Truyện

Truyện (325)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Truyện ngắn: Cây cầu biên giới

Cây Cầu Biên Giới

Truyện Ngắn của Minh-Đạo và Nguyễn Thạch-Hãn

 

Ngày ấy đã xa lắm rồi.


Tôi mới đến vùng này,là một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập. Tiểu Đoàn mới, từ sĩ quan đến binh lính, hầu hết là những thành phần khó sài từ các đơn vị khác gởi về. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong thành phần bất hảo đó. Từ miền biển bị đưa lên miền núi và chỉ huy một đám quân gồm đủ mọi thành phần. Tôi còn đang buớc những bước đi chập chững của nghề chỉ huy thì phải tung ra chiến trường. Ngày ấy, cũng trên con lộ này, tôi dẫn hai con Gà Cồ Đại Pháo 105 ly để yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận tái chiếm quận lỵ Phú Nhơn mà Bắc Quân vừa mới tràn ngập đêm hôm trước.
Ngã ba này bình thường chỉ có vài quán cóc lèo tèo để bán đồ ăn thức uống cho xe đò chạy đường Pleiku - Phú Bổn hay Pleiku - Banmêthuot. Hôm đó dân chạy loạn từ Phú Nhơn ra rất đông, từ những làng Thượng, hoặc mấy khu dinh điền và dân làm ăn buôn bán chung quanh quận lỵ. Dân chúng thấy lính đi tái chiếm quận, họ rất mừng rỡ, người hỏi thăm, người cho quà bánh. Đổi lại, đám lính tặng dân chúng thuốc lá và những đồ hộp Quân Tiếp Vụ. Dân ở quận nhỏ xa xôi cũng nghèo khổ như lính vậy thôi.
1
Từ sáng sớm, lo đốc thúc tải đạn, sửa soạn xe cộ, đại bác, hàng trăm thứ phải làm cho một cuộc trực thăng vận, cho nên bao tử còn trống rỗng. Phi cơ câu súng đại bác phải xin từ căn cứ Mỹ Ớ Quy Nhơn lên, nên chờ cũng còn lâu. Tôi rủ anh chàng Chuẩn Uý Trung Đội Phó kiêm Đề Lô vào quán bên đường kiếm cái gì lót bụng. Dân quận lỵ bu lại hỏi thăm tình hình, chừng nào có thể về quận được ? Đánh nhau có lâu không ? Toàn những câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được.
- Mấy anh ấy đi giải toả quận Phú Nhơn phải không ông chủ.
- Tôi đoán vậy, cô thử hỏi mấy ổng coi.
Tôi quay lại, người vừa hỏi là một thiếu nữ độ đôi mươi, nàng mặc chiếc áo dài trắng học trò đang hỏi thăm người chủ quán, tôi hỏi lại cô gái:
- Sao cô đoán tụi này đi giải toả Phú Nhơn ?
- Em mới từ Tuy Hòa lên Pleiku hôm qua. Sáng nay đáp xe đò vô quận, không ngờ kẹt từ sáng đến giờ.
- Cô cũng ở quận Phú Nhơn sao ?
- Em dạy Ớ trường tiểu học Phú Nhơn, còn nhà em ở Tuy Hòa.
- Cô nên về Pleiku kiếm chỗ ngủ đỡ qua đêm nay.
- Em không có ai quen Ớ Pleiku cả, vả lại em nóng lòng không biết nhà cửa, trường ốc ra sao ?
- Cô có lo lắng thì cũng chẳng làm gì được, tốt hơn hết là kiếm chỗ nào nghỉ đỡ qua đêm nay, chờ giải toả xong mới về được.
- Đám học trò của em chạy ra đây cũng đông lắm, em không thể bỏ chúng được. À này các anh đừng pháo vào trường học nghe.
Tôi vỗ vai Châu Đề Lô vừa cười vừa nói:
- Cái đó cô phải nhờ ông Châu mới được, ổng chỉ đâu là nơi đó thành bình địa.
Châu vội lên tiếng:
- Trường của cô giáo tụi này không dám đụng tới.
Tôi chế diễu Châu:
- Bạn hứa một mình chứ không có tôi can dự trong đó đâu nghe. À nãy giờ mình nói chuyện mà quên giới thiệu. Tôi tên Lập, anh bạn này tên Châu. Thưa qúy danh cô là ...
- Em tên là Quỳnh Hoa, các anh hứa là phải giữ lời đó à nghe !
Tôi chọc ghẹo Quỳnh Hoa:
- Nếu tụi này giữ lời hứa thì Quỳnh Hoa phải đền cái gì mới được chứ ?
Tôi nhìn người con gái nước da trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc, đôi môi đỏ như cánh bích đào, cặp mắt to đen láy trông thật thông minh lanh lẹ, mái tóc thề phủ xoã ngang lưng, nụ cười tươi như hoa với hàm răng đều đặn như những hạt bắp vừa đủ lớn. Nhìn Quỳnh Hoa đứng giữa đám học trò nhà quê lem luốc bẩn thỉu, tôi có cảm tưởng nàng là bà tiên giáng trần, đang cầm cây đũa thần gõ trên đầu đám chúng sinh đầy đau khổ. Nàng rất bạo dạn tuy hơi lo lắng, nhưng không có cái e lệ như những cô gái xứ kinh kỳ. Tôi tự nhủ:
- Bông hoa vương giả này sao lại mọc ở chốn rừng hoang mông quạnh này nhỉ ?
Quỳnh Hoa thấy tôi nhìn cô chăm chú, có vẻ mắc cỡ đôi má càng hồng hào thêm, còn đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Châu vội đề nghị:
- Thôi bữa nào giải toả xong, đãi tụi này một bữa cơm nhà quê được không Qùynh Hoa ?
- Em nấu ăn dở lắm, nhưng em sẽ đãi các anh một chầu bún bò Huế, được không ?
Tôi làm bộ nuốt nước miếng:
- Ôi chao, chưa đánh mùi mà đã thèm nhỏ dãi rồi.

Hình minh họa


2
Có tiếng trực thăng từ xa vọng lại. Tôi từ giã Quỳnh Hoa rồi vội vã đốc thúc anh em binh lính để cuộc di chuyển được mau chóng. Bình, anh chàng tài xế xe jeep của tôi chạy lại hỏi:
- Mình cần về hậu cứ lấy thêm gì nữa không Ông Thầy ?
- Chắc đủ rồi, vả lại cũng không còn kịp nữa.
Tôi móc túi đưa cho Bình một ít tiền lẻ và nói:
- Em vào trong quán mua vài gói mì và một hộp trà, tối nay mình ăn mừng chiến thắng.
- Bình cầm tiền, nheo mắt chọc tôi:
- Cái cô hồi nãy coi bộ chịu đèn Ông Thày lắm rồi đó nghe.
Tôi thấy thích thú trong lòng nhưng cũng làm bộ chống chế:
Trời bắt đầu đổ mưa lâm râm khi trực thăng vừa bốc hai khẩu đại bác. Những cơn mưa trên miền núi thường dai dẳng và mang theo gío lạnh thấm đến tận xương tủy của những người lính Pháo Thủ, vừa thiếu ăn vừa phải làm việc cực nhọc. Tôi thầm hỏi liệu đêm nay trực thăng có kịp đổ quân để bảo vệ hai con gà cồ của mình không ?
Hai khẩu đại bác cùng với 4 túi đạn 105 li và chiếc xe Jeep được thả xuống một ngọn đồi trọc. Dưới cơn mưa tầm tã, đất đỏ lầy lội, đám pháo thủ thoăn thoắt làm việc: Hì hục đẩy hai khẩu pháo lại gần nhau, khuân vác đạn dược, dựng cây truyền tin, nhắm hướng súng. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, Những trái đạn đầu tiên đã được gởi đi liên tục để dọn bãi đáp cho hai tiểu đoàn Bộ Binh đổ bộ xuống mục tiêu.
Trận tái chiếm quận Phú Nhơn hôm đó đã thành công hoàn toàn nhưng Châu Đề Lô đã bị thương nặng, một mảnh đạn B40 của địch quân đã chọc một lỗ lủng lớn ở bụng của hắn. Tóan Pháo Binh được di chuyển về phía sau quận hành chánh để sãn sàng yểm trợ cho lực lượng bảo vệ quận.

Tỉnh Gia Lai VN


3
Một buổi sáng, sau khi sửa sang tuyến phòng thủ tạm ổn định, tôi ghé thăm Quỳnh Hoa. Ngôi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Anh em quân nhân trong quận đang gíup tay sửa sang những chỗ bị tàn phá. Tôi đến bên lớp học của Qùynh Hoa, nàng đang say sưa tập hát cho các em nhỏ. Có tiếng một em bé báo động:
- Thưa cô có Ông Lính tới kiếm.
Nàng quay lại, gật đầu chào. Tôi ướm thử xem nàng còn nhận ra tôi không:
- Ông Lính kính chào Cô Giáo, Cô Gíao còn nhớ Ông Lính này không ?
Nàng không thể nhịn cười được lối diễu cợt của tôi, nhưng cũng không chịu thua:
- Ông Lính đi đâu mà lạc vô đây ?
- Ông Lính đi lạc vào Thiên Thai đó ạ, không biết Tiên Nữ có cho Ông Lính xem rừng Đào Tiên không.
- Ông Lính tỉnh lại đi, đây là chốn phàm tục, đâu có nàng Tiên nào đâu.
- Chứ Quỳnh Hoa không phải là Tiên sao?
Nàng nghe tôi khen không khỏi e thẹn:
- Anh Lập làm Qùynh Hoa mắc cỡ quá hà! Người ta xấu như ma mà so sánh với Tiên, anh có mơ ngủ không đấy? Anh Châu có khỏe không anh Lập?
- Châu bị thương nặng đang nằm Ớ quân Y viện Pleiku.
- Trời ơi, có nguy hiểm lắm không anh?
Thấy mặt Qùynh Hoa biến sắc, tôi thấy hơi ganh với bạn mình, nhưng vội trấn an:
- Chắc không đến nỗi nào, nhưng phải nằm nhà thương một thời gian.
- Hôm nào anh có đi thăm anh Châu cho em đi theo với nghe.
Tôi tự nhủ thầm sao nàng dễ xúc cảm như vậy nên hứa đại cho xong chuyện:
- Cuối tuần tôi phải về hậu cứ nhân tiện ghé đón Quỳnh Hoa đi thăm Ông Châu luôn thể, cô có chịu không ?
- Gia đình ảnh đã biết chưa vậy anh Lập ?
- Gia đình ảnh Ớ Pleiku đã được thông báo rồi.
Tôi hỏi thăm qua loa về trường ốc và gia cảnh của nàng rồi vội vã cáo lui, hẹn gặp lại sáng thứ Bảy. Qùynh Hoa hiện Ớ trọ tại nhà bà Hiệu Trưởng, một người bạn cũ của gia đình nàng. Chồng Bà cũng là một cựu quân nhân giải ngũ, có tiệm tạp hóa ngoài chợ.
Sáng thứ Bảy, Tôi cho tập họp Trung Đội, giao doanh trại cho Ông Thượng Sĩ Thường Vụ rồi hối đám quân xa chuẩn bị xe cộ về hậu cứ lãnh lương thực và đạn được. Tôi gọi Bình vào văn phòng rồi dặn:
- Bình à, coi lại xe cộ, xăng dầu đầy đủ, bữa nay mình về hậu cứ đồng thời ghé thăm ông Châu luôn thể. À hôm nay có một người bạn xin qúa giang nữa nghe.
- Ai vậy Ông Thầy ?
- Cô giáo bữa mình gặp ngoài Ngã Ba Hàm Rồng đó nhớ không em.
- Ồ, vậy em phải rửa xe cho thật sạch mới được.
- Lính tác chiến mà chú mày làm như lính thành phố không bằng, không sợ tụi hậu cứ nó cười sao ?
- Sức mấy mà tụi nó dám cười Thầy Trò mình.
Tôi ghé lại nhà Quỳnh Hoa, nàng đã chờ sẵn, vẫn chiếc áo dài trắng hôm nào. Nét mặt vui vẻ, nụ cười tươi như hoa trông mới duyên dáng làm sao chứ ! Nàng bước ra cửa đón tôi:
- Chào anh, mời anh vào trong nhà uống miếng nước đã.
- Chào cô Qùynh Hoa, cám ơn cô để khi khác, thôi chúng ta lên đường kẻo trễ.
Đến hậu cứ, tôi nhận tiếp liệu rồi hẹn tất cả tập trung lúc 2 gìơ chiều để trở ra Phú Nhơn. Tôi chở Quỳnh Hoa vào bệnh viện. Châu vẫn còn thiếp trong giấc ngủ mê, khuôn mặt trắng bệch, hơi thở yếu ớt. Tôi có cảm tưởng thần chết đang lảng vảng đâu đây. Bà mẹ của Châu nhìn thấy chúng tôi thì không cầm nổi nước mắt. Bà bắt đầu thút thít khóc. Tôi tự hỏi trong những ngày qua người mẹ đau khổ này đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đứa con yêu dấu của mình. Chiến tranh thật tàn nhẫn ! Nó như một con qủy luôn luôn cười cợt trên sự đau khổ của con người. Nó lấy xác chết làm chiến lợi phẩm. Qùynh Hoa nhìn thấy Châu, bỗng hai hàng lệ tuôn trào. Tôi đưa chiếc khăn tay, nàng cầm lấy, che lên mắt và đi vội ra ngoài. Tôi không ngờ nàng qúa thương tâm như vậy đối với một người bạn mới quen. Tôi an uỉ Bà Mẹ của Châu mấy câu rồi vội vã đi tìm Qùynh Hoa. Nhìn nàng đứng dựa chiếc cột ngoài hành lang bệnh viện, đôi vai rung lên từng hồi, có lẽ nàng đã qúa xúc cảm. Tôi chẳng biết làm sao để an ủi nàng. Miệng lưỡi cứng đơ, chân tay thừa thãi, tôi lặng lẽ đến bên nàng, mắt tôi cũng bắt đầu nhòe lệ, tôi ôm lấy đôi vai bé bỏng của nàng. Qùynh Hoa quay mặt lại và úp mặt vào vai tôi khóc nức nở như một đứa con nít. Có lẽ những đau khổ thầm kín lâu nay được dịp tuôn ra đi theo dòng nước mắt. Tôi để mặc nàng khóc cho đã đời. Một vài người đi ngang dòm chúng tôi với đôi mắt dò hỏi rồi bỏ đi. Chuyện khóc lóc có lẽ qúa bình thường ở đây. Nàng khóc một lúc rồi bắt đầu im lặng, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi an uỉ nàng:
- Em đừng khóc nữa, anh Châu chắc không đến nỗi nào đâu, Mẹ ảnh nói Bác Sĩ cho hay ảnh đã qua cơn hiểm nghèo rồi chỉ chờ bình phục thôi.
Nàng thì thầm bên tai tôi:
- Em nhớ Ba em hồi đó, cũng nằm ở Bệnh Viện này, trong cơn hấp hối, nên không cầm nổi nước mắt, xin anh tha lỗi cho em.
- Anh xin lỗi em, không ngờ cuộc thăm viếng này đã gợi cho em những đau đớn như vậy.
- Anh đừng nói vậy, anh không có lỗi gì cả, chỉ vì em tủi thân đó thôi.
Khi đã tỉnh trí, nhìn thấy một bên vai áo tôi ướt đẫm nước mắt, có lẽ thấy hơi ngượng ngùng nên đẩy nhẹ tôi ra và lí nhí mấy lời xin lỗi. Tôi vội dìu nàng ra xe và rủ ra ngoài phố kiếm ăn. Tôi dẫn Quỳnh Hoa vào quán như một đôi tình nhân gắn bó bên nhau. Những cặp mắt nhìn soi bói của đám thực khách mà qúa nửa là lính tráng khiến nàng hơi bối rối. Tôi nhìn nàng với đôi mắt nồng nàn, thầm cám ơn Thượng Đế đã cho tôi có dịp làm quen với người con gái dễ thương và thùy mỵ như vậy. Sự hiện diện của nàng trong đời sống khiến tôi thấy những gánh nặng trên vai nhẹ nhàng hơn. Qùynh Hoa là một dòng suối ngọt, một bóng mát, một hy vọng, một nơi yên nghỉ êm đềm cho linh hồn thể xác mệt mỏi của tôi trong cuộc chiến tàn nhẫn đầy máu và nước mắt này. Tôi vẫn cảm thấy rằng sau nét mặt vô tư ngây thơ, Quỳnh Hoa có một sức thu hút kỳ lạ, giống như một vùng đất mới chứa đầy những bí mật quyến rũ đối với những nhà thám hiểm. Đúng vậy, nàng chính là sự thiêng liêng kỳ bí, một vườn Địa Đàng cho riêng tôi. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao nàng qúa thương tâm khi thăm Châu trong bệnh viện nên muốn tìm hiểu thêm:
- Qùynh Hoa ở Phú Nhơn lâu chưa ?
- Độ gần một năm thôi, em ra trường sư phạm cấp tốc rồi xin đổi về đấy ngay.
- Sao em không xin dạy ở gần nhà có phải tiện hơn không ?
- Ngày xưa, Ba em làm Quận Trưởng Phú Nhơn. Người đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng cái quận đèo heo hút gío này. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dân chúng từ miền ven biển và từ ngòai Bắc di cư lên đây lập nghiệp, đã được chính quyền tận tình giúp đỡ. Nhưng rồi trong một cuộc đi thăm đồn điền của một xã phía Tây Quận Lỵ, Ba em đã lọt vào ổ phục kích và bị sát hại. Em lớn lên, muốn tiếp nối cái hoài bão của Ba em là nâng cao dân trí để họ có thể hiểu được ý nghĩa của sự tự do, dân chủ, công bình và lẽ phải.
Tôi thầm nghĩ những danh từ tự do, dân chủ thật qúa mơ hồ đối với những người lính tác chiến, với đám dân quê nghèo thất học ở đây. Gia đình, vợ con, miếng cơm manh áo, mạng sống có lẽ gần gũi hơn. Tôi thấy vừa kính nể vừa thương hại người con gái mới lớn mang trong lòng một hoài bão qúa lý tưởng, qúa to lớn. Nàng đúng là một Tiên Nữ mà Thượng Đế đã gởi xuống cõi trần đầy khổ đau này.


4
Sau nhiều lần đi thăm Châu, chúng tôi thấy gần gũi nhau hơn. Tôi tìm thấy ở nàng một niềm vui, một ước mơ, một mái ấm gia đình cho tương lai. Vùng đất hoang vu này trở nên tươi mát đáng yêu bởi vì chỗ nào cũng thấy đoá Hoa Quỳnh nở rộn ràng.
Chúng tôi đã yêu nhau, có núi rừng và con sông nhỏ chảy qua quận lỵ làm chứng. Con sông thật hiền hoà và dễ thương như người tôi yêu. Bên bờ sông những hàng cây Phượng Vĩ nở đỏ rực mỗi mùa hè. Mùa mưa nước phù xa đỏ ửng từ trên ngàn chảy cuồn cuộn xuống ngập gần hết cây cầu sắt nhỏ bắc qua sông. Cây cầu nhỏ sơ sài có vài nhịp, bề ngang chỉ đủ cho một chiếc xe đò qua lại. Mùa nắng, nước cạn trơ những bãi cát trắng tinh. Người ta đào cát thành những vũng nước trong, gánh về để uống. Giữa lòng sông nước trong vắt nhìn thấy cát và sỏi tận dưới đáy, nước chảy lững lờ. Mấy chàng Pháo Thủ thường ra tắm sông để được chiêm ngưỡng những nàng thôn nữ cao nguyên ngực no tròn và rất tự nhiên. Tôi yêu núi rừng Cao Nguyên, mỗi buổi sáng thức dậy đứng trên đồi nhìn chung quanh chỉ thấy một màu xanh rì, mênh mông như biển cả. Tôi yêu con sông bé nhỏ, tôi yêu cây cầu sắt cũ kỹ đưa người qua sông, tôi yêu hàng cây Phượng Vĩ học trò, tôi yêu sân trường tiểu học Phú Nhơn, tôi yêu con đường nhựa bé bỏng chạy qua quận lỵ và băng qua núi rừng Cao Nguyên. Tôi yêu và yêu rất nhiều, bởi vì ở đâu cũng thấy hình bóng của nàng. Tôi yêu lắm những buổi chiều hai đứa dẫn nhau ra bờ sông, lang thang dưới những hàng cây xanh um, hoặc ngồi trên thành cầu nhìn dòng nước hững hờ trôi. Nàng ngồi bên tôi, đong đưa hai hàng chân trắng muốt, cười nói vô tư như một Thiên Thần. Trời Đất, Vũ Trụ, Thời Gian như ngừng hẳn, ôi đẹp đẽ và thanh bình đất nước tôi!
Ở đó, bấy giờ, không nghe tiếng súng nổ, không nghe tiếng gầm gừ của máy bay phản lực, không gian hoàn toàn yên tĩnh.
Chúng tôi đã dệt những giấc mộng tương lai đơn sơ và êm đềm.
- Qùynh Hoa ơi, mai này chiến tranh chấm dứt, anh sẽ cất một căn nhà bên bờ sông này, em sẽ tiếp tục dạy học, còn anh sẽ biến vùng đất màu mỡ này thành một đồn điền trù phú, em có chịu không ?
- Anh trồng cho em một vườn trái cây mít , ổi, xoài, đu đủ, mảng cầu nghe anh.
- Ừ, anh sẽ trồng bất cứ cây gì em muốn.
- Anh hứa thương em và chiều chuộng em như ngày xưa Ba yêu thương và chiều chuộng em nghe.
- Anh hứa.
- Anh đừng bỏ em, như Ba đã bỏ em một mình, em sợ lắm.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình.
- Nghe anh nói thơ mộng và sung sướng qúa, cám ơn Trời Phật đã cho em gặp anh. Có lẽ Ba đã run rủi em gặp anh đó. Lập ơi em thương anh lắm, anh biết không?
- Sao em thương anh nhiều dữ vậy ?
- Không biết nữa, có lẽ em thấy anh giống Ba em. Anh chiều chuộng em, anh là người lớn, bao dung, đại lượng, biết nhiều, hiểu nhiều. Anh biết không, hôm em gặp anh đi hành quân, em thấy anh oai hùng qúa, giống như Ba em ngày xưa. Mấy Ông Lính thương anh lắm phải không ?
- Không mấy ông ấy ghét anh lắm.
- Cái mặt xạo, ai mà ghét anh. Anh nhiều đào lắm phải không ? nói cho em nghe đi.
- Có mình em thương anh thôi, thiệt đó.
Tôi ngồi bên nàng, uống từng giọt tình yêu ngọt ngào, nghe trái tìm mình đập từng điệu nhạc run rảy trên lối vào Thiên Đường chỉ có hai đứa chúng tôi. Nàng đã dạy cho tôi biết mơ mộng, thấy đời đáng yêu hơn, những thứ đó tôi đã đánh mất từ khi mới lớn, từ khi bước chân vào quân ngũ, tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ của tôi đang đi vào ngõ cụt và chỉ còn những giấc mơ hãi hùng. Đời tôi thật trống rỗng nếu không có nàng. Tôi thấy yêu thương nàng qúa đỗi. Qùynh Hoa vẫn còn vẽ những giấc mơ của nàng nhưng tôi không còn nghe gì cả, chỉ thấy cánh môi hồng mấp máy, hơi thở thơm tho mùi mía lùi phà trên mặt tôi. Bất chợt, tôi ôm và hôn nàng say đắm, người nóng bừng như có dòng điện chạy ào ạt từ tim lên đầu. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:
- Coi kìa, người ta cười mình đó.
- Ai mà dám cười mình.
Nàng đánh trống lảng, bâng quơ hỏi tôi:
- Anh ơi, cây cầu này có tên không anh.
- Anh cũng chẳng biết nữa, hay là mình đặt cho nó một cái tên làm kỷ niệm nghe.
- Em cho anh đặt đó.
- Ừ, hay là mình gọi là Cây Cầu Biên Giới nghe em.
- Cái tên nghe cũng hay đấy, nhưng mà nghe có vẻ chia ly qúa. Giống như trong bài “Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu” của Nguyễn Văn Đông vậy.
Tôi phì cười:
- Mới thương nhau mà em đã nghĩ đến chuyện chia ly rồi.
- Nhưng mà em sợ lắm, thời buổi chiến tranh... Lỡ mai này, anh bỏ em ở đây một mình, em buồn lắm đó.
- Không, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ xin với Mẹ để cưới em, chúng ta mãi mãi bên nhau.
Nàng reo lên sung sướng như một đứa con nít, mắt sáng ngời những tia hy vọng, rồi ôm lấy tôi. Ôi mùi thơm ngọt ngào, tôi làm bộ đẩy nhẹ nàng ra.
Thật không ngờ, nơi rừng rú hoang vu nguy hiểm này ai nghe đến cũng rợn tóc gáy. Bạn bè, người thân, lâu không gặp nhau, hỏi tôi bây giờ Ớ đâu, tôi trả lời ở quận Phú Nhơn tỉnh Cheo Reo, ai cũng lè lưỡi chọc tôi bộ hết đất rồi sao lên miền Thượng ở vậy, tôi chỉ cười khì. Bây giờ tôi đã có lý do để trả lời họ ... Bởi vì tôi mê hoa Qùynh, thế thôi.
- Anh làm gì ngồi thừ ra thế, hãy nói nữa về tương lai của chúng ta cho em nghe đi.
- Anh đang sung sướng qúa nên làm một bài thơ kỷ niệm.
- Ồ, anh biết làm thơ nữa sao? Hãy đọc em nghe đi, 
Chiều về thấp thóang bên sông,
Thấy Qùynh thơm ngát thấy lòng xôn xao.
Nàng cười rũ rượi, hai tay đánh liên hồi vào vai tôi. Một ngày như mọi ngày trôi qua, trong thung lũng tình yêu, bên cây câu biên giới, nỗi chết đã tạm chịu rút lui, để nhường chỗ cho tình yêu hoa bướm ngọt ngào. Tôi lấy con dao găm đeo bên mình khắc câu thơ trên thành cầu sắt để đánh dấu một chặng đường yêu đương…

Thành phố Gia Lai VN


5
- Anh muốn vào chợ hay đến nhà ai ở quận Phú Nhơn ?
Tiếng người tài xế kéo tôi về thực tại. Giấc mơ thật ngắn ngủi, như cuộc tình của chúng tôi.
- Anh cho tôi lại trường tiểu học.
Quang cảnh vẫn không thay đổi mấy, ngôi trường tiểu học vẫn như xưa. thời gian như ngừng trôi Ớ quận lỵ nhỏ bé này. Phố chợ đìu hiu vẫn còn kia, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn còn đó, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa Qùynh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Tôi hối người tài xế chạy ra phía cây cầu. Chiếc cầu sắt nhỏ bé đầy dấu kỷ niệm, tôi như trong giấc mơ, Chàng Tú Uyên ngày xưa khi tỉnh giấc không thấy người đẹp trong tranh đâu nữa, chắc cũng ngỡ ngàng như tôi hôm nay thôi. Tôi bước lên cầu, ngồi đúng vào chỗ ngày xưa chúng tôi đã từng có một thời mơ mộng. Tôi ngồi bệt xuống, hai chân đong đưa, mắt nhìn xa xăm trên những ngọn phượng vĩ bên sông, cố tìm chút nắng vàng ngày xưa của một buổi chiều tà. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu, không thấy một dấu tích gì của nàng. Nơi thành cầu này tôi đã hôn những nụ hôn đầu tiên trong đời, vẽ những giấc mơ .Đúng là cây câu chia ly như nàng đã nói. Bây giờ nàng ở đâu, hay đã bỏ xác trên tỉnh lộ Số Bảy trên đường di tản về Tuy Hoà. Ồ phải rôì, tôi phải tìm lại bài thơ có lẽ đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi với nàng. Tôi dò từng tấc sắt trên thành cầu, bài thơ còn đó nhưng đã dài hơn hai câu:
Chiều về chiều vẫn một mình,
Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ.
Tôi bay về Hoa Kỳ lòng buồn miên man, bao nhiêu háo hức của ngày trở lại Việt Nam đã tiêu tan đâu mất chỉ còn lại sự mệt mỏi và chán chường. Tôi đã đi mọi nơi, để tìm tung tích của Quỳnh Hoa nhưng cũng không có tin tức gì. Ngày ấy nếu tôi không bị kẹt ngoài Huế, chắc chúng tôi đã chết bên nhau hay cùng nhau lênh đênh trên con tàu vượt biên. Thời gian thấm thoát trôi đi, tóc tôi đã bắt đầu điểm bạc. Mỗi lần đi đâu, thấy bóng dáng mái tóc thề và chiếc áo dài trắng lòng tôi lại xôn xao như ngày nào bên chiếc Cầu Biên Giới.

 

Kim Kỳ sưu tầm

 

Xem thêm...

Truyện ngắn: “Kino” – Haruki Murakami

Truyện ngắn: “Kino”

 Haruki Murakami

Truyện ngắn này, cùng với Scheherazade, được in trong tuyển tập truyện ngắn của Haruki Murakami có nhan đề 女のいない男たち (Những người đàn ông không có đàn bà), xuất bản tại Nhật tháng 4 năm 2014. Nguyễn Huy Hoàng dịch từ bản tiếng Anh (do Philip Gabriel dịch từ nguyên tác tiếng Nhật), đăng trên The New Yorker, Feb 23, 2015 issue (số kỷ niệm 90 năm phát hành tạp chí, 1925-2015).

Tác giả Haruki Murakami

 

Gã luôn ngồi ở cùng một chỗ, trên cái ghế đẩu đặt dưới cuối quầy. Đó là khi chưa có ai ngồi, nhưng nó hầu như lúc nào cũng trống. Quán ba hiếm khi đông khách, chỗ ngồi đặc biệt đó là nơi kín đáo và ít thoải mái nhất. Cầu thang phía sau khiến trần nghiêng và thấp, thế nên rất khó để đứng lên mà không bị cộc đầu. Mà gã cao, chẳng hiểu sao lại ưa cái chỗ hẹp và chật chội ấy.

Kino còn nhớ lần đầu gã tới quán của anh. Sự xuất hiện của gã khiến Kino lập tức chú ý — mái đầu cạo hơi xanh, bờ vai mỏng nhưng rộng, ánh mắt sắc lẹm, gò má cao và trán rộng. Trông gã khoảng đầu ba mươi, mặc một cái áo mưa xám dài dù trời không mưa. Lúc đầu, Kino nghĩ gã là một tên yakuza nên anh rất cảnh giác với gã. Lúc đó là bảy rưỡi một buổi tối lạnh giữa tháng Tư, quán thì vắng khách. Gã chọn chỗ ngồi dưới cuối quầy, cởi áo khoác, gọi một cốc bia bằng chất giọng trầm, rồi lặng thinh đọc một cuốn sách dày. Nửa tiếng sau, đã hết cốc bia, gã khẽ giơ tay lên khoảng ba hay năm phân để ra hiệu cho Kino và gọi một cốc whiskey. “Loại nào?” Kino hỏi, nhưng gã nói gã không thích hẳn loại nào.

“Loại Scotch bình thường nào đấy thôi. Đúp. Thêm chừng ấy nước và chút đá, nếu được.”

Kino rót một chút White Label vào cốc, thêm lượng nước tương đương và hai viên đá nhỏ vuông vắn. Gã hớp một ngụm, chăm chú ngắm cốc rượu và nheo mắt lại. “Cái này được đấy.”

Gã đọc thêm nửa tiếng rồi đứng dậy và thanh toán bằng tiền mặt. Gã đếm chính xác từng đồng lẻ để không phải nhận xu tiền thừa nào. Kino khẽ thở phào nhẹ nhõm ngay khi gã vừa ra khỏi cửa. Nhưng dù gã đã đi, sự hiện diện của gã vẫn còn ở lại. Trong lúc đứng sau quầy, thỉnh thoảng Kino lại liếc xuống chỗ gã vừa ngồi, nửa lòng hi vọng gã vẫn còn ở đó, đưa tay lên mấy phân để gọi chút đồ.

Gã bắt đầu thường xuyên tới quán của Kino. Một, nhiều nhất là hai lần một tuần. Gã luôn gọi một bia trước, sau đó đến một whiskey. Đôi khi gã lại nghiên cứu thực đơn trong ngày trên tấm bảng đen và gọi một bữa ăn nhẹ.

Gã hầu như không nói một lời. Gã luôn đến khá sớm vào buổi tối với một cuốn sách kẹp dưới nách mà gã sẽ đặt lên quầy. Mỗi khi đọc đã mệt (ít ra là Kino đoán gã đã mệt), gã ngước mắt khỏi trang sách và nghiên cứu những hàng chai rượu xếp trên các kệ đặt trước mặt gã, như thể đang xem xét một loạt những con thú bị nhồi xác khác lạ đến từ những vùng đất xa xôi.

Dù thế, khi đã quen, Kino chưa từng cảm thấy khó chịu khi ở cạnh gã, ngay cả khi chỉ có hai người. Kino cũng rất kiệm lời, anh không cảm thấy khó khăn khi phải giữ yên lặng quanh những người khác. Trong khi gã đọc, Kino làm những việc anh vẫn làm khi ở một mình — rửa bát đĩa, chuẩn bị nước sốt, chọn nhạc để bật, hoặc lật qua các trang báo.

Kino không biết tên gã. Gã chỉ là một khách quen thường xuyên tới quán, thưởng thức một bia và một whiskey, lặng lẽ đọc, trả tiền mặt, rồi đi. Gã không làm phiền ai. Kino còn cần biết gì thêm về gã?

***

Hồi đại học, Kino là vận động viên điền kinh chạy tầm trung xuất sắc, nhưng đến năm 3 anh bị đứt gân gót chân nên phải từ bỏ ý định tham gia một đội chạy tiếp sức. Tốt nghiệp xong, theo lời huấn luyện viên, anh làm việc cho một công ty thiết bị thời trang và ở lại đó 17 năm. Công việc mà anh đảm trách là thuyết phục các cửa hàng thể thao niêm yết nhãn giày chạy của anh và các vận động viên hàng đầu thử chúng. Công ty của anh, một doanh nghiệp tầm trung có trụ sở tại Okayama, còn lâu mới được nổi tiếng và thiếu sức mạnh tài chính như của Nike hay Adidas để thảo các hợp đồng độc quyền với những vận động viên điền kinh hàng đầu thế giới. Tuy vậy, nó vẫn tạo nên nhiều đôi giày thủ công được chế tác cẩn thận và cũng có một số ít vận động viên tin tưởng vào sản phẩm của nó. “Làm việc lương thiện rồi sẽ được đền đáp” là khẩu hiệu của người sáng lập công ty, và phương pháp thầm lặng, phần nào hơi lạc hậu đó lại phù hợp với tính cách của Kino. Ngay cả một người ít nói, khó gần như Kino cũng có thể bán được hàng. Thực ra, chính vì tính cách của anh mà các huấn luyện viên mới tin tưởng anh, các vận động viên mới thích anh. Anh cẩn thận lắng nghe từng nhu cầu của mỗi vận động viên, đảm bảo người phụ trách bộ phận sản xuất nhận được mọi chi tiết. Lương lậu không nhiều để nói, nhưng với anh công việc như thế là hấp dẫn và hài lòng. Dù không thể tự mình chạy được nữa, anh vẫn thích ngắm nhìn những vận động viên chạy quanh đường đua, hình thức hoàn hảo tuyệt đối của họ.

Kino bỏ việc không phải vì anh đã hết hài lòng với công việc, mà vì anh phát hiện ra vợ anh có tình cảm với gã bạn thân nhất của anh ở công ty. Kino dành nhiều thời gian trên đường hơn ở nhà ở Tokyo. Anh nhét đầy một túi thể thao to bằng những mẫu giày, vòng vèo khắp các cửa hàng thể thao trên Nhật Bản, đến thăm các trường đại học và doanh nghiệp tài trợ cho các đội điền kinh. Vợ và gã đồng nghiệp của anh bắt đầu ngủ với nhau khi anh đi xa. Kino không phải dạng người dễ nhận ra manh mối. Anh nghĩ cuộc hôn nhân của anh vẫn tốt đẹp, vợ anh cũng không nói hay làm gì khiến anh nhận ra cô phản bội. Nếu anh không trở về sớm hơn một ngày từ chuyến đi kinh doanh đó, chắc anh chẳng bao giờ phát hiện được chuyện gì đang xảy ra.

Khi trở lại Tokyo ngày hôm đó, anh về thẳng căn hộ của mình ở Kasai chỉ để thấy vợ và gã bạn anh đang trần truồng quấn quýt nhau trong phòng ngủ của anh, trên chiếc giường mà anh và vợ anh vẫn ngủ. Vợ anh đang ngồi trên, và khi Kino mở cửa, hai người mặt đối mặt, bộ ngực đáng yêu của cô nảy lên nảy xuống. Hồi đó anh 39, vợ anh 35. Họ chưa có con. Kino cúi đầu, đóng cửa phòng ngủ, rời căn hộ, và không bao giờ quay lại. Hôm sau, anh bỏ việc.

***

Kino có một người bác chưa lập gia đình, chị gái của mẹ anh. Bà đối xử rất tốt với anh từ khi anh còn nhỏ. Bà có một ông bạn trai lớn tuổi hơn (chính xác hơn là “người yêu”), ông đã hào phóng tặng bà một ngôi nhà nhỏ ở Aoyama. Bà sống trên tầng hai và mở quán cà phê ở tầng dưới. Trước nhà là mảnh vườn nhỏ và một cây liễu ấn tượng có cành thấp mọc chi chít lá. Ngôi nhà nằm trên một ngõ hẹp đằng sau Bảo tàng Nezu, không hẳn là vị trí tốt nhất để thu hút khách hàng, nhưng bác anh có tay buôn bán, nhờ đó mà cửa hàng cà phê đã đem lại lợi nhuận kha khá.

Đến tuổi 60, bà bị đau lưng nên việc quán xuyến cửa hàng một mình ngày càng khó khăn. Bà quyết định chuyển đến một căn hộ nghỉ dưỡng ở Cao nguyên Izu Kogen. “Bác không biết cuối cùng cháu có muốn tiếp quản cửa hàng không?” bà hỏi Kino. Lúc đó là ba tháng trước khi anh phát hiện ra vợ anh ngoại tình. “Cháu rất cảm kích vì đề nghị của bác,” anh trả lời bà, “nhưng cháu đang mãn nguyện với cuộc sống hiện giờ.”

Sau khi nộp đơn thôi việc, anh gọi hỏi bác xem bà đã bán cửa hàng cho ai chưa. Một công ty bất động sản đã kê khai nó, bà bảo, nhưng chưa có ai đề nghị nghiêm túc. “Cháu định mở một quán ba ở đó nếu được,” Kino nói. “Cháu trả tiền thuê cho bác theo tháng được không?”

“Nhưng công việc của cháu thì sao?”

“Cháu bỏ mấy hôm rồi.”

“Vợ cháu không ý kiến gì à?”

“Bọn cháu sẽ ly dị sớm thôi.”

Kino không giải thích lí do, bác anh cũng không hỏi. Đầu dây bên kia im lặng một lúc lâu. Sau đó bác anh đưa ra số tiền thuê nhà, thấp hơn nhiều so với Kino dự tính. “Cháu nghĩ cháu lo được,” anh bảo bà.

Anh với bác anh chưa bao giờ nói chuyện nhiều đến thế (mẹ anh không thích anh gần gũi với bác), nhưng hai người dường như luôn thấu hiểu lẫn nhau. Bà biết Kino không phải loại người dễ nuốt lời.

Kino dùng nửa số tiền tiết kiệm của mình để cải tiến quán cà phê thành quán ba. Anh mua đồ nội thất đơn giản, xây một cái quầy dài, chắc chắn. Anh thay giấy dán tường mới với một màu êm dịu, mang bộ sưu tập đĩa nhạc từ nhà đến, xếp một kệ đĩa LP trong quán. Anh có một dàn âm thanh tốt — bàn xoay Thorens, âm ly Luxman, bộ loa 2 đường tiếng JBL nhỏ — mua từ hồi anh còn độc thân, hơi quá phung phí khi đó. Nhưng anh luôn muốn nghe những bản nhạc jazz cũ. Đó là sở thích duy nhất của anh, một sở thích anh không bao giờ chia sẻ với ai anh biết. Hồi đại học, anh từng làm phục vụ quầy rượu bán thời gian trong một quán rượu ở Roppongi, thế nên anh rất thạo pha trộn cocktail.

Anh đặt tên quán là Kino. Không nghĩ được tên gì hay hơn. Tuần đầu mở quán, anh chẳng có mống khách nào, nhưng không vì thế mà anh hoang mang. Mà nói cho cùng, anh không quảng cáo cho quán, cũng chẳng đặt một cái biển bắt mắt. Chỉ đơn giản là anh kiên nhẫn chờ đợi những kẻ tò mò tình cờ vấp qua cái quán nhỏ trong ngõ của anh. Anh vẫn còn chút tiền trợ cấp thất nghiệp, mà vợ anh cũng không đòi hỏi hỗ trợ tài chính gì. Cô đã đến sống cùng gã đồng nghiệp cũ của anh, cô và anh đã quyết định bán căn hộ của họ ở Kasai. Kino sống trên tầng hai ngôi nhà của bác anh, và khi đó, tưởng như anh đã có thể vượt qua mọi chuyện.

Trong khi chờ đợi khách hàng đầu tiên, Kino thưởng thức mọi loại âm nhạc anh thích và đọc những cuốn sách anh vẫn muốn đọc. Như mặt đất khô cằn đón chào cơn mưa, anh để mình đắm chìm trong cô độc, sự im lặng, nỗi cô đơn. Anh nghe rất nhiều bản nhạc độc tấu dương cầm của Art Tatum. Chúng phần nào có vẻ phù hợp với tâm trạng của anh.

Anh không chắc tại sao, nhưng anh không còn cảm thấy giận dữ hay cay đắng về vợ anh hay gã đồng nghiệp mà cô ngủ cùng. Chắc chắn, sự phản bội là một cú sốc, nhưng qua thời gian, anh bắt đầu cảm thấy như thể nó là không thể tránh được, như thể ngay từ đầu mọi chuyện đã là định mệnh của anh. Nói cho cùng, trong cuộc đời mình anh có đạt được gì đâu, hoàn toàn là thất bại. Anh không thể khiến ai hạnh phúc, và tất nhiên, cũng không thể khiến chính anh hạnh phúc. Hạnh phúc? Anh còn không chắc nó nghĩa là gì. Anh cũng không có một giác quan rõ ràng, về những cảm xúc như đau hay giận, thất vọng hay cam chịu, và chúng nên được cảm nhận thế nào. Phần lớn điều anh có thể làm là tạo nên một nơi mà trái tim của anh, với chiều sâu và sức nặng trống rỗng, có thể bị buộc lại, để giữ nó khỏi lang thang vô định. Quán ba nhỏ này, Kino, giấu trong một con ngõ hẻm, đã trở thành nơi đó. Và dù không hẳn là được thiết kế, nó cũng đã trở thành một nơi thoải mái đến lạ thường.

Một con mèo hoang chứ không phải ai khác đã khám phá ra Kino là nơi dễ chịu đến thế nào đầu tiên. Một con mèo cái còn bé, lông xám, có cái đuôi dài, đáng yêu. Con mèo ưa cái kệ trưng bày nằm chìm trong góc quán và thích cuộn tròn ở đó để ngủ. Kino không quá quan tâm đến con mèo, anh nghĩ chắc nó muốn được ở một mình. Anh cho nó ăn và thay nước mỗi ngày một lần, nhưng chỉ có thế. Anh cũng đục một cái cửa cho mèo để nó có thể ra vào quán lúc nào nó muốn.

***

Con mèo có thể mang lại chút may mắn cùng sự xuất hiện của nó vì sau đó, lác đác mấy vị khách cũng tới. Một số trong số họ bắt đầu đến thường xuyên, những người thích thú cái quán nhỏ bé trong ngõ hẻm này với cây liễu cổ kính, ông chủ trầm lặng tuổi trung niên, những đĩa nhạc cổ điển xoay tròn trên máy phát, và con mèo xám đương ngủ trong góc nhà. Những người này thi thoảng lại dẫn theo những vị khách mới. Dù còn lâu mới phát đạt, ít ra quán cũng kiếm lại được tiền thuê nhà. Với Kino, thế là đủ.

Gã đàn ông trẻ có mái đầu cạo bắt đầu đến sau khi quán mở độ khoảng 2 tháng. Thêm hai tháng nữa trôi qua Kino mới biết tên gã, Kamita.

Hôm đó trời mưa lất phất, cái kiểu mưa khiến ta không biết có phải đem ô hay không. Quán chỉ có ba khách, Kamita và hai gã mặc vét. Lúc đó là bảy rưỡi. Như mọi lần, Kamita ngồi trên chiếc ghế đặt cuối quầy, nhâm nhi cốc White Label với nước và đọc sách. Hai gã kia ngồi cạnh một cái bàn, cưa chai Pinot Noir. Họ đem chai rượu theo và hỏi Kino có phiền không nếu họ uống nó ở đây, với khoản phí mang đồ uống bên ngoài là 5 ngàn yên. Đây là lần đầu với Kino, mà anh cũng chẳng có lí do gì để từ chối. Họ mở chai rượu và đặt lên bàn hai chiếc ly cùng một bát hạt đồ nhắm. Cũng không vấn đề gì. Có điều họ hút thuốc nhiều quá khiến Kino, vốn ghét hút thuốc, mất thiện cảm với họ. Chẳng còn nhiều việc để làm, Kino ngồi lên một cái ghế đẩu, lắng nghe đĩa LP Coleman Hawkins với bản “Joshua Fit the Battle of Jericho.” Anh thấy màn độc tấu bass của Major Holley thật tuyệt.

Lúc đầu hai gã có vẻ hòa thuận, cùng thưởng thức rượu, nhưng sau đó bất đồng quan điểm nảy sinh về một chủ đề nào đó mà Kino chẳng biết là gì, hai gã mỗi lúc một nóng máu. Rồi một gã đứng dậy, dựng cái bàn lên làm một trong hai cái ly và cái gạt tàn đầy tro rơi xuống sàn vỡ tan. Kino vội chạy tới với cây chổi, quét dọn đống lộn xộn, đặt một cái gạt tàn và ly sạch khác lên bàn.

Kamita, lúc này Kino chưa biết tên gã, rõ ràng là thấy khó chịu với hành động của hai gã kia. Nét mặt gã không đổi, nhưng gã liên tục nhẹ nhàng gõ những ngón tay trái lên mặt quầy, như một nghệ sĩ dương cầm đang kiểm tra phím đàn. Mình phải giữ mọi chuyện dưới tầm kiểm soát, Kino nghĩ. Anh đi tới chỗ hai gã. “Xin thứ lỗi,” anh nói lịch sự, “nhưng phiền hai anh hạ giọng một chút.”

Một gã ngước lên nhìn anh bằng ánh mắt lạnh lùng rồi vươn dậy khỏi cái bàn. Đến giờ Kino mới nhận ra hắn lớn không ngờ. Không quá cao nhưng ngực nở, hai cánh tay khổng lồ, khổ người mà ta vẫn trông đợi ở một đô vật sumo.

Gã còn lại nhỏ hơn nhiều. Gầy và xanh, có cái nhìn sắc sảo, kiểu người giỏi xúi bẩy người khác. Hắn cũng chậm rãi đứng dậy, Kino nhận ra anh đang phải đối mặt với cả hai người. Rõ ràng là hai gã đã quyết định sử dụng cơ hội này để tạm dừng cuộc tranh cãi của họ và cùng nhau đối đầu với Kino. Cả hai kết hợp một cách hoàn hảo, cứ như thể họ đã âm thầm chờ tình hình này xảy đến.

“Thế mày nghĩ mày cứ chen vào ngắt lời bọn tao mà được à?” gã lớn hơn nói, giọng hắn đục và trầm.

Bộ vét họ mặc trông có vẻ đắt tiền, nhưng nhìn kỹ hơn mới thấy chúng được may rất sơ sài và tồi tàn. Không hẳn là yakuza, dù bất cứ việc gì hai gã có dính líu chắc chắn đều không đứng đắn. Gã lớn hơn cắt tóc húi cua, trong khi tóc gã đồng hành cùng hắn được nhuộm nâu và búi lại theo kiểu đuôi ngựa buộc cao. Kino thu hết can đảm để đón nhận chuyện xấu sắp xảy ra. Mồ hôi bắt đầu túa ra từ nách anh.

“Xin lỗi,” một giọng khác cất tiếng.

Kino quay lại và nhận ra Kamita đang đứng đằng sau.

“Đừng đổ lỗi cho nhân viên,” Kamita nói, chỉ Kino. “Tôi là người bảo anh ta đề nghị hai anh giữ trật tự. Ồn thế khó tập trung, tôi không đọc sách được.”

Giọng Kamita điềm tĩnh và chậm rãi hơn so với lúc bình thường. Nhưng có gì đó, vô hình, đã bắt đầu xao động.

“Không đọc sách được,” gã nhỏ hơn lặp lại, như thể để chắc rằng câu đó không có gì sai ngữ pháp.

“Gì? Mày không có nhà à?” gã lớn hỏi Kamita.

“Tôi có,” Kamita đáp. “Tôi sống gần đây.”

“Thế sao mày không về nhà mà đọc?”

“Tôi thích đọc ở đây,” Kamita nói.

Hai gã kia liếc qua nhìn nhau.

“Mang sách đây coi,” gã nhỏ hơn nói. “Để tao đọc hộ mày.”

“Tôi thích tự mình đọc, yên tĩnh,” Kamita đáp. “Vả lại tôi không thích anh phát âm sai một từ nào cả.”

“Thằng rách việc,” gã lớn nói. “Mới nực cười làm sao.”

“Mà mày tên gì?” Đuôi ngựa hỏi.

“Tên tôi là Kamita,” gã đáp. “Viết bằng chữ ‘thần’ — kami — và ‘cánh đồng’ — ta — ‘cánh đồng của thần linh.’ Nhưng nó không đọc là Kanda như anh tưởng. Nó được phát âm là Kamita.”

“Tao sẽ nhớ đấy,” gã lớn hơn nói.

“Tốt. Ký ức có thể hữu ích,” Kamita nói.

“Này, ra ngoài kia đi?” gã nhỏ hơn nói. “Ra đó muốn nói gì cũng được.”

“Được thôi,” Kamita đáp. “Nơi nào tùy anh. Nhưng trước khi đi, anh có thể thanh toán chứ? Anh sẽ không muốn gây rắc rối cho quán đâu.”

***

Kamita bảo Kino mang hóa đơn thanh toán của họ ra, gã trả chính xác số tiền cho đồ uống của gã trên quầy. Đuôi ngựa rút tờ 10 ngàn yên trong ví ra rồi quăng nó lên mặt bàn.

“Tao không cần tiền thừa,” Đuôi ngựa bảo Kino. “Nhưng sao mày không mua cho mình mấy cái ly tốt hơn nhỉ. Rượu thì đắt mà mấy cái cốc như này làm nó uống như cứt.”

“Cái quán rẻ tiền,” gã lớn hơn nói, khinh khỉnh.

“Chính xác. Quán ba rẻ tiền với khách hàng rẻ tiền,” Kamita nói. “Sao mà xứng với các anh. Phải có chỗ nào xứng hơn chứ. Mà chỗ nào thì tôi chịu.”

“Giờ thì chẳng phải mày khôn lắm à,” gã lớn hơn nói. “Mày làm tao chết cười.”

“Sau này cứ nghĩ đi, và cười lâu, cười đẹp vào,” Kamita nói.

 “Mày không định bảo tao nên đi đâu đấy chứ,” Đuôi ngựa nói. Hắn chậm rãi liếm môi, như con rắn đang định cỡ con mồi.

Gã lớn hơn mở cửa rồi bước ra ngoài, Đuôi ngựa theo sau. Có lẽ cảm nhận được bầu không khí căng thẳng, con mèo, dù trời mưa, nhảy ra ngoài theo họ.

“Anh chắc anh ổn chứ?” Kina hỏi Kamita.

“Đừng lo,” Kamita đáp, thoáng nở một nụ cười. “Anh không cần làm gì cả, anh Kino. Cứ ở yên đấy. Chuyện này sẽ qua nhanh thôi.”

Kamita ra ngoài rồi đóng cửa lại. Trời vẫn mưa, nặng hạt hơn lúc trước. Kino ngồi lên một cái ghế đẩu và chờ đợi. Bên ngoài im lắng đến lạ, anh không nghe được gì. Cuốn sách của Kamita vẫn để mở trên bàn, như con chó được huấn luyện tốt đang nằm chờ chủ. Mười phút sau, cửa mở, Kamita sải bước vào một mình.

“Anh không phiền cho tôi mượn cái khăn chứ?” gã hỏi.

Kino đưa Kamita một cái khăn sạch, gã lấy nó lau đầu. Rồi cổ, mặt, cuối cùng là cả hai tay. “Cảm ơn anh. Mọi thứ xong xuôi rồi,” gã bảo. “Hai thằng kia sẽ không vác mặt đến đây nữa đâu.”

“Có chuyện gì thế?”

Kamita chỉ lắc đầu, như thể muốn nói, “Anh không biết thì hơn.” Gã đi xuống chỗ ngồi, nốc cạn chỗ whiskey còn lại, rồi đọc tiếp trang sách đang dở.

Tối muộn hôm đó, sau khi Kamita về, Kino ra ngoài đi một vòng quanh khu phố. Căn hẻm hoang vắng và tĩnh lặng. Không có dấu hiệu nào của một cuộc chiến, không có vết máu. Anh không thể hình dung chuyện gì đã diễn ra. Anh quay lại quán để chờ thêm vài vị khách, nhưng không ai đến. Con mèo cũng không thấy về. Anh tự rót cho mình chút White Label, thêm chừng đó nước và hai viên đá nhỏ, rồi nếm thử. Không có gì đặc biệt. Nhưng đêm đó, anh cần một liều rượu mạnh trong người.


***

Khoảng một tuần sau sự cố, Kino ngủ với một khách nữ. Cô là người đầu tiên anh quan hệ từ khi anh bỏ vợ mình. Cô 30, hoặc có lẽ lớn tuổi hơn chút. Anh không chắc cô có thể coi là đẹp được không, nhưng có điều gì đó độc đáo về cô, điều gì đó đặc biệt.

Cô từng đến quán vài lần trước đó, luôn đi cùng một gã đeo kính gọng mai rùa có chòm râu dê như mốt thời beatnik những năm 50, ở trạc tuổi cô. Gã cắt tóc ngổ ngáo và không đeo cà vạt bao giờ, thế nên Kino đoán hắn không phải dạng nhân viên văn phòng điển hình. Cô thì luôn mặc váy bó sát tôn hình thể mảnh mai, quyến rũ. Họ ngồi tại quầy, thỉnh thoảng trao đổi thì thầm một hai từ trong khi nhâm nhi cocktail hay rượu sherry. Họ không ở lại lâu. Kino tưởng tượng họ thưởng thức chút đồ uống trước khi làm tình. Hoặc sau. Anh không biết trước hay sau, nhưng cách họ uống khiến anh nhớ về tình dục. Lâu và mãnh liệt. Hai người họ trông vô cảm lạ thường, đặc biệt là cô gái, Kino chưa từng thấy cô cười. Đôi lúc cô có nói chuyện với anh, nhưng chỉ là về những bản nhạc đang phát. Cô thích jazz, cũng đang tự mình sưu tập đĩa LP. “Bố tôi thường nghe loại nhạc này ở nhà,” cô kể với anh. “Nó mang lại nhiều kỷ niệm.”

Qua giọng điệu của cô, Kino không biết những kỷ niệm đó là về cha cô hay là về âm nhạc. Nhưng anh không dám hỏi.

Thực ra Kino đã cố không quá thân mật với cô. Rõ ràng gã kia không hề vui vẻ gì khi thấy anh gần gũi với cô. Có lần anh và cô nói chuyện khá lâu, trao đổi mấy mẹo về những cửa hàng đĩa thu âm cũ ở Tokyo và cách tốt nhất để bảo quản đĩa than, sau đó gã liên tục nhìn anh bằng ánh mắt lạnh lùng, nghi ngờ. Kino luôn cẩn thận giữ mình tránh khỏi mọi loại rắc rối. Không gì tệ hơn ghen tuông và hãnh diện, mà Kino cũng từng có mấy kinh nghiệm khủng khiếp không vì cái này thì vì cái kia. Dường như đôi lúc có điều gì đó ở anh làm xáo động mặt tối trong những người khác.

Thế nhưng đêm đó, cô đến quán một mình. Quán không có khách, và khi cô mở cửa, không khí mát mẻ của buổi đêm len lỏi vào. Cô ngồi tại quầy, gọi một ly rượu mạnh, bảo Kino bật vài bản nhạc của Billie Holiday. “Thật cũ càng tốt, nếu được.” Kino đặt một đĩa thu âm của hãng Columbia lên máy phát, nó có bản “Georgia on My Mind.” Cả hai lặng lẽ lắng nghe. “Anh bật luôn mặt kia được không?” cô hỏi khi đĩa chạy hết, và anh làm như cô yêu cầu.

Cô chậm rãi nhấp hết ba ly rượu mạnh, lắng nghe thêm vài đĩa nhạc — “Moonglow” của Erroll Garner, “I Can’t Get Started” của Buddy DeFranco. Ban đầu Kino còn tưởng cô đợi gã kia, nhưng cô chẳng liếc đồng hồ lấy một lần. Cô chỉ ngồi đó, nghe nhạc, đắm chìm trong suy tư, nhâm nhi ly rượu của mình.

“Bạn cô hôm nay không đến à?” Kino quyết định hỏi khi sắp đến giờ đóng cửa.

“Anh ấy không đến. Anh ấy ở rất xa,” cô đáp. Cô đứng dậy và bước đến chỗ con mèo đang ngủ. Cô nhẹ nhàng vuốt lưng nó bằng những đầu ngón tay của mình. Con mèo vẫn bình thản ngủ tiếp.

“Chúng tôi đang nghĩ tới chuyện không gặp lại nhau nữa,” cô nói.

Kino không biết trả lời sao nên anh chẳng nói gì, chỉ tiếp tục đứng thẳng người sau quầy.

“Tôi không biết nói thế nào,” cô bảo. Cô thôi vuốt ve con mèo và bước trở lại quầy, tiếng giầy cao gót lộp cộp. “Quan hệ giữa chúng tôi không hẳn… bình thường.”

“Không hẳn bình thường.” Kino nhắc lại lời cô nói mà không thực sự để ý xem thế nghĩa là gì.

Cô uống nốt chút rượu còn sót lại trong ly. “Tôi có thứ này muốn cho anh thấy, anh Kino,” cô nói.

Dù đó là gì Kino cũng không muốn thấy. Điều này thì anh chắc chắn. Nhưng anh không thể cất thành lời.

Cô cởi chiếc áo cardigan của mình ra và đặt nó lên ghế. Cô vòng hai tay ra sau lưng để cởi chiếc váy ra. Cô quay lưng về phía Kino. Ngay dưới móc áo ngực màu trắng của cô, anh thấy rải rác những đốm màu than mờ nhạt, như vết bầm tím. Chúng khiến anh nhớ lại những chòm sao trên bầu trời mùa đông. Một dải mờ nhạt những ngôi sao sắp tắt.

Cô không nói gì, chỉ phô bày tấm lưng trần về phía Kino. Như những người còn không thể hiểu câu hỏi mình được hỏi, Kino chỉ nhìn chằm chằm vào những vết đốm. Cuối cùng, cô kéo khóa lên và quay mặt lại với anh. Cô khoác áo cardigan lên và sửa lại mái tóc.

“Đó là vết bỏng thuốc lá,” cô nói đơn giản.

Kino không biết phải nói gì, nhưng anh phải nói gì đó. “Ai làm thế với cô?” anh hỏi, giọng khô khốc.

Cô không trả lời, và Kino nhận ra anh cũng không mong đợi một câu trả lời.

“Có cả ở những chỗ khác nữa,” cuối cùng cô nói, giọng trơ lỳ cảm xúc. “Những chỗ… hơi khó để lộ.”

***

Từ đầu Kino đã cảm thấy có điều gì đó khác thường về người phụ nữ này. Điều gì đó gợi lên một phản ứng bản năng, cảnh báo anh đừng dính líu đến cô. Nói chung anh là người thận trọng. Nếu thực sự cần làm tình, anh hoàn toàn có thể tìm đến một cô gái điếm. Mà đó là còn không phải như thể anh bị cô thu hút.

Nhưng đêm đó cô thực sự khao khát có một người đàn ông làm tình cùng cô, và có vẻ như anh chính là người đàn ông đó. Đôi mắt cô mơ màng, hai đồng tử giãn ra một cách lạ lùng, nhưng có ánh cương quyết trong đó không cho phép được rút lui. Kino không có sức mạnh để chống lại.

Anh khóa cửa quán, rồi cả hai lên lầu. Trong phòng ngủ, cô mau chóng cởi bộ váy, tụt quần lót ra và cho anh thấy những chỗ hơi khó để lộ. Lúc đầu Kino không thể không ngoảnh mặt đi, nhưng rồi anh cũng chịu nhìn. Anh không thể, cũng không muốn hiểu tâm trí của một gã đàn ông dám làm những điều độc ác, hay của một người phụ nữ sẵn sàng chịu đựng. Đó là cảnh tượng hoang dã ở một hành tinh cằn cỗi, cách nơi Kino sống nhiều năm ánh sáng.

Cô cầm tay anh và đưa nó lần lượt chạm qua từng vết sẹo. Có những vết sẹo trên ngực cô, cạnh âm đạo cô. Anh lần theo những đốm sẫm màu, chai sạn, như thể dùng bút chì để nối các dấu chấm. Chúng tạo nên một hình thù gợi lại trong anh điều gì đó mà anh không thể nhớ ra.

Họ làm tình trên sàn tatami. Không nói chuyện, không màn dạo đầu, không có cả thời gian để tắt đèn hay trải futon. Lưỡi cô lướt xuống cổ họng anh, móng tay cô bấu vào lưng anh. Dưới ánh sáng, như hai con thú đói, họ ngấu nghiến xác thịt họ khao khát. Khi bình minh bên ngoài dần lên, họ bò vào futon rồi ngủ, như thể bị kéo vào bóng đêm.

Gần trưa Kino mới dậy, cô gái đã đi. Anh cảm thấy như thể anh vừa có một giấc mơ rất thực, nhưng tất nhiên đó không phải là mơ. Lưng anh hằn lên những vết cào cấu, cánh tay anh còn in dấu răng, dương vật anh hơi nhức với cơn đau âm ỉ. Mấy sợi tóc đen dài vương quanh chiếc gối trắng của anh, còn tấm nệm đậm mùi hương anh chưa từng gặp khi trước.

Cô đến quán vài lần sau đó, luôn đi cùng gã râu dê. Họ ngồi tại quầy, nói chuyện bằng giọng nhẹ nhàng trong khi uống một hoặc hai ly cocktail, rồi đi. Cô với Kino cũng nói chuyện đôi chút, chủ yếu là về âm nhạc. Giọng cô vẫn như trước đây, như thể cô không hề nhớ chuyện gì đã xảy ra giữa họ đêm đó. Nhưng Kino có thể nhận ra ánh mắt ham muốn trong đôi mắt cô, như một tia sáng nhạt mờ sâu dưới đường hầm. Anh chắc chắn thế. Nó mang mọi thứ sống động trở lại trong anh — vết cấu của móng tay cô trên lưng anh, cơn nhức nơi dương vật anh, cái lưỡi dài, trơn của cô, mùi hương trên giường anh.

Trong lúc Kino và cô nói chuyện, gã đi cùng cô luôn quan sát cẩn thận từng biểu hiện và hành vi của anh. Kino cảm nhận được điều gì đó nhớp nháp quấn quanh cặp đôi này, như thể có một bí mật sâu xa mà chỉ hai người họ mới biết.

***

Cuối mùa hè, vụ li hôn của Kino đã xong, một buổi chiều anh với vợ anh gặp nhau ở quán, trước giờ mở cửa, để bàn mấy công việc cuối cùng.

Các vấn đề pháp lý nhanh chóng được giải quyết, cả hai đều đã ký những tài liệu cần thiết. Vợ Kino mặc bộ váy màu xanh dương mới, cắt tóc ngắn. Trông cô khỏe mạnh và vui vẻ hơn anh từng thấy. Cô đã bắt đầu cuộc sống mới, mà chắc là rất trọn vẹn. Cô liếc quanh quán ba. “Quán đẹp thật đấy,” cô nói. “Tĩnh lặng, sạch sẽ, dịu êm — rất giống anh.” Sau đó là một lúc im lặng. “Nhưng không có gì ở đây thực sự thay đổi anh cả”: Kino hình dung đó là những lời cô muốn nói.

“Em uống gì không?”

“Chút rượu vang đỏ, nếu anh có.”

Kino lấy ra hai chiếc ly và rót một chút Napa Zinfandel. Họ uống trong im lặng. Họ không định nâng cốc mừng li hôn. Con mèo nhẹ nhàng bước đến và bất ngờ nhảy vào lòng Kino. Anh vuốt ve phía sau tai nó.

“Em phải xin lỗi anh,” cuối cùng vợ anh cất tiếng.

“Vì cái gì?” Kino hỏi.

“Vì làm tổn thương anh,” cô đáp. “Anh có tổn thương, một chút, đúng không?”

“Chắc thế,” Kino nói sau một lúc nghĩ ngợi. “Dù sao anh cũng là người. Anh có tổn thương. Nhưng nhiều hay ít thì anh không biết.”

“Em muốn gặp anh để nói lời xin lỗi.”

Kino gật đầu. “Em xin lỗi rồi thì anh chấp nhận. Đừng nghĩ ngợi gì chuyện đó nữa.”

“Em muốn kể với anh mọi chuyện, nhưng chỉ là em không biết nói thế nào.”

“Nhưng dù sao không phải là chúng ta đã đến cùng một chỗ à?”

“Có lẽ thế,” vợ anh đáp,

Kino nhấp một ngụm rượu.

“Đó chẳng phải lỗi của ai,” anh nói. “Anh không nên về sớm một ngày. Hoặc anh lẽ ra nên báo cho em biết. Thế thì chúng ta sẽ chẳng phải trải qua những chuyện thế này.”

Vợ anh không nói gì.

“Em gặp gã đó từ bao giờ?” Kino hỏi.

“Em nghĩ mình không nên quan tâm đến chuyện này.”

“Ý em là tốt hơn thì anh không nên biết, phải không? Có lẽ em nói đúng đấy,” Kino thừa nhận. Anh vẫn đang vuốt ve con mèo, nó liên tục kêu gừ rừ. Một lần đầu tiên khác.

“Có thể em không có quyền nói những lời này,” vợ anh nói, “nhưng em nghĩ sẽ tốt hơn nếu anh quên đi những chuyện trước đây và tìm một ai đó khác.”

“Chắc thế,” Kino đáp.

“Em biết sẽ có người phù hợp với anh. Không khó để tìm được đâu. Em không thể là người đó cho anh, em đã làm những chuyện tồi tệ. Em thấy rất tội lỗi. Nhưng từ đầu đã có gì đó sai lầm giữa hai ta, giống như cài khuy áo lệch. Em mong anh có được cuộc sống bình thường, hạnh phúc.”

Cài khuy áo lệch, Kino nghĩ.

Anh nhìn bộ váy mới cô đang mặc. Họ đang ngồi đối diện nhau nên anh không biết phía sau lưng cô là dây kéo hay khuy cài. Cơ thể của cô không còn là của anh, vậy nên anh chỉ có thể hình dung ra nó. Khi nhắm mắt lại, anh thấy vô số vết bỏng màu nâu sậm len lỏi trên khắp tấm lưng trắng muốt của cô, như một đàn sâu bọ. Anh lắc đầu để xua đi những hình ảnh đó, nhưng vợ anh dường như lại hiểu nhầm điều này.

Cô nhẹ nhàng đặt tay cô lên tay anh. “Em xin lỗi. Em thực sự xin lỗi.”

Mùa thu đến và con mèo biến mất.

Mất mấy ngày Kino mới nhận ra nó đã đi. Còn mèo này, vẫn chưa có tên, đến quán bất cứ lúc nào nó muốn và thỉnh thoảng lại không xuất hiện một thời gian, thế nên nếu Kino có không thấy nó một tuần hay chục ngày anh cũng không quá lo lắng. Anh rất thích con mèo, nó cũng có vẻ tin tưởng anh. Nó như lá bùa may mắn của quán. Kino có ấn tượng rõ ràng là chỉ cần nó vẫn ngủ trong góc thì sẽ không có chuyện gì xấu xảy ra. Nhưng khi hai tuần trôi qua, anh bắt đầu lo lắng. Sau ba tuần, Kino bụng bảo dạ con mèo sẽ không quay về.

Trong lúc con mèo biến mất, Kino bắt đầu để ý tới những con rắn bên ngoài, ở gần ngôi nhà.

Con đầu tiên anh gặp màu nâu xỉn và dài. Nó ở trong bóng cây liễu trong sân trước, thong thả trườn đi. Khi phát hiện ra nó, Kino đang mở khóa cửa với một túi đồ tạp phẩm trong tay. Rất hiếm gặp rắn ở giữa Tokyo này. Anh hơi ngạc nhiên, nhưng không lo lắng. Đằng sau ngôi nhà là Bảo tàng Nezu có những khu vườn lớn. Một con rắn sống ở đó thì có gì là bất thường đâu.

Nhưng hai hôm sau, khi gần giữa trưa anh ra mở cửa để lấy báo, anh thấy con khác ở cùng một chỗ. Nó màu hơi xanh, nhỏ hơn con hôm nọ, trông hơi lớt nhớt. Khi thấy Kino, con rắn dừng lại, khẽ ngóc đầu lên, nhìn anh chằm chằm như thể nó quen anh vậy. Kino lưỡng lự, không biết phải làm gì, rồi con rắn từ từ hạ đầu xuống và biến mất trong bóng râm. Mọi chuyện khiến Kino rợn người.

Ba hôm sau, anh phát hiện con rắn thứ ba. Nó cũng nằm dưới tán cây liễu trong sân trước. Con này nhỏ hơn nhiều so với hai con trước, màu đen. Kino không biết gì về lũ rắn, nhưng anh có cảm giác con này là nguy hiểm nhất. Nó nhìn như rắn độc. Ngay khi nhận thấy anh có mặt, nó liền lủi vào đám cỏ. Ba con rắn trong vòng một tuần, bất luận xem xét thế nào cũng là quá nhiều. Có gì đó khác lạ đang diễn ra.

Kino gọi điện cho bác anh ở Izu. Sau khi trò chuyện về những người hàng xóm, anh hỏi bà đã bao giờ thấy rắn trong ngôi nhà ở Aoyama chưa.

“Rắn á?” bác anh hỏi lớn, giọng ngạc nhiên. “Bác nhớ là sống ở đó lâu lắm rồi mà chưa thấy rắn bao giờ. Hay đó là dấu hiệu của động đất nhỉ. Lũ động vật cảm nhận được thiên tai sắp đến và hành động kỳ quái lắm.”

“Nếu thế thật thì có lẽ cháu nên tích trữ đồ ăn dự phòng,” Kino nói.

“Được đấy. Sẽ có ngày Tokyo phải chịu động đất lớn thôi.”

“Nhưng lũ rắn nhạy cảm với động đất thật à bác?”

“Bác còn chẳng biết nó nhạy cảm với cái gì. Nhưng lũ rắn thông minh lắm. Trong truyền thuyết cổ, nó thường giúp đỡ mọi người. Nhưng khi có một con rắn dẫn đường, cháu không biết theo hướng đó tốt hay xấu được đâu. Phần lớn là có cả tốt cả xấu.”

“Mơ hồ thế.”

“Phải đấy. Rắn thực ra là loài sinh vật rất mơ hồ. Trong truyền thuyết, con rắn lớn nhất, khôn ngoan nhất sẽ giấu trái tim của nó ở đâu đó ngoài cơ thể, thế nên nó không thể bị giết được. Muốn giết nó thì phải tìm đến nơi ẩn náu khi nó không có ở đó, xác định chỗ trái tim đang đập, rồi cắt nó làm đôi. Phải nói là không dễ dàng gì đâu.”

Làm sao bác anh biết được những chuyện này?

“Có lần bác xem được một chương trình trên đài NHK so sánh những truyền thuyết khác nhau trên thế giới,” bà giải thích, “có một ông giáo sư đại học nào đó đã nói chuyện này. TV có thể hữu ích lắm đấy, có thời gian cháu nên xem nhiều TV vào.”

Kino bắt đầu cảm thấy như thể ngôi nhà bị lũ rắn bao quanh. Anh cảm nhận được sự hiện diện trong câm lặng của chúng. Nửa đêm khi anh đóng quán, khu phố tĩnh lặng, không một tiếng động nào ngoại trừ tiếng còi cấp cứu thỉnh thoảng cất lên. Tĩnh lặng đến nỗi anh gần như nghe được tiếng rắn trườn. Anh đóng một tấm bảng bịt kín cái cửa ra vào mà hồi trước anh đục cho con mèo, như thế sẽ không có con rắn nào chui được vào nhà.

***

Một đêm, gần mười giờ, Kamita xuất hiện. Gã gọi một bia, tiếp đến là một cốc White Label đúp như mọi khi, và ăn món bắp cải nhồi. Gã đến muộn và ở lại lâu như thế quả là bất thường. Thỉnh thoảng, gã lại ngước mắt khỏi trang sách để nhìn chăm chăm vào bức tường đối diện, như thể đang cân nhắc điều gì. Gần đến giờ đóng cửa, gã vẫn ở lại, cho đến khách chỉ còn mỗi gã.

“Anh Kino,” Kamita nói hơi kiểu cách, sau khi thanh toán. “Tôi thấy rất tiếc là đã đến lúc.”

“Đã đến lúc?” Kino nhắc lại.

“Anh sẽ phải đóng quán. Dù chỉ là tạm thời.”

Kino nhìn chằm chằm vào Kamita, không biết trả lời thế nào. Đóng quán?

Kamita liếc một vòng quanh quán ba trống vắng, rồi quay lại với Kino. “Anh chưa nắm được hết những gì tôi đang nói đúng không?”

“Tôi nghĩ thế.”

“Thực sự tôi rất thích quán này,” Kamita nói, như thể đang tâm sự. “Yên tĩnh, tôi có thể ngồi đọc, có thể nghe nhạc. Tôi đã rất vui khi anh đến mở quán ở đây. Nhưng tiếc là đang có thứ gì đó mất tích.”

“Mất tích?” Kino hỏi. Anh hoàn toàn không biết như thế nghĩa là sao. Tất cả những gì anh có thể hình dung chỉ là một tách trà có con chíp nhỏ xíu đính trên mép.

“Con mèo xám sẽ không quay lại,” Kamita nói. “Ít nhất là trong thời gian này.”

“Vì nơi này đang thiếu thứ gì à?”

Kamita không trả lời.

Kino dõi theo ánh mắt của Kamita, cẩn thận quan sát xung quanh quán ba, nhưng anh chẳng thấy có gì khác thường. Dù thế, anh có cảm giác nơi đây đang trống trải hơn bao giờ hết, thiếu sức sống và màu sắc. Thứ gì đó vượt ra khỏi cảm giác chỉ-tạm-đóng-cửa-buổi-đêm thông thường.

Kamita cất tiếng. “Anh Kino, tôi biết anh không phải hạng người sẵn sàng làm điều sai trái. Nhưng đôi khi trong thế giới này, chỉ không làm điều sai trái thôi là chưa đủ. Một số người lợi dụng khoảng trống đó làm lỗ hổng. Anh hiểu tôi đang nói gì chứ?”

Kino không hiểu.

“Cứ cân nhắc nó cẩn thận,” Kamita nói, nhìn thẳng vào mắt Kino. “Đó là một vấn đề quan trọng, đáng được suy nghĩ nghiêm túc. Dù câu trả lời có thể không đến dễ dàng như thế.”

“Anh đang nói là có rắc rối nghiêm trọng xảy ra, không phải vì tôi đã làm gì sai mà là vì tôi không làm gì đúng à? Rắc rối liên quan đến quán ba này, hay đến tôi?”

Kamita gật đầu. “Anh hiểu thế cũng được. Nhưng tôi không đổ lỗi cho mình anh, anh Kino. Tôi cũng có lỗi vì không nhận ra nó sớm hơn. Đáng lẽ tôi cần để tâm hơn. Đây là một nơi thoải mái không chỉ cho tôi mà còn cho bất cứ ai.”

“Vậy giờ tôi phải làm gì?” Kino hỏi.

“Tạm đóng quán lại và đi đâu đó thật xa. Lúc này anh không làm gì khác được đâu. Tôi nghĩ tốt nhất anh nên đi trước khi cơn mưa dầm tiếp theo lại tới. Thứ lỗi cho tôi, nhưng anh có đủ tiền cho một chuyến đi xa chứ?”

“Chắc tôi sẽ trang trải được một thời gian.”

“Tốt. Đến lúc đó anh có thể nghĩ về những chuyện sẽ tới sau đó.”

“Nhưng anh là ai?”

“Tôi chỉ là một gã tên Kamita,” Kamita đáp. “Viết bằng chữ kami, ‘thần,’ và ta, ‘cánh đồng,’ nhưng không đọc là ‘Kanda.’ Tôi sống ở gần đây đã lâu rồi.”

Kino quyết định hỏi tiếp. “Anh Kamita, tôi có câu hỏi này. Anh thấy rắn quanh đây bao giờ chưa?”

Kamita không trả lời. “Đây là những gì cần làm. Đi thật xa, và đừng ở lại một nơi quá lâu. Mỗi thứ hai và thứ năm nhớ gửi bưu thiếp. Như thế tôi có thể biết anh vẫn ổn.”

“Bưu thiếp?”

“Bưu thiếp ảnh ở bất cứ đâu anh đến.”

“Nhưng tôi nên gửi cho ai?”

“Anh có thể gửi cho bác anh ở Izu. Đừng viết tên riêng hay lời nhắn nào. Chỉ ghi địa chỉ gửi đến. Điều này rất quan trọng, đừng quên.”

Kino nhìn gã ngạc nhiên. “Anh biết bác tôi?”

“Phải, tôi biết bà khá rõ. Thực ra, bà đã nhờ tôi để mắt tới anh, để đảm bảo không có gì xấu xảy ra. Có vẻ tôi đã thất bại.”

Gã này là ai thế nhỉ? Kino tự hỏi mình.

“Anh Kino, khi tôi biết đã đến lúc anh có thể trở về, tôi sẽ liên lạc với anh. Cho đến lúc đó, hãy tránh xa nơi này. Anh hiểu chứ?”

***

Đêm đó, Kino gói ghém đồ đạc cho chuyến đi. Tôi nghĩ tốt nhất anh nên đi trước khi cơn mưa dầm tiếp theo lại tới. Thông báo tới quá đột ngột, lý lẽ của nó lại quá tầm hiểu biết của anh. Nhưng lời lẽ của Kamita có sức thuyết phục kỳ lạ vượt qua cả mọi lý lẽ. Kino không nghi ngờ gã. Anh nhét mấy bộ quần áo cùng đồ dùng vệ sinh cá nhân vào một cái ba lô cỡ vừa, cái mà anh vẫn dùng trong mấy chuyến đi kinh doanh. Khi bình minh lên, anh gắn một tờ thông báo lên cửa: “Xin thứ lỗi, quán tạm đóng một thời gian.”

Đi xa, Kamita bảo anh. Nhưng anh không biết thực ra nên đi đâu. Có nên đi lên phương Bắc? Hay về phía Nam? Anh quyết định đi theo một tuyến đường anh thường đi khi còn bán giày chạy. Anh bắt một chuyến xe buýt tốc hành đến Takamatsu. Anh sẽ đi một vòng quanh Shikoku, sau đó đến Kyushu.

Anh đặt phòng tại một khách sạn kinh doanh gần Nhà ga Takamatsu và ở lại đó ba ngày. Anh lang thang khắp thành phố và đi xem một vài bộ phim. Các rạp đều vắng khách, còn phim thì chán ngắt, không có ngoại lệ. Khi trời tối, anh trở về phòng và xem TV. Anh nghe theo lời khuyên của bác và xem mấy chương trình giáo dục, nhưng chúng chẳng đem lại thông tin gì hữu ích. Ngày thứ hai ở Takamatsu là vào thứ năm nên anh đi mua một tấm bưu thiếp ở cửa hàng bách hóa, dán tem rồi gửi nó cho bác anh. Như Kamita hướng dẫn, anh chỉ ghi tên và địa chỉ của bác.

“Cứ cân nhắc nó cẩn thận,” Kamita đã bảo anh thế. “Đó là một vấn đề quan trọng, đáng được suy nghĩ nghiêm túc.” Nhưng dù có có xem xét nghiêm túc đến cỡ nào, anh cũng chẳng ngộ ra được vấn đề.

***

Mấy hôm sau, Kino đặt phòng ở một khách sạn kinh doanh giá rẻ gần Nhà ga Kumamoto, ở Kyushu. Trần thấp, giường hẹp, chật chội, TV nhỏ, bồn tắm bé tí, tủ lạnh nhỏ xập xệ. Anh thấy mình như thể một gã khổng lồ lúng túng, vụng về. Nhưng trừ chuyến đi đến cửa hàng tạp hóa gần đó, anh giấu mình trong phòng cả ngày. Ở cửa hàng, anh mua một chai whiskey nhỏ, ít nước khoáng, chút bánh quy để ăn nhẹ. Anh nằm trên giường, đọc sách. Khi đọc đã mệt, anh xem TV. Khi xem TV đã mệt, anh đọc.

Ngày thứ ba ở Kumamoto. Anh vẫn còn tiền trong tài khoản tiết kiệm và nếu anh muốn, anh thừa sức thuê phòng ở một khách sạn tốt hơn nhiều. Nhưng anh cảm thấy với mình, chỗ ở như giờ là đủ. Nếu ở trong một không gian nhỏ như thế này, anh không phải suy nghĩ điều gì không cần thiết, mọi thứ anh cần đều nằm trong tầm với. Anh đột nhiên biết ơn vì điều này. Tất cả những gì anh muốn là chút âm nhạc. Teddy Wilson, Vic Dickenson, Buck Clayton — đôi lúc anh mong đến tuyệt vọng được nghe những bản jazz cũ với kỹ thuật ổn định, đáng tin cậy và hợp âm đơn giản của họ. Anh muốn cảm nhận niềm vui thuần khiết khi biểu diễn, sự lạc quan tuyệt vời của họ. Nhưng bộ sưu tập đĩa nhạc của anh đang ở rất xa. Anh mường tượng ra quán của anh, vắng lặng từ khi đóng cửa. Con hẻm, cây liễu lớn. Người ta đọc thông báo anh dán rồi rời đi. Còn con mèo thì sao? Nếu nó về, nó sẽ thấy cánh cửa đã bị bịt kít. Lũ rắn có còn lặng lẽ bao vây căn nhà không?

Đối diện cửa sổ phòng trên tầng 8 của anh là cửa sổ của một tòa nhà văn phòng. Từ sáng đến tối, anh dõi theo những con người làm việc ở đó. Anh không biết họ kinh doanh gì. Những người đàn ông đeo cà vạt đi ra đi vào, trong khi những người phụ nữ gõ máy tính, trả lời điện thoại, sắp xếp hồ sơ. Không hẳn là cảnh tượng thu hút được sự chú ý. Ngoại hình và quần áo của những người làm việc tại đó bình thường, thậm chí là tầm thường. Kino quan sát họ hàng giờ chỉ vì một nhẽ đơn giản: anh không có việc gì khác để làm. Và anh bất ngờ, ngạc nhiên phát hiện ra những người đó đôi lúc có vẻ hạnh phúc đến nhường nào. Một số thỉnh thoảng còn phá lên cười. Tại sao? Làm việc cả ngày trong một văn phòng ảm đạm với những thứ trông hoàn toàn tẻ nhạt (ít nhất là đối với Kino) — sao họ có thể làm được và vẫn thấy thật hạnh phúc? Có phải có những bí mật ở đó mà anh không thể hiểu được?

Đã đến lúc lên đường lần nữa. Đừng ở lại một nơi quá lâu, Kamita bảo anh như vậy. Nhưng thế nào đó Kino lại không thể quyết tâm rời khỏi cái khách sạn nhỏ chật hẹp này ở Kumamoto. Anh không thể nghĩ được nơi nào anh muốn đến. Thế giới là một đại dương bao la không có điểm mốc, còn chiếc thuyền nhỏ Kino lại mất bản đồ và mỏ neo. Khi trải tấm bản đồ Kyushu để tìm một nơi đi tiếp, anh cảm thấy buồn nôn, như thể bị say sóng. Anh nằm xuống giường và đọc sách, thỉnh thoảng lại ngước lên để ngắm nhìn những người trong văn phòng phía bên kia đường.

Hôm đó là thứ hai, thế nên anh mua một tấm bưu thiếp ở cửa hàng lưu niệm của khách sạn có hình chụp Lâu đài Kumamoto, viết tên và địa chỉ của bác anh, rồi dán tem vào. Anh cầm tấm bưu thiếp một lúc, lơ đãng nhìn chăm chăm tòa lâu đài. Một bức ảnh khuôn sáo, thứ mà ta thường thấy trên các tấm bưu thiếp: tòa tháp khổng lồ cao vút trước nền trời xanh với những quầng mây trắng. Dù có nhìn bức ảnh lâu thế nào, anh cũng không thể tìm ra mối liên hệ giữa anh và tòa lâu đài đó. Rồi trong cơn thôi thúc, anh lật mặt sau tấm bưu thiếp lại và viết lời nhắn cho bác anh:

Bác khỏe không? Lưng bác mấy hôm nay sao rồi? Bác thấy đấy, cháu vẫn đang đi du lịch một mình. Đôi lúc cháu thấy như thể cháu nửa trong suốt. Kiểu như bác có thể nhìn xuyên qua nội tạng của cháu, như một con mực tươi mới bắt. Còn đâu cháu vẫn ổn. Hi vọng sớm được đến thăm bác. Kino

Kino không chắc điều gì đã thúc giục anh viết. Kamita đã cấm làm thế. Nhưng Kino không kiềm chế được bản thân. Bằng cách nào đó mình phải kết nối lại với thực tế, anh nghĩ, hoặc không mình sẽ không còn là mình. Mình sẽ trở thành một người không còn tồn tại. Trước khi anh có thể đổi ý, anh vội vã đi tới một hộp thư gần khách sạn và bỏ tấm bưu thiếp vào trong.

***

Khi anh tỉnh dậy, đồng hồ đặt cạnh giường chỉ 2 giờ 15. Có ai đó đang gõ cửa phòng anh. Tiếng gõ không lớn nhưng chắc, gọn, như tiếng gõ đinh của một tay thợ mộc lành nghề. Tiếng gõ đó kéo Kino ra khỏi một giấc ngủ sâu cho đến khi ý thức của anh tỉnh táo một cách hoàn toàn, thậm chí đến tàn nhẫn.

Kino biết tiếng gõ nghĩa là gì. Anh biết anh phải ra khỏi giường và mở cửa. Dù ai đang gõ cũng không có sức mạnh để mở nó từ bên ngoài. Nó phải được chính tay Kino mở.

Anh nhận ra chuyến thăm này chính xác là những gì anh đang mong đợi, nhưng đồng thời cũng là những gì anh lo sợ trên hết. Đó là sự mơ hồ: níu kéo một khoảng không giữa hai thái cực. “Anh có tổn thương, một chút, đúng không?” vợ anh từng hỏi. “Dù sao anh cũng là người. Anh có tổn thương,” anh đáp. Nhưng điều đó không đúng. Ít nhất một nửa của nó là dối trá. Mình chưa đủ tổn thương khi lẽ ra phải thế, Kino thừa nhận với chính mình. Khi lẽ ra mình phải cảm thấy đau đớn thực sự, mình lại dập tắt nó. Mình không muốn giải quyết, nên mình tránh phải đối mặt. Đó là lí do giờ đây trái tim mình trống rỗng. Lũ rắn đã nắm lấy nơi đó để cố gắng che giấu trái tim lạnh lùng đang đập của chúng.

“Đây là một nơi thoải mái không chỉ cho tôi mà còn cho bất cứ ai,” Kamita từng nói. Cuối cùng Kino cũng hiểu ý gã là gì.

 Kino trùm chăn lên, nhắm mắt lại, lấy hai tay bị tai. Mình sẽ không nhìn, mình sẽ không nghe, anh tự nhủ. Nhưng anh không thể át đi tiếng gõ. Ngay cả khi anh chạy tới nơi tận cùng trái đất và nhét đầy đất sét vào tai, chỉ cần anh còn sống, những tiếng gõ sẽ không ngừng bám theo. Đó không phải là tiếng gõ cửa khách sạn. Đó là tiếng gõ cửa trái tim anh. Ta không thể thoát khỏi âm thanh đó.

Anh không chắc thời gian đã trôi qua bao lâu, nhưng nhận ra tiếng gõ đã dừng lại. Căn phòng tĩnh lặng như phía bên kia mặt trăng. Nhưng Kino vẫn nằm trong chăn. Anh phải cảnh giác. Thứ bên ngoài cánh cửa của anh sẽ không bỏ cuộc dễ dàng đến thế. Nó không vội vã. Mặt trăng chưa xuất hiện. Chỉ có những chòm sao cằn cỗi mờ nhạt lốm đốm trên bầu trời. Trong một khoảng rất lâu, thế giới thuộc về những sinh linh khác. Chúng có rất nhiều phương pháp. Chúng có thể có được thứ chúng muốn bằng mọi cách. Gốc rễ của bóng đêm có thể lan khắp mọi nơi dưới lòng đất. Kiên nhẫn qua thời gian, lần mò những điểm yếu, chúng có thể phá vỡ tảng đá vững chắc nhất.

Cuối cùng, như Kino đoan chắc, tiếng gõ lại vang lên. Nhưng lần này nó đến từ hướng khác. Gần hơn nhiều so với trước. Dù ai đang gõ cũng đang đứng ngay ngoài cửa sổ cạnh giường anh. Bám vào bức tường của tòa nhà, tám tầng trên cao, gõ-gõ-gõ lên tấm kính đầy những vệt mưa.

Tiếng gõ giữ cùng một nhịp. Hai lần. Rồi hai lần nữa. Cứ thế cứ thế mà không dừng lại. Như âm thanh của một nhịp tim có cảm xúc.

Tấm rèm đang mở. Trước khi ngủ thiếp đi, anh đang xem hình thù những vết mưa đọng trên mặt kính. Kino có thể hình dung ra anh sẽ thấy gì ngoài kia nếu thò đầu khỏi chăn. Không — anh không hình dung ra được. Anh phải dập tắt khả năng tưởng tượng ra bất cứ thứ gì. Mình không nên nhìn nó, anh tự nhủ. Dù có trống rỗng thế nào, nó vẫn là trái tim mình. Vẫn còn chút hơi ấm con người trong đó. Ký ức, như rong biển cuộn quanh bãi cọc trên bờ, lặng lẽ chờ thủy triều dâng. Đó là những cảm xúc, nếu bị cắt sẽ chảy máu. Mình không thể để chúng lang thang đâu đó ngoài tầm hiểu biết của mình.

“Ký ức có thể hữu ích,” Kamita từng nói. Một ý nghĩ bất ngờ vụt đến với Kino: Kamita phần nào đã gắn kết với cây liễu già trước nhà. Anh không nắm được chính xác điều này có ý nghĩa ra sao, nhưng một khi tư tưởng đã bám chặt lấy anh, mọi thứ trở nên dễ hiểu.

Kino hình dung ra những phiến lá phủ đầy màu xanh, trĩu nặng võng xuống gần mặt đất. Mùa hè, chúng cho khoảnh sân bóng mát. Ngày mưa, những giọt vàng lấp lánh trên đám cành mềm mại. Ngày gió, chúng đung đưa như một trái tim thao thức, và những con chim nhỏ bay qua, rít lên với nhau, đáp xuống những cành cây mỏng, dẻo dai, chỉ để bay lên lần nữa.

Dưới tấm chăn, Kino cuộn mình như một con sâu, nhắm mắt thật chặt và nghĩ về cây liễu. Lần lượt, anh hình dung ra những đặc tính của nó — màu sắc, hình dạng, chuyển động. Anh cầu nguyện cho bình minh tới. Tất cả những gì anh có thể làm là chờ đợi như vậy, kiên nhẫn, cho đến khi những tia sáng ló rạng, lũ chim thức dậy và bắt đầu ngày mới của chúng.  Tất cả những gì anh có thể làm là tin vào lũ chim, vào mọi loài chim với đôi cánh và cái mỏ của chúng. Cho đến lúc đó, anh không thể để lòng mình trống rỗng. Khoảng không đó, chân không mà nó tạo ra, sẽ hút chúng vào.

Khi cây liễu không thôi là chưa đủ, Kino nghĩ về con mèo xám gầy và sở thích rong biển nướng của nó. Anh nhớ Kamita ngồi tại quầy, đắm chìm trong cuốn sách, những vận động viên điền kinh trẻ vượt qua các buổi tập luyện lặp đi lặp lại đến kiệt sức trên một đường đua, bản độc tấu “My Romance” đáng yêu của Ben Webster. Anh nhớ vợ anh trong bộ váy mới màu xanh dương, mái tóc tỉa ngắn. Anh hi vọng cô đang sống khỏe mạnh, hạnh phúc trong căn nhà mới. Không có, anh hi vọng, bất kỳ vết thương nào trên cơ thể cô. Em đã xin lỗi trước mặt mình, và mình chấp nhận lời xin lỗi đó, anh nghĩ. Mình không cần học cách lãng quên mà là cần học cách tha thứ.

Nhưng dường như dòng chảy thời gian không được cố định đúng cách. Sức nặng đẫm máu của lòng ham muốn và mỏ neo han gỉ của nỗi ăn năn đã chặn dòng chảy bình thường của nó. Cơn mưa triền miên, những chiếc kim đồng hồ lẫn lộn, những con chim vẫn đương say ngủ, một nhân viên bưu điện vô danh lặng lẽ xếp chồng bưu thiếp, bộ ngực đáng yêu của vợ anh nảy mãnh liệt trong không khí, thứ gì đó ngoan cố gõ lên cửa sổ. Như thể nhịp đập luôn đều đặn này dụ anh xuống sâu hơn trong một mê cung khơi gợi. Thình thịch, thình thịch — rồi lại lần nữa, thình thịch. “Đừng nhìn đi đâu, hãy nhìn thẳng vào nó,” ai đó thì thầm vào tai anh. “Trái tim ngươi trông như thế đấy.”

Những cành liễu đung đưa trong cơn gió đầu hè. Từ một căn phòng tối nhỏ, đâu đó bên trong Kino, một bàn tay ấm áp vươn tới anh. Nhắm mắt, anh cảm thấy bàn tay đó đặt trên bàn tay anh, nhẹ nhàng và rất thật. Anh đã bỏ quên điều này, tách biệt khỏi nó quá lâu. Phải, mình bị tổn thương. Rất, rất sâu sắc. Anh nói với chính mình. Và khóc.

Trong lúc đó cơn mưa vẫn chưa chịu buông tha, dầm thế giới trong cơn ớn lạnh. ♦

 

Bản dịch © 2015 Nguyễn Huy Hoàng

 

Ghi chú của người dịch:

• Nhân vật chính, Kino (木野), cũng giống Haruki: mở quán rượu và thích nhạc jazz. Về sở thích này, có thể tìm hiểu thêm qua essay “Jazz Messenger” của ông.
• Tên của Kamita được viết theo lối kanji là 神田, theo lời nhân vật, dạng hiragana là かみた (Kamita) chứ không phải かんだ (Kanda).
• Các từ tiếng Nhật được giữ nguyên trong bản tiếng Anh (do đặc thù văn hóa), bản tiếng Việt cũng vậy:
1. Yakuza: các tổ chức xã hội đen, băng đảng tội phạm truyền thống ở Nhật.
2. Tatami: nệm lót sàn truyền thống của Nhật.
3. Futon: bộ giường truyền thống của Nhật, gồm có nệm, chăn, gối… Có thể gấp gọn lại và trải ra (trên nền tatami) khi cần.

Kim Kỳ sưu tầm

Xem thêm...

Truyện Ngắn: Tiếng chuông xưa

Tiếng chuông xưa

Truyện ngắn của 

Hwang Sun-won (Hàn Quốc)

ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM:

 Hwang Sun-won (1915 – 2000) là một trong những nhà văn Hàn Quốc nổi tiếng  nhất thế kỷ XX. Ông sinh ra gần Bình Nhưỡng dưới thời kỳ thuộc Nhật. Khi bán đảo Triều Tiên bị chia cắt, ông cùng gia đình di cư xuống miền nam, sau đó giảng dạy môn Văn học Hàn Quốc tại trường Đại học Kyung Hee ở Seoul.Hwang Sun-won có một sự nghiệp văn chương đồ sộ kéo dài tới hơn 7 thập kỷ. các tác phẩm của ông xây dựng nên nhiều tầng lớp nhân vật đa dạng trong xã hội tranh tối tranh sáng, thấm đẫm chủ nghĩa nhân đạo trữ tình mà không ủy mị.
Hwang Sun-won có một sự nghiệp văn chương đồ sộ kéo dài tới hơn 7 thập kỷ. các tác phẩm của ông xây dựng nên nhiều tầng lớp nhân vật đa dạng trong xã hội tranh tối tranh sáng, thấm đẫm chủ nghĩa nhân đạo trữ tình mà không ủy mị. Ông đã viết nhiều tập thơ, tám tiểu thuyết và đặc biệt xuất sắc ở thể loại truyện ngắn với hơn 100 truyện. Bằng cách sử dụng nhuần nhuyễn phương ngữ, trí tưởng tượng sống động, bút pháp tự sự khéo léo kết hợp với phông kiến thức sâu rộng về văn hóa thôn quê lẫn thành thị,
Truyện ngắn “Tiếng chuông xưa” (Sori Kurumja) viết vào tháng 1.1965, nằm trong tuyển tập truyện ngắn “Mặt nạ” (T’al) xuất bản năm 1976. Với không gian đầy hoài niệm, phủ ngập những tiếng chuông ngân vang êm đềm, tác phẩm đã vẽ nên một tình bạn đẹp đẽ trong vắt. Bên cạnh đó, bằng bút pháp miêu tả tâm lý đặc sắc, tác giả đã chuyển tải nhiều ánh ảm về thân phận bất hạnh cũng như khao khát của những con người bị đẩy ra ngoài lề xã hội trong thời kỳ đầu Hàn Quốc bước vào hiện đại hóa.
 
1
Hai cậu bé đang đánh chuông. Thực ra, người kéo chuông nhà thờ là cha của một trong hai đứa bé kia, ông đang ngồi kéo sợi dây chuông, trong khi những đứa trẻ cũng đong đưa những cánh tay và uốn éo cơ thể chúng theo người lớn. Nói đơn giản, chúng chỉ túm lấy phần cuối sợi dây mà thôi. Vậy nhưng, cả hai đều vô cùng phấn chấn và tự hào như thể chúng đang tự mình rung chiếc chuông vậy.
Có một giai điệu lạ kỳ ngân lên trong khoảng giữa tiếng lanh lảnh khi kéo dây và tiếng vang rền khi buông dây. Giai điệu đó cũng vang lên trong khoảng nghỉ khá dài trước tiếng vang kế tiếp. Nó cứ lặp đi lặp lại tạo ra một âm hưởng ngân nga hòa cùng giai điệu của chuông nhà thờ.
Cái tháp chuông cũ kỹ có hai cột đỡ bằng gỗ thông cao và thẳng đứng, đối diện nhau. Chiếc chuông treo lơ lửng giữa một thanh xà bắc ngang trên đỉnh mấy cái cột trụ. Và bên trên, mái ngói bằng thiếc nhọn đã hoen gỉ, bạc màu trông hệt như một cái phễu bị lật úp. Cả ngọn tháp thường rung lên khi chuông ngân.
Sợi dây chuông luôn được buộc phía trên cao của cột trụ mà chỉ có người lớn nhón chân mới có thể với tới. Điều này nhằm tránh cho những đứa trẻ trong làng khỏi nghịch phá. Tuy nhiên, cũng có những cậu bé tinh ranh trèo lên, gỡ sợi dây và kéo xuống để rung cái chuông. Thế nhưng, những giáo dân không dễ bị lừa, họ biết rõ giai điệu của chiếc chuông nếu có ai đó đang đùa cợt tai quái. Tuy nhiên, có những ngày, người kéo chuông theo lệ thường có việc đi đâu đó một chốc và vị linh mục phải tự mình đánh cái chuông. Nhưng dù ông tự đánh chuông, những người khác cũng sẽ lại nghĩ là mấy đứa trẻ ranh, đã vậy lại không kịp giờ làm lễ. Thế là vị linh mục buộc phải cậy nhờ hai cậu bé thế chỗ người kéo chuông khi ông đi khỏi.
 
Hình minh họa

2
Tôi đã nhận được tin báo rằng người bạn thời thơ ấu của tôi là Songil vừa qua đời. Khi tôi hồi tưởng lại những ký ức về người bạn cũ, mò mẫm xuyên qua dòng thời gian hơn bốn mươi năm giờ đã quay trở lại, bất chợt trong ngực tôi bỗng vang lên tiếng vọng hấp hối từ chiếc chuông đó. Có một sự việc xảy ra đã làm đứt quãng sự ngân vang của chiếc chuông quá khứ.
Lần đó, vào một tối thứ tư hay chủ nhật, vì lý do nào đó, chúng tôi, hai đứa con trai lại đến đánh chuông thế chỗ cho cha Songil. Hai đứa tôi kéo dây chuông, nhưng không vang lên âm thanh nào vì quả lắc đã bị cột vào xà ngang. Rõ ràng ai đó đã bày trò trêu chọc tinh quái. Thế là hai chúng cố gắng tìm cách mang đến một cái thang rồi tựa nó vào cột trụ để leo lên tháp. Sau đó Songil trèo lên tháo quả lắc ra. Khi đã leo tới đỉnh tháp cậu bèn ra một điệu bộ đầy hăng hái ra hiệu cho tôi trèo lên theo. Tôi vẫn thường tự hỏi điều gì đã xảy ra khi đó.
 
Xa xa bên ngoài tháp chuông, băng qua khoảng đất trống, là ngôi nhà của một người đàn ông đứng tuổi được bao quanh bởi một bức tường đá. Tôi trèo lên quả chuông và nhìn qua bức tường nơi tay Songgil đang chỉ. Ở đó, phía dưới cây mơ đang nở hoa đằng sau khu vườn mà những cái bóng của buổi chiều tà chập choạng đã buông xuống, chúng tôi có thể trông thấy hai con chó đã bị xích tựa lưng vào nhau. Một con là chó Bắc Kinh và con kia lớn hơn con chó Bắc Kinh gấp mấy lần mà tôi chưa bao giờ thấy trước đó. Con chó lạ đang đi về phía trước, thế là con chó Bắc Kinh bị kéo theo sau. Hai chân sau của nó không thể giữ trên mặt đất. Bọn tôi liền phát ra những tràng cười khúc khích. Con chó Bắc Kinh này là một con chó xấu tính. Mặc dù chúng tôi lúc nào cũng thấy nó và nó cũng biết chúng tôi nhưng lần nào cả hai đứa đi ngang qua trước ngôi nhà, nó cũng chạy ra sủa ăng ẳng dai dẳng và rượt theo chúng tôi. Nếu chúng tôi ra cử chỉ vờ như đang tìm một hòn đá để ném nó, nó sẽ chạy ra xa, nhưng lại sủa và rượt cả hai khi chúng tôi quay về. Thế mà lúc này, nó chẳng thể giữ hai chân sau trên đất và bị kéo lê một cách vô vọng theo sau. Cảnh tưởng khôi hài đến nỗi chung tôi không thể nhịn cười.

Bất ngờ chúng tôi nghe một tiếng quát tháo từ bên dưới. Người đàn ông đứng tuổi đã đến dưới chân tháp chuông và nhìn lên trừng trừng đầy giận dữ. Trước khi kịp nhận ra điều mình đang làm, tôi đã vòng hai cánh tay quanh cột trụ và trượt xuống. Tiếp đó ông ta dịch chuyển cái thang, thế là Songil bèn nhảy xuống từ trên cao. Nếu như tôi chỉ bị những mảnh dằm vụn từ cột trụ bằng gỗ thông đâm vào đôi bàn tay và hai cánh tay thì Songil đã gặp tai họa vì cú nhảy của mình: cậu ấy đã bị gù. Một thời gian sau đó gia đình tôi chuyển đến Kwangju. Lúc đó tôi chín tuổi.
Tôi không có một nơi chốn mà người khác trìu mến gọi là quê hương. Cho đến hồi sáu tuổi, tôi đã sống ở những nơi mà ký ức chẳng còn lưu giữ lại chút ấn tượng nào. Tiếp đó, tôi đến sống trong một ngôi làng nơi có Songil ở cho đến khi lên chín. Thế rồi tôi lại chuyển đến những vùng như Kwangju, Yongin và Paju trước khi định cư tại Seoul cho đến giờ. Tôi thì chẳng làm gì nhưng phải di chuyển đây đó theo cha tôi vì ông là một giáo viên tiểu học.

Nếu như cụm từ “người kéo chuông nhà thờ” không được viết sau tên Songil trên tin báo tử, tôi đã không nhận ra đó là ai.
Trong hơn bốn mươi năm có lẻ, chúng tôi thậm chí đã chẳng trao đổi thư từ với nhau, lại càng ít gặp nhau. Làm sao Songil nhớ được tôi?
Ngôi làng nơi Songil đã sống nằm cạnh con đường quốc lộ, độ nửa đường từ Suwon đến Inchon. Những hồi tưởng về cái thời khi tôi mới chỉ là đứa bé chín tuổi là cái gì đó tôi không thể hoàn toàn hiểu thấu. Hơn bốn mươi năm thay đổi đã cho tôi ấn tượng rằng nơi đây đã trở thành một ngôi làng hoàn toàn khác. Thậm chí đã có những ngọn đèn điện được mắc ở nơi mà trước đây chưa có ai sinh sống. Một cửa hàng tạp hóa, một tiệm gốm, một hiệu thuốc và một cửa hiệu cắt tóc, tất cả nằm trên con đường chính, thế nên giờ đây chính xác hơn phải gọi nó là một thị trấn nhỏ. Có lẽ những người lính đóng quân trên những vùng ngoại ô đã mang đến nhiều thay đổi cho ngôi làng.
Ngôi trường tiểu học nằm bên kia đường. Trước đây nó chỉ là một khu nhà cất bằng ván che, giờ đã được xây lại bằng xi măng. Tôi quay xuống con đường bên cạnh sân chơi. Mặt đất đang ngập ngụa bởi trận tuyết của ngày hôm trước và đã bị giẫm đạp bởi mọi vết chân nên chẳng còn thấy được màu đỏ quạch như lệ thường.

Tất nhiên tháp chuông giờ cũng khác. Nó đứng bên cạnh nhà thờ. Một dấu thập gắn với  cột thu lôi dựng tại đỉnh của nóc nhọn, tạc thành một đường rõ rệt giữa bầu trời đông trong veo. Tuy nhiên, cảnh tượng này chẳng mang lại cho tôi chút hồi ức nào. Tôi không đi dọc con đường này để dò dẫm tìm kiếm những hồi tưởng hay nỗi hoài hương. Ở đây, tôi chỉ đơn thuần để những kỷ niệm tự mình thức giấc.
Phía bên trong bức tường ngoài nhà thờ là nhà dòng của vị linh mục. Hồi trước nóc nhà lợp lá, nhưng giờ đã được lát ngói. Vị linh mục già hẳn đã là một thợ câu cá giỏi, bất kỳ khi nào rảnh rỗi, ông không ra ngoài thăm gia đình của các giáo dân mà thay vào đó lại cầm lưới cá trong tay và đi xuống con suối phía trước làng. Thế nên những người lớn trong làng thường gọi ông là Ngài Thợ Câu.
Vị linh mục hiện giờ còn rất trẻ. Ông nhìn chỉ xấp xỉ chừng ba mươi tuổi. Ngay khi biết tôi là ai, ông cho hay đám tang đã được tiến hành từ vài ngày trước. Ông cũng kể cho tôi nghe rằng trước khi chết Songil đã nhờ ông chắc chắn phải báo cho tôi hay về cái chết của anh ấy và nhấn mạnh rằng anh ấy muốn được nhắc đến với danh xưng là người kéo chuông nhà thờ.
Sự trở về của tôi không còn giúp được gì cho đám tang. Tin báo đã được gửi đến trường tôi, nhưng lúc đó trường đã nghỉ giữa niên khóa, thế là mười ngày đã trôi qua trước khi tin báo đi lòng vòng mới đến tay tôi.
Hình minh họa
3
Tôi hỏi vị linh mục trẻ nơi gia đình Songil sống. Đó là mục đích chính tôi dự định tiếp theo. Người bạn thời thơ ấu, đã mất tích trong dòng chảy của cuộc đời hơn bốn mươi năm, người bạn mà tôi đã chơi đùa thân thiết hồi còn là cậu bé trong suốt hai, ba năm. Anh ấy thậm chí còn biết nơi làm việc hiện tại của tôi. Một cảm giác không thể tả được khi tôi biết rằng Songil đã dõi theo tôi từ bấy đến nay sẽ không để tôi đi mà không tìm kiếm gia đình anh ấy. Tuy nhiên, câu trả lời của vị linh mục trẻ đã phá tan hy vọng của tôi. Anh ấy không có gia đình. Tôi hoàn toàn không thể mô tả hình dạng gồ ghề của Songil khi anh ấy trưởng thành, nhưng không khó để đoán biết rằng anh ấy đã không thể lập gia đình.
Vị linh mục trẻ chỉ cho tôi nơi Songil đã sống quạnh quẽ cho đến lúc qua đời. Đó là một căn phòng nhỏ kề cổng chính. Sự cô đơn và sau đó là nỗi đau đớn mà một người đàn ông đã phải chống chịu hơn bốn mươi năm trào dâng trong ngực tôi. Mặc dù người khác có thể cho rằng tôi hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm, rằng tôi không thể gánh vác hết gánh nặng cho điều rủi ro hay sự đơn độc của một con người nhưng không hiểu sao tôi chợt cảm thấy một tia ăn năn hối hận lóe lên, buộc tội tôi vì đã không làm gì hơn cho anh ấy ngoài một kẻ ngoài cuộc hờ hững. Nhưng hối hận cho lỗi lầm của tôi thì phỏng có ích lợi gì? Giờ đây tôi không còn gì để làm ngoài việc đến viếng thăm mộ phần của người quá cố trước khi quay về nhà.
Vị linh mục trẻ dường như nhớ ra điều gì đó. Ông đi vào phòng của Songil và mang ra một cuộn giấy lớn. Vị linh mục nói cho tôi hay rằng cuộn giấy này là những bức tranh mà Songil đã vẽ suốt lúc sinh thời để giải khuây. Tôi đã không nhớ rằng anh ấy thích vẽ ngay khi còn là một cậu bé. Dù sao chăng nữa, Songil đã sống mà không có gia đình và lấy việc vẽ tranh làm bầu bạn.
 
Những bức tranh này được vẽ trên giấy than với bút chì. Khi tôi xem những bức vẽ một lúc, tôi nghĩ mình đã tìm ra những điểm chung trong những đường nét đơn giản. Có cái gì đó cháy bên trong những bức vẽ. Đó là những tia lửa nhảy nhót ra từ những rễ cây rối rắm, từ mọi nét uốn lượn và đường cong. Những cái miệng không đếm xuể của các giáo dân trong mấy bức vẽ như bắn ra lửa khi họ đang hát những bài thánh ca và nhiều ngọn lửa như đang mọc lên thậm chí từ những hòn đá gồ ghề lởm chởm đang thò ra từ cạnh của các ngọn núi trọc.
Xem lướt qua những bức tranh, tôi thấy một bức đặc biệt và vội lật qua nhanh hơn mọi bức khác, tôi hỏi vị mục sư trẻ liệu tôi có thể lấy một bức trong số đó để làm kỷ niệm được hay không. Thế là tôi tìm lại bức vẽ mình đã xem lướt một cách vội vã chỉ một khắc trước đó, rồi tôi cuộn nó lại và nhét nó vào trong túi áo choàng. Sau đó tôi ra đi.
Thậm chí ngôi nhà nơi người đàn ông đứng tuổi đã sống trước đây giờ đã là một ngôi nhà kiểu phương Tây hiện đại, trang nhã với một bức tường gạch bao quanh. Tôi đi quanh bức tường và nhìn vào bảng tên gắn trên cổng. Một người đàn ông tên Kim đang sống ở đây. Xem ra người chủ cũ của căn nhà đã thay đổi. Người đàn ông xưa kia sống ở đây không phải là người họ Kim. Ký ức là một thứ lạ lùng, không thể tin cậy. Mặc dù tôi chẳng tài nào nhớ lại chính xác tên ông ta, nhưng tôi hoàn toàn chắc chắn đó không phải là ông Kim.
Nhưng giờ đây, cái tên hay liệu rằng con cháu của ông ta còn sống ở đây hay không có còn gì quan trọng nữa đâu?
4
Khu nghĩa trang công cộng chỉ cần băng thẳng từ nhà thờ qua bên kia đường, nằm trên một dãy đồi. Những bia mộ phủ đầy tuyết lan dần khắp nơi, một số đắp cao hơn những mộ khác, nhưng tôi không thể phân biệt cái nào là mô đất mới. Tôi nghĩ mình đã mắc sai lầm khi không hỏi vị linh mục vị trí mộ của Songil sớm hơn. Tuy nhiên, tôi cứ bước vào nghĩa địa, băng qua lớp tuyết chưa tan. Nhìn xunh quanh, cuối cùng tôi bắt gặp một cây thánh giá bằng gỗ mới xa xa phía cuối khu đất.
Đó là dấu hiệu ngôi mộ của Songil. Nhưng, khi đứng trước nó, tôi không thể hiểu được bản chất của người đã khuất. Điều duy nhất có thể sống lại trong tôi là hình dáng gầy gò, hốc hác của một cậu con trai có khuôn mặt bị che đậy bằng nỗi đau đớn. Một cơn giận dữ tràn ngập lồng ngực tôi. Nó giống như cơn thịnh nộ đã bùng lên trong đầu tôi khi lần đầu tiên tôi trông thấy bức vẽ mà giờ đây tôi đã cuộn lại trong túi mình. Ngôi mộ của người đàn ông trung niên mà tên tôi còn không thể nhớ, có lẽ nằm đâu đó giữa những bia đá này. Nhưng tôi vẫn không thể hiểu được bản chất của anh ấy suốt bốn mươi năm đầy biến động lẫn đổi thay của cuộc đời. Giờ đây chỉ còn lại một điều trong ký ức tôi là tiếng quát tháo và sự giận dữ của người đàn ông kia khi ông ta nhìn trừng trừng lên nóc tháp chuông.

Tôi đi xuống ngọn đồi và kiểm tra lịch ở trạm dừng. Cứ ba mươi phút lại có một chiếc xe buýt ghé trạm. Tôi còn một ít thời gian trước khi chiếc tiếp theo đến, thế là tôi đi vào tiệm trà. Một vài người đang ngồi xung quanh bếp lò ở giữa phòng. Việc kinh doanh có vẻ ế ẩm. Tôi tìm chỗ ngồi ngay một cửa sổ nhiều ánh sáng.
Hớp một ngụm trà vừa được mang đến, tôi đẩy cái tách ra xa. Sau đó tôi kéo bức vẽ ra khỏi túi áo choàng và trải nó lên bàn. Trong bức tranh là hai con chó. Con chó Bắc Kinh nhỏ hơn, hai chân sau của nó đang vẫy vùng trong không khí và bị kéo lê theo sau bởi một con chó lớn hơn. Cũng có những tia lửa ở đó, y như những bức vẽ khác. Qua biểu hiện của những con vật này, dường như chính người đàn ông tật nguyền ấy đã nôn ra những ngọn lửa kia vì không thể cam chịu sự dày vò về dị dạng của mình. Sự thịnh nộ một lần nữa lại dâng tràn trong ngực tôi nhằm vào sự trừng phạt không chủ tâm của người đàn ông trung niên nọ đã gây ra cho cậu bé ngây thơ, vô tình làm hỏng cả cuộc đời cậu.
Nhưng cơn thịnh nộ của tôi không là gì cả khi so sánh với cuộc đời cô độc, tăm tối của người đàn ông đã khuất. Nhưng sau tất cả những điều này, tại sao Songil vẫn tiếp tục trở thành người kéo chuông nhà thờ, nối nghiệp cha anh ấy?
Khi cô hầu bàn mang ít trà xanh đến, tôi hỏi cô ta: “Xin lỗi, cô có nghe rõ tiếng chuông nhà thờ từ đây không?”. Tôi muốn nói với cô hầu bàn rằng âm thanh của chiếc chuông ắt hẳn đã thay đổi so với những ngày cũ.
“Hôm nay không phải chỉ mới thứ bảy sao?”. Cô hầu bàn nhìn tôi như thể tôi đang bối rối và nghĩ hôm nay là chủ nhật. Tôi đã hỏi một câu vô ích.
Người ta chắc chắn sẽ làm quen với giai điệu của người kéo chuông mới. Và rồi họ sẽ không thấy sự khác biệt. Thế là chỉ còn mỗi mình tôi luôn yêu mến thanh âm của chiếc chuông cũ. Nhưng vậy là đủ.

Khi tôi trầm tư suy ngẫm những điều này, đột nhiên, một điều không ngờ tới, có tiếng chuông bắt đầu vang lên trong ngực tôi…
…Hai cậu bé đang kéo chuông. Lúc ấy cha Songil không có ở đó, chỉ có hai đứa trẻ cùng nhau kéo sợi dây. Trong khoảng giữa tiếng vang lanh lảnh khi chúng kéo sợi dây và tiếng rền vang khi chúng buông nó ra, rồi sau đó trong khoảng nghỉ khá dài trước tiếng vang tiếp theo, khi tiếng lanh lảnh và tiếng vang rền này lặp lại, một giai điệu kỳ lạ phát ra ngân nga hòa cùng giai điệu của tiếng chuông. Những tiếng vang dội, như những đợt sóng gợn trên mặt nước, như đang lấp đầy trái tim tôi.
Và khi ấy tôi đã trông thấy điều gì đó. Bức vẽ nằm trước mặt tôi đột nhiên biến đổi lạ thường. Không, còn hơn cả sự biến đổi, nói chính xác hơn là cuối cùng tôi đã có thể hiểu ra mục đích thực sự ban đầu của Songil khi vẽ những bức tranh này. Nếu anh ấy đã có thể tìm vui qua việc vẽ tranh bằng một chiếc bút chì thì điều đó chẳng phải rất dễ chịu hay sao? Mỗi một đường nét đã xoáy vào tôi như những tia lửa, thực ra là những giai điệu xuất phát từ niềm vui thích không kiềm chế được. Tiếng cười khúc khích trong vắt, ngây thơ của chúng tôi dường như đang sống lại, lan tỏa ra khắp mọi đường nét trên bức tranh. Và hình như, chúng tôi đang cùng nhau cười đùa như bốn mươi năm về trước.
 


Ngọc Vân

(Dịch theo bản tiếng Anh “Shadows of a sound)
Truyện đã đăng trên Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay.
 
 

Kim Kỳ sưu tầm

Xem thêm...

Truyện ngắn: CON BÉ VÀ CÂY HOA CẢI DẦU

CON BÉ VÀ CÂY HOA CẢI DẦU

Truyện Ngắn của: SHIGA Naoya  (1883-1971)

 

Viết truyện ngắn và truyện dài. Shiga Naoya được xem là « vua truyện ngắn », là nhà văn tiêu biểu của loại tự truyện, là một « thánh chủ » của nền văn học Nhật hiện đại. Ông theo học đại học Tokyo, nhưng không tốt nghiệp ngành nào. Ông bắt đầu viết từ năm 21 tuổi : « Con bé và cây hoa cải dầu » là truyện ngắn đầu tay. Sự nghiệp viết văn của ông chịu ảnh hưởng nặng nề và phản ánh một đời sống gia đình bất hạnh : mất mẹ năm 12 tuổi, ông có những quan hệ sóng gió với bố, đi từ xung khắc đến đoạn tuyệt, rồi hoà giải. Tác phẩm của ông - phần lớn đã được dịch ra Anh ngữ - có thể được chia làm 3 loại : loại dựa trên kinh nghiệm và quan sát (« As far as Abashiri », « An Incident »...) ; loại dựa vào đời sống tư tưởng và trí tưởng tượng (« The Little girl and the Rapeseed Flower », « The Razor », « Han's crime »... ) ; và loại ít nhiều là tự truyện (« The Death of my mother and the new mother », « Reconciliation », « The Paper door »...)
_________________

 

Hôm đó là buổi chiều xuân trong sáng êm đềm. Một con bé đang nhặt củi đóm trên sườn núi.
Chặp sau, khi ráng chiều đỏ thắm xuyên qua các tàng cây thưa thớt, con bé đem mớ củi nhặt được xuống đồng cỏ, bắt đầu sắp vào giỏ trên lưng.
Thình lình, con bé có cảm tưởng như nghe như ai gọi mình.
- Hả ?
Con bé buột miệng. Nó đứng lên nhìn chung quanh nhưng chẳng thấy người nào.
- Ai gọi tôi ?
Con bé lại lớn giọng hỏi nữa. Nhưng cũng chẳng ai trả lời.
Sau hai ba lần có cảm tưởng đó, con bé chợt phát hiện là tiếng gọi phát ra từ cây hoa cải dầu nhỏ đơn độc đang ngẩng đầu lên trong đám cỏ dại.
Con bé lau mặt với tấm vải quàng đầu rồi nói :
- Tao nghĩ chắc mày cô độc lắm trong một chỗ như vầy.
Cây hoa trả lời với giọng thân mật :
- Em rất cô độc.
Con bé hỏi với giọng quở trách :
- Vậy sao mày đến đây làm chi ?
- Một hạt dính vào ngực con chim chiền chiện rồi rớt xuống đây. Em làm gì được !
Cây hoa nói một cách buồn rầu. Rồi nó nhờ con bé mang nó theo xuống làng dưới chân núi, nơi nó có nhiều đồng loại.
Con bé thấy xót xa cho cây hoa cải dầu, quyết định làm nó thoả mãn. Khẽ khàng gỡ khỏi đất, con bé cầm nó trong lòng tay khum khum và xuống đường núi về làng.
Dọc đường, một con suối nhỏ trong veo chảy róc rách. Thời gian trôi qua. Cây hoa nói :
- Tay chị nóng khủng khiếp. Em thấy đầu nặng quá, không ngẩng thẳng lên được.
Theo mỗi bước đi của con bé, cây hoa yếu ớt lắc lư cái đầu rũ gục.
Cả chặp lâu, con bé không biết phải làm gì.
Rồi thình lình con bé nảy ra một ý tuyệt vời. Vội vàng ngồi xổm xuống bờ đường, con bé lặng lẽ ngâm rễ cây hoa vào nước.
- Aaa !
Cây hoa thốt lên với giọng hồi sinh, sôi nổi. Nó nhìn lên con bé. Nhân đó con bé nói như truyền lệnh :
- Từ chỗ này, mày cứ đi theo nước.
Lắc đầu một cách khó khăn, cây hoa nói :
- Lỡ bị cuốn đi cách xa chị quá, em sợ chết !
- Không việc gì phải sợ cả.
Con bé vừa nói vừa thả trôi cây hoa.
- Em sợ ! Em sợ !
Bị giòng nước cuốn đi tức khắc, cây hoa ré lên hãi hùng khi thấy nước kéo mình càng lúc càng xa con bé. Nhưng con bé không nói không rằng, vòng tay ra sau lưng sửa lại cái giỏ nhảy nhót trên lưng và chạy theo sau.
Cây hoa thở dài nhẹ nhõm. Rồi vui vẻ từ mặt nước nhìn lên, nó nói với con bé đủ thứ chuyện.
Một con bướm từ đâu bay tới dập dờn vui nhộn. Nó phá phách, vỗ nhẹ cánh nhảy nhót quanh đầu cây hoa. Cây hoa có vẻ khoái chí. Nhưng rồi con bướm rộn ràng bất định đó lại bay đi chỗ khác.
Thấy trên chóp mũi con bé lốm đốm mồ hôi như những hạt trân châu, cây hoa nói với giọng ái ngại :
- Bây giờ tới phiên chị cực quá.
Con bé trả lời ngắn gọn :
- Ðừng lo cho tao.
Ngỡ bị mắng, cây hoa im lặng.
Một lát sau con bé giật nẩy mình vì tiếng kêu thét của cây hoa. Rễ nó bị vướng vào đám cỏ dại nhấp nhô trên giòng nước như một suối tóc dài, cây hoa ráng cựa quậy đầu ra trước ra sau, kiệt sức.
- Ðược rồi. Yên đó một lát.
Hụt hơi, con bé ngồi xuống tảng đá bên bờ suối.
- Làm sao em yên được với chân cẳng vướng víu như thế này ? Em thấy chẳng thoải mái chút nào.
Giọng phàn nàn của cây hoa càng lúc càng tha thiết. Con bé đáp :
- Mày như vậy là khỏe rồi.
- Em không khỏe. Dừng lại thì tốt, nhưng kiểu này thì khiếp lắm. Làm ơn, chị làm ơn vớt em lên.
Cây hoa nài nỉ, nhưng con bé không muốn nghe, chỉ mỉm cười nói :
- Mày như vậy được mà.
Chẳng bao lâu sức mạnh giòng nước làm rễ cây hoa trượt ra. Với giọng khẩn trương chói tai « Em bị cuốn đi đây này », một lần nữa cây hoa lại bị cuốn xuôi theo giòng. Giật mình, con bé chạy theo.
Khi còn cách nhau không bao xa, cây hoa rụt rè nói :
- Cực chị quá !
- Không sao cả.
Con bé dịu dàng trả lời. Rồi vì cây hoa không còn lo âu nữa, nó chạy trước cách xa khoảng chừng mười lăm bộ.
Ðã trông thấy làng dưới chân núi. Con bé nói to :
- Không còn bao xa nữa.
- Ờ há !
Cây hoa trả lời đằng sau. Chúng không nói gì với nhau một lát. Âm thanh duy nhất là tiếng lách tách, lách tách của đôi dép rơm con bé chạy, trộn lẫn với tiếng róc rách của suối.
« Chaach » ! Tiếng nước toé lên bất ngờ dưới chân con bé. Cây hoa kêu thét lên như thể sắp chết. Con bé giật mình dừng lại nhìn ra sau. Từng cánh hoa lá tái mét vì sợ, cây hoa gượng lên khỏi mặt nước la bải hải « Nhanh lên ! Nhanh lên ! ». Con bé vội vàng kéo nó ra khỏi nước.
- Chuyện gì vậy ?
Nâng niu cây hoa vào ngực, con bé quay nhìn giòng nước sau lưng.
- Có cái gì phóng ra từ chân chị đấy.
Cây hoa nói giọng hổn hển :
- Con cóc cáy đấy, chị. Nó ngụp xuống một lần rồi bất thần ở đâu trồi lên trước mặt em. Thiếu chút nữa là dám mặt tụi em chạm vào nhau. Miệng nó nhọn và có vẻ cáu kỉnh như con yêu Hà Bá vậy.
Nghe cây hoa nói, con bé cười vang. Cây hoa nói giọng trách móc :
Ðâu có gì tức cười đâu. Nhưng mà khi em ré, con cóc giật mình đấy. Nó mất hồn mất vía lặn xuống.
Nói tới đây thì cây hoa cải dầu cũng cười vang lên.
Chẳng bao lâu, chúng về tới làng.
Con bé tức khắc trồng cây hoa trong đám đất sau nhà.
Không giống trên sườn núi khô cằn đầy cỏ dại, ở đây đất đai màu mỡ. Cây hoa cải dầu lớn nhanh như thổi.
Và ở đó, giữa bạn bè với đồng loại, cây hoa cải dầu mãi mãi sống yên vui hạnh phúc.
MIÊNG
Dịch theo bản tiếng Anh của Lane Dunlop :
«The Little Girl and The Rapeseed Flower».


Paris, Février 19

 

Kim Kỳ st

Xem thêm...
Theo dõi RSS này