Truyện

Truyện (339)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Người Mẹ Tị Nạn

Người Mẹ Tị Nạn

  Năng Khiếu


Tác giả tên thật là Trần Năng Khiếu, đến Mỹ năm 1994, theo diện HO. Đã đi làm cho đến năm 2012, hiện là cư dân hưu trí tại Westminster. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 8, 2015. Bài viết mới của bà được viết đúng vào Ngày Lễ Mẹ, 8 tháng Năm, 2016.

* * *

 blank

Đám cưới dì chú Thanh năm 1955, bố tôi cao nhất, tôi bé nhất.

Giấc ngủ mơ màng vì thói quen dậy trễ vào mỗi sáng Chúa nhật, nhưng tiếng hát vang vọng từ CD mở quá lớn ngoài phòng khách, làm tôi bừng tỉnh: “Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày. Mẹ tôi đau buồn nặng trĩu đôi vai. Bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại, cầu mong con mình có một ngày mai.”
Nghe bài hát chợt nhớ tới người mẹ đang sống chung, tôi xin kể cho các bạn nghe về một người đã chạy lánh Cộng sản suốt một đời, đó là mẹ tôi năm nay ngoài tám mươi tuổi, tóc mẹ bạc phơ, nhưng dáng người còn nhanh nhẹn, nhất là tiếng nói còn sang sảng. “Nếu không bị bệnh suyễn kinh niên thì còn khỏe hơn”. Cụ vẫn nói vậy.

Image may contain: 4 people, people smiling, people standing, tree, wedding, outdoor and nature
Cậu em tôi làm giấy tờ bảo lãnh mẹ và cô em gái. Đến cuối năm 1990 sở di trú kêu bổ túc hồ sơ phỏng vấn. Nhưng mẹ tôi chần chừ chưa muốn đi, vì mẹ bảo: “Con giàu thì mừng, con khó thì thương”, phần bị luật lệ sang tên nhà cho các con khó khăn, rườm rà, vì “thủ tục đầu tiên”. Mãi đến năm 1992 mẹ tôi quyết định đi thì cô em đã lập gia đình, phải làm lại hồ sơ bảo lãnh, chờ đi sau. Nên chi, còn một mình mẹ tôi đi Mỹ, dù mẹ không biết một chữ tiếng Anh, thật là can đảm. Đến phi trường Los Angeles, mẹ đứng đợi hơn một tiếng đồng hồ không thấy ai đón, cụ bắt đầu run, vì những người cùng chuyến bay họ được thân nhân đón gần hết, cụ nhìn xung quanh toàn người xa lạ, khác ngôn ngữ, muốn hỏi thăm mà không biết nói gì, cạnh cụ chỉ là xe hành lý vô tri giác. Bỗng cụ thấy một bé gái chừng ba bốn tuổi, khuôn mặt thật dễ thương, đang ngơ ngác như tìm ai, cụ liền đến ôm nó vào lòng, nhưng một thiếu phụ sang trọng, trạc ngoài 30 chạy lại bế thốc đứa bé đi, có lẽ bà cụ mới ở Việt Nam qua không biết luật lệ bên Mỹ, cụ tủi thân muốn khóc.

Sau lưng cụ đứng không xa là một chàng thanh niên khoảng 24-25 tuổi, dáng người cao lớn, ăn mặc lịch sự, cũng đang dáo dác tìm người thân, chợt thiếu phụ khi nãy gọi lớn:
- Tèo, em có thấy anh Quang và cô Bảy không?
Cậu thanh niên lo lắng nói:
- Không chị ạ! Sao hai người đi gửi xe lâu quá, chắc lạc… Hay là đang tìm mình.

Nghe thấy tên Tèo, bà cụ giật thót người. Tèo là tên cúng cơm của thằng con út, cách nay hơn mười năm cụ đã gạt nước mắt, đứt ruột lo cho con đi vượt biên, lúc nó mới mười hai tuổi đầu. Cũng vì nhớ thương nó mà đường xa ngàn dặm cụ liều bước ra đi. Bây giờ không thấy nó đến đón, cụ đang tủi thân, hay là… chợt cụ nghĩ đến câu hay mắng yêu lúc nó còn nhỏ, cụ liền cất tiếng gọi trống không:

- Tèo! Tèo đâu!...“cha tổ bố nó” sao nó không đến đón tôi.

Cậu thanh niên quay phắt lại, nhìn sững bà cụ một lúc rồi ôm chầm lấy cụ. Hai mẹ con không nói thành tiếng, chỉ có những giọt nước mắt thay lời.
Người thiếu phụ sang trọng ban nãy đã giằng đứa bé từ tay cụ, bây giờ cũng từ từ dắt con đến bên cụ xúc động gọi mẹ và trao đứa bé, rồi nói: “Con xin lỗi mẹ, đây là cháu nội của bà. Nhà con đang đến kìa.”

Theo tay chỉ, cậu con trai lớn và cô con gái của cụ cũng vừa đến, cậu không thay đổi mấy, cậu đã gửi hình vợ con về, nhưng mắt cụ kèm nhèm không nhận ra. Còn thằng Thanh có tên cúng cơm là Tèo lúc đi vượt biên còn là thằng bé loắt choắt, nên thay đổi nhiều, cụ nhận không ra. Thanh cười toe toét nói:
- Sao ngày xưa mẹ cao lớn mà bây giờ mẹ thấp quá, nãy giờ con cứ tìm bà cụ mặc chiếc áo bà ba, đầu búi tó củ hành nên chẳng nhận ra mẹ, vì mẹ mặc áo vét, đầu bới cao, mắt đeo kiếng, đẹp và khác quá, mẹ tha lỗi cho con. Nhẹ ôm thằng Thanh, cụ cười:
- Ngày xưa con còn bé, ngửa cổ nhìn thấy mẹ cao. Bây giờ con cao lớn, con nhìn xuống thấy mẹ thấp hơn là phải rồi.

Thế rồi người con trai lớn đón cụ về nhà, ở thành phố Westminster, có bà sui đang ở chung. Hai bà lại khắc khẩu, mà các cụ già hay bị cái tật lớn hơn cái tuổi, đó là tật nói nhiều, “mau nói thì hay lỗi, nói thật thì mất lòng”, nên mẹ tôi bị shock. Được vài tháng thì các em tôi thu xếp cho mẹ qua ở với cô em gái và Út Tèo tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington quanh năm mưa gió lạnh lẽo, được mệnh danh là “Even green State” nên mẹ tôi không quen, đau ốm hoài. Hai năm sau khi gia đình tôi sang định cư theo diện HO, và rước cụ về Cali ở luôn với chúng tôi, cụ khỏe hẳn ra.

Lưng mẹ tôi lúc còn trẻ hơi khom, về già khòm hơn nhiều, nhưng mẹ vẫn hãnh diện: “Cái dáng lom khom là dáng lắm con”,và người xưa quan niệm: “những người thắt đáy lưng ong, vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con.” Chẳng thế mà mẹ tôi đã có được tám mặt con, bốn gái và bốn trai, qua Mỹ một nửa, còn một nửa ở quê nhà, vì thế lúc nào mẹ cũng vọng về cố hương yêu dấu, mà lòng thương nhớ khôn nguôi.

Những nỗi nhọc nhằn vất vả đã làm răng mẹ tôi rụng gần hết, còn vài cái răng cửa khổng khểnh để cười cho đỡ trống trải. Thế nhưng mấy năm trước cụ đi nha sĩ để làm răng hàm, chả biết ông Bác Sĩ bàn thế nào mà mẹ đồng ý nhổ hết những răng còn lại để làm hai hàm răng giả, làm mẹ tôi đau phát sốt mấy ngày, nhưng bây giờ mỗi lần mẹ cười nhe hàm răng đều và trắng như hạt bầu trông rất ư đẹp lão.

Mẹ tôi hiền lành thật thà, từ ngày tôi có trí khôn, chưa thấy mẹ đôi chối với ai, ngay cả những người hàng xóm ưa lẻo mép. Bố tôi mới là người khó nết nhất, vậy mà mẹ chẳng làm phật lòng bố bao giờ, nhưng bù lại bố tôi là người cha hết mực thương yêu vợ con, lúc còn sinh tiền người luôn lo tròn bổn phận, việc nước cũng như việc nhà. Bố tôi mất vào mùa hè đỏ lửa năm 1972 tại Quảng Trị, khi ấy mẹ mới ngoài 40 tuổi, tôi lớn nhất, em Út ba tuổi, tám đứa con đang tuổi ăn chưa no, lo chưa tới, thật là một gánh nặng cho mẹ.

Sau khi bố mất, mẹ tôi đã gượng đứng dậy trước nỗi đau bất ngờ, của người góa phụ thời chinh chiến. Để đưa chúng tôi về sống với bà ngoại ở xứ đạo Nghĩa Hòa gần Ngã Ba Ông Tạ. Nhờ ngoại có sạp bán quần áo may sẵn trong chợ nhỏ gần nhà, mẹ tôi theo bà ngoại tảo tần buôn bán, nên mẹ con cũng đắp đỗi qua ngày.
Image may contain: 17 people, people smiling, people sittingSau 30 tháng 4/75 mẹ và chúng tôi cùng chung số phận của những người miền nam, chịu cảnh đời thay trắng đổi đen. Một miền Nam trù phú, văn minh, bỗng chốc trở thành tiêu điều tan tác. Lại bị ngăn sông cấm chợ, tạo ra cảnh gạo Châu củi Quế. Nên mẹ tôi phải lăn lộn ngoài chợ trời, mua đi bán lại với sạp quần áo cũ.

“Người khôn của khó”. Mẹ tôi lại sang một cửa hàng gần chợ Tân Bình để bán đồ sành sứ, có những bộ tách trà cổ của Nhật nhẹ và đẹp, những chiếc ly, bình cắm hoa bằng pha-lê trong suốt, mẹ mua lại của những người cần tiền đem đồ qúy hiếm ở nhà ra bán. Cũng có những chén đĩa mới, hàng China nặng hơn, mà men không đẹp bằng của Nhật, nhưng vì hàng lậu ồ ạt đổ vào biên giới Hoa Việt tràn lan, giá rất rẻ nên được các bà nội trợ ưa chuộng đua nhau mua sắm, nhờ vậy mẹ tôi “trúng mánh”, lo được cho bày con.

Mỗi sáng mẹ đi bộ gần hai cây số, vừa đi vừa lần hạt, mẹ phó thác mọi sự cho Chúa. Đến chợ mẹ lại vất vả tất bật từ sáng cho đến nhá nhem tối mới về đến nhà. Tôi phải nghỉ học để đi làm, và phụ mẹ chăm sóc nuôi nấng các em. Bao nhiêu lo lắng đè trên đôi vai gầy của mẹ. Đêm đêm mẹ hay ngồi khóc một mình, tôi luôn an ủi và tâm sự với mẹ, cầm đôi tay khẳng khiu, nhìn tấm thân gầy còm, và vẻ mặt buồn não nuột, mà thấy thương mẹ vô cùng.

Hẳn là mẹ yêu bố lắm, vì cứ nhắc đến Người hoài. Mẹ thường kể cho chúng tôi nghe về những kỷ niệm xa xưa, nào là đám cưới mẹ mặc áo tứ thân, quần nái đen. Rước dâu phải đi bộ, rồi qua sông bằng đò, hết một ngày mới đến nơi, chúng tôi nghe đến thuộc lòng. Mẹ bùi ngùi kể, trước bố tôi học trong chủng viện, nhưng vì thiếu sức khỏe nên phải xuất ra và làm nghề dạy học. Tuy mang tiếng là “Thầy đồ dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” nhưng được cái bố cao ráo trắng trẻo, nhiều chữ nghĩa lại yêu nghề. Vào những năm cuối thập niên 1940, bố tôi nhờ người cất một ngôi nhà ở làng Nghĩa Dục, rồi mở lớp dạy chữ quốc ngữ. Một mình bố mà dạy nhiều lớp một lúc, bé có, lớn có, cả những ông già đang học xin phép ra sau hè kéo điếu thuốc lào. Châm ngôn của lớp: “Quốc ngữ là chữ nước ta, con cái nhà đều phải học”. Lúc bấy giờ ở trong làng, việc truyền bá quốc ngữ đang thịnh hành để xóa nạn mù chữ, mọi người trong làng đổ xô đi học, nên lớp học của bố tôi rất đông, nhưng học trò trả lương bằng thóc hoặc gạo chứ không trả bằng tiền.

Image may contain: 5 people, people standing, people walking, sky and outdoorThời Việt Minh mới cướp được chính quyền, phong trào bình dân học vụ được phát động, mọi người đều phải biết đọc, biết viết. Trên các đường cái dẫn đến chợ búa trong vùng, người ta lập những trạm có gác. Họ dựng một cái bảng lớn bên đường, rồi đặt chắn ngang một cây tre dài, bất kỳ ai đi qua đều phải đọc thuộc 24 chữ cái, hoặc đánh vần đúng thì được đi. Ai không biết chữ thì phải trở lại hoặc lội xuống ruộng mà đi.

Mẹ tôi cười méo mó kể, trong làng có một bà mụ tên là Trùm Vân, chuyên làm nghề đỡ đẻ tại nhà rất mát tay (vì thời đó quê mẹ chưa có nhà bảo sanh). Một hôm bà trùm đi qua trạm “khảo chữ” bà không biết đọc, cán bộ chận bà không cho đi, bà liền thoát y rồi vắt quần lên vai, miệng la lớn: “Xê ra cho bà đi!”… Rồi bà ngang nhiên đi qua trước sự sửng sốt của các cán bộ Việt Minh.

Sau chuyện “bà trùm cởi quần đi qua trạm khảo chữ” Mẹ tôi thở dài, kể thêm là bố cũng chẳng yên thân với nghề gõ đầu trẻ. Năm 1949, Pháp nhảy dù xuống Phát Diệm, đúng khi mẹ mới nằm cữ mới dậy, còn yếu, không chạy được, bố tôi phải đứng trước nhà nói chuyện với Pháp. Khi Pháp rút, Việt Minh nghi ngờ bố là gián điệp, cứ bắt lên bắt xuống tra khảo đủ điều, oan khiên không biết kêu vào đâu.

Mẹ kể, lúc bấy giờ mẹ tôi có một cái đầu rồng (máy may). Mẹ mở tiệm may, và mướn một bác phó may làm phụ. Vì nhà ở ngay ngã ba đầu làng, mẹ tôi bán thêm tạp hóa và vài món thuốc tây cần thiết như thuốc cảm, đau bụng… (lúc ấy rất hiếm) nên tiệm của mẹ đông khách, chắc mẹ tôi có duyên bán hàng, nên cuộc sống cũng dư dật, có của ăn của để. Nhưng mẹ tôi chép miệng tiếc rẻ, vừa xây nhà xong ở chưa được bao lâu. Thì Hiệp Định Geneve ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia đôi đất nước, vĩ tuyến 17 là đường ranh giới, miền Bắc Cộng sản cai trị, miền Nam là vùng tự do.

Biết không thể sống nổi với cộng sản, dân làng lần lượt bỏ trốn lên tỉnh. Bố tôi cùng các thanh niên ban đêm trốn đi Nam Định trước. Còn mẹ và dì Út tôi, tờ mờ sáng đầu đội tay xách, nách bế em tôi nên phải mướn người gánh phụ, một bên để tay nải quần áo, còn một bên để tôi ngồi lọt thỏm trong chiếc thúng đan cho cân bằng đôi quang gánh, họ đi nhanh trên con đường dẫn ra bến xe đò. Đến trước, họ gửi gói quần áo và tôi cho một người lạ trên chuyến xe ra Nam Định, mẹ đến sau rối rít tìm tôi, nếu chậm chút xíu nữa là tới giờ xe khởi hành sẽ chở tôi đi mất. Tối hôm ấy gia đình tôi ngủ nhờ nhà người quen, để ngày hôm sau lại đi xe ra Hà Nội ở vài ngày, rồi bố tôi đến đón cả nhà đi Hải Phòng, để lên “tàu há mồm” ra tàu lớn di cư, cập bến Đà Nẵng. Tôi còn quá nhỏ không hiểu nỗi mất mát đau buồn của gia đình tôi cũng như bao gia đình khác phải đành bỏ lại quê hương mồ mả, nhà cửa ruộng vườn để chạy vào Nam lánh nạn CS. Đó là tần thứ nhất, mẹ là một trong số hơn một triệu người Bắc di cư vào Nam để tỵ nạn Cộng Sản.

Image may contain: 2 people, people walking and outdoorCũng may mẹ tôi cùng gia đình đi thoát, và được sống trong không khí tự do cho đến tháng Tư năm 1975, lịch sử tái diễn, Cộng Sản lại tràn vào cưỡng chiếm miền Nam. Nhân dịp này nhiều người dân từ miền Bắc đã chạy vào Nam để tìm thân nhân và thay đổi cuộc sống. Điều làm tôi nhớ nhất là gặp được một nhân chứng sống sót của nạn cải cách ruộng đất.

Khoảng đầu năm 1976, mẹ tôi có người bác ruột, tên ông là Tổng Loan ở ngoài Bắc trốn mãi mới vào tới Sàigòn. Ông đến thăm và kể với mẹ tôi, năm 1954 vợ con ông di cư vào Nam được, còn ông kẹt lại bị Việt Cộng bắt đem ra đấu tố, vì trước kia ông là Lý Trưởng, nhà lại giàu có từ đời ông cha.

Ông Tổng Loan kể là chúng bắt ông quì giữa sân đình, trói quặt hai tay, đầu gục xuống. Chung quanh ông là đám đông ngồi vây kín, thỉnh thoảng lại giơ nắm đấm và hét to “Đả đảo địa chủ”, ông sợ hãi đến vãi đái và run lên cầm cập. Sau cùng chúng cho một đối tượng bần cố nông, ngồi lên hàng danh dự, đập bàn hạch tội, và cho những người làm công cho ông khi trước ra kể tội ông, hòng kết án tử hình. Nhưng nhờ vào thời ông đối xử tốt với bà con trong làng, được bà con thương nên chúng không có cớ giết ông, chỉ đánh đập rồi tịch thu hết tài sản và bắt ông đày đọa lên rừng sâu, cho đến năm 1975 cũng chưa được thả.
Vì ông đã quá già, râu tóc, lông mi lông mày bạc trắng, ông liều mạng trốn trại, quyết chí vào Nam để tìm vợ con. Vậy mà đi đến cầu Hiền Lương, nơi từng là ranh giới) phân chia nam bắc, ông cũng bị bắt lại ba lần, nhờ quá già nên được chúng thả ra. Sau khi thoát được vô miền Nam, ông tìm gặp đuợc gia đình như ng bà vợ ông ngày ấy bị bệnh lẫn (Alzheimer) không còn nhận ra ông.

Image may contain: one or more people, people sitting, motorcycle, tree and outdoor
Tại Sàigòn, nhờ mẹ tần tảo buôn bán, gia đình tôi có một căn nhà mặt tiền. Đây là nơi gia đình vừa ở vừa mở cửa hàng buôn bán. Thật ra thì nhà của mẹ tôi cũng chẳng to lớn gì, nhưng nó nằm bên cạnh nhà bảo sanh tư của một bác sĩ đã di tản từ 1975 bỏ lại. Thế là phường đội trưng dụng để làm trụ sở công an. Ý đồ họ là muốn chiếm luôn căn nhà của mẹ tôi bên cạnh để mở trụ sở rộng thêm. Vì vậy, ngày nào cũng có hai cán bộ trên phường tới nhà ốp mẹ tôi phải đưa gia đình đi kinh tế mới. Họ bảo mẹ buôn bán là bóc lột, là ăn bám, không đúng đường lối của chính sách. Họ chỉ có việc ăn, rồi đi đến những căn nhà ở vào tầm mắt của phường, thúc giục người ta đi để chiếm nhà cửa. Cuối cùng mẹ phải cắt một nửa hộ khẩu lên mạn Phương Lâm, mua căn nhà nhỏ và sào đất cho các em tôi tạm sống. Phần Mẹ thì cương quyết ở lại Sàigòn để tiếp tục tảo tần buôn bán để tiếp tế nuôi các em. vì đâu có đứa nào quen làm ruộng rẫy gì, mà còn mất cả học hành. Nhưng nhờ vậy, cán bộ phường không còn lý do đến thăm sức khỏe mẹ tôi nữa.

Bẵng đi một thời gian, thấy tình thế yên ổn, mẹ tôi lại chạy tiền lo hộ khẩu đem các em trở lại Sàigòn. Rồi vào đầu thập niên 1980, mẹ tôi gom góp, thu xếp cho các em tôi vượt biên, tìm sự sống trong cái chết, vì nhận thấy quê hương mình, không còn là nơi an toàn để sống. Đó là lý do mà ngày nay mẹ tôi có mặt tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ này, và cũng là lần tỵ nạn cuối cùng của đời mẹ.

*

Ngôi nhà chúng tôi đang ở gần nhà thờ Westminster, nằm trên đường Olive cách trung tâm Little Saigon khoảng mươi phút lái xe. Đây là nơi có số người Mỹ gốc Việt đông đảo nhất nên mẹ tôi nói người mình qua đây một nửa nước rồi, đông lắm con ạ! Mẹ đi lễ ở nhà thờ không còn chỗ mà ngồi, đi chợ thì gặp toàn là người Việt, tha hồ mà nói chuyện.

Cũng nhờ có mẹ ở với chúng tôi, coi sóc nhà cửa và các cháu để tôi yên tâm đi làm. Bên hông nhà quay ra đường có mảnh vườn nhỏ, khoảng 30 thước vuông, chung quanh rào bằng những miếng gỗ mộc mạc, vậy mà mẹ tôi trồng đủ các loại rau. Giữa vườn là luống rau muống, rau dền, mé vườn có dậu muồng tơi cạnh luống rau đay, rau cải cúc, rau thơm đủ thứ. Sau nhà là giàn su su sai trái hơn giàn mướp, giàn bầu có quả dài cả thước, leo lên hàng rào là khổ qua.

Image may contain: 1 person, bedroom and indoor
Vào mùa đông lạnh lẽo, mẹ tôi trồng xu hào củ to mà tròn trồi trên mặt đất, bên cạnh những bắp cải chắc nịch, một luống rau sà-lách giống Việt Nam, ăn dòn mà ngọt, rau cải xanh cũng hạp với trời mưa lạnh, nên tàu lá lớn và xanh rờn trông rất ngon. Ai đi qua cũng phải đứng lại nhìn vườn rau đủ loại. Mỗi lần có con cháu đến thăm, mẹ tôi cắt cho mấy bịch rau để làm quà đem về. Tôi cứ đùa, vườn rau của mẹ nằm ngay mặt tiền nên không bị ế. Rau ăn không hết, bán rẻ cũng đủ tiền nước, nhất là rau đay, rau mồng tơi, cụ cứ hái ngọn bán dần, riết rồi nhiều mối quá ai muốn mua phải gọi phone hẹn trước.

Nhớ mỗi chiều chúng tôi đi làm về, gia đình quây quần bên mâm cơm được mẹ nấu sẵn, mẹ tôi tỉ mỉ kho cá rất kỹ vì nhà tôi ít ăn thịt, món thịt kho với trứng cho các cháu không ăn cá. Ngày nào cũng thay đổi món canh, rau tươi sẵn ngoài vườn. Cả nhà vừa ăn vừa khen ngon là cụ thích. Bây giờ chỉ còn là kỷ niệm.

Trong chúng ta ai cũng có mẹ, dù hoàn cảnh có khác nhau, nhưng người mẹ nào cũng để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng ta. Mẹ tôi không lanh lợi sắc xảo, tôi chỉ thấy nơi mẹ một lòng đạo đức, một đức tin mạnh mẽ, và luôn phó thác con cái trong tay Chúa. Thật tội nghiệp mẹ tôi phải sống cảnh già tha phương nơi đất khách, mà lòng còn vương vấn, thương nhớ những đứa con còn lại, nơi quê nhà xa vời vợi. Mẹ tôi thường thở dài than: “Không biết bao giờ quê hương mới thoát ách Cộng Sản”.

Năng Khiếu

Nam Mai sưu tầm

 

 

 

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku

Người nữ tu trong cô nhi viện Pleiku

Truyện Ngắn của Phạm Tín An Ninh

Hình minh họa

Hơn sáu tháng sống chết với chiến trường và giữ vững được Kontum, đầu tháng 10/1972, đơn vị tôi nhận lệnh kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt dành cho một đơn vị đã tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng trên Đồi Đức Mẹ lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”.

Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa hy sinh trên chiến trường lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những vết chém đang còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên trong chốc lát đã là một điều không dễ, nên bọn tôi thèm những cơn say.

Rất may, tôi có một anh bạn – phải nói ông anh mới đúng – là Liên Đoàn Trưởng của một liên đoàn Biệt Động Quân, có căn cứ tại Biển Hồ. Vợ và hai đứa con bị chết thảm tại Quảng Đức hơn một năm trước, khi xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ còn làm người tình với rượu.

Những ngày không bận hành quân, anh đến đón tôi đi uống rượu trong một cái quán nằm trong Khu Chợ Mới, đã vậy mỗi khi trở về, anh còn dúi cho tôi một chai Henessey. Trước kia anh từng là một cấp chỉ huy có tiếng trong binh chủng này, nhưng vì bản tính ngang bướng bất cần, nên nhân một lý do phe phái chính trị nào đó, anh bị ngồi tù một thời gian ngắn.

Ra tù, anh bị thuyên chuyển về đơn vị tôi với cái lệnh “không được giữ bất cứ chức vụ chỉ huy nào”. Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ, an ủi anh và kéo anh về ở chung nhà trong khu cư xá, vợ tôi lo chuyện cơm nước cho anh.

Một thời gian sau, bỗng dưng anh được xét cho “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên đoàn Biệt Động Quân. Do cái ân tình đó mà anh quý mến tôi, kéo tôi theo các cuộc giải sầu này.

Thành phố Pleiku

Dường như ngoài quán rượu ra, thỉnh thoảng anh chỉ ghé đến thăm một cô nhi viện. Nói là viện nhưng thực ra đây chỉ là một ngôi trường cũ, được chỉnh trang lại, tạm đáp ứng nhu cầu cần thiết cho một trại cô nhi. Có lẽ anh muốn tìm lại bóng dáng của hai đứa con đã phải chết oan một cách đau đớn qua hình ảnh các cháu cô nhi mà đa số là con của tử sĩ, có cả con của những người lính Biệt Động Quân của anh, mà cả người mẹ cũng chết, hay vì một lý do nào đó không có khả năng nuôi dưỡng, nên đành phải gởi lại nơi đây, nương nhờ vào bàn tay và tấm lòng nhân ái của những bà sœur. Anh bảo là từ sau trận chiến Tân Cảnh và Kontum, cô nhi viện này nhận thêm khá nhiều cô nhi.

Hằng tháng, anh ghé lại đây thăm và tặng cho viện một số tiền, bởi bây giờ anh sống độc thân, không còn phải chu cấp cho ai. Biết điều này, tôi càng kính quý anh hơn. Một người ngang tàng không biết sợ ai, sống bất cần đời, nhưng bên trong là cả một tấm lòng vị tha nhân ái.

Một hôm theo anh đến đây, chúng tôi được một bà sœur ra tiếp và mời vào văn phòng uống trà. Anh bạn tôi thì đã là người quen biết từ lâu, trong cách giao tiếp, anh được các sœur xem như một ân nhân bảo trợ, chỉ có tôi là người lạ. Nhưng khi chào tôi, sœur bảo thấy tôi giống một người thân quen nào đó. Còn tôi, thì cũng mơ hồ như đã từng gặp người nữ tu này ở đâu rồi.

Cũng có thể vì khuôn mặt khả ái, hiền thục của sœur phảng phất gương mặt của Đức Mẹ Maria mà tôi thường thấy trên các bức ảnh hay bức tượng trong các nhà thờ. Được giới thiệu là sœur Anna, tôi biết đây chỉ là tên thánh của bà. Khi tôi vừa ngồi xuống phía đối diện, sœur nhìn chăm chú vào cái bảng tên của tôi trên nắp túi áo, bỗng mắt sœur như sáng lên:

– Có phải lúc trước Đại úy ở Tiểu Đoàn 3/44?

Tôi khựng lại, ngạc nhiên:

– Dạ, đúng là trước kia có mấy năm tôi ở tiểu đoàn này. Nhưng cách nay đã 6, 7 năm rồi!

– Đại úy còn nhớ trận Quảng Nhiêu. Hình như Đại úy suýt chết trong trận ấy?

Tôi càng ngạc nhiên hơn, không hiểu tại sao người nữ tu này biết rõ mình như thế. Tôi vừa trả lời vừa nghĩ ngợi, thăm dò:

– Dạ đúng, nhưng sao sœur biết. Chuyện đã xảy ra lâu lắm rồi mà.

Sœur Anna không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Đại úy thoát chết, nhưng người nằm hố bên cạnh thì bị nguyên một quả đạn súng cối 60 hay 80 gì đó, phải không?

Tôi giật mình, từ ký ức hiện ra rất nhanh hình ảnh hãi hùng này, và ngay lúc ấy, trước mắt tôi sœur Anna cũng phảng phất bóng dáng của một người con gái khác.

Vào khoảng đầu mùa hè năm 1966, tôi đang làm đại đội phó Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 3/44. Thời gian này hậu cứ tại Ban Mê Thuột, nhưng tiểu đoàn được chọn làm đơn vị trừ bị lưu động cho Sư đoàn và Khu 23 Chiến Thuật. Thời ấy chưa có các đại đội trinh sát. Đơn vị tôi có mặt gần như trên khắp lãnh thổ Khu 23 Chiến Thuật, kéo dài từ vùng cao nguyên có biên giới với Cam Bốt cho đến tận miền duyên hải. Có khi hôm trước còn hành quân ở Quảng Đức, Lâm Đồng, hôm sau lại có mặt ở Bình Tuy, Tuy Hòa, Phan Thiết...

Thành phố Cam Ranh

Một hôm, sau cuộc hành quân dài hạn ở khu Cà Ná, thuộc tỉnh Ninh Thuận, tiểu đoàn được lệnh di chuyển về Cam Ranh, vừa nghỉ dưỡng quân vừa giữ an ninh các đảo ngoài khơi để lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu đổ quân xuống đây thiết lập căn cứ.

Trong một đợt bổ sung quân số, đại đội tiếp nhận ba hạ sĩ quan và gần hai mươi tân binh vừa rời khỏi quân trường. Tôi đến bộ chỉ huy tiểu đoàn nhận lãnh và đưa về trình diện anh đại đội trưởng. Trong ba trung sĩ, một anh có dáng dấp, nói năng hiền lành như một thầy tu. Xem qua lý lịch và nhất là sau khi nói chuyện, tôi biết anh là thầy giáo một trường dòng và cũng là trưởng ca đoàn của một nhà thờ ở ngoại ô thành phố Nha Trang, quê hương tôi.

Tôi không phải là người Công giáo, nên không mấy am tường các sinh hoạt này, nhưng biết chắc một điều, trưởng ca đoàn phải là một người hát hay và giỏi về nhạc lý. Vốn có máu văn nghệ, lại là người đồng hương, nên tôi dễ thân tình và thường bắt anh hát cho cả đại đội nghe. Tôi đề nghị anh đại đội trưởng cho anh làm Hạ Sĩ Quan Tâm Lý Chiến của đại đội. Từ đó chúng tôi rất thân nhau, ăn cơm chung và treo võng ngủ gần nhau dưới một vòm cây dương liễu.

Thấy anh có cái tên hơi lạ, Nguyễn Phú Hùng Em, tôi đoán và hỏi anh có phải anh có người anh tên Nguyễn Phú Hùng Anh. Anh cười mà nét mặt không vui:

– Dạ, đúng là có một người là Nguyễn Phú Hùng Anh, nhưng không phải là anh ruột. Chúng tôi lớn lên trong viện mồ côi, vì trùng tên, và anh ấy lớn hơn tôi ba tuổi, nên các sœur đặt lại tên chúng tôi như thế. Bọn tôi cũng rất thân nhau và xem như anh em. Điều buồn, là anh ấy đi lính trước, vào Trường Sĩ quan Thủ Đức và tử trận cách nay hơn một năm rồi.

Thời gian này, đơn vị chúng tôi rất may mắn, chẳng khác nào được đi nghỉ mát. Hải đảo này là nơi thực tập cho các toán Biệt kích của Trung Tâm Huấn Luyện Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Bà Thìn, nên khá an toàn. Suốt ngày bọn tôi chỉ tắm biển, câu cá, ban đêm nằm nghe sóng vỗ, đàn hát nghêu ngao. Có lẽ đây là thời gian đặc biệt thoải mái nhất trong cuộc đời làm lính của tôi. Nhân cơ hội hiếm hoi này, ông Tiểu đoàn trưởng cho phép binh sĩ được luân phiên đón vợ con ra thăm và được ở lại trong hai tuần lễ.

Một hôm anh Trung sĩ Hùng Em xin tôi cho được đón người yêu mà anh cho biết, nếu anh không bị động viên thì chắc hai người đã làm đám cưới. Tôi sắp xếp, dọn sang nằm với người lính ô-đô và nhường chiếc võng lại cho anh. Cả bọn tôi khá bất ngờ khi anh đưa người yêu đến chào. Một cô gái đẹp, làn da trắng, khuôn mặt phúc hậu, đôi môi mọng đỏ với nụ cười hiền lành, lễ độ. So với anh, cô còn khá trẻ và có cái tên cũng rất khả ái: Thụy Khanh. Đặc biệt cô có giọng hát rất hay. Mỗi lần cô hát, cả đám lính tráng bọn tôi ngồi nghe mê mẩn.


Sau đó, cô đến đảo thăm anh vài lần nữa. Những ngày có bóng dáng cô, núi rừng trên đảo dường như bỗng trở nên đẹp, thơ mộng và vui vẻ hơn, sóng biển thì êm ả hơn như để cùng hòa theo tiếng hát của cô. Ngoài ra cô còn có tài nấu ăn, thường đãi bọn tôi những bữa cơm rất ngon miệng.

Tất cả đơn vị, từ quan tới lính ai cũng nghĩ anh Trung sĩ Hùng Em thật là tốt phước, ông trời đã cho anh một người tình, một người vợ lý tưởng sau này. Qua tâm tình, chúng tôi được biết, hai người quen biết nhau trong viện mồ côi từ khi còn rất nhỏ.

Sau này anh vừa là thầy dạy học, dạy nhạc vừa là trưởng ca đoàn của cô trong cùng một nhà thờ. Hai người đều chơi dương cầm và hát hay nhất trong ca đoàn. Tình yêu bắt đầu nảy nở từ môi trường cô nhi và âm nhạc. Và cuộc tình của hai người được các vị linh mục cùng các sœur đồng tình, khuyến khích, như là một sự kết hợp nhiệm màu của Thiên Chúa.

Hơn ba tháng thần tiên ở đảo Cam Ranh, khi các đơn vị tiền trạm của Hoa Kỳ được ào ạt đổ xuống thành lập “Cam Ranh Air Base”, tiểu đoàn tôi có lệnh rời khỏi đảo, di chuyển để tiếp tục lưu động khắp nơi. Lâm Đồng, Bình Thuận rồi Ninh Thuận.

Sau những cuộc hành quân dài hạn trong rừng, mỗi lần đơn vị được về phố ít ngày hoặc đóng quân trong các làng mạc ở khu ngoại ô tương đối an toàn, chúng tôi lại thấy người con gái xinh đẹp Thụy Khanh đến thăm và ở lại với người yêu. Đó là một đôi tình nhân gắn bó, đẹp và lãng mạn nhất mà bọn tôi chứng kiến, và có lẽ ai cũng thèm thuồng có được một hạnh phúc như thế.

Tháng bảy năm 1966, khi đơn vị nghỉ quân ở Tháp Chàm – Phan Rang, Trung sĩ Hùng Em xin một tuần phép đặc biệt để về Nha Trang làm đám hỏi. Anh bảo cả hai người đều không có cha mẹ anh em, nên lễ đính hôn đều do các vị linh mục và các sœur đỡ đầu tổ chức.


Đúng lúc anh vừa mãn phép trở lại, thì đơn vị có lệnh không vận khẩn cấp lên Ban Mê Thuột để tiếp viện cho một đơn vị Biệt Động Quân và Thiết Giáp bị thiệt hại khá nặng tại trận chiến Quảng Nhiêu, nằm phía Tây Bắc, cách thành phố Ban Mê Thuột khoảng hơn mười cây số.

Trận chiến khá cam go, ác liệt. Một lực lượng địch cấp trung đoàn, sau khi tổ chức phục kích gây tổn thất cho chi đoàn Thiết Quân Vận và một đại đội Biệt Động Quân tùng thiết, bọn chúng đào nhiều giao thông hào và hầm hố cá nhân kiên cố trong các vườn cà-phê, để chặn đánh các cánh quân của ta tiếp viện. Tiểu đoàn tôi cùng một chi đoàn Thiết Vận Xa khác được tăng phái cho Trung Đoàn 45, đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Võ Văn Cảnh, đảm trách cuộc hành quân phản công, bao vây tiêu diệt địch.

Địch chiếm ưu thế về vị trí, chuẩn bị trận địa, bên ta có sức mạnh của thiết giáp và không yểm. Sau suốt năm ngày đêm không ngủ, lăn mình trong mịt mù lửa đạn quần thảo với địch, cuối cùng chúng tôi đã đạt được chiến thắng. Một số lớn địch quân bị tiêu diệt và bắt sống, nhưng bên ta cũng phải trả một cái giá không nhỏ. Đại đội tôi may mắn, chỉ có ba quân nhân tử trận và khoảng mười người bị thương, trong đó có anh đại đội trưởng. Tôi được chỉ định tạm thời chỉ huy đại đội.


Cuộc hành quân vẫn chưa kết thúc, một số đơn vị tiếp tục truy kích địch, riêng tiểu đoàn tôi được lệnh ở lại Quảng Nhiêu. Ban ngày tung các cuộc hành quân tảo thanh chung quanh, ban đêm phòng thủ bảo vệ khu vực dân cư, mà đa số là người Công giáo, đề phòng địch quay lại quấy rối, phục thù.

Đại đội tôi được chỉ định bảo vệ một Pháo đội Pháo Binh 105 ly. Điều tồi tệ là vị trí Pháo đội này nằm trên một khu đất trống trải, trong phòng tuyến và cả phía bên ngoài cũng không có một cành cây, dưới đất chỉ toàn là bụi đỏ, dày cả một gang tay. Mỗi lần Pháo binh tác xạ, cả đất trời gần như chỉ toàn là bụi.

Đám lính chúng tôi từ đầu tới chân cũng phủ đầy bụi đỏ. Đơn vị Pháo Binh thì đã có sẵn hầm hố kiên cố từ trước, còn đại đội tôi phải tự đào lấy những hố cá nhân, nhưng không thể đào sâu được, vì dưới đất chỉ toàn bụi và bụi, đào đến đâu bụi đỏ tràn theo tới đó, và mỗi lần Pháo Binh tác xạ, những cái hố này bị bụi lấp cạn thêm.

Ban đêm, chúng tôi nằm trong những chiếc hố ấy, nhưng không che đủ nửa thân người. Cái hố của tôi dành cho hai người nằm, tôi và anh Hạ sĩ mang máy truyền tin. Hố kế bên trái là Trung sĩ Hùng Em và anh lính ô-đô của tôi.

Một hôm, khoảng hai giờ sáng, khi tôi đang ngủ chập chờn, bỗng một tiếng nổ chát chúa ngay bên cạnh, mảnh đạn và bụi phủ đầy người, tôi bật dậy chụp vội cây súng Carbine M2 chạy ra hàng rào phòng thủ, nơi vọng gác có đặt khẩu đại liên. Rờ nắn vội qua khắp người xem có thương tích gì không, tôi thở phào vì không thấy dấu hiệu đau đớn nào, nhưng khi các trái sáng bắn lên, nhìn bụi đỏ phủ đầy người tôi giật mình cứ ngỡ là máu. Địch quân đã pháo kích chúng tôi hơn 10 quả bằng hai khẩu súng cối 61 ly từ hai địa điểm khác nhau. Pháo Binh đã phản pháo chính xác làm bọn chúng câm họng.

Khi tình hình ổn định, trở về hố, tôi bàng hoàng nghe anh lính ô-đô báo là Trung sĩ Hùng Em đã chết. Anh đã lãnh nguyên một quả đạn 61 ly, rớt ngay sát bên cạnh, ruột đổ ra ngoài và thân thể nhuộm đầy máu. Điều kỳ lạ, là anh lính ô-đô của tôi nằm ngay một bên mà không hề hấn gì, chỉ có áo quần dính đầy máu và thịt của người đồng đội xấu số. Tôi theo hai người lính khiêng thi thể Trung sĩ Hùng Em, được gói tạm trong tấm poncho, vào hầm cứu thương của Pháo Đội. Anh chết thật thê thảm. Tôi đứng lặng người, sau khi vuốt đôi mắt cho anh. Từ khi ấy cho đến sáng, tôi không hề chợp mắt.

Tôi nghĩ đến Thụy Khanh, cô con gái xinh đẹp hiền thục, có giọng hát khuấy động cả trái tim người, vừa trở thành vị hôn thê của anh chỉ mới hai tuần trước. Trưa hôm qua, khi rủ nhau vào thăm ông cha xứ trong xóm đạo và để xin được tắm giặt ở cái giếng sâu phía sau nhà thờ, anh đã khoe tôi tấm hình anh chị chụp chung trong lễ đính hôn, và bảo rằng cuối năm này hai người sẽ làm đám cưới. Anh còn nói nhỏ với tôi, ông cha xứ của anh hứa sẽ giới thiệu anh với vị Linh mục Tuyên úy của Sư Đoàn để xin anh về làm ở Phòng Tuyên úy, vì hai ngài là bạn tu với nhau và được thụ phong cùng một ngày.


Nhớ tới hai khuôn mặt hiền lành với nụ cười rạng rỡ trong tấm hình đính hôn, lòng tôi se lại. Chiến tranh tàn ác quá, đã chia ly biết bao nhiêu người, và làm dang dở biết bao mối tình đẹp đẽ như anh Hùng Em và cô gái Thụy Khanh. Tôi bỗng chạnh lòng, nhớ tới người yêu, cũng là vị hôn thê của chính mình, hằng đêm cầu nguyện cho tôi, từ một thị trấn nhỏ, mà giờ đây đang xa tít mịt mùng.

Một năm sau đó, tôi được nghỉ mười lăm ngày phép về Nha Trang làm đám cưới. Nhớ đến Hùng Em, tôi rủ vợ cùng tìm đến nhà thờ gần khu Đồng Đế để hỏi thăm tin tức về nơi chôn cất anh. Chúng tôi được một vị linh mục trẻ đón tiếp niềm nở và hướng dẫn đến thăm mộ Hùng Em, nằm trong một nghĩa trang nhỏ của giáo xứ, gần biển. Từ đó, tôi có thể nhìn thấy Hòn Chồng, nơi chôn giấu nhiều hang động của tuổi thơ tôi. Đọc trên tấm bia, tôi thấy tên người lập mộ được ghi vỏn vẹn hai chữ: Thụy Khanh.

Nhớ tới người con gái xinh đẹp, phúc hậu, có giọng hát rất hay ấy, tôi hỏi vị linh mục:

– Thưa cha, chị Thụy Khanh, vị hôn thê của anh Hùng Em có khỏe không, và bây giờ chị đang ở đâu?

Vị linh mục buồn bã:

– Chị ấy đã di chuyển đến một nơi khác, khoảng ba tháng sau khi anh Hùng Em qua đời, nhưng thi thoảng chị có ghé về đây ít hôm thăm giáo xứ và viếng mộ anh ấy.

Tôi không dám tò mò thêm nữa. Cám ơn cha và đưa ngài về lại nhà thờ rồi xin phép cáo từ.

Sau đó, cuộc chiến ngày càng khốc liệt, tôi theo đơn vị hành quân liên miên, bao nhiêu lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Người lính chiến, chuyện sống chết chỉ tùy vào số mệnh, không ai có thể tránh được lằn tên mũi đạn. Đồng đội tôi đã có biết bao người ngã xuống. Có những cái chết còn thê thảm hơn cả cái chết của anh Trung sĩ Hùng Em lúc trước.

Tôi đã chứng kiến cảnh một người vợ trẻ ngất xỉu khi đến nhận xác chồng mà không tìm thấy cái đầu, một bà mẹ đã lăn đùng ra chết ngất khi thi thể đứa con hy sinh chỉ còn lại một phần và bà không thể nhận diện được con mình. Những khủng khiếp của chiến tranh sau này, cùng với thời gian, dần dà làm tôi tạm quên nhiều chuyện đau đớn cũ.

- Ông Trung úy Điệp, người Huế, làm đại đội trưởng lúc ở ngoài Cam Ranh, bây giờ ra sao rồi, Đại úy?

Câu hỏi của sœur Anna làm tôi giật mình, trở về thực tại:

– Dạ, anh Điệp đã chết lâu rồi. Anh tử trận tại Thiện Giáo–Phan Thiết, chỉ sau hai tuần làm đám cưới với cô giáo Diệu, cũng người Huế, nhưng sống ở Ninh Hòa. Hai người quen nhau khi đơn vị tôi về thụ huấn bổ túc tại TTHL Lam Sơn. Không ngờ sœur vẫn còn nhớ tên anh ấy.

Sœur cúi xuống, trầm ngâm giây lát. Khi ngước lên, bà lấy khăn tay lau nước mắt.

– Tôi và anh Hùng Em cũng làm đám hỏi đúng hai tuần. Cô giáo Diệu nào đó không biết may mắn hay là bất hạnh hơn tôi khi đã được làm vợ, cũng chỉ mới hai tuần?

Vừa nói xong, sœur vội vàng nói lời xin lỗi, bảo đúng ra, một người đi tu, không nên suy nghĩ đến những điều như thế.

Bốn tháng sau lần gặp gỡ bất ngờ đó, tôi đến thăm cô nhi viện môt lần nữa, nhưng lần này, tôi cùng đi với cô Trung úy Trưởng Ban Xã Hội, để giới thiệu với sœur Anna, nhờ cô nhi viện tạm chăm sóc hai đứa bé, con của một anh chuẩn úy. Cả hai vợ chồng bị chết bởi đạn pháo ở Kontum. Sœur Anna rất vui vẻ, ân cần, sẵn sàng nhận giúp và bảo tôi bất cứ khi nào có dịp về Pleiku, nhớ ghé lại thăm. Chúng tôi cám ơn, biếu cô nhi viện một ít tiền, và hứa nhất định sẽ trở lại thăm sœur và hai đứa bé.

Nhưng rồi tôi đã không giữ được lời hứa ấy. Từ đầu năm 1973, sau khi Mỹ ký hiệp định Paris trên xương máu của người bạn đồng minh, những người lính VNCH đã phải chống đỡ làn sóng xâm lăng của cộng sản phương Bắc, ồ ạt đem đại quân, xe pháo vào quyết chiếm miền Nam, tôi đã cùng đồng đội miệt mài với chiến trường, súng đạn, mà sự viện trợ ngày một cạn dần, nên xương máu anh em lại càng đổ ra nhiều hơn nữa.

Ngày 11/3/75, Ban Mê Thuột thất thủ. Đơn vị tôi đang hành quân ở khu vực Tây Nam Pleiku, có lệnh kéo về Hàm Rồng để được trực thăng vận xuống Phước An, quân lỵ cuối cùng còn lại của tỉnh Đắc-lắc, nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột, nơi có bản doanh Sư Đoàn và hậu cứ của đơn vị chúng tôi. Khi BCH Trung Đoàn và một tiểu đoàn cùng đại đội Trinh Sát vừa được đổ xuống Phước An thì Pleiku có lệnh di tản. Hai tiểu đoàn còn lại của chúng tôi phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B.

Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ đã đưa đến thất bại nặng nề bi thảm. Cả hai tiểu đoàn khi về đến Tuy Hòa chỉ còn lại một phần tư quân số, hai anh tiểu đoàn trưởng đã phải tự sát để không lọt vào tay giặc.


Cuối cùng, miền Nam cũng mất. Tôi và cả cha tôi đều bị tù đày khốn khổ. Cha tôi, tuổi già sức yếu, không đủ sức để chịu đựng bao đòn thù tra tấn, hành hạ, nên đã chết trong trại tù Đá Bàn vào tháng 6 năm 1976, còn tôi bị đày ải qua nhiều trại tù, từ Nam ra Bắc.

Sau gần tám năm tôi được thả về để chứng kiến một quê hương nghèo khổ điêu tàn, vợ con nheo nhóc. Tôi quyết định vượt biên, dù có phải chấp nhận bao hệ lụy khôn lường. Tôi rủ vài người bạn tù cùng tổ chức vượt biển, trong số này có một anh bạn nguyên là sĩ quan Hải quân có nhiều kinh nghiệm hải hành. Nơi bọn tôi hẹn gặp gỡ là một cái quán nhỏ của gia đình người bạn tù khác nằm gần khu Hòn Chồng.

Một hôm, sau khi bàn công việc và ăn uống xong, tôi bỗng nghĩ tới anh Trung sĩ Hùng Em, khi chợt nhớ ngôi mộ của anh cũng nằm gần nơi này. Tôi nhờ anh bạn chở tôi đến đó. Vì nghĩa trang nhỏ, nên tôi dễ dàng tìm ra ngôi mộ của anh Hùng Em. Điều làm tôi sững sờ là ngôi mộ nằm bên cạnh có tấm bia ghi đậm tên người quá cố: Sœur Anna Phan Thụy Khanh, được Chúa gọi về ngày 15/3/1975.

Tôi không biết vì sao cô chết, chỉ còn nhớ thời gian này đã từng xảy ra cuộc di tản kinh hoàng trên Tỉnh Lộ 7B. Chúng tôi tìm đến nhà thờ với ý định hỏi thăm cha xứ, nhưng rất tiếc ngài đi vắng, trong nhà thờ chỉ có hai thiếu niên rất trẻ, không hề biết sœur Anna là ai.

Khi rời khỏi nơi này, trong cái man mác buồn tôi bất chợt thấy vui vui, và buột miệng như để nói với chính mình:

– Cuối cùng thì hai người cũng được ở bên nhau.

Tôi chưa (và có lẽ không) có cơ hội nào để trở lại Pleiku. Ngày xưa, tôi chỉ ghé lại thành phố bụi đỏ này một đôi lần ngắn ngủi, như chỉ một thoáng chợt đến chợt đi, chưa hề làm quen với một “em Pleiku má đỏ môi hồng” nào.

Ngoài Đồi Đức Mẹ, nơi đơn vị đóng quân một tháng, cả một tháng gió mưa lầy lội, tôi chỉ còn nhớ cái quán rượu trong Khu Chợ Mới, nơi anh bạn Biệt Động Quân đưa tôi đến để tìm những cơn say, và một ngôi trường được dùng làm cô nhi viện, nơi có sœur Anna xinh đẹp, đã gợi lại trong tôi hình ảnh của những đồng đội đáng mến mà vắn số như Nguyễn Phú Hùng Em.

Tôi da diết nhớ đơn vị cũ, thời chúng tôi còn trai trẻ, nhớ từng khuôn mặt bạn bè đã nằm lại trên các chiến trường xưa hay đang lưu lạc muôn phương, tiếc thương cho cuộc tình đẹp của những người lính trẻ, lãng mạn, thơ mộng, nồng nàn nhưng sớm chia lìa đớn đau bởi cuộc chiến tranh oan nghiệt.



Phạm Tín An Ninh

-Hình minh họa - Internet

 

 Kim Kỳ sưu tầm

 
Xem thêm...

Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

 Kiếp sau em chờ anh ở đâu?

▂ ▃ ▅ ▆ █ █ ▆ ▅ ▃ ▂

 

Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?

Mùa đông năm ấy thật lạnh, tuyết rơi nhiều khiến mặt đất biến thành một sân trượt tuyết trơn láng. Anh khẽ xoa đôi bàn tay lạnh cóng kiên nhẫn ngồi đợi cô đến.

***

Nơi anh và cô thường hò hẹn là một công viên nhỏ đối diện nhà cô. Anh đưa mắt nhìn lên cửa sổ phòng cô, đã hơn 7h tối mà sao cô vẫn chưa xuống anh khẽ thở dài lấy một cành cây nhỏ vẽ những vòng tròn trên nền tuyết cứng.

Trong mỗi vòng tròn đó anh đều viết một chứ “yêu” và tất cả chữ yêu đó đều hợp lại thành tên cô. Anh chăm chú vào kiệt tác của mình như quên cả thời gian… Còn cô vẫn lén đứng bên cửa sổ theo dõi mọi cử động của anh. Trái tim cô xót xa khi nhìn anh ngồi một mình lạnh giá. Tình yêu của anh dành cho cô chứa đựng biết bao nhiêu đau đớn và hy sinh.

http://gocnhosantruong.com/media/k2/items/cache/0561cc10daff735d0e0b338e3548f06d_XL.jpg

Anh luôn tự ti và trách móc mình kém cỏi vì chỉ là một người công nhân không thể xứng đáng với cô, sinh viên của một trường đại học. Tình yêu của họ xen lẫn với biết bao đau khổ dằn vặt khi gia đình cô ra sức ngăn cấm. Đã biết bao lần cô muốn rời xa để không mang thêm áp lực đau khổ đến cho anh nhưng trái tim cô lại không thể. Cuối cùng không chịu được cô lao xuống cầu thang…

Cô đứng trước mặt anh. Anh vui mừng chạy đến ôm chặt cô vào lòng: “Cuối cùng em cũng đã đến, anh đã sợ em không thể gặp anh!”. Bàn tay anh khẽ vuốt mái tóc cô, anh dịu dàng nhìn cô nói: “Hôm nay anh phải về nhà thăm bố mẹ một thời gian. Nhưng anh sẽ rất nhớ em!”

“Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?”

“Ban ngày mẹ em đi làm anh có thể gọi điện cho em, em sẽ chờ điện thoại của anh, như vậy sẽ giống như chúng mình được ở bên nhau vậy, sẽ không buồn nữa!”. Cô nép mình bên vai anh thầm thì.

Anh khẽ ôm chặt cô hơn và chỉ cho cô thấy tác phẩm trên tuyết mà anh đã làm tặng cô. Trên nền tuyết trắng tên cô được viết bằng hàng trăm chữ yêu hợp lại, trái tim cô run lên vì xúc động, cô biết anh yêu cô rất nhiều.

Anh khẽ lấy tay kéo cao cổ áo cho cô, rồi dặn dò: “Em ở lại nhớ chú ý học hành thật tốt, đừng nhớ đến anh nhiều quá ảnh hưởng đến việc học. Khi nào buồn em cũng đừng nhốt mình trong phòng mà hãy ra ngoài đi dạo, đi chơi với bạn bè. Những lúc không có việc gì thì đan cho anh cái áo len, đến mùa xuân anh sẽ mặc nó được chứ? Như vậy thì lúc nào cũng sẽ có cảm giác anh luôn ở bên em, em sẽ không thấy cô đơn nữa!”.

Nói rồi anh rút ra trong túi một gói giấy nhỏ nhét vào tay cô: “Đây là một ít tiền lương tháng này của anh. Anh đã giữ một ít tiền để đi đường và mua ít quà cho gia đình, còn đâu em giữ lại để mua cho mình một bộ quần áo mới nhé! Cẩn thận đừng để mẹ em biết nếu không anh sợ em phải chịu khổ”.

Cô cầm gói tiền của anh trong tay mà nước mắt lăn dài… Sau đó cô đưa anh ra bến tàu. Khi anh bắt đầu bước lên xe, cô nhét gói tiền vào túi anh và nói: “Anh hãy cầm số tiền này mua thêm ít quà cho bố mẹ, còn em sẽ giữ một đồng coi như là món quà Tết anh tặng cho em. Trên đường đi nhớ bảo trọng anh nhé!” Anh chưa kịp phản ứng gì thì đoàn tàu đã nhanh chóng chuyển bánh. Anh vội vã gọi với lại theo cô: “Giữ gìn sức khỏe em nhé! Anh nhớ em rất nhiều!”. Cô gật đầu vẫy tay nhìn bóng anh khuất xa dần…

Về đến nhà, việc đầu tin là anh gọi điện về cho cô. Nhưng mẹ cô cầm máy, bà lạnh lùng nói: “Anh có phải là người công nhân đang theo đuổi con gái tôi không? Xin anh hãy tránh xa con gái tôi, nó đang ốm và không muốn gặp anh! Lần sau xin anh đừng bao giờ gọi điện đến nữa”.

Anh đau đớn, lẳng lặng dập máy, nghĩ đến cô đang ốm, lòng anh thấp thỏm không yên. Còn cô cả ngày chỉ nằm trên giường chờ điện thoại của anh, nhưng mấy ngày rồi vẫn không thấy anh gọi về, trong lòng cô cũng lo lắng không yên.

Để bớt nhớ anh, cô đi mua len về đan áo như lời anh dặn. Cho đến một ngày chuông điện thoại reo vang, cô nhấc máy vừa nói được tiếng alo thì mẹ cô đã tiến lại gần. Cô chỉ kịp nghe thấy giọng anh gấp gáp: “Là em có phải không? Em sao rồi? Sao không nói gì? Em bị cảm đã đỡ chưa? Trả lời anh đi…Em!

Image result for hình ảnh đẹp tình yêu lãng mạn và hạnh phúc 

Cô không kịp nói gì thì mẹ cô đã ngay lập tức dập máy. Bà tức giận thẳng thừng nói với cô: “Nếu con còn ngang bướng tiếp tục giao du với thằng công nhân đó, thì nhà này coi như không có đứa con gái này nữa!”. Cô đứng đó chết lặng. Chờ mẹ đi rồi cô mới bắt đầu khóc nấc lên, cô nhớ anh vô hạn…

Nhớ lời anh cô rời khỏi nhà ra ngoài đi dạo cho lòng khuây khoả ,cô lại đến nơi anh và cô thường gặp nhau, nhìn những chữ “yêu” anh viết cho cô còn sót lại trên tuyết, nước mắt cô lại rưng rưng.

Cô bước lên xe bus sang nhà người bạn thân tiếp tục công việc đan áo của mình. Đường đi phủ một lớp tuyết cứng dày trơn nhẫy, mặc dù xe đi rất chậm nhưng vẫn bị trượt bánh nhiều lần. Bỗng cô nghe thấy một tiếng “ầm” xé tai, cùng với những mảnh kính nát vụn bắn tung tóe, cuộn len trong túi cô văng ra ngoài cửa sổ.

Cô chỉ kịp nghe tiếng ai thất thanh: “Hai xe đâm nhau rồi”, tay nắm chặt chiếc áo len đang đan cô thiếp đi không biết gì…

1416589030-yeuemhonngayxua

***

Đã hơn ba ngày đêm, cô vẫn hôn mê không tỉnh. Bố mẹ cô khóc sưng cả mắt, tuyệt vọng ngồi bên giường bệnh chờ phép màu xảy ra. Bác sĩ nói nếu cô tỉnh dậy, còn tâm nguyện gì phải làm ngay vì có thể thời gian của cô không còn nhiều nữa.

Đến nửa đêm ngày thứ tư cuối cùng bàn tay cô cũng khẽ động đậy, mẹ cô vụt tỉnh dậy ôm chầm lấy cô òa khóc, giọng bà khản đặc: “Con gái! Con có điều gì muốn nói không? Hãy nói cho mẹ, đừng ngủ nữa con…” Cô mấp máy môi nói được những tiếng đứt đoạn: “Áo..áo…len… mang cho con!”.

Mẹ cô sực tỉnh tìm cái áo len cô vẫn ôm chặt trong tay từ bữa xảy ra tai nạn đưa cho cô. Cô run run muốn giơ tay với lấy nhưng không đủ sức nữa, cô khẽ thều thào vài tiếng “Con…nhớ… anh ấy!”.

v

Bà vội gọi chồng đi tìm số điện thoại của chàng trai và nhắn anh đến bệnh viện ngay! Nghe thấy tên anh, cô khẽ mỉm cười rồi lại thiếp đi… Mẹ cô đau đớn cứ ôm cô mà khóc. Bà vô cùng ân hận vì đã ngăn cản cô đến với anh, bà nghĩ có lẽ tâm nguyện của con gái bà là đan xong cái áo len tặng người con trai ấy. Nghĩ vậy bà lau nước mắt và cặm cụi ngồi đan nốt phần còn lại. Nước mắt của bà cùng máu trên người cô dính vào từng sợi len khiến chiếc áo len trở lên nặng trĩu…

Khi anh đến bệnh viện thì cũng là ngày thứ năm, khuôn mặt anh hốc hác, hai mắt thâm quầng lao đến phòng bệnh của cô. Nhìn thấy cô vẫn thiếp đi trên giường, anh nghẹn ngào nắm chặt đôi bàn tay của cô òa khóc.

Như một phép màu, cô từ từ mở mắt, anh vội lau nhanh những giọt nước mắt trên mặt mỉm cười nhìn cô ấm áp: “Anh đã quay trở lại rồi đây! Em đừng lo lắng nữa nhé, có gì từ từ nói thôi..” Cô mấp máy định nói điều gì mà không thành tiếng, khóe mắt cô những giọt nước mắt thi nhau chảy, rồi cô lại thiếp đi.

qnh-bia-hai-nguoi-om-nhau-8

Anh cứ thế ôm cô khóc nấc lên. Có lẽ dường như nghe thấy tiếng khóc của anh, cô lại từ từ mở mắt, cô dùng hết sức lực thều thào những tiếng cuối cùng: “Đừng khóc nữa…Kiếp sau…em sẽ chờ đợi anh!”.

Nói rồi cô nhắm mắt bất động. Bác sĩ đến. Giọng ông nghẹn lại: “Cô ấy đi rồi! Cô ấy phải muốn gặp anh lắm nên mới có thể chờ anh được lâu đến vậy, đó đúng là một kỳ tích. Bởi não của cô ấy hầu như đã bị chết đến 90% rồi! Anh hãy vững vàng mà sống không nên phụ lòng cô ấy!”

Mẹ cô cũng tiến lại, bà rưng rưng đưa cho anh cái áo len đã đan xong và nói đây là kỷ vật cuối cùng cô để lại.

Anh run run cầm chiếc áo trên tay, nhìn thấy những giọt máu khô trên áo, anh chao đảo quỳ xuống ôm lấy cô gào lên tức tưởi: “Hãy nói cho anh, kiếp sau em chờ anh ở đâu?”

 

HVst

anh-bia-tinh-yeu-dep-lang-man (13)

Xem thêm...

Truyện ngắn Thành phố cao nguyên

Thành phố cao nguyên

Truyện ngắn của Đặng Chương Ngạn

Xe chầm chậm lên dốc, vượt qua khúc quanh đồi thông, thành phố cao nguyên hiện ra trước mặt Kim. Những mái ngói đỏ. Những mảnh tường màu trắng. Những mảnh vườn trồng hoa … Và, sương chiều lảng bảng. Đẹp quá ! Kim muốn thốt lên như vậy. Anh biết dưới kia là hàng ngàn biệt thự xinh xắn, mỗi biệt thự có vẻ kiến trúc riêng. Anh biết mình đang ở độ cao một-ngàn-trăm mét so với mực nước biển. Đấy là những gì sáng nay anh vừa nghe được từ cô hướng dẫn viên du lịch. Kim quay lại nhìn những người bạn đồng hành. Họ đều đã rủ bỏ vẻ mệt mỏi, gà gật suốt chặng đường dài, đang đăm đăm nhìn qua cửa kính. Nhiều người đứng dậy rời khỏi chổ ngồi. họ muốn nhìn rõ hơn cảnh đẹp bên đường …

Nỗi xúc động mơ hồ lan nhẹ trong Kim. Vậy là anh đã đến Đà Lạt. Lần đầu tiên anh đặt chân đến cao nguyên sau bao năm tháng chờ đợi, ao ước. Với Kim, chuyến đi này đâu chỉ là một cuộc dạo chơi như những người khách du lịch khác, anh đến đây còn để tìm lại dấu vết của một người ruột thịt.

 

Hai mươi năm trước, người chú Kim đã sống ở thành phố này. Ông yêu một cô gái Đà Lạt theo học sư phạm ở Sài Gòn. Say đắm đến nỗi khi cô gái quay trở về Đà Lạt dạy học, ông chú cũng bỏ luôn Sài Gòn lên đây. Ông xin vào làm việc cho một nhà thuốc, thuê căn gác nhỏ nằm trên đường phố cô gái hàng ngày qua lại. Sáng sáng, cô gái dịu dàng trong chiếc áo dài đến trường dạy học, ông chú đứng trên căn gác nhỏ nhìn theo … Nhưng mối tình đẹp của họ không đi đến kết cuộc. Mấy năm sau, ông chú bị tai nạn xe cộ trên đèo Bảo Lộc. Khi chú mất, những người thân trong gia đình vẫn chưa biết gì nhiều về tình yêu của ông, về cô gái ông yêu …

 

Người chú mất hai năm, Kim mới đến tuổi đi học. Anh biết ngừoi chú chủ yếu qua những bức ảnh và thư từ : ông cao gầy, thư sinh và khá đẹp trai. Có hai bức ảnh người chú chụp ở Đà Lạt. Trong một bức ảnh, chú ngồi trên đồi thông lặng lẽ, cô đơn. Bức ảnh kia, chú và mấy người bạn đồng nghiệp đứng phía trước ngôi nhà chú thuê căn gác. Căn gác nhỏ như chuồng chim câu. Tầng trệt ngôi nhà là một cửa hàng giầy dép. Sau này, đọc kỹ những bức thư chú gửi cho cha mình, Kim mới biết dược ngôi nhà đó năm trên đường phố Ng. T.

 

Lớn lên, Kim rất yêu người chú của mình. Câu chuyện tình của ông cứ ám ảnh anh mãi. Kim nuôi dự định sẽ đi đến thành phố cao nguyên, tím kiếm ngôi nhà có căn gác nhỏ. Anh hy vọng gặp lại người chủ cũ. Biết đâu, anh sẽ lần ra dấu vết của người chú trong những năm tháng ông sống ở đây, thành phố lắm sương mù này …

 

Đến bây giờ, khi đã gần hai mươi sáu tuổi, Kim mới thực hiện được chuyến đi dự định của mình. Một chuyến đi có lẽ đã quá muộn mằn …

Đoàn khách du lịch sẽ ở Đà Lạt ba ngày. Theo kế hoạch, buổi sáng họ đến các điểm tham quan, còn buổi chiều mỗi cá nhân có thể đi chơi theo chương trình riêng của mình.

Ngày đầu tiên. Buổi sáng, cô hướng dẫn viên du lịch dẫn họ đi Đài liệt sĩ và thác Camly. trời lành lạnh, Kim phải khoác thêm chiếc áo khoác mỏng. Thác Camly không đẹp như Kim tưởng nhưng sương mù Đà Lạt làm Kim mê hồn. Sương quấn quýt những gốc thông trên đồi, giăng phủ mặt nước hồ Xuân Hương, loang dần dưới lũng sâu. Xe và người trong màn sương như thực như ảo.

 

Buổi chiều, kim đi ra phố. Đúng là phố núi. Nhà cao thấp lô nhô. Đường phố thật lạ lùng, lên xuống, uốn lượn, cứ như chơi trò đuổi bắt. Phố yên tĩnh, yên tĩnh quá. Khách bộ hành bước thật nhẹ, thật êm, nói năng cũng thật êm, chừng như ai cũng làm khuấy động bầu không khí tĩnh lặng quanh mình. Kim tìm ra phố Ng.T. không thấy khó khăn. Kim có ý nghĩ rằng mấy chục năm qua phố xá không hề thay đổi : vẫn những ngôi nhà ấy, vẫn đường phố, hẻm phố và những tấm biển chỉ đường ấy … Một người đàn ông lớn tuổi cho Kim biết địa chỉ của ba hiệu giày trên đường Ng.T. hai mươi năm trước.

Hai địa chỉ đầu làm Kim thất vọng nhưng anh sung sướng suýt reo lên khi tìm đến địa chỉ cuối cùng. Ngôi nhà ấy đây – ngôi nhà chú anh đã từng ở. Căn gác lơ lững như chuồng chim câu. Chỉ khác với tấm ảnh chụp ngày trước, lầu trệt bây giờ đóng kín cửa, không còn dấu vết của một hiệu giày nhộn nhịp nữa. Kim run run gõ vào cánh của gỗ. Im lặng. Lát sau, có tiếng dép lướt nhẹ trên mặt sàn. Mở cữa là một người phụ nữ tuổi ngoài năm mươi, khuôn mặt phúc hậu.

- Cậu tìm ai?

 Kim ấp úng trình bà lý do của mình. Người phụ nữ lắng nghe. Khi Kim nói xong bà khẽ à lên lộ vẻ ngạc nhiên :

- Cậu vào đây … vào đây … Mời cậu ngồi ! À, ra thế … Người chú của cậu từng sống ở ngôi nhà này?

- Dạ. Hơn hai mươi năm trước. Chú … tên là Phong … Chắc thím biết?

- Ồ !... Không… - Người phụ nữ giật mình như có lỗi – Tôi muc ngôi nhà mới chục năm năm. Hồi ấy, chắc thời ông chủ cũ. Ông ta đã đi xa rồi …

Kim thất vọng :

- Vậy mà, cháu cứ hi vọng … một người từng gặp chú cháu…

Người phụ nữ pha xong ấm trà, châm vào chén sứ nhỏ. Bà nhìn Kim đầy vẻ cảm thông. Kim uống cạn chén trà đặt xuống bàn, đứng dậy định lui ra nhưng một ý định chợt đến giữ anh lại. kim xin phép được lên thăm căn gác. Người phụ nữ thoáng chút do dự, rồi mĩm cười gật nhẹ mái đầu. Bà dẫn anh bước theo lối cầu thang hẹp.

- Cậu đợi chút. Con gái tôi đang học bài. Để tôi gọi nó.

Người phụ nữ bảo Kim khi họ đi đến trước cánh cửa sơn xanh. Rồi bà cất giọng gọi :

- Bảo Trâm ! Bảo Trâm ! Mẹ nhờ con này !

- Chi vậy mẹ !

Cô gái hiện ra nơi khung cửa. Nhỏ nhắn và dịu dàng. Nàng có nước da mịn màng quá, mái tóc mượt quá, đen quá. Nàng chớp chớp đôi mắt ngơ ngác thấy người lạ. Người mẹ giới thiệu :

- Cậu này muốn coi căn gác con ạ.

 

Kim bước vào căn gác nhỏ.Anh hiểu tại sao người chú lại thuê căn gác này. Cửa sồ mở theo lối phố. Qua ô cửa, ngày trước chú có thể thấy cô gái từ khi nàng vừa bước ra từ một ngôi nhà nào đấy (một gia đình trồng hoa chăng) cho đến khi nàng biến mất ở lối quanh mãi trên đỉnh dốc … Trời đang có mưc nhẹ. Trước mặt Kim là những chiếc ô che muôn màu sặc sỡ. Những cô gái Đà Lạt đến lạ, với chiếc ô trên tay họ trở nên duyên dáng, uyển chuyển vô cùng. Kim có ý nghĩ rằng : họ đẹp quá, họ như không có thực ở trên cõi đời này …

 

Khi Kim bước ra khỏi căn gác, cô gái nhìn anh với đôi mắt ngỡ ngàng, sâu thăm thẳm. Hẳn người mẹ đã kể cho nàng nghe câu chuyện về người chú.

 

Ngày thứ hai ở Đà Lạt, đoàn tham quan Thung Lũng Tình Yêu. Kim bật cười khi thấy những bộ quần áo cao bồi của mấy ngài ngựa. Kim cũng bật cười khi nhìn thấy những chiếc xe ngựa người ta cho thuê chụp hình. Trước đây, anh cứ ngỡ chiếc xe ngựa trong tấm hình chụp ở Đà Lạt đang lao vun vút trên đồi. Hóa ra nó đứng im một chổ, những chú ngựa nòi đã được tập luyện cứ nhấc vó lên hạ xuống như đang phi nước đại vậy. Trông buồn cười, tội nghiệp. Đồi thông bị chặt phá, những tòa biệt thự đỗ nát, hoang phế hai bên đường làm lòng Kim se lại trong nỗi lo lắng. Tất cả chỉ vơi đi khi anh đứng trước Thung Lũng Tình Yêu nhìn những chiếc pê-đa-lô bập bềnh trên mặt nước.

 

Buổi chiều, Kim lại đến ngôi nhà có căn gác nhỏ. Hôm qua, lúc chia tay, người phụ nữ hứa sẽ giúp anh hỏi những người trong khu phố về người chú. người phụ nữ không có nhà. Cô gái tiếp anh. Nàng dịu dảng mời anh ngồi xuống chiếc ghế bành đặt giữa căn phòng. Nàng  nhẹ nhàng cho Kim biết : mẹ nàng đã hỏi nhưng không ai nhớ gì về người chú của anh cả.

- Chắc chú ấy sống trầm lặng quá. – Nàng nói như để an ủi Kim.

- Có lẽ vậy… - Kim khẽ thở dài thất vọng - Với lại, hai mươi năm rồi còn gì ! Có thể, họ đã quên.

Nàng mĩm cười, gật nhẹ đầu. Họ vói với nhau vài câu chuyện tản mạn, rồi ngồi trầm ngân. Nàng như già dặn hơn với khuôn mặt vốn quá ngây thơ, hồn nhiên. Bất ngờ nàng phá tan bầu không khí im lặng.

- Hai mươi năm trước lạ thật …

- Sao kia ? – Kim ngơ ngác.

Nàng ấp úng, đôi má đỏ rựng lên :

- À…Em định nói ề chú anh… Tình yêu ngày trước sao mãnh liệt thế !...

 

Nàng ngập ngừng rồi im lặng. Kim hiểu điều nàng định nói. Anh muốn kêu lên : “Không. Bây giờ tình yêu vẫn như thế!”, nhưng anh tự kìm mình lại được. Phải, bây giờ, con người hình như sống tỉnh táo hơn, chừng mực hơn, ít đam mê hơn. Tìm đâu một người đàn ông sẵn sàng hy sinh tất cả cho tình yêu…

Ngày cuối cùng ở Đà Lạt, mọi người kéo nhau ra chợ mua sắm. Thành phố cao nguyên thật nhiều hoa trái. Quầy hàng nào cũng đầy ắp bơ, nho, táo, mận… Rất nhiều dâu tươi chín đỏ, ngọt lịm. Kim mua ít nho rồi đi vẩn vơ trên phố. Tâm trạng anh buồn buồn… Và, Kim chợt nhận ra, những bản nhạc vọng ra từ các quán cà-phê của thành phố cao nguyên này cũng buồn buồn như những nỗi nhớ… Khi đi ngang qua phố Ng.T., Kim quyết định ghé vào ngôi nhà có căn gác nhỏ để chia tay và cảm ơn người phụ nữ đôi lời.

 

Người phụ nữ lại đi vắng, cô gái ra mở cửa. Nàng mĩm cười khi thấy anh. Nàng mặc chiếc áo len mỏng, đan rất khéo, ôm gọn cơ thể nhỏ nhắn thon thả.

- Mai bọn anh về. – Kim khẽ nói.

- Thế à… Có lẽ sáng nay các anh vừa đi Hồ Than Thở.

- Đúng rồi sao ! Sao em biết ?

- Bởi vì đấy thường là địa điểm tham quan cuối cùng của các đoàn khách du lịch khi rời Đà Lạt… Những ngày ở Đà Lạt có gì phiền lòng họ đến “than thở”với mặt hồ…

 

Nàng cười. Kim cũng bật cười. Họ ngồi nhìn ra đường phố. Kim có rất nhiều điều muốn nói và nàng có lẽ cũng vậy. Chính vì thế họ ngồi im lặng. Đôi khi nàng đưa những ngón tay hất nhẹ mái tóc đen dày phủ lòa xuống trán. Cử chỉ nó đẹp và duyên dáng đến lạ lùng.

 

Chiều đã muộn, người phụ nữ vẫn chưa trở về. Kim ấp úng nhờ nàng chuyển lời cảm ơn đến người mẹ rồi đứng dậy… Nàng quay người bước nhanh ra phía sau nhà. Giây lát, nàng trở vào với bó hoa trên tay.

- Em tặng anh mang về dưới đó. Hoa nhà em trồng đấy.

- Nhà em cũng trồng hoa.

- Dạ ! Khu Phố này hầu như nhà nào cũng có một mảnh vườn trồng hoa nho nhỏ. Đây là những bông hoa bất tử. Hình như chỉ Đà Lạt mới có loại hoa này … Nó rất lâu tàn …

- Hoa bất tử…

 

Kim lẩm bẩm. Anh cảm ơn cô gái rồi bước nhanh ra đường. Chần chừ giây lát nữa có thể anh sẽ ở lại nơi đây, ở lại đây mãi mãi. Kim bước chầm chậm trên đường phố. Anh nghĩ đến hai mươi năm trước người chú cũng từng bước đi trên đoạn phố này tự dưng rơm rớm nước mắt. Vào lúc này đây, trái tim anh tràn ngập bao nỗi xúc động, anh tin rằng con người có thể sống như thế, sống đến cùng cho tình yêu

 

… Con người có thể yêu đắm say đến thế …

Sương nhiều đã buông xuống.Thành phố cao nguyên như buồn hơn nhưng cũng mộng mơ hơn.

 

-Hình Internet

                              

Kim Kỳ sưu tầm

 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này