Văn học

Văn học (177)

Nàng Thơ Xứ Huế - Ẩm Thực Xứ Huế

Image result for nu sinh gai hue dep hd photos

❤️ Nàng Thơ Xứ Huế | Thùy Chi |   YOUTUBE

 
Thì thôi, quên một chuyện tình... Chôn vùi kỷ niệm yêu thương năm nào... Mùa thu, lá rụng xa cành... Phố xưa, ngõ nhõ phai dần nhớ nhung... Mùa thu, có nắng hanh vàng... Thu này, màu nắng không còn yêu thương... Mùa thu, dấu kín lòng em... Mùa thu nức nở, thở dài hằng đêm..

   YÊU GÁI HUẾ VÀ CÁC MÓN NGON HUẾ   

Có những buổi chiều rảnh rỗi tôi thường dạo vài vòng dọc bờ sông Hương để ngắm nhìn không gian mặc trầm của Huế, những cô gái Huế, những con người Huế và cảm nhận sự yên thanh, bình lặng, vấn vương, xao xuyến.
 


Sau một thời gian dài quan sát thông qua những cô bạn gái người Huế, đọc những bài viết về người con gái Huế. Tôi lại thấy nếu để lựa chọn, tốt nhất đừng yêu một cô gái Huế, sau đây là 6 lý do tại sao không nên yêu con gái Huế.

1- Con gái Huế nấu ăn ngon và nấu được nhiều món

Vì vậy, nếu như dạ dày bạn không tốt, bạn sẽ đứng trước nguy cơ bị bội thực sau mỗi giờ tan làm.. Làm sao cưỡng lại nổi khi mà đối mặt với một đống đồ ăn bày ra trước mắt mỗi khi bị đói.
Yêu con gái Huế, tức là mỗi ngày phải đứng trước khả năng đầy bụng khó tiêu cao cộng với nguy cơ bị béo lên trông thấy vì ăn quá nhiều.

2 - Huế là đất lũ, đất bão, chỉ mưa và mưa

Con gái Huế lại hay lo nghĩ, dù ở xa hay gần, cứ mỗi năm mùa lũ đến lại chỉ có một nỗi lo canh cánh về gia đình, về ngày nước dâng. 

Yêu con gái Huế, nghĩa là bạn phải cùng gồng gánh nỗi lo đó. 
Huế lại mưa quanh năm suốt tháng, tức là bạn nếu muốn hẹn hò thuân lợi ở Huế rất khó, vì cứ gặp nhau là trời mưa, biết đi đâu bây giờ? 
Có khi lại biến bạn trở thành kẻ xấu xa vì những lúc suy nghĩ túng quẫn trong lúc mưa giông.

3 - Con gái Huế sống nề nếp và gia phong

Bộ ảnh cô gái mặc áo dài tím Huế thật đẹp
Từ lâu đời, những phép tắc trong đời sống hàng ngày đã in đậm và trong suy nghĩ của con gái Huế. 

Tức là yêu một cô con gái Huế, bạn cũng đối mặt luôn với một đống quy củ và cách hành xử với gia đình người yêu. 
Bạn có thể mất tận 15 phút chỉ để chào tạm biệt thành viên trong gia đình bạn gái từ người ông cho đến chú cún cưng trong nhà. 
Dĩ nhiên, viêc đưa đón hẹn hò sau 21h là nhiệm vụ bất khả thi.

4 - Con gái Huế sống trầm lặng lại kín đáo

Yêu một người trầm tính, thật khó để được họ cùng chia sẻ tất cả mọi chuyện. 
Bạn phải thật sẵn lòng lắng nghe, phải thật sự quan tâm mới có thể hiểu được cô gái Huế nghĩ gì, mong muốn gì. 

Đâu phải ai cũng có thời gian để quan tâm và dành thật nhiều thời gian cho nhau phải không?

5 - Con gái Huế sống chắt chiu, tiết kiệm

Thơ tình: Gửi Huế Yêu Thương
Nếu như bạn muốn một cuộc sống thoải mái, không cần lo lắng ngày mai ra sao, thì tốt nhất đừng lấy con gái Huế. 

Con gái Huế hay lo xa, cứ mãi chắt chiu tiết kiệm lo cho gia đình, có khi quên luôn cả việc chăm sóc bản thân, mua cái này cái kia thì cứ phải đắn đo suy nghĩ. 
Bởi vậy, đôi lúc sẽ khiến bạn thấy khó chịu và ngột ngạt.

6 - Con gái Huế hay dịu dàng, e lệ

Nét trầm mặc của Huế nó cũng thắm dần vào tính cách của người con gái Huế. 
Con gái Huế e lệ, nhẹ nhàng, việc gì cũng từ tốn, ngại ngùng. 

Yêu mà ngại ngùng như thế, đôi lúc sẽ làm bạn nhụt chí hay rụt rè hơn vì không thể “ tấn công ”, và chẳng biết khi nào là đúng thời điểm vì sẽ rất khó mà nhận ra tín hiệu của nàng.

Khi bạn đã chọn người tình trăm năm là em gái Huế thì phải hưởng luôn hương vị của 11 món ăn tuyệt vời nầy mới " Đủ bộ .. tam sên " !
Nếu đã đến Huế mà bạn không thử những món ăn tuyệt ngon sau đây thì chắc chắn là bạn đã đánh mất đi cái thú vị, cái hấp dẫn của cả chuyến đi rồi. Vì vậy hãy cùng tham khảo danh sách 11 món ăn ở Huế bạn cần phải ăn khi tới mảnh đất xinh đẹp này nhé!
1. Cơm hến
Cơm hến ngon nhất chỉ có ở Huế. Đây là món ăn dân dã có khắp mọi nơi, từ thôn quê cho đến thành thị. 
Cơm hến được làm từ cơm trắng nấu chín và để nguội, ăn kèm với con hến cùng tóp mỡ chiên giòn.
Cơm hến có thêm chút mắm ruốc Huế vừa bùi, chát, cay và hăng; ăn kèm với phụ gia là rau sống gồm có: rau sống, bắp chuối, giá đỗ và ít thân khoai môn trắng thái nhỏ. Lạc được rang vàng và phi dầu vàng cho có màu đẹp mắt.
Ngoài ra các tiệm cơm hến còn có thêm bún hến, mì hến, cháo hến cũng rất lạ miệng. 
Nếu đã đến Huế hãy thử món này liền nhé!
 
 
2. Các loại bánh Huế
Bánh bèo, bánh ram ít, bánh bột lọc…, mỗi loại có một đặc trưng và vị ngon riêng. 
Bánh bột lọc ăn dai dai, trong suốt có thể nhìn thấy nhân tôm hồng hồng ở giữa.
Bánh ram ít phần trên ăn dẻo, phần dưới là bột rán giòn.
Bánh bèo trắng mịn, mỗi chiếc nhỏ vừa đúng lòng một chiếc đĩa con và phía trên một miếng tóp mỡ.
Mỗi loại bánh đi kèm với một loại nước chấm khác nhau sẽ mang lại hương vị khác nhau không thể lẫn vào đâu được
 
3. Bún thịt nướng
Điểm đặc biệt của món này nằm ở thịt nướng. Thịt ở đây ướp vừa đủ, miếng thịt mềm chứ không bị khô, và mang một hương vị đặc trưng, khá đặc biệt so với những nơi khác.
Nước chấm ăn kèm cũng vừa miệng, điều đặc biệt là có rất nhiều rau sống, tươi mát và xanh ươm. Các quán bún thịt nướng ngon nằm trên mạn Kim Long – đường đi chùa Thiên Mụ.
4. Bún bò Huế
Món bún gắn với tên thành phố Huế đủ để nói lên nét đặc trưng của món ăn này đối với vùng đất cố đô. Nước dùng của bún bò được hầm từ xương bò, cho thêm một ít chả heo hay chả bò và một ít mắm ruốc, tạo nên một hương vị rất riêng.
Món bún này thường được nấu cay theo khẩu vị chuộng cay của người dân xứ Huế.  

5. Bánh khoái
Đây là món bánh đặc biệt chỉ có tại Huế, gần giống như bánh xèo của miền Nam nhưng nhỏ hơn. 
Bánh khoái đổ bằng bột gạo xay đánh sệt với nước và lòng đỏ trứng, sau đó thêm tiêu, hành, mắm, muối, tôm bóc vỏ, thịt bò (hoặc chim) nướng thái lát, mỡ thái lát nhỏ, giá sống.
Bánh ngon một phần nhờ nước lèo béo mùi đậu phộng, món nước chấm này rất khó làm, những hiệu bánh nổi tiếng thường có bí quyết chế biến nước chấm gia truyền. 
 
6. Bánh canh Nam Phổ
Đây là món bánh canh đặc trưng của người Nam Phổ (huyện Phú Vang), không giống với bất kỳ món bánh canh nào ở cac vùng khác. Những sợi bánh canh được làm từ loại gạo đặc biệt, để có được sợi bánh mềm dai mà không nát.
Nước dùng cho bánh canh được làm từ cua, thịt nạc xay, tôm, sườn heo, chả, cùng với bí quyết riêng tạo cho bánh canh Nam Phổ có sự đặc sánh và hương vị rất đặc trưng..
Bánh canh Nam Phổ thường không có cửa hàng cố định mà chỉ bán ở các gánh hàng rong, có thể tìm thấy tại các khu chợ.

 
7. Chè Huế
Mỗi quán có khoảng hơn hai chục loại chè, đủ màu sắc được bày trong các nồi nhôm, trông rất bắt mắt và hấp dẫn. Món ăn này đặc biệt thu hút khách du lịch trong nước cũng như nước ngoài.
Nổi tiếng với chè bột lọc heo quay, món chè “độc nhất vô nhị” của Huế. Thịt heo quay được bằm nhỏ xào mộc nhĩ và gia vị. Bọc bên ngoài là lớp bột lọc trong veo, được viên to hơn ngón tay cái, nước chè ăn kèm là nước đường nấu cùng với gừng đập dập. Khi ăn chè vừa mặn mặn, lại ngọt ngọt…đảm bảo sẽ gây nghiện cho những ai ăn được món này  

  Tâm Hồn Người Huế Và Nét Rất Riêng Trong Ẩm Thực Xứ Huế  

“Học trò xứ Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi không đành” – câu ca dao dường như đã lột tả hết cái vẻ quyến rũ, sức cuốn hút của xứ Huế. Cái vẻ cuốn hút của xứ Huế không chỉ đến từ thiên nhiên phong cảnh hữu tình nơi đây, nó còn đến từ tất cả những giá trị văn hóa của vùng đất cố đô này. Con người Huế đã tạo ra Huế hay chính vùng đất đã tạo nên con người, câu hỏi này thật khó trả lời. Nhưng ta có thể khẳng định rằng mỗi giá trị văn hóa của xứ Huế đều thực sự là những di sản vô giá, không thể nào đong đếm được. Trong các giá trị nhân văn đó thì văn hóa ẩm thực là một giá trị mà ta không thể không nhắc đến mỗi khi nói về xứ Huế. Hãy để Mytour dắt bạn đến với hành trình khám phá ẩm thực xứ Huế nào!
 
Ẩm thực Huế chính là sự giao thoa hoàn hảo giữa ẩm thực cung đình và ẩm thực dân gian
Ẩm thực Huế chính là sự giao thoa hoàn hảo giữa ẩm thực cung đình và ẩm thực dân gian - Ảnh: sưu tầm
 
“Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu
 
Đó là những câu thơ mà nhà thơ Thu Bồn đã dùng để miêu tả về con người Huế. Tâm hồn người Huế cũng như dòng sông Hương vậy, nó hiện lên với thật nhiều những sắc thái: êm đềm, thơ mộng, quyến rũ nhưng cũng thật gần gũi, thân thương. Và chính những tâm hồn đó đã tạo nên một nền ẩm thực Huế hết sức đặc trưng và không thể lẫn lộn. Không đa dạng như ẩm thực miền Bắc, cũng không phồn thực như lối ẩm thực miền Nam, ẩm thực Huế mang một bản sắc của một vùng đất từng là kẻ chợ, thanh lịch, nhẹ nhàng và tùng tiệm.
 
Ẩm thực Huế tựa như những cô gái Huế vậy  để hiểu hết được cũng thật khó
Ẩm thực Huế tựa như những cô gái Huế vậy – để hiểu hết được cũng thật khó - Ảnh: Tran Quoc Le Bao
 
Người Huế ăn uống gắn liền với ba tiêu chí là ngon, rẻ và đặc biệt là phải đẹp. Đối với người Huế thì một món ăn nếu không đẹp thì không phải thực sự là một món ăn. Trong mỗi món ăn Huế, mỗi người vợ, người mẹ, người bà dường như đặt cả trái tim và trí óc của mình vào món ăn, nhất là trong việc tạo nên hình dáng món ăn. Nghệ thuật trong cách tạo nên vẻ đẹp của mỗi món ăn đó chính là sự đắn đo về màu sắc, hình khối, khả năng bày biện, sắp xếp để tạo ra một hiệu ứng thẩm mỹ, một sức hút đối với người ăn một cách cao độ. Dường như sự tôn sùng cái đẹp trong bữa ăn của người Huế đã nói lên phần nào cái tính cách của của người Huế, những con người có sự đam mê một cách đặt biệt đến nghệ thuật, đến cái đẹp.
 
Người Huế rất coi trọng đến tính thẩm mỹ của món ăn
Người Huế rất coi trọng đến tính thẩm mỹ của món ăn - Ảnh: sưu tầm
 
Không chỉ đặc biệt về mặt hình thức, các món ăn Huế cũng thật khác biệt khi thưởng thức bằng vị giác. Đối với gia vị thì người Huế có một niềm đam mê hết sức đặc biệt. Ngoài để tạo ra màu sắc đẹp, đối với người Huế thì gia vị chính là một “liều thuốc” kích thích vị giác tuyệt vời trong mỗi món ăn. Và từ chính cái việc sử dụng nhiều gia vị trong món ăn, người Huế đã tạo nên một nét ấn tượng rất riêng cho món Huế, một ấn tượng mà nếu ai đã từng thưởng thức qua món Huế đều không thể nào quên được. Chính sự hòa quyện của rất nhiều loại gia vị trong một món ăn đã mang lại cho vị giác một nỗi “thống khổ” của cái ngon thật khó tả.
 
Một tô bún bò Huế được tạo ra chính là sự hòa quyện của vô vàng các loại gia vị đặc trưng
Một tô bún bò Huế được tạo ra chính là sự hòa quyện của vô vàng các loại gia vị đặc trưng - Ảnh: sưu tầm
 
 
Cái độc đáo của hương vị món Huế đó chính là sự đậm đà, thấm thía đến khó quên của món ăn. Không thanh đạm, đa dạng như ẩm thực miền Bắc hay mộc mạc, đơn giản như món ăn miền Nam, hương vị ẩm thực Huế tồn tại trong lòng những người đã thưởng thức qua nó một cách rất riêng. Nó thật cuốn hút, hấp dẫn nhưng lại không kém phần kín đáo, thầm lặng, nó giống như chính những người con gái đất Huế vậy.
 
Ẩm thực Huế đậm đà đến thật khó quên
Ẩm thực Huế đậm đà đến thật khó quên - Ảnh: sưu tầm
 
Trong bản giao hưởng của hàng trăm loại gia vị xứ Huế thì ta không thể quên được vị cay nồng nàn của ớt – “vị nhạc trưởng” đầy quyến rũ của dàn đồng ca hương vị. Nếu bạn là người miền Bắc hoặc miền Nam đến với Huế thì bạn hãy sẵn sàng cho một sự trải nghiệm ẩm thực thật là khó quên khi tất thảy các món ăn Huế đều… cay. Mọi thứ từ tô bún bò buổi sáng, rồi bún hến, cơm hến, cho đến nước chấm của tất cả các loại bánh như bánh bèo, bánh nậm, bánh ram ít… đều không thể thiếu cái hương vị cay nồng của ớt. Nếu màu tím chính là biểu tượng cho một vùng văn hóa đằm thắm xứ Huế thì sắc đỏ, cam của ớt chính là tông màu chủ đạo trong ẩm thực Huế.
 
Vị cay của của là hương vị không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực Huế
Vị cay của của là hương vị không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực Huế - Ảnh: thisisbsr
 
Mới nhìn qua thì nhiều người sẽ cho rằng ẩm thực Huế quá đỗi cầu kỳ và phức tạp, nhưng không, bên cạnh cái vỏ bọc có vẻ khó gần thì ẩm thực thực Huế cũng không thiếu những món ăn thân thuộc, mộc mạc. Bởi bên cạnh những món ăn ngự thiện, cung đình thì trong bữa cơm hằng ngày của người dân xứ Huế vẫn luôn tồn tại những món ăn dân dã từ cua đồng, cá ruộng, rau vườn. Dân dã là thế nhưng món ăn vẫn không thiếu đi sự tinh tế, và sự tinh tế đó đến từ chính tấm lòng của người người thưởng thức – đó chính là “Tâm thực”, bậc cao nhất trong nghệ thuật thưởng thức ẩm thực xứ Huế. Có lẽ vì thế mà trong bàn ăn của người Huế những bánh canh cá lóc đồng hay món rau dại nấu canh tập tàng tuy dân dã, đơn sơ nhưng đã đánh bại bao nhiêu món ăn sơn hào hải vị.
 Dù đơn giản, thôn quê nhưng món Hến xào nào này không thiếu đi sự tinh tế
Dù đơn giản, thôn quê nhưng món Hến xào nào này không thiếu đi sự tinh tế - Ảnh: sưu tầm
 
Không chỉ đặc biệt trong từng món ăn, cách ăn cũng là một nhân tố rất quan trọng tạo nên nét đẹp trong ẩm thực xứ Huế. Dù vận dụng hết mọi giác quan để thưởng thức món ăn, nhưng đối người Huế thì cũng chỉ cốt ăn lấy hương lấy hoa. Sự thanh thản ấy có thể nhận biết trên những chiếc bánh bèo nhỏ chúm chím tựa những nụ hoa, những lá bánh nậm mỏng tăng tựa cánh chuồn hay tô cơm hến nhỏ nhỏ nhưng hết sức đậm đà. Và trong mỗi bữa ăn của người Huế, cách ăn này càng được thể hiện rõ rệt hơn. Mỗi món ăn khi dọn lên mâm thì thường không dọn lên luôn một lần mà chỉ được dọn trên những chiếc dĩa con nho nhỏ, làm như vậy vừa tránh được cảm giác quá nhiều, vừa giúp món ăn luôn nóng hổi, thơm ngon.
 
Những chiếc bánh ram ít nhỏ nhắn tựa như những nụ hoa chớm nở
Những chiếc bánh ram ít nhỏ nhắn tựa như những nụ hoa chớm nở - Ảnh: lucyd
 
Một chiếc bánh nậm mỏng tang nhưng chất chưa bao nhiêu hương vị
Một chiếc bánh nậm mỏng tang nhưng chất chưa bao nhiêu hương vị - Ảnh: sưu tầm
 
Đối với người Huế, mỗi bữa ăn dường như là một nghi lễ đặc biệt – họ chỉnh chu, tươm tất trong tất cả mọi thứ. Dù là một bữa ăn gia đình đơn giản hay là một bàn tiệc với phong phú các món sơn hào hải vị thì bữa ăn đó phải được bày ra với chén dĩa tươm tất, người ăn phải giữ một tư thế thật ngay ngắn, không lăng xăng, ồn ào trong khi ăn. Đối với người Huế, bữa cơm chính là một điều gì đó hết sức thiêng liêng và trang trọng. Trong bữa ăn thì chỉ có những câu chuyện vui vẻ nên được nói ra, tránh những câu chuyện buồn, chuyện đàm tiếu và đặc biệt là cãi vã trong bữa ăn.
 
Dù bữa ăn có đơn giản đến đâu vẫn phải được bày biện thật chỉnh chu
Dù bữa ăn có đơn giản đến đâu vẫn phải được bày biện thật chỉnh chu - Ảnh: sưu tầm
 
Nếu như trong thời đại hiện nay, khi nhiều nền ẩm thực ở miền Bắc và miền Nam đã có sự thay đổi đi phần nào, thì ẩm thực Huế vẫn luôn giữ được cái nét riêng của mình và dường như không hề thay đổi lẫn không muốn thay đổi. Một phần là vì bản tính hủ cựu, hoài cổ của người Huế, một phần là bởi vì nền ẩm thực Huế đã quá đặc sắc – nó không cần phải thay đổi bất kỳ thứ gì, nó chỉ cần là chính nó là đã đủ hấp dẫn rồi.
 
Những chén bánh bèo Huế nhỏ nhắn như muốn chực tan trong miện
Những chén bánh bèo Huế nhỏ nhắn như muốn chực tan trong miện - Ảnh: womofa

  LẤY VỢ MIỀN NÀO? – BÌNH LUẬN CON GÁI BẮC TRUNG NAM  

CON GÁI BẮC

 
Con gái người Bắc (mà điển hình là con gái Hà Nội), là những cô gái khôn ngoan và tinh tế. Họ làm ra vẻ như rất giữ khuôn nếp nhưng thực ra họ đong đếm bạn kỹ lưỡng trước khi bật đèn xanh cho bạn tiến đến.
Họ nghĩ nhiều đến vấn đề gia đình đôi bên môn đăng hộ đối, do đó khi đã thành đôi rồi, dù bên ngoài có nhìn vào như thế nào đi nữa họ cũng vẫn thấy vừa lòng với nhau và cuộc sống hôn nhân ít xao động.
Nếu mà như thế được cả thì đâu có gì mà nói nhỉ ?
Sau khi về nhà chồng thì những cái mà các cô dâu Bắc hay có là :
 
– Khắc kỵ với mẹ chồng.
– Kiểm soát chồng chặt chẽ và tranh giành tài sản cũng như quyền lực trong nhà chồng.
Còn trong gia đình thì khỏi nói : con gái Bắc coi chồng như một anh lao công và khi nắm quyền lực trong gia đình rồi thì bắt đầu nhiều lời. Những câu nói đay nghiến dấm dẳng không biết có phải từ trong tiềm thức tổ tiên để lại bắt đầu tuôn ra một cách rất tự nhiên.
Khi những điều đó bành trướng lên quá đáng thì anh chồng bắt đầu ngao ngán gia đình – chuyện ngoại tình là sẽ đến và nếu có điều kiện là “chuồn” luôn cái bà vợ chán chường đó mà đi lấy một người vợ khác.
Con gái Bắc còn có tật thiên vị tình cảm nội ngoại, và không ít những chuyện không hay thường bắt nguồn từ nàng dâu.Thêm một tính nữa là hơi một tí là bỏ về nhà cha mẹ, và gia đình ngoại hay có chuyện can thiệp vào gia đình chồng.
Nói đến các cô gái Bắc còn phải nói đến cái tính điêu ngoa và đanh đá. Và từ đó dẫn đến hỗn láo xấc xược là rất gần. Những cuộc cãi nhau, chửi nhau của các bà vợ Bắc cứ như những bản nhạc được học thuộc lòng trước khi lên xe hoa.
Tránh được mấy điều này thì các cô gái Bắc trở thành số một vì họ là những người tiếp tay cho chồng rất đắc lực trong công việc làm ăn, cai quản tài sản, chăm sóc con cái. Sẵn sàng hy sinh vì chồng. Ở tù, ăn đạn cho chồng cũng OK luôn.
 
Tình gái Bắc
Em chả đâu / Ngượng lắm đấy / Ai lại thế / Cứ như ranh / Tí tẹo thôi / Nhớ đấy nhé / Mặt dầy tợn / Chỉ nghịch ngợm / Không ai bằng / Cứ hung hăng / Như ăn cướp / Thôi cũng được / Phải giao trước / Cấm chạy làng / Hễ lang bang / Em xẻo trước…
 
Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc 
nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền 
nhớ dịu dàng nhưng thâm ý khoe khoang 
nhớ duyên dáng, ngây thơ mà…xảo quyệt.

CON GÁI TRUNG

Miền Trung được tính từ Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh vào đến Phú Yên, Ninh Hòa. Có thể nói đây là một khu vực nhân văn đa dạng.
Phía Bắc thiên về văn hóa Hà thành còn phía Nam thiên về Sài thành.
Họ đều có những đức tính chung của những người con của biển.
Con gái miền Trung cần cù, nhẫn nhục. Những bông hoa xương rồng lộng lẫy. Tình yêu của họ không rộ nở tưng bừng nhưng lại sâu lắng. Họ ít đòi hỏi nơi người chồng nhưng lại hy vọng rất nhiều vào người chồng. Nếu ai cần một người vợ để dựng nghiệp thì nên chọn con gái miền Trung.
Bạn sẽ luôn được sự yên tâm về lòng chung thủy của họ. Họ cần cù nhẫn nhục chịu đựng gian khổ với bạn. Nhưng nếu mà bạn đổ đốn ra, phụ bạc chân tình của họ thì cũng hãy coi chừng đấy. Đã nghe câu “con gái Bình Định múa roi dạy chồng” chưa ? Điểm yếu của những cô gái miền Trung là hơi quê mùa, dù rất nhiều cô tỏ ra mình bảnh như ca sĩ Mỹ Tâm chẳng hạn… bạn vẫn nhìn được cái nét quê mùa của họ.
Miền Trung nói chung và nên có nói riêng về Huế.
Đó là một vùng đất dường như là rất riêng biệt của Việt Nam. Huế có văn hóa của cố đô nên Huế trầm lặng, lắng đọng và lãng mạn như những vần thơ.
Những cô gái Huế có những nét rất riêng biệt đối với miền Trung và các vùng khác trên lãnh thổ Việt Nam do cái truyền thống cố đô để lại.
Nhưng nếu bạn cưới được một cô vợ người Đà Lạt thuần gốc… Đó là những tiểu thư gốc người Huế vào Đà Lạt dựng nghiệp từ thời Pháp thuộc.
Những tiểu thơ da trắng môi hồng với văn hoá Anh, Pháp, Việt. Bạn khó kiếm ở đâu trên thế giới một người vợ lý tưởng hơn ở đây. Cao nguyên Lâm Viên với rất nhiều thú vị cho những chàng trai đi tìm vợ.
Có những cô gái làm bạn ngỡ ngàng về nhan sắc cũng như về phong cách. Bạn ngơ ngẩn bám theo và rồi hiểu ra đó là một cô gái Jarai lai Pháp từ cái thời ông cố nội nào đó. Bạn cũng có thể gặp những cô gái da trắng tóc vàng, mắt xanh và mũi cao như Tây. Nhưng kìa, cô ấy nhu mì và có vẻ như không văn minh hơn những người Kinh. Họ là những người dân tộc Thái gốc Indian.
Tôi khuyên bạn là nếu quen những cô gái ấy, đã yêu thương thì phải cưới, nếu không thì rất là phiền phức đấy ! Làm quen với họ không khó nếu biết cách (vì họ có vẻ hơi cô lập).
Mách bạn nhé : Bạn để ý con đường đi làm của nàng… có thể là ở đâu đó hay ở nương rẫy… và chờ ở đoạn suối trên đường đi… Các nàng này rất thích tắm suối và khoe thân thể kiều diễm của mình… Bạn cứ việc ngắm và thích ai thì cứ để bụng, thò đầu ra lúc này mất mạng không ai thương đâu… Sau đó thì tìm cách gặp nàng và nói là đang tương tư nàng từ cái hôm ấy… Thành công hay không còn tùy cái bản mặt của bạn !
 
Tình gái Trung
 
Dị kể chi Răng làm rứa Người chi mô Nhột thấy mồ Anh bên nớ Tui bên ni Răng cớ gì Ưa lấn đất Đừng lật đật Mạ ra chừ Mang tiếng hư Nói nhỏ nì Tối nay hỉ… 
 
 Em nhớ giữ tính tình người Trung nhé 
Nhớ hững hờ nhưng tranh đấu nội tâm
Nhớ vui tươi nhưng đau khổ âm thầm
Nhớ kín đáo đoan trang mà lãng mạn…

CON GÁI NAM

Những cô gái miền Nam thực sự rất thoải mái mỗi khi tiếp xúc với họ… Cái chất đơn giản mộc mạc của họ là cái nét làm cho mọi người dễ gần.
Giọng nói của người miền Nam trong sáng như tâm hồn họ vậy.
Nếu nói là những cô gái miền Nam không có chiều sâu tâm hồn cũng có phần nào đúng, bởi nếu họ cũng sâu lắng thì lấy đâu cái nét hồn nhiên trong sáng kia chứ. Đó là cái đặc tính được thiên nhiên ưu đãi cho những con người sống trên vùng đất phù sa màu mỡ.
Chinh phục một cô gái miền Nam không khó. Họ dễ tin, không tính toán quá xa xôi… Cũng vì thế giữ được một cô gái miền Nam trong vòng tay của mình lại đâm ra khó… vì ai họ cũng tin cả…Ta có thể thấy số phụ nữ miền Nam thôi chồng, tái hôn rất nhiều là vì các ông chồng không có đủ bản lĩnh để giữ họ.
Tâm hồn của họ gần như là người phương Tây. Khi mà bạn không còn là niềm tin của họ nữa thì họ cũng chẳng lưu luyến bạn làm gì cho mệt xác.
Nói như thế không có nghĩa là nói họ không chung thủy hay hời hợt trong tình cảm.
Do sự ưu đãi về phong thổ và tập tục, họ là những người thực dụng.
Tình yêu của họ luôn có giá trị của bạn kèm theo. Họ là những bông hoa giữa trời, giữa đời… Nở rộ một thời xuân sắc và rất nhiều nỗi buồn khi đã tàn hương… Không nhiều người biết lo cho cái tuổi về chiều của mình… Họ sống tưng bừng một thời và chấp nhận những hẩm hiu trong buổi chiều cuộc đời.
Đó là tình trạng đang có nhiều ở các bậc tiền bối của các cô gái miền Nam. Họ là những người rất đáng thương.
 
Lấy một cô gái miền Nam ? Bạn có thể mà.
Đó là một bông hoa, một con bướm tung tăng bên bạn. Sống rất nhiệt tình với bạn. Sự đòi hỏi của họ cũng không cao. Vấn đề là bạn cũng đừng quá tệ.
Về phong tục tất nhiên là dễ dàng hơn mọi vùng miền : thương nhau một bữa cơm đơn giản cũng thành vợ thành chồng.
Lấy một cô gái miền Nam làm vợ ?
Bạn hãy nên nếu bạn có một mức sống tương đối. Bạn ít khi phải đau đầu về họ và đó là một trong những bí quyết sống thọ. Nhưng đừng nghĩ tất cả họ là như thế nhé. Guốc dép sẽ bay vèo vèo khi mà bạn nhìn không kỹ và nghĩ ai cũng thế.
Ở miền Nam con gái Sài Gòn là một đặc trưng. Họ không khác nhiều với những vùng phụ cận, có chăng là lịch lãm hơn và đương nhiên cái nhìn cũng cao hơn. Ngày nay sự pha trộn của nông thôn vào Sài Gòn cũng làm bão hòa cái đặc tính của con gái Sài Gòn. Đó là dưới cái nhìn tổng quát về con gái Sài Gòn.
Nhưng tinh ý một chút bạn vẫn có thể nhìn ra ,phân biệt được con gái Sài Gòn và những cô gái nhập cư.
Có ba dạng nhập cư:
1- Những cô gái từ các tỉnh thành tới Sài Gòn để làm ăn sinh sống.
2- Những cô gái theo gia đình nhập cư và định cư tại Sài Gòn.
3- Những cô gái mà cha mẹ nhập cư vào Sài Gòn và được sinh ra ở Sài Gòn.
Trong thành phần thứ 3 này có cô thì đúng là sinh trưởng theo môi trường và thành dân đô thị chính hiệu. Có cô thì vẫn giữ nề nếp của gia đình như ngày ở tỉnh thành.
Tôi gặp nhiều bạn người Bắc vẫn còn giữ nguyên nể nếp từ lời ăn tiếng nói, cách sống y như những người ở quê nhà dù ông nội là người di cư vào Nam từ năm 1954.
Sài Gòn với tất cả những cái phức tạp của một thành phố lớn nhất Việt Nam cho một cái nhìn đa dạng về con người. Có thể nói ở đây có tất cả mọi đẳng cấp – bạn thích đẳng cấp nào cũng có… Không ở đâu kiếm vợ dễ hơn ở Sài Gòn. Và cũng không ở đâu nuôi vợ khó như ở Sài Gòn. Vì mảnh đất này cái gì cũng phải trả tiền.
Bạn phải có công ăn việc làm, thu nhập ổn định thì mới nên nghĩ tới việc lấy một cô vợ ở đây. Không thể không nói đến những người đẹp Bình Dương và Tây Đô (Cần Thơ) – hai vùng đất sản sinh ra những người đẹp nổi tiếng của miền Nam. Họ là những bông hoa đáng yêu và bạn dễ dàng chết ngất khi gần họ.
Và muốn gần họ, thân cận với họ ? Nói nhỏ cho bạn biết nhé : Bạn phải biết nghe cải lương !
 
Tình gái Nam
Ý chèng ui / Hổng được đâu / Cái mặt ngầu / Tui ớn lạnh / Ngồi bên cạnh / Rục rịch hoài / Lỡ gặp ai / Kỳ qúa hà / Thôi dzô trỏng / Cho thỏa lòng / Đồ qủy sứ / Để từ từ / Nè cha nội… 
 
Em nhớ giữ tánh tình người Nam nhé
Nhớ lanh chanh nhưng rất thiệt thà
Nhớ nhiều lời nhưng không biết điêu ngoa
Nhớ đanh đá, kiêu căng mà tốt bụng.
 (theo Ngọc Linh)
 
Gái miền nam nó yêu mình, mình là ông chủ. Đúng kiểu xuất giá tòng phu. Mình đi làm vất vả về muộn, say xỉn, nó chạy ra ngọt ngào: anh đi làm về có mệt không. Anh ăn gì, uống gì.
Gái bắc, nó yêu mình, nó sở hữu mình luôn. Đi làm về muộn 15 phút, mặt nó như cái mâm.Gái nam mình xỉn, nó chăm mình nôn mửa các kiểu
Gái bắc mình xỉn, nó gọi đt cho bạn mình để kiểm tra đi đâu, mình xỉn, nôn mửa, thì kệ mình.Gái nam nó không đòi hỏi nhiều trách nhiệm. Yêu và cưới tự nhiên như không.
Con gái bắc, mình cầm tay nó là nó coi như mình có trách nhiệm với nó cả đời. Thế mới tệ chứ.Gái miền nam gần như không có khái niệm bình đẳng giới.
Gái bắc thì lại bình đẳng quá. Nhiều khi không biết ai là tướng trong gia đình.Gái bắc mà có chồng tòng teng, nó cắt … luôn. Cắt xong rồi ngồi khóc hu hu.
Gái nam mà có chồng tòng teng. Nó đến phang con kia bét nhè luôn. Xong về nhà vẫn thờ chồng như một, chả vấn đề gì.Gái bắc mà ko hài lòng về chồng, ví dụ chồng lăng nhăng. Đến cơ quan kể um với chị em đồng nghiệp. Chị em xúm lại “Bỏ mẹ nó đi, cần đ’o gì”. Bình đẳng giới mà
Gái nam thì không có khái niệm không hài lòng về chồng.Nhưng gái nam, nó là bồ mình, nó là vợ mình, mình phải lo cho nó đến tận  răng. Tức là mình làm ăn ngày càng phải tấn tới. Mình sa cơ lỡ vận, nó chạy luôn.
Gái bắc, mình sa cơ, nó đi bán rau, bán cháo để nuôi mình
———————–“- Gái Bắc cần kiệm, biết lo xa nhưng ….. dữ , hở chút là ….cắt ….cắt .
– Gái Nam rộng rãi, không biết lo liệu chu đáo như gái Bắc, bù lại tánh nết hiền lành, chồng có bồ nhí thì đi “woánh” con nhỏ kia rồi rước chồng về .”
“Vậy gái ngon nhất là gái Bắc “lai” .
– Sinh ra ở miền Bắc nhưng học hành, sinh sống và trưởng thành trong Nam . (được dân Nam “cải tạo” rồi)
– Cha mẹ người Bắc nhưng sinh và lớn lên tại miền Nam . (dân 54, nhóm này “sáng giá” nhất)
– Có cha bắc, mẹ Nam hay ngược lại . (có di truyền sinh học “chất miền Nam”)
– Gốc Bắc nhưng đã du học hay đã từng sinh sống ở ngoại quốc . ( tiếp nhận được đời sống văn minh, phóng khoáng thay đổi được nhiều định kiến về quan hệ gia đình cổ ưa cũ rích)
 
Người ta bảo “Ăn cơm Tây, lấy vợ Nhật…” Người phụ nữ Nhật nổi tiếng bởi sự gia giáo, khéo léo, nữ công gia chánh giỏi giang và rất mực chiều chồng. Quả là người vợ lý tưởng cho các quý ông. Còn trong nước thì sao? Lấy vợ con gái vùng nào thì tốt nhất?Người ta bảo “Ăn Bắc, mặc Nam” hay có nhiều biến thể khác cũng tựa tựa như nhau. Câu này được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Một cách giải thích ngắn gọn mà nhiều người hay nghĩ đến đó là: người Bắc thì ăn ngon hơn, còn người Nam thì mặc đẹp hơn. Còn cách giải thích khác nữa là, người Bắc khéo hơn, kỹ hơn trong chuyện ăn uống, kén món ăn, cách chọn món ăn và cách chế biến, còn người Nam xuề xòa hơn, đơn giản hơn, ví như chỉ cần bắt được con cá quả, xọc cây tre vào giữa, cắm ngược xuống đất, phủ rơm nước xung quanh là được bữa nhậu say, món gà ăn mày đắp bùn, vịt nước đất sét… cũng tựa tựa như thế. Điển hình nhất trong so sánh là chuyện ăn uống vào dịp lễ Tết, người Bắc cầu kỳ và coi trọng hơn, giết lợn, mổ bò. Dân Nam khách đến nhà bắt con vịt bẻ cổ một cái là được nhiều món ngon.”Mặc Nam” là ý nói miền Nam ăn mặc sơ sài hơn, không cầu kỳ, hình thức như người miền Bắc. Bởi một lẽ đất Kinh Bắc định hình từ ngàn xưa, văn hoá và lễ nghi truyền thống chặt chẽ hơn, trong khi miền Nam là vùng đất mới, dân nhập cư từ khắp tứ phương.
“Ăn Bắc mặc Nam” một phần nào đó có cái lý riêng của nó. Tất nhiên câu nói đó chỉ đúng với một thời điểm lịch sử cụ thể nào đó thôi. Cuộc sống hiện đại mọi thứ đều thay đổi và hòa lẫn vào nhau.
Người ta nói về miền bắc, nói về miền Nam, còn miền Trung thì sao? Ngày xưa ông bà ta nói câu đó, chỉ mới nói đến hai đầu của đất nước, còn khúc giữa thì bỏ quên. Mà cũng không phải bỏ quên, mà ông bà ta có lẽ để dành cái phần thiêng liêng nhất, đẹp đẽ nhất để nói về miền Trung – Người phụ nữ!
Miền Trung ở đây có hai cách hiểu: miền trung theo cách hiểu địa lý và miền Trung theo cách nhìn của văn hoá. Miền Trung gồm Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ, chạy dài từ Thanh hoá vào Bình Thuận. Bắc trung bộ gồm có: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Còn Nam Trung Bộ gồm có: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận (có thể xếp Ninh Thuận, Bình Thuận vào Đông Nam bộ).
Vùng Trung bộ mang trong mình đặc điểm văn hóa riêng, có những nét đặc sắc của nó, và có những điểm phân biệt rõ rệt so với hai vùng văn hoá lớn hai đầu là vùng văn hoá Đồng bằng Bắc bộ và Vùng văn hoá Nam bộ. Bản thân trong vùng miền trung cũng chia thành hai vùng văn hóa lớn, mang đặc điểm tương đối khác biệt là vùng Bắc Trung Bộ và vùng Nam trung Bộ. Ví dụ như những đặc sản: bánh canh, bánh bèo, bài chòi, chèo bả trạo… thì chỉ có ở vùng Nam Trung Bộ mà thôi, còn vùng Bắc Trung Bộ không có những cái này.
Và có một đặc điểm khác nữa ở vùng văn hóa Trung bộ là tính không thuần nhất. Trong một khu vực địa lý nhỏ thôi cũng có sự khác nhau một cách tương đối về các yếu tố văn hoá. Ví như vùng Nghệ An sẽ khác vùng Thanh Hoá, Quảng Ngãi sẽ vô cùng khác với Bình Định, dù vẫn nằm trong một khu vực văn hoá chung của duyên hải miền Trung. Nhỏ hơn nữa như trong một huyện thì xã này cũng khác xã kia đến lạ. Ví dụ đơn giản như bên kia con sông Lại Giang quê tôi, đi qua cái cầu bên kia là Hoài Hải và Hoài Mỹ giọng nói rất khác, cách sinh hoạt và ăn uống cũng rất khác. Điều này dễ hiểu do địa hình miền Trung bị chia cắt thành nhiều miếng nhỏ bởi những dãy nũi chạy ngang đâm ra biển hay những con sông lớn đổ ra biển đông. Ở miền Bắc văn hoá thuần nhất hơn, đây là vùng đồng bằng rộng lớn và bởi ở đây văn hoá đã được định hình trong mấy ngàn năm.
Bắc Trung Bộ là khu vực chịu ảnh hưởng của văn hóa Miền Bắc, riêng Huế mang một nét riêng, bởi một phần Huế cũng là đất cố đô và vị trí địa lý đặc biệt của nó. Sự ảnh hưởng này do sự lan truyền văn hóa từ trung tâm là kinh đô Thăng Long hay vùng Kinh Bắc nói chung. Nó giống như bạn ném viên đá xuống nước, trung tâm là Thăng Long và các sóng nước xung quanh lan truyền tới vùng này. Điều này có thể dễ nhận ra khi bây giờ những lễ Tết như bánh trôi bánh chay, Tết ông táo, Tết đoan ngọ vẫn được tổ chức trong rộng rãi trong khu Bắc Trung Bộ, giống như ở miền Bắc. Còn những lễ Tết này, trong vùng Nam Trung Bộ gần như không có. Vùng Nam Trung Bộ mang hẳn một đặc điểm văn hoá riêng, là sự pha lẫn của văn hoá duyên dải Trung bộ với văn hoá Chăm Pa và gần như thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn hóa Bắc bộ. Như vậy, cũng có lúc người ta nói tới Trung bộ là nhắc đến khu vực bắt đầu từ Huế trở vào trong.
Nhìn chung, văn hóa Trung bộ là văn hóa duyên hải. Con người nơi đây có những đặc tính riêng hẳn hai đầu đất nước. Đậm sâu nhất có lẽ là đức tính cần cù, chịu thương, chịu khó và tinh thần hiếu học cao.
Không như hai miền Nam Bắc được thiên nhiên ưu đãi cho đất đai rộng lớn, đồng bằng thẳng cánh cò bay. Đất miền Trung hẹp. Núi, biển, đồng bằng xen kẽ. Đất cát hay đất cát pha là chủ yếu. Đồng bằng thì nhỏ và không màu mỡ như hai đồng bằng hai đầu đất nước. Vùng này chịu nhiều bão lũ hơn. Năm nào cũng đương đầu đón gần chục cơn bão. Rồi các đợt lũ lụt thường xuyên.
Người ta bảo giọng nói miền Trung cứng quá, cục quá. Điều này cũng đâu có sai. Nắng quá, nóng quá, gió quá, gặp nhau nói ngắn cho nhau nghe rồi còn đi. Không như ở miền Bắc làm tích chè mạn, ngồi dưới gốc đa, nhấp nháp và thả chuyện. Người miền Trung không ăn nói trau chuốt, câu cú rõ ràng như người miền Bắc, không ngọt ngào, mềm mại như người miền Nam, nhưng mà thật cái bụng lắm, chân tình lắm.
Chính sự không ưu đãi của thiên nhiên ấy mà con người miền Trung luôn mang trong mình một sức sống mãnh liệt, cần cù, chịu khó, lam lũ, tiết kiệm để chống chọi lại cái khó khăn, vất vả của cuộc sống thường ngày. Cái gió mặn của biển, cái gió cát của miền Trung cộng với cái nắng chang chang làm cho con gái miền Trung có làn da ngâm ngâm, nước da đẹp khỏe mạnh, hiền hòa và mộc mạc đến lạ. Nhưng đúng là nhầm tưởng nếu người nào đó nghĩ rằng tất cả con gái miền Trung nước da đều ngâm ngâm đen. Đi dọc miền Trung có nhiều vùng con gái nước da rất trắng và rất đẹp như con gái vùng Nghệ An, một phần vùng Thanh Hoá, Huế… hay gần nhất như con gái Hoài Hương gần nhà mình. Trong khi đó đi dịch lên một tí vùng Hoài Thanh hay Hoài Hải, con gái vùng này da đen hơn rất nhiều.
Vì cuộc sống nơi đây vất vả và lam lũ như thế, nên người phụ nữ miền Trung cũng mang trong mình những đặc điểm cần cù, chịu khó của con người nơi đây. Con gái miền Trung chung thủy. Điều này hoàn toàn đúng. Bạn sẽ không phải lo lắng về điều này. Họ không như con gái miền Tây Nam bộ, khi có tiền họ sẽ ở bên cạnh họ, còn khi bạn sa cơ lỡ bước, hiếm người nào theo bạn đến cùng.
Nhưng con gái miền Trung thì khác. Họ sẽ cùng bạn gánh vác cái gian khổ. Họ có thể đi bán vé số, gánh từng gánh bánh canh, gánh cháo hay gánh rau đi bán để cùng với bạn. Điều này chắc chắn không có ở con gái miền Tây Nam bộ. Ví dụ thực tế, bạn có thể đi dọc các tuyến đường tấp nập hay vắng vẻ của thành phố Hồ Chí Minh, có rất nhiều người từ các tỉnh Bình Định, Quảng Nam, Quãng Ngãi đi bán vé số, đi bán hủ tiếu, bán bánh bao, bánh mỳ… Họ cần cù lao động, tích từng ít một để nuôi chồng nuôi con. Họ không bán thân làm gái nhiều, hay đi lấy chồng Tây nhiều như gái Miền Tây Nam bộ.
Người phụ nữ miền Trung có thể ví như hoa rau muống biển vậy. Chống chọi với nắng gió, khô cằn và mặn chát của biển khơi, không thực sự sắc màu lộng lẫy, không rực rỡ và kiêu sa, nhưng rất mặn mà, đằm thắm; một chút chân chất, quê quê, nhưng ngọt ngào và thủy chung quá đỗi. Tình yêu không sôi động, không vồn vã, không tưng bừng rộn ràng, nhưng sâu lắng.
Con gái miền Trung chẳng cần đòi hỏi gì nhiều ở người chồng, chẳng cần nhiều tiền hay nhà cao cửa rộng, chẳng cần gì vật chất cao sang. Nhưng họ lại đặt niềm tin và hy vọng vào người chồng rất nhiều. Đối với họ, đó là một thế giới niềm tin lớn nhất.
Nhưng các anh cũng cẩn thận, đừng đùa với lòng chung thủy của họ. Nhất là con gái Bình Định “múa roi dạy chồng”.
 
Còn về gái Tây Nguyên
Do hiểu biết hạn hẹp nên tôi chỉ đưa ra một số điều cơ bản về con gái Tây Nguyên mà tôi biết được.
Ở đây tôi chia làm 2 dạng. Thứ nhất là con gái ở Đắc Lắc, Gia Lai… ở đây đa phần là người các vùng khác đến nhiều chứ dân gốc thì tôi cũng chưa gặp được mấy người nên cũng chưa biết thế nào. Đa phần con gái ở đây rất thoải mái, “chơi tẹt” (chắc tại bạn tôi toàn con đại gia cafe, cao su với hồ tiêu thoải mái thế :)) ). Đa số tôi gặp thì các em ham chơi lắm, rồi cái miệng nói suốt nữa mà hay nữa là cái giọng em nào cũng na ná nhau, nhiều khi nghe điện thoại tôi chẳng phân biệt được em nào với em nào. Điểm cộng cho các em là được cái thật thà, không lắm chiêu trò, tiếp xúc có cảm giác dễ gần các em do tính cách thoải mái không tính toán đó.
Dạng thứ 2 thì nói thật là tôi cũng chỉ mới biết được vài người đếm trên đầu ngón tay. Đây là con gái ở khu vực Lâm Đồng được cái các em ở đây trắng trẻo, nhiều em xinh :”>( gặp được vài em nhưng mà đa số là vậy), nhưng mà nói thật là tôi chơi lại toàn với bọn con trai ở vùng này là nhiều nên chỉ đánh giá được có thế. Bác nào có nhiều kinh nghiệm thì chia sẻ cho anh em ít kinh nghiệm đi, cái gì tôibiết thì nói thôi chứ không phán bừa được.
 
Bài viết trên đây chỉ để tham khảo, mang tính chất chủ quan. Các bác nghiên cứu rồi tự có quyết định nha, đừng đổ thừa tại tôi đấy. Bài viết này chỉ là sưu tầm trên mạng thôi. Nhưng với tôi thì bài viết này đã đúng tới 70%, tuy chưa phải là người có tuổi, nhiều kinh nghiệm nhưng cũng là do gia đình tôi ở một Khu Công Nghiệp nên tôi cũng được tiếp xúc với khá nhiều người. Tuy nó không phải là đúng với tất cả mọi người nhưng đây cũng là điều nên xem.  Còn muốn chi tiết hơn thì các bác dẫn tôi đi một chầu cafe, hay kèo nhậu với hơn 22 năm trời kinh nghiệm tôi sẽ phân tích và nhận định cho các bác hết mình  .
 
   Tôn Nữ Tâm Mai sưu tầm và tổng hợp   
Xem thêm...

Xuân Kỷ Hợi 2019 – tản mạn về chú Hợi

Tết Nguyên Đán năm nay rơi vào ngày trong tuần, thứ Ba ngày 5 tháng 2, 2019. 
 
Related image
 

   Xuân Đã Đến Rồi - Youtube   

Related image
 
Xem thêm...

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA WALTER SCHNAFFS

CUỘC PHIÊU LƯU CỦA WALTER SCHNAFFS
Văn hào GUY DE MAUPASSANT

*********

 

(Maupassant là con trai của một gia đình Lorraine cao quý.1850. Ông học luật một thời gian ở Paris, tham gia Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870-1871 và từ 1871 làm việc chính thức tại các Bộ của Paris. Kể từ năm 1891, Maupassant sống trong sự xáo trộn tinh thần và qua đời 1893 tại Paris)
1
Từ khi đặt chân lên đất Pháp cùng với đội quân xâm lược, Walter Schnaffs cho rằng anh là người bất hạnh nhất trên đời. Anh ta mập mạp, đi bộ cũng thấy khó khăn, luôn thở phì phò và chịu đựng đôi chân núc ních và to bè của mình một cách ghê gớm.
Ngoài ra, anh là người hiếu hòa và tử tế, không hề vênh váo hay khát máu. Anh lấy một người đàn bà tóc vàng, mà mỗi tối anh luôn luyến tiếc một cách tuyệt vọng những cử chỉ âu yếm, những sự săn sóc vặt vãnh, và những nụ hôn của chị. Anh có được bốn con và rất mực chiều chuộng chúng. Anh thích dậy trễ và đi ngủ sớm, thích ăn chậm rãi những của ngon vật lạ, và uống bia ở các quán. Ngoài ra, anh nghĩ rằng tất cả thứ gì dịu dàng trong đời sống thì sẽ mất đi cùng với cuộc đời; và anh luôn giữ trong lòng một mối thù khủng khiếp, vừa có tính chất bản năng vừa có tính chất lý trí, đối với đại bác, súng trường, súng ngắn và gươm đao, nhưng nhất là đối với lưỡi lê, vì anh cảm thấy không thể sử dụng đủ linh động thứ vũ khí này để bảo vệ cái bụng phệ của mình.

1 Trạm cứu thương trong chiến tranh.

Và ban đêm, khi nằm ngủ trên mặt đất, anh co người trong chiếc áo măng tô bên cạnh những đồng đội ngáy như sấm, anh nghĩ ngợi miên man đến người thân ở nhà, và đến những mối hiểm nguy reo giắc trên đường đi của anh. Nếu anh bị giết, thì bọn trẻ ở nhà sẽ ra sao? Vậy thì ai sẽ nuôi nấng và dạy dỗ chúng? Ngay bây giờ chúng sống không thoải mái lắm, mặc dù trước khi đi, anh để để lại cho chúng ít tiền mà anh đã vay được. Và thỉnh thoảng Walter Schnaffs lại khóc.
Khi bước vào các trận đánh, anh cảm thấy đôi chân mình yếu ớt đến nỗi anh có thể bị quật ngã bất cứ lúc nào, nếu anh không nghĩ rằng cả đội quân sẽ giẫm lên mình anh.Tiếng đạn rít làm anh nổi da gà.
Cứ thế, từ nhiều tháng nay anh sống trong nỗi khiếp đảm và khắc khoải.
Cánh quân của anh tiến về hướng Normandie, và một ngày nọ anh được cử đi trinh sát cùng với một phân đội ít ỏi, chỉ để thăm dò một phần đất của vùng này, và rút về ngay. Ở nông thôn, mọi thứ dường như êm ả; không một dấu hiệu nào cho thấy có sự chuẩn bị cho một cuộc kháng cự.
Thế rồi, những người lính Phổ lặng lẽ đi xuống một thung lũng nhỏ, có những khe suối sâu cắt ngang, thì một tràng súng máy dữ dội chặn họ lại ngay lập tức, làm họ thiệt mạng hơn hai chục người; và một toán du kích bỗng tủa ra từ một khu rừng nhỏ như bàn tay, và lao lên phía trước, súng ống giương lê tua tủa.
Ban đầu, Walter Schnaffs đớ người ra, ngạc nhiên và thất kinh đến nỗi thậm chí anh không kịp nghĩ đến chuyện chạy trốn. Rồi một mong muốn điên rồ là tháo chạy, xâm chiếm đầu óc anh; nhưng anh cũng nghĩ ra ngay rằng mình chạy như rùa, so với những binh lính Pháp mảnh mai, họ chạy nhảy như một đàn dê. Rồi nhận thấy trước mặt khoảng sáu bước có một cái hố rộng, mọc đầy bụi rậm, lá khô, anh chụm chẩn nhảy xuống đó, thậm chí anh không nghĩ đến chiều sâu của nó, như người ta nhảy từ cầu xuống sông vậy.

Như một mũi tên, anh lướt qua một lới dày đặc dây leo và cỏ gai nhọn, chúng cào cấu vào mặt, vào tay anh, và anh té ngồi nặng nề xuống lòng đá.
Anh liền ngước mặt nhìn lên, thấy bầu trời qua cái lỗ anh vừa rơi xuống. Cái lỗ chứng cớ ấy có thể tố cáo anh, và anh thận trọng trườn người dưới đáy hố dưới lớp cành cây chằng chịt, anh tiến nhanh hết cỡ, để tránh xa nơi vừa xảy ra chiến sự. Đoạn, anh dừng lại, và ngồi dậy, ngồi lom khom như một con thỏ rừng ở giữa đám cỏ khô cao.
Một hồi sau, anh vẫn còn nghe tiếng súng nổ, tiếng thét la, và tiếng rên rỉ. Rồi âm thanh hỗn độn của chiến tranh yếu dần, và tắt hẳn. Tất cả lại trở nên lặng lẽ và tĩnh mịch.
Chợt một vật gì chạm vào người anh. Anh đánh thót người vì kinh hãi. Đó là một con chim nhỏ, đậu trên một cành cây, làm những chiếc lá khô lay động. Trong gần một giờ đồng hồ, ngực của Walter Schnaffs vẫn còn đập thình thịch và liên hồi.
Đêm đến, làm khe suối tràn ngập bóng tối. Và anh lính bắt đầu suy nghĩ. Anh phải làm gì bây giờ? Anh sẽ ra sao đây? Trở lại đơn vị?... Nhưng bằng cách nào? Bằng lối nào? Và anh sẽ phải bắt đầu lại cuộc sống khủng khiếp trong khắc khoải, hoảng sợ, mệt mỏi, và đau đớn mà anh đã chịu đựng từ khi chiến tranh bùng nổ? Không anh cảm thấy không còn đủ can đảm để chịu đựng được nữa. Anh sẽ không còn đủ nghị lực cần thiết để chịu đựng những cuộc hành quân và đương đầu với những hiểm nguy từng phút từng giây. nghị lực cần thiết để chịu đựng những cuộc hành quân và đương đầu với những hiểm nguy từng phút từng giây.

3 Những tù nhân chiến tranh Anh giúp quân lính Đức tìm kiếm người chết.

Nhưng làm gì bây giờ? Anh không thể ngồi mãi trong khe đá này, không thể ẩn náu ở đây cho đến khi chiến tranh kết thúc được. Không, chắc chắn như thế. Giá mà anh không cần phải ăn, thì viễn cảnh này sẽ không giày vò anh đến thế; nhưng anh phải ăn, phải ăn hàng ngày.
Và anh ở đó một mình, trên đất địch, mang trên người vũ khí và bộ đồng phục, xa cách với những người có thể bảo vệ anh. Những cơn rung mình cứ chạy trên da thịt anh.
Chợt anh nghĩ “Giá mà ta chỉ bị bắt thôi!”. Và lòng anh rung lên vì mong muốn, một niềm mong muốn dữ dội và ào ạt, được làm tù binh của quân Pháp. Tù binh! Anh sẽ được sống, được cho ăn, cho ở, được che chở khỏi làn tên mũi đạn, trong một nhà tù được canh gác cẩn thận, không còn lo sợ gì cả. Tù binh! Giấc mơ tuyệt vời làm sao!
Và giải pháp ấy được chọn lựa ngay tức khắc.
“Ta sắp ra đầu hàng đây”.
Anh đứng lên, nhất quyết thực hiện chương trình này, không để chậm trễ một phút. Nhưng anh bỗng đờ người vì bị những suy nghĩ bắng nhắng và những nỗi khiếp đảm mới tấn công dồn dập.
Anh ra đầu hàng ở đâu? Bằng cách nào? Về phía nào? Và những hình ảnh ghê tởm, những hình ảnh chết chóc đổ xô đến tâm hồn anh.
Anh sẽ gặp những mối nguy hiểm khủng khiếp nếu anh một mình mạo hiểm đi trên cánh đồng, với chiếc mũ sắt có chõm nhọn.
Nếu anh gặp những người nông dân thì sao? Khi trông thấy một tên lính Phổ đi lạc, một tên lính Phổ không vũ khí, họ sẽ giết như giết một con chó hoang! Họ sẽ tàn sát bằng mỏ sãy, cuốc, liềm, xẻng! Họ sẽ biến anh thành nước xúp; thành thức ăn gia súc, trong cơn hung hăng của những người chiến bại điên tiết.
Còn nếu gặp quân du kích? Những du kích quân này, những kẻ hung hăng, không pháp luật, không kỷ cương, sẽ xử bắn anh để tiêu khiển, để cười cợt. Và anh tưởng chừng như mình đang đứng tựa lưng vào tường, mặt đối diện với mười hai họng súng trường và dường như những lỗ tròng nhỏ và đen ngòm của chúng đang nhìn anh.

Nếu gặp chính quân đội Pháp? Những toán đi tiên phong sẽ cho anh là do thám, là một tên lính gan dạ và lém lỉnh nào đó, đang đi trinh sát một mình, và họ sẽ bắn anh ngay. Và bên tai anh như vang lên những tiếng nổ bất thường của bọn lính đang nằm trong các bụi rậm, trong lúc anh đang đứng giữa cánh đồng, anh khuỵu xuống, mình mẩy bị bắn thủng như một cái rổ và anh cảm thấy viên đạn như đang ngoáy sâu vào da thịt anh.
Anh lại tuyệt vọng ngồi xuống. Tình thế của anh lúc này có vẻ như bế tắc.
Màn đêm câm lặng và đen tối đã phủ kín hoàn toàn. Anh không động đậy nữa, và anh rùng mình mỗi khi có một tiếng động lạ và khẽ khàng trong bóng đêm. Một chú thỏ đập đít xuống miệng hang, suýt làm Walter Schnaffs bỏ chạy. Tiếng chim cú kêu xé nát lòng anh, xuyên thấu vào da thịt anh bằng những cơn sợ hãi bất ngờ và đau đớn, như những vết thương vậy. Anh mở to đôi mắt để cố nhìn trong bóng đêm; và lúc nào anh cũng cảm thấy có tiếng bước chân đang đi bên cạnh mình.


2
Sau những giờ phút dài dằng dặc, và những khắc khoải của tên tội đồ, qua lớp cành cây, anh chợt nhận ra rằng trời đã sáng. Lúc ấy, anh cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng; tứ chi anh chợt thư thái và duỗi ra; lòng anh cảm thấy yên ổn, mắt anh nhắm nghiền lại. Anh ngủ thiếp đi.
Khi anh tỉnh giấc, mặt trời đã ở khoảng đỉnh đầu; có lẽ đã trưa rồi. Không một tiếng động nào quấy phá sự yên tĩnh buồn thảm của đồng quê; và Walter Schnaffs cảm thấy bụng đói cồn cào.
Anh ngáp, miệng ứa nước dãi khi nghĩ đến khúc thịt dồi, một thứ thịt dồi ngon lành của bọn lính; và bao tử anh lại quặn lên. Anh đứng dậy, bước đi vài bước, và cảm thấy rằng đôi chân đã yếu ớt, anh lại ngồi xuống để suy nghĩ. Trong suốt hai ba tiếng đồng hồ sau đó, anh phân vân giữa cái nên và cái không nên làm anh luôn thay đổi giải pháp, anh luôn bị đuối lý, đau đớn, giằng xé bởi những lý lẽ hoàn toàn trái ngược nhau.
Cuối cùng, một ý nghĩ có vẻ hợp lý và tiện lợi, là phải rình người dân làng nào đi một mình, không vũ khí, không dụng cụ lao động nguy hiểm, rồi chạy thẳng đến trước mặt anh ta và nộp mạng, vừa ra hiệu cho anh ta hiểu rằng mình đầu hàng.
Rồi anh bỏ mũ sắt, vì cái chõm nhọn của nó có thể phản bội anh, và anh nhô đầu lên bờ miệng hố, với sự thận trọng vô biên.
Không một người nào xuất hiện lẻ loi ở chân trời. Đằng kia, phía bên phải, một ngôi làng nhỏ đang tỏa khói từ mái nhà lên trời; khói bếp còn đằng kia, bên trái anh thấy một tòa lâu đài lớn chung quanh có những tháp canh bao bọc, vươn lên trên các ngọn cây ven đường.
Anh chờ cho đến tối, anh đau đớn kinh khủng, anh không thấy gì ngoài những chú quạ lượn lờ, không nghe gì ngoài những tiếng kêu réo trong lòng anh.
Và màn đêm lại phủ xuống quanh anh.
Anh nằm dài dưới đáy hầm trú ẩn và thiếp ngủ, một giấc ngủ hâm hấp, đầy những ác mộng, một giấc ngủ của những người đói lả.
Bình minh lại hiện lên trên đầu anh. Anh lại tiếp tục quan sát. Nhưng cánh đồng vẫn trống trải như ngày hôm qua; và một nỗi sợ hãi mới lại xâm chiếm đầu óc Walter Schnaffs, nỗi sợ bị chết đói. Anh nằm dài dưới hố, mặt ngửa lên trời, đôi mắt nhắm nghiền. Rồi những con thú, những loài thú bé nhỏ đủ loại tiến lại gần anh và bắt đầu gậm nhấm anh, cùng một lúc tấn công anh khắp nơi, chúng chui vào quần áo anh để cắn da thịt lạnh ngắt của anh. Và một con quạ to tướng mổ vào mắt anh bắng chiếc mỏ dài ngoằng.
Thế là anh bỗng nổi khùng lên, và nghĩ rằng mình sắp kiệt sức và không cưỡng đi được nữa. Và rồi anh chực lao mình về phía ngôi làng, anh quyết làm tất cả bất chấp tất cả, bỗng anh thấy ba người nông dân vai vác mỏ sãy đang đi ra đồng, và anh lại chúi vào chỗ nấp.
Nhưng khi màn đêm đã phủ kín cánh đồng, anh từ từ chui ra khỏi hố, anh khom người xuống, mặt mày lấm lét, tim đập nhanh, anh tiến về hướng tòa lâu đài xa xa, vì anh thích vào đấy hơn là vào làng, vì làng mạc đối với anh thật đáng sợ như là hang hùm…
Các cửa sổ phòng dưới sáng rực. Thậm chí có một chiếc mở toang; và một mùi thịt chin nóng nực bốc ra vào tận bụng của anh; làm anh co dúm, thở hổn hển, nó quyến rũ anh không gì cưỡng lại được, và tiếp thêm cho anh một sự gan dạ tuyệt vọng.
Và thình lình, anh xuất hiện bên khung cửa, đầu đội mũ sắt, mà không suy nghĩ gì.
Tám gia nhân đang ăn tối bên cạnh một chiếc bàn lớn. Bỗng một chị miệng há hốc, đánh rơi chiếc ly đang cầm trên tay, đôi mắt nhìn đăm đăm. Mọi ánh mắt khác hướng theo ánh mắt chị!
Họ nhận ra kẻ thù!
Chúa ơi! Quân Phổ tấn công lâu đài!
Ban đầu, đó chỉ là tiếng kêu, một tiếng kêu duy nhất do tám cái miệng cùng thốt ra, bằng tám cung bậc khác nhau, một tiếng kêu khủng khiếp vì kinh hoàng, sau đó là một sự náo động, một trận chen lấn, một cơn hỗn loạn, một cuộc tháo chạy tán loạn về phía cửa sau. Bàn ghế ngã đổ, đàn ông hất văng đàn bà, và giẫm lên trên. Trong hai giây đồng hồ, căn phòng trở nên trống rỗng, hoang tàn, trên bàn thì thức ăn ngổn ngang, Walter Schnaffs kinh ngạc đứng nhìn sau khung cửa sổ.
Sau khi do dự trong giây lát, anh trèo qua bức tường và tiến đến các đĩa thức ăn. Cơn đói dữ dội làm anh run lên như người bị sốt rét. Nhưng nỗi kinh hoàng giữ chân anh lại, nó còn làm anh tê liệt tứ chi. Anh lắng nghe. Cả gian nhà dường như rung lên; các cửa nẻo được đóng sầm lại, những bước chân dồn dập chạy trên tầng trên. Anh lính Phổ lo lắng dỏng tai nghe tiếng ồn ào hỗn độn này; đoạn anh nghe những tiếng bình bịch như thể có người ngã xuống đất mềm, dưới chân tường, khi có người nhảy từ trên tầng lầu xuống đất.
Rồi mọi cử động, mọi xáo trộn ngưng bặt, và tòa lâu đài to lớn trở nên im ắng như một nhà mồ.
Walter Schnaffs ngồi xuống một đĩa thức ăn còn nguyên, và anh bắt đầu ăn. Anh ăn ngấu nghiến như thể sợ bị ngăn chặn quá sớm, sợ không thể tọng được đầy thức ăn. Anh dùng hai tay ném thức ăn vào cái mồm há rộng như cái thùng; và từng nắm thức ăn lần lượt rơi vào dạ dày của anh làm cổ họng anh trương lên sau mỗi lượt thức ăn đi qua. Đôi khi anh dừng lại, vì cuống họng chực nổ tung ra như một đường ống quá căng. Anh chộp lấy bình rượu táo lên men và thông ống thực quản như ta thông một đường ống bị tắc nghẽn.
Anh vét sạch tất cả các đĩa, tất cả món ăn, và tất cả chai rượu, đoạn, ngất ngây vì rượu và thức ăn, anh đờ đẫn, mặt đỏ bừng, lại giật nẩy bởi những cơn nấc cục, đầu óc anh rối mù, và miệng anh bóng mỡ, anh cởi nút bộ đồng phục để dễ thở hơn, vì không thể đi được một bước nào. Đôi mắt anh nhắm nghiền, đầu óc rã rời; anh gục chiếc đầu trĩu nặng xuống đôi cánh tay bắt chéo trên bàn, và dần dần anh mất đi khái niệm về mọi sự vật chung quanh.
Mảnh trăng lưỡi liềm cuối tháng tỏa ánh sáng mờ mờ xuống chân trời, trên những hàng cây trong vườn. Đó là khoảng thời gian lạnh lẽo trước bình minh.
Những bóng người lặng lẽ luồn lách trong bụi rậm; và thỉnh thoảng ánh trăng làm một mẩu thép lấp lánh trong bóng đêm.
Tòa lâu đài tĩnh mịch vẫn vươn cao bóng dáng đen đúa của nó. Chỉ còn hai cửa sổ có đèn sáng ở tầng trệt.
Bỗng một giọng vang như sấm gào lên:
“Tiến lên! Mẹ kiếp! Xung phong! Quân sĩ!”
Rồi thì chỉ trong một chốc, các cửa nẻo, các tấm sáo và các cửa kính bị một đợt sóng người tràn vào, họ đập phá, đâm thủng tất cả và ùa vào ngôi nhà. Chỉ trong một chốc, năm mươi binh lính võ trang đầy mình, lao vào nhà bếp, nơi Walter Schnaffs đang yên ổn nghỉ ngơi, và họ chĩa năm mươi họng súng đã lên đạn vào ngực Walter Schnaffs, quật anh ngã xuống, xô anh lăn long lóc, rồi túm lấy anh, và trói anh từ đầu đến chân.
Anh thở khó nhọc vì kinh hoảng, đầu óc thộn ra nhưng không hiểu chi cả, anh bị đánh đập, bị nện bằng sung, và điên lên vì lo sợ.
Và chợt một người mặc quân phục to béo, mang đầy huy hiệu vàng rực trên ngực, nện bàn chân vào bụng anh và quát:
“Anh đã bị bắt làm tù binh, hãy đầu hàng đi”.
Anh lính Phổ chỉ nghe được một tiếng duy nhất: “tù binh” và anh rên lên: “Ya, ya, ya”.
Anh bị dựng dậy, bị cột chặt vào ghế, và bị xoi mói bởi một sự tò mò sôi nổi của những người chiến thắng, bây giờ họ đang thở phì phò như ống bễ. Nhiều người phải ngồi xuống vì rã rời do xúc động và mệt mỏi.
Anh mỉm cười, bây giờ anh mỉm cười, vì an tâm rằng cuối cùng anh đã trở thành tù binh!


3
Một viên sĩ quan khác bước vào và nói:
“Thưa Đại tá, quân địch đã tháo chạy; nhiều tên dường như bị thương. Chúng ta đã làm chủ chiến trường”.
Người mặc quân phục mập đưa tay lau trán, và gào lên: “Chiến thắng!”
Và ông ta móc túi ra một quyển sổ tay bán hàng và viết:
“Sau một cuộc chạm trán ác liệt, quân Phổ phải rút lui, mang theo nhiều đồng bọn bị giết và bị thương khoảng năm mươi tên bị loại ra khỏi vòng chiến. Nhiều tên khác bị bắt làm tù binh”.
Viên sĩ quan trẻ nói tiếp:
“Thưa Đại tá, bây giờ ta phải làm sao đây?”
Viên Đại tá trả lời:
“Chúng ta chuẩn bị rút lui, để tránh cuộc phản công có pháo binh và quân tiếp viện đông đảo”.
Và ông ta ra lệnh rút lui.
Đoàn người lại tập hợp hàng ngũ trong đêm tối, dưới chân tường tòa lâu đài, và lên đường, vừa đi vừa vây quanh Walter Schnaffs bị trói chặt, bị canh giữ, bởi sáu chiến sĩ súng ngắn lăm lăm trong tay.
Họ cử lính trinh sát đi dò đường trước. Họ thận trọng tiến lên, chốc chốc lại dừng quân.
Khi trời vừa hừng sang, họ tiến về thị trấn La Roche-Oysel, địa phương có đơn vị vệ quốc quân vừa hoàn thành chiến công ấy.
Đám dân chúng xôn xao và bị kích động, đang đứng đợi họ. Khi mọi người nhận ra chiếc mũ sắt của tên tù binh, nhiều tiếng reo hò khủng khiếp vang lên. Cánh đàn bà vung tay lên; các bà cụ thì khóc; một ông lão ném chiếc nạng vào tên lính Phổ và làm mũi một anh lính canh bị thương.
Viên Đại tá gào lên:
“Hãy bảo đảm an toàn cho tù binh”.
Cuối cùng, mọi người cũng đến được tòa thị chính. Cửa nhà tù mở ra, và Walter Schnaffs được cởi trói, và bị ném vào trong đó. Hai trăm người vũ trang đầy đủ canh gác chung quanh nhà giam.
Lúc ấy, mặc cho triệu chứng khó tiêu hóa đang hành hạ anh lính Phổ từ hôm qua đến nay, anh vẫn nhảy múa, lòng điên lên vì sung sướng, anh nhảy múa điên cuồng, vừa huơ chân múa tay, vừa la hét cuồng nhiệt, cho đến lúc anh kiệt sức ngã xuống dưới chân tường.
Anh bị bắt làm tù binh! Thoát rồi!
Lâu đài Charnpignet được giành lại từ tay kẻ thù như thế đấy, chỉ sau sáu giờ bị chiếm đóng.
Đại tá Ratier, thương gia bán chăn màn, người chỉ huy đội vệ quốc quân của thị trấn La Roche-Oysel, được ban tặng huân chương.


TRẦN THANH ÁI dịch

Kim Kỳ sưu tầm

 

 

Xem thêm...

Áo Dài Trong Thơ Và Nhạc

Related image

 HOÀI CẢM - Nhạc Cung Tiến - Ca sĩ Lệ Thu - BP 

Image result for áo dài trong thơ và nhạc

 

   Áo Dài Trong Thơ Và Nhạc   

Related image
 
Chiều nào áo tím nhiều quá / lòng thấy rộn ràng nhớ người...
Giọng hát trầm ấm, dìu dặt của Duy Trác cất lên đâu đó trong một ngày đầu thu gợi nhớ hình ảnh và nơi chốn thân quen trước “cổng trường áo tím” những chiều tan học. Áo tím túa ra như đàn bướm, áo tím thướt tha dọc theo những “lối đi dưới lá” trên lề đường Phan Thanh Giản, trên những đường phố Saigon ngập nắng. Những tà áo nhẹ bay trong gió từ lâu lắm đã đi vào thi ca, làm rung động lòng người và là nguồn cảm hứng vô tận của những người làm thơ, viết nhạc. Tà áo nên thơ ấy, dưới đôi mắt ngắm nhìn của người nghệ sĩ, là bức tranh sinh động với nhiều đường nét, nhiều dáng vẻ, thể hiện qua từng lời thơ ý nhạc:
Dưới mắt Phạm Đình Chương là “Áo bay mở, khép nghìn tâm sự...” (Mộng dưới hoa) 

Dưới mắt Vũ Thành là “Áo dài bay ngờm ngợp cả khung trời...”(Mùa kỷ niệm)

Dưới mắt Hoàng Dương là “Áo mầu tung gió chơi vơi...” (Hướng về Hà Nội)

Dưới mắt Trịnh Công Sơn là “Áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều...” (Tình nhớ)

Những vạt áo dài, từ lâu lắm, đã lất phất trong những trang thơ tiền chiến. Từ…
“Đôi tà áo lụa bay trong nắng” (Áo lụa, Bàng Bá Lân) đến…

“Nắng thơ dệt sáng trên tà áo
lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài” (Áo trắng, Huy Cận)

Áo dài cũng len cả vào những câu lục bát trữ tình của Nguyễn Bính:
“Hồn anh như bông cỏ may
một chiều cả gió bám đầy áo em” (Bông cỏ may)

Và len cả vào dòng thơ hào hùng và lãng mạn của Quang Dũng:
“Em đi áo mỏng buông hờn tủi
dòng lệ thơ ngây có dạt dào” (Đôi bờ)

Áo dài còn là giấc mơ thanh bình của những làng quê hiền hòa trong tình ca quê hương của Phạm Duy:

Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi / mơ thấy bên lề cuộc đời / áo dài đùa trong tiếng cười… (Quê nghèo) 

Áo dài lướt thướt như vạt áo của nàng Xuân trong thơ Trần Mộng Tú:
“Tôi gói xuân vào hai vạt áo

ngước nhìn mây trắng dạ mang mang” (Mẫu Đơn)
Áo dài bồng bềnh như dải trăng thu huyền ảo trong thơ Nghiêu Minh:
“Dấu thu kinh tự còn mê

Em mang tà áo bốn bề là trăng” (Thu vô lượng)
Kỷ niệm êm đềm về một tà áo, một đôi mắt huyền được Tô Vũ ghi lại bằng nét nhạc lâng lâng:
Em đến thăm anh / người em gái

Tà áo hương nồng / mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh…(Em đến thăm anh một chiều mưa)
“Ta ước mơ một chiều thêu nắng...”, nỗi “ước mơ” của chàng nhạc sĩ họ Tô ấy được vẽ lại trong những câu lục bát Trần Dạ Từ. Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm:
“Môi cười vết máu chưa se
cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền
Anh nằm nghe bước em lên
ngoài song lá động, trên thềm áo bay” (Khi nàng đến)

Áo bay làm gió lộng cả đường đi, làm… lay động cả trái tim chàng nhạc sĩ Tuấn Khanh:
Mỗi lần em về là gió lộng đường đi / Anh nhìn em bồi hồi trông theo tà áo… (Từ đó khôn nguôi)

Áo bay làm nhớ nhung, như nỗi nhớ da diết một mầu áo, một đôi môi thắm trong nhạc Từ Công Phụng:
Chiều nay nhớ em rồi / và nhớ áo em đẹp trời thơ / môi tràn đầy ước mơ… (Bây giờ tháng mấy)
Áo bay làm ngơ ngẩn, như chàng Huy Cận thuở mới lớn, trước cổng trường nữ sinh:
“Một hôm trận gió tình yêu lại
đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” (Học sinh)

Áo bay mất làm “cậu học trò” rụt rè Nguyên Sa phải hối tiếc vì một lời yêu chưa kịp nói: 
“Nàng đến gần tôi chỉ dám... quay đi
Tà áo khuất, thì thầm: ‘Chưa phải lúc’” (Tuổi mười ba) 

Áo bay trong nắng sân trường làm anh chàng làm thơ Kim Tuấn phải bâng khuâng:
“Áo chiều bay trong nắng
sân trường ai bâng khuâng” (Thu ở xa người)

Áo bay làm chàng thi sĩ đa tình Nguyễn Tất Nhiên phải thẫn thờ, dõi mắt nhìn theo mãi một tà áo vu quy:
“Đò qua sông chuyến đầu ngày
người qua sông mặc áo dài buông eo” (Chuyến đò Cửu Long)

Áo bay mịt mù theo gió theo mây, như cánh chim đã bay mất, như tình đã vụt bay trong thơ Như Thương:
“Thôi thì anh, cánh chim bay
Em tà áo mỏng theo mây nghìn trùng” (Vàng thu)

"Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong"
 
Áo trắng trinh nguyên tuổi học trò, áo trắng của “một thời áo trắng”, từng làm ngất ngây trái tim bao chàng trai, để đêm đêm trong giấc ngủ chập chờn còn trông thấy “áo ai bay trắng cả giấc mơ”.2
Áo trắng như dòng suối mát trong thơ Huy Cận:
“Dịu dàng áo trắng trong như suối
tỏa phát đôi hồn cánh mộng bay” (Áo trắng)

Áo trắng như lụa trắng trong thơ Hoàng Anh Tuấn:
“Áo em lụa trắng sông Hương
qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào” (Về chân trời tím)

Và trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:
“Đài các chân ngà ai bước khẽ
quyện theo tà lụa cả phương đông” (Tháng Giêng, chim)

Và trong thơ Kim Tuấn:
“Em về tà áo lụa
bay ngập ngừng trong anh” (Thu ở xa người)

Và cả trong thơ Nguyên Sa:
“Guốc cao, gót nhỏ, mây vào gót
áo lụa trăng mềm bay xuống thơ” (Tám phố Saigon)
Áo trắng như gió, như mây, để “nhà thơ của tình yêu” phải bâng khuâng:
“Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi, một phần mây?
Hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay?” (Tương tư)
Áo trắng của nhà thơ còn là dải sương mù lướt thướt trên bến sông Seine giữa kinh thành hoa lệ Paris, gợi nhớ một vạt áo dài mềm mại nơi chốn xa quê nhà:
“Anh về giữa một dòng sông trắng
là áo sương mù hay áo em” (Paris có gì lạ không em?) 
Áo trắng của Hoàng Thi Thơ là bướm trắng, là hoa trắng, là mây trắng…
Ngày nào em đến áo em mầu trinh / áo xinh là xinh
Áo em trong trời buồn / là gió / là bướm / là hoa / là mây chiều tà… (Hình ảnh người em không đợi)

Áo trắng một màu trắng thanh khiết trong nhạc Nguyễn Vũ:
Áo trắng em bay như cánh thiên thần… (Bài thánh ca buồn)

Áo trắng nhẹ bay trong chiều giáo đường trong nhạc Lê Trọng Nguyễn:
Tà áo trinh nguyên tung bay / nụ cười thân ái… (Chiều bên giáo đường)

Áo trắng một màu trắng xóa làm hoa cả mắt nhà thơ Hàn Mặc Tử:
“Áo em trắng quá nhìn không ra” (Đây thôn Vĩ Dạ)
Áo trắng như bài thơ trên những nhịp cầu chênh vênh đón bước ai qua trong thơ Y Dịch:
“Áo em trắng cả bài thơ
Cầu cong giữa nhịp chân chờ bước ai” (Tiễn đưa)

Áo trắng níu chân người trên đường phố dập dìu trong nhạc Phan Ni Tấn:
Nghe xôn xao thị thành / áo ai trắng bay mù lòng đường / làm rối bước anh về cõi thơ... (Sinh nhật của cây đàn) 

Áo trắng không còn bay trên những đường phố cũ trong nhạc Phạm Anh Dũng:
Xa xôi ngàn khơi đâu tà áo trắng / Duy Tân im lìm phố vắng / thương cây lá hoang tàn… (Nhớ Saigon)

Áo trắng xôn xao mùa tựu trường trong thơ Đoàn Vị Thượng:
“Sáng nay áo trắng tựu trường
gót chân cuống quýt cả hương cúc vàng” (Ánh mắt tựu trường)

Áo trắng lượn lờ như đôi cánh trắng trong thơ Luân Hoán:
“Tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn
trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh” (Trong sân trường bữa ấy)

Áo trắng trên đường lá me bay và ánh mắt trông theo trong thơ Trần Huy Sao:
“Đường em về vàng rụng lá me trưa
anh ngơ ngẩn vời theo màu áo trắng” (Áo trắng học trò)
Áo trắng ngày xưa nay trôi dạt về đâu, để lại nỗi tiếc nhớ trong thơ Ngàn Sau:
“Tôi về Ban-mê-thuột chiều mưa
em ơi áo trắng bây giờ ở đâu?” (Nhớ Ban Mê) 
Bao nhiêu là áo trắng trên sân trường kỷ niệm!…
Mỗi người đều cần có một mái trường để luyến tiếc, để nhớ về... Nhớ về ngôi trường cũ là nhớ về những người thầy, người bạn, nhớ về những lớp học, những giờ ra chơi, những tà áo mầu, áo trắng mềm mại và những tháng năm tươi đẹp nhất của một đời người.

  “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc"  
Áo bay như bướm lượn, áo bay như đàn bướm muôn mầu muôn sắc trong khu vườn mùa xuân. Áo bay nhiều quá, để chàng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm... thơ:
Hôm nay sao áo bay nhiều thế! / Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe mầu… (Tà áo cưới)
Áo mầu của Phạm Duy lất phất trong gió chiều như lòng người... phất phơ:
Xin cho em một chiếc áo mầu / cho em đi nhẹ trong nắng chiều
Một chiều nhiều người theo / ở ngoài đường trên phố / và lòng người như áo phất phơ… (Tuổi ngọc)

Nhớ về một mầu áo là nhớ về những đường phố quen tên, nhớ áo ai bay trong chiều trên những con đường ngập xác lá vàng, như nỗi nhớ ngút ngàn của Trịnh Công Sơn:
Nhớ Saigon những chiều lộng gió / lá hát như mưa suốt con đường đi
Có mặt đường vàng hoa như gấm / Có không gian mầu áo bay lên… (Em còn nhớ hay em đã quên)
Những tà áo muôn mầu muôn vẻ vẫn khoe sắc thắm trong những trang thơ và nhạc. Áo vàng trong thơ Nguyên Sa có khi là bông cúc vàng:
“Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc” (Tuổi mười ba)
Có khi là nắng thu vàng:
“Có phải mùa xuân sắp sửa về
hay là gió lạnh lúc đêm khuya?
hay là em chọn sai mầu áo
để nắng thu vàng giữa lối đi?” (Tương tư)

Áo vàng như cánh mai vàng trong nhạc Trần Thiện Thanh. Người lính trẻ thấy sắc hoa rừng, mơ về mầu áo năm xưa:
Những hôm vừa xong phiên gác chiều ven rừng kín hoa mai vàng
chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ… (Đồn vắng chiều xuân)

Người lính chiến trong nhạc Phạm Đình Chương cũng bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo, một đôi mắt người xưa:
Ngày hành quân anh đi về cánh rừng thưa / thấy sắc hoa tươi nên mơ mầu áo năm xưa
Kỷ niệm đầu len len trở về tâm tư / Có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ… (Màu kỷ niệm)

Tà áo màu xác pháo để lại nỗi buồn lắng đọng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên:
“Người qua sông mặc áo hường
Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều” (Chuyến đò Cửu Long) 
 “Áo em vạt tím ngàn sim
 nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ
Áo mầu tím, mầu của “định mệnh”, của mộng mơ, của nhớ nhung và chia cách. Chuyện tình “ngàn thu áo tím” của cô bé trót yêu màu tím, được Hoàng Trọng, “nhạc sĩ của mầu tím”, kể lại:
 
Ngày xưa xa xôi em rất yêu mầu tím...
Chiều xuống áo tím thường thướt tha / bước trên đường thắm hoa / ngắm mây trời lướt xa…
Rồi khi vừa biết yêu là khi chia tay với mầu tím, chia tay với tình đầu:
Ngàn thu mưa rơi trên áo em mầu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em mầu tím… (Ngàn thu áo tím)
 
Trong mắt Vũ Thành, “nhà thơ của mầu tím”, khi mùa thu buông áo xuống một phương trời, mầu mây tím trông như mầu áo người mình yêu để lòng chàng gợn lên nỗi buồn trăn trở:
“Áo em tím cả phương này
anh nghe thành phố đêm nay trở buồn” (Áo tím)
 
Vạt áo dài mầu tím hoa sim, trong thơ Phạm Thiên Thư, chỉ là thoáng lay động, vừa ngập ngừng e ấp vừa nao nức gọi mời:
“Áo em vạt tím ngàn sim
nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ
Yêu nhau từ độ bao giờ
gặp đây giả bộ hững hờ khói bay” (Động hoa vàng)
 
Rồi áo tím qua cầu, mang theo cả mùa thu, để lại nỗi trống vắng mênh mang trong lòng nhà thơ Trang Châu:
“Thế giới của anh không có chân trời
không có mùa xuân lấy đâu hoa bướm
không có bàn tay cho bàn tay hò hẹn
áo tím qua cầu nên cũng hết mùa thu” (Thế giới của anh)
Có những gặp gỡ rất tình cờ, bất chợt, như gặp gỡ một tà áo tím, cũng đủ để lòng chàng nhạc sĩ Hoàng Nguyên mãi vấn vương theo mầu áo:
Một chiều lang thang bên dòng Hương giang / tôi gặp một tà áo tím / nhẹ thấp thoáng trong nắng vương…
Rồi lòng bâng khuâng theo mầu áo ấy… (Tà áo tím)
 
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường
 
“Nhạc sĩ của mầu xanh”, danh hiệu ấy có lẽ thuộc về hai chàng nghệ sĩ Đoàn Chuẩn–Từ Linh chứ chẳng ai khác hơn:
 
Với bao tà áo xanh đây mùa thu… (Gửi gió cho mây ngàn bay)
Câu hát nghe như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát mùa thu, bát ngát màu xanh.
Trong những dòng kẻ nhạc của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy vẫn luôn luôn thấp thoáng một “tà áo xanh” và một “màu xanh ái ân”:
Tà áo xanh nào về với giấc mơ / Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu… (Thu quyến rũ)
“Trót”, như một định mệnh, buộc chặt người viết câu hát ấy với mầu xanh kia.
Hẹn một ngày nao khi mầu xanh lên tà áo… (Cánh hoa duyên kiếp)
Câu hát nghe như câu hẹn ước, như lời thề nguyền sắt son.
Khi nào em đến với anh / xin đừng quên chiếc áo xanh… (Tà áo xanh)
Còn lời dặn dò nào ân cần, thiết tha hơn thế nữa!
Nhớ về một mầu áo là “nhớ những giây phút êm đềm / nắng loang trên sân trường một chiều nào...” 4 Màu áo xanh trong thơ Nguyên Sa là màu cây cỏ xanh tươi trên sân trường phượng vỹ:
“Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường” (Tuổi mười ba)
 
Màu áo xanh trong nhạc Y Vũ & Nhật Ngân gợi nhớ một mái tóc, một tà áo thấm đẫm nước mưa:
Chiều xưa mưa rơi âm thầm / để thấm ướt chiếc áo xanh / và đẫm ướt mái tóc em… (Tôi đưa em sang sông)
 
Tà áo mầu xanh thắm của một “tiếng hát học trò” gieo vào lòng hai chàng nhạc sĩ Nguyễn Hiền, Minh Kỳ bao “niềm thương nhớ đầy vơi”:
Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ / Tà áo em xanh / mầu mắt ngây thơ… (Tiếng hát học trò)
Thiếu nữ vừa biết yêu trong nhạc Trần Thiện Thanh cũng bồi hồi khoác vào người chiếc áo mầu xanh da trời trong lần hò hẹn đầu tiên:
Biết anh thích mầu trời / em đã bồi hồi chọn mầu áo xanh…(Bảy ngày đợi mong)
Tà áo dài trong nhạc Nguyễn Văn Đông có màu xanh của rừng thông Đà Lạt một mùa nào Giáng Sinh:
Tà áo năm xưa xanh màu thông Đà Lạt… (Màu xanh Noel)
 
Áo xanh mộng mị còn bay cả vào trong thơ “trung niên thy sỹ” Bùi Giáng:
“Biển dâu sực tỉnh giang hà
còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh” (Áo xanh)
 
Áo xanh mộng mị của một thời quên lãng trong thơ Đinh Hùng:
“Trong vườn quên lãng áo ai xanh” (Dạ hội)
 
 Làm sao kể hết được câu chuyện về những vạt áo dài dịu dàng và thướt tha, những vạt áo dài lộng gió trong thơ và nhạc. Tà áo dài mềm mại đã nhẹ nhàng êm ái đến với cuộc đời, nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng người...
Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, dù ở chốn quê nhà gần gũi, hay ở phương trời nào xa thẳm, chiếc áo dài cũng mang theo bầu trời quê hương, cũng mang về mùa xuân ấm áp trong lòng người Việt tha hương. Chiếc áo dài còn là biểu tượng thân quen để người Việt nhận ra nhau trên bước đường lưu lạc trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người.
Thấy một vạt áo dài, thấy quê hương xa xăm mà gần gũi.
Qua bao mùa tang thương dâu bể, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, chiếc áo dài truyền thống, chiếc áo dài duyên dáng và trữ tình của người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn luôn là hình ảnh khó phai mờ và còn đọng lại mãi trong lòng người. 
 
     Lê Hữu    
------
Những cô gái trẻ xinh đẹp như những bông hoa mùa xuân, dạo phố, tươi cười với nhau tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp. Mời các bạn cùng ngắm Ảnh Đẹp Thiếu Nữ Áo Dài. 
ao-dai-du-xuan-2 ao-dai-du-xuan-3 ao-dai-du-xuan-4 ao-dai-du-xuan-5 ao-dai-du-xuan-6 ao-dai-du-xuan-7
ao-dai-du-xuan-8
ao-dai-du-xuan-9
ao-dai-du-xuan-10
ao-dai-du-xuan-11
  ao-dai-du-xuan-13 ao-dai-du-xuan-14
ao-dai-du-xuan-15
ao-dai-du-xuan-16
  ao-dai-du-xuan-18 ao-dai-du-xuan-19
ao-dai-du-xuan-17
ao-dai-du-xuan-20
ao-dai-du-xuan-12
áo dài du xuân
ao-dai-du-xuan-22   ao-dai-du-xuan-24 ao-dai-du-xuan-25 ao-dai-du-xuan-26 ao-dai-du-xuan-29 ao-dai-du-xuan-30 ao-dai-du-xuan-31 ao-dai-du-xuan-32
ao-dai-du-xuan-33 ao-dai-du-xuan-34 ao-dai-du-xuan-35 ao-dai-du-xuan-36 ao-dai-du-xuan-37   ao-dai-du-xuan-39 
   Tê Hát sưu tầm tổng hợp   

Ảnh minh họa

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này