Văn học

Văn học (181)

Kỹ thuật thơ Việt Nam hiện đại và tiêu chuẩn đánh giá một bài thơ

Kỹ thuật thơ Việt Nam hiện đại và tiêu chuẩn 
đánh giá một bài thơ
NGUYỄN VŨ VĂN
 

LỜI NÓI ÐẦU


Ðây là những nhận xét của tôi sau nhiều năm làm thơ và xem thơ, tuy rằng tôi làm thơ rất ít. Những nhận xét này không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót và sai lầm, nhưng tôi không thể kìm lòng mà không viết ra một vấn đề mà từ xưa đến nay có lẽ chưa có ai làm, đó là kỹ thuật thơ Việt Nam hiện đại, và nhân tiện đó đi tìm những tiêu chuẩn cho một bài thơ hay.

Nếu bài viết này khơi lên được những lời phê bình hay bổ khuyết cho để vấn đề nêu ra được sáng tỏ, đó là điều làm tôi mãn nguyện.

Ngoài ra, vì thiếu sót tài liệu, tôi mạn phép trích dẫn một số câu thơ của tôi, mong độc giả lượng thứ.

Tôi cũng xin cảm tạ các bạn Bồ Tùng Linh, Mai Ninh, Bùi Tiến Hoàng và Mai Anh Tuấn trong nhóm Siliconband đã góp ý kiến và tài liệu cho bài này.

Nguyễn Vũ Văn
 
________

Kể từ khi đất nước bị chia cắt vào năm 1954, thi ca miền Nam với những đỉnh cao như Vũ Hoàng Chương và Ðinh Hùng còn mang đậm nhiều nét cổ điển. Cho tới năm 1956, khi tạp chí Sáng Tạo ra đời cùng với sự xuất hiện của một số nhà thơ ngoài nhóm Sáng Tạo, văn thơ miền Nam đã có một sắc thái tân kỳ về nội dung cũng như kỹ thuật. Từ đó kỹ thuật thơ Việt Nam càng ngày càng đổi mới, tiến triển, nhưng cũng mang lại không ít ngỡ ngàng cho số đông độc giả. Một số bài thơ có vẻ khó hiểu khiến người ta không chấp nhận được. Và những bài thơ hay không được thưởng thức. Bởi vì không có tác giả nào nói ra kỹ thuật của mình và có lẽ cũng không có ai khác đề cập đến.
Ngược lại, người ta vẫn ca tụng một số bài thơ mà không chú ý đến kỹ thuật kém cỏi. Vàng thau lẫn lộn.

Bởi vậy bài này được viết nhằm mục đích nêu lên một số đặc điểm của thơ hiện đại, về hình thức cũng như nội dung và kỹ thuật, đồng thời đề nghị những tiêu chuẩn của một bài thơ hay.

Trước hết, chúng tôi cố gắng xác định cách hợp vận mà nhiều người còn lầm lẫn, sau đó sẽ nêu lên các đặc điểm khác về thơ.

Hansy
30-11-11, 02:41 PM
Ðoạn 1.

CÁCH HỢP VẬN

Nguyên tắc:
vần bằng hợp với vần bằng, vần trắc hợp với vần trắc. (Trong âm nhạc, bằng có thể hợp vận với trắc, thí dụ: nhà hợp vận với nhá).

Âm vận:
Cách hợp vận trong thơ không có căn bản ngữ âm (phonetics) nào cả, ở đây tôi chỉ dựa theo cách hợp vận cổ truyền mà phân biệt như sau.

Âm vận có 2 loại toàn vận và bán vận.

Toàn vận : 2 từ chỉ khác nhau về phụ âm đầu. Thí dụ: a) tình, mình, khinh, linh. b) ta, mà, la, tha.

Bán vận : 2 từ khác nhau trong nguyên âm hay trong nguyên âm và phụ âm cuối.

A.- Bán vận trong nguyên âm : Những âm họp thành nhóm sau đây hợp vận với nhau:

1/ a, ă, â, o, ơ, ô, u, ư, oa, ua, ưa. Thí dụ: a) tha, mo, lu, thư, thoa, qùa, cua, thưa. b) lạ, thố, thụ, thóa, qụa, thủa, thửa, lựa. c) chang, rằng, nằm, lầm. d) thôn, mun,

2/ i, e, ê, oe, ue, uê, uy. Thí dụ: a) thi, me, ve, que, quy. b) thí, lẹ, thế, nhuệ. c) thịt, khét, chết. d) em, quen, đêm.

3/ ai, ay, ây, oi, ôi, ơi, oai, ui, ưi, ươi, uôi. Thí dụ: a) thai, chay, khoai, mòi, thôi, lơi, thui, người, nguôi. b) thái, cậy, mọi, đổi, củi, ngửi, lưới, đuối.

4/ i, uy, uya

5/ ia, uya.

6/ i, e, ê, iê, uyê. Thí dụ: a) tin, men, lên, thiên, thuyền. b) tịt, lét, tết, khiết, khuyết, tuyệt, tiếc, tích.

7/ a (+phụ âm), o (+phụ âm), ô (+phụ âm), u (+phụ âm), ư (+phụ âm), ươ (+phụ âm). Thí dụ: chang, trong, nung, lưng, chương, chuông; trọng, chúng, thượng, chuộng, nướng; nóc, được.

8/ oa (+phụ âm), uâ (+phụ âm), uô (+phụ âm). Thí dụ: a) loan, luân. b) thoát, khoác, luật, thuốc. c) loang, khuôn, chuông, khuân, khuâng.

9/ ao, âu.

10/ eo, oeo, êu, iêu, yêu, iu.

Tóm tắt, nguyên âm chia làm 2 nhóm chính có âm phân biệt: (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư ) và (i, y, e, ê) . Nếu 2 nhóm này mà hợp vận với nhau thì bằng cách bắc cầu từ âm nọ qua âm kia, thì bất cứ 2 âm (2 nguyên âm hay 2 nhóm nguyên âm trong một từ) nào cũng có thể hợp vận với nhau.

B. Bán vận trong nguyên âm và phụ âm cuối . Nguyên âm thì theo nguyên tắc trên. Phụ âm cuối có thể thay đổi như sau:

1/ c, ch, t, p. Thí dụ: lắc, trách, tát, chập.

2/ n, nh, m. Thí dụ: a) than, cành, chàm. B) cận, thánh, cám.

3/ n, ng. Thí dụ: a) than, thong, không, thằng. B) cận, thắng, cống.

Thơ tự do rất hợp với bán vận. Trong thể thơ này, vần hợp nhau chan chát (thí dụ: hình, tình) làm câu thơ kém hay.

Ðiều tối kỵ trong âm vận : dùng 2 chữ giống nhau trong 2 vần kế tiếp hay trong 3 câu lục bát kế tiếp, ngoại trừ trường hợp nhắc đi nhắc lại để nhấn mạnh. (Nguyên tắc chung là tránh điệp ngữ). Thí dụ:

Nhà em mái tranh
Trắng giàn dây mơ
Bây giờ hoa cũ
Rụng hoài trong mơ (Phạm thiên Thư - Giàn mơ)

Tôi phải dỗ như là tôi đã lớn
Phải thẹn thò như sắp cưới hay vừa yêu
Phải nói vơ vào, rất vội: người yêu
Nếu ai có hỏi thầm: ai thế (Nguyên Sa - Tuổi 13)

Những câu thơ lạc vận :

Thơ lạc vận có rất nhiều trong các tạp chí và Web sites, không tiện trích dẫn ra đây.

Thỉnh thoảng trong bài thơ có một hai chỗ lạc vận thì còn có thể bỏ qua. Chứ cả đoạn lạc vận thì bài thơ không còn giá trị.

Ngay cả những nhà thơ nổi tiếng cũng có những câu lạc vận, do vô tình hay cố ý. Thí dụ:

Từ ngày đàn rẽ đường tơ,
Sao tôi không biết hững hờ nàng đan .
Kéo dài một chiếc áo len ,
Tơ càng đứt mối, nàng càng nối dây.
Khánh ơi, còn hỏi gì anh?
Xưa tình đã vỡ, nay tình còn nguyên. (Thâm Tâm - Gửi T.T.Kh)

Buồm lên biển tím chênh vênh,
Một đêm gã bỏ tình nhân lại bờ.
Lòng qùy nhớ mặt trời xa,
Vào quán biển hỏi thăm ngườ i xa xưa (Phạm thiên Thư - Quán rượu ven biển)

Con chim én cùng với thơ bay trong nắng
Trên môi anh dường có ngọn cỏ thơm
Là ngón tay nào trong mười ngón tay em
Có cả nụ hôn đầu quanh quất đó...
Tháng Giêng và anh rủ nhau ngồi dưới phố
Tô môi hồng xin nhớ cánh sen non
Tháng Giêng chờ một chút lượng xuân em
Nụ cười đó, anh chờ xuân vĩnh viễn (Nguyên Sa - Tháng giêng và anh)

Sao hương sắc lên mắt mình tình tứ
Và đôi mắt nhìn tôi ngập nhừng chim sẻ (Nguyên Sa - Tuổi 13)

Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh đã trông lên bằng đôi mắt chung tình (Nguyên Sa-Áo lụa Hà Ðông)

Có phải tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em ?
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Ðàn xuống cung trầm mắt nhơ ?thương ? (Nguyên Sa - Tương Tư)

Hansy
30-11-11, 02:49 PM
Ðoạn 2.
HÌNH THỨC THƠ

I. Sự chọn lựa thể thơ

Thể thơ có nhiều: thơ đều chữ, không đều chữ và thơ tự do. Ở đây tôi không nói đến thơ Ðường luật mà chỉ nói đến các thể thơ mới.

1/ Thơ đều chữ thay đổi từ 2 đến 8 chữ trong một câu.

Loại 2 chữ cũng như loại 3 chữ khiến hơi thơ ngắn, và bài thơ cũng thường ngắn, không nói gì được nhiều. Người dùng loại thơ này nhằm mục đích nói lên những âm thanh ngắn như tiếng nức nở, tiếng mưa rơi...

Thí dụ :

Sương rơi
Nặng trĩu
Trên cành
Dương liễu
Nhưng hơi
Lạnh lùng
Hiu hắt
Thấm vào ...
(Nguyễn Vỹ - Sương rơi)

Loại 4 chữ phổ biến hơn, nhưng coi chừng dễ biến thành vè.
Thế nào là vè? Vè là thơ dân gian, loại thường thấy là Sớ Táo Quân.
Vè có thể là thơ 2 hay 3 chữ, nhưng thường dùng thể 4 chữ hay lục bát. Vè 4 chữ dùng liên vận, tức là 2 câu liền nhau vần với nhau, thay đổi giữa bằng và trắc. Vè không chia bài thơ thành từng đoạn 4 câu.

Loại 4 chữ chia từng đoạn 4 câu và dùng cách vận (giống 4 câu đầu của thể thất ngôn) thì hay hơn liên vận.

Loại 5 chữ thường chia đoạn 4 câu và dùng cách vận.

Loại 6 chữ cũng ít được dùng, nhưng thỉnh thoảng vẫn thấy trên thi đàn.

Xuân hồng có chàng tới hỏi
- Em thơ chị đẹp em đâu ?
- Chị tôi hoa ngát cài đầu
Ði hái phù dung trong nội !
(Huyền Kiêu - Tình sầu)

Thể thơ từ 4 đến 6 chữ cho hơi thơ trung bình, thích hợp với phong thái nhẹ nhàng, trang trọng.

Loại 7 chữ rất phổ biến. Niêm luật không còn trói buộc, miễn là đọc lên, câu thơ không trúc trắc. Thể thơ này thích hợp với phong thái trang nghiêm, cổ kính.

Loại 8 chữ là thể thơ hoàn toàn Việt nam, dùng liên vận, nhưng cũng ít được dùng. Thể thơ này thường diễn tả những tình cảm tha thiết, hùng tráng. Ðiển hình nhất là bài "Hổ nhớ rừng" của Thế Lữ. Gần đây Nguyên Sa hay dùng thể thơ này.

Dĩ nhiên câu thơ càng dài thì có tính cách kể lể nhiều hơn và không cần xén bớt từ.

Thơ đều chữ biến thể có chêm ít câu không đều chữ, hoặc thay đổi số câu (thay vì thông thường là 4) trong đoạn. Thể thơ này thường xảy ra với loại 4, 5 hay 6 chữ.

Thí dụ về thay đổi số chữ trong câu:

--thơ 5 chữ

Khoảng thời gian loãng đó
Không có mặt nàng
Mưa đỏ miền cao nguyên
Núi đồi sầu lụn bại
Khi tôi trở về
Thành phố lạnh khoang xe
Mây sương lòng thung lũng
Và ngàn thông co ro
(Nguyễn Vũ Văn - Trên con đường nhà thờ)

--thơ 8 chữ

Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn (9 chữ)
Nếu em sợ thời gian dài vô tận
Tháng sáu trời mưa, em có nghe mưa xuống (9 chữ)
Trời không mưa em có lạy trời mưa ?
Anh vẫn xin mưa phong tỏa đường về
Anh vẫn cầu mưa mặc dầu mây ảm đạm (9 chữ)
(Nguyên Sa - Tháng sáu trời mưa)

Thay đổi số câu trong đoạn:

Anh đứng đây là đâu
Em cười như lá mỏng
Khép cửa vào chiêm bao
Anh đứng đây là đâu
Em nói như gió nghẹn
Chiều nghiêng mây Thị Mầu
(Hoàng Cầm - Chuyện trăm năm)
 
 



2/ Thơ không đều chữ có lục bát và song thất lục bát.

Song thất lục bát không còn được dùng.

Lục bát là loại phổ biến nhất vì dễ làm, nhưng người mới làm thơ cũng dễ biến nó thành vè. Dễ làm nhưng khó sửa. Làm câu nào là chết câu ấy. Bài thơ làm xong rồi, muốn thêm bớt một đoạn là cả một vấn đề bởi vì vần thơ cấu kết với nhau theo kiểu liên hoàn, vừa yêu vận (vần nằm giữa câu) vừa cước vận (vần ở cuối câu).

3/ Thơ tự do.

Loại thơ này rất thông dụng nhưng đòi hỏi kỹ thuật và sự sáng tạo nhiều nhất. Nhiều người cho rằng người mới làm thơ nên làm các loại thơ khác trước khi làm thơ tự do, để nắm vững kỹ thuật và âm điệu.

Một loại thơ tự do đặc biệt là thơ xuôi, có hình thức như văn xuôi. Loại thơ này cần hơi thơ dài, mặc dù bị cắt thành từng câu ngắn, và dường như không chú ý đến âm vận.

Thí dụ:

Làm thế nào để quên được nhau. Hạt mưa kia long lanh nỗi nhớ niềm từ biệt, hoàng hôn màu khói nhạt. Hôm nay quê hương từ bỏ, anh đau đớn làm đứa con hoang đầu xó chợ...
Hỡi Liên, những Liên và Liên
Dù một chút đau thương, từ chối, tổ quốc ta chạy dài trên địa ngục, xòe mở hai bàn tay anh khóc đó - những cánh tay gầy trơ xương, chọn. Con đường đi buổi chiều hấp hối, ôi buổi chiều sương mù.
(Thanh Tâm Tuyền - Liên, những bài thơ tình thời xa cách)

Tôi giữ em lại trên một hè phố đông người. Em đừng ngần ngại. Tôi bảo rằng: tôi yêu em.
Tôi nói không thẹn thùng, không đắn đo dò xét. Bởi vì em ơi tôi không phải là gã lái buôn hỏi giá hàng trong một buổi chợ chiều hỗn loạn. Cũng không phải là ngưoòi thư ký già ngồi mân mê vài chiếc đinh ghim và mưu toan làm chủ sự...
(Nguyên Sa - Ngỏ ý)

II. Cách chấm câu và xuống dòng

Về cách chấm câu, mỗi người một ý. Có người chấm câu rất cẩn thận, có người không chấm câu. Người ta cho rằng việc xuống dòng không có dấu chấm phẩy bao hàm sự kéo dài ý nghĩa của câu thơ, "những khoảng trống có ý nghĩa".

Theo ý tôi, thơ lục bát nên có chấm câu vì mỗi ý thường chỉ gói tròn trong 2 câu lục và câu bát kế tiếp.

Lại có người không viết hoa ở đầu câu, làm như bài thơ chỉ là một trích đoạn.

Cũng có người chấm câu ở giữa dòng mà không xuống hàng. Nguyễn xuân Thiệp chẳng hạn, chấm câu giữa dòng và không viết hoa:


hỡi gió mùa
đã thổi từ cội nguồn xa tới cửa hiện thời
thổi qua những rặng núi. những dòng sông. những xóm làng. thành phố quê hương tôi
(Nguyễn xuân Thiệp - Tôi cùng gió mùa)

Trong thơ tự do, chỗ xuống dòng là để qua một ý thơ khác, để thay cho một dấu chấm hay dấu phẩy, để ngắt hơi thơ, để nhấn mạnh một chữ hay cụm từ hoặc để thể hiện một thanh âm...

Dưới đây là thí dụ về sự nhấn mạnh bằng cách xuống hàng:

Hôm nay
Nghe lời hát quen quen
Người đàn bà ấy mang tên
Lời từ biệt
Trên một sân ga vắng
Tiếng kèn trầm của một chuyến ô-tô-ray
Ðầy dĩ vãng
(Thanh Tâm Tuyền - Bao giờ)

Những câu "Hôm nay", "Lời từ biệt" và "Ðầy dĩ vãng" được xuống dòng để nhấn mạnh.

Dấu phẩy rất cần thiết cho ý nghĩa cũng có thể bị tước bỏ. Trong câu dưới đây, tác gỉa muốn nói chờ đợi nhiều người chứ không phải một người :

Tôi chờ đợi
một người không
nhiều người
(Thanh Tâm Tuyền - Bài ngợi ca tình yêu)

Dù sao, cách chấm câu cũng chỉ là tiểu tiết, không ảnh hưởng đến phẩm chất bài thơ.

Hansy
30-11-11, 02:52 PM
Ðoạn 3.

NỘI DUNG

1/ Dàn ý

Ít nhà thơ nào làm thơ có dàn bài (plan). Tuy nhiên, với những bài thơ có phân đoạn, hoặc thơ tự do, việc sắp xếp lại các câu thơ cho có trình tự hợp lý là điều cần thiết.

2/ Ý thơ

Bài thơ hay phải có ý thơ mới lạ. Mới lạ trong chi tiết, trong cách so sánh, cách liên tưởng... Ý thơ có thể rất tinh tế, sát với thực tế, nhưng cũng có thể rất cường điệu.

Ðể tả sự trống vắng trong tâm hồn :

Sao tuổi trẻ qúa buồn
Như bàn ghế không bầy
(Thanh Tâm Tuyền - Dạ khúc)

Ðể diễn tả vẻ buồn :

Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
(Nguyên Sa - Nga)

Ðể diễn tả mái tóc vàng và đôi mắt nâu :

Tôi sẽ sang thăm em
Ðể những mái tóc màu củi chưa đun
Mầu gỗ chưa ai ghép làm thuyền
Lùa vào nhau nhóm lửa ...
Hay đôi mắt màu thóc đang say
Mầu vàng khô pha lẫn sắc nâu gầy
(Nguyên Sa - Tôi sẽ sang thăm em)

Ðể diễn tả mái tóc mun :

Mùa tóc mun
Ðẹp những khu rừng không bóng cây
(Thanh Tâm Tuyền - Mai)

Ðể diễn tả bàn tay trắng nõn, đôi mắt long lanh và đôi mắt ngọc bích :

Những ngón tay dài ướp trọn mấy ngàn thu
Mà men sáng trong xanh màu trăng vời vợi
...
Hay một đêm nao nước lụt Ngân Hà
Thượng Ðế đưa sao mang gửi về khóe mắt ?
...
Mắt dịu ngọt đúc từ rừng ngọc bích
Hay linh hồn trăm phiến đá chân tu ?
(Nguyên Sa - Ðẹp)

Ðể diễn tả bước chân nặng nề và nỗi lòng chất chứa :

Ta về từng bước chân là núi
Thăm thẳm lòng mang một biển sâu
(Khoa Hữu - Trở về)

Ðể diễn tả sự đành tâm chia ly :

Người đi, ừ nhỉ người đi thật
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu cay
(Thâm Tâm - Tống biệt hành)

Ðể diễn ta tình trạng giải phóng, tự do cá nhân :

Tôi chờ đợi
Cười lên sặc sỡ
La qua mái ngói
(Thanh Tâm Tuyền - Bài ngợi ca tình yêu)

Buồn vì tuổi trẻ bất lực :

Hôm nay
Tuổi nhỏ khóc trên vai
(Thanh Tâm Tuyền - Bài ngợi ca tình yêu)

Vân vân.

Ðể kết thúc đoạn này, tôi xin nhắc đến loại thơ tượng trưng. Tượng trưng chứ không phải biểu tượng. Trong bài thơ loại này, tác giả có thể dùng bất cứ cái gì để tượng trưng cho đối tượng mà tác giả ngầm nói tới.

Thí dụ bài này:

Cánh đồng con ngựa chuyến tàu

Trên cánh đồng hoang thuần một màu
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chạy mau tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu
Cỏ cây cỏ cây lùi chóng mặt
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu
Mặt trời mọc xong mặt trời lặn
Ngựa gục đầu gục đầu gục đầu
Cánh đồng a ! cánh đồng sắp hết
Tàu chạy mau càng mau càng mau
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ
Như giữa nền nhung một vết nâu
(Tô thùy Yên)

Bài này nói về kiếp số con người. Chuyến tàu là thời gian, cánh đồng là đời người, con ngựa là con người.

Hy vọng

Con bướm lạc vào cánh đồng
Ðóa hoa thành ruộng lúa
Con bướm khóc giữa cánh đồng
Hồn hoa thành đứa nhỏ
Con bướm chết trong bàn tay
(Nguyễn Vũ Văn)

Bài này nói về niềm hy vọng bị bóp chết bởi sự lừa dối.

Hansy
30-11-11, 02:58 PM
Ðoạn 4.

TỪ NGỮ

Bài thơ hay không nên dùng những từ ngữ đã dùng nhiều trong văn thơ, nhất là tính từ, tỉ dụ như : (lòng) tê tái, (dài) lê thê, não nùng... Tuy nhiên, ta có thể làm mới những từ ấy bằng cách dùng nó theo ý nghĩa khác đi một chút. Thí dụ chữ "thăm thẳm" thường dùng để chỉ chiều sâu, Tô Thùy Yên dùng cho tiếng chó tru (trong bài "Góa phụ") để nói lên âm thanh dài và cao. Thanh Tâm Tuyền dùng "điệu nhạc gầy" để nói lên những nốt nhạc cao ("Dạ khúc").

Thanh Tâm Tuyền còn dùng từ "cười sặc sỡ" ("Bài ngợi ca tình yêu"). Không biết ông muốn nói "cười sặc sụa", "cười muôn màu, đủ mọi kiểu", hay là "cười điên dại" ("điên dại" thì có liên quan gì đến "sặc sỡ" ?) :

Tôi chờ đợi
cười lên sặc sỡ
la qua mái ngói
thành phố ruộng đồng
bấu lấy tim tôi
thành nhịp thở
(Thanh Tâm Tuyền - Bài ngợi ca tình yêu).

Một bài thơ bình dị, không có từ mới, vẫn có thể là bài thơ hay, rất hay, miễn là có góc cạnh mới lạ, lời thơ giản dị, trong sáng, hay nồng nàn, thành khẩn...Thí dụ :

Em tan trường về
Ðường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng
Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài
(Phạm Thiên Thư - Ngày xưa Hoàng thị)

Hay là:

Nhớ chăng Barbara
Hôm ấy mưa rơi hoài xuống Brest
Anh gặp em ở phố Xiêm
Em mỉm cười
Và anh cũng mỉm cười
(Thanh Tâm Tuyền - Barbara, dịch thơ Jacques Prévert)

Hay là:

Ðón em suốt bãi sông Hằng
Cát muôn kiếp mãi nhớ lần gặp xưa
Hẹn về dù nắng dù mưa
Hẹn về dù sớm dù trưa cũng về
(Tô Thùy Yên - Suốt bãi sông Hằng)



Sáng tạo

Ngoài ra, thơ hay cần từ ngữ sáng tạo. Thi sĩ mất nhiều thì giờ ở điểm này. Sáng tạo không phải là chế ra chữ mới, mà dùng chữ đã có với nghĩa khác thường. (Chế ra chữ mới cũng được thôi, nhưng nếu người đọc không hiểu thì lại thành thơ bí hiểm.)

Hãy xem những từ gạch dưới :

Em về, cát bụi òa lên
Trăm thương nghìn nhớ vỡ rền thế gian
(Tô Thùy Yên - Suốt bãi sông Hằng)

Tiếng kèn hát mãi than van
Ðiệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
(Thanh Tâm Tuyền - Dạ khúc)

Người đàn ông trở dậy sau giấc ngủ trưa
Mặt trời sáng lòa
Một người nào đội nón đi ra
Tiếng guốc bốc cháy lên hàng cây tù tội
(Nguyễn Vũ Văn - Cảm giác buổi chiều)

Tô Thùy Yên phục hồi cổ ngữ. Một cách làm mới thơ ? Hãy xem:

Ðêm nằm, lệ chảy mòn tay
Nghe chừng đá nát vàng phai đến điều
(Hái rau)

Ðòi phen toan đẩy cửa liều
Ra cùng thiên hạ vui chiều ngửa nghiêng
(Suốt bãi sông Hằng)

Thảng như con ngựa già vô dụng
Chủ bỏ ngoài trăng đứng một mình
(Góa phụ)

Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
Giữa cánh đồng không bên kia sông
(Hề, ta trở lại gian nhà cỏ)

Dưới đây là những chữ do tác giả sáng chế ra, để độc giả tự tìm hiểu :

Rừng đưa mái võng treo triền
Như quằn chiều sánh, như lền gió qua.
(Tô Thùy Yên - Hái rau)

Nổi chìm, lệ lợ máu lền
Ðau thương thôi đã pha rền tử sinh
(Tô Thùy Yên - Suốt bãi sông Hằng)

Những ý thơ thách đố độc giả:

Em nói như gió nghẹn
Chiều nghiêng mây Thị Mầu
(Hoàng Cầm - Chuyện trăm năm)

Mây thành thổi lửa
Nẻo Ðông Triều khép mở gió kỳ lân
(Hoàng Cầm - Ðêm thổ)

Vừa khi vuốt tóc nhìn chênh bến
Chợt thấy dài xanh ngất nước mây
Hoa khô xây bậc cho thềm ngọc
Một phím đàn đôi bốn cánh bay
Ngự đỉnh dài ánh nguyệt xuyên xanh
Ðón chào nữ chúa khóc vô thanh
(Hoàng Cầm - Ngã ba sông)

Biểu tượng

Thi ca thường dùng biểu tượng, thí dụ mùa xuân hay mầu hồng chỉ sự tốt đẹp, mùa đông hay màu xám chỉ sự buồn rầu, chết chóc. Biểu tượng có tính cách phổ quát, được mọi người chấp nhận. Thơ hay cũng cần làm mới biểu tượng.

Thí dụ, Trần Dạ Từ dùng hoa và trái thay cho mùa xuân :

Hoa và trái một đêm nào thức dậy
Nghe mộng đời xao xuyến giấc xuân xanh
(Mộng đời)

Riêng Thanh Tâm Tuyền có lối dùng biểu tượng rất độc đoán :

Sao tuổi trẻ qúa buồn
Như con mắt giận dữ
(Dạ khúc)

Giận dữ không thể là biểu tượng cho cái buồn. Con mắt giận dữ có thể buồn, nhưng buồn không nhất thiết có nét giận.

Nếu đã đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng hay sang Bắc Ninh
Nếu đã đi từ Sài Gòn xuống Vĩnh Long hay lên Thủ Ðầu Một
Chuyến xe vẫn chỉ thuộc một mình
(Bao giờ)

Những đoạn đường nói trên cũng không buộc phải là đoạn đường độc hành.


Ðiệp ngữ

Nguyên tắc chung là tránh điệp ngữ trong cùng một câu hay trong những câu liên tiếp, như dưới đây :


Quê nhà ôi những đêm tàn lửa
Phía mặt trời ai gọi lửa lên
(Khoa Hữu - Trở về)

Hay là :

Mười năm thế giới già trông thấy
Ðất bạc màu đi, đất bạc màu
(Tô Thùy Yên - Ta về)

Những trường hợp dùng điệp ngữ :

1 - để nói đến ý của chính chữ đó:


Ôi, mê hoặc ngày ta trở lại
Núi còn đây tưởng núi hoang đường
(Khoa Hữu - Trở về)

Ta rảo quanh làng hóng chuyện phiếm
Ðời người cũng chuyện phiếm mà thôi
(Tô Thùy Yên - Ta về)

2 - để nhấn mạnh :

Mặt trời mọc !
Mặt trời mọc !
Rưng rưng mùa hoa gạo
(Quách Thoại - Trăng thiếu phụ)

3 - để diễn tả một động tác kéo dài hay lập đi lập lại :

Trên cánh đồng hoang thuần một màu
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chạy mau tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu
(Tô Thùy Yên - Cánh đồng con ngựa chuyến tàu)

4 - để tạo âm hưởng đặc biệt :

Ở đây ta có dăm người bạn
Phúc tự tâm, không lý đến đời
Ở đây ta có dăm pho sách
Và một dòng sông, mấy cụm mây...
Dòng sông hiền triết trôi vô lượng
Dòng sông hiền triết chảy vô tâm
Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ
Mà ta thân thiết tựa tri âm...
(Tô Thùy Yên - Hề, ta trở lại gian nhà cỏ)

Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi
Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
Anh sẽ nhớ suốt đời mưa tháng sáu
(Nguyên Sa - Tháng sáu trời mưa)

5 - để mở rộng ý phụ :

Dưới đây là một bút pháp nhằm mở rộng một ý mà vẫn giữ tính cách thống nhất của ngữ pháp :

Nhân danh dân chủ tự do
Chúng bán đầy đường súng đạn
Chúng bán đầy đường sinh mạng
Dạy nhau cách giết người
Lấy tội ác viết tiểu sử
(Nguyễn Vũ Văn - Vì sao)

Trong đoạn thơ trên, câu thứ 3 nhằm mở rộng ý của câu thứ 2 (súng đạn = sinh mạng) mà vẫn giữ được chữ "Chúng" làm chủ từ (subject) cho 2 câu cuối cùng.
 

Hansy
30-11-11, 03:12 PM
Đoạn 5.

BÚT PHÁP

Bút pháp là cách hành văn, bao gồm cả cú pháp (syntax, syntaxe), lối viết (style) và cách diễn đạt (tournure, turn of phrase).
Bút pháp thơ thật là đa dạng. Có những cách mà các nhà thơ đều dùng để cô đọng thơ, so sánh đối tượng, làm mới thơ... Ở đây tôi xin nói đến một số bút pháp chung và bút pháp đặc biệt của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, và Nguyễn xuân Thiệp.

A.BÚT PHÁP CHUNG

1. Dùng từ đồng cách (apposition)

Ðồng cách từ là bút pháp phổ biến nhất để giải thích, so sánh, mở rộng ý nghiã của một từ ...

Thí dụ :

Ðôi khi anh muốn tin
Ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
Mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
Vòng ân ái
(Thanh Tâm Tuyền - Lệ đá xanh)

= Cánh tay em là vòng ân ái.

Trán mênh mông, cánh sông dài
Thổ ngơi xuôi mái, hồn ngoài châu thân
(Viên Linh - Nghi hoặc nỗi gì)

= Trán mênh mông như cánh sông dài

2. Xén bớt những từ để cô đọng lời thơ

Xin đọc đoạn thơ này:

Em độc thoại lời kinh ánh xanh
Trăng lu khuya mỏi nén nhang tàn
Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa
Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn
...
Ngọn đèn hư ảo chong linh vị
Thắp trắng thời gian mái tóc em
(Tô Thùy Yên - Góa phụ)

Bạn có thể nhận thấy những từ gọt bỏ nếu diễn ý như sau :

Em độc thoại lời kinh ánh xanh
Trăng lu, về khuya, vì mỏi nên nén nhang tàn
Chó tru thăm thẳm làm ngây ngất thiên địa
Trên mái ngói nghiêng triền, trái rụng lăn xuống
...
Ngọn đèn hư ảo chong linh vị
Thắp trắng thời gian trên mái tóc em

Thí dụ 2 :

Ðôi khi anh muốn tin
Ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
Mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
Vòng ân ái
(Thanh Tâm Tuyền - Lệ đá xanh)

Diễn ý :

Ðôi khi anh muốn tin
Rằng ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
Mà bên cỏ hoa là cánh tay em quyến rũ

Thí dụ 3 :

Hồn thảo mộc giấc ngủ
Nằm mơ những ngôi sao mặt trăng
(Thanh Tâm Tuyền - Mai)

Diễn ý :

Trong giấc ngủ, hồn như hồn của thảo mộc
Nằm mơ những ngôi sao và mặt trăng

Thí dụ 4 :

Tao nhớ mày những rừng giang đồi sắn
Ðiếu thuốc lào tê tái lúc tinh mơ
Ngọn rau hoang tô canh ảm đạm
(Nguyễn Vũ Văn - Nhớ người vượt biển)

Diễn ý :

Tao nhớ mày cùng những rừng giang, đồi sắn
Cùng điếu thuốc lào tê tái lúc tinh mơ
Cùng ngọn rau hoang làm nên tô canh ảm đạm

3. Xén bớt từ để làm mới thơ

Những từ trong ngoặc dưới đây đã được lược bỏ để làm mới cú pháp :

Nhớ em một đóa thanh tao
Kết tinh nữ sắc từ (khi) vào trần gian.
(Nguyễn Vũ Văn - Sợi tóc)

Ngàn (năm) xưa ai từng ở nơi này
Rồi đến (năm) ngàn sau ai đến đây
(Phạm Thiên Thư - Liềm trăng)

Vân vân

4. Thêm từ

Nhiều từ được thêm vào cho ý thơ có vẻ mới lạ, nhưng thật ra không có tác dụng gì.

Thí dụ những từ gạch dưới trong các câu này :

Hôm nay
tuổi nhỏ khóc trên vai
(Thanh Tâm Tuyền)

Hôm nay chợt nhớ thương người
Tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh
(Trần Dạ Từ - Nụ hôn đầu)

Khuya buồn tủi nhục môi em
Mưa bay nhỏ nhẹ qua thềm bơ vơ
(Phạm Công Thiện - Ngày sinh của rắn)

5. Ðổi chữ

Thay vì "tôi chờ đợi lớn lên như giông bão" :

Tôi chờ đợi
Lớn lên cùng giông bão
(Thanh Tâm Tuyền - Bài ngợi ca tình yêu

6. Mượn cái này tả cái khác :

Ðể tả nỗi khao khát ra biên giới mà vùng vẫy :

Ðường nào ra biên giới
Gió vẫy vùng cỏ cây
(Nguyễn Vũ Văn - Cỏ úa)

7. Kết hợp ý của các mệnh đề độc lập (independent clauses).

Thí dụ 1 :

Khúc tình ca thần nữ
Người con gái khỏa thân
Vung lên từng chuỗi ngọc
Trong miền sương mong manh
(Nguyễn Vũ Văn - Trên con đường nhà thờ)

Câu thứ nhất độc lập với các câu sau về ngữ pháp, nhưng kết hợp với ý của các câu đó thành một chi tiết duy nhất.

Thí dụ 2 :

Chiếc cửa sổ nào ai mở ra
Tiếng dương cầm bâng khuâng một thời dĩ vãng
(Nguyễn Vũ Văn - Cuối thu)

Hai câu trên hàm ý tiếng đàn thoát ra từ cánh cửa sổ mở rộng.

8. Cụ thể hóa những cái trừu tượng

Ðây là nỗi buồn lởn vởn :
Nỗi buồn như bầy chiên
Vây quanh chàng mục tử
(Nguyễn Vũ Văn - Những cánh tay của gió)

9. Trừu tượng hóa những cái cụ thể

Nghe thiên thu cũng trở trời
Áo phơi mùa trước như lời bỏ quên
(Tô Thùy Yên - Suốt bãi sông Hằng)

Sợi tóc đen như một chuỗi cười
Trên chùm môi lá biếc
(Thanh Tâm Tuyền - Tháng giêng)

10. Dùng đảo ngữ

Ðảo ngữ thường được dùng với mục đích :

- thỏa mãn âm vận hay âm điệu :

Ðôi khi anh muốn tin
Ngoài đời đầy cỏ hoa tinh khiết
Mà bên cỏ hoa quyến rũ cánh tay em
Vòng ân ái
(Thanh Tâm Tuyền - Lệ đá xanh)

Quản chi lớp lớp hư hình
Dài đêm đăm đắm mắt nhìn quầng thâm
(Tô Thùy Yên - Suốt bãi sông Hằng)

Vừa khi vuốt tóc nhìn chênh bến
Chợt thấy dài xanh ngất nước mây
(Hoàng Cầm - Ngã ba sông)

- thay đổi bút pháp :

Người về như sóng
Buồn tôi quanh năm
...
Bóng hình chia đôi
Sầu tôi lụ khụ
(Du Tử Lê - Một bài thơ nhỏ)

B. BÚT PHÁP NGUYÊN SA

Nguyên Sa có một lối viết đặc biệt, luôn luôn nghĩ ra những chi tiết rất nhỏ, ngộ nghĩnh, vẩn vơ, đôi khi chẳng có ý nghĩa gì, nhưng đó lại là chất thơ của ông.

Bầu trời mây ở dưới áng mây cong
Em có muốn anh giữ giùm phân nửa?
....
Bài hát đó mang cho anh hò hẹn
Em nhớ mang vàng cho cúc, ngọc cho lan
Mang cầu vồng cho khoảnh khắc mưa tan
Và môt chút vai em cho huệ trắng...
....
Yêu cuộn tròn trong tám chữ mây qua
Khi em tới lượn vòng trên mái tóc...
(Tháng giêng và anh)

Em có đứng ở bên bờ sông
Làm ơn che khuất nửa vừng trăng
Anh về có nương theo giòng nước
Anh sẽ tìm em trong bóng trăng
(Paris có gì lạ không em)

Nguyên Sa ưa dùng công thức : "A hay là B", "sao không A mà như có A", "sao không A để cho tính cách/hậu qủa của A", và "có phải A nên có tính cách/hậu qủa của A".

1. "A hay là B"

Ðôi khi B chẳng có ý nghĩa gì, chỉ là ý tưởng vơ vẩn.

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?
Có phải mùa xuân sắp sửa về
Hay là gió lạnh lúc đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Ðể nắng thu vàng giữa lối đi?
(Tương tư)

Nắng thu vàng có liên quan gì đến gió lạnh và màu áo? Nếu nắng thu vàng là màu áo thì có liên quan gì đến gió lạnh?

Hay là :

Muôn vì hành tinh rung nhè nhẹ
Hay ly rượu tàn run trên môi
Người về trên một dòng sông xanh
Trên một con tàu hay một ga mông mênh
Sao người không chọn sông vắng nước
Hay nước không nguồn cho sông đi quanh?
(Tiễn biệt)

Sông vắng nước để cho nước cạn, người không đi xa. Sông đi quanh để cho thuyền đi vòng trở lại.

2. "Sao không A mà có như có A"

Sao người không là một con đường
Sao tôi không là một ga nhỏ
Mà cũng có những giờ gặp gỡ
Cũng có những giờ chia tan ?
(Tiễn biệt)

3. "Sao không A để cho có tính cách/hậu qủa của A"

Sao người không là vì sao nhỏ
Ðể cho tôi nhìn trong đêm thâu ?
Sao người không là một cung đàn
Cho tôi mềm lòng trong tiếng than
(Tiễn biệt)

4. "Có phải A nên có tính cách/hậu qủa của A"

Có phải tên người là âm thanh vô vọng
Nên mắt buồn le lói thoáng bơ vơ
Hay một đêm nao nước lụt Ngân Hà
Thượng Ðế đưa sao mang gửi về khóe mắt ?
(Ðẹp)

Nguyên Sa cũng hay hỏi tại sao :

Tay anh dài sao em không gối mộng
Thơ anh say sao chẳng uống cho đầy
Mắt thuyền trôi anh chèo cả hai tay
Sao chẳng ngự cho hồn anh xuống nhạc
(Người em sống trong cô độc)

Bút pháp này gợi nhớ đến bài Tống biệt hành của Thâm Tâm:

Ðưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?
Trời chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

C. BÚT PHÁP THANH TÂM TUYỀN

Những chữ "vậy em biết không" dưới đây tạo ra một âm hưởng đặc biệt, tha thiết :

Chẳng là anh ngông cuồng kiếm tìm tổ quốc vậy em biết không. Mà tổ quốc ngàn đời nín thở vì t rời th ì xanh mà khổ đau nói sao cho hết. Chẳng là anh chót yêu em vậy em biết không ? Mà khi yêu nhau, trong những đêm sao hằng hà, làm thế nào để quên được nhau.
(Thanh Tâm Tuyền - Liên, mặt trời tìm thấy)

Nếu bạn muốn khóc cho những cuộc tình tan vỡ mà không ra được nước mắt, bạn sẽ viết như thế nào ? Còn Thanh Tâm Tuyền thì mượn đôi mắt của người khóc:

Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest
(Thanh Tâm Tuyền - Hãy cho anh khóc bằng mắt em)

Nói đến một con người tội lỗi trong cái "tôi" :

Tôi xin một chỗ qùy thầm kín
Cho đứa nhỏ linh hồn
Sợ chó dữ
Con chó đói không màu
...
Em bé quàng khăn đỏ ơi
Này một con chó sói
Thứ cho sói lang thang
(Phục sinh)

Nỗi buồn vì tuổi trẻ bất lực :

Hôm nay
Tuổi nhỏ khóc trên vai
(Thanh Tâm Tuyền - Bài ngợi ca tình yêu)

Thanh Tâm Tuyền có một bút pháp rất "Tây". Hãy xem ông diễn tả :

- Người đàn bà nhớ lại những câu thơ cũ :

Những lời thơ rất cũ
Gõ cửa trái tim nàng
(Mai)

- Một người đàn bà đã ra khỏi đời mình :

Người đàn bà ấy mang tên
Lời từ biệt
(Bao giờ)

Một bút pháp đặc thù Thanh Tâm Tuyền hay sử dụng là dùng một đối tượng khác để diễn tả đối tượng mình đang nói tới. Bạn buồn ư ? Ðừng nói "tôi buồn", mà nói "trời buồn" hay "con ngựa buồn".

Thật vậy, để diễn tả nỗi buồn trong đôi mắt, TTT dùng mắt ngựa thay cho mắt đối tượng. Bạn có thể thay bằng một con vật khác và ý thơ không thay đổi:

Con ngựa buồn
Lửa trốn con ngươi
(Bài ngợi ca tình yêu)

Ðể diễn tả một sự tương thuộc, TTT dùng cỏ và hoa thay cho hai đối tượng, nhưng bạn cũng có thể thay bằng hai cái gì khác :

Cỏ của hoa và hoa của cỏ
Những ngón tay những ngón chân những nụ cười
(Cỏ)

D. NGUYỄN XUÂN THIỆP : THƠ TÙY BÚT

Tùy bút là một thể loại hồi ký ngắn ghi lại những cảm nghĩ liên quan đến một ngoại cảnh nào đó.

Trong một số bài, Nguyễn xuân Thiệp làm thơ như viết tùy bút, như văn xuôi có vần, không dùng biểu tượng, không thắc mắc về từ ngữ mới, và không dùng các bút pháp thông thường của thi ca như đã đề cập trong đoạn này. Lời văn giản dị. Ý thơ tinh tế, cái tinh tế của thể tùy bút.

Hãy đọc :

này em. chưa đan xong chiếc áo len quàng cổ
thì gió mùa đêm nay đã đến đầy phòng
thổi rung liếp cửa
em có nghe tình ta âm vang dưới bầu trời hun khói
âm vang qua đồng cỏ tranh
lại gặp nhau
tôi cùng gió mùa
để đêm nay có người lục lại gối chăn trong hòm cũ
tìm lại chiếc gương xưa
để sớm mai
hồng má trẻ con
se môi thiếu phụ
để người đi xa một sớm quay về
(Tôi cùng gió mùa)

khi bầy chim ngủ đỗ ở những ngoϮ cây bên bìa rừng
cuخg cất tiếng hót
đợi ngày lên
chúng tôi. những tình nhân thất laϣ nhau trên mặt đất
không được nhìn thấy nhau
chỉ nghe tiếng nói. như từ giấc mơ naد
của dòng sông. đã lãng quên
(Mùa cuối)

Hansy
30-11-11, 03:16 PM
Ðoạn 6.

ÂM ÐIỆU

Tiếng Việt là một ngôn ngữ tự nó đã có âm điệu, 6 thanh tạo nên một thang âm trầm bổng. Cho nên bài thơ nào cũng có âm điệu, chỉ có vấn đề là hay hoặc dở. Âm điệu phụ họa được với ý thơ là hay, âm điệu trúc trắc là dở.

Người biết ngâm thơ có thể ngâm bất cứ bài thơ nào. Tuy nhiên, có những bài thơ chỉ để đọc hoặc chỉ nên đọc, chứ không ngâm bởi vì âm điệu gần như văn nói. Thí dụ như một số bài thơ của Thanh Tâm Tuyền, nhất là trong tập "Tôi không còn cô độc". Hãy xem một bài :

tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ thanh tâm tuyền
(Thanh Tâm Tuyền - Phục sinh)

Thơ Việt nam hay hơn thơ Tây phương về âm điệu, diễn ngâm không nhất thiết cần lấy giọng và làm điệu bộ như kịch sĩ, bài thơ hay tự nó đã chứa âm điệu phù hợp với nội dung. Những lời thơ trong Truyện Kiều và Chinh Phụ Ngâm chẳng hạn, là chứng minh hùng hồn cho âm điệu tuyệt tác.

Thơ mới cũng không thiếu những âm điệu đủ mọi phong thái. Thí dụ :

Âm điệu hùng tráng :

Sóng lớp lớp rượu ba tuần thuở ấy
Tiếng vang vang như thần kêu qủy hét,
Trời ngập ngập như quân khiêu tướng thét
Gọi qúa khứ vị lai những u hồn
Muôn nghìn đời linh thiêng không sống chết
(Lý đông A - Chính khí Việt)

Âm điệu hào sảng, khí khái :

Người đi, ừ nhỉ người đi thật
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu cay
(Thâm Tâm - Tống biệt hành)

Âm điệu dồn dập :

Trên cánh đồng hoang thuần một màu
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chạy mau tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu
...
Mặt trời mọc xong mặt trời lặn
Ngựa gục đầu gục đầu gục đầu
(Tô thùy Yên - Cánh đồng con ngựa chuyến tàu)

Âm điệu tha thiết :

Hỡi Liên những Liên và Liên
Làm thế nào để quên được nhau. Hạt mưa kia long lanh hỗi nhớ niềm từ biệt, hoàng hôn bàng hoàng màu khói nhạt. Hôm nay quê hương từ bỏ, anh đau đớn làm đứa con hoang đầu đường xó chợ...
(Thanh Tâm Tuyền - Liên, mặt trời tìm thấy)

Âm điệu trầm buồn, từ cao xuống thấp dần rồi nghẹn lại :

Bây giờ là mùa thu trời xuống thấp buồn vô cùng
(Thanh Tâm Tuyền - Khai từ một bản anh hùng ca)

Âm vận và ngữ âm là những yếu tố của âm điệu.

Âm vận gồm nhiều vần trắc có âm thái sắc cạnh có khả năng diễn tả những tình cảm mạnh. Thí dụ :

Một ngày lạnh nước người không tri kỷ
Ta vỗ án hét thành ca chính khí
Ðông thê thê như gió thổi u hồn
Thấu buốt tận lòng người trong cốt tủy.
(Lý đông A - Chính khí Việt)

Bài thơ có nhiều âm bằng cho âm điệu ngang ngang phù hợp với tâm trạng buồn bã, hoang mang, bàng hoàng... Thí dụ :

Sương lan mờ, bờ sông tường gần nhau
Sương lan mờ và hồn tôi nghe đau
(Xuân Diệu - Sương mờ)

Sài Gòn chiều nay trời còn mưa không em
Ðường về hình như nhà ai đang lên đèn
Sầu tư nghe về nghìn trùng trong tim
Trời còn mưa, mưa hoài, mưa trong đêm
(Huy Phương - Mưa chiều)

Phần lớn những bài thơ loại này có ý thơ sáo rỗng, gượng gạo, vì cố tìm cho ra những âm bằng.

Sự thống nhất âm điệu

Thơ lục bát và thất ngôn có âm điệu trầm bổng đặc biệt. Còn thơ tự do có âm điệu gần với văn nói hơn. Một câu thơ 6 chữ trong thể lục bát với một câu thơ 6 chữ trong thể tự do có âm điệu khác hẳn nhau. Khi ta làm thơ, chính âm điệu của câu thơ đầu tiên dẫn đến các câu sau theo một thể thơ nào đó.

Một số người cho rằng bài thơ không như bản nhạc, cần thống nhất âm điệu để có một âm hưởng thuần nhất. Do đó không nên xen lẫn hai thể thơ trong một bài, như chêm mấy câu lục bát hay thất ngôn trong một bài thơ tự do.


Phân biệt âm điệu và hơi thơ

Hơi thơ ví như khoảng cách giữa những dấu lặng hoặc chỗ ngân dài trong một bản nhạc. Hơi thơ góp phần thay đổi âm điệu, có thể là những chỗ xuống dòng hay dấu chấm câu trong bài thơ. Cũng có khi một hơi thơ bao gồm cả mấy dòng thơ, tùy theo ý thơ.

Thể thơ là yếu tố chính của hơi thơ. Thể thơ càng dùng câu thơ dài thì hơi thơ càng dài. Hơi thơ ngắn dùng để diễn tả những âm thanh ngắn như lời tán thán, hô khởi, tiếng nức nở, nghẹn ngào, tiếng mưa rơi, vân vân. Hơi thơ dài dùng để diễn tả những tình ý tha thiết, lời kêu gọi hùng hồn, vân vân. Như đã nói trong thể thơ
 

KẾT LUẬN

Ta có thể rút ra những yếu tố của một bài thơ hay theo thứ tự ưu tiên:

1. Ý mới, chi tiết mới.
2. Bút pháp chọn lọc.
3. Không dùng từ ngữ cũ. Từ ngữ mới càng hay.
4. Hợp vận.
5. Âm điệu và hơi thơ thích hợp.
6. Dàn ý hợp lý.

Ý thơ và bút pháp là những yếu tố quan trọng nhất.

Ý niệm "mới" hay "cũ" đề cập ở trên là dựa vào kinh nghiệm đọc thơ nhiều.

Ðó là tiêu chuẩn xét một bài thơ hay về phương diện khách quan. Về phương diện chủ quan, đánh giá một bài thơ hay còn tùy thuộc trình độ kiến thức của người đọc. Tốc độ cảm nhận thơ cũng vậy, nhưng nó còn tùy thuộc cả kinh nghiệm sống và kinh nghiệm đọc thơ. Người có kiến thức rộng, người đã từng trải hoàn cảnh như trong bài thơ và người đọc thơ nhiều sẽ cảm nhận bài thơ mau chóng hơn những người khác.

Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để có thể đánh giá một bài thơ là bài thơ phải có thể hiểu được. Vâng, không hiểu thì làm sao biết thơ hay ?

Nói cách khác, bài thơ phải tự giải thích được, không cần tác giả giảng nghĩa. Với những bài thơ khó hiểu, tác giả cần phải tự hỏi mục đích làm thơ của mình là gì : để thưởng thức riêng mình hay cho người khác cùng thưởng thức. Nếu có một vài người khác tự họ hiểu được bài thơ, thì cũng coi như bài thơ có thể hiểu được. Còn không ai có thể hiểu được thì nhà thơ nên đặt lại vấn đề : có thể diễn tả một cách dễ hiểu hơn mà vẫn giữ được bản sắc kỹ thuật của mình hay chăng ? Nếu không thì tác gỉa sẽ muôn đời cô độc.

NGUYỄN VŨ VĂN
 

THƠ VÀ VẦN ĐIỆU – LÀM THƠ DỄ HAY KHÓ

 
 
Họa sĩ Chấn Hưng Thơ thì ai cũng thích, mà thơ là gì thì không ai định nghĩa được đầy đủ. Kẻ bảo thơ là tiếng hót của chim sơn ca, kẻ cho là tiếng thở của gió. Người lại bảo thơ là hoa, là suối, là ánh trăng, là đạo mầu, là trời là biển... là đủ thứ. Thực vậy thơ là muôn chất, không thể nào tóm tắt trong một định nghĩa vài dòng được. Có bao nhiêu thi sĩ, thì có bấy nhiêu quan niệm về thơ, và sản sinh ra nhiều trường phái thơ.
Thật ra thơ và làm thơ là một cảm xúc của con người trước một hiện tượng hay một sự kiện nào đó, rồi buông vần thơ cho riêng mình và đã ghi lại cảm xúc ấy bằng biểu tượng cô đọng của ngôn ngữ, vậy là bài thơ ra đời. Quá trình tập luyện các kỹ năng, am hiểu vần điệu của cách làm thơ (luật thơ) và vận dụng các qui luật ấy, cách gieo vần nhuần nhuyễn và ý tứ của từ ngữ súc tích đã tạo ra bài thơ.

Thơ ca theo nghĩa rộng ra thì bao gồm: Thơ, phú, hò, vè... là một bộ phận văn học còn gọi chung là văn vần để phân biệt với bộ phận khác của văn học gọi là văn xuôi gồm: Tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch... Là một bộ phận văn học, môn nghệ thuật này dùng ngôn từ, ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt, thơ ca cũng gắn với một ngôn ngữ nhất định.

Một đặc điểm của thơ ca, đó chính là vần điệu. Không có vần điệu là không phải là thơ ca, dựa trên nền tảng là ngôn từ, vần và điệu, để tạo thành cấu trúc. Ví dụ:

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Hai câu thơ dù có mượn ý từ hai câu thơ Đường "Phương thảo thiên biên bích. Lê chi sổ điểm hoa. (Cỏ thơm liền với trời xanh, Trên cành lê có mấy bông hoa.) thì bậc thầy thơ ca Nguyễn Du chỉ sáng tạo thêm chữ "trời"; chữ "Tận" và chữ "Trắng" cộng với vần điệu lục bát của Việt Nam đã tạo được hai câu…? Và mùa xuân cuối của câu sáu, gieo vần vài là chữ thứ sáu của câu tám. Sự gieo vần như vậy cùng phối hợp về thanh điệu, ngữ điệu giữa các chữ tạo thành cấu trúc có vần điệu chính đã tạo ra câu thơ rất hay.

Cho nên làm thơ cũng như soạn nhạc, nếu không nắm vững nhạc lý tiết tấu và điệu thức thì chắc chắn không thể soạn những ca khúc hay được, dù đã có được năng lực thiên phú đi nữa. Các bộ môn nghệ thuật cũng vậy. Hễ nói đến nghệ thuật đều phải có quy tắc và cấu trúc, vì khi nghệ thuật phát sinh là do tư duy cấu trúc tạo thành. Bởi vậy Tản Đà tiên sinh có phán: Đờn là đờn, thơ là thơ/ Thơ thời có nhịp, đờn có tơ. Đến việc viết văn cũng cần phải có quy tắc, huống hồ là làm thơ. Quả vậy các nhà thơ nổi tiếng từ xưa đến nay đều nắm rất vững các quy tắc Luật thơ để sáng tác những vần thơ mượt mà đẹp đẽ trong vần điệu, để mãi mãi đi vào lòng bao thế hệ yêu thơ là thế. Trong thơ ca, dĩ nhiên tâm hồn và mỹ cảm là những yếu tố quyết định chất lượng bài thơ. Song thi sĩ khó mà thể hiện được ý đồ sáng tác nếu không làm chủ được thi pháp. Và nếu nói tới tác phẩm hay thì rõ ràng kỹ thuật (thi pháp) giữ một vai trò vô cùng quan trọng để giúp thi sĩ thể hiện tác phẩm, giống như câu nói nửa đùa nửa thật của danh họa Picasso: "Je ne cherche pas, je trouve!". Cũng mang hàm ý trên: Họa sĩ không tìm kiếm vu vơ trên mặt vải, anh ta chỉ vật lộn với chính mình để thể hiện cái ý tưởng mà anh ta đã có sẵn trong đầu trước khi đặt bút vẽ. Chính qui tắc vần điệu thi pháp trong thơ cũng tạo cho thi sĩ buông vần thơ hay là thế.

Thơ Mới ngày nay:

Cũng như tôi, bạn cũng bâng khuâng một số kiến thức về Luật thơ được trang bị trên ghế nhà trường không thỏa mãn cho chúng ta hiểu được thế giới thi ca ngày xưa và ngày nay. Bài viết này cũng mạnh dạn trình bày lại một số thi pháp để chúng ta biết được vấn đề làm thơ dễ hay khó, và từ đây chúng ta có thể thưởng thức một bài thơ hay dở thế nào. Và nắm được vần điệu thơ để sáng tác thơ... để tránh rơi vào tình trạng tha hóa thẩm mỹ, dung tục gượng ép. Bài viết không đi vào các dòng thi ca mà chỉ trình bày kiến thức về thi pháp mà những bài thơ xưa quy định chặt chẽ: Thơ Đường luật, lục bát và song thất lục bát.

Đầu thế kỷ XX phong trào chữ Quốc ngữ lan khắp, nhiều trí thức lớn đã trăn trở với nền tân học đã tiên phong khai sinh ra những dòng văn xuôi và văn vần mới. Nguyễn Văn Vĩnh chuyên dịch thơ ngụ ngôn của La Fontaine, đã tìm ra một điệu mới để dịch bài Con ve và con Kiến (1913) mà nhiều người cho Ông là người khai sinh ra dòng Thơ Mới cùng với Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Năm 1932 sự xuất hiện của phong trào Thơ Mới, là một cuộc đại cách mạng trong lịch sử thơ ca của Việt Nam. Thời kỳ đầu, các thi sĩ Thơ Mới đả phá thi pháp của thơ cũ và tư tưởng nghệ thuật cũ. Tuy nhiên, nhìn lại các tác phẩm thời kỳ này, sẽ thấy nó vẫn kế thừa, tiếp nhận và chọn lọc, dung hòa nghệ thuật của các nền tảng: Ca dao-thơ thuần Việt - thơ Trung Hoa- và văn chương phương Tây (Pháp). Cùng với việc đón nhận làn gió mới nhưng cũng không xa rời các nền tảng trên, đã được Việt hóa hàng ngàn năm. Trong cuộc cách mạng này, Thơ Mới đã bỏ đi rất nhiều hình ảnh cũ kỹ sáo mòn. Nhưng Thơ Mới cũng giữ lại và làm mới không ít các hình ảnh tuy đã cũ, về tâm hồn về tâm linh tín ngưỡng của đời sống Việt. được kết hợp và diễn tả theo một kiểu thức mới, tạo ra những cảm xúc và hiệu quả thẩm mỹ mới, lạ lùng và xao xuyến. Và đặc biệt Thơ Mới đã tiên phong trong vần điệu và một thi pháp mới lạ mà ta có được cho đến hôm nay.
 


Trong Thơ Mới câu thơ không có hạn định nào về số chữ. Và cũng không tuân theo luật bằng trắc nào như trong thơ cũ. Thơ mới mở rộng ra, có thể đặt những câu ngắn từ 2, 3 chữ hoặc dài đến 9, 10 chữ. Nhưng vẫn theo những vần luật sau đây:

- Vần liền: Vần theo những cặp gián cách, từng cặp vần bằng trắc theo nhau liền, ví dụ trong bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan,
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới,
Đâu những cảnh bình minh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng,
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng,
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới.

- Vần chéo: Là cách gieo vần bắt chéo, câu 1 vần xuống câu câu 3, câu 2 vần xuống câu 4, ví dụ trong thơ Huy Cận:
Hạnh phúc rất đơn sơ.
Nhịp đời đi chậm rãi,
Mái nhà in bóng trưa,
Ong hút chùm hoa cải.

- Vần ôm: Là cách gieo vần để cho vần câu 1 với câu 4, ôm lấy vần câu 2 với câu 3. Ví dụ trong bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư:
Em nghe mùa thu,
Dưới trăng mờ thổn thức,
Em không nghe rạo rực,
Hình ảnh kẻ chinh phu

- Vần hỗn tạp: Là cách tham dụng tất cả các lối vần trên trong một bài, không theo một định lệ nào cả. Ví dụ trong bài thơ sau đây của Thế Lữ:
Tiếng địch thổi đâu đây.
Cớ sao mà réo rắt ?
Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt.
Mây bay, gió quyến, mây bay...
Tiếng vi vu như khuyên van như dìu dặt
Ánh chiều thu
Lướt mặt hồ thu.
Sương hồng lam nhẹ tan trên sóng biếc.
Rặng lau già xao xác tiếng reo khô,
Như khuấy động nỗi nhớ nhung thương tiếc.
Trong lòng người đứng bên hồ

Nhưng Thơ Mới vẫn có qui tắc và cũng phân làm các thể loại, số câu số chữ, cách gieo vần, và tựu trung gồm có mấy thể loại sau đây:

- Thể năm chữ: Mỗi câu có 5 chữ. Số câu không hạn định, thường chia làm khổ 4 câu. Vần có thể theo các kiểu vần liền, vần chéo, vần ôm hoặc vần hỗn tạp. Thường cứ gián cách vần trắc với vần bằng. Nhưng chỉ có vần cước không có vần yêu. Thể thơ này phân làm khổ 4 câu như thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt. Ví dụ như bài thơ Đi chùa hương của Nguyễn Nhược Pháp, Khách lạ đường rừng của Nguyễn Bính.

- Thể bảy chữ: Mỗi câu thơ có 7 chữ. Số câu không có hạn định, có thể chia thành khổ 4 câu. Tất cả phép niêm luật đối của thơ Đường luật đều bị bỏ qua, nhưng có khi vẫn được duy trì một phần, nhất là luật bằng trắc vẫn còn. Gieo vần theo các kiểu thơ Pháp, giống như kiểu tứ tuyệt cũ 4 câu 2 vần, hay 4 câu 3 vần. Ví dụ như trong bài thơ Trăng của Xuân Diệu

- Thể tám chữ: Mỗi câu có 8 chữ (hoặc xen vào ít câu 7 chữ hay 9, 10 chữ). Số câu không hạn định, thường dài, nhưng cũng có thể chia làm khổ 4 câu 6, 8 câu.. Về thanh bằng trắc trong câu, thường chỉ áp dụng luật hoán thanh tổng quát vào các chỗ ngắt đoạn. Vần thường theo kiểu vần liền, có khi có cả vần liền, có khi có cả vần yêu, câu thơ có giọng như Hát nói. Ví dụ như bài Cây đàn muôn điệu của Thế Lữ.
 
- Thể sáu tám: Tuy là loại thơ cũ, trước kia người ta thường dùng để sáng tác truyện liên hồi hàng ngàn câu. Trên cơ sở này người ta sáng tác ngắn đi và theo lối gieo vần truyền thống. Ví dụ bài thơ Ngậm ngùi của Huy Cận
Nắng chia nửa bãi chiều rồi,
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau,
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây.
Lòng anh mở với quạt này,
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.
Ngủ đi em mộng bình thường,
Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ
Cây dài bóng xế ngẩn ngơ,
Hồn em đã chín mấy mùa thương đau.
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.
Vần điệu niêm luật trong một bài thơ Đường luật:

- Niêm nghĩa đen là dán dính lại bằng chất hồ. Trong thơ, niêm là cách xếp đặt các câu thơ cho dính lại với nhau về nhịp thanh bằng thanh trắc và gây sự liền lạc mật thiết về âm điệu.

- Vần ở vào chữ chót câu đầu và các câu chẵn (như vậy bài thơ có 5 vần và chỉ dùng vần cước). Cả bài gieo một vần (độc vần). Vần bằng (thuộc thanh bằng)

- Thanh luật là luật chỉ định trong một câu thơ, chữ nào phải thanh bằng, thanh trắc. Chữ thanh bằng là chữ có dấu huyền hoặc không dấu, chữ thanh trắc là chữ có các dấu: Ngã, hỏi, nặng, sắc.

Trong thơ Đường luật, câu thơ nào cũng có 7 chữ, thanh luật áp dụng cho các chữ trong câu như sau:
a- Chữ chót (chữ thứ 7) tùy thuộc vị trí câu thơ đối với vần thơ. Nếu câu thơ mang vần (câu 1,2,4,6,8) thì chữ ấy bằng, nếu câu thơ không mang vần (câu 3,5,7 thì chữ ấy trắc).
b- Chữ 2,4,6 theo phép Nhị tứ lục phân minh, nghĩa là 3 chữ này phải bằng, trắc, bằng hoặc trắc, bằng, trắc.
c- Chữ 1,3,5 theo phép Nhất tam ngũ bất luận nghĩa là không kể đến luật bằng trắc, được tự do. Tuy nhiên trên thực tế, chỉ chữ 1 và 3 được bất luận, còn chữ thứ 5 phải khác thanh với chữ chót của câu thơ

Ta thấy ở luật bằng trắc này, luật lệ cốt yếu nhằm vào các chữ 2,4,6. Nhịp thanh của câu thơ dựa vào đó mà thay đổi lên xuống. Cho nên bài thơ nào bắt đầu với một câu thơ luật bằng thì gọi là bài thơ luật bằng. Bài thơ nào bắt đầu với câu thơ luật trắc gọi là bài thơ luật trắc.
Khái quát vần luật trên ta có một ví dụ bình giảng bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Bài này được coi là kiệt tác trong mấy nghìn năm qua của loại thơ Đường luật:
Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ
Thử địa không dư hoàng hạc lâu
Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Dịch thơ:
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn thơ
Hạc vàng bay mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai ?
(Tản Đà - dịch)
 
Về mặt hình thức, dễ nhận biết đây là bài thơ Đường luật thể thất ngôn bát cú (bảy chữ, tám câu) nhưng ngay trong mấy câu mở đầu, đã thể hiện một cú pháp rất đặc biệt, bởi sự phá hết niêm luật và thi pháp của thơ Đường. Về luật bằng trắc, câu 1 và câu 3 là những câu thể hiện sự phá cách táo bạo nhất. Theo luật thơ Đường, các vị trí nhị tứ lục thất trong câu thơ phải tuân thủ theo đúng quy định bằng trắc. Các vị trí 1,6,8 trong câu thơ thứ nhất đã hoàn toàn biến đổi ngược lại với quy định. Luật bằng trắc của bài thất ngôn bát cú, thơ vần bằng trong câu đầu lẽ ra phải là: BBTTTBB (Ví dụ: Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn - Bà Huyện Thanh Quan) thì câu thơ đầu của Hoàng Hạc Lâu biến thành TBTBBTT Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ. Tiếp đến, câu thứ 3 được cấu tạo với một loạt 6 thanh trắc đi với nhau, gợi lên một niềm xót xa trước sự nghiệt ngã của thời gian, của cuộc đời con người BTTTTTT Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản.

Thơ Đường vốn trọng sự cô đọng của câu chữ, đặc biệt tránh việc phải dùng những hư từ, trong bài thơ này được dùng một từ lặp lại nhiều lần "Hoàng Hạc" được 3 lần. "không" được 2 lần, tạo nên hiệu quả sự ám ảnh khôn nguôi về Hạc vàng. Hoàng Hạc Lâu là một kiệt tác của Trung Hoa và cũng là đỉnh cao chói lọi của thơ Đường nói riêng và của văn học Trung Hoa nói chung, ngàn năm không ai vượt qua nổi. Thi tiên Lý Bạch đứng trước Hoàng Hạc Lâu cũng phải gác bút mà thốt lên rằng: "Đình tiền hữu cảnh đạo bất đắc/ Thôi Hiệu đề thi tại thương đằn" (trước mắt có cảnh đẹp nhưng không sao nói được, vì đã có thơ của Thôi Hiệu sừng sững ở trên đầu).

Và giai thoại làm thơ:

Vương Bột thời tuổi trẻ đã nổi tiếng thần đồng, hạ bút thành thơ. Vương Bột cũng từng lặn ngụp chốn quan trường. Làm thơ nổi tiếng được xếp vào: "Tứ kiệt Sơ Đường" (cùng với: Dương Quýnh, Lạc Tân Vương, Lư Chiếu Tân). Cha Vương Bột bị điều đi xa làm thứ sử, anh đi thăm cha, bị đắm thuyền chết, yểu thọ 29 tuổi.

Bài thơ trên trích ra từ bài phú thể biền ngẫu (bài "Tự" hoặc Tựa) gọi là "Đằng Vương các tự" nhân dịp một bữa tiệc lớn được tổ chức ở Đằng Vương Các. Vương Bột đọc theo yêu cầu của chủ nhân lúc ấy là đô đốc Diêm Bá Tự. Bài phú được mọi người tán thưởng, thán phục tài hoa của chàng thi sĩ trẻ. Nhưng về sau có người chê rằng "hai câu thơ đầu còn có chỗ dở"... Truyền thuyết kể rằng sau khi chết, hồn Vương Bột vẫn còn uất ức vì chưa hiểu tại sao người ta chê thơ mình, nên đêm khuya thanh vắng thường hiện hình trên sông nước, níu áo những văn nhân sĩ tử qua đường, miệng đọc hai câu thơ trên và hỏi: "Ta dốt ở chỗ nào xin chỉ giúp". Nhưng ai cũng chỉ khen hay. Hồn Vương không hài lòng, mắng sĩ tử kia còn dốt hơn, đi thi khoa này ắt hẳn không đậu. Quả nhiên mấy người bị mắng đều thi rớt. Hồn Vương Bột sau đấy vẫn cứ dật dờ trên sông nước.
 

Ngày nọ có một văn nhân đi ngang qua đấy, hồn ma Vương Bột lại hiện hình níu áo hỏi. Chàng văn nhân cười bảo: "Nhà ngươi từng nổi tiếng "tứ kiệt Sơ Đường" mà bao năm không nhận ra cái dốt của mình ư?". Nói xong dứt áo quay đi. Hồn Vương tha thiết nài nỉ khách giải thích. Khách văn nhân chẳng đành phụ lòng cố thi nhân họ Vương bèn nói "Hai câu thơ thừa chữ "dữ" (với) và "cộng" (cùng). Nếu bỏ hai chữ ấy thì câu thơ tuyệt gọn và thanh thoát lại liền mạch:
Lạc hà cô vụ tề phi
Thu thủy tràng thiên nhất sắc
Hồn Vương Bột ngẩn người hiểu ra, bèn bái tạ vị khách qua đường... Từ đó không ai còn nhìn thấy bóng ma nhà thơ trẻ tài hoa Vương Bột xuất hiện nữa, hẳn là linh hồn ông đã siêu thoát.
Sao lại có câu chuyện làm thơ bi thiết mà thú vị đến thế !
Vì sao bao người khen bài thơ hay mà không nhận ra hai từ dư thừa ? Người chê Vương Bột sao chẳng chịu nói ra ? Biên giả cho rằng cái tài năng lập ý, chọn cảnh vật đã hay đến nỗi nó lấn át hai giới từ dư thừa (dữ, cộng) khiến nhiều người không để ý. Cho hay, văn chương chẳng biết đâu là bến bờ hoàn hảo. Thi sĩ Vương Bột chết thành ma vẫn trăn trở không thể siêu thoát được. Hồn ma ông vẫn muốn làm cho câu thơ được toàn bích. Câu chuyện sáng tạo văn chương công phu như thế thật là kỳ thú lắm! Trong bài này, chúng tôi vẫn ghép hai từ "dư thừa" nguyên tác của Vương Bột. (*)
Toàn bài Đằng Vương các tự của Vương Bột như sau:
Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc (...)
Đằng vương cao các lâm giang chủ
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ
Họa đống triêu phi Nam phố vân
Châu liêm mộ quyển Tây sơn vũ
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du
Vật hoán tinh di kỉ độ thu ?
Các trung đế tử kim hà tại ?
Hạm ngoại Trường Giang không tự lưu
 
Dịch thơ:
Gác Đằng cao ngất bãi sông thu
Ngọc múa vàng reo nay thấy đâu?
Nam phố mây mai quanh nóc vẽ
Tây sơn mưa tối, cuốn rèm châu
Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi
Mấy phen vật đổi với sao dời
Đằng Vương thuở trước giờ đâu tá?
Sông lớn ngoài hiên luống chảy hoài !
(Tương Như - dịch)
 
 
Giai thoại Hữu Loan:

Lạ lùng! Ai đó đọc hoặc ngâm bài thơ Màu tím hoa sim, độc giả đều bâng khuâng. Nghe các ca khúc phổ bài thơ Màu tím hoa sim thính giả đều bâng khuâng và... tất cả chúng ta đều bâng khuâng. Chỉ một bài thơ này mà nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc. Vào năm 1960 Dzũng Chinh soạn Những đồi hoa sim bằng điệu slow rumba theo âm giai Rê thứ. Nhạc sĩ Anh Bằng cũng phỏng theo ý thơ, để soạn ca khúc Chuyện hoa sim. Duy Khánh soạn Màu tím hoa sim phần ca từ theo sát bài thơ. Phạm Duy soạn Áo anh sứt chỉ đường tà (từ 1949 đến 1971 mới hoàn thành). Và là đề tài cho các nhạc sĩ soạn ra các ca khúc như Tím cả chiều hoang, Tím cả rừng chiều, Chuyện người con gái hái sim... Tất cả đều thành công.

Bài thơ và tác giả vẫn thăng trầm theo bao sự kiện của dòng đời. Nhưng đặc biệt Màu tím hoa sim trở thành bài thơ được trả tiền bản quyền cao nhất trong lịch thơ ca Việt Nam (kể cả châu Á). Vào năm 2004, Hữu Loan sửng sốt bằng lòng chuyển giao bản quyền tác giả bài thơ với giá 100 triệu đồng cho Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (Vitek) (**)
 
Trong giữa thế kỷ XIX, khi soạn xong Đại Nam quốc sử diễn ca theo thể thơ lục bát, Lê Ngô Cát dâng lên vua Tự Đức và được trọng thưởng, một xấp vải gấm và hai quan tiền. Về sau được tương truyền 2 câu thơ: "Vua khen thằng Cát có tài/ Ban cho cái khố với hai đồng tiền". Thưởng hay trả công? Bạn hãy so sánh giá trị đồng tiền trong hai thời kỳ và thời giá hiện nay!
 
 

Mãi mãi thơ vẫn là thơ

Từ phong trào Thơ Mới cho đến nay, làng thơ Việt Nam cũng đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đã hình thành nên các xu hướng và vai trò nhất định của thơ đã gắn liền sứ mệnh của mình với một thời kỳ nhất định nào đó trong lịch sử. Và các thời kỳ này đủ thời gian để cho các nhà phê bình đánh giá. Thời đại ngày nay có xu hướng thơ cận đương đại và đương đại.

Nhìn về mặt tổng thể, sự phát triển của thơ Việt Nam đương đại không còn yếu tố nhạc tính của thơ, độ mờ nhòe của ngôn ngữ, màu sắc lạ hoắc của ngôn ngữ, với những cách tân này người đọc càng cảm thấy mù mờ hơn về "ý đồ nghệ thuật" của các nhà thơ này - các cấu trúc của thơ bị phá vỡ, hình thức ngắt câu, hình thức xuống thang nhiều khi quá lạm dụng để làm lạ hoắc giọng điệu, chưa được giới yêu thơ đồng cảm. Phải chăng đây là chân dung của nàng thơ hiện đại!. Người ta cố gắng cách tân giọng điệu và ngôn ngữ, để tạo ra những nét mới theo kiểu phong trào. Kết quả cho ra đời những bài thơ, khi đọc lên đã thấy mệt và không ai hiểu nổi! Không ít người lại đưa ngôn ngữ vào thơ quá dễ dãi, quá bình dân và ngôn ngữ đời thường làm giảm tính nghệ thuật của thi ca. Hiện nay thơ bùng nổ về số lượng nhưng lại giảm về chất lượng ngày càng nhiều, chính điều này làm cho thơ ngày càng ít người đọc hơn, không còn được chào đón như những dòng thơ trước. Như nhận xét của Nguyễn Gia Nùng: Trong một vạn câu giống thơ, chọn được một câu thơ đã ứa nước mắt mừng vui (***). Đến đây có thể suy ngẫm câu này của nhà thơ nước Anh, Bulwer Lytton : In science, read by preference, the newest works, in Literature the oldest. The classic literature is always modern (Trong lĩnh vực khoa học, người ta thích đọc những tác phẩm mới nhất, còn trong lĩnh vực văn chương người ta thích đọc những tác phẩm cũ nhất. Văn chương cổ điển thì luôn tân kỳ).

Làm thế nào để có một bài thơ hay? Đây là nỗi trăn trở của các nhà thơ, người làm thơ. Bởi vì một bài thơ hay, sống với thời gian, và được người đời mến mộ, thì nó chẳng cần theo một xu hướng nào cả! Những bài thơ ấy tự nó đã định cho mình một xu hướng riêng trong lòng công chúng và nó sẽ tồn tại theo thời gian.Thơ Mới và thơ Hiện tại đã tiến một bước ngắn hơn 80 năm, so với nhiều thế kỷ của thơ Truyền thống, quá trình cách tân tìm cái mới của thơ ca cần phải quan niệm một cách sâu sắc hơn. Và dù đổi mới thế nào đi chăng nữa, thi ca vẫn phải là tiếng nói hồn nhiên nhất, nguyên sơ trong sâu thẳm trái tim và giàu tính nhân bản về đời sống vì sự cao đẹp của con người, và muôn đời mãi mãi thơ vẫn là thơ!... ?
 
ài liệu tham khảo:
1- Thi ca từ Trung Hoa- Phùng Hoài Ngọc
2- Tạp chí KTNN số 621- Phanxipang-tr: 41, 113, sđd.
3- Thi Nhân Việt Nam - Hoài Thanh, Hoài Chân.
4- Tuyển thơ 30 năm Nguyên tiêu Phú Yên 1980-2010 Hội VHNT Phú Yên - Nxb TT&TT -2010, tr.434.
 

 ********

Học làm thơ

   Thơ là một loại hình nghệ thuật của ngôn từ, âm thanh của thơ có vần có điệu nhịp nhàng. Lời lẽ của thơ ngắn gọn, hàm chứa, súc tích. Một bài thơ hay có thể làm người đọc rung cảm bởi tiết tấu, bởi nội dung, bởi hình thức thể hiện. Muốn làm thơ hay, các bạn phải có ý tưởng mới lạ, hoặc cái nhìn mới lạ về những sự vật, sự việc quen thuộc. Ngoài ra bạn phải có bố cục hay, tìm từ đắt giá. Một bài thơ lý tưởng, là bài thơ làm cho người đọc có cảm xúc sâu sắc và ấn tượng khó phai với bài thơ đó.

HỌC LÀM THƠ

TẠI SAO TA CẦN ĐỌC THƠ VÀ LÀM THƠ?

 THƠ là một loại hình nghệ thuật của ngôn từ, âm thanh của thơ có vần có điệu nhịp nhàng. Lời lẽ của thơ ngắn gọn, hàm chứa, súc tích. Một bài thơ hay có thể làm người đọc rung cảm bởi tiết tấu, bởi nội dung, bởi hình thức thể hiện.

  Giá trị nghệ thuật của Thơ làm người đọc vui thích vì cái hay, cái đẹp của ngôn từ. Đọc thơ hay, người đọc có xúc cảm nghệ thuật, cảm nhận được Cái Đẹp Tinh Thần, tạo thói quen nhận thức những giá trị tinh thần trong cuộc sống, dần loại bỏ khuynh hướng thực dụng, tôn vinh những giá trị vật chất đơn thuần, khiến con người sa đoạ trong vật chất. Có thể làm thơ hay, người sáng tác thơ dần làm phong phú tâm hồn mình bởi những quan sát, thấu hiểu để có thể phô diễn một cách biểu cảm, sâu sắc và tinh tế những tình huống, cảm xúc trước cuộc đời, từ đó dần nâng tâm hồn mình thăng hoa lên, trên nấc thang tiến hoá của sự sống.

Về hình thức, Thơ có nhiều thể loại, chúng ta có thể kể đến những loại thơ đã được biết đến như : Đường Luật (Thất Ngôn Bát Cú), Lục Bát, Song Thất Lục Bát, Thất Ngôn, Ngũ Ngôn, Tứ Tuyệt v.v..... Sau này chúng ta có thêm  Thơ Tự Do.

 PHƯƠNG PHÁP LÀM CÁC LOẠI THƠ

 Trước tiên chúng ta đề cập đến một loại hình khá phổ biến

 VĂN VẦN

 Cần phân biệt Thơ với Văn Vần, vì văn vần chỉ đơn giản là những câu văn ngăn ngắn, được liên kết với nhau có vần, có điệu nhằm thể hiện một nội dung nào đó, mà không mang tính nghệ thuật như THƠ.

 Ví dụ : Các bài văn vần dành cho trẻ em, ngắn gọn, vui vẻ, dễ nhớ

Hôm nay trời nắng chang chang

Mèo con  đi học chẳng mang thứ gì

Chỉ mang một cái bút chì

Và mang một mẩu bánh mì con con

Hoặc các bài Ca Dao như :

Bồng bồng cõng chồng đi chơi

Đi qua chỗ lội đánh rơi mất chồng

Chị em ơi cho tôi mượn cái gàu sồng

Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên

Chúng ta thường gặp các loại bài văn vần như thế và không nên nhầm lẫn với Thơ

ĐƯỜNG LUẬT (THẤT NGÔN BÁT CÚ)

 Đường Luật là một loại thơ cổ. Các thi sĩ Việt Nam ngày xưa thường hay sáng tác theo thể loại này.

Thơ Đường Luật  (Có tám câu, mỗi câu có bảy chữ ) tuân theo các quy định về luật Bằng Trắc , luật Đối Ngẫu và Vần, Nói chung là Niêm Luật.

  Luật Bằng Trắc

 Bằng là những từ có dấu huyền và không dấu. Trắc là những từ có dấu sắc, hỏi, ngã, nặng.  Ký hiệu Trắc là T, bằng là B.

Từ thứ hai của câu thứ nhất nếu là T, từ thứ bảy của câu thứ nhất là B, thì bài thơ là luật Trắc vần Bằng . Ngược lại, từ thứ hai của câu thứ nhất  là B, từ thứ bảy của câu thứ nhất là T, thì bài thơ là luật Bằng vần Trắc

Từ câu thứ hai đến câu thứ tám, tuân theo quy luật :

Nhất, tam, ngũ bất luận

Nhị, tứ, lục phân minh

Nghĩa là từ ở vị trí một, ba, năm không nhất thiết phải theo luật bằng trắc. Nhưng từ ở vị trí hai, bốn, sáu buộc phải theo luật cân đối bằng trắc (Nếu từ ở giữa (số bốn) là Trắc thì hai từ ở vị trí số hai và sáu phải là Bằng (và ngược lại).

 Luật Đối Ngẫu

Trong tám câu của bài thơ thì câu thứ ba và câu thứ tư, câu thứ năm và câu thứ sáu  đối nhau cả về hình thức lẫn nội dung.

 Vần

Vần gieo ở cuối các câu một, hai, bốn, sáu, tám  thì buộc phải cùng âm với nhau, hoặc na ná giống nhau. Cuối các câu ba, năm, bảy thì có thanh ngược lại.

Thơ Đường có thể làm theo các loại : 

1/ Luật Trắc vần Bằng

  Đơn cử một bài thơ luật Trắc vần Bằng của Bà Huyện Thanh Quan

QUA ĐÈO NGANG

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà

  T      T   B      B        T     T  B 

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

B            T              B    B

Lom khom dưới núi, tiều vài chú

B                T                 B    T

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà

T              B               T     B

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

T             B              T      T

Thương nhà mỏi miệng cái da da

B           T                          B  B

Ngừng đây ngắm cảnh trời non nước

B              T                    B        T

Một mảnh tình riêng, ta với ta

T               B            T        B

Đối nhau về hình thức

Câu thứ ba và câu thứ tư

B B T T B B T

T T B B T T B

Câu thứ năm và câu thứ sáu

T T B B B T T

B B T T  T B B

Đối nhau về nội dung

Câu thứ ba và câu thứ tư

Lom khom đối với Lác đác, dưới núi đối với bên sông

Tiều vài chú đối với Chợ mấy nhà

Câu thứ năm và câu thứ sáu

Nhớ nước đối với Thương nhà, đau lòng đối với mỏi miệng

Con Quốc Quốc đối với Cái Gia Gia

2/ Luật Bằng vần Bằng

Ví dụ : Một bài thơ nổi tiếng của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến 

THU ĐIẾU 

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

B   B    T      T    T      B      B

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

       T                   B         T     B

Sóng biếc đưa làn hơi gợn tÍ

            T          B         T        T

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

    B                T          B      B

Tầng mây lơ lửng trời trong vắt

         B          T             B       T

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

      T                B              T     B

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

     T           B           T       T

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

     B            T               B      B

Đối nhau về hình thức

Câu thứ ba và câu thứ tư

T T B B B T T

T B T T T B B

Câu thứ năm và câu thứ sáu

B B B T B B T

T T B B T T B

Đối nhau về nội dung

Câu thứ  ba và câu thứ tư

Sóng biếc đối với Lá vàng; đưa làn đối với trước gió

Hơi gợn tí  đối với  khẽ đưa vèo

Câu thứ năm và câu thứ sáu

Từng mây đối với Ngõ trúc; lơ lửng đối với quanh co

Trời trong vắt đối với Khách vắng teo

 Trong bố cục thơ Đường, hai câu đầu : Giới thiệu đề tài, bốn câu kế tiếp : triển khai nội dung, hai câu cuối : kết luận.

 Thơ Đường Luật là một thể loại thơ khó làm và khó hay, bởi quy luật chặt chẽ về âm vận, ứng đối và bố cục một bài phải gói gọn trong tám câu. Thi sĩ nào dám chọn thể thơ này để làm là chấp nhận thử thách tài năng của mình, nếu thành công (sáng tác được một bài thơ hay) thì điều đó chứng tỏ được sự tài giỏi và tinh tế trong văn chương của họ.

THƠ LỤC BÁT

 Thơ Lục Bát là thể thơ quy định hai câu liên tiếp một câu sáu chữ, một câu tám chữ và số câu thì không giới hạn. Thơ Lục Bát nổi tiếng bởi tác phẩm nổi tiếng thế giới “Đoạn Trường Tân Thanh” của Đại Thi Hào NGUYỄN DU. Thơ Lục Bát là một thể thơ rất dễ làm bởi luật thơ rất đơn giản và tự do. Do không quy định bắt buộc về số câu trong bài thơ, nên bố cục được “mở” cho người làm thơ. Ngoài ra, các âm bắt vần cho hai câu không bắt buộc phải khớp với nhau một cách chặt chẽ, bởi một âm na ná tương tự cũng có thể chấp nhận được.

Nguyên tắc thơ lục bát     

 Âm của chữ thứ 6 của câu số 6 vần với âm của chữ thứ 6 của câu số 8. Chữ thứ 8 của câu số 8 vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo. Chữ thứ 6 của câu thứ 8 tiếp theo vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 kế trên. Chữ thứ 8 của câu thứ 8 này vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo . v.v….

 Mô hình thơ lục bát như sau

          1   2   3   4   5   6

          1   2   3   4   5   6   7   8

          1   2   3   4   5   6

          1   2   3   4   5   6   7   8

          1   2   3   4   5   6

          1   2   3   4   5    6    7    8

Trích đoạn thơ Kim Vân Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) của Nguyễn Du để minh hoạ thơ lục bát

  ….Đầu lòng hai ả Tố Nga

     Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân    

     Mai cốt cách tuyết tinh thần

     Mỗi người một vẻ  mười phân vẹn mười

     Vân xem trang trọng khác vời

     Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang………

 Qua đoạn thơ trên, chúng ta thấy âm vận trong thơ lục bát không quá khắt khe. Nếu khi thuận lợi cho ý thơ, có thể sử dụng âm vần nhau một cách chặt chẽ như : Nga, là – Vân, thần, phân. Nhưng cũng có thể sử dụng những âm tương tợ để hợp với ý câu, như : mười, vời, ngài…

Thơ lục bát là thể loại thơ dễ làm, nhưng không vì thế mà nó kém giá trị sử dụng. Với tài văn chương của những thi sĩ hàng đầu, các tác giả vẫn có thể tạo nên những tác phẩm thơ tuyệt bút.

THƠ THẤT NGÔN

 Thất Ngôn là thể loại Thơ  mỗi câu có bẩy chữ, số lượng câu không giới hạn. cách gieo vần trong thơ Thất Ngôn cũng rất đơn giản và “thoáng” có nghĩa là vần na ná tương tự cũng có thể chấp nhận được, miễn là đọc lên nghe xuôi tai, không chỏi  là được.

 QUY LUẬT

 Hai câu đầu tiên  bắt buộc : Chữ cuối của câu thứ nhất vần với chữ cuối của câu thứ hai (thường là âm Bằng)

          Câu thứ ba, âm cuối  là vần Trắc .

Câu thứ tư, âm cuối là vần Bằng.

Sau đó cứ một câu vần Trắc lại một câu vần Bằng.

MÔ HÌNH THƠ THẤT NGÔN

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

Một bài thơ minh hoạ :

…Dải lụa nào hay áo em bay

Cho lòng ta bỗng ngất ngây say

Tình ơi, em đã bao nhiêu tuổi

Để nhớ để thương suốt tháng ngày

Ai gõ vào tim từng tiếng đập

Cho hồn ta vỡ giấc mơ hoang

Em là Thiên Sứ đem ánh sáng

Từ thuở hồng hoang cõi địa đàng…

THƠ THẤT NGÔN TỨ TUYỆT

 Giống như thể loại thơ Thất Ngôn, nhưng  Thất Ngôn Tứ Tuyệt là thơ  chỉ có bốn  câu. Sự khác biệt của thể loại thơ này là bố cục bài thơ được gói gọn trong bốn câu, còn quy luật thì cũng giống như thơ Thất Ngôn.

Ví dụ một bài thơ thuộc thể loại này :

Vạn pháp phù du khéo huyễn bày

Vô thường cho đến cả cỏ cây

Trăng non đương độ rồi trăng khuyết

Trong mắt em

Ngàn năm mây bay

THƠ THẤT NGÔN & THẤT NGÔN TỨ TUYỆT

 Đây là cách làm thơ phối hợp hai thể loại Thất Ngôn lại với nhau.

Ví dụ một bài thơ minh hoạ :

 TRỞ LẠI

 Cho tôi trở lại mái chùa xưa

Với ngói rêu phong đã mấy mùa

Với cả hồ sen hương bát ngát

Với chiều tịch mịch tiếng chuông đưa

Cho tôi trở lại mái chùa xưa

Trở lại dòng sông mát bóng dừa

Trở lại đồi thông vang tiếng gió

Có rặng hoa vàng ngủ giữa trưa

Cho tôi trở lại mái chùa xưa

Dầu đã phong trần trải nắng mưa

Dẫu lớp sóng đời ô tuổi ngọc

Dẫu bao cay đắng nếm chưa vừa

Cho tôi trở lại ngày thơ ấu

Nhặt lá bên hiên quét cổng chùa

Tôi học bài kinh quên từ độ

Xuôi dòng thế tục nếm cay chua

Cho tôi trả lại Người – nhân thế  - 

Trả những oan khiên, những nợ nần

Trả những lợi danh và phú quý

Trả tình yêu lại kẻ Tình Chân

Cho tôi góp lại muôn lầm lỗi

Làm gói hành trang trở lại chùa

Cho tôi kính cẩn dâng Chư Phật

Lễ vật tâm thành đắt giá mua

Cho tôi xin được yên nghỉ mãi

Dưới rặng thông ngàn vướng vít mây

Cho hồn tôi quyện hồn cỏ dại

Thênh thang cánh gió hướng trời Tây.

Hai khổ thơ đầu của bài thơ làm theo thể Thất Ngôn Tứ Tuyệt các khổ thơ còn lại làm theo thể Thất Ngôn.

THƠ SONG THẤT LỤC BÁT

Song Thất Lục Bát là loại thơ gồm hai câu bẩy chữ, một câu sáu và một câu tám chữ.  Mỗi khổ thơ có bốn câu như vậy và không hạn chế số khổ thơ. Quy luật và âm vận được phối hợp như sau :

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6  7

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6  7  8

Ví dụ hai khổ thơ minh hoạ :

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm từng trên

Nào ai gây dựng cho nên nỗi này

Trống trường thành lung lay bóng nguyệt

Khói cam tuyền mờ mịt thức mây

Bốn lần tên bắn trao tay

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh….

THƠ NGŨ NGÔN

Ngũ ngôn là thể loại thơ năm chữ,  không hạn chế số câu. Quy luật thơ như sau :

1   2   3   4   5

1   2   3   4   5

1   2   3   4   5

1   2   3   4   5

…………..

Chữ cuối của câu đầu là vần trắc, chữ cuối của câu tiếp theo là vần Bằng. Sau đó cứ một câu vần Trắc, một câu vần Bằng…

Ví dụ minh hoạ :

Mùa Vu Lan năm ngoái

Anh tặng đoá hoa tươi

Em cài lên áo mới

Như mang một nụ cười

Mùa Vu lan năm ấy

Hoa nở ngập đường vui

Em đi trên mộng ước

Như đi giữa giòng đời

Mùa Vu Lan năm ấy

Mắt mẹ vẫn sáng ngời

Như mặt trời rực rỡ

Cho mùa xuân em tươi ....

THƠ TỨ NGÔN

Thơ Tứ Ngôn là loại thơ bốn chữ. Giống như các loại thơ khác, mỗi khổ thơ gồm 4 câu , nhưng tuỳ theo bố cục bài thơ, ý thơ mà số câu nhiều ít khác nhau.

Chữ cuối các câu 2, 3, 6, 7,… là âm Bằng và vần với nhau. Chữ cuối các câu 1, 4, 5, 8, 9, …là vần Trắc.  Nói chung, từ câu thứ hai trở đi, cứ 2 câu âm Bằng lại kèm 2 câu âm Trắc…

 Quy luật thơ bốn chữ :

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

1    2    3    4

Ví dụ minh hoạ

 Trong phòng hương toả

Khói thuốc nhạt nhoà

Hương khói quyện hoà

Như ta quấn quýt

Anh là khói thuốc

Em thỏi hương trầm

Đôi ta phù vân

Cùng nhau chấp cánh.

THƠ LỤC NGÔN

 Thơ lục ngôn là thơ sáu chữ. Quy luật thơ không khó lắm, nhưng làm theo thể loại này, thơ khó hay, trừ khi nhà thơ phải thật tài năng.

Luật thơ : Chữ cuối các câu 1 và các câu chẵn 2, 4, 6, 8…thuộc âm Bằng . câu lẻ 3, 5, 7,…thuộc âm Trắc. Chữ thứ tư của câu dưới thường vần với chữ thứ 6 của câu trên.

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6

1      2  3  4  5  6 

1      2  3  4  5  6

 Ví dụ minh hoạ :

Tôi yêu, tôi yêu rất nhiều

Tôi yêu, yêu biết bao nhiêu

Tôi yêu tuổi thơ trong trắng

Tôi yêu ánh nắng mùa xuân

Tôi yêu chùm hoa hoang dã

Tôi yêu câu nói …ngại ngần

Tôi yêu trời xanh màu áo

Tôi yêu tiếng sáo hư không

Tôi yêu giòng sông mây trắng

Tôi yêu một cánh diều say

Tôi yêu bàn tay thân ái

Tôi yêu một chiều mưa bay …

 THƠ BÁT NGÔN

Thơ bát ngôn là thơ tám chữ. Cách gieo vần cho thơ giống thơ Tứ ngôn như sau :

 Chữ cuối các câu 2, 3, 6, 7,….âm Bằng, chữ cuối các câu 1, 4, 5, 8, 9…âm trắc .Nói chung, sau câu 2, 3, cứ cách 2 câu âm trắc lại là 2 câu âm bằng.

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

1   2   3   4   5   6   7   8

 Ví dụ minh hoạ

…..Tình như gió bắt đầu cơn bão nổi

Tình như mây báo hiệu trận phong ba

Tình như men thiêu đốt suốt xương da

Tình nồng thắm mặn mà hoa đương độ

Gió đưa thuyền về bến sông kỳ ngộ

Đời đưa ta vào mê lộ tình yêu

Linh hồn ta nhắm mắt để bước liều

Không biết nữa Thiên Đường hay Địa Ngục

THƠ TỰ DO

Thơ tự do là thể loại thơ không quy định bắt buộc số chữ trong câu, số câu trong một bài, cũng không quy định âm luật cho bài thơ. Vì vậy, thơ tự do tuỳ thuộc vào sự gieo vần ngẫu hứng của tác giả.

Ngày nay, nhiều người tưởng mình làm “thơ tự do” nhưng thực ra chỉ là sự ghép nối những câu văn xuôi ngăn ngắn, bởi vì Thơ chỉ được gọi là Thơ khi đọc lên có vần có điệu, cho dù đó là thơ tự do đi nữa.

Ví dụ minh hoạ :

NẰM BÊN TRÁI

 Anh có cái đầu

 và một trái tim

Cái đầu ở giữa nhưng trái tim không chịu nằm ở giữa

Cái đầu dùng công lý xét soi

nhưng trái tim có lý lẽ riêng của nó

Nó không cần sự biết điều hợp lý

Nó tự do như gió như mây,

như cánh chim Hải Âu thênh thang trên những dải núi non hùng vĩ

Có những khi cái đầu reo vui

thì trái tim rên rỉ

Cái đầu nói đúng thì nó bảo sai, cái đầu muốn thôi

thì nó bảo rằng cứ nữa

Ôi trái tim

nó che dấu bao nhiêu điều kỳ bí

Mà cái đầu không bao giờ hiểu được đến nơi

Chàng hoa tiêu ở trên phải nghe lệnh ông chủ điên cuồng ở dưới

Bởi vì khi cái đầu bóp nát trái tim

thì có nghĩa là nó theo nhau về nơi chín suối

Khi anh nói yêu em

đó là điều nghịch lý

Nhưng biết làm sao được

vì tim anh nằm bên trái

Em ơi!

 Muốn làm thơ hay, các bạn phải có ý tưởng mới lạ, hoặc cái nhìn mới lạ về những sự vật, sự việc quen thuộc. Ngoài ra bạn phải có bố cục hay, tìm từ đắt giá.

 Một bài thơ lý tưởng, là bài thơ làm cho người đọc có cảm xúc sâu sắc và ấn tượng khó phai với bài thơ đó.

Chúc các bạn thành công, sáng tác được những vần thơ tuyệt diệu .

 

Kim Phượng sưu tập

 

 

 

 

 
 
 
 
 
Xem thêm...

DUYÊN NỢ VÀ TÌNH YÊU - MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH

Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH  photos
Please click on the link below:


Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Một duyên, hai nợ, ba tình
 
Chiêm bao lẩn quất bên mình năm canh.
Đêm nằm lại nghĩ một mình,
Ngọn đèn khêu tỏ bóng quỳnh bay cao.
Trông ra nào thấy đâu nào,
Đám mây vơ vẩn, ngôi sao mập mờ.
Mong người, lòng những ngẩn ngơ.    

꧁꧂꧁꧂ ꧁꧂꧁꧂꧁꧂꧁꧂ ꧁꧂꧁꧂

Vừa đi là gặp em đây,
Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần.
…Sông sâu nước hiểm làm vầy,
Ai xui em đến chốn nầy gặp anh?
 
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos

  Duyên Nợ và Tình Yêu Của Trai Gái Nông Thôn Qua Ca Dao   

  Phần nhiều những bài ca dao của ta đều là những bài thơ trữ tình, những bài "tình ca", mà tác giả hầu hết là trai, gái nông thôn Việt Nam thời xưa.
 Thơ trữ tình là tiếng nói của lòng người khi tâm tình bị xúc động, bất bình, đau khổ. Người đau khổ thường thấy cần phải bộc lộ nỗi lòng u uất của mình ra. Đó là một nhu cầu khẩn thiết như bất cứ mọi nhu cầu nào khác!
 Kinh Thi xưa có câu: "Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao", nghĩa là "lòng có sự buồn, ta vừa ca vừa hát". Hàn Dũ đời Đường cũng xác nhận: "Vật bất đắc kỳ bình tắc minh", nghĩa là "vật không được vừa lòng thì ắt phải kêu lên". Tiếng kêu lên đó là văn thơ.

 Ngày nay, các nhà văn học Tây phương cho rằng:
 "Con người đau khổ. Hát lên cái khổ đau của mình, con người sẽ vượt qua cái đau khổ ấy". (1)

Rồi chính ca dao ta cũng nói rõ ràng:
Chim xanh ăn trái xoài xanh,
Ăn no tắm mát đậu cành cây đa.
Cực tấm lòng em phải nói ra,
Chờ trăng trăng xế, chờ hoa hoa tàn.
 
 Qua các câu ca dao trữ tình ấy, dân gian đã đúc kết các thành tố chính yếu của những rung cảm, suy tư về "tình yêu" giữa trai gái nông thôn, vào mấy danh từ "Duyên, Nợ, Tình". Trong ngôn ngữ hằng ngày, khi người ta bàn đến vấn đề Yêu Thương, mấy từ nầy đã được lặp đi lặp lại biết bao nhiêu lần.

Một duyên, hai nợ, ba tình,
Chiêm bao lẩn quất bên mình năm canh.
... Răng đen ai khéo nhuộm cho mình,
Để duyên mình đẹp, cho tình anh yêu.
Trăm con ống sợi chỉ điều,
Trăm con chỉ ấy buộc vào tay anh.
Một duyên, hai nợ, ba tình...


 Dân gian thời trước cho rằng yêu nhau, lấy nhau, được hay không là do "duyên số". Theo tích Vi-Cố xưa, một đêm trăng đi dạo, gặp một ông lão ngồi xe các sợi tơ đỏ với nhau. Hỏi, thì đáp là đang xe những cặp trai gái ở thế gian nầy lại cho thành vợ chồng. Vi Cố tỏ ý muốn biết vợ của y sẽ là ai? Ông lão chỉ một đứa bé, con mụ ăn mày ở xó chợ gần đó. Vi Cố xấu hổ, tức giận, cho người giết đứa bé, rồi sợ tội, bỏ trốn. Mãi về sau Vi Cố cưới được con gái nhà quan, không dè đó lại là con gái mụ ăn mày trước kia bị Vi Cố giết hụt, mẹ đem bỏ ngoài chợ, một ông quan đi ngang qua gặp được, thương hại đem về nuôi. Cho nên, gặp nhau, trai gái nông thôn thường tự hỏi:

Vừa đi là gặp em đây,
Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần.
…Sông sâu nước hiểm làm vầy,
Ai xui em đến chốn nầy gặp anh?

                                   
 
 Nhưng dân gian ta lại thêm từ "nợ" vào, cho rằng vì kiếp trước có nợ nần nhau, nên kiếp nầy phải gặp lại thành vợ chồng, để đền trả cho xong.

Đôi ta là nợ hay tình,
Là duyên là kiếp, đôi mình kết giao
Em như hoa mận hoa đào
Cái gì là nghĩa tương giao hỡi chàng?
Hoặc ...
Chồng gì anh, vợ gì tôi,
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây !
Mỗi người một nợ cầm tay,
Ngày xưa nợ vợ, ngày nay nợ chồng.


 Vậy "duyên nợ" là một từ kép bao gồm hai mặt tích cực và tiêu cực của thuyết "nhân quả" áp dụng vào phạm vi hôn nhân và tình yêu đôi lứa. Nói một cách khác, dân gian ngày xưa cho rằng hôn nhân thành hay không, là tùy theo trai gái có "phải duyên" hay "trái duyên" với nhau không?

Phải duyên, áo rách cũng màng,
Không phải duyên, áo nhiễu, nút vàng chẳng ham
Chẳng tham nhà ngói bức bàn (gỗ),
Trái duyên, coi cũng bằng gian chuồng gà
Ba gian nhà lá lòa xòa,
Phải duyên, coi tựa chín tòa nhà lim.
... Đẹp như tiên, không phải duyên không tiếc,
Xấu như ma mò, duyên hiệp anh thương.
                               
 Như vậy, dân gian đã công nhận rằng hễ "phải duyên" hay có "duyên nợ" với nhau thì xấu đẹp gì trai gái cũng đi đến chỗ thương yêu nhau.
 Và dân gian cũng khẳng định "đảo lại" rằng: Hễ xấu đẹp gì mà cũng thương nhau, tức là đã "phải duyên", trai, gái quả đã có "duyên nợ" với nhau rồi.
 Khẳng định đảo lại nầy đã dẫn trai gái nông thôn đến một quyết định táo bạo hơn:

Số em giàu, lấy khó cũng giàu,
Số em nghèo, chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Phải duyên, phải kiếp thì theo,
Thân em có quản khó nghèo làm chi.
Chữ nhân duyên thiên tải nhất thì
Giàu ăn, khó chịu, lo gì mà lo.


"Phải duyên, phải kiếp thì theo" cụ thể có nghĩa là: nếu trai gái quả đã cảm thấy "thương yêu nhau", tức là "phải duyên", nghĩa là đã có " duyên nợ" với nhau, thì cứ theo nhau, lấy nhau, thành vợ thành chồng, bất chấp sang hèn, giàu khó, hay bất chấp cả sự cản trở của cha mẹ, họ hàng. Phải chăng đó là một quyết định táo bạo đối với xã hội ta ngày xưa ! Mà ngày nay, trái lại có thể coi như là một quan niệm về tình yêu và hôn nhân có tính cách tự do và hiện đại !

 Ở thời phong kiến, những tục "cha mẹ đặt đâu ngồi đó" và "nam nữ thụ thụ bất thân" vốn là của Nho giáo phụ quyền, từ Trung quốc du nhập vào nước ta, và thịnh hành trong các từng lớp quan lại, phú thương, trưởng giả. Nhưng ở nông thôn, Nho giáo chỉ được phổ biến một cách hời hợt thông qua các hàn Nho sống rải rác trong xóm làng, và một khi lắng sâu vào quần chúng, thì cũng đã dần dần bị Việt hoá đi.
 Riêng đối với thanh niên nông thôn, tình yêu lại còn là lẽ sống của một cuộc đời cần lao lam lũ. Ngoài tình yêu ra, còn có gì để có thể an ủi họ được nữa đâu. Cho nên, bao nhiêu Lễ giáo của đạo Nho khi xuống đến nông thôn, cũng phải nhân nhượng trước tình yêu đôi lứa của họ:
                                  
Mình về, ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Tình là ba.
Chữ Trung thì để phần cha,
Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình.


 Hơn nữa, xã hội nông thôn trước đây vẫn còn chịu ít nhiều ảnh hưởng di sản của mẫu hệ, nên trong việc cưới hỏi, cha mẹ không mấy khi ép buộc con cái:

Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên
... Xưa kia ai cấm duyên bà,
Bây giờ bà già, bà cấm duyên tôi !


 Rồi thỉnh thoảng nếu có trường hợp bị cha mẹ ép duyên, thì trai gái nông thôn sinh ra liều lĩnh:
Tiếc răng, tiếc rứa, tiếc ri,
Liều mình bỏ xứ mà đi cho rồi
Liều mình, giả như đứa đứt tao nôi, (a)
Giả như cha với mẹ không sinh ra đôi đứa mình.


 Chú giải - (a) Đứt tao nôi (tao: sợi giây, nôi: đồ đan bằng tre để trẻ nhỏ nằm) Câu nầy ý nói: Coi như chúng mình khi còn bé đã bị đứt tao nôi,mà chết non đi.

 Nhưng tục "không được cưỡng duyên" vốn đã phổ biến từ xưa trong dân gian. Trong bộ Luật Hồng Đức, đời Lê Thánh Tông, cũng có trường hợp cấm ép duyên như thế: "Con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật, phạm hình án, hoặc phá tán gia sản, thì cho phép con gái được kêu quan mà trả đồ lễ... Trái luật (nghĩa là con trai ấy cứ ép con gái phải lấy mình) thì bị xử phạt 80 trượng (b)." (2)
Chú giải: (b) Trượng: ngày xưa cây gậy bằng gỗ được gọi là trượng.
Về sau, nếu tình yêu bị gián đoạn, đổ vỡ, hôn nhân không thành, người xưa cho là tại "duyên số" dở dang, và tự an ủi rằng:

Khi nào gánh nặng anh chờ,
Qua cầu anh đợi, bây giờ em quên.
Kiếp nầy đã lỡ làng duyên,
Kiếp sau xin hẹn cửu tuyền gặp nhau.


 Như đã nói trên, ở các tầng lớp quan lại, phú thương chịu ảnh hưởng Nho giáo, phong kiến, thì nhất luật "nam nữ thụ thụ bất thân". Trái lại ở nông thôn, trai gái, vì nhu cầu sinh hoạt nông tác nên thường có nhiều dịp gặp nhau: trong một vụ cấy mạ, một tối giả gạo, một chuyến đò ngang, một buổi hát giao duyên, hát trống quân, hát phường vải, một ngày chợ phiên, một lễ hội trong làng... và được tự do chuyện trò, hò hát trêu ghẹo, đưa tình với nhau

Ăn chơi cho hết tháng hai
Để làng gióng đám cho trai dọn đình.
Trong thời đánh trống rập rình,
Ngoài thời trai gái tự tình với nhau.

 Ngày xưa, các buổi gặp gỡ hò hát nầy thường đưa trai gái nông thôn đến việc "nên vợ nên chồng" một cách nghiêm túc:

Con cò lấp ló bụi tre,
Sao cò lại muốn lăm le vợ người ?
Vào đây ta hát đôi lời
Để cho cò hiểu sự đời ở ăn.
... Một đàn cò trắng kia ơi!
Có nghe ta hát những lời nầy không?
Hát câu đẹp cốm tươi hồng,
Hát câu nên vợ nên chồng, cò ơi !


 Chính các thân hào đã đứng ra tổ chức những đám "hát phường vải", "hát trống quân", "hát quan họ", "hát giã gạo", hát giao duyên"... để trai gái hát hò, gặp gỡ, kết "bạn văn nghệ" với nhau, dưới sự kiểm soát kín đáo của các bậc đàn anh:

Ai có chồng, nói chồng đừng sợ,
Ai có vợ, nói vợ đừng ghen.
Tới đây hò hát cho quen,
Rạng ngày, ai về nhà nấy, há dễ ngọn đèn hai tim. (c)
                     
Chú giải - (c) Đèn hai tim = Đèn nhà quê ngày xưa đổ dầu phụng vào dĩa, dùng một sợi vải làm tim đốt. "Đèn hai tim" chỉ trai có 2 vợ.
Cũng ở thôn quê ta ngày xưa, thường con gái lại đứng lên tỏ tình và tìm đến gặp con trai trước. Một tâm tình say đắm, "lãng mạn" phi Nho giáo! Không cần biết sẽ có nên vợ, nên chồng hay không, nhưng gặp nhau, thương nhau thì cứ "xơi năm ba miếng trầu" với nhau đã... "kẻo lòng nhớ thương".

Sớm mai gánh nước mờ mờ,
Đi qua ngõ giữa tình cờ gặp anh.
Vào vườn hái quả cau xanh,
Bổ ra làm tám mời anh xơi trầu.
Trầu nầy ăn thật là say,
Dù mặn dù lạt, dù cay dù nồng.
Dù chẳng nên vợ nên chồng,
Xơi năm ba miếng kẻo lòng nhớ thương.
Cầm lược thì nhớ tới gương,
Cầm trầu nhớ túi, nằm giường nhớ nhau.
                     
Ở đây, trai gái nông thôn chỉ cần hưởng thụ trong hiện tại, không cần biết đến "duyên nợ" sẽ đưa đến đâu ? Một hành động, mà ngày nay có thể coi như là "lãng mạn" hay "hiện sinh"!
Và tính cách "lãng mạn" ấy còn gặp lại trong cái nhìn đắm đuối, rụt rè của những mối tình vô vọng:

Ngó em chẳng dám ngó lâu
Ngó qua một chút đỡ sầu mà thôi!

"Lãng mạn" còn ở trong cử chỉ nâng niu, săn sóc đứa con nhỏ của cô gái vừa mới lừa dối mình, mà oái ăm thay, đó lại là cô gái mà ta đã lỡ yêu:

Mình nói dối ta mình chửa có con,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước rửa cho con mình.


Về sau, khi chế độ xã hội đã chuyển sang phụ hệ, với ảnh hưởng của Nho giáo, thì các cuộc hẹn hò riêng tư "thân mật, mùi mẫn" giữa trai và gái như thế tất nhiên phải kín đáo, lén lút hơn xưa:

Đêm nằm thao thức vào ra,
Chờ cha mẹ ngủ, lén qua thăm mình.
Tôi than hết sức, tôi dứt hết tình,
Thiếu điều cắn ruột trao mình, mình ơi!"
... Gió đưa cành mận, gió lận cành đào,
Vì em anh phải ra vào tối tăm.
Tối tăm thì mặc tối tăm,
Chờ cho cha mẹ đi nằm sẽ hay.
Cầm tay, anh nắm cổ tay,
Em đừng hô hoán sự nầy mà to.


Đã yêu nhau rồi, tức là đã "phải duyên", đã có "duyên nợ" với nhau rồi, thì "phải theo"... lén lút theo !

Qua các câu ca dao trữ tình, chúng ta nhận thấy có một sự tranh đấu dằng dai qua bao nhiêu thế kỷ giữa hai nền văn hóa địa phương và ngoại lai:
Giữa chế độ mẫu hệ Lạc Việt và chế độ phụ hệ Nho giáo Trung quốc, giữa lòng tin vào số mệnh trong tín ngưỡng nguyên thủy Việt-Nam với thuyết nhân duyên trong Phật giáo, giữa bản tính đa tình, lãng mạn của dân quê ta với các lễ tục khắc nghiệt của chế độ phong kiến...

Công cuộc tranh dấu gay go, đầy đau thương, nước mắt, nhằm giải phóng con người ra khỏi mọi áp bức, để đem lại tự do yêu thương, tự do kết hôn... Có thể có những khuynh hướng lãng mạn, hưởng thụ, hiện sinh, nhưng vẫn không "lăm le vợ người" và không nhận "ngọn đèn hai tim", không hề xa rời "đạo đức tự nhiên" của ông cha!

Một cuộc tranh đấu không bài ngoại tuyệt đối, mà có tính cách hòa nhập trong thế quân bình. Đó chính là sức mạnh sinh tồn ngàn năm của dân ta !

Chú thích
(1) - D. Huisman et L.R. Plazolles, L'Art de la dissertation littéraire, Sedes, Paris,1960, p. 228 (L'homme souffre, mais en chantant sa souffrance, il la dépasse).
(2)- Luật Hồng Đức, chương Hộ Hôn, điều 39.
                              
Kết quả hình ảnh cho MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH photos
 MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH  
Kết quả hình ảnh cho MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH photos
 
                          Một duyên, hai nợ, ba tình
                          Chiêm bao lẩn quất bên mình năm canh. (1) 
Chữ Duyên thường được dùng khi đề cập đến hôn nhân, tình yêu nam nữ, thí dụ nói « Nên duyên vợ chồng, Kết tóc se duyên…»  Thúy Kiều ngày xuân dạo chơi rồi dừng lại nơi nấm mồ của Đạm Tiên cũng đã thốt lên:
                          Người đâu gặp gỡ làm chi
                          Trăm năm biết có duyên gì hay không? (2)
Chữ Duyên ở đây lại không phải là chữ Duyên trong nghĩa vợ chồng, tình yêu nam nữ. Trong khi Kim Trọng tương tư về nàng Kiều thì chữ Duyên, theo nghĩa vợ chồng lại đi kèm với chữ Nợ:
                          Mành tương phất phất gió đàn
                          Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình
                          Ví chăng duyên nợ ba sinh
                          Làm chi quen thói khuynh thành trêu ngươi (3)
Nơi dân gian cũng không khác, cái Duyên ban đầu kéo theo cái Nợ:
                          Đem thân ở dưới cõi trần
                          Hỏi rằng duyên có nợ nần chi không?
                          Giá bao nhiêu một ông chồng
                          Thì em cũng bỏ đủ đồng ra mua (4)
Cho dù là một cái nợ đi chăng nữa, vẫn có người sẵn sàng bỏ tiền ra « rước của nợ » về với mình, điều này cho thấy cái chữ thứ ba là chữ Tình sao mà mãnh liệt như thế, làm cho con người ngẩn ngơ, có thể mất cả trí khôn, có thể sống chết, khổ đau cũng vì chữ Tình này mà thôi! Thế mà con người vẫn lao theo, cả nam lẫn nữ, không chừa ai!
Một duyên hai nợ ba tình. Đúng ra, chữ Tình này phải đứng trước chữ Duyên và Nợ vì không có nó làm lực đẩy ban đầu thì chẳng có Duyên và Nợ gì kéo theo! Nhưng chúng ta sẽ tìm hiểu theo thứ tự trước sau như câu ca dao « Một duyên hai nợ ba tình ».
Trước tiên đừng quên ba chữ Duyên, Nợ và Tình này như cái kiềng ba chân. Kiềng có ba chân mới đứng vững. Có Tình mà chẳng có Duyên Nợ gì với nhau thì cũng chỉ là một câu chuyện tình, dù có đẹp đến mấy cũng sẽ bị cuốn theo chiểu gió, mờ nhạt, xoá nhòa với dòng thời gian. Có Duyên, có Nợ mà chẳng có chút Tình gì với nhau thì rồi cũng sẽ bị gió cuốn đi ! Lại nữa, có Tình, có Duyên mà chẳng Nợ thì cứ yêu nhau quanh năm suốt tháng mà…đường ai nấy đi, đời anh chẳng dính líu gì đến tôi cũng như đời tôi chẳng liên quan gì đến anh, yêu nhau thì cứ yêu nhau ! Khi hết chữ Tình thì sẽ hát khúc « tình nghĩa đôi ta có thế thôi ! » Không Duyên, không Nợ, chẳng có gì phải bận bịu. Quá dễ, quá giản dị. Xã hội hiện đại đã tạo ra những con người chọn lối sống dễ dãi này, không trách nhiệm, không bổn phận,  không ràng buộc, không lo âu. Cuộc đời quá ngắn ngủi và nhiều đau khổ, không cần phải rước cho mình thêm những nhọc nhằn. Vui thì ở, không vui thì đi ! Ít ai còn muốn ký một « hợp đồng chung thân » để cùng chia sẻ ngọt bùi cay đắng nhưng lại sẳn sàng ký những hợp đồng rất chi ly, chi tiết về việc phân chia tài sản, góp công góp của, chuyện giáo dục con cái, thậm chí, hơi khó tin nhưng có thật, chuyện chăn gối vợ chồng !
Hãy bàn về chữ Duyên. Xin đừng lầm lẫn với chữ Duyên khi muốn nói đến cái vẻ đẹp, nét quyến rũ nơi dáng dấp, khuôn mặt hay cử chỉ, lời ăn tiếng nói của ai đó: cô này miệng cười có duyên tệ ! Anh chàng này nói năng thật có duyên ! Chúng ta không bàn đến chữ Duyên này ở đây cho dù nó cũng là đầu mối làm cho chữ Tình phải lận đận lao đao !
Kết quả hình ảnh cho MỘT DUYÊN HAI NỢ BA TÌNH photos
Chữ Duyên bàn đến đây là chữ Duyên, từ Hán Việt,  mang ý nghĩa của cái duyên do, duyên cớ, duyên sự, duyên cố tức là nguyên nhân, bởi từ đó, do nơi đó, do cái điều đó, nương vào cái điều đó, nương vào sự việc đó mà nẩy sinh, kéo theo điều kia, sự việc kia. Duyên, cũng từ đó mà được hiểu rộng như là mối dây, sự liên hệ, liên quan, thắt chặt người với người hay người với con vật, sự vật và cả sự việc. Mối dây này có thể trở thành dây xiềng, dây xích, dây dưa, rễ má, kéo từ đời con sang đời cháu, đời chắt, từ lạ trở thành quen, từ không thân trở thành thân thuộc và mối dây này cũng có thể tốt đẹp, thân thiện, tương thân, tương ái mà cũng có thể là xấu ác, hận thù, hiềm khích. Nên không hẳn nói đến Duyên là nói đến cái điều tốt, đẹp.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Nói cho đúng và đầy đủ thì phải nói là Nhân Duyên. Một tập hợp vừa là cái mầm, cái rễ, cái gốc vừa là những điều kiện, nguyên do xúc tác, thúc đẩy cái mầm đơm hoa kết trái. Không có Nhân Duyên là hạt mầm là gốc rễ của cam và những điều kiện phụ thuộc chung quanh gọi là trợ duyên để ươm cho cây cam mọc thì chẳng thể nào có được cây cam. Nói về con người, con vật, sự việc, sự vật cho đến cả thiên nhiên cũng theo một trình tự như thế. Có Nhân mới có Duyên. Và phải có Duyên thì Nhân mới thành cái gì đó, việc gì đó, điều gì đó, như thế nào đó…v.v…
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos
Xin đưa ra những thí dụ thật cụ thể để hiểu rõ hơn về chữ Nhân, chữ Duyên này theo sát nhau, hỗ tương nhau như thế nào:
Không có sự việc cùng ngồi chung một lớp học thì không đưa đến sự quen biết nhau. Có lớp học, có những người bạn học là Nhân và Duyên là sự cùng ngồi chung một lớp, mới dẫn đến sự quen biết nhau.
Không có chuyện chiến tranh giặc giã thì tôi đã không bỏ quê hương mà lưu lạc xứ người. Quê hương là Nhân và chiến tranh, giặc giã là Duyên, cho dù là Duyên xấu, ác, vẫn là Duyên, là lý do buộc tôi phải rời bỏ quê hương để lưu lạc xứ người.
Không có chuyện được sinh ra từ một gia đình thì đâu phải là ruột thịt, là anh là chị là em. Sinh ra trên đời là Nhân nhưng cùng một gia đình là Duyên làm cho những người trở thành anh chị em một nhà.
Không có việc mai mối của người này thì tôi cũng không có cách gì gặp em, cưới em hoặc gặp anh, cưới anh. Chắc chắn trước tiên phải có cái ý muốn tìm vợ, tìm chồng trong thâm tâm làm cái Nhân, và người làm mai mối, trung gian là Duyên đưa đến chuyện cưới hỏi thành vợ thành chồng.
 Không có người đã cứu mạng sống thì không có cái ngày nay tôi đền ơn. Mạng sống của tôi là Nhân, tai nạn hay bệnh hoạn của tôi là Duyên, cho dù là Duyên rủi ro, nhưng nhờ việc rủi ro này mà có người cứu, đó cũng chính là Duyên làm cho tôi gặp ân nhân và rồi nhớ ơn và trả ơn về sau. Sự trả ơn của tôi không phải vô cớ mà có một duyên do, duyên sự, duyên cớ và sự gặp gỡ vị ân nhân là cũng nhờ vào cái duyên rủi ro đó. Cái rủi ro bỗng trở thành cái may ở đây. Rất nhiều trường hợp trên đời mà một cái duyên rủi trở thành may và ngược lại, duyên may lại thành rủi.
 Không có cha mẹ tôi yêu nhau thì tôi sẽ không sinh ra trên cõi đời. Nhờ cha mẹ yêu nhau, muốn có một đứa con, mà tôi mới được tạo thành, mang một hình hài, lớn lên trong bụng mẹ. Cha mẹ là cái Nhân, những yếu tố khác như yêu nhau, ý muốn có con là Duyên từ đó mới dẫn đến sự thụ thai. Tôi sinh ra là cái Quả của Nhân và Duyên kia. Nếu cha mẹ không có ý muốn một đứa con thì tôi không có cơ hội để sinh ra đời và trong trường hợp này, có Nhân mà không có Duyên và cũng không thể có Quả.
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos
Cứ như thế, Nhân Duyên là hằng hà sa số, là bất tận, là không thể đếm kể cho hết. Mọi sự việc trên đời, dù nhỏ dù lớn, không gì là không có một Nhân, một Duyên để hình thành. Không thể dửng dưng mà có, mà thành được. Những phân tích chi tiết bên trên cho thấy rõ Nhân và Duyên, khắng khít, không thể tách rời. Nhân là cái mầm mà không có Duyên giúp vào, tạo điều kiện thì Nhân sẽ không thành gì cả. Mà cái gì thành rồi thì cũng không đi ra ngoài qui luật của sự Sanh Thành Hoại Diệt. Bốn chu kỳ tự nhiên của vũ trụ, của con người và muôn vật. Nhân đi đâu cũng có Duyên đi theo. Bởi vì cái nghĩa của Duyên là nương theo. Nhân sanh ra cũng nhờ các điều kiện thuận lợi, trợ giúp của Duyên. Nhân lớn lên, bành trướng, sinh sôi nẩy nở cũng nhờ Duyên tưới tẩm. Nhân suy sụp, chết đi, biến mất cũng có bàn tay của Duyên trong đó, tức là những điều kiện bất lợi, suy yếu, tàn tạ, nghịch cảnh, chướng ngại, dẫn Nhân đến chỗ hoại diệt, đường cùng, sự chấm dứt.
Chiều đi lên hay đi xuống, thịnh hay suy, tốt hay xấu…của Nhân đều lệ thuộc vào Duyên. Có thuận Duyên, nghịch Duyên, trái Duyên, phải Duyên, Duyên hợp, Duyên tan, Duyên kỳ ngộ, Duyên may, Duyên rủi, Duyên lành, Duyên hờ, Duyên hẩm, Duyên thắm, Duyên muộn, Duyên sâu, Duyên cạn, Duyên hài, Duyên ước, Duyên hẹn, Duyên thề…Có Ác Duyên thì cũng có Thiện Duyên, Lương Duyên và Thanh Duyên, cũng nằm trong ý nghĩa cao quí, tốt đẹp này.
Người tin vào thuyết Thiên mệnh thì có Duyên tiền định. Khi chẳng có chuyện gì dính líu, liên quan thì gọi là Vô Duyên. Tạm cho là như người dưng, như nước lã…Xin tạm thời nói như vậy vì thực ra trên cõi đời này, giữa mọi con người, mọi con vật, mọi đồ vật, mọi việc đều có Nhân Duyên chằng chịt với nhau. Cũng xin đừng lầm lẫn ở đây, Vô Duyên, có nghĩa là chẳng hay ho, thú vị « chuyện này thật vô duyên » ngược với Có Duyên như « ăn nói có duyên » và xinh xắn, quyến rũ, mặn mà như «  cô này vừa đẹp vừa có duyên »…
Chữ Duyên dùng để chỉ tình yêu đôi lứa, hôn nhân, gọi là Tình duyên, Duyên bàng bạc khắp nơi, khắp cùng tận nẻo đường trên thế gian này, khắp cùng mỗi số phận của con người, con vật, sự vật, sự việc. Nói duyên phận, duyên số là vì có những yếu tố từ Nhân, từ Duyên mà tạo nên số phận, số mệnh riêng biệt của mỗi con người. Hai từ duyên phận hay duyên số đều trở nên thông dụng và thường được hiểu như là nói đến số phận gắn liền với hôn nhân, tình duyên nhưng đúng nghĩa của chữ Duyên thì không hạn hẹp như thế.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Tất cả đều phải nhờ bàn tay đưa đẩy của Duyên. Tôi sinh ra, lớn lên và lưu lạc nơi này chốn nọ. Tại sao không kết hôn với người này mà lại với người nọ ? Tại sao lại không thể là chỗ này chỗ kia mà phải là chỗ này chỗ nọ ? Tôi được việc này việc nọ, làm chuyện này chuyện kia, thành tựu hay thất bại, trúng mánh hay thua lỗ, phát đạt hay suy sụp. Tất cả đều có Nhân có Duyên.
Đôi lúc chúng ta nói do tình cờ mà gặp gỡ, mà tự dưng nên chuyện, có thể là thành bạn, có thể thành vợ chồng. Ở đây, hai người, đương sự là Nhân và cuộc gặp gỡ tình cờ là Duyên, nhờ đó mới có mối quan hệ  tiếp nối theo sau. Những mối Nhân Duyên được ví như những xâu chuỗi. Một hạt Nhân kéo theo một hạt Duyên, rồi một hạt Duyên lại sinh ra một hạt Nhân khác, cứ thế tiếp tục xâu chuỗi dài bất tận của Nhân Duyên.
Giống như ta kết hôn với một người thì dính liền với cả gia đình, họ hàng, bạn bè, hàng xóm, thân quen, xa gần của người bạn đời. Từ một Nhân một Duyên kéo ra thành trăm, ngàn, vạn mối Nhân, Duyên khác.
Tình cảm của con người vừa vi tế vừa phức tạp. Xúc động trước một con người, con vật, đồ vật hay sự việc gì đó cũng phải do Nhân do Duyên đứng đằng sau « giựt dây » như bàn tay phù thủy hoạt động trong bóng tối, điều khiển con người mà con người không hay biết !
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos
Một thí dụ: bạn đi ra phố để mua một món đồ bạn cần, rất nhiều cửa tiệm mở ra trước mắt bạn nhưng rồi bạn chọn đi vào cửa tiệm này mà không bước vào cửa tiệm khác, vì sao ? Vì bạn có « nhân duyên » với cửa tiệm này: thương hiệu của cửa tiệm đáng tin cậy, món hàng có phẩm chất tốt, hợp nhãn, hợp ý, cô bán hàng mặt mày trông vui vẻ, và có giá hạ treo trước cửa…v.v…Món hàng bạn cần mua là Nhân, tất cả những lý do như đáng tin cậy, phẩm chất tốt, vui vẻ, giá rẻ…là Duyên để bạn sẽ mua món hàng, món hàng đó sẽ thuộc về sở hữu của bạn đều có đầy đủ hai yếu tố Nhân và Duyên. Nhân hay Duyên cũng có thể là tự mình tạo ra hay do từ nơi người khác.
Trong thí dụ đi mua hàng nói trên, bạn nghĩ là mình chủ động ? Hoàn toàn sai ! Chính người thương gia kia mới là người chủ động. Vì sao ? Vì người đó đã khôn khéo « dàn trận » trước mắt bạn là một thương hiệu đáng tin cậy, món hàng có phẩm chất tốt, cô bán hàng miệng cười xinh xắn  và cái giá rẻ treo ngay trước cửa thật to, làm thế nào mà bạn không thể thấy và không ngần ngại bước vào ?!
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Cho dù mình ở thế chủ động hay bị động, Nhân và Duyên vẫn tác động đến mình như nhau.
Một thí dụ khác mà bạn chủ động: Yêu một người. Bạn sẽ chủ động tình huống này với những ý tưởng như «  Cô ấy hiền lành, nấu ăn ngon, giống mẹ, đẹp như Grace Kelly, hoặc anh ấy thông minh, giống bố, đẹp trai như Brad Pitt… » Nhân là người con trai hay con gái mà bạn hướng đến. Ý tưởng và hình ảnh bạn tự dựng lên trong đầu như giống mẹ, giống bố, đẹp gái, đẹp trai là Duyên để cho tình cảm nảy sinh. Và khi tình cảm nảy sinh rồi thì sẽ có sự đeo đuổi để tìm cách gần gủi, chiếm đoạt làm sở hữu của mình.Trên đời, không có một cặp tình nhân hay vợ chồng nào mà không nhìn nhận rằng bạn trai, bạn gái, chồng hay vợ mình là sở hữu của mình.
Hãy suy nghĩ xa hơn. Trong thí dụ « Yêu một người » này, có thật bạn chủ động không ? Hay cũng bị động như khi bước vào một cửa hàng trước đó ? Đúng vậy ! Bạn đang bị thôi thúc bởi cái bản năng thèm khát yêu đương đấy, ở đây, bạn đang bị động và bạn chỉ chủ động trong trình tự tiếp theo sau là sự đeo đuổi, chiếm hữu, làm thỏa mãn bản thân mà thôi !
Đối với một con vật, một đồ vật hay một sự việc cũng không có gì khác. Sự thèm khát thúc đẩy Nhân và Duyên tương tác. Đạo Phật gọi đó là Ái hay Khát Ái. Cái trình tự này sẽ được lập đi lập lại cho tất cả mọi trường hợp, không ngoại lệ. Nhân là con vật, đồ vật hay sự việc mà ta khao khát.Ta sẽ dựng một hình ảnh trong đầu, « chồng lên » cái hình ảnh trong thực tế, cố tìm những lý do phù hợp với sự suy nghĩ, sở thích hay gì đó, miễn là chính ta hứng thú, chấp nhận được và hình ảnh, lý do, sự suy nghĩ theo sở thích hay theo gì đó mà ta « thêu dệt, bày vẽ » ra sẽ là cái Duyên cho ta gần gủi với con vật, với đồ vật, với sự việc kia và ta bắt đầu cuộc đeo đuổi, biến thành vật sở hữu, và tất nhiên ta là sở hữu chủ. Lòng khao khát đã được thỏa mãn. Duyên đã làm xong cái «phận sự» là kết nối, gắn liền ta với đối tượng ta khao khát. Từ đó có chữ Kết Duyên là vậy. Đây cũng là một đặc tính của Duyên. Gắn bó keo sơn. Dân gian có câu thật chính xác:
                Phải duyên thì bám như keo
                Trái duyên, trái kiếp như kèo đục vênh. (5)
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ VÀ TÌNH YÊU  photos
Những Nhân và Duyên đi theo chiều hướng thuận, dẫn dắt đến sự gắn bó, liên hệ, khắng khít kèm theo là sự thụ hưởng. Có những Nhân và Duyên đi theo chiều nghịch sẽ là sự chia tay, xa lìa, tách rời, rủ bỏ, không dẫn đến sự thụ hưởng.
Như một cuộc gặp gỡ dù là tình cờ, gặp ai đó cùng đứng chờ xe buýt, mà nếu Nhân Duyên theo chiều hướng thuận thì tự nhiên ta sẽ thấy cái mặt anh chàng hay cô nàng này dễ thương, đáng yêu lúc đó ta mới quyết định làm quen, gợi chuyện rồi từ đó cứ ngong ngóng chờ cùng chuyến xe, trao đổi địa chỉ, e-mail, điện thoại…Nhân Duyên theo chiều hướng thuận thì sẽ như nhụy hoa quyến rũ bầy ong bướm, mật ngọt thì kiến bò đến, như keo như sơn thì dính chặt, đeo đẳng nhau, cho tới khi sở hữu nhau mới thôi.
Nếu theo chiều hướng nghịch thì ta sẽ thấy cái mặt này thật đáng ghét, bộ tịch này thật hợm hỉnh, ta không muốn dính líu gì tới « hắn ta » thoạt ngay từ đầu mới nhìn, thì lúc đó Duyên có tác động là xua đuổi, tách rời, ly khai. Cái gặp gỡ là Nhân, nhưng Duyên, qua sự suy nghĩ chủ quan của trí óc thì chận lại, không tạo điều kiện cho Nhân trưởng dưỡng, được chuyển tiếp đến giai đoạn Thành. Có thể nói Nhân đã bị giết chết từ trong trứng.
Tuy nhiên hãy coi chừng, Duyên không tạo điều kiện cho Nhân được Thành nhưng Nhân vẫn còn đó hoài, Nhân tưởng như chết mà …chưa chết ! Nhân vẫn nằm đó, âm thầm như một cái xác không hồn mà thôi ! Cái hình ảnh của buổi gặp gỡ khuôn mặt đáng yêu hay đáng ghét đó đều vẫn còn lưu lại đâu đó, chỉ cần trí nhớ, trí tưởng tượng gợi lại là thấy rõ như in trước mắt !  Và cái tình cảm yêu thương, gắn bó cũng như cái tình cảm ghét bỏ và xua đuổi đều là mầm mống chứa chất Nghiệp theo nhà Phật ! Mống khởi yêu hay ghét đều làm Nhân cho Nghiệp mà khi có đủ điều kiện nghĩa là có bàn tay của Duyên trợ giúp thì Quả sẽ trổ mà thôi !
Chúng ta ai cũng từng nghe qua câu nói của dân gian:
                Ghét của nào trời trao của ấy !
Đó chẳng qua là cái Nhân « ghét » đã gieo tự lúc nào mà không biết, không nhớ, tưởng là đã « giết » nó trong trứng rồi, ai ngờ nay gặp điều kiện, Duyên thuận thì nó trờ mặt tới !
Theo đạo Phật thì Nhân, Duyên, Nghiệp, Quả dính chùm vào nhau, theo nhau, tiếp nối nhau, luân chuyển, chạy vòng, chạy quanh rồi cũng có ngày gặp nhau. Gieo Nhân nào thì được Quả đó. Có Duyên thì cũng có Nghiệp hợp sức, hợp lực. Có nghĩa là khi đã có lý do chính đáng rồi thì sẽ có hành động, do đó tạo nghiệp. Rồi cứ thế lại tạo ra Nhân khác, Quả khác, Duyên khác và Nghiệp khác. Vô cùng vô tận.
Chúng ta đã hiểu như thế nào là Duyên, chính là điều kiện, hỗ trợ cho cái Nhân thành tựu và cũng chính là lý do từ đó, nương vào đó mà nảy sinh những sự việc tiếp theo. Không có Duyên thì Nhân cũng đứng một chỗ, không sinh sôi nẩy nở, đâm chồi, có hoa có quả, sinh con đẻ cái, cháu chắt đầy đàn, từ một đồng bạc, trở thành một triệu bạc…v.v…Và rồi cũng do chiều nghịch của Duyên mà làm cho Nhân biến mất, hoại diệt, như sinh lão bệnh tử, từ giàu có đến nghèo cùng, từ hạnh phúc đến đau khổ, từ được khen đến bị chê…Tất cả đều có sự tác động của  Nghịch Duyên.
Có điều rất đáng được chú ý là những ý tưởng hay hình ảnh do chính ta tạo ra, thêu dệt trong đầu thường không đúng với thực tế, nhưng đã tạo ra cái Duyên giúp cho Nhân thành tựu thì chắc chắn sẽ dẫn tới cái Quả là sự thất vọng. Đây là điều thường xuyên xảy ra, nhất là khi ta đang yêu, ta không còn lý trí mà chỉ biết mơ mộng, chỉ thấy người trong mộng, người thật thì…quá xa vời ! Điều này thường dẫn đến chuyện từ Duyên bỗng biến thành Nợ !
Tiếp đến, xin bàn đến chữ Nợ. Thật ra thì cũng không có gì khó hiểu vì sao mà từ Duyên lại chuyển qua thành Nợ. Đó chỉ là Duyên này đang tác động theo chiều nghịch của nó mà thôi.
Hôn nhân ban đầu đẹp đẽ, hạnh phúc, thì với thời gian, dần dà trở nên khổ đau, cay đắng, cơm không còn lành, canh không còn ngọt, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, chẳng qua là do những mối Nghịch Duyên đột nhiên xuất hiện. Những cái duyên xấu, gây đau khổ, bất hòa, xung đột này có thể là nó đã có từ trước nhưng mắt ta đã bị đánh hỏa mù bởi những ý tưởng và hình ảnh mà chính ta tự tạo, tự thêu dệt lấy, như đã đề cập ở phần trên, hoặc là do nơi bản thân mình, và của đối tượng, lần lần, từ từ mới bộc lộ cái bản chất xấu, thật, bị dấu giếm, che đậy, hoặc do bản tánh mình thay đổi với thời gian và cũng có thể do bên ngoài đem lại, do ảnh hưởng không tốt, như bạn bè chỉ để nhậu nhẹt, chơi bời, bê tha, quên bổn phận, trách nhiệm, hoặc có quá nhiều ưu tư, căng thẳng trong công việc nên không đủ kiên nhẫn với những chuyện tạm gọi là vụn vặt của đời sống hằng ngày, tính tình trở nên khó chịu, gắt gỏng, hay la mắng, giận dữ, người đàn ông thường dễ thiếu sót trong việc giáo dục con cái, gây thất vọng cho người vợ. Phía người phụ nữ thì cũng không phải ai cũng như vợ của Tú Xương, an phận, tảo tần mà có thể là ham đua đòi vật chất, và cũng có trường hợp «  Nhàn cư vi bất thiện » được cuộc sống thoải mái rồi thì sinh chướng, sinh tật, không bao giờ biết bằng lòng, biết đủ, được voi đòi tiên…Trăm ngàn vạn lý do để cái Duyên chuyển thành cái Nợ.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Cái nhẹ nhàng, đẹp như mơ như mộng không còn kéo dài, chạm mặt với cuộc sống thực tế, ít ai mà không thốt lên:
                          Trách duyên lại giận trăng già
                          Xe tơ lầm lỗi hóa ra chỉ mành
                          Bây giờ chồng thấp vợ cao
                          Như đôi đũa lệch so sao cho bằng ! (6)
                          ….
                          Thế gian được vợ hỏng chồng
                          Có phải như rồng mà được cả đôi ! (7)
                          ….
                          Trai có vợ như rợ buộc vào chân. (8)
Hay là:
                          Con là nợ, vợ là oan gia ! (9)
Hoặc:                         
                          Anh khôn nhưng vợ anh đần
                          Lấy ai lo liệu xa gần cho anh ! (10)
Nhưng không phải chỉ có đàn ông mới than, đàn bà cũng thế thôi:
                          Vì chàng thiếp phải mò cua
                          Những như thân thiếp thì mua mấy đồng
                          Vì chàng thiếp phải long đong
                          Những như thân thiếp cũng xong một bề. (11)
                          ….
                          Có con phải khổ  vì con
                          Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay. (12)
                          …
                          Chồng con là cái nợ nần
                          Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm ! (13)
Những câu nói của dân gian, trải qua bao năm tháng, bao thời đại vẫn còn nguyên giá trị, chứng minh được cho chúng ta thấy cái Duyên ban đầu đã biến thành cái Nợ. Nhưng chưa hết ! Cái Nợ này còn dây dưa kéo từ đời này sang đời khác. Cho nên mới có câu nói «  Nợ Ba Sinh » là ám chỉ cái Nợ của nhiều kiếp, kiếp quá khứ, kiếp hiện tại và cả kiếp vị lai ! Ba Sinh, dịch từ chữ Hán là Tam Sinh hay Tam Kiếp vậy. Có chấp nhận thuyết luân hồi thì mới hiểu được Nợ Ba Sinh này, vì con người gặp nhau kiếp này thường là đã gặp nhau kiếp trước rồi, và đã gặp nhau kiếp hiện tại thì cũng rất dễ gặp lại nhau trong tương lai, tức là kiếp sau.
Kim Trọng khi gặp Thúy Kiều cũng nói đến cái Nợ Ba Sinh này. Những kẻ yêu nhau mà không được trọn vẹn kiếp này thường hay « hẹn hò » chờ nhau, gặp lại kiếp sau ! Chính trường hợp của Kim Trọng và Thúy Kiều cũng không khác:
                          Kiếp này duyên đã muộn rồi
                          Thề xin kiếp khác đền bồi duyên sau. (14)
                          …
                          Kiếp này duyên đã phụ duyên
                          Dạ đài còn biết sẽ đền lai sinh. (15)
Bà vợ của Tú Xương thì an phận:
                          Lặn lội thân cò khi quãng vắng
                          Eo sèo mặt nước buổi đò đông
                          Một duyên hai nợ âu đành phận (16)
Chấp nhận Duyên phận, Duyên số cũng không phải là chuyện dễ làm. Thời buổi hiện đại cho thấy, cứ hai cuộc hôn nhân là có một vụ ly dị. Biết sống với nghịch cảnh không phải chuyện dễ làm. Con người thường thiếu kiên nhẫn và mắc cái tật là đổ lỗi, đổ thừa cho người khác ! Luôn luôn có một lý do mà nhất định không phải là lỗi của tôi. Con người đúng là bất toàn, bất hoàn hảo và thay đổi tánh tình, sở thích theo thời gian, theo tuổi tác, theo hoàn cảnh đó là chuyện tự nhiên, theo luật vô thường, phải có trên con đường đời gập ghềnh không bằng phẳng này,  nhưng con người đã không làm chủ, không chế ngự, không hàng phục được những điều bất như ý, bất mãn, bất toàn do đó sinh ra đau khổ, giận dữ, oán trách và cuối cùng là chia tay, cắt đứt mối tơ duyên.
Thật ra, có thể có chăng một thời đại lý tưởng cho con người ? Một nền văn minh hay một nền giáo dục đem lại hoàn toàn hạnh phúc cho con người ? Nhiều bài học của quá khứ đã được để lại nhưng con người có làm theo, có thay đổi gì không ? Những lời dạy của thánh nhân không hề thiếu. Mọi nổ lực không ngừng của con người qua triết học, tôn giáo, tâm lý học đều để giúp con người vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống nhưng chuyện lý thuyết thì vẫn dễ mà chuyện thực hành nơi tự thân mỗi con người dường như vẫn là điều khó vượt qua nhất.
Chỉ trừ là con nít, lớn lên ai cũng nhận ra cuộc đời không là màu hồng mà nhuốm màu đỏ của máu, của chiến tranh, chết chóc, bệnh tật, màu đỏ của lửa hận thù, xung đột, bạo động. Đường đời không trải thảm đỏ của vinh quang và hạnh phúc mà đầy dẫy thất bại và đau khổ. Dòng đời không phải là dòng sông lặng lờ không sóng gió mà ngược lại, đầy bão giông. Những điều bất trắc, bất như ý, bất toại nguyện, bất đắc chí, bất đồng, bất công, bất bình, bất lương, bất chấp, bất trách, bất khả thi, bất thành tựu, bất lực, bất pháp, bất tình, bất nghĩa, bất toàn, bất an…rải rắc đầy dưới bước chân đi của con người. Sự chống chỏi để đứng vững trên hai chân, tạo dựng sự nghiệp, một gia đình, một căn nhà, cơm ăn áo mặc, tiện nghi vật chất đầy đủ làm cho con người lao đao vất vả, mau già nua, bệnh tật và chết ! Không có ai chỉ ngồi không, không động móng tay mà có công danh sự nghiệp, tài sản vật chất, chỉ biết thụ hưởng. Mà nếu có ai có cái may mắn sinh ra đã được hưởng gia tài của cải cha mẹ để lại cũng phải biết lo toan để gìn giữ, điều này cũng không dễ, thêm vào đó, nếu không gặp lo âu phiền toái chỗ này thì cũng gặp ở chỗ khác. Được may mắn chỗ này thì sẽ xui xẻo ở chỗ khác mà thôi. Không vô cớ mà lắm nhà tỷ phú, người nổi danh tự tìm đến cái chết !
Tất cả những điều « bất » nghĩa là không, không được, không có, không thành, không xảy ra như ý muốn, như mong cầu, không đem lại hạnh phúc, sự tốt lành mà gây phiền toái, lo âu, đau khổ, thất vọng xảy đến trong đời người được xem như gánh nặng oằn xuống đôi vai mà con người phải chịu đựng, gọi đó là Nợ.
Không ai muốn cưới một người vợ hay lấy một người chồng mà là một « bà chằng » hay « ông chằng », một Hoạn Thư hay Sở Khanh, cũng thế, không một ai đẻ con ra mà muốn con mình xấu xí, bệnh tật, ngu dốt, lêu lổng, trở nên du đãng, du côn cả. Cũng như trong một gia đình, không ai muốn anh chị em mà trở nên bất hoà, thù ghét nhau.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Nhưng có những điều mà con người không làm chủ được, con người phải cam chịu, xem như là phần số của mình. Sự chịu đựng, phải mang, phải gánh cái khổ mà không thể trút đi đâu, bỏ chỗ nào hết, được xem như là Nợ.
Đúng ra phải hiểu chữ Nợ như là cái gì mình phải trả vì đã có vay. Nên đạo Phật hiểu chữ Nợ như là một điều mà mình phải chịu, phải gánh vì mình đã từng tạo ra cái Nhân của cái Nợ này, bây giờ phải trả. Đó cũng không nằm ngoài luật nhân quả. Và cắt nghĩa luật nhân quả chỉ trong một đời thì không thể nào đúng và đầy đủ được, cho nên đạo Phật phải dựa vào thuyết luân hồi. Phải trải qua nhiều đời, từ quá khứ đến hiện tại và vị lai mới thấy hết Duyên, Nghiệp, Quả báo. Quả báo không gì khác hơn là Nợ, trả vay, vay trả.
Thí dụ ta đã từng mượn tiền ai mà không trả thì sẽ có ngày ta chịu cảnh túng thiếu, nghèo nàn, làm lụng vất vả, làm thân tôi đòi…Đó là quả báo của sự việc giựt tiền, không trả nợ. Nếu ta đã từng lường gạt, dối trá ai thì ta sẽ gặp lại những cảnh người khác lừa đảo ta, làm ăn thua lỗ. Nếu ta đã từng sống đối xử tệ hại, ác độc, hành hạ thậm chí sát hại người khác thì ta sẽ sống lại cái cảnh bị hành hạ, bị đánh đập, bị sát hại.
Ngược lại, khi ta sống tốt, sống hiền lành, đạo đức, hiếu thảo, rộng lượng thì ta sẽ được đền bù lại bằng sự tốt đẹp. Ở đây, chính những người đã nhận, đã hưởng sự tốt lành, từ sự rộng lượng, từ những hành động đạo đức của ta sẽ là người « mang nợ » cho dù là trong nghĩa tốt, và họ sẽ đền đáp lại những gì họ đã nhận được. Họ tự xem là những người có Nợ với người đã đem điều tốt lành đến cho họ.
Như vậy phải thấy chữ Nợ qua hai chiều. Một chiều là vay trả nhưng điều xấu mà mình đã tạo, tức là phải gặp lại và chịu đựng những hoàn cảnh hay hành động xấu xa mà mình đã tạo. Một chiều khác là đền ơn những gì tốt đẹp mà mình đã nhận được. Đền đáp một điều gì đó nghĩa là có nhận, thì có vay, nghĩa là có Nợ, cho dù trong nghĩa tốt.
Nợ có thể là vật chất hay tinh thần và sự vay trả cũng theo đó mà có thể là vật chất hay tinh thần. Và cũng có thể là vay trả trực tiếp hay gián tiếp. Rất nhiều cách, nhiều kiểu để vay, để mang nợ và cũng thế, rất nhiều kiểu, nhiều cách để trả Nợ, đền ơn.
Chúng ta hiểu ra rằng thọ ơn ai, nhận được sự giúp đỡ qua vật chất hay tinh thần đều được xem như là mang Nợ. Cho dù người ra ơn không hề nghĩ đến chuyện đền đáp, trả ơn gì cả.
Chúng ta ai cũng được giáo dục là thọ ơn và nhớ ơn Sư, ơn Thầy, ơn cha mẹ, ơn những vị quốc thủ, nguyên thủ biết lèo lái đúng đường vận mệnh đất nước, những người chiến sĩ đã hi sinh bảo vệ tổ quốc, những vị bác sĩ, y tá, nhân viên bệnh viện tận tình chăm sóc, gần hơn thì có ơn vợ chồng, anh em, bà con, láng giềng, ơn chủ, ơn đồng nghiệp, ơn bạn bè và cả những người làm công, giúp việc…Cho dù là chúng ta đã bỏ tiền ra để trả công những người này. Không có họ thì cuộc sống hằng ngày của chúng ta sẽ khó khăn hơn nhiều, ai trông con cái, ai lo nhà cửa tươm tất cho ta rảnh tay lo sự nghiệp. Thời buổi hiện đại, ít có người phụ nữ nào mà không có công ăn việc làm. Thời xưa thì người đàn bà lại đông con, không có ai giúp một tay thì làm sao lo hết được công việc nhà. Khi ta mở công ty mà không có nhân viên hay công nhân nào chịu làm việc dưới quyền của ta thì công ty đóng cửa. Khi ta có công ăn việc làm cũng phải biết nhớ ơn người chủ cho dù họ mướn ta và trả lương cho ta, phần ta thì đã đóng góp tài năng, sức lực xứng đáng với đồng lương, nhưng không phải vì vậy mà không nhớ ơn người đã cho mình công ăn việc làm, và cũng đừng quên là không thiếu những người tài giỏi hơn mình. Ngoài ra, còn phải nhớ ơn…con cái vì nhờ có chúng nó mà mình mới sống theo nề nếp, biết ổn định, nhờ có trách nhiệm, bổn phận mà mình bỏ được tính ích kỷ. Hàng vạn hàng tỷ điều mà chúng ta có thể mang ơn. Cũng là Nợ, khi nhận được sự dạy dỗ, kinh nghiệm, hiểu biết hay bất cứ điều gì đó từ người khác, cũng có thể là điều tiêu cực như lời chê, trách, phê bình, chỉ trích…nhưng dưới cái nhìn theo chiều tích cực nên nó trở thành là Ơn.
Chúng ta cũng được dạy dỗ là biết cám ơn tất cả những gì chúng ta thọ nhận trên đời, tốt hay xấu, lành hay dữ, rủi hay may…Không than trách, biết ơn là đủ. Vì điều gì cũng có thể cho ta những bài học đáng suy nghĩ, noi theo để sửa đổi, hoàn thiện mình và hạnh phúc hơn. Dù chỉ là thiên nhiên, cả vũ trụ này, chúng ta cũng mang ơn. Mở mắt dậy thấy mặt trời, được ánh sáng, được nắng ấm, có không khí để thở, có gió mát, có cơn mưa tưới tẩm cây cối cho đơm hoa kết trái, có đất đai để trồng trọt, có điều kiện để nuôi sống thân mạng…Từ một hơi thở vào, thở ra là chúng ta đã mang ơn. Ngay những con vi khuẩn trong thân thể ta, cũng có những con vi khuẩn « tốt » chứ không phải vi khuẩn nào cũng đem lại bệnh tật cho ta.
Phật giáo có cái nhìn bình đẳng giữa người thi ơn và người thọ ơn. Không có học trò thì ông thầy dạy cho ai ? Không có bệnh nhân thì bác sĩ cũng ngồi không. Không có người nghèo khó thì cũng không có những người làm từ thiện. Không có người ăn xin thì cũng không có người bố thí. Không có người túng thiếu thì đâu có kẻ cho vay (và trở nên giàu có nhờ tiền lời…cắt cổ !)
Người thi ơn thì được phước, nhưng được phước là nhờ có đối tượng để thi ơn. Do đó mà bình đẳng. Người thi ơn hay người thọ ơn đều…phải nhớ ơn nhau ! Thử phóng tầm nhìn xa hơn một chút nữa, chúng ta sẽ thấy, không phải chỉ gọi là Ơn khi việc ấy chỉ hoàn toàn vô vị lợi, mục đích chỉ để giúp người, mà qua những liên hệ « có đi có lại », có « cung có cầu », có thu nhập, lời lãi, cũng có thể xem là Ơn, nên cũng phải có sự đền đáp.
Thí dụ, tiệm phở sẽ sạt nghiệp nếu không có ai thèm ăn phở. Nếu ai cũng cho xướng ca là vô loại thì ca sĩ, nhạc sĩ sẽ thất nghiệp. Cuộc đời sẽ buồn thiu nếu không có âm nhạc vang lên. Nếu ai cũng hà tiện, không mua sắm gì hết, chỉ ba cái áo, một đôi giày cũ quanh năm suốt tháng thì không có buôn bán gì được cả và kinh tế cũng suy sụp !
Ở đây, người bán phải biết ơn người mua và người mua cũng phải biết ơn người bán, cả hai bên đều cần nhau. Cho đến cả việc mua vui, được gọi là món ăn tinh thần, người tìm vui cũng phải biết nhớ ơn người đem vui đến cho mình. Người đem vui được đền bù xứng đáng và không quên là nếu không có người tìm vui thì mình cũng khoanh tay ngồi không.
Theo Phật giáo còn có những vị được gọi là Nghịch Hạnh Bồ Tát, các vị này «  làm gương » cho chúng sanh bằng những hành động không được gọi là thiện hay đạo đức, khi thấy hậu quả của những hành động bất thiện đó đem lại thì tự nơi chúng sanh sẽ nảy sinh sự ghê tởm và xa lánh điều xấu ác đó, sẽ không hành động theo cái gưong xấu được thấy.
Xin đưa một thí dụ: bạn gặp một người say sưa nghiện ngập, áo quần thốc thếch, trông dơ dáy bẩn thỉu, đi đứng xiêu vẹo, ngã nghiêng ngoài đường phố, tự nhiên bạn ghê tởm cái hình ảnh này và bạn tự nói «  khiếp quá, tôi không bao giờ trở thành như ông ta được! » Bạn hãy  « cám ơn » ông ta đã cho thấy cái hình ảnh tồi tệ đó để bạn sẽ ghi nhớ và không  « noi » theo cái gương xấu này. Có thể ông ấy là Nghịch Hạnh Bồ tát đấy, chớ vội khinh dễ ! Nhưng mấy ai thấy đó cũng là một bài học, cái bài học «  xấu xa » không đáng noi theo ? Bình thường con người ta chỉ biết khinh khi hoặc có thể là xót xa tội nghiệp, chứ ai mà lại cám ơn cái người thể hiện cái điều xấu ác được. Nhưng không ! Đạo Phật dạy cũng nên cám ơn người đã đưa cái hình ảnh xấu xa tệ hại đó ra như cám ơn người đã làm gương tốt vậy. Từ sự cám ơn này, tâm từ bi thương xót, tấm lòng trắc ẩn sẽ được khai mở khi gặp những người không có cuộc sống đạo đức, ngay thẳng, nghèo hèn, xấu xa, có thể họ chứa chất trong lòng một nỗi khổ nào đó, một hoàn cảnh đau thương nào đó mà mình không biết. Không cám ơn, không thương xót được thì cũng chẳng nên khinh thường.
Một thí dụ để biết cám ơn tất cả, cho dù là gương tốt hay gương xấu. Khi vào bệnh viện, để cảnh giác mọi người về sự tai hại của rượu và thuốc, chúng ta thấy treo nhan nhãn trên tường hình ảnh một lá gan, hay lá phổi lành mạnh và bên cạnh là lá gan, lá phổi bị bệnh, chúng ta rùng mình thấy hình ảnh ghê rợn của lá gan, lá phổi bệnh hoạn và tự nói là sẽ không mắc hai thói quen độc hại này. Đó là nhờ hai cái tấm hình làm gương được trưng bày trước mắt. Thông thường, chúng ta chỉ nhớ và cám ơn vị bác sĩ đã chỉ cho biết điều hại của thuốc và rượu nhưng lại không nhớ mà cám ơn những người đã cho mình thấy lá gan lá phổi kia. Nhất là người có lá gan, lá phổi bệnh hoạn, do được thấy tận mắt cái hình ảnh ghê rợn đó mà mình mới có cái ý chí mạnh mẽ là dứt bỏ thói rượu chè. Từ sự biết ơn này, ta sẽ khởi lên tâm từ bi hướng về người bệnh tật. Khởi Từ Tâm cũng là một pháp môn tu tập trong đạo Phật.
Có những danh ngôn mà ta từng được nghe qua, tương tự như « Điều gì không giết tôi chết, chỉ làm cho tôi thêm sức mạnh » Vậy thì chúng ta hãy cám ơn những đau khổ, thử thách, gian nan đã phải gánh chịu. Cha mẹ cũng thế, thương thì cho roi cho vọt, chỉ một mục đích là giáo dục con cái được nên người. Tuy nhiên, ở thời buổi hiện đại này thì không còn chuyện cho roi cho vọt nữa, coi chừng bạn sẽ bị kiện ra tòa đấy !
Người hạnh phúc là người biết cám ơn và biến cái Nợ thành Ơn. Luôn luôn biết cám ơn và không hề trách móc. Chúng ta đã trả xong Nợ rồi đấy !
Hãy bước qua chữ Tình ! Chữ này mới là rắc rối…sự đời làm sao ! Có nó thì cuộc đời thêm hoa thêm hương. Không có nó thì như đi vào một sa mạc khô cằn. Có nó thì cái gì cũng được tô bồi cho thêm phần đẹp hơn, tốt hơn, ngon hơn. Không có nó thì như ăn một món ăn mà không có mắm có muối có gừng có ớt. Nhưng có nó thì cuộc đời cũng lắm truân chuyên, lên thác xuống ghềnh. Không có nó, có thể, có thể thôi nhé, cuộc đời sẽ lướt đi êm ả như con thuyền trên sông không gợn sóng, quá lặng lẽ và…buồn tênh !
Con người, một tập hợp tâm sinh lý, một động vật có lý trí và tình cảm. Biết suy nghĩ và có cảm xúc. Cảm xúc là những cảm nhận đến từ khối óc, không phải từ trái tim đang đập trong lồng ngực như phần đông chúng ta đều tưởng như thế vì khi có một cảm xúc gì đó thì trái tim đập mạnh nhưng đó chỉ là sự biểu hiện của cảm xúc qua thân thể, không phải từ trái tim mà có cảm xúc. Tuy nhiên chúng ta vẫn quen dùng và phân chia « tiếng nói của lý trí, tiếng nói của con tim » tưởng chừng như lý trí là xuất phát từ trong đầu và tình cảm là từ trái tim nhưng thật ra, theo các nhà nghiên cứu của khoa não bộ hiện đại thì  lý trí hay tình cảm gì cũng đến từ bộ não. Bộ não, trung tâm điều khiển mọi ý thức hay nhận thức của tư duy, bao gồm ý tưởng, trí nhớ, sự phân biệt, nhận biết, so sánh, cùng sự nhận thức đến từ các giác quan như mắt, tai, mủi, lưỡi, da thịt. Con người nhận ra ánh sáng, hình tướng, màu sắc, âm thanh, mùi, vị, sự chạm xúc nơi thân đều đến từ bộ não. Con người biết cử động, ăn, uống, nhai, nuốt, nói năng gì cũng từ bộ não. Đó là những hoạt động của thân mà ai cũng nhận ra vì được biểu hiện ra ngoài. Cũng từ bộ não mà ra nhưng phần này không được biểu hiện rõ ra nơi thân và con người phải mượn hình ảnh, ngôn ngữ hay cử chỉ để diển tả, đó là phần trừu tượng, phần của nội tâm, của tư duy, tư tưởng, sự sáng tạo, trí tưởng tượng và cảm xúc. Chính nơi phần cảm xúc này mả phát sinh ra các tình cảm như vui, buồn, giận, ghét, yêu thương, ham muốn…
Như vậy, phần cảm xúc này phát xuất từ bộ não xuyên qua 5 giác quan là mắt, tai, mủi, lưỡi và thân (da thịt) và các đối tượng của 5 giác quan này như hình ảnh, âm thanh, mùi, vị và sự đụng chạm. Năm giác quan, sau khi tiếp xúc với 5 đối tượng thì sẽ có phản ứng là những tình cảm yêu thích hay ghét bỏ, buồn hay vui, mừng hay giận, ham muốn hay không ham muốn…
Theo Phật giáo thì con người có thêm giác quan thứ sáu là ý hay ý căn. Đối tượng của ý căn là tư tưởng, ý tưởng, ý nghĩ. Ngược lại với 5 giác quan nêu trên, thuộc về phần vật chất, thuộc cái thân, thì ý căn thuộc phần tâm lý, phần tinh thần. Hai phần vật chất và tâm lý này nương tựa vào nhau mà tồn tại. Nhờ phần vật chất, 5 giác quan của cái thân mà phần tinh thần, hay tâm lý và cũng là tâm linh, mới có cơ sở để thể hiện những hoạt động trừu tượng của ý căn.
Như vậy, não bộ, năm giác quan và giác quan thứ sáu, ý căn, chỉ là công cụ hay phương tiện để diển đạt những thông tin của chủ nhân đứng đằng sau những hoạt động của phần tinh thần hay tâm lý, tâm linh này mà tùy theo quan điểm của mỗi tôn giáo hay tín ngưỡng, có thể là một Linh hồn, một Đại Ngã, một Phạm Thiên hay chỉ là một cái Tôi, cái Ngã và đơn giản hơn nữa, chỉ là cái Tâm.
Tất cả mọi người trên trái đất đều thống nhất một điều: dùng đại từ Tôi để chỉ cho cái thân tổng hợp của hai phần tâm sinh lý của con người. Nhưng khi cái thân vật chất này chết đi thì còn cái gì lại là điều không có sự thống nhất nơi con người. Giới hạn của bài này không bàn đến chuyện đời sau của cái Tôi mà dừng lại nơi cái Tôi hữu hạn với cái chữ Tình vây bủa nó đôi lúc đến ngạt thở !
Tình, có thể là thuần Việt cũng như xuất xứ từ Hán Việt, dùng để chỉ cái cảm xúc, sự rung động, một trạng thái tâm lý mà con người nhận thức được nhờ trung gian của não bộ, hệ thần kinh, khi đứng trước một con người khác, một con vật, một sự vật hay sự việc. Cảm xúc này tác động đến cả thân và tâm, có thể không được bộc lộ ra bên ngoài, chỉ giữ ở bên trong, nơi phần tinh thần, mà cũng có thể biểu hiện ra bên ngoài qua cử chỉ, nét mặt, hành động và ngôn ngữ.Tình cảm con người thực sự ra chỉ quanh quẩn nơi con số 7. Thất tình gồm có: hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố và dục. Tức là vui mừng, giận dữ, buồn bã, vui vẻ, yêu thương, ghét và ham muốn.
Đứng trước một đối tượng, là con người với con người, với con vật, với đồ vật hay với sự việc, kể cả thiên nhiên, sau khi 5 giác quan đã nhận ra, hoặc hình ảnh, hoặc âm thanh, hoặc mùi, vị, sự xúc chạm và khi sự suy nghĩ hay tư duy trong đầu, từ nơi Ý, giác quan thứ sáu, đã « đánh giá, phán đoán » xong là có ngay sự chấp nhận hay không chấp nhận, giữ hay bỏ, đeo đuổi hay không, lập tức tình cảm sẽ nảy sinh trước đối tượng này.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Nếu chấp nhận thì tình cảm sẽ là vui mừng, vui vẻ, dần dần sâu đậm hơn để trở thành yêu thương và ham muốn hay thèm khát được sở hữu hay thụ hưởng tùy theo loại đối tượng. Nếu là con người và tùy theo liên hệ quen biết, thân, không thân, bạn hay người yêu…v.v…mà mức độ tình cảm được tăng trưởng theo cường độ của sự đeo đuổi, thèm muốn, hay khát khao, do đó mà tình cảm có thể chỉ được biểu hiện qua một cái bắt tay, một nụ hôn, một vòng tay hay xa hơn nữa, tiến tới sự phối hợp tình dục. Nếu là một đồ vật, cái bánh ngọt chẳng hạn, thì tình cảm ban đầu chỉ là thích cái bánh đó, dần dần tăng lên cho đến khi thèm muốn là phải ăn cái bánh đó. Nếu đối tượng là một con vật thì tình cảm ban đầu chỉ là vài cái vuốt ve, ôm ấp vào lòng, sau đó là tìm cách đem về nuôi, thân cận ngày đêm. Với một việc gì đó thì tình cảm được biểu hiện là sự thích thú, hứng khởi và con người sẽ nhập cuộc, bắt tay vào việc, đồng hóa mình với sự việc, hoàn toàn dấn thân, bỏ công bỏ sức cho sự việc, dồn hết cả tâm trí, năng lực. Đối với thiên nhiên, như cây cỏ, hoa trái, con người cũng nảy sinh tình cảm thích thú, yêu thương và tìm cách để sở hữu, rồi cũng chăm nom, săn sóc, tưới tẩm, nuôi dưỡng y hệt như đối với một con người hay con vật, đồ vật.
Khi một tình cảm yêu thích, yêu thương bắt đầu nảy sinh thì sẽ kéo con người đi xa hàng vạn dặm. Có thể trèo non lội suối, băng rừng vượt biển, bất chấp gian nguy chỉ để đến gần và sở hữu đối tượng mà mình đã gieo tình cảm vấn vương.
Dân gian lại có câu nói lên được cái tình mãnh liệt như vậy:
                          Yêu nhau chẳng quản đường xa
                          Đá vàng cũng quyết, phong ba cũng liều. (17)
                          ….
                          Thương nhau chẳng quản xa gần
                          Cầu tay không vịn cũng lần mà sang. (18)
 
Chữ Tình trong quan hệ nam nữ thì thường được gọi là ái tình hay tình ái, nhưng chúng ta hiểu rằng chữ Tình không chỉ giới hạn trong tình yêu đôi lứa. Cũng như chữ Duyên, chữ Tình bàng bạc khắp nơi, khắp chốn. Khi nào có cảm xúc khởi lên với bất cứ đối tượng nào, người với người, với con vật, đồ vật, sự việc gì đều là Tình cả. Cho nên có Tình mẹ con, Tình cha con, Tình thầy trò, Tình bằng hữu, Tình đồng loại, Tình đồng môn, Tình đồng hương, Tình bà con, Tình láng giềng, Tình đồng nghiệp, Tình nghệ sĩ…
Nhưng xem ra chỉ có chữ Tình ái của nam nữ mới thật là phong phú và nhiều sáng tạo nhất.
Hãy đọc bài ca dao « Ước Gì » chứng minh cho sự sáng tạo phong phú này:
                          Ước gì anh hóa ra hoa
                         Để em nâng lấy rồi mà cài khăn.
                          Ước gì anh hóa ra chăn
                          Để cho em đắp em lăn em nằm.
                          Ước gì anh hóa ra gương
                          Để cho em cứ ngày thường em soi.
                          Ước gì anh hóa ra cơi
                          Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.(19)
Hoặc bài ca dao sau đây mà óc sáng tạo, trí tưởng tượng thật tuyệt vời:
                          Khăn thương nhớ ai
                          Khăn rơi xuống đất.
                          Khăn thương nhớ  ai
                          Khăn vắt trên vai.
                          Khăn thương nhớ ai
                          Khăn chùi nước mắt.
                          Đèn thương nhớ ai
                          Mà đèn không tắt.
                          Mắt thương nhớ ai
                          Mắt ngủ không yên. (20)
Khi không chấp nhận đối tượng thì tình cảm sẽ là ghét, kèm theo các tình cảm khác như sự buồn bã, không vui vẻ, bực tức, giận dữ. Thí dụ, ta chẳng thích chàng trai ấy hay cô nàng ấy mà cứ bị đeo đuổi, cứ bị bám lấy, « hắn cứ chìa cái mặt » thật đáng ghét, không biết thẹn thì ta sẽ sinh ra bực bội, không vui, từ từ trở thành giận dữ, thậm chí mắng chửi, xua đuổi. Với một đối tượng khác như con vật, đồ vật hay sự việc cũng không gì khác, nếu không chấp nhận, không thích, không ưa thì sẽ sinh ra ghét, từ ghét, sinh không vui, buồn bực, giận dữ và xua đuổi, tránh né hay vứt bỏ. Đối với thiên nhiên, cây cỏ, hoa trái thì phá hoại, đào bới, cắt xén, tỉa bỏ, quăng đi, làm cho khô héo, cằn cỗi, chết.
Tình cảm luôn có hai chiều như vậy. Chiều thuận thì đưa đến sự tốt lành, đẹp đẽ, an vui, đoàn tụ, hòa thuận, bảo vệ cuộc sống và hạnh phúc. Chiều nghịch thì đưa đến sự buồn bực, giận dữ, oán thù, chia lìa, xung đột, đau khổ, có khi dẫn đến bạo động và cái chết.
Nếu không có xúc động thì không nảy sinh tình cảm gì hết, sẽ không có Duyên mà cũng chẳng Nợ. Người đi tu là người cắt ngang mối Duyên Nợ ngay từ gốc của nó, tức là chế ngự tình cảm, không để cho nó khởi lên để rồi dính mắc vào những mối Duyên, Nợ khó lòng rứt ra.
Đó là nói những tình cảm ràng buộc qua những mối quan hệ, không chỉ là nam nữ, làm cản trở việc tu hành, diệt ái và diệt dục, mà ngay cả những tình cảm quá gắn bó với người thân, gia đình hay bằng hửu cũng thế, cần được chế ngự, rời bỏ. Chắc chắn là không nói đến những tình cảm tốt như lòng từ bi bác ái, vị tha, nhân đạo, ngược lại, cần phát triển. Tu hành, ai cũng có thể làm đưọc, vì thực chất của nó chỉ là sự dứt bỏ chữ Tình gây ràng buộc và đau khổ và thay vào đó chữ Tình cao thượng đem đến nguồn an lạc, hạnh phúc chân thật.
Năm giác quan và ý căn như những cánh cửa sổ mở ra trước mặt con người những hình ảnh đẹp, quyến rũ, duyên dáng làm xao xuyến, động lòng, những âm thanh tuyệt vời của âm nhạc hay của tiếng nói dịu dàng, trìu mến làm rung động con tim, mùi, vị thơm ngon thì làm cho thèm thuồng, những sự đụng chạm mượt mà dễ chịu của da thịt làm cho khao khát được vuốt ve, nâng niu, và nơi ý thì được nghe, được đọc những lời hay, ý đẹp, chân thật, chân chính, hợp lý, hợp đạo làm tâm hồn được nâng cao, các lời khen ngợi, ca tụng chính đáng, không giả dối.
Phải nói rằng chính nơi con mắt, được thấy những hình ảnh, dung nhan, diện mạo phù hợp với sở thích, thẩm mỹ, theo phán đoán chủ quan của mình, là những lý do đầu tiên làm khởi lên nơi con người những tình cảm mê mẫn, quyến luyến, đắm say. Ở đây, chữ Duyên trong nghĩa của dáng dấp, vẻ đẹp lại làm Duyên, trong cái nghĩa của duyên do, duyên cớ, cho chữ Tình. Nói một cách không được bóng bẩy lắm thì nét đẹp, nét Duyên bên ngoài này như « mồi » để nhử, để câu cho Tình mống khởi. Là sắc đẹp trời cho mà cũng có thể cố tình tạo ra để quyến rũ đối tượng mà mình muốn kết mối Duyên, có thể là hời hợt, qua đường, cũng có thể  là lâu dài, bền vững. Hãy cùng đọc bài ca dao « Mười Thương » để thấy dung nhan, tướng mạo bên ngoài đã kết duyên được với cái Tình như thế nào:
                          Một thương tóc bỏ đuôi gà
                          Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
                          Ba thương má lúm đồng tiền
                          Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
                          Năm thương cổ yếm đeo bùa
                          Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
                          Bảy thương nết ở khôn ngoan
                          Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
                          Chín thương cô ở một mình
                          Mười thương con mắt có tình với ai. (21)
Tất nhiên là qua các thời đại, không còn thấy những tóc đuôi gà, yếm, bùa, răng đen, nón lá…Chỉ cần thay vào đó những hình ảnh của tà áo dài, chiếc áo bà ba, hay là chiếc quần túm sát kiểu cao bồi, hay chiếc váy ngắn cũng thế thôi, đều có tác dụng như nhau.
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos
Nhưng năm giác quan và ý căn cũng mở ra trước mặt con người những hình ảnh xầu xí, ghê tởm, những âm thanh, giọng nói chát chúa, cứng cỏi, nặng nề, thô ác, những mùi thối tha, vị đắng, chua, cay và sự đụng chạm thô bạo không mơn trớn, dịu dàng, dễ chịu cũng như ý thì mang những điều không làm đẹp tâm hồn, không cao thượng, không chân thật, chê bai, đả kích, cố tình hạ phẩm giá, nhân cách, không chính đáng, không đúng sự thật, giả dối, tâng bốc nịnh hót.
Luôn luôn có hai chiều, hai hướng, hai thế đối đãi như vậy trong tự bản thân của con người cũng như trong cuộc sống, trong mọi giao tiếp giữa người với người, với con vật, đồ vật, sự việc và cả với thiên nhiên. Tình cảm phát xuất nơi mỗi con người thì luôn nhuốm màu chủ quan, thiên vị do cái suy nghĩ riêng tư của bản thân mà đối tượng không thể nào hiện ra đúng như sự thật cả. Chúng ta lại được thấy điều này chứng minh qua ca dao:
                          Yêu nhau yêu cả đường đi
                          Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng. (22)
                          ….
                          Yêu nhau vạn sự chẳng nề
                          Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng. (23)
                          …
                          Thương nhau trái ấu cũng tròn
                          Ghét nhau trái bồ hòn cũng méo (24)
 
Cái chữ Tình thật không đơn giản chút nào ! Làm cho êm thắm thuận hòa hạnh phúc cũng nó, mà làm cho chia lìa gảy đổ, bất hòa cũng nó. Cho thấy chữ Tình này không thể nói lên sự thật đúng như sự thật được. Do đó mà muốn có sự công bằng, không thiên vị thì phải gạt bỏ chữ Tình này qua một bên. Trong các cuộc thi cử, có những điều lệ dấu tên mà cả dấu mặt thí sinh.
Thành kiến, định kiến, sự suy nghĩ chủ quan cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tình cảm của con người. Từ đó mà sinh ra kỳ thị. Không chấp nhận sự khác biệt làm chướng ngại cho tình cảm nảy sinh. Sự khác biệt có thể đến từ tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc, ngôn ngữ, màu da, giới tính…nhiều vô số kể.
Lại nữa, chữ Tình này khi biểu hiện sự yêu thương hay ghét bỏ thì cũng đi theo một chiều hướng nhất định: yêu thương những gì có dính líu, liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến mình và những gì tượng trưng cho sự đẹp đẽ, tốt lành, hay ho, hoặc ngược lại…rất dễ dàng yêu thương người thấp kém, khốn khó hơn mình, ít có ai thương người đẹp hơn, giàu hơn, tài ba hơn, hạnh phúc hơn mình cả ! Và cũng thế, cái tình cảm ghét bỏ thì đi theo hướng từ cao tới thấp, thí dụ ghét người hơn mình, thành công hơn mình…thì dễ hơn so với cái ghét một người thấp kém, thua thiệt hơn mình. Hoặc theo mức độ gần hay xa, thí dụ nói xấu, chửi rủa người dưng thì dễ nhưng là người gần gủi, thân yêu ruột thịt thì khó hơn, thường thì tìm đủ mọi cách để bênh vực, bao che. Chữ Tình này đúng là rắc rối và…lệch lạc!
 
Chúng ta thấy nghĩa chữ Tình này vừa rộng mà vừa hẹp. Rộng là vì nó bao quát tất cả những gì mà con người con thể khởi lên cảm xúc, mang một tình cảm dù vui dù buồn, dù thương dù ghét, đối với người và người cho đến đối với súc vật, đồ vật, sự việc và cả thiên nhiên. Bất luận là đối tượng nào, trong lảnh vực nào, thuộc tinh thần, tâm linh như tôn giáo, danh vọng, lý tưởng hay vật chất như tiền bạc, của cải, cái ăn cái mặc… con người đều có thể bỏ cái Tình của mình vương vấn vào đó. Lại nữa, chữ Tình còn rộng trong thời gian và không gian. Ta vẫn còn mãi trong ký ức những hoài niệm về quá khứ, những tình cảm xa xưa vẫn còn sống mãi trong lòng và có thể khơi dậy bất cứ lúc nào. Và ta cũng có thể «  sống trước » cái tương lai chưa đến với những cảm xúc, tình cảm do mình tưởng tượng trước, phóng đại, phác họa. Trong không gian thì ở miền Đông cũng vẫn nhớ thương được miền Tây. Ở xóm Thượng vẫn ngong ngóng về xóm Hạ. Ở bên bờ Thái Bình Dương vẫn tha thiết với bên kia bờ Đại Tây Dương. Không có gì ngăn ngại cản trở.
 
Và chúng ta nói chữ Tình hẹp là giới hạn nơi cách biểu hiện, và phương tiện để biểu hiện. Chữ Tình được biểu hiện không nằm ngoài 7 cách: vui mừng, giận dữ, buồn bã, vui vẻ, yêu thương, ghét và muốn hay là tham muốn. (Xin chú ý thêm vài điều: vui mừng là hân hoan, mừng rỡ, và vui vẻ nghĩa là tươi tắn, vui, trái với buồn bã; Niềm kiêu hãnh, sự hãnh diện, bằng lòng, sung sướng đem lại niềm vui nên cũng được xếp vào tình cảm vui mừng, hoan hỉ; trong cái ghét cũng đã có sự ganh tị trong đó rồi, nên ganh thường đi theo ghét, trở thành ganh ghét) Chúng ta cũng có thể thêm vào sự không tham muốn nhưng thực ra thì nó cũng nằm trong cái tình cảm ghét rồi, đã ghét thì không bao giờ có ý tham muốn đem về cho mình. Và trong cái « muốn » cũng đã bao hàm cái « không muốn » này, nghĩa là đã có cái « muốn cái không muốn » đó không tồn tại, không hiện hữu. Như thế thì trong chữ Muốn, hay Tham muốn, gọi là Dục, thì đã có sự muốn dẹp đi cái mình không ưa thích, xấu, đau khổ và đem về, giữ lại cái mà mình ưa thích, cái tốt đẹp, hạnh phúc…v.v…Bảy cách biểu hiện của chữ Tình này, theo đạo Phật, đều bị thúc đẩy bởi hai nhân căn bản là Ái và Dục.
 
Thêm nữa, cái giới hạn của chữ Tình là lệ thuộc vào các phương tiện để biểu hiện, tức là 5 giác quan và ý, có thể gọi là ý thức. Nhờ qua các giác quan, được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, và qua cái ý được nhận biết, phân biệt, phán đoán mà cái Tình mới trỗi dậy. Song con người chỉ có 3 « công cụ » để hành động, nghĩa là chuyển cái Tình đang nằm ẩn ở bên trong, nơi phần trừu tượng thành cái điều cụ thể, hiện thực, nhờ vào 3 cửa ngỏ là Thân Khẩu Ý. Tức là từ nơi Thân, thì chân tay có thể đánh đập hay vuốt ve, nơi miệng thì nói lời hay, dịu dàng, yêu thương hay chửi rủa, mạt sát và nơi Ý thì mượn hình ảnh, ngôn ngữ, cử chỉ đễ diễn đạt cái điều suy nghĩ, tích cực hay tiêu cực…v.v…
 
Điều đáng chú ý là chúng ta thấy rõ chữ Tình này rất lệ thuộc cái Ý. Chính cái Ý phán xét, phán đoán, phân biệt là đầu mối cho Tình khởi lên. Cái Ý đã tinh tế, sắp đặt tất cả để cho Tình mống khởi yêu, ghét, giận, vui buồn…Ta cứ nghĩ yêu người này là thuần tình cảm, thuần cảm xúc ? Không như thế đâu ! Cái Ý đã sắp đặt hết rồi. Cô ấy, anh chàng ấy phải như thế này thế nọ, hợp với sở thích, đòi hỏi, lý tưởng của  tôi như thế nào tôi mới xiêu lòng đấy chứ !
Bất cứ đối với sự việc gì cũng thế thôi, cái Ý là chủ chốt, là chủ nhân ông quyết định mọi việc, mọi cảm xúc.
Vậy thì cái Ý quả là quan trọng dường nào ! Do đó mà hai chữ Tình Ý thường đi đôi với nhau là vậy, không gì khó hiểu.
 Đạo Phật đi sâu hơn vào cái khả năng nhận biết, suy nghĩ, phân biệt, phán đoán của Ý và thường dùng chữ Tâm, cũng là Ý, là Ý thức và cùng một hoạt động như nhau cả. Nhưng cái Tâm của nhà Phật sâu rộng hơn cái Ý, hay Ý thức. Vì Tâm là cốt lõi của đạo Phật. Mọi sự buồn vui sướng khổ cũng từ Tâm, mà thế giới bên ngoài, được thấy, được nghe, được biết cũng từ Tâm tạo ra. Tâm thì có Vọng tâm và Chân tâm. Ý hay Ý thức thông thường của con người thì thuộc về Vọng Tâm nên có đối đãi và gây ra đau khổ. Giới hạn của bài này không bàn quá xa về chữ Tâm này.
Xin dừng lại ở chữ Tình. Cái chữ ràng buộc con người. Hạnh phúc được…một mà đau khổ …mười ! Nhưng không có nó chưa chắc con người đã có mặt trên trái đất này.
                          Lại mang lấy một chữ tình
                          Khư khư mình buộc lấy mình vào trong. (25)
Chính chữ Tình mới kéo theo Duyên và Nợ. Dứt được chữ Tình thì cũng hết Nợ hết Duyên. Nhưng chuyện đó hầu như không thể có.
                          Cho hay là giống hữu tình
                          Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong ! (26)
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH YÊU  photos
Vì sao chữ Tình lại khó gỡ như thế ? Bởi vì nó dính liền với một điều mà con người lao đao từ khi mang lấy cái thân ! Điều đó là Tình Dục hay Tính Dục đấy các bạn ơi ! Sinh ra là trai hay gái, ai cũng mang trong người cái hoạt động âm ỉ, từ từ lớn dần với ngày tháng, của bộ phận sinh dục. Một bộ phận vừa có chức năng bảo tồn nòi giống, truyền chủng, vừa đem lại khoái lạc cho thân và cả…tâm ! Ảnh hưởng qua lại giữa thân và tâm không còn ai phủ nhận nữa, điều này không có gì lạ vì khi cái thân mạnh khoẻ, hoạt động tốt không bệnh hoạn thì cái tâm cũng mạnh khoẻ, không bệnh hoạn và ngược lại, tâm an vui, thoải mái, hạnh phúc thì thân cũng tiêu trừ bệnh tật. Tất nhiên là trên đời này, khẳng định điều gì cũng mang tính cách tương đối, nếu không thì chẳng còn sinh lão bệnh tử gì hết. Có người chăm chú săn sóc cái thân đuợc tốt đủ điều mà phần tinh thần vẫn có cái gì bất an bất ổn. Xã hội hiện đại quá xem trọng tình dục chưa hẳn là đúng. Tình dục và khoái lạc do tình dục đem lại chính là sự xúc chạm của da thịt, của bộ phận sinh dục cũng không khác gì một giác quan khác như mũi ngửi được mùi thơm, lưỡi được nếm đồ ăn ngon. Tình dục quá độ cũng gây bệnh hoạn mà thiếu thốn cũng đem lại sự mất thăng bằng. Con người không biết giữ thế quân bình trong sự thụ hưởng khoái lạc do các giác quan đem lại mà thường, thay vì làm chủ các giác quan, thì lại nô lệ cho các giác quan. Lấy sự hưởng thụ làm mục đích sống.
Do mong cầu hạnh phúc nơi thân, vừa vật chất vừa tinh thần, mà con người phải chịu khổ bởi vì không có gì đạt được mà không có sự nổ lực, tìm tòi, đeo đuổi, bỏ công, tốn sức, nhưng không phải lúc nào cũng được thỏa mãn. Và một khi đạt được rồi cũng không thể giữ mãi trong tay, hạnh phúc mong manh, điều này ai cũng nhận thấy. (Xin đọc Hạnh Phúc và Đau khổ, Con Người là…Con gì ? LKTH)
Con người khó lòng tách rời khoái lạc, dục lạc vì mang cái thân với những nhu cầu cần được thỏa mãn. Chỉ trừ người có một lý tưởng là đi theo con đường giải thoát, diệt dục mới tìm cách tách rời ra khỏi sự thụ hưởng khoái lạc, dục lạc của cái thân vật chất mà con người bình thường, phàm phu không lý tưởng giải thoát, thì không ai từ chối sự thụ hưởng, nên vẫn dính vào chữ Tình này mà trong đó có Tình Dục, rất khó bỏ, khó buông.
Nếu gỡ được chữ Tình ắt cuộc đời sẽ không còn gì để nói. Thi sĩ chẳng dệt được vần thơ nào. Nhạc sĩ chẳng đàn lên cung điệu làm thổn thức lòng người. Ca sĩ không hát lên khúc tình ca diệu vợi. Họa sĩ không cần thổ lộ tâm tình qua màu sắc. Người viết cũng không còn gì để viết !
 
 
                                                      LêKhắcThanhHoài
                                       Paris, những ngày đón Tết Ất Mùi.
 
Chú Thích: 1.4.5.6.7.8.9.10.11.12.13.17.18.19.20.21.22.23.24: Tục Ngữ Ca Dao Dân Ca VN. Vũ Ngọc Phan. 2.3.14.15.25.26: Kiều. Nguyễn Du. 16: Thương Vợ. Trần Tế Xương
Kết quả hình ảnh cho Duyên Nợ và Tình Yêu  photos

 Truyền thuyết về loài hoa bỉ ngạn: Một lòng chờ nhưng không bao giờ gặp gỡ

Loài hoa này xuất hiện trong một ca khúc đang rất hot trong những ngày gần đây là "Độ Ta Không Độ Nàng".

"Trên đường hoàng tuyền, có hoa Bỉ Ngạn
Hoa chờ một người, yêu tận tâm can
Duyên phận trái ngang, đời đời lỡ dở
Số mệnh sắp đặt, vạn kiếp chẳng nên duyên."
 
 Hoa bỉ ngạn đẹp rực rỡ, mọc rất nhiều ở các vùng quê Nhật Bản và Trung Quốc.
Hoa bỉ ngạn đẹp rực rỡ, mọc rất nhiều ở các vùng quê Nhật Bản và Trung Quốc.
 
Hoa bỉ ngạn (red spider lily, higanbana) là một loài hoa trong họ loa kèn đỏ, mọc rất nhiều trên những triền đồi, bờ sông, hai bên đường đi ở những vùng làng quê Nhật Bản và Trung Quốc. Loài hoa này mang màu đỏ rực rỡ, đến mùa hoa nở có thể biến cả thế giới trở thành một tấm thảm đỏ lung linh huyền ảo.
Dù hình dáng hoa xinh đẹp cao sang nhưng củ của loài hoa bỉ ngạn lại có chứa một loại chất cực độc, gây tổn hại đến thần kinh. Xưa kia từng có người tử vong vì ăn củ hoa trong lúc đói. Chính vì thế, người Nhật thường trồng bỉ ngạn xung quanh nhà, dọc theo ruộng lúa hay xen kẽ giữa các ngôi mộ, nhờ thế sâu bọ và sóc chuột sẽ tránh xa, không đến đào phá đất đai mùa màng. Bỉ ngạn hoa do đó còn có tên u linh hoa, tử nhân hoa hay hoa địa ngục.
 Củ hoa bỉ ngạn rất độc, vì thế nó được trồng xung quanh các ngôi mộ để xua đuổi động vật có hại.
Củ hoa bỉ ngạn rất độc, vì thế nó được trồng xung quanh các ngôi mộ để xua đuổi động vật có hại.
 Bỉ ngạn nở rộ giữa những thửa ruộng.
Bỉ ngạn nở rộ giữa những thửa ruộng.
 
Trong một năm có hai ngày mà ngày và đêm dài bằng nhau, người ta gọi là ngày xuân phân và thu phân. Bỉ ngạn bao giờ cũng nở hoa trùng với tiết thu phân, thời điểm giao hòa của trời đất, nơi người trần gian có thể đi vào thế giới của người đã mất. Chính vì lẽ đó, người Nhật thường chọn ngày này để đi tảo mộ, thăm viếng, sửa sang mồ mả của ông bà tổ tiên. Bó hoa bỉ ngạn được cắm trên mộ cũng được xem là dành tặng cho người ở thế giới bên kia.
Trong tiếng Hán Việt, từ "bỉ ngạn" có nghĩa là "ở bờ bên kia", chỉ sự phân ly xa cách, gắn với những câu chuyện bi thương, những hồi ức buồn bã. Có rất nhiều truyền thuyết được kể về loài hoa này, đó đều là những mối tình bi kịch mà ở đó, người con trai và người con gái yêu nhau say đắm, nhưng vì duyên số, họ mãi mãi chia lìa và không thể gặp nhau.
 Hoa bỉ ngạn gắn với những câu chuyện tình bi kịch, nơi hai người yêu nhau mãi mãi chẳng thể đến được với nhau.
Hoa bỉ ngạn gắn với những câu chuyện tình bi kịch, nơi hai người yêu nhau mãi mãi chẳng thể đến được với nhau.
Truyền thuyết về loài hoa bỉ ngạn: Một lòng chờ nhưng không bao giờ gặp gỡ
Có lẽ những câu chuyện tình u buồn kia được lấy cảm hứng từ lá và hoa của bỉ ngạn. Vì sự trớ trêu của tạo hóa, hoa bỉ ngạn chỉ nở khi lá của nó chưa thành hình. Dù có sống đến ngàn năm, bỉ ngạn nở hoa bao giờ cũng không nhìn thấy lá, và khi lá đâm chồi thì hoa đã lụi tàn từ thuở nào. Hoa và lá mãi mãi không gặp nhau dù chung một gốc, nhưng vòng đời của chúng đời đời kiếp kiếp đan xen vào nhau.
 
Chính vì gắn liền với sự phân ly xa cách nên hoa bỉ ngạn đã trở thành nguồn cảm hứng của rất nhiều tác phẩm văn chương, hội họa và âm nhạc. Gần đây nhất, bỉ ngạn xuất hiện trong một ca khúc rất được các bạn trẻ Việt Nam yêu thích, mang tên Độ Ta Không Độ Nàng, bản gốc tiếng Trung được trình bày bởi hai ca sĩ Tô Đàm Đàm và Giai Bằng.
 Trong ca khúc Độ Ta Không Độ Nàng cũng có nhắc đến loài hoa bỉ ngạn.
Trong ca khúc Độ Ta Không Độ Nàng cũng có nhắc đến loài hoa bỉ ngạn.
 
Nội dung câu chuyện trong ca khúc kể về nàng quận chúa từ khi còn nhỏ thường lên ngôi chùa gần nhà để chơi với một vị tiểu hòa thượng. Quận chúa tính khí vui vẻ hoạt bát, trái lại, tiểu hòa thượng thì lạnh lùng suy tư, dường như chẳng để ý gì đến nàng mà chỉ chuyên tâm vào tu hành.
Thời gian thấm thoắt trôi, cả hai đứa trẻ đều trưởng thành và càng gắn bó với nhau không rời. Một ngày, quận chúa đến tìm gặp tiểu hòa thượng và hỏi rằng: "Chàng có thích ta không?" Tiểu hòa thượng chỉ quay lưng đi mà không nói một lời. Đau lòng, quận chúa buông tiếng thở dài: "Ta biết rồi," sau đó gạt lệ bỏ đi và không bao giờ đặt chân lên núi nữa.
Một ngày kia, tiểu hòa thượng nhận được tin báo quận chúa đã qua đời. Hóa ra có một vị thái tử đem lòng yêu thương nàng, nhưng tình cảm ấy không được nàng đáp lại. Tức giận, thái tử hại chết quận chúa.
 Bỉ ngạn hoa và lá chẳng thể gặp nhau dù chung một gốc.
Bỉ ngạn hoa và lá chẳng thể gặp nhau dù chung một gốc.
 
Trong giây phút đau đớn tột độ, tiểu hòa thượng thừa nhận tình yêu chàng dành cho quận chúa là rất sâu đậm, nhưng vì những ràng buộc nơi cửa Phật, chàng không dám thừa nhận. Chàng quyết định trút bỏ tấm áo tu hành vì cho rằng việc tu hành không còn chút ý nghĩa nếu như ngay cả người mình yêu cũng không thể bảo vệ.
Tiểu hòa thượng quyết định đi trả thù cho quận chúa, sau giây phút đó, chàng đã thốt lên rằng: "Nếu Phật không độ nàng, thì để ta." Sau đó, chàng quay về chắp tay niệm Phật giữa một rừng hoa bỉ ngạn.
 Hai người yêu nhau nhưng số phận khiến họ đời đời xa cách.
Hai người yêu nhau nhưng số phận khiến họ đời đời xa cách.
 
Trong khi đó, ở thế giới bên kia, quận chúa cầu xin vị đạo trưởng canh giữ thế giới tâm linh cho mình được gặp lại vị tiểu hòa thượng một lần cuối cùng trước khi rơi vào chốn tịch liêu đau khổ. Ước nguyện của nàng được đáp ứng, nàng gặp lại tiểu hòa thượng trên cánh đồng bỉ ngạn, thời gian ít ỏi nhưng vẫn chỉ hỏi chàng đúng câu hỏi trước kia: "Chàng có thích ta không?"
Tiểu hòa thượng rơi nước mắt, trả lời: "Ta cũng thích nàng". Quận chúa sà vào vòng tay chàng. Nhưng giây phút trùng phùng ngắn ngủi, thân xác nàng hóa thành tro bụi ngay tức khắc, vì vốn dĩ lá và hoa không thể gặp nhau. Nàng chỉ cần biết tình cảm của đối phương dành cho mình, thế là đã mãn nguyện.
 Những câu chuyện tình hoa bỉ ngạn là đầy bi thương.
"Bỉ Ngạn hoa, nở rộ bờ đối diện
Chỉ thấy hoa, lại chẳng thấy lá đâu
Nở nghìn năm, nghìn năm hoa cũng lụi
Hoa và lá, vĩnh viễn chẳng gặp nhau."
Kết quả hình ảnh cho DUYÊN NỢ  TÌNH  photos

 

Sưu tầm & tổng hợp by Nguyễn Ngọc Quang  
Xem thêm...

TIẾNG VIỆT “Tôi yêu tiếng nước tôi”

Tiếng Việt tiếng nước tôi Là ầu ơ
Mẹ ru thuở nằm nôi
Là đồng lúa bạt ngàn sinh sôi
Là hồn thiêng sông núi ngàn năm...
Tiếng Việt...
Là bài thơ, câu ca dao tục ngữ
Là tứ thân, bà ba, áo dài
Là nét đẹp có một không hai
Tiếng Việt...
Ở quê tôi Mô - Tê - Răng - Rứa
Nơi quê anh Đâu - Kia - Sao - Vậy
Thật phong phú vùng miền quê hương
Tiếng Việt mấy ngàn năm
Thương biết mấy là hồn Việt Nam!
Còn hoài trong máu, trong tim, trong lòng!
Dù gần dù xa, Người Việt...
Sắc, sắc huyền ngang, hỏi ngã nặng
Nhẹ nhàng dịu dàng sâu lắng,
Tiếng Việt!
Hào hùng mạnh mẽ làm sao,
Hồn Việt!
Ngọt ngào thanh âm trầm bổng, tiếng nước tôi!
Tình yêu đất nước đậm sâu,
Bản sắc Người Việt ...
Kết quả hình ảnh cho Tiếng Việt Võ Hạ Trâm hd photos
 

TIẾNG VIỆT

Sáng tác : Hoài An

Ca sĩ: Võ Hạ Trâm

 
Bản đồ phân bố 3 vùng phương ngữ chính của tiếng Việt tại Việt Nam.
Bản đồ phân bố 3 vùng phương ngữ chính của tiếng Việt tại Việt Nam.

                 QUÊ NGHÈO                

Nhạc Phạm Duy Ca sĩ Thái Thanh

               Tiếng nước tôi              

Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời...
 
  Tình Ca "Tiếng Nước Tôi" ( Phạm Duy - Thái Thanh ) 
 

Suốt nửa thế kỷ sau đó, nhất là hơn hai chục năm tha hương, mỗi khi một mình với ký ức tuổi thơ, tôi lại thấy mình thầm hát “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…”.
Tiếng nước tôi
 
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…
 
Tôi đã thuộc mấy câu hát ấy từ hồi mới bốn năm tuổi, và vẫn gọi đấy là bài “Tôi yêu tiếng nước tôi”. Người chị gái thân thiết nhất của tôi thường dạo bài ấy trên dương cầm, còn tôi thì cầm cuốn vở chép bài hát của chị, nhẩm hát theo. Ít lâu sau, chị được tuyển vào đoàn văn công trung ương để đánh đàn. Mấy tuần lễ chị đi Varsovie trong đoàn thanh niên sinh viên Việt Nam, cứ nhớ chị là tôi lại chui xuống gầm gầm đàn, một mình ngồi hát thầm bài ấy cho tới khi hát được từ đầu đến cuối và mong đợi chị về để khoe.
 
Ấy thế mà hôm về đến nhà, buổi tối chia quà cho các em xong, chị gọi riêng tôi mà rằng: “Em ơi, nhạc Phạm Duy bị cấm rồi, từ nay phải nhớ đừng để ai nghe thấy mình hát bài ấy nữa…”.
Hình ảnh có liên quan
Suốt nửa thế kỷ sau đó, nhất là hơn hai chục năm tha hương, mỗi khi một mình với ký ức tuổi thơ, tôi lại thấy mình thầm hát “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…”. Và cùng với bài hát ấy là tiếng đàn thăm thẳm của chị, tuổi thơ tôi trở về. Tôi như nghe thấy tiếng mẹ gọi tìm khi tôi làm vỡ quả trứng gà nhà đẻ, sợ quá nấp vào đống gỗ và kẹt ở đấy, tưởng mình sẽ chết khô không thể nào ra. Tôi như nghe thật rõ ràng tiếng cha nhẹ nhàng khuyên bảo khi dắt tôi đi dạo trên hè phố vắng lặng, long lanh những tia nắng chiếu xuyên qua vòm lá đầy tiếng ve kêu, cha bảo: “Nghĩ gì, con cứ nói cho thật đúng cái ý của mình, thì sẽ thành người tử tế…”. Nhớ nhất là tiếng cha kể chuyện ru tôi ngủ trong khoang xe nhà đi về, đậu bên gốc hai cây đa cổ thụ ngoài sân, những Sơn Tinh – Thủy Tinh, Mỵ Châu – Trọng Thủy, sự tích trầu cau…
 
Giọng cha trầm bổng về khuya hòa với tiếng mưa rơi trên mui xe, tiếng gió thổi khiến những cành la đà quệt ràn ràn vào ô cửa kính. Cho đến tận bây giờ, cha mẹ đã đi xa, mình cũng đã già, mà tôi vẫn nghe thấy giọng nói thân thương của những người thuở ấy. Tiếng của mẹ của cha. Bao nhiêu năm kiếm sống bằng tiếng ngoài, mà nhiều khi đi giữa đám “ngựa xe như nước áo quần như nêm” nơi xa xứ, tôi vẫn thấy một nỗi âm thầm thành tiếng trong lòng, rằng “tiếng người người nói, lòng mình mình nghe”.
Hình ảnh có liên quan
Rồi tình cờ tôi dịch sách, chẳng sống được bằng nghề ấy, nhưng rất ngỡ ngàng khi thấy mọi người yêu quý những câu chữ bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Và còn ngỡ ngàng hơn khi thấy mình bắt đầu để ý đến mỗi lời mình nói, viết, dịch. Tiếng nói của mình bỗng như một thực thể tồn tại bên ngoài, gần như hữu hình. Lạ nữa, là thấy những từ ngữ, con chữ từ trong lòng mình mà ra cũng sống cả trong lòng của đồng bào mình. Tự nhiên, tôi bắt đầu đọc lại Truyện Kiều và những áng văn thơ của tiền nhân với một cảm xúc khác lạ, như lúc còn bé một mình đứng trước điện thờ Phật trong chùa của bác tôi, vừa quen thuộc, vừa xa vời, mà thật yên bình, đằm thắm.
Kết quả hình ảnh cho Quê hương Việt Nam tôi  hd photos
Cách đây hai ba năm gì đó, tôi được mời đi nghe buổi hòa nhạc Những điều còn mãi, và mới biết rằng bài “Tôi yêu tiếng nước tôi” có tên thật là Tình ca. Sau hơn nửa thế kỷ, bài hát đã âm thầm sống với tôi nay lại được cất tiếng từ Nhà hát Lớn thân thuộc và xưa cũ. Tôi đã nghẹn ngào khi nghe Nguyên Thảo hát hôm đó. Có lẽ ngay lúc ấy chỉ là vì ký ức tràn về, vì giọng hát thật đẹp của cô ca sĩ người Đà Lạt, và cảm giác như được thở ra một hơi thật dài sau bao lâu nín nhịn – rằng bài hát yêu quý của tôi đã không còn bị cấm đoán nữa. Sau này, khi một mình nhớ lại những giây phút ấy, tôi mới hiểu thêm rằng sự nghẹn ngào của mình còn nhuốm màu hoài tiếc – hoài tiếc cái thế giới thơ ngây sơ khoáng, như cửa sông hoài tiếc ngọn nguồn nhỏ bé xa xôi của mình.
Chỉ có điều, tôi vẫn cứ gọi ca khúc ấy là bài “Tôi yêu tiếng nước tôi”.
Tiếng nước tôi
 
Nhưng “tiếng nước tôi” bây giờ thật khác với thời tôi còn bé. Ở mọi lĩnh vực, nó cất lên thật ào ạt, tinh xảo, pha nhiều tiếng ngoại quốc, và luôn có giọng trình diễn. Ngay cả tên người tên việc cũng ngày càng thấy chữ Tây chữ Tàu thay thế hoặc chen lẫn chữ ta. Cách nói cách viết biến đổi không ngừng và ngày càng nhanh từ khi ta nối mạng với thế giới. Những lối cười nói, than van, cạnh khóe ngày càng phong phú.
Hình ảnh có liên quan
Lối nói một đằng để ám chỉ một nẻo ngày càng uyên áo. Đến nỗi ai cũng cho việc “nói zậy mà không phải zậy” là rất đỗi bình thường. Văn chương thì chỉ cần có ai nói thật, hoặc cạnh khóe thâm hiểm là cũng thành hiện tượng, và lời khen tặng chỉ là “viết đúng quá còn gì”. Cũng nhiều người kêu gọi phải “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, mà chưa thấy có tác dụng gì. Ngay cả đến cái nền tảng để gìn giữ, nuôi dưỡng tiếng mẹ đẻ là những cuốn từ điển, mà cũng chả ra làm sao.
 
Điều gì đang xảy ra với tiếng nói của chúng ta? Tiếng nói mà ai cũng muốn tin rằng là thứ tiếng đẹp nhất, phong phú nhất, thiêng liêng với mỗi người con dân Việt. Tại sao, với bản thân tôi, tiếng mẹ đẻ trong xã hội thời nay, từ báo chí, truyền thanh, truyền hình, cho đến văn chương thơ phú, lại rất khó đi vào lòng mình một cách tự nhiên và đầy cảm xúc như tiếng mẹ đẻ thời xưa – như thứ tiếng Việt trong Nam phong tạp chí, Đường Kách mệnh?
 
Với tôi, “tiếng nước tôi”, mặc dù ngụ ở mọi phương diện ngôn ngữ học như đã nói ở trên, nhưng tính chất của nó, gốc của mọi phương diện kia, là ở cái vẫn được gọi là “linh hồn”. Tiếng Việt là âm thanh diễn đạt của hồn Việt. Linh hồn thế nào thì ngôn ngữ bộc lộ ra thế nấy.
 
Tôi lại còn tin rằng chả có “tiếng mẹ đẻ” nào hay hơn, đẹp hơn những “tiếng mẹ đẻ” khác. Dân nào thì cũng coi tiếng mẹ đẻ của mình là đẹp là hay nhất. Nhưng đấy là chuyện tình cảm, chỉ dùng đến trong tuyên truyền hoặc tự huyễn. Từ khi dịch sách, để ý nhiều đến tiếng mẹ đẻ, nhiều khi tôi thấy tiếng Anh chả khác gì tiếng Việt của mình. Rồi học hỏi thêm thì biết rằng, ngôn ngữ loài người về bản chất chỉ là một. Có vậy thì trẻ ra đời ở với dân nào là tự nhiên nói được tiếng dân ấy, chả phải dày công học như người lớn. Mà toàn bộ việc dịch thuật của nhân loại sở dĩ có được cũng là vì thế. Cho nên cái tâm lý coi chỉ có tiếng mẹ đẻ của mình mới hay, mới phong phú nhất là sai lầm về thực tiễn.
 
Nghĩ như thế thì thấy việc tiếng của ta đang pha trộn biến đổi với tiếng của thiên hạ hàng ngày hàng giờ chả có gì đáng chê trách, phàn nàn về mặt ngôn ngữ. Biến động ngôn ngữ là tự nhiên và tất yếu. Đáng phải suy nghĩ là gốc của ngôn ngữ, tức là cái linh hồn như tôi vừa nói ở trên.
Hình ảnh có liên quan
Vậy linh hồn là gì? Phải chăng linh hồn vẫn hiển lộ ở tất cả những vận động nội tâm trong cuộc sống? Có người đã nói rất hay về những vận động nội tâm này như sau: “Ta nghĩ, luận lý, và tạo dựng xác tín – nói cách khác là ta có trí khôn. Ta cảm xúc, cảm tình và thèm muốn – nói cách khác là ta có tình cảm. Ta hành động, dự định và quyết định – nói cách khác là ta có ý chí. Và ta biết những trạng thái tinh thần cũng như các quyết định hiện tại của mình khá chắc chắn và lập tức – nói cách khác là ta có tự thức. “Linh hồn” hàm chỉ tất cả những cái đó: trí khôn, tình cảm, ý chí và tự thức”.
 
Vậy thì, từ một quan điểm nhân văn bên ngoài khoa học ngôn ngữ, tiếng nói con người có thể được coi là hiện hữu âm thanh của trí khôn, tình cảm, ý chí và cái biết về chính bản thân mình. Tiếng Việt hay tiếng gì cũng đều như vậy mà thôi. Nhưng theo tôi, những yếu tố quyết định giá trị, hiệu quả và vẻ đẹp của ngôn ngữ nhất định còn phải bao gồm Tự do và Chân thực – có thể coi là điều kiện cần và đủ để linh hồn hiện hữu đúng với thiên chức của nó là khẳng định lý do tồn tại của nhân loại. Được tự do và chân thực diễn đạt tâm trí, tình cảm, ý chí với ý thức biết rõ mình là ai, thì tiếng nói của ta mới không còn rối loạn trong vũng lầy “nói zậy mà không phải zậy” như hiện nay.
Hình ảnh có liên quan
Cũng phải nói rõ rằng tình trạng “nói zậy mà không phải zậy” chỉ là thiểu số. Còn thì “tiếng nước tôi” vẫn trong lành và ngày càng phong phú ở dòng tiếng Việt xã hội, có thể nghe được đọc được mà không cần giấy mực. Người dân muôn đời với những người con thông sáng nặng lòng với hồn dân tộc mới là nơi cư ngụ tiếng mẹ đẻ của chúng ta.
 
Chao ôi, phải chi mỗi người chúng ta đều có thể tự do và trung thực trong lời nói, dù là ở công đường hay trong gia đình, rồi lại có mong mỏi nuôi dưỡng tâm trí, tình cảm, ý chí và ý thức về giá trị của bản thân, tức là nuôi dưỡng linh hồn mình, thì chắc chắn chúng ta sẽ thấy gia tài tiếng nói được thừa hưởng từ ông bà cha mẹ sẽ trở thành mộc mạc, chân xác và đẹp đẽ biết nhường nào.
 
“Tiếng nước tôi” vẫn trong lành và ngày càng phong phú ở dòng tiếng Việt xã hội, có thể nghe được đọc được mà không cần giấy mực. Người dân muôn đời với những người con thông sáng nặng lòng với hồn dân tộc mới là nơi cư ngụ tiếng mẹ đẻ của chúng ta.

| Tiếng Việt | Nhiều Nghệ Sĩ |

Sáng tác: Hoài An

          Kiều Oanh            
Sưu tầm và tổng hợp
Ảnh minh họa: Internet
Xem thêm...

"Hoa Mộc Lan" Phim của Disney - Nữ anh hùng Mulan

Hình ảnh có liên quan

MULAN Official Trailer #2 (2020) Disney, Live-Action Movie HD

 
 
 
 
 
 
 

 

           Disney's Mulan Live-Action Cast: Liu Yifei          

  Lưu Diệc Phi chính thức trở thành nữ anh hùng Mulan “phiên bản mới”  

Dự kiến bộ phim sẽ được ra mắt công chúng trên toàn thế giới vào tháng 3 năm 2020.

     Disney's Mulan 2020 cast     

Hãng Walt Disney đã công bố dàn diễn viên của bộ phim Mulan phiên bản live action, trong đó, nữ diễn viên Trung Quốc Lưu Diệc Phi được chọn làm nhân vật chính Mulan. Phiên bản mới lấy cảm hứng từ toàn bộ nội dung của bộ phim hoạt hình nổi tiếng cùng tên của hãng Disney vào năm 1998, được dẫn dắt bởi đạo diễn Niki Caro.
 
Bộ phim hoạt hình Mulan kể về một cô gái có cha là một chiến binh. Thế nhưng, vì không muốn cha mình phải hy sinh nơi chiến trường nên Mulan quyết định chuốc rượu ông và giả làm nam nhân để thay cha ra trận. Bí mật này nhanh chóng bị mọi người phát hiện và cũng từ đó, Mulan trở thành nữ anh hùng vĩ đại nhất của Trung Quốc.
Lưu Diệc Phi
Theo The Hollywood Reporter, các nhà sản xuất đã nhận về gần một nghìn hồ sơ của các ứng cử viên. Nhưng vì muốn giữ lại hình ảnh của người phụ nữ Châu Á nên cuối cùng, đoàn làm phim quyết định trao vai chính trong dự án lần này cho nữ diễn viên Lưu Diệc Phi.
 
Làm nên một bộ phim không chỉ dừng lại ở các diễn viên, biên kịch hay đạo diễn,... mà đằng sau nó còn là công sức của một ê-kíp hùng hậu từ các...
Hiện, vẫn chưa có thông tin chính thức về ngày ra mắt phim. Bên cạnh đó, hãng phim Disney cũng đưa ra thông tin rằng sẽ có thêm một buổi thử vai nữa trong các tuần sắp tới.
Mulan
Lưu Diệc Phi được biết đến là nữ diễn viên thông thạo ngôn ngữ Anh khi có cơ hội được sinh sống tại New York. Mulan là dự án phim điện ảnh Hollywood tiếp theo sau gần 10 năm cô có cơ hội được làm việc cùng Thành Long và Lý Liên Kiệt trong bộ phim hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc, The Forbidden Kingdom (2008).
*Dự kiến bộ phim sẽ được ra mắt công chúng trên toàn thế giới vào tháng 3 năm 2019.

Lưu Diệc Phi hóa nữ anh hùng trong siêu phẩm "Hoa Mộc Lan" của Disney

Hãng Disney vừa tung ra trailer đầu tiên của phim "Hoa mộc lan" (Mulan). Đáng chú ý và gây bất ngờ là hình ảnh khác lạ của Lưu Diệc Phi khi vào vai nhân vật chính trong phim.
Mới đây, hãng Disney đã công bố trailer đầu tiên của phim "Hoa Mộc Lan". Trailer tập trung nhân vật chính do Lưu Diệc Phi đảm nhận
 
"Mulan"  là câu chuyện về nữ tướng duy nhất của Trung Quốc. Cô giả trai, thay cha tòng quân và mang về những chiến công lưu danh sử sách. Phim được thực hiện bởi bàn tay đạo diễn đến từ New Zealand Niki Caro, người được biết đến qua nhiều tác phẩm như Whale Rider (2002), North Country (2005), The Zookeeper's Wife (2017).
 
Khi Disney công bố làm phiên bản live action của Mulan do Lưu Diệc Phi đóng chính, khán giả không mấy mặn mà vì ngán ngẩm với khả năng diễn xuất của thần tiên tỷ tỷ.
 
Tuy nhiên, nhiều cái tên lớn như Chân Tử Đan, Củng Lợi và Lý Liên Kiệt được tiết lộ sẽ tham gia khiến phim được dư luận đặc biệt quan tâm. Tuy vẫn sẽ trung thành với cốt truyện gốc, “Hoa Mộc Lan” phiên bản live action gây ấn tượng mạnh với bối cảnh, trang phục được thiết kế kỹ lưỡng đậm chất Trung Hoa
 
. Bối cảnh được đầu tư kỹ lưỡng để phù hợp với thời điểm lịch sử trong phim. Ảnh: Cắt từ trailer phim. Tạo hình Lưu Diệc Phi cải trang nam để gia nhập quân đội.
. Phim đánh dấu lần thứ ba Lưu Diệc Phi tham gia phim Hollywood, sau "Vua kungfu" (năm 2008) và "Outcast" (năm 2014). "Hoa Mộc Lan" dự kiến khởi chiếu tại Việt Nam vào tháng 3.2020.

Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney

Bản live action của bộ phim hoạt hình kinh điển Mulan đã công bố trailer đầu tiên, khởi chiếu vào mùa xuân năm 2020. Thông tin này khiến các cư dân mạng trên khắp thế giới đều bùng nổ.
 
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Poster của phim do nhiếp ảnh gia Trần Mạc chụp, lấy cảm hứng từ poster bản hoạt hình năm 1998, thể hiện một Mulan vừa có vẻ kiên cường nhưng cũng không thiếu nét mềm mại.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Khác với những bộ phim chuyển thể có hơi hướng đồng thoại khác của Disney, chỉ trong trailer chưa tới 1 phút của Mulan, Thần tiên tỷ tỷ Lưu Diệc Phi đã thể hiện những động tác võ thuật vô cùng sinh động, đi kèm với chiến trường rộng lớn, bối cảnh khổng lồ đã làm cư dân mạng phải cảm khái: “Đây là lẽ là bộ phim cổ trang đặc biệt nhất của năm 2020.”
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Trong trailer, Mulan được cha mẹ sắp xếp cho một cuộc hôn nhân, cha cô còn căn dặn: “Như vậy sẽ tốt cho cả nhà chúng ta.”
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Ngay sau đó, buổi sáng, Mulan tham gia lớp huấn luyện để trở thành một người vợ tốt của bà mối, ăn diện thành Đương song lý vân tấn, đối kính thiếp hoa hoàng, đến tối lại một mình khổ luyện võ công.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Đi kèm hình ảnh này là lời bà mối (do diễn viên Trịnh Bội Bội thủ vai): “Nhã nhặn, bình tĩnh, hiền lành, thủ lễ là những phẩm chất nên có để trở thành một người vợ tốt.”
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Cảnh tiếp theo là cảnh Mulan xuất hiện trong doanh trại và đang luyện võ, lúc này võ công và kỹ thuật bắn tên của cô đã vô cùng cao siêu, bà mối lại tiếp tục nói: “Đó cũng là những phẩm chất vốn có của Mulan.”
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Ở đoạn cuối trailer là hình ảnh Mulan không hề sợ hãi thậm chí còn kiên cường nói: “Trách nhiệm của tôi là chiến đấu.”
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Ngay từ đầu khi Disney công bố dự án live action này, bộ phim vẫn luôn được giới truyền thông cũng như khán giả chú ý sát sao, chính vì thế khi bắt đầu tuyển diễn viên, Disney đã đưa ra ba yêu cầu: Đầu tiên phải có khả năng võ thuật, khả năng tiếng Anh tốt và tố chất của một minh tinh chuyên nghiệp.
Năm 2017, Lưu Diệc Phi vượt qua hơn 1000 cô gái đến từ toàn cầu khác, để giành được vai diễn Mulan, trở thành nữ diễn viên Trung Quốc đầu tiên đảm nhiệm vị trí công chúa Disney. Điều đáng nói là trước đây Disney luôn chọn diễn viên không phải người Trung Quốc đóng các nhân vật Trung Quốc.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Còn nam chính của bộ phim là An Dữu Hâm (Yoson) là một diễn viên Hoa Kiều đến từ New Zealand, anh chàng là đai đen không thủ đạo đồng thời cũng am hiểu vật lộn tự do. Anh từng tham gia bộ phim Ngoạ Hổ Tàng Long: Thanh Minh Bảo Kiếm chung với Chân Tử Dan và Dương Tử Quỳnh. Ngoài anh còn đảm nhiệm vai diễn trong bộ phim MegalodonMortal Engines.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Chưa dừng lại ở đây, Lí Liên Kiệt “Hoàng Phi Hồng” cũng đảm nhiệm vai diễn hoàng đế trog phim. Còn Chân Tử Đan “Diệp Vấn” thì đóng vai sư phụ dạy võ cho Mulan, ngay cả bà mối cũng là do nữ diễn viên chuyên trị phim võ hiệp Trịnh Bội Bội đến từ Hongkong đảm nhiệm. Chỉ ba nhân vật này thôi cũng đã đủ để biến bộ phim thành một đấu trường võ thuật đầy bắt mắt.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Ngoài ra, Củng Lợi cũng đảm nhiệm vai diễn phù thuỷ phe ác trong phim.
Vào năm 2018, Lý Liên Kiệt rút lui nhiều năm, khi tham dự talkshow Có hẹn với Lỗ Dự từng chia sẻ, lúc đầu ông chưa từng nghĩ sẽ tham gia Mulan, dù kịch bản rất tốt và lương cũng rất cao. Nhưng con gái ông đã hỏi ông: “Tại sao một công ty như Disney quay phim về văn hoá Trung Quốc mời bố tham gia, bố lại từ chối.” Lý Liên Kiệt đùa, ông bị con gái hỏi tới á khẩu.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Sau đó con gái ông còn hỏi “Bố có thể quay bộ phim này cho chúng con không?” Đây là lần đầu Lý Liên Kiệt nghe con gái mình đưa ra yêu cầu thế này, nên ông đã nhận kịch bản Mulan.
Lúc ban đầu Disney muốn tìm một đạo diễn người Châu Á để quay Mulan, đầu tiên họ tìm tới Lý An, nhưng Lý An từ chối vì lúc đó ông đang bận tuyên truyền cho bộ phim Billy Lynn's Long Halftime Walk của mình, tuy nhiên trong một lần phỏng vấn ông cũng chia sẻ: “Nếu bộ phim này có thể được đạo diễn bởi một người Trung Quốc, vậy sẽ rất tuyệt.”
 
Sau này Disney cũng từng tìm tới Khương Văn, nhưng cuối cùng bộ phim lại do đạo diễn Niki Caro đảm nhận, cũng vì thế Mulan trở thành bộ phim thứ hai của Disney do nữ đạo diễn cầm trịch và có kinh phí trên 100 triệu USD. Ngoài ra giám chế của bộ phim là Giang Chí Cường từng tham gia chế tác Ngoạ Hổ Tàng LongTróc Yêu Ký.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Tuy rằng thổ lâu Phúc Kiến và trang điểm phấn vàng trong trailer vẫn còn nằm trong vòng tranh luận, nhưng đại đa số cư dân mạng đều cho rằng không ít chi tiết trong phim, rất giống với truyền thuyết về Hoa Mộc Lan của Trung Quốc. Thực tế bộ phim hoạt hình Mulan năm 1998 của Disney cũng được làm dựa trên Mộc Lan từ của Trung Quốc.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Lúc ban đầu Mulan chỉ là một dự án phim ngắn của Disney, kể về một cô bé người Trung Quốc. Cố vấn của Disney sau khi bàn bạc với biên kịch của phim cùng với biên kịch của phim - Robert San Souci đã quyết định mở rộng bộ phim ngắn thành một bộ phim điện ảnh và dùng Mộc Lan của Trung Quốc từ làm cốt truyện chính.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Là bộ phim đầu tiên lấy Trung Quốc làm đề tài của Disney, năm 1994, Disney đã cử một nhóm hoạ sĩ đi đến Trung Quốc nghiên cứu trong vòng một tháng, đồng thời cũng là để lấy cảnh quay phim và thu hoạch linh cảm văn hoá ở đây.
 
Vì giữ lại phong cách Disney mà vẫn giữ nguyên những nét đặc sắc của Trung Quốc, Disney và đoàn phim đã cẩn thận nghiên cứu võ thuật Trung Quốc, mời các nhà văn học, lịch sử, nghệ thuật ở Trung Quốc nội địa cũng như Hongkong và Đài Loan đến góp ý cho kịch bản, tạo hình và bối cảnh bộ phim. Chỉ với một mục đích là làm nổi bật đăng trưng văn hoá và tinh thần của nhân vật chính.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Cho nên trong bộ phim hoạt hình Mulan, ta không chỉ nhìn thấy võ công của Trung Quốc và trận chiến với Hung Nô, mà còn nhìn thấy pháo hoa đời Tuỳ, Tử Cấm Thành thế kỷ 15 mà còn nhiều những trang phục truyền thống cũng như vật trang trí khác của Trung Quốc.
 
Ngoại trừ việc đa nguyên hoá thị giác, trong phần ngôn ngữ bộ phim cũng đã trộn lẫn văn hoá hai miền Nam Bắc của Trung Quốc lại, Hoa Mộc Lan được cho biết là một nhân vật có quê quán ở miền Bắc, nhưng họ Hoa của cô trong tiếng Anh lại dùng phiên âm Fa của người Quảng.
 
Cho dù bộ phim hoạt hình Mulan trông như món lẩu thập cẩm văn hoá Trung Quốc, thì từ sau khi ra mắt vào năm 1998, bộ phim cũng đã thu được một con số không nhỏ ở phóng bán vé và giành được giải Annie cho phim hoạt hình xuất sắc nhất. Đồng thời bài hát chủ đề của phim còn được đề cử cho bài hát gốc hay nhất ở giải Quả Cầu Vàng và Oscar.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Từ đó, không ít người nước ngoài có ấn tượng sâu sắc với cô gái đến từ Trung Quốc thay cha tòng quân này. Hình tượng của Mulan cũng nhanh chóng lắc mình trở thành một trong những công chúa nổi tiếng, kinh điển nhất của Disney.
 
Càng thú vị là năm đó sau khi nhận được cơn mưa lời khen trên toàn cầu, hàng McDonald’s đã chú ý tới nó và cho ra đời món ăn lấy cảm hứng từ Mulan, ngoại trừ tặng kèm các món đồ chơi chủ đề Mulan, họ còn cung cấp một món tương Mulan (Mulan SzeChuan Teriyaki Dipping Sauce), tuy nhiên loại tương này chỉ xuất hiện trong thời gian hạn định, sau này nó không bao giờ xuất hiện nữa.
Sau đó mười mấy năm, tương Mulan lại quay trở lại tầm mắt công chúng trong bộ hoạt hình Rick and Morty năm 2017.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Tương Mulan của McDonald’s nháy mắt khơi gợi lại ký ức của không ít người Mỹ. Vài cư dân mạng còn bán ra tương mộc lan bản năm 1998 với giá cao tới 1000 USD.
Mulan và những chuyện chưa kể về nàng công chúa độc nhất vô nhị của vũ trụ Disney
Càng có không ít người ký tên xin McDonald’s sản xuất lại loại tương này.
Và dù cho Mulan không hoàn nguyên hoàn toàn bối cảnh cổ đại trong nguyên tác, nhưng ta không thể phủ nhận rằng, mười mấy năm trước, hoạt hình Mulan ra đời, đã giúp văn hoá Trung Quốc lấy hình tượng càng thêm thú vị và mới mẻ xuất hiện trong tầm mắt khán giả thế giới.
Hơn 10 năm sau, xuất hiện một lần nữa, liệu cô gái đến từ Trung Quốc thay cha tòng quân này, có tạo ra kì tích cho quê hương của mình hay không?

Có điều gì đáng trông đợi ở “Hoa Mộc Lan” bản điện ảnh?

Hãng Disney đã chính thức giới thiệu những hình ảnh đầu tiên của phim Mulan (Hoa Mộc Lan) qua đoạn teaser dài một phút rưỡi, đáp lại kỳ vọng của khán giả dành cho bản live action của bộ phim hoạt hình gắn liền với tuổi thơ.
Chỉ qua một đoạn teaser ngắn, Mulan bản điện ảnh đã đón nhận nhiều khen ngợi từ khán giả thế giới và các nhà chuyên môn. Câu chuyện của nữ chiến binh Hoa Mộc Lan sống dậy trên màn bạc nhờ phong cách làm phim của Hollywood, nhưng vẫn giữ trọn vẹn sắc màu và tinh thần của bản gốc, của nàng Mộc Lan, của văn hóa Trung Hoa.
Cách thể hiện nhân vật Hoa Mộc Lan của “hoa đán” Lưu Diêc Phi gây ấn tượng bởi nét đẹp thanh thoát rất gần với phiên bản hoạt hình và những pha đấu kiếm, bắn cung, cưỡi ngựa… đẹp mắt của cô.
Mulan dự kiến sẽ ra rạp vào cuối tháng Ba năm 2020, được kỳ vọng sẽ là dự án điện ảnh thành công của nhà Disney với nhiều câu chuyện thú vị, đáng để khán giả trông đợi.

Câu chuyện của Hoa Mộc Lan có giống nguyên tác?

Về cốt lõi, Mulan vẫn sẽ thể hiện câu chuyện quen thuộc với khán giả trong bản hoạt hình: Một cô gái trẻ cải trang thành nam giới, tình nguyện tòng quân, trở thành chiến binh ra trận thế chỗ cho cha.
mulan live action
Mulan bản điện ảnh sẽ thay đổi khá nhiều chi tiết chính của phim hoạt hình.
 
Tuy nhiên, khác với một số phim live action của Disney trước đây, Mulan bản điện ảnh sẽ thay đổi khá nhiều chi tiết chính của phim hoạt hình năm 1998. Hoa Mộc Lan trong Mulan năm 2020 sẽ không chiến đấu với Thiền Vu – thủ lĩnh quân đội Hung Nô, cũng không đem lòng yêu tướng quân Lý Tường.
Thay vào đó, Mộc Lan sẽ đối đầu một phù thủy hùng mạnh và tìm thấy tình yêu với một người lính đồng đội trong đơn vị. Vai tướng quân Lý Tường được thay bằng chỉ huy Đường – sư phụ của Mộc Lan.

Mulan có phải phim âm nhạc?

mulan reflection
Ca khúc Reflection đặc biệt nổi tiếng sau phim hoạt hình Mulan. Ảnh: Disney.
 
Tháng 3/2017, đạo diễn Niki Caro cho biết sẽ không có ca khúc nào trong phim điện ảnh Mulan khiến người hâm mộ vô cùng thất vọng. Tuy nhiên sau đó, Caro lại xác nhận âm nhạc vẫn sẽ đóng vai trò nhất định trong phim.
Phim hoạt hình Mulan năm 1998 là phim âm nhạc, với hai ca khúc nổi tiếng nhất là Reflection I’ll Make A Man Out Of You. Dù vậy, có vẻ âm nhạc sẽ không có vai trò lớn trong Mulan phiên bản 2020.

Dàn diễn viên ấn tượng trong phim

Lưu Diệc Phi: Đại diện hoàn hảo của Hoa Mộc Lan

Lưu Diệc Phi là diễn viên Hoa ngữ đã quá quen thuộc với khán giả châu Á, nhưng vẫn là gương mặt mới mẻ với đa số khán giả phương Tây. Người hâm mộ châu Á gọi Lưu Diệc Phi là “thần tiên tỷ tỷ”, phần vì vẻ đẹp thanh tao, ngọt ngào như tiên nữ, phần vì vai diễn Tiểu Long Nữ kinh điển của cô trong phim Thần điêu đại hiệp năm 2006.
lưu diệc phi tiểu long nữ
Vẻ đẹp thanh tao của “Tiểu Long Nữ” Lưu Diệc Phi đã trở thành kinh điển.
 
Trước khi chọn được Lưu Diệc Phi, các nhà sản xuất Mulan đã phải tìm kiếm suốt một năm trời, gặp gỡ gần 1.000 ứng viên trên khắp thế giới để tìm ra nữ diễn viên phù hợp nhất cho vai Hoa Mộc Lan.
Vai diễn đòi hỏi người đảm nhiệm phải là một phụ nữ Trung Quốc trẻ, có khả năng võ thuật đáng tin cậy, nói tiếng Anh lưu loát và dĩ nhiên, phải có phẩm chất của một ngôi sao. Lưu Diệc Phi đã trở thành lựa chọn không thể hoàn hảo hơn.
 
Dù không được gắn nhãn phim kiếm hiệp, Mulan vẫn có đặc trưng của thể loại này qua một loạt cảnh võ thuật của các anh hùng Trung Quốc cổ đại. Những vai diễn kiếm hiệp ấn tượng của Lưu Diệc Phi trong Thiên long bát bộ (2003), Thần điêu đại hiệp (2006), Tứ đại danh bổ (2012)… đã trang bị cho cô tố chất cần thiết để vào vai Hoa Mộc Lan.
lưu diệc phi đóng phim kiếm hiệp
Lưu Diệc Phi có nhiều kinh nghiệm đóng phim kiếm hiệp. Ảnh: Lions Gate/courtesy.
 
Từng sống ở New York, Mỹ từ năm 10 đến 14 tuổi, Lưu Diệc Phi thông thạo Anh ngữ. Trước Mulan, cô đã có kinh nghiệm đóng phim bằng tiếng Anh trong The Forbidden Kingdom (Vua Kung Fu, 2008) cùng Thành Long và Lý Liên Kiệt, sau là phim Outcast (Mối thù hoàng tộc, 2014) cùng tài tử Nicolas Cage.
Năm 2009, Lưu Diệc Phi có tên trong danh sách “Tứ tiểu hoa đán” của điện ảnh Trung Quốc, sánh vai cùng Vương Lạc Đan, Huỳnh Thánh Y và Dương Mịch. Danh sách này từng vinh danh “thế hệ huyền thoại” đầu tiên gồm Từ Tịnh Lôi, Châu Tấn, Triệu Vy và Chương Tử Di.
lưu diệc phi hoa mộc lan 02
Lưu Diệc Phi đã vượt qua 1.000 ứng viên khác mới lọt vào “mắt xanh” của Disney cho vai Hoa Mộc Lan. Ảnh: Disney.
 
Lưu Diệc Phi chia sẻ quan niệm về nghề nghiệp trên Cosmopolitan Korea vào năm 2016: “Thành thật mà nói, tôi nghĩ có rất nhiều người nổi tiếng ngoài kia xinh đẹp hơn tôi. Một nữ diễn viên không chỉ cần ăn ảnh mà còn cần khả năng truyền tải đúng những xúc cảm của nhân vật mình đảm nhiệm. Nó sẽ khiến bạn cuốn hút hơn trên màn ảnh. Đó là lý do tôi tập trung vào diễn xuất nhiều hơn ngoại hình của mình”.

Vắng bóng rồng Mushu và dế Cri-kee

mushu và cri-kee
Rồng Mushu và dế Cri-Kee là bạn thân của Mộc Lan. Ảnh: Disney.
 
Trong phim hoạt hình, bạn đồng hành của Hoa Mộc Lan là một chú rồng nhỏ tên Mushu và chú dế Cri-Kee. Mushu và Cri-Kee dẫn dắt câu chuyện xuyên suốt, mang đến nhiều tình huống hài hước nên có hẳn một lượng người hâm mộ “khủng” cho riêng mình, chẳng kém cạnh Mộc Lan. 
Tuy nhiên, trong Mulan (2020), Disney có thể sẽ thay thế rồng Mushu bằng một con phượng hoàng nhỏ, còn chú dế Cri-Kee đến nay vẫn chưa hề được nhắc đến. Cả hai đều vắng bóng trong teaser đầu tiên của bộ phim.

Dương Tẩu An: Tình yêu màn ảnh của Hoa Mộc Lan

yoson an
Yoson An – nam diễn viên người New Zealand gốc Trung.
 
Nam diễn viên người New Zealand gốc Trung Dương Tẩu An (Yoson An) sẽ đảm nhiệm vai Trần Hồng Huy – đồng đội và cũng là tình yêu của Mộc Lan. Đây là nhân vật hoàn toàn mới, thay cho câu chuyện tình yêu Mộc Lan – Lý Tường trong phim hoạt hình.
 
Disney phải đối diện rất nhiều chỉ trích khi thay thế nhân vật Lý Tường có khả năng là người song tính thành nhân vật Trần Hồng Huy – một anh “trai thẳng” 100%. Lý Tường đã đem lòng yêu Mộc Lan từ khi còn tưởng cô là đàn ông, khiến khán giả cho rằng anh là người song tính – điều hoàn toàn nằm ngoài tính toán của Disney.
tướng quân lý tường mulan
Tướng quân Lý Tường (áo choàng đỏ) sẽ không xuất hiện trong Mulan (2020). Ảnh: Disney.

Chân Tử Đan: Chỉ huy Đường – sư phụ Mộc Lan

chân tử dân
Diễn viên gạo cội Chân Tử Đan.
 
Nếu nửa tình cảm của tướng quân Lý Tường được thay bằng anh lính Trần Hồng Huy thì nửa lãnh đạo quân đội của anh được thay bằng nhân vật chỉ huy Đường do Chân Tử Đan thủ vai.
Nhân vật của Chân Tử Đan vừa là cấp trên, vừa là cố vấn, sư phụ thân cận của Hoa Mộc Lan. Mulan là dự án phim ảnh thứ hai nam diễn viên gạo cội hợp tác với hãng Disney. 

Củng Lợi: Phù thủy phản diện

củng lợi
“Đại hoa đán” Củng Lợi.
 
Mulan (2020) sẽ có một nhân vật phản diện hoàn toàn mới: phù thủy hùng mạnh Tiên Lang, do “đại hoa đán” Củng Lợi thủ vai. 
Tại LHP Cannes năm 2019, Củng Lợi tiết lộ sức mạnh lợi hại của phù thủy Tiên Lang: “Trong chớp mắt có thể biến ra hơn ngàn con chim ưng, sở hữu năng lượng rất mạnh và nhiều cảnh phim hành động”. Nữ diễn viên cho biết thêm, dù ban đầu cảm thấy Tiên Lang là vai phản diện, đến cuối phim, khán giả sẽ hiểu điều gì khiến nhân vật này có tâm lý, hành động ác ý như thế.

Lý Liên Kiệt: Hoàng đế Trung Hoa

lý liên kiệt
“Anh hùng hành động võ thuật” Lý Liên Kiệt.
 
Lý Liên Kiệt được chọn vào vai Hoàng đế Trung Quốc trong Mulan bản live action. Anh là một trong những diễn viên Trung Quốc đầu tiên bén duyên với màn ảnh Hollywood. Đầu những năm 2000, Lý Liên Kiệt trở thành “anh hùng hành động võ thuật” của điện ảnh Trung.
Tháng 10/2018, Lý Liên Kiệt chia sẻ trên chương trình Có Hẹn Với Lỗ Dự, lý do anh đồng ý tham gia Mulan là vì… hai cô con gái rượu. 
Anh kể lại: “Mới đầu, con gái tôi hỏi rằng: “Bố thiếu tiền à?”. Có lẽ con tưởng tôi chê thù lao thấp nên không nhận phim. Nhưng tôi bảo: “Bố không thiếu”. Sau đó, con gái lại hỏi tiếp: “Một công ty lớn như Disney làm phim về văn hóa Trung Quốc, tại sao bố lại không nhận?”. Câu nói này của con khiến tôi rất ngạc nhiên”.
Phim live action Mulan chính thức bấm máy vào tháng Tám năm ngoái, khởi quay tại New Zealand và được quay ngoại cảnh tại Úc và Trung Quốc. Dự kiến, Mulan sẽ ra rạp vào ngày 27/3/2020.
hoa mộc lan live action cat feature

Từ “Tiểu Long Nữ” đến “Hoa Mộc Lan”, Lưu Diệc Phi vẫn giữ vững nhan sắc hoàn mỹ là vì đâu?

Vừa xuất hiện trong trailer “Hoa Mộc Lan”, Lưu Diệc Phi lập tức gây sốt bởi nhan sắc đẹp không tì vết.
Nói không ngoa khi cho rằng Lưu Diệc Phi là một trong những “quốc bảo nhan sắc” hàng đầu của làng giải trí Trung Quốc. Gương mặt thanh tú cùng thần thái rạng ngời là những dấu ấn mà khán giả nhớ về cô. Dù đã bước qua tuổi 32 nhưng ở Lưu Diệc Phi dường như chẳng có chút dấu hiệu tuổi tác nào. Đặc biệt, trong trailer vừa được tung ra của phim Hoa Mộc Lan, người hâm mộ được dịp xuýt xoa với nhan sắc xinh đẹp ngời ngời của cô. Vậy bí quyết của “thần tiên tỷ tỷ” là gì để sở hữu nhan sắc hoàn mỹ đến vậy?
bí quyết làm đẹp của Lưu Diệc Phi
Nàng “Tiểu Long Nữ” ngày nào vẫn giữ được nét đẹp thanh xuân tươi trẻ. Ảnh: topsimages.

Ăn nhiều hoa quả và thức ăn dạng lỏng

Để vóc dáng thon gọn đáng ngưỡng mộ như hiện nay, lẽ dĩ nhiên Lưu Diệc Phi rất quan tâm đến chuyện ăn uống. Cô nàng chú trọng ăn nhiều hoa quả để làn da khỏe đẹp từ bên trong. Bên cạnh đó, Lưu Diệc Phi thường xuyên ăn thức ăn dạng lỏng như súp, canh hoặc các món nhiều nước để đảm bảo dinh dưỡng mà không bị tăng cân. Một số loại hoa quả yêu thích của nàng Tiểu Long Nữ là chuối, táo, dâu, chanh. Ngoài việc ăn trực tiếp, Lưu Diệc Phi thay đổi khẩu vị bằng cách ép nước uống hoặc làm sinh tố. Thói quen này giúp cô bảo toàn nhan sắc hoàn mỹ cho đến nay.

Hạn chế tối đa thức ăn vặt

bí quyết làm đẹp của Lưu Diệc Phi 09
Lưu Diệc Phi hạn chế tối đa các món ăn vặt tránh làm ảnh hưởng đến dạ dày. Ảnh: kknews.
Như bạn đã biết, các ngôi sao nổi tiếng luôn rất bận rộn với lịch trình của mình. Để tiết kiệm thời gian ăn uống, họ chọn các loại thức ăn vặt bởi tính nhanh gọn, tiện lợi. Tuy nhiên theo các chuyên gia dinh dưỡng, việc ăn uống linh tinh không tốt cho sức khỏe. Một số món ăn cay, nóng hoặc nhiều dầu mỡ còn làm hại cho dạ dày. Hiểu được điều này, Lưu Diệc Phi không bao giờ đụng đến các món ăn vặt. Thay vào đó, cô thường chọn thực phẩm nhiều chất xơ và hạn chế ăn cay để duy trì làn da đẹp.

Uống 8 ly nước mỗi ngày

Bên cạnh các bước chăm sóc bên ngoài, Lưu Diệc Phi hiểu rõ việc nuôi dưỡng làn da từ bên trong mới là quan trọng nhất. Điểm mấu chốt để có làn da đẹp chính là dưỡng ẩm đầy đủ cho da. Uống nước chính là cách tốt nhất giúp tăng cường độ ẩm trên da và cả cơ thể, vì vậy mỹ nhân họ Lưu luôn chú ý uống đủ 8 ly nước/ngày. Có thể thấy, làn da căng mướt và tươi trẻ của Lưu Diệc Phi là minh chứng rõ ràng nhất về lợi ích của việc uống đủ nước.
bí quyết làm đẹp của Lưu Diệc Phi 04
Làn da căng mướt tươi trẻ của “thần tiên tỷ tỷ” nhờ vào thói quen uống đủ nước mỗi ngày. Ảnh: asiacelebs.

Vận động cơ thể mỗi ngày

Đây là lời khuyên của Lưu Diệc Phi dành cho các cô nàng văn phòng. Theo cô, mỗi ngày, phái nữ nên dành một khoảng thời gian để thực hiện các bài tập vận động như chạy, nhảy dây, bơi lội. Bởi lẽ, việc vận động giúp cơ thể duy trì độ săn chắc, kích thích máu lưu thông tuần hoàn để da dẻ hồng hào. Mặt khác, khi tập luyện, cơ thể tiết ra mồ hôi giúp đào thải độc tố ra bên ngoài. Có thể nói, việc vận động mang đến nhiều lợi ích cho cả vóc dáng và làn da. Nếu là người quá bận rộn, bạn có thể dành thời gian tập luyện tối thiểu từ 2-3 lần. Duy trì thói quen này thường xuyên chính là cách giúp đại mỹ nhân xứ Trung luôn thon thả và tràn đầy sức sống.
bí quyết làm đẹp của Lưu Diệc Phi 08
Để giữ cho vóc dáng luôn gọn gàng, nàng “Tiểu Long Nữ” thường xuyên vận động cơ thể mỗi ngày. Ảnh: HawtCelebs,

Rèn luyện các bài tập giãn cơ

“Thần tiên tỷ tỷ” từng tiết lộ, để cơ thể uyển chuyển nhẹ nhàng như hiện tại, cô thường xuyên tập các động tác múa. Ngoài ra, Lưu Diệc Phi cũng không quên rèn luyện độ dẻo dai và linh hoạt của cơ thể bằng các bài tập giãn cơ trước khi đi ngủ.
Lưu Diệc Phi - Mulan (Hoa Mộc Lan)
Ảnh: Qooah.

Rửa mặt bằng nước ấm

Có thể bạn chưa biết, Lưu Diệc Phi cũng sở hữu làn da dầu và dễ nổi mụn. Vì vậy, cô thường xuyên dùng nước ấm khoảng 30 độ để rửa mặt giúp lỗ chân lông giãn nở, dễ dàng lấy đi bụi bẩn và dầu thừa. Theo cô, không nên dùng nước có nhiệt độ cao hơn khiến da dễ bị nhăn và nhanh lão hóa. Sau bước làm sạch da bằng nước ấm, Lưu Diệc Phi rửa mặt lại với nước mát để se khít lỗ chân lông, giúp da săn chắc hơn.

Ngủ đủ giấc

bí quyết làm đẹp của Lưu Diệc Phi 13
Theo mỹ nhân họ Lưu, ngủ đủ giấc là một trong những phương pháp bảo dưỡng nhan sắc hiệu quả nhất. Ảnh: kknews.
 
Là một ngôi sao, lịch trình của Lưu Diệc Phi rất bận rộn khiến đồng hồ sinh học thường bị đảo lộn. Dù vậy, mỹ nhân họ Lưu vẫn dành chút thời gian ít ỏi để chợp mắt trên phim trường. Những ngày rảnh rỗi không vướng lịch quay đêm, Lưu Diệc Phi luôn tranh thủ thư giãn và ngủ sớm để bảo toàn nhan sắc. Cô chia sẻ, ban đêm là thời điểm “vàng” để tái tạo và phục hồi làn da. Thói quen ngủ đủ giấc giúp bạn duy trì làn da sáng mịn và khỏe đẹp.

Bơi lội thường xuyên

bí quyết làm đẹp của Lưu Diệc Phi 18
Ngay từ bé cho đến nay, Lưu Diệc Phi vẫn duy trì thói quen bơi lội để duy trì sức khỏe. Ảnh: hatdot.
Như đã nói, việc vận động cơ thể là thói quen tốt giúp vóc dáng gọn gàng săn chắc. Bộ môn thể thao yêu thích của Lưu Diệc Phi là bơi lội. Cô chia sẻ: “Thuở bé, mẹ là người đã hướng cho tôi tập luyện bộ môn bơi lội để duy trì sức khỏe. Cho đến nay, tôi vẫn thường xuyên đi bơi cùng mẹ mình trong những lúc rảnh rỗi”. Thực tế, bơi lội giúp tăng cường độ dẻo dai và linh hoạt của cơ thể không kém gì các môn chạy hoặc cardio.
bí quyết làm đẹp của Lưu Diệc Phi 16
Lưu Diệc Phi “lột xác” với hình tượng cô nàng mạnh mẽ trong phim Hoa Mộc Lan. Ảnh: kknews.
Tạo hình gần đây nhất của mỹ nữ họ Lưu trong phim Hoa Mộc Lan khiến khán giả thích thú bởi sự thay đổi này của cô. Nhiều ý kiến cho rằng, nhân vật của Lưu Diệc Phi ắt hẳn sẽ đem đến nhiều cảm xúc thú vị cho khán giả, đặc biệt là người hâm mộ của tác phẩm phim hoạt hình này. Cùng chờ xem sự thể hiện của Lưu Diệc Phi trong bom tấn này nhé!
 
 
     Tê Hát sưu tầm và tổng hợp từ nhiều nguồn    

    Ảnh minh họa    
Xem thêm...
Theo dõi RSS này