Hận Đồ Bàn - Ranh Giới Nước Chiêm Thành

Hận Đồ Bàn

Ranh Giới Nước Chiêm Thành qua sử liệu

- Chiêm Thành xưa là đất Việt Thường, cho nên vua Gia Long trong lúc cầu phong với nhà Thanh, đã viết: "Ngay từ thời lập quốc, lãnh thổ của Tổ tiên ta bao gồm cả vùng đất Việt Thường". Căn cứ vào sử Trung Hoa, vùng này đời Tần gọi là Lâm Ap, thuộc Tượng Quận. Đời Hán đổi thành huyện Tượng Lâm, thuộc quận Nhật Nam của Van Lang, lúc đó đã bị người Tàu cưởng chiếm và đô hộ, sau khi tiêu diệt nhà Triệu của người Việt. Năm thứ 2 Vĩnh Hòa Hậu Hán, vua Thuận Đế, có viên công tào trong huyện tên Au Lân, nổi lên giết quan huyện, chiếm xứ này, tự xưng làm vua Lâm Ap. Đến đời nhà Tuỳ chiếm lại đất này, cải thành Sung Châu rồi lại đổi thành Lâm Ap như cũ, thống hạt 4 huyện: Tượng Phố, Kim Sơn, Giao Giang và Nam Cực. Cuối đời Trinh Nguyên nhà Đường (785) bỏ hẳn.Tóm lại xưa nay ai cũng đồng chung quan điểm là nước Chiêm Thành ra đời từ đầu thế kỷ thứ 2 sau TL và tồn tại tới năm 1693 thì bị diệt vong. Về lãnh thổ, thì hầu hết các nguồn tài liệu đều nói nước Chiêm Thành nằm trên duyên hải miền Trung Việt Nam, phiá bắc từ Đèo Ngang vào tới Bình Tuy ngày nay. Tuy nhiên cũng có tác giả cho rằng vương quốc Chiêm Thành, bao trùm cả vùng duyên hải lẫn cao nguyên Trung Phần, vậy đâu là sự thật?

1-RANH GIỚI NƯỚC CHIÊM THÀNH:

Trong suốt chiều dài lịch sử, hầu như biên giới giữa Việt-Chiêm không bao giờ cố định vì chiến tranh triền miên giữa hai nước. Và cứ mỗi lần như thế, thì biên giới lại thay đổi cho tới năm 1471, lần đầu tiên vua Lê Thánh Tôn mới cho dựng bia đá trên núi Thạch Bị (đèo Cả, giữa Phú Yên -Khánh Hòa), từ đó ít ra trên giấy tờ mới thấy có sự minh định. Với người Chàm, thực tế chưa bao giờ có một ý niệm ranh giới đối với các lân bang. Theo quan niệm của đạo Bà La Môn, rồi sau này là Hồi Giáo thì nước Chiêm Thành, được coi như là một tập hợp giữa các làng và biên giới nước, được tính từ khoảng không gian giữa kinh đô tới tận các làng mạc xa nhất của người Chàm. Quan niệm cổ này, mãi tới những năm 1955-1975, vẫn được Chính Phủ VNCH cho áp dụng khi tổ chức hành chánh quận Phan Lý Chàm của tỉnh Bình Thuận.

Chúng ta biết người Chiêm suốt dọc dài lịch sử, phần lớn làng mạc chỉ tụ tập ở châu thổ các sông ngòi và các hải cảng, nên đa số đất bị bỏ hoang thành rừng. Điểm này, vua chúa Chiêm Thành lại đem yếu tố tín ngưỡng ra áp dụng để thay thế cho các minh định theo điều kiện kinh tế hay quân sự. Cho nên nói lãnh thổ Chiêm Thành chạy dài tới tận Bình Tuy, vì ở cực nam này vẫn có một số làng Chàm sinh sống tại Phố Châm, Phố Hải, trong khi gần cả trăm cây số từ Đồ Bàn vào Khánh Hòa hay từ Phan Rang vào Phan Thiết, đều là rừng núi hoang vu không có bước chân người, nên mới phát sinh câu tục ngữ truyền khẩu "cọp Phú Yên-Khánh Hòa, ma Bình Thuận " là vậy.

2-CHIÊM THÀNH TỰ LÀM VONG QUỐC:

Dù viết gì chăng nữa, thì nước Chiêm Thành suốt dòng lịch sử, đã chắc chắn có một lãnh thổ gồm các châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Châu Ô và Châu Lý (nay thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên). Vùng Amaravati với kinh đô Indrapura (Đồng Dương) cùng các thánh tích nổi tiếng tại Mỹ Sơn và Trà Kiệu (Simhapura). Miền này nay thuộc Quảng Nam và Quảng Ngãi. Vùng Vijaya với kinh đô Chà Bàn, nay là tỉnh Bình Định. Vùng Kauthara có thánh tích Po Nagar (Tháp Bà), nay là Khánh Hòa. Châu cuối là Panduranga, bao gồm hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận
Người Chiêm Thành lập quốc hơn 17 thế kỷ, có một nền văn minh khá cao, nghệ thuật điêu khắc coi như gần tiến tới trình độ toàn hảo. Trong nước có nhiều thức giả thông thạo Phạn ngữ, lại có chữ viết riêng biệt. Vậy tại sao nước này không có một nền giáo dục phổ thông, không có tác phẩm sử học, không bao giờ mở các kỳ thi tuyển nhân tài và không cho sản xuất giấy. Bởi vì tất cả quyền lực trong nước đều là độc quyền của một nhóm thiểu số, thuộc giai cấp quý tộc và tăng lữ Bà La Môn cùng Hồi giáo nắm giữ. Ở đây không nói tới nhóm sắc tộc bị trị tại cao nguyên Trung phần từ năm 1150-1471, mà chỉ đề cập tới người Chàm, là sắc dân chính thống của vương quốc sống dọc vùng duyên hải. Do tính chất đa sắc tộc và trở ngại địa lý, nên nước Chiêm Thành gần như không bao giờ thực hiện được trọn vẹn chính sách trung ương tập quyền, dù trên lý thuyết đã hợp nhất thành một nước nhưng thực tế những sắc tộc lại chia thành thị tộc, các làng đầy dị biệt và thường đem quân bản địa tàn sát lẫn nhau, không ai cản được.

Tháp Bà Po Nagar tại Kauthara, bị Chân Lạp phá huỷ nhiều lần, cho tới khi châu này thành tỉnh Khánh Hòa của Đại Việt vào thế kỷ thứ XVII, mới được người di dân VN, bảo quản và giữ gìn cẩn trọng cho tới hôm nay. Ngoài ra, Chiêm Thành cũng bị người Tàu tàn phá hai lần vào năm 605 và 1282, người Nam Dương cướp phá vào các năm 774, 787 nhưng tàn bạo nhất vẫn là những sự trả thù dã man của Chân Lạp trên đất Chiêm Thành vào những năm 950, 1190 và thời gian chiếm đóng từ 1203-1220. Nói chung theo sử liệu, Đại Việt là nạn nhân nhiều lần vì bản chất hiếu chiến của người Chàm nhưng trên hết, vì Chiêm Thành là đồng minh của Trung Hoa, suốt dòng lịch sử, luôn tấn công công tập hậu VN. Vì vậy Đại Việt không còn lựa chọn nào hơn, là phải chống lại để tự vệ và giữ nước

Gây hấn rồi nhường đất chuộc mạng, bắt đầu từ thời vua Chế Củ dâng nhà Lý ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, được các sử gia coi đó là một sự kiện lịch sử quan trọng của Chiêm Thành, mở đường cho vua chúa Đại Việt sau này, coi đó như một yếu tố tất thắng đối với kẻ chiến bại. Trong 30 năm cầm quyền, Chế Bồng Nga năm nào cũng đánh phá chém giết người Việt tận tuyệt, luôn cả kinh thành Thăng Long cũng bị tàn phá trong ba lần lữa máu. Bởi vậy khi Chàm suy yếu, Đại Việt lại trả thù phục hận và cũng đã khiến cho các triều đại VN tỉnh ngộ, quyết ngăn chận Chiêm Thành, để không còn xảy ra tai họa khủng khiếp trong dĩ vãng. Đó là chính sách nam tiến sau này, được thi hành ôn hòa qua kế hoạch dinh điền, mở mang khai phá đất đai bị bỏ hoang ở biên trấn, sống hòa lẫn cùng dân bản địa, vừa canh chừng giặc, vừa sản xuất lương mễ theo đường lối "ngụ binh ư nông " mà Đại Việt đã khôn ngoan áp dụng từ khi thu hồi được độc lập.

 Mường Giang (Theo Văn Hóa VIệt)

THÀNH ĐỒ BÀN

Kinh đô Vijaya, còn tên là Phật Thệ, Đại Châu, hay được phiên âm thành Chà Bàn, Trà Bàn hay Đồ Bàn, dân gian quen gọi là thành Lồi. Thành được xây từ cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI, và tồn tại đến thế kỷ XV. Ở thời kỳ vàng son, kinh thành Vijaya nguy nga, tráng lệ, là đế đô của vương quốc Champa, phát triển và phồn thịnh mãi đến năm 1471.   Theo sử cũ:

“ Thành xưa vuông, xây bằng gạch, mỗi bề dài một dặm. Có bốn cửa, trong có điện, có tháp. Điện đã đổ, tháp còn một, hai tòa, còn gọi là tháp Con Gái “- (Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư), mà dấu xưa của nó ẩn dưới lớp thành Hoàng Đế, nơi mà năm 1776, Nguyễn Nhạc đã “ Nhân đất cũ của Chiêm Thành, sửa đắp thành Đồ Bàn, đào lấy đá xây dựng thành lũy, mở rộng cung điện “ - (Lê Quý Đôn Dật Sử)”

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh
Đây chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng
Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành – Chế Lan Viên

Bao thăng trầm của lịch sử đã diễn ra trên vùng đất này – Công cuộc Nam tiến không ngừng của người Việt mà đất đai Chăm bị thôn tính, quốc gia Chăm bị xóa bỏ, nền văn hóa Chăm bị mai một.

Bắt đầu từ năm 1069, nhà Lý từ thời vua Lý thánh Tôn, với tướng Lý Thường Kiệt, đánh thắng Chiêm Thành, vượt Hoành sơn, mở mang bờ cõi đến Quảng Bình, gồm ba châu:  Bố Chánh (Hà Tĩnh- Bắc Quảng Bình), Địa Lý (Trung và Nam Quảng Bình), Ma Linh (Bắc Quảng Trị).

Năm 1306, nhà Trần đời vua Trần Anh Tôn, gả em gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm Chế Mân, đổi về hai châu Ô (Nam Quảng Trị- Bắc Thừa Thiên, là Thuận châu), Rí (Nam Thừa Thiên- Bắc Quảng Nam, là Hóa châu).
Năm 1470, nhà Lê đời vua Lê Thánh Tôn, thân chinh đánh chiếm thành Đồ Bàn, mở rộng đất đai đến Quy Nhơn. Xứ Chiêm Thành sau đó suy yếu hẳn đi. Dần dần, những phần đất còn lại của họ lần lượt rơi vào tay Việt Nam.

Năm 1693, lấy cớ vua Chiêm là Bà Tranh không chịu tiến cống, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu cho đánh lấy Chiêm Thành, bắt dân chúng thay đổi tập tục và y phục như người Nam - Vương quốc Champa vĩnh viễn biến mất từ đấy!

Giọt nắng Chiêm Thành
Ướt mưa Ô Lý
Sóng Bồng Nga ngân cát lệ Huyền Trân
Đồ Bàn hưng phế bao lần
Gái ngoan xứ Bắc cung tần những ai
Rượu Bàu Đá linh loang đầm Thị Nại
Voi chéo ngà ngây dại bước vu quy
Chung một chén cũng vì non nước ấy – Trương Thị Kim Dung

Bài thơ trên nhắc đến hai nhân vật nổi tiếng lịch sử trong quan hệ Chiêm Việt thời nhà Trần là Chế Bồng Nga và Huyền Trân công chúa.

* Chế Bồng Nga (Che Bonguar/ Po Binasor hay Po Bhinethour), là niên hiệu của vị vua thuộc vương triều thứ 12 nước Champa (Sau năm 877, nhà Đường Trung Hoa gọi xứ Champa là Chiêm Thành quốc). Trong thời kỳ này, vương quốc Champa rất là hùng mạnh. Trong vòng ba mươi năm (1360 -1390), Chế Bồng Nga đã thu hồi lại được những vùng đất bị mất, quân Chăm đã ba lần đánh vào Thăng Long. Đến năm 1390, lúc đang tiến vào Thăng Long lần thứ tư, bị nội phản, Chế Bồng Nga tử trận, chấm dứt trang hùng sử của đất nước Champa: Nhà Trần lấy lại những vùng đất đã mất, vương quốc Champa xuống dốc để từ đó lãnh thổ ngày càng bị thu hẹp.

Châu Vijaya
Chế Bồng Nga
tan hợp
thần Sarasvati
mềm …
muốn khóc – Mai Thìn

* Huyền Trân công chúa đã khiến hậu thế, bao đời sau, bao người sau giành nhiều giấy mực, chữ nghĩa cho nàng vì xót thương cảnh ngộ:
” Rằng bảy trăm trước, có một con gái xứ Bắc đã chịu “ đắng cay muôn phần “, vì nước quên thân, để đưa về cho Đại Việt “ hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm “, khi cất bước xuất giá về Chiêm quốc. Huyền Trân công chúa đã đi vào lịch sử, vào lòng người đất Huế. Suốt bảy trăm năm qua, người dân của vùng đất này chưa bao giờ quên nàng. Sau nàng, bao lớp người Việt đã tiếp bước nhau trên con đường Nam tiến ấy, lấy Thuận Hóa làm căn cứ, đưa văn hóa Việt về phương Nam “- (Cuộc hành trình bảy trăm năm / Netcodo)

Bảy trăm năm những mùa trăng ly tán
Sông nước Chàm miền châu Rí, châu Ô
...Ngày Chiêm quốc, đêm mơ về bến Việt
Mắt Huyền Trân còn đẫm lệ Khắc Chung
Điệu ca Hời đòi đoạn nao lòng
Sên phách gõ nhịp Nam Bình kể lể à-
Trần Kiêm Đoàn

(Hời là cách đọc trại đi từ chữ H'Roi, tên một bộ lạc sống trên vùng núi phía Tây Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, họ là người Champa, di cư lên Tây nguyên tránh loạn, rồi định cư luôn ở đó)

Tại Huế, thủ phủ của đất Thuận Hóa xưa, đến nay còn lưu truyền hai khúc Ca Huế, điệu Nam nhớ về nàng công chúa của thời Trần Đông A. Một bài Nam Ai: Huyền Trân  công chúa của tác giả Hàn Phương, một bài Nam Bình: Nước non ngàn dặm ra đi ???
(Ca Huế là những điệu hát hình thành từ thời đầu nhà Lý, trên căn bản âm nhạc Việt, tiếp thu một số làn điệu Chăm và Trung Hoa mà phát triển nên. Nam Ai, Nam Bình, Nam Xuân, Tứ Đại Cảnh, Đảo Ngũ Cung … là các bài điệu Nam, còn gọi điệu Ai trong Ca Huế, mang tính chất sầu thảm, bi thương, chịu ảnh hưởng của làn điệu Chăm sâu thẳm)

Nước non ngàn dặm ra đi
Cái tình chi
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Ly
Đắng cay vì độ xuân thì
Độ xuân thì
Số lao đao
Hay là nợ duyên gì ?

Từ nhiều thế kỷ, Thuận Hóa là vùng đất tranh chấp của hai dân tộc Việt Chăm. Sau đám cưới của Huyền Trân công chúa năm 1306, người Việt tiến sâu vào lãnh thổ và văn hóa Chăm, đẩy người Chăm ra khỏi đất gốc của họ.

Những thế hệ di dân đầu tiên vào chiếm lĩnh châu Hóa xuất phát từ Nghệ An và Hà Tĩnh, và đợt sau với chúa Nguyễn Hoàng là từ Thanh Hóa. Từ cội rễ Thanh- Nghệ- Tĩnh, trong quá trình khai phá đất mới, cũng đồng thời với quá trình xây dựng một bản sắc văn hóa nghệ thuật mới: Xuất hiện một hệ thống các quan niệm nhân văn biểu hiện qua các khát vọng, tinh thần, tập quán … tạo thành tính cách Huế - Người ta gọi vùng đất Thuận Hóa xưa là xứ Huế, nay bao gồm Quảng Trị và Thừa Thiên, để phân biệt với xứ Nghệ ở phía Bắc đèo Ngang, và xứ Quảng ở phía Nam đèo Hải Vân.
“ Sứ mạng của Huyền Trân công chúa ở đây đặc biệt cao cả, nhất là trong việc giải quyết một “ nút thắt “ cho sinh lộ độc đạo của người Việt “ Nam tiến “, để giải quyết vấn đề nhân mãn từ cái nôi châu thổ Bắc bộ. Quá trình đó diễn ra đồng thời với quá trình suy yếu của các tiểu quốc Champa trên dải đất miền Trung, theo chiều từ Bắc vào Nam “-
(Món quà sính lễ của cuộc hôn nhân lịch sử 1306 / Netcodo)

Bởi Huế có mưa dầm rét bấc
Ngọn gió Lào quất mặt đến rát da
Dòng Hương xanh biếc hiền hòa
Quyện mãi Huế bài ca thời mở đất
Quên sao được mối tình Huyền Trân công chúa đánh mất
Đổi lấy hai châu!
Ngày nay con cháu mới thấy nét nhiệm mầu
” Mỹ nhân hơn binh hùng tướng mạnh “ - Dzạ Lữ Kiều

“ Có lẽ người Huế đã biết hoài niệm từ khi cơn mưa đầu tiên đổ xuống vùng đất Huyền Trân mịt mù cổ tích này. Cơn mưa nhỏ trong ngày chia ly, đưa gót cô gái mười sáu tuổi đi lanh đanh giữa đời. Mười sáu tuổi, liệu nàng công chúa bé bỏng có khóc như cơn mưa ngày nọ đã tiễn mình không ? Chỉ biết rằng mấy trăm năm sau, khi cơn mưa đầu mùa đổ xuống đất Huế, tôi và bạn bè vẫn còn nhớ đến nàng. Nhớ như một sự thông cảm, một niềm tri ân Đại Việt, khi mà sứ mệnh giao phó cho nàng mở mang bờ cõi “ – Nguyễn Xuân Hoàng

 Hôm nay là xuân, mai còn xuân
Phất phới mưa sa nhớ cố nhân
Phận gái ví theo lề ép uổng
Đã về Chiêm quốc như Huyền Trân – Nguyễn Bính

Để tưởng nhớ, để ghi nhận và để tôn vinh công ơn của Huyền Trân công chúa, ngày nay ở Huế đã xây dựng một đền thờ để thờ nàng tại núi Ngũ Phong, thôn Ngũ Tây, xã Thủy An (thuộc khu vực Chín Hầm, sau vùng nghĩa trang thành phố Huế), khu vực này được gọi là trung tâm văn hóa Huyền Trân. Những người Huế, những người yêu Huế còn đề xướng lên phong trào xây dựng tượng đài kỷ niệm nàng hoặc ở bên bờ sông Hương, hoặc trên đồi Vọng Cảnh.

Nhiều làng, chùa thờ nàng ở miền Bắc như Yên Tử / Hoàng Bồ / Quảng Ninh; Gia Viễn / Ninh Bình / Nam ĐinhàMột miếu thờ công chúa tại Quảng Trị ở xóm Chùa, thôn Kim Đâu, xã Cam An, Cam Lộ, đoạn quốc lộ 1 giao với quốc lộ 9 ở cây số 12, chạy vào chợ phiên Cam Lộ, qua ngã ba cầu Duồi. Còn có một đảo nhỏ mang tên Huyền Trân, ở ngoài khơi cửa Tư Hiền, ven biển Thừa Thiên / Huế, được nhắc đến qua bài thơ “ Tích vũ Huyền Trân “ của Ngô Thời Nhiệm:

Huyền Trân sái tận u sầu lệ
Hóa tác xuân mai dạ vũ thanh
Tòng quốc quả thành cừu phấn đại
Di phu vô phận mỗi cư hành
Nhị châu sính vật công thiên cổ
Vạn lý giai nhân ngộ nhất sinh
Oán hận ưng tùy triều thủy trướng
Giang thôn tích lịch tố hoàn canh

( Công chúa Huyền Trân tuôn lệ hận
Đêm xuân hóa những trận mưa sầu
Nước nhà tình nhạt thù son phấn
Chồng vợ duyên hèn tuổi ngọc châu
Sính lễ hai châu ngàn thuở hưởng
Giai nhân muôn dặm một đời đau
Oán hờn theo với cơn trào dậy
Xóm bến đêm đêm lã chã rào )–(Nguyễn Văn Bách)

Trước đây, ngoài con đường mang tên Huyền Trân ở thành phố Huế, các thành phố khác như Saigon, Đà Nẵng, Quảng Trị và đã  lấy tên công chúa đặt cho những con đường. Lúc đó, đường Huyền Trân công chúa ở Huế, từ ga Huế, hay đúng hơn là từ Cầu Lòn chạy dọc theo sông Hương theo hướng Tây, cách bờ hữu ngạn chừng 100 m, chia làm hai phần: Từ Cầu Lòn đến Cống Trắng, từ Cống Trắng đến chợ Long Thọ, kế đó là Phường Đúc (nơi sản xuất đồ đồng), có bến đò ngang Kim Long cho khách qua sông Hương.

Theo địa lý hành chánh bây giờ, đường Huyền Trân công chúa nằm ở Phường Đúc, bắt đầu từ đường Bùi Thị Xuân, vắt qua Thành Lồi, đi giữa đồi núi nhấp nhô Tây Nam, và kết thúc ở đường Lê Ngô Cát, đi thêm chút nữa đến đồi Vọng Cảnh. Con đường này nối khu du lịch lăng Tự Đức với đồi Vọng Cảnh.
Ngày nay, con đường mang tên công chúa ở Hanoi bị xóa bỏ, ở Saigon cũng còn là con đường ở phía Tây Nam, mặt sau dinh Độc Lập (hội trường Thống Nhất).

Như vệt nắng chiều nghiêng cổ miếu
Áo Huyền Trân nhòa khuất hiên đời
Mưa có nhớ đôi bờ Thương Bạc
Dòng Hương giang mờ mịt cuốn trôi – Thái Tú Hạp

Sử lại chép rằng một năm sau khi sanh xong hoàng tử Chế Da Đa, tháng 6/1307, vua Chế Mân băng hà, hoàng hậu phải hỏa thiêu chết theo. Được tin ấy, vua Trần Anh Tôn cho tướng Trần Khắc Chung và An Phủ Sứ Đặng Vân Thành sang Chiêm, tìm cách cứu công chúa về. Tháng 8/1308, công chúa về tới Thăng Long sau mấy tháng lênh đênh trên biển, bị dư luận gièm pha, làm nên tình sử Huyền Trân và Khắc Chung.

Sau khi gặp lại vua cha Trần Nhân Tôn, lúc này đã là Trúc Lâm Đại Sỹ, thì ít lâu sau, ngài thị tịch, công chúa xuất gia ở chùa Trâu sơn, núi Vũ Ninh, huyện Quế Dương, trấn Kinh Bắc, pháp danh là Hương Tràng. Cuối năm 1309, ni sư được phái về trụ trì tại chùa  Non, bà viên tịch lúc ngoài năm mươi.

Dân làng Thái Đường, huyện Hưng Nhân (nay là Hưng Hà), nơi có mộ ba vua đầu tiên nhà Trần, lập điện thờ bà ở bên sông Thái Sư, tôn bà là Mẫu Huyền Trân. Sau này, bà được sắc phong làm Thành Hoàng, là Phúc Thần, bậc Trung Đẳng Thần, được thờ phụng tại đình làng Hổ sơn, xã Hổ sơn, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
(Thành Hoàng được phong theo ba bậc, tùy theo sự tích, công trạng của họ đối với dân, với nước, là: Thượng Đẳng Thần, Trung Đẳng Thần và Hạ Đẳng Thần).

Một gái Huyền Trân đổi mấy châu
Người xưa cảnh cũ biết tìm đâu
Ngai vàng chỉ cốt ngôi vua vững
Phận bạc ai lo mảnh má đào – Hà Thượng Nhân

Từ sau năm 1306, những đoàn di dân Đàng Ngoài, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, đã theo lối mở đường của Huyền Trân công chúa, mở rộng bờ cõi về phương Nam. Những bước chân của công chúa và đoàn tùy tùng bảy trăm năm về trước, trên con đường thiên lý thăm thẳm Bắc-Nam, con đường “ nước non ngàn dặm ra đi “ này chủ yếu là men theo bờ  biển, có lúc đi đường bộ, có lúc dùng thuyền. Ta thử đi lại những mốc địa danh đã lưu dấu công chúa, khởi đầu từ thành Thăng Long, dừng ở cửa Ô Long, vượt đèo Hải Vân vào địa phận Chiêm quốc, để đến thành Đồ Bàn; Rồi trở về Yên Tử và cuối cùng là chùa Non. Thành Đồ Bàn đã đề cập ở phần trên, ta sẽ lần lượt nói về cửa Tư Dung, đèo Hải Vân, núi Yên Tử, chùa Non và thành Thăng Long.

Năm tê trong lúc sang xuân
Tôi theo công chúa Huyền Trân tôi lên đường
Đường máu xương đã lắm oán thương
Đổi sắc hương lấy cõi giang sơn – Phạm Duy

Huyền Trân Công Chúa

Rừng hoang vu – Vùi lấp bao nhiêu uất căm hận thù
            Ngàn gió ru – Muôn tiếng vang trong tối tăm mịt mù
Qua: “  Người xưa đâu? Mà tháp nghiêng cao đứng như buồn rầu
            Lầu các đâu? Nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu

Đó là đoạn mở đầu ca khúc “ Hận Đồ Bàn “ của nhạc sỹ Xuân Tiên. Bài hát này đã vẽ cho ta hình ảnh, dấu tích của thành Đồ Bàn ngày nay trong bóng chiều tàn tạ. Từng ngôi tháp Chăm cổ điêu tàn, hiu quạnh theo dòng thời gian. Rồi cũng cùng một nhịp điệu, đoạn thứ hai của bài hát gợi lại sự rực rỡ, sống động của dân tộc Chăm, của thành Đồ Bàn thời hoàng kim trong ký ức:

          “ Về kinh đô – Ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù
             Triền sóng xô – Muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ
Đến:  “ Tiệc liên hoan – Nhạc tấu vang trên xứ thiêng Đồ Bàn
             Dạ yến ban – Cung nữ dâng lên khúc ca về Chàm “

Để rồi thì: “ Tháng năm buồn ngân, âm thầm bài hận vong quốc ca “ và “ Mộng kia dẫu tan, cuốn theo thời gian, nhưng hồn ngàn đời còn theo nước non “ - Số phận dân Chăm: Chỉ còn hai cộng đồng nhân chủng, khoảng trên bốn trăm ngàn người xuất thân từ dân tộc Champa thời trước, bên cạnh di tích của những tháp Chăm còn sót lại, rải rác từ Quảng Nam tới Phan Rang, Phan Thiết, trong nhiều thế kỷ là nơi để những thế hệ người Chăm tìm về bái vọng tổ tiên, không khỏi khơi trong lòng ta những ngậm ngùi.

Những nỗi niềm ngậm ngùi, cảm xúc, u hoài về sự vong quốc của nước Chăm, qua hình ảnh những tháp Chăm cô độc, câm nín, đặc biệt trong thi ca Việt Nam, được thể hiện qua tập thơ “ Điêu tàn “ của thi sỹ Chế Lan Viên, sáng tác lúc tác giả mười sáu tuổi, một người Việt trăm phần trăm, nhưng lớn lên giữa cảnh điêu tàn, tang thương của những phế tích ở Bình Định, mà tâm hồn nhạy cảm của ông đã xúc động, cất lên thành vần điệu:

Quả đất chuyển đây lòng tôi rung động
Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi hư vô
Tháng ngày qua gạch Chàm đua nhau rụng
Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ - (Những sợi tơ lòng)

Khi đề cập đến tháp Chăm, chúng ta sẽ có rất nhiều điều để đề cập như: Địa điểm, nguồn gốc lịch sử, kỹ thuật xây dựng ... rất nhiều chi tiết, nên trong giới hạn bài này, chỉ xin tóm lược mà thôi. Di tích những tháp còn lưu lại hôm nay, đã bị thời gian tàn phá, phần nhiều được xây dựng theo lối kiến trúc Ấn Độ (ngoại trừ tháp Đôi) gồm một tháp chính (kalan) và nhiều ngôi tháp nhỏ. Tháp thường chỉ có một cửa ra vào ở hướng Đông, còn ba mặt kia là giả, tạc hình tượng thần hay vũ nữ. Trong lòng tháp cũng có những tượng thần, tượng vua, phù điêu và các bộ Linga-Yoni, tượng trưng cho âm dương, nam nữ.

Người Chăm là bậc thầy trong nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc. Tháp Chăm được xây dựng bằng những viên gạch sấy khô, chạm khắc rồi nung đỏ, còn giữ nguyên màu qua thời gian, chồng lên nhau, xếp khít vào nhau, mà không có dấu tích gì của vôi vữa, hay vật liệu nào tương tự để kết dính vào nhau như kỹ thuật xây cất ngày nay.

Hoàng hôn tím
Tháp Chàm lặng lẽ
Gạch đá âm thầm
Trầm mặc kiếp đa đoan
Bao tâm sự
Xói mòn theo mưa nắng
Bao ưu tư
Phai nhạt với thời gian
Bóng chiều nghiêng
Loang lổ muộn phiền – Mai Thanh Hải

Ta có thể kể từ tháp Đôi / tháp Hưng Thạnh, tháp Bình Lâm, tháp Bánh Ít / tháp Bạc / tháp Tri Thiện / tháp Thiện Mẫu/ tháp Thổ sơn thuộc quận Trung Phước; Qua tháp Thủ Thiện / tháp Đất, tháp Dương Long / tháp Ngà / tháp Vân Thường / tháp An Chánh / tháp Ba Chia thuộc quận Bình Khê; Đến tháp Phúc Lộc / tháp Phốc Lốc / tháp Vàng và tháp Cánh Tiên / tháp Đồng thuộc quận An Nhơn.

Tháp Cánh Tiên, cao gần 20m, được xây vào đầu thế kỷ XII, còn gọi là tháp Ô Tiên hay Tiên Dực, vì ở bốn góc là hình của những đôi cánh tiên, là một ngôi tháp còn tương đối nguyên vẹn của một khu vực gồm nhiều tháp cổ, thuộc khu kinh thành cũ Vijaya, nay thuộc địa phận hai thôn Nam Tân và Bắc Thuận, xã Nhơn Hậu và thôn Bả Canh, thị trấn Đập Đá, quận An Nhơn, gần sát quốc lộ 1, cách thành phố Quy Nhơn chừng 27 km về phía Tây Bắc.

Ta lại về thăm tháp Cánh Tiên
Long lanh nắng xuống, bóng sương chìm
Cánh chim nào động trời hoang dã
Mà chiều Bình Định gió như im – Thanh Trắc Nguyễn Văn

XUÂN PHƯƠNG (Văn Nghệ Biển Khơi)

Kim Quy st (rút gọn và tổng hợp)
Chỉnh sửa lần cuối vào %PM, %08 %154 %2015 %21:%11
back to top