Văn học

Văn học (97)

THI TẬP NỬA ĐỜI THƯƠNG ĐAU: THI SĨ HOÀNG VŨ BÃO TẶNG ĐIỆP MỸ LINH

Thi Tập Nửa Đời Thương Đau

  Thi Sĩ Hoàng Vũ Bão Tặng Nhà Văn Điệp Mỹ Linh

 
 
Thi Tập Nửa Đời Thương Đau
Thay Lời Tựa
 
 
Vào một đêm Xuân, năm 1999, tình cờ tôi đọc được những vần thơ của chính tôi, bút hiệu Hoàng Việt Sơn, sáng tác cách nay đúng 43 năm, xuất hiện trong Tùy Bút Tưởng Như Trở Về của Điệp Mỹ Linh, đăng trên bán nguyệt san Ngày Nay.
 
Đọc xong, tôi lặng người, cảm nhận được những xao xuyến rạc rào, những rung động bồi hồi, những ray rức triền miên cùng những nuối tiếc xót xa trong gần nửa thế kỷ qua, bỗng cuốn cuộn dâng cao trong lòng tôi. Cùng lúc đó, hình ảnh Nguyễn Bá Liên, người bạn thân từ ngày bé thơ cho đến khi Liên tử trận trong chức vụ Tư Lệnh Biệt Khu 24 Ben Hét, Vùng II Chiến Thuật và được truy thăng cấp bậc Cố Chuẩn Tướng, hiện về rất rõ nét!
 
Khi hình ảnh của Nguyễn Bá Liên hiện về thì mối tình cảm sôi nổi, nồng nàn và thánh thiện của một thanh niên mới lớn lại bừng lên ngùn ngụt, gợi lại trong tôi một kỷ niệm không bao giờ phai nhạt của đêm Trung Thu năm 1956, tại căn cứ Sóng Thần, Tiểu Đoàn I Thủy Quân Lục Chiến mà Nguyễn Bá Liên là Tiểu Đoàn Phó.
 
CĂn CỨ SÓng ThÀn Tqlc1
 
Đêm Trung Thu năm 1956, trong phần văn nghệ ủy lạo binh sĩ, Liên mời được Ban Ca Nhạc Bình Minh đài phát thanh Nha Trang cùng nhóm học sinh trường Võ Tánh đến giúp vui. Trong khi thưởng thức phần văn nghệ, tôi đã bàng hoàng đến ngẩn ngơ và tim tôi đập những nhịp không đều khi thấy khuôn mặt xinh đẹp, thùy mị và nghiêm trang cùng tiếng đàn Accordéon dìu dặt và giọng hát ngọt ngào của một thiếu nữ có mái tóc dài và đôi mắt màu hạt dẻ, rất buồn.
 
Tôi chưa tìm được cơ hội làm quen với Nàng thì Nàng lẳng lặng theo thân phụ ra về!
Đêm đó, sau khi về nhà Liên, tôi không thể ngủ được; vì hình ảnh Cô Bé Tóc Dài đàn phong cầm cứ chờn vờn trong tâm tưởng tôi. Tôi thao thức, trằn trọc thâu đêm và bài thơ Tiếng Đàn Đêm Trung Thu ra đời.
 
Hôm sau tôi phải rời Nha Trang để tiếp tục việc học tại Y Khoa đại học đường Saigon. Liên đã sao bài thơ Tiếng Đàn Đêm Trung Thu làm ba bản và trao tận tay ba thiếu nữ có tên trong bài thơ.
 
Tôi mong chờ suốt thời gian dài vẫn không nhận được dòng hồi âm nào từ Cô Bé Tóc Dài đàn phong cầm. Dù đã nghe xướng ngôn viên giới thiệu tên Nàng là Thanh Điệp, tôi vẫn thích gọi Nàng là Cô Bé; vì lúc đó Nàng là thiếu nữ trẻ tuổi nhất trong ban Bình Minh cũng như trong nhóm học sinh giúp vui.
 
Sau này, mỗi khi nghe tôi hỏi về Cô Bé Tóc Dài, Liên thường bảo: “Người ta con nhà gia giáo, khó khăn lắm! Cậu ‘tấn công’ tới tấp, không được đâu!”
Bốn mươi ba năm sau, bằng những giòng văn óng ả, mượt mà, nhà văn Điệp Mỹ Linh đã làm sống lại trong tôi nhân dáng oai hùng của Nguyễn Bá Liên; và rồi hình ảnh ngây thơ, dịu dàng, thướt tha của Cô Bé Tóc Dài đàn phong cầm ngày xưa cũng trở về, khuấy động tâm tư tôi rất dữ dội! Đó là nỗi niềm u uẩn đã thúc đẩy tôi sáng tác những giòng thơ sướt mướt trong tập thơ Nửa Đời Thương Đau.
 
Đối với tôi, phụ nữ là tác phẩm diễm tuyệt nhất của Thương Đế. Rung động, say mê và ca ngợi là thiên tính của nghệ sĩ. Vì thế, tôi nghĩ, bất cứ trong hoàn cảnh nào, sáng tác những giòng nhạc, những bài thơ hoặc những mẫu chuyện chan chứa tình cảm về một phụ nữ tài hoa cũng không phải là điều nghịch lý.
 
Trước khi dừng bút, tôi xin mạn phép quý vị độc giả để tạ lỗi cùng quý bạn hữu của tôi; bởi vì, từ sau khi tôi vượt thoát ngục tù Cộng Sản rồi vượt biên đến Mỹ, tôi chỉ thích cuộc sống thầm lặng. Nhưng lúc nào các bạn cũng khuyến khích tôi, mong tôi tạo được ít nhất một tác phẩm xuất bản tại hải ngoại.
 
Năm 1988, tôi đã hoàn tất tập thơ Lênh Đênh và truyện dài Đêm Vượt Biên, mang tính cách tự truyện. Nhưng vì nhiều lý do bất khả kháng, tôi đành phụ lòng bạn hữu của tôi.
Bây giờ tôi xin trân trọng gửi đến quý độc giả cùng quý bạn hữu tập thơ Nửa Đời Thương Đau với tất cả lòng quý mến của tôi.
 
Trân trọng,
 
Hoàng Vũ Bão
 
 
=
 
 
 

Tùy Bút: Tạ Lỗi Với Người Thơ – ĐIỆP-MỸ-LINH

    • ĐIỆP-MỸ-LINH

    Để tưởng niệm nhà văn Phụng-Hồng tức nhà thơ Hoàng-Việt-Sơn, Hoàng-Vũ-Bão và Cố Chuẩn Tướng Nguyễn-Bá-Liên

    Hình do anh Hà-Quang-Đức – người đàn Hạ-Uy-Cầm, ngồi giữa, hàng đầu – gửi nhà văn Lê Thị Hoài Niệm đem về Mỹ tặng Điệp-Mỹ-Linh. Hình gồm một số nhạc công trong ban Bình Minh; lúc ấy Điệp-Mỹ-linh khoảng 13/14 tuổi.

     

    Tình cờ gặp lại Thúy-Minh – người bạn ngày xưa cùng học trường Võ-Tánh và cũng cùng sinh hoạt trong ban ca nhạc Bình-Minh đài phát thanh Nha-Trang – Thanh-Điệp mừng quá, hỏi hết chuyện này sang chuyện khác. Vừa trả lời được vài câu, Thúy-Minh đột ngột bảo:

    – Anh Hoàng-Việt-Sơn chết rồi, Thanh-Điệp biết chưa?

    Sau giây phút kinh ngạc đến sững sờ, Thanh-Điệp rơi vào trạng thái ngờ vực và chối bỏ. 

    – Anh Hoàng-Việt-Sơn làm sao mà chết được?

    Thúy-Minh lập lại “Chết rồi!”

    Sau đó, để kiểm chứng, Thanh-Điệp điện thoại cho người bạn của Hoàng-Việt-Sơn – bác sĩ Thuận. Bác sĩ Thuận, không những xác nhận tin dữ, mà còn cho nàng biết rõ Hoàng-Việt-Sơn mất vào ngày thứ Năm, vì bệnh tim. 

    Nửa tin nửa ngờ, Thanh-Điệp điện thoại sang Ngọc-Hoài-Phương, người bạn thân của Hoàng-Việt-Sơn và cũng là chủ nhiệm nguyệt san Hồn-Việt mà Hoàng-Việt-Sơn cộng tác thường xuyên, dưới bút hiệu Phụng-Hồng. Ngọc-Hoài-Phương không có ở tòa soạn. 

    Thanh-Điệp gọi Phương-Dung, vợ của Ngọc-Hoài-Phương, những mong Phương-Dung sẽ cho nàng nguồn tin trái ngược với những gì nàng đã nhận được. Nhưng không, Phương-Dung xác nhận đúng, Hoàng-Việt-Sơn đã vĩnh viễn ra đi. Thanh-Điệp thảng thốt kêu lên: “Ô! Trời ơi!” Rồi nàng không nghe được gì nữa. Thanh-Điệp cảm thấy mất thăng bằng và tưởng như đang bềnh bồng trong vùng không gian câm nín.

    Thanh-Điệp không nhớ trạng thái giao động tình cảm của nàng kéo dài trong bao lâu; nhưng nàng nhớ, năm 1999, sự thích thú nhẹ nhàng cứ lan dần, lan dần trong lòng nàng khi bất ngờ nàng đọc được bài điểm sách – ký bút hiệu Phụng-Hồng – viết về tác phẩm Tưởng Như Trở Về của nàng, đăng trên báo Ngày Nay, do giáo sư Nguyễn Ngọc Linh là chủ nhiệm và Trọng-Kim làm chủ bút. 

    Sự xuất hiện của bài điểm sách cũng như bút hiệu Phụng-Hồng khiến Thanh-Điệp thắc mắc. Với dụng ý truy tìm chi tiết để dò ra manh mối tác giả bài điểm sách, Thanh-Điệp đọc lại bài ấy thật kỹ. Nàng khám phá ra, Phụng-Hồng là một bút hiệu khác của Hoàng-Việt-Sơn – vị bác sĩ Quân-Y, lúc còn là sinh viên, đã nhờ Trung-Úy Thủy-Quân Lục-Chiến Nguyễn-Bá-Liên, trao tặng Thanh-Điệp bài thơ Tiếng Đàn Đêm Trung Thu, cách nay hơn 40 năm. Thanh-Điệp cảm thấy rất thú vị, nhưng nàng chưa biết phương cách nào để liên lạc với Phụng-Hồng.

    Vài hôm sau Thanh-Điệp nhận được thư Hoàng-Việt-Sơn gửi về P.O. Box – địa chỉ này được in phía sau tác phẩm của nàng – tự nhận chàng là “thủ phạm” của bài thơ Tiếng Đàn Đêm Trung Thu năm xưa và cũng là “thủ phạm” bài điểm sách đăng trên Ngày Nay. Hoàng-Việt-Sơn yêu cầu Thanh-Điệp xác định có phải nàng là “cô bé” đàn phong cầm và hát bản Dạ-Khúc của Nguyễn-Mỹ-Ca trong buổi văn nghệ ủy lạo binh sĩ Thủy-Quân Lục-Chiến do tiểu đoàn phó Nguyễn-Bá-Liên, bạn thân của Hoàng-Việt-Sơn, mời, vào đêm Trung-Thu năm 1956, tại căn cứ Sóng-Thần, Nha-Trang hay không? 

    Là một người ngoại giao không được khéo, ít bạn, nay tìm lại được một người biết nàng từ ngày còn bé, Thanh-Điệp vui thích lắm. Còn bài thơ ngày xưa Hoàng-Việt-Sơn tặng mà nàng ngây thơ, khờ dại không hồi âm thì, nàng nghĩ, đó chỉ là những rung động nhất thời của chàng, một người có tâm hồn đa cảm. Giờ đây giữ cho nhau chút tình bạn cũng quý rồi. Nhưng chàng không nghĩ như vậy! Sau khi nhận được sự xác nhận của Thanh-Điệp, Hoàng-Việt-Sơn gửi ngay cho nàng những dòng thơ rất tha thiết, rất ngọt ngào:

     Anh thấy hôm nào chiếc ảnh em,

    In trong bìa cuốn sách êm đềm.

    Nhớ ai em thoáng buồn xa vắng?

    Mắt ướt như từng đẫm lệ hoen.

     Người ấy ngày xưa nét mặt buồn,

    Tuổi đời trong trắng tựa sao trăng,

    Yêu đương nào biết, thơ ngây quá!

    Nửa thế kỷ rồi chẳng nói năng.

    Người ấy ngày xưa quá hững hờ,

    Vô tình nào hiểu được bài thơ,

    Để chàng thiếu úy Quân-Y ấy,

    Năm tháng phôi pha cũng vẫn chờ… (1)

    Thanh-Điệp hơi hoảng, chưa biết phản ứng bằng cách nào thì Hoàng-Việt-Sơn gửi tiếp bài Em Là Ai với những câu thật dễ thương:

    … Anh nhìn Em mà tưởng chừng sẩy bước,

    Mái tóc dài buông lơi lả bờ vai.

    Ai hai mươi đi hái vạn hoa cười?

    Anh lẻo đẻo mang tâm tư sầu đắng.

    Em mắt nâu, nhìn xa xăm im lặng,

    Anh sững sờ nghe động đáy con tim…

    Thanh-Điệp viết thư và không hề “úp mở” gì cả, cho Hoàng-Việt-Sơn biết rằng nàng không còn được một tý gì của hình ảnh mà chàng vẫn giữ trong lòng suốt gần nửa thế kỷ qua. Xin hãy quên hết đi và xem nàng như một người em hay một cô học trò thôi. Hoàng-Việt-Sơn phúc đáp bằng bài Mối Tình Đầu:

     Cho anh sống lại mối tình đầu,

    Xa cách nghìn trùng vẫn nhớ nhau.

    Họp mặt trăng rằm Trung Thu ấy

    Phong cầm Dạ Khúc chuyện xưa, sau.

    Cho Anh sống lại mối tình đầu,

    Nửa thế kỷ qua vẫn gối sầu.

    Tình hận tưởng chôn vào dĩ vãng,

    Bỗng về sống lại tựa chiêm  bao.

    Cho Anh sống lại mối tình đầu,

    Em đã vô tình đốt cháy sâu.

    Nao nức mộng mơ ngày tái ngộ.

    Dòng thơ thủ thỉ nén thương đau.

    Cho Anh sống lại mối tình đầu,

    Ai có ngờ đâu, có biết đâu,

    Thanh-Điệp ngày xưa như bướm lạ,

    Hững hờ… thơ đọc, chẳng tìm nhau.

    Cho Anh sống lại mối tình đầu,

    Lưu luyến ngàn đời, mặc bể dâu.

    Ai đã lạnh lùng khuya đối bóng?

    Trời ơi! Em có biết Anh cầu…!

    Đọc xong bài thơ này Thanh-Điệp biết vấn đề sẽ vượt ra ngoài những gì nàng dự tưởng. Theo nàng hiểu, viết văn xuôi, người giàu óc sáng tạo có thể gán ép cho nhân vật của mình bất cứ điều gì mình chọn lựa; ngược lại, thơ thường xuất phát từ nội tâm. Và chính  J. Cocteau cũng xác nhận: “The Poet is a liar who always tell the truth.” Như vậy có nghĩa rằng Hoàng-Việt-Sơn vẫn còn nặng lòng với nàng? 

    Riêng Thanh-Điệp, nàng không đủ can đảm cự tuyệt – vì chàng chỉ tặng nàng những bài thơ ướt lệ chứ chàng không hề vô lễ hoặc sàm sở, lố bịch – mà nàng cũng không tìm được chút rung động nào trong lòng nàng. Thanh-Điệp tự biết, nàng không phải là nữ tu; nàng cũng không bị ràng buộc vì mớ đạo đức nghịch lý của ông Khổng, ông Mạnh, ông Trang, ông Lão nào cả; và, quan trọng hơn hết, nàng không bao giờ dám có ý nghĩ Hoàng-Việt-Sơn là một “vỏ dừa” (2) đáng sợ. Vậy thì tại sao trái tim của nàng cứ chai lỳ đến nỗi Hoàng-Việt-Sơn phải trách:

    … Em hững hờ xa lạ,

    Mặc ai da diết buồn.

    Em lạnh lùng sắt đá,

    Anh ép dòng lệ tuôn (3)

    Những hờn trách và chút tủi thân của Hoàng-Việt-Sơn khiến Thanh-Điệp nghĩ ngợi rất nhiều. Nhưng nỗi buồn cô đọng trong bốn câu sau đây mới làm ray rức hồn nàng: 

    …Chiều xuống, sầu dâng đến não lòng,

    Mịt mờ Texas  vẳng thu không.

    Vời trông lá rụng sầu đôi ngã,

    Dằn vặt tâm tư lệ nhỏ dòng (4)

    Sau những giây phút buồn, tủi thân và hờn trách, Hoàng-Việt-Sơn trở về với bản tính lạc quan/yêu đời: 

    Ôi, trái tim em đẹp bội phần!

    Người tên Thanh-Điệp bướm vườn xuân.

    Đêm nay gió lạnh giao mùa chuyển,

    Anh nhớ em mà nước mắt dâng.

    Em đã cho anh ý nghĩa đời,

    Cung đàn năm ấy còn chơi vơi.

    Thế tình đã mấy ai tri kỷ?

    Anh quyết theo em trọn kiếp người.

    Kiếp người chờ mãi ngàn thương nhớ,

    Nửa thế kỷ rồi lắm bể dâu.

    Cố nhân còn dệt cung đàn cũ?

    Gieo mãi cho ta một mối sầu!…. (5)

    Khi những câu thơ đậm tình như thế mà cũng vẫn không chinh phục được trái tim của nàng thì Thanh-Điệp hiểu. Tim của nàng, sau nhiều thương tổn nặng nề, nay đã cằn cỗi, tật nguyền, chỉ còn đủ khả năng cho nàng sự sống chứ không còn biết rung động trước bất cứ biến động tình cảm nào nữa cả!

    Khi đăng thơ trên báo, Hoàng-Việt-Sơn – lúc này chàng có thêm bút hiệu Hoàng-Vũ-Bão – thường đề: Trọn vẹn trao về Cô Bé Tóc Dài T. Đ. Hoặc viết tắt Đ.M.L. Khi điện thoại, đôi khi Hoàng-Việt-Sơn gọi nàng bằng tên thật hoặc Nàng hoặc Phu Nhân Một Thời Oanh Liệt. Biệt danh sau cùng chàng đặt cho nàng sau khi chàng đọc loạt bài nàng viết về Lính và về Hải Quân.

    Thanh-Điệp gửi thư cảm ơn chàng về những bài thơ và hỏi đùa rằng tại sao chàng lại theo đuổi mãi “mối tình đui”? Thanh-Điệp là người rất lười viết thư và viết thư rất dỡ, vậy mà chàng cũng rung động vì cái dỡ của nàng: 

    … Em viết sao mà lắng nỗi niềm

    Tâm  tình giao động giữa trời im

    Đọc rồi đau xót, lòng da diết

    Chia cách, Trời ơi! Lạnh ước nguyền.

    Ôi mộng vô cùng, Điệp thiết tha

    Yêu Em biết mấy nẽo quê nhà

    Giá mà đời chẳng chia sông núi

    Có phải tình ta đã mặn mà?…

    ….Anh dẫn Em về lối mộng xưa

    Mà Em hờ hững vô tình chưa?

    Khói hương đầm ấm nào đâu thấy,

    Chỉ thấy phai tàn bóng tuổi thơ!

    Anh dắt Em về quá khứ qua,

    Trường xưa Võ-Tánh mộng hiền hòa.

    Cho Em đôi cánh hồn nâng bổng

    Đến một phương trời Anh tặng hoa…

    ….Nhắc đến làm chi tương nhớ thêm,

    Ngày xưa tưởng nhớ mộng êm đềm.

    Hỡi ơi! Cô Bé Tóc Dài ấy,

    Sao quá vô tư đến độ hiền?

    Cả một trời thơ đọng bóng Em

    Làm sao thố lộ được nỗi niềm?

    Anh mong có lại ngày Thu ấy

    Để hát Trung-Thu bóng nguyệt chìm.

    Hy vọng ngày mai có mãi nhau.

    Chiếc cầu ô-thước sẽ bền lâu.

    Cùng nhau đi mãi trên cầu ầy.

    Anh sẽ yêu Em đến cuối đời! (6)

    Biết không thể nào thuyết phục được Hoàng-Việt-Sơn, Thanh-Điệp viết một truyện ngắn, trong đó nàng trích thơ của chàng và cũng để cho chàng thấy rõ ước muốn của nàng là chỉ mong làm một người em hoặc một người học trò của chàng thôi; mà thật sự Thanh-Điệp quý Hoàng-Việt-Sơn như một bậc thầy; vì chàng cầm bút từ khi nàng còn là Cô Bé Tóc Dài. 

    Trong ý nghĩ này, nhân lúc Hoàng-Việt-Sơn điện thoại thăm, Thanh-Điệp đề nghị, từ nay chàng đọc hộ và góp ý về bài của nàng trước khi nàng gửi đăng báo. Dù Thanh-Điệp không tiết lộ nội dung bài viết, Hoàng-Việt-Sơn cũng thẳng thắn từ chối. Chàng bảo chàng có cái thú riêng khi nghiền ngẫm từng chữ trong bài của nàng, trên báo, chứ không phải trên bản thảo.

    Vì Hoàng-Việt-Sơn không chịu đọc bản thảo cho nên khi chàng đọc một truyện ngắn của nàng trên báo, chàng rất buồn về đoạn kết. Chàng than: 

    -Sao Điệp nghiệt với anh quá vậy?

    Im lặng. Chàng tiếp: 

    -Phục nàng quá. Nàng cứ ‘lộng giả thành chân’, viết như thật. Anh mà được cùng em ngoạn cảnh bằng thuyền trên hồ Tuyền-Lâm và đi bên nhau trên thành phố Dalat trong cảnh tình tứ như nhân vật Phong đi với Bảo-Trân trong truyện của em thì rồi có chết anh cũng mãn nguyện.

    -Anh nói quá đáng. 

    -Em đa nghi chứ thật lòng anh chỉ mơ ước được đường đường chính chính đi cạnh em thôi.

    -Điệp đã thưa với anh nhiều lần rồi. Đừng đề cập đến chuyện ấy nữa. Anh thử xử sự với Điệp như với một cô học trò, rồi anh sẽ quen và anh sẽ thấy dễ chịu.

    -Anh không muốn làm thầy; anh chỉ muốn làm người yêu của em thôi.

    -Điệp đâu còn gì cho anh. Thôi, quên hết đi, anh!

    -Anh yêu Điệp là vì Điệp mà thôi chứ anh không yêu Điệp vì những gì Điệp có hoặc những gì Điệp mất.

    -Nếu anh cứ tiếp tục nói những câu như vậy, Điệp e rằng…

    Như ngại nàng sẽ nói lời cự tuyệt, chàng chận lời: 

    -Ừ, thì thôi. Rứa cho anh gặp mặt một lần, được không?

    -Dạ, không.

    -Chao ôi! Không ngờ từng này tuổi rồi mà anh cũng còn khổ vì tình! Đừng nghiệt với anh quá, Điệp ơi!” 

    -Anh nhớ ý tưởng của Bảo-Trân trong câu chuyện em viết chứ?

    -Ít có chi tiết nào trong những tác phẩm của em mà anh quên lắm.

    -Vậy thì anh nên hiểu cho Điệp. Điệp rất thương thân phận đàn bà. Điệp không đan tâm gây phiền lụy cho bất cứ người đàn bà nào cả.

    -Chuyện gia đình của anh, để anh giải quyết. Anh chỉ cầu mong được sống với em những ngày còn lại của đời anh thôi.

    -Điệp không thể làm như vậy được. Điệp sợ tạo ra ác nghiệp. Ác nghiệp sinh ác báo. Không biết quan niệm đó có phù hợp với giáo lý nhà Phật hay không; nhưng quan niệm đó, trong quá khứ, đã nhiều lần giúp Điệp gượng lại được bên nay bờ tội lỗi.

    -Hai đứa mình có làm gì tội lỗi đâu. Em là người đến trong đời anh trước nhất. Em đã thiệt thòi hơn bốn mươi năm rồi. Bây giờ là lúc anh phải đền bù cho em những gì em đã mất. Không ai trách anh được, vì bổn phận và trách nhiệm của anh đã xong.

    -Không được đâu, anh. Anh chọn Điệp, anh sẽ mất các con; Điệp chọn anh, Điệp cũng sẽ mất các con. Chúng ta còn lại gì khi mà chúng ta mất từng ấy người thân? 

    Im lặng.  Một lúc sau, chàng bảo: 

    -Chính ý  tưởng của em làm anh quý trọng và thương yêu em nhiều hơn. Từ ngày liên lạc lại được với em, qua những lần nói chuyện hoăc những lá thư, anh biết tâm hồn em rất cao thượng; vì vậy, những bài thơ anh sáng tác về em có sai đâu!

    Bất chợt Hoàng-Việt-Sơn nhớ đến chi tiết nhỏ của nhân vật Bảo-Trân, vội hỏi. Thanh-Điệp có một cố tật, nếu không ai hỏi, nàng không nói; nhưng nếu ai hỏi, nàng nói và khi nói thì nói thật. Do đó nàng đành phải cho Hoàng-Việt-Sơn biết là nàng đang trong thời kỳ chờ đợi kết quả thí nghiệm y tế, sau dấu hiệu nghi ngờ ở lần thí nghiệm trước. Giọng chàng thảng thốt: 

    -Trời ơi! Tại sao những chuyện như vậy mà em không cho anh hay?

    -Đã có gì đâu!

    -Chưa bao giờ anh muốn được gặp em như lúc này. Anh xốn xang vô cùng, Điệp biết không? Mấy mươi năm qua anh đã không lo lắng được cho em; bây giờ em trong tình trạng như vậy mà anh cũng không được cận kề săn sóc em. Em không thương yêu anh, đó là quyền của em; còn anh thương yêu em, tại sao em cứ tránh né?

    -Thôi anh ạ! Điệp cảm ơn anh nhưng tất cả đều quá muộn màng!

    -Anh sẽ qua thăm em.

    -Đừng, anh!

    -Em không cho anh gặp em thì anh sẽ… thấy em.

    -Bằng cách nào?

    -Bằng cách nào thì bằng, anh cũng phải… thấy em.

    -Anh sẽ thấy Điệp trong nhà thương, có phải không? Nếu đúng như vậy thì tội cho Điệp quá! Thôi, anh đừng nuôi ý định gặp Điệp nữa.

    -Anh không hiểu được em. Và anh cũng không hiểu tại sao em dành cho anh hình phạt vô lý như thế này?

    Nàng trấn an chàng mà cũng như để trấn an cho chính nàng: 

    -Cho đến giờ phút này chưa bác sĩ nào xác định được bệnh trạng của Điệp mà anh lo làm chi.

    -Người ta bảo rằng “những điều mình biết sẽ không giết mình mà chính là những điều mình không biết, bởi vì mình tưởng tượng” (7) đó, em biết không.

    Nàng cố tình chuyển đề tài cho nên chọc “quê”:

    -Sao anh đọc Reader’s Digest mà anh nhớ hay vậy?

    -Nói cái chi ra là nàng biết xuất xứ liền. Reader’s Digest vẫn gửi báo cho em đều chứ?

    -Dạ. Cảm ơn anh.

    -Anh đã gia hạn cho năm tới rồi. Em không cần điền phiếu cảm ơn gửi lại cho anh nữa, để thì giờ mà sáng tác. 

    Nàng rất biết ơn chàng. Hoàng-Việt-Sơn khuyên nàng, đã lỡ bỏ đàn bỏ hát lâu rồi thì thôi; còn viết thì, dù hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu nàng cũng phải vượt qua, đừng bao giờ bỏ. Chàng buộc nàng hứa.

    Hoàng-Việt-Sơn chuyển lời thăm hỏi các con của Thanh-Điệp. Đang vui thích nói về những bài thơ bằng Anh ngữ do con của nàng sáng tác mà chàng đã dịch ra Việt ngữ chợt chàng dừng lại, hỏi: 

    -Điệp! Các con của em có biết chuyện của…hai đứa mình không?

    -Chết! Anh nói như vậy là chết Điệp rồi! Có chuyện gì giữa anh và Điệp ngoài chuyện văn chương, anh em, thầy trò đâu mà anh gọi là chuyện hai đứa mình?

    -Thôi thì chuyện của anh. Chao ôi! Tưởng lâu lâu, lựa những lúc nàng sơ ý, mình “tấn công”, rứa mà nàng cũng “phản công” nhanh quá. Mà Điệp ơi! Anh nghĩ, em nên cho con em biết về anh.

    -Tại sao và để làm gì, thưa anh?

    -Để các con em hiểu anh và chấp nhận anh. Em cho các cháu biết rằng không bao giờ anh lùi bước. Anh sẽ vượt qua tất cả mọi thử thách để đạt cho được ước muốn cuối cùng. Bất cứ hậu quả như thế nào anh cũng sẵn sàng chấp nhận.

    -Các cháu chấp nhận anh để làm gì? Khổ quá! Mới cách đây vài phút Điệp đã thưa với anh là anh đừng nên đề cập đến những điều như vậy nữa mà!

    -Không cho nói về chuyện đó nữa thì anh nói về một tin vui. Cách nay mấy hôm anh đã gửi bản thảo tập thơ sang Cali. nhờ Ngọc-Hoài-Phương ấn hành để tặng em.

    -Sao anh không cho Điệp biết trước?

    -Thơ của anh, anh ấn hành để tặng em, em chỉ có việc nhận thôi chứ em biết trước để làm gì?

    -Dạ, đúng vậy! Nhưng nếu anh cho Điệp xem trước thì Điệp sẽ vui hơn. Bây giờ muộn rồi thì thôi.

    -Không, không trễ đâu. Anh sẽ gửi bảng copy sang em cùng với mấy bài thơ vừa mới sáng tác, chưa kịp gửi đăng báo.

    -Ủa, như vậy là mấy bài thơ mới này sẽ không có trong tập thơ hay sao, thưa anh? 

    -Anh sẽ gọi Ngọc-Hoài-Phương xem “chàng ta” có thể cho vào trước khi in hay không.

    Nhận được copy bản thảo, Thanh-Điệp thấy, ngoài những bài thơ mới, Hoàng-Việt-Sơn còn kèm theo cuốn kinh Bạch-Y Thần-Chú, với dòng chữ: “Thân mến tặng Thanh-Điệp chút linh thiêng để phòng thân lúc nguy biến”. Chàng cũng viết trong thư dặn mỗi ngày nàng nên trì chú niệm kinh thì mọi hoạn nạn đều qua. Nàng đọc mấy bài thơ mới. Bài Về Muộn có nhiều câu chàng trách nàng:

     … Em vẫn vô tình như vạn thuở.

    Có bao giờ thông cảm với anh đâu!

    Em thắc mắc, hững hờ, xa lạ quá!

    Anh ngây thơ mơ mãi mối tình đầu…

    Thơ của Hoàng-Việt-Sơn không cầu kỳ, không trau chuốc, nhưng thơ của chàng gói ghém một tấm lòng. Trong bài Phong Cầm Năm Ấy tâm tư của chàng cũng vẫn còn vướng mắc vào mối tình đơn phương. 

    … Tơ đồng thuở ấy rồi im bặt,

    Để một người xa lạnh nẽo về.

    Hiu hắt phương trời hoa úa nhạt:

    Tương tư Thanh-Điệp buồn trong mê…

    Rồi chàng lại trách nàng: 

    … Dòng thơ cũ, cung đàn xưa réo rắc,

    Làm tim Anh máu vỡ trào quặn thắt.

    Nửa đời người sao duyên nợ còn đeo?

    Em vô tư ngoảnh mặt chẳng buồn theo.

    Tình da diết như ngại ngùng Đưa Tiễn (8)

    Em vô tình, tàn nhẫn cười không tiếng…  (9)

    Đến một lúc nào đó, Hoàng-Việt-Sơn cũng cảm thấy trong lòng gợn lên chút dỗi hờn. Nhưng chỉ một thoáng sau, tình cảm của chàng lại lắng xuống, để quay về một tình yêu đằm thắm nhưng muộn màng. 

    … Ai Đưa Tiễn để lòng ai thổn thức? (8)

    Thôi, bến ơi! Bến nghỉ nghé, thuyền đi.

    Dòng Cuồng Lưu không xóa được câu thề. (10)

    Ngày trở lại ước mong về bến cũ… (11)

    Mở copy của bản thảo tập thơ, Thanh-Điệp đọc Thay Lời Tựa. Nàng xúc động dạc dào rồi buồn đến tái tê khi đọc đoạn: “…Tôi đã bàng hoàng đến ngẩn ngơ và tim tôi đập những nhịp không đều trước khuôn mặt xinh đẹp, thùy mị và nghiêm trang cùng tiếng đàn phong cầm dìu dặt và giọng hát ngọt ngào của một thiếu nữ có mái tóc dài và đôi mắt màu hạt dẻ, rất buồn. Tôi chưa tìm được cơ hội làm quen với Nàng thì Nàng lẳng lặng theo thân phụ ra về. {…}Đêm đó tôi không thể nào ngủ được vì hình ảnh Cô Bé Tóc Dài đàn phong cầm cứ chờn vờn trong tâm tưởng tôi. Tôi thao thức, trằn trọc thâu đêm và bài thơ Tiếng Đàn Đêm Trung Thu ra đời… ” 

    Lật sang bìa sau, Thanh-Điệp thật sự hoảng sợ khi thấy, ngoài tựa đề những tác phẩm của chàng đã ấn hành ở quê nhà như Danh Từ Điện Tuyến, Người Em Miền Hỏa Tuyến, Đi Tìm Một Tâm Hồn Việt-Nam, v. v… Chàng còn liệt kê rõ ràng tên thật, tiểu sử, chức vụ và đơn vị sau cùng của chàng! 

    Khi Hoàng-Việt-Sơn điện thoại, Thanh-Điệp đề nghị chàng chỉ nên để bút hiệu Hoàng-Vũ-Bão, không nên đăng tên thật và phần tiểu sử. Chàng không đồng ý: 

    -Tại sao em sợ? Tình cảm anh dành cho em là tình cảm tinh khiết, vượt lên trên mọi thứ tình yêu đời thường. Anh không sợ và anh chấp nhận bất cứ điều gì đến với anh.

    -Không phải Điệp sợ cho Điệp mà Điệp ngại cho anh. Điều gì tránh được, mình nên tránh. Anh đừng tự ái.

    -Anh không tự ái. Bản tính anh không thích lén lút. Anh không biết sợ. Nếu đã sợ thì đừng làm.

    Khi nào thấy chàng “gàn” quá nàng cũng chỉ biết lập lại một câu: 

    -Anh đúng là Thủy-Quân Lục-Chiến!

    Mỗi khi nghe nàng trách đùa bằng cách nhắc đến binh chủng mà chàng rất hãnh diện đã một thời phục vụ – sau khi tốt nghiệp bác-sĩ Y-Khoa – chàng cười có vẻ tự đắc: 

    -Khi Thủy-Quân Lục-Chiến tấn công là phải chiếm cho được mục tiêu, bất kể thiệt hại!

    -Điệp biết tinh thần của Thủy-Quân Lục-Chiến là như vậy; nhưng nếu đưa Thủy-Quân Lục-Chiến ra tuyến đầu thì Thủy-Quân Lục-Chiến cũng đành phải ở bên nay bờ Thạch-Hãn!

    -Đúng là Phu Nhân Một Thời Oanh Liệt! Chuyện nhà binh của người ta mà cũng rành! Còn bìa tập thơ, em thích không?

    Nhìn bìa sách với tựa đề Nửa Đời Thương Đau mà chữ “Th và Đ” được viết khác màu Thanh-Điệp cảm động. Hoàng-Việt-Sơn hỏi: 

    -Đố em biết ý nghĩa của mấy phụ âm Th và Đ mà anh cố viết khác đi?

    -Có vậy mà anh cũng đố.

    -Giỏi thì nói đi.

    -Là Thanh-Điệp chứ gì!

    -Trời! Sao em vô tình quá vậy, Điệp?

    -Điệp chịu thua. Anh nói đi.

    Chàng lại thở dài, giọng rất buồn, nói rõ từng chữ: 

    -Nửa Đời Thương Điệp đó, em biết không?

    Tự dưng nàng muốn khóc, nhưng khóc không được! Một lúc sau nàng trở lại vấn đề không nên in tên thật và tiểu sử của chàng. Hoàng-Việt-Sơn giận và gay gắt: 

    -Anh tặng em tập thơ vì anh thương yêu, quý trọng em, muốn đem niềm vui đến cho em chứ anh không muốn đem sự lo âu, phiền phức đến cho em. Nếu em sợ đến như vậy thì thôi, anh không xuất bản tập thơ nữa. Anh gọi Ngọc-Hoài-Phương ngay. 

    Những lần điện thoại sau đó Hoàng-Việt-Sơn tỏ ra rất quan ngại về vấn đề sức khỏe của Thanh-Điệp chứ chàng không đề cập đến tập thơ nữa. Nàng nghĩ có lẽ chàng còn giận nàng và cũng có thể chàng đã đình chỉ việc ấn hành tập thơ, như chàng đã nói. Hơi buồn, nhưng nàng không hỏi chàng mà lại hỏi Ngọc-Hoài-Phương. 

    Sau khi nghe Thanh-Điệp phân trần về vấn đề tên thật và tiểu sử của Hoàng-Việt-Sơn, Ngọc-Hoài-Phương cười: 

    -Xong rồi! Tôi có cùng cảm nghĩ với chị cho nên tôi giải thích và ông ấy đã đồng ý chỉ để bút hiệu thôi.

    Khi Ngọc-Hoài-Phương in xong tập thơ “Nửa Đời Thương Điệp” cũng là lúc nàng nhận được kết quả tốt đẹp về y tế của nàng.

    Biết tình trạng sức khỏe của Thanh-Điệp bình thường, Hoàng-Việt-Sơn càng vui hơn và chàng thúc đẩy nàng xuất bản tác phẩm kế tiếp. Trong tác phẩm này, chàng thích đoạn kết vì nàng nhắc đến ca khúc Chiều, phổ nhạc từ thơ của Hồ-Dzếnh mà chàng đã nghe vào một buổi chiều, tại phòng trực của quân-y-viện Đà Nẵng, sau khi anh Nguyễn-Bá-Liên báo cho chàng hay Thanhh-Điệp đã lập gia đình!

    Sau khi tác phẩm của Thanh-Điệp ra đời, Hoàng-Việt-Sơn viết một bài điểm sách gửi cho nàng, bảo nàng tùy nghi xử dụng. 

    Thanh-Điệp cho chàng biết nàng đang viết một tác phẩm khác. Chàng hỏi nàng viết về ai, viết về cái gì? Nàng đáp: 

    -Dạ, viết về những vụng dại của tuổi thơ.

    -Những vụng dại của tuổi thơ đó có giống cái vụng dại của Cô Bé Tóc Dài làm điêu đứng anh chàng Quân-Y này không?

    Thanh-Điệp im lặng, thầm nghĩ, những vụng dại tuổi thơ của nàng chỉ làm điêu đứng anh chàng Quân-Y này và Dũng – một chàng Quân-Y khác – nhưng lại đưa nàng vào kiếp sống âm thầm của loài ốc bên bến sông!

    ******

    Ngày còn bé, Thanh-Điệp thường được thân phụ dạy rằng: “Trong địa hạc Văn Học Nghệ Thuật, nếu con thực hiện điều gì mà con cảm thấy điều đó không bằng hoặc không khá hơn điều mà con đã làm ngày hôm trước thì con đừng nên làm”. Vì vậy, từ sau khi bỏ đàn và bỏ hát để được yên thân, nàng không muốn xuất hiện trên sân khấu nữa.        

    Vậy mà, vào buổi họp mặt sơ ngộ của trường Quốc Học/Đồng Khánh, Thanh-Điệp không nhớ tại sao nàng bị “lôi” lên sân khấu để làm phiền thính giác của quan khách mà nàng chỉ nhớ ánh nhìn dịu dàng, thiết tha, trìu mến của một người đàn ông ngồi bên góc phải, khi nàng hát bản Tình Quê Hương của Đan-Thọ.

    Trở về chỗ ngồi, Thanh-Điệp quên mất ánh mắt đã nhìn nàng lúc nãy. Một lúc sau, trực giác bén nhạy cho nàng biết ánh mắt ấy vẫn không rời nàng. Thanh-Điệp quay nhanh về hướng ấy. Người đàn ông ấy không tỏ vẻ gì muốn né tránh ánh nhìn của nàng khi bất ngờ bị nàng bắt quả tang đang… nhìn trộm. Người đàn ông ấy rất điềm đạm, hơi mỉm cười, khẽ nghiêng đầu chào nàng. Nàng chào lại. Vừa khi đó bác sĩ Thuận bước về phía ông ấy, bắt tay ông ấy, ra vẻ rất mừng rỡ.

    Vì chưa bao giờ thấy ảnh của Hoàng-Việt-Sơn, Thanh-Điệp không thể nhận diện được. Nhưng ánh mắt của người đàn ông ấy khiến nàng nhớ đến lời “hăm dọa” của chàng rồi nàng trở nên lúng túng, vụng về. Thanh-Điệp ra về.

    Buổi họp mặt hôm sau, vừa bước vào hội trường, Thanh-Điệp nhận ra ngay người đàn ông đã nhìn nàng tối hôm trước. Và ông ấy cũng nhìn nàng bằng ánh nhìn đằm thắm, chan chứa cảm tình. Thanh-Điệp tìm bác sĩ Thuận và hỏi xem có phải người ấy là Hoàng-Việt-Sơn hay không? Sau khi bác sĩ Thuận xác nhận, nàng hoàn toàn mất bình tĩnh! 

    Là một người mang dòng máu nghệ sĩ nhưng Thanh-Điệp lại có cá tính của một người cứng rắn và đầy tự chủ. Thanh-Điệp vội vàng rời hội trường trước khi Hoàng-Việt-Sơn có cơ hội đến gặp nàng.

    Trong đời, Thanh-Điệp đã có nhiều quyết định sai lầm. Nàng chịu đựng, âm thầm gậm nhấm những sai lầm của mình và tự tha thứ cho nàng. Nhưng không có một quyết định thiếu khôn ngoan nào của nàng lại đeo đẳng, dằn vặt nàng như quyết định lánh mặt Hoàng-Việt-Sơn vào kỳ họp mặt năm đó. Thanh-Điệp nghĩ nàng sẽ không bao giờ tha thứ cho nàng!

    Vài hôm sau, Hoàng-Việt-Sơn gửi tặng Thanh-Điệp phân đoạn đầu của bài thơ chàng mới sáng tác. Trong thư gửi kèm, chàng bảo chàng còn đang sáng tác tiếp, dài lắm, xong đoạn nào chàng sẽ gửi tặng nàng đoạn đó. Hoàng-Việt-Sơn không hề đề cập đến bất cứ chi tiết nào về việc chàng đã đến Houston tham dự ngày họp mặt Quốc Học/Đồng Khánh. 

    Vừa thấy tựa đề bài thơ Thanh-Điệp chợt se lòng vì hiểu rằng Hoàng-Việt-Sơn rất buồn về thái độ của nàng:

     Thanh-Điệp Trường Hận

    Lá gục đầu,

    Sông sâu.

    Những con thuyền không hướng.

    Em mà chi. Thương nhớ mà chi.

    Thanh-Điệp!

    Anh thường có những ngày dài xa cách,

    Những đêm buồn da diết nhớ tên em!

    Em có nhớ thương?

    Vòng hoa trắng mộ

    Mộng chưa thắm, 

    Anh còn cay đắng,

    Bởi mối tình tan vỡ một đêm nao!

    Mà em hỡi! Giữa biển sầu thiên cổ, 

    Sao dững dưng như gỗ đá vô tình?

    Sao lạnh lùng và mãi mãi lặng thinh?

    Em về đâu cho kịp chuyến tàu đêm?

    Ôi chuyến tàu xưa, anh đứng đợi im lìm.

    Tìm em mãi ga Nha-Trang heo hút.

    Thanh-Điệp!

    Sông chảy về đâu?

    Suối chảy về đâu?

    Đôi bờ giạt ao bèo.

    Như tình anh vẫn lạc loài câm lặng,

    Giữa cuộc đời trơ trọi một mình anh.

    Nước mắt buồn cứ đọng mãi đôi vành.

    Nước mắt buồn cứ chảy mãi năm canh. 

    Mà năm tháng cứ phai dần kỷ niệm.

    Thanh-Điệp!

    Em đi về đâu? Em ở tận đâu?

    Đêm nay em có sầu thương nhớ?

    Anh thấy cô đơn lạnh buốt đời!….

    Hoàng-Việt-Sơn thường bảo chàng tha thứ cho Thanh-Điệp, vì ngày xưa nàng còn bé, ngây thơ vô tội; nhưng chàng không hiểu tại sao mỗi lần chàng hỏi Nguyễn-Bá-Liên về Thanh-Điệp thì Nguyễn-Bá-Liên cứ tìm cách nói sang chuyện khác. Vì vậy, chàng đành ôm “mối tình vô vọng” (12) để rồi “Ôi chuyến tàu xưa, anh đứng đợi im lìm. Tìm em mãi ga Nha-Trang heo hút.”

    Đây không phải là bài thơ đầu tiên Hoàng-Việt-Sơn hờn trách Thanh-Điệp. Nhưng đây là bài thơ đầu tiên chàng đề cập đến chữ “mộ” – Vòng hoa trắng mộ. Nhưng nàng vẫn vô tình, chỉ cảm thấy buồn vì lời thơ ướt lệ chứ nàng cũng không linh cảm được điều gì cả! Thanh-Điệp chưa viết thư cảm ơn chàng về phân đoạn này vì nàng có ý chờ những phân đoạn kế tiếp; khi nào chàng hoàn tất trọn bài rồi nàng sẽ viết thư cảm ơn và xin lỗi chàng về hành động… thiếu xã giao của nàng hôm hội ngộ. 

    Hoàng-Việt-Sơn thường bảo, viết thư hay nói điện thoại, mình có thể cảm nhận được sự gần gủi với người mình giao tiếp hơn là e-mail; cho nên chàng không có địa chỉ e-mail. Vì vậy, Thanh-Điệp dự tính, khi nào Hoàng-Việt-Sơn điện thoại nàng sẽ xin lỗi chàng. Nhưng không bao giờ chàng gọi và chàng cũng chẳng gửi gì cho nàng nữa, kể cả những đoạn kế tiếp của bài thơ Thanh-Điệp Trường Hận mà chàng đã hứa.

    Thanh-Điệp buồn vì nghĩ rằng Hoàng-Việt-Sơn đã hoàn toàn thất vọng khi thấy lại nàng sau hơn 40 năm không gặp! Nhưng nghĩ lại, nàng thấy luận cứ này không vững; bởi vì, nếu Hoàng-Việt-Sơn thật sự thất vọng vì nhân dáng hiện tại của nàng thì chàng đã không nhìn nàng bằng ánh nhìn trìu mến, thiết tha, dịu vợi; và chàng cũng đã không dệt được những vần thơ làm xót lòng người đọc như trong bài Thanh-Điệp Trường Hận. Càng suy nghĩ nàng càng thấy chỉ có một lý do là Hoàng-Việt-Sơn giận nàng và muốn quên nàng. Đó cũng là điều dễ hiểu, bởi vì, sau ngần ấy thời gian giữ kín trong lòng hình bóng nàng và khoảng hơn bốn năm kiên nhẫn theo đuổi nàng, nay chàng nhận ra sự phủ phàng từ trái tim gỗ đá của nàng thì chàng còn lưu luyến nàng để làm gì! 

    Nhiều khi Thanh-Điệp hối hận, muốn điện thoại sang chàng; nhưng nàng ngại, vì chưa bao giờ nàng gọi chàng. Thanh-Điệp cũng muốn viết thư, nhưng rồi nàng nghĩ, thôi, nàng đã không yêu thương chàng thì hãy để “mối tình câm ủ dột” (13)  này yên nghỉ. Đôi khi nàng bình thảng chấp nhận ý nghĩ này; nhiều khi nàng lại mong chàng gọi để nàng được ngõ lời xin lỗi.

    Trong sự bồn chồn mong đợi của Thanh-Điêp, điện thoại của Hoàng-Việt-Sơn không đến mà một tin không bao giờ nàng ngờ thì lại đến từ Thúy-Minh. Thanh-Điệp xót xa đoài đoạn vì nghỉ rằng Hoàng-Việt-Sơn “ra đi” mang theo niềm giận hờn do nàng tạo nên! 

    Hơn một năm qua, kể từ khi hay tin Hoàng-Việt-Sơn mất, Thanh-Điệp không viết được! Nàng cũng không muốn gửi bài điểm sách do chàng viết về tập truyện của nàng đến báo nào cả. Nàng muốn giữ cho riêng nàng. 

    Ngày xưa, khi Hoàng-Việt-Sơn đi hành quân thì: “Chiều hành quân cạnh ven rừng, Trong một thoáng anh mơ về Thanh-Điệp” (14); ngày nay, trong chuyến đi cuối cùng này, Hoàng-Việt-Sơn mang theo tất cả nguồn cảm hứng, óc sáng tạo và niềm đam mê văn chương của nàng; chỉ để lại cho nàng những dằn vặt/ray rức/đau buồn!

    Rồi một hôm, nhớ đến lời đã hứa với Hoàng-Việt-Sơn, Thanh-Điệp quyết định viết trở lại. Bài đầu tiên khi trở lại với văn chương, chữ nghĩa, nàng xin được một lần viết về những kỷ niệm với Hoàng-Việt-Sơn – như một lời tạ lỗi.

    ******


    Quanh nàng không một bóng người, không một tiếng động. Thanh-Điệp ngồi bệt trên khóm cỏ non, tay vuốt nhẹ theo từng nét chữ khắc tên thật của Hoàng-Việt-Sơn trên mộ bia. Tâm hồn nàng tê dại. Khối óc nàng trống rỗng. Nàng chỉ cảm thấy cay cay ở mắt chứ nàng không còn giọt lệ nào nhỏ xuống cho “Một mối tình câm cứ lặng câm!” (15) Thanh-Điệp đến đây không một nén nhang, không một đóa hoa; vì nàng nghĩ, lúc Hoàng-Việt-Sơn còn sống nàng đã quá tệ với chàng thì nay chàng chết, những hình thức kia đâu thể nào làm cho chàng hiểu được những ray rức, ngậm ngùi, tiếc thương đang xâu xé tâm hồn nàng!

    Trong thinh lặng bỗng dưng Thanh-Điệp tưởng như nàng có thể nghe được tiếng thì thầm:  

    …Bình minh dậy, ánh nắng hồng đỏ chói;

    Chân trời xa, biển lặng, buồm nhấp nhô.

    Thôi, chia tay, thuyền duỗi, bến dặn dò:

     Ngày gặp gỡ? – Đành tìm nhau kiếp khác! (16)

    Thanh-Điệp thảng thốt nhìn quanh. Sự yên lặng lại bủa vây. Và, bất chợt, Thanh-Điệp nhớ đến câu nói của một người mù mà nàng đã đọc trong một tác phẩm nào đó. “Tôi nghe trong im lặng, một im lặng hoàn toàn!”(J’entends dans le silence, un silence parfait). (17)

    ĐIỆP MỸ LINH

     http://www.diepmylinh.com/

    2.-Thành ngữ Việt-Nam: Đạp vỏ dưa, thấy vỏ dừa sợ.

    7.-Theo Reader’s Digest.

    4-5-8.-Những tác phẩm của ĐML.

    1-3-4-5-6-9-10-11-12-13-14-15-16.-Trích từ Nửa Đời Thương Đau của HoangVũ-Bão.

    17.-Không nhớ tên tác phẩm/tác giả.

    Cảm ơn Mrs. ĐML chuyển bài.

     

    *********

 
 
 
Điệp-Mỹ-Linh là bút hiệu của Nguyễn Thị Thanh-Điệp, được sinh ra tại Dalat.

Điệp-Mỹ-Linh được thân phụ - cụ Nguyễn Văn Ngữ - dạy nhạc ngay từ khi còn bé. Khởi đầu Điệp-Mỹ-Linh học đàn Mandoline; lớn hơn một tý Điệp-Mỹ-Linh học đàn Accordion.
Học hết bậc tiểu học tại trường Domain de Marie, Điệp-Mỹ-Linh theo gia đình về quê Nội, Nha-Trang. Tại Nha-Trang, Điệp-Mỹ-Linh theo học trường trung học Võ-Tánh.
Cũng tại Nha-Trang, cụ Nguyễn Văn Ngữ thành lập ban Ca Nhạc Bình-Minh để phụ trách phần văn nghệ cho Đài Phát Thanh Nha-Trang, vào tối thứ Năm và tối Chủ Nhật. Điệp-Mỹ-Linh đàn Accordion và hát, dùng tên thật, Thanh-Điệp.
Thời gian này cụ Nguyễn Văn Ngữ viết cho báo Đuốc Thiêng, dùng bút hiệu Điệp-Linh. Điệp-Mỹ-Linh cũng được thân phụ khuyến khích cầm bút.

Điệp-Mỹ-Linh bắt đầu viết từ năm 1961 và có bài đăng trên Đuốc-Thiêng, Tin-Sáng và Tia-Sáng với vài bút hiệu khác nhau như: Nguyễn Thị Kiều-Lam, Thanh-Điệp, Thủy-Điện và Điệp-Mỹ-Linh.
Sau bậc trung học, Điệp-Mỹ-Linh theo học Luật tại Đại Học Luật Khoa Saigon.
Sau khi định cư tại Hoa-Kỳ, năm 1975, Điệp-Mỹ-Linh không còn dùng những bút hiệu khác nữa.
 
Những tác phẩm đã xuất bản của Điệp-Mỹ-Linh:
 
 
Quý vị có thể liên lạc với Điệp-Mỹ-Linh tại:

Alief, Texas 77411  U.S.A.



Mời quý vị "bấm" vào bìa mỗi tác phẩm   
dưới đây để đọc những truyện đã xuất bản.
 
 

Bạn Hữu Viết Về Điệp Mỹ Linh


Tặng Phẩm Của Bạn Hữu

 

Điệp Mỹ Linh Phỏng Vấn Bạn Hữu

 

Điệp Mỹ Linh Viết Về Bạn Hữu

 

Bài Mới Chưa In Thành Sách

 

*****

 

       Kim Phượng sưu tầm & tổng hợp     

 

 

 
Xem thêm...

Áo Dài Vietnamese Beautiful Traditional Dress

                                                               

                Áo Dài                

                       Vietnamese Beautiful Traditional Dress                       

Ao Dai is the traditional costume of Vietnamese people which is really well-known around the world. InVietnam, Ao Dai is not only a kind of clothes, but it also holds the soul of Vietnamese people, especially Vietnamese women. Because of its importance and huge meaning in Vietnamese culture, it is worthy to learn about Ao Dai Vietnam if you plan to come to this country.

 

 

 

  "The Last Jedi" Turned Kelly Marie Tran Into a Red Carpet Star  

Kelly Marie Tran and John Boyega in Star Wars: The Last Jedi.Kelly Marie Tran and John Boyega in Star Wars: The Last Jedi. Photograph: Jonathan Olley/AP
 

 A Princess Making History on the Red Carpet 

 Red carpet Mar. 8, 2021

Kelly Marie Tran wearing traditional Vietnamese clothing for the Raya and The Last Dragon red carpet is something so personal to me
Kelly Marie Tran at the the virtual red carpet event for Raya and the last Dragon. Photo: Disney
 
Last Friday, Disney’s first South East Asian princess made her debut in Raya and the Last Dragon. Usually a historic moment like this would include an extravagant premiere, which, of course, can’t happen right now. But even with its virtual format, last Thursday’s “Red Carpet” — which featured entirely celebrities of Asian descent, including Awkwafina, Gemma Chan, Sandra Oh, and Benedict Wong — felt like it had just as much cultural significance as the movie itself.
 
Premieres also usually call for glamorous, over-the-top gowns. The star of the film, Vietnamese American actress Kelly Marie Tran, left her own meaningful impression by honoring people of South East Asian heritage by wearing a traditional Vietnamese dress, or áo dài, and headpiece.
 
Tran made an effort to work with a designer of Vietnamese descent, Thai Nguyen, who custom-made a black áo dài with intricate gold beaded embroidery and a matching embroidered headpiece. “Pride and excitement don’t begin to cover how I feel about this truly special project,” Nguyen said in an Instagram post. “Kelly and I share passion for what we do and a strong love for Vietnamese culture. We also both understand the challenges of being underrepresented minorities in competitive spaces. It is hard to put into words how much it means to me that we were able to join those emotions and experiences, turn it into an iconic áo dài, and share our heritage with the world.”
 
People of South East Asian descent on Twitter chimed in, recognizing the importance of Tran on the red carpet in such a dress.
Kelly Marie Tran
Born: Trần Loan
January 17, 1989 (age 32)
San Diego, California, U.S.
Alma mater: University of California, Los Angeles (B.A.)
Occupation: Actress
Years active: 2011–present

Kelly Marie Tran (born Trần Loan, January 17, 1989) is an American actress. She began acting in 2011, with most of her roles being in short film and television. She came to global prominence for her role as Rose Tico in the Star Wars sequel trilogy films The Last Jedi (2017) and The Rise of Skywalker (2019).
She also voiced Raya in the Disney film Raya and the Last Dragon (2021) and Dawn Betterman in the DreamWorks Animation film The Croods: A New Age (2020).

Early life

Kelly Marie Tran was born on January 17, 1989, in San Diego, California.Her parents were refugees from Vietnam who fled the country following the Vietnam War.As a child, her father was homeless and grew up on the streets of Vietnam. After moving to the United States, her father worked at Burger King to support the family, and her mother worked at a funeral home.

Tran attended Westview High School in San Diego and worked at a yogurt shop to earn money for head shots. Tran then graduated from UCLA with a B.A. in communications.

Career
2011–2014: Early work

Her early credits consisted of primarily CollegeHumor videos and small TV roles.She landed a commercial agent in 2011, who got Tran to take improv classes at the Upright Citizens Brigade. At The Second City, Tran is part of the all-female, Asian-American improv group, Number One Son

In 2013, she starred in the web-series Ladies Like Us. In 2015, Tran was working as an assistant at a creative recruiting firm in Century City.
2015–2019: Star Wars

In 2015, Tran was cast as Rose Tico in Star Wars: The Last Jedi. Rose Tico is a rebel mechanic who joins up with main character Finn after the sacrifice of her oldest sister, Paige Tico (Veronica Ngo), a gunner trained by Resistance commander Poe Dameron. When she went to shoot her scenes in England in early 2016, she was required to keep her role secret, so she told her family she was making an independent film in Canada. The Last Jedi made Tran the first Asian-American woman to have a major role in a Star Wars film.
 
In 2017, she also became the first Asian woman to appear on the cover of Vanity Fair when she appeared on the cover of the summer 2017 issue with actor John Boyega (who played Finn), and Oscar Isaac (who played X-Wing fighter pilot Poe Dameron)

Tran plays the lead role of Kaitlin Le in Radiotopia's mystery thriller podcast, Passenger List. She was a series regular on the Facebook Watch series Sorry for Your Loss.
2020–present

Tran voiced Raya in the Walt Disney Animation Studios production Raya and the Last Dragon, replacing Cassie Steele. Tran was set to voice Val Little in the upcoming Disney+ series Monsters at Work, but has since been replaced by Mindy Kaling. She has also been cast as Dawn in the film The Croods: A New Age, replacing Kat Dennings.

Tran is an executive producer on Jeremy Workman's 2021 documentary Lily Topples the World, which follows 21-year old domino toppling artist Lily Hevesh. The documentary premiered to critical acclaim at the 2021 South by Southwest Film Festival where it won the Grand Jury Prize for Best Documentary.

Tran is also an executive producer of the spoken-word poetry ensemble film Summertime, marking her second collaboration with Raya and the Last Dragon director Carlos López Estrada.

                                                                                    

Vietnamese traditional dress: Vietnam have been always a unique destination in South east of Asia. Vietnam is full of surprise, from the breathtaking attractions all around the land to the unique lifestyle of its people. here in this article i want to introduce about the National dress of Vietnamese Women, The Beautiful Ao Dai. However, another form of Ao Dai, which is older and still worn by locals is widely known as Áo Tứ Thân
 
The Vietnamese Dai dress is considered as a smart garment. Vietnamese women usually wear at important events, parties, weddings, solemn events (such as funerals or other religious ceremonies held in a pagoda). And it is interesting, the girls who go to school and university wear to or from (general students ).
 
AO DAI: The graceful national dress of Vietnamese women is known as the Pronounced Ow Zai in North and Ow Yai in South Vietnam. An Ao Dai consist of close-fitting blouse with long panels at the front and back that is worn over losse black or white trousers. The outfit was designed for the Vietnamese hot weather, and for that reason is much more common in the South Vietnam and especially in Ho Chi Minh City and the Mekong Delta and uniquely in Hue Vietnam
Ao Dai girls
Ao dai vietnam
Although Ao Dai is impractical for doing stoop labor in the rice paddies, they are considered appropriate for office workers and the female students.
The national day has become a very popular occasion in the contemporary status of Vietnam, people celebrate it in and streets, shopping malls, temples and all city remarks will be decorated with flags of Vietnam. Also, the national day marked as a national holiday.
ao dai with black pyjama
ao dai fashion show
Men also wore Ao Dai, but these days you are only likely to see this in wedding,  operas or musical performances. The male Ao Dai is shorter and looser fitting than the Females’s version of Ao Dai. Before the end of dynastic rule, the colors of the brocade and embroidery indicate the rank of the wearer. Gold brocade accompanied by embroidered dragons was reserved for the emperor. High ranking mandarins wore purple, while lower-ranking mandarins had to settle for blue.
ao dai hue vietnam
Ao Dai is versatile and are even considered appropriate for funerals. Mourners usually wear either white or Black Ao Dai, white is traditional color of Mourning in Vietnam. More happily, Ao Dai can be worn to wedding as bright colors with embroidery on the shirt is fitting.
tourists ao dai
The famous ‘ Black Pyjamas ‘, immortalized in numerous Hollywood movies, were not Ao Dai but actually just a common form of rural dress. You will see plenty of people in the countryside wearing ‘ pyjamas ‘ , though not always black.
ao dai traditional dress of vietnam
From 1975 to 1985, Ao Dai were no longer politically correct. Chic baggy military uniforms were all the rage, and Ao Dai disappeared everywhere in Vietnam. Beauty contests – a symbol of bourgeois capitalism – were banned by the communists but were finally permitted again in Ho Chi Minh City in 1989. Swimsuit competitions were not permitted, but many of the girls did wear their best designer jeans. However, it was the Camau team that stole the show – they wore Ao Dai. Suddenly, there was a nationwide boom in Ao Dai production.
 
ao dai hanoi
Vietnam traditional dress Ao Dai have been around for a long time, and were anything but revealing to begin with. but in the past few years partially see-through Ao Dai have become all the rage – it’s doubtful that even tourist  wear something provocative. If you’d like it and want to give it a try, you can easily custom made one for you to keep remember about your holiday in Vietnam.

 Ao Dai, Vietnam 2021 – Everything You Need To Know About Ao Dai 

Ao Dai, Vietnam 2021 – Everything You Need To Know About Ao Dai

   I. The history of Ao Dai   

1. The history of Ao Dai for women

No one knows the time that Ao Dai originally was born and how it looked because there are no records and not many people research. The earliest vestiges of the Vietnamese, according to the engravings on the face of the Ngoc Lu drum several thousand years ago, showed the women in costumes with two long pieces of their dresses.

a. Tu Than Ao Dai (XVII – XX)

For the sake of the co-worker, people made a neat Ao Dai Tu Than with two front flaps being tightened together, and the two flaps turned into a dress. They had to pair two lapels behind to create deviant.  As a costume of the popular class, people usually sewed Ao Dai Tu Than from dark fabrics for work. Less labor-intensive urban women often dressed in body-worn clothing to distinguish themselves from the working poor. It was like a four-piece dress, and they sewed it together into two front and back like a long dress.

b. Lemur Ao Dai (1939 – 1943)

The daring breakthrough that contributed to the design of today’s ao dai is the “Le Mur” style dress created by Cat Tuong in 1939. Unlike the traditional wide-sleeved shirt, Le Mur made the curves of the body slimmer with a lot of details such as the hand and puffy heart neck. People at that time s strongly condemned that image of Ao Dai so only gender Stylish modern style dared to wearers. By 1943, this style of dress gradually became forgotten.

c. Mrs. Nhu Ao Dai (1960 – 1965)

Madame Tran Le Xuan

Madame Tran Le Xuan, who revolutionized a new style of Ao Dai with her daughter with the famous style of Ao Dai in Paris. Photo: John Leongard

In the early 1960s, Mrs. Tran Thi Xuan, the wife of Mr. Ngo Dinh Nhu, designed the style of open long neck and removed the collar. The famous Ao Dai called Mrs. Nhu met with a strong reaction against the tradition and fine customs of society at the time.

d. Tightening waist Ao Dai (1960 – 1970)

In the 1960s, tightening waist Ao Dai challenged the traditional view to becoming fashionable. At this point, women used a comfortable bra widely. Urban women with open minds wanted to bend the curves of the body through the waistcoat tight to the chest.

e. Modern dress (1970 – now)

After the 1970s, the renew of life made Ao Dai forgotten. However, from 1970 to now, Ao Dai has come back with many different designs and materials through the creative and innovative collections of designers. The dress was renewed from traditional designs to the wedding dress, short dress to wear with jeans …
See how Vietnamese people embrace the Ao Dai

2. The history of Ao Dai for men

ao dai vietnam
The skirt with a pair of trousers and a headband are also the national costume for men. Women use cool colors while men are black, white, or dark. According to the edict issued from the Lord Nguyen Vu Vuong, the dress code for men was less restrictive and airy. Since 1952, Prime Minister Tran Van Huu has appointed a national dress for government officials. If the ceremony is religious or historical, then, a towel is black and silk pants are white. So if it comes to the traditional dress, the new dress is more bold, which legal documents regulated to (Lord Nguyen Vu Vuong) and the dress code is clearer Minh Mang King’s complete dress for the Ao Dai.
 
When it comes to Vietnamese dresses, both domestic and foreign people often think of Ao Dai. Vietnamese Ao Dai for men is not as popular as those for women. Ao Dai appears only at festivals bearing bold Vietnamese tradition or wedding ceremony. In particular, at the APEC 2006, high-level week held in Vietnam, during the launch of the Joint Declaration, leaders of APEC economies wore traditional costumes from the host country.

   II. Design of mordern Ao Dai   

ao dai vietnam
Collar: The classic collar is about 4 to 5 cm high. Today, designers create a variety of types of long collar such as heart type, round neck, U neck and often embroider the collar.
Bodice: The bodice is determined from the neck down to the waist. The buttons are usually from the neck to the shoulder and pulled down to the hips. From the waist, the body of the shirt is split into two layers.
Layers: Ao Dai has two layers: the front and the back. In the past, the first troupe was shorter than the latter. The front dress is usually embroidered with patterns or poems.
Sleeve: The sleeve is calculated from the shoulder, may hug close to the arm, long past the wrist.
 
Ao Dai is usually worn with a pair of pants instead of the old dress. Long pants are sewn heel and wide. The pant was made of sturdy fabric, now usually sewn with a soft cloth. The most common color is white. But fashion trends today, the clothes are long with the color of the shirt.

   III. The role of Ao Dai in Vietnamese People's life   

Vietnamese dresses are both traditional and modern. Therefore, women can wear Ao Dai anywhere, for office wear, school uniforms, outerwear or formal wear at home. The wearing of this dress is not frivolous or sophisticated, things are simple to wear: wear with silk pants or soft cloth, at the foot of comedy, clogs, or whatever shoes are. If you need a formal (such as bridal attire), add a traditional cape or blouse, or a Western crown as you like. The modern ao dai (modern ao dai) seems to have its own way of honoring everybody. The upper part hugged the body but the two flaps let loose on the wide pants.
The pair of lice saw on the waist makes the gesture of the wearer comfortable, the shape of the body, the feminine, just closed because the whole body is covered with soft silk, and also sexy because of the shirt. Exit to live waist. The modern one shows your personality highly. The tailor gets the measurements carefully. When the garment finishes, it is time to put on a new one.

1. Wearing Ao Dai in Tet Holiday

ao dai vietnam
In Tet Holiday, it is easy to see the image of Ao Dai on the street. In addition to the traditional Ao Dai, in recent years, the trend of Ao Dai with young motifs, pants hugging is also very well received by women. Tet costumes with red, yellow, green, blue or flowery colors help the wearer to be young and attractive at the beginning of the year filled with joy and happiness. 
 
People prefer red color for the holiday season because this color represents good luck, love, passion and a good start. Red is also the color that is not only fashionable in fashion but also showing the prominence, charm, and burns of women. Red comes in a variety of colors from bright red to dark red and can be matched with many other colors such as black, white, pink, purple … If you are not confident enough to wear the red outfits, you can start with small items like shoes, handbags, towels or hats.

2. Wearing Ao Dai in the engagement parties & weddings

a. Ao Dai for brides

ao dai vietnam
Wearing two different dresses in the engagement party and wedding is not compulsory in the traditional wedding. However, the brides often do not want to miss anything, including the preparation of decent costumes to take pictures of each of the most beautiful moments of the day. Therefore, most of them will choose to have two Ao Dai for their engagement party and wedding.

b. Ao Dai for mothers of bride and groom

ao dai vietnam
Compared to brides’ Ao Dai, the one for mothers of bride and groom place more emphasis on comfort and decoration to hide the stereotype. However, designers still promote the splendor and elegance to suit a special occasion such as a wedding.

c. Ao Dai for bridesmaids 

Lovely bridesmaids will be an impressive point in the big day. So, the bride and groom will never forget the special guests from the costumes, makeup, flower hands or accessories …  suitable for party space. Catching up with this demand, domestic wedding fashion brands offer many beautiful designs for bridesmaids alongside wedding dresses.

3. Wearing ao dai in special occasions

In some special and important occasions, such as festivals and meetings, women dress Ao Dai as a way to show their respect. Especially, in the meetings of governments, staffs, and wives of authorities wear Ao Dai to make the meetings graver and more polite. Ao Dai represents the national costume in international relations. Most Vietnamese men choose to wear that for ethnic costumes at international beauty contests.

4. Wearing ao dai in daily life

Vietnam Traditional Tunic White Silk Ao Dai
Vietnamese dress photos - Ao Dai pictures - Vietnam

Vietnam Traditional Tunic White Silk Ao Dai

In recent years, Vietnamese dress has become closer to everyday life. In the past, ao dai was only for fashion shows or used for festivals, Tet, nowadays, women wear long dresses when going to work, on trips. Many models always catch up with the trend and needs of the wearer. Besides, it is also considered as a high school or college student uniform. Up to now, the traditional Ao Dai has been changed and modernized. Vietnamese Ao Dai with many new designs, shorter dresses, can be worn with breeches, pants or dress with skirts.

   IV. Ao Dai in Vietnamese Art   

1. Ao Dai in Vietnamese Poetries

ao dai vietnam
Many artists have recorded the image of Vietnamese women/girls with Ao Dai, most notably in poetry and music. The famous poem on ao dai can be described as “Ha Dong silk Ao Dai” by Nguyen Sa Poet, this song is popularized as a famous song and inspiration for a movie of the same name.

2. Ao Dai in Vietnamese movies

ao dai vietnam
The movie “Miss Sai Gon” only attracted viewers by the simple story revolving around the Thanh Nu tailor store in Saigon at that time. In the seemingly simple story, it hides the ups and downs of the long dress with national soul. The “modern” costume of “Miss Sai Gon” from color to style makes the audience surprised and full of interest.
 
Memories of Vietnamese fashion through the long-term family drama “Miss Sai Gon” is a very special feature that we often remember Saigon with a long dress with flower print highlight, in combination with long black pants non-glossy hairstyle, gentle glazed hair or long black hair.
 
Ao Dai of the old Saigon women does not make people shake by modern fashion. Although dominated by many cultural flows from the West, it still holds a special place in the national culture; as well as typical fashion of Vietnamese women. There are still some emotions choked from our grandmother, our mother, by accident they caught a glimpse of their own silhouette that year. Elegant ladies with innovative ao dai gowns, bandages, curly hair, and eyeglasses walk along the streets of Saigon in turbulent years.
 
In 2008, drama “Bong Dung Muon Khoc” directed by Vu Ngoc Dang attracted the attention of Vietnamese audiences by the content of novel films, the story of love between the girlfriend orphan named Truc and a playboy but sincere who names Nam. The film is well thought out in terms of visuals and costumes. For the actress, she almost had to wear a white Ao Dai for most scenes of the movie. She dressed it in a bicycle having full of books, chasing the streets of the city to earn a living has become one of the unforgettable images in the hearts of fans.
The purity of the film and the purity of it blended together, giving each other a view of the emotional spectrum of hard to describe. Since anyone can be sympathetic, one can also find a part of themselves in these stories. All these things together to paint the springtime innocent and beautiful.

3. Ao Dai in International & Vietnamese Fashion Shows

There have been many designs and performances of ao dai held in Vietnam as well as abroad. The designer Minh Hanh, who has held the highest position in many Vietnamese Fashion Week or big festivals, is one of the people who has achieved great success when introducing and promoting the collection of Ao Dai.

a. Ao Dai in International Fashion Shows

ao dai vietnam
The designs of Ao Dai introduced to Japan was based on two-skinned silk fabric, neck and sleeves are arranged in layers of kimono. The main color is pink chalk and pink peach which is inspired by cherry blossom. The collection in England with 100 Ao Dai was inspired by patterns in British costume and combined with the colors of the Vietnamese national costume.
 
Lan Huong ‘s collection to America was in a collection of jeans and lotus flowers that combined tradition and modern, and express the delivery of Vietnamese American culture. She is also the designer of the new ao dai dress for Vietnam Airline with its bold innovations that trigger multi-dimensional debate. Silk Ao Dai, which appeared in the Paris By Night 106, was performed live on the first and second seasons of 2012 at Planet Hollywood Resorts and Casino, Las Vegas.
 
In the beauty contests of world class such as Miss World, Miss Universe, Miss Earth, the representatives of Vietnam always invest and prepare thoroughly for the costume contest. It is not uncommon for that to cooperate with the owner of the costume. The stylized black dress with the tail of the beaded neck helped Miss Vietnam Mai Phuong Thuy make the top 20 contestants wearing the most beautiful national costume contest Miss World 2006.

b. Ao Dai in Vietnam Fashion Shows

ao dai vietnam
The dress ” Truly Vietnamese” with the design of two layers of clothes by the design of Queen Nam Phuong helped Miss Thuy Lam to top 10 beauties performing the most beautiful traditional costume at the Miss Universe 2008. Inspired by oriental dragons, with brocade motifs characteristic of northern mountainous Vietnam, Miss Universe 2012 also reached the top 10 national costumes that were the most beautiful site by the Missosology beauty pageant.
 
Especially, the image of lotus flowers inspired to designers to create Ao Dai with two main colors: red and yellow, the crown of the royal crystal of runner Truong Thi May at the Miss Universe pageant in 2013 is voted to stand topping the list of the most beautiful dresses; and in this contest, this dress also ranked 4th in the top 10 most beautiful ethnic dress.

    Ao Dai    

Traditional Vietnamese female dress through the ages

As a traditional / national symbol of Vietnam, Ao Dai has its own elegance and beauty. This traditional Vietnamese dress has also undergone considerable changes over the centuries, for cultural, historical and aesthetic reasons before reaching its present form.

    The form of Ao Dai    

Ao dai is made as of a set that includes a silk dress adherent to the bust, which arrives in the middle of the leg, split from two sides to the upper part of the pelvis and trousers. This dress is divided into two parts. The upper part of Ao dai covers almost the whole body. The neck is tight on the body. Includes long and two low sleeves with closed collar. The bottom is in the form of wide pants so long that it touches the feet. With its long history, Ao dai has experienced changes like the development of Vietnamese history.
Evolution of Vietnamese Clothing (and Ao Dai)
ao dai dress
ao dai dress evolution
ao dai vietnam
vietnam ao dai
ao dai vietnam ao dai
vietnam best ao dai design 2021
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

     Sưu tầm by Nguyễn Ngọc Quang     

     Hình Ảnh Minh Họa     

Xem thêm...

Trăng Trên Đỉnh Mt. Juneau - Điệp Mỹ Linh

Trăng Trên Đỉnh Mt. Juneau

Điệp Mỹ Linh

~~~~<❤️>~~~~

Chiều nào cũng vậy, sau khi dùng cơm tại phòng Romeo and Juliet, Kiều-Lam thích đợi ánh hoàng hôn về để lên phòng Windjammer Café nơi tầng 9 của du thuyền Legend of the Seas nghe anh chàng người Gia-Nã-Đại độc tấu Tây-Ban-Cầm; dù du thuyền có đến ba khu vực khác nữa để các nghệ sĩ luân phiên trình diễn mỗi đêm.

Tối nay trong phòng Windjammer Café này chỉ còn lác đác vài người và Kiều-Lam; vì đa số du khách đã đi bờ  – danh từ của Hải-Quân, có nghĩa là rời tàu, rời đơn vị để đi phố – từ sau khi du thuyền cặp bến. Vậy mà anh chàng Canadian cũng vẫn không để ý, chỉ say sưa đàn, thỉnh thoảng lại tự tạo những biến âm rất lạ, dễ cuốn hút người hiểu nhạc. 

Vì ít người, thừa bàn, Kiều-Lam chọn chiếc bàn nơi góc, gần chỗ người nhạc công tài hoa đang ngồi, để nhìn mái tóc dài màu cát vàng của anh lóng lánh dưới ánh đèn spotlights. Anh vẫn ngồi trên bục gỗ cao. Đầu anh nghiêng nghiêng, mắt nhìn vào phím đàn nơi bàn tay trái và mái tóc anh lay động nhẹ theo từng chuỗi âm thanh. Thỉnh thoảng đôi kính mắt của anh lóe lên vì ánh đèn phản chiếu lúc anh ngẫng lên để hất nhẹ mái tóc ra phía sau. Đôi khi vai anh cũng lắc nhè nhẹ theo những cung đàn vui. Khi dạo những đoản khúc buồn, đầu anh hơi cúi xuống để ánh đèn nhạt nhòa từ trên trần cao tạo nên những nét khắc khổ, rã rời trên khuôn mặt hơi dài của anh. Nếu màu tóc của anh đậm hơn một tý, Kiều-Lam nghĩ, nàng sẽ nhầm anh với John Lennon, một thiên tài về âm nhạc của The Beatles. 

Nhân lúc anh bồi bàn đến mời dùng thức uống, Kiều-Lam nhờ anh yêu cầu anh chàng Canadian độc tấu nhạc khúc La Cumparsita(1). Kiều-Lam lắng nghe, tưởng như tiếng đàn quyện với hồn nàng. Và trong thoáng chốc, nàng cảm thấy hồn nàng vượt cao, cao hơn hẳn mọi phủ phàng và tệ bạc mà đời đã vùi dập nàng bấy lâu nay. Kiều-Lam vui và lòng thanh thản như ngày bé thơ, thường lắng nghe người anh họ – Phạm Đình Phê – đệm đàn tập cho nàng hát. Bây giờ nàng không hát được cho nên nàng chỉ gật gật nhè nhẹ theo điệu Tango rộn rã. 

Khi bản Tango sắp dứt, Kiều-Lam nhìn anh chàng Canadian. Lúc anh ngẫng lên, vô tình hướng về phía nàng, nàng khẽ cúi đầu, mỉm cười và đưa bàn tay hơi cao hơn bình hoa Pansy trên bàn một tý, rồi vẫy nhẹ để tỏ dấu cảm ơn. Anh cũng mỉm cười, nhắp nháy mắt tỏ dấu nhận hiểu.  

Sau đó anh chuyển sang điệu Moderato với tình khúc Second Piano Concerto (2). Từ bản nhạc này anh tiếp luôn bản khác một cách liên tục và tài tình cho đến nổi phải đến vài phân đoạn Kiều-Lam mới nhận ra được đó là đoản khúc Melody In F (3). Anh cứ tiếp tục đàn những tình khúc quen cho nên Kiều-Lam vừa ngân nga theo rất nhỏ, chỉ đủ một mình nàng nghe, vừa lơ đểnh nhìn ngọn núi Mt. Juneau sừng sững ngang tầm mắt. 

 

 Mt. Juneau Alaska

Trong thoáng chốc, dáng vẻ hùng vỹ của Mt. Juneau và những ngọn núi xa xa chìm vào màn đêm; chỉ còn những vùng tuyết ẩn hiện lờ mờ trên đỉnh núi cao, từ xa trông như những áng mây không di động. Dưới xa, sát chân núi Mt. Juneau là nhà hàng và cửa hàng bán quà kỷ niệm. 

Du khách nhàn tản bước dọc theo những cửa hàng bán quà kỷ niệm. Kiều-Lam nghĩ, nếu không có ánh đèn từ các cửa hàng và của những trụ đèn đường soi rõ con đường nhựa duy nhất và bãi đậu xe nhỏ nhắn chia cách khu phố và du thuyền thì nàng khó có thể phân biệt được bên nào là biển và bên nào là núi Mt. Juneau.

Từ sau khi rời tảng băng Hubbard Glacier cho đến bây giờ, Kiều-Lam không thể nhớ được du thuyền đã len lõi qua bao nhiêu chân núi. Nhưng không hiểu tại sao nơi chân núi này, với khu phố hẹp mang tên Juneau, nàng lại cảm thấy bồi hồi như nàng vừa đánh mất hoặc là vừa tìm lại được cái gì rất thân thương, rất gần gủi. 

Trong khi Kiều-Lam chưa phân tích được tâm trạng của mình thì nàng chợt nhận ra tiếng Tây-Ban-Cầm của anh chàng Canadian lại chuyển sang một điệu Tango. Nghe quen lắm, nhưng nàng không nhớ được tựa đề của bản nhạc. Mãi đến lúc anh ngẫng lên, mái tóc vàng lay động hơi dồn dập và nét mặt của anh phảng phất niềm vui như nét mặt của một người vừa trở về sau một chuyến viễn du, Kiều-Lam mới nhớ ra đó là nhạc khúc La Paloma (4).

Nhạc khúc này, khu phố hẹp và mặt nước lóng lánh ánh đèn dưới xa như gợi lại trong hồn Kiều-Lam một vùng biển xưa; nơi đó nàng đã để lại những ngày thơ ấu êm đềm, những mối tình một chiều, một mối tình câm – mà sau này vô tình nàng mới hiểu được – và chỉ mang theo được một cuộc tình nhiều đắng cay!

Những ngày thơ ấu nơi vùng biển xưa đó, cuối tuần, nhóm bạn cùng lứa thường rủ Kiều-Lam đạp xe đạp xuống một khu phố hẹp sát chân núi, bên kia con dốc nhỏ, cuối con đường sát bờ biển để ngắm những chú cá âm thầm bơi lội trong tủ kính của Hải Học Viện. Nhiều khi các bạn và nàng đạp xe xuống khu phố đó không phải để ngắm cá trong Hải Học Viện mà chỉ để đi “cà-rơ” dưới mấy cây bàng cằn cỗi dọc theo con đường nhựa duy nhất chia cách dãy phố buồn hiu và những ghềnh đá chơ vơ của một vùng biển nghèo, tên là Cầu-Đá.

Một chiều nọ, tại Cầu-Đá, trong lúc cùng nhóm bạn lựa mua cái kẹp tóc bằng đồi mồi nơi cửa hàng bán quà kỷ niệm, Kiều-Lam nghe một giọng nam rất êm ái: 

-Cô ơi, cô! Xin lỗi, cô làm ơn cho tôi hỏi thăm. 

Cả nhóm vội ngẩng lên, vì không biết ông ấy hỏi đứa nào. Kiều-Lam nhận ra đây là một thanh niên cao, đeo kính cận, dáng vẻ rất chững chạc. Thanh niên nhìn Kiều-Lam, tiếp: 

-Có phải cô là người có tấm ảnh chưng trong tủ kính nơi hiệu ảnh Mai-Ngôn hay không?

Kiều-Lam thoáng bối rối, chưa biết nên nhận hay nên chối; nếu nhận thì hơi mắc cỡ mà chối thì khó quá; vì không quen nói dối. Các bạn đều biết tính Kiều-Lam nhút nhát, bây giờ thấy rõ nàng đang lúng túng cho nên vài đứa đáp hộ: 

-Dạ, nó đó. Nó đó. Nó là... “thủ phạm” đó!

Nói xong nhóm bạn tựa vai nhau, cười một cách thích thú. Thanh niên cũng cười. Kiều-Lam chưa kịp làm mặt giận với các bạn thì bà chủ cửa hàng bán quà kỷ niệm từ ngoài bước vào. Thấy thanh niên đang cười vui với mấy cô học sinh, bà vồn vả: 

-Trời, Vũ! Sao con không mời các cô ấy vào trong nhà mà chuyện trò? Ở ngoài khách khứa ồn ào lắm, con.

Các cô nhìn nhau, không biết thối thoát bằng cách nào. Thanh niên cũng nhìn các cô rồi cười chứ chưa biết phải đáp lời Mẹ như thế nào. Xoay sang các cô, bà tiếp, giọng rất hãnh diện: 

 -Con thứ hai của tôi đấy. Anh ấy học ở Saigon, thỉng thoảng về thăm Mẹ vài hôm rồi lại trở vào Saigon học. Anh ấy hiền, ít nói mà lại chăm học lắm nên chẳng quen biết nhiều; quen được với các cô là quý lắm đó.

Bà quay sang Vũ, tiếp: 

-Con mời các cô ấy vào trong xơi nước đi, con!

Vũ mời nhóm bạn của Kiều-Lam và nàng vào phòng khách, ngay sau bức rèm cửa được làm bằng giấy của những tấm vé số kiến thiết vo tròn và xâu thành chuỗi. Kiều-Lam không hiểu vô tình hay cố ý, Vũ ngồi cạnh nàng. 

 

Sau khi mọi người tự giới thiệu, Kiều-Lam mới biết Vũ đang theo học Y Khoa, năm thứ tư. Các bạn “láu cá” của nàng hỏi Vũ về sự khác biệt giữa đại học Saigon, Huế và Dalat; về những phân khoa nào thích hợp cho con gái; về một Saigon mà các cô luôn luôn ước mơ sẽ có ngày được đặt chân tới. Vũ giải đáp rất tường tận và từ tốn. Thấy Kiều-Lam không nói gì, Vũ hỏi: 

-Còn Kiều-Lam? Sao không nói gì hết vậy? 

Vũ hỏi hơi bất ngờ khiến nàng mất bình tĩnh. Để che giấu sự mất bình tĩnh và sự nhút nhát của mình, Kiều-Lam chỉ guitar trong bọc vải, treo trên tường và hỏi một câu rất lạc đề: 

-Ai chơi guitar vậy, anh? 

Vũ cười rất hiền hòa: 

-Tôi, nhưng còn non lắm!

Chỉ vậy, rồi Kiều-Lam lại ngồi im để các bạn trổ tài ngoại giao. Một lúc sau Vũ lại nói với Kiều-Lam: 

-Từ khi gặp Kiều-Lam tôi mới biết tôi không phải là người ít nói như bà cụ của tôi thường bảo. 

Trong khi Kiều-Lam chỉ cười một cách e thẹn thì nhóm bạn nhao nhao lên phá: 

-Nó để dành hơi để hát đó. 

Vũ cười, nhìn Kiều-Lam. Nàng nhìn xuống đôi guốc Dakao màu trắng, tay vân vê quai nón màu hồng nhạt. 

Khi tiễn các cô ra chỗ dựng xe đạp, Vũ nói nhỏ với Kiều-Lam trong khi nàng đang loay hoay mở khóa xe: 

-Ước gì tôi được nghe Kiều-Lam hát, dù chỉ một câu thôi.

Kiều-Lam chỉ biết cười và lý nhí cảm ơn.

Trên đường về, nhóm bạn gái chia tay nhau trước Grand Hotel. Kiều-Lam đạp xe chầm chậm dọc con đường sát bờ biển để nhìn những cụm thông im lìm/để thấy lá bàng bay bay/để nghe tiếng sóng thì thầm hoà với tiếng guitar độc tấu phát ra từ những máy khuyếch đại âm thanh do đài phát thanh gắn trên mỗi cây bàng. Máy khuyếch đại âm thanh này thường bị rè nên đã làm giảm đi rất nhiều giá trị nghệ thuật; nhưng không hề gì. Đối với Kiều-Lam, lúc đó, giá trị nghệ thuật không cần thiết; nàng chỉ muốn, cùng một lúc, được nhìn lá bàng bay, được nghe tiếng sóng rì rào để tiếng Tây-Ban-Cầm-không-đối-thủ của Phạm Đình Phê trong những nhạc khúc ngoại quốc, dẫn dắt hồn nàng đến những bến bờ xa xăm mà khối óc đầy mơ mộng của nàng cứ nghĩ trong đời có lẽ không bao giờ nàng có thể đến được. Không ngờ, sau khi đến được những bến bờ mà ngày xưa nàng từng mơ ước thì Kiều-Lam mới ý thức được rằng chỉ có một nơi không thể nào nàng tìm lại được, đó là bến xưa!

Vì muốn tìm lại bến xưa, Kiều-Lam đã trở về chốn cũ, nhưng không còn gì; có còn chăng là một eo biển vắng với những gốc cây bàng sần sùi cố bám rễ vào con đường nhựa lỡ lói trước một dãy phố lụp xụp, tiêu điều! 

 

Juneau Alaska

Juneau ơi! Kiều-Lam tự nhủ, nếu Juneau có được vài cây bàng, nếu ngọn núi mà Juneau tựa lưng vào hơi nhỏ hơn một tý và nét kiến trúc của Juneau bớt diêm dúa đi thì nàng sẽ quyến luyến Juneau biết dường nào; vì Jeneau mang được nhiều nét thân thương của một bến xưa mà hồn nàng luôn luôn trân quý!

Dòng ý tưởng của nàng vừa đến đây, Kiều-Lam chợt nghe một giai điệu rất thiết tha/rất dạt dào và rồi tiếng hát hơi khàn và đục của anh chàng Canadian: 

“Feelings, 

Nothing more than feelings, 

Trying to forget my feelings of love...” (5) 

 Đây là tình khúc Kiều-Lam đã yêu cầu anh chàng Canadian độc tấu ngay đêm đầu tiên khi du thuyền vừa rời hải cảng Seward. 

Đêm đó chàng Canadian chỉ đàn. Đêm nay anh vừa đàn vừa hát. Lời ca quyện với tiếng đàn khiến hồn Kiều-Lam chơi vơi trong dòng kỷ niệm ngập ngụa ưu phiền.

Tự dưng Kiều-Lam thảng thốt nhận ra trạng thái tình cảm này dường như cũng đã đến với nàng, nhưng không nhớ vào thời điểm nào. Phải một lúc khá lâu Kiều-Lam mới nhớ được, đó là một buổi chiều chủ nhật, khi nàng đang treo máy sưởi trong nhà ươm lan. Lúc treo xong cái máy sưởi cuối cùng, trong khi nàng đang nhìn khoảng cách từ máy sưởi đến giò Dendrobium gần nhất để lượng định ảnh hưởng của hơi nóng từ máy sưởi đến giò lan thì chợt nghe tiếng hát trong suốt, ngọt ngào văng vẳng trong không gian im vắng: 

“...Đêm nghe tiếng thở dài. 

Đêm nghe những ngậm ngùi...” 

Kiều-Lam đứng lặng, nhìn ra khoảng sân rộng với cõi lòng rưng rức như cõi lòng của người vợ trẻ, ngày xưa, thường lên sân thượng, nhìn về phương trời xa mong chờ bóng dáng một người...Tiếng hát của cô gái vẫn êm ái mượt mà nhưng hồn Kiều-Lam lại giao động từng hồi. Sau này vô tình Kiều-Lam mới biết người hát tình khúc đó là ca sĩ Diễm-Liên, nhưng Kiều-Lam không nhớ tựa đề của bản nhạc. 

Kiều-Lam không nhớ chiều hôm đó nàng có đủ can đảm nghe Diễm-Liên hát hết ca khúc ấy hay là nàng phải đóng cửa vườn lan để khỏi bị tiếng hát khơi lại nỗi đau xưa. Nhưng bây giờ, trong trạng thái tình cảm này, nàng muốn nghe lại tiếng hát ấy để tìm lại chút dư vị đắng cay mà nàng không hiểu nghị lực nào đã giúp nàng chịu đựng được suốt mấy mươi năm dài! 

Trở về phòng, trong khi tìm cassette, earphones và những cuộn băng có Diễm-Liên hát, Kiều-Lam thầm nghĩ đến các con, dâu và rể của nàng – những người đã, không những tặng nàng vé du lịch mỗi năm mà còn sắp sẵn vào va-li những gì nàng cần và những gì nàng thích.

 

Vừa rời thang máy Kiều-Lam vừa nghĩ, trời lành lạnh, đi lang thang trên vùng đất mang nhiều nét thân thương của một vùng biển xưa và lắng nghe giọng ca tha thiết của Diễm-Liên sẽ là niềm thú vị vô biên. Bằng lòng với niềm vui nhỏ nhoi đó, nàng gắn earphones vào tai, mở nút “on” nơi cassette rồi cho cassette và hai tay vào túi áo lạnh. 

Chưa kịp đặt chân lên tấm thảm đỏ dẫn ra cầu thang, Kiều-Lam nghe ai nói gì đó rồi một cánh tay lực lưỡng, màu nâu sậm, chận nàng lại. Kiều-Lam vội lấy earphones ra, nhìn người đã chận nàng: 

- Xin lỗi, ông nói gì?

Anh chàng Mỹ đen cười vui, chỉ vào cái máy kiểm soát, pha trò: 

- Có lẽ bà đang thưởng thức một đoạn nhạc tuyệt vời cho nên bà quên cho thẻ an ninh của bà vào máy trước khi bà rời du thuyền.

Không bận tâm về tính đảng trí của mình, Kiều-Lam lý nhí lời xin lỗi rồi làm theo lời nhân viên kiểm soát an ninh. 

Xoay người ra cầu thang, bước ngược chiều với những du khách trở về, Kiều-Lam nghe loáng thoáng lời chúc của anh chàng kiểm soát an ninh: “Hãy có một buổi tối tuyệt đẹp” mà không biết anh chúc nàng và những người rời du thuyền hay anh chúc những người vừa đi bờ về.

Trong khi du khách đi dần về hướng phố thì Kiều-Lam đi dọc theo cầu tàu, nơi du thuyền đang cặp, để được thảnh thơi một mình, lắng hồn vào tiếng hát, lời ca. 

 Kiều-Lam đến bên chiếc cầu gỗ dẫn xuống bến tàu; nơi đó vài chiếc du thuyền nhỏ và mấy chiếc canoes đang nhấp nhô như đợi thủy triều dâng. Kiều-Lam nhìn lại hướng chiếc Legend of the Seas và thấy cả vùng ánh sáng rực rỡ trên du thuyền phản chiếu trên mặt nước xanh thẫm. Tự dưng nàng cảm thấy nặng nơi lồng ngực và như có điều gì rưng rức trong hồn nàng! Phải một lúc sau Kiều-Lam mới nhận biết được rằng chính vùng ánh sáng trên du thuyền phản chiếu lung linh trên mặt nước đã gợi nơi hồn nàng nỗi cô đơn vô tận của những đêm lang thang một mình trên bến Bạch-Đằng. 

Những đêm đó, ánh đèn từ câu-lạc-bộ-nổi của Hải-Quân, từ những chiến hạm đang cập trước Bộ Tư Lệnh Hải-Quân và từ nhà hàng Mỹ-Cảnh, cũng phản chiếu lung linh trong dòng nước lặng lờ. Trong khi từng cặp, từng cặp sánh bước bên nhau trên bến Bạch-Đằng thì Kiều-Lam lang thang một mình để gậm nhắm nỗi đau riêng! 

Bây giờ, nỗi đau đã rơi vào trạng thái bảo hòa, nhưng tiếng hát thiết tha và giọng ngân êm ái của Diễm-Liên vẫn gợi lại trong lòng Kiều-Lam nhiều nỗi xót xa: 

 

“...Đêm từng đêm thức trắng 

Nhớ thương cuộc tình 

Chìm trong hoang vắng. 

Ôi! Tình yêu bay xa 

Vẫn chưa phai nhòa ...” (6) 

 Kiều-Lam không còn gì để nuối tiếc về một cuộc tình đầy giông bão ấy nữa; nhưng không hiểu tại sao khi nghe đoạn nhạc này nàng cũng vẫn không nén được tiếng thở dài!

Kiều-Lam ngồi lên phiến đá nhỏ cạnh chiếc cầu gỗ. Trong trạng thái vô thức, nàng đưa tay mơn man khóm fireweeds màu hồng nhạt mọc quanh phiến đá. Kiều-Lam hơi ngạc nhiên, tại sao nàng có thể nhận ra màu hồng nhạt của fireweeds khi mà nàng đã đi xa du thuyền, xa khu phố và mấy ngọn đèn đường. Nhìn quanh, nàng cũng ngạc nhiên khi thấy được, xa xa, vùng nước xanh mà lúc sáng chiếc du thuyền nhỏ đưa du khách đi tìm xem cá voi/hải cẩu và gấu. Khi nhìn lên bầu trời trong vắt Kiều-Lam mới nhận ra là trăng đã lên.

Nhìn ánh trăng tự dưng Kiều-Lam nhớ đến ánh trăng của đêm họp mặt tại nhà Vũ. Tối hôm đó, ánh trăng soi rõ khoảng sân rộng có cây ngọc lan và mấy cây mai tứ quý trong chậu kiễn. Vũ hái mấy đóa ngọc lan và trao tận tay nhóm bạn của Kiều-Lam. Khi Vũ đến cạnh, Kiều-Lam cũng xòe bàn tay sẵn sàng đón nhận đóa ngọc lan, nhưng Vũ không để đóa hoa vào lòng bàn tay của nàng mà Vũ lại gắn lên cái kẹp trên mái tóc của nàng. Nhóm bạn hay phá phách của kiều-Lam “ồ” lên cùng một lúc. Vũ chỉ tủm tỉm cười. Kiều-Lam mắc cở quá, chỉ biết ngồi im, cúi mặt, cười. 

Đến phần văn nghệ, nhóm bạn của Vũ đàn và hát rất sôi nổi khiến nhóm bạn của Kiều-Lam buộc nàng phải “đối phó” để khỏi bị...quê! Sau khi Kiều-Lam miễn cưỡng nhận lời, mọi người bảo Vũ thiên vị khi tặng hoa, bây giờ “phạt” Vũ, buộc Vũ phải đàn cho Kiều-Lam hát. Vũ ôm đàn, nhìn nàng, cười cười, chờ đợi. Kiều-Lam nói nhỏ: 

-Dạ, anh dạo cho Do Majeur, slow.

 Kiều-Lam hát tình khúc Trăng-Lạnh của Điệp-Linh: 

“Trăng lã lướt, 

Biết bao thu mùa ru lá rụng. 

Chiếc lá vàng 

Rơi trong tối mênh mang. 

Cùng thời gian 

Lắng trong tiếng thu tàn. 

Nhớ lại chăng đêm nào chiếc lá rơi. 

Người ơi! Nhẹ bước. 

Lạnh lùng thân chiếc lá 

Vàng khô rơi không tiếng vang...” 

Khi nghe Vũ đệm cho nàng hát Kiều-Lam mới biết Vũ là người rất thành thật khi xác nhận chàng không có ngón đàn Tây-Ban-Cầm điêu luyện. Và sau đó Kiều-Lam cũng hiểu Vũ rất thành thật khi chàng đột ngột và vụng về tỏ tình với nàng. Kiều-Lam chỉ cúi đầu, câm lặng. 

Mấy mươi năm qua Kiều-Lam vẫn không hiểu nguyên nhân nào nàng câm lặng. Mấy mươi năm qua Kiều-Lam cũng vẫn không thể hiểu được tại sao nàng không yêu Vũ! Và cũng mấy mươi năm qua, không biết bao nhiêu lần Kiều-Lam đã niệm và đã nghe niệm “Gate Gate Paragate, Parasamgate. Bodhi Svaha...” (Hãy qua, hãy qua bên bờ bên kia...) nhưng nàng cũng không hiểu tại sao nàng vẫn mãi hoài ngụp lặn trong vũng sầu! Dù chìm ngập trong vũng sầu, Kiều-Lam cũng không hiểu tại sao chưa bao giờ nàng hối tiếc là nàng đã câm lặng và đã không yêu Vũ – mà nàng chỉ hối tiếc là nàng đã gửi thiệp thành hôn của nàng đến cho Vũ! 

Bây giờ, cả vùng không gian miền Bắc bán cầu này nhuốm lạnh trong ánh trăng mơ thì trong hồn Kiều-Lam niềm hối tiếc về hành động ngây ngô, thiếu suy nghĩ của nàng ngày xưa cũng ngập tràn! Kiều-Lam thở dài ngẫng nhìn những phiến băng trên đỉnh Mt. Juneau lấp lánh ánh trăng. 

Ánh trăng soi rõ những phiến đá dị hình chia cách những khe núi thâm u. Ánh trăng soi rõ những vạt sương mong manh ẩn hiện trong rừng thông bạt ngàn. Ánh trăng soi rõ những tòa buildings nơi vùng thị tứ của Juneau, ở phía xa. Ánh trăng soi rõ mặt nước xanh thẫm của Gastineau Channel. Ánh trăng soi rõ từng lượn sóng nhấp nhô quanh mấy chiếc Canoes và du thuyền nhỏ. Ánh trăng soi rõ bóng Kiều-Lam trải nghiêng trên khóm cỏ fireweeds đẫm sương. Ánh trăng cũng soi rõ niềm cô đơn trong hồn Kiều-Lam.

Kiều-Lam thoáng rùng mình, không hiểu vì lạnh hay là vì sợ hãi niềm cô đơn. Khi nàng đứng lên, muốn trở lại du thuyền để bớt lẻ loi thì giọng ca sướt mướt của Diễm-Liên đang nức nở ở đoạn: 

thơ 7 chữ viết về đêm

“...Lặng lẽ đi tìm dấu em đêm dài, 

Nhịp nào gõ hồn tôi, 

Cơn mưa dạt dào, vỗ về. 

Nhiều khi, tôi tìm trong ký ức muộn phiền 

Bóng hình ai đã tan vào cõi huyền không...” (7) 

Kiều-Lam lại thở dài, nhìn bóng nàng soải dài trên nền xi-măng lạnh lẻo như nhìn vào quá khứ xa xăm để tìm xem tim nàng đã lỗi nhịp ở phân đoạn nào! 

Kiều-Lam bước đi, chiếc bóng câm lặng của nàng cũng bước theo; từ đó Kiều-Lam hiểu rằng dù tim nàng phải chịu thương tổn đến ngần nào đi nữa thì nàng cũng không thể tách rời cuộc đời còn lại của nàng ra khỏi một dĩ vãng nặng chĩu ưu phiền! 

Kiều-Lam nhìn lên triền núi Mt. Juneau. Trong vùng không gian tĩnh mịch, nàng tưởng như tiếng hát mượt mà, óng chuốt của Diễm-Liên vang xa và trở nên long lanh như những hạc sương bịn rịn trên cành thông dịu dàng…

 

ĐIỆP-MỸ-LINH

-------

*.- Mượn tựa nhạc phẩm Trăng-Lạnh của Ba tôi – Cụ Điệp-Linh.

1.- Của G.H. Matos Rodriguez.

2.- Của S. Rachmaninoff

3.- Của A. Rubinstein.

4.- Của Sebastian Yradier.

5.- Feelings của Morris Albert

6.- Kỷ Niệm Buồn, cassette không ghi tên tác giả.

7.- Vần Tóc Rối của Mai-Anh-Việt.

* Hình ảnh Internet tiểu bang Alaska 

-----

❤️Cám ơn tác giả chị Điệp Mỹ Linh đã gửi đến GNST câu chuyện hay. 

To Top

 
Xem thêm...

TẠ ƠN MẢNH ĐẤT NÀY - Điệp Mỹ Linh

T ƠN MẢNH ĐẤT NÀY 

ĐIỆP MỸ LINH 

☆    

       

Trong chuyến du hành nội địa, tình cờ tôi được ngồi cạnh hai thanh niên. Sau vài câu xã giao tôi được biết người anh tên Mike và người em tên Jack. Jack có mái tóc vàng như tơ và mái tóc đó được cắt và chải giống y mái tóc của Justin Bieber – một nghệ sĩ rất trẻ và đầy tài năng của nền nhạc trẻ Canada. Mike có khuôn mặt tương tự như khuôn mặt của cựu phó tổng thống Hoa-Kỳ, Dan Quayle, và màu mắt của Mike xanh như màu nước của hồ Diablo.

Tôi không hiểu vì cả hai anh em đều có nụ cười vô tư và nói chuyện rất lễ phép hay là vì bộ quân phục rằn ri của Mike mà tôi cảm thấy có rất nhiều thiện cảm với hai thanh niên này. Tôi hỏi hai anh em đi về đâu. Jack bảo Jack muốn tiễn Mike một đoạn đường. Tôi hỏi tiễn Mike đi đâu? Jack quay nhìn Mike, dường như Jack không muốn nhắc đến địa danh nào đó mà Mike sẽ phải đến. Như hiểu ý cậu em, Mike đáp lời tôi:

-Tôi đi Iraq.

Tôi bàng hoàng nhìn Mike. Như nhận ra niềm xúc động trên mặt tôi, Mike vói tay sang phía tôi, vỗ vỗ trên cánh tay của tôi, tiếp:

-Không sao đâu, bà đừng lo. Tôi đã tham chiến tại Iraq hai lần rồi, đây là lần thứ ba.

Tôi muốn nói với Mike nhiều điều nhưng sao tôi cứ nghẹn lại như sắp khóc, nói không thành lời!

Để nén xúc động, tôi quay mặt ra cửa sổ phi cơ. Chờn vờn trong những áng mây trắng như bông gòn, tôi tưởng như tôi có thể thấy lại tấm ảnh và bản tin về sự “trở về” của First Lieutenant Paul Magers!

Paul chết khi chàng chỉ 25 tuổi và mới đến Việt-Nam chỉ có hai tuần! Paul biết quê tôi chỉ hai tuần nhưng thân xác của Paul thì ở lại đó đến gần 40 năm! Trong ảnh, nụ cười của Paul cũng rạng rỡ, vô tư như nụ cười của Mike. Nụ cười đó mà biết hận thù ai! Ánh mắt đó mà muốn bắn giết ai! Bởi vậy mới có một chiến binh Hoa-Kỳ – James Lenihan – trong trận Thế Giới Đại Chiến II, đã bắn kẻ thù xong thì gục đầu bên xác kẻ thù mà khóc:

 

I shot a man yesterday 

And much to my surprise, 

The strangest thing happened to me 

I began to cry. 

 

He was so young, so very young 

And Fear was in his eyes. 

He had left his home in Germany 

And came to Holland to die 

 

I knelt beside him 

And held his hand 

I begged his forgiveness 

Did he understand? 

 

It was the War 

And he was the enemy 

If I hadn’t shot him 

He would have shot me. 

 

I saw he was dying 

And I called him “Brother”  

But he gasped out one word 

And that word was “Mother.”… 

Đang chìm đắm trong dòng suy tư, tôi choàng tĩnh khi tiếng của trưởng phi hành đoàn thông báo phi cơ sẽ đáp xuống phi trường trong vài phút. 

Khi chia tay tại nơi lãnh hành lý, tôi nắm tay Mike, nói với Mike những lời biết ơn rất thành thật và sâu xa. Mike cười:  

-Đó là bổn phận của chúng tôi 

Nhìn dáng Mike xa dần tôi cảm nhận được nỗi lo âu, niềm thương cảm đang dâng lên chất ngất trong hồn tôi. Khung cảnh này và trạng thái tình cảm này khiến tôi nhớ lại những giờ phút bàng hoàng/hoang mang/xốn xang/lo sợ của tôi tại phi trường Frankfurt. 

Lý do đưa tôi vào trạng thái tình cảm phức tạp đó khởi nguồn từ một chuyến du lịch xa… 

 

Vừa rời chiếc xe buýt của công ty du lịch Trafalgar, tôi chú ý ngay đến một nhóm đàn ông lớn tuổi – người Nga – ngồi bên trái lối đi, cạnh con kinh đào. Mỗi ông mang một nhạc cụ nhà binh như saxophone, trumpet, clarinet, v.v. Không hiểu có phải vì nghe những tiếng thầm thì bằng tiếng Anh của du khách hay không mà bỗng nhiên ban nhạc đều đứng lên, cử hành Quốc Ca Hoa-Kỳ.

Nhóm du khách và tôi đều dừng bước, ngạc nhiên, vì đây là lãnh thổ của Nga. Du khách Mỹ để tay phải lên lồng ngực bên trái. Nhìn các nhạc công, tôi nghĩ, có lẽ họ là những người lính trẻ nhất của trận thế chiến thứ II. Tôi cảm thấy nao nao buồn. Những người lính già nua, yếu đuối đang cố kéo chút hơi tàn để tìm sự sống qua bản Quốc Ca của kẻ thù xưa; vì lương hưu của cựu chiến binh Nga rất thấp!

Bài Quốc Ca Hoa Kỳ dứt. Du khách vui vẻ lấy tiền cho vào cái sắc nhỏ được đặt trước mặt các nhạc công. Các nhạc công ngồi xuống, đồng tấu tiếp nhạc khúc America, the Beautiful. Tôi đứng lặng, lòng đầy xúc động.

Niềm xúc động trong tôi lúc này cũng dạt dào như năm 1977, khi con gái lớn của tôi – Xuân Nguyệt – lúc đó đang học lớp 8, được trao tặng giải nhất toàn tiểu bang Arizona về bài luận văn “What Makes America Beautiful?”

Gia đình tôi được giúp phương tiện để đưa Xuân-Nguyệt từ Yuma đến Phoenix nhận phần thưởng trong một buổi lễ vô cùng long trọng. Đó là lần đầu tiên tôi nghe ca khúc America, the Beautiful được cả hội trường đồng ca. Tự dưng tôi khóc. Nhưng rồi âm điệu và lời ca của bản nhạc khiến lòng tôi lắng xuống. Tôi trầm tĩnh lại để nhận những vòng tay thân ái và những lời chúc mừng của những người Mỹ quanh tôi. Theo những lời chúc mừng của những người chưa quen này, tôi hiểu những người này nghĩ rằng tôi xúc động vì thành quả của con gái tôi. Điều đó chỉ đúng một phần; vì, ngoài sự hãnh diện của một người Mẹ, những giọt nước mắt của tôi còn mang nặng niềm âu lo và sự lạc lõng trước một tương lai đầy thử thách mà tôi không hiểu tôi có thể vượt qua được hay không!

Hơn 26 năm qua, với tất cả hy sinh và nỗ lực, gia đình tôi đã vượt được nhiều trở ngại. Các con/dâu/rể của tôi hiện đang đem tất cả khả năng và kiến thức đã học hỏi, đã hấp thụ tại đất nước này để góp công xây dựng một nơi mà ai cũng hơn một lần ước mơ được nhìn tận mắt sự văn minh và phồn thịnh.

Riêng tôi, ngoài sự văn minh và phồn thịnh, nước Mỹ còn có những công dân với trái tim rất vỹ đại. Chỉ có những trái tim vỹ đại mới có thể thực hiện những chuyến máy bay đầy thực phẩm, thuốc men cùng những phái đoàn y tế tình nguyện sang Phi châu cứu đói. Chỉ có những trái tim vỹ đại mới sáng tác và hát say sưa nhạc bản We Are The World để quyên góp hiện kim gửi sang Phi châu cứu đói.

Chỉ có những trái tim vỹ đại mới đưa nhiều phái đoàn y dược sỹ, dụng cụ y tế sang Nga cứu giúp khi lò nguyên tử của Nga, tại Chernobyl, bùng nổ. Chỉ có những trái tim vỹ đại mới có thể thực hiện những chuyến bay khẩn cấp để di chuyển hằng mấy trăm em bé mồ côi ra khỏi Việt-Nam vào cuối Tư năm 1975. Chỉ có những trái tim vỹ đại mới cứu giúp hết đợt di dân này đến đợt di dân khác. Trong số triệu triệu di dân đó có gia đình tôi. Gia đình xin tôi biết ơn:

 

*- Cựu Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến và bà Michael Z. Smith, người đã bảo trợ chúng tôi từ Camp Pendleton. Ông bà Smith có ba người con: Michael, hiện là Đại-Úy Không Quân Hoa-Kỳ và cô con gái nuôi, người Nhật, Kristin cùng với bé Heather. Hiện nay ông Smith là một mục sư ở California. 

*- Ông bà Collins. Ông Collins từng tham chiến tại Việt-Nam. Ông được một gia đình Việt-Nam che chở trong khi Việt-Cộng ruồng bắt. Ông Collins bảo vì Ông mang ơn người Việt cho nên Ông thương và muốn giúp đỡ người Việt với tất cả nhiệt tình. May mắn cho chúng tôi, vì chúng tôi là gia đình Việt-Nam duy nhất tại thành phố Yuma. 

*- Ông bà Collard, người đã thật lòng thương yêu gia đình tôi như ruột thịt. Ông bà thường vui vẻ và hãnh diện giới thiệu với mọi người rằng chúng tôi là con và cháu của ông bà. 

 Tôi không hề biết ông Collard là một cựu chiến binh thế chiến thứ II; vì không bao giờ Ông nhắc nhở hoặc đề cập đến cuộc chiến khốc liệt đó. Đến khi Ông Collard qua đời, người bạn đồng ngũ của Ông đọc điếu văn, tôi mới biết ông Collard có mặt trong trận Trân-Châu-Cảng. Chính ông Collard đã cứu giúp nhiều người, kể cả người đang đọc điếu văn, rời khỏi chiến hạm… và Ông là người sau cùng.

Sự hiểu biết của tôi về quân nhân Hoa-Kỳ trong trận Trân-Châu-Cảng hoặc Normandy chỉ căn cứ theo sách vở và phim ảnh nên rất mơ hồ, rất hạn hẹp. Nhưng sự hiểu biết của tôi về sự hy sinh và lòng quả cảm của người lính Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt-Nam thì khá tường tận – tường tận hơn cả những cuốn sách viết về chiến tranh Việt-Nam mà tác giả chưa bao giờ có mặt tại chiến trường ViệtNam. Do đó, tôi nhận thấy, dù cuộc chiến kết thúc một cách tức tưởi, thiếu công bằng, nhưng cũng phải chấm dứt, vì máu của người Việt – cả hai miền Nam Bắc – và máu của người Mỹ đã chan hòa trong từng thước đất nơi quê hương nghèo khó của tôi.

Sau khi miền Nam bị bức tử, hạm đội Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa đã di tản cả mấy mươi ngàn người Việt thoát khỏi hiểm họa Cộng-sản. Nhưng nếu không có sự hiện diện của Đệ-Thất Hạm-Đội Hoa-Kỳ tại Thái-Bình-Dương cũng như không có sự giúp đỡ vô điều kiện của nhân dân Hoa-Kỳ thì số người tỵ nạn khổng lồ của chúng tôi sẽ về đâu?

Nương vào lòng nhân ái của người Mỹ, chúng tôi vào Mỹ với thái độ biết ơn và lòng tự tin để vươn lên. Người Việt, qua bao thử thách cam go, đã vươn lên, đã góp công xây đắp và bảo vệ đất nước này.

Khi cuộc chiến Trung-Đông bùng nổ, năm 1992, tôi đã đau buồn và lo sợ khi đưa tiễn một độc giả trẻ và thân thiết nhất của tôi – Hải Quân Đại Úy Hoàng Quốc Tuấn – tòng sự trên hàng không mẫu hạm USS. Independence, ra khơi, tiến về vùng lửa đạn của Persian Gulf. Trong lá thư gửi về từ vùng Vịnh, Tuấn viết: “… Người lính Hoa-Kỳ được huấn luyện để bảo vệ Hòa-Bình chứ không phải để gây chiến ...” Theo tinh thần cao cả đó, biết bao thanh niên nam nữ Vietnamese American đã tốt nghiệp hoặc đang thụ huấn tại các quân trường lừng danh của Hoa-Kỳ như West Point Academy, Naval Academy, Air Force Academy, v. v…

Ngoài những tham gia đáng kể về quân sự, giới trẻ Việt-Nam cũng đã và đang xây đắp đất nước này trong tất cả mọi lãnh vực như truyền thông, giáo dục, y tế, khoa học, khoa học không gian, v. v.

Giới trẻ Việt-Nam có những đóng góp lớn lao như vậy thì những nỗ lực của thế hệ di dân Việt-Nam đầu tiên cũng không nhỏ. Thử nhìn bản đồ của các thành phố lớn như Los Angeles, San José, Houston, v. v… thì sẽ thấy: Từ những vùng đất hoang tàn cách nay 20 năm, bây giờ đã trở thành những vùng thương mại sầm uất do người Việt khai thác. Và trong các hãng, xưởng, văn phòng, biết bao người mang họ Nguyễn, Lê, Trần …

Khi những đóng góp của người Việt vào đất nước này mỗi ngày mỗi thăng tiến thì bỗng dưng sự phá hoại từ đâu ùa đến, phủ chụp xuống ngay lòng đất nước mà gia đình tôi đã âm thầm nhận là quê hương thứ hai.

 

 

 

 September, 11- 2001

Tin Nữu-Ước và Hoa-Thịnh-Đốn bị máy bay tấn công đến với tôi trong lúc tôi cùng nhóm du khách dùng cơm trưa sau những giờ thăm viếng thành phố Minks. Tôi ngồi bất động, lòng đầy phẫn uất. Nếu bảo rằng tôi không lo sợ thì không hẳn đúng; nhưng niềm lo sợ trong tôi bây giờ khác hẳn với sự hãi sợ của đứa bé gái, giữa thập niên 40, theo Cha Mẹ tản cư và thấy những chiếc máy bay mang cờ tam tài (cờ Pháp) bắn phá những làng mạc xác xơ. Những chiếc máy bay đó bắn vào tất cả những vật thể nào di động; vì vậy nông dân không giám ra đồng, súc vật bị giết hại, sinh sản không kịp và con người thì đói và thiếu thốn mọi bề.

Hơn hai mươi năm sống yên lành tại miền Nam nước Việt và hơn hai mươi năm sống thanh bình trên đất Mỹ, tôi cứ ngỡ rằng bom đạn đã xa tôi, không còn cơ hội làm tôi sợ hãi nữa. Nhưng không! Trên màn ảnh TV, một tòa nhà của The World Trade Center bốc khói và một chiếc máy bay lao thẳng vào tòa nhà thứ hai. Cả hai tòa nhà lần lượt sụp xuống trong khi niềm phẫn uất trong tôi dâng cao như những cuộn khói đen ngòm thoát ra từ The Twin Towers. Tình cảm trong tôi chẳng khác gì nỗi đau xót của tôi cách nay hơn một phần tư thế kỷ, khi Việt-Cộng pháo kích ồ ạt vào Saigon.

Là một phụ nữ được giáo dục chỉ để nuôi con và phục tùng chồng, ngày đó, trước thảm trạng của quê hương Việt-Nam, tôi chỉ biết viết những dòng ca ngợi tinh thần chiến đấu can cường của Người Lính Việt-Nam Cộng-Hòa và tôn vinh lòng hy sinh vô bờ của những người Mẹ, người vợ và người con.

Bây giờ, trước sự đổ nát và thiệt hại nhân mạng một cách phi lý và tàn bạo tại Nữu-Ước và Hoa-Thịnh-Đốn, tâm hồn tôi bị chấn động mạnh và tôi muốn viết ra những ý nghĩ thầm kín của tôi về một nơi chốn mà gia đình tôi âm thầm thọ ơn. Ý nghĩ này làm cho cuộc du lịch giảm thiểu nhiều phần thích thú. Cuộc du lịch này chỉ vì sự tò mò của tôi, muốn tìm hiểu về một nước Nga rộng lớn.

Nước Nga rộng lớn nhưng môi người Nga không đàn hồi cho nên người Nga không biết cười. Thức ăn của người Nga thường là những miếng thịt dai dừ, mà không ai đoán được và cũng không ghi trong thực đơn là thịt gì, được tẩm trứng hoặc bột rồi chiên, không mùi vị, ăn đệm với khoai tây. Lâu lắm, may ra mới có một bữa thịt gà. Thức ăn của Mỹ như các loại kẹo, ice cream và sản phẩm của hãng Coca Cola được bày bán khắp nơi. Tôi cũng thấy vài nhà hàng McDonald’s và Pizza Hut. Sản phẩm tiểu công nghệ của Nga như thủy tinh và đồ gỗ thì tuyệt đẹp, vì được làm bằng tay. Hệ thống Metro của Nga tại Moscow rất tối tân, dù đã được hoàn tất cách nay nửa thế kỷ. Cứ 30 giây, (vâng, 30 giây) thì một chuyến tốc hành đến và một chuyến đi ngược lộ trình với chiếc kia. Trong sinh hoạt hằng ngày, người Nga không ăn mặc giản dị, xềnh xoàng như người Mỹ. Những buổi trình diễn ballet, skate on ice làm tôi say mê bao nhiêu thì những màn vũ dân tộc và những bản dân ca cũng khiến hồn tôi giao động bấy nhiêu. Âm hưởng dân ca của Nga mang nặng niềm thống thiết của dân du mục.

Moscow's Red Quare- Russia

Dân Nga rất kiêu hãnh về Red Square, vì đó là biểu tượng của thủ đô. Khi thấy trong hình và phim ảnh, tôi cũng nghĩ Red Square rất vỹ đại. Nhưng sau khi thấy tận mắt, tôi nghĩ – không phải vì định kiến chính trị – Red Square không là gì cả, vì thiếu sự hài hòa giữa thiên nhiên và nhân tạo. Khu vực Red Square được lát bằng gạch, trên triền đồi thoai thoải, diện tích khoảng một phần ba của công trường Thiên-An-Môn. Phần cao nhất của Red Square là tòa nhà của chính phủ và mộ của Lenin. Chân đồi bên này là ngôi nhà thờ với những chóp cao hình tròn, chạm trổ và sơn phết rất rực rỡ. Chân đồi bên kia chỉ là một lối đi rộng lớn. Lối đi này, vào những dịp diễn hành để phô trương lực lượng, được Hồng Quân Nga cũng như thiết giáp và các cơ giới nặng dùng làm lối ra. Bây giờ, trên lối ra này, người ta xây một ngôi nhà trên cao, phía dưới để trống vừa đủ cho bộ hành và xe hơi nhỏ ra vào. Lối vào Red Square, phía nhà thờ, cũng được chận lại bằng nhiều dãy trụ xi-măng, với mục đích không cho thiết giáp và cơ giới nặng vào điện Cẩm-Linh.

Trước điện Cẩm-Linh, ban đêm, trong khi những cặp tình nhân thủ thỉ bên nhau những lời mặn nồng thì những người Nga lớn tuổi lại chậm bước, lòng hướng về một thủ đô đã đổi tên: St. Petersburg.

St. Petersburg river by night

St. Petersburg là một thành phố mang nặng di tích lịch sử của Nga-Hoàng. St. Petersburg không chinh phục được cảm tình của tôi nếu không có ngôi nhà thờ cổ còn hằn vết đạn của thời Hitler xâm lược và những bức tranh đầy sinh động của Ivan Aivazovsky, Wassily Kandinsky, Pavel Filonov, v. v… Những dòng sông ở St. Petersburg đã để lại trong hồn tôi rất nhiều lưu luyến. Những dòng sông im lìm, nhẫn nhục, chỉ biết len lõi trong từng ngõ ngách của thành phố trước sự kiêu căng thách đố âm thầm nhưng lố bịch của từng dãy lâu đài nguy nga. Lúc xuôi theo giòng Neva, trong khi mọi người lưu ý đến mấy chiếc cầu dựng đứng, vào những giờ nhất định, để tàu thủy có thể đi qua, thì tôi chỉ nghĩ đến những gì tôi đã thấy trên đoạn đường sau khi vào biên giới Nga.

Trên đoạn đường loang lở ở biên giới, tôi đã thấy những xóm nhà lụp xụp. Thỉnh thoảng tôi mới thấy một chiếc xe hơi cũ thật cũ đậu dưới tàng cây, không biết xe còn xử dụng được hay không. Nơi khoảng sân hẹp, mỗi nhà thường cất một cái chòi nhỏ, mái và chung quanh được bọc ny-lông, để trồng hoa màu. Tôi cũng thấy người dân quê canh tác bằng tay chứ không bằng máy.

Những hình ảnh nghèo khó này cứ theo tôi mãi. Nhưng khi đến Minsk, mọi hình ảnh đều bị đẩy lùi về quá khứ, chỉ còn trong tôi nỗi xót xa của một người vừa biết nơi mình nương náu hơn hai mươi năm qua đang bị xâm phạm nặng nề!

Từ Minsk đến Riga, tôi thấy các thành phố đều treo cờ rũ và mọi người dân địa phương có vẻ sốt ruột, dán mắt vào TV hoặc ngóng tin tức từng giờ. Điều làm cho tôi xúc động nhất là hôm 14-09, lúc 12 giờ trưa, tại khách sạn Scandic thuộc thành phố Helsinki của nước Finland, ban giám đốc đã yêu cầu mọi người đứng nghiêm, dành năm phút mặc niệm để tưởng nhớ những nạn nhân của khủng bố tại Hoa-Kỳ.

Trong khi đứng nghiêm tôi vẫn bị những lời tường trình của xướng ngôn viên đài truyền hình CNN, từ chiếc TV lớn treo nơi góc phòng khánh tiết, chi phối. Tôi đau đớn, xốn xang trong lòng như ngày xưa, năm 1968, hay tin cộng sản Việt Nam tấn công và cưỡng chiếm thành phố Huế – quê Ngoại của tôi.

Sau khi Huế được quân lực Việt Mỹ giải tỏa, tôi nôn nóng muốn trở về để nhìn sự tan thương và đổ nát của quê Ngoại.

Bây giờ, tại phi trường Helsinki đợi máy bay để sang Frankfurt, tôi cũng nôn nóng muốn trở về một nơi mà tôi gọi là nhà – Home. Nhưng bà nhân viên hãng hàng không Lufthansa, sau khi nhìn vé máy bay và thấy rõ ràng tôi không phải là một người da trắng, tóc màu, đã khẳng định:

- Bà có vé. Tôi sẽ ghi tên bà vào danh sách, nhưng sẽ không có chỗ cho bà. Bà phải chờ, vì đây là chuyến phản lực 747 đầu tiên từ Đức vào lục địa Hoa-Kỳ.

- Vé của tôi mua từ lâu, tại sao bây giờ tôi phải chờ? Và chờ đến bao giờ?

- Rất tiếc, tôi không biết bà phải chờ đến bao giờ. Khi nào có chỗ chúng tôi sẽ thông báo cho bà. Hiện tại, chúng tôi có rất nhiều hành khách ứ đọng từ mấy ngày qua. Và chuyến bay này, từ Helsinki đến Frankfurt để về Nữu-Ứớc, chỉ dành ưu tiên …

Không đủ kiên nhẫn chờ bà ấy nói hết câu, tôi cắt ngang:

- Tại sao tôi mới rời nhà chỉ có hai tuần mà nay tôi không thể trở về, hả? Bà ấy ngạc nhiên, nhìn tôi, gằn giọng:

- Nhà? Tôi đáp với giọng nghèn nghẹn như sắp khóc:

- Vâng! Nhà của tôi.

- Cho tôi xem thẻ thông hành.

Chỉ nhìn thoáng qua Passport, bà ấy thay đổi thái độ ngay:

- Vâng. Bà là công dân Mỹ. Bà ưu tiên đi chuyến bay này.

Tôi cúi xuống xách hành lý, lòng âm thầm tạ ơn nước Mỹ; nơi đã cho tôi hiểu thế nào là giá trị thực tiễn của tự do, dân chủ và công bằng. Và trên tất cả mọi điều, nước Mỹ đã cho tôi cơ hội thể hiện tinh thần tự lập của một phụ nữ./. 

 

ĐIỆP MỸ LINH 

Hình Internet

▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

COMING TO AMERICA

America Land Of Many Dreams...

Xem thêm...
Theo dõi RSS này