Văn học

Văn học (157)

CÁCH DÙNG HỌ VÀ ĐẶT TÊN CỦA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

Related image

Một Điệu Múa Trống Rất Đẹp Mắt Của Dân Tộc Người

Yao (Dao) Ở Trung Quốc

CÁCH DÙNG HỌ VÀ ĐẶT TÊN 
CỦA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
 
 
NGUYỄN KHÔI
 
Related image
Related image
 

LỜI DẪN : 
Năm 2006, nxb Văn Hóa Dân Tộc -Hà Nội đã in và phát hành cuốn Các dân tộc ở Việt Nam- cách dùng họ và đặt tên". Trên @ trước đây đã giới thiệu về 6 tộc người : Ê Đê, Chăm (Chiêm Thành),Thái, Mường, Mông (Hmong, Mèo),Khmer.

Nay xin giới thiệu tiếp 1 số Tộc người có cách dùng họ và đặt tên khá độc đáo là :

*A  - NHÓM NGƯỜI VIỆT CỔ :

1 - Dân tộc CHỨT 
2 - Dân tộc THỔ

**B - NHÓM NGÔN NGŨ MÔN - KHMER

1 - Dân tộc BA NA 
2 - Dân tộc BRÂU 
3 - Dân tộc BRU - VÂN KIỀU 
4 - Dân tộc CO (KOR) 
5 - Dân tộc Chơ Ro 
6 - Dân tộc CƠ HO  (k'Ho) 
7 - Dân tộc CƠ TU 
8 - Dân tộc GIÉ - TRIÊNG 
9 - Dân tộc HRÊ 
10 - Dân tộc KHÁNG 
11 - Dân tộc KHƠ ME  
12 - Dân tộc KHƠ MÚ 
13 - Dân tộc MẠ  
14 - Dân tộc MẢNG  
15 - Dân tộc M'NÔNG 
16 - Dân tộc Ơ ĐU 
17 - Dân tộc RƠ MĂM 
18 - Dân tộc TÀ ÔI 
19 - Dân tộc XINH MUN 
20 - Dân tộc XƠ ĐĂNG 
21 - Dân tộc XTIÊNG 

*C - NHÓM VĂN HÓA NGÔN NGỮ TÀY THÁI

1 - Dân tộc BỐ Y 
2 - Dân tộc GIÁY 
3 - Dân tộc LÀO 
4 - Dân tộc LỰ  
5 - Dân tộc NÙNG 
6 - Dân tộc SÁN CHAY 
7 - Dân tộc TÀY 
8 - Dân tộc THÁI

*D - NHÓM VĂN HÓA NGÔN NGỮ MÔNG - DAO

1 - Dân tộc MÔNG ( H'mong ,Mèo) 
2 - Dân tộc DAO 
3 - Dân tộc PÀ THẺN

*Đ - NHÓM VĂN HÓA NGÔN NGỮ KA ĐAI

1 - Dân tộc PU PÉO 
2 - Dân tộc LA CHÍ  
3 - Dân tộc LA HA 
4 - Dân tộc CỜ LAO

*E - NHÓM VĂN HÓA HÓA HÁN

1 - Dân tộc HOA  (Hán) 
2 - Dân tộc SÁN DÌU 
3 - Dân tộc NGÁI

*F - NHÓM VĂN HÓA NGÔN NGỮ MÃ LAI  - ĐA ĐẢO

1 - Dân tộc CHĂM ( Chiêm Thành) 
2 - Dân tộc CHU RU 
3 - Dân tộc Ê ĐÊ  (Rhadé) 
4 - Dân tộc GIA RAI 
5 - Dân tộc RAGLAI  (Raglei, Rai, Noang,  Laoang)

*G - NHÓM VĂN HÓA TẠNG MIẾN , hệ Hán Tạng (Tạng= Tây Tạng, Miến Điện= Myanma) 
1 - Dân tộc CỐNG 
2 - Dân tộc HÀ NHÌ  (U Ní) 
3 - Dân tộc LA HỦ 
4 - Dân tộc LÔ LÔ 
5 - Dân tộc PHÙ LÁ 
6 - Dân tộc SI LA

* H - Dân tộc KINH (Việt) : thuộc nhóm văn hóa ngôn ngữ Việt - Mường

Tổng luận về cách dùng họ và đặt tên

*A -Nhóm người Việt cổ :

1- DÂN TỘC CHỨT:

Có gần 4000 người , có các tên gọi khác là :Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, Arem,Tu va,Paleng,Xơlang, Tợ hung, Cha cú,Tắc cụi. Umo sinh sống ở 2 xã Minh Hóa, Tuyên Hóa Quảng Bình, còn nặng về hái lượm. Họ phổ biến là họ Cao, Đinh, Hồ... 
Trong dó có nhóm Người Rục (Kha toong lương = Mọi lá vàng) được coi như loại "Người Rừng mới phát hiện", dân số  có 51 hộ=212 nhân khẩu sống rải rác trong hang núi, rừng rậm ở miền tây Quảng Bình. Nhóm người Mã Liềng ( Mơ Leng = người) có khoảng 700 người, là nhóm người Việt cổ ở vùng Tuyên Hóa (Quảng Bình), Hương Khê (hà Tĩnh), Khăm Muộn (Lào), không có Họ, nay do Nhà nước đặt họ cho (Cao, Đinh , Hồ) để làm Chứng minh nhân dân. Lễ đặt tên :khi đứa trẻ biết cười.

2- DÂN TỘC THỔ:

còn giọ là Kẹo, Mòn, Cuổi,Tày Pọng, Đan Lai,Ly Hà, sống chủ yếu ở Con Cuông, Nghĩa Đàn, Tân Quỳ (Nghẹ An).Trai gái có tục "ngủ mái" để tâm tình tìm hiểu nhưng không được có hành vi thiếu đứng đắn. Họ tên như người Kinh :Phan, Bùi, Phạm, Trương, Hồ,La, Nguyễn ,Cao, Hoàng, Lê, Chu, Trần.

*B- Nhóm ngôn ngữ Môn -khmer

1-DÂN TỘC BA NA :

Có khoảng 170.000 người ở Tây nguyên, Bình Định, Phú Yên. có các tên gọi : Bơ Nâm,Glơ lăng, Y lăng, Gơ lar, Rơ ngao,...Buôn làng gọi là Plây. Xưa có tục "Cà răng căng tai".Người Ba Na không có Họ. ví dụ: 
Nam có người là Yang Danh, Nữ : Thưr, Thớp, Yung, Blui, Aying,Klrot, Blinh, Chơ, Y owu, Nhiêng, Đim, Đech, Njưk...

2- DÂN TÔC BRÂU ;

có 313 người ,còn gọi là Brạo,ở Kontum. Làng gọi là Srúc. Người Brâu thuộc nhóm các tộc người Song Hệ, tức là cách tính dòng họ, thừa kế tài sản theo cả cha và mẹ và chế độ cư trú Song Phương luân chuyển tùy theo từng hoàn cảnh.Cũng như người Rơ Măm, người Brâu không có tên để chỉ một dòng Họ cụ thể, nhưng họ có cách tính họ tộc huyết thống tới 10 đời : kiêng sau 5 đời mới được kết hôn, vì Luật tục chặt chẽ, dân số lại quá ít nên con trai có khi phải sang Lào, Campuchia để kiếm vợ.

3- DÂN TÔC BRU- VÂN KIỀU:

có trên 55.ooo người ở miền núi Bình Trị Thiên. Trước đây không có Họ, sau này lấy họ Hồ.

4- DÂN TÔC CO (KOR) :

còn gọi là Cùa, Tràu, có ngót 3 vạn người, trồng Quế ở miền núi xứ Quảng. Trước không có Họ, nay là họ Đinh, Hồ...

5- DÂN TỘC CHƠ RO :

Còn gọi Châu ro,Đơ ro, Chro, sống ở Bình Phước, Đồng Nai , Bà Rịa...theo chế độ Song Hệ. Số đông là họ Điểu như người Xtiêng, ngoài ra còn có họ : Chrau Lun (cá sấu), Bicu (cây gỗ mật)...

6- DÂN TỘC CƠ HO (k'Ho) :

có trên 12 vạn người là cư dân bản địa ở Lâm Đồng, Đồng Nai...gồm các nhóm Chil, Lát (Lách- cư trú ở Đà Lạt, cái tên Đà Lạt xuất xứ từ chư nước của người Lát...), Tơ ring, Sree, Nộp... Gia đình mẫu hệ. Làng gọi là "Bon".Có các Họ : Adat,Buoorr, Bondưng, Bontô,Chiphichoreo,Chily , Chil mup, Day Out, Day K, Đazur, Đakriêng, Đưngur, Kơ, Kdun, Llong, Kơpa, Kơsa, Kra zanh, K'tol, Lâm Biêng, Lé mou, Liênghót, Liêng Zẩng, Mbon, Paungtin, Rglê, RơÔ, Rơon, Sarem, Sơao, Sơ kết, Srê... 
Ví dụ : Lơmu hà Kroong, Tuprông Nim (nam); Kgléo, Cillpam Mơlam (nư )

7- DÂN TỘC CƠ TU:

: có trên 50.000 người , là dân bản địa ở dãy Trường Sơn thuộc Thừa Thiên- Huế, Quảng Nam. còn gọi là Cà tu, Gao, Hạ, Phương, Ca tang. 
Có các họ : Achuếch (nước), Adốt (vượn), Amu (chó), A rắt (Con Cuốc ), D râm (cái đầu), Nđnok (Con Bò),Prông (con Sóc), Vọt (khỉ)...

8- DÂN TỘC GIÉ - TRIÊNG:

 có 3 vạn người , là cư dân bản địa ở Kon tum, Quảng Nam...các nhóm :Cà Tang, Ve, Proong, Gié, Giang Rẫy, Triêng  đang từ mẫu hệ chuyển sang phụ hệ, có tục đẻ ngoài rừng...mỗi người Gié- Triêng (trừ nhóm Proong) đều có Họ kèm theo tên, nhưng đàn ông khác với đàn bà. các họ như : Bluông, Bruốt, Cắp năng, Ê đuốt, (tên một loài chim),Khoông, Kriêng, Na xó (vùng đất đỏ)... Ví dụ : 
    Y Một ( Uv T ư Đảng - nữ ), Sô Lây Tăng (Bác sĩ Bí thư Thỉnh Ủy Kontum - nam). 
Nhóm Người Triêng : có trên 1 vạn, 3/4 ở Kon Tum, ở Lào gọi là Tà Liêng. chia thành các chi họ , người đứng đầu thường là Thủ lĩnh có tài : 
- Bloong  Tro : có tài bắt tù binh 
- Chông Hăng : tài bất Cọp V.v... 
  Nhóm NGƯỜI VE : ở Quảng Nam, có khoảng 2000 người, nam giới có các họ : Choong xuyên ( Côn Choong Xuyên Ngâu), Choong Unh, ...Nữ giới có các họ : Plei Pooc, Lêp Pieerr,( H'nei Plei Pooc Thêm) , Rủ Ah... 
  Hiện nay "từ" chỉ nam "côn", nữ "H'nei" đều đã bỏ, vì gây rắc rối khi làm giấy tờ hành chính...

9- DÂN TỘC HRÊ :

có trên 11 vạn người ở Quảng Ngãi, Bình Định., trình độ phát triển khá như người Chăm, sống ở dọc Sông Re. Dưới thời Phong kiến chỉ có 1 họ là họ Đinh, nay có họ Phạm, Nguyễn , Hà... Tên nữ Thi sĩ nổi tiếng là Hơ Vê.

10- DÂN TỘC KHÁNG :

có 1 vạn là cư dân bản địa ở Sơn La , Lai Châu. Họ tên theo người Thái. Ví dụ : Hoàng Sương (nam)

11- DÂN TỘC KHƠ ME : đã có ở phần trước

12- DÂN TỘC KHƠ MÚ: 

Có 56.000 người là cư dân bản địa ở Sơn La, Lai Châu, Yên Bái , Lào Cai, Thanh Hóa , Nghệ an...còn gọi là : Kúm Mụ, Kmụ. Còn là cư dân đông đảo ở bên Lào. Họ và tên người Khơ Mú ở Việt Nam do lịch sử bị người Thái chinh phục, thành dân "bị trị= cuông nhốc" cho Phìa Tạo (Thái) nên thường là có 2 tên : 
    Họ người Khơ Mú nguyên gốc : theo tên các thú rừng, cây cối, chim, vật vô tri...như : 
- Nhóm tên thú : 
Nhóm Rvai (hổ) gồm có : Rvai Veng Ung (Hổ vằn tròn có đốm to);Rvai Xênh Khương (Hổ vằn đen vàng);Rvai Tlắp (Báo); Rvai Đêr (Hổ xám lớn). 
Nhóm Tmoong (Chồn, Cầy) gồm có : Tmoong Hol (Cầy); Tmoong Rung (Cáo). 
 Ngoài ra có nhóm Tiác ( Hươu, Nai);Ho Hoa (khỉ); Hual( Gấu); Goi (Sóc); Oivê (Rái cá); Mar (Rắn);  Kưmbur (Tê tê). 
Nhóm tên chim : nhóm Thràng (Phượng hoàng đất);nhóm Tgooc Xlooc Ôm có 2 nhành :Ôm Cô Tlê (Chim Bồng chanh) và Ôm Lit Praga (Chìa vôi); Chưnđre (Chàng ràng); Ric (én);Rivi (Chim Phường chèo); Lang Tu (Họa mi); Khư Tloc (Cuốc); Klảng (Cắt) ; Ir Glava (Bìm bịp). 
Nhóm tên cây: Nhóm  Tvạ có 3 ngành : Tvạ Tờrông Blai (Guột), Tvạ Ngăm (rau Dớn), TvạVoor ( Dương xỉ) , Xinh Ưa (Tỏi). 
 Ngoài ra lẻ tẻ có họ Rét ( con ông lão "Tu niễu" ở dưới nước); họ Soong (cái Rọ),Ha Lip ( muôi múc canh)... 
  Do người Khơ Mú ở xen kẽ với người Thái (bị trị lâu đời) nên bị văn hóa Thái "đồng  hóa" tới người Khơ Mú khá đận nét : 
 Ở Nghệ An: người Khơ Mú vẫn giữ cách đặt tên theo dòng họ theo ngôn ngữ dân tộc của mình nhứ các họ Tmoong, Soong, Rvai, Lo, Seo, Chon, Cút, Chích, Ven, Hung, O ôc... 
Còn ở Sơn La, Lai Châu thì người Khơ Mú đã đổi sang họ người Thái...họ gốc khơ Mú chỉ còn gọi trong nội bộ dân tộc, tên hành chính (hộ khẩu, chứng minh thư theo họ & tên người Thái) : họ Rvai đỏi thành họ Quàng, ở Nghệ  An lại đổi thành họ Lộc; Rvai Tlăp thành họ Lương, Rvai KrLự thành họ Lự... 
 Ở Điện Biên : họ Ôm thành hị Vi, Tmoong thành họ Lù. 
 Ở Sơn La : họ Ôm thành họ Lò, Tmoong thành họ Lường, họ Chưn đnẹ thành họ Tòng.

13-DÂN TỘC MẠ :

Có trên 33.000 người ở Lâm Đòng , gồm các nhóm Blao, Chô Rô, Chô Tô, Chơ Sôp, Đa Dựng, Đa Huây...trước đây có tục cà răng căng tai.. Làng gọi là "bon". 
 Họ tên : ví dụ K'va Răng (nam), K'Bình, K' Sáu (nữ)...

14- DÂN TỘC MẢNG :

Có 2663 người ở Lai Châu, sống du canh du cư, Làng gọi là "muy". 
 Nguồn gốc xưa có 5 họ chính, nay theo kiểu họ người Thái - H'mông : Tơ Gioảng (Chìn), Vẳn Nơ ( Lò), Văn Nệnh ( họ Anh), Tơ Lot (họ Lùng), Tơ Ổ (họ Pàn), họ Lý, Tào, Vàng, Sùng, Chao, Ma...Trong mỗi dòng họ gốc đều gắn với tên Vật tổ (Tô tem) như chim, thú hoặc một vật nào đấy. Mỗi dòng họ có cách đặt tên theo 1 kiểu riêng : ví dụ: 
 Thông thường là : họ, tên đệm, tên gọi chính thức. Tuy vậy : con trai đều có tên đệm là "A", nhưng lại đặt lên đầu , rồi đến tên người, cuối là họ ( cứ như kiểu tên Tây bên Châu Âu ?) : họ Vẳn Nơ (họ Lò)  như A Muôn Vẳn Nơ = Lò văn Muôn. 
con gái : Thà Vẳn Nơ Muôn = Lò thị Muôn. 
 Họ Từ Gioảng (họ Chìn) thì lại như bình thường : Từ Gioảng A Chảo= Chìn A Chảo. 
Con gái : Từ Gioảng Chảo = Chìn thị Chảo. 
Họ Văn Nệnh : con trai chỉ dùng một "từ" họ : như Nệnh A Kây hay Anh A Kây. 
Con gái : Văn Nệnh Kây, Anh Thị Kây. 
 Họ Tơ Ổ (họ Pàn): con trai đặt bình thường; con gái thì đặt tên đệm là "Chứa" ở giữa- ví dụ : tên là Nhượng thì  với con trai là Tơ Ổ A Nhượng, con gái là Tơ Ổ Chứa Nhượng. 
 Ví dụ : một số tên thông thường của người Mảng hiện đang dùng trên giấy tờ là :Lý A Lầy, Lý A Chức, Lò A Nhì, Lò A Xoang, Tào  A Sến, Vàng Mò Hừ, Lùng Thị Dính, Pàn Thị Nhương, Lò Thị Phương, Hoàng Ngọc Phan, Sìn Văn Son, Pàn Thị Mê...

15- DÂN TỘC M'NÔNG:

Còn gọi là Chil, Gar, Kuyênh, Nông,Preh,Prong, Riăm. có 92.451 người ở Lâm Đồng, Bình Dương , Dak Nông. Tên M'Nông hay Pnông có nghĩa là "người ở núi". 
Người M'Nông ở Buôn Đôn (Dak lak) có nghề săn Voi...xưa có tục cà răng căng tai. 
Các Họ : Ba Sưr, Bing, Bu đăm, Busor, Bu đôp, Bu tông, Bu nô, Bun Toi, Buôn Krong, Chin, Dak cat, Đinh Đrang, Ja, K Liêng, Lieng, Lieng Hot, Long Đing, Lưk, Mbuôn, 
Mđrang, Mok, Nđu, Nong, N'tor, Ong, Pang Pé, Pang Sur, Pang Ting, Pang Tsong, Phi Mbre, Phok,Rche, Rchil, Ry am, R Lăk, Sruk, Tơr, Tumol, Triek, Uêbas, Vmăk. 
 Họ tên : H' Luộc NTor (nữ), K' Tân (nam).

16-DÂN TỘC Ơ ĐU :

Có 301 người, cư trú ở 2 bản Kim Hòa,Xốp Pột (Tương Dương- Nghệ An), sống bằng nương rẫy, hái lượm...là tộc người không còn tiếng mẹ đẻ, bà con sử dụng chủ yếu là tiếng  Thái, tiếng Khơ Mú , băn sắc văn hóa đã mờ nhạt. xa xưa không có họ, nay theo họ người Thái hoặc Lào.

17-DÂN TỘC RƠ MĂM:

có 352 người ở Làng Le , xã Mo Rai, huyện Sa Thầy -Kontum. sống bằng nương rẫy, hái lượm. Tộc người này họ còn sống rải rác ở Lào, Campuchia tùy sở thích, còn ở trình độ tan rã của chế độ nguyên thủy. Dòng họ theo song hệ (cả cha/mẹ) và cư trú song phương (nội/ ngoại) 
Họ tên : Y Ly Trang (nư ).

18-DÂN TỘC TÀ ÔI :

Có 34.960 người ở A Lưới (Thừa thiên -Huế), còn gọi là Pa cô, Pa Hí, Cà Tua... 
giỏ săn Voi. làm Lúa nước.Làng gọi là "Vel". 
Có các họ : Avet (chim Vẹt), Blup, Kêr; Hoa Hăr (Thờ chó), họ Pa tả, A kơ... 
Ví dụ : Hồ Đức Vai (anh hùng quân Giải phóng), Vien Lô, Hồ Onh, Plup Nùng...

19-DÂN TỘC XINH MUN:

Dân số 18.018 người, là dân bản địa ở Sơn La, Lai Châu...xưa gọi là "Người Xá" (có ý miệt thị), bên Thái Lan, Lào gọi là người Khạ. 
Còn có các tên gọi : Xá tú năng (uống nước, uống rượu bằng Mũi), Xá chại càng Lài (có tục xăm cằm), Xá toong lương= xá Lá vàng, Xá Poọng (Xá ở rìa bản do Phìa Tạo quản lý -làm tôi tớ), Xá Xúa (làm thuốc súng), Xá tấu nha ( Xa hay nói: không biết đâu) 
Theo đồng bào thì K'xing có nghĩa là "người", mul= là "núi"- Xinh Mun là người ở núi. Trước không có họ, sau theo người Thái : Lò, Vì...Lường, Mè, Cút... như Lò Văn Sắn, Lò Văn Lên, Vì Văn Khăm...

20-DÂN TỘC XƠ ĐĂNG:

Có 127.148 người ở Kon tum. có các nhóm : Cà Dong, Hà Lăng, Mơ Năm, Xơ Đăng, Tơ Đrá, Hơ Teng, Xê Tác,Xê Tang, Rơ Tê Ang, Rơ Tê A, Holklan,Kmang. 
Làng gọi là "plây". Đàn ông đóng khố.... 
Người Xơ Đăng không có họ, chỉ có "từ" phân biệt trai gái : A Nhông, A Sênh (trai), Y Hên, Y Vênh (nữ)

21-DÂN TỘC XTIÊNG :

Còn gọi Xa Điêng , là hậu duệ của người Phù Nam xưa ở Nam Bộ. Trước đây con trai là K' để trước tên như K' Lư, con gái là Thị...Ví dụ: Thị Diêm, Thị Em 
Sau này có họ Điểu ( Điểu Bảo) người theo họ Thiên Chúa lấy họ Lê ( Lê K' Bang).

Nhóm NGƯỜI TÀ MUN :

ở Tây Ninh có 389 người là nhóm thuộc người Xtiêng.

*C-Nhóm Văn hóa ngôn ngữ Tày Thái1-DÂN TỘC BỐ Y :

Có 1864 người cư trú ở Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang,Tuyên Quang. Còn gọi là :Chủng Chá, Pù Ná, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Din, trước 1945 chịu sự quản lý của bộ máy hành chính người Nùng, canh tác lúa nước, nương rẫy, đã có chữ viết . 
 Họ và tên tựa người Thái, mỗi dòng họ có hệ thống tên đệm riêng từ 5 đến 9 chữ, mỗi chữ dùng cho một thế hệ. Các họ :Dương (Zàng), Lỗ (Lồ), Lục (Lù), Ngũ (Ngủ, U), Phan (Phán), Vi (Vầy), Vù (vủ)...

2-DÂN TỘC GIÁY :

Có 49.000 người sống ở Lào cai, Hà giang,, Cao Bằng, Lai Châu...còn có tên gọi : Củi Chu,Dẩng, Pầu Thình, Pu Xạ,Pu Nà. Có tục "cướp dâu" (kéo vợ) như người H'mông. 
Có các họ : Lò, Vùi, Chảo (Triệu),Phán (Phan), Trần, Vàng (Vương).Nhà thơ Lò Ngân Sủn.

3- DÂN TỘC LÀO :

 Có 11.000 người ở biên giới Tây Bắc VN , tương tự người Thái...Nữ cũng dùng khăn Piêu, Nam thường xăm chữ "vạn" ở cổ tay và hình con vật vào đùi. Theo đạo Phật. Thường mang các họ : Lò , Lường, Vi, mỗi họ có kiêng kỵ riêng, con cái theo họ cha . Ví dụ : Lò Văn Xay...

4- DÂN TỘC LỰ :

Có 4.964 người ở Lai Châu rất gần người Thái, văn hóa kinh tế phát triển, ở nhà sàn 2 mái. Ăn cơm nếp, hút thuốc Lào, hôn nhân tự do, ở Rể 3 năm. Tín ngưỡng :theo đạo Phật. 
 Văn nghệ : ca hát múa phong phú 
  Họ và tên : họ theo cha, con trai có tên đệm "Bạ", con gái có tên đệm "Ý"; các họ : Lò, Vàng, Tao (Đào)...

5- DÂN TỘC NÙNG :

 Có 856.412 người cư trú ở các tỉnh miền núi phía bắc. 
Tự gọi là Người Nùng hay Nồng. Tộc danh này lúc đầu chỉ dùng họ Nông, một trong 4 họ lớn ở vùng Tả hữu giang (Quảng Tây) và vùng Đông bắc VN là Chu, Vi, Hoàng , Nông. 
Trong 4 dòng họ ấy thì vào thời điểm lịch sử phát triển, họ Nông có ưu thế hơn cả, đặc biệt là từ cuộc hưng nghiệp của Nông Trí Cao ( sách xưa phiên âm là Nùng Trí Cao) -đời Nhà Lý, từ năm Tân Tỵ 1041 trở đi nổi lên lập 1 Nhà nước riêng chống cả Tống lẫn Lý, do đó có tên gọi "đất Nùng" ở Quảng Tây. Như vậy tộc danh Nùng từ chỗ chỉ là tên 1 dòng họ (họ Nông), dần dần do viết chệch đi thành tên 1 tộc người. Rồi các nhóm Nùng di cư sang Việt Nam, thường lấy "Quê gốc" để gọi tên: 
 Nùng An gốc ở Kết Châu, Long An. Nùng Phàn Sình ở Vạn Thành Châu. Nùng Inh ở Anh Châu. Nùng Cháo ở Long Châu. Nùng Quý Rịn ở Quy Thuận Châu. Nùng Lòi ở Hạ Lôi. 
Nùng Giang (biến âm của chữ "Choang" -Tráng, ở Trịnh Châu.Nùng Cúm Cọt (phụ nữ mặc áo ngắn); Nùng hua Lài (đội khăn trắng). Người Nùng mặc quần áo Chàm. Ăn có món "khâu nhục" nổi tiếng. Có hát Sli giao duyên, đàn Tính, hát Then., Lễ hội xuống đồng "Lùng tùng". 
  Dòng họ : Nhóm Nùng An ở Hoàng Su Phì có 16 họ : Vàng, Cháng, Xin, Sải, Lừ, Hoàng, Pờ, Ly, Lèng, Sèn, Then, Giằng, Tải. Nhóm Nùng An ở Linh Hồ (vị Xuyên) có các họ : Hoàng, Nông, Triệu,Phùng,Nùng, Đặng, Lưu, Sạch, Hà, Lão, mỗi họ có tên đệm riêng cho nam từ ông tổ đến thế hệ thứ 6, sau đó mới lặp lại. 
  Hệ thống tên đệm của dòng họ người Nùng Dín lần lượt thể hiện qua 6 thế hệ là  : Lao, Slử, Sào, Vần,Thìn,Kháng. Một số tên :Nông Đình Hiên, Mông ký Slay,Hoàng Thị Thiệu, Lục Minh Chỉnh, Mông Lợi Chung, Hà Cắm Di...

6-DÂN TỘC SÁN CHAY :

 Có 147000 người, còn gọi là : Hờn Bán, Mán Cao Lan, Trại, Sờn Nhằn (Sơn nhân)...có 2 nhóm : Cao Lan, Sán Chỉ, sống rải rác ở miền núi phía bắc. Cao Lan có nghĩa là :làn sóng cao ngày xưa ở ven biển, gần gũi tiếng Tày Nùng, nhóm Sán Chỉ có nghĩa là Sơn Tử = người ở núi , gần thổ ngữ Hán. Văn nghệ có "Sình ca" nổi tiếng. 
 Các họ : Dương, Đặng, Đàm, Hoàng, Trương, La, Lục, Trần, Nịnh, Lý, Lâm,Mễ, Mông...Người Cao Lan có 36 họ. Tuy nhiên :có họ chỉ có người Sán Chỉ có như : Đằng,. Đồng, Lương, Vi...hoặc chỉ có ở người Cao Lan như :Âu, An, Bàng, Chu, Chung, Lãnh, Lưu, Quách, Tiêu, Tô, Tơ, Tống, Trạc, Vũ, Vương...Họ Hoàng có 10 chi nhánh như : Hoàng Quan Âm, Hoàng Ngọc Hoàng, Hoàng Nam Hoa, Hoàng Táo Quân, Hoàng Nguyên, Hoàng Ngũ giáp, Hoàng Vùng, Hoàng Bách Vùng...Trong đó họ Hoàng Quan Âm thờ Phật Qua Âm, họ Hoàng Ngọc Hoàng thờ Ngọc Hoàng, Hoàng Thập Giáp thờ ma ngoài trời chỉ cúng thịt trâu, bò; trong khi Hoàng Ngũ Giáp chỉ cúng hoa quả.

7-DÂN TỘC TÀY :

Có 1.477.514 người sống chủ yếu ở Việt Bắc.. tên khác "Thổ", Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí. Thời Bắc thuộc gọi là Man Di, Lý, Lạo hay Sinh Lão.Tộc danh "Tày" bắt nguồn từ "cày ruộng" (cái cày = mạc thay, thây) rồi biến âm thành Tày, Thái ( cần Tày, côn Tay). Từ thế kỷ 15 các lưu Quan, binh lính nhà vua Đại Việt lên trấn thủ lưu đồn lâu ngày đã "Kinh già hóa Thổ " (thổ địa), còn Tày bản địa là "cần Tày cốc đin mác nhả" -Người Tày gốc đất hạt cỏ.  
 Các họ chính gốc : Ma, Mông, Cà,, Nông, Hoàng Lý, Chu , Vi, Ngân, Bế.. như Ma Khánh Bằng, Nông Đức Mạnh, Bế văn Phủng, Hoàng Đức Hậu ...các họ ở xuôi (Kinh)  lên như Nguyễn, Trần, Đàm (Đàm Quang Trung), Hà Thiêm Ích, Vũ , Cao, Đinh...Đặc biệt ở xã Kim Hỷ (Na Rì) người Tày họ Nguyễn gốc Kinh chiếm tới 80% số hộ Tày ở đây. 
  Nhóm Người PA DÍ : có trên 2000 dân ở Mường Khương (Lào Cai) có họ tên như Tày, Thái  như  Nhà thơ Pờ Sảo Mìn (Bạch Tiểu Minh).

8- DÂN TỘC THÁI : đã có ở phần trên

*D- Nhóm Văn hóa ngôn ngữ Mông-Dao

1- DÂN TỘC MÔNG ( H'mong ,Mèo)) : đã có ở phần trên

2-DÂN TỘC DAO : 

Có 620.000 người, sống xen kẽ với các dân tộc ở miền núi phía bắc. 
các nhóm : Dao quần trắng,Dao quần chẹt, Dao Tiền, Dao Thanh Y,Dao Đỏ, Mán, Trại, Đông, Dìu miền,Kim miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn,Mán Sơn Đầu. Các nhóm đều thờ ông tổ Bàn Hồ ( Bàn Vương), có chữ Nôm, có nhiều tập tục cúng bái phong phú tốn kém. 
 Phong tục :Việc chọn ngày tháng để làm nhà quy định :họ Bàn  làm vào tháng 1,2,7,9. 
Họ Lý :tháng 1,2,4,12. Họ Đặng : tháng 1,2,4,12, tuổi  gia chủ được làm nhà từ 30-45, kiêng làm vào các năm "hạn", cần thì phải lấy tuổi cha mẹ thay con để làm. Việc chọn hướng nhà cũng theo dòng họ : nhà hướng đông là các họ Bàn, Triệu, Chu, Lưu; hướng nam là các họ Lý, Đặng , Lê ,Đàm; hướng bắc dành cho họ Trương. Hướng bàn thờ tổ tiên theo dọc ngôi nhà. 
    Ngoài các họ trên còn có họ Bạch,Bao, Đối, Đường, Lan, Mãn, Phùng, Phương, Trần... Có các tên như Triệu Khánh Phương,Lý Lòi Sáng, Lya Mẩy Muội, 
Bàn Văn Mình, Triệu Thị Nhậy (nhì = 2). Họ Bàn (âm Hán Việt) tương đương với Phàn (âm Dao).

3- DÂN TỘC PÀ THẺN :

 Tự gọi là Pạ Hưng, có 5.569 người, cư trú ở Hà Giang, Tuyên Quang. còn gọi là Mèo Lai, Mèo Hoa,Mèo Đỏ...bên Trung Quốc gọi là Hoa Lan Dao (Hung Dao, Thầu Dào) là 1 trong 4 ngành Dao. Thư tịch xưa gọi là "Bát tiên tộc". Một số tác giả Pháp gọi là " Mán Paseng" mới sang Việt Nam khoảng 300 năm cùng các nhón Dao chủ yếu làm nương rẫy ở trên núi cao, có tục "nhảy Lửa" vào dịp tết nguyên đán. 
 Có 8 họ : Phù, Sìn, Làn, Hùng, Tẩn, Tải, Lìu, Ván. ngoài ra có họ Bàn, Triệu, Chẩu, Giàng; có 2 cách gọi : họ Phù (âm Hán), tiếng Pà Thẻn là Ca Bô, Sìn = Ca Sơ .Lìu= Ca Đe, Làn =CaLaMe. 
  Họ Phù ở Bắc Quang có 3 chi là Phù to (Ca bô cộ),Phù Đê (Cabô ca đe). họ Phù gio bếp (Caboo ca xi). Họ Sìn có 3 chi : Ca sơ qua, Ca sơ pi, Ca sơ công hay Pế ca công. 
 Cách đặt tên  theo quy tắc : họ theo cha với trình tự nhất định. Con trai đệm "Láo", con gái đệm "Thì" - ví dụ: 
  Nam : Sìn Láo Tả,Sìn Láo Lở, ...Si, Ủ,Pù, Chớ 
  Nữ :    Sìn Thì Tả, Sìn Thì Lở...................... 
Anh chi em họ ai hơn tuổi  thì là bậc trên.
*Đ- Nhóm Văn hóa ngôn ngữ Ka Đai

1- DÂN TỘC PU PÉO :

Có 705 người ở Hà Giang, còn gọi là : Ka Beo, Penti lô lô. Tiếng  nói gần với Cờ Lao,La Chí , La Ha, sống bằng nương rẫy. Là tộc người còn sử dụng "Trống đồng" (có trống đực, cái). Dòng họ : Chồ,Củng, Chúng, Giàng, Lèng, Lù, Phủ,Thào, ráng, Vàng...    

2-DÂN TỘC LA CHÍ :

có 10.765 người ở Hà Giang, Lào Cai. có tên là Cù Tê, La Quả. giỏi làm ruộng bậc thang, trồng lúa nước. Có các họ : Ly, Lùng, Tận, Vương...

3- DÂN TỘC LA HA :

Có 5686 người ở Sơn La, Lào Cai, làm nương rẫy, có trồng Bông , nhưng không dệt vải ,nên đổi cho người Thái lấy quần áo, ăn  mặc như người Thái. tục ở Rể 4 năm, vợ theo họ chồng.Tín ngưỡng : cho rằng mỗi người có 8 hồn, có bàn thờ ma,nhưng chỉ thờ một ông  bố. Vào mùa hoa Ban nở ( Pan pún) nhà nhà đều làm lễ tạ ơn cha mẹ. 
 Họ và tên : như người Thái, ví dụ Lò Thị Nu (chuột).

4- DÂN TỘC CỜ LAO :

Có 1865 người , còn gọi là Ke Lao sống ở Hà Giang. Canh tác :trồng Ngô trong hốc đá,làm nương ruộng... Phụ nữ mặc áo 5 thân cài nách. Con theo họ cha. 
Mộ phần được xếp các vòng đá rồi lấp kín. thờ cúng tổ tiên. Dòng họ : Cáo , Chảo, Chéng, Hồ, Lý, Min, Sáng, Sênh, Sú, Vân...
*E- Nhóm Văn hóa hóa Hán

1- DÂN TỘC HOA (Hán) :

có 862.371 người ,ở nhiều nơi trong cả nước, trình độ phát triển xã hội cao. Phụ hệ :chỉ con trai mới được thừa kế. Hôn nhân "môn đăng hộ đối- cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" (xưa ) ? Tín ngưỡng :Khổng, Phật , Lão. Có bản sắc dân tộc  , tính cộng đồng rất cao. Họ bên Trung Quốc có 10.000 họ, trong đó phổ cập khoảng từ 45-100 họ, riêng họ Zhang (Trương) có tới 100 triệu người (48% dân số TQ). 
 Ở VN người Hoa có khoảng trên 100 họ. 
 Nguồn gốc các họ : 
-Nguyễn : thời nhà Thương có nước Nguyễn, con cháu lấy tên nước làm họ. 
 Nước Ngụy có nhà thơ Nguyễn Tịch. 
-Họ Lê : cháu nội vua Chuyên Húc được phong ở Lê Dương, tức nước Lê, con cháu lấy tên nước là họ. 
-Họ Trần : đất Trần ở Quận Dĩnh Xuyên, con cháu dòng dõi Ngu Thuấn, lấy tên nước làm họấ 
-Họ Phạm : có ấp Phạm ở Quận Quỳnh Dương, người ở đấy lấy tên ấp làm họ. 
-họ Vũ : con út vua Bình Vương là Hữu Văn ,thích xăm trên cánh tay chữ "Vũ", Vua bèn ban cho họ Vũ. 
-Họ Ngô : đất Ngô ở Quận Diên Lăng, Chu Vũ Vương phong cho cháu 4 đời của Trọng Ung ở đất Ngô, con cháu lấy tên đất làm họ. 
-Họ Lý  (cây Mận) : con cháu Cao Dao làm chức Quan Lý ở Lũng Tây, lấy chức quan làm họ, sau có Lão Tử (Lý Đam) tổ của Đạo Lão. 
- Họ Khúc : đời Chu có chức quan Khúc Thị ở Quận Nhữ Nam, con cháu lấy tên chức quan làm họ. 
-Họ Trịnh : con cháu vua Chu Lệ Vương được phong ở đất Trịnh - Quận Huỳnh Dương, lấy tên nước làm họ. 
-Họ Hồ: nguyên họ Quy ở Quận Yên Định, một người con thứ của Trần Công Mãn lấy tên thụy (đặt khi chết) là họ. 
-Họ Mạc : hậu duệ của Cao Dương Thị được phong ở đất Mạc, lấy tên đất làm họ. 
-Họ Đinh : nguyên họ Khương, dòng dõi Đinh Công (tước vị) con của Tề Thái  Công, lấy tên thụy làm họ. 
-Họ Đặng : Vua nhà Ân phong cho Chúc Man Quý ở đất Đặng, con cháu lấy họ Đặng. 
-Họ Phùng : con cháu Văn Vương hưởng Thái ấp ở đất Phùng- Quận Thủy Bình, sau lấy tên ấp làm họ. 
-Họ Tưởng : con Chu Công được phong ở đất Tưởng - Quân Lạc An, lấy tên đất làm họ. 
  Tên người Hoa thường mẫu mực cho cách đặt tên truyền thống ở Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên...Về giới tính tuy không : "Văn"/nam, Nữ / "thị"  như ta, nhưng cách đặt tên cũng dễ phân biệt nam/ nữ : 
 Nam : Chu Nguyên Chương, Hứa Trụ, Nghị Đoàn, An Văn Phát... 
 Nữ : Mã Tú Anh, Lư Mỹ Niệm, Phan Bích Vân, Lương Ngọc Thuyên... 
 Cách đặt tên của người Hoa theo công thức nhất định : 
-Tên đơn (1 chữ) : Lưu Bị, Trần Nghị 
-Tên đôi (2 chữ): Văn Thiên Tường, Lý Tự Thành 
-Họ kép, tên đơn : Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý 
-Tên 3 chữ Lô Tiểu Lập Kính, Chu Nhị Muội Ly 
-Họ chồng+họ vợ :hoặc họ cha+ họ mẹ : Trần Trương Cúc Như, Vương Cáp Thục Thu.    

2-DÂN TỘC SÁN DÌU :

Có 126.273 người rải rác ở các tỉnh miền núi, trung du phía bắc còn gọi là Sán Déo, Mán Quần Cộc. làm ruộng...là người sáng tác ra cái "xe quệt" do trâu kéo thay cho gồng gánh. Trang phục như người Kinh, có chữ Nôm. 
  Con trai mang tên đện "Á" (Tràn Á Thanh), con gái mang đệm "A" ( Trần A Lan). Quan hệ dòng họ coi trọng như người Hoa. Các họ tiêu biểu : Hoàng, Trần, Ân ,Vi, Tô, Trương, Dương, Đỗ ,Đặng, Diệp, Hà, Lưu, Leo, Phạm, Viên, Thăng, Dư, Đào, Đằng... 
Hệ thống tên đêm được đặt tới 9 đời : Kính, Phượng, Thắng, Vinh,Nguyên, Thế, Văn, Trung, rồi mới lăp lại.

3-DÂN TỘC NGÁI :

Có 4841 người, sống ở Quảng Ninh, Bắc giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tp HCM, Thái Nguyên. Còn gọi là Ngái Hắc Cá, Lẩu Mẩn, Hẹ,Lê, Đàn. Sơn Ngái = miền núi. 
 Trồng lúa nước, đánh cá, giỏi làm Thủy lợi, làm Lò gạch, dệt chiếu... 
 Gia đình phụ hệ. Cưới qua 2 lần lễ thành hôn và lễ nhập phòng. 
Tín ngưỡng : cúng tổ tiên, theo đạo Khổng, Phật, Lão. 
Văn nghệ có hát giao duyên suốt 5-7 ngày mà không trùng lặp , múa Sư  Tử 
 Họ & tên giống người Hoa.
*F-Nhóm Văn hóa ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo

1- DÂN TỘC CHĂM ( Chiêm Thành) : đã có ở phần trên

2- DÂN TỘC CHU RU :

Có 14.978 người sống chủ yếu ở Đơn Dương ( Lâm Đồng) và có khoảng 2000 người ở Ninh Sơn (Ninh Thuận), Đức Linh (Bình Thuận). Chu Ru còn gọi là Cru = "xâm đất" (di cư từ nơi khác đến, còn gọ là :Cado, Kơ lu, Pnông Chăm, tộc người này gần với người Chăm (có thể  là người Chăm ở Nam Trung Bộ lên), giỏi làm ruộng, đồ gốm, thủy lợi. 
 Làng gọi "plây", theo mẫu hệ. Tín ngưỡng :thờ cúng thần linh, ở nhà không có bàn thờ, 1 năm chỉ lập 1 lần ở ngoài Nghĩa địa ( Kôt a tâu). 
Đời sống văn nghệ phong phú như dạng Sử thi Đam San, Xinh Nhã... 
 Họ & tên : B'nahria, Crugiang,Dnơngsang, Đơ Lơng,Ya, K'Bao, Ma, M'Hơi. 
Ví dụ : Manuôi Ta In (nữ).

3-DÂN TỘC Ê ĐÊ (Rhadé) : đã có ở trên

4-DÂN TỘC GIA RAI :

Có 317.557 người, chủ yếu ở Tây Nguyên,Phú Yên , Khánh Hòa. 
Gia Rai có nghĩa là "thác nước". Có 10 họ : đặt theo sự tích bà tổ Rchom (nếu đẻ ở gốc cây um tùm), Nay (gốc cổ , thụ), Rơ Ô, Siu (đẻ ở gốc cây Rsiu), Rmah (đẻ ở gốc Mãng Cầu), vợ chồng làm tình ở Rẫy đẻ ra con  nên có họ là Ksor, Rahlan, Hieo (dưới bóng cây Hieo) Kpă (dưới bóng cây Kbla). 
 ví dụ : Ksơr  Tên Kreng, Ksơr Sahôm Ta (một mắt).

5-DÂN TỘC RAGLAI  (Raglei, Rai, Noang,  Laoang) :

 Có 96.931 người ở Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh -Bình Thuận. Ngôn ngữ, sinh hoạt giống người Chăm , theo mẫu hệ. Dòng họ :  Pa Tâu (đá mài), Pi Năng (cau), Ka to (Bobo), Pupo (tro bếp), Kazá (dựa vào nhau), Camau, Copuro', Chama le'  (dây máu) Chip, Dó, Hà dài, Ja rao, Lao, Man, Bẩu, Pateh, Phul 
 Ví dụ : Chamale' Điêu, Pi Năng Tắc (nam) 
             Catơ Thị Cuống, Chamale' Thị Đăm. 
Tên thường gắn với con vật : Tikuh (con chuột), Anu (con dúi).

*G-Nhóm Văn hóa Tạng Miên , hệ Hán Tạng (Tạng= Tây Tạng, Miến Điện= Myanma)

1- DÂN TỘC CỐNG :

 Có 1.600 người từ Lào, Trung Quốc sang ở Lai Châu. còn gọi là Xắm khổng, Mâng Nhé, Xá Xeng. Do ở cạnh người Thái nên dùng tiếng Thái để giao tiếp, làm ruộng- nương. trồng Bông để đổi lấy quần áo của người Thái, Lào. 
 Các họ tiêu biểu : Chang, Chảo, Hù, Lý, Lò, Lung, Séng. Tên :Lý Hoài Sáo, Lò Văn Saư 
(nam), Chang Thị Lin (nữ).

2-DÂN TỘC HÀ NHÌ  (U Ní) :

Có 17.535 người ở Lai Châu, Lào Cai , làm ruộng, tự túc được mặc. Gia đình phụ quyền .Ăn : thích món cháo. làng bản đông vui, thờ cúng tổ tiên. Văn nghệ phong phú. 
Đặt tên theo 12 con giáp. ví dụ :Cà Bơ là cô Bơ sinh ngày con Lợn, Ha Dé là cậu bé sinh ngày con Gà .  Nam : Pờ A Vù, Chang Bố Hừ, Lỳ Ly phà 
                      Nữ : Pờ Gò Sừ, Lỳ Thị Chom, Hù Mí Dẹ

3- DÂN TỘC LA HỦ :

 Có 6.874 người, cư trú ở huyện Nậm Tè ( Lai Châu) hẻo lánh đi lại khó khăn. 
Gốc gác là người Địch- Khương xưa ở Cam Túc, Tứ Xuyên -TQ, bên Trung Quốc gọi là "Côn Minh tộc", hoặc Miên , Miến (do sử dụng bông cây Gạo-mộc miên ), ở VN gọi là Xá Pươi (Xá ở trần), Xá toong Lương ( Xá lá vàng),Khù Sung,, Cò Sung ( tiếng Thái = ở núi cao). 
La= con Hổ, Hủ = cách nướng thịt ngon nhất. Sống bằng nương rẫy, hái lượm, giỏi đan lát...gia đình phụ hệ, nhà ở : tường trình hoặc nhà sàn. Phụ nữ có chửa kiêng ăn thịt Hổ. 
Người La Hủ ở bên Trung Quốc có 30 vạn (1982), Thái Lan có 35.000 người, còn ở Lào, Miến Điện.  Họ Ly, Vàng, Pờ, Giàng, Phùng, Ma, Sừng...song song còn có hệ thống tông tộc được gọi bằng tiếng La Hủ, thường gắn với 1 loài thú : . 
   Họ La Lò = Hổ, họ Pha Lạ Thó Lò= họ Sóc, Vàng Là Pa Thờ Ngác Lò (chim gõ kiến), Ly Giò Lò =họ Giàng, Ha ná Lò=họ Phù, 
 Trong số 14 họ thì 6 họ có tên riêng là : Thàng, Lò, Giàng, Chang, Hoàng, Ky. Còn 8 họ được mang 4 tên họ giống nhau mà chỉ khác tên đệm như : Pờ La Hủ và Pờ A Lé, Ly La Lok-Ly Pá Lạ Thộ và Ly Lỵ Cơ. Vàng Min Du và Vàng Pà Thô, Phản Xạ và Phản Thu.

4- DÂN TỘC LÔ LÔ :

 Có 3.307 người ở Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai. có các tên gọi : Lu Lộc Màn, Lu Lu, Qua La, Ô man, Di nhân, Di gia, Lạc Tô. Đồng bào tự gọi mình là "Mà Trgix" hay Mu Trgif rất khó phát âm, gọi đơn giản là "Màn Di" hay Mùn Di. Là 1 trong các tộc người lập ra Nước Nam Chiếu ở Vân Nam ,từng sang xâm chiếm Giao Chỉ ( thời Nhà Đường).Kinh tế nông nghiệp khá phát triển, Gia đình phụ hệ., thờ cúng tổ tiên, học hành giỏi giang (tuy dân số ít nhưng đã có những Cử Nhân, Tiến sĩ người Lô Lô) 
 Dòng họ : Bàn, Cáng, Cổ,Chi, Chông, Dao, Dìu, Doãn, Duyền, Hoàng, Hồ, Lang, Làng, Lặc, Lý, Liềng, Lò, Lồ, Lù, Màn, Mèo, Nùng, Pâu, Phái, Sình, Thàng, Thào, Thổ, Vàng, Văn...  Ví dụ : Lò Giàng Páo, Lầu Súng Páo, Lò Si Pao, Mùng Dỉ Đổi, Thàng Dúng Kỉnh, Vàng Dĩ Sinh, Chấn Vần Quang, Thàng Thị Kèn...

5-DÂN TỘC PHÙ LÁ :

Có 9.046 người ở Lai Châu, Sơn La, Lào cai, Hà Giang. Có các hóm : Phù Lá Lão (Xá Phó), Phù Lá Hán, Pố Khô Pà, Phù Lá Đen. Sống nghề nông, trồng bông dệt vải. 
 Làng gọi là "hờ" (Xá Phó), "Chải" (Phù Lá Hán- tiếng Quan Hỏa).Chế độ phụ quyền. Vị trí người vợ được coi trọng, mọi người trong gia đình khá bình đẳng. 
Tín ngưỡng :thờ cúng tổ tiên, theo âm lịch như người Hán, nhưng năm mới bắt đầu từ tháng 10 hay 11 (1 năm 12 tháng theo 12 con giáp, cứ 2 năm có 1 năm nhuận). 
Tiếng nói gần với tiếng Hà Nhì, Lô Lô, La Hủ, Cống và Si La. 
Dòng họ : tiêu biểu là A Si, Nhơ Hê... Ví dụ : Lý Ba Dửn, Đặng Văn Lả, Nìu A Xướng, Nìu Văn Xiêm...

6- DÂN TỘC SI LA :

 Có 802 người ở Mường Tè- Lai Châu...có nguồn gốc với các bộ lạc ở Côn Minh (Vân Nam) Sang Việt Nam từ 200 năm trước từ phía Lào.  Tên tự gọi là" Cú Dề Xừ", các dân tộc khác gọi là "Khả Pé". Canh tác nương rẫy. Gia đình phụ quyền, có tục cưới 2 lần, cách nhau 1 năm. ở nhà đất. Phụ nữ đẻ "ngồi" (Thái). 
Tang ma : quan tài là 1 cây gỗ độc mộc, làm nhà mồ rồi mới đào huyệt. 
Dòng họ : có 5 họ là Hù, Pờ, Lì, Li, Giàng, trong đó họ Hù và Pờ chiếm số đông, mỗi họ gắn với 1 truyền thuyết : Hù gắn với Hổ cứu người; họ Pờ là thanh gươm bảo vệ làng bản. 
Phân biệt trai gái bằng tên đệm: con trai đệm "chà", con gái đệm "Có" (cô); 
Ví dụ : Hù Chà Cây, ...Chà Xóa,...Chà Thái (nam); Nữ như ...Có Ché, Có Dớ...

H* Dân tộc Kinh (Việt) :

Có trên 70 triệu người , chiếm 86 % dân số cả nước, người  Tày -Thái goi người Kinh là "Cần Keo, côn Keo" ( Keo= Giao...). Người Giao Chỉ khác người Hán ở chỗ tầm vóc thấp nhỏ hơn, lăn lẳn thân mình (gắm) chứ không to béo. 
  Họ Và tên : theo Sử sách thì người Kinh đã có Họ và Tên từ Thế kỷ thứ 2 trước Tây lịch. 
Đó là các nhân vật lịch sử như An Dương Vương- Thục Phán, Cao Lỗ, Đào Nồi, Lý Thân (Lý Ông Trọng) ...trong 1 thời gian dài, họ tên người Kinh chỉ  có 2 tiếng, sau thêm "thị" để phân biệt giới tính như Lê Thị Đoan (mẹ của 2 Bà Trưng), Triệu Quốc Đạt (anh trại Bà Triệu). Người Kinh thướng có tên "Nôm" (Cu Tèo, cái Hĩm) lúc nhỏ gọi thông thường, 
 và tên "Chữ" khi làm giấy tờ, đi học. Điều thú vị là : có những trường hợp người Kinh đặt tên không theo "tiêu chí" nào ? với các cái tên vô nghiã (không có trong Tự Điển) như 
Đặng Thị Tèo, Trần Văn Đuống, Trạch Văn Đoành , Nguyễn Thế Cởng... 
Ngoài tên do cha mẹ đặt (giấy khai sinh), còn có họ tên do Vua ban cho như : Nguyễn Trãi= Lê Trãi ( Quốc tính),  Lê Danh Phương = Lê Quí Đôn... 
Tên do chính mình tự đặt : Hồ Chí Minh (Nguyễn Sinh Cung), Lê Duẩn (Lê Văn Nhuận), Trường Chinh (Đặng Xuân Khu)... 
  Họ  và tên người Kinh ngày càng có nhiều "từ" : trước 1945, trong số 448 nhân vật lịch sử chỉ có 1 người có họ tên 4 chữ là Lương Thị Minh Nguyệt ( tức Kiến Quốc Phu Nhân thời Vua Lê Thái Tổ). Việc đặt tên thường tránh tên "húy" (tên cúng cơm ông bà cha mẹ, tên kỵ húy do Triều Đình quy định.) 
  Người Kinh có trên 300 họ, trong đó : họ Nguyễn chiếm 38 % dân số cả nước; họ Lê 9,5 %; họ Trần 11%, họ Phạm 5 %, họ Vũ/ Võ 3,9 %, họ Ngô 1,3 % rồi đến các họ Lý, Khúc, Trịnh, họ Hồ 1,3 %,họ Đinh, họ Đặng 1 %, họ Phùng, họ Tưởng... 
Họ Mạc : Xuất sắc có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Thái tổ Mạc Đăng Dung...sau do biến loạn phải đổi ra các họ là : Bế, Hà, Nguyễn, Vũ, Lê, Hoàng, Thạch, Thái, Mai, Cát, Chử,Đặng , Đoàn, Đỗ, Phạm , Phan, Bùi, Dương, Lều, Hoa, Ma, Đào, Khương , Tô... 
  CÁCH ĐẶT TÊN  rất đa dạng : 
- Giới trí thức thường đặt tên theo "chữ Hán" (bộ thủ), theo các tích trong sách  sử... 
-Bình dân :theo tên nôm na bằng các "từ" thuần Việt, sau lớn lên lại đổi như : Hồ THơm = Nguyễn Huệ, Phạm Thị Gáo = Phạm Thị Loan (gáo với Lon)... 
-Cách đặt tên theo âm vần : Biên (cha),- Bình, Bồng, Bưởi, Bắc (con); Mít (mẹ)- Xơ, Múi ,Hột (con)...Tên cha/ con đồng âm : Đỗ Đại Đồng/ Đỗ Đại Định 
Nói Lái tên cha mẹ thành tên con như Tiến (cha)/ Giang(mẹ) = Giáng Tiên (con).Ghép tên cha mẹ thành tên con : Lê Hồng Phong (cha)/nguyễn Thị Minh Khai (mẹ)= Lê Hồng Minh (con). Tên ghép theo sự liên tưởng : Hội (cha)/ Nghị (con). 
Đặt theo nghề : Sĩ, Nông, Công, Thương...Đặt theo dụng cụ :Chàng, Đục, Cưa, Bào...Đặt theo tên các nước : Nga, Mỹ, Nhật, Pháp...theo địa danh lịch sử :Việt Băc, Điện Biên, Sông Lô.. theo thời  cuộc : Trường, kỳ, Kháng , Chiến... 
 Theo can chi :Tí, Sửu...theo mùa : Xuân , Hè...theo tưởng vọng các triều đại : Đường, Tống, Minh, Thanh...Theo ước vọng :Phúc, Đức,Vinh, Hoa... 
Theo danh nhân, nghệ sĩ : Quang Trung,Tố Uyên...theo thứ tự : Một, Hai, Ba, Bốn... 
Theo cây cối : Lý, Đào , mộc, Lan , Huệ...theo con vật : Long, Lân ,Quy, Phượng 
 Đặt theo lấy tên "người tình" xưa để tưởng nhớ; theo tên "kẻ thù" để chửi cho bõ tức... 
Đăt kèm tên Tây cho "sang" như : Vũ Thị Nô En, Nguyễn Lê Na, Phạm Bá Rose... 
Hỗn danh : Năm Sài Gòn, Tài Chó, Chí Phèo... 
 Các tên hiệu của Nho sĩ : Nguyễn Du, tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; Phan Bội Châu/ Sào Nam. Nguyễn Trãi /Ức Trai...  Bút danh : Tô Hoài / Nguyễn Sen, Tố Hữu /Nguyễn Kim Thành... Xước danh : Phù Thăng/ thằng Phu (Lục Văn Phu). 
Pháp danh : Thích Trí Quang .Đạo hiệu : Vạn Hạnh Thiền Sư... 
Tên thánh : Phê rô Phạm Văn Tĩnh...Biệt danh : Thắng cụt, Bảy Sẹo... 
Tên theo chức vị : Hồ Chủ Tich, Ngô Tổng Thống...

Tổng luận về cách dùng họ và đặt tên

Nước Việt Nam ta có 54 dân tộc (Tộc người), xưa chia làm nhiều Bộ lạc sống gần gũi với thiên nhiên nên tên các con vật  , thực vật thường dùng để đặt Họ và Tên để phân biệt dòng giống... sau giao lưu với người Hán, người Viêt ta đã tiếp thu thêm một số Họ nữa. 
Một số dân tộc thiểu số không có Họ thì do giao lưu với người Kinh hoặc do Nhà Vua ban cho các Họ...Họ và tên là để phân biệt Người này với người khác, cùng với chúc năng thẩm mỹ (hay về ý, đẹp về âm). 
  Xưa kia con người không có tên, chính nhờ đặt tên (mệnh danh) thì loài người mới có sự khai mở trời đất, làm cho vạn vật thoát khỏi sự hỗn mang ban đầu. Họ và tên trở thành một bộ phận quan trọng ( như số kiếp) trong cuộc đời mỗi con người, gắn bó máu thịt của chúng ta (con vật chết để lại bộ xương,con người chết đi còn để lại : lưu danh muôn thưở (tiếng thơm) hay lưu xú (tiếng xấu) nghìn thu là thế ? 
 Khi đã có tên là con người đã được Xã Hội Hóa (công nhận) đặt cho một dấu ấn và chỉ định cho một thân phận (như một số phận của định mệnh, mà số phận của mỗi người là do chính người đó, qua sự điều khiển vô thức mà hình thành nên ( đức năng thắng số/ mưu sự tại nhân-thành sự tại thiên ?) 
  Do những bối cảnh lich sử văn hóa,xã hội khác nhau của các dân tộc khác  nhau nên KẾT CẤU HỌ VÀ TÊN (toàn bộ các bộ phận cấu thành Họ Tên và các mối quan hệ giữa các bộ phận đó) cũng khác nhau : 
    Nói chung có 3 loại kết cấu Họ Tên khác nhau : 
-Các dân tộc có Họ đặt trước Tên như Trung Quóc,Việt Nam, Triều Tiên... 
-Các dân tộc có tên đặt trước như Anh, Mỹ Pháp, Italia, Nga, Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha. Ba Lan, Đức...ở Việt Nam có tộc người Ê ĐÊ... 
- Những dân tộc chỉ có Tên mà không có Họ như người Tây Tạng, tộc ở Myanma (Miến Điện).ở VN có dân tôc Xơ Đăng, Ơ Đu... 
 Ở Việt Nam hiện nay có trên 1020 họ... 
MÔ HÌNH ĐẶT TÊN : 
Việt : Họ - tên đệm- tên chính ( Nguyễn Văn Linh ) 
Anh , Mỹ : tên đầu-tên giữa-họ ( Stuart  E. Eizenstat) 
Nga : Tên - tên cha- họ ( Alexander Obrenovic Puskin) 
Ba Lan : Tên- tên thứ nhì-họ (Sylwia Katarzyna Kucharska) 
Người Ê ĐÊ ; Nam-tên-họ-chi họ ( Y Ly Niê Kđăm)

Viết tại Góc thành nam Hà Nội, xuân 2006 
Nguyễn Khôi

NGUYỄN KHÔI

Sinh: 26/12/1938 tại Thị xã Yên Bái

Quê quán: xóm(phố) Đình, xã (phường) Đình Bàng, Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Nguyên Phó vụ trưởng Vụ Dân Tộc (chuyên viên cao cấp) - Văn Phòng Quốc Hội nước Việt Nam; 

Ủy viên BCH Hội VHNT các Dân tôc thiểu số Việt Nam (khóa 2), Hội viên Hội Dân Tộc Học Việt Nam, Hội viên Hội nhà văn Hà Nội, Ủy viên BCH Hội văn nghệ dân gian Hà Nội.

 

Tê Hát sưu tập,
Ảnh minh họa

Related image

   
Xem thêm...

BẢNG XẾP HẠNG 10 TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG ĐẦU TẠI MỸ 2017

 

Image result for Commencement graduation top 10 university in usa photos

Image result for mit school boston falls beautiful photos

Photo: Cambridge, Massachusetts in the Fall

BẢNG XẾP HẠNG 10 TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG ĐẦU TẠI MỸ NĂM 2017 

Trong bảng xếp hạng các trường Đại học hàng đầu thế giới năm 2017 do tổ chức QS World University Ranking xếp hạng, Mỹ vẫn tiếp tục là quốc gia đứng đầu với hơn 30 trường Đại học trong top 300 của thế giới. Khám phá ngay danh sách xếp hạng 10 trường Đại học hàng đầu tại Mỹ năm 2017 do QS xếp hạng. Massachusetts Institute of Technology (M.I.T) không chỉ được xếp hạng là trường đại học hàng đầu tại Mỹ mà đó còn là trường đại học hàng đầu thế giới năm 2017 và liên tiếp trong 5 năm liền. Sinh viên theo học và tốt nghiệp tại MIT đều trở thành những người nổi tiếng và rất thành công trong cuộc sống **. MIT được biết đến với các ngành khoa học vật lý và kỹ thuật, đặc biệt ngày càng được đánh giá cao về các lĩnh vực khác trong nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn.

Image result for Commencement graduation famous people MIT university usa photos
 
1. Massachusetts Institute of Technology (MIT):
Massachusetts Institute of Technology (MIT) là trường đại học tốt nhất nước Mỹ năm 2017
Massachusetts Institute of Technology - Cambridge, Massachusetts USA không chỉ được xếp hạng là trường đại học hàng đầu tại Mỹ mà đó còn là trường đại học hàng đầu thế giới năm 2017 và liên tiếp trong 5 năm liền. Sinh viên theo học và tốt nghiệp tại MIT đều trở thành những người nổi tiếng và rất thành công trong cuộc sống. MIT được biết đến với các ngành khoa học vật lý và kỹ thuật, đặc biệt ngày càng được đánh giá
cao về các lĩnh vực khác trong nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn.
 
Image result for mit school boston falls beautiful photos
M.I.T Awards Archery môn thể thao bắn cung Olympic.

2. Đại học Stanford:
Đại học Stanford
Tăng 1 bậc trong năm nay vượt qua Đại học Harvard, Đại học Stanford đứng thứ hai trên thế giới trong các bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu năm 2016-2017. Nằm ở trung tâm Silicon nổi tiếng, Đại học Stanford đặc biệt nổi tiếng về ngành học kinh doanh

Image result for top truong dai hoc noi tieng nuoc my photos

3. Đại học Harvard:
Đại học Harvard
Được thành lập năm 1636, Harvard University là trường Đại học lâu đời nhất nước Mỹ với 380 năm xây dựng và phát triển. Năm 2017 Harvard nằm top 3 trường đại học tốt nhất thế giới. Đại học Harvard đứng đầu thế giới về các trường khoa học tự nhiên và y học năm 2015. Ngoài ra trường còn nổi tiếng với lĩnh vực Nghệ thuật và Nhân văn.
 
Image result for Commencement graduation famous people harvard university usa photos
Bill Gates tỷ phú thiên tài
 
Image result for Commencement graduation famous people harvard university usa photos
 
Related image
Vợ chồng cựu tổng thống Obama
 
Image result for Commencement graduation famous people harvard university usa photos
Filmmaker Steven Spielberg steps onto the stage during Harvard University commencement exercises, Thursday, May, 2017
 
Image result for Commencement graduation famous people harvard university usa photos
Natalie Portman Harvard University. Portman tự nhận mình là "thông minh hơn 1 ngôi sao điện ảnh", đã tốt nghiệp cử nhân ngành tâm thần học tại Đại học Harvard trong thời gian đóng phim Star Wars. 
 
Image result for Commencement graduation famous people harvard university usa photos
Jeremy Lin graduated from Harvard in 2010. He was a standout guard on the Harvard basketball team, the star of an incredible stretch as a New York Knick, Houston Rocket NBA ...
 
Image result for Commencement graduation famous people harvard university usa photos
Matt Damon, Actor: The Bourne Identity producer and screenwriter. 
 
Related image
 
Related image
 
Related image
Mark Zuckerberg CEO Facebook returns to Harvard to collect honorary degree

4. California Institute of Technology (Caltech):
California Institute of Technology (Caltech)
Tọa lạc tại Pasadena, California, Caltech được xếp hạng top 5 thế giới trong năm nay. Với quy mô nhỏ chỉ khoảng 2,200 sinh viên, Caltech là trường Đại học nhỏ nhất trong top 10 trường Đại học hàng đầu tại Mỹ. Caltech nổi tiếng với các nghiên cứu mang tầm cỡ quốc tế về Kỹ thuật, Khoa học và Khoa học tự nhiên.

5. Đại học Chicago:
Đại học Chicago
Được xếp hạng thứ 5 tại Mỹ và xếp thứ 10 trên thế giới năm nay, Đại học Chicago được đánh giá cao về Nghệ thuật và Khoa học. Trong số các cựu sinh viên của Đại học Chicago thì có đến 89 người đã đạt các giải Nobel. Khoa Vật lý của trường đã đặt nền móng cho việc xây lò phản ứng hạt nhân nhân tạo đầu tiên trên thế giới.

6. Đại học Princeton:
Đại học Princeton
Vẫn giữ xếp hạng 11 trên thế giới trong năm nay, Đại học Princeton được thành lập từ năm 1746 và là một trong những trường đại học lâu đời nhất tại Mỹ. Trường rất có uy tín trong các lĩnh vực về Nghệ thuật và Văn hóa. Trong số cựu sinh viên của Princeton có tổng thống Mỹ Woodrow Wilson và James Madison.
 
Image result for Commencement graduation top 10 university in usa photos

7. Đại học Yale:
Đại học Yale
 
Đứng thứ 15 trên thế giới, Đại học Yale là nơi đào tạo ra nhiều cựu sinh viên nổi bật, trong đó có 5 Tổng thống Mỹ và 13 tỷ phú. Được thành lập năm 1701 và đến năm 1861, đại học Yale đã trao bằng tiến sĩ đầu tiên tại Mỹ. Trong tổng số 12.385 sinh viên của Yale có khoảng 20% là sinh viên quốc tế, đại diện cho 118 quốc gia.

8. Đại học Cornell:
Đại học Cornell
Tọa lạc tại Ithaca, New York, Đại học Cornell đứng thứ 16 trên toàn thế giới năm 2017 và đứng thứ 2 trên thế giới về khoa học thú y trong bảng xếp hạng Đại học thế giới của QS năm 2016.

9. Đại học Johns Hopkins:
Đại học Johns Hopkins
Xếp hạng 17 trên thế giới, Đại học John Hopkins  Baltimore, MD được thành lập năm 1876. Trường được đặt tên theo nhà từ thiện Johns Hopkins, và là trường đại học đầu tiên ở Mỹ chuyên về nghiên cứu. Khoa học đời sống và Y học là các khóa học tiêu biểu tại đây.

10. Đại học Pennsylvania:
Đại học Pennsylvania
Đại học Pennsylvania thường được gọi là Penn, xếp hạng 18 trên thế giới. Trường được sáng lập bởi Benjamin Franklin, 1 trong những người cha đẻ của nước Mỹ. Năm nay trường đứng đầu trong danh sách các trường điều dưỡng hàng đầu trên thế giới.
 

Image result for Commencement graduation top 10 university in usa photosHarvard University Commencement - May, 2017

Tê Hát sưu tập tổng hợp

** Con trai độc nhất của anh NNQ+ chị dâu WeiLing đã ra trường ở Đại Học M.I.T khi cháu vừa tròn 18 tuổi. Anh chị mua nhà ngay trường cho cháu ở khi cháu còn đang học M.I.T thay vì phải đi thuê rất đắt tiền ở Boston nhất là ở gần trường học M.I.T. Nhà anh chị vẫn giữ đã nhờ công ty Realtor đang cho thuê và quản lý.

 

 

Xem thêm...

TỨ ĐỨC TRONG THỜI HIỆN NAY

Image result for Công, Dung, Ngôn, Hạnh photos

TỨ ĐỨC TRONG THỜI HIỆN NAY

Image result for Công, Dung, Ngôn, Hạnh photos
 
 
Trong cuộc sống, chúng ta không thể thiếu cái đẹp, cái đẹp bất biến trường tồn, cái đẹp tiềm ẩn trong con người được biểu hiện qua văn hóa ứng xử, qua nét cao quý của tâm hồn, qua cái đạo đức trí tuệ. Cái đẹp giúp con người xây dựng nhân cách ngày càng hoàn thiện hơn. Cái đẹp được nói đến ở đây chính là cái đẹp tâm hồn của người phụ nữ. Đặc biệt là cái đẹp trong lễ giáo xưa, đó là Tứ Đức: Công, Dung Ngôn, Hạnh. Trải qua dòng lịch sử, liệu Tứ Đức có lạc hậu trong thời đại ngày nay không?  
 
 
 
Image result for Công, Dung, Ngôn, Hạnh photos
 
 
 
 1. Đòi hỏi của Tứ Đức trong thời hiện nay
 
        CÔNG  đối với người phụ nữ ngày nay, là vừa khéo quán xuyến công việc nhà vừa lo công tác ngoài xã hội, biết sắp xếp công việc sao cho hợp lý, cẩn thận và chu đáo, biết nuôi con khỏe, dạy con ngoan: “Đảm việc nhà, giỏi việc xã hội”. Ngoài ra, phải có nghề nghiệp ổn định và làm tốt nghề của mình. Làm tốt công việc của mình sẽ giúp người phụ nữ tự tin, khẳng định được khả năng của mình, góp phần vào kinh tế cho gia đình và đóng góp tài năng, trí tuệ cho xã hội.
 
        DUNG  của người phụ nữ thời nay, không còn là nét đẹp “yểu điệu thục nữ, liễu yếu đào tơ” mà là khỏe và đẹp. Khỏe để làm việc tốt, để giữ gìn hạnh phúc gia đình và để sinh ra những đứa con thông minh, khỏe mạnh. Đồng thời, dung còn là nét đẹp nữ tính: gọn gàng, tinh tế trong cách ăn mặc và trang điểm; là vẻ mặt tươi tắn, linh hoạt; là phong thái cởi mở, hòa nhã; là cử chỉ thân mật, chân thành; nhất là luôn biết nhu hòa, khiêm tốn. Vì thế, dung là vẻ đẹp của sự hài hòa giữa hình thức và tâm hồn. Sắc đẹp là diễm phúc, nhưng bản thân sắc đẹp không phải là đức tính, mà là cái nết: “Cái nết đánh chết cái đẹp”.
 
        NGÔN là lời nói có duyên, gây được thiện cảm với người nghe. Lời nói dịu dàng, giọng nói nhẹ nhàng thì hiệu quả càng lớn khi dạy bảo con cái, khi khuyên nhủ người chồng và cả khi dàn xếp công việc xã hội, thương lượng trong kinh doanh. Ngày nay, người phụ nữ không chỉ cần nói năng lịch thiệp, mà rất cần sự thẳng thắn, chống lại sự bất công trong gia đình và ngoài xã hội. Lời nói của người phụ nữ càng dịu dàng, tinh tế thì sức thuyết phục càng cao.
 
       HẠNH của người phụ nữ ngày nay, tuy không “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, nhưng đức hạnh của người phụ nữ muôn đời vẫn là yêu chồng, thương con, giàu đức hy sinh, chung thủy trong hôn nhân, không đua đòi trong cuộc sống. Đồng thời, người phụ nữ cần có lòng vị tha, độ lượng với mọi người; có ước mơ, hoài bão trong nghề nghiệp và biết nỗ lực biến ước mơ, hoài bão ấy thành hiện thực. Hơn nữa, cần có lòng nhân ái, chia ngọt sẻ bùi với nỗi bất hạnh của tha nhân, có tinh thần trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng.
 
2. Nguyên nhân khiến phụ nữ ngày nay không coi trọng Tứ Đức
 
         Ngày nay với sự phát triển của kinh tế, nhất là sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và đời sống hưởng thụ đã làm cho Công, Dung, Ngôn, Hạnh đang bi xói mòn. Một số chị em không còn coi trọng “Tứ Đức” của ông cha nữa.
 
        Công: Trước hết, do đời sống khá giả nên chữ Công đang có nguy cơ bị phai mờ. Một số chị em không biết đến cái cơ bản nhất là giặt đồ, vì “nhà em có máy giặt nó lo rồi”, thậm chí nấu ăn cũng là cực hình với các chị em, trong khi đó nếu không biết nữ công gia chánh, không thể là một người giữ hạnh phúc gia đình.
 
        Bên cạnh đó, nhiều chị em hiện nay cũng không màng đến công việc, chỉ chăm lo nhan sắc để tìm một người chồng giàu có…Hơn nữa, một số chị em không giỏi chữ Công: không biết hát ru, không biết kể truyện cổ tích cho con nghe, không biết nấu những món ăn dân tộc...
 
         Dung: Người đẹp của Việt Nam ngày nay nhìn mỏi cả mắt, có thể do kinh tế phát triển nên chị em dành ưu tiên cho việc đầu tư ngoại hình không thua chị kém em. Nhưng cái đáng buồn là nét đẹp bên trong lại tỉ lệ nghịch với cái đẹp bên ngoài. Xem những cuộc thi Hoa hậu mới cảm nhận rõ hơn; chỉ vào phần ứng xử mới thấy: xem “Hoa hậu” mà như đang xem “Gala cười”…Cái đẹp bề ngoài dễ tu dưỡng hơn cái đẹp bên trong, nhưng phụ nữ thời nay thích cái dễ, vì họ đang sống trong thời đại “mì ăn liền”.
 
        Ngôn: Phụ nữ ngày nay, ít chú ý rèn luyện ngôn từ, nói năng rất tuỳ tiện. Hay nói to, cười to, kể cả trước mặt người lớn tuổi. Ngày xưa, nếu con gái nói to là bị mẹ mắng ngay. Bây giờ thì ít gia đình dạy con được kỹ như thế. Đó là một thiệt thòi của con gái ngày nay. Vì khi ra ngoài đời, mọi lời thủ thỉ, nhỏ nhẹ đều hiệu quả hơn cách nói oang oang. Có phải thời đại ngày nay nam nữ bình đẳng thì chị em được thể hiện những từ ngữ của cánh mày râu, ngày càng xuất hiện nhiều lời lẽ thô tục từ miệng các chị em, hoặc nói năng thiếu suy nghĩ, không hiểu biết, cứ như đang ở cung trăng.
 
         Hạnh: Đức hạnh của người con gái ngày nay giảm rất nhiều. Trên các phương tiện thông tin cũng nói nhiều về các "hot girl" hay "sành điệu," chứ ít đưa mẫu hình các bạn gái lý tưởng như học giỏi, chăm ngoan, dịu dàng… Thành ra, một số bạn gái tưởng lầm rằng phải biết uống rượu, đánh nhau, đi hoang qua đêm, bỏ học, chửi thề và yêu nhiều mới là "người phụ nữ lý tưởng." Theo Thạc sĩ tâm lý Đinh Đoàn một trong những nguyên nhân dẫn đến giảm đức hạnh của các bạn gái là cha mẹ chưa quan tâm hướng dẫn con đúng mức; nhất là sự hiền dịu và sự chung thủy trong tình cảm. Các bạn gái đâu có biết rằng, khi lập gia đình thì mọi buồn vui, sướng khổ, thành công hay thất bại đều do cái đức hạnh của người phụ nữ quyết định cả.
 
       Về trinh tiết: Ngày nay, có nhiều bạn gái thích sống thử trước hôn nhân. Một số bạn rất ngây thơ trong chuyện này: Ai sẽ là người chịu thiệt thòi? Người bạn trai ư? Không, nạn nhân chính là người con gái. Con trai vốn ích kỷ, họ chỉ muốn được thỏa mãn nhu cầu xác thịt nhưng khi cưới vợ, họ chỉ muốn người con gái ấy hoàn toàn trinh nguyên. Đến một ngày nào đó, bạn sẽ gặp một người mà bạn thật sự yêu thương, liệu bạn có đủ dũng cảm để đối mặt với người ấy và liệu người ấy có chấp nhận bạn khi bạn không còn trong trắng? Chính vì thế, người con gái phải tự biết bảo vệ cái quý giá nhất của mình. Sống thử, nếu dính bầu thì đơn giản là đi phá thôi sao?
 
Đừng chỉ vì một giây phút nông nổi mà bạn phải ân hận suốt đời khi mất luôn thiên chức làm mẹ.
 
Các bạn gái Việt Nam trong thời đại ngày nay, đúng là có rất nhiều cám dỗ và cạm bẫy nhưng xin các bạn hãy tự bảo vệ chính mình, đừng tự hủy hoại bản thân và cuộc sống sau này. Tiêu chuẩn tối cao của cái đẹp muôn thuở vẫn là sự hài hòa. Hài hòa giữa sắc đẹp thân thể và đức hạnh, nếp sống văn hoá, văn minh. Hãy để cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam duyên dáng trong tà áo dài, xinh tươi bên đóa sen thuần khiết mãi là hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp phụ nữ Việt Nam, đừng để cho nó bị một vết dơ nào.
 
Image result for Công, Dung, Ngôn, Hạnh photos
 
       Tứ Đức của người phụ nữ không thời nào có thể xem nhẹ được. Trong các gia đình ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Tứ Đức của người phụ nữ đang ngày càng được đề cao, mặc dù hai quốc gia này có nền kinh tế rất phát triển. Việt Nam ta gần đây, do mãi chăm lo đến đời sống kinh tế mà các gia đình xem nhẹ việc giáo dục tứ đức cho con gái. Vì thế, xu hướng nam tính trong phụ nữ nước ta gần đây đã tăng lên. Nhiều bạn gái, sống như con trai và nếu như thế thì không còn là phụ nữ nữa.
 
3. Để giữ được Tứ Đức, người phụ nữ phải làm gì?
 
         Công, dung, ngôn, hạnh mãi mãi là "khuôn vàng thước ngọc" của người phụ nữ ở mọi thời đại. Có điều phải hiểu nội hàm, tức là ý nghĩa của bốn cái đức đó đã có nhiều thay đổi để phù hợp với thời đại mới.
 
        Công: Để giữ được chữ Công, người phụ nữ không chỉ khéo léo trong mọi công việc mà còn phải có đầu óc tổ chức làm cho cuộc sống gia đình luôn hạnh phúc, nuôi dạy con cái khỏe mạnh, chăm ngoan. Ngoài ra, phụ nữ còn phải là người lao động giỏi giang, có nghề nghiệp ổn định; phải có sự nghiệp riêng, có công ăn việc làm, không phụ thuộc hay ỉ lại vào người chồng.
 
        Một người đàn ông có một người vợ giỏi nữ công gia chánh là một niềm hạnh phúc lớn. Họ và con cái sẽ được ăn ngon, mặc ấm, gia đình sẽ ngăn nắp, nề nếp. Đặc biệt là việc giáo dục con cái. Nếu người mẹ không giỏi nữ công gia chánh thì con cái, nhất là con gái sẽ rất thiệt thòi, không biết làm những công việc gia đình. Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Sàigòn đã có sáng kiến mở lớp dạy làm vợ, trong đó chủ yếu là dạy làm các món ăn, dạy hát ru, kể truyện cổ tích, dạy kế hoạch chi tiêu gia đình... Đó là một sáng kiến hay, nhưng đó cũng là một điều xấu hổ của phụ nữ thời nay. Phụ nữ ngày xưa, chưa xuất giá đã thuộc lòng những kỹ năng đó rồi. Cuộc sống hiện đại rất sẵn các món ăn liền: mì ăn liền, phở ăn liền, cháo gà ăn liền, cơm hộp, thực phẩm chín... Nhưng nếu phụ nữ ỉ lại vào những thứ đó thì vai trò người mẹ, người vợ trong gia đình để làm gì?
 
        Dung: Napoleon gọi “Phụ nữ là những bông hoa có linh hồn”. Vì thế, chữ Dung đối với phụ nữ rất quan trọng. Suốt cuộc đời, phụ nữ phải luôn chăm lo đến dung nhan của mình, không ăn mặc cẩu thả, không đầu bù tóc rối, nhưng nên ăn mặc làm sao để cho mọi người coi được. Người đời thường nói: “Không có người phụ nữ xấu, chỉ có người phụ nữ không biết làm đẹp mình”. Đồng thời, cái đẹp không phải cứ chân dài, lưng ong, da trứng gà bóc mới là phụ nữ đẹp. Cái đẹp từ tâm hồn còn hơn nhiều lần cái đẹp hình thức bên ngoài. Vợ Khổng Minh hình thức không đẹp, nhưng ông rất yêu vợ vì tâm hồn của bà rất thanh cao.
 
        Nếu xưa kia lý tưởng của cái đẹp là “mắt bồ câu, lông mày lá liễu”, “thắt đáy lưng ong”, “tóc dài da trắng, yểu điệu thục nữ”, … thì ngày nay, vẻ đẹp phụ nữ đa dạng hơn. Có vẻ đẹp kiêu sa, quý phái; có vẻ đẹp khoẻ khoắn, năng động; cũng có cả vẻ đẹp “bốc lửa”. Nhiều phụ nữ ngày nay, cao ráo nhờ guốc dép, trắng trẻo nhờ kem dưỡng da, hồng hào nhờ mỹ phẩm, lộng lẫy nhờ thời trang... Những thứ đó cứ có tiền là mua được, song vẻ đẹp trong tâm hồn thì không tiền nào mua được. Một số phụ nữ rất chăm chú đầu tư về “bao bì”, “vôi ve” nhưng họ không biết rằng, đàn ông thích mộc mạc, “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Nếu người phụ nữ chỉ là người duyên dáng, ăn mặc đúng mốt thời trang, nhưng không có tâm hồn cao thượng, vị tha thì thật sự không có vẻ đẹp. Cái đẹp hoàn hảo là cái đẹp cả hình thức bề ngoài lẫn bên trong tâm hồn. Cái đẹp là biết thông cảm với mọi người, sống kính trên nhường dưới, biết tôn trọng người khác, biết quảng đại trao ban.
 
        Ngôn: Người xưa có câu: “ Chim khôn kêu tiếng rảnh rang, người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe ”. Lời nói có duyên bao giờ cũng gây được thiện cảm với người nghe. Ngôn trong Tứ Đức là lời nói dịu dàng, có duyên. Không thể phủ nhận sức thuyết phục của người phụ nữ mỗi khi lên tiếng khuyên chồng, dạy con ở nhà, cho đến dàn xếp công việc, thương lượng trong kinh doanh, buôn bán. Hơn nữa, ngôn còn là cách nói năng, không nhất thiết phụ nữ lúc nào cũng phải e lệ, nói năng nhỏ nhẹ, miệng cười chúm chím mới gọi là đẹp. Nói năng rõ ràng, mạch lạc, ngôn từ chuẩn mực, dễ nghe, truyền cảm và phù hợp với từng hoàn cảnh là quan trọng nhất.
 
       Quan niệm về Ngôn của người con gái thời nay kế thừa của người xưa, để phát triển cho phù hợp với sự giao lưu rộng rãi với thế giới hôm nay. Phụ nữ ngày nay vẫn “học ăn, học nói” để nói năng lịch thiệp, xã giao khéo léo, mạnh dạn, ứng xử thông minh và có kiến thức. Lời nói, ngôn ngữ của một bạn gái cũng phải giàu nữ tính, có sự mềm mại, dịu dàng, tinh tế và chọn lọc. Một cô gái có văn hóa không thể nói năng bỗ bã, vung vít, càng không thể văng tục chửi thề hoặc nói năng thiếu suy nghĩ. Nhưng đó cũng chỉ là yêu cầu cơ bản, một bạn gái muốn vươn cao, thành đạt phải có khả năng ứng xử duyên dáng, thông minh và có tính thuyết phục trên nền tảng của sự hiểu biết sâu sắc và cái tâm trong sáng. Người xưa có câu: “Tú khẩu cẩm tâm”, nghĩa là lời nói hay phải đi đôi với tấm lòng đẹp như hoa gấm.
 
        Nhiều người thắc mắc tại sao Khổng Tử lại để chữ Ngôn trước chữ Hạnh? Nhưng để như thế mới đúng. Lời nói không bao giờ chỉ đơn thuần là lời nói. Nó biểu hiện tâm hồn con người. Người nhân đức, tiếng nói trong sáng, ấm áp. Người cay nghiệt, tiếng nói rin rít qua kẽ răng. Người đanh đá, tiếng nói the thé. Người hay văng tục chứng tỏ rất ít được giáo dục từ bé. Người nói năng lễ độ, đúng mực chứng tỏ đấy là con nhà gia giáo. Phụ nữ nói oang oang như lệnh vỡ là người bộc tuệch, ruột để ngoài da...
 
100 đàn ông thì cả 100 người mong muốn mình cưới được vợ hiền. Ông cha ta có một câu ngạn ngữ rất nặng nề để cảnh cáo những người vợ kém đức hạnh: “Chó dữ mất láng giềng, vợ dữ mất chị em”. Đức hạnh là điều rất căn bản của người phụ nữ. Đời sống của người phụ nữ chỉ sống với bố mẹ đẻ của mình có 1/3 thời gian, còn lại là sống với chồng và họ hàng nhà chồng.Đây là mối quan hệ không hề dính dáng đến máu mủ ruột rà. Do đó, mọi buồn vui, sướng khổ, thành công, thất bại đều do cái đức của người phụ nữ quyết định. Xinh đẹp mà không có đức hạnh thì khó được nhà chồng yêu quý. Không xinh đẹp nhưng có đức hạnh thì cả nhà chồng sẽ quý mến, tôn trọng.  
 
Hạnh: Phẩm hạnh của người phụ nữ, dù ngày nay có ít nhiều thay đổi nhưng vẫn được đưa lên hàng đầu, đó là sự nết na, chung thủy...
 
Image result for Công, Dung, Ngôn, Hạnh photos
 
Kết luận
 
      Công, Dung, Ngôn, Hạnh vẫn mãi hòa quyện, kết hợp với nhau và trở thành chuẩn mực nhân cách của người phụ nữ Việt Nam. Công, Dung, Ngôn, Hạnh không chỉ là nền tảng giá trị của người phụ nữ mà còn giúp cho phụ nữ sống tự tin vào chính mình. Để phấn đấu rèn luyện có được nhân cách ấy, xã hội cần phải tạo môi trường lành mạnh, bản thân người phụ nữ cũng phải có nghị lực, cố gắng tự hoàn thiện bản thân mình. Đồng thời mọi người không chỉ giúp đỡ mà còn tạo mọi điều kiện nâng đỡ để chị em phát huy thế mạnh của mình. Hơn nữa, xã hội và các tổ chức nên cung cấp kiến thức, những thông tin về gia đình, về nghệ thuật giao tiếp, về lối ứng xử để người phụ nữ biết sống thích hợp, sống có ích trong thời đại hôm nay.
 
 Tu sĩ Lôrensô Vũ Văn Trình MF
 
Kiều Oanh sưu tầm
Ảnh minh họa
Xem thêm...

Nguyễn Vỹ viết về Thâm Tâm và TTKH

 

Nguyễn Vỹ viết về Thâm Tâm và TTKH

 

Năm 1936-37 xuất hiện ở phố Chợ Hôm, ngoại ô Hà Nội, một nhóm văn sĩ trẻ với bút hiệu Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và một vài người khác nữa. Ít ai để ý đến họ. Có lẽ vì họ là những người còn quá trẻ: Huyền Trân và Thâm Tâm mới 18, 19 tuổi, mới bắt đầu viết văn, chưa có gì đặc sắc. Lớp văn sĩ đi trước không chú ý đến họ. Nhưng họ dễ thương, vui vẻ, hồn nhiên, an phận ở một vị trí khiêm tốn, chẳng thân với ai, cũng chẳng làm phiền lòng ai. Họ sống một thế giới riêng của họ, không chung đụng với những nhóm đã nổi tiếng ít nhiều trong làng văn, làng báo lúc bấy giờ.                                                                                        

Họ có một tờ tuần báo nhỏ, lấy tên Bắc Hà ở phố Chợ Hôm, nơi đây họ làm văn nghệ với nhau, theo lối tài tử hơn chuyên nghiệp. Tờ báo bán không chạy lắm tuy có vài mục hài hước vui nhờ mấy bức vẽ của Tuấn Trình và nhiều cố gắng hứa hẹn trên bình diện văn chương. Hăng hái nhất và đóng vai chủ động trong tờ báo là Trần Huyền Trân. Thâm Tâm, biệt hiệu của Tuấn Trình, vẽ nhiều hơn viết, thỉnh thoảng đăng một vài bài thơ, vài mẩu chuyện ngắn. Đôi khi thấy xuất hiện trên mặt báo vài ba bài thơ có tính cách ca dao ái tình của Nguyễn Bính, học sinh lớp Nhất, trường tiểu học Hà Đông. Nguyễn Bính sau thi rớt, nghỉ học luôn.

Tuy không chơi thân, tôi quen biết Trần Huyền Trân khá nhiều, vì anh ta ở trọ một căn nhà trong ngõ Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa. Thường đi một con đường nên chúng tôi gặp nhau và quen nhau. Đôi khi Trần Huyền Trân nhờ tôi viết bài cho tuần báo “cho vui” vì không có tiền nhuận bút. Để tỏ tình thông cảm văn nghệ, tôi có viết một truyện ngắn khôi hài và chỉ có một lần. Trong một số báo đặc biệt mùa hè, Tuấn Trình vẽ một cặp Bạch Nga bơi trên Hồ Hoàn Kiếm và ghi ở dưới: Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn.

Tôi quen biết Tuấn Trình do Trần Huyền Trân giới thiệu. Nhà anh ở Chợ Hôm, cách chợ độ ba bốn trăm thước. Anh đẹp trai, y phục lúc nào cũng bảnh bao, người có phong độ hào hoa, lịch thiệp. Tôi thấy ở Sài Gòn có anh Hoàng Trúc Ly, nhà văn, giống na ná Tuấn Trình về dáng điệu cũng như tính tình, tư cách. Nhiều khi gặp Hoàng Trúc Ly trên đường Bonard Sài-Gòn, tôi quên lửng, cứ tưởng gặp Tuấn Trình trên phố Chợ Hôm, Hà Nội.

Một buổi chiều gần tối. Tuấn Trình đi lang thang gần chợ Khâm Thiên. Tôi từ Hà Nội về nhà, tưởng anh ta đến Trần Huyền Trân, nhưng anh bảo:”Thằng Huyền Trân nó đi đâu, không có nhà”.Tôi rủ anh về gác trọ của tôi ở cuối phố. Hôm ấy tôi có vài chục bạc trong túi, có thể làm một tiệc bánh giò chả lụa với Tuấn Trình. Tôi bảo anh ở lại ngủ với tôi cho vui. Đêm ấy cao hứng, Tuấn Trình ngà ngà say rượu Văn-Điển, kể chuyện tình của anh với cô Khánh cho tôi nghe.

http://img2.tamtay.vn/files/blogdata/2011/7/27/16/1020941/1845651404_hai_sac_hoa_tigon_400.jpg


Trần Thị Khánh là một cô học trò lớp Nhất trường Tiểu học Sinh-Từ. Thi hỏng, cô ở nhà giúp mẹ làm việc nội trợ. Nhà cô cũng ở đường Sinh-Từ, ngay cạnh Thanh-Giám, nơi đền thờ Khổng Tử. Thanh – Giám là một thắng cảnh Hà-Nội, đã liệt vào cổ tích Việt Nam, xây cất từ đời nhà Lý, tu bổ dưới đời nhà Lê, hình chữ nhất, chung quanh xây tường đá ong, cao độ hai thước. Đền thờ ở trong cùng, trước đền có Hồ Tròn, hai bên hồ dựng nhiều tấm bia ghi tên các tiến sĩ đời nhà Lê. Vào Thanh-Giám, có cổng Tam Quan lớn, trước cổng có tấm bia đề hai chữ Hán: “Hạ Mã”, và hai trụ cao. Trong vườn trồng rất nhiều cây cổ thụ và các cây kiểng. Nơi đây rất yên tĩnh và mát mẻ, cũng là nơi các cặp trai gái hẹn hò tâm sự. Trước kia có một bầy quạ chiều tối bay về ngủ, cho nên người Pháp gọi là “Pagode des Corbeaux” (Chùa Quạ) ngoài danh từ lịch sử “Temple de Confucius” (Đền Khổng Tử).

Cô nữ sinh Trần Thị Khánh là một thiếu nữ đẹp, nét đẹp mơm mởm của cô gái dậy thì, thùy mị, nết na, nhưng không có gì đặc biệt. Tuấn Trình có người cô, nhà ở phố chợ Cửa Nam, gần Sinh-Từ. Anh thường đến đây và thấy cô Khánh đi chợ mỗi buổi sáng. Lúc ấy vào khoảng tháng 2 năm 1936, họa sĩ Tuấn Trình (tên gọi hồi đó) mới 19 tuổi, và cô Khánh 17 tuổi, thi rớt Tiểu học và đã nghỉ học từ mùa hè năm trước. Tuấn Trình mới bắt đầu vẽ và viết chút ít trong tờ tuần báo Bắc Hà của Trần Huyền Trân vừa xuất bản.

Sau một vài tháng theo dõi, Tuấn Trình làm quen được với cô Khánh và gởi báo Bắc Hà tặng cô. Cô gái 17 tuổi, cảm mến người nghệ sĩ tài hoa, tình yêu chớm nở như cành hoa Antigone trắng vừa chớm nở trong tháng đầu hè trước sân nhà cô. Antigone là loại hoa của người Pháp đem qua hồi đầu thế kỷ, không thơm nhưng đẹp. Nó thuộc loại hoa dây, lá giống lá nho, cho nên ở miền Nam, nhiều người gọi là hoa nho. Nó có hai loại, loại hoa trắng và hoa hồng. Hoa nở vào đầu mùa hè, thành những chùm rất dễ thương, nụ hoa giống hình trái tim nho nhỏ. Ở Hà-Nội người ta trồng rất nhiều và bán rất nhiều trong chợ Đồng Xuân, cũng như ở chợ Hoa, bờ hồ Hoàn Kiếm. Cắm nó vào lọ để phòng khách, nó buông ra một vẻ đẹp lãng mạn, khả ái lắm. Người Bắc gọi tắt hoa Ti-Gôn. Ở phố Sinh Từ Antigone mọc rất nhiều, như trước sân nhà ông Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Nhược Pháp. Nhà trọ của Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều ở phố Nam Long có cả một giàn hoa trắng và hồng. Nhưng mùa đông lá rụng hoa tàn, thì không cảnh nào tiêu sơ quạnh quẽ bằng.

http://www.hoasaigon.com.vn/kcfinder/upload/images/hoa-tigon-10.jpg


Tình yêu của Tuấn Trình và Trần Thị Khánh chớm nở ngay lúc những chùm Antigone vừa hé nụ, và chết trong những ngày giữa mùa Đông năm đó, trong lúc giàn hoa Ti-gôn úa tàn, rụng ngập đầy sân. Thời kỳ mơ mộng ngắn ngủi trong mấy tháng Hè, sang hết mùa Thu, không đem lại chút thỏa mãn nào cho tâm hồn khao khát của Tuấn Trình. Chính lúc này Tuấn Trình lấy bút hiệu Thâm Tâm và cho cô Khánh biết: Hình ảnh của em, anh ghi sâu vào thâm tâm anh. Trong bài Màu Máu Ti-Gôn, cũng có câu:

... Quên làm sao được thuở ban đầu 
Một cánh ti gôn Dạ khắc Sâu.

Một vài bài thơ tình thức đêm làm tặng Khánh, những bài thơ đầu tiên đăng trên tuần báo Bắc Hà, đều ký Thâm Tâm, các tranh vẽ trong báo vẫn ký Tuấn Trình. Nhưng cô gái 17 tuổi, dè dặt theo lễ giáo nghiêm khắc của gia đình, chưa thật bao giờ đáp ứng với tình yêu tha thiết của Tuấn Trình – Thâm Tâm. Đó là điều đau khổ triền miên của chàng nghệ sĩ 19 tuổi. Trong lúc những cặp tình nhân trẻ trung dắt nhau đi du ngoạn khắp nơi thơ mộng ở Hà-Nội và ngoại ô: Hồ Tây, chùa Láng, Bạch Mai, Phúc Trang, Đền Voi Phục...thì Trần Thị Khánh cứ phải từ chối những lời mời của Thâm Tâm. Cô thường nói: “Thầy mẹ em nghiêm, gia đình em nghiêm lắm...” Lần nào cô Khánh cũng lặp lại chữ nghiêm gia giáo ấy để trả lời kỳ vọng khát khao của người yêu.

Chỉ được hai lần Khánh đến nơi hẹn, nhưng không được lâu. Lần thứ nhất, một đêm trăng, Khánh lén băng qua đường, vào vườn Thanh-Giám. Tuấn Trình đã chờ người yêu nơi đây, dưới bóng cổ thụ. Nhưng cô Khánh run cả người (theo lời Tuấn Trình kể lại) cậu cũng lính quýnh, tất cả những câu bay bướm cậu sắp sẵn để nói với nàng, bấy giờ cậu quên mất hết. Một lúc lâu Tuấn Trình mới nói được mấy lời tình tứ, nhưng lại trách móc, nghi ngờ, nàng không yêu mình. Nàng bảo:”Em không yêu anh sao dám ra đây gặp anh?Nhưng vì thầy me em nghiêm lắm, anh ạ.” Tuấn Trình hỏi chua chát: “Giờ phút này chỉ có thơ và mộng, chỉ có anh với em, ánh trăng đẹp của hai đứa mình có nghiêm không nhỉ?”. Có lẽ vì bất bình câu nói mỉa mai của người yêu, Khánh lặng yên một phút rồi đáp:”Ánh trăng đẹp, nhưng vẫn nghiêm đấy, anh ạ”. Cuộc gặp đêm ấy, chỉ lâu không đầy một tiếng đồng hồ. Tuấn Trình đặt một chiếc hôn âu yếm trên bàn tay của Khánh trước lúc nàng vội vã chạy về nhà.

Lần thứ hai, hai cô cậu cũng gặp nhau trong vườn Thanh (nhiều người sau này nói Thanh là Thanh Hóa, là hoàn toàn sai sự thật). Vườn Thanh-Giám đêm ấy cũng ngập ánh trăng Thu. Nhưng thái độ của Khánh lạ lùng khó hiểu. Hình như Khánh muốn nói với Tuấn Trình một điều gì, nhưng ngại ngùng không nói. Chàng lặng lẽ vuốt mái tóc huyền của Khánh rồi khẽ bảo: Ước gì anh được yêu em như thế này mãi...Nàng buồn bã hỏi:”Anh định bao giờ đến xin thầy me cho chúng mình...” Chàng họa sĩ bối rối trước câu hỏi bất ngờ. Chàng lơ đễnh bảo: “Anh chưa nghĩ đến việc ấy, vì...”Câu chuyện bị bỏ dở nơi đây. Khánh không hỏi gì hơn nữa. Chàng nắm tay nàng đi dạo quanh hồ nước xanh rì lăn tăn gợn sóng, chàng dừng lại, khẽ kéo Khánh vào lòng, nhưng nàng khẽ buông ra, Tuấn Trình âu yếm nhìn nàng:”Em!” Khánh mải cười:”Anh bảo gì?”.

-Hình ảnh của em, nụ cười của em, sẽ mãi mãi ghi sâu vào lòng dạ của anh, vào thâm tâm anh.

Trần Thị Khánh bẽn lẽn cười như để tạ ơn và xin từ giã. Tuấn Trình trằn trọc suốt đêm. Khánh muốn giấu chàng một điều gì quan trọng chăng? Tình yêu giữa hai người vẫn nguyên vẹn, thư từ qua lại vẫn âu yếm, nhưng Tuấn Trình bắt đầu thấy lòng buồn bã băn khoăn khi giàn hoa Ti-gôn bắt đầu héo rụng trong nắng úa tàn thu. Thế rồi một hôm, chàng họa sĩ đa tình nhận được một bức thư của người yêu, không, của người hết yêu, báo tin nàng sắp lấy chồng.

http://img.vietnamplus.vn/t660/Uploaded/fsmsr/2015_12_29/vnp_IMG_7936_4.JPG

Thư viết bằng mực tím, trên bốn trang giấy học trò, xé trong một quyển vở Nam Phương hoàng hậu (loại vở học trò rất thông dụng lúc bấy giờ). Thư do một cô bạn gái của Khánh đem đến tòa báo Bắc Hà trao tận tay Tuấn Trình. Cô bạn gái hỏi “ông Tuấn Trình”chứ không gọi Thâm Tâm. Ngoài bao thư cũng đề: Monsieur Tuấn Trình (chữ Mr. bằng tiếng Pháp), nét chữ quen thuộc của T.T. Khánh. Đại khái, Khánh nhắc lại tình yêu “thơ mộng” của cô với “người nghệ sĩ tài hoa son trẻ” (những chữ cô dùng trong thư), tình yêu rất đẹp, nhưng vì thầy me của cô rất nghiêm, theo lễ giáo, nên dù người vị hôn phu của cô là một người chỉ mới biết sơ thôi, nhưng cô vẫn có bổn phận “giữ tròn chữ hiếu, không dám cãi lời thầy me đặt đâu ngồi đấy v.v...” Cô nói cô buồn lắm vì tình yêu dang dở, “Em yêu anh mãi mãi! Không bao giờ quên anh, nhưng ‘van’ anh đừng giận em, thương hại em, chứ đừng trách móc em v.v...” Cô than thở đời cô khổ nên tình duyên ngang trái, cô khóc suốt đêm v.v...

Khánh không nói một câu nào về người vị hôn phu, không cho biết ngày cưới, và cuối thư ký tắt: K.H. Bức thư của K.H chấm dứt một cách đột ngột cuộc tình duyên thật sự không mấy “thơ mộng” của họa sĩ Tuấn Trình và cô Trần Thị Khánh.

Sau do sự dọ hỏi vài người quen ở phố Sinh-Từ, Tuấn Trình được biết chồng cô Khánh là một nhà buôn giàu có ở phố Hàng Ngang, 39 tuổi, góa vợ và không có con. Trong câu thơ:”Bên cạnh chồng Nghiêm luống tuổi rồi “ chỉ sự cách biệt tương đối giữa tuổi 39 của người chồng với tuổi hãy còn vị thành niên của cô Khánh. Đó chỉ là nhận xét chủ quan và mỉa mai của Thâm Tâm, so sánh tuổi mình 20 với người đàn ông được diễm phúc làm chồng cô Khánh, nhưng trên thực tế và theo lời những người hàng xóm ở phố Sinh Từ nói với Tuấn Trình thì người chồng cô Khánh “giàu sang và trẻ đẹp” chứ không phải một ông già. Tuấn Trình cũng nhìn nhận rằng một người nhà giàu 40 tuổi, đẹp trai, không thể là một ông già.

Đám cưới đã nhờ mối lái qua lại từ lâu, và đồ sính lễ có kiềng vàng, xuyến, nhẫn, vòng, kim cương, quần áo hàng lụa quí giá. Rước dâu bằng mười chiếc Citroen mới, cô dâu đeo nữ trang rực rỡ, mặc chiếc áo cưới màu đỏ tươi, lộng lẫy ngồi trên xe hoa như nàng công chúa ngồi cạnh người chồng mặc áo gấm xanh. Đêm trước hôm cô Khánh lên xe hoa, Thâm Tâm có tổ chức tại tòa báo Bắc Hà một tiệc thịt chó, uống Mai Quế Lộ, mời Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính và Vũ Trọng Can tham dự. Họ say sưa, ngâm thơ, làm thơ, cười đùa cho đến khuya rồi lăn ra ngủ trên đất. Người đau khổ trong cuộc tình duyên dang dở này không phải là cô Khánh. Trái lại, cô có đầy đủ hạnh phúc với người chồng rất chiều chuộng cô. Trần Huyền Trân đã gặp cô đi hí hởn với chồng vào ăn kem ở tiệm Blanche Neige (kem Bạch Tuyết), Bờ Hồ hai lần. Hai ông bà nhìn nhau và cười với nhau ra vẻ âu yếm lắm. Khánh đã có thai, được chồng săn sóc nâng đỡ lên chiếc xe nhà Citroen, lúc ra về, còn đi một vòng quanh hồ Hoàn Kiếm. Trần Huyền Trân kể lại cảnh âu yếm đó cho Tuấn Trình nghe và kết luận:” Con Khánh nó cho cậu leo cây, cậu còn si nó làm gì nữa, thêm tủi nhục”.Người đau khổ dĩ nhiên là Tuấn Trình, Thâm Tâm. Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ sĩ nghèo bị người yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can.

Vì một chút tự ái văn nghệ, đối với mấy người kia, Tuấn Trình đã phải thức một đêm, theo lời anh, làm một bài thơ đề là “Hai Sắc Hoa Ti Gôn”ký T.T.KH, với thâm ý để Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình dán kín bao thư rồi nhờ cô em họ, con gái của người cô ở phố Cửa Nam, mang thư đến tòa báo. Cũng chính cô em họ đó đã chép giùm bài thơ với nét chữ con gái dịu dàng của cô, để khỏi bị nghi ngờ. Cho nên giọng thơ hoàn toàn là giọng thơ lãng mạn của Tuấn Trình, và lời thơ khác hẳn những lời tâm sự trong bức thư cuối cùng của KH, báo tin sắp lấy chồng. Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả! Và cô ghét những bài thơ của Thâm Tâm nữa là khác. Tuấn Trình đã nói quả quyết với tôi như vậy, sau khi nhận được một bức thư của Khánh, bức thư cuối cùng, tỏ ý không bằng lònganh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ, có thể làm hại đến cuộc đời của cô. Trong thư phản đốiđó, Khánh xưng tôi, chứ không xưng em như những thư trước, để chấm dứt trò chơi vô ích ấy. Thâm Tâm lấy những lời nghiêm khắc giận dữ của người yêu cũ để làm ra “Bài Thơ Cuối Cùng”:

Trách Ai mang cánh ti gôn ấy
Mà viết tình xưa Được Ích Gì?
Bài Thơ đan áo nay Rao Bán
Cho Khắp Người đời thóc mách xem
Là Giết Đời nhau đấy, Biết Không?
Dưới dàn hoa máu, tiếng mưa rung
Giận anh tôi viết dư dòng lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng
Từ nay anh hãy Bán Thơ Anh
Và Để Yên Tôi với một mình
Những cánh hoa lòng, Hừ Đã Bỏ
Còn đem mà Đổi Lấy Hư Vinh.

Cô Khánh “Trách” người cũ không những đem chuyện tình xưa ra viết chẳng “Được Ích Gì” lại còn làm Bài Thơ đi “Rao Bán” cho người đời “Thóc Mách” mua xem. Như thế là Anh “Giết Đời Tôi anh Có Biết Không?” Anh đem bán thơđể kiếm chút “Hư Vinh” nhưng chuyện xưa đã bỏrồi, anh hãy để tôi yên!...

Thâm Tâm lấy gần hết chữ và nghĩa trong bức thư đoạn tuyệt tàn nhẫn của Trần Thị Khánh làm Bài Thơ Cuối Cùngđó mà vẫn ký T.T.Kh, một lần cuối cùng. Rồi, để đáp lại, chàng làm một bài ký tên Thâm Tâm và cũng là bài cuối cùng, mỉa mai, chua chát:

...Đây Bài Thơ Chót Kính Dâng Tặng Bạn
Và thành chúc đời em luôn tươi sáng 
Như mộng kiều đầm ấm tuổi xuân xanh 
Như hương trinh bát ngát dịu dàng 
Hoa nhạc mới triều dâng tơ Hạnh Phúc...

Trên phương diện văn thơ cũng như tình cảm, ta chỉ thương hại Thâm Tâm, nhà thơ trẻ, hãy còn ngây thơ với tuổi 19, đầy thơ mộng, cứ tưởng rằng cô Khánh vẫn thành thật yêu chàng, rằng cô bị cha mẹ ép gả cho một “ông già”, nhưng cô vẫn giữ mối tình thiêng liêng chung thủy với người nghệ sĩ tài hoa. Cho nên tưởng làm vui lòng người yêu, chàng lấy tên nàng để ký dưới bài thơ thương tiếc, với những câu tình tứ như:

Từ đấy thu rồi thu lại thu 
Lòng tôi còn giá đến bao giờ? 
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ 
Người ấy cho nên vẫn hững hờ 
Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng 
Trời ơi người ấy có buồn không? 
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ 
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng 
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ 
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên.

Nhưng chàng thi sĩ có ngờ đâu không những cô Khánh không hề tỏ chút gì cảm động vì mối tình đau khổ, thủy chung của chàng, hoặc cảm ơn những bài thơ an ủi của chàng, mà trái lại cô còn gởi một bức thư vô cùng tàn nhẫn hằn học nào là “Anh giết đời tôi, anh biết không?” nào là anh mang chuyện cũ ra viết “chẳng ích gì”, cô lại còn tỏ ý khinh rẻ: “Từ nay anh cứ đem thơ anh bán rao để kiếm chút hư vinh, nhưng anh hãy để tôi yên” v.v...Bấy giờ Thâm Tâm mới thức tỉnh, tìm lời bào chữa cho mình!Nào là: ...Anh biết cái gì xưa đã chết – Anh càng buồn, càng muốn viết thành thơ– Nhưng thôi: Mộng đang xanh, mộng hóa bơ phờ – Đây bài thơ chót kính dâng tặng bạn. Thâm Tâm tự hạ mình viết kính dâng tặng bạn có ý xin lỗi chua chát người không phải là người yêu của mình nữa, và chàng đã viết: Chim muốn bay, cũng giữ chẳng được nào!(Nàng đã không muốn yêu nữa, thì giữ làm sao được?). Và: Có gì đâu, khi bướm muốn xa cành !.

Thâm Tâm không những đã tỉnh ngộ, mà lại còn uất hận vì thái độ khinh bạc của cô Khánh:

...Chiều nay lạnh, có nhiều sương rơi quá
Nhưng lòng Anh đã Bình Thản lại rồi
Hết đau buồn và cảm thấy sục sôi
Niềm Uất Hận của một thời lạc lối –
L
ấy nghệ thuật làm trò hề múa rối –
Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền –
Để khẩn cầu xin một nụ cười duyên.

Thâm Tâm tự thú nhận: Lấy nghệ thuật văn thơ để làm trò hề múa rối, (vì sự thật chẳng có gì cả) trong mấy bài thơ ký tên T.T.KH với mục đích “Đem tài hoa cung phụng sóng mắt huyền, để khẩn cầu xin một nụ cười duyên”. Để rồi, mai mỉa thay, nhận những lời khinh khi ngạo mạn, và hằn học của nàng. Đó là “niềm uất hận” của Tuấn Trình trong một thời “lạc lối” (lầm đường lạc lối). Nhưng:

Thôi em nhé, từ đây anh cất bước
Em yên lòng vui hưởng cuộc đời vui...

Chàng hứa chấm dứt trò hề múa rối về văn thơ. Và nàng không mong gì hơn.

https://i0.wp.com/www.hoasaigon.com.vn/kcfinder/upload/images/bleeding-heart-128565-1372605123_500x0(1).jpg

Để tôn trọng thực tế những sự kiện đã qua trong lịch sử hay trong văn học, để đừng xuyên tạc những chuyện không có, phải nói ngay rằng tên T.T.KH. không hề gợi một dư luận nào “xôn xao” ở thời tiền chiến, và cuộc tình duyên của Tuấn Trình (Thâm Tâm) với cô Trần Thị Khánh không hề gây một xúc động nào về tâm lý cũng như về văn chương trong giới văn nghệ và giới trẻ thời bấy giờ.

Tôi chắc rằng những nhà văn thơ tiền chiến ở Hà Nội hiện còn sống tại Sài-Gòn, như các anh Vi Huyền Đắc, Lê Tràng Kiều, Tchya, Vũ Bằng...(cả các anh Nhất Linh và Lê Văn Trương vừa tạ thế mấy năm trước) đều phải hết sức ngạc nhiên thấy một vài người của thế hệ hậu chiến ở Sài-Gòn bỗng dưng tôn sùng ba tên T.T.KH thành một thần tượng và biến mối tình rất tầm thường, có thể nói là quá tầm thường của cô học trò cũ trường tiểu học Sinh-Từ, thành một thảm kịch của tình yêu.

Nguyễn Nhược Pháp, nhà ở gần nhà cô Khánh, chỉ cách năm, sáu căn, mà cũng không hề nghe nói đến cô này, và cũng không biết một tí gì về mối tình của một họa sĩ kiêm thi sĩ Tuấn Trình hay Thâm Tâm, xảy ra cùng dãy phố với anh.

Cũng như người đàn bà tên Mộng Cầm, hiện là vợ một giáo chức ở Phan Rang, đã phủ nhận những chuyện người ta thêu dệt về mối tình bạn của bà, lúc còn là nữ y tá, với thi sĩ Hàn Mặc Tử :” Tôi không thể yêu được một người bị bệnh cùi !” Bà Mộng Cầm đã thẳng thắn nói thế, không thể trách bà được.

 

NGUYỄN VỸ

Huỳnh Trúc Lập ST

Xem thêm...
Theo dõi RSS này