Truyện

Truyện (319)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện Ngắn: Tiếng chuông xưa

Tiếng chuông xưa

Truyện ngắn của 

Hwang Sun-won (Hàn Quốc)

ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM:

 Hwang Sun-won (1915 – 2000) là một trong những nhà văn Hàn Quốc nổi tiếng  nhất thế kỷ XX. Ông sinh ra gần Bình Nhưỡng dưới thời kỳ thuộc Nhật. Khi bán đảo Triều Tiên bị chia cắt, ông cùng gia đình di cư xuống miền nam, sau đó giảng dạy môn Văn học Hàn Quốc tại trường Đại học Kyung Hee ở Seoul.Hwang Sun-won có một sự nghiệp văn chương đồ sộ kéo dài tới hơn 7 thập kỷ. các tác phẩm của ông xây dựng nên nhiều tầng lớp nhân vật đa dạng trong xã hội tranh tối tranh sáng, thấm đẫm chủ nghĩa nhân đạo trữ tình mà không ủy mị.
Hwang Sun-won có một sự nghiệp văn chương đồ sộ kéo dài tới hơn 7 thập kỷ. các tác phẩm của ông xây dựng nên nhiều tầng lớp nhân vật đa dạng trong xã hội tranh tối tranh sáng, thấm đẫm chủ nghĩa nhân đạo trữ tình mà không ủy mị. Ông đã viết nhiều tập thơ, tám tiểu thuyết và đặc biệt xuất sắc ở thể loại truyện ngắn với hơn 100 truyện. Bằng cách sử dụng nhuần nhuyễn phương ngữ, trí tưởng tượng sống động, bút pháp tự sự khéo léo kết hợp với phông kiến thức sâu rộng về văn hóa thôn quê lẫn thành thị,
Truyện ngắn “Tiếng chuông xưa” (Sori Kurumja) viết vào tháng 1.1965, nằm trong tuyển tập truyện ngắn “Mặt nạ” (T’al) xuất bản năm 1976. Với không gian đầy hoài niệm, phủ ngập những tiếng chuông ngân vang êm đềm, tác phẩm đã vẽ nên một tình bạn đẹp đẽ trong vắt. Bên cạnh đó, bằng bút pháp miêu tả tâm lý đặc sắc, tác giả đã chuyển tải nhiều ánh ảm về thân phận bất hạnh cũng như khao khát của những con người bị đẩy ra ngoài lề xã hội trong thời kỳ đầu Hàn Quốc bước vào hiện đại hóa.
 
1
Hai cậu bé đang đánh chuông. Thực ra, người kéo chuông nhà thờ là cha của một trong hai đứa bé kia, ông đang ngồi kéo sợi dây chuông, trong khi những đứa trẻ cũng đong đưa những cánh tay và uốn éo cơ thể chúng theo người lớn. Nói đơn giản, chúng chỉ túm lấy phần cuối sợi dây mà thôi. Vậy nhưng, cả hai đều vô cùng phấn chấn và tự hào như thể chúng đang tự mình rung chiếc chuông vậy.
Có một giai điệu lạ kỳ ngân lên trong khoảng giữa tiếng lanh lảnh khi kéo dây và tiếng vang rền khi buông dây. Giai điệu đó cũng vang lên trong khoảng nghỉ khá dài trước tiếng vang kế tiếp. Nó cứ lặp đi lặp lại tạo ra một âm hưởng ngân nga hòa cùng giai điệu của chuông nhà thờ.
Cái tháp chuông cũ kỹ có hai cột đỡ bằng gỗ thông cao và thẳng đứng, đối diện nhau. Chiếc chuông treo lơ lửng giữa một thanh xà bắc ngang trên đỉnh mấy cái cột trụ. Và bên trên, mái ngói bằng thiếc nhọn đã hoen gỉ, bạc màu trông hệt như một cái phễu bị lật úp. Cả ngọn tháp thường rung lên khi chuông ngân.
Sợi dây chuông luôn được buộc phía trên cao của cột trụ mà chỉ có người lớn nhón chân mới có thể với tới. Điều này nhằm tránh cho những đứa trẻ trong làng khỏi nghịch phá. Tuy nhiên, cũng có những cậu bé tinh ranh trèo lên, gỡ sợi dây và kéo xuống để rung cái chuông. Thế nhưng, những giáo dân không dễ bị lừa, họ biết rõ giai điệu của chiếc chuông nếu có ai đó đang đùa cợt tai quái. Tuy nhiên, có những ngày, người kéo chuông theo lệ thường có việc đi đâu đó một chốc và vị linh mục phải tự mình đánh cái chuông. Nhưng dù ông tự đánh chuông, những người khác cũng sẽ lại nghĩ là mấy đứa trẻ ranh, đã vậy lại không kịp giờ làm lễ. Thế là vị linh mục buộc phải cậy nhờ hai cậu bé thế chỗ người kéo chuông khi ông đi khỏi.
 
Hình minh họa

2
Tôi đã nhận được tin báo rằng người bạn thời thơ ấu của tôi là Songil vừa qua đời. Khi tôi hồi tưởng lại những ký ức về người bạn cũ, mò mẫm xuyên qua dòng thời gian hơn bốn mươi năm giờ đã quay trở lại, bất chợt trong ngực tôi bỗng vang lên tiếng vọng hấp hối từ chiếc chuông đó. Có một sự việc xảy ra đã làm đứt quãng sự ngân vang của chiếc chuông quá khứ.
Lần đó, vào một tối thứ tư hay chủ nhật, vì lý do nào đó, chúng tôi, hai đứa con trai lại đến đánh chuông thế chỗ cho cha Songil. Hai đứa tôi kéo dây chuông, nhưng không vang lên âm thanh nào vì quả lắc đã bị cột vào xà ngang. Rõ ràng ai đó đã bày trò trêu chọc tinh quái. Thế là hai chúng cố gắng tìm cách mang đến một cái thang rồi tựa nó vào cột trụ để leo lên tháp. Sau đó Songil trèo lên tháo quả lắc ra. Khi đã leo tới đỉnh tháp cậu bèn ra một điệu bộ đầy hăng hái ra hiệu cho tôi trèo lên theo. Tôi vẫn thường tự hỏi điều gì đã xảy ra khi đó.
 
Xa xa bên ngoài tháp chuông, băng qua khoảng đất trống, là ngôi nhà của một người đàn ông đứng tuổi được bao quanh bởi một bức tường đá. Tôi trèo lên quả chuông và nhìn qua bức tường nơi tay Songgil đang chỉ. Ở đó, phía dưới cây mơ đang nở hoa đằng sau khu vườn mà những cái bóng của buổi chiều tà chập choạng đã buông xuống, chúng tôi có thể trông thấy hai con chó đã bị xích tựa lưng vào nhau. Một con là chó Bắc Kinh và con kia lớn hơn con chó Bắc Kinh gấp mấy lần mà tôi chưa bao giờ thấy trước đó. Con chó lạ đang đi về phía trước, thế là con chó Bắc Kinh bị kéo theo sau. Hai chân sau của nó không thể giữ trên mặt đất. Bọn tôi liền phát ra những tràng cười khúc khích. Con chó Bắc Kinh này là một con chó xấu tính. Mặc dù chúng tôi lúc nào cũng thấy nó và nó cũng biết chúng tôi nhưng lần nào cả hai đứa đi ngang qua trước ngôi nhà, nó cũng chạy ra sủa ăng ẳng dai dẳng và rượt theo chúng tôi. Nếu chúng tôi ra cử chỉ vờ như đang tìm một hòn đá để ném nó, nó sẽ chạy ra xa, nhưng lại sủa và rượt cả hai khi chúng tôi quay về. Thế mà lúc này, nó chẳng thể giữ hai chân sau trên đất và bị kéo lê một cách vô vọng theo sau. Cảnh tưởng khôi hài đến nỗi chung tôi không thể nhịn cười.

Bất ngờ chúng tôi nghe một tiếng quát tháo từ bên dưới. Người đàn ông đứng tuổi đã đến dưới chân tháp chuông và nhìn lên trừng trừng đầy giận dữ. Trước khi kịp nhận ra điều mình đang làm, tôi đã vòng hai cánh tay quanh cột trụ và trượt xuống. Tiếp đó ông ta dịch chuyển cái thang, thế là Songil bèn nhảy xuống từ trên cao. Nếu như tôi chỉ bị những mảnh dằm vụn từ cột trụ bằng gỗ thông đâm vào đôi bàn tay và hai cánh tay thì Songil đã gặp tai họa vì cú nhảy của mình: cậu ấy đã bị gù. Một thời gian sau đó gia đình tôi chuyển đến Kwangju. Lúc đó tôi chín tuổi.
Tôi không có một nơi chốn mà người khác trìu mến gọi là quê hương. Cho đến hồi sáu tuổi, tôi đã sống ở những nơi mà ký ức chẳng còn lưu giữ lại chút ấn tượng nào. Tiếp đó, tôi đến sống trong một ngôi làng nơi có Songil ở cho đến khi lên chín. Thế rồi tôi lại chuyển đến những vùng như Kwangju, Yongin và Paju trước khi định cư tại Seoul cho đến giờ. Tôi thì chẳng làm gì nhưng phải di chuyển đây đó theo cha tôi vì ông là một giáo viên tiểu học.

Nếu như cụm từ “người kéo chuông nhà thờ” không được viết sau tên Songil trên tin báo tử, tôi đã không nhận ra đó là ai.
Trong hơn bốn mươi năm có lẻ, chúng tôi thậm chí đã chẳng trao đổi thư từ với nhau, lại càng ít gặp nhau. Làm sao Songil nhớ được tôi?
Ngôi làng nơi Songil đã sống nằm cạnh con đường quốc lộ, độ nửa đường từ Suwon đến Inchon. Những hồi tưởng về cái thời khi tôi mới chỉ là đứa bé chín tuổi là cái gì đó tôi không thể hoàn toàn hiểu thấu. Hơn bốn mươi năm thay đổi đã cho tôi ấn tượng rằng nơi đây đã trở thành một ngôi làng hoàn toàn khác. Thậm chí đã có những ngọn đèn điện được mắc ở nơi mà trước đây chưa có ai sinh sống. Một cửa hàng tạp hóa, một tiệm gốm, một hiệu thuốc và một cửa hiệu cắt tóc, tất cả nằm trên con đường chính, thế nên giờ đây chính xác hơn phải gọi nó là một thị trấn nhỏ. Có lẽ những người lính đóng quân trên những vùng ngoại ô đã mang đến nhiều thay đổi cho ngôi làng.
Ngôi trường tiểu học nằm bên kia đường. Trước đây nó chỉ là một khu nhà cất bằng ván che, giờ đã được xây lại bằng xi măng. Tôi quay xuống con đường bên cạnh sân chơi. Mặt đất đang ngập ngụa bởi trận tuyết của ngày hôm trước và đã bị giẫm đạp bởi mọi vết chân nên chẳng còn thấy được màu đỏ quạch như lệ thường.

Tất nhiên tháp chuông giờ cũng khác. Nó đứng bên cạnh nhà thờ. Một dấu thập gắn với  cột thu lôi dựng tại đỉnh của nóc nhọn, tạc thành một đường rõ rệt giữa bầu trời đông trong veo. Tuy nhiên, cảnh tượng này chẳng mang lại cho tôi chút hồi ức nào. Tôi không đi dọc con đường này để dò dẫm tìm kiếm những hồi tưởng hay nỗi hoài hương. Ở đây, tôi chỉ đơn thuần để những kỷ niệm tự mình thức giấc.
Phía bên trong bức tường ngoài nhà thờ là nhà dòng của vị linh mục. Hồi trước nóc nhà lợp lá, nhưng giờ đã được lát ngói. Vị linh mục già hẳn đã là một thợ câu cá giỏi, bất kỳ khi nào rảnh rỗi, ông không ra ngoài thăm gia đình của các giáo dân mà thay vào đó lại cầm lưới cá trong tay và đi xuống con suối phía trước làng. Thế nên những người lớn trong làng thường gọi ông là Ngài Thợ Câu.
Vị linh mục hiện giờ còn rất trẻ. Ông nhìn chỉ xấp xỉ chừng ba mươi tuổi. Ngay khi biết tôi là ai, ông cho hay đám tang đã được tiến hành từ vài ngày trước. Ông cũng kể cho tôi nghe rằng trước khi chết Songil đã nhờ ông chắc chắn phải báo cho tôi hay về cái chết của anh ấy và nhấn mạnh rằng anh ấy muốn được nhắc đến với danh xưng là người kéo chuông nhà thờ.
Sự trở về của tôi không còn giúp được gì cho đám tang. Tin báo đã được gửi đến trường tôi, nhưng lúc đó trường đã nghỉ giữa niên khóa, thế là mười ngày đã trôi qua trước khi tin báo đi lòng vòng mới đến tay tôi.
Hình minh họa
3
Tôi hỏi vị linh mục trẻ nơi gia đình Songil sống. Đó là mục đích chính tôi dự định tiếp theo. Người bạn thời thơ ấu, đã mất tích trong dòng chảy của cuộc đời hơn bốn mươi năm, người bạn mà tôi đã chơi đùa thân thiết hồi còn là cậu bé trong suốt hai, ba năm. Anh ấy thậm chí còn biết nơi làm việc hiện tại của tôi. Một cảm giác không thể tả được khi tôi biết rằng Songil đã dõi theo tôi từ bấy đến nay sẽ không để tôi đi mà không tìm kiếm gia đình anh ấy. Tuy nhiên, câu trả lời của vị linh mục trẻ đã phá tan hy vọng của tôi. Anh ấy không có gia đình. Tôi hoàn toàn không thể mô tả hình dạng gồ ghề của Songil khi anh ấy trưởng thành, nhưng không khó để đoán biết rằng anh ấy đã không thể lập gia đình.
Vị linh mục trẻ chỉ cho tôi nơi Songil đã sống quạnh quẽ cho đến lúc qua đời. Đó là một căn phòng nhỏ kề cổng chính. Sự cô đơn và sau đó là nỗi đau đớn mà một người đàn ông đã phải chống chịu hơn bốn mươi năm trào dâng trong ngực tôi. Mặc dù người khác có thể cho rằng tôi hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm, rằng tôi không thể gánh vác hết gánh nặng cho điều rủi ro hay sự đơn độc của một con người nhưng không hiểu sao tôi chợt cảm thấy một tia ăn năn hối hận lóe lên, buộc tội tôi vì đã không làm gì hơn cho anh ấy ngoài một kẻ ngoài cuộc hờ hững. Nhưng hối hận cho lỗi lầm của tôi thì phỏng có ích lợi gì? Giờ đây tôi không còn gì để làm ngoài việc đến viếng thăm mộ phần của người quá cố trước khi quay về nhà.
Vị linh mục trẻ dường như nhớ ra điều gì đó. Ông đi vào phòng của Songil và mang ra một cuộn giấy lớn. Vị linh mục nói cho tôi hay rằng cuộn giấy này là những bức tranh mà Songil đã vẽ suốt lúc sinh thời để giải khuây. Tôi đã không nhớ rằng anh ấy thích vẽ ngay khi còn là một cậu bé. Dù sao chăng nữa, Songil đã sống mà không có gia đình và lấy việc vẽ tranh làm bầu bạn.
 
Những bức tranh này được vẽ trên giấy than với bút chì. Khi tôi xem những bức vẽ một lúc, tôi nghĩ mình đã tìm ra những điểm chung trong những đường nét đơn giản. Có cái gì đó cháy bên trong những bức vẽ. Đó là những tia lửa nhảy nhót ra từ những rễ cây rối rắm, từ mọi nét uốn lượn và đường cong. Những cái miệng không đếm xuể của các giáo dân trong mấy bức vẽ như bắn ra lửa khi họ đang hát những bài thánh ca và nhiều ngọn lửa như đang mọc lên thậm chí từ những hòn đá gồ ghề lởm chởm đang thò ra từ cạnh của các ngọn núi trọc.
Xem lướt qua những bức tranh, tôi thấy một bức đặc biệt và vội lật qua nhanh hơn mọi bức khác, tôi hỏi vị mục sư trẻ liệu tôi có thể lấy một bức trong số đó để làm kỷ niệm được hay không. Thế là tôi tìm lại bức vẽ mình đã xem lướt một cách vội vã chỉ một khắc trước đó, rồi tôi cuộn nó lại và nhét nó vào trong túi áo choàng. Sau đó tôi ra đi.
Thậm chí ngôi nhà nơi người đàn ông đứng tuổi đã sống trước đây giờ đã là một ngôi nhà kiểu phương Tây hiện đại, trang nhã với một bức tường gạch bao quanh. Tôi đi quanh bức tường và nhìn vào bảng tên gắn trên cổng. Một người đàn ông tên Kim đang sống ở đây. Xem ra người chủ cũ của căn nhà đã thay đổi. Người đàn ông xưa kia sống ở đây không phải là người họ Kim. Ký ức là một thứ lạ lùng, không thể tin cậy. Mặc dù tôi chẳng tài nào nhớ lại chính xác tên ông ta, nhưng tôi hoàn toàn chắc chắn đó không phải là ông Kim.
Nhưng giờ đây, cái tên hay liệu rằng con cháu của ông ta còn sống ở đây hay không có còn gì quan trọng nữa đâu?
4
Khu nghĩa trang công cộng chỉ cần băng thẳng từ nhà thờ qua bên kia đường, nằm trên một dãy đồi. Những bia mộ phủ đầy tuyết lan dần khắp nơi, một số đắp cao hơn những mộ khác, nhưng tôi không thể phân biệt cái nào là mô đất mới. Tôi nghĩ mình đã mắc sai lầm khi không hỏi vị linh mục vị trí mộ của Songil sớm hơn. Tuy nhiên, tôi cứ bước vào nghĩa địa, băng qua lớp tuyết chưa tan. Nhìn xunh quanh, cuối cùng tôi bắt gặp một cây thánh giá bằng gỗ mới xa xa phía cuối khu đất.
Đó là dấu hiệu ngôi mộ của Songil. Nhưng, khi đứng trước nó, tôi không thể hiểu được bản chất của người đã khuất. Điều duy nhất có thể sống lại trong tôi là hình dáng gầy gò, hốc hác của một cậu con trai có khuôn mặt bị che đậy bằng nỗi đau đớn. Một cơn giận dữ tràn ngập lồng ngực tôi. Nó giống như cơn thịnh nộ đã bùng lên trong đầu tôi khi lần đầu tiên tôi trông thấy bức vẽ mà giờ đây tôi đã cuộn lại trong túi mình. Ngôi mộ của người đàn ông trung niên mà tên tôi còn không thể nhớ, có lẽ nằm đâu đó giữa những bia đá này. Nhưng tôi vẫn không thể hiểu được bản chất của anh ấy suốt bốn mươi năm đầy biến động lẫn đổi thay của cuộc đời. Giờ đây chỉ còn lại một điều trong ký ức tôi là tiếng quát tháo và sự giận dữ của người đàn ông kia khi ông ta nhìn trừng trừng lên nóc tháp chuông.

Tôi đi xuống ngọn đồi và kiểm tra lịch ở trạm dừng. Cứ ba mươi phút lại có một chiếc xe buýt ghé trạm. Tôi còn một ít thời gian trước khi chiếc tiếp theo đến, thế là tôi đi vào tiệm trà. Một vài người đang ngồi xung quanh bếp lò ở giữa phòng. Việc kinh doanh có vẻ ế ẩm. Tôi tìm chỗ ngồi ngay một cửa sổ nhiều ánh sáng.
Hớp một ngụm trà vừa được mang đến, tôi đẩy cái tách ra xa. Sau đó tôi kéo bức vẽ ra khỏi túi áo choàng và trải nó lên bàn. Trong bức tranh là hai con chó. Con chó Bắc Kinh nhỏ hơn, hai chân sau của nó đang vẫy vùng trong không khí và bị kéo lê theo sau bởi một con chó lớn hơn. Cũng có những tia lửa ở đó, y như những bức vẽ khác. Qua biểu hiện của những con vật này, dường như chính người đàn ông tật nguyền ấy đã nôn ra những ngọn lửa kia vì không thể cam chịu sự dày vò về dị dạng của mình. Sự thịnh nộ một lần nữa lại dâng tràn trong ngực tôi nhằm vào sự trừng phạt không chủ tâm của người đàn ông trung niên nọ đã gây ra cho cậu bé ngây thơ, vô tình làm hỏng cả cuộc đời cậu.
Nhưng cơn thịnh nộ của tôi không là gì cả khi so sánh với cuộc đời cô độc, tăm tối của người đàn ông đã khuất. Nhưng sau tất cả những điều này, tại sao Songil vẫn tiếp tục trở thành người kéo chuông nhà thờ, nối nghiệp cha anh ấy?
Khi cô hầu bàn mang ít trà xanh đến, tôi hỏi cô ta: “Xin lỗi, cô có nghe rõ tiếng chuông nhà thờ từ đây không?”. Tôi muốn nói với cô hầu bàn rằng âm thanh của chiếc chuông ắt hẳn đã thay đổi so với những ngày cũ.
“Hôm nay không phải chỉ mới thứ bảy sao?”. Cô hầu bàn nhìn tôi như thể tôi đang bối rối và nghĩ hôm nay là chủ nhật. Tôi đã hỏi một câu vô ích.
Người ta chắc chắn sẽ làm quen với giai điệu của người kéo chuông mới. Và rồi họ sẽ không thấy sự khác biệt. Thế là chỉ còn mỗi mình tôi luôn yêu mến thanh âm của chiếc chuông cũ. Nhưng vậy là đủ.

Khi tôi trầm tư suy ngẫm những điều này, đột nhiên, một điều không ngờ tới, có tiếng chuông bắt đầu vang lên trong ngực tôi…
…Hai cậu bé đang kéo chuông. Lúc ấy cha Songil không có ở đó, chỉ có hai đứa trẻ cùng nhau kéo sợi dây. Trong khoảng giữa tiếng vang lanh lảnh khi chúng kéo sợi dây và tiếng rền vang khi chúng buông nó ra, rồi sau đó trong khoảng nghỉ khá dài trước tiếng vang tiếp theo, khi tiếng lanh lảnh và tiếng vang rền này lặp lại, một giai điệu kỳ lạ phát ra ngân nga hòa cùng giai điệu của tiếng chuông. Những tiếng vang dội, như những đợt sóng gợn trên mặt nước, như đang lấp đầy trái tim tôi.
Và khi ấy tôi đã trông thấy điều gì đó. Bức vẽ nằm trước mặt tôi đột nhiên biến đổi lạ thường. Không, còn hơn cả sự biến đổi, nói chính xác hơn là cuối cùng tôi đã có thể hiểu ra mục đích thực sự ban đầu của Songil khi vẽ những bức tranh này. Nếu anh ấy đã có thể tìm vui qua việc vẽ tranh bằng một chiếc bút chì thì điều đó chẳng phải rất dễ chịu hay sao? Mỗi một đường nét đã xoáy vào tôi như những tia lửa, thực ra là những giai điệu xuất phát từ niềm vui thích không kiềm chế được. Tiếng cười khúc khích trong vắt, ngây thơ của chúng tôi dường như đang sống lại, lan tỏa ra khắp mọi đường nét trên bức tranh. Và hình như, chúng tôi đang cùng nhau cười đùa như bốn mươi năm về trước.
 


Ngọc Vân

(Dịch theo bản tiếng Anh “Shadows of a sound)
Truyện đã đăng trên Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay.
 
 

Kim Kỳ sưu tầm

Xem thêm...

Truyện ngắn: CON BÉ VÀ CÂY HOA CẢI DẦU

CON BÉ VÀ CÂY HOA CẢI DẦU

Truyện Ngắn của: SHIGA Naoya  (1883-1971)

 

Viết truyện ngắn và truyện dài. Shiga Naoya được xem là « vua truyện ngắn », là nhà văn tiêu biểu của loại tự truyện, là một « thánh chủ » của nền văn học Nhật hiện đại. Ông theo học đại học Tokyo, nhưng không tốt nghiệp ngành nào. Ông bắt đầu viết từ năm 21 tuổi : « Con bé và cây hoa cải dầu » là truyện ngắn đầu tay. Sự nghiệp viết văn của ông chịu ảnh hưởng nặng nề và phản ánh một đời sống gia đình bất hạnh : mất mẹ năm 12 tuổi, ông có những quan hệ sóng gió với bố, đi từ xung khắc đến đoạn tuyệt, rồi hoà giải. Tác phẩm của ông - phần lớn đã được dịch ra Anh ngữ - có thể được chia làm 3 loại : loại dựa trên kinh nghiệm và quan sát (« As far as Abashiri », « An Incident »...) ; loại dựa vào đời sống tư tưởng và trí tưởng tượng (« The Little girl and the Rapeseed Flower », « The Razor », « Han's crime »... ) ; và loại ít nhiều là tự truyện (« The Death of my mother and the new mother », « Reconciliation », « The Paper door »...)
_________________

 

Hôm đó là buổi chiều xuân trong sáng êm đềm. Một con bé đang nhặt củi đóm trên sườn núi.
Chặp sau, khi ráng chiều đỏ thắm xuyên qua các tàng cây thưa thớt, con bé đem mớ củi nhặt được xuống đồng cỏ, bắt đầu sắp vào giỏ trên lưng.
Thình lình, con bé có cảm tưởng như nghe như ai gọi mình.
- Hả ?
Con bé buột miệng. Nó đứng lên nhìn chung quanh nhưng chẳng thấy người nào.
- Ai gọi tôi ?
Con bé lại lớn giọng hỏi nữa. Nhưng cũng chẳng ai trả lời.
Sau hai ba lần có cảm tưởng đó, con bé chợt phát hiện là tiếng gọi phát ra từ cây hoa cải dầu nhỏ đơn độc đang ngẩng đầu lên trong đám cỏ dại.
Con bé lau mặt với tấm vải quàng đầu rồi nói :
- Tao nghĩ chắc mày cô độc lắm trong một chỗ như vầy.
Cây hoa trả lời với giọng thân mật :
- Em rất cô độc.
Con bé hỏi với giọng quở trách :
- Vậy sao mày đến đây làm chi ?
- Một hạt dính vào ngực con chim chiền chiện rồi rớt xuống đây. Em làm gì được !
Cây hoa nói một cách buồn rầu. Rồi nó nhờ con bé mang nó theo xuống làng dưới chân núi, nơi nó có nhiều đồng loại.
Con bé thấy xót xa cho cây hoa cải dầu, quyết định làm nó thoả mãn. Khẽ khàng gỡ khỏi đất, con bé cầm nó trong lòng tay khum khum và xuống đường núi về làng.
Dọc đường, một con suối nhỏ trong veo chảy róc rách. Thời gian trôi qua. Cây hoa nói :
- Tay chị nóng khủng khiếp. Em thấy đầu nặng quá, không ngẩng thẳng lên được.
Theo mỗi bước đi của con bé, cây hoa yếu ớt lắc lư cái đầu rũ gục.
Cả chặp lâu, con bé không biết phải làm gì.
Rồi thình lình con bé nảy ra một ý tuyệt vời. Vội vàng ngồi xổm xuống bờ đường, con bé lặng lẽ ngâm rễ cây hoa vào nước.
- Aaa !
Cây hoa thốt lên với giọng hồi sinh, sôi nổi. Nó nhìn lên con bé. Nhân đó con bé nói như truyền lệnh :
- Từ chỗ này, mày cứ đi theo nước.
Lắc đầu một cách khó khăn, cây hoa nói :
- Lỡ bị cuốn đi cách xa chị quá, em sợ chết !
- Không việc gì phải sợ cả.
Con bé vừa nói vừa thả trôi cây hoa.
- Em sợ ! Em sợ !
Bị giòng nước cuốn đi tức khắc, cây hoa ré lên hãi hùng khi thấy nước kéo mình càng lúc càng xa con bé. Nhưng con bé không nói không rằng, vòng tay ra sau lưng sửa lại cái giỏ nhảy nhót trên lưng và chạy theo sau.
Cây hoa thở dài nhẹ nhõm. Rồi vui vẻ từ mặt nước nhìn lên, nó nói với con bé đủ thứ chuyện.
Một con bướm từ đâu bay tới dập dờn vui nhộn. Nó phá phách, vỗ nhẹ cánh nhảy nhót quanh đầu cây hoa. Cây hoa có vẻ khoái chí. Nhưng rồi con bướm rộn ràng bất định đó lại bay đi chỗ khác.
Thấy trên chóp mũi con bé lốm đốm mồ hôi như những hạt trân châu, cây hoa nói với giọng ái ngại :
- Bây giờ tới phiên chị cực quá.
Con bé trả lời ngắn gọn :
- Ðừng lo cho tao.
Ngỡ bị mắng, cây hoa im lặng.
Một lát sau con bé giật nẩy mình vì tiếng kêu thét của cây hoa. Rễ nó bị vướng vào đám cỏ dại nhấp nhô trên giòng nước như một suối tóc dài, cây hoa ráng cựa quậy đầu ra trước ra sau, kiệt sức.
- Ðược rồi. Yên đó một lát.
Hụt hơi, con bé ngồi xuống tảng đá bên bờ suối.
- Làm sao em yên được với chân cẳng vướng víu như thế này ? Em thấy chẳng thoải mái chút nào.
Giọng phàn nàn của cây hoa càng lúc càng tha thiết. Con bé đáp :
- Mày như vậy là khỏe rồi.
- Em không khỏe. Dừng lại thì tốt, nhưng kiểu này thì khiếp lắm. Làm ơn, chị làm ơn vớt em lên.
Cây hoa nài nỉ, nhưng con bé không muốn nghe, chỉ mỉm cười nói :
- Mày như vậy được mà.
Chẳng bao lâu sức mạnh giòng nước làm rễ cây hoa trượt ra. Với giọng khẩn trương chói tai « Em bị cuốn đi đây này », một lần nữa cây hoa lại bị cuốn xuôi theo giòng. Giật mình, con bé chạy theo.
Khi còn cách nhau không bao xa, cây hoa rụt rè nói :
- Cực chị quá !
- Không sao cả.
Con bé dịu dàng trả lời. Rồi vì cây hoa không còn lo âu nữa, nó chạy trước cách xa khoảng chừng mười lăm bộ.
Ðã trông thấy làng dưới chân núi. Con bé nói to :
- Không còn bao xa nữa.
- Ờ há !
Cây hoa trả lời đằng sau. Chúng không nói gì với nhau một lát. Âm thanh duy nhất là tiếng lách tách, lách tách của đôi dép rơm con bé chạy, trộn lẫn với tiếng róc rách của suối.
« Chaach » ! Tiếng nước toé lên bất ngờ dưới chân con bé. Cây hoa kêu thét lên như thể sắp chết. Con bé giật mình dừng lại nhìn ra sau. Từng cánh hoa lá tái mét vì sợ, cây hoa gượng lên khỏi mặt nước la bải hải « Nhanh lên ! Nhanh lên ! ». Con bé vội vàng kéo nó ra khỏi nước.
- Chuyện gì vậy ?
Nâng niu cây hoa vào ngực, con bé quay nhìn giòng nước sau lưng.
- Có cái gì phóng ra từ chân chị đấy.
Cây hoa nói giọng hổn hển :
- Con cóc cáy đấy, chị. Nó ngụp xuống một lần rồi bất thần ở đâu trồi lên trước mặt em. Thiếu chút nữa là dám mặt tụi em chạm vào nhau. Miệng nó nhọn và có vẻ cáu kỉnh như con yêu Hà Bá vậy.
Nghe cây hoa nói, con bé cười vang. Cây hoa nói giọng trách móc :
Ðâu có gì tức cười đâu. Nhưng mà khi em ré, con cóc giật mình đấy. Nó mất hồn mất vía lặn xuống.
Nói tới đây thì cây hoa cải dầu cũng cười vang lên.
Chẳng bao lâu, chúng về tới làng.
Con bé tức khắc trồng cây hoa trong đám đất sau nhà.
Không giống trên sườn núi khô cằn đầy cỏ dại, ở đây đất đai màu mỡ. Cây hoa cải dầu lớn nhanh như thổi.
Và ở đó, giữa bạn bè với đồng loại, cây hoa cải dầu mãi mãi sống yên vui hạnh phúc.
MIÊNG
Dịch theo bản tiếng Anh của Lane Dunlop :
«The Little Girl and The Rapeseed Flower».


Paris, Février 19

 

Kim Kỳ st

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Lan huệ sầu ai

Lan huệ sầu ai 

Truyện ngắn của Quý Thể 

 

… Lan huệ sầu ai lan huệ héo

Lan huệ sầu đời trong héo ngoài tươi…( Ca dao)

 

Sau này khi đã biết mọi chuyện Thu mới hiểu vì sao anh chàng Thế, một thanh niên khỏe mạnh,  đẹp trai, độc thân, xưa nay vốn là người được các cô gái mến mộ,  là công chức trong biên chế nhà nước có  vị trí  vững vàng, có nghề nghiệp, có  một căn nhà tuy nhỏ gọn gàng, là tổ ấm lý tưởng cho cặp vợ chồng son. Tại sao đang là một người tốt như thế anh ta lại giở chứng, có nhiều hành động khả nghi về đạo đức. Anh ta cứ lấp ló rình mò sau hè nhà cô Thu, nhất là mỗi lần Thu xách khăn tắm,  cái thau nhựa lớn, áo quần vô phòng tắm xối nước ào ào. Thu ngại lắm, từ trong, qua các khe hở nhìn ra nàng quan sát anh ta rất rõ, thấy anh đứng lại phía sau phòng tắm, nơi có cái vòi nước tắm chảy ra  đi vào vùng đất thấp trồng rau muống của mụ Tôn. Thu cẩn thận coi lại chốt cửa, lấy chiếc khăn lông to móc lên cây đinh che kín những nơi ván hở, Thu vẫn chưa yên tâm. Thu nghe người ta nói bọn đàn ông con trai có cái tật thích dòm trộm. Thu sợ anh chàng hàng xóm nổi chứng tọc mạch này.


Tắm xong nàng vội vàng xô cửa đi ra thấy anh ta khệ nệ xách thùng nước đầy. Thu hỏi, hỏi là hỏi đùa thôi xem anh ta trả lời sao:                          

- Cúp nước hả?

- Nước bên nhà tôi chảy yếu quá…


Thu nín cười, thầm nghĩ anh ta nói láo chẳng biết ngượng. Mấy ngày gần đây nhờ lá đớn của tổ dân phố gởi lên công ty cấp nước, họ đã cho người xuống sửa và nước chảy rất mạnh, lên lầu hai lầu ba dễ dàng. Có đêm nước mạnh quá vỡ ống nước chảy tràn ra đầy đường. Thu đi làm mang guốc cao gót cả tấc phải xắn quần, nhón gót đi qua những nơi nước đọng. Thế mà hắn ta dám nói nước chảy yếu. Thực là anh chàng kì quặc, không hiểu hắn ta muốn giở trò gì?

                                       



Thế vướng vào cái nghiệp mê trồng phong lan từ dịp anh đến thảo cầm viên xem thú. Lần đầu tiên Thế khám phá ra trong sở thú Sài gòn cũng có cái nhà kính  trồng cây cảnh. Theo lời mấy người ở đây thì khu nhà kính đã có từ thời người ta xây  khu chuồng nuôi thú từ thời ông toàn quyền Đông Dương gì đó còn ngự trong dinh Norodom (dinh Thống Nhất bây giờ) nghĩa là đã hơn trăm năm. Trong nhà kính có khu giành trồng phong lan và các giống cây ôn đới. Rất nhiều chậu phong lan được đặt trên bậc xi măng xây trên hồ nước lớn. Tất cả mọi thứ trong khu vườn đều cũ kĩ ẩm ướt và đầy rêu phong. Nơi đây âm u và lúc nào cũng mát rượi. Giữa cái nóng đổ lửa của buổi trưa hè Sài gòn mà đứng đây thấy  như vừa lạc vào khu rừng mưa nhiệt đới. Đây cũng là lần đầu tiên Thế mới có tâm trạng thoải mái,  có thời gian rỗi thưởng thức hương sắc của loài hoa vương giả, và thế là anh đâm mê nó.


Tình yêu cứ thế lớn dần lên, anh quyết trồng lan, chọn hoa lan làm tình yêu, theo anh nghĩ yêu hoa còn đỡ hơn yêu thứ hoa biết nói  mà anh đã có kinh nghiệm đau khổ chết lên chết xuống của thời yêu cô Tuyết. Như tất cả mọi người có học trên đời, việc trước tiên là tìm mua sách nói về phong lan để tạo cho mình chút vốn liếng mà nói chuyện với đồng nghiệp. Càng đọc Thế càng thấy yêu thích loài hoa này, thực  thanh cao, nó không cần đất, chẳng cần phân, chỉ hớp sương gió thôi mà cống hiến cho đời bao đóa hoa hương sắc mặn mà. Anh bắt đầu đi tìm mua hoa, chỉ mấy ngày sau anh đã sưu tầm được một số loài hoa quí, Đồng thời anh cũng tạo cho mình một thế giới màu xanh nho nhỏ bên cạnh của sổ thư phòng. Sách vở bày sao anh làm vậy mà còn làm một cách kỉ càng hơn. Cuộc sống của anh đã đổi khác. Anh sống theo cách mới và một thời khóa biểu mới, buổi sáng dậy sớm chăm sóc cho hoa, buổi tối đi ngủ sớm hơn. Anh thay đổi hàng loạt bạn, lớp bạn cũ dành cho việc nhậu nhẹt thì nay anh đã lặng lẽ giã từ. Thế đã có lớp bạn mới, những người đồng điệu, thường lớn tuổi, thích hoa lá, yêu thiên nhiên, ngồi dưới giàn đàm đạo chuyện hoa, chuyện thế sự, chuyện văn thơ.  Thực là những cuộc gặp mặt thú vị tao nhã thanh cao, khác hẳn cảnh nhậu nhẹt chè chén om sòm trước đây. Nhờ những cuộc trao đổi và sách vở giờ đây từ chỗ mù tịt, i tờ, chẳng biết gì, giờ đây anh đã có thể phân biệt được đâu là nghinh xuân, cách lan, bạch ngọc, nhất điểm…Đâu là hoa nhà, hoa rừng, hoa nội, hoa ngoại, hoa cấy mô…Giờ đây ngoài thời gian ngồi ở cơ quan chán phèo anh giành hết cho lan. Việc công có phần chểnh mảng, ngồi cơ quan chỉ trông cho hết giờ về nhà cùng lan. Có người hăm : Coi chừng cuối năm mất cái tiên tiến! Nghe thế anh chỉ cười, nhủ thầm, tiên tiến sao bằng có được mấy giò phong lan trổ hoa.


Tình yêu thôi thúc tình yêu. Từ ngày biết lan, trồng lan, chăm sóc cho lan thì lan như cô Tuyết năm nọ, bắt đầu hành hạ anh. Càng bị hành hạ anh lại càng yêu loài hoa khó tính này. Chỉ có điều lan anh trồng tốn tiền, tốn công chăm sóc, điều kiện vườn tược không thua sút ai thế mà vườn lan nhà anh vẫn không tốt tươi lên được. Anh không tìm ra nguyên nhân, hỏi thì mỗi người nói một cách. Anh đã đổi giống, đổi nước, đổi phân, đổi cả cách chăm sóc thế mà lan cũng không khá lên được. Thất bại chẳng làm anh nãn, nó còn kích thích anh phải cố gắng hơn. Cho đến một hôm anh nghe ông cụ Luận 89 tuổi, đi đâu cũng khoe có ba đời làm nghề trồng phong lan, dạn dày kinh nghiệm trồng lan cũng chỉ nhờ biết  luận thuyết âm dương. Cụ nói:

- Lan là hoa, nhưng là hoa thuần âm, màu nhạt, màu sắc thường thường nghiêng qua sắc lạnh. Nó ở trong rừng sâu, dưới bóng râm, bên cạnh suối mát, hớp sơn lam chướng khí mà sống.  Nó là giống thuần âm


Thế hỏi:

- Thuần âm là sao ?

- Là không dính một chút dương nào, nó chịu hơi đàn bà con gái…


Thế cho là đúng, người đời thường ví phụ nữ với hoa, phụ nữ là âm, hoa không là âm còn là gì ? Anh nghĩ, âm thịnh dương suy và ngược lại dương thịnh thì âm suy. Phải rồi, mình chủ vườn là đàn ông, bạn bè cũng thuộc hàng đực rựa, thứ thiệt, còn là thứ đực rựa cực dương,  cái gác này xưa nay chưa có cô gái nào dám léo hánh đến, đi ngang qua liếc mắt vô thấy  đã mất hồn, may ra mấy con mụ sồn sồn dạn dày trận mạc năm bảy lửa  mới dám đặt chân vào. Tóm lại chỗ mình ở đây dương thịnh quá âm suy là phải rồi ! Ông cụ nói:

- Ngày xưa vua chúa và những nhà giàu có quyền thế  họ nuôi đầy tớ gái để chăm sóc lan.
Nghĩ ngợi một lúc ông cụ mới bật mí:

- Tốt nhất là tưới cho lan thứ nước mấy người đẹp tắm rửa !


Ông cụ chỉ như thế song biết tìm đâu ra cái thứ nước dặc biệt này? Phải chi ông mách thứ phân vô cơ, hữu cơ, tổng hợp, hay vi sinh gì còn dễ kiếm. Cho đến một hôm Thế thấy cô Thu xách cái gàu nhựa, tay cầm khăn tắm với chai dầu gội đầu hiệu  Sunsilk bồ kết, đi vô phòng tắm khép cửa lại lục đục trong ấy một lúc, nghe tiếng nước ào ào. Nhìn nước thải chảy ra từ cái ống nhựa phía sau buồng tắm  mà…phát thèm! Ôi thứ phân tuyệt diệu trời cho đây rồi !


Và thế là anh ta muốn  xách thùng đi hứng. Nhưng  chẳng biết phải làm thế nào để lấy thứ nước quí báu này ? Không lẽ đặt thẳng" vấn đề" với cô gái xinh đẹp hàng xóm chưa mấy quen biết này? Ai chịu cho, hỏi thế kì cục chết. Thôi chỉ còn có nước liều ! Anh đem thùng ra phía sau nhà tắm hứng.  Trong lúc chờ nước chảy đầy anh nhẫm mấy câu lục bác cho bài thơ hoa. Đến khi đầy thì xách về. Vì thế mà nảy sinh ra sự hiểu lầm đáng tiếc.


Không biết có phải nhờ thứ nước cô Thu hay do sự tình cờ nào  mà vườn lan bỗng chốc tốt tươi khác thường. Anh thầm cảm ơn cụ Luận và nhất là cảm ơn cô Thu, một người có công chỉ dẫn còn người kia đã cung cấp chất kích thích tố tăng trưởng tuyệt vời này. Giờ đây vườn lan xanh mướt và đã bắt đầu nhô lên mấy cái cuốn dài hứa hẹn những chùm hoa tuyệt mỹ.


Xưa nay anh Thế vốn là người ít nói,  ít dám quan hệ với phái đẹp. Không phải anh là hoạn quan hay thái  giám hoặc ghét bỏ phái đẹp gì, chỉ vì anh nhút nhát, lại nghĩ mình còn khó khăn, sự nghiệp chưa có gì nên chẳng  dám đèo bòng. Thế nhưng khổ nổi, cái tính nhút nhát lạnh nhạt ấy lại được cô Thu hiểu theo một khía cạnh  “tích cực” có lợi cho anh. Theo cô Thu anh là người đàn ông  điềm tĩnh, đứng đắng, tự tin, thông minh…toàn là đức tính quí hiếm. Xưa nay côThu vốn không ưa hạng ba hoa khoác lác, xun xoe, nịnh đầm, Cô ta ngấm ngầm để ý đến anh. Song từ khi thấy anh quanh quẩn nơi chỗ tắm, cô có hơi nghi ngờ đến cái tư cách, song cô thấy ngoài việc quanh quẩn ra trước rồi lại ra sau của anh, chưa thấy cử chỉ sàm sỡ nào. Thu lại giải thích cái hiện tượng bất thường ấy theo hướng tốt có lợi cho Thế. Cô nghĩ anh hâm mộ nhan sắc cô mà chưa  dám ngõ lời nên quanh quẩn thế, và cô hứa sẽ tạo điều kiện để anh kết thân.


Một hôm cô mạnh dạn leo lên gác, cô chưa tìm ra được lí do  làm quen thì thấy giàn phong lan xanh tốt cô buột miệng khen, khen lấy lệ khen chơi  chứ chẳng có chủ ý gì:

- Trời ơi vườn lan của anh đẹp quá. Có mấy chùm sắp nở đây nầy.


Thế rất hả dạ, cùng với niềm vui đó anh chẳng suy nghĩ gì, nói ngay:

- Chiều thứ bảy tuần nay mời cô lên đây thưởng thức hoa, dùng trà nói chuyện văn thơ. Có mấy cành phong lan chớm nở, tôi tính đến thứ bảy này chúng sẽ mãn khai…


Thu nhận lời. Còn cả một tuần lễ nữa mới đến ngày hẹn  nhưng đầu óc cô gái rộn ràng bao tính tóan. Tình yêu là thứ công việc không đâu ra đâu nhưng bận rộn suốt ngày. Nàng cứ xoay quanh chuyện tóc tai, phấn son, áo quần, dày dép…Nàng phân vân mãi không biết hôm ấy mặc gì, phấn son ra sao, giày dép thế nào. Xưa nay Thu có quan niệm khá rõ ràng về sắc diện người phụ nữ. Theo nàng thì làn da là cái quan trọng nhất. Muốn có làn da đẹp phải biết giữ gìn. Cách tốt nhất là tránh ánh nắng gay gắt và nhất là tránh các hóa chât có hại da. Thu nghe người ta nói, xà phòng dù là loại nào của hãng xưởng nào cũng làm bằng chất cơ bản là xút ăn da. Đã là xút ăn da thì dứt khoác không bao giờ đụng đến. Vì thế trước đây mỗi khi tắm rửa không bao giờ Thu đụng chạm đến bánh xà phòng. Làm cá xong, rửa tay nàng cũng hết sức cẩn thận, chỉ chạm sơ qua rồi xả nước sạch ngay.


Thế nhưng lần này được anh Thế mời đến dự tiệc thưởng hoa thì sao? Không lẽ tắm suông ? Đây là cuộc hẹn hò đặc biệt, có thể phá lệ. Thu liền ra chợ mua bánh xà phòng loại thơm nhất tốt nhất đắt tiền nhất. Và nàng đã tắm với bánh xà phòng nầy, kì cọ thật kĩ. Lần đó anh Thế nhận được số nước tắm nhiều gấp đôi, anh rất mừng. Anh vui quá nên vô tâm không chú ý đến thùng nước hôm nay có khác những ngày thường, nó nhiều hơn, phảng phất hương thơm và nhất là nước không trong như những lần trước, nó hơi đục. Đem nước về anh vội vàng cho vào bình tưới ngay. Anh tưới gấp đôi ngày thường  thôi thúc cho hoa nở nhanh hơn đẹp hơn để kịp tiếp người đẹp.


Sáng ngày thứ bảy Thế ra phố mua bánh ngọt, trà ngon, anh kê bàn, đặt ghế đãi khách. Cả buổi sáng và buổi trưa anh bận rộn chuẩn bị cho buổi tiệc trà dưới giàn lan. Chuẩn bị xong thì khách khứa cũng vừa tề tựu đến. Giờ đây anh mới nhìn lên giàn. Trời ơi ! Cả giàn lan héo rủ thảm thương! Ôi phải chi cô Thu đừng có quá lo lắng cho bữa tiệc, cứ như thường lệ, không dùng xà phòng tắm thì đã chẳng xảy ra cái cảnh đau lòng " Lan huệ sầu ai lan huệ héo!!!"


Tuy thế câu chuyện lại không kết thúc một cách bi thương. Đây là một câu chuyện tình có hậu kiểu như trai tài gái sắc, qua bao nhiêu sóng gió lại được gặp nhau thành vợ chồng, con cái đầy nhà ăn ở với nhau răng long tóc bạc.

 

Mấy giò phong lan héo rũ nhưng cuộc tình hai người lại thắm tươi!./.

 

Kim Kỳ st

Xem thêm...

Happy Father’s Day, Daddy!

Happy Father’s Day, Daddy!


 Tác giả : CAM LI NGUYỄN THỊ MỸ THANH

Hình minh họa

1

Mẹ tôi kết thúc nét chữ cuối cùng trên mặt chiếc bánh kem, rồi nghiêng đầu ngắm nghía. Mẹ lẩm bẩm:
– Happy Father’s Day! Được rồi há Bình! Tất cả mọi người đều được chúc mừng.
Tôi cười nhẹ:
– Phải đó mẹ, mọi người đều được chúc mừng.
– Này nhé, con thử nghĩ mà xem. Lễ Mẹ là để mọi người vui sướng vì mình sinh ra là đã có mẹ. Lễ Cha cũng vậy, là để chúng ta tôn vinh cha của mình. Chứ nếu quan niệm rằng Lễ Mẹ là để chúc mừng những người được làm mẹ, Lễ Cha là để chúc mừng những người được làm cha, thì sẽ có rất nhiều người bị bỏ sót, và bị buồn, vì đâu phải ai cũng được làm cha hay làm mẹ.
– Dạ.
– Vậy thì mọi người đều được ăn mừng. Năm nay vợ chồng An mới sinh con, cũng được chúc mừng, Bình và Chu còn độc thân vẫn được chúc mừng, vì các con đã có ba. Lễ này, … là để các con nhớ về ba của các con.
– Mẹ hay lắm! Ai cũng được như mẹ thì thế giới này sẽ không có ai bị buồn.
– Ừ! Thế giới này tràn ngập những điều mâu thuẫn và rắc rối. Mẹ mong cuộc đời của các con sẽ không nhiều rắc rối…
Mẹ im bặt. Tôi không muốn nói thêm một điều gì… Vì tôi biết một câu nói nào trong lúc này cũng sẽ rất dở. Tôi làm bộ huýt sáo một khúc nhạc, rồi đi lau chùi và kê lại bàn ghế. Trong khi làm, tôi len lén đưa mắt nhìn mẹ. Mẹ đang đứng ngắm chiếc bình toàn hoa tím mà mẹ đã cắm rất sớm sáng nay. Vâng, mẹ tôi yêu hoa màu tím.

Tôi đi ra vườn. Khu vườn nhỏ cũng toàn màu tím. Màu tím không buồn như người ta thường nói, mà là một màu rất “hay”, theo tôi là như vậy. Tôi cũng không biết phải diễn tả thế nào, chỉ biết dùng chữ “hay”, thế thôi. Tôi vốn đã là một người không yêu văn chương từ khi còn bé, bây giờ lại say mê khoa học nên tất cả những gì gọi là chữ nghĩa bay bướm thì tôi chịu thua. Chỉ có một điều mà tôi biết rất rõ: đó là mỗi khi nhìn màu tím thì tôi không bị nhức đầu như khi nhìn những màu sắc khác. Lạ là như vậy! Và, có lẽ với tôi, màu đỏ là màu tôi rất sợ. Nó thường nhắc tôi nhớ đến thời gian tôi hầu như chết đi và được sống lại sau một tai nạn xe hơi. Tôi bị chấn thương ở não, và tôi đã nằm liệt nửa năm trời. Tôi rùng mình, nghe lành lạnh suốt sống lưng. Ôi! Tôi muốn quên khoảng đời này lắm!

Có một tiếng động nhẹ nơi góc vườn bên kia. Tôi đi đến, nhìn thấy ông David đang ngồi ở bộ bàn cao. Ông đang dùng sơn màu tím với những độ đậm nhạt khác nhau để sơn lên những viên đá cuội. Ông thường trang trí cho những vật dụng trong khu vườn này như vậy. Thấy tôi, ông giơ tay chào và hỏi:
– Hôm nay không đi làm thêm giờ hả Bình?
– Không ạ. Chủ nhật, lại là Father’s Day.
Ông David gật gù:
– Tốt lắm!.. À, chỗ ở mới của Bình và Chu thế nào?
– Dạ… cũng được lắm. Không rộng bằng nhà của anh An nhưng tiện lợi vì gần sở. Mai mốt mời ông đến chơi.
– Dĩ nhiên rồi! Này Bình, giúp tôi đem những chiếc bình hoa đến đây. Tôi phải trang trí thêm một chút.
Nhìn ông cúi đầu chăm chú với những chiếc bình và sơn, cọ, tôi cảm thấy rất vui. Tất cả những việc làm có vẻ “hobby” như thế, ông không làm cho riêng ông, mà là cho mẹ tôi. Bằng mọi vẻ nâng niu, ông đã làm cho khu vườn nhỏ và cả căn nhà trở thành một nơi chốn đầm ấm. Chúng tôi, ba anh em An, Bình, Chu, không còn ở trong căn nhà này nữa. Anh An có gia đình, ra ở riêng. Tôi và Chu cũng thuê nhà ở riêng. Chúng tôi có cách sống như những gia đình người Mỹ điển hình. Nhưng thỉnh thoảng, thường là cuối tuần, chúng tôi vẫn về thăm mẹ và ông David. Chúng tôi vẫn có chung một mái nhà hòa thuận.

2

Trước bữa ăn, cả nhà cùng nói “Happy Father’s Day!”. Vậy thôi, thật đơn giản. Mẹ tôi nói nhỏ với tôi câu mà mẹ vẫn thường nói:
– Người Mỹ đơn giản lắm! Họ nói những câu nói ngắn và như đã có sẵn lâu đời chứ không chúc tụng dài dòng như người mình. Như vậy những người vốn tính ít nói đỡ phải bối rối.
Trong ba anh em, tôi là đứa hay trêu mẹ tôi nhất. Tôi nói:
– Thì vậy. Không phải ai cũng văn chương như mẹ.
Mẹ đưa tay giả vờ ký đầu tôi, cười:
– Cái thằng này! Mẹ không văn chương thì mẹ buồn chết. David thì cũng nói năng ngắn gọn. Khi nào ông thấy mẹ lầu bầu mà không giải thích cho ông hiểu thì ông nói là mẹ đang tụng kinh.
Hai mẹ con cười với nhau. An tinh ý, liếc nhìn ông David rồi nhìn tôi, nói lớn:
– Bình! English, please!
Ông David cười tủm tỉm trong khi Chu thì lắc đầu, cúi xuống tìm món ăn khoái khẩu của cậu ta. Mẹ vừa cười vừa nói lại bằng tiếng Anh:
– Chuyện riêng của tôi, của mẹ con tôi…
Ông David kêu lên:
– Chuyện riêng? Còn có chuyện riêng sao?
– Phải, rất riêng!
– Được! Vậy tôi không dám nghe đâu!
Cả nhà cùng cười vui vẻ.

Bỗng trong lúc đó tôi lên cơn đau đầu dữ dội. Tôi đứng dậy ôm đầu, chạy đến chiếc ghế sofa vật mình xuống. Cả nhà kinh hoảng. Ông David và mẹ định gọi xe cấp cứu, nhưng tôi đã dịu lại. Ông David gọi điện thoại ngay cho bác sĩ của tôi. Theo lời khuyên của bác sĩ, mọi người sẽ theo dõi tình trạng của tôi và giữ liên lạc với ông.

Tôi đã qua cơn đau. Tôi không muốn phải vào bệnh viện nằm trong khi đang có cuộc họp mặt gia đình. Ông David và An đưa tôi vào phòng cho tôi nghỉ. Tôi bỗng như mơ màng thấy lại màu đỏ quen thuộc. Tôi nhắm mắt lại, rùng mình. Ông David lo lắng:
– Sao thế? Lại thấy chuyện cũ?
Tôi hỏi lại:
– Sao ông biết?
– Triệu chứng này, tôi đã quen mà. Cậu không nhớ là mấy lần cậu lên cơn như vậy là đều có tôi chứng kiến hay sao?
Tôi bỗng nắm chặt lấy bàn tay của ông, giống như đứa bé sợ lạc mẹ. Nắm như thế, tôi chợt nghe như mọi nỗi căng thẳng và sợ hãi đã tan biến. Ôi thật lạ kỳ! Tôi cảm nhận một cảm giác an toàn…

Không biết mọi người đã làm gì, nhưng tôi thì đã thiếp ngủ được một giấc. Khi tôi thức dậy, gương mặt của mẹ tôi hiện ra. Bên cạnh mẹ là ông David. Tôi mỉm cười. Thấy tôi không sao, ông David đi ra nhà ngoài với mọi người.

Tôi muốn diễn tả với mẹ một điều gì nằm sâu trong lòng. Nhưng thật khó khăn. Tôi đã là một kẻ không biết văn chương mà! Nhưng mẹ đã lên tiếng trước:
– Mẹ nghĩ mẹ đang có cùng cảm giác với con đây, Bình ạ.
– Dạ…
– David… như là một người mang đến cho mẹ con mình sự bình yên.
– Phải…
– Con cũng nghĩ như vậy?
– Dạ. Nhưng mình nói điều này cũng thừa mẹ ạ! Cả nhà mình đều đã biết.
– Cả nhà mình đều biết. Nhưng mẹ không thấy thừa khi nói đến. Mẹ luôn luôn cảm kích David. Bao nhiêu năm nay, mẹ luôn nói lời cám ơn David.
Mẹ tôi xoa trán tôi như lúc tôi còn nhỏ, và cũng giống như lúc tôi bị tai nạn. Trên đường đi học về, tôi bị lạc tay lái và… chiếc xe của tôi tông mạnh vào một cái cây lớn bên lề đường. Lúc đó tôi không còn biết mình là ai, và ở đâu nữa. Một màu đỏ khủng khiếp bao lấy tôi. Rồi hết… Tôi thức dậy trong bệnh viện, thấy mẹ ngồi trước mặt, đang xoa trán tôi, nhưng tôi không cựa quậy nổi. Tôi cũng không nói được. Cả người tôi cứng như một khối đá. Tôi thấy rõ sự tuyệt vọng trong đôi mắt của mẹ. Nhưng mẹ không để cho sự tuyệt vọng đó bật ra khỏi mi mắt. Mà tôi, ôi!, tôi ở trong trạng thái hầu như tê liệt đó, làm sao biết được hai giọt nước mắt tuyệt vọng ấy mẹ đã để rơi ở đâu…

Nhưng An thì rất rõ. Chính An tìm ông David để ông cùng đến cứu mẹ. Phải, mẹ đã không kềm được nỗi tuyệt vọng và mẹ đã tấp xe vào sát lề đường để gào khóc một mình. Mẹ như kiệt sức sau những ngày chống chọi trong bệnh viện mà không thấy một tiến triển tốt nào cho tôi. Ông David đã nâng mẹ đứng dậy và giúp mẹ tiếp tục chiến đấu.

3

– Con có muốn ăn một chút nước súp không? Con hầu như chưa ăn gì cả.
– Vâng, mẹ! Con muốn ăn.
Mẹ đứng lên để ra ngoài lấy súp cho tôi. Tôi hơi nhỏm lên để nhìn cho rõ dáng người của mẹ. Qua bờ vai mẹ, tôi như thấy lại hình ảnh một người đàn bà còn quá trẻ dắt díu ba đứa con thơ chạy trong dòng người chập chùng ngày di tản. Ba đã mất trong những ngày cuối cùng của chiến cuộc. Ký ức của chúng tôi chỉ còn lưu lại hình ảnh của ba qua một vài tấm ảnh gia đình mà mẹ mang theo được. Tôi lúc đó mới có ba tuổi, anh An năm tuổi, còn em Chu mới thôi nôi. Hai thằng nhóc tôi chỉ biết ăn và khóc nhè. Anh An có vẻ chửng chạc hơn, dù cũng chỉ là một thằng bé. An biết giữ em cho mẹ đi sắp hàng nhận thức ăn và các hàng cứu trợ. Ông David đã đến với mẹ con chúng tôi từ những ngày đó.

Phải! Mẹ vẫn kể cho chúng tôi nghe chuyện về một ông bụt hiền từ luôn an ủi những người bất hạnh. Khi quen với ông David, anh em chúng tôi cứ ví ông như một ông bụt. Nhưng cuộc đời của ông bụt này cũng không hoàn toàn may mắn. Người vợ yêu quý của ông mất đi sau một cơn bạo bệnh. Hai đứa con sinh đôi của ông, một trai và một gái, được mười tuổi, được gửi bà nội trông nom phụ vì ông phải đi công tác triền miên. Ở trại tạm cư này, ông đã làm bạn với chúng tôi. Ông giúp đỡ từng ly từng tí để mẹ con chúng tôi có nơi ở yên ổn, mẹ có việc làm để nuôi lớn chúng tôi. Mười lăm năm sau, lúc tôi bị tai nạn xe hơi, ông vẫn là người bạn của gia đình chúng tôi. Tôi dần hồi phục, cũng như có một phép lạ! Những cơn đau tái phát thưa thớt dần. Bác sĩ bệnh viện nói tôi có thể hy vọng trở lại bình thường.

Mẹ tôi đứng vững, vượt qua mọi khó khăn nghiệt ngã. Ông David vẫn là người bạn của chúng tôi. Hai người con của ông đã trưởng thành và có cuộc sống riêng. Và… có một hôm, mẹ nói cho chúng tôi nghe về tình cảm giữa mẹ và ông David, hỏi chúng tôi nghĩ sao nếu mẹ cùng ông chung sống. Ba anh em chúng tôi nhìn nhau cười, và cũng thật đơn giản và tự nhiên, chúng tôi cùng nói:
– OK, mẹ!
Thật đơn giản. Thật rất con người! Chúng tôi đã có với nhau một mái nhà đầm ấm.

Người mang chén súp vào cho tôi là ông David. Ông cười nhẹ nói với tôi:
– Ăn cho khỏe đi, rồi nằm nghỉ. Đêm nay chắc là Bình phải ở lại đây rồi! Đang mệt, đừng nên về nhà, không có ai coi chừng.
– Tôi khỏe rồi, David!
– Nhưng Bình ở lại đây, mẹ sẽ rất vui. Tôi cũng vui. Trước đây chúng ta đã từng ở một nhà.
Ông đi ra. Ông vẫn thế đó, không nói nhiều.

Tôi bước xuống giường, đến bên chiếc bàn ở góc phòng, nhìn vào tấm ảnh của ba tôi, tấm ảnh mà mẹ và anh em tôi rất yêu mến. Tôi thốt lên nho nhỏ “Ba ơi!”. Người trong ảnh nhìn tôi. Người cha chiến sĩ của con! Con không được nhìn thấy ba từ lâu lắm, cũng không nhớ nhiều về ba vì khi ấy con còn quá nhỏ. Chỉ biết rằng mỗi năm, đến lễ Father’s Day, chúng con có cùng một ý nghĩ là hãnh diện về một người cha, thế thôi! Ba vẫn ở bên chúng con mãi mãi!

Tôi bỗng giật mình. Ô! Còn một điều nữa, bây giờ tôi mới thấy lạ. Bao năm ông David sống bên chúng tôi, như một món quà mà định mệnh mang đến, chúng tôi vẫn quen gọi ông là “David”. Rất thân thuộc, rất tự nhiên. Tự nhiên như mẹ gọi tên chúng tôi. Tự nhiên như chúng tôi gọi nhau bằng tên “An, Bình, Chu” vậy. Không gò ép, không yêu cầu. Mà ai cũng quý mến cái tên gọi “David”, phải chăng vì cái tên tự nó đã nói lên con người của ông, vốn đã là “thân yêu”, là “chăn dắt”, là “bụt” rồi! Nhưng tại sao yêu quý ông như vậy mà chúng tôi chưa bao giờ gọi ông bằng một tiếng đặc biệt hơn, thân yêu hơn? Phải, chúng tôi chưa hề gọi ông là “cha”.

Tôi sung sướng trong một cảm giác chưa từng có: tôi thấy mình như có một chút gì gọi là “văn chương”. Vậy thì tôi phải thể hiện cái “văn chương” ấy mới được. Tôi bước ra. Mọi người còn đang chuyện trò. Tôi vẫy tay ra hiệu cho An và Chu đến gần tôi. Ba anh em tôi thì thầm với nhau. Chu mở tủ lạnh lấy ống nặn kem mẹ còn giữ lại, đưa cho tôi. An bưng ổ bánh ra. Tôi nắn nót như đứa học sinh lớp mẫu giáo vẽ nét chữ đầu tiên trong đời. Bên cạnh dòng chữ mẹ đã nặn “Happy Father’s Day”, tôi nặn thêm chữ “Daddy”.

Ba anh em chúng tôi bưng ổ bánh đến trước mặt mẹ và ông David. Một việc thật tự nhiên và đơn giản như vậy, nhưng đã làm tất cả chúng tôi rưng rưng cảm động. Ba anh em tôi đồng thanh nói:
– Happy Father’s Day, Daddy!

 

Kim Kỳ st

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này