Truyện

Truyện (325)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Bát mì hoành thánh cho cậu bé ăn xin

Related image
 
Bát mì hoành thánh cho cậu bé ăn xin
Diêu Gia Trang là một khu dân cư nhỏ cấp thôn ở Trung Quốc. Gần đó có rất nhiều các nhà máy nhỏ nên người dân khắp nơi đổ về đây làm việc rất đông. Thiên Kỳ và vợ là Mạn Lệ mở một cửa hàng mì  hoành thánh tại đây. Mặc dù cửa hàng không lớn nhưng vì hai vợ chồng thật thà, hòa nhã, đồ ăn vừa rẻ vừa ngon nên khách đến rất đông, việc làm ăn thuận lợi hơn nhiều so với những cửa hàng khác trong thôn. Một buổi trưa nọ, có một cậu bé ăn xin ăn mạc rách nát, chừng 10 tuổi đứng trước một quán mỳ và giơ bàn tay bé xíu về phía trước nói: "Cô ơi, cô cho cháu chút gì ăn được không?"
"Cút, cút, cút ngay, đừng làm ảnh hưởng đến việc làm ăn của tao, thật bực mình", bà chủ quán mì  gào lên. Cậu bé ăn xin lủi thủi quay đi, sang nhà kế bên nhưng vẫn bị đuổi thẳng.
"Chú ơi, lâu lắm rồi cháu chưa được ăn gì, chú có thể cho cháu chút cơm thừa không ạ?" – cậu bé ăn xin mắt ngấn nước cầu cứu Thiên Kỳ.
"Đi đi, đi đi, không nhìn thấy ta đang bận lắm hay sao?" – Thiên Kỳ đang rán hoành thánh, vừa đảo cái xẻng xào nấu trong tay vừa nói.
Mạn Lệ nghe thấy vậy liền đập vào vai chồng một cái, nói: "Sao mình lại nói với trẻ con như vậy?" Rồi cô quay sang cậu bé ăn xin nói: "Cháu bé, vào đây, ngồi đây, cô cho cháu một bát mì  nóng nhé." Vừa nói, cô vừa kéo cậu bé vào một góc nhỏ trong quán.
Một lúc sau, Mạn Lệ mang ra một bát vằn thắn nóng hổi: "Nào, ăn đi, ăn từ từ thôi không nóng. Nếu ăn hết bát này mà chưa no thì cứ bảo cô." Nói xong, cô tiếp tục ra ngoài mời đón khách.
Cậu bé ăn xin vẫn rưng rưng nước mắt, nhưng vì đã bị cơn đói giày vò quá lâu, cậu vội ăn thật nhanh, nhanh đến mức chẳng kịp cảm nhận được mùi vị của món ăn, chỉ cảm thấy vô cùng ấm áp.
Cho cậu bé ăn xin bát mì, nửa tháng sau, 1 sự cố xảy ra đã thay đổi cuộc đời chủ quán - Ảnh 1.
Húp sạch giọt nước dùng cuối cùng, cậu bé đặt bát xuống bàn rồi lẻn đi mất. "Cái thằng bé này, ăn xong là đi, đến một câu cảm ơn cũng không có" 
– Thiên Kỳ giọng khó chịu. Nhưng vợ anh nhanh chóng đỡ lời: "Anh lớn thế rồi mà cứ như trẻ con vậy!"
Vốn dĩ cho rằng đứa trẻ ăn xin sẽ còn quay lại song vài ngày sau đó, cậu bé ấy không hề lộ diện.
Related image
 
Sự cố xảy ra sau nửa tháng
Chớp mắt đã nửa tháng trôi qua. Hôm đó, khi tiễn những người khách cuối cùng, đồng hồ đã chỉ gần 2h sáng. Những cửa hàng khác đã đóng cửa tự bao giờ, ngoài đường tối om không một bóng người.
Thiên Kỳ đứng trong quán đấm bóp vai, Mạn Lệ cởi tạp dề, phủi bụi bẩn trên người. Đúng lúc đó, một cái bóng người nhỏ xuất hiện, kéo tay hai vợ chồng và chỉ tay ra ngoài nói: "Cô, chú, mau đóng cửa lại, có người xấu."
Đứa trẻ đó chính là cậu bé ăn xin. Hai vợ chồng Thiên Kỳ vội nhìn theo hướng tay cậu bé chỉ, thấy một nhóm 4 người, mặt bịt khăn đen, tay cầm gậy sắt đang chạy lại phía cửa hàng của họ.
Thiên Kỳ vội vã kéo cửa cuốn xuống, khóa chặt cửa lại từ phía trong. Mạn Lệ và cậu bé ăn xin sợ hãi, cảm giác không dám thở mạnh.
Thiên Kỳ tay cầm dao phay, hai chân run rẩy nhưng vẫn cố nói thật to: "Tao đã báo cảnh sát rồi, chúng mày không đi sẽ bị bắt. Lần này coi như chúng mày gặp may." Nói rồi, anh cố gắng tạo ra tiếng động thật mạnh từ con dao trên tay để thị uy với lũ người xấu.
Cho cậu bé ăn xin bát mì, nửa tháng sau, 1 sự cố xảy ra đã thay đổi cuộc đời chủ quán - Ảnh 2.
Đợi đến khi bên ngoài yên tĩnh hẳn, hai vợ chồng mới thở phào nhẹ nhõm nhưng vẫn giữ thái độ cảnh giác.
Đặt con dao lên mặt bàn, Thiên Kỳ trút một hơi thở thật dài: "Cậu bé, làm sao cháu biết chúng sắp đến cướp cửa hàng của ta?"
"Một tuần trước, cháu vô tình nghe thấy họ nói cô chú làm ăn tốt, nhất định là kiếm được rất nhiều tiền. Đợi đến ngày nào cô chú đóng cửa muộn một chút họ sẽ đến cướp. Cháu muốn nói với cô chú nhưng không biết lúc nào họ sẽ đến, sợ cô chú không tin lời cháu.
Vì thế nên ngày nào cháu cũng nấp ở gần đây nghe ngóng, cho đến vừa rồi, cháu thấy họ tiến về phía cửa hàng của cô chú nến cháu vội chạy đến đây báo tin."- cậu bé ăn xin vừa vân vê gấu áo vừa lí nhí trả lời.
Thiên Kỳ vô cùng kinh ngạc. Nếu như không trải qua tình huống này, có lẽ anh sẽ không bao giờ tin một đứa trẻ lại dũng cảm đến vậy. Anh tiếp tục hỏi: "Vậy, vậy vì sao cháu giúp đỡ chúng ta?"
Cậu bé cúi đầu, do dự một lát rồi trả lời: "Cháu xin ăn lâu lắm rồi nhưng cô chú là những người đầu tiên không mắng cháu, còn cho cháu ăn no. Cô chú quả là người tốt."
Nói xong, cậu bé cảm thấy tủi thân, khóc tướng lên.
Mạn Lệ ôm đứa trẻ vào lòng, không ngừng an ủi. Đợi đến khi cậu bé bình tĩnh trở lại, hai vợ chồng mới hỏi thăm về thân thế của nó.
Cậu bé có tên Mao Mao, 12 tuổi. Vì không được ăn uống đầy đủ nên cậu nhỏ hơn so với tuổi. Từ nhỏ, Mao Mao đã sống trong cô nhi viện.
Đến năm 6 tuổi, cậu bé được một cặp vợ chồng xin về nuôi. Nhưng 3 năm sau đó, vì họ sinh được con trai, khó chịu với con nuôi nên ngược đãi Mao Mao, về sau đuổi cậu bé ra khỏi nhà.
 
Hồi kết tốt đẹp
Trời dần về sáng, vợ chồng Thiên Kỳ quyết định đóng cửa một ngày đưa Mao Mao về nhà.
Nhìn cậu bé ngủ say, Mạn Lệ nói với chồng: "Thiên Kỳ, chúng ta cũng hơn ba mươi tuổi rồi mà chưa có con. Mao Mao ngoan ngoãn như vậy, hay chúng ta nhận nó làm con nuôi."
Thiên Kỳ nhìn vợ rồi nhìn đứa trẻ, cười thật tươi rồi gật đầu.
Cho cậu bé ăn xin bát mì, nửa tháng sau, 1 sự cố xảy ra đã thay đổi cuộc đời chủ quán - Ảnh 3.
Anh gọi điện về cho mẹ, kể với bà việc nhận con nuôi. Mạn Lệ về làm dâu nhà anh đã hơn mười năm những vẫn chưa có con. Mặc dù trong lòng cảm thấy tiếc nuối nhưng vì con dâu vừa hiếu thuận vừa đảm đang nên bà Quách không trách cứ gì. Bây giờ nhận con nuôi dù sao cũng là việc tốt, bên bà rất ủng hộ hai con. Ngay trong ngày hôm đó, hai vợ chồng Mạn Lệ đưa Mao Mao đi làm thủ tục nhận con nuôi. Kể từ đó, họ trở thành người một nhà, cuộc sống của vợ chồng Thiên Kỳ cũng đã thay đổi rất nhiều từ khi có một cậu con trai biết yêu thương bố mẹ nuôi.
Một năm sau đó, Mạn Lệ sinh được một bé gái. Cả nhà đều cho rằng, đây chính là đứa bé mà Mao Mao đã mang đến cho họ, vì thế mà vợ chồng Thiên Kỳ càng yêu thương cậu con nuôi hơn.
Mao Mao cũng rất thương em, niềm vui lớn nhất của cậu mỗi ngày là chọc cho em cười khanh khách.
 
●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●

Lý giải tại sao người Hoa ở Việt Nam rất giàu nhưng luôn ở nhà cũ, nhà tồi tàn

Người ta nói người Hoa ở khu Chợ Lớn giàu nứt vách là chuyện có thật, nhưng điều kỳ lạ mà bạn có thấy được ở khu người Hoa là nhà cửa của họ lại rất cũ kỹ, không được chăm chút như người Việt mình. Đó là bí mật của họ và người Việt mình cũng nên học hỏi khá nhiều ở họ chứ nhỉ.
Những người Hoa sang Việt Nam hầu như đều rất giàu có. Không chỉ riêng ở Việt Nam mà đi đâu trên thế giới người ta cũng thấy Chinatown (phố người Hoa) thì phải nói là họ tài giỏi tới cỡ nào. Kể 1 vài điển hình về người Hoa giàu nứt vách ở SaiGon nè, mà giàu từ tay trắng đi lên nữa đó:
– Nước rửa chén Mỹ Hảo: ông chủ hiện thời – Lương Vạn Vinh – người từng bắt đầu bằng việc bán một mớ đồ cũ trên vỉa hè
– Giày dép Biti’s:ông chủ Vưu Khải Thành – người từng chuyển từ nghề đông y sang làm giày dép
– Bánh kẹo Kinh Đô: ông Trần Kim Thành chỉ bắt đầu từ việc xoay xở với những bạn hàng nhỏ lẻ ở Campuchia
– Cửa hàng bánh ABC: ông Kao Siêu Lực -người đi làm thuê cho một hiệu bánh và sau đó tự khởi nghiệp …
Còn đây là những lý do khiến cho họ giàu nhưng không bao giờ mua đất cất nhà lầu:

1. Người Hoa không thích phô trương
Người Trung Quốc bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên thế kỷ 19. Sau đó, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, Chợ Lớn. Thời kì này người Hoa sang Việt Nam theo các đợt tuyển mộ phu đồn điền của người Pháp.
Rồi họ sang với hai bàn tay trắng và làm nên sự nghiệp nên họ rất quý những đồng tiền họ làm ra, họ tiết kiệm lắm.
Không giống như người Việt mình thích hô hào phóng đại thêm tên tuổi để có gì vay mượn, xoay chuyển càn khôn,….mà người Hoa không giàu họ sẽ từ từ lặng im làm giàu. Người Hoa đã giàu họ cũng im lặng để duy trì tài sản của họ mà thôi.
 
2. Tâm linh “Nhà là nơi bắt đầu và cũng không nên thay đổi”
Người Trung Quốc xưa rất coi trọng việc chọn đất làm nhà, cất mộ. Họ cho rằng gia chủ có ăn nên làm ra hay không, phần lớn đều liên quan đến việc chọn nhà, cất mộ, có chọn được đất lành, hướng tốt hay không. Người Hoa rất kỹ về phong thủy nên đã làm ăn được ở đâu thì không thay đổi. Quán xá dù nhỏ, nếu làm ăn phát đạt vẫn chỉ làm thêm cơ sở mới, không xây lên.
Họ nghĩ rằng chính nơi họ bắt đầu ấy phong thủy tốt, giúp họ làm ăn khấm khá cho nên họ sẽ tiếp tục duy trì như trước. Họ sợ “sai 1 li sẽ đi 1 dặm”, sợ “mất tất cả những gì đang có” nên thà họ sống ở chỗ cũ mà vẫn duy trì được suộc sống như trước thì vẫn hay hơn.
 
3. Coi trọng nguồn cội
Họ sống kiểu “hệ sinh thái” mà. Hỗ trợ, tương trợ nhau mà sống cho nên không cần phải lo lắng gì cả. Người làm ăn tốt thì giúp đỡ người nghèo, người lớn giúp đỡ người trẻ,….Người Hoa họ có cả một cộng đồng hỗ trợ: bạn hàng cho mua thiếu lâu hơn, các đàn anh trong nghề chỉ vẽ đôi đường và còn giới thiệu đối tác, người trong tộc luôn ủng hộ…sống như vậy quá tốt rồi nên đâu ai nghĩ tới chuyện phải đổi đi nơi khác.
Họ dạy nhau phải biết “Kính nghiệp” . Điều đó có nghĩa là mình làm giàu chưa đủ mà còn phải biết chia sẻ cách làm giàu, chia sẻ nỗi khổ với người thất bại, kết nối cộng đồng lại với nhau.
 
4. Trọng nghĩa khí
Mỗi năm, khu hội quán Nghĩa An bên cạnh trường tiểu học Chính Nghĩa, quận 5 đều có tổ chức bán đấu giá những cái lồng đèn tuyệt đẹp để lấy tiền chăm lo đời sống và giáo dục cho con em gốc Hoa. Số tiền tự nguyện mà cứ tăng dần, chục triệu, trăm triệu, rồi một tỉ, hai tỉ đồn,…không ai tiếc tiền cho thế hệ trẻ, kể cả người chẳng phải ruột thịt
Nhiều khi tiền bạc họ để dành dụ còn giúp đỡ người trong họ phường chứ không hẳn là phải mua đất cất nhà rần rần đâu.
 
5. Công bằng về tài sản
Bất kể người con trai thuộc ngôi thứ nào nếu tỏ ra uy tín cũng đều được người cha tin tưởng giao tay hòm chìa khóa. Người con nào là phá gia chi tử, bị liệt vào hạng thất dụng thì không được giao việc liên quan đến tiền bạc mặc dù vẫn được thương yêu.
Người hoa quan niệm là họ cho con cái những thứ tinh túy, cho “cần câu” chứ không cho “con cá”. Bởi vậy mua đất nhiều cất nhà nhiều cũng không nghĩa lý gì cả. Nếu con cái họ giỏi, tự ắt nó cũng làm ra được những thứ đó. Còn con cái họ không ra gì thì cho chỉ phí phạm thêm thôi
 
6. Người Hoa ít ham rẻ, chủ yếu ăn uống, mua sắm ở chứ không nghĩ nhiều tới chuyện nhà cửa
Đối với họ thì chất lượng và uy tín quan trọng nhất. Họ không tham của rẻ, không sống theo kiểu ăn nhín ăn bớt. Rất quan tâm đến đời sống con cháu nên bản thân ai nấy đều tự nhắc nhở mình phải tuân thủ quy tắc làm “điều răn” ấy. Cuối cùng họ chăm cái ăn hơn cái ở vì cái ăn ảnh hưởng tới đời sống và sức khỏe họ nhiều hơn. Tiền dồn vào ăn uống chứ không đầu tư vào nhà là vậy.
 
7. Người Hoa không muốn thấy “kẻ ăn mày” trong cộng đồng của họ
Một trong những triết lý của họ là cần–kiệm. Họ không có thói quen xài tiền như nhiều người dân khác ở Sài Gòn. Kiếm ít thì xài ít, kiếm nhiều cũng dùng tiền giúp đỡ người trong cùng bang.
Họ luôn sẵn sàng hỗ trợ việc làm, giúp người khác tự mưu sinh. Đối với họ, giúp là phải giúp cho giàu, không phải chỉ để có ăn cho qua ngày đoạn tháng. Và nhờ vậy không có bất mà không bao giờ thấy “kẻ ăn mày” trong cộng đồng của họ.
 
●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●

Bí quyết thành công của người Hoa ở Chợ Lớn

Ngày nay, cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn đã phát triển không chỉ gói gọn trong quy mô Sài Gòn nữa, mà đã dần trở thành những Danh Nhân lớn nhất trên đất Việt.

Bí quyết thành công của người Hoa ở Chợ Lớn
 
 
Nội dung nổi bật:
- Bí quyết thành công của các doanh nghiệp người Hoa ở Chợ Lớn: Phải biết yêu nghề và kính nghiệp.
- Người ta bảo “thà cho vàng chứ không chỉ đàng làm ăn” nhưng với cộng đồng người Hoa, sức mạnh tập thể và sự hướng dẫn là một trách nhiệm rất lớn.
- Họ khởi nghiệp khác với người Việt, vì có cả một cộng đồng hỗ trợ: bạn hàng cho mua thiếu lâu hơn, các đàn anh trong nghề chỉ vẽ đôi đường và còn giới thiệu đối tác, người trong tộc luôn ủng hộ…

Phải biết yêu nghề kính nghiệp
Trước năm 1975, người Hoa gốc Minh Hương đã tạo ra những cái tên, cũng là những đỉnh cao của nghề nghiệp tại Sài Gòn: vua thép, vua gạo, vua bột giặt, vua xà bông, vua bột mì… Cho đến khúc quanh thời cuộc của ngày thống nhất thì những cái tên này mới dần bị suy tàn, nhưng lại chuẩn bị cho một cuộc tái sinh…
Và xuất phát điểm lại từ số không. Có người bắt đầu bằng việc bán một mớ đồ cũ trên vỉa hè để nuôi mộng lớn như ông Lương Vạn Vinh, ông chủ hiện thời của nước rửa chén Mỹ Hảo. Có người chuyển từ nghề đông y sang làm giày dép như ông Vưu Khải Thành của Biti’s. Cũng có người xoay xở với những bạn hàng nhỏ lẻ ở Campuchia như gia đình ông Trần Kim Thành của Kinh Đô. Hay cũng có người bắt đầu lại bằng việc đi làm thuê cho một hiệu bánh như ông Kao Siêu Lực, giờ có một chuỗi cửa hàng bánh hàng đầu là ABC…
Ông Cổ Gia Thọ - Chủ tịch Công ty Thiên Long nhớ lại câu chuyện về hai người đàn anh đã giúp đỡ mình lúc khởi nghiệp: “Chúng tôi gọi anh Lý Ngọc Minh (Chủ tịch Công ty gốm sứ Minh Long - pv) và anh Vưu Khải Thành là những đại ca cổ thụ trong cộng đồng doanh nghiệp người Hoa không chỉ vì khả năng kinh doanh, mà còn là sự bảo bọc, hướng dẫn anh em làm ăn và luôn sẵn sàng chia sẻ những khó khăn của nhau nữa…
 
Với ông Cổ Gia Thọ, một trong những ân tình mà ông nhớ là việc ông Vưu Khải Thành hay tổ chức hội nghị khách hàng, chia sẻ những định hướng, thảo luận việc mở rộng thị trường… và sẵn lòng để những doanh nhân trẻ hơn, non nghề hơn như ông Thọ vào tham dự để nghe, để học, để tạo ra những kết nối kinh doanh. Người ta bảo “thà cho vàng chứ không chỉ đàng làm ăn” nhưng với cộng đồng người Hoa, sức mạnh tập thể và sự hướng dẫn là một trách nhiệm rất lớn.
“Hai mươi mấy năm trước, khi tôi còn bập bẹ làm một cơ sở bút bi nhỏ xíu thì anh Thành đã là người sáng lập và chủ tịch của hội công kỹ nghệ gia quận 6, như một kiểu hiệp hội doanh nghiệp bây giờ để làm điểm gặp gỡ, kết nối và chia sẻ công chuyện với nhau. Lúc đó tôi không quen anh Thành, nhưng xin đi sinh hoạt, và dần dần học được nhiều điều lắm. Chẳng hạn sự thẳng thắn, trung thực và cương quyết. Trước đây, tôi là người hay rụt rè để ra những quyết định quan trọng nhưng anh Thành khuyên phải biết nắm cơ hội và chấp nhận những rủi ro, thất bại nếu muốn làm chuyện lớn…”, ông Thọ kể.
Cộng đồng doanh nghiệp người Hoa vẫn thường nhắc nhở nhau học tập nguyên tắc  của hai ông Lý Ngọc Minh và Vưu Khải Thành trong kinh doanh. Theo đó, nguyên tắc Lý Ngọc Minh là: Đơn giản mà hiệu quả;  An toàn hai lần; Làm cho bằng được; Vui vẻ cởi mở; Hợp tác chân tình. Nguyên tắc Vưu Khải Thành yêu cầu: Giải phóng tư tưởng; Thực sự cầu thị; Tích cực tìm tòi; Mạnh dạn sáng tạo; Kiên trì phấn đấu; Không ngại gian nan; Học tập nước ngoài; Không ngừng vươn lên.
Còn theo ông Cổ Gia Thọ, một trong những bí quyết thành công trong kinh doanh của người Hoa là: Phải biết yêu nghề kính nghiệp. Qủa thật, nếu không dốc trọn cuộc đời cho một công việc mà mình đã chọn, thì không có cách nào tạo ra những đế chế vững vàng đến mực được gọi là vua của một nghề. Và hiện nay, đã lấp lánh những ông vua của từng ngành, mà đa phần đều là người gốc Hoa: vua gốm sứ Lý Ngọc Minh, vua giày dép Vưu Khải Thành, vua bánh Kao Siêu Lực, vua nước rửa chén Lương Vạn Vinh, vua nhựa Trần Duy Hy, vua vải Thái Tuấn Chí…
 
Hệ sinh thái kinh doanh của người Hoa
Khái niệm “hệ sinh thái” (ecosystem) dùng trong kinh doanh dạo này hay được nhắc đến nhiều thông qua chuyện người Israel xây nguyên một bệ phóng cho các doanh nghiệp trẻ với định vị “quốc gia khởi nghiệp” nhưng nếu chịu khó nhìn ngó, thì tự thân các doanh nhân gốc Hoa ở Việt Nam cũng đã xây nên những nền tảng đáng kể cho công chuyện làm ăn của họ và con cháu. Họ khởi nghiệp khác với người Việt, vì có cả một cộng đồng hỗ trợ: bạn hàng cho mua thiếu lâu hơn, các đàn anh trong nghề chỉ vẽ đôi đường và còn giới thiệu đối tác, người trong tộc luôn ủng hộ…
Đầu tiên, đó là vai trò của các bang hội, tức là các “bang” và các “hội”. Không còn là những tổ chức mang màu sắc chính trị như thời Thiên địa hội của đời trước ông Vương Hồng Sển nữa, mà những bang hội sau này hoạt động như những thành luỹ gìn giữ giá trị văn hoá truyền thống của một cộng đồng người gốc Hoa chung một nguồn cội. Đó có thể là hội quán Phước Kiến của những người từ vùng giáp ranh Đài Loan sang miền Nam lập nghiệp, có thể là hội quán Triều Châu (hay Tiều Châu), hội quán Quảng Đông…
 
Sau này, ranh giới địa lý của những bang hội này cũng dần xoá nhoà, họ sinh hoạt chung với nhau nhiều hơn, nhưng vẫn khá kín tiếng và ít giao du với người bên ngoài. Người bang trưởng, hay hội trưởng, là người đức cao vọng trọng trong cộng đồng, phải chăm lo nhiều thứ. Thường thì để làm chức này, người ta phải bỏ ra nhiều tiền để đóng góp cho cộng đồng và thay vì để lấy chức quyền thì họ lấy cái trách nhiệm và niềm tự hào được đóng góp cho cộng đồng. Còn nhớ mỗi năm, khu hội quán Nghĩa An bên cạnh trường tiểu học Chính Nghĩa, quận 5 đều có tổ chức bán đấu giá những cái lồng đèn tuyệt đẹp để lấy tiền chăm lo đời sống và giáo dục cho con em gốc Hoa. Không giương cờ gióng trống hot boy hot girl hay trực tiếp truyền hình MC nổi tiếng gì cả, chỉ có những “đại bô lão” ngồi ghế, con cháu em út quây xung quanh trong một không gian ngập sắc màu, trang phục truyền thống. Nhưng con số cứ tăng dần, chục triệu, trăm triệu, rồi một tỉ, hai tỉ đồng được hô lên thu tiền ngay, làm chương trình công khai sổ sách ngay. Những cái tên khá quen như Trầm Bê hay còn xa lạ như một bà cụ đã già lắm được cẩn thận ghi chép lại, và họ cũng sẽ là những người được cộng đồng nhắc đến, được những người trẻ nhìn đó mà làm gương.
 
Bang hội này, giống như một lớp màn chắn, không cho những biến đổi quá nhanh của xã hội xông vào làm hỏng đi truyền thống của họ. Con cháu có thể đi học trường Hoa ngữ song song với trường Việt ngữ, được dạy những bài vỡ lòng về làm ăn theo kiểu công tử phải đi cọ thùng, và quan trọng nhất, họ được dạy bởi những bài học sống động của thực tiễn kinh doanh trong cộng đồng người Hoa.
 
●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●●▬▬▬▬▬▬▬ ๑۩  ۩๑ ▬▬▬▬▬▬▬●

Triết lý kinh doanh của người Hoa nhìn từ Sài Gòn - Chợ Lớn

Từ thời xa xưa, ở Sài Gòn đã phổ biến câu nói “Ăn mày Tàu".

Triết lý kinh doanh của người Hoa nhìn từ Sài Gòn - Chợ Lớn
Là vì đi ăn xin ở đâu thì đi, nhưng không thể vào khu người Hoa ở Chợ Lớn để xin được, vì người Hoa tuyệt đối không cho tiền người đi ăn xin, mà ngược lại họ sẵn sàng đưa tay ra để giúp đỡ, tạo cơ hội công ăn việc làm cho người nghèo khổ, sa cơ lỡ vận, để tự mưu sinh và sau đó có thể làm giàu.
Với người Hoa, cái gì cần xài, không sợ tốn kém, cái gì lãng phí khó mà móc được “hầu bao” của họ. Tướng quân Quản Trọng cũng đã từng khuyên vua, "Bệ hạ nên cho dân nghèo cái cần câu, hơn là cho con cá". 
Đối với cộng đồng người Hoa sinh sống tại Việt Nam hay với quốc gia nào khác, họ đều mang theo tinh hoa của triết lý này để thi thố làm ăn nơi xứ lạ, quê người. Nhiều câu châm ngôn trong cuộc sống và kinh doanh mà người Hoa nào cũng thuộc lòng và nhắc nhở cho nhau như: "Buôn Ngô buôn Tàu, không giàu bằng buôn hà tiện", hay "Biển rộng mặc biển, thuyền chèo có ngăn”…
Không thể phủ nhận tính cần và kiệm của người Hoa. Hai chữ “cần, kiệm” không chỉ có ý nghĩa triết lý suông, mà nó đã trở thành triết lý kinh doanh của người Hoa trong mọi thời đại. Vào các thập niên đầu và giữa thế kỷ XX, có nhiều tấm gương làm giàu nay đã trở thành giai thoại từ cộng đồng người Hoa ở Sài Gòn. 
 
Chuyện kể rằng, Quách Đàm và chú Hỏa xuất thân từ nghèo khó, cuộc sống của họ chỉ dựa vào gánh ve chai, nhưng do cần kiệm miệt mài làm việc mà họ trở thành đại phú gia thời ấy. Hay giai thoại "công tử co thùng", đối với các đại phú gia Hoa kiều trước khi muốn con cái gìn giữ và phát triển sản nghiệp của gia đình, họ gửi các chàng công tử này đến các cơ sở để rèn luyện tính kiên nhẫn ngay từ nhỏ. 
Để xin được vào làm việc tại một cơ sở nào, họ cũng phải trải qua quá trình xét tuyển như những người công nhân khác. Khi được tuyển vào, công việc trước tiên các chàng công tử này là phải xuống bếp cọ thùng như những công nhân. Đây là một cách đào luyện con cái họ khi trở thành doanh nhân có đủ kinh nghiệm và tính kiên nhẫn trong vai trò người chủ trong tương lai.
 
Một yếu tố khác mang tính đặc trưng của người Hoa. Đó là tính cộng đồng của họ rất cao.Trong kinh doanh, họ lập ra nhiều bang hội, nhưng các bang hội không phải là nơi tụ hội ăn chơi mà để nâng đỡ, tạo cơ hội cho mọi người trong cộng đồng có thể gây dựng cơ nghiệp làm ăn. 
Trước khi có tín dụng ngân hàng cho vay dự án kinh doanh, các bang hội người Hoa đã biết triển khai tín dụng, qua hình thức "hụi thảo", một loại hình chung tay giúp vốn cho những người muốn ra làm ăn nhưng thiếu vốn. 
Nhưng sau khi giúp vốn, người Hoa còn tích cực hơn với "hậu tín dụng", đó là chung tay giúp doanh nghiệp còn non trẻ. Nếu là mở hàng ăn thì họ kéo nhau đến ăn, nếu sản xuất giày dép thì họ tìm đến mua giày… 
 
Nhưng trước hết, chính những đối tác được giúp đỡ đó phải chứng tỏ sự tích cực về tính kiệm cần cao độ. Một số đại gia có thương hiệu vang dội ngày nay là do từng được giúp và áp dụng tinh thần kiệm cần, như thương hiệu giày dép Bình Tiên, bánh ngọt Đức Phát… là những điển hình cụ thể. 
Bắt đầu là "tiểu phú do cần" sau trở thành "đại phú do trời". Trời nói ở đây là thời cơ khách quan đưa tới. Nhưng thời cơ chỉ đưa tới cho những ai có tâm thành, sẵn sàng năng lực để tiếp nhận khai thác. Đến đây thì triết lý kinh doanh phương Đông của người Hoa đã gặp triết lý kinh doanh của phương Tây, "Hãy tự giúp mình trước, rồi trời sẽ giúp anh sau". Nhiều nhà nghiên cứu lý giải việc kinh doanh thành công của người Hoa là vì họ rất coi trọng chữ tín, trong làm ăn họ luôn đặt chữ tín lên hàng đầu. Trong nhiều lần tiếp xúc với giới truyền thông, một cựu Phó Tổng của Công ty CP Kinh Đô, cho biết: “Người Hoa có tầm nhìn kinh doanh rộng và dài. Họ luôn nhạy bén, có khát vọng đột phá, đi đầu và làm ăn lớn, chữ “tín” cũng xuất phát từ chỗ này”. 
Công ty bánh Kinh Đô (trước 1975 có tên gọi là Công ty Đô Thành), ban đầu chỉ là cơ ngơi nhỏ tại quận 6, Sài Gòn nhưng bây giờ cơ ngơi của Kinh Đô có tới 9 công ty, có mặt từ Nam chí Bắc. Trên thương trường, Kinh Đô có thể xem là một trong những đại gia đáng gờm trong ngành sản xuất mặt hàng bánh kẹo...
 
Theo Tiến sĩ Trần Khánh, Viện Nghiên cứu Đông Nam á, những nét đặc trưng về văn hóa kinh doanh người Hoa: “Nền tảng gia đình và chữ “tín” là báu vật; đề cao vai trò của tổ chức xã hội, nghiệp đoàn truyền thống; chấp nhận mạo hiểm và quyết đoán trong kinh doanh, được sự giúp đỡ đắc lực của tập thể, gia đình và bè bạn; đa dạng hóa, đa phương hóa hoạt động đầu tư; kết hợp giữa cách làm truyền thống với kiến thức và thực tiễn kinh doanh hiện tại...”.
 
Tại TP.Sài Gòn, cộng đồng người Hoa chỉ chiếm 7% dân số (khoảng 500.000 người), nhưng tỉ trọng doanh nghiệp người Hoa lại chiếm 30% trên tổng số doanh nghiệp có mặt tại Thành phố Sài Gòn, nơi được xem có vị trí đầu tàu kinh tế của cả nước.
 
Điều đáng nói, hầu hết các doanh nghiệp này đều ăn nên làm ra, trong đó không ít doanh nghiệp có sản phẩm chủ lực cho thị trường, rất quen thuộc với người tiêu dùng không chỉ ở TP.HCM mà còn trong phạm vi cả nước. 
Chẳng hạn Công ty CP Bánh kẹo Kinh Đô, Công ty Bút bi Thiên Long, Công ty Dệt Thái Tuấn, Công ty Dây cáp điện Tân Cường Thành, Công ty CP Sản xuất ống thép Hữu Liên - Á Châu...
 
Trước 1975, khi Sài Gòn là “thủ đô” của chính quyền cũ, khu vực Chợ Lớn là nơi tập trung hàng nhập khẩu và hàng nội địa lớn nhất ở các tỉnh phía Nam. Người Hoa gần như giữ độc quyền về hoạt động thương mại (khoảng gần 90% bán buôn, 50% bán lẻ, 80% - 90% xuất nhập khẩu…). 
Những nhà buôn tầm cỡ của người Hoa thường là những đại lý độc quyền, tổng phát hành và phân phối hàng cho các đại lý nhỏ, các cơ sở kỹ nghệ, sản xuất, kinh doanh. Họ có quan hệ làm ăn buôn bán với hơn 40 nước ở khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh hệ thống các nhà buôn lớn, người Hoa ở quận 5 và Chợ Lớn còn làm chủ nhiều tiệm buôn nhỏ, vừa bán sỉ, vừa bán lẻ, đủ mọi mặt hàng, giống như những cửa hàng tạp hóa, mà người Hoa thường gọi là “chạp phô”. 
Chợ Lớn thực sự giữ vai trò trung tâm, chi phối thị trường thành phố Sài Gòn và Nam Việt Nam, tại khu vực này có một hệ thống chợ quy mô lớn, hoạt động có tính chất chuyên ngành như chợ Bình Tây, An Đông, La Cai, Tân Thành, Hòa Bình, Kim Biên…
 
= Sưu tầm by Nguyễn Văn Công =
 
Ảnh minh họa.
Xem thêm...

Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

 Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?

Mùa đông năm ấy thật lạnh, tuyết rơi nhiều khiến mặt đất biến thành một sân trượt tuyết trơn láng. Anh rùng mình khẽ xoa đôi bàn tay lạnh cóng kiên nhẫn ngồi đợi cô đến. Nơi anh và cô thường hò hẹn là một công viên nhỏ đối diện nhà cô. Anh đưa mắt nhìn lên cửa sổ phòng cô, đã hơn 7h tối mà sao cô vẫn chưa xuống anh khẽ thở dài lấy một cành cây nhỏ vẽ nhưng vòng tròn trên nền tuyết cứng. Trong mỗi vòng tròn đó anh đều viết một chứ “yêu” và tất cả chữ yêu đó đều hợp lại thành tên cô. Anh chăm chú vào kiệt tác của mình như quên cả thời gian…

Còn cô vẫn lén đứng bên cửa sổ theo dõi mọi cử động của anh. Trái tim cô xót xa khi nhìn anh ngồi một mình lạnh giá. Tình yêu của anh dành cho cô chứa đựng biết bao nhiêu đau đớn và hi sinh. Anh luôn tự ti và trách móc mình kém cỏi vì chỉ là một người công nhân không thể xứng đáng với cô, sinh viên của một trường đại học. Tình yêu của họ xen lẫn với biết bao đau khổ dằn vặt khi gia đình cô ra sức ngăn cấm. Đã biết bao lần cô muốn rời xa để không mang thêm áp lực đau khổ đến cho anh nhưng trái tim cô lại không thể. Cuối cùng không chịu được cô lao xuống cầu thang…

Cô đứng trước mặt anh. Anh vui mừng chạy đến ôm chặt cô vào lòng: “Cuối cùng em cũng đã đến, anh đã sợ em không thể gặp anh!”. Bàn tay anh khẽ vuốt mái tóc cô, anh dịu dàng nhìn cô nói:“Hôm nay anh phải về nhà thăm bố mẹ một thời gian. Nhưng anh sẽ rất nhớ em!”, “Ban ngày mẹ em đi làm anh có thể gọi điện cho em, em sẽ chờ điện thoại của anh, như vậy sẽ giống như chúng mình được ở bên nhau vậy, sẽ không buồn nữa!”. Cô nép mình bên vai anh thầm thì.

“Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?” 

Trong mỗi vòng tròn đó anh đều viết một chứ “yêu” và tất cả chữ yêu đó đều hợp lại thành tên cô (Ảnh minh họa)

Anh khẽ ôm chặt cô hơn và chỉ cho cô thấy tác phẩm trên tuyết mà anh đã làm tặng cô. Trên nền tuyết trắng tên cô được viết bằng hàng trăm chữ yêu hợp lại, trái tim cô run lên vì xúc động, cô biết anh yêu cô rất nhiều. Anh khẽ lấy tay kéo cao cổ áo cho cô, rồi dặn dò: “Em ở lại nhớ chú ý học hành thật tốt, đừng nhớ đến anh nhiều quá ảnh hưởng đến việc học. Khi nào buồn em cũng đừng nhốt mình trong phòng mà hãy ra ngoài đi dạo, đi chơi với bạn bè. Những lúc không có việc gì thì đan cho anh cái áo len, đến mùa xuân anh sẽ mặc nó được chứ? Như vậy thì lúc nào cũng sẽ có cảm giác anh luôn ở bên em, em sẽ không thấy cô đơn nữa!”. Nói rồi anh rút ra trong túi một gói giấy nhỏ nhét vào tay cô: “Đây là một ít tiền lương tháng này của anh. Anh đã giữ một ít tiền để đi đường và mua ít quà cho gia đình, còn đâu em giữ lại để mua cho mình một bộ quần áo mới nhé! Cẩn thận đừng để mẹ em biết nếu không anh sợ em phải chịu khổ”. Cô cầm gói tiền của anh trong tay mà nước mắt lăn dài…

Sau đó cô đưa anh ra bến tàu. Khi anh bắt đầu bước lên xe, cô nhét gói tiền vào túi anh và nói: “Anh hãy cầm số tiền này mua thêm ít quà cho bố mẹ, còn em sẽ giữ một đồng coi như là món quà Tết anh tặng cho em. Trên đường đi nhớ bảo trọng anh nhé!” Anh chưa kịp phản ứng gì thì đoàn tàu đã nhanh chóng chuyển bánh. Anh vội vã gọi với lại theo cô: ”Giữ gìn sức khỏe em nhé! Anh nhớ em rất nhiều!”. Cô gật đầu vẫy tay nhìn bóng anh khuất xa dần…

Về đến nhà, việc đầu tin là anh gọi điện về cho cô. Nhưng mẹ cô cầm máy, bà lạnh lùng nói: “Anh có phải là người công nhân đang theo đuổi con gái tôi không? Xin anh hãy tránh xa con gái tôi, nó đang ốm và không muốn gặp anh! Lần sau xin anh đừng bao giờ gọi điện đến nữa”. Anh đau đớn, lẳng lặng dập máy, nghĩ đến cô đang ốm, lòng anh thấp thỏm không yên.

Còn cô cả ngày chỉ nằm trên giường chờ điện thoại của anh, nhưng mấy ngày rồi vẫn không thấy anh gọi về, trong lòng cô cũng lo lắng không yên. Để bớt nhớ anh, cô đi mua len về đan áo như lời anh dặn. Cho đến một ngày chuông điện thoại reo vang, cô nhấc máy vừa nói được tiếng alo thì mẹ cô đã tiến lại gần. Cô chỉ kịp nghe thấy giọng anh gấp gáp: “Là em có phải không? Em sao rồi? Sao không nói gì? Em bị cảm đã đỡ chưa? Trả lời anh đi…Em!”. Cô không kịp nói gì thì mẹ cô đã ngay lập tức dập máy. Bà tức giận thẳng thừng nói với cô: “Nếu con còn ngang bướng tiếp tục giao du với thằng công nhân đó, thì nhà này coi như không có đứa con gái này nữa!”. Cô đứng đó chết lặng. Chờ mẹ đi rồi cô mới bắt đầu khóc nấc lên, cô nhớ anh vô hạn…

Nhớ lời anh cô rời khỏi nhà ra ngoài đi dạo cho lòng khuây khoảm cô lại đến nơi anh và cô thường gặp nhau, nhìn những chữ “yêu” anh viết cho cô còn sót lại trên tuyết, nước mắt cô lại rưng rưng. Cô bước lên xe bus sang nhà người bạn thân tiếp tục công việc đan áo của mình. Đường đi phủ một lớp tuyết cứng dày trơn nhẫy, mặc dù xe đi rất chậm nhưng vẫn bị trượt bánh nhiều lần. Bỗng cô nghe thấy một tiếng “ầm” xé tai, cùng với những mảnh kính nát vụn bắn tung tóe, cuộn len trong túi cô văng ra ngoài cửa sổ. Cô chỉ kịp nghe tiếng ai thất thanh: “Hai xe đâm nhau rồi”, tay nắm chặt chiếc áo len đang đan dở cô thiếp đi không biết gì…

  Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?

 Đã hơn ba ngày đêm, cô vẫn hôn mê không tỉnh. Bố mẹ cô khóc sưng cả mắt, tuyệt vọng ngồi bên giường bệnh chờ phép màu xảy ra. Bác sỹ nói nếu cô tỉnh dậy, còn tâm nguyện gì phải làm ngay vì có thể thời gian của cô không còn nhiều nữa. Đến nửa đêm ngày thứ tư cuối cùng bàn tay cô cũng khẽ động đậy, mẹ cô vụt tỉnh dậy ôm chầm lấy cô òa khóc, giọng bà khản đặc: “Con gái! Con có điều gì muốn nói không? Hãy nói cho mẹ, đừng ngủ nữa con…” Cô mấp máy môi nói được những tiếng đứt đoạn: “Áo..áo…len… mang cho con!”. Mẹ cô sực tỉnh tìm cái áo len cô vẫn ôm chặt trong tay từ bữa xảy ra tai nạn đưa cho cô. Cô run run muốn giơ tay với lấy nhưng không đủ sức nữa, cô khẽ thều thào vài tiếng “Con…nhớ… anh ấy!”. Bà vội gọi chồng đi tìm số điện thoại của chàng trai và nhắn anh đến bệnh viện ngay! Nghe thấy tên anh, cô khẽ mỉm cười rồi lại thiếp đi…

Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

Mẹ cô đau đớn cứ ôm cô mà khóc. Bà vô cùng ân hận vì đã ngăn cản cô đến với anh, bà nghĩ có lẽ tâm nguyện của con gái bà là đan xong cái áo len tặng người con trai ấy. Nghĩ vậy bà lau nước mắt và cặm cụi ngồi đan nốt phần còn lại. Nước mắt của bà cùng máu trên người cô dính vào từng sợi len khiến chiếc áo len trở lên nặng trĩu…

Khi anh đến bệnh viện thì cũng là ngày thứ năm, khuôn mặt anh hốc hác, hai mắt thâm quầng lao đến phòng bệnh của cô. Nhìn thấy cô vẫn thiếp đi trên giường, anh ngẹn ngào nắm chặt đôi bàn tay của cô òa khóc. Như một phép màu, cô từ từ mở mắt, anh vội lau nhanh những giọt nước mắt trên mặt mỉm cười nhìn cô ấm áp: “Anh đã quay trở lại rồi đây! Em đừng lo lắng nữa nhé, có gì từ từ nói thôi..” Cô mấp máy định nói điều gì mà không thành tiếng, khóe mắt cô những giọt nước mắt thi nhau chảy, rồi cô lại thiếp đi.

Anh cứ thế ôm cô khóc nấc lên. Có lẽ dường như nghe thấy tiếng khóc của anh, cô lại từ từ mở mắt, cô dùng hết sức lực thều thào những tiếng cuối cùng: “Đừng khóc nữa…Kiếp sau…em sẽ chờ đợi anh!”. Nói rồi cô nhắm mắt bất động. Bác sĩ đến. Giọng ông nghẹn lại: “Cô ấy đi rồi! Cô ấy phải muốn gặp anh lắm nên mới có thể chờ anh được lâu đến vậy, đó đúng là một kỳ tích. Bởi não của cô ấy hầu như đã bị chết đến 90% rồi! Anh hãy vững vàng mà sống không nên phụ lòng cô ấy!”

Mẹ cô cũng tiến lại, bà rưng rưng đưa cho anh cái áo len đã đan xong và nói đây là kỷ vật cuối cùng cô để lại. Anh run run cầm chiếc áo trên tay, nhìn thấy những giọt máu khô trên áo, anh chao đảo quỳ xuống ôm lấy cô gào lên tức tưởi:

“Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?”

Hồng Vân sưu tầm

 

qnh-bia-hai-nguoi-om-nhau-8

anh-bia-tinh-yeu-dep-lang-man (13)

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Apparition - Guy De Maupassant

Truyện Ngắn: Apparition

Tác giả Guy De Maupassant

Guy de Maupassant (1850 – 1893)

Guy de Maupassant (tên đầy đủ là Henri René Albert Guy de Maupassant) là nhà văn Pháp,  thế kỷ XIX,tác giả những tiểu thuyết và truyện ngắn  có khuynh hướng  hiện thực, đôi khi hư ảo. Ông sinh tại Fe1camp, một thị trấn của vùng hành chánh Haute- Normandie. Thời thơ ấu ông được gần gũi dân quê, tiếp cận với thổ ngữ và những sinh hoạt bình thường ở vùng Normandie nên đã hình thành được nguồn cảm hứng dồi dào cho các truyện ngắn của ông. Ông được xem là một trong những tác giả viết truyện ngắn hiện đại lỗi lạc nhất.

Tác phẩm của ông gồm 6 cuốn tiểu thuyết, 3 tập ký sự du lịch, một tuyển tâp thơ và trên dưới 300 truyện kể và truyện ngắn.

Chịu ảnh hưởng của Flaubert, người thầy và cũng là cha đỡ đầu của ông, nên văn phong của ông luôn thể hiện thái độ khách quan hiện thực, nhận xét tinh tế, miêu tả chi tiết tỉ mỉ, sâu sắc.

Ông chết bệnh năm 1893 tại một dưỡng trí viện tư nổi tiếng ở Paris, hưởng dương 43 tuổi.

 

Hiện Hình- Apparition


Tác giả: Guy De Maupassant
Thân Trọng Thủy dịch

 

Một buổi tối trong một khách sạn cổ kính ở đường Grenelle. Sau bữa tiệc thân mật, mọi người đang bàn về sự tạm giam, nhân nói đến một vụ kiện vừa xẩy ra. Mỗi người kể một chuyện mà họ khẳng định là chuyện thật.

Lúc đó hầu tước de la Tour-Samuel, tám mươi hai tuổi, đứng dậy đến dựa vào lò sưởi. Ông nói với giọng run run:

“Tôi cũng có một chuyện lạ, lạ đến độ tôi bị ám ảnh suốt đời. Chuyện cách đây năm mươi sáu năm rồi mà bây giờ không tháng nào tôi không nằm mơ thấy nó. Từ ngày ấy đến nay nó hãy còn là một biểu hiện, một dấu ấn của sự sợ hãi, quí vị ạ. Vâng, tôi đã trải qua mười phút quá hãi hùng đến nỗi từ giờ phút đó đến nay tôi luôn luôn ở trong tâm trạng khiếp sợ. Nghe có tiếng động bất chợt là tôi giật thót tim, những đồ vật mà tôi không thấy rõ trong bóng tối cũng khiến tôi muốn chạy trốn ngay. Tóm lại, cứ về đêm là tôi sợ.

Ôi, tiếc là tôi chẳng hề thú nhận việc đó trước khi bước vào tuổi nầy. Bây giờ thì tôi đã có thể nói hết. Ở tuổi tám mươi hai người ta được phép nhát gan trước những hiểm nguy tưởng tượng, còn trước những hiểm nguy thực sự tôi chưa bao giờ lùi bước cả.   

Câu chuyện đó đã làm xáo trộn tâm trí tôi khiến tôi thầm đau buồn và ghê sợ nhưng tôi chưa bao giờ thổ lộ với ai. Tôi đã giữ kín tận đáy lòng, nơi thường chôn chặt những bí mật đau buồn, những bí mật xấu hổ, những nhược điểm trong đời sống mà không dám nói ra.

Sự việc xẩy ra như thế nào, tôi sẽ kể lại y như vậy, mà không giải thích. Chắc chắn là có thể giải thích được, trừ phi là tôi đã điên. Nhưng tôi đã không điên, tôi sẽ dẫn chứng. Quí vị cứ tha hồ tưởng tượng. Chuyện đơn giản thế nầy đây:

Tháng 7 năm 1827 đơn vị tôi đồn trú ở Rouen. Một hôm khi đi dạo trên bến sông, tôi gặp một người đàn ông, thấy quen lắm nhưng không nhớ đích xác là ai. Do bản năng, tôi dợm dừng bước. Người ấy thấy cử chỉ đó của tôi bèn nhìn tôi và sà ngay vào vòng tay tôi.

Thì ra đó là một người bạn thời trai trẻ mà tôi rất mến. Sau năm năm không gặp nhau, anh ấy có vẻ già đi nửa thế kỷ. Tóc anh bạc trắng và bước đi lom khom như kiệt sức. Biết tôi ngạc nhiên, anh ta kể chuyện đời mình. Một tai họa khủng khiếp đã làm tan nát đời anh.

Yêu say đắm một thiếu nữ, anh đã cưới nàng trong niềm sung sướng ngất ngây. Sau một năm sống hạnh phúc tràn trề và say đắm không nguôi, nàng bị bệnh tim qua đời đột ngột. Hẳn là chính tình yêu đã giết chết nàng.

Ngay hôm an táng, anh ta đã rời bỏ tòa lâu đài, đến sống ở Rouen. Ở đây anh sống cô độc và tuyệt vọng, vì đau khổ mà sức khỏe hao mòn, thảm hại đến nỗi anh chỉ nghĩ đến việc tự tử.

Anh ta nói:

“May gặp anh ở đây, tôi nhờ anh giúp một việc quan trọng. Anh về lâu đài của tôi, tìm đến tủ ngăn kéo trong phòng tôi, phòng của chúng tôi, lấy giùm tôi một số giấy tờ tôi cần gấp. Việc nầy tôi không thể giao cho thuộc hạ hay thư ký của tôi được vì cần tuyệt đối cẩn thận và kín đáo. Mà bản thân tôi thì chẳng còn có gì trên đời nầy nữa để quay về lại căn nhà đó. Tôi sẽ đưa anh chìa khóa phòng mà đích thân tôi đã khóa trước khi bỏ đi, và cả chìa khóa ngăn kéo. Ngoài ra tôi sẽ viết mấy chữ cho ông làm vườn, anh đưa cho ông ta để ông mở cửa lâu đài cho anh. Nhưng để sáng mai anh đến ăn sáng với tôi, mình sẽ nói tiếp chuyện nầy.”

Tôi hứa sẽ giúp anh ấy làm công việc nhẹ nhàng đó. Vả chăng, bất quá chỉ là một cuộc dạo chơi thôi, vì lâu đài của anh ta chỉ cách Rouen khoảng 5 dặm (1). Tôi chỉ mất một giờ cỡi ngựa là cùng.

Ngày hôm sau tôi đến nhà anh lúc mười giờ. Chúng tôi ngồi đối diện nhau ăn sáng, nhưng anh ta nói rất ít. Anh ta xin lỗi tôi về việc đó. Anh nói cứ nghĩ tới việc tôi vào thăm căn phòng nơi chôn vùi hạnh phúc của anh là anh thấy mất tinh thần. Quả thật, tôi thấy anh ta rất kích động, bồn chồn, giống như đang xẩy ra một cuộc chiến bí mật trong tâm hồn.

Cuối cùng anh cho biết cụ thể tôi phải làm gì. Rất đơn giản. Tôi phải lấy về hai xấp thư từ và một tâp giấy để trong ngăn kéo thứ nhất bên tay phải mà tôi sẽ có chìa khóa.

Anh ta nói thêm:

“Tôi không cần phải xin anh đừng đọc những thư từ đó.”

Nghe vậy tôi hơi chạm tự ái nên trả lời hơi gay gắt. Anh ta vội ấp úng:

“Xin lỗi anh, tôi đau khổ quá!”

Và anh ta bật khóc.

Tôi từ biệt anh ta lúc một giờ để thực hiện nhiệm vụ của mình.

Thời tiết đẹp rực rỡ và tôi phóng nhanh ngựa qua những cánh đồng cỏ, tai nghe tiếng hót của chim chiền chiện và tiếng thanh kiếm nhịp nhàng chạm vào chiếc ủng.

Khi vào trong rừng tôi cho ngựa bước chậm lại. Cành cây lướt nhẹ vào mặt tôi, thỉnh thoảng tôi dùng răng bứt một ngọn lá nhai ngấu nghiến, lòng bất chợt cảm thấy hạnh phúc rạo rực khó tả, toàn thân tràn trề sinh lực.

Khi đến gần lâu đài, tôi rút lá thư trong túi ra để lát nữa đưa cho người làm vườn và tôi ngạc nhiên thấy thư đã niêm phong. Tôi sửng sốt và tức giận đến độ suýt quay về không làm tròn công việc được giao nữa. Nhưng tôi nghĩ làm thế thì tỏ ra mình dễ tự ái quá, không tốt. Có thể anh bạn tôi trong lúc bối rối đã vô ý dán thư lại mà thôi.

Hình minh họa

 

Lâu đài có vẻ như đã bị bỏ phế từ hai mươi năm. Cổng mở toang và hư mục, không hiểu tại sao vẫn còn đứng được. Cỏ mọc đầy lối đi, phủ kín các bồn hoa. Nghe tiếng chân tôi đá vào một cánh cửa nhỏ, một ông già từ cánh cửa lớn bên cạnh bước ra và sửng sốt khi trông thấy tôi. Tôi nhảy xuống đất và đưa lá thư cho ông. Ông đọc lui đọc tới, lật qua lật lại tờ giấy, nhìn tôi từ đầu đến chân, xong đút nó vào túi rồi hỏi tôi:

“Thế nào? Ông muốn gì?”

Tôi đáp lại liền:

“Tôi muốn gì ông phải biết chứ! Ông đã đọc lệnh của chủ ông rồi mà. Tôi muốn vào trong lâu đài.”

Ông ta có vẻ mất tinh thần:

“Vậy, ông sẽ vào phòng ông ấy?”

Tôi bắt đầu mất kiên nhẫn:

“Tất nhiên! Mà này, ông lại muốn hạch hỏi tôi đấy à?”

Ông ta lắp bắp:

“Dạ không, thưa ông, chả là…phòng ấy đã không được mở từ sau cái chết… Xin ông vui lòng chờ tôi năm phút, tôi sẽ đi…sẽ vào xem thử…”

Tôi giận dữ ngắt lời:

“A! Này! Ông coi thường tôi à? Ông không thể vào đó được, vì chìa khóa ở đây nầy!”

Ông ta không còn biết nói gì nữa.

"Thưa ông, vậy tôi xin dẫn đường.”

“Ông chỉ cho tôi biết cầu thang ở đâu và để mặc tôi. Tôi sẽ tìm được căn phòng ấy không cần ông dẫn.”

“Nhưng …thưa ông…tuy vậy…”

Lần nầy tôi thực sự nổi nóng:

“Bây giờ ông im đi, nếu không thì hãy liệu hồn!”

Tôi xô ông ta ra và vào lâu đài.

 Trước tiên tôi đi qua nhà bếp rồi qua hai phòng nhỏ của vợ chồng ông ta. Tiếp đó tôi đi qua một tiền sảnh rộng, bước lên cầu thang và nhìn thấy cánh cửa phòng mà anh bạn tôi đã chỉ. Tôi mở cửa ra một cách dễ dàng rồi bước vào trong.

 Căn nhà tối tăm đến độ lúc đầu tôi chẳng thấy gì cả. Tôi dừng lại vì thoang thoảng có mùi ẩm mốc toát ra từ những căn phòng bỏ trống và đóng kín cửa, đúng là những căn phòng chết. Khi quen dần với bóng tối, tôi thấy khá rõ căn phòng ngổn ngang với một cái giường không có khăn trải, còn nệm và gối. Một cái gối còn hằn sâu dấu khuỷu tay hay dấu của một cái đầu ai đó vừa tựa vào.

Mấy cái ghế trông rất hỗn độn. Tôi chú ý đến một cánh cửa, đúng là cửa một tủ áo, hãy còn hé mở.

Thoạt tiên tôi đến mở cửa sổ để đón ánh sáng vào nhưng không mở được vì bản lề đã hoen rỉ. Tôi thử lấy thanh kiếm cạy cũng không được. Do tôi giận vì đã phí sức vô ích và cũng vì mắt tôi đã quen với bóng tối nên tôi không cần có thêm ánh sáng nữa làm gì, tôi bước lại bàn giấy.

Tôi ngồi xuống ghế bành, giở tấm ván kệ, mở ngăn kéo ra. Ngăn kéo đầy ắp. Chỉ cần lấy ba gói nhưng tôi không biết đích xác là ba gói nào, tôi đành phải lục tìm.

Tôi đang mở to mắt để đọc địa chỉ trên các bì thư thì hình như tôi nghe hay đúng hơn là cảm thấy có tiếng sột soạt sau lưng. Lúc đầu tôi không để ý lắm vì nghĩ rằng đó chỉ là tiếng gió lay mấy tấm vải. Nhưng khoảng một phút sau tôi lại nghe một tiếng động khác rõ hơn khiến da thịt tôi nổi gai ốc.

Bị hốt hoảng như vậy, dù chút đỉnh thôi, mà ngốc đến nỗi tôi không dám quay đầu lại, vì quá nhát gan. Tôi tìm được tập thư thứ hai và khi vừa thấy tập thứ ba thì có tiếng thở nặng nề khó nhọc ở sau vai làm tôi hoảng hồn nhảy khỏi đó hai mét. Vừa nhảy tôi vừa quay lại đặt tay vào chuôi kiếm, và nếu không cảm thấy có nó bên hông thì chắc tôi đã bỏ chạy một cách hèn nhát.

Sau ghế bành mà tôi vừa ngồi lúc nãy có một người đàn bà cao lớn mặc đồ trắng đang đứng nhìn tôi. Tôi cảm thấy tay chân run lẩy bẩy, suýt té ngửa xuống đất. Ôi, nếu ai không tự mình gặp phải nỗi khiếp sợ kinh khủng và phi lý đó thì sẽ không hiểu đâu. Tâm trí lơ mơ, tim như ngừng đập, người mềm nhũn như miếng bọt biển, tưởng chừng như mọi thứ trong người đều sụp đổ.

Tôi không tin có ma. Vậy mà tôi đã suy sụp vì sợ người chết và tôi đã đau khổ, ôi đã đau khổ trong một vài khoảnh khắc mà thấy dài hơn cả quãng đời còn lại của tôi, vì không cưỡng lại được nỗi khiếp sợ những điều kinh dị siêu phàm.

Nếu bà ấy không lên tiếng chắc tôi đã lăn đùng ra chết. Nhưng bà ta đã nói, với cái giọng nhẹ nhàng và đau đớn khiến tâm thần rung cảm. Tôi không dám nói là tôi đã tự chủ trở lại, đã tỉnh táo trở lại. Không. Lúc đó tôi bối rối đến độ tôi cũng không biết mình đang làm gì. Nhưng tính tự phụ thầm kín trong tôi, cả lòng kiêu hãnh nghề nghiệp nữa, đã giúp tôi giữ được thái độ đúng mức. Tôi chọn thái độ đó vì tôi và hẳn là vì bà ta, vì bà ta, dù bà là ai, người thật hay bóng ma. Về sau tôi mới nhận thức được những điều đó, vì xin đoan chắc với quí vị là ngay khoảnh khắc bà ấy hiện ra, tôi chẳng nghĩ gì cả. Tôi sợ.

Bà ta nói:

“Ôi, thưa ông, ông có thể giúp tôi một việc lớn không?”

Tôi muốn trả lời nhưng không mở miệng được, chỉ có môt âm thanh mơ hồ thoát ra từ cổ họng.

Bà ta nói tiếp:

“Xin ông làm ơn, ông có thể cứu tôi, chữa lành cho tôi. Tôi đau đớn vô cùng, tôi đau quá. Ôi! Tôi đau quá!”

Và bà ta nhẹ nhàng ngồi xuống ghế bành, nhìn tôi:

“Ông làm ơn!

Tôi gật đầu tỏ ý chấp thuận, vì vẫn mất giọng.

Thế là bà ta đưa tôi một cái lược đồi mồi và thì thầm:

 “Hãy chải tóc cho tôi, ôi, hãy chải tóc cho tôi để tôi khỏi bệnh. Tôi chỉ cần được chải tóc. Ông hãy nhìn đầu tôi mà xem. Tôi đau lắm, tóc làm tôi đau!

 Tôi thấy tóc bà ấy rối tung, rất dài và rất đen, xõa qua lưng ghế bành xuống tới đất.

Sao tôi lại làm việc nầy? Tại sao tôi lại vừa run vừa cầm lấy cái lược, và tại sao tôi lại nắm những lọn tóc dài khiến tôi có cảm giác rờn rợn như cầm những con rắn? Tôi chẳng biết nữa!

Cái cảm giác ấy vẫn còn nguyên trong mấy ngón tay và mỗi lần nhớ lại tôi không khỏi rùng cả mình!

Tôi chải đầu cho bà ấy. Chẳng rõ bằng cách nào mà tay tôi đã chạm, đã sờ vào mái tóc lạnh như nước đá ấy. Tôi xoắn tóc lại, cột rồi tháo ra, rồi tôi bện như người ta bện bờm ngựa. Bà ta thở một hơi dài, nghiêng đầu, có vẻ sung sướng.

Bỗng bà nói “cám ơn!” rồi giật lấy cái lược trên tay tôi và tuôn chạy qua cánh cửa đang hé mở.

Còn lại một mình, trong vài giây tôi thấy hoảng hốt như vừa thức giấc sau cơn ác mộng. Khi tỉnh táo lại, tôi chạy đến cửa sổ dùng hết sức đẩy mạnh cánh cửa.

Một luồng ánh sáng lùa vào. Tôi phóng tới cánh cửa lớn mà bà ấy vừa chạy qua. Cửa đóng kín, không cách gì xê dịch được.

Tôi kinh hãi muốn bỏ chạy thật lẹ. Một sự sợ hãi y như sự hoảng sợ của binh lính lúc đánh nhau. Tôi chộp thật nhanh ba gói thư trên bàn giấy, chạy ra khỏi nhà, nhảy từng bốn bậc cấp một, ra được bên ngoài mà không biết bằng cách nào. Tôi chợt thấy con ngựa cách đó khoảng mười bước. Thế là tôi nhảy phóc lên lưng nó và phóng nước đại.

Đến Rouen thì tôi dừng lại trước nhà tôi. Trao dây cương cho người lính hầu, tôi rút nhanh vào phòng đóng cửa suy nghĩ.

Trong khoảng một giờ, tôi lo lắng tự hỏi có phải mình bị ảo giác hay không. Chắc chắn tôi đã bị một chấn động thần kinh, ảnh hưởng đến não, phát sinh những điều kỳ lạ từ đó mà hình thành quyền lực siêu nhiên.

Tôi gần như tin vào một ảo ảnh, một sự sai lệch của giác quan lúc tôi lại gần cửa sổ. Tôi tình cờ nhìn xuống ngực. Cái áo khoác nhà binh dính đầy những sợi tóc dài của bà ấy quấn quanh mấy khuy áo.

Tay tôi run rẩy gỡ từng sợi tóc một ném ra ngoài. Rồi tôi gọi người lính hầu. Tôi rất xúc động, rất bối rối, không dám đến nhà anh bạn ngay hôm ấy. Hơn nữa tôi cũng muốn suy nghĩ cho thật chín chắn về những gì sẽ nói với anh ta.

Tôi cho mang mấy tập thư đến cho anh bạn và anh ta đã viết biên nhận đưa cho tên lính. Anh hỏi thăm tôi. Nghe nói tôi bệnh, bị say nắng bất chợt, anh ta rất lo.

Hôm sau từ sáng sớm tôi đã đến nhà anh ấy, quyết định sẽ nói cho anh biết hết sự thật. Nhưng anh ta vắng nhà từ chiều hôm trước chưa về.

Trong ngày hôm đó tôi có trở lại nhưng vẫn không gặp anh. Tôi chờ suốt tuần vẫn không thấy anh về. Tôi đành phải báo nhà chức trách. Họ tìm anh khắp nơi mà chẳng rõ tông tích.

Họ tiến hành khám xét tỉ mỉ tòa lâu đài bỏ hoang. Không có gì khả nghi cả. Chẳng có dấu vết nào chứng tỏ nơi đây có che giấu một người phụ nữ.

Cuộc điều tra không đem lại kết quả, mọi tìm kiếm bị bỏ dở.

Và từ năm mươi sáu năm nay, tôi chẳng có tin tức gì. Tôi không biết gì hơn.

 

Kim Kỳ st

Xem thêm...

Bó Hoa Quá Đẹp - Thanh Châu

Bó Hoa Quá Đẹp

Thanh Châu

О лучших в жизни праздниках 8 марта рассказали известные гродненки

Từ lúc ngồi tiếp chuyện Thúy Lan, Chương thấy tâm hồn mình nhẹ bổng, bàng hoàng như bay lên mấy từng mây. Mà chàng không cảm động sao được, Thúy Lan là tiêu biểu cho cái đẹp trong lý tưởng của chàng, Thúy Lan lại thuộc về phái thượng lưu, trí thức, lanh lợi, thông minh, nói năng hoạt bát. Thời thường, Chương vẫn ao ước có dịp được biết nàng; thế mà hôm nay gặp nàng ở nhà bạn, Chương lại bối rối không biết làm thế nào để kéo dài câu chuyện cho nó có duyên.

Mỗi lần ở Nam lên chơi Hà Nội, Thúy Lan thường ở nhà bạn là Vân Anh. Tuy Vân Anh đã có chồng nhưng đôi bạn gái thân yêu nhau từ thuở nhỏ, cùng chơi đùa, cùng học tập một trường, chẳng vì thế mà giảm phần quyến luyến. Chương là bạn thân của chồng Vân Anh, cho nên chàng đã nhiều lần xem ảnh của Thúy Lan; đã nhiều lần chàng được nghe vợ bạn ca tụng những nết hay, vẻ đẹp của người mà hôm nay chàng được cái hân hạnh ngồi đối diện.
- Mời ông xơi nước kẻo nguội...
Tiếng nói trong trẻo của Thúy Lan, Chương cho là tiếng đàn tuyệt diệu ở cõi xa xăm đưa lại. Chàng ngây ngất, kề chén nước vào môi. Chàng vừa nhận thấy cái hương vị thơm tho của chén trà ngon mà chàng cho là nhờ có cái bàn tay xinh xắn, ngọc ngà của Thúy Lan pha nên mới có.
Chàng ngảnh nhìn Thúy Lan. Lúc đó bóng trăng đã rọi quá lên thềm, soi thẳng vào mặt Thúy Lan làm cho cái đẹp cao quý, đài các của nàng thêm vẻ mơ màng, huyền bí.
Ngoài vườn gió thoang thoảng thổi, lá cây rung động xạc xào. Quả tim của Chương lúc đó cũng rung động, là vì đêm đã hơi khuya mà vợ chồng bạn đi chơi từ chập tối vẫn chưa về. Chương muốn rốn ngồi nhưng không tiện mà bỏ ra về thì tiếc những phút êm đềm được ngồi cạnh người mình yêu dấu bấy lâu. Nhưng sau cùng, chàng cũng phải đứng dậy, rút điếu thuốc hút rồi quả quyết cáo từ Thúy Lan, hẹn hôm sau sẽ lại.
Về đến nhà, Chương trằn trọc mãi mà không ngủ được. Hình ảnh của Thúy Lan vẫn phảng phất trước mắt chàng. Chàng vừa cảm ơn sự tình cờ đã xui khiến cho chàng được gặp gỡ Thúy Lan, chàng đã lại trách ngay sự tình cờ sao lại bày ra cái cuộc gặp gỡ éo le ấy. Vì, tự xét thân thế mình, Chương thấy nó chẳng đáng là một kẻ học sinh nghèo, sao lại có cái ý tưởng điên cuồng chực yêu một người xa xôi như trong mộng, một người từ thuở lọt lòng đã quen với cái sống đài các, xa hoa.
Ôi! ở đời sao lại có chỗ cách biệt tầm thường mà quan hệ thế, để cho lòng người phải tan nát?
Tại sao Thúy Lan lại chẳng là con gái một gia đình cũng thường thường như chàng? Tại sao Chương có quyền yêu Thúy Lan mà vẫn không có hy vọng một ngày kia nàng yêu lại?
Nhưng sáng hôm sau ngủ dậy, Chương đã lại vui vẻ như con chim thấy ánh sáng mặt trời, vì tâm hồn thiếu niên bao giờ cũng vậy, những điều lo nghĩ chỉ thoáng qua như cơn gió. Họ chỉ biết cái vui hiện tại, dù cái vui đó rồi cũng chỉ thoáng tan như bọt nước trời mưa.
Chương vui vẻ tưởng đến buổi lại được gặp mặt Thúy Lan, mà lần này thì hẳn Thúy Lan cảm thấy được lòng yêu tha thiết của chàng, vì chàng vừa mua một bó hồng đắt tiền thật đẹp để tặng Thúy Lan.Đàn bà bao giờ cũng thích hoa, mà nhất là Thúy Lan, một cô gái về phái mới, nàng chẳng yêu hoa sao được. Nghĩ thế Chương, lấy làm hớn hở, trân trọng bọc bó hoa vào một mảnh giấy lụa mỏng rồi chàng đến gõ cửa nhà bạn.

Какие подарить цветы маме девушки 
Nhưng chàng thất vọng biết bao, khi chàng được tin Thúy Lan vừa có ô tô của người anh họ đón đi Đồ Sơn nghỉ mát.
Những hai tháng nữa Thúy Lan mới về, mà bó hoa đẹp của Chương chỉ tươi thắm được hai ngày là héo hắt, khác nào tấm lòng của Chương chỉ vui vẻ một lúc rồi tuyệt vọng mà hao mòn.
Cái lâu đài đẹp đẽ chàng vừa xây xong đã đổ nát. Cái hy vọng làm đẹp lòng ai một phút cũng không thành. Thúy Lan đã vô tình giày xéo lên trên quả tim thổn thức vì nàng mà nàng không biết.
Buồn rầu và chán nản, Chương định vất bó hoa xuống đất mà giẫm cho tan nát ra, nhưng nghĩ lại hoa kia vô tội, phải là kẻ phàm phu mới có cái cử chỉ ấy được.
Một thiếu niên thông minh, học thức mà lại giàu tình cảm như Chương thì dẫm nát một bó hoa đẹp sao đang.
Về đến nhà trọ, Chương định tìm cái lọ để cắm những bông hồng không may mắn ấy để trên bàn học. Nhưng chẳng có cái nào đáng để cắm những bông hoa đẹp quá ấy. Chẳng có cái nào vừa ý Chương.
Chàng bỗng thở dài vì một ý nghĩ chua chát vừa hiện ra trong óc. Chàng tự ví mình với những chiếc lọ tầm thường không xứng với những bó hoa quý giá như Thúy Lan.
Chương đương nghĩ ngợi lan man thì bỗng nghe văng vẳng có tiếng hát ở nhà dưới. Chàng nhận ngay ra là tiếng hát của cô Thu, con gái bà chủ nhà trọ đương ngồi khâu bên cửa sổ.
Chương mỉm cười. Chàng đã nghĩ được một cách để khỏi bận bịu với bó hoa. Chàng đem tặng cô Thu bó hoa ấy, thế là xong. Rồi chàng cầm ngay bó hoa xuống nhà đặt bên cạnh cô Thu:
- Sáng nay có người bạn cho tôi bó hồng hái ở vườn nhà. Tôi chắc cô Thu cũng thích hoa nên tôi mang biếu...
Thu sung sướng quá, không dám ngẩng mặt lên, bủn rủn cả tay chân, hai má nàng đỏ bừng. Nàng ôm bó hoa vào lòng mà không tìm được một câu để cảm tạ Chương đã nghĩ tới nàng.
Thu cảm động như thế là vì đã một năm nay, từ ngày Chương đến trọ học nhà Thu, Thu yêu Chương, yêu một cách âm thầm tuyệt vọng, có lẽ suốt đời, Thu còn cảm thấy cái tình yêu ấy, nhưng thà chết chứ không khi nào Thu dám thổ lộ với Chương. Vì Thu biết là Chương không hề để ý tới nàng, vì Thu tự biết mình không đáng được Chương yêu.
Thu cũng có chút nhan sắc đấy, nhưng Chương còn ước vọng những chỗ cao xa, còn lòng đâu mà nghĩ tới một cô con gái cửa nhà đạm bạc như Thu còn phải may thuê, vá mướn để nuôi một mẹ già và săn sóc một đàn em dại.
Biết vậy mà Thu vẫn yêu Chương. Nàng săn sóc tới Chương như một người em gái săn sóc cho người anh ruột.
ấm nước của Chương lúc nào cũng nóng, chỗ học của Chương bao giờ cũng sạch sẽ, ngăn nắp hẳn hoi.Hễ Chương ngủ trưa là Thu nhẹ nhàng khép cửa sổ, sợ chàng chói mắt và dặn các em khẽ mồm "để anh Chương ngủ".
- Anh Chương hôm nay về chậm.
- Anh Chương hôm nay thức khuya.
Những câu nói ấy nàng cố lấy giọng tự nhiên để nói với Chương, nhưng nó ngụ biết bao tình âu yếm, nếu Chương hiểu được lòng Thu.
Thu hy vọng một ngày kia. Cái ngày ấy phải quan trọng mà hoang đường như ngày một cô con gái thường dân lấy được ông Hoàng. Chương sẽ biết cho cái tình khổ tâm và u ẩn của Thu, rồi Chương sẽ ôm Thu vào lòng mà thỏ thẻ bên tai Thu những câu êm ái:
- Chương xin lỗi Thu vì đã để cho Thu phải đau lòng, Chương cũng yêu Thu lắm...
Cái ngày ấy Thu chờ đợi mãi. Có lẽ lúc này đã đến, vì không phải là vô cớ mà Chương lại đem tặng nàng bó hoa đẹp như thế kia.
Thường thường trai gái tặng hoa cho nhau, chỉ là tỏ cho nhau biết nỗi lòng yêu.
Thu thẹn thùng, vuốt ve mấy bông hoa cũng tươi thắm như đôi má của Thu rồi khẽ nói:
- Bó hoa đẹp quá!
Nhưng lúc nàng ngẩng mặt lên thì Chương đã vội vã quay gót bước đi rồi.
Thôi thế là hết, giấc mộng êm đềm của Thu đã hết. Chương chẳng ôm Thu vào lòng, Chương chẳng nói thêm một câu nào nữa, Chương chẳng phải vì yêu Thu mà tặng Thu hoa.
Thế là cái tình tuyệt vọng vẫn theo Thu mà vò héo tấm lòng nàng những ngày gió mưa không người an ủi.
Chương vẫn lạnh lùng đạp bước lên trên quả tim của Thu thổn thức vì chàng mà chàng chẳng biết. Chàng tặng Thu bó hoa là vì chàng chẳng nỡ vứt nó đi. Chỉ có thế thôi.
Nhưng bó hoa đẹp quá! Ôi! Bó hoa chàng tặng Thu đẹp quá, đời Thu không có cái hạnh phúc được chơi. Nàng đối với Chương cũng chỉ như cái lọ tầm thường không đáng dùng để cắm những bông hoa quá đẹp.

Tiểu thuyết thứ bảy, 1934,
In trong tập truyện ngắn Trong bóng tối,

Kim Kỳ sưu tầm


Xem thêm...
Theo dõi RSS này