Truyện

Truyện (192)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Mẹ… đừng yêu con quá

Happy Mother's Day May 12, 2019

Mẹ… đừng yêu con quá

Truyện Ngắn của Nguyễn Thị Thanh Dương

Long vừa từ cuộc hẹn với Ngọc Ngà, người vợ sắp cưới trở về nhà, lòng chàng vui vui vì bước đầu gặp thuận lợi. Ngọc Ngà đồng ý đám cưới xong sẽ ở chung với mẹ chồng một thời gian đầu cho phải phép vì Long là con một, sau đó ngày rộng tháng dài hai vợ chồng sẽ mua nhà ở riêng, Ngọc Ngà thích xây dựng một tổ ấm riêng của mình dù nó to nhỏ thế nào nàng cũng vui.

Về nhà Long lên tiếng ngay với mẹ:

– Mẹ ơi, con vừa đi gặp Ngọc Ngà, chúng con bàn về đám cưới……

 

– Ngày giờ đã định xong hết rồi, còn gì nữa mà bàn hả con?

Long hí hửng:

– Là cưới xong chúng con sẽ ở chung với mẹ đó.

Long tưởng mẹ sẽ vui mừng như mình nhưng bà thản nhiên:

– Tất nhiên rồi, nhà này của con, con không ở thì ai vào đây mà ở chứ.

Long cụt hứng, chẳng lẽ chàng kể công với mẹ là con đã mất bao lời dịu dàng phân bày và cả năn nỉ Ngọc Ngà mới thông cảm đồng ý ở chung. Thời đại này, nhất là ở Mỹ cuộc sống riêng tư là hàng đầu, có nàng dâu nào muốn ở chung với nhà chồng, với mẹ chồng đâu.

Chàng hãnh diện khoe:

– Mẹ sẽ có nàng dâu quý Ngọc Ngà, con cưng cành vàng lá ngọc của nhà người ta về nhà mình….

Mẹ chàng vẫn thản nhiên và cũng hãnh diện:

– Con cũng là kim cương hột xoàn của mẹ chứ thua kém gì. Trên thế giới có những viên kim cương nổi danh, vô giá. Con của mẹ cũng vô giá….

Long quen được mẹ yêu mà vẫn cảm động:

– Thế thì mẹ sẽ có cả hai thứ quý trong nhà, con dâu và con trai của mẹ.

Gia đình đến Mỹ được khoảng tám năm thì cha Long qua đời khi Long mới 12 tuổi, mẹ chàng làm công nhân trong một hãng xưởng. Mẹ luôn thương yêu và khuyên nhủ Long hãy ngoan và chăm chỉ học hành.

Mẹ sống rất tằn tiện để tiếp tục trả góp căn nhà cũ rẻ tiền đang ở và nuôi con tới khi khôn lớn .

Mỗi khi nghĩ về mẹ Long đều ngạc nhiên, thấy mẹ thật tài giỏi, thật tuyệt vời, một phụ nữ nhà quê trình độ học vấn thấp, mẹ tự xông xáo tìm việc làm chỗ này chỗ kia mà toàn là hãng xưởng Mỹ (mẹ bảo làm hãng Mỹ giờ giấc và quyền lợi đàng hoàng). Khi bị lay off mẹ đang được hưởng tiền thất nghiệp mà luôn nhấp nhỏm như người ngồi trên đống lửa, lo tìm việc tứ tung. Nếu nhân viên sở An sinh xã hội để ý nhìn vào giấy khai thuế hàng năm của mẹ chắc phải khen thầm bà này chăm chỉ làm việc hết mình.

Dù khi xin việc hay khi ra ngoài xã hội có vốn liếng mấy chữ tiếng Anh mà mẹ cũng đều xong việc, chẳng biết mẹ đã nói tiếng Anh thế nào mà họ hiểu được. Thỉnh thoảng mẹ mới cần nhờ đến Long giúp đỡ.

Long đã học xong kỹ sư và đi làm vài năm, có chút tiền trong tay mới dám tính tới chuyện cưới vợ.

Ngọc Ngà cũng tốt nghiệp đại học, nàng đang làm việc cho một công ty trong cùng thành phố.

o O o

Căn nhà nhỏ rất cũ, rộng chỉ 1,350 sqft… Ngày dâu về ở chung mẹ chồng đã hớn hở giới thiệu với con dâu và vẽ ra một tương lai đầm ấm:

– Nhà có những 3 phòng, mẹ ở một, còn 2 phòng tha hồ cho hai con sử dụng, đẻ một hai đứa con ở cũng vừa, nếu đẻ nhiều hơn thì mẹ ngủ chung với cháu hay ngủ ngoài phòng khách cũng được. Ăn thì nhiều chứ ở bao nhiêu, miễn là tiết kiệm tiền các con ạ.

Ngọc Ngà đã thở dài nói riêng với chồng:

– Thời nay căn nhà nhỏ cũng từ 2,000 sqft. trở lên, căn nhà của mẹ vừa cũ vừa nhỏ mà mẹ tính chuyện lâu dài chúng ta sẽ ở đây tới khi sinh vài đứa con ư?

Long dỗ dành vợ:

– Thì mình cứ tới đâu hay tới đấy, cuộc sống luôn có những thay đổi mà em.

Ngày đầu tiên người mẹ đã nghiêm chỉnh nói với hai con:

– Kể từ hôm nay gia đình chúng ta có 3 người, hai con đi làm tiền bạc để riêng dành dụm mai này lo cho con cái, mọi sinh hoạt trong cuộc sống mẹ… bao hết.

Ngọc Ngà ngạc nhiên kêu lên:

– Chúng con phải đóng góp phần mình cho công bằng chứ.

Long giãy nảy lên:

– Kìa mẹ, đừng lo toan như con vẫn là thằng bé 12 tuổi của mẹ ngày xưa.

Người mẹ dõng dạc:

– Mặc kệ con bao nhiêu tuổi, hai con làm bao nhiêu tiền. Mẹ 50 tuổi chưa già, vẫn đi làm ra tiền, căn nhà này đã trả xong, tiền mẹ làm ra để lo cho các con chứ cho ai? Bao giờ mẹ già yếu hay không đi làm được nữa hãy tính.

Cả nhà cùng rời nhà đi làm buổi sáng, chiều người mẹ về sớm nhất vì chỗ làm gần nhà. (Xin việc làm bà luôn “ưu tiên” hãng nào địa chỉ, zip code gần nhà mới nộp đơn. Nơi quá xa bà miễn dòm ngó vì lẽ bà không dám lái xe đường xa).

Bà lo bữa cơm chiều xong hai con mới về đến, con dâu chỉ việc dọn dẹp bếp và rửa chén bát khi ăn cơm xong.

Những món ăn mẹ chồng nấu quanh quẩn rau luộc hay rau nấu canh tôm khô, giá rau rẻ theo mùa, thịt kho trứng, cá kho, tôm rim… món nào cũng mặn đối với Ngọc Ngà, nàng chẳng dám kêu ca và luôn tự nhủ “Hãy cố chịu đựng chỉ một thời gian ngắn thôi mà”.

Nàng ngạc nhiên thấy mẹ chồng tự làm đủ thứ, cuối tuần bà hì hục xay thịt heo làm giò, hay xay cá làm chả cá, bà còn biết tráng bánh cuốn bằng chảo không dính, làm bánh bông lan bằng nồi cơm điện.

Thì ra bà học làm những món này trên youtube, có khi tới khuya còn thấy bà ngồi ngoài phòng khách xem youtube trên ti vi, chắc đang say mê nghiền ngẫm một món ăn mới.

Những món mẹ chồng làm không ngon bằng chợ, bà biết thế nên đã từng phân bua với hai con:

– Tuy mẹ làm không ngon, không hoàn hảo, nhưng bảo đảm vệ sinh an toàn sức khỏe, không dùng hàn the bột ngọt bột nổi và nhất là tiết kiệm tiền. Tội gì để nhà hàng để chợ búa ăn lời khi mình có thể làm được.

Thế là mỗi cuối tuần để vui lòng mẹ, vợ chồng Long phải ăn ở nhà do mẹ đảm đang trổ tài và tiết kiệm ngân quỹ gia đình

Hôm thì mẹ nấu phở, nấu bún riêu, bún măng, có khi đổi món ăn bánh xèo, bánh cuốn, ăn xôi khúc, xôi vò… đủ cả. Sợ con chưa vừa ý bà còn bảo:

– Hai đứa thích ăn món gì khác thì cứ… order mẹ làm cho, một buổi tối mẹ lên youtube là biết làm ngay.

Ngọc Ngà than thở với chồng:

– Thế này thì mình không có cơ hội bước chân ra hàng quán nữa. Nói anh đừng buồn nhé, những món ăn một buổi tối xem youtube của mẹ thì làm sao ngon cho được, chúng ta thỉnh thoảng phải ăn những món… dở dở ương ương.

Long chỉ biết bào chữa cho mẹ mình:

– Anh biết thế, nhưng được cái mẹ nấu nướng với… tất cả tấm lòng.

Một buổi sáng Thứ Bảy Ngọc Ngà thức dậy sớm, nàng muốn giúp mẹ chồng dọn dẹp cho sạch cái tủ lạnh mà mẹ đã chất chồng và nhồi nhét đủ thứ trong tất cả các ngăn mát vì mỗi lần nàng mở tủ lạnh cần tìm món gì thì gặp bao nhiêu là chướng ngại vật.

Nàng lôi ra mấy cái hộp nhỏ, hộp đựng tí cá kho không biết của tuần lễ nào còn dư lại, hộp khác đựng vài con tôm, đựng tí nước tương ăn dở dang, mẩu chanh héo vàng, bó sả còn mấy cọng xơ xác, nửa củ hành tây, nửa quả ớt, nửa quả dưa leo… Tội nghiệp những “một nửa” này, mẹ giam giữ chúng bơ vơ trong tủ lâu ngày và dường như đã quên mất sự hiện diện của chúng.

Ngọc Ngà thẳng tay vứt bỏ tất cả vào thùng rác, nàng lau chùi lại các ngăn tủ lạnh thoáng mát cho sạch sẽ, chốc thể nào mẹ chồng cũng hài lòng.

Nhưng không, Ngọc Ngà ở trong phòng đã nghe tiếng bà thảng thốt la toáng lên:

– Ối giời ôi… con ôi là con ôi… Sao lại vứt bỏ hết các thứ mẹ đã cất để dành trong tủ lạnh rồi.

Ngọc Ngà chạy ra bếp:

– Có những thứ lặt vặt mẹ để quên trong tủ lạnh lâu quá con mới vứt bỏ thôi.

– Ai bảo con là mẹ quên, con có muốn mẹ nhắc lại các thứ mà con đã đang tay vứt bỏ đi không, hả?

– Những thứ ấy có đáng gì đâu mẹ.

Người mẹ tự ái lên, đay nghiến:

– Phải, với con thì chúng không đáng gì, nhưng với mẹ tất cả đều là tiền, mẹ chắt chiu tiết kiệm như thế bao lâu nay nuôi chồng con ăn học nên người đấy.

Bà cụ thể hơn:

– Quả chanh quả ớt không đáng gì nhưng con có thể mang ra khỏi chợ một quả ớt, một quả chanh khi chưa trả tiền không?

Ngọc Ngà chạy vào phòng và bật khóc tức tưởi. Long đã chứng kiến tất cả, chàng thương vợ nhiệt tình muốn lấy lòng mẹ chồng lại bị tổn thương, nhìn nét mặt còn giận dữ của mẹ Long như đứng giữa ngã ba đường.

Làm sao Ngọc Ngà hiểu nổi cách mẹ chàng đã sống và tiết kiệm, mỗi khi thịt cá, rau quả sale rẻ mẹ mua chất đầy trong tủ lạnh dù nhu cầu chưa cần đến. Những hộp, những chai lọ không bao giờ mẹ vứt bỏ mà cất đi để dùng lại khi cần đựng chút gì là mẹ có ngay hộp hay lọ đúng kích cỡ, tiện lợi vô cùng. Những bao bịch đi chợ về mẹ dùng đựng rác cũng đủ, có bao giờ mẹ phải mua bao rác đúng kiểu của nó đâu.

Ðám mây mờ nào trên bầu trời rồi cũng tan đi, mẹ chồng nàng dâu lại bình thường như cũ, nhất là khi Ngọc Ngà báo tin mang thai, mẹ chồng vui mừng chăm sóc con dâu.

Bà nấu những món ăn có lợi cho thai phụ và baby, bà dặn dò con dâu phải biết nghỉ ngơi và đi đứng cẩn thận cho khỏi vấp ngã.

Bà xôn xao dự tính làm như chính bà sắp đi đẻ, để dành vacation cả năm, bà sẽ có 3 tuần lễ ở nhà chăm sóc con dâu và cháu nội. Hơn thế nữa bà sẽ xin đổi làm ca chiều thay vì ca sáng để chăm sóc cháu nội cho tới khi bố hay mẹ nó đi làm về. Thế là đứa bé luôn được ấp ủ trong vòng tay người thân, khỏi phải đi gởi trẻ và lại… tiết kiệm được bộn tiền.

Cháu nội trai của bà đã ra đời, tên Mỹ trong giấy tờ bà không biết thế nào là hay nên vợ chồng Long toàn quyền đặt theo ý mình, còn tên Việt Nam ở nhà bà gọi nó là Cu Tèo như bố nó ngày xưa là Cu Tí.

Bà gần gũi cháu và thương yêu nó như ngày xưa đã thương yêu cha nó. Cu Tèo là hình ảnh cu Tí ngày xưa của bà.

Bà luôn bồng bế cháu, nựng nịu cháu, nó khóc một chút là bà xót xa dỗ dành, lấy bình sữa cho cháu bú bất kể lúc nào, bà sợ cháu đói, cháu “khổ”.

Vợ chồng Long sốt ruột, họ muốn nuôi con theo kiểu khác, không chiều chuộng quá đáng, không cho bé quen hơi vòi vĩnh.

Mẹ chồng luôn mang kiến thức, kinh nghiệm mấy chục năm về trước của bà nội, bà ngoại hay bà cố nào đó để chỉ bảo con dâu nên mẹ và con dâu thường xuyên có những bất đồng.

Ngọc Ngà mấy lần vùng vằng đòi chồng ra ở riêng, chàng luôn đứng về những lý lẽ chính đáng của vợ, mẹ đã bao che cho gia đình này kỹ quá, vợ chồng Long không thể tự lập sống theo ý mình, kể cả việc nuôi đứa con mình sinh đẻ ra.

Có một người bạn của Long, bà nội ở nhà chăm sóc cháu mới hơn 1 tuổi, bà vừa bế cháu vừa ăn đậu phộng rang, thằng bé chẳng biết gì cũng với tay đòi ăn, bà cưng chiều cháu liền đút cho nó một hai hột đậu phộng, thằng bé đã phải đi cấp cứu trong tình trạng khó thở ho sặc sụa vì mắc kẹt hột đậu phộng trong họng.

Long tưởng tượng ra nét mặt kinh ngạc và thất vọng của mẹ, lẻ loi và cô đơn của mẹ trong căn nhà này nếu Long nói lời ra riêng nên chưa dám nói.

Người mẹ quá thương yêu con, đứa con trai duy nhất mồ côi cha lúc còn bé, bao nhiêu tình thương yêu trên cuộc đời này mẹ đã dành hết cho chàng. Ðôi lúc Long lại…trách mẹ, giá ngày xưa góa bụa ở tuổi còn trẻ mới ngoài 30 mẹ đừng ở vậy nuôi con, mẹ cứ tái giá ngay lập tức, sinh liên tiếp vài đứa con nữa và… bớt thương chàng đi một chút có lẽ chàng không lâm vào cảnh khó xử như ngày nay.

Cuối tuần này mẹ chồng than nhức đầu, Ngọc Ngà không bỏ lỡ cơ hội, nàng nói với mẹ chồng:

– Mẹ uống thuốc rồi nghỉ ngơi cho khỏe. Trưa nay mẹ đừng nấu nướng gì nhé, để con lo.

Hai vợ chồng cùng baby ra phố, sau khi mua sắm và đi chợ, vợ chồng Long ghé vào nhà hàng. Thỉnh thoảng lại được ăn những món ngon đúng ý mình thật tuyệt vời, chỉ là món bình thường, tô phở tái nạm gầu gân sách mà Long biết chẳng bao giờ mẹ chàng có thể nấu ngon bằng dù bà cố bắt chước mua đủ thứ như nhà hàng đã làm.

Ngọc Ngà ăn dĩa bánh cuốn nóng,  sao mà ngon thế, miếng bánh cuốn vừa mỏng vừa dai, miếng chả quế vừa béo vừa thơm. Ở nhà mẹ chồng tráng bánh cuốn chảo cũng nóng đấy nhưng bột bánh không dai, có giò chả đấy nhưng làm tại nhà chưa đạt tiêu chuẩn. Tổng hợp lại là một dĩa bánh cuốn kém chất lượng mà vẫn phải ăn.

Ăn xong Ngọc Ngà order hộp cơm tấm sườn bì chả kèm theo ly chè sương sa hột lựu mang về cho mẹ. Hy vọng về nhà mẹ đã đỡ mệt và ăn ngon lành hai thứ này.

Quả thật mẹ chồng đã khỏe lại, bà ngồi lù lù nơi bàn có vẻ như đang chờ đợi vợ chồng Long về. Vừa thấy mặt là người mẹ trách mắng:

– Sao hai con không để cu Tèo ở nhà với mẹ, đày đọa nó ra ngoài đường nắng gió thế…

Long nói với mẹ:

– Chúng con muốn mẹ nghỉ ngơi nên mang cu Tèo đi chợ luôn, Ngọc Ngà đã mua đầy đủ rau ria cá thịt như mẹ đã từng mua.

Bà bắt bẻ:

– Nhưng hai con đi những chợ nào? Con có biết là cùng một món đồ mà mỗi chợ bán một giá khác nhau và chúng ta có thể tiết kiệm được vài đồng dễ dàng không?

Rồi bà kể kinh nghiệm…ngày xưa:

– Lúc còn ở Việt Nam mẹ đi chợ biết trả giá, kỳ kèo thêm một bớt hai nên luôn mua được giá rẻ.

Liếc nhìn hộp cơm tấm và ly chè sương sa của mình với ánh mắt… lạnh lùng, người mẹ xót xa:

– Hai món này mẹ làm ở nhà được mà, youtube chỉ dẫn hàng đống kìa. Ly chè sương sa giá “cắt cổ” những $4.99.

Long khoe:

– Nhưng là món ngon mẹ thích do Ngọc Ngà chọn mua cho mẹ đấy, ai cũng làm ở nhà như mẹ thì hàng quán dẹp tiệm cho rồi.

Người mẹ lại tự ái lên:

– Con còn cố cãi mẹ à? Ðáng lẽ con phải nhắc nhở vợ lần sau đừng phung phí như thế chứ.

Ngọc Ngà xụ mặt xuống và đi về phòng, cả buổi sáng vui vẻ bỗng tan biến mất khi về đến nhà.

Mẹ chẳng hài lòng, vợ thì giận dỗi, Long bực bội thốt lên:

–  Mẹ quá đáng lắm, cũng phải để chúng con sống theo ý mình chứ.

Người mẹ sững sờ nhìn con trai trong vài giây và cay đắng:

– À thì ra bấy lâu nay công tôi thương yêu lo lắng vun xới cho cái nhà này là làm phiền con mình đấy.

Lần này Ngọc Ngà nhất định đòi ra ở riêng. Long cũng xiêu lòng theo, mẹ chàng vẫn còn trẻ và còn sức khỏe để sống một mình. Bao giờ mẹ già thì vợ chồng con cái chàng lại về sống chung để lo cho mẹ. Bây giờ chàng phải sống cho chính mình, cho gia đình riêng bé nhỏ của mình và tránh những xung đột, những sứt mẻ tình cảm mẹ chồng nàng dâu có thể xảy ra trong tương lai.

Vài hôm sau Long nói với mẹ quyết định dọn nhà, người mẹ đã ràn rụa nước mắt:

– Nhà này của các con, còn đi đâu nữa?

Nhìn mẹ chồng khóc Ngọc Ngà chạnh lòng, năn nỉ:

– Mẹ ơi, chúng con chỉ muốn tự lập cho quen, dù ở đâu chúng con vẫn là con là cháu của mẹ.

Ngọc Ngà nhất định chọn thuê căn apartment ở thành phố lân cận, chỗ làm ở giữa nhà cũ và nơi ở mới, thời gian đến chỗ làm không thay đổi nhưng từ nhà cũ đến apartment phải mất 1 giờ xe. Nàng biết bà mẹ chồng không dám lái xe đi xa, lại là đến thành phố lạ.

Ngọc Ngà nói cho chồng hiểu:

– Không phải em muốn kẻ đầu sông người cuối sông, nếu ở gần, mẹ thương con nhớ cháu ngày nào cũng đến thăm thì cũng như không, chẳng thay đổi được gì. Chúng ta sẽ chủ động về thăm mẹ khi muốn, chắc chắn là mẹ buồn nhưng mẹ sẽ quen thôi, cũng như cha mẹ em sống ở tiểu bang khác cả năm mới gặp chúng ta một hai lần có sao đâu.

Ngày vợ chồng Long dọn đồ đạc đi, người mẹ cố níu kéo bồng bế cháu nội đến giây phút chia tay, Long phải hết lời hứa hẹn và an ủi mẹ mới cất bước nổi ra xe về nơi kia.

 

Ðược sống riêng theo ý mình thật là tuyệt vời, Ngọc Ngà quên những lời mẹ chồng luôn dặn dò chắc nịch như đinh đóng vào cột:

– Chớ bao giờ mua những thứ vô bổ không thiết thực trong đời sống con nhé. Thí dụ như những bức tranh vô giá của danh họa Picasso cho dù có…. onsale đại hạ giá rẻ bèo cũng chẳng nghĩa lý gì đối với chúng ta. Muốn treo tranh con cứ treo hình thằng cu Tèo nhà mình là đẹp nhất.

– Chớ bao giờ mua những rau quả trái mùa con nhé. Hãy nhịn đến giữa mùa giá rẻ tha hồ ăn.

Rau muống trái mùa những $3.99 một pound nàng vẫn mua về, chỉ nhặt lấy ngọn rau cho mềm để xào tỏi. Ôi nếu mẹ chồng mà nhìn thấy những cọng rau muống đắt giá này bị nàng bỏ đi chắc chắn bà sẽ đau lòng lắm.

Nhãn tươi Florida, Hawaii đầu mùa $6.99 một pound nàng mua về mấy pound ăn chơi. Bà biết sẽ đau ruột lắm…

Cuối tuần vợ chồng nàng đi phố và ăn tiệm, chẳng tội tình gì nàng phải chui vào bếp nấu nướng trong hai ngày nghỉ cuối tuần.

Ngọc Ngà thấy mình hạnh phúc hoàn hảo nếu không có chuyện gởi cu Tèo cho day care, buổi sáng vợ chồng nàng phải dậy sớm sửa soạn cho con và mang nó đến đó. Buổi chiều cũng vội vã đến day care đón con cho đúng giờ. Hôm nào kẹt xe bụng dạ càng sốt ruột lo âu.

Cu Tèo mới về nơi ở mới vài tháng mà nó cũng hao người đi vì  “vất vả” như bố mẹ, sáng nó đang ngủ ngon lành bị mẹ đánh thức dậy “bắt” bú sữa, Ngọc Ngà cho con bú no mới yên tâm chứ trông đợi gì cô nhà trẻ, rồi thay tã lót, thay áo quần và ra ngoài đường phố bất kể sớm mai ấy gió lạnh hay mưa sa.

Chiều Cu Tèo cũng bị cô nhà trẻ bế thốc lên khi đang say sưa ngủ để giao trả cho bố mẹ.

Sau mấy tháng ở riêng vợ chồng cùng tổng kết, được sống theo ý mình thích thật đấy nhưng thêm bận rộn lại hao tốn bộn tiền, nào tiền thuê nhà, tiền gởi trẻ, tiền ăn uống, chợ búa. Muốn mua nhà phải để dành thêm một thời gian nữa mới có tiền down kha khá.

Chiều nay về đến nhà Ngọc Ngà lao vào bếp lo cơm nước như mọi ngày, con khóc đói sữa cũng chưa có ngay như bà nội nó phục vụ hầu hạ hôm nào.

Long phải thốt lên:

– Hồi ở với bà nội cu Tèo sung sướng bao nhiêu. Chúng ta đi làm về cơm nước mẹ nấu sẵn, chúng ta chỉ việc thảnh thơi chăm lo cho con.

Ngọc Ngà ỉu xìu:

– Em biết rồi, thế mà trước khi lấy chồng em không hề muốn ở chung, giờ em mới hiểu ở chung với cha mẹ con cháu được đỡ đần biết bao nhiêu, nhất là người thương con thương cháu quá nhiệt tình như mẹ anh. Tâm hồn em cũng đang… giằng co đây, nhưng được cái này thì phải mất cái kia thôi, chả lẽ lại quay về với mẹ? kịch bản cũ tái diễn chán lắm, mà anh đừng ngồi đấy than thở nữa, pha sữa cho con đi..

Long bối rối

– Mấy thìa sữa, mấy nước hả em?

Ngọc Ngà gắt gỏng:

– Ngày nào anh cũng pha sữa cho con mà còn hỏi là thế nào?

– Nó gào khóc, em hối thúc càng làm anh sốt ruột và quên hết…

Trong nhà đang ầm ĩ tiếng cu Tèo khóc, tiếng Long lẩm bẩm thở than và cả tiếng dao thớt khua thì bên ngoài bỗng có tiếng gõ cửa đồng thời với tiếng chuông cửa không ngừng nghỉ. Ngọc Ngà phán đoán:

– Giờ này chỉ mấy đứa đi phát tờ giấy quảng cáo cho nhà hàng hay bảo hiểm nhà xe, anh khỏi cần mở cửa.

– Anh cũng đoán thế, mà anh có ba đầu sáu tay đâu vừa pha sữa cho con vừa ra mở cửa cho họ được .

Tiếng gõ cửa càng dồn dập, tiếng chuông cửa càng dai dẳng hối thúc, Long quăng mọi thứ trên bàn ra mở cửa để cho kẻ phá rối một bài học, nhưng chàng há hốc miệng ngạc nhiên mãi mới kêu lên:

– Mẹ… thì ra… là mẹ…

– Phải, mẹ đây.

Bà bước vào nhà, một cái liếc mắt rảo quanh là bà biết việc gì cần làm. Bà bế ngay thằng cu Tèo dỗ cho nó nín khóc, một tay bế cháu một tay bà pha bình sữa chỉ trong chớp mắt là xong trong khi Long vẫn ngẩn ngơ tự hỏi làm cách nào mẹ chàng…dám lái xe đường xa đến thành phố lạ này?

Cho cháu bú bình sữa, người mẹ thong thả bảo hai con:

– Hai đứa đừng ngạc nhiên đứng sững như trồng cây chuối thế. Các con tưởng “ngăn sông cách chợ” thế này là mẹ chịu thua không đi thăm con cháu được hả. Mẹ tìm bản đồ trên iPhone để lái xe đến đây, mẹ nấu đồ ăn theo youtube dở thì mẹ nấu lại, mẹ đi đường theo bản đồ chỉ dẫn, đi sai thì mẹ đi lại cũng sẽ đến nơi. Cánh cửa nào nỡ khép khi ta quyết tâm đi đến hả con.

Ngọc Ngà cảm động lí nhí:

– Cám ơn mẹ đã đến thăm chúng con

Long ngợi khen:

– Con từng thán phục mẹ không biết nhiều tiếng Anh mà vẫn nói được tiếng Anh cho thiên hạ hiểu, hôm nay mẹ thêm tài không biết đi đường xa mà vẫn đến một thành phố lạ, đến nhà chúng con được. Mẹ có… bí quyết gì?

– Ối giời, mẹ nói tiếng Anh phải phụ họa khua chân múa tay, “vũ điệu” ngắn dài cho tới khi nào người ta hiểu mới thôi chứ có bí quyết gì đâu…Còn hôm nay lái xe đường xa, con có biết là trên highway mẹ đã đi lộn mấy exit không? Vòng mấy lượt U turn không? Chỉ vì không nghe kịp lời chỉ dẫn. Vào thành phố mẹ căng thẳng suýt vượt đèn đỏ mấy lần không? Lái xe loạng quạng vì mãi tìm tên đường bị người ta bấm còi xe inh ỏi làm mẹ hết hồn mấy phen không? Nhưng nghĩ đến thằng cu Tèo mẹ lại tỉnh người ra..

Mẹ ngọt ngào tiếp:

– Mẹ không chỉ đến thăm mà còn bàn với hai con chuyện nhà mình. Suốt mấy tháng các con dọn đi mẹ buồn lắm, mẹ đã hiểu ra thương yêu và lo lắng cho con cháu nhiều quá đôi lúc cũng xâm phạm quyền riêng tư của chúng. Long đã nói đúng, mẹ cám ơn con.

Long ân hận:

– Mẹ ơi con đã lỡ lời.

– Ðể mẹ nói tiếp, mẹ muốn các con lại về với mẹ. Từ hôm nay mẹ sẽ sống khác, hai con cứ sống theo cách của mình, đường đời còn lại của mẹ đi cùng hai con thôi.

Ngọc Ngà cảm động đến long lanh giọt lệ:

– Chúng con cũng đang tự trách mình đã dọn ra riêng, chúng con muốn về với mẹ cho cu Tèo được bà nội phụ tay chăm sóc.

– Còn điều này nữa, căn nhà của chúng ta đã quá cũ, ngày đó bố mẹ mới qua Mỹ vài năm, đồng tiền eo hẹp nên chọn mua nhà vừa nhỏ vừa cũ cho rẻ tiền. Hôm nay đã khác, chúng ta sẽ bán căn nhà ấy đi và mua căn mới rộng rãi hơn cho thoải mái hai con ạ. Nãy đi trên highway mẹ thấy bảng cắm nhiều builder nổi tiếng, kiểu nhà đẹp lắm, các con hãy đến xem và chọn căn nào thích nhất. Mẹ còn đi làm, sẽ phụ các con tiền trả mortgage hàng tháng, mẹ quyết không để nhà băng ăn lời chúng ta dài hạn đâu.

Ngọc Ngà tế nhị:

– Ngày nào trên đường đi làm con cũng thấy những căn nhà mơ ước ấy, mẹ sẽ giúp chúng con tìm được căn nhà cho gia đình chúng ta mẹ nhé. Con cám ơn mẹ nhiều lắm.

Long hào hứng:

– Phải nhờ mẹ…trả giá kỳ kèo bớt một thêm hai, tiết kiệm được đồng nào hay đồng ấy chứ mấy tay bán nhà nhìn theo tâm lý người mua, chúng con không kinh nghiệm bằng mẹ đâu.

Thằng cu Tèo bú no nhoẻn cười nhìn bà nội. Ngọc Ngà đang nhanh tay nấu nướng cho kịp bữa cơm chiều ấm cúng.

Bà vừa hôn cháu vừa nói với hai con:

– Mẹ biết rằng mẹ sẽ đến được đây nhưng…không về được vì trời tối, lạ đường lạ phố, nên mẹ đã lên kế hoạch là tối nay mẹ ngủ lại với thằng cu Tèo, mẹ nhớ nó quá…cu Tèo ơi, cu Tèo của bà ơi…

 

Hồng Anh sưu tầm

Xem thêm...

Truyện Ngắn: NHỮNG NGƯỜI XA LẠ

NHỮNG NGƯỜI XA LẠ

Truyện Ngắn củaEva Bell (Ấn Độ)

Lắm khi, cuộc đời trớ trêu đẩy ta gặp những người tưởng chừng hoàn toàn không quen biết. Để rồi đến một lúc nào đó, ta chợt nhận ra rằng, trái đất này tròn lắm. Mọi sự đều không nằm ngoài quy luật nhân quả, vạn vật đều xoay vần theo những quỹ đạo đã được sắp xếp sẵn. Mọi khổ đau tan nát, mọi hạnh phúc tận cùng, tất thảy đều bắt đầu từ các tha nhân xa lạ cùng những mối duyên cớ vô thường.

Câu chuyện dưới đây chính là một lát cắt số phận đầy bất ngờ như vậy…

***

Kavitha đi vào màn đêm, đôi mắt phủ ngập bóng tối của cô mê mải dõi theo những điều mình sắp làm. Cô chải, bện tóc mình và cài lên một đóa hoa dâm bụt, choàng vào chiếc sari đẹp nhất, trang trí hai cánh tay bằng những chiếc vòng đỏ và xanh lá, thậm chí vẽ một đốm son trên trán.

“Một lần cuối cùng,” cô nghĩ, “Lần cuối cùng điểm tô như một phụ nữ đã kết hôn.”

Trước khi rời căn chung cư hai phòng trong một khu chawl(*), cô nhìn quanh lần sau cuối để chắc chắc rằng mọi thứ đã được xếp đặt hoàn hảo. Than hồng trong lò sưởi đã được dập tắt hết, chiếc vòi nước duy nhất đã khóa và tấm đệm được xếp chồng lên gọn ghẽ trong một góc. Cô lần tìm những bức ảnh lớn của chồng và con trai. Chỉ trong sáng nay cô đã mua hai vòng hoa gỗ đàn hương để trang hoàng cho chúng. “Ta sẽ đến với cả hai người sớm thôi,” cô thì thầm, “Sẽ chẳng còn nước mắt nữa. Ta đã quyết định rồi.”

Kavitha đã cố đương đầu với tấn bi kịch xảy ra hồi ba tháng trước. Cô hồi tưởng lại cái ngày đó thực rõ ràng. Hôm ấy là sinh nhật bốn mươi tuổi của chồng cô. Cô đã gói hộp cơm trưa của anh và con trai cùng những viên kẹo đặc biệt chuẩn bị cho dịp này. Họ có một cửa hàng rau quả nhỏ trong khu chợ dành cho người bình dân. Dileep, chồng cô, là một người rất được lòng khách lẫn những người bạn hàng. “Ai mà không quý mến anh ấy chứ?” cô nghĩ, “Ta chưa bao giờ gặp một người đàn ông nào tốt hơn thế, luôn ân cần chu đáo với người khác. Con trai ta cũng được thừa hưởng tính này từ cha nó.”

Dileep chỉ có một điều day dứt rằng anh không thể cho con trai vào Đại học. Tarun đã bị gián đoạn việc học sau khi tốt trung học và theo cha đến làm việc tại cửa hàng. “Tarun, con không thể là một chủ tiệm bình thường như cha cả đời được. Con phải đến trường buổi tối và lận lưng những điều tốt đẹp hơn. Cha đã tiết kiệm đủ tiền để đóng học phí cho con. Mẹ con và cha hi vọng có điều kiện sống tốt hơn sau này. Chỉ có con mới có thể biến những giấc mơ đó thành sự thật.” Thế là Tarun đăng ký vào một trường Đại học buổi tối và sắp sửa bắt đầu việc học hành.

Đêm đó, khi tin tức về những vụ nổ trong thành phố lan đến, cô đang ở nhà một người bạn. Khi mở TV lên, cô thấy mọi người bỏ chạy tán loạn khi những vụ nổ bom bùng lên trong nhiều khu vực của thành phố, cô mê mải xem những điều đang diễn ra, không bao giờ ngờ rằng nó sẽ thay đổi cuộc đời mình mãi mãi. Gần một giờ sau đó, có ai đến hổn hển nói với cô rằng: “Cửa hàng Dileep Bhai,” anh ta hét lên, “Một quả bom đã được đặt trong cái túi trên chiếc xe đạp dựng gần đó.”

Phải mất một lúc để định thần, sau đó cô thét lên một tiếng chói tai. “Không, không… Đó không thể là sự thật.” Cô chạy hộc tốc theo cậu bé. “Chờ đã” những người bạn nói với cô, “Chúng ta sẽ đi cùng nhau. Cảnh sát đã có thể đã cách ly khu vực ấy.”

Như tiên đoán, khu vực bị đánh bom đã bị phong tỏa khỏi đám đông. Người ta tụ tập lại xung quanh than khóc và đấm vào ngực bởi chẳng biết điều gì đã xảy ra với những người thân của mình. “Điều đó không thể nào… không, nó không thể. Dileep…. Hôm nay cũng là ngày sinh nhật của anh ấy! Và Tarun đã chuẩn bị mọi thứ để đi đến trường buổi tối. Cả hai hẳn đã thoát được. Ta phải tìm họ.”

Những người bạn ngăn không cho cô làm điều gì đó ngốc nghếch. Nhiều giờ chờ đợi đầy khổ sở. Những tiếng còi cảnh sát thất thanh, những chiếc xe cứu thương rền rĩ gấp rút, những đám đông xô đẩy, chen lấn, ngã bổ nhào vào nhau. Sau đó, một giọng nói lớn phát qua loa phóng thanh.

“Những xác chết đang được đưa về bệnh viện của chính phủ. Yêu cầu mọi người đến đó và và nhận diện người thân của mình.”

Không có gì để nhận diện. Phần lớn những cái xác bị cháy đến biến dạng. Chỉ có chiếc nhẫn trên ngón tay Dileep và chiếc bùa Hanuman mà Tarun đeo quanh cổ là sống sót được qua lửa đỏ.

“Tại sao ta phải sống một mình?” Kavitha than khóc, “Tại sao Chúa không thể mang ta theo cùng?”

Suốt vài ngày đầu tiên sau khi mất người thân, những người bạn đã đến an ủi và xót thương cùng cô. Họ giúp đỡ mọi nhu cầu của cô. Và nỗi đau mất mát chỉ thực sự vây lấy cô sau khi nghi thức cuối cùng của tang lễ chấm dứt.

“Ta chỉ còn một mình” cô nghĩ. “Và ở xa nơi chôn rau cắt rốn! Dẫu không cần kíp cho lắm, ta phải sớm tìm ra một công việc để tự nuôi thân. Ta không muốn trở về với người thân. Đây là một thành phố lớn và khả năng tìm việc chắc hẳn sẽ cao hơn ở làng. Hơn nữa, sẽ có rất nhiều giới hạn ràng buộc một góa phụ. Ta phải suy nghĩ thật cẩn thận về điều mình muốn làm.”

Kavitha ghét phải rời khỏi căn nhà nơi cô đã hạnh phúc suốt nhiều năm. Cô đến đây khi mới là một cô dâu trẻ, Dileep và cô đã biến những căn phòng nhỏ này thành một thiên đường hạnh phúc và mãn nguyện. Khi Torun chào đời, Dileep đã không đưa cô về nhà cha mẹ cô như theo tục lệ, mà chăm sóc cô đầy yêu thương không như rất nhiều những người chồng khác. Họ không giàu có nhưng chẳng thiếu thốn những nhu cầu cơ bản và khá hài lòng với những điều họ có.

“Giờ đây, ta chỉ có một mình… thật đáng sợ. Làm sao ta có thể tồn tại đây?” Cô chưa thể tự mình ra ngoài và tìm một công việc ngay được.

***

Người đàn ông gõ cửa nhà cô là một người lạ. Cô chưa bao giờ thấy ông ta trước đây. “Tôi nghe nói rằng cô muốn tìm một công việc. Cô có muốn làm công việc nhà không? Tôi sẽ trả lương cao cho cô. Vợ tôi là một người tàn tật và cần chăm sóc”. “Tôi cần thêm thời gian để nguôi ngoai”, cô nói, “Tôi chưa sẵn sàng đến làm việc ngay đâu.”

Tuần sau, ông ta lại đến năn nỉ cô giúp mình. Cô vận một chiếc sari trắng tinh tươm, không đeo bất kỳ trang sức nào và giữ thái độ im lặng đầy vẻ xúc động. “Chưa đâu” cô nói, “Tôi vẫn chưa có tâm trạng để làm việc ngay. Những giọt nước mắt vẫn ướt đẫm trên gò má tôi.”

Nhưng khi ông ta quay lại lần thứ ba để xin giúp, Kavitha cảm thấy đây là một trường hợp cấp thiết và cô phải bước ra khỏi nỗi buồn thương. “Có lẽ vợ ông ta đang hấp hối,” cô nghĩ, “Tâm trí ta có thể thoát ra khỏi nỗi mất mát nếu ta bận tâm vào việc chăm sóc cho bà ấy.”

Căn nhà khá xa nơi cô sống. “Làm thế nào ông ta biết đến ta nhỉ? Có lẽ những người hàng xóm và các nhà hảo tâm đã truyền tai nhau về sự mất mát người trụ cột trong gia đình ta.”

Mặc dù cô không có kinh nghiệm chăm nom người ốm nhưng cô khá tự tin rằng mình có thể xoay xở được.

Người đàn ông sống trong một ngôi nhà độc lập. “Có lẽ ông ta là chủ của ga-ra xe kế bên”, cô nghĩ, nhìn những chiếc xe đậu tràn cả ra đường. Chỉ có vài người đàn ông sửa chữa những chiếc xe. Khi đó đang buổi trưa nên có lẽ nhiều người đã nghỉ ăn trưa. “Ồ vào đây,” ông ta nói, một nụ cười tận mang tai bừng lên trên mặt. “Xin cô thứ lỗi cho cái đống lộn xộn này. Tôi chẳng phải một quản gia tốt.”

Nơi này cứ như chẳng có ai ở cả thế kỷ. Kavitha không thích sự bừa bãi. “Ta phải giảm bớt công việc của mình mất thôi,” cô nghĩ. “Phải mất vài ngày để dọn sạch nơi này”. “Vào đi. Bà ấy trong phòng ngủ.”

Kavitha theo ông ta. Cô nhìn xung quanh tìm dấu hiệu của một người tàn tật nhưng không có gì cả. Cái giường được dọn gọn gàng và mọi thứ có vẻ đã được sắp xếp và dọn sạch sẽ. “Bà ấy đâu?” Kavitha hỏi.

Cô nhìn lên và thấy gã ta đang cười một mình. Đây là một trò bịp phải không? “Ông mang tôi tới đây để chăm sóc người vợ đau ốm của ông. Bà ấy đâu? Có một phòng ngủ khác à?”. “Vợ ta đã mất năm ngoái. Điều ta cần là một người đàn bà ưa nhìn như cô mà không cần gặp nhiều phiền toái và có thể đáp ứng mọi như cầu thể xác của ta.” “Con lợn thối tha!” Kavitha nguyền rủa khi gã sấn về phía cô và kéo cô vào trong tay gã.

Cái miệng dâm ô của gã ấn sát lại gần đôi môi cô. Kavitha hiểu rằng phải chạy trốn. “Ta sẽ bị đày xuống địa ngục nếu để gã đàn ông này chiếm đoạt.”

Cô nhớ lại cách một cô gái trẻ hạ gục thằng ác ôn trong một bộ phim. Cô siết chặt nắm đấm và dùng hết sức bình sinh giáng vào hạ sườn. Gã gập người đau đớn và cô giáng vào lưng gã thêm vài quả đấm chắc nịch. Sau đó cô chạy như ma đuổi. Cô không ngạy chạy cho đến khi về tới nhà, khóa cửa và bày những chướng ngại vật ngay cửa chính. Đoạn, cô ngồi xổm trên sàn và bật khóc nức nở.

“Chẳng lẽ định mệnh cho ta đã an bài?” Cô tự hỏi. “Một người phụ nữ góa bụa có thể được đối xử công bằng như tất cả mọi người?”

Cô đã nghe chuyện về những góa phụ đã trở thành đối tượng của mọi sự lạm dụng- thể chất, thân xác, tinh thần. Giờ đây cô là một trong số họ – những con người thiểu số không nơi nương tựa, rồi sẽ bị bọn lưu manh truy lùng, bị những gã chủ ác tâm bắt làm quần quật như những con gia súc. “Không”, cô nghĩ. “Ta sẽ không chịu đựng sự sỉ nhục như thế. Nếu ta trở về làng sẽ còn tệ hơn gấp mười lần. Tốt nhất là ta kết liễu cuộc đời.”

***

Giờ đây, cô đang trên đường hò hẹn với sự quên lãng ngọt ngào. Cô lén lút lẩn tránh theo cửa sau ra con hẻm tối đen phía sau nhà. Cô bước gấp gáp, thỉnh thoảng ù té chạy như bị những bóng ma tưởng tưởng của màn đêm săn đuổi. Cuối hẻm là một con đường đầy bùn đất chia ra đôi ngả, dẫn đến một khu rừng nhỏ rậm rạp. Phía bên kia là một cái ao làng um tùm và bẩn thỉu. Cô nghe nói nó đủ sâu để nhận chìm bất kỳ ai không thể bơi qua.

Kavitha đứng ở bờ ao. Mặc dù không có nhiều ánh sáng, cô biết cô đang đứng tại vùng nước nước sâu nhất.

“Ta chẳng thể bơi nên cái chết sẽ đến nhanh thôi. Hỡi thần Rama, ta đến đây.” Nhưng dù sắp sửa nhảy xuống cô vẫn giật mình bởi một chuyển động cách đó vài thước. Trong ánh sáng lờ mờ lọt qua kẽ lá, cô thấy một cậu trai trẻ tuổi cũng toan làm cái điều cô đang định liệu.

“Không”, cô thét lên, quên mất quyết tâm của chính mình. “Đừng làm thế.” Cô hết sức bình sinh kéo cậu bé lùi lại khỏi bờ ao khiến cậu ngồi xổm trên mặt đất. “Thánh thần ơi, cháu đang cố làm gì vậy? Tự vẫn ư?”. “Đúng thế và cô không nên kéo cháu lại”. “Tại sao?” “Vì chẳng còn ai chăm sóc cho cháu cả. Mọi người đều đã chết.” Trái tim Kavitha bỗng nhen lên nỗi đồng cảm với cậu bé. “Ôi cháu à, cả hai chúng ta đều như nhau. Cô cũng không còn ai để chăm sóc cho mình. Hãy kể cho cô nghe mọi chuyện. Cháu sẽ cảm thấy khá hơn sau khi trút nỗi buồn khổ của cháu ra.”

Cậu bé còn nhỏ, có lẽ không quá 14 tuổi. Cậu trông như chưa được ăn một bữa no nào suốt nhiều ngày. “Cháu ở một ngôi làng gần Hassan. Chúng cháu có vài cánh đồng để trồng trọt. Nhưng trời không chịu mưa cho và mùa màng thất bát. Cha cháu mượn một món tiền lớn từ một kẻ cho vay nặng lãi. Cha cháu không thể trả nợ cho hắn đúng thời hạn và hắn gây ra nỗi kinh hoàng cho cả gia đình cháu. Trong lúc cùng đường, cha mẹ và anh trai cháu đã tự tử. Gã cho vay muốn bắt cháu lại làm người ở để bảo đảm cho đến khi món nợ được trả hết. Thế là cháu chạy trốn khỏi làng và đến thành phố này. Cháu không còn nơi nào để đi cả.”

Câu chuyện khiến Kavitha xúc động. “Tên cháu là gì?”

“Navin ạ. Cháu không muốn tiếp tục xin ăn trên đường phố. Tốt hơn là cháu chết đi.” “Hãy cùng về nhà nào.” Cô nói. “Cho đến khi cháu tìm được nơi nào đó, cháu có thể ở với cô.” “Nhưng tại sao cô lại ở một mình đúng chỗ này giữa đêm tối?” cậu bé hỏi. “Bởi vì cô tuyệt vọng và cô đơn giống cháu. Cháu biết về những vụ nổ kinh hoàng cái đã xảy ra ở nhiều khu vực trong thành phố ba tháng trước chứ? Một trong số những quả bom được giấu trong một cái túi trên xe đạp đã giết chồng và con trai cô. Cô cũng muốn chết…”. “Và cô đổi ý sau khi cô thấy cháu?” “Nói cách khác, cháu đã cứu mạng cô. Cô đã quẫn trí bởi điều mình sắp làm. Giờ đây cô nhận ra chính sự hèn nhát đã khiến cô suy thật nông cạn.”

Họ đi bộ về khu chawl của cô trong im lặng, cả hai chìm trong những suy nghĩ riêng. “Ta phải làm gì để sống đây?” Kavitha tự hỏi, “Và giờ đây ta có thêm một miệng ăn nữa.”

Sau khi nằm thao thức gần cả đêm, cô nảy ra một ý. Cô là một người nấu ăn giỏi. Những món bánh patty khoai tây và bhelpuris sẽ bán đắt như tôm tươi. “Cháu sẽ đem bán chúng đâu đó trên phố,” ngày hôm sau cô nói với Navin. “Có lẽ chúng ta sẽ dựng một quầy hàng nhỏ ven đường vào các buổi tối.” “Ôi không, không, không… Cháu sẽ giúp cô mọi công việc nhà. Nhưng xin đừng bắt cháu ra khỏi nhà. Cháu nhút nhát và không thích gặp mọi người đâu.”

Thế là Kavitha đi tìm khách hàng. Có hai tiệm trà trên đường Parle đồng ý mua những món ăn của Kavitha. Nhưng cô phải mang đến giao tận cửa tiệm cho họ hai lần mỗi ngày. Điều này khiến cô luôn bận bịu đi giao hàng nhiều giờ liền. Navin giúp đỡ cô hết sức mình nhưng cô không thể thuyết phục cậu bé bước chân ra khỏi nhà. Mặc dù cậu thường xuyên quẩn quanh cô nhưng chẳng bao giờ nói chuyện trừ khi cần thiết. Thỉnh thoảng cô bắt gặp cậu bé nhìn chằm chằm vào những tấm ảnh của chồng và con cô và khuôn mặt như bị nỗi buồn che phủ. Kavitha nghĩ rằng cậu vẫn chưa vượt qua nỗi đau mất người thân của mình. Nhiều lần cô nghe thấy cậu bé thổn thức trong giấc ngủ.

Có nhiều thứ cô không thể hiểu vê cậu bé. Gánh nặng của sự mất mát trĩu nặng trên đôi vai nhỏ.

“Ta đoán cậu bé cảm thấy tội lỗi khi nó còn sống còn cả gia đình đã chết. Có lẽ cậu bé cảm thấy phẫn uất vì ta đã ngăn nó nhảy xuống ao.” Nhưng dù cậu bé không nhiều lời, sự có mặt của cậu là một niềm khuây khỏa. “Ta không còn cảm thấy cô đơn.” Với những câu hỏi tò mò của những hàng xóm, cô nói cậu bé là cháu trai từ làng người được gửi tới để bầu bạn cùng mình.

Cuộc sống luôn khó khăn. Mặc dù mọi cô gắng làm việc chăm chỉ, công việc của Kavitha chỉ đủ đắp đổi qua ngày. Một ngày mưa, cô ngã bệnh với chứng đau ngực dữ dội và nhiệt độ lên xuống thất thường. Không có tiền mua thuốc, Navin nhìn cô với trái tim quặn thắt. Khi cơn sốt lên đỉnh điểm, Kavitha rên rỉ và trở mình trên đệm. Cơn ho tra tấn cơ thể yếu ớt của cô. Thỉnh thoảng cô thở hổn hển đứt quãng.

“Chúa ơi!” Navin nghĩ. “Mình phải tìm về đây một bác sĩ. Cô ấy sắp chết rồi. Không mình sẽ không để cô ấy chết.”

Lần đầu tiên cậu bước chân ra khỏi nhà và ra ngoài. Cậu đi ba dặm đường đến nơi cần phải đến. Đó là một hiệu may nhỏ trên con đường Darji chật hẹp, bốc mùi bởi những cống rãnh lộ thiên và đầy những con chó đầy ghẻ lở. Tay thợ may luống tuổi ngẩng nhìn lên từ chiếc máy khâu của gã.

“Thưa ông, tôi đến để lấy tiền của mình.” “Tao nghĩ mày đã chết, con ạ. Làm thế nào mày còn sống trên đời này vậy?”. “Tiền của tôi. Ông đã hứa với tôi một ngàn rupee.” “Mày nên đòi món tiền từ bốn tháng trước. Giờ tao chỉ có thể đưa cho mày năm trăm.” “Một ngàn hay tôi sẽ đến gặp cảnh sát.” Navin nói, tiến sát thêm một bước. “Thôi được, cậu trẻ à. Tiền của mày đây. Giờ thì biến và thậm chí đừng bao giờ vác mặt đến cửa nhà tao thêm lần nữa. Không thì…”

Navin chạy một mạch về nhà. Cậu đã thấy một phòng mạch trên đường, cách nhà Kavitha không xa. “Ông phải đi theo cháu thưa ông. Mẹ cháu đang ốm nặng. Tình trạng rất nguy kịch. Cháu sẽ trả cho ông nhiều tiền.”

Nhận thấy sự tuyệt vọng của cậu bé, ông bác sĩ đi theo Navin. Ông khám cho Kavitha và tiêm cho cô một mũi thuốc. Ông cũng kê một toa thuốc và bảo Navin đi mua ngay lập tức.

Navin chỉ vừa mới trở về từ tiệm thuốc và cho Kavitha uống liều đầu tiên thì nghe tiếng gõ cửa. Một viên cảnh sát bước vào. “Tôi có lệnh bắt giữ Navin!”. Dù đang bệnh, Kavitha ngẩng đầu dậy và hỏi. “Sao ông muốn bắt nó?” “Chúng tôi nhận được cuộc gọi từ một người đã lần ra tung tích của cậu ta. Chúng tôi theo cậu ta đến đây?”. “Để làm gì?”

“Cháu sẽ nói với cô sự thật, cô à” Navin nói. “Và cô phải tin cháu. Cháu đã kể với cô rằng cháu chạy trốn khỏi làng. Cháu bắt một chuyến xe buýt đến thành phố. Nhiều ngày liền, cháu lang thang quanh trạm xe buýt làm đủ nghề lặt vặt để no bụng. Sau đó gã thợ may kia tiếp cận cháu và nói sẽ đưa cho cháu một ngàn rupee để mang chiếc xe đạp đến bỏ lại gần khu chợ. Cháu vô tội. Cháu đã nghĩ hắn ta là một người tốt sẵn sàng trả một món tiền hào phóng cho một công việc thật ngớ ngẩn. Sau đó một lúc cháu mới biết có một quả bom trong cái túi đen buộc vào giỏ xe. Chỉ khi vụ nổ xảy ra cháu mới hiểu rằng chính mình đã làm điều đó.”

“Đến đây, quân bất lương,” Kavitha hét lên, “Bây giờ ta sẽ bóp cổ mày bằng chính đôi tay ta”, “Cô ơi,” cậu bé chạm vào đôi chân Kavitha cô van xin. “Vụ nổ đó giết chết rất nhiều người gồm cả gia đình cô. Cháu đau khổ vô cùng. Cháu không thể thôi ám ảnh tội lỗi của bản thân và đã trốn tránh nhiều ngày. Cháu nghĩ rằng tốt hơn mình nên chết. Đó là lúc cô cứu cháu. Hãy tha thứ cho cháu, cô ơi.” Những giọt lệ chứa chan trên mắt cậu.

“Có một ít tiền đủ cho cô chữa bệnh trong chiếc túi này. Cháu sẽ đi với ông cảnh sát.”. “Chờ đã.” Kavitha ngỏ lời với viên cảnh sát. “Tại sao ông không bắt gã thợ may? Phải chăng chính hắn đã mách nước cho ông? Hãy đi tìm hắn ngay đi. Navin sẽ chỉ cho các ông cửa hiệu đó. Và đừng quên cậu bé này vô tội. Ông phải thả nó về cho tôi ngay khi có thể càng sớm càng tốt. Cậu bé là tất cả những gì tôi có.”

 

Ngọc Vân (dịch)

Chú thích:

(*) Chawl: tên gọi một loại chung cư kiểu cũ

dành cho người bình dân, người nhập cư tại Ấn Độ

-Kim Kỳ sưu tầm-

Xem thêm...

Người Mẹ Tị Nạn

Người Mẹ Tị Nạn

  Năng Khiếu


Tác giả tên thật là Trần Năng Khiếu, đến Mỹ năm 1994, theo diện HO. Đã đi làm cho đến năm 2012, hiện là cư dân hưu trí tại Westminster. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 8, 2015. Bài viết mới của bà được viết đúng vào Ngày Lễ Mẹ, 8 tháng Năm, 2016.

* * *

 blank

Đám cưới dì chú Thanh năm 1955, bố tôi cao nhất, tôi bé nhất.

Giấc ngủ mơ màng vì thói quen dậy trễ vào mỗi sáng Chúa nhật, nhưng tiếng hát vang vọng từ CD mở quá lớn ngoài phòng khách, làm tôi bừng tỉnh: “Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày. Mẹ tôi đau buồn nặng trĩu đôi vai. Bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại, cầu mong con mình có một ngày mai.”
Nghe bài hát chợt nhớ tới người mẹ đang sống chung, tôi xin kể cho các bạn nghe về một người đã chạy lánh Cộng sản suốt một đời, đó là mẹ tôi năm nay ngoài tám mươi tuổi, tóc mẹ bạc phơ, nhưng dáng người còn nhanh nhẹn, nhất là tiếng nói còn sang sảng. “Nếu không bị bệnh suyễn kinh niên thì còn khỏe hơn”. Cụ vẫn nói vậy.

Image may contain: 4 people, people smiling, people standing, tree, wedding, outdoor and nature
Cậu em tôi làm giấy tờ bảo lãnh mẹ và cô em gái. Đến cuối năm 1990 sở di trú kêu bổ túc hồ sơ phỏng vấn. Nhưng mẹ tôi chần chừ chưa muốn đi, vì mẹ bảo: “Con giàu thì mừng, con khó thì thương”, phần bị luật lệ sang tên nhà cho các con khó khăn, rườm rà, vì “thủ tục đầu tiên”. Mãi đến năm 1992 mẹ tôi quyết định đi thì cô em đã lập gia đình, phải làm lại hồ sơ bảo lãnh, chờ đi sau. Nên chi, còn một mình mẹ tôi đi Mỹ, dù mẹ không biết một chữ tiếng Anh, thật là can đảm. Đến phi trường Los Angeles, mẹ đứng đợi hơn một tiếng đồng hồ không thấy ai đón, cụ bắt đầu run, vì những người cùng chuyến bay họ được thân nhân đón gần hết, cụ nhìn xung quanh toàn người xa lạ, khác ngôn ngữ, muốn hỏi thăm mà không biết nói gì, cạnh cụ chỉ là xe hành lý vô tri giác. Bỗng cụ thấy một bé gái chừng ba bốn tuổi, khuôn mặt thật dễ thương, đang ngơ ngác như tìm ai, cụ liền đến ôm nó vào lòng, nhưng một thiếu phụ sang trọng, trạc ngoài 30 chạy lại bế thốc đứa bé đi, có lẽ bà cụ mới ở Việt Nam qua không biết luật lệ bên Mỹ, cụ tủi thân muốn khóc.

Sau lưng cụ đứng không xa là một chàng thanh niên khoảng 24-25 tuổi, dáng người cao lớn, ăn mặc lịch sự, cũng đang dáo dác tìm người thân, chợt thiếu phụ khi nãy gọi lớn:
- Tèo, em có thấy anh Quang và cô Bảy không?
Cậu thanh niên lo lắng nói:
- Không chị ạ! Sao hai người đi gửi xe lâu quá, chắc lạc… Hay là đang tìm mình.

Nghe thấy tên Tèo, bà cụ giật thót người. Tèo là tên cúng cơm của thằng con út, cách nay hơn mười năm cụ đã gạt nước mắt, đứt ruột lo cho con đi vượt biên, lúc nó mới mười hai tuổi đầu. Cũng vì nhớ thương nó mà đường xa ngàn dặm cụ liều bước ra đi. Bây giờ không thấy nó đến đón, cụ đang tủi thân, hay là… chợt cụ nghĩ đến câu hay mắng yêu lúc nó còn nhỏ, cụ liền cất tiếng gọi trống không:

- Tèo! Tèo đâu!...“cha tổ bố nó” sao nó không đến đón tôi.

Cậu thanh niên quay phắt lại, nhìn sững bà cụ một lúc rồi ôm chầm lấy cụ. Hai mẹ con không nói thành tiếng, chỉ có những giọt nước mắt thay lời.
Người thiếu phụ sang trọng ban nãy đã giằng đứa bé từ tay cụ, bây giờ cũng từ từ dắt con đến bên cụ xúc động gọi mẹ và trao đứa bé, rồi nói: “Con xin lỗi mẹ, đây là cháu nội của bà. Nhà con đang đến kìa.”

Theo tay chỉ, cậu con trai lớn và cô con gái của cụ cũng vừa đến, cậu không thay đổi mấy, cậu đã gửi hình vợ con về, nhưng mắt cụ kèm nhèm không nhận ra. Còn thằng Thanh có tên cúng cơm là Tèo lúc đi vượt biên còn là thằng bé loắt choắt, nên thay đổi nhiều, cụ nhận không ra. Thanh cười toe toét nói:
- Sao ngày xưa mẹ cao lớn mà bây giờ mẹ thấp quá, nãy giờ con cứ tìm bà cụ mặc chiếc áo bà ba, đầu búi tó củ hành nên chẳng nhận ra mẹ, vì mẹ mặc áo vét, đầu bới cao, mắt đeo kiếng, đẹp và khác quá, mẹ tha lỗi cho con. Nhẹ ôm thằng Thanh, cụ cười:
- Ngày xưa con còn bé, ngửa cổ nhìn thấy mẹ cao. Bây giờ con cao lớn, con nhìn xuống thấy mẹ thấp hơn là phải rồi.

Thế rồi người con trai lớn đón cụ về nhà, ở thành phố Westminster, có bà sui đang ở chung. Hai bà lại khắc khẩu, mà các cụ già hay bị cái tật lớn hơn cái tuổi, đó là tật nói nhiều, “mau nói thì hay lỗi, nói thật thì mất lòng”, nên mẹ tôi bị shock. Được vài tháng thì các em tôi thu xếp cho mẹ qua ở với cô em gái và Út Tèo tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington quanh năm mưa gió lạnh lẽo, được mệnh danh là “Even green State” nên mẹ tôi không quen, đau ốm hoài. Hai năm sau khi gia đình tôi sang định cư theo diện HO, và rước cụ về Cali ở luôn với chúng tôi, cụ khỏe hẳn ra.

Lưng mẹ tôi lúc còn trẻ hơi khom, về già khòm hơn nhiều, nhưng mẹ vẫn hãnh diện: “Cái dáng lom khom là dáng lắm con”,và người xưa quan niệm: “những người thắt đáy lưng ong, vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.” Chẳng thế mà mẹ tôi đã có được tám mặt con, bốn gái và bốn trai, qua Mỹ một nửa, còn một nửa ở quê nhà, vì thế lúc nào mẹ cũng vọng về cố hương yêu dấu, mà lòng thương nhớ khôn nguôi.

Những nỗi nhọc nhằn vất vả đã làm răng mẹ tôi rụng gần hết, còn vài cái răng cửa khổng khểnh để cười cho đỡ trống trải. Thế nhưng mấy năm trước cụ đi nha sĩ để làm răng hàm, chả biết ông Bác Sĩ bàn thế nào mà mẹ đồng ý nhổ hết những răng còn lại để làm hai hàm răng giả, làm mẹ tôi đau phát sốt mấy ngày, nhưng bây giờ mỗi lần mẹ cười nhe hàm răng đều và trắng như hạt bầu trông rất ư đẹp lão.

Mẹ tôi hiền lành thật thà, từ ngày tôi có trí khôn, chưa thấy mẹ đôi chối với ai, ngay cả những người hàng xóm ưa lẻo mép. Bố tôi mới là người khó nết nhất, vậy mà mẹ chẳng làm phật lòng bố bao giờ, nhưng bù lại bố tôi là người cha hết mực thương yêu vợ con, lúc còn sinh tiền người luôn lo tròn bổn phận, việc nước cũng như việc nhà. Bố tôi mất vào mùa hè đỏ lửa năm 1972 tại Quảng Trị, khi ấy mẹ mới ngoài 40 tuổi, tôi lớn nhất, em Út ba tuổi, tám đứa con đang tuổi ăn chưa no, lo chưa tới, thật là một gánh nặng cho mẹ.

Sau khi bố mất, mẹ tôi đã gượng đứng dậy trước nỗi đau bất ngờ, của người góa phụ thời chinh chiến. Để đưa chúng tôi về sống với bà ngoại ở xứ đạo Nghĩa Hòa gần Ngã Ba Ông Tạ. Nhờ ngoại có sạp bán quần áo may sẵn trong chợ nhỏ gần nhà, mẹ tôi theo bà ngoại tảo tần buôn bán, nên mẹ con cũng đắp đỗi qua ngày.
Image may contain: 17 people, people smiling, people sittingSau 30 tháng 4/75 mẹ và chúng tôi cùng chung số phận của những người miền nam, chịu cảnh đời thay trắng đổi đen. Một miền Nam trù phú, văn minh, bỗng chốc trở thành tiêu điều tan tác. Lại bị ngăn sông cấm chợ, tạo ra cảnh gạo Châu củi Quế. Nên mẹ tôi phải lăn lộn ngoài chợ trời, mua đi bán lại với sạp quần áo cũ.

“Người khôn của khó”. Mẹ tôi lại sang một cửa hàng gần chợ Tân Bình để bán đồ sành sứ, có những bộ tách trà cổ của Nhật nhẹ và đẹp, những chiếc ly, bình cắm hoa bằng pha-lê trong suốt, mẹ mua lại của những người cần tiền đem đồ qúy hiếm ở nhà ra bán. Cũng có những chén đĩa mới, hàng China nặng hơn, mà men không đẹp bằng của Nhật, nhưng vì hàng lậu ồ ạt đổ vào biên giới Hoa Việt tràn lan, giá rất rẻ nên được các bà nội trợ ưa chuộng đua nhau mua sắm, nhờ vậy mẹ tôi “trúng mánh”, lo được cho bày con.

Mỗi sáng mẹ đi bộ gần hai cây số, vừa đi vừa lần hạt, mẹ phó thác mọi sự cho Chúa. Đến chợ mẹ lại vất vả tất bật từ sáng cho đến nhá nhem tối mới về đến nhà. Tôi phải nghỉ học để đi làm, và phụ mẹ chăm sóc nuôi nấng các em. Bao nhiêu lo lắng đè trên đôi vai gầy của mẹ. Đêm đêm mẹ hay ngồi khóc một mình, tôi luôn an ủi và tâm sự với mẹ, cầm đôi tay khẳng khiu, nhìn tấm thân gầy còm, và vẻ mặt buồn não nuột, mà thấy thương mẹ vô cùng.

Hẳn là mẹ yêu bố lắm, vì cứ nhắc đến Người hoài. Mẹ thường kể cho chúng tôi nghe về những kỷ niệm xa xưa, nào là đám cưới mẹ mặc áo tứ thân, quần nái đen. Rước dâu phải đi bộ, rồi qua sông bằng đò, hết một ngày mới đến nơi, chúng tôi nghe đến thuộc lòng. Mẹ bùi ngùi kể, trước bố tôi học trong chủng viện, nhưng vì thiếu sức khỏe nên phải xuất ra và làm nghề dạy học. Tuy mang tiếng là “Thầy đồ dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” nhưng được cái bố cao ráo trắng trẻo, nhiều chữ nghĩa lại yêu nghề. Vào những năm cuối thập niên 1940, bố tôi nhờ người cất một ngôi nhà ở làng Nghĩa Dục, rồi mở lớp dạy chữ quốc ngữ. Một mình bố mà dạy nhiều lớp một lúc, bé có, lớn có, cả những ông già đang học xin phép ra sau hè kéo điếu thuốc lào. Châm ngôn của lớp: “Quốc ngữ là chữ nước ta, con cái nhà đều phải học”. Lúc bấy giờ ở trong làng, việc truyền bá quốc ngữ đang thịnh hành để xóa nạn mù chữ, mọi người trong làng đổ xô đi học, nên lớp học của bố tôi rất đông, nhưng học trò trả lương bằng thóc hoặc gạo chứ không trả bằng tiền.

Image may contain: 5 people, people standing, people walking, sky and outdoorThời Việt Minh mới cướp được chính quyền, phong trào bình dân học vụ được phát động, mọi người đều phải biết đọc, biết viết. Trên các đường cái dẫn đến chợ búa trong vùng, người ta lập những trạm có gác. Họ dựng một cái bảng lớn bên đường, rồi đặt chắn ngang một cây tre dài, bất kỳ ai đi qua đều phải đọc thuộc 24 chữ cái, hoặc đánh vần đúng thì được đi. Ai không biết chữ thì phải trở lại hoặc lội xuống ruộng mà đi.

Mẹ tôi cười méo mó kể, trong làng có một bà mụ tên là Trùm Vân, chuyên làm nghề đỡ đẻ tại nhà rất mát tay (vì thời đó quê mẹ chưa có nhà bảo sanh). Một hôm bà trùm đi qua trạm “khảo chữ” bà không biết đọc, cán bộ chận bà không cho đi, bà liền thoát y rồi vắt quần lên vai, miệng la lớn: “Xê ra cho bà đi!”… Rồi bà ngang nhiên đi qua trước sự sửng sốt của các cán bộ Việt Minh.

Sau chuyện “bà trùm cởi quần đi qua trạm khảo chữ” Mẹ tôi thở dài, kể thêm là bố cũng chẳng yên thân với nghề gõ đầu trẻ. Năm 1949, Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm, đúng khi mẹ mới nằm cữ mới dậy, còn yếu, không chạy được, bố tôi phải đứng trước nhà nói chuyện với Pháp. Khi Pháp rút, Việt Minh nghi ngờ bố là gián điệp, cứ bắt lên bắt xuống tra khảo đủ điều, oan khiên không biết kêu vào đâu.

Mẹ kể, lúc bấy giờ mẹ tôi có một cái đầu rồng (máy may). Mẹ mở tiệm may, và mướn một bác phó may làm phụ. Vì nhà ở ngay ngã ba đầu làng, mẹ tôi bán thêm tạp hóa và vài món thuốc tây cần thiết như thuốc cảm, đau bụng… (lúc ấy rất hiếm) nên tiệm của mẹ đông khách, chắc mẹ tôi có duyên bán hàng, nên cuộc sống cũng dư dật, có của ăn của để. Nhưng mẹ tôi chép miệng tiếc rẻ, vừa xây nhà xong ở chưa được bao lâu. Thì Hiệp Định Geneve ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia đôi đất nước, vĩ tuyến 17 là đường ranh giới, miền Bắc Cộng sản cai trị, miền Nam là vùng tự do.

Biết không thể sống nổi với cộng sản, dân làng lần lượt bỏ trốn lên tỉnh. Bố tôi cùng các thanh niên ban đêm trốn đi Nam Định trước. Còn mẹ và dì Út tôi, tờ mờ sáng đầu đội tay xách, nách bế em tôi nên phải mướn người gánh phụ, một bên để tay nải quần áo, còn một bên để tôi ngồi lọt thỏm trong chiếc thúng đan cho cân bằng đôi quang gánh, họ đi nhanh trên con đường dẫn ra bến xe đò. Đến trước, họ gửi gói quần áo và tôi cho một người lạ trên chuyến xe ra Nam Định, mẹ đến sau rối rít tìm tôi, nếu chậm chút xíu nữa là tới giờ xe khởi hành sẽ chở tôi đi mất. Tối hôm ấy gia đình tôi ngủ nhờ nhà người quen, để ngày hôm sau lại đi xe ra Hà Nội ở vài ngày, rồi bố tôi đến đón cả nhà đi Hải Phòng, để lên “tàu há mồm” ra tàu lớn di cư, cập bến Đà Nẵng. Tôi còn quá nhỏ không hiểu nỗi mất mát đau buồn của gia đình tôi cũng như bao gia đình khác phải đành bỏ lại quê hương mồ mả, nhà cửa ruộng vườn để chạy vào Nam lánh nạn CS. Đó là tần thứ nhất, mẹ là một trong số hơn một triệu người Bắc di cư vào Nam để tỵ nạn Cộng Sản.

Image may contain: 2 people, people walking and outdoorCũng may mẹ tôi cùng gia đình đi thoát, và được sống trong không khí tự do cho đến tháng Tư năm 1975, lịch sử tái diễn, Cộng Sản lại tràn vào cưỡng chiếm miền Nam. Nhân dịp này nhiều người dân từ miền Bắc đã chạy vào Nam để tìm thân nhân và thay đổi cuộc sống. Điều làm tôi nhớ nhất là gặp được một nhân chứng sống sót của nạn cải cách ruộng đất.

Khoảng đầu năm 1976, mẹ tôi có người bác ruột, tên ông là Tổng Loan ở ngoài Bắc trốn mãi mới vào tới Sàigòn. Ông đến thăm và kể với mẹ tôi, năm 1954 vợ con ông di cư vào Nam được, còn ông kẹt lại bị Việt Cộng bắt đem ra đấu tố, vì trước kia ông là Lý Trưởng, nhà lại giàu có từ đời ông cha.

Ông Tổng Loan kể là chúng bắt ông quì giữa sân đình, trói quặt hai tay, đầu gục xuống. Chung quanh ông là đám đông ngồi vây kín, thỉnh thoảng lại giơ nắm đấm và hét to “Đả đảo địa chủ”, ông sợ hãi đến vãi đái và run lên cầm cập. Sau cùng chúng cho một đối tượng bần cố nông, ngồi lên hàng danh dự, đập bàn hạch tội, và cho những người làm công cho ông khi trước ra kể tội ông, hòng kết án tử hình. Nhưng nhờ vào thời ông đối xử tốt với bà con trong làng, được bà con thương nên chúng không có cớ giết ông, chỉ đánh đập rồi tịch thu hết tài sản và bắt ông đày đọa lên rừng sâu, cho đến năm 1975 cũng chưa được thả.
Vì ông đã quá già, râu tóc, lông mi lông mày bạc trắng, ông liều mạng trốn trại, quyết chí vào Nam để tìm vợ con. Vậy mà đi đến cầu Hiền Lương, nơi từng là ranh giới) phân chia nam bắc, ông cũng bị bắt lại ba lần, nhờ quá già nên được chúng thả ra. Sau khi thoát được vô miền Nam, ông tìm gặp đuợc gia đình như ng bà vợ ông ngày ấy bị bệnh lẫn (Alzheimer) không còn nhận ra ông.

Image may contain: one or more people, people sitting, motorcycle, tree and outdoor
Tại Sàigòn, nhờ mẹ tần tảo buôn bán, gia đình tôi có một căn nhà mặt tiền. Đây là nơi gia đình vừa ở vừa mở cửa hàng buôn bán. Thật ra thì nhà của mẹ tôi cũng chẳng to lớn gì, nhưng nó nằm bên cạnh nhà bảo sanh tư của một bác sĩ đã di tản từ 1975 bỏ lại. Thế là phường đội trưng dụng để làm trụ sở công an. Ý đồ họ là muốn chiếm luôn căn nhà của mẹ tôi bên cạnh để mở trụ sở rộng thêm. Vì vậy, ngày nào cũng có hai cán bộ trên phường tới nhà ốp mẹ tôi phải đưa gia đình đi kinh tế mới. Họ bảo mẹ buôn bán là bóc lột, là ăn bám, không đúng đường lối của chính sách. Họ chỉ có việc ăn, rồi đi đến những căn nhà ở vào tầm mắt của phường, thúc giục người ta đi để chiếm nhà cửa. Cuối cùng mẹ phải cắt một nửa hộ khẩu lên mạn Phương Lâm, mua căn nhà nhỏ và sào đất cho các em tôi tạm sống. Phần Mẹ thì cương quyết ở lại Sàigòn để tiếp tục tảo tần buôn bán để tiếp tế nuôi các em. vì đâu có đứa nào quen làm ruộng rẫy gì, mà còn mất cả học hành. Nhưng nhờ vậy, cán bộ phường không còn lý do đến thăm sức khỏe mẹ tôi nữa.

Bẵng đi một thời gian, thấy tình thế yên ổn, mẹ tôi lại chạy tiền lo hộ khẩu đem các em trở lại Sàigòn. Rồi vào đầu thập niên 1980, mẹ tôi gom góp, thu xếp cho các em tôi vượt biên, tìm sự sống trong cái chết, vì nhận thấy quê hương mình, không còn là nơi an toàn để sống. Đó là lý do mà ngày nay mẹ tôi có mặt tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ này, và cũng là lần tỵ nạn cuối cùng của đời mẹ.

*

Ngôi nhà chúng tôi đang ở gần nhà thờ Westminster, nằm trên đường Olive cách trung tâm Little Saigon khoảng mươi phút lái xe. Đây là nơi có số người Mỹ gốc Việt đông đảo nhất nên mẹ tôi nói người mình qua đây một nửa nước rồi, đông lắm con ạ! Mẹ đi lễ ở nhà thờ không còn chỗ mà ngồi, đi chợ thì gặp toàn là người Việt, tha hồ mà nói chuyện.

Cũng nhờ có mẹ ở với chúng tôi, coi sóc nhà cửa và các cháu để tôi yên tâm đi làm. Bên hông nhà quay ra đường có mảnh vườn nhỏ, khoảng 30 thước vuông, chung quanh rào bằng những miếng gỗ mộc mạc, vậy mà mẹ tôi trồng đủ các loại rau. Giữa vườn là luống rau muống, rau dền, mé vườn có dậu muồng tơi cạnh luống rau đay, rau cải cúc, rau thơm đủ thứ. Sau nhà là giàn su su sai trái hơn giàn mướp, giàn bầu có quả dài cả thước, leo lên hàng rào là khổ qua.

Image may contain: 1 person, bedroom and indoor
Vào mùa đông lạnh lẽo, mẹ tôi trồng xu hào củ to mà tròn trồi trên mặt đất, bên cạnh những bắp cải chắc nịch, một luống rau sà-lách giống Việt Nam, ăn dòn mà ngọt, rau cải xanh cũng hạp với trời mưa lạnh, nên tàu lá lớn và xanh rờn trông rất ngon. Ai đi qua cũng phải đứng lại nhìn vườn rau đủ loại. Mỗi lần có con cháu đến thăm, mẹ tôi cắt cho mấy bịch rau để làm quà đem về. Tôi cứ đùa, vườn rau của mẹ nằm ngay mặt tiền nên không bị ế. Rau ăn không hết, bán rẻ cũng đủ tiền nước, nhất là rau đay, rau mồng tơi, cụ cứ hái ngọn bán dần, riết rồi nhiều mối quá ai muốn mua phải gọi phone hẹn trước.

Nhớ mỗi chiều chúng tôi đi làm về, gia đình quây quần bên mâm cơm được mẹ nấu sẵn, mẹ tôi tỉ mỉ kho cá rất kỹ vì nhà tôi ít ăn thịt, món thịt kho với trứng cho các cháu không ăn cá. Ngày nào cũng thay đổi món canh, rau tươi sẵn ngoài vườn. Cả nhà vừa ăn vừa khen ngon là cụ thích. Bây giờ chỉ còn là kỷ niệm.

Trong chúng ta ai cũng có mẹ, dù hoàn cảnh có khác nhau, nhưng người mẹ nào cũng để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng ta. Mẹ tôi không lanh lợi sắc xảo, tôi chỉ thấy nơi mẹ một lòng đạo đức, một đức tin mạnh mẽ, và luôn phó thác con cái trong tay Chúa. Thật tội nghiệp mẹ tôi phải sống cảnh già tha phương nơi đất khách, mà lòng còn vương vấn, thương nhớ những đứa con còn lại, nơi quê nhà xa vời vợi. Mẹ tôi thường thở dài than: “Không biết bao giờ quê hương mới thoát ách Cộng Sản”.

Năng Khiếu

Nam Mai sưu tầm

 

 

 

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku

Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku

Truyện Ngắn của Phạm Tín An Ninh

Hình minh họa

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10/1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”.

Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên trong chốc lát đã là một điều không dễ, nên bọn tôi thèm những cơn say.

Rất may, tôi có một anh bạn – phải nói ông anh mới đúng – là Liên Đoàn Trưởng của một liên đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu.

Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượu trong một cái quán nằm trong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Henessey. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếng trong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn.

Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhà trong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh.

Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Thành phố Pleiku

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi.

Hằng tháng, anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quý anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi.

Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượng trong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp túi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước Đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như Đại úy suýt chết trong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hãi hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết...

Thành phố Cam Ranh

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng. Trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi.

Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghị anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:

– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ quan Thủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo này là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhất trong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lại trong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Một cô gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ và có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt cô có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.


Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có bóng dáng cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng.

Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhau trong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ.

Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của cô trong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhất trong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nảy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm màu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận.

Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quân trong các làng mạc ở khu ngoại ô tương đối an toàn, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.


Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số.

Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cố trong các vườn cà-phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mình trong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.


Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù.

Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi.

Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm.

Ban đêm, chúng tôi nằm trong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng Carbine M2 chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng.

Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạm trong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt.

Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứ trong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.


Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡ trong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằm trong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước.

Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thấy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

- Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, Đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo–Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.

– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô Trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của cộng sản phương Bắc, ồ ạt đem đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11/3/75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc-lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B.

Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặc.


Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc.

Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển, trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng.

Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi chợt nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sững sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15/3/1975.

Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng, trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai.

Khi rời khỏi nơi này, trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

– Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng” nào.

Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng gió mưa lầy lội, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượu trong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lại trong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em.

Tôi da diết nhớ đơn vị cũ, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.



Phạm Tín An Ninh

-Hình minh họa - Internet

 

 Kim Kỳ sưu tầm

 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này