Truyện

Truyện (362)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

BÂNG KHUÂNG CHIỀU XUÂN

 BÂNG KHUÂNG CHIỀU XUÂN

~~<><><><>~~

“ Ngày thắm tươi bên đời xuân mới
Hồn đắm say bao nguồn vui mới
Xuân về bao ngàn hoa tươi thắm
Ta muốn hái muôn vàn đóa hồng…” 
 

 

Khúc nhạc xuân dìu dặt, tươi vui đang dẫn hồn tôi đến với những ý tưởng dễ thương, đáng yêu trong sự chờ đợi tuyệt diệu. Tôi đang chờ đợi, chờ đợi phút giây được gặp anh - người tình muôn trùng xa cách nay được gặp lại. 

Xuân đã về thật rồi. Nắng xuân nhảy múa điệu đàng trên từng khóm hoa, luống cỏ trong vườn. Nắng khiêu vũ - tôi mỉm cười. Những bước nhảy nắng xoay lướt uyển chuyển có lúc thật cuồng nhiệt rồi đột nhiên ngã người theo làn gió thoảng.

Hồn nhạc hòa trong gió xuân hây hây quyện vào nắng ấm cùng với hương và sắc hoa vẽ nên một bức tranh xuân tươi vui, rộn ràng như lòng tôi đang vui, đang háo hức tưởng tượng phút giây được gặp anh …

Tôi hân hoan rời nhà đến điểm hạn. Điểm hẹn của chúng tôi là quán café Cội Nguồn - nơi mà 10 năm trước đây anh đã từ giã tôi ra đi. Quán vẫn dễ thương và thơ mộng như ngày nào. Tôi đảo mắt tìm kiếm anh. Anh đó ư.Tim tôi đập liên hồi. Đưa tay làm dáng vuốt mái tóc dài tôi lặng lẽ nhìn anh long bồi hồi. Giọng anh vẫn ngọt ngào: 

- Em vẫn như xưa. 

Tôi mỉm cười tinh nghịch : 

- Anh cũng vẫn như xưa. 

Rồi anh nhìn tôi. Tôi nhìn anh đắm đuối. Nhạc vẫn trổi lên dịu dàng, đằm thắm, ca từ tha thiết, quyến rũ: 

“Gió chiều thầm vương bao nhớ nhung
Người yêu thoáng qua như giấc mộng…” 
 

- Anh về lúc nào ? Tôi làm dáng hỏi anh. 

Anh ngập ngừng không trả lời câu hỏi của tôi.

- Em còn giận anh? 

- Không, em không giận anh chỉ thấy tiếc cho anh. 

- Tiếc gì? Giọng anh thật nhỏ. 

- Này nhá, nếu ngày ấy anh không từ giã quê hương ra đi thì bây giờ, em nghĩ cuộc sống của anh chắc chắn sẽ có nhiều màu sắc hơn. Anh tài hoa: nhạc sĩ là anh, họa sĩ cũng là anh rồi anh còn là một nha sĩ. Ba cái sĩ có trong người anh sẽ giúp anh có một cuộc sống đẹp, đầy ý nghĩa, nên thơ và lãng mạn. 

Cầm ly café đen xoay tròn trong tay, giọng anh ngậm ngùi : 

- Gặp lại em, anh mừng lắm. Anh đã đánh mất cái sĩ thứ ba (mỉm cười). Thỉnh thoảng anh có sáng tác nhạc còn vẽ thì thường xuyên hơn. 

Như nhớ ra điều gì anh vội vàng quay người đưa tay với lấy một tấm khung hình khá lớn, mặt trước được phủ bằng một tấm giấy hoa màu tím trao cho tôi. 

- Đây anh tặng em. Tuy 10 năm xa em thật, không gian xa cách vời vợi nhưng em vẫn ở trong anh. 

 

Tôi đoán đây là một tác phẩm hội họa của anh mà người trong tranh có lẽ là tôi - một thời Tôn Nữ của riêng anh. Không hiểu tôi đoán có đúng không nhưng dự đoán của tôi là có cơ sở bởi vì ngày ấy tôi thường xuyên có mặt trong tranh của anh.

Khi thì “Thiếu nữ với hoa mai” tặng tôi nhân dịp xuân về, khi thì “Thơ ngây” quà tặng sinh nhật của tôi và cũng có lúc lại là “Nữ hoàng Cléo” chắc lúc đó tôi là một Cléo sắc sảo. Tôi bâng khuâng nhớ về ngày ấy - thuở tình yêu “vỡ vụn”.

Cuộc tình của tôi đẹp nhưng đầy trắc trở. Tôi, một Tôn Nữ đẹp với cái tên khá dễ thương : Tường Nhi - mọi người đều nói như thế nhưng phải cái tội “đẹp nhưng gò má cao là gái sát phu”; đó là lời bình phẩm của cái xứ Huế nhỏ bé này về tôi.

Có đôi lúc tôi cảm thấy buồn và thật cô đơn mặc dù bên cạnh tôi vẫn có anh. Anh vẫn đi bên đời tôi dệt cho tôi những tia nắng ấm ngày xuân, thổi vào hồn tôi những làn gió thu mát mẻ dịu ngọt của Huế và cứ thế anh đã phải chịu bao điều tai tiếng ác độc khi yêu tôi. Một lần đến chơi nhà anh, trước khi vào nhà tôi đã nghe lén được câu chuyện giữa mẹ anh và anh. 

- Mi mà lấy hắn thì đời mi “tiêu”. Uổng công mạ đẻ con ra nuôi con cực khổ con ơi. 

Anh cãi lại : 

- Răng mà “tiêu” hả mạ ? 

- Rứa mi không thấy gò má hắn cao. 

- Mạ cứ cho con lấy hắn thử con có chết không thì biết liền. 

Tiếng mạ anh hốt hoảng : 

- Ui cha, đừng nói bậy con ơi! Thôi, thôi không bàn cãi nữa. Mạ nói không là không. 

Nghe được đến đó, tai tôi ù lên, tim tôi nhảy lung tung, mồ hôi vã ra; tôi giận run người và quay quả rút lui. Cuộc tình của tôi và anh bắt đầu sóng gió từ đó.

Ngày hôm sau gặp anh tôi buồn bã trao cho anh lá thư mà suốt đêm qua tôi đã không ngủ để viết cho anh những điều mà tôi thấy cần phải nói với anh. Anh thật sự ngạc nhiên khi cầm thư của tôi trong tay. Mắt anh u hoài. 

- Có chuyện gì không thể nói với anh được hay sao mà phải viết thư? Có gì quan trọng không em ? 

- Anh cứ đọc thư em rồi sẽ rõ nhưng chờ đến tối mới được đọc à nha. 

Suốt quãng đường dài đi bên anh tôi suy nghĩ thật nhiều: hay là ta xa anh, tôi tự hỏi. Anh trong trạng thái trầm tư, mắt đăm đăm nhìn xuống đất. Hai đứa tôi mỗi người là một thế giới riêng từ phút này. Đúng là một buổi chiều thật buồn.

Không gian như chùng xuống trùm lên vạn vật một màu lam huyền. Tiếng chân tôi và anh vẫn gõ nhịp đều trên lề đường tiễn chiều xuống dần dần. Anh lặng lẽ đi bên tôi và bao giờ cũng thế khi thấy tôi buồn anh đều im lặng, tiễn thời gian qua.

Anh là một chàng trai hiền hành, đa tài rất có hiếu với mẹ. Mẹ anh một đời tần tảo nuôi con sau anh còn một đàn em 4 đứa đang tuổi ăn học; bà là một phụ nữ sắc sảo, lịch sự có vẻ mến tôi tuy nhiên bà khó lòng chấp nhận cuộc tình của chúng tôi chỉ vì tôi có “đôi gò má cao”. Tôi thông cảm bà nhưng lòng cay đắng. Rồi một chiều xuân anh và tôi ngậm ngùi chia tay … 

- Em vẫn khỏe ? 

Tôi giật mình giọng xa vắng : 

- Dạ em vẫn khỏe vẫn “bên đời quạnh hiu” vì “gò má cao”. Rồi tôi mỉm cười ngước mắt nhìn anh cay đắng : 

- Còn anh? Nghe nói, vẫn “bên đường lẻ bóng”? 

Anh xót xa gật đầu : 

- Chúng mình làm khổ nhau. Ừ, ngày ấy mạ anh có nhận xét về em như thế thật, nhưng quyết định cuối cùng vẫn là anh. Chỉ tại em tự ái. 

Tôi nguýt yêu anh :

- Rứa không phải “không bàn cãi nữa. Mạ nói không là không”? 

- Ừ, mạ anh có nói thế nhưng em cố chấp và nóng nảy quá. Giọng anh trầm buồn. 

Không ngờ lời mẹ anh nói tôi đã để tâm và nhớ nằm lòng, chờ có dịp là tuôn ra dù thời gian xảy ra đã khá lâu. Không hiểu như vậy là tôi có quá đáng không nhưng suốt 10 năm qua tôi đã sống những tháng ngày cô đơn, khắc khoải nhìn thời gian trôi như suối tóc dài sợi nhớ sợi thương.

Không hiểu trong khoảng thời gian xa tôi, anh đã nghĩ thế nào về tôi, về người con gái một thời đã cùng anh đan kết những dấu xưa đầy kỷ niệm đẹp, ngọt ngào xen lẫn đắng cay. Tôi nhìn sâu vào mắt anh, ngỡ ngàng như giấc chiêm bao. Tôi định ôm chầm lấy anh: đây là mơ hay thật! Vẫn màu mắt ấy, đúng là màu của nắng ấm ngày xuân, của tơ trời ngày hạ, của lá đổ ngày thu và của ngày đông sầu muộn. Anh có màu mắt đẹp, quyến rũ như mắt con gái mà một thời tôi đã say đắm mê màu mắt ấy. 

- Em vẫn còn nghĩ tưởng về anh ? 

Tôi mỉm cười lòng nhủ thầm: a, anh không dám hỏi: em vẫn còn yêu anh mà là : em vẫn còn nghĩ tưởng về anh? Tôi nhìn anh giọng trầm tĩnh, dứt khoát: 

- Ừ, em có nghĩ về anh nhưng anh không còn là thần tượng của em. 

Giọng anh lạc đi : 

- Anh không tin.

- Đó là quyền của anh. 

Cả hai chúng tôi đều im lặng giữa chiều xuân bâng khuâng, bâng khuâng buồn và bâng khuâng hoài cảm. Tôi trầm ngâm. Gió xuân lành lạnh. Cái lạnh nhè nhẹ làm tê tái lòng người. Tôi ngẩng mặt lên trời đón ngọn gió xuân tự do mơn trớn, ve vuốt đôi gò má của tôi rồi mỉm cười chua chát: một đứa con gái hiền lành, đẹp, thùy mị; một Tôn Nữ có cái tên dễ thương: Tường Nhi rồi bây giờ là một “thiếu nữ lớn tuổi” dịu dàng, đằm thắm như thế này đây thì “sát” được ai nhỉ ?.

Tôi lại mỉm cười nói thầm cùng anh: anh yêu, em vẫn mãi mãi là người yêu của anh nhưng mong anh thông cảm, mãi mãi em sẽ không phải là người phụ nữ đi bên đời anh. Nước mắt tôi lăn dài trên má - những giọt nước mắt âm thầm đã nhỏ giọt. Anh ơi! Anh có hiểu cho em? Và cả những ai đó nữa đã vô tình hay cố ý đã khoác lên người em chiếc áo “sát phu” rồi bình thản dẫn em băng qua tuổi xuân để đến bây giờ : 

“Tình xưa đã lỡ
Áo xưa đã phai màu
Tóc xưa
Giờ đã nhàu thời gian” (*)


Bùi Kim Chi

-----------

Hình  minh họa- Internet

Hồng Anh st

Xem thêm...

CHÙM HOA TÍM

CHÙM HOA TÍM

 Truyện ngắn của Nguyễn Minh Phúc

Mãi đến sau nầy, khi tất cả qua đi và tôi bình tâm lại thì mọi chuyện đã chấm dứt. Cái ga xép cạnh thị trấn heo hút hàng ngày xì xịch đoàn tàu tỏa khói đen ngòm đã thay bằng nhiều ngôi nhà lầu hai tầng khang trang, rọi mấy ô cửa kính màu trà từ xa đã nhìn thấy.

Những cây hoa dại màu tím sẩm rải rác mọc từng chùm theo lối đi dọc đường ray. Không biết tên nó là gì, làm sao chúng có thể sống và nở hoa được dưới ánh nắng gắt mùa hè đầy bụi bặm ở đây. Mùi ngai ngái khó chịu ở sân ga thường giống nhau xộc vào mũi làm tôi thoáng rùng mình, chỉ muốn thoát khỏi không gian ngột ngạt của buổi trưa cháy nắng không cơn gió thổi qua…
 

***

… Lần đầu tôi đến thị trấn nhỏ nầy khi tốt nghiệp xong khóa sư phạm ngắn ngày mà người ta bắt học chỉ mấy tháng. Mớ kiến thức chấp vá như bọt xà phòng nên tôi chỉ nhận dạy các lớp tiểu học mà đám trò lớn tồng ngồng gần như thầy giáo.

Mười đồng nghiệp trạc tuổi tôi suốt ngày quẩn quanh trong mấy lán trại lơ thơ, nhếch nhác như đám học trò ham đi rẫy và uống rượu hơn là đi học. Không hiểu sao tôi lại trụ đây được gần ba năm mặc dù đến cuối khóa, đếm đi đếm lại chỉ còn non nửa giáo viên ở lại trường.

Trong các cô giáo đồng nghiệp, tôi thân với Thơ. Cô ở gần nhà và chung khóa ra trường trở về đây dạy học một lúc với tôi. Thơ không đẹp nhưng có duyên, nhất là giọng nói có sức cuốn hút kỳ lạ. Mái tóc cô cắt ngắn tôn lên vầng trán thông minh nhưng bướng bỉnh, miệng cười tươi tắn, ánh mắt luôn nhìn thẳng người đối diện.

Những ngày nghỉ dạy, phần vì buồn, phần không làm gì, tôi thường rủ cô lang thang ra thị trấn cách vài cây số. Chúng tôi đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng, quẩn quanh ở mấy quán nước, ghé vào chợ chỉ nhóm vài tiếng đồng hồ buổi sáng và sau cùng là đến ga xép, chờ con tàu từ xa lừng lững về ga cùng bánh xe nghiến trên đường ray và tiếng còi tàu kéo lên hồi dài trước khi dừng lại. Không biết tôi đợi gì ở con tàu kia nhưng cứ hướng mắt vào những người xuống sân ga. Thơ cũng vậy. Hình như trong chúng tôi ai cũng có niềm riêng nào đó chỉ mình hiểu.

Chúng tôi ngồi ở ghế phòng chờ, mắt đuổi theo những người khách. Chuyến tàu chỉ dừng lại ga một lát, lơ thơ vài người lên xuống rồi nhanh chóng rời bến, bỏ lại sân ga chúng tôi cùng những người bán rong. Nắng chang chang hắt vào mặt, trên các quầy vé và trần nhà đầy bụi bám.

Chúng tôi im lặng hồi lâu, không ai nói với ai câu gì. Chỉ sau khi con tàu nặng nề phun một làn khói trắng từ đầu toa và từ từ chuyển bánh rời ga, tôi nhìn sang Thơ, bất giác thấy mắt cô nhòa lệ. Còn tôi.. Một cõi lòng trống rỗng, nặng nề, tựa như hy vọng nào đó bị đánh rơi, cố dấu tiếng thở dài thất vọng và cuối cùng hai đứa đứng lên lầm lũi đạp xe về.

Thật ra, Thơ với tôi chỉ là bạn, một tình bạn đúng nghĩa. Cô ấy đã có người yêu. Ba năm trời dạy chung trường, tôi biết cô đang chờ Thiệp. Mối tình với Thiệp nghe đâu nhiều bất trắc nhưng cuối cùng, cô vượt qua được. Thiệp đang chờ làm xong thủ tục ly dị người vợ cũ sống không hạnh phúc và hứa ngày nào sẽ đến với cô. Có lẽ, cô chờ những chuyến tàu là vậy. Không biết ngày nào nhưng cô chắc chắn anh ấy sẽ đến.

Tình yêu làm cho người ta vững tin, chờ đợi, thiết tha hy vọng dù có thể dau khổ, mỏi mòn. Tôi biết điều nầy vì trong mắt Thơ, Thiệp là người duy nhất không ai thay thế. Tình yêu là điều mà không phải ai cũng giải thích được. Tại sao người nầy chứ không phải người khác trong tim Thơ. Tôi chịu…

Càng ngày, hình như tôi càng nghĩ nhiều về Thơ. Chúng tôi gập nhau thường xuyên, khi thì ở lớp, khi họp hội đồng và những ngày nghỉ đèo nhau ra thị trấn đợi tàu về. Có ai đó trong trường nói về mối quan hệ này. Tôi bối rối nhưng Thơ tỉnh bơ, xem như không chuyện gì xảy ra. Có lần tôi hỏi Thơ.

-Anh nghe người ta đồn đại về chúng ta? Em ngại không?

- Kệ người ta, mình là bạn đâu phải gì phải sợ, phải phân bua! Hay anh sợ? Thơ ngoặc lại.

Tôi cố dấu tiếng thở dài:

-Không! Nhưng dẫu sao… mình… không nên ra thị trấn nữa… Ở đó… đám học trò của anh… hay chĩa mũi vào chuyện của người khác…

-Tùy anh. Thơ nhìn tôi, mắt ánh lên vẻ coi thường. Khi nào Thiệp đến, em sẽ giới thiệu cho anh biết người em yêu. Anh ấy không nhút nhát như anh…

Tôi nghe lòng đau nhói và hỗ thẹn nhưng làm như không chuyện gì xảy ra. Trong mắt Thơ, tôi là người bạn yểu điệu thậm chí yếu ớt. Nhưng biết làm gì hơn khi tôi không có sự can đảm, mạnh mẽ như Thơ muốn. Ngay từ nhỏ tôi đã rụt rè, do dự về mọi thứ. Chắc đó là nhược điểm của một thằng đàn ông, tôi biết nhưng không khác được vì tính tôi vốn thế. Tình cảm tôi với Thơ cũng vậy. Yêu cô ấy nhưng không hề dám mở miệng.

Từ ngày không còn đèo cô ra thị trấn để đón những chuyến tàu, tôi như đánh mất thứ gì, hụt hẫng, trống vắng, tựa như đã lầm lẫn và ân hận về những gì đã nói với cô. Ngày nghỉ dài lê thê. Tôi nằm thượt trong phòng, buổi cơm cũng không buồn ăn, thơ thẩn trong cảm giác vừa cay đắng vừa tiếc nuối.

Thời gian trôi đi, chậm và buồn trong thị trấn heo hút, ngôi trường nhếch nhác, học sinh đi học ngày càng ít. Hình như chẳng ai quan tâm đến chúng tôi. Với lại, trường vắng tênh, lèo tèo dăm bảy chục học sinh thì có gì đặc biệt. Thi thoảng, tôi vẫn vào thị trấn nhưng một mình.

Sân ga vắng vẻ chỉ nhốn nháo một chút khi con tàu dừng lại rồi trở về với cơn ngái ngủ thường lệ. Những chùm hoa vẫn nở tím ngắt như run lên mỗi lần bánh xe sắt chạy qua tạo thành đợt sóng, lấp loáng nắng trưa trên sân ga buồn man mác.

Có hôm tôi đến sân ga từ rất sớm. Khi con tàu nặng nề chuyển bánh, một cô gái từ phòng đợi bước ra và tôi nhận ra ngay là Thơ. Cô đang lấy khăn tay chầm chập lau nước mắt và nhìn quanh quất. Tôi muốn chạy lại nói điều gì đó nhưng hai chân nặng như chì và cuối cùng, hình như có gì ngăn lại, tôi quyết định không gập cô lần nữa, lên xe đi thẳng. Tối ấy, tôi uống rượu say mèm. Trước mặt, chập chờn trong ánh sáng của cây đèn cầy cháy dở, tôi thấy cô đứng trước mặt đôi mắt buồn đẫm nước.

Thiệp cuối cùng rồi cũng tới trong chuyến tàu tôi không hề mong đợi. Anh chàng trông vẻ bề ngoài cao lớn, miệng rộng, khá hoạt bát, nghe nói làm chức gì đó bên xuất khẩu, kiếm được khá nhiều tiền. Tạng đàn ông như vậy nhiều cô mê là phải. Tôi mừng thầm cho Thơ, cố dấu nỗi thất vọng riêng mình.

Từ ngày có Thiệp, Thơ vui hẳn, gương mặt lúc nào cũng đẹp ra. Cô và Thiệp ở hẳn trong khu nhà tập thể. Họ như đôi chim cu, lúc nào cũng quấn quýt, say đắm bên nhau. Hạnh phúc của người nầy đôi khi lai là nỗi buồn của người kia, tôi trong tâm trạng ấy. Thôi thì mình chấp nhận, tôi tự an ủi và làm vui khi họ đến nhà hoặc thi thoảng gập hai người sánh vai đi đâu đó,

Cuộc sống cứ trôi đơn điệu và buồn tẻ. Những ngày nghỉ, chỉ một mình, tôi ra ga mà không biết làm gì. Tôi có hẹn đưa đón ai đâu, thơ thẩn đi trên con đường ray sau khi tàu chạy, nhìn những cây hoa dại mọc trên những lối đi.

Những bông hoa nở tím thẩm từng chùm, mọc hai bên đường ray như cố vươn ra, quấn vào tôi theo mỗi bước chân. Thỉnh thoảng tôi cúi xuống, hái một vài bông, vò nát ra. Chúng có mùi ngai ngái, cay xè hắt vào mặt mũi làm nước mắt tôi ưá ra. Tôi buồn và nhớ Thơ.

Ở ga xép nầy, không biết bao lần, tôi và em ngồi đây đợi chuyến tàu về, cùng lang thang trên con đường ray, hái những chùm hoa dại. Giữa nắng rát và bụi mịt mờ, không hiểu sao chúng vẫn nở hoa, bướng bỉnh lê dài cành ra dù mỏng manh, yếu ớt. Tôi tự hỏi mà không thể trả lời. Giá mà có Thơ ở đây. Cô ấy biết nhiều chuyện, thế nào cũng tìm cách giải thích cho tôi. Lúc nầy, với tôi, em cần thiết biết chừng nào.

Ít lâu sau khi chung sống với nhau, khu tập thể thường nghe tiếng cãi vã, tiếng mắng mỏ và tiếng vỡ rổn rảng vang từ phòng Thơ ngày càng nhiều. Hình như cô và Thiệp có chuyện. Có hôm họp hội đồng, tôi thấy mặt Thơ đậm vết bầm, mắt cô hoe đỏ. Nhiều lời bình phẩm đoán già đoán non từ đám giáo viên chúng tôi nhưng không ai biết chuyện gì. Một hôm, sau cuộc họp, Thơ kêu tôi ra nói nhỏ:

-Lát nữa em muốn gặp anh! Về chỗ anh nhé!

-Ừ! Cũng được… Tôi đồng ý, trong thâm tâm cũng rất muốn gặp cô.

Chúng tôi ngồi cạnh nhau trong phòng tôi. Thơ nói trong tiếng khóc:

-Em khổ lắm, anh ơi! Chưa bao giờ em tuyệt vọng bằng lúc nầy…

-Em cứ kể anh nghe… Tôi bùi ngùi nói. Dù sao em cũng nhẹ bớt khi tâm sự với bạn bè…

Như không còn chịu nổi sự nín nhịn lâu ngày, Thơ gục đầu vào vai tôi nức nở:

-Anh Thiệp… Anh ấy… Thực ra, Anh ấy không hề yêu em…

-Có chuyện ấy sao? Không phải đâu. Một người từ thành phố thôi vợ, bỏ tất cả công việc về đây với em, sao laị có chuyện ấy được. Nhưng sao em lại nói thế, anh không tin. Tôi nói và ngồi thừ ra.

Thơ nhìn tôi, cái nhìn của ngày chúng tôi còn thân nhau, thường đèo nhau ra ga đón tàu vào những hôm nghỉ dạy, ám ảnh tôi nhiều đêm không ngủ. Cô nói trong những giọt nước mắt đọng lại quanh mi:

-Em biết diều ấy. Trái tim em mách bảo em biết rõ về Thiệp. Hình như tính tình, cách sống em không hợp với Thiệp thì đúng hơn. Em đã cố chịu đựng nhưng rồi không thể. Chúng em lúc nào cũng xào xáo. Thiệp bắt em phải nghỉ dạy, về thành phố với anh ấy… Mà em lại thích ở đây. Không ai có thể bắt em rời bỏ nơi nầy được.

Tôi thật sự không biết nói gì để an ủi Thơ. Tốt hơn hết, với cô gái bướng bỉnh và đầy cá tính nầy thì nên im lặng vì trước sau gì, cô ấy cũng tìm cách giải quyết chóng vánh những vướng mắc. Theo tôi, cuộc hôn nhân của Thiệp và cô ấy xuất phát từ tình yêu, chắc sau những sóng gió tạm thời, mọi việc sẽ đâu vào đấy.

Nghĩ vậy nhưng không phải. Mỗi ngày qua, mâu thuẫn giữa họ càng gay gắt. Tôi biết được điều nầy vì mỗi lần xảy ra chuyện, Thơ đều kể tôi nghe. Phụ nữ họ có cách nói chuyện sao đó mà ta không dứt ra được. Ngồi nghe Thơ tâm sự hàng giờ những điều không liên quan gì đến mình để cuối cùng, trước khi chi tay, tôi đành xuôi tay buông tiếng thở dài bất lực.

Họ chia tay đột ngột như lúc nồng nàn chờ đợi nhau theo những chuyến tàu. Thiệp bỏ đi bất ngờ giống như anh đến. Người ngỡ ngàng nhất không phải Thơ mà là tôi. Tình yêu sao lại dễ cắt đứt nhanh chóng và đột ngột như vậy? Họa có Thơ điên. Sống với một anh tráng điển trai, có sự nghiệp, tương lai như vậy mà đùng một cái lại chia tay, quả tôi không hiểu.

Kể từ ngày Thiệp đi, Thơ thường hay lại chỗ tôi chơi, không nói gì chuyện cũ. Cô muốn quên Thiệp và cuộc tình nông nổi kia. Chúng tôi lại cùng đèo nhau ra thị trấn và vào ga vào những ngày nghỉ. Bên Thơ, tôi như tìm lại được niềm vui, hạnh phúc mà có lúc tưởng mất đi mãi mãi.

Chúng tôi lần theo đường ray nóng bỏng giữa nắng trưa đầy bụi mù, hái những chùm hoa tím đầy dưới chân và tranh nhau xem ai hái nhiều hơn. Chúng tôi đuổi bắt, chạy nhảy và tung lên trời những chùm hoa, chán chê nô đùa và sau cùng vào quán quen uống nước rồi đèo nhau về. Không biết Thơ nghĩ gì nhưng ánh mắt cô lấp lánh, đôi má hồng đỏ và nụ cười tươi tắn.

Có hôm tôi và Thơ còn đi xa hơn. Sau cái nhà kho vắng tênh của sân ga, tôi ôm cô, đắm đuối trên miệng, trên môi. Thơ ngã người vào tôi, nhắm mắt lại trao những chiếc hôn nóng bỏng. Chiếc áo cô mặc trễ xuống đủ cho tôi thấy làn da trắng mịn, nõn nà hiện ra trên bờ ngực mẩy.

Tôi dúi mặt vào đó, say đắm hít hà. Mùi vị nồng nàn của da thit và hương thơm quyến rũ từ người Thơ làm tôi ngây ngất. Tình yêu diệu kỳ, thơ mộng quá. Tôi như bay lên cùng hạnh phúc của mình. Trước mặt tôi ánh nắng nhún nhảy trên sân ga và những chùm hoa tím dường như rực rỡ hơn trên đường ray dài tít tắp.

Tôi và Thơ yêu nhau được một năm và vẫn thường ra ga vào những ngày nghỉ. Sân ga buồn tênh, ngột ngạt trong nắng trưa khi đoàn tàu đi ngang qua tỏa khói mịt mù. Những cánh hoa tím dại vẫn mọc cạnh đường ray ngày càng nhiều. Chúng vẫn sống mặc nắng rát và gió bụi.

Nhưng mối tình tôi thì không. Thơ chỉ xem tôi như một điều gì đó lấp khoảng trống tuyệt vọng mình khi tình yêu đổ vỡ. Chỉ thời gian sau, Thiệp xuất hiện trở lại và họ làm lành với nhau. Thơ đồng ý theo anh về thành phố. Tôi như người bị đánh cắp tình yêu (hay tôi lấy cắp tình yêu của họ ) hụt hẫng, chán chường. Ngày Thơ đi, tôi tiễn cô ra ga. Chúng tôi hầu như không nói gì. Lúc tàu sắp chạy, tôi chỉ nói với cô một câu:

-Dù thế nào, anh cũng không quên sân ga buồn tẻ nầy. Cả em nữa… Thơ ơi…

Đôi mắt cô đẫm nước nhưng gương mặt thì hân hoan. Có trời mà hiểu phụ nữ. Tình yêu làm họ đau xót, ngậm ngùi nhưng nhanh chóng phôi pha khi lấy chồng. Hay họ giấu đâu đó trong cõi lòng ngàn ngăn kéo khép mở, làm sao biết được.

Tôi đứng chôn chân trên sân ga khi con tàu mang Thơ đi chỉ còn một chấm đen nhỏ xíu. Và về ngang qua đường ray. Những bông hoa tím vươn dài theo bước chân. Tôi cúi xuống hái, vò nát trong lòng bàn tay. Ôi, những bông hoa thời yêu nhau say đắm của chúng tôi. Kỷ niệm đâu đó ùa về. Chiếc tàu mang tình yêu đi mãi, chỉ còn tôi trên sân ga và những chùm hoa tím buồn tênh.

Tôi rời trường mấy năm sau đó. Công việc ở nơi làm mới cuốn tôi ngày này đến ngày khác, thị trấn bé nhỏ và sân ga buồn tênh năm xưa lãng quên dần trong trí nhớ. Thơ giờ đang sống bên chồng hạnh phúc ở thành phố, sát chỗ làm của tôi.

Thỉnh thoảng tôi vẫn thường gặp họ trên đường. Cô và Thiệp đèo nhau trên chiếc xe gắn máy, mặt mày hớn hở, vui tươi. Chạnh nhớ tình yêu xa xưa và chiếc xe đạp lọc cọc ngày nào, tôi nghe lòng chùng xuống.
 

 

…Mới đây, tôi có dịp ngang qua thị trấn. Giờ nó thay đổi quá nhiều sau thời đất nước mở cửa. Nhà cao tầng, khách sạn, nhà hàng bung ra như nấm sau mưa khiến không còn nhận ra nơi cũ. Sân ga hiu hắt buồn tẻ đã dời đi và thay vào đó là những căn biệt thự mới xây nằm rải rác trên sườn đồi.

Chẳng hiểu sao những đường ray là còn nguyên vẹn nằm chỏng chơ, đứt khúc trên lối đi ghồ ghề, trơ ra những thanh tà vẹt đoạn còn đoạn mất. Tôi bùi ngùi nhìn vào sân ga. Bây giờ là chỗ người ta đang xây dựng chung cư mới.

Ánh nắng chói chang, nóng hổi tỏa xuống buổi trưa ngột ngạt đầy nắng. Tiếng động cơ, tiếng máy nổ, tiếng người hò hét vang động trên sân ga đìu hiu vắng vẻ ngày nào.

Dưới nắng trưa, những chùm hoa tím sẫm vươn theo đường ray, ánh lên sắc màu rực rỡ. Chúng vẫn nở hoa dưới cái nóng như thiêu đốt và đầy bụi mùa hè.

Không hiểu sao lòng tôi cứ bồi hồi nhớ bao kỷ niệm ngày xưa đầy ấp ứ ./.

 

Ngọc Lan st

 

Xem thêm...

Gói quà đầu năm

Gói quà đầu năm

Phạm Tín An Ninh

Tôi phải ngồi lại trên các bậc đá nghỉ chân đến ba lần trước khi bước vào cổng chùa. Ngôi chùa nhỏ nằm trên một triền núi, được phủ mát bởi những tàng cây. Ngôi nhà khách bằng gỗ, khá xinh xắn, nằm trong một khu vườn toàn hoa vạn thọ.

Phía trước là một tượng Phật ngồi dươi gốc cây bồ đề, cành lá được cắt tỉa công phu. Chung quanh là cả một vùng núi trời tĩnh mịch.Tôi không phải là phật tử, nhưng ngồi nghe tiếng mõ và lời cầu kinh trong chùa vọng ra, cũng thấy lòng nhẹ hẳn đi trước bao nhiêu điều phiền não.

Hôm nay là mồng một tết, nhưng cảnh chùa khá im ắng, bởi chùa nằm khá xa khu dân chúng. Ngày hôm qua tôi có đến đây, nhưng thầy trụ trì đi vắng. Tôi đã để lại tấm danh thiếp của chồng tôi, viết vài dòng phía sau xin hẹn thầy hôm nay trở lại.

Chú tiểu còn rất trẻ, mang trà ra mời và xin tôi chờ thêm mươi phút nữa, vì thầy trụ trì đang khai kinh cho buổi lễ tân niên. Tôi nôn nao muốn sớm được nhìn mặt vị ân nhân của mình, nhưng cũng dặn lòng phải kiên nhẫn và cẩn trọng ý tứ trước một nhà sư.

Hơn ba mươi năm trước. Lúc ấy tôi còn là cô bé học trò của trường huyện An Túc, nằm giữa thị trấn An Khê, bên QL 19 nối liền Qui Nhơn với Pleiku. Chiến tranh đang thời kỳ ác liệt. Tuổi còn nhỏ, nhưng ngày nào tôi cũng nghe cha mẹ và các thầy cô bàn chuyện chiến trường: đánh lớn ở Pleime, Dakto, Tân Cảnh.

Mấy năm nay, An Khê tương đồi bình yên, nhờ Sư Đòan 101 Không Kỵ Hoa Kỳ có căn cứ ở đây, và dọc theo đèo An Khê có đồn bót của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn.

Giữa lúc chiến tranh ngày khốc liệt, bất ngờ lực lượng đồng minh rút quân về nước, làm dân chúng ở đây hoang mang, lo lắng. Xứ họ đạo của tôi cũng được cha chánh xứ tổ chức những toán tự vệ, phối hợp với quận, lo canh gác khu vực của mình.

Chiều ba mươi Tết, được thông báo của tỉnh, các cơ quan trên quận phối hơp với các thầy cô giáo và cả Hội Đồng giáo xứ đi mọi nhà kêu gọi đóng góp những gói quà tượng trưng dành tặng cho anh em chiến sĩ của một đơn vị từ xa tới, thay thế lực lượng đồng minh, đồn trú ở đây.

–  Tôi nghiệp, nghe nói anh em đã phải rời căn cứ từ sáng sớm 30 để chiều mồng một Tết có mặt ở đây. Họ có biết tết nhất gì đâu! Ông cha xứ nói với chúng tôi như thế.

Cả quận vui mừng, nô nức trước tin vui. Riêng tôi còn vui hơn khi tưởng tượng sẽ có nhiều anh lính đến cái thị trấn nhỏ xíu buồn tênh này, nên rất sốt sắng trong việc gói quà. Tôi tự tay thực hiện được hai gói quà, gồm một số bánh mức, chiếc khăn tay do tôi thêu lấy, kèm theo lá thơ chúc mừng năm mới tới hai anh chiến sĩ vô danh nào đó.

Tôi nắn nót viết thật đẹp rồi đề tên, lớp và trường học phía dưới. Vì “sao y bản chánh” từ một bài luận văn tháng trước, nên hai lá thư giống nhau như đúc. Nhìn hai gói quà tôi mỉm cười, khi nghĩ sẽ có hai “người tình không chân dung” nào đó nhận được lá thư nồng nàn của một cô “em gái hậu phương”. Ban đầu, các thầy cô cho biết, đám học trò chúng tôi được hướng dẫn vào căn cứ để tận tay tặng quà cho các anh chiến sĩ.

Bọn tôi đứa nào cũng hớn hở, lăng xăng giặt ủi lại chiếc áo dài trắng ưng ý nhất. Nhưng sau đó dưới tỉnh cho biết là trước khi vào An Khê, các đơn vị này còn phải hành quân mở đường, giải tỏa một số đồn bót của lực lượng Đại Hàn nằm dọc theo đèo An Khê, bị địch quân bao vây đã ba hôm nay.

Cuối cùng tất cả quà đều được nộp cho trường, và thầy hiệu trưởng cùng các thầy cô giáo sẽ mang vào cho đơn vị để trao lại cho anh em chiến sĩ khi tình hình an ninh cho phép. Bọn học trò chúng tôi tiếc hùi hụi vì mất một dịp được vào xem căn cứ và ủy lạo các anh chiến sĩ.

 

–   Nam Mô A Di Đà Phật. Xin chào bà. Xin lỗi, chắc là bà đã chờ tôi lâu lắm phải không ?

Câu hỏi của thầy trụ trì cắt đứt dòng hồi tưởng của tôi. Tôi đứng lên, vụng về chấp hai tay trước ngực chào lại thầy. Tôi muốn nhìn thật kỹ khuôn mặt của thầy, nhưng thấy ái ngại, nên chỉ cúi đầu im lặng.

–   Cái cổng tam quan, ngôi nhà khách này, và những bậc đá trên con đường mà bà vừa đi lên là do tiền cúng dường của ông bà. Chúng tôi xin tán thán công đức và cầu xin chư Phật gia hộ cho ông bà cùng gia đình. Bà có muốn đi một vòng xem cảnh chùa không ? Xin mời bà.

Thầy vừa nói vừa chỉ tay về phía cổng tam quan.

–   Dạ, công ơn của thầy đối với gia đình tôi lớn lao quá. Biết làm sao đền đáp. Xin thầy đừng nhắc tới công đức, làm tôi thêm xấu hổ. Tôi vừa bước theo phía sau thầy, vừa nói.

–   Mô Phật ! Giúp người, đó là nhiệm vụ của kẻ tu hành, dù là tôn giáo nào. Sao bà lại gọi là công ơn. Thầy nở một nụ cười độ lượng.

Đi phía sau, nhìn dáng đi khoan thai của thầy, tôi băn khoăn suy nghĩ: Khuôn mặt thì có nhiều nét giống, nhưng với cái dáng đi thì lại khác hẳn. Có thể ngày xưa là lính nên cần phải nhanh nhẹn. Tôi nghĩ thầm như thế.

Khi đến cửa tam quan, thầy dừng lại và chỉ tay về hướng bờ biển, nơi có mấy tảng đá ở triền núi, phía dưới là một khu rừng rậm :

–   Chính ở nơi đó, tôi đã tìm gặp chồng của bà


Năm ấy, khi chồng tôi vừa mới trốn về từ trại tù cải tạo Gia Trung (anh chỉ là thầy giáo, vì dạy một trường trong khu người Thượng, nên bị nghi ngờ hợp tác với lực lượng Fulro chống lại chính quyền, bị bắt năm 1979 ), được một người bạn thân cho đi theo một chuyến vượt biển do gia đình anh ta tổ chức.

Lúc ấy ai cũng nghĩ ra đi là không bao giờ gặp lại vợ con, mà có ở lại cũng sống không yên, chỉ làm khổ cho gia đình. Hơn nữa lúc ấy tôi vừa mới sanh đứa con đầu lòng, nên không thể đi cùng.  Chúng tôi đành gạt lệ chia tay mà không dám nghĩ sẽ có ngày tái ngộ.

Tàu vừa ra khơi hơn một ngày thì bị hỏng máy, trong lúc gió mưa tầm tã. Tất cả mọi người phải đem sinh mạng chống chọi với phong ba. Cuối cùng, sau gần ba ngày bềnh bồng trên biển, nhờ những cơn gió nhiệm màu đã đẩy chiếc tàu với hơn một nửa số người sống sót, giạt vào một ghềnh đá lúc trời nhá nhem tối.

Tưởng đã thoát chết, nào ngờ khi vừa leo lên bờ thì bị một toán công an biên phòng vây bắt. Một số người yếu sức thì đành đưa tay cho họ trói. Chồng tôi cùng một vài thanh niên khác dùng hết tàn lực chạy trốn trong các hốc đá bên triền núi. Mấy lần thoát chết dưới những tràng đạn. Nhờ trời tối anh chạy thoát vào khu rừng trước khi kiệt sức. Khi tỉnh lại, anh thấy mình nằm trong ngôi chùa nhỏ nằm bên triền núi.

Anh được vị trụ trì săn sóc và che dấu chu đáo, mặc dù biết anh là người công giáo, bởi trên cổ có đeo thánh giá. Sau hơn một tuần, nhờ thầy giúp cạo đầu, cho áo quần để cải dạng một thầy tu, và gởi theo một chiếc xe đò của một phật tử thân quen, chồng tôi mới trốn được vào nhà bà cô ruột ở Cam Ranh.

Sau đó nhờ chính bà cô này tìm đường để vượt biển tiếp.Và lần này anh đã đươc tàu Pháp vớt, nên được sang định cư bên Pháp. Ba năm sau, tôi và đứa con được anh bảo lãnh với diện đoàn tụ gia đình.

 

–   Mô Phật! Tôi nghiệp, ông ấy đã về tìm thăm tôi hai lần, và giúp cho tôi khá nhiều tiền để lập lại ngôi chùa này và một nhà từ thiện nuôi các em bé tật nguyền dưới xóm. Công đức của ông bà thật lớn lắm.

Tôi nhớ lại tấm ảnh mà chồng tôi chụp chung với thầy trong lần thứ nhì về thăm thầy. Bao nhiêu lần tôi đã nhìn kỷ tấm ảnh, lại nghe chồng tôi bảo, ngày xưa thầy cũng là lính, nên tôi đã ngồi hằng giờ hình dung, nhớ lại một người quen lúc trước.

–  Thực ra anh ấy ngại không muốn về, nhưng vì nhớ ơn thầy mà anh ấy mới về gặp thầy. Lần này chính tôi đề nghị được thay anh về thăm thầy, nhân dịp thăm mẹ của tôi đang ốm nặng.

–   Mô Phật ! Tôi hiểu nỗi khổ tâm của ông ấy.

Tôi nghe tiếng thở dài của vị trụ trì, và thấy thầy đưa mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Từ lúc mới gặp nhau trong ngôi nhà khách, tôi nghĩ là thầy đã nhận ra tôi. Tôi chờ thầy hỏi, nhưng có thể thầy đã quên hay bây giờ là kẻ tu hành, nên thầy không muốn nhắc lại chuyện thế tục ngày xưa. Không để lỡ mất cơ hội, tôi lên tiếng :

–  Tôi về đây, gặp thầy cũng để muốn xin được hỏi thầy một điều, mà bấy lâu nay cứ băn khoăn mãi trong lòng, nhưng ngại thầy là bậc tu hành, nên tôi không dám .

Thầy nhìn tôi, im lặng giây lát rồi lên tiếng :

–   Mô Phật!  Kẻ tu hành lúc nào cũng muốn đem ánh sáng cho chúng sinh hầu giải tỏa những lo âu phiền não. Xin bà cứ tự nhiên

–   Xin thầy tha lỗi, nếu có điều gì không phải. Có phải thế danh của thầy là Quế, Lê Phương Quế ?

Thầy ngạc nhiên nhìn tôi, rồi nhìn lên khoảng không, nhíu mày.

–   Mô Phật!  Làm sao mà bà biết được tên của tôi ?

–  Thầy còn nhớ anh Lân, trung sĩ  Đỗ Lân, ở Sư Đoàn 23 BB, có đóng quân ở An Khê vào những ngày tết năm 1972 ?

–   Bà còn biết cả bạn tôi? Anh Lân đã tử trận ở Kontum từ mùa hè 72 . Bà có biết không?

Tôi có một thoáng giận thầy, vì nghĩ là đến bây giờ ông vẫn chưa nhận ra mình. Chẳng lẽ thầy vô tình đến thế. Nhưng ngay sau đó tôi hối hận về ý nghĩ của mình. Sao lại đem chuyện đời để mà trách một vị chân tu, một người đã xa lánh chuyện hồng trần, thế sự. Thầy đã cho mình hỏi và sẳn sàng tâm sự đã là một điều hỉ xả rồi.

–  Dạ, tôi có biết, và tôi cũng có đến Kontum thăm mộ anh mấy lần. Sau này tôi về tìm để xây lại ngôi mộ cho anh, thì nghĩa trang không còn nữa, và không ai biết mộ anh đã chuyển đi đâu .

Đôi mắt của vị trụ trì sáng hẳn lên. Thầy mở đôi mắt thật to nhìn tôi, đưa tay lên định nắm vai tôi, nhưng rồi kịp khựng lại.

–  Vậy là Xuân ? Bà là cô Xuân ngày xưa? Mô Phật! Sao lại có chuyện kỳ ngộ lạ lùng này.

 

Vâng, tôi chính là Xuân, cô bé học trò trường trung học An Túc ngày xưa. Người  đã gói hai gói quà Xuân ủy lạo cho những chiến sĩ đến giữ an ninh cho quê tôi vào đúng chiều ngày mồng một tết. Hai gói quà được nộp cho trường để chuyển tới cho các anh, vì lúc ấy đơn vị đang hành quân mở đường để đến nơi trú đóng.

Sau một cái tết an bình, cả thị trấn nhỏ của tôi nhộn nhịp hẳn lên bởi sự có mặt của một trung đoàn lính chiến, ngày mồng tám tết, đám học trò chúng tôi trở lại trường, nhưng các thầy cô biết là trong lòng đám học trò ai cũng còn dư âm ngày tết, nên cho chúng tôi tập họp lại hát hò và kể chuyện vui.

Trong lúc thầy hướng dẫn đệm đàn cho cả đám học trò ca hát, thầy giám thị đến tìm tôi, bảo tôi lên văn phòng có người nhà muốn gặp. Bước theo thầy giám thị mà lòng tôi lo lắng không biết ở nhà có chuyện gì, thì ông đưa tay chỉ hai anh lính đang ngồi chờ trên chiếc ghế đá trong sân trường.

Hai anh lính thật trẻ đứng lên chào tôi, nhoẻn miệng cười :

–  Hai đứa tôi đến để cám ơn Xuân và chúc mừng Xuân năm mới .

Tôi thoáng một chút ngạc nhiên và bẽn lẽn :

–  Em có làm gì đâu mà hai anh cám ơn ? Mà sao hai anh biết được tên em ?

Hai anh cùng mở túi áo lấy ra bức thư. Vừa kịp nhận ra đó là hai bức thư mà tôi đã “sao y bản chánh” bỏ trong hai gói quà ủy lạo, thì một anh lên tiếng :

– Tôi là Đỗ Lân, và người bạn thân của tôi đây là Lê Phương Quế. Trông anh hiền như con gái, nhưng Xuân đừng nhầm với nữ ca sĩ Phương Hồng Quế nghe, mặc dù anh Quế bạn tôi cũng có giọng hát rất hay, không thua gì Phương Hồng Quế . Hai đứa tôi nhận hai gói quà của Xuân. Quà cáp như nhau và lời lẽ trong cả hai bức thơ cũng giống nhau như đúc. Cô Xuân thật công bình. Cám ơn nghe!

Tôi hơi quê, nhưng cố làm ra vẻ tự nhiên:

–  Hai anh tới trường tìm Xuân, không sợ thầy giám thị la Xuân hà ?

Anh lính thứ nhì, tên Quế, lên tiếng :

–  Bọn tôi bảo là anh em bà con với Xuân, đi lính xa nhà bây giờ mới gặp. Thầy giám thị coi bộ cũng thương lính lắm, nên chắc không nở la rầy người yêu, à xin lỗi, người em của lính đâu!

Mặc dù thấy hai anh chàng có vẻ thư sinh, vui tính, nhưng nhớ lời bà chị thường bảo mấy ông lính bạo dạn và tán gái hay lắm. Phải coi chừng. Tôi nhủ thầm như thế. Và để xem hai anh chàng này có thực sự bạo dạn hay không tôi khoanh tay:

–  Nghe nói anh Quế hát hay không thua gì Phương Hồng Quế, em xin mời hai anh vào lớp em chơi. Bọn em cũng đang ca hát trong đó, chứ không có học hành gì đâu. Đám bạn em sẽ mừng lắm đó.

Hai anh nhìn nhau cười, rồi gật đầu, theo tôi vào lớp.

Cả đám bạn học trò im bặt, tò mò nhìn ra khi thấy tôi dắt theo hai anh lính trẻ. Tôi nói với vị giáo sư hướng dẫn :

–  Thưa thầy, có hai anh lính nhận được quà tết của lớp mình, đến cám ơn và xin hát cho cả lớp mình nghe .

Thầy hướng dẫn lớp gật đầu, đến bắt tay hai anh, tươi cười :

–   Hồi nãy tới giờ mấy cô chỉ hát những bài tình yêu lính chiến, bây giờ đích thân lính chiến hát tặng mấy cô thì còn gì hay bằng, phải không ?

Cả lớp vỗ tay .

Anh lính tên Lân bước lên bục giảng, hai tay mân mê chiếc nón bê- rê :

–   Kính thưa thầy, thưa các bạn. Tôi không biết hát, nên xin dành phần nói trước. Chúng tôi xin cám ơn những gói quà Tết của nhà trường, của các bạn. Trong không khí Tết, vì nhiệm vụ phải xa nhà, được những món quà của các bạn chúng tôi thấy ấm áp nhiều lắm.

Đặc biệt hai đứa tôi đây đã nhận được quà của cô Xuân. Chỉ cần cái tên của cô là hai đứa chúng tôi cũng đã có cả một mùa xuân rồi . Xin cám ơn và kính chúc thầy, chúc các bạn một năm mới vạn điều như ý.

Cả lớp lại rộn lên tiếng cười và những tràng vỗ tay không dứt. Một con bạn có tiếng nghịch nhất lớp quay về hướng tôi ngồi :

–   Xuân ơi, mày chỉ được chọn một trong hai thôi. Còn để dành cho đứa khác nữa chứ!

Đúng là nhất quỉ nhì ba, còn thứ ba là bọn này. Tôi đoán hai anh chàng lính sữa đang nghĩ như thế. Anh lính tên Lân bẽn lẽn, ngừng lại đôi phút rồi đưa tay về hướng người bạn, tiếp tục :

–   Bây giờ, xin giới thiệu anh bạn thân nhất của tôi, Lê Phương Quế, mà chúng tôi thường gọi là Phương Hồng Quế, tiếng hát hàng đầu của trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, sẽ lên hát một vài bài tặng thầy và các bạn .

Tôi cũng phục tài ăn nói khá “tâm lý chiến” của anh chàng Lân này. Cái giọng Huế nghe cũng êm ái, cứ như rót mật vào tai người ta. Bây giờ nhìn kỹ thấy anh ta cũng đẹp trai, nụ cười cũng có duyên ghê lắm. Lính cỡ này chắc sẽ làm khổ vài cô em gái hậu phương đây. Tôi mỉm cười với ý nghĩ vừa thoáng trong đầu.

Anh Quế bước lại chỗ thầy hướng dẫn để xin nhờ thầy đệm đàn. Anh hát bài Xuân Này Con Không Về của nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Trông anh có dáng dấp thư sinh và khuôn mặt hiền lành như một thầy tu.

Tiếng hát cất lên làm cả lớp im bặt. Đúng là giọng hát của anh rất hay, điêu luyện, lúc réo rắt lúc trầm buồn không thua một ca sĩ chuyên nghiệp. Dường như có cùng tâm trạng với nội dung bài hát, nên anh đã hát với tất cả cảm xúc, làm dao động trái tim mọi người. Bài hát chấm dứt, mà cả lớp dường như còn thẫn thờ, yên lặng. Sau đó bùng vỡ bởi những tràng vỗ tay và nhiều tiếng la: bis, bis…

Anh cúi xuống một lúc, hình như để dấu sự cảm xúc, rồi ngước lên nói nhỏ hai tiếng cám ơn và xin hát tiếp bài Chiều Trên Phá Tam Giang, thơ của Tô Thùy Yên phổ nhạc.

Lần này, chính tôi không cầm được nước mắt. Không chỉ vì anh hát hay, nhưng tôi thấy xúc động, thấm thía hơn cuộc đời của những người lính chiến.

–  Thưa thầy. Bây giờ đã đi tu rồi, thầy có còn hát những bản nhạc tình lính ngày xưa? Tôi vẫn còn nhớ cái cảm xúc khi thầy hát cho cả lớp tôi nghe, sau cái tết năm nào ở trường An Túc. Thầy hát thật hay và truyền cảm. Hôm ấy là lần đầu tiên tôi được gặp thầy và anh Lân.

–   Mô Phật ! Bây giờ tôi chỉ còn biết tụng kinh gõ mõ, cầu cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. Nhưng những gì bà vừa nhắc lại, cũng là con người, làm sao tôi có thể quên.

–   Xin thầy thứ lỗi, nếu tôi đã nhắc thầy nhớ lại chuyện đời để làm bận lòng một bậc chân tu.

–   Mô Phật! Đạo ở trong Đời, cũng như hai kẻ đồng hành. Hành đạo là để giúp đời. Kẻ tu hành như chúng tôi cũng chỉ là “cư trần lạc đạo”  mà thôi, thưa bà.

–   Cư trần lạc đạo là sao, thưa thầy?

–   Có nghĩa là hiện diện nơi trần thế mà hành đạo, vui đạo. Chứ không phải xa lánh trần thế đầy khổ nhục để tìm sự thanh thản riêng cho bản thân mình.

–   Cám ơn thầy. Thầy giảng hay quá. Ngày đầu tiên gặp thầy, và nhất là lúc nhìn thầy đứng hát trên bục lớp, tôi đã thấy thầy giống một nhà tu. Có lẽ thầy đã có căn duyên từ trước, phải không thầy ?

–    Mô Phật! Ai cũng có thể tu hành, và bất cứ ai cũng có thể thành Phật được, thưa bà .

 

Không ngờ lần gặp gỡ đầu tiên năm ấy lại mang đến cho tôi mối tình đầu. Sau vài lần gặp nhau, tôi biết Lân và Quế là hai người bạn thân thiết từ lúc còn học trong trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Ra trường về cùng đơn vị, nên sống với nhau như anh em, mặc dù tôn giáo khác nhau.

Quế đạo Phật còn Lân là tín đồ Công giáo.  Những ngày chủ nhật không bận hành quân, Lân đều đi lễ nhà thờ, nên chúng tôi thường gặp nhau hơn. Và lần nào tôi cũng mời Lân về nhà. Cha mẹ tôi cũng rất thương quí Lân, nhất là sau khi biết cha mẹ Lân đã chết trong biến cố tết Mậu Thân.

Tính tình Lân lại hiền lành chân chất và hiếu học. Dù bận hành quân liên miên, nhưng anh vẫn cố gắng tự học để thi tú tài vào mùa hè này. Cũng có đôi lần Quế theo Lân đến nhà tôi chơi. Càng lúc chúng tôi càng thân nhau hơn.

Tôi biết là Lân cũng thích tôi. Trong túi áo của anh lúc nào cũng có chiếc khăn tay tôi đã tặng anh trong gói quà Xuân. Mỗi lần chia tay, anh bịn rịn lưu luyến không muốn rời tôi. Còn tôi, cũng thấy nhớ anh da diết và mong chờ anh từng ngày trong các lần anh đi hành quân. Tối nào tôi cũng đọc kinh cầu nguyên cho anh được bình yên trở về.

Bây giờ tôi mới biết tình yêu là gì. Tôi bắt đầu biết tương tư, mơ mộng, nhớ nhung và man mác buồn khi thiếu vắng anh. Những bản nhạc tình lính, người yêu của lính, dường như càng lúc tôi càng thấy hay hơn, và tôi hát nhiều hơn.

Sau mỗi lần hành quân, Lân đều mang về tặng tôi những cánh hoa lan rừng. Tôi nghe nói vùng núi rừng An Khê này có nhiều hoa lan. Có những loại hoa lạ, thật đẹp mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy hoặc biết tên. Chỉ sau hai tháng, trong phòng tôi treo đầy hoa lan rừng. Tôi thích nhất là những cánh hoa màu tím. Có lẽ tôi nhớ tới màu tím hoa sim trong một bản nhạc mà tôi thường hay hát..

Chiến tranh lại ngày càng ác liệt. Ngồi trong lớp học, bọn tôi vẫn thường nghe tiếng súng, tiếng máy bay vần vũ trên bầu trời. Ban đêm, nhìn qua cửa sổ, những trái hỏa châu lơ lững giữa trời, soi sáng cả một vùng núi non nào đó.

Rồi tôi nghe tin Dakto mất, Tân Cãnh thất thủ, thành phố Kontum bị pháo kích..Một số người đã phải bỏ nhà chạy xuống Pleiku, sống trong các trường học, được chính quyền dùng làm trại tiếp cư

Hơn một tuần, tôi chưa gặp Lân bởi đơn vị anh có lệnh cắm trại, ứng chiến. Bất ngờ gặp lại anh trong lễ sáng chủ nhật ở nhà thờ. Khi tôi đang quỳ gối cầu kinh, Lân đến sau, quỳ xuống bên cạnh. Tan lễ, vừa bước ra khỏi nhà thờ thì chúng tôi gặp anh Quế đứng đợi từ lúc nào.

Tôi mời hai anh về nhà. Trên đường đi, cả hai anh im lặng, không nói một lời gì. Nhìn nét mặt thật buồn, tôi nghĩ là họ đang ưu tư điều gì. Tôi hỏi, nhưng hai anh chỉ nhìn nhau rồi lắc đầu, không nói.

Suốt ngày hôm ấy hai anh ở lại nhà tôi. Mẹ tôi đãi hai anh một con gà tơ. Trong lúc Lân và Quế rượt bắt gà trong vườn, tôi tìm hái mấy trái cà, trái mướp và rau thơm. Cả ba chúng tôi cùng làm bếp, đùa giỡn, ca hát líu lo, không còn chút ưu tư nào trên khuôn mặt của mọi người. Ăn cơm xong, chúng tôi rủ nhau ra ngồi dưới những cây dừa rợp bóng, nghe Quế hát, rồi chúng tôi cùng hát theo những bài tình ca quen thuộc. Buổi chiều, Quế cáo từ tôi, chào ba mẹ tôi xin về trước.                     

Trong phòng tôi chỉ còn có tôi và Lân. Lần đầu tiên tôi nghe Lân rụt rè tỏ tình. Anh bảo, đời chiến binh rày đây mai đó, rồi có một ngày, anh sẽ phải đi xa, nhưng lúc nào cũng mang theo bóng hình của tôi vào những nơi gió cát.

Những lời anh nói làm tôi nhớ tới những câu thơ Chinh Phụ Ngâm thật hay của bà Đoàn thị Điểm dịch mà tôi đã học. Những câu thơ thật buồn bây giờ lại càng buồn hơn. Tôi khóc. Lần đầu tiên tôi khóc, không biết là vì hạnh phúc đến bất chợt của mối tình đầu hay là vì nghĩ tới nỗi cô đơn của người Chinh Phụ.

Tôi giật mình, khi Lân ôm tôi vào lòng. Tôi đứng im, bất động, đón nhận nụ hôn tình yêu đầu đời trong hai hàng nước mắt. Tôi tiễn Lân ra đầu làng, hai đứa ôm lấy nhau khi bóng chiều vừa tắt.

Sáng hôm sau, ngồi trong lớp học, khi thấy từng đoàn xe nhà binh chở đầy lính chạy về hướng Pleiku, lòng tôi thẫn thờ khi nghĩ là Lân đã đi xa..Tôi vội lên xin phép cô giáo ra ngoài. Nhưng khi tôi vừa chạy đến hàng thông phía trước, thì đoàn xe cuối cùng đã chạy qua bên kia cầu .

 

Xuân ơi,

Anh đang ở phi trường Pleiku để chuận bị được không vận lên Kontum. Chiến trường đang ác liệt. Căn cứ Tân Cảnh vừa thất thủ. Địch quân đang tràn xuống uy hiếp thành phố Kontum. Thành phố  này đang bị cô lập bởi những cái chốt của địch quân trên đỉnh núi ChuPao, cắt đứt quôc lộ 14 nối liền với Pleiku. Sợ lên Kontum rồi, anh không liên lạc được với em, nên viết vội ít dòng tin em và cũng xin lỗi em vì hôm qua, khi chia tay ở nhà em , anh không nói chuyện anh  đi. Mong em thông cảm bởi đó là bí mật quân sự, anh không được phép tiết lộ, mặc dù anh rất yêu em và tin em..

Không biết đến bao giờ mình mới gặp lại, nhưng dù bất cứ hoàn cảnh nào, anh vẫn luôn mang theo trong tim mình hình bóng của em. Em nhớ cầu nguyện cho anh nghe.

Xin cho anh kính lời hỏi thăm hai bác cùng gia đình. Cầu xin Chúa và Đức Mẹ Maria luôn che chở em cùng tất cả mọi người.

Hôn em

Đỗ Lân

Không ngờ lá thư này là lá thư cuối cùng tôi nhận được của Lân. Chỉ ba tuần sau, Lân hy sinh. Người báo tin buồn này chính là Lê Phương Quế, người bạn chí thân của Lân và sau này cũng là bạn của tôi. Lá thư có kèm theo vài di vật, Quế đã nhờ một anh phi công gởi cho tôi từ Pleiku , sau một chuyến đổ quân cho đơn vị  của Quế ở Kontum.

Lân đã bị thương rất nặng khi cùng với vị tiểu đoàn trưởng chui qua hàng rào phòng thủ, mở đường vào giải cứu Bệnh Viện 2 Dã Chiến, đang bị địch quân xua xe tăng đánh chiếm, với ý đồ lợi dụng những thương binh nằm trong bệnh viện, làm bàn đạp tấn công vào khu phi trường nằm sát thị xã Kontum.

Lân chết lúc chờ máy bay tản thương. Chính Quế là người đã vuốt mắt cho Lân và nghe những lời trăn trối cuối cùng. Anh nhờ Quế giữ để trao lại cho tôi cái dây chuyền có mang thánh giá cùng mấy tấm ảnh có hình của cha mẹ anh và của anh mặc lễ phục trắng đội bê rê đỏ khi còn là thiếu sinh quân.

Những tấm ảnh ấy bây giờ vẫn còn trong nhà thờ An Túc, và sợi dây chuyền tôi vẫn còn cất giữ đến hôm nay. Anh Quế còn cho biết thêm, trước khi trút hơi thở cuối cùng, Lân còn thì thào gọi tên tôi, và khi lục trong túi áo, anh Quế còn thấy cái khăn tay và lá thư của tôi tặng Lân trong gói quà tết hôm nào.


–  Thưa thầy, cuối năm 1973 tôi có nhận được thư của thầy. Lúc ấy thầy bị thương nặng, nằm ở quân y viện Pleiku. Tôi có tìm đến thăm, nhưng người ta bảo là thầy đã được chuyển về quân y viện Nguyễn Huệ ở Nha Trang, để được gần nhà.

Lúc ấy đoạn đèo An Khê lại bị địch chiếm, nên xe đò không chạy được. Mấy tháng sau, khi đi được xuống NhaTrang tìm thăm thầy, thì thầy đã xuất viện. Tôi có hỏi nhưng bệnh viện không biết thầy ở đâu.

–  Mô Phật! Đúng như bà nói. Tôi được Hội Đồng Giám Định Y Khoa cho xuất ngũ, vì thương tích. Tôi về sống với mẹ già. Lúc ấy bà cũng đang tu tại gia, ăn chay trường. Suốt một đời bà đã lo lắng cầu nguyện cho cha tôi, rồi đến tôi. Cha tôi cũng đã tử trận năm 1965, trong trận Đồng Xoài, khi ấy tôi chỉ vừa 11 tuồi.

–   Nhờ vậy mà thầy đã đi tu .

–   Lý do đó chỉ một phần. Cái chính là do tôi đã sống trong chiến tranh, chứng kiến bao nhiêu cái chết quá đau lòng, như cái chết của những người còn quá trẻ như Lân. Họ đâu có tội tình gì.

Tôi nghĩ tới cuộc chiến phi nghĩa, khi mà anh em cùng một nhà lại chém giết thù hận lẫn nhau. Tôi nghĩ tới cái Vô Thường, Vô Minh mà Đức Phật đã dạy, nên tôi đã tìm tới cửa Thiền để mong trút bỏ mọi ám ảnh, oan khiên.

Như vừa nhớ ra một điều gì, thầy chỉ tay về hướng sau chùa :

–   Mời bà đi theo tôi. Mong bà sẽ tìm thấy một điều kỳ diệu.

Tôi theo thầy đi dọc theo triền đồi, đến một nơi tương đối bằng phẳng. Lại một khu vườn nhỏ toàn hoa sim. Tuyêt diệu hơn, bên trên các khung cây được treo đầy những cánh lan rừng.

Tôi nhớ tới những cành lan mà Lân thường mang về tặng tôi sau các cuộc hành quân. Ngày xuân, tất cả đang nở rộ một mùa hoa. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn là giữa khu vườn là một ngôi mộ, trên tấm bia lại có cây thánh giá. Tôi thắc mắc hỏi thầy.

Thầy im lặng, không trả lời, ra dấu bảo tôi cùng thầy đến gần ngôi mộ. Tôi bàng hoàng khi đọc mấy dòng chữ trên mô bia :

Giuse Đỗ Lân Sinh ngày 10.7.1953 tại Huế

Tử ngày 11.5.1972 tại Kontum

 

Tôi quỳ trước ngôi mộ, đưa tay lên ngực làm dấu thánh giá rồi khóc sụt sùi. Một cơn gió xào xạc làm chao động cả rừng cây. Dường như tôi đã ngồi ở đây lâu lắm. Khi lau nước mắt đứng lên tôi không còn thấy thầy trụ trì. Có lẽ thầy muốn để tôi ngồi khóc một mình mà thổn thức với người xưa, hay là muốn tránh xa chuyện vui buồn của thế tục.

Khi trở lại chùa, tôi có cảm giác như chân mình đang bước vào khoảng không, hụt hẫng. Chú tiểu chờ tôi trong căn nhà khách, chuyển lại lời xin lỗi của thầy trụ trì và trao lại cho tôi một tờ giấy học trò được xếp làm đôi.

Thầy trụ trì đang cúng ngọ. Tôi mở tờ giấy ra đọc, trong lúc tiếng chuông chùa ngân nga như muốn làm dịu đi phần nào những cơn sóng đang bềnh bồng  trong lòng tôi. Trên tờ giấy chỉ có mấy dòng chữ : Xin chào bà và cám ơn bà.

Chính tôi đã mang hài cốt của anh Lân về cải táng trong vườn chùa, khi được tin nghĩa trang trong thành phố Kontum bị giải tỏa. Anh Lân mồ côi, không còn ai thân thích.Từ nay, xin bà hãy cầu nguyện cho anh Lân, theo nghi thức tôn giáo của bà. Nam Mô A Di Đà Phật.

 

phạmtínanninh

(Tác giả viết lại phỏng theo lời kể của một nữ độc giả. Độc giả này sau khi đọc bài Trên Chiến Trường Xưa (Kontum) của tác giả,  được phổ biến trên nhiều số báo nhân ngày 30.4.2008 đã tìm cách liên lạc với tác giả để  tìm hiểu vế cái chết của người tình cũ. Anh đã tử thương trong trận tái chiếm Bệnh Viện 2 Dã Chiến, Kontum ngày 11.5.1972)

---------

Hình minh họa - Internet

Hồng Anh sưu tầm

 

Xem thêm...

Tình đầu tình cuối

Tình đầu tình cuối

❤️❤️❤️

Lúc Hạnh về đến nhà thì trời đã nhá nhem tối. Thủy đang ở trong bếp sửa soạn bữa cơm chiều, nói vọng ra :

-Mẹ về rồi hả? Cơm đã sẵn sàng, mẹ rửa mặt cho mát rồi ăn nghe.

Hạnh đáp :

-Thôi con ăn đi, hôm nay mẹ mệt, không muốn ăn đâu.

Thủy đáp “vâng” một tiếng rồi thôi. Cứ mỗi lần đi thăm mộ ba Thủy về là mẹ không muốn dùng cơm. Riết trở thành một điều quen thuộc, nên Thủy cũng không để tâm.

Hạnh bước vào phòng. Tuy mệt mỏi, nhưng nàng cũng không nằm xuống giường. Hạnh ngồi lên chiếc ghế bàn phấn, nhìn sững vào bức ảnh Phan chụp với nàng trên bàn. Ba năm qua rồi kể từ ngày một tai nạn giao thông đã nhẫn tâm cướp đi người chồng của nàng.

Hạnh còn nhớ hôm đó cũng là một ngày chủ nhật, thay vì ở nhà thì Phan có công việc phải đi tỉnh từ tảng sáng và dự định trở về trong ngày. Trên đường về thì tai nạn xẩy ra. Đau đớn nhất là khi hai mẹ con Hạnh đến bệnh viện thì Phan cũng vừa trút hơi thở cuối cùng. Không kịp nói với chồng được một câu nào. Hạnh sững sờ không bật lên được cả tiếng khóc. Xác chết của Phan chưa kịp lạnh thì Hạnh đã như một tảng băng lạnh giá.

Ba năm trôi qua. Không có một ngày chủ nhật nào là Hạnh không lên thăm nghĩa trang thăm Phan. Đi từ sáng sớm và về nhà lúc trời sắp tối. Mộ Phan nằm trong khuôn viên một ngôi chùa cách xa thành phố chừng vài cây số. Trước đây Phan quy y với hòa thượng trụ trì nên mới được phép chôn cất ở đây. Gọi là nghĩa trang, nhưng chỉ có vài chục ngôi mộ nằm rải rác dưới những tàng cây lúc nào cũng cho bóng mát.

Ban đầu Thủy cũng đưa mẹ đi, nhưng dần dần vì bận công việc, nên thỉnh thoảng Thủy mới đi cùng mẹ. Thực ra, dù Thủy là đứa con duy nhất, nhưng vào những ngày chủ nhật lên với Phan, Hạnh cũng thích được một mình yên tĩnh. Thắp một nén nhang và ngồi yên lặng trước bức ảnh của chồng đã được gắn vào bia đá trên mộ.

Suốt thời gian trước khi Phan qua đời, Hạnh với Phan là một cặp vợ chồng điển hình hạnh phúc bạn bè không ai so sánh được. Hai người như một cặp bồ câu lúc nào cũng rù rì bên nhau như hình với bóng dù con gái đã lớn. Thủy là đứa con gái duy nhất. Hàng ngày Phan đi làm về là bữa cơm đã có sẵn. Thủy lớn lên trong cái khung cảnh đầm ấm đó cho đến ngày Phan qua đời.

Trong phòng Hạnh cũng có thiết kế một bàn thờ Phan với bức ảnh và một vài vật kỷ niệm của Phan bên cạnh như xâu chuổi hạt bồ đề của thầy bổn sư tặng, và cái điện thoại di động Phan thường dùng. Mỗi lần nhìn chiếc điện thoại, Hạnh có cảm giác như vừa nghe tiếng chuông đổ và giọng Phan báo tin chàng sắp rời sở về nhà. Đi đâu Phan cũng gọi về cho vợ biết đang ở đâu và trước khi về cũng gọi báo cho vợ.

Phan chơi dương cầm rất khá và rất mê nhạc cổ điển, nhất là Beethoven. Đám cưới xong, vừa dọn về nhà mới, việc đầu tiên của hai vợ chồng là mua ngay một cây đàn, đặt trong phòng khách. Hạnh không biết đàn, nhưng mỗi lần nhìn Phan ngồi lướt tay trên phím đàn, Hạnh tưởng như đang sống lại những ngày mới yêu nhau, và niềm hạnh phúc tỏa sáng khuôn mặt nàng.

Từ ngày Phan mất, trừ cây đàn quá lớn, Hạnh chuyển hệ thống âm thanh ngoài phòng khách vào phòng ngủ, và lúc nào cũng để những khúc nhạc mà Phan thường nghe. Hàng ngày, sau giờ làm việc, Hạnh thường thu mình trong chiếc ghế bành trong phòng, bật nhạc nhè nhẹ và ngồi yên lặng hồi tưởng những kỷ niệm cùng chồng.

Ba năm nay Hạnh gần như không hề giao tiếp với bạn bè, ngoại trừ một người ban cũ rất thân thiết với cả hai vợ chồng nàng là Nguyệt, và Dung là chị ruột của nàng, cách nhà Hạnh có mấy căn, nhưng cũng thỉnh thoảng, nàng mới gập mặt. Điện thoại bên ngoài gọi đến đều qua con gái trả lời. Dần dần bạn bè đều biết và chẳng có cách gì khuyên can, nên cũng tôn trọng nỗi đau khổ của Hạnh và chẳng ai làm phiền nữa.

Ba năm trôi qua. Hạnh có cảm giác như chưa một ngày nào Hạnh thấy vơi đi nỗi khổ đau thương nhớ chồng. Lúc mất Phan, nếu không có Thủy, lúc đó cũng đã gần mười lăm tuổi, Hạnh nghĩ có thể chết theo Phan cho trọn mối tình đầu của nàng.

…Có tiếng mở cửa nhè nhẹ và Thủy đến bên cạnh Hạnh,vòng tay ôm lấy mẹ :

- Mẹ đi tắm và đi nằm nghỉ đi. Ba năm trời rồi, nếu mẹ cứ mãi thế nầy làm sao con yên tâm đi học xa được?

- Ngày mai mẹ sẽ lên tòa lãnh sự để hỏi xem thủ tục như thế nào. Mẹ cũng muốn sang năm con được sang Úc, sau đó, thỉnh thoảng mẹ sẽ có cơ hội qua thăm con. Mẹ biết thế nầy cũng không phải, nhưng lúc nào mẹ cũng tội nghiệp ba con. Nếu có thể đi ra nước ngoài một thời gian, mẹ sẽ khuây khỏa dần hơn là ở đây.

- Con nghĩ đó cũng là một giải pháp tốt.

Lúc Hạnh rời khỏi tòa lãnh sự Úc thì đã hơn mười một giờ trưa. Chờ đợi nhân viên phụ trách để giải quyết vấn đề gần cả hai tiếng đồng hồ, cuối cùng chẳng có kết quả gì. Nàng cảm thấy cơ thể rã rời vì suốt ngày hôm qua không ăn một miếng cơm nào.

Gần như ba năm nay, mỗi chủ nhật lên chùa thăm Phan, Hạnh cũng chẳng bao giờ ăn uống gì. Hòa thượng trụ trì lúc nào cũng ân cần mời Hạnh dùng cơm chay, nhưng lúc nào Hạnh cũng từ chối. Sáng hôm nay vì dậy sớm, lại phải ngồi chờ quá lâu, lại càng thấy mỏi mệt.

Hạnh vừa ra đầu đường, thấy taxi chạy đến, chưa kịp đưa tay vẫy thì bỗng dưng choáng váng rồi không biết trời đất gì nữa. Lúc tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm vào ghế sau của chiếc taxi. Xe vẫn còn đang đậu tại chỗ lúc Hạnh sắp vẫy tay gọi. Đàng ghế trước là một người đàn ông đang ngồi quay người nhìn Hạnh chăm chú. Thấy Hạnh vừa tỉnh dậy,người đó đã nói ngay:

- Ơn trời, bà đã tỉnh. Chỉ mới vài phút trước, bà bỗng nhiên ngất xỉu. Tôi biết bà muốn gọi taxi, nên đã xin mạng phép dìu bà vào xe và chờ bà tỉnh dậy để biết bà muốn đi đâu.

Hạnh ngơ ngác một lúc rồi nhìn người đàn ông, bối rối. Nàng ấp úng và hỏi một câu ngớ ngẩn:

- Xin lỗi ông là ai?

Người khách lạ mỉm cười :

- Tôi cũng vừa trong tòa tổng lãnh sự ra, đi sau lưng bà và cũng đang đinh đón xe thì thấy bà ngã xuống, may là bà không sao. Tôi tên là Khải, Việt kiều Úc. Bà đã khỏe hẳn chưa, xin bà cho tài xế biết địa chỉ để đưa bà về. Xin chào bà.

Nói xong, Khải mở cửa xe, bước xuống. Hạnh lại càng bối rối:

- Xin cám ơn ông, xin lỗi đã làm phiền ông…

Giọng nói ngắt quãng, Hạnh không biết nói gì, nhìn người đàn ông lúng túng. Khải lịch sự cúi đầu chào và tránh ra khỏi để xe chạy. Mãi đến khi xe lăn bánh, Hạnh mới thấy là mình đã bối rối đến không biết nói thêm một câu nào khách sáo ngoài hai chữ cám ơn.

Hạnh mường tượng lại khuôn mặt của người đàn ông nầy. Khoảng năm mươi trở lại, khuôn mặt thanh tú, không mập không gầy. Hạnh nhớ lại lúc ngồi chờ trong tòa lãnh sự, người đàn ông nầy ngồi cách nàng vài dẫy ghế, thỉnh thoảng nhìn qua phía nàng.

Có lần bắt gập ánh mắt nàng, người đó vội quay đi chỗ khác. Hóa ra lúc Hạnh ra khỏi tòa nhà, người đó cũng theo sau nàng, nhưng Hạnh không để ý. Hạnh tưởng tượng lúc nàng ngất xỉu, người đó phải đứng gần nàng lắm mới có thể đỡ nàng kịp thời. Làm thế nào để anh ta đưa nàng vào trong xe được nhỉ? Hạnh thoáng một chút ngượng ngập và có cảm giác đỏ mặt.

Người tài xế quay đầu lui hỏi địa chỉ làm Hạnh giật mình. Taxi đỗ trước nhà, Hạnh trả tiền và vội vã bước xuống xe. Thoáng một ý nghĩ vẩn vơ là không biết làm thế nào gập lại người đàn ông kia để nói một lời cám ơn cho đàng hoàng lịch sự.

Thủy vẫn chưa về. Căn nhà trở nên trống vắng. Hạnh cầm một lát bánh mì của Thủy làm sẵn trên bàn ăn từ sáng và bước vào phòng. Bức hình Phan như đang nhìn Hạnh làm Hạnh thấy yên lòng. Mọi chuyện bên ngoài lắng xuống mỗi lần Hạnh ngồi trước bàn thờ đối diện với Phan.

Hạnh vừa gặm bánh mì vừa suy nghĩ miên man. Ba năm trôi qua rồi, Hạnh không hề tiếp xúc với một người đàn ông nào. Nàng sống khép kín trong những kỷ niệm với Phan. Người bạn thân nhất là Nguyệt, cũng như chị Dung thường khuyên nàng nên bình thường cuộc sống, vì đàng nào Phan cũng đã không còn.

Thực ra Hạnh cũng muốn thế, nhưng mỗi lần nhìn bức hình Phan trên bàn thờ, Hạnh lại thấydâng lên những nhớ thương chồng, đồng thời với những chán nản trong lòng. Rồi lại chẳng muốn gập ai cả. Năm nay vừa bốn mươi, Hạnh vẫn còn đẹp. Nét âu sầu càng làm cho khuôn mặt nàng có cái vẻ quyến rũ lạ thường.

Hạnh ngồi yên tĩnh một mình cho đến lúc có tiếng mở cửa phía ngoài. Biết Thủy đi học về, nhưng Hạnh vẫn ngồi yên. Một lúc lâu sau, Thủy bước vào phòng:

- Mẹ, đã 6 giờ chiều rồi, con đã làm cơm rồi, mẹ rửa mặt rồi ăn cơm nghe mẹ.

Hạnh giật mình. Đã sáu giờ chiều rồi. Hạnh tưởng như mình vừa về nhà được một lúc, hóa ra nàng đã ngồi trong phòng cả nửa ngày trời. Ngay cả Thủy về nhà, sửa soạn cơm nước trong bếp mà Hạnh vẫn không hay. Nàng ừ một tiếng nhẹ và uể oải đứng dậy ra khỏi phòng. Ngồi vào bàn với bữa cơm đã sẵn sàng, tuy đạm bạc, nhưng rất tươm tất, bỗng nhiên Hạnh chợt thấy mình có lỗi với Thủy.

Từ bao lâu nay, công việc nhà cửa gần như một mình Thủy phụ trách. Từ bao lâu không biết, bây giờ mới chợt nhận ra là chỉ vì thương nhớ Phan, cứ đày ải mình trong quá khứ mà Hạnh đã bỏ bê con một cách vô trách nhiệm. May mà Thủy hiểu rõ mẹ và không bao giờ trách Hạnh. Những suy nghĩ về chuyện mấy năm qua và chỉ trong chốc lát Hạnh bỗng nhiên như bừng tỉnh.

Thấy mẹ ngồi thừ người, Thủy nhắc:

- Mẹ.

Chỉ một tiếng gọi Mẹ làm Hạnh giật mình như vừa tỉnh mộng. Nàng nói lí nhí :

- Mẹ xin lỗi con.

Hai chữ xin lỗi Hạnh vừa thốt ra, không phải cho bây giờ, mà muốn nói với con lời xin lỗi đã bao năm nay chẳng lo gì cho Thủy.

Thủy hỏi :

- Mẹ lên tòa Lãnh sự thế nào?

- Cũng hơi khó khăn. Người ta bảo là nếu có ai bảo lãnh qua Úc thì dễ dàng hơn. Để ngày mai mẹ liên lạc với dì Nguyệt xem sao. Hình như dì ấy bà con bên đó nhiều lắm.
Ngay tối hôm đó, Hạnh gọi máy cho Nguyệt. Tiếng Nguyệt đầu dây:

- Trời ơi, sắp có bão lụt gì đây mà Hạnh lại gọi cho minh. Đùa đấy chứ mừng lắm, nhất là nghe giọng Hạnh rất vui. Có chuyện gì không?

- Mình muốn gập Nguyệt để hỏi một vài chuyện liên quan đến chuyện đi du học của cháu Thủy mà thôi.

- Bộ để cho nó đi, ở nhà một mình lại rầu rĩ nhớ nó mà chết sao?

Thủy thở dài:

- Mấy hôm nay mình nghĩ khá nhiều về vấn đề này. Thực ra mình cũng có lỗi với nó nhiều lắm. Từ ngày mất Phan, mình bỏ bê nó, không ngó ngàng gì đến nó cả. Ba năm nay nó không hề trách mình một tiếng vì biết mình nhớ ba nó. Nhưng nghĩ lại, càng thấy ân hận trong lòng.

Một lúc yên lặng ở đầu dây bên kia, mới nghe Nguyệt nói :

- Để mình suy nghĩ, và sẽ giới thiệu với Thủy một người bà con ở bên Úc mới về, sẽ cho biết tin tức về chuyện bảo lãnh cho con bé qua học bên đó.

Sáng hôm sau, Nguyệt hẹn Hạnh ở một quán cà phê ngoài phố. Quán cà phê nầy trước đây Hạnh vẫn thường cùng Phan ra đây mỗi chủ nhật. Bước vào đã thấy Nguyệt ngồi ở một chiếc bàn gần cửa sổ. Hạnh hỏi :

- Nguyệt hẹn với ai thế?

- Người nầy tên Khải, là chồng của một người bà con của mình, sống ở bên Úc. Cô ấy bị bệnh qua đời đã hai năm nay. Công ty của anh Khải làm việc có một bộ phận ở Việt Nam, nên thỉnh thoảng anh ấy vẫn về Việt nam làm việc.

Cái tên nghe quen quen,nhưng Hạnh không để ý.

Ngồi một lúc thì Nguyệt nhìn ra cửa, vẫy tay. Hạnh chưa kịp quay lại nhìn thì người đó đã bước lại gần. Hạnh quay đầu lại, ngỡ ngàng nhìn người đàn ông vừa đến, cũng bắt gập ánh mắt ngạc nhiên của đối phương. Nguyệt nhìn cả hai, ngạc nhiên:

- Bộ hai người đã biết nhau?

Hạnh lúng túng chưa kịp phản ứng thì người đàn ông kia đã nhanh nhẩu :

- Chỉ gần như thế thôi. Nghĩa là chúng tôi đã biết nhau nhưng chưa hề quen nhau.

Nguyệt ngẩn ngơ không hiểu như thế nào, trong khi Hạnh ngượng ngùng không biết làm thế nào để giải thích. Khải thấy thế, liền nói :

- Hôm qua tình cờ chúng tôi…

Nguyệt ngắt lời :

- Đây là anh Khải, và đây là chị Hạnh. Hai người làm ơn giải thích sự việc cho tôi biết đi để tôi khỏi phải mất công giới thiệu.

Hạnh chưa kịp phản ứng thì Khải đã nhanh chóng kể lại câu chuyện gập nhau ở tòa Tổng lãnh sự Úc. Nguyệt nghe xong, chép miệng :

- Âu cũng là cái duyên của cả hai bên.

Câu nói có thể có một nghĩa khác, nhưng trái lại làm cho Hạnh thấy ngượng ngùng không dám nhìn Khải. Khải thì trái lại, cười một cách hồn nhiên:

- Có lẽ thế. Đúng ra hôm qua tôi phải đưa cô Hạnh về nhà mới phải. Xe của cô đi rồi tôi mới thấy mình không được lịch sự. Bây giờ đúng là có duyên gập lại để có thể xin lỗi cô vậy.

Hạnh chỉ mỉm cười không trả lời, nhưng trong lòng thì lại tự nhủ, đúng ra câu nói đó phải là của nàng để xin lỗi Khải mới phải, và tự nhiên nàng nẩy sinh một mối cảm tình với người đàn ông vừa mới quen biết nầy. Bây giờ, Hạnh mới để ý đến Khải kỷ càng hơn: Đúng là chưa đến năm mươi, khuôn mặt thanh tú, giọng nói trầm ấm rất dễ có cảm tình. Ăn mặc không chải chuốc, nhưng rất lịch sự.

Chuyện trò một lúc, sau khi nghe Nguyệt trình bày hộ Hạnh về việc Thủy muốn đi du học ở Úc, Khải trầm ngâm một lúc rồi mới hỏi:

- Chỉ có hai mẹ con, nếu cháu Thủy phải đi học xa, cô Hạnh có chịu được không?

Hạnh cười nhẹ :

- Nếu không chịu được thì biết làm sao bây giờ?

Khải cũng cười :

- Nếu không chịu được thì cô Hạnh có thể tìm cách qua ở với cháu chứ sao.

Nói xong thì như nghĩ đến một điều gì đó, Khải ngừng lại và lặng yên. Hạnh cũng im lặng nhìn ra đường. Một lúc sau, Nguyệt lên tiếng :

- Anh Khải thử nghĩ xem có giải pháp nào trong trường hợp không xin học bổng cho cháu được, rồi cho tụi em biết nghe.

Lúc Khải chào từ giã, Hạnh nói :

- Anh Khải ở có gần đây không? Chừng nào rảnh ghé qua nhà chơi, anh hỏi chị Nguyệt thì biết nhà tôi, không xa nhà chị ấy lắm.

Khải đáp :

- Cám ơn cô Hạnh. Nếu cho phép, tôi sẽ ghé qua thăm cho biết nhà. Tôi quen biết Nguyệt khá lâu, nhưng không hề biết Nguyệt có một người bạn thân xinh đẹp như thế nầy.

Nguyệt nói đùa :

- Anh không biết là phải, nhưng anh may mắn lắm anh mới được quen biết với chị Hanh đấy, chứ không phải dễ đâu.

Lúc chỉ còn hai người, Nguyệt hỏi Hạnh :

- Chị thấy anh Khải thế nào? Từ ngày vợ qua đời, đã hơn hai năm nay, anh ấy một mình lo cho hai đứa con bên Úc và thỉnh thoảng về đây làm việc. Con cái anh ấy đều vào đại học cả, nên anh Khải cũng khỏe. Lúc nào về, anh cũng ghé thăm mình và lúc nào cũng rất lịch sự dễ thương.

Hạnh cười :

- Bộ Nguyệt muốn giới thiệu anh ấy với mình hay sao mà quảng cáo dữ vậy?

Nguyệt cũng cười :
- Biết đâu chừng, duyên số, ai mà biết được.

Hạnh bỗng im lặng. Nàng bỗng nghĩ đến Phan. Ba năm trôi qua rồi. Tang chồng đã mãn, nhưng nghe Nguyệt nói thế, Hạnh vẫn cảm giác như có lỗi với Phan.

Lúc Hạnh về nhà thì Thủy cũng đã về và cơm nước đã sẵn. Nàng ngồi vào bàn, hỏi han Thủy nhiều điều làm Thủy ngạc nhiên thấy mẹ vui vẻ khác thường. Một lúc sau, Hạnh nói:

- Sáng hôm nay dì Nguyệt giới thiệu với mẹ một người quen của dì ấy, ở bên Úc mới về để nhờ cậu ấy hỏi về việc du học của con. Cậu ấy cũng có con gái khoảng tuổi con và sắp sửa vào đại học.

Thủy đi từ ngạc nhiên nầy qua nhạc nhiên khác: Mẹ đã chịu ra ngoài, lại còn chịu làm quen với một người đàn ông nào đó, kể cũng lạ. Nhưng Thủy cũng chẳng hỏi thêm. Dù sao, mẹ cũng được vui vẻ, hơn là suốt bao nhiêu năm nay, ngày nào mặt mày cũng ủ dột buồn bã.

Thấy Thủy yên lặng, Hạnh nói thêm :

- Việc đi học tự túc khi con chưa đủ tuổi thành niên có lẽ cần phải có người bảo lãnh thì dễ dàng hơn. Để mẹ nhờ dì Nguyệt hỏi cậu Khải xem có thể bảo lãnh con không?

- Người ta chẳng bà con quen biết gì làm sao lại bảo lãnh cho con được?

Mấy hôm sau, Nguyệt đề nghị Hạnh mời Khải đến nhà dùng cơm. Hạnh suy nghĩ một lúc rồi nhận lời. Buổi tối hôm đó, Hạnh cứ nghĩ là Khải sẽ cùng đến với Nguyệt, nên trong khi hai mẹ con đang chuẩn bị đồ ăn, nghe tiếng chuông, nàng bảo Thủy: ”Con ra mở cửa cho dì Nguyệt.” Thủy đon đả ra mở cửa, thấy Khải, tay cầm một bó hoa, Thủy giật mình đứng sững lại, ngạc nhiên, cúi đầu chào. Không để cho Thủy phải thắc mắc, Khải lên tiếng :

- Chào cháu, chắc chắn cháu là Thủy phải không? Chú là chú Khải,chú có nghe dì Nguyệt và mẹ cháu nói cháu đang xin qua Úc du học.

Thủy đáp :

- Dạ phải ạ,mời chú vào nhà.

Thấy Hạnh đang bận tay trong bếp, Khải đưa bó hoa cho Thủy và nói lớn :

- Chào cô Hạnh. Tôi xin lỗi đến hơi sớm. Cô cứ tự nhiên.

Hạnh gật đầu chào khách:

- Tôi đang bận tay, mời anh ngồi chơi.

Phòng khách không rộng, nhưng được sắp xếp rất gọn ghẻ. Bên cạnh kệ sách gấn cửa sổ là chiếc dương cầm, phía trên có một pho tượng Beethoven bằng đồng nhỏ. Phía tường đối diện treo một bức tranh thiếu nữ của họa sĩ Nguyễn Trung.

Một bộ salon gồm một chiếc ghế nệm dài và một chiếc ghế bành cách nhau bằng một cái bàn kính thấp. Đơn giản và mỹ thuật. Giữa phòng khách và bếp là một khoảng không gian nhỏ,chỉ đặt một chiếc bàn ăn có sáu cái ghế và một chiếc tủ chưng chén bát kê sát tường.

Một lúc sau thì có tiếng chuông và lần này, chính Khải mở cửa. Nguyệt bước vào, theo sau là một người đàn bà xấp xỉ tuổi Khải. Chàng gật đầu chào trong khi Nguyệt nhanh nhẩu giới thiệu :

- Giới thiệu với anh Khải, đây là chị Dung, chị ruột của Hạnh, và đây là anh Khải ở bên Úc mà em thỉnh thoảng có nhắc đến với chị. Anh Khải ngồi chờ tụi em một chút nghe, em và chị Dung phải vào giúp Hạnh một tay.

Nói xong hai người đi vào trong bếp. Khải một mình thơ thẩn trong phòng khách, rồi ngồi xuống trước cây đàn dương cầm, gõ nhẹ một tiếng. Nguyệt nói vọng ra : 

- Em chưa giới thiệu với mọi người, anh Khải là một pianist đấy. Trong khi chờ đơi, anh có thể cho tụi em nghe một bài cho vui đi.

Khải không trả lời và chàng đánh một khúc nhạc của Beethoven. Tình cờ đó là khúc nhạc ngày xưa Phan thường chơi và rất thích. Hạnh cũng quá quen thuộc khúc nhạc nầy. Nguyệt nhìn qua thoáng thấy Hạnh đứng lặng yên một lúc rồi nói nhỏ:

- Không ngờ anh Khải chơi đàn quá hay mà lại cũng thích nhạc cổ điển nữa.

Thủy cũng có vẻ ngạc nhiên nhìn mẹ buộc miệng :

- Chú Khải chơi hay quá, làm con nhớ Ba. Mấy năm nay không được nghe Ba đàn.

Nói xong, Thủy thấy như mình lỡ lời, bèn lẳng lặng bê thức ăn dọn lên bàn. Mọi người lần lượt ngồi vào bàn. Hạnh ngồi giữa Thủy và chị Dung. Nguyệt và Khải ngồi đối diện. Nguyệt nói :

- Không ngờ anh Khải đàn hay quá, em cũng biết anh là một cây dương cầm, nhưng cũng chưa bao giờ được nghe đấy.

Khải cười :

- Lâu quá, tôi cũng ít chơi đàn, vì bận công việc, lại hay đi đây đi đó. Tối hôm nay, thấy cây đàn lại ngứa tay một chút thôi, mong quý vị không phiền. Cây đàn để lâu quá không điều chỉnh, có nhiều nốt bị lạc đi một chút, nếu cô Hạnh cần, tôi sẽ gọi người lên dây lại.

Hạnh nói:

- Từ ngày anh Phan mất, chẳng ai sờ dến cây đàn, anh Khải khỏi bận tâm, để chừng nào thuận tiện hẳn hay vậy. Xin mời anh, mời chị Dung và Nguyệt dùng cơm kẻo nguội.



 

Lúc căn nhà chỉ còn hai mẹ con, dọn dẹp xong, Hạnh trở về phòng. Nàng không bật đèn, cũng không vặn nhạc như thường lệ, để nguyên áo quần nằm lên giường. Tiếng đàn của Khải như còn văng vẳng bên tai, và bỗng nhiên Hạnh mường tượng hình dáng của Khải ngồi trước cây dương cầm. Khải đẹp trai, ăn nói lịch sự, đàng hoàng, lại chơi đàn hay có phần trội hơn cả Phan. Khải lại đang tự do.

Hạnh rùng mình,  không biết tại sao lại cứ vẩn vơ với những suy nghĩ về người đàn ông chỉ mới gập có ba lần. Hóa ra cái chết của Phan làm cho Hạnh đóng cửa tâm hồn nàng lại, cách biệt với bên ngoài. Mọi chuyện diễn ra trong cuộc sống khép kín của nàng như một thói quen, ngay cả dần dần hình bóng Phan nhạt nhòa trong lòng nàng vẫn không hay. Gập Khải, như một luồng ánh sáng rọi vào trong căn phòng luôn luôn đóng chặt cửa của nàng, mang theo một luồng hơi ấm dịu dàng, mới mẻ.

Hạnh nhớ lại trong bữa ăn, mọi người xem ra đều có cảm tình với Khải, kể cả Thủy. Ngoài ra, Nguyệt thì lại còn ý cặp nàng với Khải một cách kin đáo, có lẽ vì không muốn thấy người bạn thân của mình sống âm thầm lặng lẽ như thế.

Mấy ngày hôm sau, Khải điện thoại đến và muốn mời Hạnh đi dùng cơm tối cùng với Nguyệt. Khải hỏi ý chị Dung và Thủy, thì cả hai cũng đều nói một cách kin đáo khuyến khích Hạnh. Tối hôm đó, Hạnh mặc một bộ đen rất trang nhã. Ba năm nay, ít khi thấy nàng trang điểm, vả lại không mấy khi ra khỏi nhà, nên Thủy cứ đứng nhìn sững mẹ:

- Trời ơi, mẹ đẹp quá, coi chừng chú Khải bị hớp hồn đấy.

Hạnh đưa mắt lườm con, nhưng trong lòng thì lại thấy sung sướng, và khi Khải đưa xe đến đón thì nàng bước ra ngay. Không thấy Nguyệt, Hạnh hỏi:

- Chị Nguyệt không đi cùng với anh sao?

- Chị ấy gọi điện xin lỗi có việc đột xuất không đến được. Chúng ta đi vậy.

Hai người đến một nhà hàng tây lich sự và sang trong. Khải tỏ ra là một người lịch lãm sành điệu trong việc ăn uống làm cho Hạnh rất thoải mái.

Gần cuối bữa ăn, Khải nói:

- Trong trường hợp Hạnh thực muốn cho cháu Thủy đi học, tôi có thể làm giấy bảo lãnh cả hai mẹ con qua, nhưng đây cũng là một vấn đề hết sức tế nhị, mong là Hạnh không hiểu lầm.

Hạnh hỏi:

- Nghĩa là sao, Hạnh chưa hiểu?

Khải ngập ngừng một lúc, không ngờ là Hạnh không hiểu:

- Thế nghĩa là chúng ta phải làm một hôn ước giả để làm hồ sơ bảo lãnh.

Đúng là Hạnh không hiểu. Nàng cúi đầu ngượng ngùng một lúc sau mới nói:

- Anh cho Hạnh suy nghĩ và bàn với cháu Thủy cùng chị Dung, rồi sẽ trả lời với anh. Dù sao, Hạnh cũng rất cám ơn ý tốt của anh, nhưng vấn đề nầy quả thật cũng hơi bất ngờ với Hạnh thật.

Trên đường về, cả hai ít nói chuyện với nhau. Riêng Hạnh thì vẫn miên man suy nghĩ về lời đề nghị của Khải. Lúc từ giã,Khải nói:

- Hạnh đừng bận tâm về lời đề nghị của anh nghe, đấy chỉ là một giải pháp, biết đâu chúng ta có thể tìm được những cách khác đơn giản hơn.

Hạnh vừa bước vào nhà thì Thủy đang ngồi xem truyền hình trong phòng khách đã hỏi ngay:

- Mẹ ăn ở đâu vậy? Có vui không? Chú Khải thế nào? Có “gentleman” không?

Nghe Thủy hỏi một tràng, Hạnh biết ngay là Thủy cũng có cảm tình với Khải, nên nàng cười vui vẻ :

- Chú Khải là một người rất lịch sự, có thể nói là rất gentleman, con nghĩ là nếu chú ấy lui tới với gia đình mình có sao không?

Thủy đáp không suy nghĩ :

- Mẹ à,ba mất đã ba năm nay rồi. Ba năm nay mẹ sống như một cái bóng trong nhà, bây giờ nếu có một người bạn thì con thấy rất tốt. Thời đại bây giờ khác xưa rồi mẹ ạ.

Ngày hôm sau, Hạnh gọi Nguyệt và chị Dung, hỏi ý kiến về lời đề nghị của Khải. Cả hai đều cho rằng đó cũng là một giải pháp rất tốt, nếu Hạnh không thấy đó là vấn đề, nên hạnh cũng thấy nhẹ lòng. Thực ra thì cả chị Dung lẫn Nguyệt đều muốn Hạnh có một thay đổi. Sau đó, Hạnh nói chuyện với Thủy thì Thủy cũng đồng ý ngay, nhưng Thủy nói :

- Không chỉ là chuyện con được đi học, mà con cũng muốn mẹ có cơ hội thay đổi một chút. Tuy nhiên, dù trên nguyên tắc, chỉ là giấy tờ thôi, nhưng con nghĩ là mẹ cũng cần một thời gian để biết thêm về chú Khải thì tốt hơn.

Hạnh không ngờ mới hơn mười bảy tuổi mà Thủy đã chín chắn như thế, nên nàng rất mừng.

Ba bốn hôm không thấy tin tức Khải, Hạnh chủ động gọi điện cho chàng và mời đến nhà dùng cơm. Khải vui vẻ nhận lời. Bữa cơm chỉ có Khải và hai mẹ con Hạnh. Ăn xong, Thủy xin phép về phòng, chỉ còn Hạnh và Khải trong phòng khách. Khải không hề nhắc đến lời đề nghị hôm nọ, nên Hạnh phải gợi ý trước:

- Hạnh rất cám ơn anh về chuyện hôm nọ, và Hạnh thấy đó là một giải pháp duy nhất để anh giúp mẹ con em. Nhưng mình biết nhau chưa được bao lâu, vả lại em cũng mới mãn tang anh Phan, nên em cũng muốn có một khoảng thời gian để người ta khỏi dị nghị, có được không anh?

Khải đáp :

- Vậy thì anh có một đề nghị thế nầy: Còn khoảng mấy tháng nữa thì cháu Thủy đã qua tuổi thành niên, lúc đó, có thể gập khó khăn. Vì vậy, anh muốn làm giấy tờ trước, cho đến lúc nào Hạnh đồng ý thì giấy tờ đã xong. Đến lúc đó, nếu không muốn thì có thể hủy bỏ cũng không sao. Về việc bảo lãnh, anh quen với tòa Lãnh sự rất thân, nên có thể trong vòng ba bốn tháng giải quyết xong.

- Dạ, vậy quyết đinh như thế cũng được.

Tối hôm đó, Hạnh không ngớt suy nghĩ về Khải. Hình như tình cảm của Hạnh đến với Khải quá nhanh làm chính Hạnh cũng bất ngờ. Có thể vì chị Dung, Nguyệt và quan trọng nhất là Thủy đều có cảm tình với Khải, nên Hạnh chẳng có chút do dự, ngại ngùng nào đối với Khải.

Trong lúc nghĩ về Khải, Hạnh lại tự chống chế với mình lúc nghĩ về Phan: Dù sao, chồng mất cũng đã ba năm rồi, lòng thương nhớ cũng đã nguôi ngoai. Đối với dư luận bên ngoài, chắc cũng chẳng ai đánh giá mình….

Những cuộc hẹn hò với Khải tăng dần. Hai người gần như công khai đối với bạn bè phần đông đều tán thành cuộc tình của họ. Hơn một tháng sau, Khải phải trở về Úc. Chỉ hai tuần xa cách, mà Hạnh bỗng thấy thiếu vắng một cái gì đó. Những cuộc hẹn hò. Giọng nói trầm ấm dịu dàng. Một dáng ngồi trước cây dương cầm với tiếng đàn lãng mạn.

Đôi khi chính Hạnh cũng tự thấy ngạc nhiên là hình bóng của Phan đã mờ dần trong tâm trí nàng lúc nào không hay. Tất cả đều được thay bằng Khải, và một điều nữa là Hạnh không còn thấy một chút mặc cảm nào lúc nghĩ về Phan nữa.

Hai tuần lễ trôi qua với những nhớ nhung thiếu vắng như mới yêu lần đầu. Hạnh mong Khải từng ngày. Những lúc Thủy đi học, Hạnh thường đến nhà Nguyệt, đi bát phố cùng vài người bạn thân. Cái thói quen ngồi mãi trong nhà gần như không còn nữa, và Hạnh thấy cần có một người bạn bên cạnh để trò chuyện. Dĩ nhiên là những chuyện về người đàn ông mới quen biết không lâu. Cái gì nơi Khải cũng mới mẻ, khác hẳn chuyện ngày xưa với Phan.

Cũng có đôi khi ngồi một mình trong phòng, nhìn lên bàn thờ Phan, Hạnh thấy có một điều gì đó bất ổn trong lòng. Nàng tự hỏi thầm: ”Có phải mình vội vã quá không? Có phải mình có chút không phải với Phan chăng?” Nhưng rồi lại tự bảo: ”Ba năm rồi.

Tang Phan đã mãn rồi. Không lý mình cứ mãi sống trong sự thương nhớ vô ích như cũ? Rồi Thủy thế nào? Rồi mình sẽ già đi mất!” Và hình bóng Khải hiện đến làm nhạt nhòa mọi suy nghĩ về người chồng cũ, đưa Hạnh vào giấc ngủ êm đềm.

Khải trở về, báo tin cho Hạnh biết là mọi thủ tục bảo lãnh xem như hoàn tất và chỉ trong vòng ba tháng nữa là cả ba có thể lên đường sang định cư ở Úc. Buổi tối hôm đó, sau bữa cơm tối, cả hai ngồi trên chiếc ghế ngoài hiên nhà.

Hạnh dựa vào vai Khải, mơ màng nghĩ đến một nơi xa lạ mới mẻ chưa bao giờ bước chân tới. Mối tình đầu như đã đi vào quá khứ. Hạnh thấy như mình sắp bước vào một cõi tình yêu chưa từng đặt chân đến.


 Hoàng Tá Thích

------------

-Hình Internet

Hồng Anh st


 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này