Truyện

Truyện (314)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện ngắn: Bến Đỗ của ANDRÉ MAUROIS

Bến Đỗ

Truyện Ngắn của ANDRÉ MAUROIS

Thân Trọng Sơn dịch

-     Câu chuyện kỳ lạ nhất đời tôi à? bà nói. Thật khó nói đấy. Trong đời tôi, đã có biết bao nhiêu chuyện.
-     Tôi nghĩ là vẫn có đấy.
-     Ồ, không. Tôi già đi rồi, tôi lành hơn rồi... Đó là một cách khác để nói là tôi đang cần nghỉ ngơi... Giờ thì tôi thấy khoan khoái khi được ngồi một mình, đọc lại những bức thư ngày trước hay nghe một dĩa nhạc.
-      Không thể nào có chuyện người ta không tán tỉnh bà nữa... Bà vẫn còn giữ nét duyên dáng, và không biết dấu vết nào của sự từng trải, có thể là những đau khổ đã chịu, đã góp thêm vào những nét đó một chút gì làm xao xuyến lòng người... Thật không sao cưỡng lại được.
-     Cám ơn ông quá khen... Đúng là tôi vẫn còn người hâm mộ. Điều bất hạnh là tôi không còn tin chuyện đó nữa. Tôi biết quá rõ những người đàn ông, khi chưa đạt được gì thì nồng nàn lắm, nhưng sau đó, than ôi, là hờ hững, là ghen tuông. Tôi tự nhủ: tại sao tôi lại đi xem thêm lần nữa một vở hài kịch mà mình đã biết rõ kết cuộc? Hồi còn trẻ thì khác. Lần nào tôi cũng tưởng như đã gặp một con người tuyệt hảo đã kéo tôi ra khỏi sự hoài nghi. Tôi đến với họ thật lòng... Vậy đấy, mới cách đây năm năm thôi, tôi quen với Renaud, chồng của tôi bây giờ, tôi có cảm tưởng là đã thay đổi. Anh ấy mạnh bạo, hơi nóng nảy. Anh ấy làm tôi bớt nghi ngại, anh thường cười khi tôi lo lắng hay quá cẩn thận. Tôi tưởng là đã tìm thấy nơi anh ấy một vị cứu tinh. Không phải vì anh ấy hoàn hảo, anh ấy học vấn không cao, ứng xử không hay. Nhưng anh ấy mang đến cho tôi thứ tôi chưa hề có: sự vững vàng... Một chiếc phao... Ít nhất là những thứ tôi nghĩ lúc đó.
-     Bây giờ bà không nghĩ như vậy nữa sao?
-     Ông cũng biết là không. Renaud đã chịu nhiều thất bại kinh khủng; tôi đã phải an ủi anh ấy, làm cho anh ấy vững tin, cứng rắn hơn, tôi đã bảo vệ Người bảo vệ... Đàn ông thực sự mạnh mẽ hiếm lắm.
-     Ít nhất bà cũng biết một người như thế chứ?
-     Vâng, tôi có biết một người. Ôi, cách đây không lâu, và trong trường hợp khá lạ lùng... Đây rồi, ông hỏi tôi về chuyện phiêu lưu lạ kỳ nhất đời tôi, thì đúng là chuyện này đấy!
-     Bà kể đi!
-     Trời ơi! Ông muốn điều gì vậy? Đúng ra phải để nó chìm hẳn trong ký ức thôi... Hơn nữa, chuyện cũng khá dài, mà ông lại vội vàng thế kia. Ông có thể dành cho tôi ít thời gian không ?
-     Tất nhiên, tôi sẵn sàng nghe.
-     Thôi được rồi... Cách đây hai mươi năm... Khi ấy tôi là một quả phụ còn trẻ. Ông còn nhớ cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi chứ? Để cha mẹ vừa lòng, tôi đã lấy một người hơn tôi quá nhiều tuổi, tôi cũng có chút tình cảm, nhưng là thứ tình cảm cha con... Tình yêu với ông ấy, đối với tôi, có vẻ là tình cảm biết ơn phải đền đáp hơn là một niềm vui. Ba năm sau, ông ấy qua đời, để tôi trong một tình thế tương đối thoải mái, thôi không còn sự giám hộ của gia đình và hôn nhân, tôi bỗng được tự do, làm chủ mọi hành động và số phận của mình. Chẳng phải kiêu kỳ gì tôi cũng dám nói là lúc đó tôi khá xinh.
-     Hơn cả xinh nữa đấy chứ.
-     Vâng, tuỳ ông nghĩ. Dù sao, thì lúc ấy tôi thấy hài lòng và ngay sau đó tôi đã thấy vây quanh mình cả đám người ngấp nghé. Tôi ưa thích hơn cả một người Mỹ, tên là Jack Parker. Trong số những tình địch người Pháp của anh ấy cũng có nhiều người tôi vừa ý hơn. Họ cùng chia sẻ với tôi những sở thích, họ biết nói những lời khen tặngdễ chịu. Jack ít đọc sách, âm nhạc thì anh ấy chỉ thích blues và jazz, hội hoạ thì theo trào lưu với niềm tin ngây ngô. Anh ấy nói chuyện tình yêu rất tệ... Đúng hơn là chẳng biết nói chuyện tình yêu. Chỉ là cầm tay khi đi xem phim, xem kịch, hay khi ngồi trong công viên, dưới ánh trăng và nói với tôi: 
-     Em thật là tuyệt vời! (1).
 
Lẽ ra tôi phải thấy là anh ấy quá buồn tẻ... Nhưng không, tôi sẵn lòng đi chơi với anh ấy. Tôi cảm thấy anh ấy thoải mái, thẳng thắn. Anh ấy mang lại sự yên ổn, cũng giống thứ tình cảm mà sau này, người chồng của tôi mang lại cho tôi vào thời gian đầu chung sống. Những người bạn khác của tôi thường do dự trong các dự định của họ. Họ muốn trở thành người tình hay người chồng? Không bao giờ họ phát biểu rõ ràng. Với Jack thì không như thế. Anh ghét thậm tệ ý nghĩ quen biết qua đường. Anh muốn cưới tôi, đem tôi về Mỹ, sinh cho anh những đứa con xinh đẹp, cũng như bố chúng, tóc xoăn, mũi thẳng, nói năng giọng mũi chậm rãi, ngây thơ. Anh ấy là phó giám đốc ngân hàng, một ngày nào đó sẽ lên giám đốc. Dù thế nào, chúng tôi cũng không thiếu thốn gì, và sẽ có một xe hơi thật đẹp. Anh ấy nhìn cuộc đời như thế đó.
 
Cũng phải thú thật với ông là tôi có bị cám dỗ. Ông ngạc nhiên ư?.. Tuy nhiên đó là bản chất của tôi. Bởi chính tôi khá phức tạp nên những người đơn giản lại thu hút tôi. Tôi không hoà hợp lắm với gia đình. Qua Mỹ sống là một cách để tránh khỏi gia đình. Sau vài tháng thực tập tại một chi nhánh ở Paris, Jack quay về lại New York. Khi anh ấy lên đường, tôi hứa là sẽ theo sang đó và lấy anh. Cần nói là tôi chưa hề là người tình của anh ấy. Chẳng phải tại tôi, nếu anh ấy ngỏ lời thì tôi đã chấp thuận... Nhưng anh ấy đã không dám. Jack là người Mỹ theo đạo Thiên Chúa, với những tập quán cứng nhắc, và mong muốn tổ chức đám cưới chính thức tại nhà thờ Saint-Patrick, đại lộ số 5, với nhiều chàng phù rể mặc áo đuôi tôm, cài hoa cẩm chướng trắng ở cúc áo, và nhiều nàng phù dâu(2) khoác áo vải lụa mỏng.  Những chuyện này cũng chẳng trái ý tôi.
 
Chúng tôi thoả thuận là tôi sẽ đến vào tháng tư. Jack sẽ đặt vé máy bay cho tôi. Tôi vẫn thích bay với hãng Air France và tôi nghĩ điều đó đương nhiên thôi nên không báo cho anh ấy biết. Vào giờ phút chót, tôi nhận được chiếc vé Paris- Luân Đôn và Luân Đôn- Nữu Ước của một hãng hàng không Mỹ, khi đó, hãng này chưa được phép đỗ lại tại chỗ chúng tôi. Tôi phật ý đôi chút vì điều này, nhưng vốn dễ tính, đáng lẽ phải xoay xở đổi vé, tôi chấp thuận tình thế. Tôi phải sang Luân Đôn lúc bảy giờ tối, ăn tối ở sân bay, và chín giờ thì bay tiếp sang Nữu Ước.
 
Ông thích các sân bay chứ? Tôi lại thích chúng một cách thật khó tả. Chúng sạch sẽ, tối tân hơn là ga xe lửa, được trang trí theo kiểu " các phòng giải phẫu". Những giọng nói xa lạ, khó hiểu vì bị biến dạng, gọi qua loa những hành khách đi đến những thành phố nước ngoài xa xôi. Qua khung cửa kính có thể nhìn thấy những máy bay khổng lồ hạ cánh và cất cánh. Đó là một cảnh trang trí không thực mà không phải là không đẹp. Tôi vừa ăn tối xong, yên trí ngồi vào chiếc ghế da kiểu Anh màu xanh rêu, đúng lúc từ loa vọng lên một câu dài tôi không hiểu được hết, chỉ nhận ra hai tiếng Nữu Ước và con số chuyến bay của tôi. Tôi hơi lo ngại nhìn quanh. Vài hành khách đứng dậy.
 
Tôi để ý thấy ở ghế bên cạnh một người đàn ông khoảng tứ tuần có khuôn mặt hấp dẫn. Với dáng người mảnh khảnh, đầu tóc rối bù, cổ áo để mở, ông ấy gợi lên hình ảnh những nhà thơ lãng mạn Anh, đặc biệt là hình ảnh của Shelley.  Vừa nhìn ông ta, tôi vừa nghĩ thầm: nhà văn hay nhạc sĩ đây rồi, và mong có ông ngồi cạnh trên máy bay. Chợt thấy vẻ bối rối của tôi, ông nói, bằng tiếng Anh:
-     Xin lỗi bà, bà đi chuyến bay số 632 phải không ạ?
-     Vâng ạ... Không biết người ta vừa thông báo gì vậy?
-     Họ nói là, do trục trặc kỹ thuật, chuyến bay phải hoãn đến 6 giờ sáng mai. Hành khách nào muốn nghỉ ở khách sạn, hãng sẽ cho xe đón, ít phút nữa.
-     Thật chán quá! Đến khách sạn để 5 giờ sáng phải thức dậy! Thật tệ hại... Ông định làm gì bây giờ?
-     Ồ, tôi à, may mắn là tôi có người bạn làm việc và ở ngay tại sân bay này. Tôi đã để xe tại ga ra nhà anh ấy. Tôi sẽ đến lấy để về nhà.
 
Một lát sau, ông nói tiếp:
-     Mà đúng hơn, không phải thế... Tôi sẽ nhân lúc trì hoãn này để lượn một vòng. Tôi làm đàn orgue và thỉnh thoảng phải kiểm tra lại những cây đàn của tôi  trong vài nhà thờ ở Luân Đôn... Đây là dịp không tính trước để đi xem hai hay ba chiếc.
-     Ông có thể vào trong nhà thờ ban đêm sao?
 
Ông ta cười và rút ra một chùm chìa khoá thật lớn.
-       Được chứ! Tôi thường thử phím đàn và bộ ống gió vào ban đêm để khỏi làm phiền người khác.
-     Ông tự đánh đàn à?
-     Vâng, tôi cố hết sức mình.
-     Chắc nghe sẽ hay lắm, những tấu khúc đàn orgue chơi trong tĩnh lặng và bóng tối.
-     Hay à? Tôi không biết. Tuy thích nhạc nhà thờ, tôi không phải là nhạc công tài giỏi. Nhưng chơi đàn thì tôi mê vô cùng, điều đó là chắc chắn.
 
Ông lưỡng lự một lát, rồi nói tiếp:
-      Thưa bà, tôi sắp đề nghị với bà một chuyện kỳ cục... Bà chưa hề biết tôi và tôi cũng không có quyền gì được bà tin cậy... Nhưng nếu bà thích, tôi sẽ đưa bà đi với tôi và sau đó đưa bà về lại đây ngay... Chắc bà cũng là nhạc sĩ?
-     Đúng vậy. Mà làm sao ông biết?
-     Bà đẹp như một giấc mơ của nghệ sĩ. Điều ấy không lầm được.
 
Thú thật với ông là lời khen đó làm tôi xúc động. Người đàn ông này có một uy thế rất lạ lùng. Tôi biết rằng giữa đêm tối, dạo chơi ở thành phố Luân Đôn với một người không quen biết là thiếu thận trọng, tôi tự thấy những nguy hiểm có thể xảy đến. Tuy vậy, tôi vẫn không có ý nghĩ từ chối.
-     Thôi được, tôi nói với ông ta. Tôi sẽ làm gì với cái túi này?
-     Bỏ vào sau xe với hành lý của tôi.
 
Tôi không thể nào nói với ông ba nhà thờ nào tôi đã vào đêm hôm đó, và người bạn đồng hành bí hiểm của tôi đã chơi những bài gì. Tôi chỉ còn nhớ những chiếc cầu thang xoáy trôn ốc tôi được ông ấy dìu lên, nhớ những ánh sáng trăng loáng qua cửa kính, cùng những khúc nhạc tuyệt vời. Tôi nhận ra nhạc của Bach, của Fauré, của Haendel, nhưng tôi nghĩ là rất nhiều bài ông ấy tự ứng tác. Lúc ấy nghe thật xao động mãnh liệt. Tưởng chừng như đang nghe những lời thú tội tuôn trào từ một tâm hồn ray rứt. Tiếp đó là âm điệu thần tiên như những sự vuốt ve dịu ngọt. Tôi mê say. Tôi hỏi tên nhà nghệ sĩ tài hoa ấy. Ông tên Peter Dunne.
-     Chắc là ông nổi tiếng lắm, tôi nói với ông. Ông là một tài năng đấy.
-     Bà đừng nên tin như vậy.  Thời khắc và đêm tối làm cho bà có ảo tưởng thế thôi. Tôi chỉ là một người chơi đàn xoàng thôi. Nhưng niềm tin, và đêm nay, sự có mặt của bà, gây cho tôi cảm hứng.
 
Cái kiểu nói thẳng thắn như vậy chẳng làm tôi ngạc nhiên, cũng không làm tôi khó chịu. Peter Dunne là một trong những người mà chỉ sau vài phút gặp gỡ, ta có thể thân mật khác thường... Ông ấy không phải là người của thế giới này. Sau khi đi thăm cả ba nhà thờ, ông ấy nói đơn giản:
-     Bây giờ gần nửa đêm rồi. Bà có muốn đến nghỉ nhà tôi trong ba hay bốn giờ còn lại không? Tôi sẽ mời bà món trứng trộn. Nhà cũng có trái cây.   Sáng mai người giúp việc của tôi sẽ đến dọn các thứ đó đi.
 
Tôi cảm thấy sung sướng, và bởi vì tôi muốn kể hết mọi chuyện với ông, xin thú thật rằng tôi mơ hồ hy vọng rằng buổi tối hôm đó sẽ là khởi đầu cho một tình yêu. Đối với chuyển biến của cảm giác thì lòng ngưỡng mộ ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn là với đàn ông. Thứ âm nhạc thần tiên ấy, đêm ngập tràn bài ca ấy, cái bàn tay dịu dàng và vững chải đã dìu tôi trong bóng đêm ấy, tất cả đã dẫn tôi đến những ước muốn lờ mờ. Nếu người bạn đồng hành của tôi muốn, tôi đã thuộc về ông ta rồi... Con người tôi là như vậy.
 
Căn hộ nhỏ đầy sách, sơn màu trắng vỏ trứng, với một vạch đen, khiến tôi thấy thích thú. Ngay lúc đó tôi thấy như đang ở nhà mình. Tôi tự bỏ mũ và cởi áo khoác ra. Tôi đề nghị giúp ông sửa soạn bữa ăn khuya trong căn bếp nhỏ xíu. Ông từ chối:
-     Không, tôi quen rồi. Bà lấy một cuốn sách mà đọc. Chỉ vài phút tôi sẽ quay lại.
 
Tôi chọn tập thơ Đoản khúc  của Shakespeare và có thời gian đọc kịp ba bài phù hợp lạ lùng với tâm trạng của tôi lúc này. Sau đó Peter trở lại đặt một chiếcbàn nhỏ trước mặt và mời tôi.
-     Tất cả những thứ này đều ngon tuyệt, tôi nói. Tôi thích lắm... Tôi đang đói. Ông thật là một người đàn ông lạ lùng. Ông làm gì cũng giỏi. Hạnh phúc thay người phụ nữ nào sống chung với ông!
-     Không phụ nữ nào sống chung với tôi cả... Nhưng tôi rất thích nghe bà nói về chính mình. Bà là người Pháp, hẳn nhiên rồi? Bà đi sang Mỹ?
-     Vâng, tôi sắp lấy một người Mỹ. 
 
Ông ấy chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên, hay không hài lòng.
-     Bà có yêu ông ta không?
-     Tôi phải yêu ông ta vì tôi đã quyết định nhận ông ta làm người bạn suốt đời.
-     Đó chẳng phải là lý do, ông ấy nói. Có những cuộc hôn nhân do người ta tự trượt đến, một cách chậm rãi, khó thấy, mà thực sự không muốn. Bỗng nhiên người ta tự thấy mình bị gắn kết vào và không có can đảm quay trở lại nữa. Vậy là số kiếp lỡ làng... Thật không phải chút nào khi tôi nói với bà những chuyện buồn thảm thế này khi mà tôi không hiểu gì về sự lựa chọn của bà. Chẳng lẽ nào một người tinh tế như bà lại lầm lẫn được... Điều duy nhất khiến tôi ngạc nhiên là...
 
Ông ngừng lại.
-     Ông cứ nói đi... Đừng sợ làm tôi phật ý. Tôi là người sáng suốt nhất... Ý tôi muốn nói là người có khả năng nhất để nhìn thấy những hành động của mình bằng cách quan sát và phán xét.
-     Vậy thì, ông ấy nói tiếp, điều duy nhất khiến tôi ngạc nhiên, không phải là vì có một người Mỹ làm bà thích ( thật ra cũng có nhiều người Mỹ đáng chú ý và hấp dẫn nữa ), nhưng mà vì bà lại muốn sống trọn đời với ông ta, nơi xứ của ông ta... Rồi bà sẽ tìm thấy nơi kia  một " tân thế giới " với những giá trị hoàn toàn khác... Có thể đấy chỉ là những định kiến của người Anh.. Cũng có thể người chồng chưa cưới của bà tự ông ta đã hoàn hảo tới mức khiến bà chẳng quan tâm tới cái xã hội mai đây sẽ bao quanh vợ chồng bà.
 
Tôi suy nghĩ một lát. Hình như những điều tôi nói với Peter Dunne có một tầm quan trọng đặc biệt, tôi chẳng hiểu vì sao, và tôi có nhiệm vụ phải diễn đạt cho ông ấy hiểu chính xác những sắc thái tinh tế nhất trong ý nghĩ của tôi.
 
-     Ông không nên tin như vậy, tôi nói. Jack, chồng tương lai của tôi, không phải là người hoàn hảo và tôi tin chắc rằng tự anh ấy cũng không thể thay thế cho sự thiếu vắng một môi trường thân thiết đối với tôi. Jack là một chàng trai dễ mến, thực thà, sẽ là người chồng tốt, nghĩa là sẽ không lừa dối tôi và sẽ cho tôi những đứa con khoẻ mạnh. Nhưng ngoài con cái, ngoài việc làm ăn của anh ấy, chuyện chính trị và những chuyện liên quan đến bạn bè của chúng tôi, chúng tôi sẽ có rất ít đề tài quan tâm chung... Xin ông hiểu cho tôi. Jack không phải là kém thông minh, anh ấy là nhà kinh doanh thành thạo, có chút năng khiếu về cái đẹp, một thị hiếu khá chắc chắn... Có điều là thi ca, hội hoạ, âm nhạc chẳng quan trọng gì dưới mắt anh ấy. Anh ấy chẳng thiết gì những thứ đó... Có trầm trọng lắm không? Suy cho cùng, nghệ thuật chỉ là một trong những hoạt động của con người thôi.
-     Hẳn là thế, Peter Dunne nói. Ta vẫn có thể là một người nhạy cảm mà chẳng yêu thích nghệ thuật, hoặc đúng hơn là chẳng hề biết đến nghệ thuật... Và thậm chí tôi còn thích một thái độ lãnh đạm dứt khoát hơn là thói đua đòi hăng hái, ồn ào. Nhưng để làm chồng một người phụ nữ như bà... Liệu ông ấy ít nhất có được  sự tinh tế của con tim để có thể đoán hiểu được những chuyển biến thầm kín của người mình sống kề bên không?
-     Anh ấy không tìm kiếm xa đến thế đâu. Anh ấy thích tôi, anh chẳng hiểu tại sao, anh ấy không tự đặt câu hỏi cho mình. Anh ấy không nghi ngờ việc mang lại hạnh phúc cho tôi... Chẳng phải là tôi sẽ có một ông chồng cần mẫn, một căn nhà ở Đại lộ Park, một chiếc xe hạng sang, và những người giúp việc da đen xuất sắc do mẹ anh, người từ tiểu bang Virginia,chọn lấy. Một người phụ nữ còn mong muốn gì hơn?
-     Chớ nên mỉa mai cay độc, ông ấy nói. Sự cay độc lúc nào cũng là dấu hiệu của lương tâm bất ổn. Khi áp dụng vào người mà mình phải yêu, nó giết chết mọi tình cảm... Đúng vậy đấy.. Và điều đó rất nghiêm trọng. Chỉ có cơ may cứu rỗi là do thái độ thực sự dịu dàng và nhân ái đối với những người đàn ông. Hầu như tất cả họ đều bất hạnh...
-     Tôi không tin là Jack bất hạnh. Anh ấy là một người Mỹ có thể thích ứng với cái xã hội anh sống mà anh trân trọng thực lòng, coi như xã hội tốt nhất thế giới rồi. Anh ấy còn gì để lo ngại nữa?
-     Chẳng bao lâu nữa anh ấy sẽ lo ngại về chính bà. Bà sẽ dạy cho anh ấy sự đau khổ.
 
Tôi không biết đã có thể làm cho ông cảm thấy rằng đêm hôm đó, tôi đã ở vào trạng thái tinh thần sẵn sàng chấp nhận mọi thứ hay chưa. Thật là kỳ lạ chuyện tôi một mình, lúc một giờ khuya, trong nhà một người Anh mà chỉ mấy tiếng đồng hồ trước thôi tôi gặp ở một sân bay. Càng ngạc nhiên hơn nữa là tôi lại tâm sự với ông ta về cuộc sống riêng tư và dự định tương lai của mình. Cuối cùng càng đáng kinh ngạc hơn là ông ta đã khuyên nhủ tôi và tôi nghe theo những lời khuyên ấy với lòng kính trọng.
 
Vậy mà chuyện xảy ra thế đó. Từ Peter toát ra một sự nhân từ và phẩm hạnh khiến tình thế trở nên tự nhiên. Chẳng phải vì ông ấy làm ra vẻ như nhà tiên tri hay người thuyết giáo. Hoàn toàn không phải như vậy. Đó là một người không hề giả vờ. Khi tôi đưa ra một nhận xét thú vị ông ấy cười thoải mái. Có điều là người ta đoán rằng chuyện gì ông cũng tỏ ra nghiêm túc, điều hiếm thấy ở đời... Vâng, đúng như thế... một người nghiêm túc...Ông hiểu chứ? Thường thì người ta ít khi nói điều mình nghĩ. Sau lời họ nói, khi nào cũng có chút ẩn ý. Ý kiến họ nói ra che đậy một ý khác mà họ muốn giấu đi... Hoặc giả họ nói lung tung, không cần nghĩ ngợi. Còn Peter lại cư xử như một số nhân vật của Tolstoï. Ông đi thẳng đến tận cốt lõi vấn đề. Điều này tác động mạnh đến tôi nên tôi hỏi ông:
-     Ông có dòng máu Nga à?
-     Tại sao? Thật đáng ngạc nhiên khi bà hỏi tôi câu đó. Vâng, mẹ tôi là người Nga, còn ba tôi người Anh.
 
Tôi tự hào về sự khám phá ít ỏi ấy của mình và hỏi tiếp:
-     Ông chưa lập gia đình sao? Chưa bao giờ à?
-     Chưa... Bởi vì... Điều này bà có thể cho là kiêu ngạo... Tôi để dành cho một điều gì đó cao cả hơn.
-     Cho một tình yêu cao cả?
-     Cho một tình yêu cao cả, nhưng sẽ không phải là tình yêu của một phụ nữ. Tôi nghĩ rằng, bên trên cái vẻ bề ngoài đau khổ của thế gian này, còn có một điều gì đó tốt đẹp để ta phải sống vì nó.
-     Và "điều gì đó "ông đã tìm thấy trong nhạc tôn giáo?
-     Vâng, và nơi các nhà thơ nữa. Cũng như trong sách Phúc âm. Tôi muốn biến cuộc đời mình thành cái gì đó thật tinh khiết. Tôi xin lỗi bà vì đã tự nói về mình như thế, nói có vẻ hơi khoa trương... và không đúng kiểu người Anh... nhưng hình như bà đã hiểu rõ...và hiểu khá nhanh...
 
Tôi đứng dậy và đến ngồi bên chân ông ấy. Tại sao? Biết nói với ông thế nào đây. Tôi không thể làm khác.
 
-     Vâng, tôi hiểu, tôi nói. Tôi cũng thấy như ông là thật điên rồ khi để hao phí cuộc đời, vốn là tài sản duy nhất của chúng ta, vào những giờ khắc tầm thường, những công việc vô bổ, những cãi vã nhỏ nhen... Tôi mong sao tất cả những giờ khắc của đời tôi đều giống như thời gian tôi sống bên cạnh ông bây giờ đây. Tuy nhiên tôi biết điều đó không thể được... Tôi không đủ sức lực...Tôi sẽ buông trôi theo dòng, vì làm như thế dễ hơn. Tôi sẽ trở thành Jack D. Parker phu nhân, tôi sẽ chơi bài canasta, tôi sẽ cải thiện điểm lúc chơi gôn, tôi sẽ đi nghỉ ở Floride vào mùa đông, và năm tháng sẽ trôi qua như vậy, cho đến lúc từ giã cõi trần... Có thể ông sẽ nói với tôi rằng như thế thật đáng tiếc...Ông nói đúng...Nhưng biết làm sao đây?
 
Tôi dựa vào đầu gối ông ấy, ngay trong giây phút đó, tôi là của ông ta... Vâng, sự chiếm hữu chẳng nghĩa lý gì, ưng thuận mới là tất cả.
 
-     Biết làm thế nào à? ông ấy nói. Bà hãy tự điều khiển lấy mình. Tại sao lại buông trôi theo dòng? Bà biết bơi mà. Tôi muốn nói: bà có nghị lực và phẩm giá... Đúng vậy...Hơn nữa, đâu cần tới một cuộc đấu tranh dài hơi để làm chủ số phận. Trong dòng chảy đời người có những khoảnh khắc hiếm hoi vào lúc đó mọi  chuyện đều được định đoạt cho cả dài lâu. Chính vào những khoảnh khắc đó ta phải có can đảm để nói có, hoặc không.
-     Và ông nghĩ là tôi đang ở vào một trong những khoảnh khắc đó và phải có can đảm để nói không?
 
Ông ấy vuốt tóc tôi, rồi nhanh chóng rút tay ra và có vẻ trầm tư.
 
-     Bà đặt cho tôi một câu hỏi khó trả lời, cuối cùng ông ấy nói. Tôi chỉ mới quen bà, không biết gì về bà, về gia đình bà, về người chồng tương lai của bà, tôi có quyền gì mà khuyên nhủ được bà? Có thể tôi sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng... Câu hỏi đó tôi không phải trả lời, mà chính là bà. Vì chỉ có bà mới biết bà mong đợi gì từ cuộc hôn nhân ấy, chỉ có bà mới đủ yếu tố để lường trước mọi hậu quả... Tất cả những gì tôi có thể làm được, là khuyên bà nên chú ý vào những gì, theo ý tôi, và tôi nghĩ cũng là theo ý bà, và tự hỏi: " Ta có chắc là không huỷ hoại trong mình những gì tốt đẹp nhất ta đang có không?"
 
Đến lượt tôi suy nghĩ.
 
-     Than ôi! không, tôi không tin chắc như vậy. Điều tốt đẹp hơn của tôi, là niềm hy vọng chẳng biết do sự khích lệ nào, là sự khao khát được hy sinh... Lúc nhỏ, tôi từng mơ trở thành nữ thánh hay nữ anh hùng... Còn bây giờ, tôi mơ được hiến mình cho một người đàn ông đáng khâm phục, và nếu tôi làm được, góp phần giúp người ấy làm nên sự nghiệp, hoàn thành sứ mệnh... Thế đấy... Điều tôi vừa thổ lộ với ông, tôi chưa hề nói với ai cả. Tại sao lại nói với ông? Tôi cũng tự hỏi như thế. Có điều gì đó nơi ông gọi mời lời tâm sự - và niềm tin.
-     Cái điều gì đó, ông ấy nói, là sự từ bỏ. Người nào đó không tự tìm cho chính mình cái mà người khác gọi là hạnh phúc, có lẽ sẽ có thể yêu những người khác như cách chính mình được yêu, và qua đó tìm được một dạng thức khác của hạnh phúc.
 
Lúc ấy tôi làm một cử chỉ bạo dạn và hơi điên rồ. Tôi nắm lấy tay ông ta và nói:
 
-     Ông Peter Dunne, thế thì tại sao ông lại không có phần hạnh phúc thực sự của mình? Và tôi cũng vậy, tôi chỉ mới quen ông, thế mà tôi thấy như ông là người mà tôi luôn luôn tìm kiếm một cách vô thức.
-     Bà đừng tin như thế... Bà nhìn nhận tôi khác hẳn con người thực của tôi. Tôi không bao giờ là một người chồng, một người tình như mong đợi của bất cứ phụ nữ nào. Tôi không chịu được cảnh phải sống bên cạnh mình, từ sáng đến tối và từ tối đến sáng, một con người đòi hỏi ở tôi sự quan tâm vào mọi lúc và lại có quyền được như vậy.
-     Sự quan tâm sẽ có qua có lại.
-     Hẳn thế, nhưng tôi thì tôi không cần ai quan tâm.
-     Ông cảm thấy khá mạnh mẽ để một mình đương đầu với cuộc sống... Phải vậy không?
-     Nói đúng hơn là, tôi cảm thấy khá mạnh mẽ để đương đầu trong cuộc sống này với những người đàn ông có thiện chí... để cùng với họ góp sức xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn... hay ít nhất có gắng làm được như vậy.
-     Có lẽ sẽ bớt khó khăn nếu bên cạnh ông có một người bạn đời. Tất nhiên người phụ nữ ấy sẽ chia sẻ cùng ông niềm tin ông nung nấu. Nếu người ấy yêu ông...
-     Chừng đó không đủ... Tôi đã biết hơn một người phụ nữ khi yêu đã đi theo người mình yêu như một kẻ mộng du. Một hôm, cô ta tỉnh lại và kinh hoàng nhận ra mình đang ở trên mái nhà, thật nguy hiểm. Lúc đó cô ta chỉ có một ý nghĩ: đi xuống và trở lại với sàn cuộc sống thường ngày... Người đàn ông, nếu có từ tâm, sẽ theo người phụ nữ cùng đi xuống. Và rồi, như mọi người nói, họ tạo ra tổ ấm... Đấy là một chiến binh bị tước vũ khí.
-     Ông muốn chiến đấu đơn độc.
 
Ông ấy dìu tôi đứng lên, không phải là không trìu mến.
-      Chưa bao giờ tôi nói ra điều này khó nhọc hơn, nhưng đúng là vậy... Tôi muốn chiến đấu một mình.
 
Tôi thở dài.
-     Thật đáng tiếc! Tôi đã sẵn sàng vì ông mà hy sinh Jack.
-     Tốt hơn là hy sinh cả Jack lẫn tôi.
-     Cho ai?
-     Cho chính bà.
 
Tôi cầm lấy cái mũ và đến trước gương đội vào. Peter đưa áo khoác cho tôi.
-      Bà nói đúng, ông ấy nói, phải đi thôi. Sân bay cách đây khá xa và ta nên đến trước những hành khách đi xe ca.
Ông ấy đi tắt đèn trong bếp. Trước khi bước ra, bằng một động tác mà tôi nghĩ là chính ông không cưỡng lại được, ông ấy ôm tôi vào lòng và hôn tôi như một người anh. Tôi không chống lại, tôi buông mình theo một sức mạnh mà tôi cảm thấy thích bị chinh phục. Nhưng ông nhanh chóng nới lỏng vòng tay ôm, đến mở cửa và mời tôi ra. Trên chiếc xe nhỏ để ngoài đường, tôi ngồi bên cạnh ông, không nói gì.
 
Trời đổ mưa, đường phố Luân Đôn về đêm buồn rũ rượi. Một lát sau, Peter lên tiếng. Ông ấy kể cho tôi nghe về những người sinh sống trong những ngôi nhà nhỏ  xây cất hàng loạt kia, kể về cuộc sống trầm lặng, về những thú vui nghèo nàn và những hy vọng của họ. Khả năng gợi tả của ông thật đáng kinh ngạc. Lẽ ra ông ấy phải là tiểu thuyết gia tầm cỡ.
 
Sau đó chúng tôi đi đến khu nhà máy ở ngoại ô. Người bạn đồng hành của tôi ngừng lời. Còn tôi, tôi suy nghĩ. Tôi nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy đến vào ngày hôm sau, khi tôi đến Nữu Ước, nghĩ đến Jack, sau cái đêm cảm động này, có thể tôi sẽ thấy anh ta hơi lố bịch.  Đột nhiên, tôi nói:
-     Ông Peter, dừng lại đi.
 
Ông ấy thắng xe đột ngột, và hỏi:
-     Có chuyện gì vậy? Bà mệt à? ... Hay để quên gì ở nhà tôi?
-     Không. Nhưng tôi không muốn đi Nữu Ước nữa... Tôi không muốn lấy chồng lần nữa.
-     Bà nói gì thế?
-     Tôi đã suy nghĩ. Ông đã cho tôi mở mắt. Ông đã nói là trong cuộc đời có những khoảnh khắc mà mọi chuyện được định đoạt cho lâu dài. Đây là một trong những khoảnh khắc ấy. Tôi đã quyết định. Tôi sẽ không lấyJack Parker.
-     Trách nhiệm của tôi thật kinh khủng. Tôi tưởng đã khuyên bà điều tốt lành. Có thể tôi đã lầm.
-     Ông không thể lầm. Và nhất là tôi, tôi không thể lầm. Bây giờ tôi thấy rõ ràng là tôi sắp làm một việc điên rồ. Tôi sẽ không đi nữa.
-       Nhờ ơn Trời ban phúc! ông ấy nói. Bà đã được cứu thoát. Bà vừa đi tới một tai hoạ. Nhưng bà không sợ phải trở về Paris sao, phải giải thích với mọi người...?
-     Tại sao? Cha mẹ và bạn bè tôi đều thấy tiếc khi tôi ra đi. Họ gọi cuộc hôn nhân này là một hành động thiếu suy nghĩ... Họ sẽ hài lòng khi thấy tôi trở về.
-     Còn ông Parker?
-     Jack sẽ buồn khổ trong vài ngày, hoặc vài giờ. Anh ấy sẽ đau khổ vì tự ái, nhưng anh ấy sẽ tự nhủ là thế nào rồi cũng sẽ gặp phiền toái với một người vợ bốc đồng đến thế, và rồi anh sẽ vui lòng vì đã cắt đứttrước, chứ không phải sau hôn lễ... Có điều là phải đánh điện gấp cho anh ấy, để ngày mai anh khỏi đi đón tôi vô ích.
 
Peter lại cho xe nổ máy.
-      Bây giờ ta làm gì đây? ông nói.
-     Chúng ta tiếp tục ra sân bay. Máy bay của ông đang đợi ông. Tôi sẽ đi chuyến khác, về lại Pháp. Thế là qua một cơn mơ.
-     Một giấc mơ đẹp, ông nói.
-     Mơ khi còn thức.
 
Trên đường ra sân bay, tôi ghé phòng điện báo và thảo một bức điện tín cho Jack: "Đi đến kết luận rằng kết hôn là phi lý. Stop. Tiếc vì yêu anh nhiều nhưng không thể sống ở nước ngoài. Stop. Nghĩ tốt hơn nên nói thẳng. Stop. Gởi anh vé để bồi hoàn. Stop. Thân mến. Marcelle. "Tôi đọc lại và thay sống ở nước ngoài  bằng sống xa lạ. Viết vậy rõ hơn, lại bớt được một chữ.
 
Trong khi tôi gởi điện tín, Peter đi hỏi giờ máy bay của ông khởi hành. Ông nói khi trở lại:
-      Mọi chuyện đều tốt. Hay đúng hơn, mọi chuyện đều không tốt, động cơ đã sửa xong. Hai mươi phút nữa tôi sẽ đi. Còn bà phải chờ đến bảy giờ. Tôi rất ngại phải để bà ở lại một mình. Bà có muốn tôi mua hộ một cuốn sách không?
-     Không, tôi nói. Tôi có chuyện để suy nghĩ rồi.
-     Bà chắc chắn sẽ không luyến tiếc gì chứ? Vẫn còn thời gian, nhưng vào lúc bà đã gởi bức điện, dù bà có nghĩ lại cũng muộn rồi.
 
Tôi không trả lời ông ấy, đưa bức điện cho nhân viên điện báo.
-      Chậm được không? ông ta hỏi.
-      Không.
 
Sau đó tôi khoác tay Peter.
-     Ông Peter thân mến, tôi có cảm tưởng tiễn ra máy bay một người bạn thân quen từ lâu.
 
Tôi không thể kể lại cho ông những gì ông ấy nói với tôi trong hai mươi phút còn lại giữa chúng tôi. Đấy là những nguyên tắc sống ông ấy khuyên tôi. Ông đã nhiều lần muốn nói với tôi rằng tôi có tính cách như đàn ông, tôi là một người bạn chung thuỷ, rằng tôi không nói dối. Nếu những điều đó phần nào là đúng thì đó chính là nhờ Peter. Cuối cùng, loa phóng thanh gọi: Hành khách đi Nữu Ước chuyến bay sáu trăm ba mươi hai...Tôi tiễn Peter đến tận cửa ra đường băng. Đến đó tôi kiễng chân lên để hôn ông như vợ chồng. Tôi không bao giờ gặp lại ông ấy.
-     Bà không bao giờ gặp lại ông ấy! Sao vậy? Bà không cho ông ấy địa chỉ sao?
-     Có chứ, nhưng ông ấy không bao giờ viết cho tôi. Tôi tin là ông ấy thích xuất hiện như thế trong cuộc đời người khác, để hướng dẫn họ, rồi biến mất.
-     Còn bà, mỗi lần đến Luân Đôn, bà không tìm gặp ông ấy sao?
-     Để làm gì? Ông ấy đã cho tôi, như lời ông ấy nói, những gì tốt đẹp nhất của ông ấy. Chúng tôi sẽ không bao giờ tìm lại được cái không khí lạ thường của đêm hôm đó... Không, cứ thế này hay hơn... Không nên hy vọng sống lại giây phút quá tuyệt vời... Nhưng như thế tôi đã có lý khi nói với ông câu chuyện này lạ lùng nhất  trong cuộc đời của tôi phải không? Người đàn ông đã làm thay đổi số   phận tôi, đã khiến tôi sống ở Pháp chứ không phải ở Mỹ, người đã có một ảnh hưởng bền vững nhất đối với tôi là một người Anh không quen biết, tình cờ gặp ở sân bay, ông không thấy điều đó là tuyệt vời sao?
-     Chuyện này giống như, tôi nói, những câu chuyện cổ trong đó một vị thần ngụỵ trang thành hành khất, hay người lạ mặt để tiếp cận con người... Bà Marcelle ạ, thực ra thì người đàn ông xa lạ kia cũng không khiến bà thay đổi hoàn toàn đâu, vì cuối cùng bà cũng lấy ông Renaud,chính là Jack dưới cái tên khác.
Bà ấy mơ màng một lúc:
-      Vâng, đúng thế, bà nói. Ta không thể thay đổi bản chất, chỉ chỉnh sửa thôi.
 ______
-   (1) You are just wonderful! ( tiếng Anh trong nguyên bản ) 
-     (2) bridesmaids ( tiếng Anh trong nguyên bản )
 
 
 
Kim Kỳ sưu tầm
Xem thêm...

Đời người như bốn mùa

Related image
Image result for four season hd photos
Image result for four season hd photos
 
Đời người như bốn mùa
Một người đàn ông giàu có sinh được 4 người con trai. Ngay từ khi các con còn nhỏ, ông đã luôn chú trọng dạy con cách làm người, cách đối nhân xử thế vì ông không muốn con mình dựa dẫm vào gia thế giàu có mà khoe khoang kiêu ngạo buông thả bản thân và không chịu phấn đấu.
Một lần, vì muốn các con của mình hiểu được một điều quan trọng của cuộc sống thông qua trải nghiệm thực tế nên ông đã nói họ đi đến một nơi rất xa, ở đó có trồng một loại lê quý. Mỗi người con sẽ đến đó một lần vào các thời điểm khác nhau trong năm. Ông muốn họ quan sát cây lê để rồi kể lại cho ông những gì họ đã thấy ở đó.
 
Related image
XUÂN
Image result for spring hd photos
 
Người cha phân công con trai cả sẽ đi tới chỗ cây lê quý đó vào mùa đông, nhìn ngắm kỹ cây lê rồi quay về. Con trai thứ hai đi đến đó vào mùa xuân, con trai thứ ba đến đó vào mùa hè và con trai út sẽ đến đó vào mùa thu.
Bốn người con vâng lời cha và họ lần lượt đi tới chỗ đó, vượt qua chặng đường xa xôi, nắng mưa và đôi khi cả gió rét. Đợi tới khi người cuối cùng quay trở về, người cha gọi họ đến và muốn được nghe trải nghiệm của họ trong cuộc hành trình này.
Bốn người con đều nóng lòng muốn chia sẻ với cha những gì họ đã thấy.
Con trai lớn kể lại: “Con thấy cái cây đó xấu xí lắm, thân cong, lá xác xơ. Nó dường như không có chút sức sống nào cả”.
Người con thứ hai lập tức ngắt lời: “Không đúng, cái cây đó đầy những chồi non xanh mơn mởn”.
Người con thứ ba nghe vậy lắc đầu: “Con cảm nhận được hoa của cây có mùi thơm ngọt dịu và trông 
rất đẹp. Đó là loài hoa đẹp nhất so với tất cả các loài hoa mà con từng nhìn thấy trước đây”.
 
Related image
HẠ
Related image
 
Người con trai út không cùng quan điểm với ba anh: “Cây có rất nhiều quả chín, có nhiều quả còn rơi xuống. Lá của nó có chiếc màu vàng nhạt, có chiếc màu vàng đậm. Nhưng con cảm nhận được một sự hài hòa và yên bình khi ngắm nhìn cây lê đó”..
Sau khi nghe từng người con trai chia sẻ, người cha nói: “Không ai sai cả. Tất cả các con đều đúng. Mỗi con chỉ nhìn thấy được thực trạng của cây trong mùa một mùa nhất định, do đó các con đã nói về những gì bản thân nhìn thấy về trạng thái của cây ở thời điểm đó. Trạng thái của cây thay đổi theo thời gian, cũng giống như trạng thái của con người. Chúng ta không nên phán xét ai đó bằng cách chỉ nhìn người ta tại một thời điểm nhất định trong cuộc sống của họ. Đó là những gì cha muốn các con phải học”..
 
Related image
THU
Related image
 
Người cha tiếp tục nói: “Nếu các con bỏ cuộc khi đối diện với mùa đông giá lạnh, các con sẽ bỏ lỡ những triển vọng tốt đẹp khi mùa xuân đến, rồi sẽ bỏ lỡ cả vẻ đẹp trong mùa hè và sự trọn vẹn khi mùa thu tới.”
 
Trong cuộc đời của chúng ta, biết người thì dễ, hiểu người thì khó, mà biết người, hiểu người nhưng không phán xét họ lại càng khó hơn. Thói quen so sánh, đánh giá dường như trở thành cố hữu trong chúng ta. Tuy nhiên, những điều ta nhìn thấy ở họ tại thời điểm ấy lại chỉ là một lát cắt của cuộc đời họ, là họ ở khoảnh khắc đó mà thôi.
 
Related image
  ĐÔNG
Image result for winter awesome photos
 
Giống như một người phụ nữ, người ta sẽ thấy cô là một doanh nhân quyết đoán, có tầm nhìn, có tài lãnh đạo khi quan sát cô làm việc. Tuy nhiên, trở về nhà với cương vị là một người mẹ, cô lại hiền dịu, đảm đang và giản dị.
Chính bởi vậy, những điều mắt ta có thể nhìn thấy lại không đủ để đánh giá một con người. Bản chất của một người cần chúng ta qua thời gian lâu dài tìm hiểu mới có thể thấu hiểu, cần chúng ta có dũng khí hạ bỏ cái tôi của mình, bước vào thế giới của họ với một trái tim nhân hậu và tấm lòng cảm thông. Rốt cuộc thì nhân cách, đạo đức, phẩm hạnh của một người mới thực sự trả lời cho câu hỏi họ là ai.
 
Cũng như thế, đối với một cuộc hành trình, một sự việc, đừng vì chút khó khăn nhất thời mà đứt gánh giữa đường, đừng vì chút áp lực mà từ bỏ niềm tin và nguyên tắc sống đúng đắn của mình. Nghịch cảnh chỉ là một phép thử, để xem với những gì chính bản thân mình đã lựa chọn, ta có đủ dũng khí và kiên định đi đến cuối con đường hay không.
 
Tình yêu và hạnh phúc mà chúng ta đạt được trong cuộc sống chỉ có thể được đánh giá đúng vào thời điểm cuối cùng, khi chúng ta đã trải qua hết thảy bốn mùa trong một năm, trải qua tất cả các giai đoạn trong cuộc sống.
 
Tê Hát sưu tầm
Ảnh minh họa
Xem thêm...

Truyện Ngắn: Ba dòng nước mắt

 Ba dòng nước mắt   

  Truyện Ngắn của Phạm Tín An Ninh

Hình minh họa

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận đuợc thư Bình, thằng bạn thân tình từ thời nối khố. Nó là đứa cuối cùng trong đám bọn tôi rời xa đất nước, vừa mới được sang định cư bên Mỹ theo diện HO 31. Lá thư chỉ vỏn vẹn mấy dòng:

” Tao đã đến Mỹ vừa đúng hai tuần. Ở đây ồn ào và ngột ngạt quá, tao muốn tìm một chỗ bình yên. Mày có cách nào giúp tao sang Bắc Âu với mày. Bởi tao nghe mày kể bên ấy dù có buồn và mùa đông khá lạnh, nhưng cuộc sống yên bình, thích hợp cho những người cần một nơi để chửa trị những vết thương khó lành được trong lòng.

Tao đang có nhiều vết thương, và cũng đang có nhiều điều rối ren không giải quyết được. Rồi có dịp tao sẽ tâm tình với mày sau. Bây giờ, bằng mọi cách mày giúp tao sang đó với mày. Càng sớm càng tốt..”

Hơn một tháng trước, Định đã báo cho tôi biết việc Bình sẽ sang Mỹ. Nó đã phụ giúp vợ Bình sẵn sàng tất cả mọi thứ để đón Bình. Định còn bảo khi nào Bình đến Mỹ rồi, nó sẽ báo để tôi sang thăm. Ba thằng gặp lại, tha hồ mà kể chuyện xưa. Vậy sao bây giờ vừa mới đoàn tụ vợ con, Bình lại muốn sang Bắc Âu với tôi, một nơi xa tít mịt mùng ?

 Gọi điện thoại cho vợ Bình và Định nhiều lần, nhưng không ai bốc máy. Hôm sau tôi vào sở xin lấy trước một tuần hè, và đặt vé máy bay sang Mỹ.

 Bọn tôi là ba thằng bạn thân từ những ngày mới lớn. Cùng học một lớp ở trường làng, rồi lên trường huyện. Điều đặc biệt là tên của ba thằng đều có vần “inh”. Trong lớp bạn bè thường gọi bọn tôi là Ninh-Bình-Định, mặc dù cả ba thằng chưa hề biết quê quán của Quang Trung đại đế, cái nơi nổi tiếng “con gái cầm roi đi quyền” đó nó ra sao. Tuổi thơ ở nhà quê khá nhọc nhằn, nhưng lại có biết bao kỷ niệm êm đềm của những ngày câu cá tắm sông, những trận bóng sôi nổi trước nhiều khán giả là đám con gái cùng trường, mà trái banh chỉ là những trái bưởi rụng nhặt được phía sau hè. Rồi cả ba thằng được may mắn vào thành phố Nha Trang học trung học. Dù khác lớp nhưng cùng vào một đội bóng của trường. Đội bóng bao lần chiếm giải quán quân. Sau khi đậu tú tài, nhìn thấy con đường học hành sao mà xa xăm diệu vợi quá. Muốn học thêm phải khăn gói vào tận Sài gòn, trong lúc kinh tế gia đình đang lúc khó khăn. Không đành lòng bắt cha mẹ phải còng lưng thêm chút nữa, ba thằng rủ nhau vào lính. Làm đơn tình nguyện vào binh chủng không quân, bởi hình ảnh những chàng phi công hào hoa đi mây về gió, trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ tím, đã là thần tượng của bọn tôi từ lâu lắm. Vậy mà chỉ có riêng tôi là mộng ước không thành, vì thiếu thước tấc, bị loại ngay vòng khám sức khỏe đầu tiên. Hai thằng bạn được toại nguyện, nhưng không vui. Vì kể từ hôm nay, không còn “chúng mình ba đứa” nữa. Tôi tiễn hai thằng đến Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân nằm bên bờ biển Nha Trang, rồi một mình khăn gói vào Sài gòn học tiếp.

Khi bọn nó sang Mỹ học phi hành, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Cứ vài tuần tôi nhận thư từ bên Mỹ. Nhìn tấm ảnh hai thằng chụp trước cổng trường, hoặc đứng bên cạnh một chiếc F 5, tôi thấy thèm cái oai phong của tụi nó. Sau khi về nước chỉ có thằng Bình đươc lái phản lực A-37 cho một phi đoàn đóng ở Biên Hòa, còn thằng Định thì ra phi đoàn trực thăng tận ngoài Vùng 1.

Tôi ra trường, được bổ sung về một tiểu đoàn tác chiến đang làm lực lượng lưu động cho Quân Đoàn, rày đây mai đó, gần như chỗ nào có trận chiến là tôi có mặt. Vậy mà so với mức độ hiểm nguy, chết chóc, chẳng nhằm nhò gì với cái chuyện đi bay của thằng Định. Bởi phi đoàn của nó chuyên thả và bốc những toán biệt kích delta trong các vùng địch. Sau một chuyến công tác, nếu may còn sống, được thưởng một số tiền và mấy ngày phép xài chơi. Bao nhiêu lần nó thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nó bảo đúng là đạn tránh nó. Nhờ vậy mà nó là thằng thường có mặt ở thành phố Nha Trang. Cứ sau một lần thoát chết, nó trở về đây, còn tôi và thằng Bình, cả năm chỉ được một tuần “anh về với em rồi anh lại đi”. Có lẽ  nhờ vậy mà nó có khá nhiều mối tình để kể cho bọn tôi nghe mỗi lần có dịp gặp nhau, hay bất ngờ liên lạc được trên các tần số không lục.

Nhưng rồi trong ba thằng, tôi lại là thằng bước lên xe hoa trước nhất. Thằng Định vẫn muốn thoải mái đi mây về gió, không bị vướng chân vướng cẳng, còn thằng Bình thì khá kín miệng nên chuyện tình duyên của nó bọn tôi cũng mờ mịt lắm.

Một lần tiểu đoàn đổ quân xuống Ninh Hòa lúc hai giờ sáng, khi cả cái thị trấn nhỏ này còn đang say ngủ. Đại đội tôi được chỉ định vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau, quần áo chỉnh tề, tôi rủ thêm hai thằng bạn lính vào một ngôi  nhà phía trước “thăm dân cho biết sự tình”, không ngờ “hồn lỡ sa vào đôi mắt em”, đôi mắt nai tơ của cô bé chủ nhà. Đám cưới tôi có mặt cả hai thằng bạn nối khố, và hai thằng đều tình nguyện làm phụ rể.

Ba năm sau, Định lên chức quan ba, được thuyên chuyển về một phi đoàn đóng ở Pleiku làm trưởng phòng hành quân, nên chúng tôi có nhiều dịp gặp nhau, khi ở thành phố, khi thì trong các cuộc hành quân trực thăng vận. Lâu lâu nó tình nguyện bay tiếp tế cho đơn vị tôi, thả cho tôi vài ký thịt tươi và chai rượu đế. Mùa hè 72, tôi bị thương ở căn cứ Võ Định, Kontum. Suốt hơn hai tuần bị địch bao vây và pháo kích nặng nề, tôi nhận lệnh phải mở đường máu rút quân ra, nhưng vết thương nặng ở chân phải của tôi là một trở ngại lớn cho đơn vị.  Trong lúc Định đang bay chiếc CNC (trực thăng chỉ huy), nhưng đã điều động hai chiếc võ trang (gunship) bắn nghi binh và yểm trợ, rồi một mình nhào xuống bốc tôi trong lưới đạn phòng không dày đặc. Chiếc trực thăng bị nhiều vết đạn mà bọn tôi vẫn an toàn. Mặc dù nó dày dạn kinh nghiệm và bay rất tài ba, nhưng đúng là đạn đã tránh nó, như nó vẫn thường ba hoa với đám bạn bè.

Chỉ có thằng Bình là “số đẻ bọc điều”. Từ A-37 nó chuyển sang lái F-5, nhưng vẫn quanh quẩn ở Biên Hoà, rồi Cần Thơ. Nó là thằng đẹp trai và ít nói. Trước đám con gái, tôi và thằng Định thì líu lo chuyện dưới biển trên trời, còn nó chỉ ngồi cười mỉm. Có lẽ nhờ vậy, mà sau này nó âm thầm về Nha Trang và cua dính Mỵ Khê, một cô bé răng khểnh khá xinh ở trường Nữ, mà ngày xưa cả ba thằng đều quen biết, bởi đã từng thách nhau cùng đạp xe theo “tán”, sau các buổi tan trường.

Mỗi lần về Nha Trang thăm bồ, nó đều rủ tôi và Định bay về Nha Trang với nó một vài hôm. Lúc này chiến trường Tây Nguyên khá sôi động, phi đoàn Thần Tượng ở Nha Trang có một biệt đội trực thăng tăng cường cho Pleiku, mà hầu hết các chàng pilot đều là bạn thân của Định, nhờ vậy mà tôi và Định về Nha Trang dễ dàng như đi chợ. Có khi chỉ ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở chiến trường. Những lần gặp nhau, đều có mặt Mỵ Khê. Cô bé học trò trường nữ ngày xưa bây giờ đã là cô giáo. Nhưng có lẽ đi dạy học chỉ để làm kiểng, bởi cô ta là con nhà giàu. Ông bà già có mấy tiệm buôn trên đường Độc Lập. Mỵ Khê được nuông chiều, nên ngay cả chuyện bếp núc cũng không rành. Lần nào gặp nhau ở nhà nàng, bọn tôi cũng chỉ được mời một món duy nhất mà nàng rất tự hào do chính tay mình nấu : cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Cuộc tình này cũng kéo dài đến mấy năm. Không phải để tập làm sao “đừng nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng” như lời khuyên trong sách, mà vì cha mẹ Mỵ Khê rất tin vào bói toán. Tuổi tác của hai người chưa thể kết hôn.

Cuối cùng, đến mùa hè 73, thì cuộc tình dài này cũng kết thúc bằng một cái đám cưới khá linh đình ở nhà hàng La Frégate. Khách khứa lên đến trăm người.

Lần này chỉ có thằng Định được làm phụ rể, còn tôi bị loại khỏi vòng chiến bởi “xác thân đã nhuốm mùi trần tục”, một vợ mấy con, nên được thằng Bình giao cho cái chức tiếp tân, chỉ đứng mỉm cười đón khách.

Đúng là thằng Định có số đào hoa. Không biết tài tán gái thế nào mà sau đám cưới, tôi đi tìm nó khắp nơi, cuối cùng bất ngờ gặp nó ôm chặt cô bé phù dâu xinh đẹp, ngồi ngoài bờ biển. Có lẽ đúng như mấy ông bà già thường nói “lắm mối tối nằm không “, đến ngày mất nước thằng Định đào hoa nhất bọn vẫn cứ còn độc thân.

Tháng 3-75, miền Trung mất vào tay giặc, Định theo phi đoàn di tản về Nha Trang rồi Biên Hoà. Trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này nó gặp lại vợ chồng Bình. Sau một ngày với bao nhiêu phi vụ hiểm nguy, tối đến hai thằng lại bù khú mày tao mi tớ với nhau như cái thời còn đi học. Mỵ Khê, bà xã của Bình cũng vừa sinh được cô con gái đầu lòng, nên căn cư xá lúc nào cũng rộn rã tiếng cười hoà lẫn tiếng khóc của trẻ thơ. Nhờ vậy mà hai thằng phi công cũng bớt được phần nào những ưu tư lo lắng trong giờ phút lâm nguy của chính mình và đất nước.

Sau những trận đánh lẫy lừng của các đơn vị ở Long Khánh, cũng chỉ có khả năng cầm chân địch hơn một tuần. Biên Hoà bỏ ngỏ. Phi đoàn của Bình nhận lệnh đem máy bay xuống phi trường Trà Nóc tránh pháo. Bình nhờ Định đưa vợ con về Tân Sơn Nhất, cùng ở tạm trong cư xá, nhà của một thằng bạn cùng khoá, sau mấy lần bị thương, không còn khả năng phi hành nên về làm trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân.

Ngày 29.4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích liên tục. Tình hình nguy ngập, cả phi đoàn của Định chỉ còn lại vài chiếc trực thăng. Anh em trong phi đoàn ngồi lại tính chuyện bay ra hạm đội Mỹ đang chờ ngoài biển..

Trong lúc bạn bè chạy ngược xuôi tìm chỗ cho vợ con, chỉ có Định là một thân một mình nên chẳng lo lắng gì, ngoài cái tâm trạng bực tức, chán chường. Định liên lạc với Bình, báo cho biết việc phi đoàn của nó sẽ bay ra hạm đội, bảo Bình thu xếp gấp về Sài gòn để kịp đưa vợ con đi. Định bảo là nó được dành ba chỗ trên tàu, vừa đủ cho vợ chồng Bình và một đứa con nhỏ. Nhưng Bình từ chối, bảo là vùng 4 còn an toàn, phi đoàn phản lực của nó được đặt dưới quyền của tướng tư lệnh Nguyễn Khoa Nam. Bình chỉ nhờ Định lo cho vợ con nó đi cùng. Tùy tình hình nó sẽ đi sau.

Khi Định và vợ con Bình đến đảo Guam hai ngày,thì biết tin Sài Gòn thất thủ. Định đi tìm Bình khắp nơi nhưng không thấy. Người ta bảo có lẽ Bình đã bay sang Thái Lan.

Ngày tôi khăn gói đến địa điểm trình diện “học tập cải tạo” bất ngờ gặp Bình. Trong cái cảnh “nước mất nhà tan” này mà có được một người bạn thân thì cũng vơi được nỗi buồn. Nó kể là anh em trong phi đoàn không đành rời căn cứ trong lúc hai ông tướng quân đoàn vẫn còn ở lại sống chết với anh em. Sau khi hai ông tự sát, thì tình hình đã quá muộn màng, địch quân bao vây, pháo kích dữ dội vào phi trường, nên anh em chỉ còn kịp phá hủy một vài hệ thống trên phi cơ.

Ở tù chung trong trại tù An Dưỡng Biên Hòa gần một năm, khi chuyển ra ngoài Bắc mỗi thằng bị chia mỗi ngả.

 Ra tù, tôi ghé lại thăm gia đình Bình. Ông già nó qua đời, chỉ còn bà mẹ và cô em gái, nhưng nhà cửa được xây lại khang trang và cuộc sống khá sung túc so với những người khác trong vùng. Mẹ nó bảo tiền bạc do vợ Bình gởi về đều đặn. Bà còn khoe mấy tấm ảnh của vợ con Bình được phóng lớn treo trên vách.

Đúng một năm ra khỏi tù, tôi vượt biên. Trong trại tỵ nạn Bataan, bên Phi, khi chuẩn bị lên đường định cư thì nhận tin Bình được thả về. Nhưng chỉ vài tháng sau thì lại được tin nó bị bắt khi tổ chức vượt biên. Mãi đến tám năm sau nó mới lên đường sang Mỹ theo diện HO. Tôi định chờ một vài tuần để nó tạm ổn định cuộc sống và gia đình, tôi sẽ bay sang thăm vợ chồng nó và thằng Định, thì bất ngờ nhận lá thư này của nó.

 

Máy bay đáp xuống phi trường Fayetteville, North Carolina lúc 9 giờ rưởi tối. Một phi trường nhỏ ở một nơi tôi hoàn toàn xa lạ. Anh tài xế taxi người da đen chở tôi chạy lòng vòng qua những rừng thông hoang vắng càng làm đầu óc tôi căng thẳng, lúc nào cũng trong tư thế “ứng chiến” để đối phó với những điều bất trắc. Cuối cùng thì anh ta cũng tìm tới được địa chỉ nhà Bình. Trong nhà tối om. Cổng khoá chặt. Tìm chuông cửa nhưng không thấy. Tôi mở bóp tìm địa chỉ của Định, nhưng lâu nay viết thư cho tôi, Định chỉ dùng P.O.Box. Tôi hỏi anh tài xế taxi tên một motel gần nhất. Tôi viết vài chữ lên tấm giấy nhỏ, bảo Bình đến tìm tôi ở motel ấy, rồi gắn lên cửa.

Trưa hôm sau, người đến tìm tôi không phải là Bình, nhưng là ông già vợ của Bình. Tôi chỉ gặp và nói chuyện với ông vài lần trong ngày đám cưới của Bình, nhưng nhận ra ngay. Mặc dù bây giờ ông già hơn xưa, nhưng có tướng đẹp lão. Và vẫn còn hàng ria mép. Ông bảo chính Mỵ Khê nhờ ông đi đón tôi. Trên đường đưa tôi về nhà, ông cho biết là ông đang làm chủ một khách sạn nhỏ và một nhà hàng. Ở cách xa nhà vợ chồng Bình chừng hai mươi phút lái xe.

–  Tội nghiệp, vợ chồng nó đang có chuyện buồn. Chuyện phức tạp quá nên hai bác đã cố gắng hết sức nhưng không giải quyết được. Cháu là bạn bè thân, hy vọng cháu nói bọn nó nghe.

–  Cháu muốn được nói chuyện riêng với bác trưóc khi gặp vợ chồng Bình.

Tôi muốn biết rõ ràng việc gì đã xảy ra với vợ chồng Bình, để biết cách ứng xử sao cho thích hợp.

Ông già của Mỵ Khê quay xe lại, tìm đường rẽ sang một hướng khác. Hơn mười phút sau, ông dừng xe trước một nhà hàng Á châu.

– Cháu vào đây với bác. Nhà hàng này là của bác.

Ông bảo người con gái đứng trong quày mang cho tôi một phần ăn, và một tách trà cho ông, rồi kéo tôi ngồi xuống một cái bàn nằm riêng trong góc. Ông bảo tôi cứ dùng cơm tự nhiên, rồi bắt đầu tâm sự :

– Hai bác thật là buồn và khó xử, chẳng biết phải tính làm sao. Khi thằng Định đưa con Mỵ Khê, vợ thằng Bình sang Mỹ với đứa con chưa tròn một tuổi. Một thân một mình nơi xứ lạ quê người, tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ gì nó cũng trông cậy vào thằng Định. Mà Định quả là thằng chí tình với bạn bè, Nó hết lòng lo lắng cho vợ con thằng Bình, mê chuyện học hành mà đành phải bỏ, đi làm hai ba ca để vừa có đủ tiền lo cho mẹ con Mỵ Khê, mà còn gởi về Việt Nam giúp gia đình thằng Bình sau tháng 4/75 trải qua bao năm túng quần. Rồi cũng chính nhờ thằng Định giúp việc bảo lãnh gia đình bác từ Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với mẹ con Mỵ Khê. Nhưng rồi tất cả cũng vì Bác mà gây nên cớ sự. Trước khi rời Việt Nam, hai bác có ra chào vợ chồng anh chị sui gia, là ba má của thằng Bình. Ông bà khóc lóc kể cho bác biết là có tin do vợ một người bạn cùng tù với Bình vừa ra thăm chồng ngoài Bắc về, bảo là Bình đã bị bắn chết trong một lần trốn trại với mấy người bạn tù khác nữa ở biên giới Lào. Chính vì vậy mà hai bác khuyên con Mỵ Khê nên tiếp nối với Định, bởi bao nhiêu năm nay nó đã hy sinh ở vậy để tận tình lo lắng cho mẹ con Mỵ Khê, và cháu Lina, con của Bình cũng xem Định như là cha của nó. Hai bác tâm tình khuyên mãi, tụi nó mới làm đám cưới. Sống với nhau hơn mười năm, tụi nó có hai đứa con, thì mới nhận được tin là thằng Bình vẫn còn sống, chỉ bị thương nhẹ, rồi đem đi biệt giam ở một trại tù nào khác, không ai biết. Từ ngày ấy thằng Định buồn ghê lắm và lúc nào cũng ngồi thơ thẩn một mình. Nó giấu việc này không dám nói với thằng Bình, và cũng chính nó phụ với hai Bác gởi tiền về giúp đỡ gia đình Bình và lo cho Bình sang Mỹ theo diện HO.

Tôi đưa tay xin ngưng lời bác.

–  Bây giờ thằng Định đang ở đâu thưa Bác ?

– Trước ngày thằng Bình sang đây, thằng Định mang hai đứa con của nó với  Mỵ Khê sang đây nhờ hai bác mướn người giữ hộ, rồi “mu” qua Hawaii. Con Mỵ Khê khóc lóc, bảo nó cứ ở lại đây, khi nào thằng Bình sang Mỵ Khê sẽ nói chuyện với thằng Bình, thằng Bình sẽ hiểu được bao điều khúc mắc và chắc sẽ không buồn. Hai bác cũng giải thích cho nó biết, dù sao thằng Bình với con Mỵ Khê cũng đã xa cách quá lâu, và sự việc xảy ra là do bao nhiêu nghịch cảnh đẩy đưa, chứ Định là một thằng tốt bụng, hết lòng chung thủy với bạn bè. Hai bác cũng sẽ nhận trách nhiệm này trước mặt thằng Bình, khi nó tới đây.

–  Rồi cuối cùng ra sao, thưa Bác ?

–  Vợ chồng bác khuyên giải suốt cả mấy ngày liền, nhưng nó vẫn không nghe, nó xin lỗi hai bác và con Mỵ Khê, rồi nhờ bác trao lại cho thằng Bình một lá thư. Nó xin được phép dán lá thư lại nên hai bác cũng chẳng biết nó viết cái gì trong đó. Khi đến Hawaii, nó có gọi phôn về cho bác, bảo đang chạy taxi với một thằng bạn cũ. Chút nữa bác sẽ cho cháu số phôn của nó, để cháu liên lạc khuyên giải nó hộ bác.

Bác chở tôi lại trước nhà vợ chồng Bình, bỏ tôi trước cửa, chỉ tôi cái chuông điện nằm kín phía bên trong cánh cửa, rồi lái xe về. Bác bảo là để đám trẻ bọn tôi gặp nhau sẽ được tự nhiên hơn.

Người ra mở cửa là Mỵ Khê. Vừa nhận ra tôi, Mỵ Khê nắm chặt tay tôi, nhoẻn miệng cười, nhưng lại bật khóc ngay sau đó. Mỵ Khê đưa tôi vào nhà, chỉ cho tôi nơi Bình ở, căn nhà sau, chung vách với gara xe. Tôi gõ mấy lần, cửa mới mở.

Sau bao nhiêu năm hai thằng bạn thân từ thời nối khố gặp lại nhau, nhưng đều không vui, ôm lấy nhau mà lòng dạ bùi ngùi.

Suốt đêm hôm ấy tôi ở trong phòng Bình, nhưng hai thằng không ngủ, nằm tâm sự thâu đêm.

Tôi chưa  biết phải nói điều gì với Bình, thì Bình mở đầu tâm sự.

–  Khi biết việc này, tao có bất ngờ, và dĩ nhiên cũng buồn ghê lắm. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, tao lấy lại được sự bình thản, và nghĩ là Mỵ Khê đã thuộc về Định, và hai người rất xứng đáng trong tình yêu, trong cuộc hôn nhân mới này. Tao phải cám ơn thằng Định, đã hết lòng cưu mang vợ con tao và cho Mỵ Khê một gia đình hạnh phúc, một chỗ dựa vững chắc trên xứ lạ quê người. Hơn nữa tao và Mỵ Khê xa cách khá lâu, trong lúc nàng đã hội nhập vào xã hội Mỹ này từ lâu rồi, còn tao bây giờ cũng đã già, lại là một thằng quê mùa, bệnh hoạn, mà vết thương trên thân xác cũng như trong lòng tao vẫn chưa lành được.Tao tự biết mình thực tình không còn thích hợp, không còn xứng với nàng. Tao cũng đã tâm tình với Mỵ Khê và điện thoại cho thằng Định, nói hết nỗi lòng. Mong nó trở về đây. Cháu Lina, con gái của tao cũng nhớ nó mà khóc cả ngày. Tao hiểu, con bé còn xa lạ với tao lắm. Mà nó xa lạ là phải. Không dễ dàng gì cho một cô con gái đã hơn 20, không hề biết mặt cha từ lúc mới năm tháng tuổi, bây giờ phải chấp nhận một ông cha bất ngờ từ trên trời rơi xuống

– Thế rồi vợ mày và thằng Định tính sao ?

– Mỵ Khê thì chỉ khóc và im lặng, còn thằng Định thì nhất quyết trả Mỵ Khê lại cho tao. Nó còn bảo là nó nhớ tao lắm, nhưng không muốn gặp tao.

–   Bây giờ mày tính sao ? Tao sẽ giúp được gì cho tụi mày ?

–   Tao nhờ mày. Chỉ có mày có thể giúp tao trong lúc này. Mày đưa tao qua Hawaii gặp thằng Định và tâm tình giải thích để nó trở về với vợ con tao.

–   Còn mày thì sao ?

–   Tao một thân một mình. Nếu mày kéo tao sang Nauy ở với mày là phúc cho tao. Có mày tao sẽ dễ quên bao nhiêu chuyện đau lòng. Còn nếu không được thì tao lang thang đâu cũng được. Lâu lâu kiếm được tiền tao lại ghé về đây thăm cháu Lina, cho dù  trong lòng nó, có lẽ tao chưa hề là cha của nó.

 Ba thằng bọn tôi lại gặp nhau, qua bao nhiêu năm chia cách cùng những dông tố trong đời. Ôm nhau mừng rỡ mà sao nghẹn ngào, không ai nói nên lời, chỉ có nước mắt chảy dài trên má. Ngày xưa, thằng Định là đứa ba hoa, khôi hài nhất trong bọn, vậy mà cũng không mở miệng để nói một lời, dù chỉ là một chữ hello, mà nó đã thường xài từ lúc còn ở Việt nam, mỗi khi gặp bạn bè.

Không biết lúc này trong đầu hai thằng bạn đang nghĩ điều gì. Riêng tôi đang hình dung tới cuộc chiến bi thảm mà kẻ chiến thắng lại là những con người tàn ác nhất đã tạo nên bao chia ly tan tác.

 Norway 

Sáng nay, chủ nhật, mùa đông Bắc Âu khá lạnh. Tôi thức giấc đã lâu nhưng còn đang trùm chăn nằm nán trên giường thì nghe điện thoại reo. Bốc ống nghe chưa kịp hỏi là ai, thì nghe bên kia đầu giây giọng nói quen thuộc của thằng Định :

–   Hello! Ninh ơi. Có thằng Bình đây, nó muốn nói chuyện với mày.

Tôi nghe giọng nói yếu ớt nhưng rất vui của Bình :

–  Bình đây. Gọi thăm vợ chồng mày và báo cho mày một tin vui. Tao đang ở nhà vợ chồng thằng Định đây. Vừa từ bệnh viện về. Vợ chồng Định lên tận Houston tìm thăm tao, báo tin cháu Lina bị bệnh rất nặng cần phải thay gấp một quả thận. Bác sĩ cho biết cách tốt nhất là lấy thận của nguời cùng huyết thống, nên tao theo Định và Mỵ Khê bay xuống North Carolina ngay để kịp thời lo cho cháu. Bác sĩ bên này giỏi thật. Mọi việc tiến hành nhanh chóng. Bây giờ đã xong xuôi. Cháu Lina cũng đã khỏe lại. Đáng lẽ tao đã về lại Houston, vì tao vừa mới mở cái tiệm giặt ủi, do vợ chồng thằng Định giúp vốn, vợ chồng nó cũng vừa mua cho tao một ngôi nhà nhỏ, ở bên cạnh hai thằng bạn cùng phi đoàn với tao ngày trước, nhưng vợ chồng nó nhất định giữ tao lại. Cả cháu Lina nữa. Nó cũng muốn có nhiều thời gian để tâm tình với cha của  nó. Mày cố gắng bay sang đây với tụi tao cho vui.

Chưa kịp trả lời, tôi lại nghe giọng nói của đàn bà :

–  Ông bà qua đây để tôi còn đãi món cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Tôi nghe những tiếng cười khúc khích, rồi giọng đùa nghịch của thằng Định xen vào :

–  Hello, Ninh ! Mỵ Khê bây giờ nấu ăn nghề lắm đó, biết nấu cả cháo trắng tới bảy món. Vợ chồng mày nhớ bay qua sớm, không thì mất phần đó nghe chưa.

 

Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ. Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện  chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.

 

Kim Kỳ st

 

Xem thêm...

Truyện ngắn: TÌNH YÊU của Guy de Maupassant

TÌNH YÊU

Truyện ngắn của Guy de Maupassant

Hình Internet

Tôi vừa mới đọc trong mục tin vặt trên báo một bi kịch tình yêu say đắm. Chàng đã giết nàng rồi tự sát, nghĩa là đã yêu nàng. Chàng với Nàng thì có gì quan trọng? Chỉ có tình yêu của họ mới đáng cho tôi quan tâm, mà chẳng phải là vì tình yêu đó làm cho tôi mủi lòng hay ngạc nhiên, làm tôi xúc động hay suy nghĩ, lý do chỉ vì nó nhắc lại cho tôi một kỷ niệm thời trai trẻ, một kỷ niệm lạ kỳ về một chuyến đi săn, dịp này tình yêu đã hiển hiện với tôi như những thập tự hiển hiện giữa trời với những tín đồ Cơ đốc giáo đầu tiên.

Tôi sinh ra với tất cả bản năng và cảm giác của người sơ khai, được tiết chế bởi lý luận và cảm xúc của người văn minh. Tôi thích săn bắn đến độ đam mê; và hình ảnh con thú đầy máu me, máu dây trên lông, máu dính tay tôi, khiến tim tôi ngây ngất.

Năm đó, vào độ cuối thu, khí lạnh chợt về đột ngột, Karl de Rauville, một trong những người anh họ của tôi, cho gọi tôi tới để cùng anh săn vịt trời trong đầm lầy, lúc rạng sáng. Anh họ tôi trạc tứ tuần, vui tính, tóc hung, rất khoẻ mạnh, râu rậm, người quý phái ở nông thôn, hơi thô thiển mà dễ thương, bản tính vui vẻ, sẵn có tinh thần tự do phóng khoáng khiến việc tầm thường hoá thành dễ chịu, anh sống trong một kiểu lâu đài nông trại ở vùng thung lũng có con sông chảy qua. Những cánh rừng bao quanh đồi, bên trái và bên phải, kiểu rừng của lãnh chúa xưa, nơi còn lại nhiều cây tuyệt đẹp và cũng là nơi còn thấy được những loài chim quý hiếm nhất của khắp vùng này trên đất Pháp. Đôi khi ở đây người ta còn giết được cả đại bàng, và những con chim thiên di, những con hầu như chẳng bao giờ ghé đến những vùng quá đông người của chúng ta, đậu lại gần như chẳng thay đổi trên những cành cây già cỗi như thể chúng đã biết hay nhận ra lại góc rừng nhỏ này, vốn có ở đó từ xưa sẵn cho chúng trú ẩn trong khoảng thời gian nghỉ chân ngắn ngủi về đêm này.

Trong thung lũng là những đồng cỏ lớn tưới bởi những mương nước và có hàng rào ngăn cách. Phía xa hơn là con sông, dồn nước về tận đây rồi toả ra thành một đầm lầy rộng. Cái đầm này, khu vực săn bắn tuyệt nhất tôi từng biết, đã được anh họ tôi bỏ công sức giữ gìn như một bãi săn. Băng qua một đám lau sậy rộng lớn phủ tràn bãi này, khiến cho nó sinh động, rì rào, xao xác, người ta đã vạch ra những lối đi hẹp cho những con thuyền đáy phẳng điều khiển bằng sào, trôi đi lặng lẽ trên mặt nước lặng lờ, lướt qua đám song mây, xua bầy cá vụt lội qua lớp cỏ và đuổi lũ gà rừng cắm đầu đen nhọn xuống rồi đột ngột lủi mất.

Tôi yêu sông nước bằng một đam mê không chừng mực: yêu biển, tuy quá rộng và luôn luân chuyển, không thể sở hữu được, yêu sông đẹp đến thế, nhưng lại qua đi, trôi đi, chảy đi, và yêu nhất là đầm lầy nơi rộn ràng cuộc sống đầy bí ẩn của bao loài vật thuỷ cư. Đầm lầy là một thế giới trọn vẹn trên mặt đất, một thế giới khác, có đời sống riêng, có cư dân riêng, lại có những khách lãng du, có tiếng nói, âm thanh và bí mật của nó nữa. Đôi lúc, chẳng có gì gây bối rối, lo âu, hoảng sợ, hơn là bãi đầm lầy. Tại sao nỗi sợ này lại bay lượn trên những đồng cỏ ngập nước? Phải chăng là do những tiếng rì rào mơ hồ của lau sậy, những đốm lửa ma trơi lạ lùng, sự im lặng tột cùng bao trùm đêm thanh vắng, hay là lớp sương mù kỳ dị kéo phủ trên đám song mây như những chiếc áo của người chết, hoặc giả là tiếng bập bềnh thoáng qua, nhỏ thôi, êm thôi, mà lại gây kinh hoàng hơn tiếng đại bác của loài người hay tiếng sấm rền của đất trời, tất cả khiến đầm lầy trông giống như những xứ sở trong mơ, những xứ sở đáng sợ ẩn chứa một bí mật không nhận biết được và đầy hiểm nguy.

Hình Internet

Không. Có một thứ khác toả ra, một bí mật khác sâu kín hơn, nặng nề hơn, bập bềnh trong lớp sương mù dày đặc, có lẽ là sự bí mật của chính sự khai sáng! Bởi lẽ chẳng phải là chính trong bùn lầy nước đọng, trong ẩm thấp nặng nề của vùng đất đẫm ướt dưới ánh nắng mà mầm sống đầu tiên đã cựa quậy, đã rung rinh, đã chào đời hay sao?

Tôi đến nhà anh họ vào buổi tối. Trời giá lạnh đến đá cũng nứt nẻ.
Khi ăn tối, trong căn phòng rộng mà tủ buýp phê, tường và trần nhà đều đầy cả những con chim nhồi, căng ra với đôi cánh rộng, hoặc đậu trên những cành móc vào những cái đinh, diều hâu, diệc, cú vọ, cú muỗi, chim ưng, chim diều mốc, kền kền, chim cắt, anh họ tôi giống như một con vật lạ kỳ của xứ lạnh, khoác chiếc áo cánh bằng da hải cẩu, kể cho tôi nghe anh đã chuẩn bị thế nào cho cuộc săn đêm nay. 

Chúng tôi phải ra đi lúc 3 giờ rưỡi sáng để vào khoảng 4 rưỡi có thể đến điểm đã chọn để mai phục. Ở chỗ đó, người ta đã xây một cái lều với những tảng băng để chúng tôi núp tránh phần nào cơn gió khủng khiếp khi trời sắp sáng, thứ gió mang theo cơn lạnh xẻ da như lưỡi cưa, cắt da như dao, chích như kim tẩm thuốc độc, vặn xoắn như kìm, và đốt cháy như lửa.

Anh họ tôi xát hai bàn tay vào nhau: " Anh chưa bao giờ thấy giá lạnh như thế này, anh nói, mới sáu giờ chiều mà đã mười hai độ âm." Ăn xong là tôi lăn vào giường và thiếp ngủ dưới ánh sáng ngọn lửa lớn cháy trong lò sưởi.

Đúng ba giờ tôi được đánh thức. Tôi khoác lên người mảnh da cừu và thấy anh Karl phủ bộ lông gấu. Sau khi uống mỗi người hai tách cà phê nóng hổi kèm theo hai ly sâm banh hảo hạng, chúng tôi lên đường cùng người phụ việc và hai con chó là Plongeon và Pierot.

Mới ra ngoài được vài bước, tôi đã thấy lạnh thấu xương. Đó là một trong những đêm mà mặt đất dường như chết cóng vì lạnh. Không khí đóng băng khó chịu đến mức trở nên cứng, sờ thấy được; không một làn gió nào lay động, khí trời đông cứng, bất động, nó cắn, đâm ngang, làm héo, giết chết cây to, cây nhỏ, côn trùng, cả những con chim nhỏ rơi từ trên cành xuống mặt đất cứng, rồi chim cũng bị giá lạnh ghì siết mà thành cứng ngắt luôn.

Trăng hạ tuần chếch hẳn về một phía, thật nhợt nhạt, có vẻ như khuyết hẳn đi giữa không trung, yếu ớt đến nỗi không lặn đi được, cứ ở mãi trên cao đó, bị bầu trời khắc nghiệt tóm lấy và làm cho tê cóng. Trăng toả một thứ ánh sáng khô khốc và buồn bã xuống trần gian, ánh sáng lờ đờ, nhợt nhạt của mặt trăng vào cuối chu kỳ trăng mỗi tháng.

Karl và tôi đi cạnh nhau, lưng khom xuống, tay thọc vào túi, súng kẹp dưới nách. Những đôi giày có bọc len để khỏi trượt chân khi đi trên dòng sông băng không gây ra tiếng động. Tôi nhìn làn khói trắng do mấy con chó thở phì ra. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã đến mép đầm lầy và đi vào một trong những con đường đầy lau sậy khô dẫn tới cánh rừng thấp.

Khuỷu tay chúng tôi, chạm vào những dải lá dài, để lại phía sau một âm thanh nhỏ. Tôi cảm thấy một mối cảm xúc mãnh liệt và lạ kỳ, như tôi chưa bao giờ thấy, do đầm lầy gây ra nơi tôi. Nó đã chết, cái đầm lầy ấy, chết vì giá lạnh, bởi vì chúng tôi đã bước lên trên, giữa những đám song mây khô queo của nó.

Hình Internet

Đột nhiên, nơi khúc ngoặt đường đi, tôi nhìn thấy cái lều băng được dựng sẵn cho chúng tôi vào ẩn núp. Tôi bước vào, và vì chúng tôi còn gần một tiếng đồng hồ chờ cho những con chim lang thang thức giấc, tôi cuộn mình trong tấm chăn để cố sưởi ấm.

Lúc này, nằm ngả lưng, tôi bắt đầu ngắm nhìn mặt trăng biến dạng, với bốn cái sừng xuyên qua những bức vách trong suốt của căn nhà băng này.

Nhưng cái lạnh của đầm lầy đóng băng, cái lạnh của những bức tường, cơn lạnh từ trên trời ập xuống nhanh chóng thấm vào tôi một cách khủng khiếp khiến tôi bật cơn ho.
Anh họ tôi tỏ ra lo lắng: " Nếu hôm nay không giết được gì nhiều cũng chẳng sao cả, anh nói, anh không muốn chú bị cảm lạnh, chúng ta sẽ đốt lửa." Rồi anh bảo người phụ việc đi chặt lau sậy.

Lau sậy đem về chất thành đống để ngay giữa căn lều đã khơi thông trên chóp để khói thoát ra; khi ngọn lửa hồng bốc lên dọc theo các vách ngăn trong suốt, chúng tan chảy từ từ, nhẹ nhàng, như thể những tảng đá băng đổ mồ hôi vậy. Karl vẫn đứng bên ngoài, gọi tôi: " Chú đến xem này! " Tôi bước ra và kinh ngạc tột cùng. Căn lều của chúng tôi, dạng hình nón, trông như viên kim cương quái dị nằm trong đống lửa bất ngờ bị đẩy ra giữa mặt nước đóng băng của đầm lầy. Và bên trong, có thể nhìn thấy hai hình thù mờ ảo, là hai con chó của chúng tôi đang nằm sưởi ấm.

Nhưng một tiếng kêu kỳ lạ, tiếng kêu thảng thốt, tiếng kêu lạc lõng vang trên đầu chúng tôi. Ánh sáng lờ mờ từ ngọn lửa sưởi nóng đã đánh thức lũ chim hoang dã.

Không có gì làm tôi xúc động bằng tiếng la ó đầu tiên của sự sống này, tuy không nhìn thấy nhưng trong bóng tối, nó lan truyền thật nhanh, thật xa, trước khi những tia sáng đầu tiên của ngày mùa đông ló dạng nơi chân trời. Vào giờ khắc lạnh giá này của buổi rạng đông, tôi tưởng chừng tiếng kêu trốn chạy này của con vật có lông vũ là tiếng thở dài của con người.

Karl nói: " Dập lửa đi. Rạng đông rồi." 
Quả thật trời bắt đầu chuyển sang màu tai tái, và từng bầy vịt trời kéo trên bầu trời những vệt dài di chuyển nhanh, rồi sớm bị xoá nhoà.
Một vệt sáng loé lên trong màn đêm, Karl vừa nổ súng, hai con chó lao đi như tên bắn.

Thế là, từng phút một, hoặc anh ấy, hoặc là tôi, chúng tôi nhanh nhẹn nhắm bắn ngay khi trên đám lau sậy hiện ra bóng dáng đàn vật bay. Và Pierrot cùng Plongeon, hụt hơi và vui vẻ, mang về cho chúng tôi những con thú dính máu mà đôi lúc mắt vẫn còn nhìn chúng tôi.

Ngày đã lên, một ngày trong xanh, mặt trời mọc phía cuối thung lũng, chúng tôi tính sẽ bỏ đi, đúng lúc hai con chim, cổ vươn dài, cánh giăng thẳng, bất ngờ xẹt qua trên đầu chúng tôi. Tôi nã súng. Một trong hai con rớt xuống gần ngay chân tôi. Đó là con le le bụng bạc. Thế rồi, trong khoảng không gian ngay trên đầu tôi, nghe có tiếng, tiếng chim kêu lên. Tiếng kêu than ngắn, lặp đi lặp lại, não lòng, và con vật, con vật bé nhỏ thoát được cứ quay tròn trên bầu trời xanh trên đầu chúng tôi mà nhìn xuống chim bạn đã chết tôi đang nắm trong tay.

Karl, quỳ gối, tì súng vào vai, mắt háo hức, rình chờ con chim bay đến gần.
" Chú đã hạ con mái, anh nói, con trống sẽ không rời nó đâu."

Thực vậy, nó không bay đi, mà cứ quay vòng và khóc than chung quanh chúng tôi. Chưa bao giờ tiếng kêu than bi thương lại dày vò tâm can tôi như tiếng kêu đau buồn, như lời oán trách thảm thiết của con vật tội nghiệp lạc lõng trong không trung.

Thỉnh thoảng nó bay xa đi dưới họng súng theo dõi nó đe doạ, có vẻ như nó vẫn sẵn sàng tiếp tục hành trình, chỉ một mình trên trời xanh. Nhưng rồi không cương quyết, nó lại bay trở về tìm con mái của mình.
" Chú để bạn nó xuống đất đi, Karl bảo tôi, lát sau nó sẽ tới gần."

Nó tới gần thật, không bận tâm đến nguy hiểm, hốt hoảng với tình yêu loài vật, tình yêu dành cho con vật mà tôi đã giết.

Karl bấm cò, như người ta cắt sợi chỉ treo giữ con chim vậy thôi. Tôi nhìn thấy một vật đen rơi xuống, tôi nghe tiếng rơi trong đám lau sậy. Và Pierrot mang nó lại cho tôi.

Tôi để cả hai đã lạnh ngắt trong cùng chiếc túi săn... và tôi lên đường trở về Paris ngay hôm đó.
..............

7 décembre 1886.




THÂN TRỌNG SƠN
dịch từ nguyên bản tiếng Pháp
Amour 

Kim Kỳ st

Xem thêm...
Theo dõi RSS này