Truyện

Truyện (324)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện Ngắn: CÂU CHUYỆN NGOÀI BẾN TẦU

CÂU CHUYỆN NGOÀI BẾN TẦU

 

Tác giả: Heinrich  Böll


Dịch giả: Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng

Heinrich Böll (1917- 1985)

 

Ghi chú tiểu sử tác giả:

Heinrich Böll (1917- 1985) là một nhà văn, nhà báo Đức và cũng là một nhà giáo tại đại học. Thời Hitler ông đang theo học Lịch sử và Cổ ngữ tại đại học thì bị động viên, rồi nhiều lần bị thương.

Sau khi Đức Quốc xã bại trận ông là tù binh của Anh và Mỹ một thời gian ngắn (1945).

Được trả tự do H. Böll học tiếpVăn chương Đức, nhưng dần dần ngả nhiều về "trường văn trận bút", viết từ ký sự, cho đến truyện ngắn, truyện dài, nhiều tác phẩm được viết thành kịch bản cũng như quay thành phim. Năm 1958 ông được giải văn chương của thành phố Wuppertal và năm1967 được trao giải văn chương "Georg Büchner", một giải thưởng cao quý của "Hàn lâm viện Ngôn ngữ và Thi Văn Đức". Bảy năm sau H. Böll được giải Nobel về văn chương (1972).

Ông từng là Chủ tịch Văn bút Đức (1970-72) và Chủ tịch Văn bút Quốc tế (1971- 74). Lúc sinh thời là người chống chiến tranh, tham dự tích cực phong trào Hòa bình và tranh đấu cho nhân quyền với thái độ chính trị có vẻ tả khuynh. Do đó để tưởng nhớ ông Đảng Xanh của Đức đã lập một Foundation (Stiftung) với tên “ Heinrich-Böll-Stiftung” (1997). Tác phẩm của ông để lại là một kho tàng đồ sộ, nhiều bộ "Heinrich Böll toàn tập" của các nhà xuất bản khác nhau ở Đức bao gồm những tác phẩm đã xuất bản của ông cũng như những tác phẩm mới ra mắt công chúng lần đầu. 

 

~~><~~><~~><~~

 

Tại một bến tầu ở bờ biển phía tây Âu Châu có một người áo quần nghèo khó nằm dài trên chiếc thuyền câu của mình và lim lim mơ màng ngủ. Một du khách ăn mặc sang trọng lắp một cuốn phim mầu mới vào máy ảnh để chụp cảnh thơ mộng: trời xanh, biển đậm với những đợt sóng hiền lành trắng như tuyết, với chiếc thuyền đen xậm và chiếc mũ đỏ của người đánh cá.

"Tách", và vì chuyện gì tốt cũng phải ba lần mà cũng để chắc ăn, "tách", thêm một lần thứ ba nữa. Những tiếng động khô cứng và gần như đáng ghét đó đánh thức bác chài đang ngủ mơ màng. Bác ngái ngủ đứng dậy, ngái ngủ lấy tay với bao thuốc, nhưng trước khi bác tìm thấy, du khách đã săn đón chìa trước mặt bác  một bao, không đưa tận miệng, nhưng rút ra đặt một điếu thuốc vào tay bác chài, rồi một tiếng "tách" thứ tư của chiếc bật lửa chấm dứt sự lễ phép săn đón đó. Một nỗi bối rối căng thẳng gây nên do sự lễ phép quá nhiều nhưng khó đo lường và khó có chứng cớ rõ rệt khiến du khách vì hiểu tiếng địa phương tìm cách bắt chuyện cho đỡ trống trải.

- "Chắc rồi hôm nay bác sẽ đánh được một mẻ cá lớn?".

Bác chài gật đầu.

- "Chả là người ta bảo hôm nay tốt trời".

Bác chài lại gật đầu.

- "Vậy mà bác không ra khơi?".

Bác chài lắc đầu, người khách nóng nẩy thêm. Rõ ràng khách bận tâm về tình cảnh của bác chài ăn mặc nghèo khó khi khách buồn bã nghĩ đến dịp may bị lỡ của bác.

- "Ơ hay, bác thấy trong người không được khoẻ?"

Lúc này bác chài mới bỏ cách nói bằng cử chỉ để nói thành lời.

- "Tôi thấy dễ chịu hết cỡ", bác nói, "chưa lúc nào tôi thấy dễ chịu như bây giờ." Bác đứng dậy vươn mình như muốn chứng tỏ mình lực lưỡng thế nào.

- "Tôi thấy khỏe «số dách»".

Nét mặt người khách du lịch trở nên băn khoăn khổ sở hơn, chừng như không thể nín được câu hỏi muốn làm vỡ tung lồng ngực mình:

- "Chứ tại sao bác không ra khơi?".

Câu trả lời đến tức thì, cộc lốc: "Vì sáng nay tôi đã ra rồi".

- "Mẻ lưới khá chứ?".

- "Khá lắm đến nỗi tôi chẳng cần đi một lần nữa, tôi đã đánh được bốn con tôm hùm trong một giọ, và gần 20 con cá".

Bác chài lúc này tỉnh như sáo, vỗ vai trấn tĩnh người du khách. Vẻ mặt của người này biểu lộ một cảm giác tuy không thích hợp với bác, nhưng bầy tỏ một sự xúc động. Bác nói để du khách được nhẹ nhõm trong lòng:

- "Cho ngày mai và cả ngày mốt tôi cũng đánh đủ cả rồi. Ông hút với tôi một điếu?".

- "Vâng, cám ơn bác".

Những điếu thuốc được đưa lên miệng, "tách" một cái lần thứ năm, người khách lạ ngồi xuống bên mép thuyền lắc đầu, bỏ máy ảnh xuống vì bây giờ hắn cần dùng cả hai tay để nhấn mạnh thêm cho lời mình nói.

- "Tôi không muốn xía vô chuyện của bác, khách nói, nhưng bác thử nghĩ xem. Bác ra khơi hôm nay hai lần, ba lần, hay bốn lần, rồi bác sẽ đánh được ba, bốn hay năm chục, có khi cả trăm con cá. Bác nghĩ coi".

Bác chài gật đầu.

- "Không những hôm nay mà cả ngày mai, ngày mốt, du khách nói, ờ, vào bất cứ ngày nào tốt trời bác ra khơi hai, ba, bốn lần, bác biết sự gì xẩy ra không?"

Bác chài lắc đầu.

- "Chậm lắm chỉ một năm bác sẽ mua được một cái "mô-tơ" cho thuyền đánh cá, chỉ hai năm bác mua được cái thuyền thứ hai, chỉ ba hay bốn năm có thể bác sẽ có một cái thuyền buồm nhỏ, với hai cái thuyền và một cái thuyền buồm dĩ nhiên bác sẽ đánh được nhiều cá hơn, bác sẽ...". Sự hứng khởi làm tiếng nói của du khách bị đứt quãng, "bác sẽ xây một nhà ướp lạnh nhỏ, có lẽ cả một nhà nướng cá, rồi sau đó một nhà máy làm cá. Bác sẽ bay bằng trực thăng để tìm luồng cá và sẽ chỉ huy các thuyền buồm của bác bằng vô tuyến điện. Bác có thể xin được quyền đánh cá mập, mở một quán ăn đặc biệt về đồ biển, xuất cảng tôm hùm sang Paris không cần người trung gian, rồi...". Sự hứng khởi làm tiếng người khách du lịch đứt quãng.

Lòng buồn rười rợi, thú vui nghỉ hè hầu như biến mất, du khách lắc đầu nhìn sóng êm ả cuốn vào bờ, giữa đợt sóng lũ cá hầu như không biết sợ hãi là gì, nhẩy lên choi choi. "Rồi thì, du khách nói tiếp, sự kích thích lại làm cho tiếng bị ngắt quãng nữa.

Bác chài đập nhẹ vào lưng du khách như người ta thường làm với một đứa trẻ nhỏ khi nó bị nghẹn

- "Rồi thì làm sao?" Bác chài khẽ hỏi.

- "Rồi bác có thể yêm tâm ngồi ở bến tầu này mơ màng ngủ trong nắng và ngắm vẻ đẹp tuyệt vời của biển". Người khách đáp với sự hứng khởi mà trầm tĩnh.

Bác chài nói:

- "Nhưng, chính điều dó tôi đang làm đây thôi, tôi ngồi yên ổn ở bến tầu và ngủ mơ màng, chỉ bị tiếng chụp ảnh của ông làm rộn ".

Người khách du lịch bỗng nhiên tỉnh ngộ bởi lời nói của bác chài, bỏ đi trong suy nghĩ về câu nói đó. Bởi vì trước kia cũng có lần du khách cho rằng mình làm việc để rồi một ngày nào đó không phải làm gì nữa... Và niềm thương hại bác chài ăn mặc nghèo khó không còn lưu lại một dấu vết nào trong lòng du khách, có chăng chỉ còn một chút ganh tị thèm muốn.

 

Heinrich Böll

Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng (dịch)

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Truyện ngắn: Ông Trời có mắt, nhưng còn đợi...

Ông Trời có mắt, nhưng còn đợi...
 
Truyện ngắn của : Lev Nikolayevich Tolstoy
 
Hiếu Tân dịch

Sinh ngày 9 tháng 9 năm 1828 – 20 tháng 11 năm 1910 là một tiểu thuyết gia người Nga, nhà triết học, người theo chủ nghĩa hoà bình, nhà cải cách giáo dục, người ăn chay, người theo chủ nghĩa vô chính phủ tín đồ Cơ Đốc, nhà tư tưởng đạo đức, và là một thành viên có ảnh hưởng của gia đình Tolstoy.

Tolstoy được yêu mến ở khắp mọi nơi như một tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong tất cả các nhà viết tiểu thuyết, đặc biệt nổi tiếng với kiệt tác Chiến tranh và hoà bình và Anna Karenina; miêu tả sự phóng khoáng và hiện thực của cuộc sống Nga, hai tác phẩm là đỉnh cao của tiểu thuyết hiện thực. Là một nhà luân lý ông có tiếng với tư tưởng chống lại cái ác thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm của ông Vương quốc Chúa Trời trong bạn (tiếng Anh: The Kingdom of God Is Within You), cái mà có ảnh hưởng bởi những hình tượng của thế kỷ 20 như Mahatma Gandhi và Martin Luther King, Jr.

Lev Nikolayevich Tolstoy

(tiếng Nga: Лев Никола́евич Толсто́й ) 


Trong thành phố Vladimir có chàng thương nhân trẻ tuổi tên là Ivan Dmitrich Aksionov. Chàng có hai cửa hiệu và một ngôi nhà. Aksionov là một chàng đẹp trai, có mái tóc quăn tít vàng hoe, lúc nào cũng vui vẻ, và rất thích hát. Hồi trước, khi còn quá trẻ, chàng có thói quen uống rượu, và hễ quá chén là hay gây ồn ào náo loạn; nhưng sau khi lấy vợ chàng đã bỏ rượu, chỉ họa hoằn mới uống.
Vào một ngày hè chàng muốn đi hội chợ Nizni, nhưng khi nói lời tạm biệt vợ con thì vợ chàng bảo: “Anh ơi, đừng đi hôm nay, em vừa mơ thấy một điềm xấu về anh”
Aksionov cười và bảo “Em lại sợ anh ăn chơi tốn kém chứ gì”
Vợ chàng bảo: “Em không biết em sợ cái gì, chỉ biết rằng em có một giấc chiêm bao rất xấu. Em mơ thấy khi anh từ hội chợ trở về, và khi anh bỏ mũ ra thì tóc anh bạc trắng”
Aksionov cười “Đó là điềm tốt đấy em ạ” chàng bảo. “Em cứ chờ đấy nếu anh bán hết hàng, em sẽ mua quà hội chợ về cho em”
 
 1
Chàng chào tạm biệt vợ con rồi lên đường.
Đi được nửa đường, chàng gặp một thương nhân quen biết, và hai người cùng vào một quán trọ nghỉ qua đêm. Hai người cùng uống trà, rồi vào ngủ ở hai buồng cạnh nhau.
Aksionov có thói quen dậy sớm, và , muốn đi sớm cho mát, chàng đánh thức xà ích trước rạng đông, bảo anh ta chuẩn bị ngựa xe. Rồi chàng đến gặp chủ quán (sống ở ngôi nhà nhỏ phía sau) trả tiền trọ rồi tiếp tục lên đường.
Khi đi được khoảng hai mươi lăm dặm, chàng dừng lại để cho ngựa ăn. Aksionov nghỉ một lát ở hành lang quán trọ, rồi chàng đi vào trong sảnh, gọi một ấm xamôva, rồi lấy ghi ta ra bắt đầu chơi.
 

Vasilkovsky Sergey – A Quiet Evening in Poltava (Russian Landscapes)

Bỗng có một chiếc xe tam mã chuông reo leng keng chạy thẳng vào, từ trên xe một sĩ quan bước xuống, theo sau là hai người lính. Ông ta bước đến chỗ Aksionov và bắt đầu hỏi chàng, rằng chàng là ai và từ đâu đến. Aksionov trả lời đầy đủ và nói “Mời ông dùng chén trà với tôi”. Nhưng viên sĩ quan tiếp tục chất vấn chàng, rằng “Đêm qua anh ngủ ở đâu? Anh ở một mình, hay có người thương nhân nào cùng đi? Sáng nay anh có trông thấy người thương nhân ấy không? Tại sao anh rời khỏi nhà trọ trước khi trời sáng?”
Aksionov tự hỏi tại sao người ta lại hỏi anh thế, nhưng chàng vẫn kể lại toàn bộ những gì đã xảy ra, rồi thêm “Tại sao ông lại thẩm vấn tôi như thể tôi là quân trộm cướp ấy? Tôi đi công việc buôn bán của tôi, và không cần thiết phải căn vặn tôi như thế”
Lúc đó viên sĩ quan gọi hai người lính đến, nói “Tôi là sĩ quan cảnh sát của huyện này, và tôi thẩm vấn anh bởi vì người lái buôn cùng nghỉ trọ với anh đêm qua, sáng nay người ta thấy anh ta bị cắt đứt cổ họng. Chúng tôi phải khám xét đồ đạc của anh”
 
Họ đi vào nhà. Những người lính và viên sĩ quan mở tung hành lý của Aksionov để khám. Bỗng người sĩ quan rút ra một con dao từ một chiếc xắc, kêu lên: “Con dao này của ai?”
Aksionov nhìn, và khi thấy một con dao đẫm máu được lấy ra từ túi của chàng, thì chàng rụng rời.
“Tại sao trên con dao này có máu?”
Aksionov cố gắng trả lời, nhưng khó khăn lắm mới thốt ra một lời, mà chỉ lắp bắp “Tôi không biết, không phải của tôi”. Người sĩ quan cảnh sát nói: “Sáng nay người ta thấy người lái buôn kia nằm trên giường, cổ họng bị cắt. Anh là người duy nhất có thể làm việc này. Ngôi nhà đó khóa cửa bên trong, không có ai vào đó nữa. Đây là con dao vấy máu trong túi của anh, và bản mặt của anh với bộ dạng anh đã tố cáo anh! Hãy kể lại anh đã giết anh ta như thế nào, và lấy cắp bao nhiêu tiền?”
 
Russian Landscapes - Wikimedia Commons
 
Alsionov thề rằng chàng không làm việc ấy, rằng chàng không nhìn thấy người lái buôn kia từ lúc hai người uống trà xong, rằng chàng không có tiền nào khác ngoài khoản tám ngàn rúp tiền riêng của chàng, và rằng con dao ấy không phải của chàng. Nhưng giọng chàng nghẹn, mặt chàng tái, người chàng run như người có tội vậy.
Viên sĩ quan cảnh sát thét những người lính trói Aksionov lại và quẳng chàng lên xe. Khi họ trói chân chàng và ném chàng lên xe, Aksionov làm dấu thánh giá và khóc. Chàng bị tước hết tiền nong đồ đạc và bị đưa đến một thị trấn gần nhất và bị giam ở đó. Cuộc điều ra về nhân thân của chàng được tiến hành ở Vladimir. Những thương nhân và các cư dân khác của thành phố nói rằng trước kia chàng có uống rượu và chơi bời, nhưng chàng là một người tốt. Rồi phiên toà được mở, chàng bị kết tội giết người lái buôn từ Riazan đến, và cướp của anh ta hai mươi ngàn rúp.
Vợ chàng tuyệt vọng, và không biết phải tin vào cái gì nữa. Các con chàng đều còn nhỏ, đứa bé nhất chưa rời vú mẹ. Nàng đưa cả mấy đứa con cùng đi, đến thị trấn nơi chồng nàng bị giam giữ.
 
 
Lúc đầu nàng không được phép gặp chàng, nhưng sau bao nhiên van xin, cuối cùng nàng cũng được các quan cho phép, và được dẫn tới gặp chàng. Khi trông thấy chồng mặc áo tù và bị xiềng xích, nàng ngã lăn ra bất tỉnh hồi lâu. Rồi nàng kéo mấy đứa con vào lòng, ngồi sát gần chàng. Nàng kể cho chàng mọi chuyện ở nhà, và hỏi chuyện xảy ra với chàng như thế nào. Chàng kể lại tất cả, và nàng hỏi “Bây giờ ta phải làm gì?”
“Chúng ta phải thỉnh cầu Sa hoàng không để người vô tội phải chết”
Vợ chàng bảo rằng nàng đã gửi đơn thỉnh nguyện lên Sa hoàng, nhưng không được chấp nhận.
Aksionov không trả lời, trông chàng vô cùng chán nản thất vọng.
 
Rồi vợ chàng nói: “Việc em mơ thấy tóc anh bạc trắng không phải là không có ý nghĩa gì. Anh còn nhớ không? Lẽ ra hôm ấy anh không nên đi” Nàng luồn những ngón tay vào mớ tóc chàng, nàng hỏi “Vanya yêu dấu, anh nói thật với vợ anh đi, không phải là anh đã làm chuyện đó chứ?”
“Cả đến em nữa, cũng nghi ngờ anh ư?” Aksionov nói, và úp mặt vào lòng bàn tay, chàng khóc.
Lúc đó một người lính đến nói vợ con chàng phải ra, và chàng nói lời vĩnh biệt vợ con chàng.
Khi họ đi rồi, Aksionov nhớ lại những lời đã nói, và khi chàng nhớ rằng chính vợ chàng cũng nghi ngờ chàng, thì chàng tự nhủ. “Dường như chỉ có Thượng đế mới biết sự thật, mình phải kêu cầu Người, mình chỉ trông chờ lòng thương xót duy nhất từ Người nữa mà thôi”.
 
 

Vasiliy Polenov – River Svinka near Aleksin (Russian Landscapes) 

2
Và Aksionov không viết thêm một lời thỉnh cầu nào nữa, từ bỏ mọi hy vọng, và chỉ cầu nguyện Chúa.
Aksionov bị kết án phạt đánh bằng roi và đày đến các hầm mỏ. Chàng bị đánh bằng gậy có mấu, và khi các vết thương kín miệng, chàng bị đày đi Siberia cùng với những tội phạm khác.
Hai mươi sáu năm trời Aksionov sống như một tội phạm ở Siberi.Tóc ông bây giờ bạc trắng như tuyết, râu dài, thưa và đốm bạc.Mọi vui vẻ cười đùa biến mất, lưng ông còng xuống, ông đi chậm, nói khẽ, không bao giờ cười, nhưng thường xuyên cầu nguyện.
Trong tù Aksionov học khâu giày, kiếm được một ít tiền, ông dùng tiền đó mua quyển Đời các Thánh. Ông đọc quyển sách này khi còn đủ ánh sáng trong tù, và chủ nhật ông đi nhà thờ, ông đọc kinh và hát thánh ca, vì giọng ông vẫn còn tốt.
 
Những người giám quản trại tù thích Aksionov vì ông hiền lành ngoan ngoãn dễ bảo, các bạn tù tôn trọng ông, họ gọi ông là “Bố già” là “ông Thánh”. Khi họ muốn thỉnh cầu giám quản điều gì, họ đều nhờ Aksionov làm người phát ngôn, và khi trong đám tù nhân có cãi cọ, họ tìm đến ông nhờ phân xử.
Aksionov không bao giờ nhận được tin nhà, thậm chí ông không biết vợ con ông còn sống hay không.
Một hôm có một đoàn tù nhân mới đến trại. Buổi tối đám tù cũ tụ tập quanh tù mới và hỏi họ đến từ thành phố hay làng xã nào, và họ bị tội gì. Giống như những người tù cũ khác, Aksionov ngồi gần đám tù mới và buồn bã nghe những điều họ nói.
 
Một trong những tù phạm mới, một người đàn ông khoảng sáu mươi cao to khỏe mạnh, râu hoa râm cạo sát, đang kể cho mọi người nghe tại sao ông ta bị bắt.
“Ồ các bạn ạ” Ông ta nói “Tôi chỉ lấy một con ngựa đóng vào xe trượt tuyết, thế mà tôi bị bắt và bị kết tội ăn trộm.Tôi nói tôi chỉ lấy để về nhà nhanh hơn, và sau đó đã thả nó ra, ngoài ra, người đánh xe là bạn của tôi, và tôi nói như thế không có gì sai. Nhưng họ bảo “Không, anh đã ăn trộm nó”. Nhưng tôi đã ăn trộm như thế nào và ở đâu thì họ không nói được.Tôi đã có lần thực sự làm một chuyện sai quấy, và lẽ ra tôi phải đến đây lâu rồi, nhưng lần đó tôi lại không bị phát hiện.Còn bây giờ chẳng làm sao tôi lại phải đến đây. Ừa, nhưng tôi vừa nói dối các bạn đấy, trước đây tôi đã bị bắt đưa đến Siberi, nhưng tôi không ở lâu”
 
 

Issak Levitan – Summer (Russian Landscapes )

 
 3
“Ông từ đâu đến?” một người hỏi/
“Từ Vladimir. Gia đình tôi ở thành phố ấy. Tên tôi là Makar, người ta thường gọi là Semyonich”
Aksionov ngẩng đầu lên hỏi: “Semyonich, ông cho tôi biết, ông có biết tin gì về gia đình nhà buôn Aksionov ở Vladimir không? Họ còn sống cả không?”
“Có biết không à? Tất nhiên tôi biết chứ. Nhà Aksionov giàu, mặc dầu cha của họ đang ở Siberi. Hình như một tội phạm như chúng ta! Còn ông, Bố già, vì sao ông phải đến đây?”
Aksionov không muốn nói nỗi khổ của mình ra làm gì. Ông chỉ thở dài, và nói “Vì tội của tôi, tôi đã phải ở tù hai mươi sáu năm nay”
“Tội gì?” Makar Semyonich hỏi.
 
Nhưng Aksionov chỉ nói “Thôi được rồi, chắc là tôi đáng thế” Ông không nói gì hơn, những các bạn tù kể cho các tù mới đến tại sao Aksionov phải đến Siberi, một người nào đó đã giết người lái buôn, và đã đặt con dao vào trong đồ đạc của Aksionov, và Aksionov đã bị kết án oan.
Khi Makar Semyonich nghe thấy thế, ông ta nhìn Aksionov, đập tay lên đầu gối mình, và kêu lên. “Ôi thật là kỳ lạ! Kỳ lạ quá đi mất! Nhưng sao trông ông già đến thế, Bố già?”
Những người khác hỏi ông ta tại sao ông ta lại ngạc nhiên như thế, và ông ta đã gặp Aksionov ở đâu, nhưng Makar Semyonich không trả lời. Ông ta chỉ nói “Thật kỳ lạ là chúng ta lại gặp nhau ở đây”
Những lời lẽ này khiến Aksionov nghĩ ngợi liệu người này có biết ai đã giết người lái buôn kia không, nên ông nói “Hình như, Semyonich, ông đã có nghe về vụ đó, hay có lẽ ông đã gặp tôi trước đây chăng?”
“Làm sao mà tôi lại không nghe? Thiên hạ đồn rầm cả lên. Nhưng đã lâu lắm rồi, tôi đã quên những gì tôi nghe được”
“Có lẽ ông có nghe ai là người đã giết người lái buôn ấy?” Aksionov hỏi.
Makar Semyonich cười đáp: “Đó chắc là cái người mà người ta tìm thấy con dao trong túi xắc! Nếu người khác dấu con dao ở đó, “Chưa bắt được tay thì chưa phải là ăn cắp” như người ta thường nói. Làm sao người ta dấu con dao vào túi của ông được trong khi nó nằm dưới đầu ông? Như thế chắc chắn sẽ làm ông thức dậy”
 
 Khi Aksionov nghe những lời đó, ông cảm thấy chắc chắn kẻ này đã giết người lái buôn. Ông đứng lên và đi chỗ khác. Suốt đêm đó Aksionov thức chong chong. Ông cảm thấy tột cùng đau khổ, mọi hình ảnh lại hiện lên trong trí ông. Có hình ảnh của vợ ông khi ông tạm biệt nàng để đi hội chợ. Ông thấy như nàng đang có mặt ở đây, khuôn mặt nàng, đôi mắt nàng hiện lên trước ông, ông nghe tiếng nàng nói cười. Rồi ông thấy đàn con, còn nhỏ xíu, như hồi đó, một đứa mặc chiếc áo choàng bé tí, đứa kia còn ôm vú mẹ. Rồi ông nhớ lại bản thân mình, khi ấy còn trẻ trung và vui vẻ. Ông nhớ cái lúc ông ngồi chơi ghi ta trong sảnh của nhà trọ nơi ông bị bắt, lúc ấy sao ông thanh thản vô tư thế. Ông nhìn thấy rõ ràng trong tâm trí, nơi ông bị đánh đòn, những kẻ tra tấn ông, và những người đứng xem xung quanh, những xiềng xích, những tội đồ, và hai mươi sáu năm đời ông trong lao tù, và ông già sụm trước tuổi. Nghĩ về tất cả những điều đó khiến ông đau đớn đến mức chỉ muốn tự tử.

Isaak Brodsky – Golden Autumn (1913) Russian Landscapes

 
“Và tất cả những cái đó đều do thằng khốn kiếp kia gây ra!” Aksionov nghĩ. Cơn điên giận Makar Semyonich lớn đến mức ông khao khát trả thù, dù cho bản thân ông có thể tiêu mạng về chuyện đó. Ông cầu nguyện suốt đêm, nhưng không tìm thấy yên lành. Ban ngày ông không đến gần Makar Semyonich, thậm chí không nhìn hắn.
Nửa tháng trời trôi qua như thế. Ban đêm Aksionov không thể chợp mắt, đau đớn cùng cực đến mức không biết làm gì nữa.
Một hôm khi đang bước đi trong nhà giam ông nhận thấy có những hòn đất lăn ra từ trong một ngăn tù nằm. Ông nhìn lại để xem chuyện gì. Bỗng nhiên Makar Semyonov trườn ra từ một ngăn và ngước nhìn lên Aksionov với bộ mặt sợ hãi. Aksionov định bước qua không nhìn hắn, nhưng Makar nắm tay ông giữ lại, và bảo ông rằng hắn đang đào một lỗ dưới chân tường, đất thì bỏ vào ủng để mỗi ngày đổ ra đường khi tù nhân được dẫn đi lao động.
 
“Cụ giữ im lặng, cụ nhé, rồi cụ cũng được ra. Nếu cụ tiết lộ, họ sẽ đánh tôi đến chết, nhưng tôi sẽ giết cụ trước”
Aksionov run lên giận dữ khi nhìn xuống kẻ thù của mình. Ông giật tay ra và nói “Tôi không muốn trốn, và anh không cần giết tôi, anh đã giết tôi từ lâu rồi. Còn việc anh bảo tôi có làm thế hay không, đã có Chúa chỉ cho tôi”
 
Hôm sau khi đoàn tù được dẫn đi lao động, những người lính coi tù nhận thấy có người tù nào đã dốc một ít đất trong ủng ra. Nhà giam bị khám xét và người ta tìm thấy đường hầm. Trại trưởng đến và tra hỏi tất cả tù nhân để tìm ra kẻ đã đào hố. Nhưng tất cả đều chối, không ai biết gì hết. Người nào biết cũng không tố cáo Makar Semyonich, vì biết rằng hắn sẽ bị đánh đòn đến chết. Cuối cùng ông trưởng trại quay sang Aksionov vì biết ông là người trung thực, ông ta nói:
“Anh là người thật thà, hãy nói cho tôi biết: ai đã đào hố này?”
Makar Semyonich đứng như thể hắn không liên can gì, nhìn Trại trưởng không nhiều bằng liếc nhìn Aksionov. Môi và tay Aksionov run run, một lúc lâu ông không thốt ra lời nào. Ông nghĩ “Sao ta lại phải che chở cho hắn là kẻ đã tàn hại đời ta? Phải để hắn trả cho những gì ta đã phải chịu. Nhưng nếu ta nói ra, họ có thể đánh hắn đến chết, và cũng có thể ta đã ngờ sai hắn. Và, nói cho cùng, làm thế có gì tốt cho ta?”
“Nào, anh già”, Trại trưởng nhắc lại, “Nói cho tôi biết sự thật: ai đã đào dưới chân tường này?”
Aksionov liếc nhìn Makar Semyonich, và nói. “Tôi không thể nói, thưa ông. Không phải ý Chúa là tôi nên nói. Ông có thể làm gì tôi cũng được, tôi đang ở trong tay ông”
Dù Trại trưởng có cố thế nào, Aksionov vẫn không nói gì thêm, nên việc đó phải cho qua.
 
 

Efim Volkov – October - Russian Landscapes 

4
Đêm hôm đó, Khi Aksionov đang nằm trên giường và mới chỉ bắt đầu lơ mơ, thì có kẻ khẽ khàng ngồi xuống giường ông. Ông nhìn kỹ trong đêm tối và nhận ra Makar.
“Anh muốn gì ở tôi?” Aksionov hỏi. “Tại sao anh đến đây?”
“Makar Semyonich im lặng.Vì vậy Aksionov ngồi dậy và nói “Mày muốn gì? Cút ngay, không tao gọi lính gác”
Makar Semyonich cúi xuống người Aksionov và thì thầm “Ivan Dmitrich, xin ông tha tội cho tôi”
“Về chuyện gì?”
“Tôi là kẻ đã giết người lái buôn và giấu con dao vào đồ của ông. Lúc ấy tôi muốn giết cả ông nữa, nhưng tôi nghe có tiếng động bên ngoài, nên đã giấu con dao vào trong xắc của ông rồi chuồn ra cửa sổ”
 
Aksionov im lặng, và không biết nói gì. Makar Semyonich tụt xuống khỏi giường và quỳ trên mặt đất: “Ông Ivan Dmitrich, xin ông tha tội cho tôi!” hắn nói. “tha tội cho tôi! Vì tình yêu Chúa, xin tha tội cho tôi! Tôi sẽ thú tội đã giết người lái buôn, và ông sẽ được thả, và có thể về nhà”
“Mày nói thì dễ lắm” Aksionov nói “nhưng tao đã chịu tội thay cho mày hai mươi sáu năm trời. Bây giờ tao có thể về đâu? Vợ tao đã chết, các con tao đã quên tao rồi. Tao không có chỗ nào mà về”
 
Makar không đứng dậy, mà dập đầu xuống đất. “Ông Ivan Dmitrich, xin tha tội cho tôi” Hắn khóc. “Khi họ đánh tôi bằng gậy có mấu cũng không khó chịu đựng hơn thấy ông thế này, thế mà ông còn thương tôi, mà không nói ra. Vì Chúa, xin tha cho tôi, tôi đau lòng lắm” Và hắn nức nở.
Khi Aksionov nghe thấy hắn nức nở, ông cũng bắt đầu khóc “Chúa sẽ tha tội cho anh” ông nói. “Có thể tôi còn xấu gấp trăm lần anh” Và với những lời đó, ông thấy lòng mình nhẹ bỗng, và nỗi khao khát nhớ nhà rời khỏi ông. Ông không còn thấy mong muốn ra khỏi tù chút nào nữa, mà chỉ mong chờ giờ phút cuối của mình sớm đến.
Mặc dù Aksionov đã nói như thế, nhưng Makar Semyonich vẫn thú tội của hắn. Nhưng khi lệnh thả ông được mang đến, thì Aksionov đã chết nhẹ nhàng .
 
 
 Kim Kỳ sưu tầm
 
Xem thêm...

Hôm Nay Tôi Đi Học Trượt Tuyết

Related image
Related image
 

    Một Câu Chuyện Vui:   

Tác giả: Nguyễn Văn Tới
Với bài đầu tiên “Hôm nay tôi Đi Xe Đạp”, tác giả được trao giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2017. Ông hiện hiện sống và làm contractor (hợp đồng) ngành hàng không ở Vail, Arizona cho quân đội Mỹ. Sau đây là bài viết thứ hai.

  Hôm Nay Tôi Đi Học Trượt Tuyết   

Vợ chồng tôi vừa từ Arizona đến Pinetop, thành phố ở độ cao 7200 feet.
 
Arizona đúng là xứ sa mạc thứ thiệt của Bắc Mỹ còn được gọi là Sonoran Desert bao gồm phần Tây Nam của Arizona và California, một phần Tây Bắc Mễ Tây Cơ (mexico) thuộc vùng Sonora, Baja California, và Baja California Sur.

Ôi cái xứ đồng khô cỏ cháy, chó ăn đá, gà ăn muối, nóng như lò lửa, khô như ngói, chẳng có gì để mà coi, mà chơi, mà ngắm, mà yêu, mà “đất lành chim đậu, đất hổng lành đất nhậu luôn chim”... Bạn không phải là người đầu tiên và cũng không là người cuối cùng nói câu đó; chính tôi cũng từng nghĩ rằng không thể nào sống ở vùng đất nóng cằn cỗi này, thế mà tôi đã sống ở đây gần 25 năm rồi đấy.

Sau nhiều năm chịu nóng để chạy theo cơm áo gạo tiền, sau tết Tây năm nay, vợ chồng tôi làm một chuyến bỏ rừng lên núi, quyết ra đi tầm sư học… trượt tuyết cho bõ bao năm trời chỉ có mơ mà chưa một lần thực hiện.

Không biết người Việt mình ở các tiểu bang lạnh lẽo, hoặc đang sống ở châu Âu, khi mới tập tành trượt tuyết ra sao? Mong các cao nhân chỉ giáo thêm. Riêng tôi thì đây là một trải nghiệm mới lạ và là một cái “thú đau thương” khó mà quên được. Xin chia xẻ với mọi người muốn chơi môn thể thao thú vị này.

Từ Tucson, theo hướng Đông Bắc, chúng tôi lái xe đến thành phố Pinetop, sau 4 giờ quanh co đèo núi ở độ cao 7200 feet, với tuyết giá bao phủ khắp nơi. Bầu trời xám xịt, bông tuyết bay lất phất đẹp như trong tranh. Giời ạ! Mới mấy tiếng trước đây, trên đường đi qua, toàn xương rồng, đá sỏi, quang cảnh hoang sơ như trong phim cao bồi Viễn Tây; bây giờ quanh mình một màu trắng tinh khôi và những cành thông trĩu nặng bông tuyết.

Quay kính xe xuống 1 chút đủ để cái lạnh tràn vào, bông tuyết đáp nhẹ trên mặt và cánh tay, hít một hơi dài, lá phổi căng phồng cái không khí trong lành, mát lạnh. Sao mà nó tuyệt vời đến thế! Có là người quanh năm sống vùng sa mạc khô cằn mới cảm nhận được cái cảm giác lâng lâng, đổi thay kỳ diệu này mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta.

Cùng đi với vợ chồng tôi là Quỳnh và Thái, đôi uyên ương rất đẹp đôi, hạnh phúc vì cả vợ lẫn chồng có cùng chung sở thích: nàng thích gì, chàng thích cái đó. Chúng tôi đi khác xe và hẹn cùng gặp tại Sunrise Ski Resort. Chúng tôi đến trước, xe Quỳnh Thái cũng đến sau khoảng nửa giờ.
 
Tôi được Thái và Quỳnh xốc nách đứng cho khỏi té.
 
Không để mất thời gian, chúng tôi vào mướn trang thiết bị (ski gear) gồm 1 cặp ski, 2 cây gậy (poles) và đôi ủng (boots) cộng thêm tiền mua vé đi Lift là đủ bộ cho môn học trượt tuyết. Vì không muốn mất nhiều thời gian và tiền bạc học trượt tuyết với với các huấn luyện viên của resort, nên Thái tình nguyện “làm thày”, chỉ tôi những động tác căn bản làm thế nào để khỏi té và biết tăng giảm tốc độ hoặc quẹo phải quẹo trái.

Nghề chơi nào cũng lắm công phu. Theo huấn luyện viên bất đắc dĩ phán ngày đầu tiên, học viên giữ được thăng bằng và học đi bộ với cặp ski nặng trịch dưới chân là đã thành công rồi. Ngày thứ hai mới nói dến chuyện trượt tuyết được nếu sáng dạ. Trong khi hai chàng miệt mài cung kiếm trên chiến trường thì Quỳnh cũng đang đi mây về gió, lao vun vút ngoài kia, trong màn tuyết rơi trắng xóa.

Cũng xin nói qua về cuộc tình đẹp như mơ Quỳnh và Thái: Cùng một chuyến tàu vượt biên, cùng 1 trại tị nạn, chia tay khi định cư, nàng dân CÀ NA ĐIÊN (CANADIEN), chàng Mỹ gốc Việt; chim én đi, nhạn về giữa hai bờ biên giới của mối tình “love without borders”, cuối cùng chàng rước được nàng về dinh, rồi từ đó cho ra đời 2 cô công chúa và 1 hoàng tử. Gia đình hạnh phúc, con cái nên người, hai ông bà giờ mới yên tâm mà nghĩ đến chính mình, bắt đầu lo “èn doi” đời sống cho chính đôi uyên ương.

Bà xã tôi vì tự lượng sức mình nên không dám tham gia, ngồi trong nhà kính nhâm nhi món Freedom Fries với cheese ngó ra coi “tướng công” của mình đang vật lộn và chiến đấu với… chính mình, tả xung hữu đột, lúc tiến công lúc lùi vào chỗ vắng thủ thế để khỏi bị người ta ủi vô mình. Ngồi coi mà bả liên tục kêu tên Đức Chúa Trời, Oh my God! O mon Dieu! Lạy Chúa con lia lịa khi thấy chàng 4 vó đưa lên trời, bàn tọa đáp xuống nghe cái đụi. Khách ngồi bên tưởng bả đạo đức lắm vì suốt buổi lẩm bẩm gọi Chúa cứu giúp, gọi Ngài cứu khổ không ngừng.

Bên ngoài nhiệt độ xuống khoảng 10 F, trời rét căm căm mà lưng tôi đổ mồ hôi hột, mặt mày căng thẳng vừa khốn khổ điều khiển cặp ski sao cho thẳng vừa la làng thật to “watch out…” coi chừng! Quân vương giáng lâm… từ trên trời xuống để thần dân tránh mình chứ mình thì vô phương tránh họ. Kẻ nào cả gan dám cản đường ta là tự mình tìm vào chỗ chết nhé, đừng trách trẫm đây vô tình.

Tưởng cũng nên nói qua về trang thiết bị cho các cụ nào chưa biết còn lạ lẫm về môn thể thao trượt tuyết này. Cặp ski được làm bằng composite (sợi carbon) vật liệu nhẹ, đầu mũi hơi cong lên phía trước, dài khoảng một sải tay. Phía trên, chỗ để đôi ủng gài vào là một dàn cơ được điều chỉnh bằng lò xo (spring loaded) sao cho khít khao mà chặt chẽ để nó sẽ ngoạm vào đôi ủng thật chặt, do đó sẽ giúp cặp giò ống điếu của ta cứng cáp hơn. Một chiếc ủng nặng khoảng 5 pounds, đươc làm bằng nhựa dẻo và dầy có 4 cái khóa răng cưa điều chỉnh độ chặt, thay cho dây giày để giữ chân mình thật sít sao. Khi mang đôi ủng vào chân rồi, trước khi bước vào đôi ski, ta bước đi như Robot Cop cứ khật khà khật khưỡng như con nít tập đi.
 
Vậy mà cũng tốt nghiệp
 
Phần cổ đôi ủng cứng để giử đôi chân ta thẳng trong khi trượt vì thế giữ thăng bằng tốt hơn. Thêm hai cây gậy (poles) bằng nhôm hoặc sợi carbon, rất nhẹ mà cứng, dùng để đẩy ta tiến về phía trước và cũng để tháo đôi ủng ra khỏi cặp ski khi ta “vồ ếch” trong tư thế tréo cẳng ngỗng mà tay không với tới đôi chân; khi đó ta dùng mũi cây gậy đẩy cái khóa để thả lỏng chân ra khỏi đôi ski. Nói chung, một cụ nhà ta tuổi 5,6 bó mà vác trọn bộ trang thiết bị đi bộ trên tuyết đến nơi mà mình muốn cũng cong xương sống, róng xương sườn.

Quần áo thích hợp cho môn thể thao này, ngoài thermal underwear (đồ lót giữ nhiệt) và phụ trang lẩm cẩm, cần áo và quần bên ngoài đặc biệt không thấm nước. Tưởng tượng một cụ nhà ta mới vào nghề như tôi, cứ té lên té xuống mà chơi cái quần jean dầy và cái áo jacket thường thì nước sẽ ngấm vào như nỗi “buồn vào hồn không tên”; nó sẽ len lỏi vào ngóc ngách kín nhất mà nó có thể bò tới được. Nói theo “pha học” thì nóng nở ra, lạnh co lại. Cái gì phải teo thì nó teo mất luôn, khi cần xài, muốn kiếm “nó” coi bộ không dễ tí nào. Chưa kể là cái ướt nó cứ lì một chỗ nhất định không di dời cho dù nhà lước “cưỡng chế” thế lào nó cũng mặc. Dọa bảo “bố náo bố nếu” cho mày đi “Bố Ná” (Bố Lá: một địa danh trại cải tạo của cộng sản sau 1975) nó cũng cóc ngán.

Vì thế để chuẩn bị và an toàn cho cái thân già, các cụ phải trang bị tận răng, thêm đôi bao tay cũng loại không thấm nước thì mới mong khi “tác nghiệp” xong vẫn còn nguyên vẹn tấm hình hài và hào khí, cờ vẫn bay, trướng vẫn phất phới mà trở lại gặp bu nó. 

Trở lại việc tu luyện võ công, phải cám ơn ông thày Thái, rất kiên nhẫn với tên học trò tối dạ mà xương cốt đang trên đà thoái hóa. Đến ngày thứ hai mà võ công Sáu Cam tôi mới vẫn chỉ dám đi chỗ Bunny slope là cái chỗ dành cho quý vị con nít trượt mà thôi, không dám mơ đến những nơi như Black Diamond slope dành cho dân nhà nghề. Thế mà cũng vẫn bị sứt càng gãy gọng như điên.

Đang mơ thành người James Bond 007 ½ (không-không-bảy-rưỡi) trong phim “The world is not enough”; tôi cao hứng tưởng mình là chàng “thông-điệp-diên” hào huê phong tê bại xụi, chợt thấy mình thả dốc lao nhanh như hỏa tiễn, vì tốc độ nhanh quá nên quíu, gió thổi rào rào bên tai, mờ mờ nhân ảnh đi qua, không còn biết phải nàm thao, đôi ski lướt qua một mô đất cao phủ đầy tuyết, thế là “bay đi cánh chim biển hiền hòa” (phim quay chậm khúc này), cả khối thịt bốc lên lộn trên không đúng một vòng; rõ ràng hai bàn tay chới với vươn ra phía trước như con chim ưng sắp sửa vồ mồi, thế mà không hiểu sao bàn tọa lại đáp xuống trước nhẹ nhàng như… bao gạo, ski bay đằng ski, gậy đi đằng gậy, nón len đi một nẻo, may mà 2 con mắt vẫn còn, xin lỗi, cặp kiếng đeo mắt vẫn còn mà mặt mũi tóc tai phủ đầy tuyết.

Nói các cụ thương, người Mỹ có câu “No pain no gain”, tôi tự an ủi là chưa “để lại cái nón sắt bên bờ lau sậy này” là hên lắm rồi, tuy nhiên miệng vẫn lẩm bẩm “có bầm thân, mới thành nhân”.

Hai ngày khổ luyện qua mau chóng, chàng hào kiệt bước vào chốn giang hồ mưa máu gió tanh. Ngó qua ngó lại thấy cao thủ thi triển khinh công ào ào như gió cũng hơi chột dạ. Nhiều cao thủ mới 6,7 tuổi mà sao chúng nhà nghề quá xá!
 

Đồ nghề trượt tuyết: 1 cặp ski, 2 cây gậy và mũ an toàn.
 
Rồi cũng tới lúc phải “xuống núi” theo lời sư phụ, tôi xếp hàng leo lên cái ghế cáp treo (lift) như người ta, ngồi kế một trự khổng lồ, hắn ta nhìn tôi thật nhanh và hỏi: “First time?” Thằng này tinh thật! Chắc thấy bộ dạng ngơ ngáo, ngô ngố, ngồ ngộ như gà mắc đẻ của mình, hắn biết ngay là lính mới tò te. Rồi cả hai cũng lên dần đến đỉnh đồi. Lúc sắp tới nơi, vì cứ tưởng ghế treo phải dừng lại rồi mình mới xuống, không, nó không bao giờ dừng mà cứ tiếp tục di chuyển xoay thành một vòng tròn (loop), mình phải nhẩy, do không chuẩn bị trước nên tôi ngồi ngây như tượng gỗ đến lúc tên khổng lồ hét to “jump”, tôi chợt tỉnh, vội vàng phóng cái ào xuống với cặp ski và gậy, loạng choạng, ski (chân) nam đá ski (chân) xiêu, ngã bổ chổng, 4 vó lại đưa lên giời, lồm cồm ngồi dậy được đúng lúc cái ghế trống phía sau vừa trờ tới giáng thêm 1 cái nên thân vào đầu, ba mươi sáu ông sao quay mòng mòng, may nhờ lúc nhỏ trong nhà rất cứng đầu bị gọi là thằng “đầu bò đầu biếu” nên thiết thủ đầu vương này sống sót hay nhờ cái nón len dầy cộm “kíu” mạng chứ không là bị “cắt (cách) mạng” rồi.

Khoan đã, chưa hết tuồng, còn phải xuống núi nữa mới được được sư phụ cho cái “lai xần”, cấp bằng trượt tuyết. Gió vù vù bên tai, người người bỏ lại hai bên, mặt vểnh lên nhìn đời bằng cả hai con mắt, (nhìn bằng nửa con mắt là có cơ vào nhà thương tú đờ xuỵt) lòng sướng hiu hiu, đôi ski thấy nhẹ nhàng tự tin, cứ phom phom mà xuống núi như đi chơi. Cảm giác như là trên đời này chả đứa nào bằng ông, khi ngó lại, ông cũng chẳng bằng đứa nào!

Rồi cũng tốt nghiệp trượt tuyết như người ta. Giống như bác sĩ thường hỏi bệnh nhân than đau đớn khi khám bệnh là “of the scale of 10, where are you?” (từ 1 đến 10, bạn đau cỡ nào?), nếu bệnh nhân trả lời number 8, nghĩa là 8 trên 10, đau lắm, còn 5/10 thì đau vừa.

Riêng “trình độ” trượt tuyết của tôi, xin thưa các cụ là nhà cháu số 10/10, nghĩa là đội sổ. Dầu sao cũng vẫn được lên lớp là vui rồi!

Chưa bao giờ tôi thấm thía hai chữ “mệt nhừ” đúng nghĩa như lúc này. Đã mệt mà còn bị nhừ nữa các cụ ơi! Bắp thịt đau nhức, xương cốt rã rời tưởng long ra thành từng khúc. May mà về lại khách sạn, được ngâm mình vào hồ nước nóng (Jacuzzi) mà người trong nước gọi là “bể sục”, có water jets (luồng nước nóng áp suất mạnh) mát xa các đốt xương, ôi chao nó đã nàm thao ấy! Dựa lưng vào thành hồ, để nước nóng mơn trớn làn da và các bắp thịt mệt mỏi, tay cầm chai bia lạnh, ngó xuyên tường kính ra ngoài trời, tuyết trắng xóa đang rơi tơi bời (tombe la neige), thánh cũng không bằng!

Về lại phòng, ngả lưng lên giường là tưởng như đến niết bàn! Thăng ngay lập tức.

 Tác giả:   Nguyễn Văn Tới   
 
Related image

Image result for Học Trượt Tuyết photos

   Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang   db43c148
 
 
 
Photo:
Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già. 
Sống ngày nào, vui ngày nấy.
- Qua một ngày mất một ngày.
- Vui một ngày lãi một ngày. 
Hy vọng những điều tốt đẹp sẽ đến... với tất cả mọi người. 
 
<@> Mong gặp lại.
 
Related image 
Image result for fallingsnow skiing photos
Related image
Related image
Image result for fallingsnow skiing photos
Related image
Image result for falling snow skiing photos
How to Parallel Turn
Xem thêm...

Truyện ngắn: Cây cầu biên giới

Cây Cầu Biên Giới

Truyện Ngắn của Minh-Đạo và Nguyễn Thạch-Hãn

 

Ngày ấy đã xa lắm rồi.


Tôi mới đến vùng này,là một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập. Tiểu Đoàn mới, từ sĩ quan đến binh lính, hầu hết là những thành phần khó sài từ các đơn vị khác gởi về. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong thành phần bất hảo đó. Từ miền biển bị đưa lên miền núi và chỉ huy một đám quân gồm đủ mọi thành phần. Tôi còn đang buớc những bước đi chập chững của nghề chỉ huy thì phải tung ra chiến trường. Ngày ấy, cũng trên con lộ này, tôi dẫn hai con Gà Cồ Đại Pháo 105 ly để yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận tái chiếm quận lỵ Phú Nhơn mà Bắc Quân vừa mới tràn ngập đêm hôm trước.
Ngã ba này bình thường chỉ có vài quán cóc lèo tèo để bán đồ ăn thức uống cho xe đò chạy đường Pleiku - Phú Bổn hay Pleiku - Banmêthuot. Hôm đó dân chạy loạn từ Phú Nhơn ra rất đông, từ những làng Thượng, hoặc mấy khu dinh điền và dân làm ăn buôn bán chung quanh quận lỵ. Dân chúng thấy lính đi tái chiếm quận, họ rất mừng rỡ, người hỏi thăm, người cho quà bánh. Đổi lại, đám lính tặng dân chúng thuốc lá và những đồ hộp Quân Tiếp Vụ. Dân ở quận nhỏ xa xôi cũng nghèo khổ như lính vậy thôi.
1
Từ sáng sớm, lo đốc thúc tải đạn, sửa soạn xe cộ, đại bác, hàng trăm thứ phải làm cho một cuộc trực thăng vận, cho nên bao tử còn trống rỗng. Phi cơ câu súng đại bác phải xin từ căn cứ Mỹ Ớ Quy Nhơn lên, nên chờ cũng còn lâu. Tôi rủ anh chàng Chuẩn Uý Trung Đội Phó kiêm Đề Lô vào quán bên đường kiếm cái gì lót bụng. Dân quận lỵ bu lại hỏi thăm tình hình, chừng nào có thể về quận được ? Đánh nhau có lâu không ? Toàn những câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được.
- Mấy anh ấy đi giải toả quận Phú Nhơn phải không ông chủ.
- Tôi đoán vậy, cô thử hỏi mấy ổng coi.
Tôi quay lại, người vừa hỏi là một thiếu nữ độ đôi mươi, nàng mặc chiếc áo dài trắng học trò đang hỏi thăm người chủ quán, tôi hỏi lại cô gái:
- Sao cô đoán tụi này đi giải toả Phú Nhơn ?
- Em mới từ Tuy Hòa lên Pleiku hôm qua. Sáng nay đáp xe đò vô quận, không ngờ kẹt từ sáng đến giờ.
- Cô cũng ở quận Phú Nhơn sao ?
- Em dạy Ớ trường tiểu học Phú Nhơn, còn nhà em ở Tuy Hòa.
- Cô nên về Pleiku kiếm chỗ ngủ đỡ qua đêm nay.
- Em không có ai quen Ớ Pleiku cả, vả lại em nóng lòng không biết nhà cửa, trường ốc ra sao ?
- Cô có lo lắng thì cũng chẳng làm gì được, tốt hơn hết là kiếm chỗ nào nghỉ đỡ qua đêm nay, chờ giải toả xong mới về được.
- Đám học trò của em chạy ra đây cũng đông lắm, em không thể bỏ chúng được. À này các anh đừng pháo vào trường học nghe.
Tôi vỗ vai Châu Đề Lô vừa cười vừa nói:
- Cái đó cô phải nhờ ông Châu mới được, ổng chỉ đâu là nơi đó thành bình địa.
Châu vội lên tiếng:
- Trường của cô giáo tụi này không dám đụng tới.
Tôi chế diễu Châu:
- Bạn hứa một mình chứ không có tôi can dự trong đó đâu nghe. À nãy giờ mình nói chuyện mà quên giới thiệu. Tôi tên Lập, anh bạn này tên Châu. Thưa qúy danh cô là ...
- Em tên là Quỳnh Hoa, các anh hứa là phải giữ lời đó à nghe !
Tôi chọc ghẹo Quỳnh Hoa:
- Nếu tụi này giữ lời hứa thì Quỳnh Hoa phải đền cái gì mới được chứ ?
Tôi nhìn người con gái nước da trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc, đôi môi đỏ như cánh bích đào, cặp mắt to đen láy trông thật thông minh lanh lẹ, mái tóc thề phủ xoã ngang lưng, nụ cười tươi như hoa với hàm răng đều đặn như những hạt bắp vừa đủ lớn. Nhìn Quỳnh Hoa đứng giữa đám học trò nhà quê lem luốc bẩn thỉu, tôi có cảm tưởng nàng là bà tiên giáng trần, đang cầm cây đũa thần gõ trên đầu đám chúng sinh đầy đau khổ. Nàng rất bạo dạn tuy hơi lo lắng, nhưng không có cái e lệ như những cô gái xứ kinh kỳ. Tôi tự nhủ:
- Bông hoa vương giả này sao lại mọc ở chốn rừng hoang mông quạnh này nhỉ ?
Quỳnh Hoa thấy tôi nhìn cô chăm chú, có vẻ mắc cỡ đôi má càng hồng hào thêm, còn đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Châu vội đề nghị:
- Thôi bữa nào giải toả xong, đãi tụi này một bữa cơm nhà quê được không Qùynh Hoa ?
- Em nấu ăn dở lắm, nhưng em sẽ đãi các anh một chầu bún bò Huế, được không ?
Tôi làm bộ nuốt nước miếng:
- Ôi chao, chưa đánh mùi mà đã thèm nhỏ dãi rồi.

Hình minh họa


2
Có tiếng trực thăng từ xa vọng lại. Tôi từ giã Quỳnh Hoa rồi vội vã đốc thúc anh em binh lính để cuộc di chuyển được mau chóng. Bình, anh chàng tài xế xe jeep của tôi chạy lại hỏi:
- Mình cần về hậu cứ lấy thêm gì nữa không Ông Thầy ?
- Chắc đủ rồi, vả lại cũng không còn kịp nữa.
Tôi móc túi đưa cho Bình một ít tiền lẻ và nói:
- Em vào trong quán mua vài gói mì và một hộp trà, tối nay mình ăn mừng chiến thắng.
- Bình cầm tiền, nheo mắt chọc tôi:
- Cái cô hồi nãy coi bộ chịu đèn Ông Thày lắm rồi đó nghe.
Tôi thấy thích thú trong lòng nhưng cũng làm bộ chống chế:
Trời bắt đầu đổ mưa lâm râm khi trực thăng vừa bốc hai khẩu đại bác. Những cơn mưa trên miền núi thường dai dẳng và mang theo gío lạnh thấm đến tận xương tủy của những người lính Pháo Thủ, vừa thiếu ăn vừa phải làm việc cực nhọc. Tôi thầm hỏi liệu đêm nay trực thăng có kịp đổ quân để bảo vệ hai con gà cồ của mình không ?
Hai khẩu đại bác cùng với 4 túi đạn 105 li và chiếc xe Jeep được thả xuống một ngọn đồi trọc. Dưới cơn mưa tầm tã, đất đỏ lầy lội, đám pháo thủ thoăn thoắt làm việc: Hì hục đẩy hai khẩu pháo lại gần nhau, khuân vác đạn dược, dựng cây truyền tin, nhắm hướng súng. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, Những trái đạn đầu tiên đã được gởi đi liên tục để dọn bãi đáp cho hai tiểu đoàn Bộ Binh đổ bộ xuống mục tiêu.
Trận tái chiếm quận Phú Nhơn hôm đó đã thành công hoàn toàn nhưng Châu Đề Lô đã bị thương nặng, một mảnh đạn B40 của địch quân đã chọc một lỗ lủng lớn ở bụng của hắn. Tóan Pháo Binh được di chuyển về phía sau quận hành chánh để sãn sàng yểm trợ cho lực lượng bảo vệ quận.

Tỉnh Gia Lai VN


3
Một buổi sáng, sau khi sửa sang tuyến phòng thủ tạm ổn định, tôi ghé thăm Quỳnh Hoa. Ngôi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Anh em quân nhân trong quận đang gíup tay sửa sang những chỗ bị tàn phá. Tôi đến bên lớp học của Qùynh Hoa, nàng đang say sưa tập hát cho các em nhỏ. Có tiếng một em bé báo động:
- Thưa cô có Ông Lính tới kiếm.
Nàng quay lại, gật đầu chào. Tôi ướm thử xem nàng còn nhận ra tôi không:
- Ông Lính kính chào Cô Giáo, Cô Gíao còn nhớ Ông Lính này không ?
Nàng không thể nhịn cười được lối diễu cợt của tôi, nhưng cũng không chịu thua:
- Ông Lính đi đâu mà lạc vô đây ?
- Ông Lính đi lạc vào Thiên Thai đó ạ, không biết Tiên Nữ có cho Ông Lính xem rừng Đào Tiên không.
- Ông Lính tỉnh lại đi, đây là chốn phàm tục, đâu có nàng Tiên nào đâu.
- Chứ Quỳnh Hoa không phải là Tiên sao?
Nàng nghe tôi khen không khỏi e thẹn:
- Anh Lập làm Qùynh Hoa mắc cỡ quá hà! Người ta xấu như ma mà so sánh với Tiên, anh có mơ ngủ không đấy? Anh Châu có khỏe không anh Lập?
- Châu bị thương nặng đang nằm Ớ quân Y viện Pleiku.
- Trời ơi, có nguy hiểm lắm không anh?
Thấy mặt Qùynh Hoa biến sắc, tôi thấy hơi ganh với bạn mình, nhưng vội trấn an:
- Chắc không đến nỗi nào, nhưng phải nằm nhà thương một thời gian.
- Hôm nào anh có đi thăm anh Châu cho em đi theo với nghe.
Tôi tự nhủ thầm sao nàng dễ xúc cảm như vậy nên hứa đại cho xong chuyện:
- Cuối tuần tôi phải về hậu cứ nhân tiện ghé đón Quỳnh Hoa đi thăm Ông Châu luôn thể, cô có chịu không ?
- Gia đình ảnh đã biết chưa vậy anh Lập ?
- Gia đình ảnh Ớ Pleiku đã được thông báo rồi.
Tôi hỏi thăm qua loa về trường ốc và gia cảnh của nàng rồi vội vã cáo lui, hẹn gặp lại sáng thứ Bảy. Qùynh Hoa hiện Ớ trọ tại nhà bà Hiệu Trưởng, một người bạn cũ của gia đình nàng. Chồng Bà cũng là một cựu quân nhân giải ngũ, có tiệm tạp hóa ngoài chợ.
Sáng thứ Bảy, Tôi cho tập họp Trung Đội, giao doanh trại cho Ông Thượng Sĩ Thường Vụ rồi hối đám quân xa chuẩn bị xe cộ về hậu cứ lãnh lương thực và đạn được. Tôi gọi Bình vào văn phòng rồi dặn:
- Bình à, coi lại xe cộ, xăng dầu đầy đủ, bữa nay mình về hậu cứ đồng thời ghé thăm ông Châu luôn thể. À hôm nay có một người bạn xin qúa giang nữa nghe.
- Ai vậy Ông Thầy ?
- Cô giáo bữa mình gặp ngoài Ngã Ba Hàm Rồng đó nhớ không em.
- Ồ, vậy em phải rửa xe cho thật sạch mới được.
- Lính tác chiến mà chú mày làm như lính thành phố không bằng, không sợ tụi hậu cứ nó cười sao ?
- Sức mấy mà tụi nó dám cười Thầy Trò mình.
Tôi ghé lại nhà Quỳnh Hoa, nàng đã chờ sẵn, vẫn chiếc áo dài trắng hôm nào. Nét mặt vui vẻ, nụ cười tươi như hoa trông mới duyên dáng làm sao chứ ! Nàng bước ra cửa đón tôi:
- Chào anh, mời anh vào trong nhà uống miếng nước đã.
- Chào cô Qùynh Hoa, cám ơn cô để khi khác, thôi chúng ta lên đường kẻo trễ.
Đến hậu cứ, tôi nhận tiếp liệu rồi hẹn tất cả tập trung lúc 2 gìơ chiều để trở ra Phú Nhơn. Tôi chở Quỳnh Hoa vào bệnh viện. Châu vẫn còn thiếp trong giấc ngủ mê, khuôn mặt trắng bệch, hơi thở yếu ớt. Tôi có cảm tưởng thần chết đang lảng vảng đâu đây. Bà mẹ của Châu nhìn thấy chúng tôi thì không cầm nổi nước mắt. Bà bắt đầu thút thít khóc. Tôi tự hỏi trong những ngày qua người mẹ đau khổ này đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đứa con yêu dấu của mình. Chiến tranh thật tàn nhẫn ! Nó như một con qủy luôn luôn cười cợt trên sự đau khổ của con người. Nó lấy xác chết làm chiến lợi phẩm. Qùynh Hoa nhìn thấy Châu, bỗng hai hàng lệ tuôn trào. Tôi đưa chiếc khăn tay, nàng cầm lấy, che lên mắt và đi vội ra ngoài. Tôi không ngờ nàng qúa thương tâm như vậy đối với một người bạn mới quen. Tôi an uỉ Bà Mẹ của Châu mấy câu rồi vội vã đi tìm Qùynh Hoa. Nhìn nàng đứng dựa chiếc cột ngoài hành lang bệnh viện, đôi vai rung lên từng hồi, có lẽ nàng đã qúa xúc cảm. Tôi chẳng biết làm sao để an ủi nàng. Miệng lưỡi cứng đơ, chân tay thừa thãi, tôi lặng lẽ đến bên nàng, mắt tôi cũng bắt đầu nhòe lệ, tôi ôm lấy đôi vai bé bỏng của nàng. Qùynh Hoa quay mặt lại và úp mặt vào vai tôi khóc nức nở như một đứa con nít. Có lẽ những đau khổ thầm kín lâu nay được dịp tuôn ra đi theo dòng nước mắt. Tôi để mặc nàng khóc cho đã đời. Một vài người đi ngang dòm chúng tôi với đôi mắt dò hỏi rồi bỏ đi. Chuyện khóc lóc có lẽ qúa bình thường ở đây. Nàng khóc một lúc rồi bắt đầu im lặng, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi an uỉ nàng:
- Em đừng khóc nữa, anh Châu chắc không đến nỗi nào đâu, Mẹ ảnh nói Bác Sĩ cho hay ảnh đã qua cơn hiểm nghèo rồi chỉ chờ bình phục thôi.
Nàng thì thầm bên tai tôi:
- Em nhớ Ba em hồi đó, cũng nằm ở Bệnh Viện này, trong cơn hấp hối, nên không cầm nổi nước mắt, xin anh tha lỗi cho em.
- Anh xin lỗi em, không ngờ cuộc thăm viếng này đã gợi cho em những đau đớn như vậy.
- Anh đừng nói vậy, anh không có lỗi gì cả, chỉ vì em tủi thân đó thôi.
Khi đã tỉnh trí, nhìn thấy một bên vai áo tôi ướt đẫm nước mắt, có lẽ thấy hơi ngượng ngùng nên đẩy nhẹ tôi ra và lí nhí mấy lời xin lỗi. Tôi vội dìu nàng ra xe và rủ ra ngoài phố kiếm ăn. Tôi dẫn Quỳnh Hoa vào quán như một đôi tình nhân gắn bó bên nhau. Những cặp mắt nhìn soi bói của đám thực khách mà qúa nửa là lính tráng khiến nàng hơi bối rối. Tôi nhìn nàng với đôi mắt nồng nàn, thầm cám ơn Thượng Đế đã cho tôi có dịp làm quen với người con gái dễ thương và thùy mỵ như vậy. Sự hiện diện của nàng trong đời sống khiến tôi thấy những gánh nặng trên vai nhẹ nhàng hơn. Qùynh Hoa là một dòng suối ngọt, một bóng mát, một hy vọng, một nơi yên nghỉ êm đềm cho linh hồn thể xác mệt mỏi của tôi trong cuộc chiến tàn nhẫn đầy máu và nước mắt này. Tôi vẫn cảm thấy rằng sau nét mặt vô tư ngây thơ, Quỳnh Hoa có một sức thu hút kỳ lạ, giống như một vùng đất mới chứa đầy những bí mật quyến rũ đối với những nhà thám hiểm. Đúng vậy, nàng chính là sự thiêng liêng kỳ bí, một vườn Địa Đàng cho riêng tôi. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao nàng qúa thương tâm khi thăm Châu trong bệnh viện nên muốn tìm hiểu thêm:
- Qùynh Hoa ở Phú Nhơn lâu chưa ?
- Độ gần một năm thôi, em ra trường sư phạm cấp tốc rồi xin đổi về đấy ngay.
- Sao em không xin dạy ở gần nhà có phải tiện hơn không ?
- Ngày xưa, Ba em làm Quận Trưởng Phú Nhơn. Người đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng cái quận đèo heo hút gío này. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dân chúng từ miền ven biển và từ ngòai Bắc di cư lên đây lập nghiệp, đã được chính quyền tận tình giúp đỡ. Nhưng rồi trong một cuộc đi thăm đồn điền của một xã phía Tây Quận Lỵ, Ba em đã lọt vào ổ phục kích và bị sát hại. Em lớn lên, muốn tiếp nối cái hoài bão của Ba em là nâng cao dân trí để họ có thể hiểu được ý nghĩa của sự tự do, dân chủ, công bình và lẽ phải.
Tôi thầm nghĩ những danh từ tự do, dân chủ thật qúa mơ hồ đối với những người lính tác chiến, với đám dân quê nghèo thất học ở đây. Gia đình, vợ con, miếng cơm manh áo, mạng sống có lẽ gần gũi hơn. Tôi thấy vừa kính nể vừa thương hại người con gái mới lớn mang trong lòng một hoài bão qúa lý tưởng, qúa to lớn. Nàng đúng là một Tiên Nữ mà Thượng Đế đã gởi xuống cõi trần đầy khổ đau này.


4
Sau nhiều lần đi thăm Châu, chúng tôi thấy gần gũi nhau hơn. Tôi tìm thấy ở nàng một niềm vui, một ước mơ, một mái ấm gia đình cho tương lai. Vùng đất hoang vu này trở nên tươi mát đáng yêu bởi vì chỗ nào cũng thấy đoá Hoa Quỳnh nở rộn ràng.
Chúng tôi đã yêu nhau, có núi rừng và con sông nhỏ chảy qua quận lỵ làm chứng. Con sông thật hiền hoà và dễ thương như người tôi yêu. Bên bờ sông những hàng cây Phượng Vĩ nở đỏ rực mỗi mùa hè. Mùa mưa nước phù xa đỏ ửng từ trên ngàn chảy cuồn cuộn xuống ngập gần hết cây cầu sắt nhỏ bắc qua sông. Cây cầu nhỏ sơ sài có vài nhịp, bề ngang chỉ đủ cho một chiếc xe đò qua lại. Mùa nắng, nước cạn trơ những bãi cát trắng tinh. Người ta đào cát thành những vũng nước trong, gánh về để uống. Giữa lòng sông nước trong vắt nhìn thấy cát và sỏi tận dưới đáy, nước chảy lững lờ. Mấy chàng Pháo Thủ thường ra tắm sông để được chiêm ngưỡng những nàng thôn nữ cao nguyên ngực no tròn và rất tự nhiên. Tôi yêu núi rừng Cao Nguyên, mỗi buổi sáng thức dậy đứng trên đồi nhìn chung quanh chỉ thấy một màu xanh rì, mênh mông như biển cả. Tôi yêu con sông bé nhỏ, tôi yêu cây cầu sắt cũ kỹ đưa người qua sông, tôi yêu hàng cây Phượng Vĩ học trò, tôi yêu sân trường tiểu học Phú Nhơn, tôi yêu con đường nhựa bé bỏng chạy qua quận lỵ và băng qua núi rừng Cao Nguyên. Tôi yêu và yêu rất nhiều, bởi vì ở đâu cũng thấy hình bóng của nàng. Tôi yêu lắm những buổi chiều hai đứa dẫn nhau ra bờ sông, lang thang dưới những hàng cây xanh um, hoặc ngồi trên thành cầu nhìn dòng nước hững hờ trôi. Nàng ngồi bên tôi, đong đưa hai hàng chân trắng muốt, cười nói vô tư như một Thiên Thần. Trời Đất, Vũ Trụ, Thời Gian như ngừng hẳn, ôi đẹp đẽ và thanh bình đất nước tôi!
Ở đó, bấy giờ, không nghe tiếng súng nổ, không nghe tiếng gầm gừ của máy bay phản lực, không gian hoàn toàn yên tĩnh.
Chúng tôi đã dệt những giấc mộng tương lai đơn sơ và êm đềm.
- Qùynh Hoa ơi, mai này chiến tranh chấm dứt, anh sẽ cất một căn nhà bên bờ sông này, em sẽ tiếp tục dạy học, còn anh sẽ biến vùng đất màu mỡ này thành một đồn điền trù phú, em có chịu không ?
- Anh trồng cho em một vườn trái cây mít , ổi, xoài, đu đủ, mảng cầu nghe anh.
- Ừ, anh sẽ trồng bất cứ cây gì em muốn.
- Anh hứa thương em và chiều chuộng em như ngày xưa Ba yêu thương và chiều chuộng em nghe.
- Anh hứa.
- Anh đừng bỏ em, như Ba đã bỏ em một mình, em sợ lắm.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình.
- Nghe anh nói thơ mộng và sung sướng qúa, cám ơn Trời Phật đã cho em gặp anh. Có lẽ Ba đã run rủi em gặp anh đó. Lập ơi em thương anh lắm, anh biết không?
- Sao em thương anh nhiều dữ vậy ?
- Không biết nữa, có lẽ em thấy anh giống Ba em. Anh chiều chuộng em, anh là người lớn, bao dung, đại lượng, biết nhiều, hiểu nhiều. Anh biết không, hôm em gặp anh đi hành quân, em thấy anh oai hùng qúa, giống như Ba em ngày xưa. Mấy Ông Lính thương anh lắm phải không ?
- Không mấy ông ấy ghét anh lắm.
- Cái mặt xạo, ai mà ghét anh. Anh nhiều đào lắm phải không ? nói cho em nghe đi.
- Có mình em thương anh thôi, thiệt đó.
Tôi ngồi bên nàng, uống từng giọt tình yêu ngọt ngào, nghe trái tìm mình đập từng điệu nhạc run rảy trên lối vào Thiên Đường chỉ có hai đứa chúng tôi. Nàng đã dạy cho tôi biết mơ mộng, thấy đời đáng yêu hơn, những thứ đó tôi đã đánh mất từ khi mới lớn, từ khi bước chân vào quân ngũ, tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ của tôi đang đi vào ngõ cụt và chỉ còn những giấc mơ hãi hùng. Đời tôi thật trống rỗng nếu không có nàng. Tôi thấy yêu thương nàng qúa đỗi. Qùynh Hoa vẫn còn vẽ những giấc mơ của nàng nhưng tôi không còn nghe gì cả, chỉ thấy cánh môi hồng mấp máy, hơi thở thơm tho mùi mía lùi phà trên mặt tôi. Bất chợt, tôi ôm và hôn nàng say đắm, người nóng bừng như có dòng điện chạy ào ạt từ tim lên đầu. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:
- Coi kìa, người ta cười mình đó.
- Ai mà dám cười mình.
Nàng đánh trống lảng, bâng quơ hỏi tôi:
- Anh ơi, cây cầu này có tên không anh.
- Anh cũng chẳng biết nữa, hay là mình đặt cho nó một cái tên làm kỷ niệm nghe.
- Em cho anh đặt đó.
- Ừ, hay là mình gọi là Cây Cầu Biên Giới nghe em.
- Cái tên nghe cũng hay đấy, nhưng mà nghe có vẻ chia ly qúa. Giống như trong bài “Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu” của Nguyễn Văn Đông vậy.
Tôi phì cười:
- Mới thương nhau mà em đã nghĩ đến chuyện chia ly rồi.
- Nhưng mà em sợ lắm, thời buổi chiến tranh... Lỡ mai này, anh bỏ em ở đây một mình, em buồn lắm đó.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ xin với Mẹ để cưới em, chúng ta mãi mãi bên nhau.
Nàng reo lên sung sướng như một đứa con nít, mắt sáng ngời những tia hy vọng, rồi ôm lấy tôi. Ôi mùi thơm ngọt ngào, tôi làm bộ đẩy nhẹ nàng ra.
Thật không ngờ, nơi rừng rú hoang vu nguy hiểm này ai nghe đến cũng rợn tóc gáy. Bạn bè, người thân, lâu không gặp nhau, hỏi tôi bây giờ Ớ đâu, tôi trả lời ở quận Phú Nhơn tỉnh Cheo Reo, ai cũng lè lưỡi chọc tôi bộ hết đất rồi sao lên miền Thượng ở vậy, tôi chỉ cười khì. Bây giờ tôi đã có lý do để trả lời họ ... Bởi vì tôi mê hoa Qùynh, thế thôi.
- Anh làm gì ngồi thừ ra thế, hãy nói nữa về tương lai của chúng ta cho em nghe đi.
- Anh đang sung sướng qúa nên làm một bài thơ kỷ niệm.
- Ồ, anh biết làm thơ nữa sao? Hãy đọc em nghe đi, 
Chiều về thấp thóang bên sông,
Thấy Qùynh thơm ngát thấy lòng xôn xao.
Nàng cười rũ rượi, hai tay đánh liên hồi vào vai tôi. Một ngày như mọi ngày trôi qua, trong thung lũng tình yêu, bên cây câu biên giới, nỗi chết đã tạm chịu rút lui, để nhường chỗ cho tình yêu hoa bướm ngọt ngào. Tôi lấy con dao găm đeo bên mình khắc câu thơ trên thành cầu sắt để đánh dấu một chặng đường yêu đương…

Thành phố Gia Lai VN


5
- Anh muốn vào chợ hay đến nhà ai ở quận Phú Nhơn ?
Tiếng người tài xế kéo tôi về thực tại. Giấc mơ thật ngắn ngủi, như cuộc tình của chúng tôi.
- Anh cho tôi lại trường tiểu học.
Quang cảnh vẫn không thay đổi mấy, ngôi trường tiểu học vẫn như xưa. thời gian như ngừng trôi Ớ quận lỵ nhỏ bé này. Phố chợ đìu hiu vẫn còn kia, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn còn đó, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa Qùynh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Tôi hối người tài xế chạy ra phía cây cầu. Chiếc cầu sắt nhỏ bé đầy dấu kỷ niệm, tôi như trong giấc mơ, Chàng Tú Uyên ngày xưa khi tỉnh giấc không thấy người đẹp trong tranh đâu nữa, chắc cũng ngỡ ngàng như tôi hôm nay thôi. Tôi bước lên cầu, ngồi đúng vào chỗ ngày xưa chúng tôi đã từng có một thời mơ mộng. Tôi ngồi bệt xuống, hai chân đong đưa, mắt nhìn xa xăm trên những ngọn phượng vĩ bên sông, cố tìm chút nắng vàng ngày xưa của một buổi chiều tà. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu, không thấy một dấu tích gì của nàng. Nơi thành cầu này tôi đã hôn những nụ hôn đầu tiên trong đời, vẽ những giấc mơ .Đúng là cây câu chia ly như nàng đã nói. Bây giờ nàng ở đâu, hay đã bỏ xác trên tỉnh lộ Số Bảy trên đường di tản về Tuy Hoà. Ồ phải rôì, tôi phải tìm lại bài thơ có lẽ đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi với nàng. Tôi dò từng tấc sắt trên thành cầu, bài thơ còn đó nhưng đã dài hơn hai câu:
Chiều về chiều vẫn một mình,
Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ.
Tôi bay về Hoa Kỳ lòng buồn miên man, bao nhiêu háo hức của ngày trở lại Việt Nam đã tiêu tan đâu mất chỉ còn lại sự mệt mỏi và chán chường. Tôi đã đi mọi nơi, để tìm tung tích của Quỳnh Hoa nhưng cũng không có tin tức gì. Ngày ấy nếu tôi không bị kẹt ngoài Huế, chắc chúng tôi đã chết bên nhau hay cùng nhau lênh đênh trên con tàu vượt biên. Thời gian thấm thoát trôi đi, tóc tôi đã bắt đầu điểm bạc. Mỗi lần đi đâu, thấy bóng dáng mái tóc thề và chiếc áo dài trắng lòng tôi lại xôn xao như ngày nào bên chiếc Cầu Biên Giới.

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này