Truyện

Truyện (319)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Mùa Xuân Năm Ấy

Mùa Xuân Năm Ấy

******

Chuyện phiếm

Muốn cho “Tết” còn mãi trong tôi và con cháu tôi, chúng tôi năm nào cũng tưng bừng đón tết. Gia đình tôi chuẩn bị từ ngày 20 tháng Chạp. Trước nhất tôi phải mua hai chậu cúc vàng, mua nếp, thịt, đậu xanh, lá chuối để nấu bánh chưng. Vợ tôi thì chuẩn bị mâm ngũ quả, dưa hấu, bao lì xì, thịt nấu đông v. v... Mấy đứa nhỏ thì kết bông mai (thật ra tụi nhỏ chưa hề thấy bông mai, nhưng nghe tôi diễn tả và làm mẫu bông cho chúng coi, chúng thấy đẹp nên học kết bông trang trí cho ngày tết). Nhà cửa được lau chùi sạch sẽ, nhất là mành sáo được tháo xuống đem tiệm giặt ủi. Cũng nhân tiện kêu thợ tới xịt trừ dán muỗi (Pet Control). Đặc biệt nhất là vợ tôi canh me mấy ngày cuối năm shopping mở cửa “sale” để mua cho mỗi người một bộ đồ mới.

Năm nay tình hình đón Tết có vẻ khác mọi năm, ngoài những vật dụng và thức ăn, thức uống, vợ tôi mang về một cái tent to tổ chảng. Hỏi ra vợ tôi trả lời: “Anh thật già rồi nên hay quên, năm nay Tết nhằm ngày sinh nhật của hai cô Út mình và hai cậu cháu đích tôn, nên em muốn làm tiệc đãi mấy người quen và bạn bè tụi nó, vì vậy em phải mua cái tấm này căng ra phiá sau mới đủ chỗ ngồi..

Thật sự tôi quên mất. Ngày mùng 1 Tết là ngày sinh nhật của tụi nó. Cái ngày trọng đại ghi dấu trong tôi những chuyện cười ra nước mắt mấy chục năm về trước. Cái ngày mỗi lần nghĩ tới tôi không thể nín cười...

Tôi dắt vợ, dắt con vượt biên. Trong lúc Taxi (ghe siệp) mang người ra “cá lớn” tôi lạc vợ. Kết quả hai bố con tôi tới bến bờ tự do, còn vợ tôi trở về với gia đình, sau khi đếm 3 tháng lịch trong nhà giam Rạch Sỏi. Bố con tôi được Úc nhân định cư... Xứ Úc đón nhận bố con tôi thân tình. Sau mấy tháng học Anh văn, tôi kiếm được việc làm, con gái tôi cũng xin được việc làm bán thời trong tiệm thuốc Tây.

Bố con tôi lo thủ tục làm bảo lãnh “mẹ nó” qua. Khi cô con gái tôi vừa tròn 20 thì cô ta lấy chồng, Chúng tôi vẫn sống với nhau trong căn nhà mướn 3 phòng. Cũng cuối năm đó thì “mẹ nó” qua đoàn tụ…

 Vài năm kế đó. Cái trớ trêu là khi vợ tôi báo tin có thai, thì cô con gái tôi cũng báo tin có bầu. Thật là:

Mẹ ơi! Con đã có bầu,

Con ơi! Mẹ cũng đang rầu như con

 Bụng vợ tôi lớn dần, thì bụng con gái tôi cũng tăng kích thước. Hai mẹ con ra vô trước mặt tôi và thằng rể, làm tôi thấy nhột. Nhiều lúc ngồi bên nhau, tay tôi phản ứng, lấy ngón khều thằng rể. Thằng rể biết ý thông truyền sự cảm nhận bằng cách bóp đùi tôi, cả hai chúng tôi nhìn nhau mỉm cười ý nhị.
 
Từ lúc hai người đàn bà trong nhà tôi đều có bầu, không khí gia đình tôi hình như thay đổi. Thay đổi đầu tiên là tôi phải sửa lại cái cửa đi vào bếp và phòng ăn. Lý do căn nhà chúng tôi mới mua là căn nhà xưa, nhiều năm tuổi. Cái bếp nhỏ, cửa chật hẹp. Mỗi lần mẹ con nó ra vô gặp nhau tại cửa là xảy ra “ùn tắc giao thông”. Mẹ nhường con, con nhường mẹ. Nhìn hai mẹ con ra vô cà dựt mà thấy tội nghiệp. Tôi sửa cửa lớn ra 8 tấc 2 cho đúng tiêu chuẩn phong thủy.

Hình nền động đẹp, hình nền động độc đáo cho dế yêu - 17

Ngày tháng qua dần, bụng hai mẹ con lớn ra, cửa 8 tấc 2 hình như không đủ rộng.

Hôm đi siêu âm bác sĩ cho biết nhà tôi có bầu sinh đôi. Tin sét đánh làm tôi lặng người. Vừa về đến nhà gặp thằng rể ngồi trong salon mặt méo xệch, tôi hỏi có chuyên gì mà rầu vậy? Nó trả lời: “Vợ con có bầu sinh đôi!”. Tôi hoảng hồn la lên: “Nó có bầu sanh đôi”. Nói rồi tôi nằm vật xuống bên cạnh nó. Tôi có bịnh suyễn, những lúc như vậy bịnh suyễn phản ứng cấp kỳ. Tôi thở không nổi, tay chỉ về phía tủ thuốc, miệng lắp bắp: “Ventolin..”. Thằng rể hiểu ý chạy lấy chai Ventolin cho tôi. Nó giúp tôi xịt vào cổ họng, vuốt lưng tôi như thể làm cho cái nghẹn đi xuống. Tôi thở trở lại bình thường, nhìn con rể thì thào: “Má con cũng có bầu sinh đôi”. Khi biết cả hai mẹ con đều có bầu sinh đôi, tôi nói với con rể: “Có lẽ bố con mình phải sửa cái cửa lại cho lớn hơn con à”. Rể tôi đồng ý, thế là hai chúng tôi lại hì hục nới cửa, kỳ này tôi làm cừa 1.820m, phía trên cong tròn cho đẹp. Nhìn cái cửa mới, thẳng Rể của tôi phát biểu: “Giờ mà có bầu Triple cũng không sao!”. Tôi hoảng sợ: “Thôi con à, hai đã muốn chết rồi con còn nói ba!”. Nhà đã nhỏ, những chuẩn bị cho con cháu tôi cái gì cũng cấp số 4. Giường em bé hai cái loại double, xe đẩy em bé loại 2 đứa mua hai cái, sữa chai 8 cái. Tã em bé một garage đầy nhóc. Ấm nước, bình thủy, quần áo, chăn mền cái gì cũng mua với số lượng khổng lồ. Nhìn núi đồ chất trong nhà, tôi nhìn lên ảnh Chúa: “Lạy Chúa! Con chỉ cầu xin Chúa cho con hôm nay dùng đủ thôi, sao Chúa cho con hậu hĩ, nhiều quá vậy!! Làm sao con chăm sóc nổi.

Bụng vợ tôi càng ngày càng to, dáng đi vợ tôi càng ngày càng bệ vệ, nàng đi sao vất vả quá. Nhìn vợ tôi tội quá, nếu có thể “Xin Chúa cho con mang đỡ một đứa”. Vợ tôi bị sửa tướng, con gái tôi cũng thay đổi kiểu đi. Hai mẹ con đi tới, đi lui trong giống như phim trình diễn thời trang quay chậm. Cả hai không thướt tha “liễu yếu đào tơ nữa” mà chậm chạm hùng hồn, hiên ngang khí phách. Mỗi lần hai mẹ con gặp nhau y như những đứa con trong bụng gặp nhau trước, chỉ thiếu điều chúng chưa thể đưa tay ra, bắt tay nhau. Nhưng gương mặt họ thì hồng hào láng cóng. Mấy cái mụn trứng cá vẫn nổi lên khuôn mặt khả ái của vợ tôi vào cuối tháng biến mất, nhường chỗ cho làn da tươi trẻ, vô cùng đáng yêu...

Buổi sáng tôi có lệ ngồi uống cà phê dưới hiên, phía sau nhà. Vừa đặt ly cà phê xuống bàn thì Mino (tên con chó) chạy đến rúc đầu vào chân tôi. Tôi cúi xuống ôm con chó lên nó dẫy nảy không chịu, khác mọi khi. Tôi thả nó xuống và quan sát. Tôi phát hiện một chuyện rất quan trọng: “Con Mino cũng có bầu”. Chuyện con chó có bầu không làm tôi sửng sốt, có lẽ danh từ “có bầu” thành quen thuộc với tôi chăng. Tôi chỉ vuốt ve con chó và nói “Mino ngoan nhé”. Hình như nó hiểu chuyện, liếm chân tôi rồi chạy vào góc hè nằm nghỉ. Tôi đem chuyện Mino có bầu nói cho vợ nghe, vợ tôi cười nói: “Vậy là nhà ta có đại lợi, đại phúc rồi”. Còn tôi lại thêm một bận rộn mới, “lo ổ cho chó đẻ”

Bác sĩ cho chúng tôi biết vợ tôi có thai, hai đứa là con gái, còn con gái tôi ngược lại hai đứa là con trai. Nghe tin chúng tôi mừng lắm, vì nghe nói nếu hai đứa một trai một gái thì khó nuôi, đứa con gái sinh ra lớn lên có tính tình giống như con trai, còn đứa trai thì yếu đuối như con gái... có nhiều khi người ta phải cách ly hai đứa mới hy vọng chúng sống sót. Có nhiều hủ tục sau khi được sinh ra, người ta làm đám cưới cho chúng, vì cho rằng chúng là một cặp vợ chồng đầu thai trở lại…

 

Chúng tôi chuẩn bị tất cả cho ngày họ “nở nhụy khai hoa”. Tối 30 chưa kịp đón giao thừa, thì vợ tôi đau bụng, tôi sẵn sàng mọi thứ để đưa nàng đi nhà thương. Nhưng khi nàng an toàn, ngồi trong xe, thì xe đề máy không nổ. Chiếc xe không tuân lệnh tôi, nó cứ rên chứ không khởi động. Vợ tôi đau bụng quá, tôi đành lấy xe con rể để đưa vợ vô nhà thương. Vợ tôi tới nhà thương an toàn, chúng tôi làm thủ tục nhập viện. Đang lúc ngồi với vợ trong phòng thì mobilephone của tôi reo, đầu giây kia là thằng rể: “Ba!! Đưa xe về gấp, vợ con đang đau bụng”. Tôi luống cuống kiếm cô y tá, nhờ chăm sóc cho vợ tôi. Còn tôi chạy ra Car Park.

 

Khi ra đến car park tôi không thấy xe đâu, tôi tìm khắp nơi. Chiếc xe đã chắp cánh bay xa. Chiếc xe đã bị ai lấy đi. Điện thoại lại reo. Thằng rể hối thúc. Tôi luống cuống: “Hồi nãy ba đậu xe ở car park nhưng giờ không thấy xe nữa, dám xe bị ăn cắp rồi”, nếu vợ con bi đau quá kêu xe Ambulance đi, ba đi tìm xe... 20 phút trôi qua, rể tôi gọi tới báo tin, nó đã đưa vợ nó vào binh viện rồi, và hỏi tôi thấy xe chưa. Tôi cho nó biết chưa thấy xe. Rể tôi đề nghị gọi Police báo ngay, để đề phòng kẻ xấu lấy xe làm bậy.

Tôi trở vào với vợ và nói cho vợ tôi chuyện mất xe và chuyện cô con gái đã được chở tới nhà thương sinh. Vợ tôi nghe vậy mới hỏi: “Anh có nhớ Parking ở tầng mầu gì không? Đúng rồi tôi nhớ rõ “tầng mầu tím”. Tôi đứng bật dậy và chạy ra lên tầng mầu tím. Chiếc xe mầu trắng vẫn nằm im tại chỗ. Tôi đậu xe tầng mầu tím. Lại đi tìm xe tầng mầu hồng, làm sao mà tìm được.

Tôi vội vàng lấy xe chay qua thăm con gái. Chiếc xe bon bon ngon trớn thì bị cảnh sát chận lại. Cảnh sát trước tiên thử rượu. Không có dấu hiệu uống rượu. Tôi thấy mấy tên cảnh sát thì thầm với nhau, sau đó trở lại hỏi tôi bằng lái xe và giấy tờ chủ quyền. Tôi đưa bằng lái, nhưng không có giấy tờ chủ quyền, vì đấy là xe của con rể tôi. Tôi cố giải thích, nhưng cảnh sát không tin. Tôi móc điện thoại để liên lạc với con rể. Cái điện thoại chết tiệt lại hết pin, nó tít tít vài cái, rồi im luôn. Cuối cùng tôi phải theo cảnh sát về đồn. Tại đây cảnh sát cho biết: Tôi chạy chiếc xe bị báo là xe bị mất cắp”. Đúng rồi, khi nghe tin tôi làm mất xe, con rể tôi nó đã báo với cảnh sát, để đề phòng kẻ gian. Hiện tại tôi lái chiếc xe bị chủ nhân báo mất. Tôi cố gắng giải thích với cảnh sát, nhưng họ vẫn im lặng.Tôi mượn điện thoại để liên lạc với con rể, nhưng không được. Nhà tôi thì không có ai. Sốt ruột quá tôi phải gọi điện thoại cho người bạn. Người bạn nửa đêm chạy kiếm luật sư cùng đến đồn cảnh sát bảo lãnh tôi ra trước.

Chúng tôi quay ngược về nhà thương nơi vợ tôi đang lưu trú. Tới phòng vợ tôi ở, tôi thấy yên lặng. Tôi chạy kiếm y tá, cô y tá nói đã đưa vợ tôi vô phòng sinh. Tôi hối hả theo cô y tá tới phòng sinh. Vợ tôi đã sinh xong, tất cả mẹ tròn con vuông.

Tôi chạy vào phỏng ôm chặt lấy vợ. Tôi hỏi các con đâu. Vợ tôi nói: Họ đem tụi nó đi tắm rửa. Tôi ngồi bên vợ chờ đợi.

Bài văn Tả mùa xuân lớp 2 hay - Đoạn văn mẫu tả các mùa

Khoảng nửa giờ sau, hai cô y tá mang đến hai cái bọc trắng nhỏ, đặt cạnh vợ tôi, tôi và vợ vội vàng mở ra. Vợ tôi la lên: “OH! NO!” rồi nàng ngất xỉu, còn tôi đứng chết trân, nhìn hai đứa con không cùng màu da. Hai đứa nhỏ mặt mày nhăn nheo đen xì đang gào khóc. Tôi kéo cô y tá: “Are they my kids”. Cô y tá trả lời tỉnh queo: “Yes, That’re yours!”

Tôi rớt người xuống cái ghế, cái ghế gỗ bị tôi tấn xuống qua mạnh, gẫy ra hai mảnh, miếng dăm gỗ đâm vào đít tôi đau nhói tôi ôm đít la lên: Á! Úi cha!!

Vợ tôi chưa tỉnh lại, tôi đang ôm mông, thì thêm hai cô y tá khác, tay ôm hai gói bước vào... “No! No! They are wrong!” họ đặt hai gói xuống, mở khăn che cho tôi thấy hai đưá bé “da vàng”, miệng cô y tá sorry liên tục và bồng hai đứa bé da đen lên, đi ra khỏi phòng.

Tôi hiểu chuyện đưa lộn em bé, nên tự nhiên mông tôi hết đau. Hai đứa bé nhìn tôi nhăn mặt khóc o oe. Nghe tiếng khóc, vợ tôi tỉnh lại, hoàn hồn như vừa trải qua cơn động đất dữ dội, cường độ cấp 10. Tôi nhìn vợ tôi, nhìn hai cô con gái, tôi mỉm cười hạnh phúc.

 Tôi chợt nhớ tới con gái lớn, tôi vội vàng hỏi vợ tôi cho mượn điện thoại để liên lạc. Được biết con gái tôi sanh hai đứa con trai rất kháu khỉnh... Chúng tôi đón taxi về nhà vào đúng mồng Một Tết.

 

Về tới nhà, người đón chúng tôi trở về là con rể tôi. Vợ chồng nó về trước chúng tôi khoảng nửa tiếng. Tôi dìu vợ tôi và ẵm hai con vào nhà. Tiếng con chó con ăng ẳng sau nhà. Tôi đặt hai cô con gái bé tí lên giường, rồi vội chạy ra sau nhà. Con Mino thấy tôi gừ gừ như gọi. Tôi tiến lại thấy Mino đang nằm giữa bầy con lúc nhúc, tôi đếm thấy vừa chẵn 4 con chó nhỏ. Lạ một điều là, mỗi con một màu rất đẹp...

 

Mùa Xuân Năm Ấy. Đúng là Chúa ban cho tôi nhiều quá!...và hậu hĩ quá !!!

 

 Hồng Vân Sưu tầm

 

Hình nền động đẹp, hình nền động độc đáo cho dế yêu - 4

 

 
Xem thêm...

DÂY TƠ HỒNG - Đỗ Dung

 

DÂY TƠ HỒNG

Đỗ Dung

 

Image result for DÂY TƠ HỒNG

 

1. Buổi chiều sau cơn mưa, Hà thong thả đạp xe trên con đường Trần Quý Cáp. Hai hàng me cổ thụ vừa thay lá, thân cây nâu sậm, màu lá xanh non. Thỉnh thoảng gió lao xao, những giọt mưa còn đọng trên cành thả xuống những bụi nước nhỏ li ti. Thấm thoắt đã ba năm Sài Gòn đổi chủ. Hà nhớ ngày xưa ấy, những người con gái thời còn là sinh viên trường Dược, ríu rít chở nhau trên những chiếc xe Honda, rủ nhau ghé vào những xe bò viên, bánh cuốn trên con đường này, hay phóng thẳng ra công viên trước Hồ Con Rùa ngồi uống nước dừa tươi sau giờ tan học. Giờ đây tan tác, Liên, Bích, Kim, Nga may mắn đi thoát trước ngày 30 Tháng Tư. Còn lại thành phố này, Ngọc, Trâm, Minh, Hà.

Hà còn nhớ hôm lang thang trên phố thì gặp Minh. Cả hai nhìn nhau mừng mừng, tủi tủi.

– Minh ơi, mi còn ở đây à? Gia đình có ai đi được không?

– Kẹt lại hết. Chả ai đi được. Nhà mi sao?

– Kẹt cả nhà. Chỉ có bà chị đang đi du học nên ở lại bên Úc.

Hà thương bạn, thương mình xót xa, nhưng lại mừng vì biết là còn thêm một người thân ở lại quê hương với nàng.

Sau khi ra trường, những người con gái ấy lần lượt lên xe hoa, còn mình Hà lẻ bóng. Có phải Hà khó tính như mọi người nói không. Giao, bác sĩ; Huy, kỹ sư du học bên Pháp về; Tuyền, giáo sư khá nổi tiếng, những người ấy đã từng theo đuổi Hà, có lần tưởng là xong rồi lại không xong. Có phải là Hà quá kén chọn như bà bác Hà thường nhắc nhở:

– Cô Hà ơi, liệu phiên phiến đi. Kén cá chọn canh mãi rồi để ba mươi cúng Giao Thừa đấy.

Bây giờ Hà đã trên ba mươi. Những lúc ghé thăm Ngọc, Trâm và Minh, cả ba ông chồng đều phải đi học tập. Những cô nàng trưng diện một thời, vàng son một thuở, giờ đây phải lo lắng vì sinh kế, tần tảo nuôi dậy con thơ và vất vả thăm nuôi chồng. Mặc dù phải đương đầu với cuộc sống mới khó khăn nhưng hai vai Hà nhẹ tênh, không vướng bận chồng con. Đôi khi nàng nghĩ thế mà lại hay. Nàng chấp nhận, bằng lòng cuộc sống độc thân hiện tại.

Cuối năm 1979 gia đình Minh vượt biển thành công. Đầu năm 1980 chồng Trâm được tha về cũng kiếm đường mang cả nhà đi. Ngọc thử thách mấy phen, bị bắt mấy lần nên hoảng sợ không dám liều lĩnh nữa, đành ở lại đợi người anh bảo lãnh. Nhìn quanh, bạn bè, họ hàng, người quen lần lượt bỏ đi. Ngay cả ở trường Đại học Y khoa nơi Hà làm việc người ta cũng ra đi gần hết. Có lần trường thiếu giáo sư Sinh Hóa, cử Hà tạm thay thế, nàng cố gắng soạn bài, học hôm trước để hôm sau đứng lớp. Đứng trên bục giảng nhìn những khuôn mặt sinh viên nàng thoáng ngậm ngùi. Dưới chính thể này, tương lai họ sẽ ra sao. Đầu óc họ đang nghĩ gì. Chắc lại cũng toan tính tìm đường vượt thoát. Cuộc sống càng ngày càng khó khăn, không khí càng ngày càng ngột ngạt, trĩu nặng âu lo. Cột đèn biết đi cũng bỏ xứ mà đi!

2. Hà nằm bẹp, thiêm thiếp trong khoang tàu chật hẹp, hai hàng người nằm dựa đầu vào vách thuyền, đâu chân vào nhau, xếp như cá hộp. Cuối cùng, năm 1981 hai chị em Hà và Hương cũng có mặt trên chiếc thuyền con vượt biển. Bản chất yếu đuối, có bệnh tim từ bé, lại thêm say sóng nên sau khi nôn thốc tháo Hà nằm lịm, thoi thóp tiềm sinh. Cũng may mẹ Hà đã sửa soạn cho hai cô con gái một túi sâm cắt thành lát mỏng nên mấy ngày lênh đênh Hà chỉ ngậm sâm mà sống.

Qua ngày thứ năm may mắn tàu của Hà gặp tàu Cap Anamur đang đi trên biển Đông vớt người nguy khốn. Bác sĩ trên tàu đã chẩn bịnh và cứu chữa tận tình, săn sóc Hà rất chu đáo.

Vừa bước chân lên đất liền của đảo Palawan thuộc Philippines, người còn lao đao, mặt đất như bập bềnh trên sóng, Hà nghe một giọng nói ngọt ngào cất lên từ loa phóng thanh của trại:

– Xin mời bà Hà Thị Phương Hà đến bệnh xá gấp!

Chả hiểu việc gì, hai chị em Hà lật đật gửi túi hành lý cho người cùng tàu, hỏi đường lên ngay phòng y tế.

– Chị Phương Hà?

– Dạ vâng, tôi mới nghe loa gọi.

– Tôi là Du, trưởng phòng y tế ở đây. Tôi được tàu Cap Anamur báo cho biết chị là bệnh nhân cần chữa trị gấp và phải chăm sóc đặc biệt.

Hà cười:

– Thưa bác sĩ, tôi đã tới được đây. Có chữa bệnh cũng đợi tôi thu xếp xong nơi ăn, chốn ở đã chứ.

– Chị Hà, chị cẩn thận, nếu chị để chậm trễ thì có chuyện gì xảy ra chị chịu trách nhiệm đấy!

– Vâng, để chúng tôi an cư xong tôi sẽ lên trình diện bác sĩ ngay!

Hà mỉm cười tinh nghịch, chào Du rồi cùng em ra về.

Sáng hôm sau vừa thức dậy sau một giấc ngủ say, tiếng loa phóng thanh của trại đã vang lên:

– Xin mời bà Phương Hà lên phòng hành chánh.

Hai chị em hấp tấp dắt nhau đi. Đến nơi Du niềm nở ra đón:

– Chào chị, đêm hôm qua hai chị em ngủ ngon? Mấy ngày trên tàu chắc mệt lắm, tôi xin phép mời hai chị em đi ăn sáng.

Hà thầm nghĩ: “Mời ăn thì đi ăn, ta đang đói bụng đây!” Cả ba vào một quán ăn nhỏ trong trại. Tô mì nóng hổi, thơm phức làm Hà tỉnh táo, khỏe khoắn hẳn lên và có dịp nhìn kỹ người bác sĩ trẻ.

– Trông bác sĩ quen quen. Ở Việt Nam bác sĩ làm việc tại đâu?

– Tôi trông chị cũng quen lắm chị Hà ạ. Cả đêm qua tôi thao thức mãi không biết đã gặp chị nơi nào?

– Bác sĩ tốt nghiệp trước hay sau 75?

– Tôi ra trường năm 1977.

– Hồi đó tôi làm việc trong phòng “Pharmacology”. Bác sĩ có học tôi không vậy?

Du vỗ trán:

– À, đúng rồi. Tôi nhớ ra rồi. Tôi có học chị vài giờ. Chị dạy Sinh Hóa mà!

– Ồ, Vậy Du là học trò tôi đấy nhá. Nhất tự vi sư, bán tự vi sư, phải không?

Cả ba cùng cười xòa. Hà trêu thêm:

– Từ nay trò không được kêu réo cô trên loa phóng thanh nữa đó nha! Cô có bệnh tim. Nếu lỡ có bề gì thì lần này trò phải chịu trách nhiệm. Nghe chưa?

Biết chỗ ở rồi, ngoài những lần gặp nhau tại bệnh xá để chữa bệnh, Du đến thăm chị em Hà luôn. Chị em Hà ở chung nhà với mấy người bạn cùng tàu, sau họ phải chuyển sang Bataan để học tiếng Đức trước khi đi định cư. Du ngỏ lời mời chị em Hà đến ở chung. Du tạm trú cùng bà chị ruột, chị dâu, một chị bạn và đứa cháu gái hơn một tuổi. Hai chị em Hà dọn vào thì nhà toàn phái nữ, trừ Du. Đã có sẵn ba bà chị, Hà nghiễm nhiên xưng chị với Du khi biết chàng kém nàng hơn năm tuổi.

Căn nhà nhỏ trên đảo vui vẻ, rộn rã tiếng cười vì những câu chuyện dí dỏm và lối đùa nghịch, cách nói chuyện duyên dáng của Hà. Được vài tháng mấy bà chị đi Mỹ định cư, còn lại chị em Hà chờ ngày đi Úc và Du tình nguyện ở lại trại thêm mấy tháng để giúp đỡ người tỵ nạn. Ngoài việc lo cơm nước và dọn dẹp nhà cửa, thỉnh thoảng Hà cũng lên nhà thương phụ với Du săn sóc bệnh nhân. Những buổi sáng hai người ngồi nhâm nhi tách cà phê nóng, những lúc rảnh rỗi thong thả rong chơi. Một buổi chiều hai người đi dạo trên bãi biển, hàng dừa nghiêng trong nắng và ngoài khơi màu xanh ngút ngàn của trời, của nước như sáng rực lên lúc chiều tà và rồi lịm tắt dần theo ánh hoàng hôn. Gió quấn quýt bước chân. Tóc bay bay theo gió. Nhìn khuôn mặt đẹp trai, vẻ điềm đạm, chững chạc rất đàn ông của Du, nàng thầm nghĩ không biết ai đó có diễm phúc chia sẻ cuộc đời với chàng. Ở cùng nhà, đi làm việc chung, Hà càng nhận ra nhiều ưu điểm của Du và lòng càng thêm ngưỡng phục.

Bỗng nhiên Hà như xây xẩm, choáng váng muốn ngã. Du vội giơ tay ra đỡ Hà, giọng hốt hoảng:

– Chị Hà, chị có sao không?

Rồi ân cần:

– Chị mệt rồi, để Du đưa chị về.

Du dịu dàng dìu Hà đi và nàng dựa vào người đàn ông ấy, như đi trong mơ.

Thoạt đầu, nhìn hồ sơ bệnh lý của Hà, Du tự nhủ phải cố gắng giúp đỡ, chữa trị cho bệnh nhân này. Người thiếu nữ ấy không tỏ lộ chút gì sợ hãi về căn bệnh khá hiểm nghèo, nàng rất hồn nhiên, vẫn cười đùa vui vẻ. Nàng bị hở van tim nên dễ mệt và nhịp tim đập hỗn loạn không đều. Du như bị cuốn hút bởi sự lạc quan và óc châm biếm, khôi hài đặc biệt của Hà. Có những lúc chính Du lo lắng thì Hà còn tìm cách trấn an hoặc kiếm những câu chuyện tiếu lâm để khỏa lấp không khí nặng nề và làm chàng vui lên. Càng ở gần chàng càng quý mến Hà.

Kể từ hôm ấy họ gần gũi nhau hơn. Hà chăm sóc bữa ăn chu đáo và Du săn sóc bệnh tình cho nàng thật cẩn thận. Con bé Hương tham gia vào những sinh hoạt trên trung tâm văn hóa nên cũng bận rộn và vui với bạn bè. Cho đến ngày Du lên đường đi Đức định cư. Buổi chia tay bịn rịn, Du đã siết chặt tay Hà và nhìn sâu trong mắt nàng, cả hai đều rưng rưng:

– Chị Hà, Du sẽ nhớ chị lắm, mong rằng chị không quên Du và những ngày tháng êm đềm ở trại. Có địa chỉ của chị bên Úc, Du sẽ liên lạc. Chúc hai chị em vui vẻ, mau chóng đi định cư.

Buổi tối, nằm trên chiếc giường gỗ, nhìn lên cái đình màn. Bâng khuâng, bâng khuâng… Những tình cảm Du dành cho Hà phải chăng chỉ là những tình cảm đơn thuẩn của bác sĩ với bệnh nhân. Có phải là tình yêu không, khi Hà vẫn coi Du như em vì Hà luôn đặt nặng vấn đề tuổi tác, các bạn nàng lập gia đình với những người hơn sáu, tám hoặc mười tuổi; khi đi học, những nam sinh viên đồng khóa, ngang tuổi, nàng luôn coi như đàn em. Cứ như thế hồn nàng lênh đênh… Ngày xưa, ngày mà nàng tưởng như đã chọn Giao, tưởng như ra trường sẽ làm đám cưới, thế mà chỉ vì một hôm, qua câu chuyện vô tình Giao kể về một người bạn sắp ngỏ lời cầu hôn với người yêu thì khám phá ra cô nàng bị suyễn nặng, anh chàng đã kiếm cách rút lui trước sự ngỡ ngàng của gia đình cô gái. Hà nghĩ đến mình, cũng bị bịnh tim, thế là lòng tự ái nổi lên, nàng tự ý tránh xa và cố tình không gặp Giao nữa.

Đến ngày hai chị em Hà được chuyển qua Manilla chờ máy bay đi Úc, Hà nhận được thư của Du kèm một tấm ngân phiếu hai trăm dollars: “…… Chị Hà… đây là số tiền trợ cấp đầu tiên Du lãnh. Gửi chị ngay vì Du nghĩ là chị cần hơn…”

Thật cảm động về sự quá chu đáo của Du. Hà rất vui nhưng vẫn một thoáng ngại ngùng.

3. Chị em Hà sang Úc vào Tháng Sáu. Ở Sài Gòn Tháng Sáu trời mưa, Tháng Sáu mùa hạ có những con đường phượng đỏ ngập trời. Ở đây mây xám ủ ê, trời mùa đông lạnh buốt… Hà co ro trong chiếc áo ấm, nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ các em còn kẹt lại, nhớ con nhỏ Ngọc còn ở Việt Nam và không biết mấy đứa bạn đi được đang ở những nơi nào. Khuôn mặt Du hiện lên rõ nét, Hà cũng thấy nhớ Du thật nhiều, Hà nghĩ phải chăng đó chỉ là tình cảm tự nhiên của một người đối với một người đã quá tốt với mình. Hà nhớ đến chuyện “Vòng Tay Học Trò” của Nguyễn Thị Hoàng và bật cười, không lẽ lại là “Vòng Tay Học Trò 2”.

Hà đi học lại để lo hội nhập vào cuộc sống mới. Đều đặn hàng tuần Hà nhận được thư của Du. Thư càng ngày càng tha thiết hơn. Những lá thư Du nói gần, nói xa nàng đều trả lời tránh né hoặc đùa giỡn để khỏa lấp. Hà nghĩ đến Du, chàng trai ba mươi tuổi, tương lai phơi phới. Còn Hà, ốm đau, yếu đuối, Hà có gì để đáp lại tình Du. Liệu Hà có đem được Hạnh Phúc đến cho Du không. Liệu tình yêu của Du có thật sự là tình yêu bền chắc không hay chỉ là lửa rơm bùng cháy nhất thời.

Du cứ đuổi thì Hà cứ chạy. Hồi còn học Trưng Vương, một bà giáo đã khuyên học trò rằng “Tình Yêu là một cuộc chạy đuổi trên một cái vòng tròn. Người con gái khôn ngoan phải biết dừng lại để làm đích chứ không phải là kẻ đuổi theo”. Bây giờ nàng đang bị đuổi và nàng chẳng chịu dừng. Mối tình đẹp quá, nàng tưởng như trong mơ, Du toàn hảo, Du tuyệt vời, Du yêu nàng tha thiết, Du yêu nàng đắm say. Tại sao Hà không nắm bắt cái Hạnh Phúc trong tầm tay đó. Hà yêu Du. Hà biết rõ là nàng cũng yêu Du. Khoảng cách tuổi tác không còn là vấn đề nữa. Du đã trưởng thành, là chỗ dựa bảo đảm, vững chắc cho cuộc đời nàng. Cuộc tình đẹp quá, đẹp như giọt sương long lanh trên cánh hoa buổi nắng sớm, dưới nắng ban mai giọt sương lóng lánh như viên kim cương. Hà muốn giọt sương ấy mãi đẹp. Nàng sợ, sợ viên kim cương đó chỉ là một chút phù du, sẽ tan biến, sẽ mất đi như một ảo ảnh… “Du ơi, Du có hiểu cho Hà không?” Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, nếu Hà nhận lời lấy Du, thực tế có còn đẹp như mơ không. Giọt sương long lanh ấy còn tuyệt vời không. Hay lại biến thành giọt nước mắt của đau khổ, của tủi hờn.

Mấy năm trời ròng rã thư từ qua lại, Hà đã học xong và có việc làm, nàng đã cùng mấy chị em lo thủ tục bảo lãnh cho cha mẹ và mấy người em. Cuộc sống đôc thân của Hà đã ổn định. Hà vui với gia đình, vui với công việc. Nước Úc hiền hòa, êm ả. Con người lịch sự, nhẹ nhàng, không có những tranh đua, những bon chen, giành dựt. Nếu nhận lời lấy Du, Hà phải sang Đức, xa chị em, xa những gì đã quen biết ở đây để làm lại tất cả từ đầu. Cuộc sống lứa đôi vào thực tế sẽ ra sao ở tuổi này. Hai người có hòa hợp được không hay cứng cỏi cả rồi. Cá tính ai cũng mạnh mẽ, nếu có đụng chạm ai sẽ nhường ai. Tình yêu của tuổi trẻ thật thánh thiện, trong sáng, đúng nghĩa của tình yêu. Có thể chỉ vì một mái tóc, bàn tay, giọng nói, tiếng cười hoặc chỉ vì một ánh mắt mà yêu nhau chết bỏ, cố lấy nhau cho bằng được để rồi tới đâu thì tới. Còn nàng, suy nghĩ, phân vân, so đo, cân nhắc… Có còn là tình yêu không.

Mỗi buổi sáng Hà dậy sớm đi bộ khoảng nửa tiếng trước khi sửa soạn đến sở làm. Con đường vắng vẻ, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe qua. Hai bên đường, những căn nhà xinh xắn núp sau vườn hoa nho nhỏ hiền hòa. Hà vươn vai thở hít khí trời trong sạch. Không gian là của nàng, thời gian là của nàng. Cuộc sống nàng thật sự thảnh thơi, tự do như những cụm mây trắng lang thang trên bầu trời bát ngát, bao la. Phòng ngủ của Hà xinh xắn, lúc nào cũng gọn ghẽ, ngăn nắp. Chiếc giường chăn ấm, nệm êm, Hà có thể vùi mình trong đó hay thoải mái duỗi thẳng chân tay. Qua khung cửa sổ, một vòm trời xanh, Hà có thể thả hồn theo những cụm mây bềnh bồng hay gửi tâm sự của nàng vào gió, vào mưa.

Cho đến một ngày Hà nhận được thư của Du, chỉ vỏn vẹn mấy câu:

Hà ơi! Du yêu Hà. Du yêu Hà thật rồi, yêu Hà thật nhiều… Mong Hà nhận lời cầu hôn của Du. Trả lời “Yes” Hà nhé!

Hà choáng váng! Đúng vào lúc đó Hà nghe một người bạn quen bên trại tị nạn cho biết gia đình Du đang đi hỏi vợ cho chàng, một cô nàng bác sĩ xinh đẹp, con nhà giàu, kém Du vài tuổi. Tim Hà buốt như dao cắt. Tại sao Du đi hỏi vợ còn viết lời tỏ tình với Hà, ngỏ lời cầu hôn. Tại sao. Hà hỏi gió, hỏi mây, hỏi Trời, hỏi đất rồi lại hỏi chính lòng mình. Du có yêu Hà thật tình như chàng vẫn viết không. Du có coi mình như một trò đùa không. Hà có sợ mất Du không. Hà thật mâu thuẫn, mâu thuẫn với chính mình. Trong con người tưởng như kiên cường, vững vàng ấy, nghị lực phi thường ấy cũng có lúc mềm như cọng bún thiu. Hà vẫn đi làm, vẫn tươi cười với những người xung quanh nhưng lúc một mình trong phòng vắng nàng lặng lẽ, tái tê.

Du,

Du hãy nghĩ đến tương lai rực rỡ của Du. Chúng mình là bạn tốt, bạn quý mến của nhau là quá đủ. Du hãy lo vun xới, xây đắp Hạnh Phúc của chính mình.

Thân,

Gửi thư đi rồi lòng Hà vẫn ray rứt, băn khoăn. Hà chịu để mất Du hay Hà từ chối Du vì lòng tự ái. Hà đã để lỡ bao cơ hội trong đời chỉ vì quá tự ái. Nhất là trong tình yêu, đôi khi sự tự ái đi đến chỗ cao ngạo. Đối với Hà, tình yêu không van xin, không tranh giành, không cướp đoạt.

Thôi đành “Trả hết cho người, cho người đi…” và “Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người…” từ nay xin… “Nghìn trùng xa cách” (mượn lời trong bài NTXC của Phạm Duy).

 4- Mới năm giờ chiều mùa đông, bầu trời xám, thấp, buồn ủ ê. Hai hàng cây bên đường trụi lá, vướng lại những bông tuyết trắng. Những cây thông và tùng vẫn xanh tươi khoác thêm chiếc áo bông. Mặt đất như một thảm tuyết dầy trắng xóa, trừ lòng đường còn lộ chút nền nhựa đen vì được xe cào tuyết qua lại luôn. Du lái xe về, sau một ngày làm việc mệt nhọc tại nhà thương. Hôm nay Thứ Sáu của chàng, mai được nghỉ hai ngày cuối tuần.

Mở cửa bước vào căn phòng độc thân, bếp núc nguội ngắt, lỏng chỏng mấy cái bát đĩa dơ trong bồn rửa chén, Du vặn tăng độ lò sưởi để xua đi sự lạnh lẽo và cho vơi bớt nỗi cô đơn. Sau bữa ăn tối qua quýt cho xong, Du thả người trên chiếc ghế sô pha. Không gian tĩnh lặng, trống trải. Nghĩ đến Hà, bên Úc bây giờ đang mùa hè, ngập nắng. Hà có nghĩ đến Du không.

Là con áp út trong một gia đình sáu anh em trai, một gái, tất cả đều đã lập gia đình, một mình Du còn độc thân. Cha mẹ chàng ở Việt Nam luôn nhắc nhỏm, hối thúc chàng lấy vợ. Mấy bà chị em dâu giới thiệu hết người nọ đến người kia. Tại sao lòng chàng thật dửng dưng. Có những cô trẻ, đẹp, quyến rũ, đầy đủ những điều kiện cho bao chàng trai ao ước nhưng qua cách ăn mặc, lời nói, cử chỉ của các nàng, Du không nghĩ là mình có thể xây dựng một gia đình hạnh phúc với những người đó. Gần đây mẹ chàng nhắc đến Yến, một cô gái con của một bà bạn của cụ, cùng nghề với chàng, đi du học, sau biến cố 1975 đã ở lại bên Pháp. Dưới mắt cụ hai người thật xứng đôi và hai quốc gia gần nhau nên có cơ hội dễ dàng qua lại để gặp gỡ, tìm hiểu. Du chỉ ậm ừ, không muốn để mẹ lo buồn.

Thật sự Du cũng thèm một gia đình hạnh phúc, mơ một cuộc sống lứa đôi. Đối với Hà, Du thấy như tìm được một sự huyền nhiệm. Hà không đẹp lồ lộ nhưng có sức quyến rũ lạ lùng. Du nhớ giọng nói ríu rít, tiếng cười khanh khách giòn tan khi vui vẻ của Hà và những lúc buồn bã đôi mắt như sầu vời vợi và khi có vấn đề gì phải suy nghĩ thì đôi mắt trầm tư ấy lại có dáng vẻ đăm chiêu, dịu dàng... Trong Du đầy ắp hình ảnh, kỷ niệm với Hà. Du tự hỏi tại sao Hà lại vượt biên ở thời điểm đó, lại được tàu vớt đưa vào đúng nơi chàng làm việc. Tại sao khi gặp mặt nàng lần đầu tiên, đêm về chàng đã thao thức, nhớ nhung. Phải chăng chàng đã gặp đúng con người của định mệnh.

Anh Du,

Con trai yêu quý của mẹ, Mẹ đã già yếu lắm rồi, còn mình anh chưa yên bề gia thất, mẹ buồn lắm. Mẹ mong được đi dự đám cưới của anh trước ngày mẹ nhắm mắt về với ông bà. Mẹ của Yến cũng sang chơi luôn mà mẹ chưa dám trả lời dứt khoát với bác. Anh đã gặp cô Yến chưa? Hôm cô ta về thăm nhà, mẹ thấy con bé xinh đẹp, ngoan ngoãn, dễ thương. Sao anh lừng khừng thế? Nếu anh đã có đám nào rồi thì cho mẹ biết để mẹ yên tâm.

Mẹ

Nhận được thư của mẹ, Du không biết trả lời sao đây! Hà đâu biết nỗi khổ của Du. Áp lực bốn phía đổ ập lên đầu chàng. Mặc dù Du biết rằng cũng chỉ vì thương yêu chàng mà mọi người lo lắng.

Khi gửi lá thư cầu hôn đi, Du hồi hộp mong chờ, lòng nóng như lửa đốt, đếm từng phút, từng giây. Ngày nhận được lá thư từ chối của Hà, Du thật bẽ bàng. Chàng đã nằm thượt trên giường, đau đớn!

Buổi sáng, nắng ban mai lùa vào phòng Du qua khung cửa sổ. Bầu trời xanh thăm thẳm, màu nắng vàng hanh, tuyết trắng xóa, cảnh vật thật trong trẻo tinh khiết, những bông tuyết nhẹ nhàng bay. Ước gì có Hà…lại Hà! Du biết Hà sẽ yêu cảnh này lắm, những ngày sống ở đảo Du biết Hà yêu thiên nhiên, yêu từ ngọn cây, cọng cỏ. Con người rung động khi mặt trời mọc, lặng người khi mặt trời lặn xuống dần và buồn bã khi màn đêm từ từ buông. Hà sống rất giản dị, ngăn nắp, thiên nhiều về nội tâm. Ở bên Hà, Du cảm thấy an bình, êm ái. Du thầm hỏi lòng mình, chàng yêu Hà, chàng không đòi hỏi một điều gì ở nàng. Chàng tương đối thành công và đủ điều kiện là một người chồng tốt. Tại sao Hà cương quyết chối từ cái hạnh phúc chàng ao ước đem đến cho nàng. Tại sao. Du thu xếp công việc, xin phép nghỉ hẳn một tháng, nhất định sang Úc một chuyến để hỏi cho ra lẽ, để quyết tâm chinh phục quả tim mà chàng biết đã từng lỗi nhịp khi khám bịnh cho Hà.

dây tơ hồng

 5- Trong lòng chiếc phi cơ phản lực 747 bay đêm xuyên lục địa, tiếng động cơ êm nhẹ như tiếng rù rì. Ngoài

khung cửa sổ, trời đêm trong trẻo, vầng trăng mười sáu tròn xoe tỏa làn sáng bạc lặng lẽ theo chàng. Du ngả lưng vào thành ghế, thả hồn về dĩ vãng, nhớ những đêm trăng trên đảo Palawan, Du và Hà đi bộ, tắm mình trong ánh trăng lung linh huyền ảo. Cả hai cùng im lặng mà sao lòng Du ngất ngây, như chấp choáng men say. Nhớ hinh ảnh Hà ngồi bên chiếc bếp than, mặt rịn mồ hôi, nướng từng chiếc bánh, để sau khi đi dạo về ba người sẽ ngồi nhâm nhi với tách trà nóng. Nhớ hình ảnh Hà loay hoay trong bếp, chăm chú vào những việc tầm thường như nhặt rau, thái thịt. Hà yêu công việc nội trợ, nàng như để vào những món ăn tất cả sự yêu thương nên những mâm cơm giản dị, trình bày đẹp mắt, mới ngon lành làm sao. Hình ảnh người thiếu nữ không rời tâm trí Du. Cái không khí an bình, ấm cúng ấy đã quyến rũ chàng và chàng đã khát khao có một gia đình với bóng dáng Hà quanh quẩn gần bên.

Tại phòng khách sạn, Du tỉnh dậy sau một giấc ngủ vùi. Lật cuốn sổ điện thoại Du chợt thấy số điện thoại của Hương, em Hà.

– Hello! Cho tôi nói chuyện với cô Hương.

– Hương đây ạ! Xin lỗi ai ở đầu dây?

– Anh Du đây!

– Trời! Anh Du, anh đang ở đâu?

– Anh đang ở Úc đây này. Chị Hà khỏe không em?

– Anh chưa gặp chị Hà à?

Gần một tiếng qua điện thoại, Du được Hương cho biết là cha mẹ của Hà đã được sang đoàn tụ với các con hơn một tháng nay. Hương còn cho chàng biết thời gian đầu Hà lấn cấn không dám nhận lời Du vì còn đợi bảo lãnh cha mẹ. Nay hai cụ sang rồi thì Hà lại nhận được tin Du sắp lấy vợ nên Hà tự động rút lui cho chàng dễ dàng quyết định cuộc đời mình. Du bàng hoàng khi biết những chuyện này. Tội nghiệp Hà quá. Hà đã không hỏi thẳng chàng để biết sự thật mà ngấm ngầm buồn tủi một mình. Con người ấy luôn nghĩ đến tha nhân, lo cho hạnh phúc của người khác trước mình.

Nhìn chiếc đồng hồ tay, bây giờ đang giờ nghỉ đi ăn trưa của Hà đây. Du thay quần áo đến sở của Hà.

Du xoay xoay tách cà phê. Trước mặt Du, Hà trẻ trung trong chiếc áo đầm mùa hè vải trắng viền những chùm hoa nhỏ xinh xinh màu tím. Khuôn mặt trắng xanh, dịu dàng. Du đã giải thích hết những hiểu lầm của Hà, giải tỏa những tin đồn tai hại không biết ai đã ác ý đưa đến tai nàng, Du khẩn khoản ngỏ lời cầu hôn lần nữa, trực tiếp:

– Hà nhận lời Du, Hà nhé. Tám năm qua không đủ chứng minh cho Hà tấm lòng thành thật, tấm lòng yêu thương của Du đối với Hà sao? Hà còn định hành hạ Du đến bao giờ?

– Hà không thể chối bỏ là Hà cũng yêu Du nhưng Hà vẫn có những e ngại. Hà muốn Du hạnh phúc. Hà có thể sống một mình như Hà đang sống. Du có thể lấy người có những điều kiện hơn Hà nhiều. Hà không muốn Du sẽ có những đau khổ, dằn vặt sau này.

– Hà, thế nào là Hạnh Phúc? Tiền bạc, địa vị…có đem được hạnh phúc cho mình không? Lấy người mình không yêu có hạnh phúc không? Nếu Hà cứ khăng khăng không nhận lời làm vợ Du thì Du cũng sẽ ở vậy như Hà. Du cũng sẽ không lấy ai hết!

– Du có nhớ là Hà không được khỏe không? Điều đó dằn vặt Hà, khiến Hà trăn trở nhiều đêm. Ở tuổi của Hà, Hà còn có thể cho Du những đứa con không? Du ơi…Hãy nhìn vào thực tế. Vì yêu Du nên Hà nghĩ những chuyện về xa. Nhiều lần Hà đã nói với Du, Hà muốn Du hạnh phúc… vì Hà yêu Du. Du biết không!

– Hà muốn độc quyền và độc tài trong tình yêu à? Du là bác sĩ săn sóc sức khỏe cho Hà mà Du không biết bịnh tình của Hà sao? Du sẽ đem lại cho Hà một đời hạnh phúc. Chúng mình sẽ hạnh phúc. Hà tin Du, hãy tin ở Du đi!

Nước mắt trào ra như một dòng suối. Đôi vai Hà rung lên. Thổn thức. Du với sang, nắm hai bàn tay Hà, siết chặt. Hết giờ nghỉ trưa Du đưa Hà lại sở làm, hẹn tối sẽ đến nhà thăm Hà và cha mẹ của nàng.

Ôm một bó hoa hồng, một túi trái cây và mấy hộp thuốc bổ để làm quà cho các cụ, Du nhấn chuông cửa.

Hà gọn gàng trong bộ quần áo trắng, mở cửa mời Du. Bữa ăn tối đã dọn sẵn trên bàn.

Hà nhỏ nhẹ:

– Hôm nay Du ở lại ăn tối với Hà, ba sang chị Vân chơi với cháu, mẹ mệt nghỉ trong nhà.

Ánh đèn vàng ấm áp hắt ra từ chiếc đèn đứng ở góc phòng. Tiếng nhạc dịu êm. Căn phòng nhỏ ngăn nắp quá. Hai người ngồi thủ thỉ tâm tình, khuôn mặt Hà như tươi trẻ, rạng ngời.

– Để Du vào xin phép mẹ nhé!

 Du khẩn khoản.

Hà lại trở lại hình ảnh con người nghịch ngợm hay trêu chọc Du trên đảo:

– Dám không?

– Hà cho phép?

Du lừng lững đứng lên gõ cửa phòng mẹ Hà.

Kéo chiếc ghế nhỏ ngồi bên giường cụ, Du ân cần hỏi han về bịnh tình cụ và nói những lời trấn an, vỗ về. Sau cùng chàng ngập ngừng:

– Thưa bác, cháu xin phép bác cho cháu được cưới Hà.

– Tôi có nghe em Hương, em Hà nói chuyện về cậu. Cám ơn cậu đã săn sóc trông nom các em thời gian trên đảo. Cám ơn cậu đã thương và muốn cưới em Hà. Chuyện vợ chồng là duyên số trời định. Ông Tơ Bà Nguyệt có xe sợi chỉ hồng thì mới được. Hai người phải bằng lòng mới được. Cậu để tôi hỏi ý kiến em. Nếu em bằng lòng thì chúng tôi cũng bằng lòng.

Trả lời những câu hỏi của cụ về nhà cửa, gia cảnh, công ăn việc làm một lúc, Du xin cáo từ đi ra để cụ nghỉ.

Bước ra phòng khách, Hà hồi hộp đợi chờ.

Du trịnh trọng thì thào:

– Mẹ bảo để hỏi em, nếu em bằng lòng thì mẹ bằng lòng. Vậy “em” có bằng lòng không?

Hà nguýt yêu:

– Nè nè… chưa gì đã lợi dụng thời cơ, ai là “em” ở đây vậy?

– Anh, anh… “anh” là “em”. Vậy… em bằng lòng nhé!

Du ôm gọn Hà trong vòng tay. Đặt nhẹ một nụ hôn vào mái tóc đang lòa xòa trên trán. Đúng lúc tiếng hát Từ Công Phụng từ chiếc cassette vang lên nhẹ nhàng:

“Nếu có điều gì vĩnh cửu được… thì em ơi… đó là tình yêu chúng ta”.

Bữa ăn tối êm ả, hai người đắm đuối nhìn nhau, Du như đang say say, Hà như đang bay bay. Hạnh phúc quá ngọt ngào để hai người phải hỏi lại nhau tại sao đã để vuột đi một thời gian quá dài.

Ban đêm, vùi mình trong gối chăn quen thuộc, Hà ôn lại sự việc diễn tiến trong ngày. Mọi việc đến như một cơn lốc, Hà không kịp chống đỡ. Du xuất hiện thật bất ngờ, những khẩn khoản giãi bầy, những ấm ức được giải tỏa, ánh mắt trìu mến, khuôn mặt thật đáng yêu… Du đã đem đến cho nàng một cơn lốc, cơn lốc của yêu thương. Khi thấy Du từ phòng mẹ ra Hà càng cảm phục sự thành thật và quyết tâm của chàng. Du đã nói, tám năm là một thời gian quá dài để thử thách, Hà muốn hành hạ Du đến bao giờ… Du ơi, Hà không muốn hành hạ Du, Hà thật sự muốn Du hạnh phúc. Chúng ta đã nói ra hết ngày hôm nay, Du hiểu được Hà và nay Hà đã thật sự hiểu lòng Du và tình yêu của Du dành cho Hà. Hà hứa với Du, hứa với lòng mình, chúng ta phải hạnh phúc, phải hạnh phúc… Cứ như thế Hà thiếp đi trong giấc ngủ bình yên, ngập tràn mộng đẹp.

Du trở về khách sạn, lòng lâng lâng sung sướng, chàng mỉm cười với tất cả những người chàng gặp trên đường đi. Chàng muốn hét to lên cho mọi người biết niềm vui của mình. Chỉ mới có một ngày mà… Ôi, Hạnh Phúc!

Quăng mình trên giường, xoải dài chân tay, còn một tháng ở đây, chàng làm gì?

Tuần lễ sau đó Hà còn đi làm nên mỗi buổi chiều Du đến nhà Hà ngồi chơi cho đến khuya, như những cặp tình nhân trẻ dại thời xưa, chỉ đến ngồi chầu để được ở bên nhau, nhìn thấy mặt nhau cho đỡ nhớ. Cuối tuần hai người mới đi thăm những thắng cảnh quanh vùng. Hà thích phong cảnh thiên nhiên, những nơi sông núi hữu tình hay ra vùng biển với đất trời bao la.

Du suy nghĩ, chàng còn ba tuần nữa là phải trở về Đức, không biết đến ngày nào lại có dịp sang đây. Không lẽ hai người cứ mãi là Ngưu Lang Chức Nữ không bắc nổi nhịp cầu Ô Thước.

– Hà!

– Du nói gì?

– Hay… chúng mình làm đám cưới, Hà sang Đức cùng với Du lần này… được không?

– Làm gì gấp thế? Du đã xin phép hai cụ bên nhà chưa?

– Bố Mẹ Du mong lắm, biết tin Du lấy vợ thì các cụ rất mừng. Hà không biết chứ, các cụ nhắc nhỏm luôn đấy.

– Để Hà hỏi ba mẹ Hà xem sao.

Hà nhí nhảnh tiếp theo:

– Muốn đem tui đi, có mình tui tứ cố vô thân để dễ bề bắt nạt tui hả?

Du long trọng đưa tay lên:

– Xin thề, không bao giờ làm Hà buồn. Xin suốt đời bảo vệ “em”, không bao giờ dám uýnh em bằng một cành hoa.

– Không uýnh bằng cành hoa, uýnh bằng củi tạ phải không?

Cả hai cùng phá lên cười. Biết là đùa giỡn nhưng lòng Hà như ấm lại, tự ái đàn bà được vuốt ve. Không hiểu sao mỗi lần Du gọi Hà bằng em, Hà thấy như mình bé nhỏ hẳn bên chàng.

Một tuần sau, đám cưới Hà Du diễn ra trong vòng thân mật, gia đình Hà có mặt đầy đủ. Bên phía Du, vì thời gian gấp rút và đường xá xa xôi nên cha mẹ Du chỉ viết thư, điện thoại sang xin phép và nhờ bên thông gia lo liệu giùm mọi chuyện. Cũng may có gia đình ông anh con bác trưởng tộc ở đây nên hai cụ đã nhờ vợ chồng anh đứng ra đại diện họ nhà trai.

Du sang Úc tìm Hà vào một đêm trăng, chuyến về của Du, đem theo con người của định mệnh cũng bay vào đêm trăng vì thời gian cách nhau đúng một tháng. Qua khung cửa sổ, vầng trăng tròn, sáng lung linh đi theo suốt cuộc hành trình, như chứng kiến hạnh phúc của hai người đã thật sự tìm ra nhau. Hà ngả đầu vào vai Du, giấc ngủ bình yên, êm ả.

Căn phòng độc thân của Du không còn là căn phòng bừa bãi nữa mà là tổ ấm của hai chú vành khuyên.

6.

Hà lững thững đi bộ trong cảnh tĩnh lặng của một buổi sáng mùa thu. Thời gian thấm thoắt thoi đưa, Hà đã sống với Du gần hai chục năm. Đã qua lại con đường này từ ngày có con bé Bảo Châu, Hà gần như quen từng gốc cây, bệ đá, từng hàng rào, từng căn nhà xinh xắn dọc hai bên đường.

Nhớ lại năm mới sang, Hà lo học tiếng Đức và tìm hiểu những phong tục tập quán nơi ở mới để hội nhập; sửa soạn ôn lại bài vở để lo kiếm việc làm. Buổi sáng nào Hà cũng đi bộ hơn nửa tiếng như thường lệ, thì giờ rảnh nàng vào phòng tập và bơi lội. Sức khỏe càng ngày càng khả quan, Hà yêu đời hơn, với bản tính lạc quan, thêm vào tình yêu của chồng, trông nàng tươi trẻ hẳn ra. Được hơn một năm, con bé Bảo Châu ra đời, hai vợ chồng ngập tràn hạnh phúc. Ông Bà ngoại, các bác, dì và cậu của bé từ Úc lần lượt sang thăm. Nhìn hạnh phúc của con, hai cụ đã khóc vì sung sướng. Nay hai cụ đã ra người thiên cổ.

Con bé được sáu tháng thì Du Hà quyết định mua căn nhà này. Hà tự tay vun xới khu vườn nhỏ, tự tay trồng mấy gốc Anh Đào và cây hoa Mộc Lan, những cây khi mới trồng nhỏ xíu nay đã thành cổ thụ. Con bé Bảo Châu đem niềm vui đến cho cả nhà. Hai vợ chồng yêu con còn hơn báu ngọc nên hai người đồng ý để Hà ở nhà trông con, một mình Du đi làm, lo phần tài chánh cho gia đình. Hà cũng yên phận nội trợ, chu toàn cơm nước, trang trí nhà cửa, săn sóc, dậy dỗ con. Thì giờ rảnh Hà đọc sách, vá may.

Chỉ vài tuần nữa con bé Bảo Châu sang Úc du học, còn lại hai vợ chồng già lo lắng cho nhau. Nhớ con thật nhiều, nhưng con chim non đủ lông, đủ cánh, sớm muộn gì cũng đến ngày cất cánh bay xa.

Về đến nhà, nhìn qua khung cửa sổ, khu rừng phía xa rực rỡ dưới nắng sớm. Từng mảng màu nửa vàng nửa xanh của những cây sồi cao như làm nền cho những mảng màu đỏ thẫm, vàng tươi của mấy loại lá Phong. Mới ngày nào đứng bên cửa sổ nhìn lá lìa cành nàng không khỏi ngậm ngùi, tỉ mỉ theo dõi từng chiếc lá. Có những chiếc chao lượn nhẹ nhàng rồi êm ả rơi xuống. Có những chiếc chúc đầu rớt xuống thật nhanh. Có những chiếc run rẩy mãi mới chịu bứt ra khỏi cành... Không kể khi có những trận cuồng phong, những chiếc lá xoắn tít trên không, vật vã trong gió, dập vùi mãi tới tả tơi mà vẫn chưa được nằm xuống. Hà lẩn thẩn chạnh nghĩ đến kiếp người, cũng chẳng khác gì kiếp lá, cũng từ giã cõi tạm này mà mỗi người một cách ra đi.

Thấm thoắt mới tàn thu mà nay đã lại vào thu.

Buổi chiều sửa soạn cơm nước xong, đợi chồng con trở về, ngồi trong chiếc ghế bành nhìn qua cửa sổ, mặt trời lặn dần phía xa. Chiều từ từ buông xuống nhẹ nhàng. Hà đã có một cuộc sống hạnh phúc giản dị, êm đềm. Hà đã gặp hạnh phúc đó và đã biết gìn giữ, nâng niu, biết hài lòng với những gì mình đang có.

Phải chăng đây là chốn Thiên Đường. Thiên Đường hay Địa Ngục là do ta.

Đỗ Dung

( Nếu các bạn thích nghe đọc truyện DÂY TƠ HỒNG xin bấm vào link dưới )

https://www.youtube.com/watch?v=TF0iYBoYRzo&t=44s

 

Tê Hát ST

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Lá Vẫn Xanh

Lá Vẫn Xanh

Truyện Ngắn của tác giả Võ Hồng

Từ ngày vợ chàng mất đi, Giang đã gián tiếp giải quyết được một thắc mắc: việc xuất hành năm mới. Bảo mất  tính nay đã được bốn mùa xuân rồi, và cứ sáng tinh sương ngày mồng một đầu năm, Giang lên xe ra nghĩa trang thăm mộ Bảo. Việc đó đã thành ra một bổn phận có thể gọi là thiêng liêng, chữ "thiêng liêng" mà ít khi chàng dùng đến. Dù không phải là một người có óc dị đoan, - chứng cớ là bàn tay chàng chưa hề bị một ông thầy tướng nào cầm lấy để xem xét, đo và đoán - nhưng chàng vẫn ngại khi xuất hành trong cái buổi mai trang trọng bắt đầu cả một chuỗi ba trăm sáu mươi lăm ngày của một năm. Lòng tin của những người xung quanh đã ảnh hưởng đến chàng khá mạnh, thâm nhiễm vào chàng như một chứng bệnh ngoại cảm. Sự lo nghĩ vẩn vơ về những điềm, những triệu, những rủi may mà trước đây chàng dửng dưng không lưu tâm, từ ngày Bảo mất đi, đã đến ám ảnh chàng thường xuyên hơn những cơn ác mộng. 

    Bảo mất đi, cái tai họa lớn giáng xuống đời chàng, giáng xuống gia đình chàng khiến tâm hồn chàng xao xuyến mất tin tưởng. Và như một cơ thể yếu không đủ sức kháng cự với bệnh, tâm hồn bị lung lạc hoang mang đã dễ dàng lây phải chứng bệnh sợ sệt lo âu kia.

   Xuất hành đầu năm! Quả thật trước đây chàng không hề băn khoăn nghĩ đến điều đó. Giả thử mà có một lần nào nghĩ đến và tìm một hướng để xuất hành thì chắc chắn cũng không ngoài ý định tinh nghịch. Chẳng hạn xuất hành sang phương Ðông để gặp núi, sang phương Tây để gặp sông, sang phương Nam để gặp giếng và sang phương Bắc thì mắc phải hàng rào. Nhưng nay tâm trí đã phải băn khoăn vì nỗi lo mới đó thì may thay hoàn cảnh lại tự đưa ra cách giải quyết: xuất hành đi thăm mộ là phải. Ở nơi đất khách quê người này, gia đình nhỏ của chàng chỉ có năm người, thế mà nay Bảo mất đi, vĩnh viễn ra nằm một mình lẻ loi ở nơi đầu núi, bỏ bốn cha con chàng hiu quạnh trong một căn nhà nhỏ mà mặc dù đã bốn năm qua, vẫn chưa cởi bỏ màu tang tóc. Nhưng tuy hiu quạnh, bốn cha con vẫn hủ hỉ bên cạnh nhau. Chỉ tội nghiệp cho Bảo. Suốt năm chàng ít có dịp ra thăm mộ. Công việc làm ăn bận rộn, việc nhà rối rắm một mình, chàng không mấy lúc thấy mình thảnh thơi thong thả. Ðến ngày đầu năm mọi việc xếp lại, mọi người yên vui trong gia đình, vậy đi thăm viếng vợ vào lúc này là một việc rất hợp lý. Từ xế chiều ngày mồng một trở về sau, chắc chắn là chàng sẽ bị quay cuồng vào nhịp sống của năm mới. Sự quay cuồng bắt đầu bằng những cuộc viếng thăm xã giao để được nối theo bằng những ngày đi làm liên tiếp, những nỗi lo lắng không ngừng.

   - Ba phải chở thằng Hào đó, - tiếng con Hằng, con lớn của chàng.

   - Ừ, để ba chở.

    Thủy, con bé nhất phụng phịu:

   - Không, ba chở con. Ðể chị Hằng chở anh Hào.

   - Ai chở cũng được, miễn đi tới nơi thì thôi. Ba phải chở anh vì anh nặng hơn con. Chị Hằng chở, đạp không nổi.

   - Nhưng anh Hào gầy...

    Nói xong Thủy phá ra cười. Hào liếc nhanh Thủy mà đôi mày nhíu lại, vẻ nghiêm trang. Ý nó không vui vì bị phê bình là gầy, một sự thực mà nó không phản đối nhưng nó không muốn ai nhắc tới. Giang trải khăn ra bàn và đặt bình hoa ở giữa. Những hộp đựng mứt, kẹo bánh... xếp làm bốn hàng. Nửa bàn còn lại bị chiếm bởi những ly tách đủ loại. Chàng vừa xếp đặt vừa đợi ba đứa con sửa soạn ăn mặc. Xếp đặt đâu đó cho đầy đủ là cốt để khi thăm mộ về có khách tới ngay thì chàng cũng đã có đủ quà ở tiện tay để tiếp khách. Này là gói thuốc lá đặt vào đĩa trên có hộp diêm. Còn cái gạt tàn thuốc. Chàng gọi con Bốn, con nhỏ ở, chạy đi rửa cái gạt tàn thuốc đầy ứ những tro và mẩu thuốc lưu lại từ năm cũ. Ở xa lông cũng phải một lọ hoa nhỏ và thêm một đĩa hạt dưa. Mấy chai rượu đặt ở đầu tủ buffet như thế kia trông cũng được. Nhưng còn... Chàng vứa chợt nhớ vừa chạy vào phòng riêng mở toang mấy hộc bàn tìm cái khóa mở nút chai. Trong khi đó, mấy đứa con lần lượt chạm phải vấn đề:

   - Ba ơi, trời nực thế này mà con Thủy khoác cả áo len vào. Con cởi ra nó không chịu.

    Chàng vừa lục lọi ngăn kéo vừa nói lại:

   - Kệ nó.

    Tiếng Hằng cãi:

   - Nhưng một lát nữa, nắng lên phải cởi áo len ra rồi bỏ đâu?

   - Ừ, thôi cũng được.

    Cái lối giải quyết ba phải này, lâu nay đã là lối giải quyết quen thuộc của chàng. Thật ra, khó có ai bình tâm để vừa nghĩ, vừa giải quyết đến ba, bốn việc một lượt, giải quyết minh bạch, gẫy gọn. Mà nào có ra việc cho cam. Biết thế nào Thủy cũng bất bình vì dự trù của Thủy bị bác đi, trông mong ba bào chữa cho thế mà cuối cùng ba lại "y án" với chị, chàng bước xuống phòng các con để tìm cách vỗ về Thủy. Nhưng tiếng giày vừa đến cửa thì Hào đã nhảy ra:

   - Ba chải giùm tóc cho con đi.

    Chàng chỉ xuống chân:

   - Sao lại mang xăng đan thế kia? Mang giày vô.

    Hào cau mặt:

   - Nhưng đâu mất một chiếc tất.

   - Hỏi con Bốn coi. Bốn ơi, tất của em để đâu?

    Con Bốn đang thắt nơ cho Thủy, nghe hỏi đến bít tất bít tất, vội bỏ Thủy chạy lại mở va li. Trong khi đó, Hằng ra bấm bánh xe đạp rồi la lên:

   - Bốn ơi, đêm qua mày lấy xe của tao đi chơi bị gai hay sao mà xẹp cả bánh trước thế này?

    Thấy có chàng ở đó, Bốn sợ bị rầy nên vừa nhìn Hằng nháy mắt ra hiệu vừa lí nhí nói:

   - Ðâu có. Ðêm qua tôi đâu có đi chơi. Xuống tiệm chị Minh Châu mua cái dây dừa cột gàu mà.

    "Lúc nào cũng Minh Châu" chàng cười thầm. Con nhỏ này có một đặc tính là mê những cô bán hàng đẹp. Dù họ có bán đắt hơn những bà già xấu xí, nó vẫn nhào vô mua. Chẳng những đến mua mà thôi mà lúc ở nhà, trong mọi câu chuyện nó đều không quên nhắc đến những cô ấy. Chẳng hạn có đứa nào than rằng "năm nay trời mưa to" thì nó bảo "Cô Mỹ Lộc mới mua cái áo mưa ni lông màu hoa cà". Hỏi: "Sao mua thịt bò dai vậy?" thì nó nói: "Chị Thu Tâm bán hàng xén cũng la với con rằng sao độ rày người ta chỉ bán toàn những thịt bò dai". Và mỗi lần nói đến tên những cô đẹp mà nó ngưỡng mộ, giọng nói của nó không còn tự nhiên nữa. Không còn là cái giọng quê mùa của chính nó mà có pha một chút gì nũng nịu của giọng Huế, một chút gì ngọt ngào của giọng Sài gòn, đài các của Hà nội. Chàng nói:

   - Ðồ đạc của em mỗi đứa mỗi ngăn sao còn để lộn xộn để mất công đi tìm?

    Và chàng nói tiếp luôn vì lời lẽ dặn vừa rồi không có gì lạ đáng để nó phải suy gẫm và phát biểu ý kiến trở lại. Ðó là một câu chàng đã nhiều lần lặp lại, cũ và vô hại như một lời cám ơn.

   - Dắt giùm cái xe ra cho tao. Tám giờ rồi.

    Chàng cung tay nhìn đồng hồ và ngạc nhiên thấy rằng mình nói đúng. Tuy vậy, phải đến tám giờ mười phút mọi người mới sẵn sàng để lên xe. Chàng soát lại các cửa tủ, bỏ ví cẩn thận vào túi quần, khóa cửa phòng riêng, khóa cửa phòng khách. Nắn lại các túi để biết chắc chắn là không bỏ quên, không bỏ sót, chàng lên xe. Hằng chở Thủy đứng đợi ở cách xa chàng gần ba mươi thước. Hào ngồi sau lưng chàng. Khi hai xe khởi hành thì kim dài của chiếc đồng hồ tay đâm ngang giữa con số bốn.

    Các phố hầu hết đóng cửa, thường chỉ mở hé một cánh cửa để ra vào. Nếu có nhà nào mở rộng cánh thì y như mắt chàng chạm phải một cành mai hoa vàng đứng trong một cái lọ độc bình sứ. Những cành mai rẻ tiền chỉ lác đác ít hoa và nhiều lá ở chót cành, trông khổ như cái đầu uốn tóc lâu ngày, chân tóc dài ra suôn đuột, đẩy lui phần uốn éo ra mãi tận chót cùng.

    Thường, những cành mai như thế này phải nhờ những cành thiếp chúc Tết che lấp sự trống trải. Tiếp theo là những hộp mứt, hộp kẹo nằm đầy bàn, những cốc pha lê, tách sứ men bóng lộn. Chủ nhân thì chững chạc, nghiêm trang. Những cái vẻ hấp tấp hàng ngày bị đẩy lui vào bóng tối của đêm ba mươi. Ánh sáng của ngày mồng một như có năng lực mầu nhiệm làm huỡn đãi mọi cử chỉ vội vã, làm chững chạc mọi vẻ người lau nhau.

    Xe chàng đi rất chậm, một phần vì phải đợi con, một phần vì những xe khác cứ từ những con đường ngang đâm bổ ra. Chàng đi kèm sát bên con vừa nhắc chừng, vừa ra lệnh:

   - Con đi sát vào bờ lề một chút.

   - Hễ có ô tô thì con đạp chậm lại để ba thêm "ga" chạy vọt lên.

   - Coi chừng, con Thủy ngồi thẳng. Ðừng ngó nghiêng mà trẹo xe, mất thăng bằng.

   Sự cởi mở của chàng mở đường cho con bi bô theo. Thủy nói:

   - Ngồi ở đằng sau mỏi lắm nên con phải trở mình đó chớ.

   - Thế mày tưởng phải đạp như tao là sướng chắc?

    Hào đề nghị:

   - Thôi Thủy qua đây ngồi với ba, tao qua ngồi với chị Hằng cho.

    Câu nói vô tình mà phù hợp với ý nghĩ của Thủy. Nhưng Thủy vẫn giữ một giọng hờn dỗi:

   - Anh Hào ngồi bên ba sướng hơn con

Vừa lúc ấy có tiếng còi ô tô thét lên quá gần khiến xe mấy cha con loạng choạng. Hai tay lái lại bám sát vào lề đường. Những cô bé cậu bé cứ mê mải nhìn xuống đôi giày đôi guốc mới của mình mà đi lọt ra giữa đường hồi nào không biết. Nhiều cô cậu khác cứ dán mắt vào quần áo mới của người qua đường mà rốt cuộc đi lộn hàng ngũ phải kêu réo nhau, chạy tìm nhau, tống cả vào xe. Các anh thanh niên, chị thiếu nữ đi từng đoàn, lây cái sức mạnh của sự đoàn kết và say sưa vì ý xuân, men xuân nên đi nghênh ngang một cách có ý thức, bất chấp mọi người.

    Xe chàng đến cầu xóm Bống gặp đèn đỏ phải dừng lại. Thật rắc rối. Sống mãi ở Nha Trang, quen với sự đi lại tự do, nay gặp phải một ánh đèn đỏ khiến cơn giận vụt đến, mau như sự nhức nhối gây ra do một miếng đồ ăn cứng chạm phải cái răng sâu. Trước kia, hồi còn ở Sài Gòn, đèn xanh đèn đỏ đã thành một điển lệ khiến mỗi lần đi đến ngả tư là chàng cũng như mọi người phải chuẩn bị để nhẫn nại. Thời gian ở Nha Trang quả đã làm chàng hư nết đi. Mọi năm cứ sáng tinh sương chàng đi thăm mộ thật sớm rồi về thật sớm nên sự đi lại qua cầu tự do. Năm nay vì muốn cho con đi cùng mà thành phải đi trưa, phải bị ánh đèn xanh đỏ hạn chế tự do. Chàng dừng xe, cúi nhìn xuống đường nhựa để giận.

    Những chiếc xe du lịch, xe đạp, xe ngựa, xe lôi, xe gắn máy nối đuôi nhau chạy ngược lại chàng. Chàng trả thù, không nhìn vào những chiếc xe du lịch. Chắc chắn ở trong đó có những bộ mặt hãnh diện nhìn ra - nhất là những bộ mặt đàn bà - làm bộ ngây thơ, nghiêm trang hay nhí nhảnh, nhưng tất cả đều cốt để người khác nhìn vào mà thèm muốn, mà thán phục, mà say mê. Muốn chọc giận họ hơn, mỗi lần nghe tiếng còi, chàng đưa mắt từ từ nhìn thẳng lên mui xe rồi lơ đãng nhìn ra bể. Ðể họ sung sướng hụt. Những ý nghĩ vẩ vơ nầy làm rơi cơn giận, khiến chàng hơi hơi vui nữa. Chàng quay sang nói chuyện với con:

   - Cầu nầy gọi là cầu xóm Bống đây. Bống là tên của cái xóm chài lưới kia. Doi đất có nhiều nhà mà các con thấy đó là xóm Cồn. Còn phía nầy là cái đầm. Chợ Nha Trang còn gọi chợ Ðầm là vì vậy.

    Thế còn dãy nhà nào cao ở chót núi kia ba? Thủy hỏi.

   - Ðó là dãy nhà của mấy ông cha dòng Phan-xi-cô.

    Hào vội vàng hỏi tranh:

   - Người ta leo núi đi đâu mà nhiều thế kia hở ba?

   - Người ta đi Tháp Bà đấy. Lên Tháp Bà để lễ.

   - Lễ là cái gì?

   - Là thắp hương rồi vái ông thần để xin cho được sức khỏe, mua may bán đắt.

    Lời giải thích tuy có vẻ giản dị nhưng chắc Hào và Thủy không hiểu nổi. Nhất là nghĩa của chữ "vái". Hình như ở nhà chưa có lần nào chàng nói tiếng "vái" ấy mà cũng chưa hề có lần nào chàng làm cái việc vái. Nhưng sở dĩ chúng không hỏi thêm vì có nhiều người đứng ở bên cạnh. Và cũng chính vì lẽ đó chàng cũng thôi không giải thích nữa. Vừa lúc ấy đèn đổi màu, dãy xe cộ chuyển mình chảy như một dòng sông, bò tới đều đặn như một con cuốn chiếu. Bên kia đầu cầu, một dãy xe cộ và người nối đuôi chờ. Dãy này ngắn hơn: người ta đang bận đi, chưa về. Ðường lên Tháp Bà ở liền chân cầu. Bên những cái sạp mới dựng bán hương, đèn, những anh thợ ảnh chạy lăng xăng, những chú nhỏ lãnh giữ xe đạp mời khách ồn ào. Ði quá Tháp Bà, con đường quốc lộ trải nhựa láng và hẹp lại. Những căn nhà lợp lá, vách đất và nền đất vàng nằm dưới những tàng mít lá xanh mướt. Người đi cũng khá tấp nập. Thanh niên chỉ có sơ mi trắng. Nếu đeo ca vát thì hoặc quá ngắn hoặc quá dài, hoặc úp cong như một cái lá. Thiếu nữ thì áo thường một màu chớ không hoa hè như ở phía bên đầu cầu. Bàn chân đen và to nong vào những đôi guốc quá nhỏ. Những cái áo dài đen đập cũn cỡn trên đầu gối của mấy ông già. Hình như ở phía bên này có nhiều ông già hơn.

    Lúc xe đi gần tới nghĩa trang, tự dưng tâm hồn chàng u tối lại như có một áng mây dài che kín bóng mặt trời đang le lói khiến bóng râm sa sầm xuống. Con đường này mới năm nào lần đầu tiên chàng bước đến là lúc đưa vợ chàng ra nằm vĩnh viễn nơi đây. Chàng mường tượng như còn thấy cái xe tang đứng dừng nơi này, thấy đoàn người đi đưa kéo dài như không muốn dứt. Ba đứa con, ba đứa con của chàng...

    Tiếng Hằng hỏi:

   - Dựng xe ở ngoài cổng hở ba?

   - Ừ.

    Chàng nghe tiếng mình như có hơi lạc đi.

    Nghĩa trang nằm thoai thoải theo triền chân núi. Những ngôi mộ nằm xếp thành hàng ngay ngắn. Kiểu mộ gần giống nhau: một bờ thành đá tráng xi măng vuông vức, trước tô thành tấm bia. Lòng mộ đắp đất. Thỉnh thoảng mới có một ngôi mộ kiến trúc phức tạp hơn, có làm mái che, có đắp hình lân hình phụng, có bàn thờ, có câu đối. Giả đặt nằm thảnh thơi giữa một cảnh trí riêng biệt thì những ngôi mộ xa hoa này sẽ có đầy đủ giá trị mỹ thuật. Ðặt vào đây không hợp vì mỗi phần đất dành cho người quá cố không hơn hai thước bề ngang và nhất là bên cạnh đó có những ngôi mộ chỉ đắp sơ sài bằng sỏi. Rải rác có nhiều người xì xụp trước những ngôi mộ. Từng vòng khói hương bay cuộn trong nắng.

    Hào tiến lên nhanh nhất đi về phía mộ má để tỏ ra là mình thạo. Bé Thủy lật đật chạy theo. Sự hăng hái của con khiến chàng đau xót. Con chàng nhỏ quá chưa biết ý nghĩa của sự chết, chưa cảm thấm thía cái buồn của việc đi thăm mộ, cúi xuống đọc tấm bia rồi vẫy tay gọi chàng:

   - Ba ơi! Ðây mộ của má đây rồi.

    Hằng đi bên chàng, nhẹ nhàng. Lúc đứng trước mộ, chàng im lặng nhìn những phiến đá lạnh. Lúc sống vợ chồng nào gặp nhau sau chừng một năm cách biệt cũng bắt đầu bằng cái nhìn im lặng như vậy mà biết bao nhiêu đầm ấm hẹn sau. Với chàng hôm nay thì lạnh lùng là thái độ vĩnh viễn. Chàng đặt tay lên phiến đá, tưởng tượng như đưa tay cầm bàn tay ấm áp của vợ xưa. Hằng rút trong một cái túi nhỏ cầm tay lấy ra một bó hương và bao diêm đưa cho chàng. Chàng lặng lẽ cầm lấy châm đốt. Ánh lửa bùng lên, khói hương tỏa ra, bị gió thổi bạt đi, không kịp trắng.

    Chàng cúi đầu vùa thổi tắt ngọn lửa, vừ nghĩ thầm: "Em ơi, hôm nay anh đưa con đến mộ thăm em. Ba đứa con em giao lại cho anh đã lớn từng ấy đó". Nghĩ đến đây, chàng dừng lại lén đưa mắt nhìn sang ba con để chắc chắn độ lớn của mỗi đứa, như để ghi chặt vào tâm tư rằng ba đứa con đã lớn như vậy. Và chàng nghĩ tiếp "Một năm qua, anh không năng ghé lại đây thăm em, nhưng chắc em đã tha thứ vì em hiểu tính anh hơn ai hết ở trên đời này. Lòng anh và cử chỉ của anh nhiều khi mâu thuẫn nhau nhất là khi những cử chỉ ấy có tính chất hình thức, xã giao. Anh chưa quên em".

    Ðó là một sự thật. Cả ngay trong sự suy nghĩ, chàng cũng cân nhắc cẩn thận chữ dùng. Chàng không muốn nghĩ rằng "anh không thể quên được em". Chữ "không thể" hời hợt nếu không nỡ nói là giả dối. Khi cúi xuống cắm nhang vào bát hương, chàng thấy có nhiều chân nhang mới cắm màu đỏ tươi và có cả tàn nhang vung vãi. Chắc những người quen đi thăm mộ sớm ghé lại thắp hương dùm. Trong cái thành phố nhỏ này, người ta không lạ nhau mấy. Chàng nhìn vào nét khắc của bia. Màu vàng của nét chữ đôi chỗ bị phai. 

Thằng Hào lấy ra cây nến cắm hai bên lư hương. Chàng châm nến. Ánh lửa hắt hiu ánh lên mặt bốn cha con quây quần trước bia mộ. Mới chín giờ hơn nhưng ánh nắng gắt. Ngọn lửa trong ánh nắng có một vẻ gì vừa thảm đạm vừa tàn nhẫn. Chợt Thủy hỏi:

   - Bây giờ má ở đâu ba,

  - Má ở trên trời.

    Ðó là cách trả lời tiện lợi nhất trong các cách trả lời mà phải một năm góa bụa chàng mới tìm ra.

   - Má có ăn Tết không ba?

    Hào "xi" ngay:

   - Mày cứ nói bậy. Ðã ở trên trời mà còn ăn Tết cái gì?

    Rồi như để khinh bỉ sự dại dột, sự ngớ ngẩn của em, Hào bỉu môi nhắc lại vừa dằn mạnh giọng:

   - Ba đã nói má ở trên trời mà còn hỏi có ăn Tết không!

    Chàng cầm lấy tay Hào nói:

   - Thủy nó hỏi vậy là ý nó thương má nó. Chúng ta ăn Tết, nào bánh mứt, nào rượu trà, thế mà thiếu má chung hưởng. Thủy nghĩ đến má không biết má có được ăn Tết ở đâu không.

   - Nhưng mà đã ở trên trời rồi thì đâu còn ăn Tết nữa?

   - Con lớn con biết chớ em còn nhỏ, em đâu biết được Nhưng mà thôi, các con cúi đầu lạy má đi rồi thưa với má...

    Nói tới tiếng "cúi đầu lạy má", khóe mắt chàng đã thấy nóng, nước mắt như sắp chảy ra, do đó tiếng nói nghẹn ngào. Chàng dừng lại không nói tiếp thì Hằng đã hỏi:

   - Ý ba muốn con thưa cái gì?

   - Thưa cái gì mà con muốn nói cho má nghe đó. Chẳng hạn thưa rằng năm nay con đã học đến lớp mấy rồi, con học khá hay dở. Con cũng có  thể nói cho má con nghe trong nhà có chuyện gì xảy ra, ví dụ cây dừa ở bờ giếng đã nứt bẹ trỗ bông, con chó Tô bây giờ đâm ra sủa láo và hay cắn lộn với chó hàng xóm nhưng lúc nào cũng thua.. vân vân. Chắc chắn những điều đó má con muốn biết vì chúng đều dính dáng đến những người những vật mà má con yêu mến.

   - Nhưng má ở trên Trời chắc má đã thấy hết biết hết.

   - Có thể như vậy. Nhưng nói thủ thỉ với má là một cách biểu lộ lòng thương yêu. Lú má còn sống con thường thủ thỉ nói chuyện với má. Dễ thường những điều con nói đều lạ đối với má con sao?

    Hằng còn đang ngần ngừ chưa biết trả lời sao thì Thủy hỏi:

   - Con thưa với má rằng tháng này con đứng thứ nhì. Chắc má khen con lắm.

   - Phải đó.

    Hào nói;

   - Ðể con mét với má rằng chị Bốn ở nhà coi nhà rủ con Ngâu vào chơi để nó lấy mất cây bút máy của chị Hằng.

   - Ừ.

    Chàng vừa trả lời vừa đứng dậy.

   - Các con có thể nói lầm thầm, hoặc nghĩ thôi mà không cần nói to

Chàng đứng thẳng người, đưa mắt nhìn một lượt chu vi của nghĩa trang. Những người viếng mộ khá đông, khác với những năm trước chàng đến quá sớm nên thường không gặp một ai ở đây cả. Một người đàn bà chừng bốn chục tuổi đi giữa một bầy sáu, bảy đứa con từ cổng nghĩa trang bước vào. Chàng biết chắc cái đoàn người ríu rít này sẽ rẽ sang tay trái vì khu tay trái dành cho mộ đàn ông. Nhưng họ đi thẳng lên dốc, dừng lại bàn thờ đặt ở giữa đường chính. Người đàn bà đốt một bó hương lớn, khấn vái một cách thành kính rồi cắm vào cái bát hương to. Bàn thờ này không thấy ghi tên ai nhưng chàng đoán chắc là để dành thờ vị thần Hậu thổ nào cai quản cuộc đất này. Gia đình nào muốn vào thăm mộ của thân nhân mình hình như trước hết đều phải qua khấn vái và gián tiếp xin phép ở đó. Chàng tự trách mình mấy năm nay đã vô tình mà hóa ra thất kính. Ai lại cứ xăm xăm đi về phía mộ vợ mình, bất chấp cả hệ thống, cả qui chế. Chàng nghĩ thầm: Người đàn bà bao giờ cũng chu đáo. Chắc thế nào cũng có nhiều anh đàn ông thật thà và hấp tấp như mình quên lễ bàn thờ Hậu thổ.

    Một người đàn ông ăn mặc tầm thường cúi lom khom cắm một bó nhang trước một ngôi mộ đắp đất sỏi. Người ấy đứng thẳng dậy vái vội vã mấy cái rồi sang một cái mộ khác cách đó mươi thước, móc túi lấy một bó nhang, xòe diêm châm, cắm xuống đất rồi lại lật đật vái. Công việc xảy ra không quá năm phút, vội vã hấp tấp như một đoạn phim cũ bị cắt, nối, hình ảnh nhảy nhót. Theo cái đà gấp gáp đó và với cái túi còn đầy những bó nhang đem theo, chàng biết con người này còn phải lo trả gấp một mớ nợ thăm viếng đầu năm ở cái nghĩa trang này. Một bà cụ đứng xuýt  xoa mãi ở một ngôi mộ. Nhìn xa thấy bó hương cháy đã gần tàn mà cụ vẫn đi đi lại lại chẫm rãi quanh đó. Chừng năm, bảy cây hoa vạn thọ được trồng ở trước bia và trên lòng mộ. Sự chăm sóc tỉ mỉ và lòng quấn quít của những cặp vợ chồng già làm chàng cảm động. Nó không có giá trị hơn những tấm lòng thay đổi của những người trẻ, vì già rồi thì còn thay đổi với ai? Nhưng mà cảm động.

    Một đôi vợ chồng dễ thường mới cưới đi lượn từ mộ này sang mộ khác. Họ đọc những tên người quá vãng, có lẽ để tìm một tên bà con. Nhưng trên tay người đàn bà chỉ có cái xác nhỏ màu đỏ để cầm đi phố và người đàn ông thì một tay thọc vào túi quần, một tay đưa ngang lưng vợ như vì thói quen. Dù lây cái không khí trang nghiêm tang tóc nơi đây mà họ đi xa xa nhau một chút nhưng không dấu được sự âu yếm nhau.

    Giang đi về phía mộ của một người bạn. Những chân hương cũ đã phai màu đứng nghiêng ngã. Cách đây độ bảy tháng, khi đi đưa linh cữu anh bạn đến chôn nơi đây, chàng thương hại thấy người vợ bạn lăn lộn khóc. Phải nhiều người ôm giữ chị lại. Nước mắt vốn dễ lây, chẳng những các người đàn bà đi đưa đám đều ràn rụa nước mắt mà cả chàng đứng cạnh đó cũng bùi ngùi muốn khóc. Chừng năm tháng sau, ngẫu nhiên chàng nghe tin người vợ bạn về quê và lấy chồng. Nhiều người bảo rằng người chồng đó là người tình của chị, chị có khi người chồng trước còn sống. Chàng lặng yên nhìn tấm bia mộ hồi tưởng lại vẻ mặt có duyên, dáng dấp thanh nhã của ngời bạn xưa và tâm hồn nghệ sĩ của bạn. Chàng chưa kịp kết luận thì hai đứa con đã chạy lại đứng cạnh. Thủy nói:

   - Ba ơi, con nói với má rồi. Nhưng má ở trên trrời thì làm sao má nghe được?

   - Dù má ở đâu đi nữa mà khi mình thắp hương vái thì linh hồn má về ngay với mình.

    Hào ngửng mặt lên nghe, miệng há ra và lông mày nhíu lại. Nỗi thắc mắc đọc được trên cái vẻ thẫn thờ suy nghĩ. Chàng nói:

   - Hồi ba còn nhỏ, đi học lớp Năm ở một trường làng. Có một anh học sinh lớn đi tắm sông bị chết đuối. Gia đình đem chôn anh ta ở cái trủng, -người ta gọi nghĩa trang của người Tàu là cái trủng- ở gần trường học. Nhiều anh em khi đi học hay ghé lại thăm mộ anh. Một bữa kia anh em tới thăm mộ  như thường lệ thì thấy có một bức thư dán trên thành đá ngang hông ngôi mộ. Ðó là một bức thư gới thăm anh Ca (Ca là tên anh bạn bị chết đuối) viết trên một trang giấy học trò, nét gạch xiên xẹo. Bức thư bắt đầu bằng: Thiện đức le (đọc là lơ) 12 tháng 5 năm 1929 và lời lẽ văn hoa theo kiểu thời bấy giờ:

    "Nghiên châu bút ngọc, tạm bức thư lan, trước kính thăm quí hữu bình an"... vân vân. Cuối cùng ký tên là Nguyễn Thới. Có cả chữ "nay thơ" nữa.

   - Nguyễn Thới là ai vậy ba?

   - Là anh học trò lớp tư tác giả bức thư đó.

   - Thế anh ta viết để làm chi vậy?

   - Anh ta tin rằng dán bức thư vào tường mộ thì tối anh Ca sẽ hiện hồn về đọc thư. Nhiều anh em tin theo như vậy. Và người ta còn hẹn nhau sẽ đến xem thư của anh Ca viết trả lời, cũng sẽ dán lên tường mộ, cạnh thư của anh Thới.

   - Anh Ca viết hở ba?

   - Ừ. Anh em tin rằng anh Ca sẽ viết trả lời và tự dán cho anh em xem.

   - Thế ba có xem không?

   - Không có, vì anh Ca không viết trả lới mà cũng không dán.

    Hằng nói:

   - Cái ý kiến đó cũng hay, hở ba? Một người nhà quê mới học lớp Tư mà có sáng kiến...

    Chàng mỉm cười:

   - Mới học lớp Tư mà xác to bằng ông xã rồi. Nhưng thôi, đã trưa lắm. Lại lạy má rồi đi về.

    Khi trở lại mộ thì hương đã gần tàn. Có gió phe phẩy thổi, ngọn lửa ở đầu hương cháy ngún thật mau. Ba đứa con lần lượt theo thứ tự lớn nhỏ lại đứng chắp tay trước mộ. Chàng thẫn thờ nhìn ngôi mộ vợ rồi lặng lẽ quay đi, bước chầm chậm theo con. Trên đường về, không còn ai muốn nói chuyện nhiều vì trời nắng đã gắt. Tiếng bánh xe lăn bon bon trên đường. Cầu xóm Bống không bị tắt nghẽn lâu nữa. Những bộ com lê giày da đen còn sót lại trên đường đang vội vã rảo tránh nắng. Các cái cổ thắt ca vát phải ngọ ngoạy liên tiếp.

    Vượt quá cầu Bống, về đến công trường Cộng hòa, lòng chàng thấy vui vui, coi như đã về đến nhà rồi vậy. Những vẻ mặt quen thuộc tươi cười chào chàng. Áo mới, dép mới, cái đầu tóc chải công phu khiến những khuôn mặt đàn bà trông như mới lại, gần như lạ đi, chẳng khác những ngôi nhà vừa sơn quét. Những người đàn ông chững chạc và nhu mì hơn trong những bộ áo quần thường màu tối. Có lẽ những người chàng gặp đi vào giờ này đều ở trên đường về nhà họ.

    Khi xe dừng trước cổng nhà, con Tô nhảy xồ ra sủa vang lên, bị lóa mắt vì bề ngoài chững chạc của bốn người quen. Lúc cởi áo ngoài và cởi giày, cùng với cái thú được thoải mái tay chân, tâm hồn chàng thấy nhẹ nhàng vui vẻ vì cái bổn phận đối với vợ đã trả xong, trả trọn vẹn hơn mọi năm bởi chàng đã chìu con, nhẫn nại đưa con đi thăm mẹ chúng. 

   Ba đứa con sau khi bỏ mũ, đã lật đật chạy ra nhập bọn chơi với lũ bạn bè. Vừa lúc ấy con Tô lại cất tiếng sủa, đem theo một ông khách đến thăm đầu năm. Ông khách khác tiếp theo ông khách này. Và cứ liên miên như vậy, chàng lo tiếp khách, con lo chơi với bạn bè, cái Tết sum vầy của mọi nhà chịu bất lực không sum họp cái gia đình bé nhỏ của chàng. Những bổn phận riêng tư, những nỗi vui chơi cũng riêng tư, chỉ có vào giờ ăn là cha con quây quần cùng nhau.

    Nhưng ngày mùng một Tết bạn bè có quyền ngồi nói chuyện la cà bất chấp thời giờ thành ra các con phải tự ý ăn cơm trước. Vừa tiếp khách vừa bị khách rủ đi thăm nơi này nơi khác, rốt cuộc, bộ quần áo mặc hồi sớm tinh sương phải đến mười giờ tối mới hoàn toàn cởi ra được. Tìm hỏi con thì Hằng đang nhập bọn với con Bốn, con Nga, con Anh quây quần ở bàn đánh cá ngựa.

   - Còn thằng Hào? Chàng cất tiếng hỏi.

   - Thưa thầy thằng Hào coi đánh "tôm cua" ở ngoài trụ sở Phong trào.. Tiếng con Bốn trả lời.

   - Còn Thủy?

    Ba cái mặt ngơ ngác nhìn nhau. Hằng nói nhỏ:

    - Chết cha! Từ hồi tám giờ đến giờ sao không thấy con Thủy lẩn quẩn ở nhà?

   - Hay nó sang bên con Sa?

   - Không có đâu - chàng gạt liền. Hôm qua tao đã dặn kỹ, ngày mồng một không được đi sang nhà ai hết, cả nhà của con Sa nữa. Sợ người ta kiêng.

   - Thế thì nó ở đâu? - Con Bốn vừa tự hỏi vừa chạy xuống nhà bếp.

    Hằng ra đứng ở cửa kêu:

   - Thủy ơi.

    Không có tiếng trả lời.

    Giang mở cửa phòng mình nhìn vào rồi quay ra bảo:

   - Thôi đừng tìm em nữa. Em nó ngủ ở trong phòng ba đây.

    Chàng bước lại bàn viết. Thủy ngồi ở ghế mà lưng cúi sấp xuống, nghiêng mặt gác lên mặt bàn, mắt nhắm. Tiếng thở đều đặn. Tay trái đè lên một mảnh giấy còn tay phải cầm lỏng lẻo một cây bút. Chàng cúi xuống trang giấy. Những hàng chữ viết ng nghiêng, chữ to cạnh chữ nhỏ, khoảng cách không đều và bôi xóa, nét mực nhoè nhoẹt. Tuy vậy, chàng cũng có thể đọc được:

    Má ơi,

    Con đi thăm mộ má mà không có má, má ở trên trời. Con học lớp Năm không có má chải tóc cho con, má con Nguyệt thắt bím cho nó đẹp lắm. Con đi học trời mưa trợt ướt áo đầm anh Hào lấy tờ giấy thấm của con. Má nhớ trả lời cho con rồi dán lên trên mộ.

 

 

Kim Kỳ st

Xem thêm...

Những Mùa Xuân Thanh Bình Cũ - Penseé Đà Lạt

Những Mùa Xuân Thanh Bình Cũ

**  Penseé Đà Lạt **

Khi  ngọn gió đông thổi ập vào thành phố nhỏ cùng với những trận mưa tuyết đổ xuống làm trắng xóa mọi lối đi, ngàn cây nội cỏ,  là lúc bà Thùy thấy nhớ quê hương da diết. Bà thì thầm một mình: “Tết sắp đến nơi quê nhà mình rồi!“. Hình ảnh cha mẹ già và các em còn lại ở Việt Nam với cái không khí sắp đến Tết Nguyên Ðán khiến hai vai  bà run lên trong nỗi nhớ gia đình ngập tràn trong lòng, nước mắt bà trào ra những giọt nóng, rơi xuống gò má giá lạnh của người đàn bà đã ngoài ngũ tuần. Bà Thùy cảm thấy cô đơn quá trong căn nhà rộng thênh thang này. Chồng bà đang ở chỗ làm, hai con gái đứa đã có gia đình riêng, êm ấm bên chồng con; đứa đi học ở tỉnh xa, lâu lâu mới về thăm. Bạn bè bà vẫn nói với bà bằng giọng so sánh: „Số của chị an nhàn sung sướng, có mấy ai được như vậy đâu“. Quả đúng như vậy. Ðã định cư gần 20 năm ở nước ngoài, tuy không giàu có nhưng ổn định vì cả hai vợ chồng bà đều có việc làm đều đặn, con cái đã trưởng thành, học hành tới nơi tới chốn. Bà chẳng còn mơ ước gì khác nữa, nhưng… sao cứ những ngày giáp Tết VN thì bà Thùy lại cứ thấy tim bà như thắt lại, rồi bà ngồi suy tư, nghĩ ngợi nhiều lắm. Bà tự hỏi vì sao dân mình lại sống xa nhà nhiều đến thế, trước kia có mấy ai thích đi xa gia đình, xa những người ruột thịt bao giờ?  Bà thấy nghẹn ở cổ và nghe khó thở quá khi nghĩ ra được cái nguyên nhân đắng nghét khiến gia đình bà và nhiều người khác phải lìa bỏ quê hương sống rải rác khắp mọi nơi trên quả địa cầu này. Hai mắt của bà bỗng dưng ráo hoảnh, bà tỉnh táo hơn khi nhớ lại những cái Tết Nguyên Ðán thanh bình trước đây khi bà còn là cô gái nhỏ mười một, mười hai  tuổi…

doc dao phien cho tet “mot nam mot lan” o giua thu do - 3

„…Ðầu tháng Chạp Âm lịch, gia đình cô bé Thùy đã rộn ràng nhập hàng hóa để bán cho dịp Tết. Nhà ở và cũng là cửa hàng số 246 nằm trên  đường Võ Di Nguy Phú Nhuận, đối diện với  trường Tiểu Học Võ Tánh, nơi Thùy học. Căn nhà dài lắm,  đâu chừng 32 mét mà cô bé Thùy suốt ngày lăng xăng, ra vào không biết mỏi chân. Những lúc đông khách, tuy còn nhỏ nhưng cô đã có thể ra phụ với cha mẹ và anh trai những công việc như gói hàng, thối lại tiền cho khách… Thùy ưa thích được làm công việc này lắm, nên những khi vừa tan trường từ con đường trước mặt, băng qua vào đến nhà, cô cất cặp rồi ra ngay cửa hàng để cùng được „bận rộn“ với gia đình mà thấy lòng cô vui khôn tả.

Dù bận rộn với công việc kinh doanh, cha của cô lại là người có tâm hồn nghệ sĩ đáo để. Những lúc cửa hàng vãn khách, khi con đường Nguyễn Huệ đã có chợ hoa, ông xách máy hình lang thang dọc theo phố hoa để „săn ảnh". Ông chụp bất kỳ những gì ông bắt gặp. Nếu là những phụ nữ duyên dáng xinh đẹp đang lựa mua hoa Tết, chụp xong ông còn hỏi địa chỉ để gửi tặng. Ảnh đen trắng rửa ra nhiều đến hàng trăm tấm khổ nhỏ, đa số là ảnh phụ nữ e ấp bên các loài  hoa, số còn lại là những chậu hoa, loài hoa đẹp mà ông đã chụp vì thú vui đến quên cả vợ con đang tất bật buôn bán ở nhà!.

nhung-dieu-dac-biet-chi-co-o-tet-mien-nam

Một hai tuần trước Tết, cha cô bé Thùy chở về nhà hàng chục cây hoa để chưng tết. Nào là Thược Dược vàng, tím;  Cúc Đại Đóa trắng, vàng; Vạn Thọ bông lớn, màu vàng đậm, nhạt. Hai bên cửa hàng ông đặt 2 chậu Quất xum xuê những quả tròn lẳn, da vàng bóng láng, kết lủng lẳng những bao lì xì in hình mấy ông Phúc, Lộc, Thọ trông thật bắt mắt. Khách vào mua hàng đều trầm trồ trước những cây cảnh được bày trí, và khách còn vui lòng hơn khi nhận được những bao lì xì „lấy hên“ từ tay cô bé Thùy trao tặng. Bên trong phòng khách cũng tràn ngập hoa Tết khiến căn nhà như rực rỡ, vui tươi hơn trong dịp xuân về.

nhung-dieu-dac-biet-chi-co-o-tet-mien-nam

Trước ngày đưa ông Táo về trời hai ba bữa, vì là con trai lớn nên anh của cô bé Thùy được phép lau chùi bộ lư đồng trên bàn thờ ông bà nội của cô. Anh vừa làm vừa huýt gió nghe vui lắm vì anh đã được cha cô hứa sẽ mua cho chiếc xe Honda mới, thay cho chiếc xe đạp „cuộc“ đã cũ để đi học và để „lấy le“ với bạn bè cùng trường. Còn cô, vào giữa trưa, lúc cửa hàng đóng cửa, cùng mẹ đi chợ mua sắm đồ cúng đưa ông Táo vào ngày Hai Mươi Ba tháng Chạp Âm lịch. Cô thấy mẹ cô mua trái cây đủ loại, nhang đèn, giấy tiền vàng bạc và một xấp giấy nghe gọi „Cò bay, ngựa chạy“ gì đó mà không thể thiếu được. Rồi bà dẫn cô tới khu bán cá, chọn mua một con cá chép thiệt bự, mang về nhốt trong thau, đổ nước cho nó còn sống, bơi lội thỏa thích chờ đến giờ cúng thì đặt nó trước bàn thờ có  hoa quả, bánh trái, rượu đế đã dọn sẵn. Cha cô thắp nhang, lâm râm khấn vái một hồi, ông lấy xấp giấy tiền vàng bạc và cả xấp „Cò bay, ngựa chạy“ châm lửa đốt trong một cái thau nhôm. khi cháy gần hết, ông đổ 3 chung rượu cúng vào, đứng dậy xá xá mấy cái rồi bắt con cá bỏ vô thau nước trở lại. Ông nói phải làm y như vậy thì ông táo mới có „tiền“ làm lộ phí về trời, „báo cáo“ tốt đẹp những gì đã xảy ra trong gia đình nhà ông suốt một năm qua.

nhung-dieu-dac-biet-chi-co-o-tet-mien-nam

Những ngày sau đó chỉ còn cha và anh của cô bé Thùy cùng với sự trợ giúp của một người anh họ đứng bán hàng cho tới tận trưa Ba Mươi Tết. Mẹ của cô lo đi chợ mua nếp, đậu xanh, thịt mỡ, lá chuối, dây lạt, để chiều Hai Chín tháng Chạp, bà trải chiếu ngồi giữa căn bếp rộng, quây quanh là đủ thứ đồ dùng cho việc gói bánh tét, bánh ít. Bởi nhà nhiều con nên mỗi năm má của cô gói hơn hai chục đòn mặn, ngọt đủ cả treo đầy gác bếp. Mùi bánh tét khi nấu chín thơm lừng hương nếp quện với mỡ thịt, khiến cô nghe thèm chảy nước miếng. Ngoài ra mẹ cô còn đặt trên bếp một nồi thịt, kho với trứng hột vịt và nước dừa tươi hấp dẫn. Món này cuốn bánh tráng, dưa giá, củ kiệu thì ngon „tuyệt cú mèo“! Cái không khí rộn ràng, chuẩn bị cho những ngày sắp Tết trong nhà khiến tâm hồn non trẻ của cô náo nức chi lạ. Thường ngày cô buồn ngủ sớm, vậy mà sắp tới Tết, cô lẽo đẽo theo má  lụi hụi làm cái này, chuẩn bị cái kia tới khuya trờ khuya trật mới chui vô giường, báo hại sáng ngày tới trường, ngồi trong lớp cô ngáp dài ngáp ngắn, cũng may sắp tới Tết cô giáo dễ dãi cho học trò được vui chơi nhiều hơn bắt học hành chăm chỉ.

images1034190_1

Năm nay cô bé Thùy sẽ thêm một tuổi, cô sắp 13!. Cô reo lên khi mặc thử chiếc áo dài đầu tiên mẹ đặt may cho cô. Thật là ngộ khi lớp vải ôm sát lấy thân hình còn nhỏ xíu của cô khiến cô cứ giật mình từng chập vì cô tưởng cô không mặc thứ gì trên người. Chiếc áo dài may bằng loại vải gì mà nhẹ hều, đi qua đi lại một chút là hai tà áo trước sau cứ bay lên khiến cô lính quýnh đưa tay giữ chặt chúng lại. Cô nhìn bóng cô trong kiếng thấy mình cũng „ngồ ngộ“ dữ đa, cô toét miệng cười, xoay bên này, ẹo bên kia một hồi cô thấy tự nhiên hơn, hai tà áo có bay cô không thèm giữ lại nữa. Tết này cô sẽ „diện“ chiếc áo dài này mỗi khi đi chơi với gia đình nên cô cần „biểu diễn“ trước cho quen.

Sáng ngày Ba Mươi tháng Chạp Âm lịch, bà con nội ngoại của cô đem quà tới cúng hoặc biếu gia đình cô chất đầy một cái bàn dài trong phòng ăn. Thôi thì đủ thứ: Dưa hấu loại một mấy cặp, Bưởi Biên Hòa gần chục trái da vàng ươm, tươi rói; Vú sữa trái nào trái nấy bóng láng, da mỏng rất ngon... nhiều không sao kể hết. Cha của cô tiếp bà con mệt nghỉ, chị giúp việc nấu nước pha trà đãi khách không ngơi tay. Ngoài khách mua hàng phía trước, kẻ ra người vào nhà cô nườm nượp, cô quên không nói, cha cô là con trai độc nhất lãnh phần cúng tế nên mỗi năm Tết đến là nhà cô như mở hội.

Tới mười hai giờ trưa thì anh hai của cô ra kéo hai tấm cửa sắt đóng cửa hàng lại, mọi chuyên bán buôn coi như tạm nghỉ cho tới ngày tốt đã được cha cô coi kỹ trong cuốn lịch Tam Tông Miếu, mới khai trương trở lại.

Khi bà con đều đã ra về thì cha mẹ cô cũng chuẩn bị cho buối cúng Giao Thừa vào lúc nửa đêm mà cha cô gọi là Lễ Trừ Tịch. Cô còn nhớ như in lời giải thích của cha cô cho con cái hiểu thêm: „Trừ Tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ sắp bắt qua năm mới, giữa giờ Hợi ngày 30 hoặc nếu tháng thiếu, thì ngày 29 tháng Chạp năm trước và giờ Tý ngày Mồng Một tháng Giêng năm sau“.

Khi mẹ của cô đã sắp dọn xong các thứ để cúng như trái cây, bánh tét… trên bàn thờ tổ tiên và một mâm tương tự như vậy được đặt trước sân nhà, thì cha của cô bảo anh em cô đi tắm gội sạch sẽ, mặc những bộ quần áo mới vào để buỗi cúng được trịnh trọng hơn. Chẳng phải chờ đợi lâu khi những tiếng pháo đón Giao Thừa đồng loạt vang lên vào lúc nửa đêm, cả gia đình cô cùng đứng trước bàn thờ ông bà khấn vái với lòng ghi nhớ công ơn những người đã khuất, cầu mong một năm mới thịnh vượng an khang cho gia đình, con cái học hành tấn tới, ngoan ngoãn, hiếu đễ… Khi đứng dưới trời đêm Trừ Tịch, một bầu không khí linh thiêng thấm sâu vào tâm hồn cô bé Thùy, tỏa lan ra thành những xúc cảm về một quê hương thanh bình, xóm làng no ấm, sau nữa là tình cảm đầm ấm trong lòng cô đối với cha mẹ và anh em ruột thịt.

Hai loc dau nam 1

Lễ Giao Thừa ở nhà xong, cha mẹ cô cùng nhau đi lễ chùa Xá Lợi gần trường nữ Trung Học Gia Long, khi về thể nào cha cô cũng đem về một cành lộc hái từ cây cối trong vườn nhà chùa, những mong trong năm mới sẽ được Trời Phật ban cho nhiều lộc ăn, lộc để. Cha cô đem cành lộc này cắm chung vào bình hoa trên bàn thờ cho đến khi tàn khô. Có lần cha cô đi chùa một mình vì tuổi của mẹ cô năm đó không hạp để „xông đất“, e không đem lại những điều may mắn cho năm mới. Anh em cô thức suốt đêm ăn uống những thức ăn đã cúng trong lễ Giao Thừa hoặc cắn hột dưa, ăn mứt không biết chán.

Sáng ngày Mồng Một, cha mẹ cô sau khi đã làm lễ cúng ông bà xong, áo quần chỉnh tề ngồi ở phòng khách để anh em cô tới chào mừng chúc Tết. Anh trai cô đại diện cho đám con nít là cô và mấy đứa em còn nhỏ xíu chúc cha mẹ cô một năm buôn bán phát tài, mạnh khoẻ. Cha mẹ cô vuốt đầu anh trai cô khen ngoan và cũng chúc lại anh em cô nhiều điều tốt đẹp kèm theo những bao lì xì dúi vào tay…“

Có tiếng mở cửa lách cách từ chiếc chìa khóa khiến giòng hoài niệm của bà Thùy bị cắt đứt giữa chừng. Bà lên tiếng hỏi: „Anh về đó à?“. Ông Thư chồng bà còn đang đứng ở căn phòng nhỏ phía trước cửa chính cởi nón áo, miệng xuýt xoa: „Trời lạnh kinh khủng em à, sao em không mở lò sưởi lên?“. Vừa bước vào phòng khách, nhìn thấy bà ông kêu lên: „Em làm sao thế này, mặt nhợt nhạt thế kia…“, nhưng rồi ông khựng lại, nhìn vào mắt bà khẽ hỏi: „Em lại nhớ nhà phải không?“. Bà Thùy từ nãy giờ vẫn im lặng không trả lời chồng, nhưng đúng là vài giờ trước đây bà đang thả hồn về với cha mẹ của bà hiện nay đã rất già, hay đau ốm luôn. Bà thì thầm với ông Thư một câu mà bao nhiêu năm nay mỗi khi nhớ quê hương, cha mẹ, bà vẫn nói: - „Bao giờ mình có lại được những mùa xuân thanh bình xưa cũ, hở anh?“. 

Penseé Đà Lạt Những ngày cuối năm 2008

Hồng Vân sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này