Ban Chấp Hành

Ban Chấp Hành

Ánh trăng nói hộ lòng tôi (Ánh trăng lẻ loi) _ Hoài Nam

  Ánh trăng nói hộ lòng tôi (Ánh trăng lẻ loi)

 

Dang Le quan - thanh sac song toan

Tiếp tục giới thiệu những ca khúc Đông Phương nổi tiếng được đặt lời Việt, bắt đầu từ kỳ này, chúng tôi viết về một số thành công điển hình của “Nữ hoàng ca nhạc Á châu” Đặng Lệ Quân, trong đó có Ánh trăng nói hộ lòng tôi, được đặt lời Việt với tựa Ánh trăng lẻ loi, Thiên ngôn vạn ngữ (Mùa thu lá bay), Tsugunai (Tình chỉ là giấc mơ).

Thực ra, với đa số khán thính giả người Việt từng yêu tiếng hát Đặng Lệ Quân và những ca khúc nổi tiếng của cô từ hơn bốn thập niên qua, công việc của chúng tôi có lẽ hơi thừa thãi, bởi đã có khá nhiều tác giả viết về đề tài này. Tuy nhiên, vì loạt bài “Những ca khúc nhạc ngoại quốc lời Việt” thực hiện cho trang T.Vấn & Bạn Hữu ít nhiều mang tính cách tài liệu lưu giữ (archive), thiết nghĩ chúng tôi không thể không đề cập tới người nữ danh ca bạc mệnh ấy và những ca khúc để đời của cô.

Đặng Lệ Quân (Deng Li-yun) – tên tiếng Anh là Teresa Teng, còn được viết là Teresa Deng, Teresa Tang – ra chào đời vào ngày 29-1-1953 tại thôn Điền Dương, huyện Vân Lâm, Đài Loan, trong một gia đình gốc Hoa Lục, cha người tỉnh Hà Bắc, mẹ người tỉnh Sơn Đông.

Thân phụ của cô nguyên là một quân nhân trong quân đội Trung Hoa Dân Quốc của Thống chế Tưởng Giới Thạch, sau khi bị phe cộng sản của Mao Trạch Đông đánh bại vào năm 1949, đã theo chủ soái chạy ra đảo Đài Loan.

Tên gọi “Lệ Quân” là do thân phụ cô đặt theo tên nữ nhân vật Mạnh Lệ Quân trong truyện “Tái Sinh Duyên” lấy bối cảnh thời nhà Tống chống quân Nguyên (Mông Cổ) trong lịch sử Trung Hoa.

Là người con thứ tư và là con gái độc nhất trong gia đình năm người con, năm lên ba, Đặng Lệ Quân đã được cho học vũ ba-lê; tuy nhiên càng về sau, cô càng tỏ lộ năng khiếu ca hát.

Năm 11 tuổi (1964), Đặng Lệ Quân tham dự cuộc thi hát “Hoàng Mai Hí” do Đài truyền hình Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) tổ chức và đoạt giải nhất với ca khúc “Phỏng Anh Đài” (Đi thăm Anh Đài), trích từ cuốn phim Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài đang làm mưa gió trên màn bạc.

Dang Le quan nam 11 tuoi

Đặng Lệ Quân năm 11 tuổi

 VIẾT THÊM:

Hoàng Mai Hí (Huangmeixi) là một thể điệu ca múa dân gian Trung Hoa rất phổ biến tại các tỉnh An Huy, Hồ Bắc, Giang Tây và Giang Tô. Nguồn gốc là những bài hát của các cô gái hái trà ở huyện Hoàng Mai, hạt Hoàng Cương, tỉnh Hồ Bắc. Tới thời nhà Thanh, thể điệu ca múa này được du nhập vào tỉnh An Huy, phối hợp với dân ca và thổ ngữ địa phương, được đưa lên sân khấu trở thành thể loại nhạc kịch Hoàng Mai (Huangmei opera).

Tới hậu bán thế kỷ 20, “Huangmei opera” được xem là thể loại nhạc kịch dân tộc mang nhiều tính cách nghệ thuật nhất trong năm thể loại nhạc kịch chính của Trung Hoa; bốn thể loại kia gồm Beijing opera, Yue opera, Pin opera, và Yu opera.

Tại Hương Cảng, từ cuối thập niên 1950 tới cuối thập niên 1960, thể loại nhạc kịch Hoàng Mai đã được hãng phim Thiệu Thị Huynh Đệ (Shaw Brothers) đưa lên màn bạc và đạt nhiều thành công rực rỡ, trong đó có cuốn phim bất hủ Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài  (tựa tiếng Anh là Love Eterne – Tình yêu Vĩnh cửu), thực hiện năm 1963.

Chuyện tình Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài  thường được so sánh với chuyện tình Romeo & Juliet, và được người Tây phương gọi là Butterfly Lovers (Hồ Điệp Tình Nhân), do việc Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài hóa thân thành đôi bướm.

Trong một bài trước đây viết về ca khúc Meigui Meigui Wo Ai Ni (Rose Rose I Love You- Cánh Hồng Trung Quốc) của tác giả Chen Gexin, chúng tôi có nhắc tới hợp tấu khúc dành cho vĩ cầm có tựa đề “Lương Chúc tiểu đề cầm hiệp tấu khúc”, tựa đề tiếng Anh Butterfly Lovers’ Violin Concerto, của trưởng nam Chen Gang (Trần Cương) – nhạc khúc cổ điển mà cho tới nay vẫn được xưng tụng là tác phẩm tiêu biểu nhất trong nền nhạc giao hưởng của Trung Hoa.

Trong cuốn phim Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài  thực hiện năm 1963, Lăng Ba thủ vai Lương Sơn Bá, Lạc Đế thủ vai Chúc Anh Đài. Lạc Đế lúc đó đã thành danh nhưng Lăng Ba còn là một nữ diễn viên chưa có tên tuổi, sở dĩ được chọn thủ vai (gái giả trai ) Lương Sơn Bá là nhờ cô biết hát thể loại Hoàng Mai Hí, và sau đó vụt nổi tiếng.

Về sau, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài  được thực hiện lại nhiều lần dưới hình thức phim điện ảnh và phim tập truyền hình, tuy nhiên không cuốn phim nào có thể so sánh với Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài  của năm 1963. Với người Hoa, cuốn phim này là một tác phẩm bất hủ, tương tự Cuốn theo chiều gió (1939), Titanic (1997) của điện ảnh tây phương. Riêng tại Hòn ngọc Viễn đông ngày ấy, chúng tôi còn nhớ Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài  đã trở thành một hiện tượng, được chiếu liên tục cả tháng trời, và đi tới đâu cũng nghe văng vẳng điệu hát Hoàng Mai…

Trở lại với Đặng Lệ Quân, năm 1966, cô tham dự cuộc thi ca nhạc của công ty Kim Mã Tưởng và đoạt giải nhất.

Qua năm 1967, cô ra đĩa hát đầu tay và được ưa chuộng ngay; và tới năm 1968, cô thực sự nổi tiếng toàn quốc sau khi được mời trình diễn trên một chương trình ca nhạc truyền hình rất phổ biến ở Đài Loan.

Năm 1969, vào tuổi 16, được phép thân phụ, Đặng Lệ Quân bỏ dở việc học để theo đuổi nghiệp cầm ca toàn thời, ký hợp đồng với hãng đĩa Life Records.

Cũng trong năm 1969, Đặng Lệ Quân được mời sang Hương Cảng để đóng cuốn phim đầu tiên; trở về cô được mời chủ trì tiết mục “Mỗi ngày một ngôi sao” trên truyền hình, trở thành một MC rất nổi tiếng trên đài phát thanh, đài truyền hình, được mời hát trong bộ phim truyền hình đầu tiên của Đài Loan, đồng thời được phu nhân của Tổng thống Tân-gia-ba mời sang đảo quốc Sư Tử tham gia một chương trình gây quỹ từ thiện.

Năm 1970, Đặng Lệ Quân được tặng danh hiệu “Nữ hoàng từ thiện”, và sang Hương Cảng đóng cuốn phim thứ hai có tựa đề “Tiểu thư mê nhạc “.

Qua đầu năm 1971, Đặng Lệ Quân bắt đầu chuyến lưu diễn vòng quanh Đông Nam Á, gồm Hương Cảng, Tân-gia-ba, Mã-lai, Nam Dương, Phi-luật-tân, Thái-lan, và Việt Nam Cộng Hòa, kéo dài từ tháng 2 tới tháng 8/1971.

dang_le_quan-saigon

Đặng Lệ Quân tại Sài Gòn (1971)

Đặng Lệ Quân tới Sài Gòn ngày 24 tháng 7 năm 1971, ngụ tại khách sạn Bát Đạt một tháng trời, để trình diễn tại rạp Lệ Thanh, tham gia các cuộc họp báo, gặp gỡ người ái mộ, du lịch và chụp hình lưu niệm trên sông Cửu Long…

Cô từ giã Hòn ngọc Viễn đông mang theo ca khúc “Không”, tác phẩm đầu tay của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, mà cô đã xin phép được đặt lời Hoa.

Năm 1972, phiên bản tiếng Hoa của “Không” có tựa đề Nị (Anh) được Đặng Lệ Quân thu đĩa; hiện nay ca khúc này đang đứng hạng 11 trong số 13 ca khúc điển hình của Đặng Lệ Quân.

 Sau đó, Đặng Lệ Quân thu đĩa phiên bản tiếng Nhật với tựa đề “Nii/Anata”, cũng rất được ưa chuộng.

Năm 1973, sau khi mãn hợp đồng với hãng đĩa Life Records, Đặng Lệ Quân đầu quân cho hãng đĩa Polydor Japan với mục đích chinh phục khán thính giả ở quần đảo Phù Tang (Polydor là một thương hiệu của đại công ty Universal Music Group, Hoa Kỳ, có chi nhánh tại nhiều quốc gia trong đó có Nhật Bản).

Tới cuối năm, với tư cách một ca sĩ của Polydor Japan, Đặng Lệ Quân tham dự cuộc thi ca hát thường niên “Kohaku Uta Gassen” (Year-end Song Festival), là cuộc tranh tài giữa những ca sĩ đã có tên tuổi, do đại công ty truyền thông NHK tổ chức vào tối giao thừa dương lịch. Kết quả, Đặng Lệ Quân đã đoạt giải “Ngôi sao ca hát mới nổi xuất sắc nhất” (Best New Singing Star) với bản Kuko (The Airport).

Ca khúc này do Kosho Inomata soạn nhạc, Michio Yamagami đặt lời, về sau, vào giữa thập niên 1980, đã được đệ nhất danh ca kiêm nữ diễn viên Nhật Akina Nakamori (sinh năm 1965) thu đĩa lại, nhưng với thính giả Nhật nói chung, nhắc tới ca khúc Kuko, họ nhớ ngay tới Đặng Lệ quân.

[“Kuko” là cách viết trong nguyên tác, nhưng không hiểu tại sao hiện nay nhiều trang mạng lại viết thành “Koukou”, hoặc “Kuukou”]

Nội dung Kuko là lời một người con gái trong một cuộc tình tay ba, được người yêu tiễn ra phi trường, trước khi chàng quay về với bóng hồng kia.

Lời hát của Kuko được trang mạng lyricstranslate.com dịch sang tiếng Anh như sau:

Airport

 Knowing nothing of my decision, you told me

“Going off on your own, alone, would be good for a change.”

Standing on the observation deck of the airport in the rain.

You wave at me, and soon you are out of sight

Please return to her side

I’m going away all by myself

 

Always, quietly waiting for your return

There’s a sweet lady awaiting

From the window of the jet misted up by the rain

Restraining my tears, I say good-bye

Please return to her side

I am leaving for a faraway town

 

Though no one loves you more than I do

Breaking up is for the good of both of us

Please return to her side

I’m going away all by myself

 

Sau này tại hải ngoại, Kuko được nhạc sĩ Nhật Ngân đặt lời Việt với tựa Xin thời gian ngừng trôi.

Xin thời gian ngừng trôi

 Rượu nồng cạn chén bên người
Tình ái ấm nồng chứa chan
Mong thời gian thôi,ngừng không trôi nữa,
Mãi đêm nay ta bên người.

Sao thời gian cứ trôi mau
Sao rượu nồng bổng chua cay
Sao tình còn đang ngất ngây say
Mà chợt nghe sầu ngăn cách.

Anh ơi! uống đi anh
Giọt đắng thắm tràn khoé môi
Lệ nào chớ rơi
Đường khuya vắng
Âm thầm đi về…

Đồng thời Kuko cũng được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Sao đành quên nhau, tuy nhiên không ít trang mạng, bìa đĩa nhạc lại ghi là Sao đành xa nhau. Xét nội dung lời hát (Sao đành xa vắng nỡ quên nhau?), chúng tôi cho rằng “quên” đầy đủ ý nghĩa hơn, chính xác hơn, bởi có nhiều khi người ta “xa” nhau nhưng vẫn không… quên nhau!

Sao đành quên nhau

Mặt trời còn soi trên đường về
Ðường hồng chưa phai dấu người bước đi
Mây còn bao la rừng xanh thơm lá
Chim vẫn vui ca chan hoà…

Sao đành xa vắng nỡ quên nhau?
Sao đành bỏ nhau dứt tay nhau?
Sao đành chia ly, nỡ ra đi?
Sao ta nỡ chia lià nhau thế???

Gặp rồi say sưa nồng nàn
Vừa cầm tay nhau cõi lòng chứa chan
Rồi quay bước chân
Nên dĩ vãng phai tàn lỡ làng…

Ðèn hồng còn soi nơi giường nằm
Và phòng the chưa hết mùi ái ân
Da thịt dư hương bàn tay êm ấm
Ve vuốt trong đêm vẫn còn…

Sao đành xa vắng nỡ quên nhau?
Sao đành bỏ nhau, dứt tay nhau?
Sao đành chia ly, nỡ ra đi?
Sao ta nỡ chia lià nhau thế???

Tình nồng một đêm chẳng dài
Rồi lìa xa nhau rất là dễ thôi
Người xa vắng ta
Cho ta khóc!!! Khóc duyên tình lỡ làng…

 Sau khi đoạt giải “Ngôi sao ca hát mới nổi xuất sắc nhất” (Best New Singing Star) với bản Kuko, Đặng Lệ Quân đã thu đĩa thêm nhiều ca khúc khác của Nhật để cho ra mắt album tiếng Nhật đầu tay của mình, trong số đó có bản Goodbye My Love, một ca khúc lời Nhật có tựa đề tiếng Anh.

Qua năm 1975, phiên bản lời Hoa của Goodbye My Love được Đặng Lệ Quân thu đĩa đã trở thành một trong những ca khúc “cầu chứng” của người nữ danh ca Đài Loan này (đứng No.5 trong danh sách Top 5 của cô).

Rất có thể vì phiên bản lời Hoa của Goodbye My Love quá phổ biến, hiện nay, hầu hết các trang mạng, các cơ sở thương mại ca nhạc Hoa, Việt đều ghi đây là một ca khúc nguyên tác tiếng Hoa. Chỉ trừ trang facebook “CongdongVietNhat” khẳng định Goodbye My Love nguyên là một ca khúc của Nhật, được một nhạc sĩ Nhật sáng tác cho nữ ca sĩ Nhật lai Mỹ Ann Lewis thu đĩa năm 1974, nhưng không đạt thành công đáng kể. Chỉ tới khi được Đặng Lệ Quân thu đĩa, Goodbye My Love mới được nhiều người Nhật biết tới và ưa chuộng.

Đây cũng là ca khúc mà hầu như lần nào Đặng Lệ Quân hát, mắt cô cũng đẫm lệ.

Phiên bản lời Việt của Goodbye My Love do Ngọc Lan thu đĩa cũng được ghi nhận là một thành công lớn trong sự nghiệp ca hát của cô. Một số người viết rằng Ngọc Lan chính là tác giả phiên bản lời Việt này, tuy nhiên vì không thể kiểm chứng, chúng tôi chỉ xin ghi lại với sự dè dặt thường lệ.

Tới đây, xin có đôi dòng về “tiếng hát Đặng Lệ Quân”. Xét về chất giọng (voice), Đặng Lệ Quân có một giọng “mezzo-soprano”, tiếng Ý có nghĩa là “half soprano”. Đa số tác giả người Việt gọi “mezzo-soprano” là giọng “nữ trung”, một số nhỏ gọi là giọng “nữ kim hạ”.

Trong nền nhạc cổ điển, “mezzo-soprano” được phân định là giọng nữ nằm giữa giọng “soprano” (giọng nữ kim) và giọng “contralto” (giọng nữ trầm).

Vì những yêu cầu của ca, kịch cổ điển, các vai nữ nhân vật chính bắt buộc phải có giọng “soprano”. Tuy nhiên trong nền nhạc hiện đại – country, pop, jazz, heavy metal, và nhạc kịch (musical theatre) – đa số nữ ca sĩ nổi tiếng đều là người có giọng mezzo-soprano, điển hình là (theo thứ tự ABC trong tên họ): Adele, Beyoncé, Susan Boyle, Ella Fitzgerald, Connie Francis, Aretha Franklin, Patricia Kass, Dusty Springfield, Barbara Streisand, Tammy Wynette…

Giọng mezzo-soprano của Đặng Lệ Quân là một giọng thiên phú, được thể hiện bằng cách phối hợp phong cách hiện đại tây phương với dân ca truyền thống đông phương.

Giọng hát của cô nổi bật nhờ sự đơn sơ mộc mạc và chân thành. Giáo sư Yeh Yueh-Yu, giảng dạy môn Lý thuyết Văn hóa tại Đại học Nam California, nhận xét:

“Giọng hát của cô như thể đang khóc lóc, van xin, nhưng lại có sức mạnh, có khả năng thu hút, thôi miên đối tượng”.

Riêng nhà viết ca khúc Tsuo Hung-yun của Đài Loan, một trong những người thầy của Đặng Lệ Quân, đã nhận xét bằng một câu để đời:

“Giọng hát của Đặng Lệ Quân gồm bảy phần ngọt ngào, ba phần nước mắt”.

* * *

The Moon Represents My Heart

Tới đây, chúng tôi viết về ca khúc Ánh trăng nói hộ lòng tôi  do Đặng Lệ Quân thu đĩa, được đặt lời Việt với tựa Ánh trăng lẻ loi.

 “Ánh trăng nói hộ lòng tôi” thực ra chỉ là tựa đề đã được Việt hóa, còn tựa đề tiếng Hán nguyên thủy của ca khúc là “Yue liang dai biao wo de xin”, phiên âm Hán Việt thành “Nguyệt lượng đại biểu ngã đích tâm”, dịch sang tiếng Anh là The Moon Represents My Heart.

 Ánh trăng nói hộ lòng tôi  không phải là một ca khúc mới, được viết riêng cho Đặng Lệ Quân, mà là một sáng tác của Ông Thanh Khê vào năm 1973, đã được nữ ca sĩ Trần Phần Lan của Đài Loan thu đĩa nhưng không tạo được tiếng vang. Phải đợi tới năm 1977, sau khi được Đặng Lệ Quân thu đĩa,  Ánh trăng nói hộ lòng tôi  mới được nhiều người ưa chuộng, để rồi trở thành “ca khúc tiếng Hoa nổi tiếng nhất thế giới”, như nhiều người hiện đang xưng tụng.

  Weng Ching Hsi (+ng Thanh KhO)

Ông Thanh Khê (Weng Ching-hsi, 1936-2012)

Ông Thanh Khê (Weng Ching-hsi, 1936-2012) là nhà soạn nhạc, nhà viết ca khúc nổi tiếng bậc nhất của Đài Loan. Trong số trên 1000 ca khúc của ông có nhiều bản được Đặng Lệ Quân thu đĩa, và hai bản sau đây đã được nằm trong Top 5 của cô: Ánh trăng nói hộ lòng tôi, No.1, và Câu chuyện thành phố nhỏ (Tiểu thành cố sự – The Story of a Small Town), No.5.

Ánh trăng nói hộ lòng tôi  do Tôn Nghi đặt lời hát, được trang mạng LyricsReg.com dịch sang Anh ngữ như sau:

The Moon Represents My Heart

 1:

You asked me how deep my love is for you
I love you to the utmost.
My feeling is also true,
My love is also true:
The moon represents my heart.

2:
you asked me how deep my love is for you
I love you to the utmost.
My feelings will not waver,
My love will never change:
The moon represents my heart.

Chorus:
A gentle kiss
Would already move my heart.
A period of deep love,
Makes me long for it till now.

3:
You asked me how deep my love is for you
I love you to the utmost.
Why don’t you think about it,
Why don’t you take a look at it:
The moon represents my heart.

Chorus:
A gentle kiss

Would already move my heart.
A period of deep love,
Makes me long for it till now.
 

Theo trang mạng Wikipedia, hầu hết người Hoa trên thế giới đều thuộc lòng ca khúc Ánh trăng nói hộ lòng tôi. Trong số những danh ca gốc Hoa hát lại bản này có Trương Quốc Vinh, Mai Diễm Phương (hát trong đêm tưởng niệm Đặng Lệ Quân), Lưu Đức Hoa, Triệu Vy, Trịnh Tú Văn & Ngôn Thừa Húc (ban nhạc F4); thậm chí còn được ca nhạc sĩ David Tao soạn lại dưới hình thức nhạc “rap”.

Đặc biệt, ngoài việc được nhiều ca sĩ ngoại quốc trình bày phiên bản lời Anh, Ý, Tây-ban-nha, Đại Hàn, Phi-luật-tân (Tagalog), Ánh trăng nói hộ lòng tôi  còn được một số danh ca quốc tế hát lại bằng nguyên tác tiếng Hoa (Quan thoại), trong số đó có Bon Jovi và hai nữ ca sĩ “classical crossover” nổi tiếng Katherine Jenkins (Anh quốc), Haley Dee Westerna (Tân-tây-lan) – hát chung với nam ca sĩ Rex Wee tại Hí viện Quốc gia Đài Loan vào ngày 3 tháng 10 năm 2009, cùng với Dàn nhạc Giao hưởng Thành phố Đài Bắc.

Về phiên bản lời Việt của Ánh trăng nói hộ lòng tôi, chúng tôi không đủ phương tiện tìm hiểu xem đã có nhạc sĩ tên tuổi nào tại hải ngoại đặt lời Việt cho ca khúc này, chỉ biết phiên bản duy nhất (mà chúng tôi được nghe) có tựa đề Ánh trăng lẻ loi – với nội dung hoàn toàn khác nguyên tác – đã được một trang mạng ghi tác giả là “Kỳ Anh”. Qua tìm hiểu các trang mạng của người trong nước cũng như hải ngoại, chúng tôi chỉ thấy nói tới một “nhạc sĩ Kỳ Anh” duy nhất, sinh năm 1966 tại Sài Gòn, hiện đang sinh hoạt âm nhạc ở trong nước, nên tạm thời ghi nhận “nhạc sĩ Kỳ Anh” này cũng chính là tác giả phiên bản lời Việt Ánh trăng lẻ loi.

Ánh trăng lẻ loi

 Này người yêu hỡi xin đừng quay bước
Vì em đã trót yêu anh
Tiếng yêu đầu ngại ngùng dẫu ân tình ngàn trùng
Muôn bể dâu, em nào biết đâu

Này người yêu hỡi, ân tình em đó
Ngàn năm như ánh trăng tan
Vẫn muôn đời dịu dàng, vẫn muôn đời nồng nàn
Tha thiết yêu dù tình yêu trái ngang

Ái ân như bọt sóng trào
Tan vỡ mau bước chân sỏi đá
Trái tim em bờ cát mềm
Bàn chân ai vội vàng in dấu quên

Thuyền tình xa bến mê đời hoang phế
Chờ theo muôn ánh trăng tan
Những đêm về lạnh lùng, gió mưa nào ngại ngùng
Hoen mắt em đường khuya trăng lẻ loi.

 

HOÀI NAM

 *********

Đặng Lệ Quân từng thể hiện một ca khúc của nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 tại Sài Gòn.

Hai lần lưu diễn tại Việt Nam và kỷ niệm được tặng vàng, bạc

Năm 1973, nữ ca sĩ lừng danh châu Á Đặng Lệ Quân khi đó 20 tuổi đã lưu diễn tại Đông Nam Á, trong đó có Sài Gòn của Việt Nam. 

Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 1
Đặng Lệ Quân (áo hai dây) giữa vòng vây người dân Sài Gòn tại bến cảng năm 1973.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 2
Lực lượng cảnh sát được huy động bảo vệ cho diva xứ Đài.

Ngày 13.7.1973, diva xứ Đài tới Sài Gòn trên một chiếc ca nô và được hàng vạn người hâm mộ, đặc biệt là Hoa kiều đón chào nồng nhiệt tại bến tàu. Đặng Lệ Quân cười tươi hạnh phúc đứng giữa biển người hâm mộ.

Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 3
Đặng Lệ Quân tại rạp Lệ Thanh, Sài Gòn.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 4
Hình ảnh sau đó được đưa vào bộ ảnh lưu diễn của Đặng Lệ Quân.
Lực lượng cảnh sát khi đó đã được huy động để bảo vệ cho nữ danh ca. Cũng trong đêm ngày 13.7.1973, Đặng Lệ Quân đã có buổi khai màn đầu tiên tại rạp Lệ Thanh Sài Gòn. Bà khoe tiếng hát lừng danh trước đông đảo người dân Việt Nam.

Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 5

Diva 20 tuổi khoe vẻ trẻ trung và hoạt bát trên sân khấu.

Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 6

Nữ danh ca tươi trẻ trong bộ trang phục bắt mắt.

 "Lúc ở Sài Gòn, hàng ngày đều có rất nhiều người hâm mộ đến thăm tôi. Có người còn mang thức ăn đến tặng tôi. Không những vậy, còn có rất nhiều các cô các dì còn tằng cả vàng, bạc cho tôi  nữa, thực sự là mọi người quá tốt dù tất cả đều xa lạ nhưng ai cũng yêu quý tôi như vậy khiến tôi vô cùng xúc động", Đặng Lệ Quân tâm sự.

Năm 1971, khi Đặng Lệ Quân 18 tuổi, bà đã từng có chuyến lưu diễn vòng quanh châu Á, trong đó có trạm dừng chân tại Khách sạn Bát Đạt, Sài Gòn trong vòng một tháng (từ 24.7.1971 - 24.8.1971).

Tại đây, bà tham gia các hoạt động như mở họp báo, biểu diễn kịch tại rạp Lệ Thanh, du lịch và chụp ảnh kỷ niệm trên sông Cửu Long.

Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 7
Nữ danh ca nhận hoa từ khán giả Sài Gòn.
 
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 8
Đặng Lệ Quân biểu diễn tại Sài Gòn năm 1973.

Nhân duyên cùng nhạc phẩm của Nguyễn Ánh 9

Cũng tại đây, diva họ Đặng đã thể hiện ca khúc nhạc Việt lời Nhật mang tên Anh, một nhạc phẩm được soạn lời dựa trên ca khúc Không nổi tiếng, tác phẩm đầu tay của một nhạc sĩ người Việt Nam là Nguyễn Ánh 9.

Ca khúc Anh qua giọng hát ngọt ngào của nữ danh ca Ánh trăng nói hộ lòng tôi đã làm nức lòng bao khán giả hâm mộ Việt Nam lúc bấy giờ. Đây được em là món quà cũng như lời tri ân của Đặng Lệ Quân dành cho người hâm mộ đất phương Nam. 

 

Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 9

Ca khúc Anh của Đặng Lệ Quân thu âm tại Sài Gòn năm 1973.

Sau khi trở lại Đài Loan, Đặng Lệ Quân tiếp tục trình diễn ca khúc Anh bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Nhật Bản, tiếng Quảng Đông và tiếng Quan thoại.

Trong khi  chính cha đẻ của ca khúc lại không hề hay biết đứa con tinh thần của mình lại được một diva nổi tiếng châu Á thể hiện ở khắp các sân khấu lớn nhỏ ở Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan... 

Thêm những hình ảnh Đặng Lệ Quân tại Việt Nam:

Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 10
Đặng Lệ Quân đã hai lần biểu diễn tại Việt Nam.
 
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 11
Bà nhận được nhiều tình cảm ưu ái từ người hâm mộ Sài thành.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 12
Có người còn tặng vàng, bạc cho nữ danh ca.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 13
Rạp hát thường lui tới của Đặng Lệ Quân là rạp Lệ Thanh.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 14
Bà đã có thời gian một tháng lưu diễn tại Sài Gòn trong những năm 1971 và 1973.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 15
Cả hai lần lưu diễn tại Sài Gòn, Việt Nam của bà đều được đông đảo khán giả đón chào nồng nhiệt.
 
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 1
Tại đây bà đã thể hiện ca khúc nhạc Việt lời Nhật của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 2
Nhạc phẩm mang tên Anh, được bà thể hiện bằng tiếng Nhật trên đất Sài thành.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 3
Ca khúc Anh sau đó được Đặng Lệ Quân phổ biến rộng khắp châu Á.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 4
Trong khi chính nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 lại không hề biết điều này.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 5
Đặng Lệ Quân với phong cách thời trang hiện đại và trẻ trung.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 6
Bà biểu diễn hết mình trước đông đảo người hâm mộ Sài Gòn.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 7
Đặng Lệ Quân cười rạng rỡ trên sân khấu đất Việt.
Diva Đặng Lệ Quân và mối nhân duyên với Việt Nam - 8
Nữ danh ca của tình khúc bất hủ Ánh trăng nói hộ lòng tôi đã có những tháng ngày đáng nhớ tại Việt Nam.

 Long Hy

 Kim Phượng st

Related image

TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH -( 1990/12-03/2019 )-

Tưởng nhớ
Cố Linh Mục Antôn Vũ Như Huỳnh
 
( June 12, 1930 - March 12, 1990 ) 
 
 Thứ Ba, ngày 12 tháng 3 năm 2019, là ngày kỷ niệm 29 năm, Cha Cố Anthony Vũ Như Huỳnh được Thiên Chúa yêu thương gọi về. Trong tâm tình " Uống nước nhớ nguồn ", " Tri ân tiền nhân ". Nguyện xin Thiên Chúa thương ban cho linh hồn Cha Cố Anthony chóng được hưởng nhan thánh Chúa. Trong tâm tình tưởng nhớ Cha xin cầu nguyện cho linh hồn cố  Lm. Anthony.  Xin mọi người chúng ta hợp ý cầu nguyện xin Chúa ban phúc trường sinh cho linh hồn Lm. Anthony Vũ Như Huỳnh trong nước của Ngài mãi mãi ...
  
Tưởng nhớ và tri ân cố Linh mục Antôn Vũ Như Huỳnh ( 1990 - 2018 )
Ảnh KTSM
 
Tưởng nhớ CHA ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH
 
 
 
Tưởng nhớ Cha Antôn Vũ Như Huỳnh
 
**** Hiệp Nhất - Yêu Thương - Tha Thứ ****
Linh Mục Anthony Vũ Như Huỳnh.
Hiệu Trưởng Trường Trung Học Sao Mai Đà Nẵng
( June 12, 1930 - March 12, 1990 )
 

────────────────────────────────☀ 
 
Image result for TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH photos
 
Kính Thưa Quý Thầy Cô cùng toàn thể cựu học sinh Sao Mai trên khắp các nẻo đường thế giới,
 
“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý làm người được đúc kết từ bao đời nay. Đối với học sinh chúng ta, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi là cách đền ơn thiết thực nhất với công lao của Cha Mẹ, Thầy Cô và xã hội.
 
Thấm thoát đã 29 năm trôi qua (1990-2019) kể từ ngày Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh được Chúa thương gọi về. Trong tâm tình thương tiếc, quý mến, chúng ta bày tỏ lòng tri ân đến Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh, Hiệu Trưởng trường Trung Tiểu học Sao Mai Đà Nẵng - Việt Nam từ 1965 đến 1975 .
Chúng ta cùng nhớ về hình ảnh người Cha kính yêu, người Cha đã cho chúng ta trọn niềm vui của thời thanh xuân, của tuổi học trò dưới mái trường thân thương Sao Mai Đà Nẵng. Ở đây, chúng ta đã được Cha cùng quý Thầy Cô hướng dẫn,dạy bảo và luôn đồng hành trên con đường học vấn, để chúng ta có thể tự tin bước vào những cuộc hành trình mới.

Biến cố lịch sử thăng trầm của đất nước khiến chúng ta phải chia tay nhau mỗi người một hướng theo dòng đời trôi. Sau bao nhiêu năm thất lạc, chúng ta đã có Duyên may được gặp lại nhau trên trang Góc Nhỏ Sân Trường yêu thương này để nối kết lại tình Thầy Trò, nghĩa Bạn bè đã một thời bên nhau...
Và hôm nay,chúng ta cùng hướng lòng về người Cha kính yêu - Cố LM. Antôn Vũ Như Huỳnh nhân ngày Giỗ lần thứ 29.

Tri Ân - Tiếc Thương và Tưởng Nhớ đến Ngài, chúng con tha thiết nguyện xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho Linh Hồn Cha Cố Antôn qua những công lao sâu nặng Ngài đã dành cho chúng con là đoàn con học sinh của Ngài.

 Chúng con tin tưởng rằng Chúa Nhân Lành đoái thương nhậm lời nguyện cầu của chúng con, đón nhận Linh Hồn vị Cha Cố đáng kính Antôn vào hưởng hạnh phúc Nước Trời.
 
 
 
─────── ※ Gia đình GNST ※  ───────
────── Peace & Love always ───── 
 
 

✬▬▬▬▬ஜ۩ ۩ஜ▬▬▬▬✬

 

 

 

 

 

Tìm Hiểu Tên Thánh Của Người Công Giáo Việt Nam

 
Ngoài tên họ, tên đệm, tên riêng, người Công Giáo Việt Nam còn có thêm một tên thánh được đặt khi chịu phép rửa tội. Trong khi đó, người Công Giáo Âu Mỹ không có hẳn một tên thánh. Bài viết này nhằm mục đích tìm hiểu sự khác biệt giữa tên thánh của người Công Giáo Tây Phương và Đông Phương ?
Nguồn Gốc Tên Thánh 
Tên mà người Công Giáo Việt Nam gọi là tên thánh thì đó là tên riêng, tên gọi thường nhật của người Công Giáo Tây Phương. Trong tiếng Anh, có ba danh từ để chỉ tên riêng. Một là tên rửa tội (baptismal name), hai là tên Kitô Giáo (Christian name), ba là tên thứ nhất hay tên đặt (first or given name). Cả ba danh từ này đều có nghĩa là tên chính hay tên riêng (first name hay given name) của một người.
Tên chính của người Tây Phương được đặt trong lễ rửa tội nên gọi là tên rửa tội . Và tên chính của người Tây Phương được gọi là tên Kitô Giáo vì các nước Tây Phương chịu ảnh hưởng văn minh Kitô Giáo, tuân theo lời khuyến cáo của Giáo Hội, đã lấy tên các thánh để đặt tên cho các cá nhân. Do vậy, mới có từ ngữ tên thánh. 
Tục lệ lấy tên thánh bắt nguồn từ tục lệ đặt tên trong Do Thái Giáo. Sau khi sinh con được một tuần, cha mẹ người Do Thái bế con tới giáo đường để cử hành nghi lễ đặt tên. Với con trai, nghi lễ đặt tên diễn ra trong nghi lễ cắt da quy đầu gọi là Bris. Tên được đặt gọi là tên thánh (sacred name) lấy từ các tên trong kinh thánh của Do Thái Giáo. Khi bị lưu đầy, người Do Thái bỏ tục lệ đặt tên thánh. Đến thế kỷ 12, các giáo sĩ Do Thái thấy cần duy trì căn tính dân tộc đã buộc các tín hữu đặt tên thánh như tục lệ cổ truyền. Nhờ đó mà ngày nay người Do Thái mới có một tên thứ hai là tên thánh. 
Từ điển Bách Khoa Công Giáo, cho rằng tục lệ đặt tên thánh bắt nguồn từ quan niệm tình trạng con người được thay đổi. Nhận lãnh bí tích rửa tội là biến đổi sang con người mới. Do vậy, nhận tên thánh là chứng tích biến đổi về mặt tâm linh. Trường hợp cụ thể là vị tông đồ Paul của Kitô Giáo, sống vào thế kỷ thứ I sau Công Nguyên, trước đây có tên là Saul, khi theo đạo Công Giáo đổi tên là Paul mà người Công Giáo Việt Nam gọi là thánh Phaolô. 
Tên Thánh Qua Giáo Luật
Không có tài liệu nào nói người Công Giáo bắt đầu đặt tên thánh từ bao giờ. Chỉ biết vào thời giáo hội sơ khai người Công Giáo tây phương có tục lệ lấy tên thánh làm tên riêng. Do vậy công đồng Nicaea họp năm 325 cấm người Công Giáo dùng tên các thần thánh không phải của Kitô Giáo để đặt tên. Đến thời Công Đồng Tridentino họp năm 1563, Giáo Hội Công Giáo buộc giáo dân khi đặt tên phải chọn tên thánh. Công đồng lưu ý các linh mục khi làm phép rửa tội, gặp trường hợp cha mẹ cố tình đặt tên không hợp tinh thần Kitô Giáo, thì vị linh mục đó tự động thêm vào một tên thánh, coi đó là tên thứ hai và ghi vào sổ rửa tội giáo xứ. 
Theo Bách Khoa Từ Điển Britannica, quyết định trên của công đồng Tridentino nhằm chống lại tục lệ của Giáo Hội Tin Lành, đặc biệt của Thanh Giáo. Các giáo hội Tin Lành cho phép tín hữu nhận tên các nhân vật trong Cựu Ước làm tên chính, như các nhân vật Abraham, Samuel, Jacob. Rachel. Do vậy các nhà tính danh học Âu Châu kết luận: Những người có tên riêng là nhân vật trong Cựu Ước thông thường thuộc giáo phái Tin Lành, người có tên riêng là các nhân vật thuộc Tân Ước là người Công Giáo.
Đến bộ giáo luật năm 1917, qua điều khoản số 761, Giáo Hội nhắc lại khoản luật cũ từ thời Công Đồng Tridentino buộc người Công Giáo phải lấy tên thánh . Nhưng vào năm 1972, vì thấy việc đặt tên thánh không thích hợp cho tiến trình hội nhập văn hóa, nên thánh bộ Phụng tự đã bãi bỏ luật buộc người Công Giáo phải lấy tên thánh. Do vậy, đến bộ giáo luật năm 1983, người ta không thấy có điều khoản nào buộc người Công Giáo phải lấy tên thánh, mà chỉ quy định tên riêng của người ấy phải phù hợp với ý nghĩa Kitô Giáo. Điều 855 của bộ giáo luật 1983 quy định: Cha mẹ, người đỡ đầu và Cha Sở phải lo liệu để đừng đặt một tên không hợp với ý nghĩa Kitô Giáo. 
Lý Do Đặt Tên Thánh
Tại sao Giáo Hội Công Giáo đã quyết định lấy tên các thánh để đặt tên cho tín hữu? Giáo Hội đưa ra quyết định trên vì 2 lý do: 
Thứ nhất, giáo hội tiếp tục duy trì truyền thống của giáo dân thời sơ khai. Những giáo dân đầu tiên là dân nô lệ, không phải công dân La Mã và theo tục lệ, khi người nô lệ được giải phóng, trở thành công dân La Mã, thì họ lấy tên riêng của chủ nhân thuộc giai cấp quý tộc làm tên mình. Tuy nhiên, với tín đồ Kitô Giáo thời đó, họ không thiết tha với các tên của các ông chủ cũ vì họ là nạn nhân của giai cấp quý tộc trong các cuộc cấm đạo. Ðồng thời khi một quý tộc trả tự do cho hàng trăm người nô lệ thì hàng trăm người đó có cùng tên với chủ cũ. Kết quả là tập tục này không đáp ứng được nhu cầu phân biệt vì thời gian đó, người Âu Châu chưa biết đến tên họ. Tên họ của người Âu Châu mới xuất hiện vào thế kỷ thứ 10. Do nguyên nhân này nên các người nô lệ được giải phóngđã lấy tên những người mà giáo hội Kitô Giáo nhận là thánh để đặt tên cho mình. Ví dụ: Thimotheus, Stephanos, Laurentius là các vị thánh đầu tiên. Đang khi Kitô Giáo phát triển, lan tràn cả Âu Châu thì đế quốc La Mã bước vào giai đoạn suy tàn. Hệ thống tên của La Mã mai một đi, tên thánh trở nên phổ thông hơn. 
Thứ hai, Giáo Hội Công Giáo muốn tôn trọng phẩm giá con người. Khi xưa số tên người Âu Châu còn ít, hệ thống tên họ chưa xuất hiện, thì để phân biệt, người Âu thường dùng tên mà người Anh Mỹ gọi là Nickname, người La Mã gọi là Agnomen, còn Việt Nam gọi là tên lóng, tên tục. Khi xưa tên lóng thường được đặt cho những người thuộc giai cấp nô lệ tại La Mã. Ví dụ các tên như Crassus nghĩa là người béo, Varus: người què, Baldie hay Calvin: người trọc đầu, Cecil: người mù, Claude hay Gladys: người què. Vì tên có nội dung hạ thấp phẩm giá con người nên giáo hội đã ban hành luật buộc các linh mục khi làm phép rửa tội, gặp các trường hợp tên có ý nghĩa tiêu cực, phải lấy một tên thánh đặt thêm vào. Giáo dân Việt Nam cũng như giáo dân ở nhiều nơi trên thế giới vẫn nhận tên thánh vì còn giữ tinh thần bộ giáo luật cũ. Ngày nay, người công giáo Tây Phương không còn giữ tập tục lấy tên thánh để đặt tên riêng mà lấy bất cứ từ ngữ nào, có nghĩa hay vô nghiã, để đặt tên riêng. 
Ý nghĩa tên thánh đối với người Công Giáo Việt Nam
Sở dĩ người Công Giáo Việt Nam, Ðại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa và các nước truyền giáo khác trên thế giới có thêm tên thánh mà người Tây Phương không có, là vì các giáo sĩ Tây Phương đến Việt Nam cũng như các nơi khác truyền đạo, đã áp dụng tinh thần giáo luật cũ, đặt tên thánh cho giáo dân như đã làm cho giáo dân ở Tây Phương. Trái lại, đọc tiểu sử hàng giáo phẩm Công Giáo Tây Phương, ta không thấy vị nào có hẳn một tên thánh riêng như kiểu tên người Công Giáo Việt Nam. Nếu đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn có hẳn một tên thánh là Gioan Baotixita, thì đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI không có tên thánh riêng. Tên ngài là Joseph Ratzinger. Joseph là tên riêng vừa là tên thánh. Một ví dụ điển hình khác là thánh Gemma. Vì bố mẹ Ngài già rồi mới sinh con nên quý hóa đặt tên ngài là Gemma, có nghiã là ngọc. Trước đó, không có vị thánh nào tên Gemma cả. Tại San Jose, California vị linh mục chính xứ của tôi là Kevin Joyce. Kevin là tên riêng, là biến thể của tên Kelvin. Kelvin là tên con sông ở Tô Cách Lan. Joyce là tên họ. Linh mục Kevin Joyce không có tên thánh. Do đó người Công Giáo Tây Phương không có tục lệ mừng lễ thánh quan thầy. 
Vậy quyết định của các giáo sĩ thừa sai đặt tên thánh cho người Công Giáo Việt Nam là đúng hay sai? Nếu đặt vào bối cảnh hiện nay thì đó là điều không chấp nhận được vì tên người Việt Nam hiện nay không hề được đặt ra để hạ phẩm giá con người như kiểu người Hy Lạp, La Mã ngày xưa, mà được lựa chọn từ những từ ngữ có ý nghiã tốt đẹp nhất để đặt tên cho con cái. Tuy nhiên, nếu đặt vào bối cảnh Việt Nam trong thế kỷ 16 thì quyết định của các thừa sai có thể tạm chấp nhận vì phong tục dân gian lúc đó còn dùng những tên có nghiã xấu, gọi là tên tục, để đặt cho những đứa trẻ mới sinh ngõ hầu tránh tà ma. Ví dụ các tên như Bùn, Sẹo, Chó v.v…
Mặc dù giáo luật hiện nay không bắt buộc tín hữu phải có tên thánh, nhưng việc đặt tên thánh có mục đích rất đáng trân trọng vì 2 lý do: thứ nhất, để người đó bắt chước gương sáng thánh bổn mạng mà sống cuộc đời đạo đức; thứ hai, để tín hữu đó được phù trợ nhờ lời cầu bầu của thánh bổn mạng. Hai mục đích trên được nói trong bộ giáo luật năm 1983, khoản 1186: 
Với mục đích cổ võ việc nên thánh của dân Chúa, Giáo Hội khuyến khích mọi tín hữu, lấy tình con cái, tôn kính đặc biệt Đức Maria hồng phúc trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa đã được Đức Kitô đặt làm Mẹ của loài người, cũng vậy, Giáo Hội cổ động lòng tôn kính chân chính và thành thực đối với các thánh, vì lẽ các tín hữu được kiên vững nhờ gương sáng và được nâng đỡ bởi lời bầu cử của các ngài .
Hiện nay, người Công Giáo Việt Nam thường chọn tên các thánh nam giới cho phái nam và thánh nữ giới cho phái nữ. Ngoài ra, vì sự hiểu biết của giáo dân còn hạn chế về các thánh nên người ta thường chọn các thánh thời Chúa Giêsu như Phêrô, Phaolô, Gioan, Maria, Anna làm tên thánh. Ngày nay, Giáo Hội Việt Nam có cả trăm vị thánh tử đạo. Tuy nhiên, giáo dân Việt vẫn chưa quen nhận các thánh Việt Nam làm tên bổn mạng.
Nguyên Tắc Xưng Hô Tên Thánh
Trong giao tế xã hội, người Âu Mỹ không lấy tên riêng mà lấy tên họ của một người để xưng hô. Người ta gọi Tổng Thống Obama, không ai gọi là Tổng Thống Barack. Obama là tên họ, Barack là tên riêng. Khi chưa lên ngôi Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, người ta dùng tên họ Ratzinger để gọi ngài, không ai gọi ngài bằng tên đẻ là ĐHY Joseph. Chỉ trường hợp thân thiết lắm, người ta mới dùng tên riêng để xưng hô. Ở Việt Nam, để tỏ lòng tôn kính, giáo dân có tục lệ dùng tên thánh để gọi một vị Giám Mục, Linh Mục. Ví dụ Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh được gọi là Đức Cha Giuse. Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn được gọi là Đức Hồng Y Gioan Baotixita. 
Ở Việt Nam người Công Giáo có tục lệ mừng lễ bổn mạng là ngày mà toàn thể Giáo Hội Công Giáo trên thế giới tưởng nhớ tới vị thánh đó. Khi chết, người Công Giáo không dùng tên húy hay tên riêng mà dùng tên thánh để cầu nguyện cho người quá cố. Như vậy, xét về mặt hội nhập văn hóa, tên thánh cũng có chức năng như tên thụy, tên hèm hay tên cúng cơm là các tên mà các người không phải là Công Giáo đã dùng để cầu nguyện cho người đã chết.
Nguyễn Long Thao
 PS: – Xin Quý Vị chuyển và phổ biến điện thư (email) này đến những người thân quen Sao Mai. 

 

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng

trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’

Đức Mẹ Guadalupe là một sự kiện thần kỳ và nổi tiếng ở xứ sở Mexico. Sự kiện và thánh tích đi theo đó (tấm áo choàng Đức Mẹ Guadalupe) trở nên nổi tiếng đến nỗi đã trở thành biểu tượng của quốc gia phần lớn theo Đạo Công giáo này.

Sở dĩ gọi là Đức Mẹ Guadalupe vì đây là một tước hiệu của Đức Mẹ Mary, tên gọi này ấn chứng cho sự hiển linh của Đức mẹ ở Guadalupe, Mexico vào năm 1531. Trong suốt thế kỷ 19 đến 20, cái tên và hình tượng Đức mẹ Guadalupe đã trở thành biểu tượng thống nhất của Mexico; thậm chí vị Tổng thống Mexico đầu tiên đã đổi tên từ José Miguel Ramón Adaucto Fernández y Félix sang Guadalupe Victoria để vinh danh Đức mẹ Guadalupe. Năm 1999, Giáo hội chính thức tuyên bố biểu tượng Đức mẹ Guadalupe là Nữ Thần bảo hộ Châu Mỹ. Vậy rốt cục câu chuyện ly kỳ bí ẩn đằng sau Đức mẹ Guadalupe là như thế nào?

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Bức hình Đức mẹ Guadalupe. Ảnh: Crossroads Initiative

Tấm áo choàng thần kỳ in hình Đức mẹ Guadalupe

Ngày 12/12 hàng năm, Giáo hội Công giáo kỷ niệm Lễ hội Đức mẹ Guadalupe, dịp này đánh dấu ngày Đức Mẹ Mary hiển linh trước người nông dân tên Juan Diego ở Mexico vào năm 1531. Theo ghi chép xác thực sớm nhất về sự việc này, Đức Mẹ đã xuất hiện vài lần trước mặt Juan Diego, yêu cầu ông đi nói với Giám mục xây dựng một nhà thờ tại nơi đó để thờ phụng Người. Tổng giám mục lúc đầu không tin, nên đã yêu cầu một dấu hiệu để chứng minh. Juan Diego quay trở lại đồi Tepeyac để truyền đạt lại yêu cầu của Tổng giám mục. Đức mẹ chấp thuận, bà đã hóa phép để khiến hình ảnh của mình được in một cách thần kỳ lên chiếc áo choàng tilma của Juan Diego, và ông đã mở nó ra trước sự ngỡ ngàng của Đức Tổng giám mục. Hình tượng Đức Mẹ trên tấm áo choàng tilma về sau được biết đến dưới cái tên “Đức Mẹ Guadalupe”.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Đức Mẹ xuất hiện trước mặt người nông dân Juan Diego. Ảnh: Catholic Tradition
Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Khi Juan Diego mở tấm áo choàng ra, hình tượng Đức Mẹ đã xuất hiện một cách thần kỳ. Ảnh: Youtube

Tấm áo choàng vẫn lưu tồn cho đến tận ngày nay, và nó được treo trang trọng trên ban thờ cao tại Vương Cung thánh đường Đức mẹ Guadalupe tại thủ đô Mexico City.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Ảnh: wikipedia.org
Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Tấm tilma nguyên gốc in hình Đức Mẹ, được treo trang trọng trên bàn thờ cao tại nhà thờ Guadalupe. Ảnh: Wikipedia

Cho đến nay, tấm áo choàng in hình Đức Mẹ vẫn là một di vật bí ẩn và kinh ngạc, khiến nhiều nhà khoa học đau đầu đi tìm giải. Tấm áo choàng được coi là một Thánh tích Công giáo.

Trong phần 1, chúng ta đã đề cập đến kỹ thuật chế tác siêu thường và khả năng trường tồn vững bền cùng thời gian của tấm áo choàng huyền thoại, mà không một bảo sao nào dù với công nghệ chế tác tinh vi nhất thời hiện đại có thể bắt chước, mô phỏng. Trong phần 2 này, chúng ta sẽ điểm qua các khía cạnh siêu thường khác của một thánh vật Công giáo nổi tiếng xứ sở Mexico.

Giống một cơ thể sống

Nhiệt độ

Năm 1979, hai nhà khoa học người Mỹ, TS Philip Serna Callahan, một nhà sinh lý từ ĐH Florida kiêm chuyên gia chụp ảnh hồng ngoại, cùng Jody B. Smith, giáo sư mỹ học và triết học tại ĐH Pensacola, cả hai đều có chuyên môn trong lĩnh vực hội họa và là thành viên của NASA, đã chụp ảnh bức hình dưới ánh sáng tia hồng ngoại, chụp quét tại các độ phân giải rất cao. Hai nhà khoa học đã phát hiện tấm tilma này duy trì mức nhiệt độ không đổi vào khoảng (36,6-37 độ C), mức nhiệt trung bình của một cơ thể người sống.

Đôi mắt

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Ảnh: infallible-catholic.blogspot.com

Các nhà khoa học đã phóng to ảnh chụp kỹ thuật số bức hình và phát hiện thấy hình ảnh phản chiếu Đức Tổng giám mục Juan de Zumárraga đang biểu lộ sự kinh ngạc có thể được thấy rõ trong đồng tử của đôi mắt Đức Mẹ. Nghiên cứu sâu hơn các bức ảnh phóng to đôi mắt Đức Mẹ (với kích thước chỉ khoảng 8,5 mi), các nhà nghiên cứu phát hiện được không chỉ hình ảnh rất nhỏ của một người đàn ông có râu có thể nhận thấy rõ ràng trong hai con mắt – một kỳ tích mà không một nghệ sĩ nào có thể vẽ giống được – mà còn xác nhận được tất cả chất lượng hình ảnh quang học của một con mắt người bình thường, chẳng hạn như khả năng phản xạ ánh sáng, định vị hình ảnh và biến dạng trên giác mạc – những kỳ tích này không thể đạt được trên một bề mặt phẳng như tấm vải tilma. Kỳ lạ hơn, khi cặp mắt Đức Mẹ tiếp xúc với ánh sáng, khu vực võng mạc trên đôi mắt co lại, và khi ánh sáng biến mất, nó sẽ mở rộng ra về trạng thái bình thường, giống như con mắt của một người sống vậy. Trên bình diện nhãn khoa, đôi mắt Đức Mẹ trên tấm Tilma được xác định là đang sống!

Năm 1929, Alfonso Marcué González, nhiếp ảnh gia chính thức của Vương Cung thánh đường, đã chụp những bức ảnh đen trắng của tấm tilma, và sau khi kiểm tra cẩn thận ảnh chụp âm bản, đã phát hiện thấy hình ảnh rõ ràng của một người đàn ông có râu phản chiếu trong mắt phải của Đức Mẹ. Ông ngay lập tức thông báo cho giới chức nhà thờ. Đáng tiếc thay, họ đã bắt ông phải thề không được hé nửa lời với ai về phát hiện này.

Trên bình diện nhãn khoa, đôi mắt Đức Mẹ trên tấm Tilma được xác định là đang sống!

Hơn 20 năm sau, vào ngày 29 tháng 5 năm 1951, Jose Carlos Salinas Chavez, khi đang xem xét một bức ảnh đẹp chụp khuôn mặt Đức mẹ, cũng nhìn thấy hình ảnh tương tự của một người đàn ông có râu phản chiếu trong mắt phải của Đức Mẹ, ở đúng vị trí mà thông thường sẽ được phản chiếu vào trong con mắt của một người bình thường. Kể từ đó, rất nhiều người đã có cơ hội tiếp cận và xem xét kỹ lưỡng con mắt của Đức mẹ, bao gồm hơn 20 bác sĩ, và bác sĩ nhãn khoa.

Lần đầu tiên là vào ngày 27/3/1956, khi Tiến sĩ Javier Torroella Bueno, một bác sĩ nhãn khoa uy tín, đã phát hiện ra sự hiện diện của hình phản xạ ba (hiệu ứng Samson-Purkinje) trong mắt của Đức mẹ – một đặc điểm thấy có ở mắt người sống, trong đó các hình ảnh nằm chính xác nơi chúng nên ở theo hiệu ứng này, kèm theo đó là sự biến dạng các hình ảnh ăn khớp với độ cong giác mạc.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Tiến sĩ Javier Torroella Bueno khám nghiệm đôi mắt trên bức hình Đức mẹ Guadalupe. Ảnh: Misterios en la Web

Vào tháng 7 cùng năm, một bác sĩ nhãn khoa nổi tiếng khác, Tiến sĩ Rafael Torrija Lavoignet, cũng đã khám nghiệm con mắt của bức hình Đức mẹ một cách chi tiết bằng kính soi đáy mắt và phát hiện thấy cặp mắt có ba đặc điểm khúc xạ của con mắt người. Ông cũng tìm thấy những hình người ở giác mạc của cả hai mắt, với vị trí và biến dạng của một con mắt người bình thường. Ông nhận thấy đôi mắt Đức Mẹ có một đặc điểm rất đặc thù: chúng trông “đầy sức sống” và chân thực khi được khám nghiệm. Đến năm 1976, khoảng 20 bác sĩ đã xác nhận, bằng miệng và bằng văn bản, về “sự hiện diện không thể giải thích được” của một người đàn ông có râu ở giác mạc và tròng mắt của Đức mẹ.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Ảnh chụp kỹ thuật số phóng to một góc con mắt trên bức hình Đức Mẹ trên tấm Tilma. Ảnh: infallible-catholic.blogspot.com
Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Lưu ý hình người đàn ông có râu trong hình. Ảnh: infallible-catholic.blogspot.com

Năm 1979, Tiến sĩ Jose Aste Tonsmann, một bác sĩ nhãn khoa người Peru đồng thời là chuyên gia xử lý hình ảnh kỹ thuật số của IBM, người đã nghiên cứu về Tilma trong hơn 20 năm, đã phóng to Hình ảnh con mắt Đức Mẹ lên gấp 2.500 lần kích thước thực dưới độ phân giải cực cao, và đã phát hiện thấy không chỉ một con số, mà hình ảnh của tất cả các nhân chứng có mặt tại hiện trường khi tấm Tilma lần đầu tiên được hé lộ trước mặt Đức Tổng giám mục de Zumárraga vào năm 1531, cộng với một nhóm gia đình nhỏ gồm cha mẹ và một nhóm trẻ em, tại phần trung tâm cặp mắt Đức Mẹ, tổng cộng có 13 người. Toàn bộ cảnh tượng này chỉ có kích thước vỏn vẹn khoảng 0,25 mi.

Thông qua một số quy trình toán học và quang học, Tiến sĩ Tonsmann đã phóng đại phần tròng đen của mắt, và đã có thể xác định được hình ảnh rất chi tiết của ít nhất 13 người được “in” trên mắt, hiện đều ở cả hai con ngươi: “người thổ dân”, “giám mục Zumárraga” , “người phiên dịch”, “anh nông dân Juan Diego hé mở tấm tilma”, và phía bên dưới là “gia đình”, nhưng khác nhau về kích thước tỷ lệ, một điều bình thường khi cặp mắt người phản chiếu các vật thể trước mắt.

Có hai cảnh tượng: cảnh đầu tiên hiện hình Đức Giám mục Zumárraga đang trố mắt nhìn Juan Diego mở tấm Tilma hiện lên hình ảnh Đức mẹ Mary; cảnh thứ hai, nhỏ hơn nhiều so với cái thứ nhất, nằm ở trung tâm con mắt, chứa hình ảnh một gia đình thổ dân bản địa điển hình: một cặp vợ chồng với vài đứa trẻ xung quanh. Hai cảnh tượng được lặp lại ở cả hai bên mắt với độ chính xác đáng kinh ngạc, bao gồm sự khác biệt kích thước gây ra do một mắt gần hơn với các vật thể được miêu tả so với mắt kia.

Công nghệ kỹ thuật số được Tiến sĩ Tonsmann sử dụng chính là công nghệ được áp dụng trong các hình ảnh thu được từ các vệ tinh và tàu thăm dò không gian khi truyền thông tin hình ảnh. Tiếp đó, TS Tonsmann đã phóng đại Hình ảnh Đức giám mục Zumárraga trong mắt Đức Mẹ lên gấp 1.000 lần, mục đích là quan sát xem những gì được phản chiếu trong mắt ông. Kết quả thu được vô cùng chấn động, con mắt của Đức Giám mục (trong cặp mắt Đức mẹ) cũng chứa hình ảnh Juan Diego mở tấm Tilma ra trước mắt ông. Và kích thước của hình ảnh này? Một phần tư micron, tức là ¼ của một phần triệu của một milimét!

Tóm lại, đôi mắt của Đức Mẹ chứa “ảnh chụp tức thời” của những điều thực sự diễn ra tại thời điểm tấm tilma này được mở ra trước mặt đức giám mục và các nhân chứng khác vào ngày 9 tháng 12 năm 1531.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Ảnh: infallible-catholic.blogspot.com

Những nhân chứng này không thể nhìn rõ trước cặp mắt người, nhưng có một ngoại lệ, một người Tây Ban Nha, với kích thước lớn nhất. Không ai có thể vẽ nên những hình dáng nhỏ tí xíu như vậy. Ở trung tâm của đồng tử con mắt, tại mức quy mô nhỏ hơn rất nhiều, chúng ta có thể thấy một “cảnh tượng” khác, hoàn toàn độc lập với cảnh đầu tiên. Đây là một gia đình thổ dân gồm một phụ nữ, một người đàn ông và một vài đứa trẻ. Ở mắt phải, có những người khác đứng đằng sau người phụ nữ. Dưới đây là mô tả của 3 trong tổng số 13 cá nhân được phát hiện trong mắt của Đức Mẹ:

Nhân vật (1) Một thổ dân ngồi trên mặt đất với đầu ngẩng nhẹ như thể đang ngước nhìn lên phía trên, biểu thị sự chú ý và tôn kính. Tai ông đeo khuyên và chân ông đi dép san-đan.

Nhân vật (2) Một người đàn ông có râu trắng, với cái đầu hói, mũi thẳng nổi bật, đôi mắt sâu thẳm đang nhìn xuống, được cho là Đức Giám mục Zumárraga.

Nhân vật (3) Juan Diego, một người đàn ông trung niên, có nét của người bản địa, có râu và ria mép, mũi khoằm và đôi môi hé mở, trên đầu đội một chiếc nón lá – một loại mũ thường được vận bởi người bản địa làm việc trên cánh đồng vào thời đó. Anh có một chiếc áo choàng Tilma buộc quanh cổ, dường như đang dang cánh tay phải ra để hé mở tấm áo choàng Tilma trước mặt đức giám mục.

v.v….

Tiến sĩ Tonsmann, trong cuốn sách “El Secreto de sus Ojos” (tạm dịch: “Bí mật của đôi mắt của cô”) của mình, đã bao hàm rất nhiều chi tiết và ảnh chụp về những nghiên cứu gần đây nhất của ông xoay quanh đôi mắt Đức Mẹ trên tấm Tilma. Đây có lẽ là một trong những khía cạnh hấp dẫn nhất của các nghiên cứu. Dựa vào những kết quả thu thập được, ông đi đến kết luận rằng Đức Mẹ Guadalupe không chỉ để lại cho chúng ta một Hình ảnh Kỳ diệu như bằng chứng về sự hiện thân của Người, mà còn lưu lại một số thông điệp quan trọng được ẩn giấu trong đôi mắt cho đến tận thời đại chúng ta, khi các công nghệ mới đã cho phép chúng ta phát hiện ra, vào đúng thời điểm cần thiết nhất.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Các nhà khoa học đang phân tích Đôi mắt Đức Mẹ. Ảnh: Jim Creighton

Năm 1991, một phân tích đã được thực hiện bởi các bác sĩ nhãn khoa xuất sắc, qua đó đã xác định được sự tồn tại của một mạng lưới lưu thông tĩnh mạch và động mạch ở khu vực giữa mí mắt Đức Mẹ và giác mạc, như ở người sống. Theo các bác sĩ nhãn khoa đã tiến hành khám nghiệm, không một họa sĩ nào có thể tái tạo được những chi tiết vi mô chính xác như vậy.

Nhưng sự siêu thường của bức hình Đức Mẹ không kết thúc ở đây.

Mang thai

Như đã nói ở trên, tấm Tilma luôn duy trì một mức nhiệt độ không đổi từ 36,6 đến 37 độ C, giống với cơ thể một người sống.

Carlos Fernandez del Castillo, một bác sĩ phụ khoa, sau khi kiểm tra bức hình và các thông số đo phụ khoa dựa trên vóc dáng cơ thể Đức Mẹ, đã xác nhận rằng đây là của một người phụ nữ đang mang thai, với thai kỳ hoàn toàn phù hợp với giai đoạn mang thai vào ngày 9 tháng 12 (lần hiển linh đầu tiên của Đức Mẹ trước Juan Diego) để Chúa Jesus có thể chào đời vào ngày Giáng sinh. Trong hình, quanh thắt lưng Đức Mẹ có buộc một dải đen (dấu hiệu biểu thị của một phụ nữ đang mang thai). Người ta đã đặt một ống nghe bên dưới dải đen này, và phát thấy hiện thấy một nhịp tim lặp lại nhịp nhàng với tốc độ 115 nhịp mỗi phút, giống như nhịp tim của em bé trong bụng mẹ.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Ảnh: paucaverba.blogspot.com

Phản ánh các chòm sao thiên văn

Vào ngày 22/12/1981, tại Đài thiên văn Laplace Mexico City, Cha Mario Rojas và Tiến sĩ Juan Hernández Illescas, một bác sĩ y khoa và nhà thiên văn học nghiệp dư, đã tiến hành một “nghiên cứu thiên văn” về bức hình. Họ đã phân tích sự sắp xếp của ngôi sao xuất hiện trên tấm áo choàng mà Đức Mẹ mặc trên người.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Các ngôi sao trên tấm áo choàng. Ảnh: piritdaily.org

Họ ngạc nhiên phát hiện ra rằng các ngôi sao đã phản ánh chính xác nhiều chòm sao khác nhau trên bầu trời Mexico. Đáng chú ý hơn, “bản đồ sao” trên tấm áo choàng trên người Đức Mẹ nằm ngược (trục chính quay 90 độ ngược chiều kim đồng hồ): cung cấp một cái nhìn toàn cảnh về các chòm sao từ phía trên, ở vị trí này người quan sát như đứng ở một nơi rất xa xôi trong vũ trụ, quan sát các chòm sao rồi đến Trái đất đang nằm bên dưới. Theo các nhà thiên văn học, mô hình các chòm sao trên tấm áo choàng tương hợp với bố cục thiên văn trên bầu trời Mexico City vào thời điểm xảy ra sự kiện mở tấm áo choàng trước mặt Tổng giám mục Zumárraga – tức vào sáng ngày đông chí, tầm 10:26 sáng, thứ bảy, ngày 12 tháng 12 năm 1531.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Mô hình các chòm sao trên áo choàng Đức Mẹ, được cho là tương hợp với bố cục thiên văn trên bầu trời Mexico vào thời điểm xảy ra sự kiện. Ảnh: infallible-catholic.blogspot.com

Trên tấm áo choàng Đức Mẹ có 46 ngôi sao: 22 ở bên phải và 24 ở bên trái. Đây là 46 ngôi sao rực rỡ nhất bao quanh đường chân trời tại Thung lũng Mexico.

Ngoài ra, nếu áp một tấm bản đồ địa hình của miền trung Mexico lên chiếc váy Đức Mẹ, thì những ngọn núi, dòng sông và con hồ chính sẽ trùng khớp với các nét trang trí trên chiếc váy này.

Thánh tích bất khả hủy

Hai sự kiện riêng biệt đã xảy ra liên quan đến tấm áo choàng trong nhiều thế kỷ, một sự kiện xảy ra vào năm 1785 và một xảy ra vào năm 1921.

Vào năm 1785, một công nhân đang lau chùi hộp kính bọc tấm áo choàng in hình Đức Mẹ thì đã vô tình làm đổ dung môi axit nitric 50% lên phần lớn bức hình. Bức hình và phần còn lại của tấm tilma, đáng lẽ đã bị ăn mòn ngay tức khắc bởi sự cố, được báo cáo là đã tự phục hồi trong 30 ngày tiếp theo, và vẫn còn giữ nguyên vẹn cho đến tận ngày nay, và chỉ có những vết bẩn nhỏ trên các khu vực không mang hình ảnh Đức Mẹ của tấm áo choàng.

Năm 1921, một nhà hoạt động chống giáo sĩ đã giấu một quả bom chứa 29 que thuốc nổ trong một chậu hoa hồng và đặt nó trước tấm áo choàng in hình Đức Mẹ bên trong Vương cung thánh đường ở Guadalupe. Khi quả bom phát nổ, hầu hết mọi thứ từ đường ray cho đến sàn nhà và tay vịn lan can bằng đá cẩm thạch chỉ cách chỗ nổ vài bước chân, cho đến các cửa sổ cách đó 150 mét đều đã bị phá hủy … tuy vậy tấm tilma in hình Đức Mẹ và hộp kính bọc xung quanh nó vẫn còn vẹn nguyên. Thiệt hại duy nhất được ghi nhận xảy ra gần tấm tilma là cây thánh giá bằng đồng khổng lồ, vốn đã bị bẻ xoắn và uốn cong do tác động cực mạnh từ vụ nổ.

Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Hình ảnh cây thánh giá bằng đồng bị bẻ cong và xoắn lại do vụ nổ vào năm 1921. Ảnh: infallible-catholic.blogspot.com
Bí ẩn bức hình Đức mẹ xuất hiện trên tấm áo choàng trong chớp mắt, ‘giống hệt một cơ thể sống’
Cận cảnh cây thánh giá bằng đồng bị bẻ cong sau vụ nổ năm 1921. Từ độ cong của cây thánh giá, có thể thấy sức công phá của vụ nổ lớn đến chừng nào. Thế mà tấm tilma bọc trong hộp kính vẫn không hề hấn gì. Ảnh: mtncatholic.com

Quang Khánh tổng hợp

 

Quỳnh Nga ST

 

 

 

Theo dõi RSS này