lời. Thì ra chiếc điện thoại có quá nhiều chức năng. Khi đem người ta đến với nhau, chiếc điện thoại trở thành chiếc cầu nối cho hai tâm hồn. Khi muốn chia tay ai đó hay không muốn bị quấy rầy, chiếc điện thoại biết từ chối khéo léo bằng cách im lặng. Sau nhiều ngày buồn bã, Thu quyết định chia tay người ta một cách dứt khoác. Thu thay số điện thoại của mình và đăng ký công tác đến vùng sâu, vùng xa này. Có thể thiên hạ bảo Thu trốn chạy, có thể người ta vui khi biết Thu đã đi xa, còn Thu thì đinh ninh là người ta đã thay dạ đổi lòng. Mặc, ai nghĩ gì nghĩ, đã dứt khoác rồi thì phải kiên định. Tuy là con gái nhưng Thu không thích đặt để mình vào chỗ yếu đuối. Thu đâu phải là yểu điệu thục nữ thành phố, Thu là con nhà nông chính hiệu kia mà. Quen vất vả gian lao rồi, quen cuộc sống thiếu thốn rồi, còn gì nữa đâu để mà lo sợ.

Xe rẽ vào con đường nhỏ, nhiều ổ voi, ổ gà. Đêm đã xuống, thị trấn vàng vọt ánh đèn đường màu dã quỳ. Không gian sống ở nơi này có vẻ trầm lắng, xe cộ thưa thớt, thiên hạ còn lông nhông những bộ đồ ngủ nhăn nhó ra đường. Vài quán cà phê cũng thưa thớt khách, tiếng nhạc vui cũng hoá thành buồn. Chắc bây giờ ngôi trường nơi Thu đến đã đóng cửa, còn chăng là ông gác dan. Xe vào bến, khách đã xuống hết, Thu cũng xuống mà chưa biết phải làm sao, ông tài xế hỏi Thu về đâu ông giúp.

- Ở đây có nhà nghỉ trọ qua đêm không chú.

- Cô từ xa đến ?

- Dạ, cháu về dạy học ở trường phổ thông trung học nơi đây.

Ai mà chẳng biết, ở những thị trấn nghèo và dân cư thưa thớt như thế này thì chỉ có một trường trung học công lập.

- Tôi đưa cô đến đó để người ta sắp xếp, việc gì phải nghỉ nhà trọ, nhà trọ ở đây bẩn lắm cô giáo à, toàn là con buôn trọ thôi.

Lần đầu tiên được gọi là cô giáo, Thu thẹn ửng má, cô đưa tay vuốt vuốt mái tóc loà xoà của mình, còn đang chần chừ thì ông tài xế đã giục :

- Lên xe đi, tới đó không ai lo thì tới chỗ trọ cũng đâu muộn.

Nghe có lý, Thu lên xe. Ông tài xế vui vẻ chuyện trò :

- Trước đây tôi cũng dạy học.

- Sao không tiếp tục hả chú hay là chú đang “ tăng gia “ thêm ?

- Tôi nghỉ dạy lâu rồi cô ạ, thời bao cấp kia. Hồi đó, khó khăn lắm, đâu được như bây giờ.

- Cháu có nghe, nhưng nhiều người vẫn bám trụ được mà chú.

- Cô nói đúng, bởi nhà họ khá. Còn tôi, khi có đứa con thứ hai thì đuối, nhà vợ giàu có, vợ tôi không quen cảnh túng thiếu nên cứ nằng nặc bảo tôi kiếm công việc khác.

Xe dừng lại trước cổng trường, ông không bóp còi mà xuống xe bấm chuông. Không đúng như Thu dự đoán, ông gác dan ôm đồm :

- Phải cô Thu không.

- Dạ cháu đây ạ.

- Thầy hiệu trưởng dặn tôi khi nào cô đến thì gọi điện cho thầy. Cô vào đây.

Vừa nói ông vừa đỡ cái xách nặng trĩu trên tay Thu, Thu quay lại cảm ơn ông tài xế nhiệt tình, ông vẫy tay chào trước khi cho xe lao đi.

- Cô dùng trà ?

- Cho cháu xin cốc nước lọc thôi ạ, uống trà ban đêm cháu không ngủ được. Hơn nữa bụng trống hoác chưa ăn gì, uống trà say chết.

Ông gác dan nhìn quanh quẩn, ánh mắt ông báo cho Thu biết là chỗ ông không có gì để đãi khách. Thu đưa mắt tinh nghịch nhìn ông thông cảm. Có tiếng xe máy nổ bong bong ngoài sân, ông gác dan ngồi yên một chỗ chỉ ngoái đầu ra cười. Thu biết đó không phải là thầy hiệu trưởng nhưng Thu vẫn đứng dậy gật đầu chào người trung niên mới vào.

- Đây là thầy Song, dạy hoá. Còn đây là cô Thu, mới đến.

Ông gác dan làm cử chỉ đẹp. Song đưa tay bắt tay cô thật lâu :

- Cô đi đường có mệt không ?

- Dạ, chút xíu.

- Đường xá ở đây còn khiêm tốn lắm cô ạ.

Song quay sang ông gác dan :

- Anh giúp cột hành lý của cô giáo lên xe tôi. Tôi đưa cô ấy về cư xá.

Rồi Song quay sang Thu :

- Thầy hiệu trưởng đã bố trí cô ở đó cùng phòng với một cô giáo còn độc thân.

Song bắt tay tạm biệt ông gác dan : “ Đi nghe anh. “ rồi quay sang Thu, Song nhỏ nhẹ : “ Ta đi thôi “, và Song đi trước. Ông gác dan chợt nhớ ra điều gì, vói vọng theo : “ Cô giáo chưa ăn gì đâu đó thầy Song “. Rồi ông cao giọng sành điệu : “ Quán Phở bà Lúc giờ này chắc còn “. Song cười, cho xe vút đi.

Bên bát phở nghi ngút khói, Song ôn tồn :

- Nghe nói cô ở trên tỉnh sao lại xuống đây, trên đó điều kiện sống không tốt hơn à ?

- Có đấy thầy ạ, nhưng xin vào trường có tiếng tăm một chút thì chẳng dễ tí nào. Em không có khả năng…

- Gọi bằng anh thôi, cho thân thiện cô ạ, chữ thầy thiêng lắm chỉ dành cho học trò. Tôi không “ đứng đắn “ đến độ cô phải gọi thế đâu.

- Nhưng…

Song đã hiểu sai từ này :

- Tôi năm nay ba mốt, chắc chỉ hơn cô vài tuổi…

Thu không trả lời trực diện câu hỏi của Song :

- Chắc nhà thầy gần đây..

- Nữa, đã bảo…

- Em quên

- Cũng gần cô ạ.

Song lấp lửng. Khi quán chẳng còn ai, hai người ra về. Song dừng xe trước dãy nhà liền kề cấp bốn, đây là chung cư của các thầy cô giáo. Trước hàng hiên nhà nào cũng có vài chậu hoa lan. Mấy giò kim điệp đang hoa đung đưa theo gió, màu vàng của nó trở nên sáng loáng dưới ánh đèn điện. Đẹp quá. Chẳng hàng rào, chẳng cổng kín, hoa cứ phơi phới đua sắc đua hương mà chẳng ai lấy cắp. Một khái niệm đẹp về cư dân nơi này vừa đến với Thu, chả bù nhà ở phố rào sắt bưng bít trước sau, không tù túng mới là chuyện lạ.

Thu được bạn chung phòng đón trước cửa, đó là cô gái Stiêng, nước da ngăm ngăm, thân hình đầy đặn. “ Không việc gì phải nhận xét vội “, hai người cười với nhau. Cô gái giúp Thu mang hành lý vào nhà. Cô vồn vã :

- Bạn ăn cơm chưa, mình dọn.

- Dạ cảm ơn chị, em ăn rồi, thầy Song vừa mời phở.

- Bữa nay anh Song hào phóng quá ta.

- Này này, quên đi nghe cô giáo, khi trước tôi cũng đón cô, cô nhớ tôi mời cô ăn gì nào ?”.

- Lâu quá, em quên mất rồi

- Tội tui chớ, Lam.

Rồi Song bâng quơ không biết với ai :

- Bên phòng tôi có sẵn nước nóng, qua lấy về tắm, khỏi phải nấu.

Thì ra Song cũng ở nơi này, Thu vui lên vì có bạn, ít nhất thì hai người cũng đã ngồi chuyện trò với nhau khá lâu. Trong lúc hai chị em loay hoay sắp xếp đồ đạc thì Song ra về lúc nào không biết. Khi cánh tủ áo ọt ẹp kịp đóng lại cũng là lúc Song xách vào một xô nước nóng hôi hổi.

- Nóng lắm đấy, pha nước thêm vào.

- Phiền thầy quá.

- Lại nữa…điện nấu chớ tui có nấu đâu.

Thu lí nhí cảm ơn.

Hai năm làm cô giáo ở thị trấn bé nhỏ này tưởng đâu phải gian lao vất vả lắm, tưởng đâu thiếu thốn lắm, ngược lại, Thu được nhiều cái hơn mình tưởng. Tình người. Đó là cái quý nhất, giàu sang cũng không mua được. Kế đến là lòng thơm thảo, từ lễ to lễ nhỏ của họ tộc, thầy cô giáo nào được mời thì cũng được ngồi chiếu trên, cùng mâm với trưởng làng, trưởng bản. Hết gạo, hết mắm có phụ huynh học sinh giúp đỡ, thường thì biếu tặng. Có bó rau ngon họ cũng mang đến, có trái cây đầu mùa nào mà Thu và các thầy cô giáo ở đây không được ăn. Người ta biếu tặng thầy cô giáo một cách tự nguyện, chẳng phải để nhờ cậy gì. Hai ba giờ khuya đi chợ, tiện đường, họ để lên thềm nhà cô giáo vài thứ nông sản hay con cá được móc cẩn thận trên song cửa. Thu làm sao biết ai tặng cho mình, còn người cho cũng đâu cần thầy cô giáo phải biết họ là ai. Không muốn nhận cũng không thể. Cứ thế, ân tình càng ngày càng sâu, Thu chưa bao giờ có ý nghĩ rời xa nơi này. Hai năm qua, Thu đã nhận quá nhiều sự chăm sóc của Song. Song chưa bao giờ ngỏ lời yêu cô cả, nhưng ánh mắt Song đã nói hết những lời say đắm đó. Thu không dám so sánh Song với người ta, chỉ thoáng lơ mơ là Song chân thành và hay giúp đỡ người khác. Từ chuyện chăm sóc giò hoa, vun xới dây trầu cho tới chuyện leo lên nóc nhà lợp lại mái dột cho gia đình neo đơn nào đó đâu phải là chuyện hiếm gặp. Song là vậy, vui vẻ, hoà đồng, có chút mặc cảm tự ti. Gia đình Song nghèo, ở cái quê cũng nghèo, trời hành vài cơn bão mỗi năm sao mà không nghèo được. Song còn mẹ già ở đó, Song từng tâm sự với Thu : “ Anh năn nỉ hoài mà mẹ anh chẳng chịu lên đây. Đã vậy, bà còn nói : Tao ở nhà, có chị mày qua lại là được rồi, mồ mả tổ tiên ở đây cả mà mày bảo tao đi đâu. Cứ bay nhảy chán đi, khi nào thích thì về. “.

Quê Song nghe nói ở xa lắm, cách một tết Song mới về thăm mẹ một lần. Năm nay Song rủ Thu cùng về quê anh ăn tết nhưng Thu chưa nhận lời. Khác Song, Thu năm nào cũng đón giao thừa ở quê, không về một lần chắc mẹ cũng không trách mắng, chỉ cần gọi điện thoại báo cho bà là được. Thu nghĩ vậy.

Những ngày cuối năm nơi này thật nhộn nhịp, lúa được mùa, được giá, người dân thi nhau sắm sửa hẹn đón cái tết thật linh đình. Ai cũng bảo :” Nhớ đến cô giáo nhé, ngày nào cũng được, chẳng phải kiêng cữ gì đâu. “. Thu vâng dạ cho xong chuyện để khỏi phật lòng người ta, cô cũng không quên rào trước đón sau : “ Nếu cháu về quê, thì hẹn bác sang năm vậy nhé. “

Ai cũng lo sắp xếp hành trang cho cuộc trở về, Thu cũng thế. Đang loay hoay với đủ thứ quà biếu của phụ huynh học sinh thì nghe Lam to nhỏ với ai đó ngoài hiên : “ Chú tìm Thu hả, nó ở trong nhà. “. Người ta đến tìm Thu, xin Thu tha lỗi cho người ta đã không vì Thu mà hết lòng, hết dạ. Người ta có nỗi khổ tâm riêng. Người ta vin ra nhiều lý lẽ để bào chữa cho hành vi sai trái của mình. Người ta tha thiết mời Thu về thành phố ăn tết với người ta, mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả thôi nếu Thu đồng ý. Thu đang phân vân chưa biết chọn câu trả lời nào thích hợp nhất mà không làm người ta cảm thấy khó chịu thì Song đến. Song hớn hở bắt tay người ta, càng hớn hở hơn khi nghe Thu bảo :

- Anh nhớ lấy vé xe cho em luôn nhé.

- Không thay đổi chứ ?

Thu gật đầu dứt khoát.

Phía bên kia sông nắng thật đẹp, cánh đồng lúa xanh mơn mởn thoả thích rì rào, đôi cò trắng vỗ cánh bay tít về tận chân trời. Người ta đưa mắt nhìn về xa xôi. Một cánh én làm sao nên được mùa xuân.

__________________________________  

 
Kim Kỳ sưu tầm
 
Xem thêm...

Truyện Ngắn: Cuộc tình không hẹn

Cuộc tình không hẹn

Truyện Ngắn của Quỳnh Dao

Hình minh họa

Có một tiệm bán hoa nọ thật lớn ở đường Trung Sơn Bắc. Tiệm bày la liệt những loại hoa quí, chậu kiểng và hòn non bộ. Chủ tiệm là ông già họ Trương đầy nghệ sĩ tính và khôi hài. Ông ta mở tiệm không phải để kiếm lời như thiên hạ mà là để thưởng thức hoa và chiêm ngưỡng khách mua hoa. Hàng ngày, ông ngồi chết trong tiệm để thực hiện cái mục đích đó.

Hôm ấy là mùa đông. Mưa bay lất phất. Khí lạnh làm tê cả da người. Đường sá vắng tanh. Suốt ngày ông Trương chỉ ngồi co rút một mình, không bán được một đóa hoa. Mãi đến lúc trời nhá nhem tối, ông mới thấy một cô gái từ hẻm cạnh nhà đi ra, vẻ mặt buồn buồn. Người con gái này quá ư quen thuộc. Nàng ngày nào cũng đến trước tiệm ông chờ xe bus. Sáng đi chiều về. Ăn cơm tối xong đi mãi đến khuya mới về lại. Ông Trương có cảm tình đặc biệt với nàng, không hiểu vì lý do gì. Rất có thể vì nét mặt nhu mì, dễ thương cũng có thể nhờ cái dáng trầm lặng phảng phất buồn và mái tóc đen mượt. Ông thường ví nàng như một đóa hồng vàng. Hoa hồng nào ông cũng thích, nhưng hoa đỏ quá sặc sỡ không giống nàng mấy. Hoa vàng tao nhã, có một vẻ đẹp chiều sâu và quí phái mới giống nàng được.

Gia đình nàng có lẽ nghèo lắm, chỉ cần nhìn cách ăn mặc cũng đủ biết. Trời lạnh buốt thế này mà chỉ mặc chiếc áo lông trắng và cái robe ngắn màu xanh lợt. Hai má và mũi đỏ lên vì lạnh. Những bước đi thật khoan thai và dịu dàng chứng tỏ nàng chẳng hề biết lạnh. Thân hình thon nhỏ và mái tóc bay bay trong gió trông càng đẹp, dễ thương vô cùng. Ông Trương rất thích mẫu người này, mẫu người giống con gái ông hiện còn ở lại Trung Hoa Lục Địa.

Chiều nay khi đi qua tiệm, nàng dừng lại ngắm hoa. Cặp mắt đen sáng ấy bỗng nhiên mờ đi như bị mây hay sương mù che khuất. Nàng cúi xuống thở ra thật nhẹ Tại sao nàng buồn? Thích một đóa hoa mà không có tiền mua ư? Ông Trương đứng dậy, tiếng khua động cái ghế làm nàng bỏ đi lập tức.

Mưa vẫn rơi nhè nhẹ. Không gian lờ mờ. Trời về đêm càng buồn, nhất là buôn bán ế. Ông Trương đi tưới nước hoa, cắt tỉa lá héo rồi lấy cái lọ cắm màu đen và một bó hồng vàng. Hai màu sắc này hòa hợp có một ý vị kín đáo và tình tứ lạ thường. Vừa cắm, ông vừa nghĩ đến người con gái tiều tụy và cô độc ấy.

Hình minh họa

Tiếng chuông cửa reo lên, ông Trương mừng rỡ. Có được một người khách đến mua hoa lúc này thì còn gì quý bằng. Ngước đầu lên, ông thấy một thanh niên cao gầy đang đẩy cánh cửa, do dự nửa muốn vào, nửa muốn không. Ông liền đứng dậy, tươi cười đón khách:

- Cậu mua hoa à? Mời cậu vào xem.

Người thanh niên tần ngần, một lúc sau mới bước vào. Chàng ta trạc độ 22, 23 tuổi. Mái tóc đen rối bù lấm tấm những hạt nước mưa. Đôi mắt lớn nổi bật dưới hai hàng lông mày đậm. Gương mặt sáng láng, lanh lợi, nhưng đượm vẻ buồn và chứa chút ngạo nghễ, bướng bỉnh. Chàng khoác chiếc áo blouson màu cà phê, tay và cổ đã bị sờn. Chiếc quần cao bồi bó sát cặp chân dài đã ngả thành màu trắng. Đôi giày rách đầy bụi và sình. Trông chàng rất bụi đời và có một tâm trạng lo lắng. Chàng đảo mắt nhìn các loại hoa rồi ngập ngừng:

- Cháu muốn một ít... một ít hoa.

Ông Trương nhỏ nhẹ:

- Cậu thích loại nào ạ?

Chàng nhíu mày rồi mím môi quan sát, đoạn nhún vai đáp:

- Cháu cũng không biết nữa!

- Thôi vầy nhé, cậu cho tôi biết mua hoa để làm gì: cắm bình, trồng vào chậu hay làm quà cho người khác?

- Dạ, làm quà.

Nhìn vẻ mặt bối rối đầy lo lắng, ông Trương đoán có lẽ người thân chàng đang nằm bệnh viện nên hỏi:

- Làm quà cho bệnh nhân à? Nếu vậy thì cậu nên mua hoa bách hiệp, nếu không thì hoa lan, cúc, vạn thọ, hoa mã đề, thái dương...

Cặp mắt đen chớp lia lịa nhìn quanh phòng:

- Không phải thế, để cháu suy nghĩ đã.

Nhìn bình hồng vàng mà ông Trương vừa cắm, chàng vui hẳn lên như vừa tìm thấy một chân trời mới, liền reo to:

- Đúng rồi, hoa hồng vàng. Chỉ có hoa vàng mới hợp với nàng được. Cháu muốn mua một ít hồng vàng. Mỗi ngày bác có thể để cho cháu một bó được không?

- Mỗi ngày à?

Ông Trương thích thú nhìn chàng. Vẻ mặt ấy bây giờ không còn một chút buồn mà tràn đầy tươi vui và hy vọng.

- Thưa cậu, chuyện gì chứ chuyện ấy thì quá dễ.

- Nhưng thế phải trả bao nhiêu tiền mỗi ngày? Cháu xin gởi trước nhé.

Thái độ và giọng nói chàng có vẻ khinh thường tiền bạc. Chàng thọc tay vào túi áo blouson lấy ra cái bóp đã rách và xẹp lép.

- Cậu vui lòng cho tôi biết mỗi bó cần bao nhiêu hoa?

- Dạ, hai mươi hoa.

Nhìn cái bóp nghèo nàn ấy, ông Trương hồ nghi:

- Hai mươi hoa? Tiền tính từng hoa, mỗi hoa là ba...

Ông liếc chàng rồi hạ giá:

- Một hoa hai đồng.

Chàng giật mình như bị kim chích:

- Bác nói sao? Một hoa hai đồng à? Như vậy, hai mươi hoa là bốn mươi đồng, một tháng phải mất những một ngàn hai! Cháu chưa mua hoa bao giờ, không ngờ mắc như vậy. Cháu không mua nổi!

Chàng bỏ bóp vào túi, vẻ buồn khi nãy trở lại trên mặt làm cặp mắt u buồn. Chàng ra đến cửa, quay đầu lại nói:

- Xin lỗi, cháu đã làm phiền bác nhiều!

Ông Trương vội gọi:

- Khoan đã cậu.

Chàng dừng lại.

- Cần gì mỗi ngày cậu phải mua hai mươi hoa như vậy?

Ông Trương cũng không hiểu tại sao mình có thái độ vồn vã ấy. Có thể vì trời mưa buồn vắng khách, cũng có thể bởi cái tính thật thà của chàng làm cảm động lòng ông. Bởi vậy, ông quyết định giúp chàng phen này dù lỗ cũng được.

- Cậu chỉ cần mua mười hoa đủ rồi. Làm quà đâu cần số lượng, chỉ cần mình có lòng là được.

Chàng đưa tay vuốt nhẹ mái tóc bù nhìn thẳng vào mặt ông:

- Nhưng mà... nhưng mà... cháu vẫn không đủ tiền để mua mười đóa như bác đề nghị.

- Cậu có được bao nhiêu tiền để mua?

Chàng lấy cái bóp ra lần nữa, đếm đi đếm lại một lát:

- Cháu chỉ có 320 đồng!

320 đồng! Nó cần phải để lại một ít để đi xe hay dùng vào việc cần thiết khác. Ông quay sang nhìn bình hoa. Mấy ai có thể định được giá hoa. Hoa nở kịp thời thật là vô giá. Ngàn vàng chưa mua được một đóa. Kẻ nào trị giá hoa bằng tiền thì kẻ ấy không còn biết giá trị của hoa. Tuy nhiên một khi hoa héo thì chẳng ai thèm bỏ tiền ra để mua, dù với một giá rẻ ế như cho chăng nữa. Giá trị của hoa thay đổi theo thời gian. Bởi vậy ta tạm cho là hoa héo đi để cậu ta còn mua được hầu làm một món quà vừa ý. Ông quyết định:

- Tôi chỉ lấy cậu 250 đồng thôi, để cậu còn chút ít mà tiêu dùng. Mỗi ngày tôi sẽ bao sẵn cho cậu mười đóa. Hôm nay bắt đầu lấy chưa?

Chàng mừng quýnh lên:

- Ô, bác bán cho cháu 250 đồng sao?

- Vâng! Cậu muốn loại hoa nào, còn búp, vừa hé nở hay nở lớn?

Chàng vẫn ngờ là mình nghe lầm:

- Ồ... Cháu...

Cuối cùng, chàng mới nói được:

- Cháu muốn loại hoa vừa nở vài cánh.

Ông Trương vừa lựa hoa vừa nói:

- Loại ấy đẹp lắm, để tôi bao cẩn thận cho cậu nhé.

Bỗng nhiên chàng lại cản:

- Ồ, thưa bác chờ chút đã!

Ông Trương ngạc nhiên:

- Sao, còn chê nữa à?

Mặt chàng đỏ lên vì thẹn:

- Dạ, không phải... Cháu... cháu nhờ bác trao hoa giùm?

- Trao hoa giùm cậu?

Ông Trương lộ vẻ không mấy hài lòng. Mặc dù ông vẫn nuôi sẵn vài người để đưa hoa hộ cho khách hàng, nhưng ai cũng nhờ như thế thì phiền phức quá! Thấy ông lưỡng lự, chàng vội trấn an!

- Thưa bác, trao hoa không xa đâu. Căn nhà 43/5 ở hẻm bên cạnh đây mà. À mà không, số 43/3 chứ không phải 43/5, tặng cho một cô gái...

Ông Trương đã hiểu. Trong trí ông hiện lên hình bóng người con gái nhu mì dịu dàng ấy với cặp mắt mơ mơ buồn... Hoa hồng vàng! Chàng thanh niên này biết chọn hoa và có ý nghĩ phù hợp với ông lạ! Không nén được xúc động, ông Trương tươi hẳn lên, mở to mắt nhìn chàng. Trong cái bảnh trai của chàng ta có chút bướng bỉnh. Trong cái tính ngay thẳng chứa đựng sự ngạo nghễ, nhiệt tình lẫn liều lĩnh và e thẹn của kẻ còn non sữa. Ông chịu chàng hết mình. Chàng và nàng thật là xứng đôi vừa lứa. Quân tử lúc nào cũng sẵn sàng giúp người. Vài bước đi là mấy!

- À à, tôi biết rồi. Cô bé có mái tóc đen thật dài và con mắt lớn đó chứ gì? Cô ta thường đi ngang qua tiệm tôi lắm.

Chàng mừng rỡ:

- Dạ, đúng rồi, chính nàng đó. Bác bằng lòng giúp cháu?

Ông gật đầu:

- Được, được mà. Cậu muốn tôi hằng ngày đem qua lúc nào?

- Thưa bác, buổi tối. À mà không, tối nàng đi làm. Thôi sáng đi, mỗi sáng bác nhớ giúp giùm cháu.

- Vâng, mỗi sáng tôi sẽ giúp cậu. Vậy thì ngày mai bắt đầu chứ gì?

Chàng trả tiền:

- Dạ, xin phiền bác!

Ông Trương nhắc:

- Cậu nên viết vài chữ trên danh thiếp gởi cho nàng chớ?

Chàng tươi cười:

- Dạ, nhờ bác, suýt nữa cháu quên mất!

Chàng đưa tay vuốt tóc, ngồi xuống nhìn tấm danh thiếp ông Trương đưa. Suy nghĩ một lát, chàng bắt đầu viết:

Hoa thơm vài đóa

Chúc cô vui nhiều

Một người chưa quen ái mộ cô.

Nghê Quán Quần

Thân tặng

Chàng đứng dậy đưa tấm danh thiêp cho ông Trương:

- Thưa bác, như thế là đủ lắm rồi?

Thì ra, chàng chưa hề quen với cô bé ấy. Thật là thằng con trai lố bịch và bướng bỉnh quá:

- Mỗi ngày đều viết y thế này sao?

- Dạ!

Ông Trương nhìn thẳng vào mặt chàng:

- Thôi được, chúc cậu sớm thành công!

Chàng cười. Màu đỏ của thẹn thùng nhuộm đỏ hai má. Chàng cúi đầu chào rồi quay mặt đẩy cửa đi ra, bước vào giữa mưa và gió lạnh. Ông Trương tiễn chàng cho đến khi khuất mới vào. Đứng tựa quầy hàng, ông lắc đầu rồi mỉm cười. Lòng ông cảm thấy lâng lâng vui và ấm áp. Một lúc sau, ông đi lựa mười đóa hồng vàng đẹp nhất đưa lên nhìn. Thấy có vẻ ít quá, ông thêm vào hai đóa nữa rồi lại cười đắc ý. Ông lấy sợi dây vàng, buộc tấm danh thiếp vào bó hoa thật chặt, không quên thắt thêm một cái nơ hình con bướm. Ông đi lấy cái bình không đổ đầy nước rồi ngâm hoa vào đó. Sớm mai, công việc đầu tiên là phải đưa bó hoa nầy đi. Lùi ra sau ba bước, ông gật gù:

- Nhớ nhé, phải gắng thi hành xong nhiệm vụ. Mi ra đi tức mang theo quả tim của người con trai đang muốn được yêu.

Lại một ngày mưa! Du Lâm ngồi dậy, bước xuống giường nhìn mưa bay bay qua khung cửa sổ. Mưa dai dẳng thế này đến bao giờ cho dứt! Nàng thở ra thật dài. Mưa cứ mãi lất phất. Gió rít không ngừng. Thế mà sáng nào cũng phải cắp sách đến trường tối lại đi làm thì còn gì buồn bằng. Thêm vào đó, bầu không khí gia đình không mấy yên vui. Mẹ đau nằm một chỗ, bài vở nhiều không có thì giờ học, công việc làm ăn không mấy vừa ý... Và, bác Lâm, cái ông khỉ đó nữa!

Nàng lắc đầu thật mạnh, muốn xua đuổi hết ý tưởng buồn trong lòng. Cuộc đời là một chuỗi ngày phiền não không làm sao tránh được. Sáng nay có giờ học, đừng đến trễ thì kỳ lắm. Nàng hấp tấp sửa soạn bữa điểm tâm. Mẹ nàng đã thức dậy, từ phòng ngủ mệt mỏi đi ra. Trời trở mưa và gió nên chứng bịnh phong thấp của bà phát nặng, không thể đứng thẳng người được!

Ngồi vào bàn ăn, bà nhìn con lo lắng:

- Tối qua, ông Lâm đến thăm gia đình mình đó con.

Nàng hỏi lại:

- Bác Lâm hả mẹ?

- Lâm, mẹ biết con không thích chuyện này, nhưng theo mẹ thì nên lấy ông ta đi con.

Nàng sụp mắt:

- Thưa mẹ!

- Từ khi cha con chết, cuộc sống mẹ con mình khốn đốn vô cùng. Con vất vả chạy ngược xuôi mà tiền chẳng thấm vào đâu với nhu cầu chi tiêu cần thiết. Mẹ lại bệnh hoạn hoài. Thấy con khổ, mẹ đau lòng vô cùng. Bởi vậy con nên bằng lòng làm vợ ông ta đi. Tuổi ông ta có lớn, nhưng được cái tính thật thà...

Lâm cướp lời mẹ:

- Thưa mẹ, bác Lâm không phải là mẫu người đàn ông con thích. Mẹ con mình gắng chịu khổ, chờ con tốt nghiệp đại học...

- Con lại nói khùng nữa rồi. Còn hai năm nữa mới tốt nghiệp đại học, chừng ấy chắc gì mẹ còn sống để hưởng hạnh phúc đó?

Du Lâm buồn bã nhìn mẹ Nàng rất sợ phải nghe những lời ấy của mẹ:

- Đừng nói vậy mẹ, để cho con thời gian suy nghĩ kỹ đã.

- Con suy nghĩ một năm rồi đâu phải chưa?

- Cho con một khoảng thời gian nữa đi mẹ.

Bà rưng rưng nước mắt:

- Con à! Mẹ nào muốn ép uổng con, nhưng mà hoàn cảnh gia đình mình thật đơn chiếc, túng thiếu. Con gái trước sau gì cũng phải lấy chồng, có được một tấm chồng như ông Lâm sẽ được hạnh phúc, khỏi lo lắng khổ sở. Bây giờ không yêu, mai mốt sống với nhau lâu ngày sẽ yêu, có gì đâu mà suy nghĩ? Đừng kén chọn lắm vậy con. Ông Lâm có chỗ nào xấu, đáng chê đâu.

- Con có nói với mẹ ông ta là người xấu bao giờ đâu. Con chỉ nói rằng mẫu người đàn ông trong mộng không phải là ông.

Bà mỉa mai:

- Hứ, mẫu người trong mộng! Đó là một thằng thanh niên bảnh trai, dũng cảm ngồi trên ngựa trắng đến tặng cho con một bông hồng chứ gì?

- Có lẽ như vậy đó mẹ!

- Thôi, con gái của mẹ đừng có mơ mộng khùng như vậy nữa! Con nên nhớ rằng mình đang sống trong xã hội loài người với những thực tế tranh giành từng chén cơm manh áo thì mộng mơ chỉ là những viễn vông vô ích. Mẹ đồng ý với con rằng làm người ai cũng mộng mơ, nhưng mộng mơ có bao giờ trở thành sự thật đâu?

Nàng thở ra, đứng dậy lấy sách vở trên bàn:

- Con phải đi học kẻo trễ giờ, khi về mẹ con mình sẽ bàn tiếp.

Tiếng chuông reo to. Mẹ nàng vội vàng vào phòng và dặn:

- Nếu ai đòi nợ, nói với họ là mẹ vắng nhà nhé.

Lâm lắc đầu, miễn cưỡng đến cửa. Trong trí đang chuẩn bị phải nói thế nào để chủ nợ chịu hoãn lại vài hôm. Kéo cửa ra, nàng ngơ ngác!

Người đứng bên ngoài không phải kẻ đến đòi nợ mà là ông Trương, với bó hồng trên tay và gương mặt đầy vui vẻ. Nàng thấy lạ:

- Thưa ông hỏi ai ạ?

- Tôi là chủ tiệm bán hoa. Có người khách hàng nhờ tôi mang bó hoa đến tặng nhà này.

- Nhưng... nhưng mà, tặng ai vậy, thưa ông?

- Tặng cho cô đó.

Nàng nghi ngờ:

- Có lẽ ông chủ đã lộn nhà?

Mặt ông Trương càng tươi hơn:

- Làm gì lộn được. Người khách ấy nói rõ ràng lắm.

Nàng cụt hứng, nghĩ thầm:

- Như vậy là cái thằng cha già Lâm mắc dịch này chứ còn ai. Thật đúng là già dê học đòi chơi mode trẻ con!

Nàng tiếp bó hoa và hỏi:

- Thưa ông, phải người khách ấy có dáng mập mạp không ạ?

- Ô, không phải đâu, đó là một thanh niên trẻ khá bảnh trai. Tôi đoán chắc là sinh viên.

Ông Trương quay đi, không cần để ý đến sự phản ứng của Lâm. Nàng phân vân nhìn bó hoa rồi lấy tấm danh thiếp lên xem:

Hoa thơm vài đóa

Chúc cô vui nhiều

Một người chưa quen ái mộ cô.

Nghê Quán Quần

Thân tặng.

- Trời mới biết Nghê Quán Quần là ai?

Mẹ nàng ló đầu ra hỏi:

- Ai vậy con?

- Có người gởi tặng con bó hồng vàng.

- Người ấy là ai?

- Con không biết nữa! Con đâu có quen biết gì họ.

Nàng đi lấy bình cắm và thầm nghĩ:

- Có lẽ người trong mộng xuất hiện không chừng!

Đổ nước vào bình rồi cắm hoa. Những ý tưởng mộng mơ nối tiếp trong lòng đã nhuộm má nàng đỏ hồng, má nàng trông dễ thương và đẹp.

Một bó hồng đột ngột mang đến như muôn ngàn câu nói tình tự, kín đáo làm cho nàng suốt ngày bần thần nghĩ ngợi. Người sinh viên ấy ở đâu lại để ý đến mình? Bạn học hay một lần nào đó gặp trên đường đi, trên xe bus? Mà sao chàng biết nhà mình? Có lẽ hỏi thăm người trong xóm hay theo dõi không chừng. Có lẽ thế này, có lẽ thế nọ, hàng trăm cái có lẽ lờn vờn trong trí nàng suốt ngày. Thế rồi hôm sau, thêm một bó hồng nữa. Tâm hồn nàng càng trở nên rối loạn vô cùng. Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm... từng bó, từng bó kế tiếp đến tay nàng. Khắp nhà lúc nào cũng ngào ngạt mùi thơm. Thấy vậy, mẹ nàng nghiêm nghị bảo:

- Con nói thật với mẹ đi. Nghê Quán Quần có phải là bồ của con không. Vì nó mà con không bằng lòng lấy ông Lâm chứ gì?

- Thưa mẹ, con đã nói là không hề biết người này. Người ta đã viết trên tấm danh thiếp như vây mẹ còn không tin sao?

- Biết đâu đó là mánh lới của con và nó để che mắt mẹ.

Nàng phân trần:

- Con đã nói không biết thật mà!

- Người ta đã tặng hoa một tuần rồi mà chưa ra mặt cho con biết sao?

- Dạ chưa.

- Nếu vậy thì chắc thằng này bị bịnh thần kinh rồi. Con nên cẩn thận đó nhé. Con người mang chứng bịnh ấy thì ai có thể đoán biết việc làm của họ được!

Du Lâm im lặng, quay đầu nhìn bình hoa trên bàn - Bịnh thần kinh! Dám người này mang chứng bịnh đó lắm. Tuy nhiên, nàng mong mỏi được quen biết người đó.

Nửa tháng trôi qua, ngày nào Lâm cũng nhận được một bó hồng. Niềm vui của nàng bây giờ là mỗi sáng nhận được một bó hồng, chỉ mong có thế. Cứ mỗi sáng thức dậy nàng hồi hợp chờ tiếng chuông reo. Sợ rằng, một ngày nào đó, chuông không reo nữa, hoa hồng không còn xuất hiện. Nàng không sợ người tặng hoa mắc bệnh thần kinh mà chỉ sợ hoa không còn đến. Tính tình nàng cũng đã thay đổi nhiều: mỉm cười một cách vô cớ, làm việc gì thì hỏng việc ấy. Ca hát vu vơ và ngớ ngẩn vô cùng. Sự thay đổi đó không tránh được cặp mắt tò mò của mẹ.

- Coi bộ trên mấy bó hồng có mang vi khuẩn của bịnh thần kinh. Mẹ sợ con đã bị lây bịnh thần kinh rồi!

Hoa hồng chẳng những làm mẹ con Du Lâm lo lắng ăn không ngon, ngủ không yên mà còn làm cho ông Lâm lo sợ.

- Theo tôi những việc lạ lùng thế này không phải là việc lành đâu, nên báo cho cảnh sát biết để họ còn có cách ngăn chận.

Nàng vội cản:

- Việc ấy chẳng quan hệ gì đến bác. Hơn nữa, cháu thiết tưởng rằng chẳng có gì phải đáng lo cả.

Ông nheo mắt:

- Cô nói sao? Không có việc gì đáng lo à? Bộ cô không sợ hả?

Mắt nàng sáng lên. Mặt đỏ hồng thật dễ mến:

- Sợ à? Ai lại đi sợ những đóa hoa đẹp đẽ ấy?

Nàng lại cười lớn. Tiếng cười tưởng chừng những mũi tên đang bắn vào tim ông già Lâm. Ông ta biết thân phận mình không thể sánh được với bình hoa ấy nên đàng lặng thinh!

Hai mươi ngày rồi, người tặng hoa cũng chẳng hề biết. Lâm không còn chịu nổi nên đến tiệm ông Trương rụt rè đẩy cánh cửa bước vào.

Đứng giữa rừng hoa thơm ngát, nàng e ngại hỏi:

- Dạ, tôi có tí việc định hỏi ông chủ.

- Có việc gì xin cô cứ tự nhiên.

Ông ngắm nghía nàng lộ vẻ đắc ý rồi nghĩ thầm:

Hoa hồng thật hiệu nghiệm hết sức. Chúng đã nhuộm đỏ hai má và làm sáng cặp mắt nàng. Gương mặt cũng mất đi nét u buồn xa vắng. Thật thuốc tiên cũng không bằng mà!

Lâm khẽ hỏi:

- Ông thường mang hoa đến nhà tôi?

- Vâng, việc này tôi biết!

- Ông có thể cho tôi biết địa chỉ người mua hoa không?

Ông Trương thành thật:

- Xin lỗi cô, tôi không biết địa chỉ cậu ta ở đâu nữa! Cậu ấy đặt mua hoa hồng trong một tháng, trả tiền trước. Mãi đến hôm nay, tôi vẫn chưa thấy trở lại.

Nhìn thấy vẻ thất vọng trên gương mặt dễ thương ấy, ông bèn an ủi:

- Nhưng theo tôi, thế nào cậu ấy cũng trở lại sau khi những bó hoa nầy giao hết.

Nàng e lệ:

- Khi nào... khi nào cậu ấy đến, ông làm ơn... làm ơn...

Ông Trương tươi cười ngắt lời:

- Tôi biết mà. Tôi sẽ bảo cậu ấy một mình đem hoa đến nhà cô.

Mặt nàng đỏ lên, quay đầu lại chạy nhanh ra cửa. Ông Trương nhìn theo cười mãn nguyện. Nàng vội vã đi trong gió rét, mặt nóng ran lên. Bây giờ là ban đêm, nàng phải đến trạm xe bus để đi làm. Nhìn đám người cho xe, rất có thể là người này, cũng có thể người kia! sao chàng không đến, nàng đã mong mỏi từ lâu rồi!

Một tháng trời trôi qua, ông Trương đã giao đến bó hoa cuối cùng. Suốt ngày, ông chỉ ngồi chờ chàng thanh niên ấy đến. Mãi cho đến một hôm chủ nhật thật đẹp trời, ông Trương ngồi mơ mộng viễn vông về chuyện tình của chàng thanh niên tặng hoa với người con gái được nhận. Bao giờ Quán Quần đến, ông sẽ nói rằng:

- Cậu cứ trực tiếp mang hoa đến tặng đi. Cô ta đang chờ cậu đó.

Ông muốn được mục kích thái độ của chàng khi nghe câu nói này. Xem thử chàng sẽ vui mừng đến mức nào. Sẽ hoảng lên hay giật mình? Trong trí ông lại hiện lên khuôn mặt của Quán Quần và Du Lâm. Thật hai đứa xứng đôi vừa lứa vô cùng!

Ông phải chuẩn bị cho thêm chàng một bó hồng vàng nữa mới được. Lần đầu tiên đến nhà người con gái chưa quen làm sao tránh khỏi sự bỡ ngỡ. Bó hồng ấy sẽ giúp chàng được tự nhiên hơn. Ông Trương chuẩn bị xong bó hoa theo ý nghĩ. Nhưng mà, chờ mãi từ sáng tới chiều, Nghê Quán Quần chẳng thấy tăm hơi gì đâu cả! Chẳng lẽ chàng quên mất cái vụ tặng hoa này sao? Hay là, đã chạy theo một cô gái khác đẹp và giàu sang hơn? Bao nhiêu hoài nghi thì bấy nhiêu thất vọng trong lòng ông không sao xua đuổi hết. Ông buồn chán thở ra, không biết ngày mai mình còn nên tiếp tục giao hoa như vậy nữa không.

Tối hôm đó, ông Trương đã hết hy vọng chàng thanh niên ấy đến. Tức và buồn, thêm vào đó trời mưa liên miên suốt ngày nên ông cảm thấy cuộc đời mình vô vị quá. Ông liền bảo mấy người giúp việc lo dọn dẹp đóng cửa vì trời u buồn và mưa hoài như vậy thì chẳng còn khách nào đến mua hoa nữa. Ông vừa định đóng cửa thì có bóng một người thanh niên từ bên kia đường vội vã băng qua vào tiệm. Đầu tóc chàng ướt cả nước. Ông Trương trố mắt:

- Ô, cậu đến đó hả?

Người ấy chính là Nghê Quán Quần. Cách phục sức của chàng vẫn giống như một tháng về trước, không có gì thay đổi. Chỉ khác một điều là trông chàng có vẻ giận dữ lắm. Chàng hung hăng hỏi:

- Cháu muốn đến hỏi bác là có trao hoa giùm không?

- Sao không? Không sót một ngày!

Chàng nhướng mày:

- Vậy bác đã giao ở đâu?

Ông Trương nhíu mày, hơi ngớ ngác:

- Cậu hỏi gì kỳ vậy? Thì tôi mang đến nhà cô gái mà cậu đã dặn đó.

- Cô nào? Bác đã trao cho cô nào mới được?

- Thì cô ở hẻm bên cạnh này chứ còn cô nào nữa. Dãy nhà bên phải đếm đầu hẻm đến căn thứ ba. Cô sinh viên có cặp mắt to và mái tóc đen dài đó.

Chàng dậm chân gào to:

- Trời ơi, sai hết ráo rồi! Cháu muốn tặng cô bé căn nhà thứ tư, tên là Ức Mai.

Ông Trương đứng sững. Đúng là trong hẻm đó có một cô gái ăn mặc lõa lồ, thường phơi của quí, làm vũ nữ. Có lắm ông lớn, sang mua hàng tá hoa đến tặng, và đón rước dài dài. Ức Mai, như vậy tên cô nàng là Ức Mai! Giá trước kia, ông biết tặng hoa cho người này thì ngàn vàng cũng không nhận. Bao nhiêu vui mừng khi nãy đã biến mất. Giọng ông nặng và đục:

- Cậu nói tôi giao sai à?

- Chớ còn gì nữa không sai? Hôm nay cháu gọi điện thoại, người ta bảo chẳng hề nhận hoa hòe gì cả làm mất mặt bầu cua hết!

Ông Trương lắc đầu lẩm bẩm:

- Nhưng mà, tôi quả quyết không thể nào sai chỗ được.

Quán Quần càng bực hơn:

- Bác nói thế có chắc không?

- Chắc chứ! Không tin, cậu cứ đến nhà tôi nói hỏi xem có nhận được hoa của cậu suốt tháng nay không?

Chàng nhớ lại những gì đã viết trên tấm danh thiếp rồi kêu trời:

- Trời ơi, thế mà còn ký tên nữa chứ! Sự lầm lẫn này thật tai hại quá! Cái nhà ấy sao cũng có con gái cho rắc rối thế này. Bác nói từ đầu hẻm, đếm vào căn thứ ba phải không? Phải đến giải thích vụ này mới được!

- Cô đó cảm ơn những bó hoa của cậu lắm. Theo tôi nghĩ, khi đến thanh minh vụ này, cậu nên mang thêm một bó hoa nữa để lúc nói chuyện được tự nhiên hơn. Cậu đừng lo chuyện tiền bạc, bó này tôi sẽ biếu cậu đó.

Chàng nhận bó hoa mà trong lòng chẳng vui tí nào. Cúi đầu chào ông Trương rồi quay ra cửa. Ông Trương dặn thêm:

- Cậu nên giải thích uyển chuyển một chút kẻo con gái mới lớn lên họ mắc cở đó nhé.

Quán Quần không cần để ý lời dặn dò ấy. Chàng chỉ mong đến gặp mau người con gái đó, giải thích chừng một hai câu là xong chuyện, không cần dài dòng vô ích. Chàng bước thật nhanh vào hẻm, đứng đếm đến căn nhà thứ ba. Đây là một căn nhà trệt. Cạnh nhà này là biệt thự lớn, có vườn hoa rộng của Ức-Mai. Chàng ấn chuông, đưa tay vuốt nhẹ lên bó hoa và đứng chờ.

Cánh cửa mở, người con gái có nước da trắng nõn nà, gương mặt hiền lành phúc hậu nhìn Quần. Nàng đang buồn vì bác Lâm hiện có trong nhà, bàn tính với mẹ ép buộc cuộc hôn nhân. Vừa trông thấy người thanh niên cao ráo đẹp đẽ với bó hồng trên tay, mặt nàng trở nên xanh mét rồi từ từ đỏ hồng. Quán Quần cũng thất sắc, chàng không ngờ vụ đi giải thích này lại khó gấp trăm vạn lần, không dễ như đã tưởng! Chàng vội lấp bắp:

- Ô, chào cô! Tôi... tôi là... Nghê...

Người con gái trước mặt chàng trông đẹp, nhu mì và dễ thương lắm. Cặp mắt ngơ ngác lẫn hoảng sợ như con nai giữa rừng vừa nghe thấy tiếng động. Đôi môi run run. Cái vẻ sợ sệt rụt rè, xen lẫn vui mừng và oán hận làm cho người đối diện phải thương hại và ngây ngất. Quán Quần không còn nói được nữa, chỉ đứng trân trân nhìn. Một lúc lâu, chàng mới lấy lại được bình tĩnh, gắng thực hiện mục đích đã định:

- Thưa cô! Tôi là... là Nghê Quán Quần!

- Dạ, em biết.

Lâm cũng bắt đầu tỉnh mộng. Nàng không biết tính sao trước sự viếng thăm bất ngờ của chàng, nhất là trong nhà đã có sẵn ông khách hắc ám. Mời vào nhà thì không xong, ra ngoài cùng chàng nói chuyện thì khó coi quá. Đang lúc nàng còn đang do dự thì mẹ đến cửa hỏi:

- Ai vậy con?

- Thưa mẹ, anh Nghê Quán Quần đó mẹ.

Rồi nàng quay qua giới thiệu với chàng:

- Đây là mẹ em.

Nhìn bó hồng trên tay Quán Quần, bà hiểu ngay rằng chính thằng khùng này đã phá hoại cuộc hôn nhân của con bà với ông già Lâm. Và, chính nó đã làm cho con Lâm si si khùng khùng. Bà nhìn chàng, nghiêm giọng:

- Thì ra là cậu. Cậu đến đây làm gì vậy? Tôi cho cậu biết con gái tôi không phải hạng lăng loàn trắc nết, không bao giờ giao thiệp với những người lạ như cậu. Cậu vui lòng về đi!

Lâm hoảng sợ:

- Thưa mẹ!

Nàng quay người, lùi ra sau một bước đứng cạnh Quán Quần như để bảo vệ chàng và chứng tỏ cho mẹ biết là hai đứa đã tâm đầu ý hiệp. Nàng nói nhanh:

- Mẹ nói gì kỳ vậy? Anh Quần bạn thân thiết của con chứ nào xa lạ gì!

- Hứ, thật quá mà. Hai đứa mày âm mưu gạt cả mẹ!

Lâm nháy mắt ra hiệu cho Quán Quần, ánh mắt thật trăm ngàn lời nói khó hiểu. Quán Quần, đứng sững, quên mất mục đích đến đây của mình. Mẹ Lâm thì rối rắm, không biết mấy đứa nhỏ này đang chơi cái trò trống gì nên liền bảo:

- Thôi hai đứa vào trong nhà đi, đừng đứng ngoài cửa người ta trông kỳ lắm. Kể hết đầu đuôi câu chuyện cho tôi nghe đi coi.

Quán Quần như cái máy lủi thủi theo vào nhà. Chưa kịp nói gì, ông Lâm ngồi chờ trong nhà tức muốn điên lên nên chạy ra phình cổ hỏi:

- Mày là cái thằng mang bịnh thần kinh, mỗi ngày tặng hoa đó chứ gì?

Bị chọc tức, chàng quay qua hỏi Lâm:

- Ông này là cha em phải không?

- Đâu phải, ông ta là... là...

- Tôi là chồng tương lai của Du Lâm.

Ông Lâm ễnh cái bụng nước lèo, dương dương tự đắc. Quần nhìn Lâm không chớp. Lý nào một người con gái đẹp đẽ thùy mị thế này đi gả cho cái thằng già ngu đần ấy? Cái nhìn của Quán Quần đã làm cho Lâm rưng rưng nước mắt. Nàng đưa mắt van này ông Lâm:

- Bác Lâm, sao bác nói bậy như vậy? Cháu đã chấp nhận làm vợ bác bao giờ đâu?

Già Lâm càng tức hơn, chỉ vào măt. Quần:

- Em không bằng lòng lấy tôi mà lấy thằng khố rách này à? Cái mạng của nó biết đã tự nuôi nổi chưa huống hồ gì nói chuyện nuôi em. Lấy nó, em chỉ có nước thành ma chứ không còn sống làm người!

Quần không còn chịu nổi, tiến đến trước mặt ông Lâm nheo mắt:

- Đồ già mất nết!

Ông Lâm vênh mày phẫn nộ:

- Mày nói ai đồ mất nết chứ?

Giọng chàng càng đanh thép:

- Tôi nói ông. Tôi nói con cóc bẩn thỉu mà muốn ăn thịt con ngỗng thật quá khôi hài!

Ông Lâm tái mặt:

- Mày nói gì? Mày nói ai là con cóc? Mày là thằng lưu manh ở đâu đến đây ăn nói hồ đồ vậy? Cái tướng ăn mặc như thằng ăn xin thế này mới đúng là con cóc bẩn thỉu muốn ăn thịt ngỗng. Bây giờ phải cút mau, nếu không tao kêu cảnh sát bắt cho xem.

Quán Quần sùng máu:

- Ông đừng có ăn nói hàm hồ như thế nghe chưa. Ông phải giải thích cho tôi nghe nghèo là nhục sao? Tôi nghèo nhưng có chí, vừa làm vừa học đến bậc đại học như người. Tôi biết cố gắng và khắc phục mọi gian khổ để tạo tương lai cho mình. Tôi còn trẻ, còn đủ sức và thì giờ để tạo sự nghiệp, giúp ích xã hội. Trọc phú như ông làm nên cái trò trống gì?

Chàng quay sang Lâm, nói nhanh không cần suy nghĩ:

- Em bằng lòng theo thằng cha trọc phú này hay theo anh, một thằng khổ rách để cùng nhau sáng tạo cuộc đời?

Lâm hết sức khâm phục lời nói của chàng, lời nói đầy khí phách. Nàng chơm chớp mắt tỏ ý ưng thuận, chẳng cần đắn đo gì khác. Không nghĩ đây là lần gặp gỡ đầu tiên, phải tìm hiểu lai lịch của chàng. Nàng cứ ngỡ đã quen chàng tự lâu lắm và hiểu nhau rất nhiều. Nàng đến bên chàng âu yếm nhìn. Quán Quần xúc động vội ôm chặt eo nàng. Ông Lâm muốn lộn gan lên đầu:

- Trời ơi, thật là hai đứa điên!

Ông quay qua mẹ Lâm tỏ vẻ hách dịch:

- Xin lỗi bà Châu, tôi không ngờ con bà có hành động lố bịch như vậy mà không biết mắc cở. Vợ tôi phải là người đàn bà gương mẫu không phải hạng gái mất nết hư thân như vậy. Thôi, chuyện hôn nhân chấm dứt luôn.

Bà Châu thở ra, nhìn ông Lâm ngoe nguầy ra cửa và thầm nghĩ:

- Ông cứ mang cái thùng nước lèo đó đi đi, tôi cóc cần. Con tôi có mất nết, hư thân mặc kệ, có người săn sóc và yêu thương rồi. Chúng nó sẽ sáng tạo cuộc đời hoàn toàn mới.

Bà đóng xong cánh cửa, quay lại vẫn miên man trong lòng:

- Thằng này đẹp trai, cái vẻ đầy khí phách này chắc chắn sẽ làm nên công sự. Rất may là ta chưa làm nên lỗi lầm, chưa cướp hạnh phúc của hai đứa.

Nhìn cặp tình nhân vẫn còn đứng chết giữa nhà, bà cố dùng giọng lạnh nhạt:

- Thôi chớ, cô cậu đứng đó hoài sao. Mời anh con vào ghế ngồi đi Lâm.

Bà lui vào phòng, khép cửa lại.

Bên ngoài, Quán Quần và Du Lâm nhìn nhau ái ngại vô cùng. Bây giờ họ mới cảm thấy thật xa lạ. Sự việc xảy ra vừa rồi như một cơn mộng không bằng! Hai người nhìn nhau một lúc, ánh mắt xa vời lẫn thẹn thùng khó tả. Quán Quần ấp úng:

- Anh nghĩ... anh nghĩ...

Mà nghĩ cái gì nhỉ? Chẳng lẽ giờ này còn đem chuyện lầm nhà ra nói với nàng ư? Nhìn vẻ mặt đẹp và dễ thương ấy, chàng biết mình không thể nào nói được!

Lâm tiếp bó hoa trên tay chàng, giọng gợi cảm:

- Anh nghĩ gì vậy? Ngồi ghế nghỉ đi. Em muốn cắm hoa vào bình ngay bây giờ.

Nàng cắm xong bình hoa, đặt lên bàn cười duyên:

- Sao anh nghĩ ra cái trò tặng hoa hồng này cho em? Sao anh biết em thích hồng vàng?

Chàng thẹn đỏ mặt. Cúi đầu xuống, nàng lại hỏi:

- Anh bắt đầu để ý đến em tự bao giờ?

Bắt đầu tự bao giờ? Ai mà biết! Chàng chỉ biết buổi tối hôm ấy cách đây một tháng, lần đầu tiên cùng mấy người bạn đặt chân đến vũ trường. Dưới ánh điện màu, chàng đã mê mệt một vũ nữ lừng danh có sắc đẹp quyến rũ. Bây giờ lại đối diện với Lâm, cặp mắt to trong sáng ấy có một sức thu hút khác thường, không giống vẻ quyến rũ của Ức-Mai. Tự nhiên chàng cảm thấy mình trở thành nhỏ bé, nghèo nàn và thơ ngây quá! Chàng hơi bực, tự trách mình sao đi theo một cô vũ nữ như vậy. Nhưng, nếu không có cô vũ nữ đó, làm sao giờ này gặp được Du Lâm. Họa chăng có do trời xui khiến!

Chàng ngước lên nhìn nàng. Mặt vẫn còn đỏ và đầy vẻ ngượng ngùng. Chàng đáp thật nhỏ:

- Em hỏi làm gì câu ấy? Có lẽ anh đã để ý em từ ngày khai thiên lập địa đến giờ!

Nàng im lặng, nhìn chàng đắm đuối. Hai người mỉm cười, nụ cười sâu thẳm còn hơn ngàn câu nói. Bình hoa hồng trên bàn như cũng đang cười. Mùi thơm ngào ngạt dâng khắp căn phòng.

Ngày hôm sau, ông Trương ngồi trong tiệm nhìn Quán Quần đẩy cửa bước vào. Chàng e thẹn chào:

- Dạ, chào bác ạ!

- Vâng, chào cậu.

Chàng không giấu được nỗi vui mừng trên mặt:

- Thưa bác còn nhớ cháu không?

- Sao không? Cậu là người trách tôi trao hoa hồng không đúng chỗ!

Chàng cười đắc chí:

- Ha ha! Mục đích của cháu đến đây hôm nay báo tin để bác mừng là hoa hồng trao rất đúng chỗ.

Ông Trương cũng cười:

- Tôi biết mà. Tôi biết đúng chỗ trăm phần trăm.

Chàng mở to mắt nhìn ông Trương. Không hiểu trong vụ trao hoa này, ông ta có âm mưu nào không? Nhưng thôi, có hay không đâu còn đặt thành vấn đề. Vấn đề quan trọng là những đóa hoa đo đến nơi thật đúng chỗ mà chính chàng cũng không ngờ được, phải gắng giữ lấy sự thành công ấy.

Chàng cảm ơn rồi xin phép đi ra khỏi tiệm Thinh-Thinh. Có người ở hẻm bên cạnh đang chờ chàng trở lại.

Tiễn chàng cho đến khi khuất. Ông Trương trở vào cầm bình tưới hoa. Vừa tưới, ông vừa hát. Nhìn bồn hoa hồng vàng, ông gật đầu cười mãn nguyện.

 

 

Kim Kỳ sưu tầm

 
Xem thêm...

Hạnh phúc xót xa

Image result for oslo norway photos

Hạnh phúc xót xa

Tôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành “quan viên hai họ”. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa”?
 
Image result for oslo norway photos
 
Địa điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng, nhưng lại đúng vào ngày mà vợ chồng tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con gái và mừng thôi nôi thằng cu cháu ngoại. Vé máy bay đã “búc” rồi. Vợ chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết cha mẹ hay cô dâu chú rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen. Thấy tôi phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo “forget it!”
Sáng thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng cả tên lẫn họ của tôi.
– Vâng, đúng là tôi, nhưng chị có thể nói rõ hơn về chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.
– Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na-uy, anh làm thông dịch giúp em đó. Tên em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich, chắc anh chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na-uy.
 
Tôi giật mình nhớ ra ngay. Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.
Sau khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm vợ chồng tôi vào lúc bốn giờ chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.
Thời gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Na-uy. Được thầy cô dạy kèm riêng, và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất đắc dĩ cho những thuyền nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng tiếng Na-uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt nam lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na-uy, tôi được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na-uy nhận một số lượng khá đông thuyền nhân được tàu Na-uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân đạo khác.
Nói là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở Cảnh sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ Na-uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang. Công việc nhàn nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới, nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành ngân hàng bưu điện, tôi vẫn xin giữ cái “job” phụ này, nhưng chỉ làm thêm ngoài giờ hành chánh.
Related image
Tuy nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị “tai nạn nghề nghiệp” không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên biển, tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông dịch lại bằng tiếng Na-uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để  diễn đạt những điều “tế nhị”. Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng cho người tỵ nạn, nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là một giáo sư tâm lý học, điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển, đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch để ông tâm tình, khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo dài cả một vài ngày. Bởi vốn liếng tiếng Na-uy còn quá nghèo nàn, làm sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói. Có lần nghe ông dặn dò:
– Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị. Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng ngôn ngữ.
Mà ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong, thì làm sao giúp ông chữa loại bệnh đặc biệt trầm kha này. Nhiều lần tôi xin từ chối, nhận mình không đủ khả năng, nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác, và bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi hiểu rõ, và nhất là không hiểu lầm những gì ông nói.
 
Một hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na-uy nhận nhân đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan đến Na-uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo, nhưng vì có nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ Nạn trong khu vực thị xã.
Chúng tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn, trên người choàng một tấm chăn mỏng, được một cô tiếp viên hàng không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu (logo) Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Trông cô ta tiều tụy, xanh xao. Tôi giới thiệu và dịch vài lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà, cô gật đầu, lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái theo một lối đi riêng, không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một băng ca trong xe, tôi mới biết là cô ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của cô ý tá, tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện. Bà Kari Mette lái xe chạy theo sau.
 
Ở phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ, tôi mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang mang thai hơn năm tháng, sức khỏe rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp cô sớm hồi phục sức khỏe và bảo vệ thai nhi.
 
Khi trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật buồn và ái ngại, Một vài câu hỏi cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ tốn bảo cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, cô không cần thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau đó, tôi mới hiểu ra, người cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với cô là những người làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận bảo mật). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện. Khi trở ra, cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy cô có khuôn mặt khá xinh, đôi mắt thật buồn. Theo y tá đưa cô lên một phòng riêng ở tầng ba, tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ cô ngồi dậy theo yêu cầu của cô, dịch cho cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi cô thích ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá, rồi chào cô ra về, sau khi chúc cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi, nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt, tôi biết cô băn khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì, cứ gọi cho tôi.
Kể từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy nhất của cô. Hôm nào cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt nam, tôi bảo bà xã tôi làm rồi mang đến cho cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập truyện của ông Duyên Anh mà cô thích đọc.
 
Sau một tuần lễ, sức khỏe của cô khá hơn, nhưng y tá cho biết tâm trí chưa ổn định, cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm. Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho cô quà, an ủi và khuyên cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề trong lòng, cô cứ nói ra mỗi lần ông đến thăm.
 
Cô không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn khác, mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh sát ngoại kiều đã đích thân đến bệnh viện để gặp cô sáng hôm sau. Qua làm việc, tôi được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, mẹ cô là cô giáo và cha là một sĩ quan cấp tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng 1 di tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một người bạn cùng khóa Võ Bị với cha cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47 người, ra khơi ba ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh niên khỏe mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ. Trước khi rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy, và bắt theo khoảng mười cô gái. Khi hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác
 
Vừa mới lên tàu, bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường như cũng đang thét gào phẫn nộ. Chỉ duy nhất có Kiều được thoát, không bị hiếp, nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái, và phải chứng kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hải đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.
– Tại sao cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh cảnh sát ngạc nhiên hỏi.
– Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên thuyền trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.
Tối hôm ấy, cô đã bị cướp đi đời con gái. Qua một ngày kinh hãi, biết mình không thể chống cự, cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân xác bị dày vò, cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay, cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.
 
Tay thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ cô như những cô gái khác. Hắn săn sóc, mang cho cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành cô ăn, nhưng cô không thể nào nuốt nổi, dù bụng đang đói. Nằm thiếp đi cả một ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc, giật mình thức dậy, cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.
Sau khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng cô trên lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thải trong nỗi dày vò, mặc cảm và vô vọng như cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một ngày đêm dông bão, cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?
 
Anh cảnh sát ngồi bất động nghe cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho cô gái và cho cả anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi. Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ giấy soft cho cô lau nước mắt và mời cô một ly nước saft.
– Rồi đời sống của cô trên đảo ra sao trước khi cô được cứu thoát? Anh cảnh sát hỏi.
 
– Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ những lần trước.
Đó là một đảo hoang. Một trong những “hậu trạm”. Cứ bốn, năm hôm, có khi cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác “chiến lợi phẩm”, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng, phơi tấm thân trần đen đúa với đầy những hình xâm. Không biết vì nghĩ là cô không hiểu tiếng Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép cô ăn và bắt cô uống rượu. Miệng hắn lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của cô. Hắn lột hết áo quần cô, làm nhiều cách hầu tạo kích thích, nhưng cả thân xác và tâm hồn cô đã trở thành gỗ đá, lạnh lùng, không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.
 
Bọn họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi cô thức dậy chung quanh vắng lặng, ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời. Phải ngồi khá lâu mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe như có tiếng gọi tên mình, cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt. Nước biển làm rát khóe mắt, nhưng giúp cô tỉnh táo. Bỗng cô nghĩ đến cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là cô sẽ gặp lại người tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần, mẹ đã ôm cô dặn dò phải cố giữ gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, cô đứng bất động nghe lòng dạ bồi hồi.
 
Gió từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp cô tìm lại một chút yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề, hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng chỉ đủ gom góp mua một cây vàng, và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày cha cô vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh nào đó, rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công chức khác, mẹ con cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ học, phụ mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với cô, chỉ còn cách duy nhất, là cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có người yêu của cô, cũng là con của một người bạn cùng khóa với chồng, cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.
 
Cô bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ, hình dung tới tuổi ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm cha cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt, nơi ông đã gặp mẹ cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ, từng đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa, giữa không khí uy linh, đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như cô, tất cả đã mất rồi, cả một bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào. Không bao giờ còn tìm lại được!
 
Đầu óc mơ hồ, tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thủy Tạ, nơi lần đầu hò hẹn người yêu, cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi cô bị giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển. Ngồi bệt xuống cát, thẫn thờ gọi mẹ, gọi em, và gọi tên người tình. Cô gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.
Tôi định đưa tay bảo cô ngừng kể, để tôi kịp dịch lại cho anh cảnh sát, đang hồi hộp ngồi chờ, nhưng chợt thấy cô cũng đang khóc. Anh cảnh sát đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho cô được tự nhiên. Khi trở vào, anh cảnh sát nhờ tôi hỏi, nếu cô muốn bảo lãnh cho mẹ và các em còn ở Việt Nam, anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ cho cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ sáu đến tám tháng, cô sẽ được đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, cô lắc đầu:
– Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn mẹ và các em sẽ đau buồn vì những gì em đã trải qua, và nhất là cái thai trong bụng, em vẫn còn đang giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù em rất nhớ mẹ và các em.
 
Ngần ngừ một lúc cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi về giúp gia đình, sau này đi làm cô sẽ trả. Anh cảnh sát gật đầu, hứa sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay cô, chúc sớm bình phục, gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm cô để xin hỏi thêm cô ít điều bổ túc hồ sơ.
Hai hôm sau, qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10.000 kroner (khoảng 1.200 USD), để giao lại cho cô và yêu cầu cô ký tên vào biên nhận.Tôi cũng mang đến biếu cô mấy trái xoài chua, lần trước cô bảo là cô rất thèm. Gặp lại tôi, cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cô nhoẻn miệng cười. Cô bảo cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi cô chẳng biết trò chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc động khi tôi đưa cho cô số tiền của Phòng Xã Hội, và bảo đó là tiền cô được cấp, chứ không phải mượn. 
 
Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này, cũng như trợ cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo cô yên tâm, đừng lo lắng gì về chuyện tiền bạc. Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn cùng như gia đình cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn được tàu Na-uy vớt, mới đến Na-uy tám tháng, nhưng mọi việc tạm thời ổn định. Cô nhớ tới cha cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe những ngày cô theo cha ra đơn vị, hoặc cùng mẹ vào trường Võ Bị tham dự các buổi lễ ra trường. Khi tôi đứng dậy cáo từ, cô viết tên và địa chỉ của mẹ cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên trong bì thơ về cho mẹ. Trong mắt cô sáng lên niềm vui.
 
Một lần cô ngỏ ý muốn học tiếng Na-uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na-uy vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin cho cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho cô cách sử dụng, nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô còn nhờ tôi viết cho cô vài câu tiếng Na-uy. Trong đó có một câu cô bảo là lời một bản nhạc nào đó mà cô rất thích: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.
Khi được biết là sẽ sinh con trai, cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung. Gần tới ngày cô sinh, tôi xin phép cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho cô ít nhiều kinh nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết cô ái ngại, nên tôi nói trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của cô, và tất nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với vợ tôi là chồng cô còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối cùng cô gật đầu.
 
Cuối tuần, vợ chồng tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho cô một it thức ăn Việt nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện sinh đẻ.
Cô sinh vào ban đêm, lúc trời đã vào đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ chồng tôi đến phòng sinh lúc cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh cô, còn tôi ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút, tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ gọi, tôi bước vào chúc mừng cô. Thằng bé đang nằm trên ngực mẹ. Tôi thấy cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.
 
Sau một tuần ở bệnh viện, mẹ con cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã hội mướn cho cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích hợp cho cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện cho các y tá đến thăm và chăm sóc mẹ con cô.
Mấy ngày sau, tôi đến khách sạn cô ở. Không phải để thăm cô mà để làm thông dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho con cô nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy cô biết nói vài câu ngắn bằng tiếng Na-uy. Bác sĩ Hauff hỏi là cô có cần ông giúp điều gì nữa không, cô bập bẹ trả lời: “tôi sẽ nói với ông sau”. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.
 
Ngày đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm mẹ con cô. Chúng tôi ghé siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng, cửa không mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi. Họ cho biết là cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho biết là cô đã chuyển đi một thành phố rất xa, và theo yêu cầu của cô, họ không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên, tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà cô đã nhờ tôi viết ra bằng tiếng Na-uy và chỉ cho cô đọc đi đọc lại nhiều lần: “ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”. Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao cô lại chuyển đi sớm và không cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.
Từ hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại cô. Vài lần nhớ tới cô, tôi định hỏi thăm qua một số người quen ở các thành phố khác, hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn. Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ cô không muốn gặp lại tôi, một người biết quá nhiều về cô.
oOo oOo oOo
 
Related image
Bích Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay trước cổng nhà, vợ chồng tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của hai mươi lăm năm trước. Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45,46. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Bích Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.
– Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?
Câu nói đùa của bã xã tôi làm cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:
– Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.
Chúng tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa mới nở hoa, trước khi dắt tay cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm phấn son xong mới lên tiếng:
– Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới. Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ.
Cô cười bẽn lẽn:
– Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và mang ơn anh chị.
Tôi cười:
– Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ cái câu tiếng Na-uy “Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa” mà Kiều nhờ tôi viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu được, nên không có ý tìm Kiều.
Đúng là cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất tốt. Mẹ con cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau cô bảo lãnh mẹ và hai cậu em sang đoàn tụ. Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong vòng tay yêu thương của mọi người. Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi vất xác xuống biển. Kiều giấu kín mẹ và các em điều đau thương này, nên đến lúc qua đời, mẹ cô vẫn tin đứa cháu ngoại duy nhất của mình là con của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na-uy được mười sáu năm.
 
Được chính phủ trợ cấp, cho học bổng, và nhờ mẹ giúp trông con cùng mọi việc trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả ba chị em đều xong đại học. Hai cậu em đang là kỹ sư, còn cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai cậu em được nhận vào trường NTH , một đại học kỹ thuật bách khoa nổi tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na-uy, cả nhà đã di chuyển về đây sau sáu năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.
– Vợ chồng tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của mẹ con Kiều cùng hai cậu em, và cũng xin chia buồn về việc bà cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi không có dịp được gặp bà.
Đang vui, bỗng Kiều xúc động:
– Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thòi, chịu đựng vất vả với con cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu Bách.
– Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn, khốn khổ. Tôi tin là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi nói để an ủi .
Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:
– Sao cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.
– Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là chữ lót của em.
Tôi cười phụ họa:
– Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác. Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi tên Bích nghe.
– Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà. Ngoài gia đình, chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua rồi. Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước. Hơn nữa, em biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm , phải không?
Cả ba chúng tôi đều cười.
 
Kiều nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ. Không biết vì không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, cô bắt đầu một câu chuyện khác. Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai cô vừa chụp với cô vợ tương lai trong ngày lễ đính hôn hơn ba tháng trước. Một cô gái Việt nam. Cả hai cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông minh.
– Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! Vợ chồng tôi khen.
Cô cho biết cô dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na-uy, và bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp, đạo đức, có năm người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ vợ chồng tôi, tuổi tác ngang với cha mẹ cô dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo cô, là để cho cháu Bách, và chính cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế gian này.
– Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na-uy này biết chuyện Trác, và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn thờ.
– Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?
Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:
– Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết ba của anh Trác là ông nội cháu, thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em. Vì trong lúc này, em cảm thấy thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em, bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải tỏa được những gì cứ phải chôn giấu, đè nặng mãi trong lòng.
Nhớ tới hai người em trai của cô, vợ tôi hỏi:
– Còn hai cậu em của cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với cô?
– Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na-uy hơn hai năm thì chia tay, còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.
Related image
Cuối cùng, vợ chồng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc ba má cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh phúc.
Lễ thành hôn được tổ chức buổi sáng thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa hạ. Ánh nắng bắt đầu chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ. Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở mấy hôm nay, làm “điểm xuất phát”. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn người. Thêm một cậu người Na-uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. 
 
Vợ chồng tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ vật, theo yêu cầu của Kiều. Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra đời vào một đêm đông tuyết giá, trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ, chỉ có vợ chồng tôi, hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú, có học, chân thật hiền lành. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị cảnh sát ngoại kiều trước kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn nộ, và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men rượu. Bỗng tôi giật mình, có cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và hạnh phúc.
 
Lễ thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo, hiểu biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho Kiều, và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến mộ, sau khi lạy ông bà trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn cô dâu chú rể đến dâng rượu và xin lạy mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích, một lạy cảm tạ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ, mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của mình. Một lạy xin mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người cha bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con.
 
Khi vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào. Sau một lúc mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng. Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của hạnh phúc.
 
Không khí bỗng lắng xuống. Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên, đúng vào lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.
 
Phạm Tín An Ninh
 
Kiều Oanh sưu tầm
 
Related image
Related image
Xem thêm...

CHIẾC BÁNH KEM MÙA GIÁNG SINH

 CHIẾC BÁNH KEM MÙA GIÁNG SINH

Huyền Tôn Nữ Huệ-Tâm

 

Hình minh họa

Con Xí chụp vội hai con châu chấu, bụm trong vạt áo, nó chạy như bay về nhà "cúc cu, cúc cu" cặp gà trống mái choi choi. Con gà mái từ cuối vườn đủng đỉnh đi ra. Nó nhếch cái mặt dễ thương nhìn con Xí để đợi hạt lúa hay là con sâu... Xí lẩm bẩm:

- Con trống choi mô rồi?

Con Xí đi khắp vườn, kêu mỏi miệng cũng không thấy con trống.

Xí chạy lại bụi cây đùng đùng ở mép vườn bên tay phải. Mấy bữa trước Xí thấy hai con gà choi này hay tới bụi cây ấy bươi rác bắt trùn. Cũng không thấy! Ba Xí đi làm về phụ với con gái đi tìm gà. Ông nói:

- Không chừng nó bị chuột cù-lúi chụp rồi con à. Hồi hôm ba thấy có hai con chuột to lắm. Để tối nay ba đặt bẩy.

Mất con gà trống Xí tiếc lắm. Hôm cả nhà lên Kim Long chơi ghé thăm ông bác, ông cho Xí cặp gà nuôi làm vốn. Ông còn dặn:

- Cho nó vài con trùn ăn mau lớn lắm. Vài tháng nữa là nó đẻ, có gà con liền.
Cặp gà lai gà chọi. Hai cánh gà nhỏ, nhưng cái ức mập tròn, hồng hồng. Nó có rất ít lông. Chú gà trống mới vỡ giọng cất tiếng gáy le te vào buổi sáng làm cho không khí vườn nhà thêm rộn ràng.

Thằng Ninh bên hàng xóm đi học về thấy chộn rộn chạy qua hỏi:

- Cái chi mà tất bật rứa?

- Con trống choi của tui mất rồi. Tui tiếc quá!

- Mất hả?

Nó chỉ nói vậy thôi rồi đi nhanh về nhà.

Con Xí lấy làm lạ. Tại sao mấy bữa trước thằng Ninh rất nhiệt tình với cặp gà của Xí mà bây chừ thờ ơ ghê vậy? Nó chẳng tỏ vẻ buồn chi cả! Thằng Ninh học cùng khối lớp với con Xí. Thỉnh thoảng nó hay sang nhà Xí trèo cây hái ổi dùm. Nhà nó toàn con trai. Còn bên Xí ba chị em đầu toàn là gái. Nó hơn Xí một tuổi, vì bị đậu mùa nên ở lại lớp. Vì vậy hai đứa học bằng nhau và xưng hô bằng tên riêng.


 

Ngoài ngõ có tiếng kêu cửa:

- Xí ơi, mở cửa cho tau!

Đó là con Thẻo, nó nhanh nhảu:

- Tau sợ con chó nhà mi lắm, tau ré om sòm. À, trả tau cuốn truyện tranh đi.

- Vô nhà chơi, đợi tau một chút.

Con Xí qua nhà thằng Ninh đòi truyện. Thấy thằng Tí đứng ở hàng rào, Xí gọi:

- Tí vô nhà lấy cuốn truyện tranh cho chị. Con bạn chị tới đòi đó!

- Đây nè, chị Xí cho em mấy trái ổi nghe!

Xí cầm cuốn truyện lật qua lật lại mấy tờ đầu coi cho vui. Có một tờ giấy trắng nhỏ rớt ra ngoài. Xí cầm lên nghĩ bụng:

- Chà cái thằng Ninh rứa mà ranh. Bằng tuổi mình mà bày đặt viết thư cho gái nữa chơ.

Xí dúi vội tờ giấy vào túi, đợi con Thẻo về rồi hẳn coi.

Mấy đứa ăn ổi no nê cười hơn hớn khen"ổi ngon quá". Xí cho mỗi đứa vài trái, chúng cảm ơn quá chừng. Xí lấy tờ giấy của thằng Ninh nhét trong quyển truyện tranh ra coi thử. Xí giật nẩy mình. Nguyên văn như sau:

" Thưa cha, tuần này con có phạm tội sau: Con bắt trộm con gà trống choi của con Xí hàng xóm đi đá gà. Chẳng may con gà thằng Hùng đá chiến quá, nó móc con gà của con Xí mấy quả. Gà con Xí chết rồi. Con biết bắt trộm gà là có tội con xin chịu phạt"

Con Xí thất kinh: hóa ra thằng Ninh bắt con trống choi đi chọi gà, lẽ ra phải nói cho nó biết chứ. Con Xí tức đến nghẹn cổ. Nó cầm chặt tờ giấy xưng tội của thằng Ninh, nó thở hổn hển. May quá anh Hai thằng Ninh đang quét sân, nó hạch sách liền liền:

- Thằng Ninh ăn trộm con gà trống choi của em mà nó không xin lỗi em. Nó đi xưng tội với nhà thờ thôi, anh coi nó có tệ không chớ?

Con Xí trưng chứng cớ ra, nước mắt nó chảy như suối, nó khóc tức tưởi làm anh Hai hoảng sợ. Anh dỗ dành:

- Để anh hỏi chuyện rồi bắt nó đền con gà khác cho em mà, nín đi!

Vừa may, thằng Ninh ở đâu chạy trờ tới. Anh Hai cầm cây chổi quét sân quất thẳng cánh vào mông nó mấy cái, miệng la lớn:

- Cái đồ hư sự, ăn cắp gà của con Xí mà im lìm làm nó khóc quá trời.

Thằng Ninh khóc hu hu, né tránh. Anh Hai xấn tới định cho thêm vài hèo. Con Xí thấy thằng Ninh bị đòn cũng tội nên ngăn anh Hai:

- Thôi anh Hai, tha cho thằng Ninh đi, em không bắt đền nữa! Em cũng thích đá gà như thằng Ninh vậy.

Anh Hai ngạc nhiên kêu lên:

- Chẳng hiểu bọn nhỏ này chút nào hết!

Nhân cơ hội đó thằng Ninh chen vào:

- Tui biết là có lỗi vì đã bắt trộm gà đi đá mà không xin phép Xí nhưng hôm đó Xí đi học. Tha cho tui, tui định chiều ni về quê bắt một con trống choi đền cho Xí đó. Tui xin lỗi Xí.

- Ừ, tui không bắt đền nữa, tui về nè. Để tui xin bác tui con khác cũng được. Lẽ ra đợi tui về để coi đá gà luôn chớ. Ai lại đi một mình.

Thằng Ninh lí nhí:

- Lần sau tui kêu Xí hí.

 

Xóm con Xí ở Tây Linh. Có hai mươi nóc nhà thì mười nhà đi đạo, còn lại theo Phật. Vậy là huề! Chẳng phân biệt lương giáo chi hết, bọn trẻ trong xóm rất thân nhau và thường giúp nhau trong những ngày lễ hội lớn như lễ : Phật Đản hay Giáng Sinh. Còn ba ngày nữa Chúa Hài Đồng mới ra đời nhưng không khí Giáng Sinh trong xóm Xí rộn ràng. Nhà thằng Ninh theo đạo, Xí theo Phật. Anh Hai nó đã lên núi Ngự Bình chặt một cành thông rất to. Nó chạy qua nhà Xí gọi:

- Qua phụ tui trang hoàng cây thông Noel với, Xí khéo tay lắm. Mấy cái giây kim tuyến có còn không cho tui xin?

Sau lần thằng Ninh bắt trộm con gà của Xí đi đá gà mà Xí không truy cứu nó cảm ơn lắm. Nó nói sẽ tạ ơn Xí bằng một cái bánh ga-tô kem to. Mẹ nó làm bánh rất ngon và nó đánh bột dậy nên bánh rất ngon. Xí căn dặn:

- Nói thì giữ lời nghe. Xí thích bánh kem lắm.

Tối Noel, trước lúc cả nhà nó đi nhà thờ, thằng Ninh bưng cái bánh kem có một bông hồng đỏ qua cho con Xí. Hắn cười:

- Nì, tặng Xí nè.

Con xí bắt bẻ ngay:

- Nói là đền cho tui cái bánh kem thế việc con gà trống choi chết thì đúng hơn.

- Ừ, tui xin lỗi, tui đền đó. Đi nhà thờ không, vui lắm?

- Không, tui theo Phật mà.

 

****

Tình bạn hai đứa lớn dần theo năm tháng. Thằng Ninh học dở hay là học tài thi phận không biết nữa. Khi con Xí thi đậu vào Sư Phạm thì thằng Ninh lại thi hỏng. Nó đã đúp lớp một lần hồi bị bịnh đậu mùa rồi nay rớt Sư phạm e bị bắt lính. Anh Hai đưa nó lên Đà Lạt làm việc với anh và để trốn lính cho dễ. Nó đắn đo mãi không đành xa nhà nhưng sợ bị quân dịch nên phải ra đi. Nó nói với Xí:

- Xí càng lớn càng đẹp!

Chẳng biết sao con Xí hay lên mặt với nó:

- Chớ bộ tui xấu hả?

- Mô có, tui nói đẹp mà. Nhưng mà nè Xí...

Hắn lúng túng mãi mới ra câu này:

-Xí khoan có bồ nghe, đợi tui về đã!

- Bồ với bịch. Tui học trối chết sợ thi rớt, thì giờ mô mà bồ. Nì nhớ đường về đó nghe. Tui thấy có mấy người đi rồi ở luôn trên đó!

- Bậy nà, tui lên đó tìm việc .Qua tuổi lính tui về mà, đợi tui nghe!
 


 

Thằng Ninh đi được hai năm, cũng gần Giáng sinh rồi. Nhà nó nói năm nay nó sẽ về thăm nhà. Xí nghe vậy trong bụng mừng. Thằng Ninh về sẽ làm bánh ga-tô kem cho con Xí ăn. Xí cũng biết làm bánh nhưng hình như bánh thằng Ninh làm vẫn ngon hơn.

Ngày thằng Ninh vô Đà Lạt nó có cho con Xí một xấp vải may áo dài. Xí còn cất đó, nay mới đem ra may. Đi học về Xí cố tình ngang qua nhà thằng Ninh coi thử nó về chưa? Hôm trước Ninh có gửi về cho Xí một tấm hình. Bữa nay, nó cao lớn và chững chạc nữa. Nhưng lạ chưa, mạ nó khóc hu hu trước thềm nhà. Thằng em út của Ninh mắt đó hoe. Thấy có chuyện bất thường con Xí chạy vô hỏi:

- Anh Ninh mô rồi em, về chưa?

Thằng em nín thinh, mạ nó khóc dữ hơn!

Xe hơi thằng Ninh đi nhờ qua đèo bị đứt phanh, lao xuống dốc. Ôi, Ninh ơi, quên đường về nhà rồi sao! Rứa mà dặn đi dặn lại Xí là "đừng có bồ, đợi tui về đã nghe, tệ chưa tề!"

***********


Tối 24, trúng ngày Noel, nhà Ninh tổ chức lễ cầu hồn cho Ninh ngay tại nhà. Có vị linh mục giáo xứ Tây Linh chủ lễ. Thằng em út của Ninh chạy qua nhà gọi Xí:

- Cả nhà đang đợi chị, chị qua một chút nghe!

Xí mặc vội chiếc áo dài. Nhà Ninh đang hành lễ. Xí cúi đầu quì bên thằng em út. Xí không biết đọc kinh. Bỗng nhiên, Xí thấy Ninh hai tay bưng chiếc bánh ga-tô kem rõ to, có một cái hoa hồng đỏ nặn bằng kem rất đẹp với dòng chữ: "TẶNG XÍ MÙA GIÁNG SINH". Ninh cười tươi nhưng rồi biến đâu mất. Xí bật đứng dậy kêu lên:

- Ủa, Ninh đưa bánh kem cho Xí chơ đi mô rứa hè?

Mạ Ninh chạy vô trong, Xí đi theo. Cái bánh nằm trên bàn!

Mạ Ninh khóc nức nở:" Hồi hôm bác thấy thằng Ninh hiện về nói : làm cho Xí chiếc bánh kem đi mạ, con hứa với Xí rồi!"
 

****
 

Đã mấy mùa Giáng Sinh trôi qua rồi mà Xí vẫn nhớ mãi hương vị bánh kem năm nọ Ninh làm tặng nó. Có lẽ đó là chiếc bánh kem ngon nhất trong cuộc đời nó. Nó chắp chắp miệng lẩm bẩm: "tránh vỏ dưa trúng vỏ dừa, biết rứa ở quê nhà có hơn không, hở bạn Ninh?" Nó nói thầm với Ninh: an vui nhé Ninh! Tui có bồ rồi vì bạn quên đường về nhưng tui luôn nhớ Ninh đó!


 

Kim Kỳ st

Xem thêm...
Theo dõi RSS này