Ban Chấp Hành

Ban Chấp Hành

Truyện Ngắn: NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH- Phan Xuân Sinh

  • Đăng tại Truyện

NGƯỜI KHÁCH TRÊN QUÊ MÌNH


Truyện ngắn của Phan Xuân Sinh 

Tôi từ Sài Gòn về hôm nay thì ngày mai đám giỗ má tôi. Thằng em út tôi đề nghị sáng hôm sau dậy sớm để vào thăm mộ má trước, tới chiều mới làm mâm cơm đám giỗ má sau. Tôi quên không hỏi nó bây giờ má chôn ở đâu? Vì trước đây tất cả mồ mả được qui hoạch chôn vô một chổ, chứ không có nhiều nghĩa địa như ngày xưa. Tối hôm đó tôi đi chơi với mấy thằng bạn tới khuya mới về rồi đi ngủ, còn mọi chuyện thằng em tôi lo tất cả…

Sáng dậy sớm uống một ly cà phê, rồi nó chở tôi trên chiếc xe honda của nó. Tôi chỉ hỏi đường đi có xa không? Nó bảo là đi chừng một tiếng đồng hồ. Rồi hai anh em cứ thế mà đi. Hơn hai mươi năm không về Đà Nẵng, tôi không còn nhớ đường xá, nhất là trong thời kỳ tốc độ xây dựng chóng mặt, nên mọi nơi chốn đều lạ lẫm với tôi. Tôi nhớ thằng em chở tôi qua cầu Trịnh Minh Thế, rồi nhắm hướng chùa Non Nước.

Qua khỏi chùa Non Nước thì tôi không còn biết nơi chốn nó đi tới, vì hai bên đường nhà cửa san sát, nó không còn là đồng quê. Ngày xưa nơi đây là đồng không mông quạnh, là vùng oanh kích tự do. Đơn vị của tôi thường đi hành quân trên vùng nầy, nhưng bây giờ nó đã trở thành một thị trấn khá tấp nập. Đúng là vật đổi sao dời.

Thằng em tôi ngừng xe lại một quán mì Quảng bên đường, nó nói là anh em mình vào ăn một tô mì rồi đi tiếp. Nó sực nhớ là tôi ở Mỹ về nên nó hỏi: “Mà anh có ăn được không? Đây  là quán bình dân, ăn cốt cho no chứ không ngon”. Tôi gật đầu, ngầm bảo với nó là ăn được.

Tôi nhớ ngày xưa còn nhỏ, nhà nghèo đâu dễ gì ăn được một tô mì dù là mì bình dân như bây giờ. Một tô mì phải độn thêm vào hai chén cơm, một muỗng nước mắm mặn. Nó không còn hương vị của mì, thế nhưng khi ăn xong vẫn còn thèm thuồng. Bà chủ quán mang ra hai tô mì, rồi bà nhìn chăm chăm vào mặt tôi như soi mói một cái gì. Có lẽ bà thấy tôi trắng trẻo mập mạp, nên bà nghi tôi không phải dân ở đây.

Thành phố Đà Nẵng về đêm

Tôi cúi đầu hì hụp ăn như không cần biết mọi vật chung quanh mình. Tô mì rất thân quen với con mắt của tôi mặc dù mấy mươi năm mới thấy lại. Cũng vài con tôm bạc, vài lát thịt mỡ, vài cọng hành, một ít đậu phụng rang và nửa cái bánh tráng nướng. Chế biến đơn giản nhưng mùi vị y chang như thời xa xưa mà tôi đã từng nếm qua nhiều lần. Mấy chục năm trên đầu lưỡi của tôi đã tiếp nhận biết bao thứ đậm đặc gia vị, tôi nghĩ rằng cách nấu nướng đơn giản của vùng quê mình sẽ không được ngon miệng.

Thế nhưng tô mì nầy đã làm cho tôi giật mình cảm thấy đã tìm về được nét “đậm đà bản sắc dân tộc” (mà người trong nước hay dùng từ nầy để chỉ những phong tục, tập quán, lễ nghi v.v…mang tính riêng của quê hương). Tôi ăn ngon lành như vừa mới khám phá ra món lạ. Thằng em ngồi bên cạnh thấy tôi ăn nó gật gù thích thú.

Khi ăn xong ngồi uống nước, tôi hỏi bà chủ quán về địa danh vùng nầy. Bà cho biết đây là xã Hòa Lân, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Bà hỏi tôi đã từng đi qua vùng nầy lần nào chưa? Tôi trả lời với bà trong thời chiến tranh tôi có đi lại vùng nầy vài ba lần. Tôi hỏi bà xã Hòa Lân có một cái chùa cách đây bao xa? Bà chỉ tay vào phía trong cách chừng sáu bảy trăm mét. Có lẽ bà tự hỏi tại sao ở đây tôi biết có một cái chùa? Phải là người thân quen với vùng nầy. Chính vì thế bà đọc được trên nét mặt của tôi có chút gì thân thiết, nên bà trả lời rất cặn kẽ và đượm một tí cảm tình.

Tôi nhớ lại năm 1972, trong một cuộc hành quân tại vùng nầy, trung đội của tôi khám phá được một căn hầm y tế gần cái chùa của xã Hòa Lân. Dưới hầm có một nam bác sĩ và một nữ y tá. Thường thường khi phát hiện được một căn hầm thì chúng tôi cột mấy thỏi chất nổ TNT thả xuống theo đường thông hơi rồi giật sập, để tránh trường hợp mở đường máu tẩu thoát. Thế nhưng hôm đó tôi lại không cho lính làm vậy. Sau khi bố trí lính nằm chung quanh hầm  chỉ chừa một khoảng để tác xạ, rồi kêu gọi những người dưới hầm lên đầu hàng, nếu không lên chúng tôi buộc lòng phải phá sập hầm.

Chúng tôi thấy từ dưới hầm chui lên hai người, một nam và một nữ, họ cho biết là dưới hầm không còn ai. Hai người đến gần tôi và yêu cầu tôi cho họ gặp người chỉ huy cuộc hành quân. Tôi nói với họ là người chỉ huy trên máy bay trực thăng, chỉ có tôi trực tiếp tại đây, anh cần gì? Anh chỉ xin một điều là đừng bắn anh. Tôi cười vỗ vai anh, không có ai làm gì anh hết, yên tâm. Anh nhìn tôi với một sự nghi ngờ không biết tôi có thực quyền che chở cho anh không? Anh cho tôi biết anh là bác sĩ và người con gái là y tá, hai người mới đến vùng nầy.

Người bác sĩ trạc bằng tuổi tôi lúc đó, người miền Bắc, khuôn mặt rất tuấn tú. Chỉ có nước da trắng xanh có lẽ vì ban ngày phải nằm dưới hầm. Tôi mời anh hút thuốc để trấn an sự sợ hãi. Có lẽ người ta tuyên truyền rằng chúng tôi là những con người khát máu, lòng dạ lang sói, không một chút tình người, chỉ biết chém giết. Một điều may mắn cho hai người là hôm đó chúng tôi không phá sập căn hầm, cho nên hai người mới được sống sót.

Ngồi chờ máy bay ở sân chùa, anh thấy anh em chúng tôi nói cười vui vẻ không có một chút gì ghê gớm, trên khuôn mặt hồn nhiên. Dần dần sự sợ hãi cũng mất đi, anh thành thật trả lời những gì tôi hỏi. Thật tình thì tôi chỉ hỏi những vấn đề sinh sống ở miền Bắc vì hiếu kỳ muốn biết, chứ không có tính cách khai thác. Tôi biết lúc ấy anh có cái nhìn khác về chúng tôi. Thì té ra chúng tôi cũng là những con người như anh vậy. Chiến tranh thật kinh khủng, không những chém giết nhau mà còn dối trá, lừa lọc. Nhét vào đầu những cái xấu xa, những hận thù. Để khi anh em gặp nhau ngỡ ngàng nghi kỵ. Không biết anh bác sĩ đó có còn sống sau cuộc chiến tranh khốc liệt, tương tàn nầy không? Mong rằng anh đọc được những dòng chữ nầy.

Chúng tôi trả tiền rồi lên xe đi tiếp. Thằng em bây giờ mới nói cho tôi biết là Má chôn ở Cẩm Hải. Tôi giật mình. Sao lại có sự trùng hợp lạ kỳ nầy vậy. Địa danh nầy tôi không thể nào quên được. Ngày 01 tháng 6 năm 1972, tôi mất một bàn chân tại Cẩm Hải trong cuộc chiến. Bây giờ má tôi lại được chôn nơi nầy. Ôi, những oan nghiệt cứ đeo mãi theo tôi thế nầy. Tôi muốn quên đi tất cả, thế mà cứ dây mơ rể má cột chặt tôi vào một nơi chốn đã làn tan nát đời tôi.

Tôi bước xuống xe nhìn chung quanh, tôi không còn nhận ra một dấu vết nào của cái vùng mà ngày xưa tôi đã dẩm nát. Căn cứ Đại Hàn để lại cho Trung Đoàn 51 cũng không còn dấu vết, chỉ có mồ mã bạt ngàn. Nơi đây ngày xưa buổi sáng chúng tôi dẫn lính ra tập thể dục, rồi tắm biển. Những buổi chiều tôi hay đi một mình trên bãi hoặc ngồi nhìn sóng vỗ. Tôi thích tiếng sóng vì âm vang của nó nghe vừa êm tai mà cũng vừa như áp đảo. Tôi không hiểu tại sao người ta lại dùng một bãi biển đẹp như vậy làm nghĩa địa. Thật uổng phí mất một thắng cảnh.



Chúng tôi vào thăm mộ má, tôi rất hài lòng với ngôi mộ được xây dựng đơn giản nhưng rất uy nghi. Nó nói với tôi là ở đây cũng không được chắc chắn, có thể sau nầy người ta trưng dụng đất đai, lại dời mã đi nơi khác. Vì vậy không dám xây một cách hoành tráng được. Tôi bảo là không cần thiết phải làm như vậy, như thế nầy là đủ quá rồi. Trong nghĩa trang nầy dễ nhận ra được một điều là mồ mã nào xây dựng to lớn đẹp đẽ là có bàn tay của Việt kiều.

Đúng vậy, tôi đi xem mấy tấm bia người đứng tên xây dựng đang ở Mỹ, Pháp, Canada, Úc v.v…Thôi thì cũng nở mặt nở mày cho người sống cũng như người chết còn ở lại Việt Nam. Tôi nghĩ rằng họ cố gắng xây dựng mồ yên mã đẹp cho thân nhân vì sau đời họ con cái cháu chắt không còn trở về để lo cho ông bà như họ được.

Nhìn nghĩa địa chúng ta liên tưởng đến đời sống của cõi dương nầy. Âm, dương cũng không cách biệt nhau lắm, có kẻ giàu người nghèo. Có nhiều ngôi mộ nguy nga lộng lẫy, được xây dựng chắc chắc, chạm trổ công phu. Nhưng cạnh đó cũng có những nấm mộ vun đắp sơ sài, không hương không khói. Nằm ở giữa huyệt lạnh mà cũng không thoát được cảnh nghèo khó. Tội nghiệp cho những linh hồn bị cái cảnh dương thế chi phối nặng nề.

Ai nói nằm xuống đất là hết đâu? Không cần phải nhìn đâu xa, nhìn nghĩa trang Cẩm Hải nầy cho ta liên tưởng đến một xã hội bên ngoài. Kẻ thì quá giàu còn người thì quá nghèo. Sự chênh lệch quá đổi làm cho ta phải lặng người, thương cho số phận hẩm hiu của những kiếp người bất hạnh đeo đuổi họ từ dương thế đến cõi âm.

Tôi lấy ba cây hương đến trước mộ má tôi khấn rằng: “Thưa Má, hôm nay con lại về trúng vào ngày giỗ Má nên con vội vàng vào thăm Má. Nơi Má nằm chính là nơi con gửi lại một bàn chân trong cuộc chiến, thương con Má cứ ôm nó vào lòng như ngày xưa Má ôm con vậy. Nếu nhớ con Má có thể vuốt ve nó vì chính nó là thân xác của con. Má không còn sợ cô đơn vì nó là da thịt xương máu của con đang cận kề bên má.

Má phù hộ cho gia đình con có đầy đủ sức khỏe, ăn nên làm ra để có đủ điều kiện về thăm Má thường xuyên”. Tôi không biết Má tôi có nghe lời tôi khấn nguyện không? Nhưng tôi cảm thấy trong lời khấn nguyện thành thật của tôi, có chút chua xót, cay đắng.


Một người đàn ông đi tới và tự giới thiệu với tôi, ông là người chăm sóc những ngôi mộ nầy, ông gìn giữ cẩn thận nên mới được hoàn hảo như ngày hôm nay. Chứ không thì tụi chăn trâu đập phá. Ông xin tôi một số tiền thù lao mà ông đã chăm sóc bấy lâu nay. Thằng em tôi chưng hửng vì nó thường vào thắp nhang cho Má mà có thấy ai đâu, bây giờ lại gặp tình trạng khó xử như thế nầy.

Nó hỏi ông đó là phải trả cho ông bao nhiêu? Ông nói một tràng không ngượng ngập, sượng sùng gì cả: “Ông cho tôi tiền nhiều thì tôi giữ cẩn thận, còn cho tôi tiền ít thì cái mộ nầy sẽ bị hư hại. Tùy theo mức độ tiền nhiều hay ít rồi tôi sẽ tự liệu”. Thằng em tôi thấy vậy, rút đưa cho ông năm chục ngàn. Ông chần chừ chê ít không chịu lấy. Nó phải rút thêm ba chục ngàn nữa, ông mới chịu đi. Sau khi ông đi thì cái đám chăn trâu không biết ở đâu bu lại cả chục thằng, lần đầu thì xin đồ cúng để ăn, sau thì xin tiền.

Chúng nó nói thẳng vào mặt thằng em tôi, nếu không cho tiền thì lần sau vào sẽ thấy cái mã nầy tanh bành. Cái thằng cha vừa rồi đâu có làm gì, hắn ở đâu đâu thỉnh thoảng tới hù dọa mấy ông cho tiền ổng, còn tụi tôi ở đây hằng ngày thì làm lơ, đâu có được. Chúng nó đánh trúng vào tâm lý sợ sệt của anh em tôi, thằng em tôi rút cho mỗi thằng mười ngàn, rồi hối tôi lên xe chạy ngay chứ chần chờ sẽ có người khác đến làm phiền thêm.

Tôi ra khỏi nghĩa trang lòng đầy bối rối, không ngờ những chuyện nhỏ nhặt nầy để lại cho tôi một mối suy tư về lòng dạ con người, không có một chút liêm sỉ, một chút đạo đức nào nữa hết sao? Lâu quá rồi xa quê hương, trên xứ người tôi chưa bao giờ gặp những tình huống làm tiền trắng trợn như vậy. Về chứng kiến những sự thật phủ phàng trong lòng tôi ít nhiều đổ vỡ. Thằng em ngồi phía trước xe xoay ngang mặt, nói với tôi: “Hơi sức đâu mà anh để ý mấy cái chuyện vụn vặt nầy. Ở đây có nhiều chuyện làm tiền trắng trợn hơn nữa. Làm lớn thì ăn lớn, làm nhỏ thì ăn nhỏ. Không cần biết người khác
sống chết ra sao, miễn sao tiền bạc vô đầy túi”.


Thằng em chở tôi ghé vào Hội An đi vòng vòng cho biết, thăm lại thành phố nầy ngày xưa tụi tôi hay la cà mấy cái tiệm cà phê những ngày không đi hành quân. Các tiệm cà phê Chiều ở đường bờ sông, hoặc cà phê Phượng ở phía trước cổng Tiểu Khu là những quán mà chúng tôi hay ngồi nhất. Thành phố vẫn không thay đổi mấy, hình như người ta muốn giữ lại những cấu trúc thời xa xưa. Ở nước ngoài mình quen mắt với đường xá, nhà cửa đồ sộ.

Về nhìn lại Hội An thấy cái gì cũng nhỏ, nhà cửa thấp lè tè nhưng rất dễ thương. Một thành phố từ đầu trên đến xóm dưới đều biết nhau, quen nhau. Không những quen biết thôi mà còn hiểu tường tận gốc gác của nhau nữa. Có lẽ đó là cái đặc thù nhất của Hội An mà dù có đi khắp thế giới tìm một thành phố mà những con người gắn bó, thân thiết như vậy cũng thật hiếm hoi.

Tôi nhớ hồi còn đi học, thỉnh thoảng tôi hay vào Hội An chơi với mấy ông bạn “thi sĩ” của tôi: Hạ Đình Thao, Lê Văn Trung, Lê Anh Huy, Kiều Uyên v.v… Đi xuống gần Cẩm Thanh để ăn mì Bà Đợi hay qua cầu Cẩm Phô để ăn chè. Tối về thì vào chùa Phước Kiến ngủ với Thái Tú Hòa (em ruột nhà thơ Thái Tú Hạp). Thấy tôi đến bao giờ Hòa cũng gọi Cẩm (cô em gái của Hòa) mang cái tô ra bà Cảnh mua một tô cao lầu cho tôi và không quên thêm một chén cơm nguội. Tuyệt vời, không có cái gì ngon bằng.

Cho đến bây giờ hơn bốn mươi năm tôi vẫn còn nhớ như mới ngày nào. Tội nghiệp tụi tôi đứa nào cũng nghèo xơ xác, mình có thể nhịn ăn nhưng khi gặp bạn bè thì đãi bạn một cách hào phóng. Hào phóng ở đây có nghĩa là ăn một tô mì hay uống một ly cà phê chẳng hạn. Chứ làm gì có tiền đãi nhau thịnh soạn được, nhà đứa nào cũng nghèo. Mấy ông nầy ra Đà Nẵng tôi đãi một món đặc sản là đậu phụng chiên với nước mắm. Nước mắm khi khô bám vào hạt đậu, vừa dòn vừa mặn, để ăn với cơm. Ngày nào cũng vậy, chẳng có ai khiếu nại về chuyện ăn uống, để dành tiền đi uống cà phê Diệp Hải Dung.

Phố cổ Hội An


Buổi trưa anh em tôi về lại Đà Nẵng để lo đám giỗ. Tôi có mời vài người bạn đến ăn đám giỗ má tôi. Lâu quá, dễ chừng gần hai mươi năm không gặp lại nhau. Bạn bè người nào cũng quá nhiều thay đổi, từ con người đến cuộc sống, tụi tôi bắt đầu bước vào tuổi già. Thế mà khi ngồi lại nói chuyện với nhau như hồi còn trẻ. Tôi kể cho tụi nó nghe về những gì mà tôi đã gặp sáng nay, tôi thấy trên khuôn mặt chúng nó không có một chút ngạc nhiên. Như vậy, chuyện như thế nầy cũng thường xẩy ra và ai sống tại quê nhà cũng thường gặp. Đời sống khó khăn, con người sinh ra nhiều biến thái.

Sau khi dùng cơm xong, chúng tôi rủ nhau đi uống cà phê. Tôi không nhận ra một chút gì cái thành phố mà tôi đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành ở đó. Bây giờ nó mang một bộ mặt khác sang trọng và lịch lãm hơn. Những con đường rộng rãi và dân cư đông đúc. Một vài người hỏi tôi nghĩ gì về những thay đổi vội vàng của Đà Nẵng. Tôi trầm tư biết trả lời sao đây? Hơn 30 năm rồi, quê hương nhiều mất mác quá.

Tôi thấy hình như mọi người cố gắng chạy đua cho kịp, thể hiện cho người ta biết mình có tiền có của, mạnh ai nấy xây nhà. Những hình thù nhà cửa thật nham nhở lố lăng, thể hiện một cái thứ trưởng giả học làm sang. Tôi không biết người ngoại quốc đánh giá cách xây dựng nầy ra sao. Chứ còn tôi không chịu được, vừa cỗ của thời Louis nhưng cũng vừa hiện đại của thế kỷ nầy. Nó giống như râu ông nọ cắm cằm bà kia.

Không biết vài chục năm sau, thế hệ con cháu chúng ta đánh giá lối kiến trúc nầy thế nào. Chứ riêng cá nhân tôi nhận thấy vừa hợm hĩnh nhưng cũng vừa tội nghiệp. (Có thể nhận định của tôi sai lầm, vì con mắt của tôi quá trần tục, không có đầu óc mỹ thuật. Cái nhìn có thể sai lạc).

Tụi tôi không còn cái tuổi ngồi hằng giờ ở mấy quán cà phê thuở trước như: Lộng Ngọc, Hạ, Ngọc Lan, Diệp Hải Dung, Thạch Thảo, Star, Danube v.v…để say sưa nghe nhạc. Một thằng bạn dẫn tụi tôi đến một quán cà phê thật yên tĩnh để dễ dàng nói chuyện. Một thằng bạn khác hỏi tôi: “Cái gì ở Đà Nẵng đã gây cho mầy “ấn tượng” nhiều nhất, khi xa nhà?”. Tôi trả lời không chút đắng đo: “Xóm Chuối”. Chúng nó cười ồ lên tưởng rằng tôi nói đùa.

Ai sống ở Đà Nẵng cũng đều biết Xóm Chuối là nơi tập trung mấy cô gái làng chơi, nằm phía sau bệnh viện Toàn Khoa. Nhưng tôi cũng có một kỷ niệm sâu đậm ở đó. Tôi có một cô bồ học ở trường Bồ Đề, nhà ở trong con hẽm đường Trần Bình Trọng, con hẽm nầy ăn thông qua đường Trần Tế Xương (đường nầy có nhà in Trúc Mai). Thường thường thì cô bạn tôi theo đường Trần Tế Xương đi ra đường Yersin cho gần. Tụi tôi thường hẹn nhau ở góc Yersin (bên hông bệnh viện) và cũng gần đường vô Xóm Chuối. (Hẹn xa xa vì sợ gia đình cô ta biết) vì vậy gặp bao nhiêu chuyện phiền phức. Mấy người đàng hoàng đi ngang qua thấy tôi đứng chỗ đó thì nghĩ là tôi tìm gái làng chơi. Còn mấy cô gái làng chơi nghĩ rằng tôi đang đi tìm họ, cho nên họ chạy ra níu kéo tôi.

Một lần hẹn ở đó tôi tởn tới già và cũng nhớ suốt đời cái địa danh nầy. Khi cô bạn của tôi ra ngồi trên yên sau xe, tôi mới bắt đầu càm ràm. Tôi cho rằng cô ta chơi tôi, hạ nhục tôi. Chứ không biết cái chỗ “hang hùm” ở đó sao mà lại hẹn nhau chỗ ấy? Cô ta ngồi phía sau ôm bụng cười ngắc nga ngắc nghẻo, còn tôi thì tức lộn ruột. Sau nầy cô ta mới nói cho tôi biết là cô ta không biết nơi đó là ổ gái mãi dâm. Tội nghiệp cho cô bạn học trò ngây thơ của tôi.

Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện trên đời. Phần đông các bạn trai thuộc thành phần lính tráng của Miền Nam, còn các bạn gái có chồng cũng đi lính. Nên đời sống các bạn sau nầy về kinh tế rất eo hẹp. Chúng tôi rơi vào thế hệ đứng giữa cuộc chiến khốc liệt nhất, cấp bậc không cao, phần đông bỏ thây tại chiến trường. Nếu còn sống sót cũng không đủ tiêu chuẩn đi qua Mỹ theo diện HO.

Vì vậy sau khi học tập trở về đều sống lây lất, làm những công việc nặng nhọc sống qua ngày. Nhìn anh em đó tuổi đời không nhiều nhưng tinh thần lẫn thể xác già cổi trước tuổi. Lâu ngày không gặp nhau, anh em nói mãi không hết chuyện. Khi tiệm cà phê báo cho biết đến giờ đóng cửa, chúng tôi mới chia tay ra về.

Những ngày còn lại, thỉnh thoảng tôi đến thăm một vài người bạn. Buổi chiều tôi rủ vài người về nhà uống rượu. Chỉ có những bữa rượu anh em mới thổ lộ hết tâm tình của mình. Có một điều lạ là trước đây tôi ít uống rượu, tửu lượng của tôi một chai bia hay một ly nhỏ rượu đủ làm cho tôi say.

Thế mà tôi không ngờ rằng về quê lần nầy tôi đã hạ mấy thằng bạn nát rượu. Đã làm cho nhiều người ngạc nhiên mà tôi cũng không ngờ rằng mình uống không thua gì chúng nó. Có lẽ vì vui quá, anh em lâu ngày không ngồi với nhau, về lại quê hương trong nhiều năm xa cách v.v…nhiều yếu tố làm cho tôi cảm thấy thoái mái. Vì vậy mà tôi uống được nhiều.

Cái nhìn của tôi về quê nhà có thể rất phiến diện và vội vàng. Có thể làm cho nhiều người không đồng ý. Nhưng tôi biết làm sao hơn khi mà một thực thể nó đã như vậy, tôi nói lên với tất cả tấm lòng dành cho quê hương mình. Có một điều mà cho đến bây giờ vẫn không nghĩ ra được là mọi người nhìn tôi với con mắt xa lạ, cách biệt trong lúc thâm tâm của tôi muốn hòa đồng, muốn thân thiện. Có một cái gì đó muốn đẩy tôi ra xa ngoài vòng tay của quê hương tôi.

Sau khi trở lại Mỹ, sau nhiều đêm suy nghĩ tôi mới tìm ra được một giải trình cho mình. Có lẽ phần đông mang một mặc cảm thua thiệt vì nghèo khó, nhìn mấy ông bà Việt kiều tiêu tiền hào phóng họ cảm thấy cách xa với họ. Cho nên họ nhìn những người trở về như một loại “cá mè một lứa”. Họ đâu biết rằng có người trước khi về họ đã dành dụm bao nhiêu năm, cũng cày sâu cuốc bẩm, cũng lao tâm lao lực mới có được tiền.

Vì biết bà con bên quê nhà làm ăn khó khăn nên họ phải “gánh” cho đỡ bớt gánh nặng khi phải tiếp họ. Những thành phần thuộc tư bản trong nước bây giờ, cách vung tiền của họ mới khiếp. Các “đại gia” nầy ra tay thì các “hảo hán” có máu mặt của Việt kiều đành phải lép vế.

Dù gì chăng nữa tôi vẫn thấy những ánh mắt nhìn tôi không còn thân thiện, coi tôi không phải là người dân đã sinh ra và lớn lên trên quê hương. Cái nhìn và cách đối đãi của họ với tôi như một người khách. Cách hành xử nầy làm cho tôi thấm đau như có ai đó nhổ toẹt vào mặt mình.

Chúng tôi không có tội gì hết, khi xa quê hương chúng tôi đau lắm vì nơi đây chôn nhau cắt rún, cha mẹ anh em đang hiện diện ở đây và rất nhiều, rất nhiều cái lý do khác không dễ gì dứt bỏ ra được. Thế nhưng trong hoàn cảnh bắt buộc phải rời xa đất nước.

Đó là điều đau lòng cho tất cả những người đang xa xứ. Trong những ngày trở về, tôi ít đi đâu vì tôi mang một mặc cảm xa lạ, nên suốt ngày quanh quẩn trong nhà. Để tìm lại những thân thiện, những tình cảm mà tôi tưởng chừng như bị đánh mất ngay cả những người ruột thịt với mình. Tôi không muốn làm một người khách lạ./



Phan Xuân Sinh

 BBT-GNST


Thành phố Đà Nẵng

 

Một Đời Tìm Kiếm

Kết quả hình ảnh cho Mục Tiêu Cuộc Sống photos

   Một Đời Tìm Kiếm   

    Mục Tiêu Cuộc Sống    

Người ta không sợ lầm lẫn khi qủa quyết rằng: đời sống con người là một cuộc tìm kiếm!
Sự tìm kiếm đó của con người được bày tỏ trong tính cách dự phóng của mình.
Là một hữu thể đặc biệt mà cuộc sống được phối hợp giữa ba thành tố:qúa khứ, hiện tại và tương lai. Sự kết hợp diệu kỳ ấy đã làm nên cuộc sống đầy kỳ thú và nghĩa lý của con người. Thực vậy, con người không những chỉ sống cho giay phút hiện tại mà thôi, con người còn thường lại vảng trở về qúa khứ để giải thích cho những gì đang hình thành trong hiện tại. Nhờ đặt nền tảng vào qúa khứ, toàn nhà nhân sinh của con người như được nâng đỡ bởi một nền tảng của qúa khứ, nhờ qúa khứ, con người biết mình từ đâu đến, vững tâm được gốc cội ngọn người của mình, đồng thời phóng mình vào tương lai để dự phóng cho những gì đang thành tựu trong hiện tại. Nếu qúa khứ hiến dâng cho con người một bối cảnh, một nền tảng, một nơi nương tựa, một cái gọi là nhà để lui về, thì tương lai cống hiến cho con người ánh sáng soi chiếu quảng đường đang đi tới, đồng thời đảm bảo cho giây phút hiện tại, thực chất công việc của mình. Bởi vì sống đối với con người là một sáng tạo không ngừng, mà sáng tạo cần dự phóng vào tương lai. Dự phóng và sáng tạo là hai nhân tố làm cho cuợc sống con người trở nên tươi sáng, an vui và có lý do để sống. Dự phóng(projection) và sáng tạo(creation) bắt con người phải đi tìm kiếm, mà việc tìm kiếm thứ nhất của con người chính là đi tìm kiếm chính mình trong nhãn quan của những tư duy chất vấn: con người tự hỏi mình là ai?
Kết quả hình ảnh cho Mục Tiêu Cuộc Sống photos
Đâu là gía trị của mình trên cõi đời nầy?
Đâu là những nức thang gía trị?
Nhưng câu hỏi tối hậu phải là câu hỏi: tại sao con người lại đi tìm kiếm gía trị? Nói cách khác, con người có thể sống hạnh phúc sung sướng và bình an mà không cần tìm kiếm gía trị không?
Con người đi tìm gía trị, vì chính con người là một gía trị, đi tìm giá trị tức là con người muốn tự lượng định thân mình coi thử mình có gía ti gì không? Mình có đến nỗi bị hư hỏng {bị mất gía trị,vô gía trị lắm không). Không có sự so sánh đối chiếu nầy, cuộc sống con người bắt đầu trở nên vô vị!
Kết quả hình ảnh cho Một Đời Tìm Kiếm photos

Con Người và Những Nức Thang Gía Trị

Trong số các tạo vật dưới vòm trời, con người được coi là một hữu thể đặc biệt, đặc biệt vì có hồn thiêng và trí tuệ. Với hồn thiêng, con người có khả thể mơ ước thần linh! Nhờ có lý trí, con người biết tư duy, lý giải những bí mật của vũ trụ bao la đang vây phủ lấy con người! Chính nhờ tri thức tương đối, con người vươn mình lên biên giới của tri thức tuyệt đối, để chất vấn, để thách đố và đối diện với những vấn nạn liên quan đến Thượng Đế! Con người vì thế được gọi là "Nhân linh ư vạn vật"! Trong lúc các tạo vật khác chỉ biết sống theo cái bản năng phú bẩm tiềm tàng trong bản chất tự nhiên của chúng, chỉ có con người, và con người thôi mới có thể siêu việt trên thiên nhiên và chế ngự được cả thiên nhiên. Cái cao cả của con người, tuy đang bị vũ trụ bao la vây phủ, ý thức được sự kiện mình đang bị đề bẹp bởi vũ trụ, trong khi đó, vũ tru bao la chẳng nhận biết ra chính mình. Con người không những chỉ nhận ra được chỗ đứng của mình trong vũ trụ, mà còn vươn tới sự hiểu biết về nguyên nhân tác thành nên vũ trụ. Tuy là một tạo vật thật bé nhỏ, hay nói theo ngôn từ của nhà tư tưởng Pascal, con người chỉ là một cây sậy khẳng khiu, nhưng là một cây sậy biết suy tư( Pascal, Les Penseés). Nhờ ở nét suy tư độc đáo nầy, con người đã làm chủ được vũ trụ bằng cách đặt vũ trụ vào cái thế giới đối tượng của tiến trình tư tưởng.
Từ cái ưu thế có hồn thiêng và tri thức, con người trở thành triều thiên của vũ trụ được Thượng Đế tạo dựng. Tuy được ưu thế đứng cao trên vòm trời chót vót của tri thức, con người phải dấn thân trong vũ trụ vói một số kiếp hẫm hiu hơn các tạo vật khác: đối diện với một cái gì đó đang giang dở, chưa hoàn thiện. Con người vì thế suốt cuộc đời không ngừng đi tìm kiếm. Bởi vì con người hơn các tạo vật khác nhờ có linh hồn và tri thức, cho nên con người cũng phải đương đầu với nhiều nước mắt khổ đau hơn các tạo vật khác. Được cấu tạo hai yếu tố linh thiêng và vật chất, cho nên con người mang trong mình hai cuộc sống, hai vận mệnh: một cuộc sống thể chất, và một cuộc sống thuộc về thần linh. Con người được mô tả có chân đạp trái đất, nhưng lại có đầu đội trời cao: một đàng con người phải lấp đầy những đòi hỏi của phần vật chất, đàng khác, thần linh mời gọi con người phải siêu việt trên vật chất để hướng vọng về trời cao, quê hương của thần linh.Nỗi khổ đau của con người là sự giằng co, tranh chấp giữa hai biên giới thần-nhân. Con người một đàng nghe theo tiếng gọi trái đất, nhưng đàng khác, không được quên lời mời gọi của trời cao, nếu con người muốn sống đầy đủ ý nghĩa cuộc nhân sinh có ý nghĩs cao cả.
Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos
Qua cuộc sống trần gian, con người không những lo chu toàn nghĩa vụ với thân xác thuộc thế giới vật chất , nhưng cũng phải chu toàn nghĩa vụ đối với linh hồn. Vật chất, linh thiêng, trần gian và thần linh vốn mang bản chất trái ngược, nếu không muốn nói là thù nghịch, mâu thuẫn. Huyền nhiệm của con người tìm thấy trong cái hiện thể nghịch lý mâu thuẫn đó. Con người tự mang trong bản chất của mình một mâu thuẫn to lớn. Định mệnh con người là sống làm sao để dung hòa sự mâu thuẫn ấy. Trên kia có lần nói tới biện chứng pháp của Hegel, theo đó mọi hữu thể đều mang trong mình sự mâu thuẫn nội tại. Muốn có sự thăng tiến, mội hiện hữu phải tự chối bỏ chính bản thân hiện tại để vươn tới một thực trạng khác cao cả toàn vẹn hơn, và cứ như thế toàn thể vũ tụ thăng tiến, xoay vần không ngừng. Áp dụng nguyên tác biện chứng pháp trên vào hiện thực của con người, thì qủa thực mỗi sinh linh mang theo trong mình một mâu thuẫn lớn lao là tự chối bỏ chính mình, nếu muốn vươn lên, muốn siêu việt hóa, thăng hóa lên, bay cao hơn lên trong sự toàn thiện. Đời người , vì thế là một cố gắng không ngừng để siêu việt hóa, để thăng hóa. Muốn tiến nhanh trên đường siêu việt hóa và thăng hóa, con người không bao giờ có thể ngừng lại, toại nguyện trong cuộc tìm kiếm Chân-Thiện-Mỹ.
Một hình ảnh đơn sơ hy vọng sẽ làm sáng tỏ những đều vừa phát biểu trên về thực tại con người không bao giờ yên nghĩ, mà luôn luôn phải lên đường hành trình tìm kiếm: Con sư tử hay con cọp, sau khi lao lư vất vả đi kiếm mồi, một khi tìm được con mồi rồi, chúng say sưa với miếng mồi và rồi quyên hết mọi sự .Một khi đã say mồi, con vật cảm thấy thỏa mãn, chúng yên nghĩ vui thú, quên đi tất cả! Chúng sẽ ngũ ngon yên giấc dưới ánh sao mờ bên bờ suối! Có thế thôi, tất cả chấm tậm, an bình, thỏa thích…
Loài người không như thế, trái lại, sau một đời tìm kiếm, sau khi chiếm hữu được những gì thèm khát mong muốn, sau khi thỏa mãn những gì trái tim mong đợi, con người không an nghĩ trong yên bình, nhưng con người bắt đầu tư duy, thổn thức, mưu toan sắp đặt, bày biện kế hoặch cho những gì chưa có. Tại sao con người không bao giờ an nghĩ, thỏa mãn, sung sướng hoàn toàn? Thưa vì con người có bản chất suy tư, sống được định nghĩa là suy tư, mà suy tư là đi tìm kiếm. Bao lâu con người hết suy tư, hết mơ mông, hết dự phóng về tương lai, hết tìm kiếm, con người cũng hết thú vị làm người. Sống không mơ, không dự phóng là như đã chết! Nhưng con người mơ ước những gì?
Hãy hỏi con người suốt trên giòng sử đông tây, kim cổ, xem con người đi tìm kiếm những gì?
Phải chăng đối tượng tìm kiếm của con người được thâu trọn trong hai chữ Hạnh-Phúc ?
Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos

Con Người và Vấn Đề Hạnh Phúc

Cụm từ "hạnh-phúc" nghe thật xưa, xưa như biến cố xuất hiện của con người trên trái đất, nhưng chúng ta không thể không bàn tới, bởi vì đó lại là chính vấn đề then chốt của con người, nó đã, đang và sẽ muôn đời là vấn đề của con người. Không thể hiểu được con người mà không thấu đáo ý nghĩa của hai chữ hạnh phúc!
Hạnh phúc, vấn đề độc đáo của con người, vì thế nó đã làm hao tổn biết bao bút mực, làm nhức nhối biết bao trái tim, đã gây băn khoăn cho bao nhiêu đầu óc miệt mài suy nghĩ! Nhưng hai chữ hạnh phúc vẫn mãi mãi môn đời ám ảnh con người sống trên dương thế! Bao lâu còn có con người sống trên đời, bấy lâu người ta còn băn khoăn khác khoải vì hai chữ hạnh phúc! Hạnh-phúc và con người bám sát, quấn quít lấy nhau, ôm ấp ràng buộc vào nhau như một định mệnh bất khả chia lìa tựa như hình với bóng.
Con người mong ước những gì? Mơ mộng những gì? Tìm kiếm gì trên cõi đời nầy?
Câu hỏi mới nghe ra như viễn vông phi lý nhưng nếu xét cho kỹ đó cũng là câu hỏi căn bản mà con người thỉnh nên tự đặt ra cho chính mìng. Bởi vì một khi con người không còn biết mình tìm kiếm hoặc mơ ước gì nữa, cuộc sống vũng bổng dưng trở thành vô nghĩa lý hoặc thừa thãi!
Thực ra ước mơ của con người trên đời vô cùng phức tạp, mỗi con người có một thứ mơ ước riêng tư không mơ ước của ai giống ai.Có muôn vàn thứ ước mơ, nhưng nếu gom góp ước mơ của con người trên thế gian nầy lại, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, từ nam chí bắc, ước của của nhân loại có lẽ chỉ thu tóm vào một thứ duy nhất thôi: tức là con người ước mơ được sống hạnh phúc, tránh các thứ khổ đau sầu muộn! Thực vậy, sinh vào đời, mang số kiếp người, sống thân phận làm người giữa cuộc đời, con người không mong gì hơn là sống sung sướng hạnh phúc, thoát đau khổ!
Nhưng đáng buồn thay! Giấc mơ hạnh phúc không êm đềm như giòng sông thu! Càng sống lâu trong cuộc đời, càng có nhiều kinh n ghiệm về cuộc sống, con người cảm nghiệm nhiều khổ đau hơn hạnh phúc. Con người càng kiếm tìm hạnh phúc, hạnh phúc càng tung cánh cao bay biền biệt! Thay vì chiếm đoạt được hạnh phúc như một sở hữu đặc thù của mình, con người pải luôn luôn đối diện với thực tế đau khổ. Không thể có hạnh phúc mà không cảm nghiệm đau khổ! Cũng như người đi hái hoa hồng, phải đương đầu với gai gốc của loài hồng, vì không có bông hồng nào mà không có gai nhọn bao bọc chung quanh. hạnh phúc và đau khổ vì thế quấn quít lẫn nhau, ôm ấp lấy nhau và bao hàm lẫng trong nhau. Nói cách khác, khổ đau và hạnh phúc, niềm vui và nước mắt là hai mặt của thực tại cuộc nhân sinh! Còn hơn thế nữa, khổ đau định nghĩa cuộc sống con người! Hai chữ khổ đau đã trở nên đồng nghĩa với số kiếp người! Khổ đau đã trở thành đề tài vô tận trong kho tàng văn chương nhân loại, đã khơi nguồn phong phú cho triết lý và đạo học của loài người!
Kết quả hình ảnh cho Một Đời Tìm Kiếm photos
Nói về cuộc đời khổ sầu, Thi sĩ Chế lan Viên đặt bút viết những câu thơ bất hủ:
" Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Đem chi xuân đến, gợi thêm sầu!
Với tôi tất cả như vô nghĩa
tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Ai đâu trở lại mùa thu trước,
nhặt lấy cho tôi những lá vàng,
với của hoa tươi muôn cánh rã,
về đây đem chắn nỗi thu sang"!
Mùa xuân tượng trưng cho niềm vui và là biểu tượng của hạnh phúc, nhưng ai đã từng nếm mùi vị của hương xuân, đã từng thưởng thức hương xuân chắc cũng đồng ý với thi nhân về cái chóng tàn dối trá cuả mùa xuân trần thế. Cái mà hôm nay ta trông ngóng đợi chờ, thì ngày mai nó đã phai mầu, đã tàn lụi, dã từ ta ra đi lặng lẽ dưới sự chèn ép não nề của thời gian. Niềm hy vọng , vì thế đã biến thành ảo vọng.
Nói về đời người như gắn liền với khổ đau, ngạn ngữ Pháp có câu:
"Con người là kẻ học nghề:
mà thầy là nỗi âu sầu đớn đau!
Không ai hiểu nổi mình đâu!
nếu chưa nếm những giọt sầu đắng cay!
Nếu muốn biết cuộc đời con người sung sướng và khổ đau chênh lệch mực nào, ta thử đem lên cân đo xem nặng nhẹ thế nào: ta sẽ ngạc nhiên thấy "cuộc đời niềm vui chỉ có hai chục mà nỗi khổ sầu đến tám muơi"!
Kết quả hình ảnh cho Mục Tiêu Cuộc Sống photos
Bàn về thực chất đau khổ cuộc đời, Đức Phật Thích Ca đã không ngần ngại kết luận:" Đời là bể khổ ", " Nước mắt của chúng sinh nơi trần thế góp lại thành tứ hải đại dương". Triết lý nhà Phật, từ đó đã xây dựng trên tiêu đề của khổ đau: đời là đau khổ, và đau khổ cuộc khởi nguyên từ bốn nguồn gốc gọi tà "tứ khổ", tức là : "Sinh, Lão, Bệnh, Tử": con người khổ vì phải sinh ra trên cõi đời, trở nên gìa nua tuổi tác là nguồn sinh ra khổ , bệnh tật là khổ và , cuối cùng, chết là cái khổ to lớn khó vã hồi. Tử tiền đề khổ ầy, Đức Phật đã dày công tìm kiếm phương phaáp cho nhân trần trốn thoát khổ đau, phương pháp thoát khổ ấy là diệt dục, vì dục là căn nguyên của "Tứ Khổ"!
Phương pháp diệt dục thoát khổ của đạo Phật đã xuất hiện trên thế giới trên bốn nghìn năm, nhưng con người vẫn tiếp tục sống khổ đau, nước mắt nhân loại vẫn ngấn chảy dài trên số kiếp người. Những học thuyết, những triết lý mới khác lại ra đời đối diện với khổ đau của con nhân loại!
Vấn đề được dặt ra nơi đây không phải là tìm giải quyết vấn đề đau khổ nhưng là tìm xem liệu con người có thể sống hạnh phúc sung sướng trên trần gian nầy chăng?
Tại sao con người lại khát mong hạnh phúc?
Phải chăng hạnh phúc chỉ là một ảo mộng? Hay nói khác đi, phải chăng khi đặt khát vọng hạnh phúc trong tâm hồn nhân loại, Thượng-Đế đã đánh lừa con người, để suốt đời chạy đuổi theo một bong ma hư ảo?
Tại sao con người không thật sự hạnh phúc sung sướng trong cuộc đời?
Có con đường nào đưa nhân loại tìm về chân hạnh phúc không?
Nhưng câu hỏi chính yếu vẫn là những câu hỏi liên quan đến hai chữ hạnh phúc, chẳng hạn như làm sao chiếm hữu và bảo toàn được hạnh phúc?
Con đường nào đưa ta vào hạnh phúc?

ĐỐI TƯỢNG HẠNH PHÚC

Hai chữ "hạnh phúc" thoạt nghe thật giản dị, rất thân thương và như một cái gì gần gủi với con người, nhưng khi ta cố gắng tìm hiểu, xác định, phân tích, lý giải, nó bổng trở nên mông lung, mờ ảo tựa như những giọt sương mai, tuy lóng lánh dưới ánh sáng tuyệt vời bình minh, hay như làn sương mờ ban mai, "bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tan". Cũng vậy, thật khó mà định nghĩa được "hạnh phúc", bởi vì nó đổi thay dưới thiên hình vạn trạng, mỗi người hiểu nó một cách khác tùy theo tuổi tác, trình độ, hoàn cảnh xã hội, môi sinh, giáo dục, truyền thống văn hóa và ảnh hưởng của đạo giáo, tín ngưỡng!
Kết quả hình ảnh cho Tình photos

Tình

Mỗi lứa tuổi quan niệm hạnh phúc khác nhau, tuổi trẻ quan niện hạnh phúc là "tình yêu", khi yêu và được yêu là khi con người có hạnh phúc, Dĩ nhiên hai chữ hạnh phúc ở đây thường cảm nghiệm trong lãnh vực "tình aí", "tình dục"! Bởi thế, người trẻ hăm hở bước vào đời, nhìn cuộc đời với lăng kính mầu hồng của tình yêu: đời thật đẹp, thật rực rỡ huy hoàng, người trẻ xông xáo vào đời, tìm sống giây phút huy hoàng ấy của tình yêu, vì họ đồng ý với thi sĩ Xuân-Diệu:" Thà một phút huy hoàng rồi chết lịm, còn hơn le lói suốt ngàn năm"! Tình yêu được tuổi trẻ cảm nghiệm n hư một mãnh lực quyền uy làm cho họ yêu thương bám sát lấy cuộc đời. Thi nhan đã diễn tả hương vị tuyệt vời say đắm của tình yêu bằng những ngôn từ diễm tuyệt:
" Ta muốn ôm cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu!
Ta muôm thâu trong một cái hôn niều:
Và non nước và cây và cỏ rạng!
Cho chếnh choáng mùi hương, cho rộn ràng ánh sáng,
Cho đê mê thanh sắc của thời tươi,
Hởi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi"!
Xuân-Diệu
Nhưng tình yêu là gì mà nó chiếm đoạt cả trái tim tuổi trẻ và án ngự cả linh hồn con người. Khi phải định nghĩa lý giải tình yêu, chúng ta thấy bàng hoàng bâng khuân, mịt mùng như đối diện với một thứ huyền thoại:
" Làm sao định nghĩa được tình yêu:
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều,
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
bằng mây bàng bạc, gío hiu hiu"!

Xuân Diệu
Thi sĩ Hàn Mặc Tử đã lắng nghe trong yên lặng tuyệt vời của tiếng nước hồ reo, và nhìn thấy trong lời run của tơ liễu ý nghĩ của yêu thương:
" Ai hãy làm thinh, chớ nói nhiều,
Hãy ngh dưới đay nước hồ reo,
Và nghe tô liễu run ttrong gió
Và để nghe Trời giải nghĩa yêu"!

Hàn Mặc Tử
Con người đi tìm tình yêu như một đối tượng của hạnh phúc, nhưng lại không hiểu tình yêu là gì, càng không thể nắm chắc nó bền vững lâu dài! Bởi vì "tình yêu đến, tình yêu đi ai nào biết, trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt"!Vì thế, thi sĩ Hồ Zdếnh đã phải than :
" Em tôi ơi! Tình có nghĩa gì đâu?
Nếu là không lưu luyến buổi ban đầu,
Thủa ân ái mong manh như nắng lụa;
Ong bướm ngập ngừng, cỏ hoa lần lựa!
Nếu trót đi em hãy gắng trở về
Đời mất vui khi đã trọn câu thề,
Tình chỉ đẹp khi hãy còn dang dở!
Thư viết đừng xong, thuyền xuôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau hờ hững với nghìn xưa!

Hồ-Zdếnh
Thi nhân cảm nghiệm sâu thắm thực chất nét đẹp của tình yêu ngay trong cái mong manh, dòn mỏng, dang dở chóng qua. Vì thế người ta thường ví tình yêu và cánh hoa hồng: cánh hoa hồng đẹp, nmột nét đẹp kiêu sa huyền diệu khó diễn tả bằng ngôn từ nhân loại! Nhưng cái nét đẹp huyền diệu ấy lại là sự chóng tàn phai của nó! Hoa hồng đẹp vì nó chóng phai tàn, sự chóng phai tàn làm nên tính cách đặc thù của sự hiện hữu của hoa hồng. Vậy yêu hoa hồng, ta phải yêu luôn cả sự chóng phai tàn đó. Hoa hồng không những chóng phai tàn mà còn đi liền vói gai gốc! Vì thế đời có câu:
"Hồng nào lại không gai. Tình nào mà không phai"!
Có tình, cảm nghiệm tình yêu, con người vẫn chưa thể dừng lại, vì cuộc sống không đơn thuần như trái tim yêu thương khờ dại của tuổi trẻ! Tình yêu không cho phép con người trốn chạy thực tại cuộc đời: con người không thể sống bằng tình yêu thôi, còn nhiều thứ nhu cầu khác trong cuộc sống. đặc biệt là như cầu tiền bạc. Tình yêu không thể nuôi sống bằng nước lã, cũng như bông hồng không thể tươi nếu không có nước. Thực tế cuộc đời mà con người bắt buộc phải đối diện đó là tiền bạc, không có nó, tình yêu không thể tồn tại lâu dài. 
Kết quả hình ảnh cho Tiền photos

Tiền

Ai đã đi vào cuộc sống, đã bôn ba xuôi ngược trên chợ đời, đã tranh đua với số kiếp với người đời, mà đã không một lần cảm nghiệm cái mãnh lực của đồng tiền? Đồng tiền nối liền với khúc ruột của con người, nó cũng chính là cái căn cơ của buồn vui sướng khổ của nhân loại? Cũng chính đồng tiền đã đưa đảy con người tới thành công hay thất bại, được thiên hạ nể vì, nhân nhựợng hay khinh khi coi thường! Vì hế tiền bạc đã biến thành một thứ quyền lực vô song ảnh hưởng trên cuộc sống con người. Thế sự thăng trầm, con người thay lòng đổi dạ, xã hội đảo điên, luân thường đạo lý bị xáo trộn, tất cả cũng vì ảnh hưởng của đồng tiền. Vì thế, qua dòng lịch sử nhân loại, nhiều bậc thánh hiền, các nhà mô phạm, đặc biệt là các tôn giáo đã đưa ra niều lời, nhiều giáo thuyết nhằm răn dạy, cảnh cáo và cải hóa lòng người. Theo truyền thống tu trì trong đạo công giáo, có ba lời khấn dựa trên ba nhân đức chủ yếu của bặc tu dòng: đó là “đức khó nghèo, đức vâng lời và khiết tịnh”. Trong ba nhân đức nấy, lời khấn giữu đức khó nghè là quan trọng hơn cả, bởi vì, cũng theo truyền thống tu đức theo tinh thần Phúc Âm của Chúa Cứu-Thế, cần khắc chế lòng tham lam mê say vật chất, đặc biệt là tiền bạc. Kinh-Thánh dạy:" lòng ham mê tiền bạc là mẹ sinh ra muôn vàn tính hư nết xấu khác"!
Theo lý thuyết nhà Phật: "tham-sân-si" là ba kẻ thù của con người. vậy muốn khởi công tu thân tích đức, conngười, nhất là kẻ tầm"Đạo", cần khước từ và chế ngự lòng tham! Tham lam là đầu mối sinh ra dục vọng. Vậy muốn thoát khổ con người cần diệt dục, mà muốn diệt dục, cần phải chế ngự, tận diệt lòng tham, vì lòng tham của con người vô đáy!
Tiền bạc không những làm hư con người, không những làm cho con người trở nên mù quáng mà thôi, nó còn làm cho nhân loại đi lạc vào sa đoạ!
Người đời thường bị tiền bạc lung lạc, thay trắng đổi đen, hoặc trở nên kiêu căng ngạo nghễ, khinh dễ đồng loại cũng vì cậy vào mãnh lực của đồng tiền.
Hãy lần mở tranng văn học sử, để nghe Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nhận định về thế lực đồng tiền đối với con người:
" Còn bạc còn tiền, còn đệ tử, Hết cơm hết gạo hết ông tôi"
Kết quả hình ảnh cho Tiền photos
Tiền bạc không những ảnh hưởng sâu đậm trên cộc sống con người thôi đâu, nó còn làm sai lạc cả nhân quần xã hội, thế thái nhân tình cũng vì thế mà đảo-điên cuồng loạn. Văn hoà Nguyễn Công Trứ để lại bài thơ nổi danh như sau:
"Thế thái nhân tìng gớm chết thay,
Lạt nồng trong chiếc túi vơi đầy,
Hễ không điều lợi khôn thành dại,
Đã có đồng tiền dở cũng hay!
Khôn khéo chẳng qua ba tấc lưỡi,
Hẳn hoi không hết mọt bàn tay,
Suy ra cho kỹ chi hơn nữa,
Bạc qúa vôi mà mỏng qúa mây"!

Nguyễn Công-Trứ
Biết cử dụng, đồng tiền là tên đầy tớ tốt, nhưng ngược lại, nó là ông chủ khắc nghiệt, khó tính, là căn nguyên của mọi thay đổi xáo trộn cho xã hội loài người, nhà thơ Quốc-Nghệ đã viết lên sự thật chua cay đó bằng những lời thơ châm biếm như sau:
"Bạc ác chi mi lắm rứa tiền,
Mi làm nhân loại hóa ra điên!
Mi tô mặt nạ đen ra trắng,
Mi xé ân tình thẳng hóa xiên!
Mi gác luân thường vào một xó,
Mi đưa nhân nghĩa xếp ai bên!
Mi làm nhân loại đua tranh mãi,
Bạc ác chi mi lắm rứa tiền!???

Quốc-Nghệ

Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos
Khi nói về hấp lực của tình yêu, vẫn còn một mức độ nào đó của tuổi tác, của giai tầng xã hội, của ảnh hưởng của trình độ giáo dục văn hóa đạo đức, nhưng mãnh lực và sự hấp dẫn của tiền bạc hình như có tính cách phổ quát, không biên giới, không bến bờ, nghĩa là lòng ưa thích tiền bạc nơi con người, thời nào cũng thế, bất phân đông tây kim cổ, không phân chia ranh giới giữa trẻ gìa, nam nữ. Mang thân phận làm người, không ai thoát khỏi vòng cương tỏa và sự lôi cuốn của tiền bạc, nhất là con người trong xã hội tân tiến hiện đại.
Kết quả hình ảnh cho lực của tình yêu photos
Thực vậy, con người trong thế giới ngày nay, đặc biệt con người trong các nước tân tiến, nơi mà gía trị con người được lượng gía theo mức độ chiếm hữu và hưởng thụ, nghĩa là người nào giàu có, hưởng thụ nhiều, hưởng thụ sang, đượ c coi như kẻ thành tượu hạnh phúc sung sướng trên đời. Trái lại, người nghèo, ít tiền, có ít phương tiện, ít hoặc không được hưởng thụ, bị coi như người bất hạnh khốn cùng! Vói não trạng tôn thờ chiếm hữu và hưởng thụ ấy, tiền bạc đượx nâng lên hàng chúa tể, lý tưởng cho con người tôn thờ sùng bái! Không lạ gì khi nghe người đời ca tụng tiền bạc bằng mỗt thứ ngôn đaáng lẽ pải dành cho Thiên-Chúa, tôn giáo, lý tưởng cao cả:
"Đồng tiền là tiên, là Phật
Là sức bật của tuổi trẻ,
là sức khỏe của tuổi gìa,
là cái đà danh vọng,
là chiếc lọng che thân,
là cán công chân lý"!
Trong Tân Ước, Chúa Kitô đã nghiêm nghị cảnh cáo con người về lòng mê say vật chất, nhất là khuynh hướng tôn thờ tiền bạc, Chúa phán:
"Không ai có thể làm tôi hai chủ, một là Thiên Chúa hay là tiền bạc: một là mến chủ nầy mà ghét chủ kia. Vậy không thể vừa tôn thờ Thiên Chúa vừa tôn thờ tiền bạc được"
Nemo potest duobus dominis servire: aut enim unum odio habebit et alterum diliget, aut unum sustinebit et alterum contemnet; non potestis Deo servire et mammonae. (Mt. 6, 24)
Chúa không kết án kẻ có nhiều tiền bạc, nhưng Ngài dạy họ phải vươn lên trên sự lôi cuốn của tiền bạc, vì con người sinh ra trên đời để tìm kiếm và tôn thờ Thiên Chúa và chu toàn nghĩa vụ của công lý. Trách vụ tiên quyết của con người sinh ra làm người là chu toàn thánh ý của Thiên Chúa, mà thánh ý muốn chúng ta tìm kiếm "Nước Trời "như lời Ngài phán dạy:" Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước-Trời và thực thi công chính, mọi sự khác sẽ ban cho các con"
« Quaerite autem primum regnum Dei et iustitiam eius, et haec omnia adicientur vobis (Mt. 6, 33)
Nơi khác, Ngài khuyên các môn đệ phải biết lợi dụng của cải trần gian nư phương thế để chiếm hữu "Nước-Trời:" Các con hãy dùng của cải trần gian mà mua sắm phần thưởng trên trời, nơi không bị mối mọt làm hư hỏng cũng chẳng sợ trộm cướp cưỡng chiếm"!" của các con ở đâu, thì lòng các con ở đó!
Chiếm được Nước Trời, mới là mục tiêu của con người tại thế, cũng là cơ nghiệp vĩ đại nhất mà con người có thể vui hưởng muôn đời, so với phần thưởng muôn vĩnh hằng trường cửu trên trời, của cải trần gian chỉ là một thứ hào nhoáng chóng qua chóng hết, bởi vì, Chúa phán:" được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn, nào có ích gì"?!
Enim prodest homini, si mundum universum lucretur, animae vero suae detrimentum patiatur? Aut quam dabit homo commutationem pro anima sua? "(Mt 16-26...)
Kết quả hình ảnh cho Danh Vọng photos

Danh Vọng

Để được sống còn và hưởng thụ, con người cần tìm kiếm và tích lũy tièn bạc của cải cho mình, nhưng con nguời vẫn không ngường tại đó! Con vật khi đã no mồi, nó thảnh thơi vui hưởng thoải mái vui chơi và nghĩ ngơi, con người, trái lại, sau khi tận hưởng no say thỏa thích rồi, bắt đầu suy tư thao thức! Con người tìm kiếm gì nữa, mong ước gì nữa, khát vọng nữa những gì ? Thưa con người muốn được người đời biết đến, muốn được thời danh, được người đời cúi đầu kính trọng, nói cách khác, con người còn thèm khát thêm một đều nữa, đó là danh vọng!
Tự bản chất, con người tự được phú bẩm xã hội tính, hay nói theo triết Hiện Sinh, thì con người là tạo vật sinh để sốn tre3n đời và sống với những con người khác. Cuộc sống, đối với con người, vì theé, là sống với những con người khác, được cảm thông và được chấp nhận bởi những người chung quanh. Hạnh phúc là khi con người được người khác chia sẻ với và đồng ý với mình. Thành công trên đời với con người là gì, nếu không phải là những tài nang của mình được xã hội loài người chấp nhận. Vậy được biết đến, được chấp nhận, được chia sẻ bởi xã hội đã nằm sẵn trong bản tính của con ngưòi.
Danh vọng, hay được người đời nhìn nhận tài năng của mình, kính trọng, nể vì là một khao khát thâm sâu của mỗi sinh linh. Khởi nguyên của danh vọng theo ngôn từ của triết gia Nietzsche là chính ý muốn thống trị tngười khác(the Will to Power). Ý muốn thống trị nầy bàng bạc khắp nơi như linh hồn của thế giới, đặc biệt sâu đậm trong con người. Mỗi con người sinh ra trong trần thế bị chi phối, dun dủi bởi ý muốn nầy, như một động lực hướng dẫn hành động, như nguyên ủy, như tiềm lực thôi thúc con người trong mọi hoạt động. Vì thế mỗi con người là một trung tâm điểm của ý muốn thống trị nầy, cuộc hiện hữu của con người trên đời, cũng vì thế được bày tỏ, được biểu trưng và phác họa như một ý muốn thống trị cả vũ hoàn. Dưới sức thúc đẩy của ý muốn nầy, con người cố lướt thắng mọi trở ngại, đạp trên mọi chông gai thẳng tiến coi cuộc hành trình không giới hạn. Dẫu con người ý thức được hiện thực là mình bị kiềm chế bởi xã hội và bởi những con người khác, nhiều khi là tù nhân của đám đông, của dư luận, của luật lệ và sức mạnh của kẻ khác, tuy nhiên, nhờ ý muốn thống trị nầy, con người không sợ mà vươn thẳng tới mục tiêu mình mong muốn! Ai đã lớn lên trong cuộc đời mà không hề có lần khát mong được danh thành công tọai như Nguyễn Công Trứ:
"Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông",
Trong lúc trần ai, ai dễ biết,
rồi ra mới rõ mặt anh hùng"!
Hoặc oai phong lẫm liệt hơn trong hai bài thơ "Phận làm trai, và Chí làm Trai":
" Có trung hiếu, nên đứng trong trời đất,
không công danh thà nát với cỏ cây,
chí tang bồng hồ thỉ dạ nào khuây,
Phải hăm hở ra tài kinh tế.
Người thế, trả nợ đời là thế,
của đồng lần thiên hạ tiêu chung,
riêng nhâu hai chữ"anh hùng"!
..............................................
Đã hẳn rằng ai nhục ai vinh,
mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ!?
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,'
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong,
chí những toan xẻ núi lấp sông,
làm nên tiếng phi thường đâu đấy tỏ,
đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo,
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu"!
Nguyễn Công Trứ
Dẫu có tài ba phi thường, dẫu có được vang danh lưu thế, con đường công danh sự nghiệp không phải là không gặp cuồng ba sóng gío, niềm sung sướng hạnh phúc pha lẫn nước mắt và đọa đày, bởi vì:
"Ra trường danh lợi vinh liền nhục!
Vào cuộc trần ai khóc lẫn cười!
Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos

Tìm Tuyệt Đối Giữa Lòng Tương Đối

Tình-Tiền và Danh-Vọng như trình bày trên là ba đối tượng của hạnh phúc con người. Ba thứ hấp lực nầy dẩy đưa cuộc sống của con người làm ảnh hưởng cả hướng đi của lịch sử nhân loại. Tóm lại, con người ước mong, tìm kiếm và chiếm hữu cho được Tình-Tiền-Tài, nhưng khi chiếm hữu được rồi, khi hưởng thụ được rồi, hỏi con người có được hạnh phúc sung sướng hay không? được thỏa mãn và an nghĩ bình yên không?
Nếu ta đọc kỹ lịch sử để coi cuộc sống của những danh nhân, những vị đã vang danh lưu thế, những người được tôn sùng là thần tượng, được thiên hạ cho là sung sướng nhất trên đời, hỏi họ có thực được hạnh phúc hay không?
Hay ta trở vào cuộc nhân sinh hiện tại hỏi những con người đang hưởng những gì mà ta mong muốn, hỏi họ có được mãn nguyện về những gì họ chiếm hữu và hưởng thụ không?
Câu trả lời là không!
Biết bao con người thời danh, sau khi chiếm hữu tất cả, hưởng thụ tất cả, cảm nghiệm cuộc sống trống vắng, thiếu thốn, tẻ nhạt, vô vị, chán ngán, thất vọng. Trong thế kỷ của chúng ta, biết bao ngững người thời danh đã chọn tự tử để kết thúc cuộc sống mà họ cảm nghiệm vô vị, và vô nghĩa! Tai sao thế?
Và cả chúng ta nữa, sớm hay muộn, rồi cũng có một ngày nào đó, vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống, sau bao nhiêu tranh đầu cam go, sau bao nhiêu tháng năm miệt mài trong gian khổ tìm kiếm, chiếm hữu, thu tích để có những gì ta mong muốn ước mơ,! Một ngày nào đó, chúng ta cảm thấy tâm hồn mình trống rỗng, thiếu nghèo nàn, băn khoăn, cảm nghiệm vị cay đắng sững sờ tràn chảy trong trái tim tăm tối bơ vơ, khi thấy rằng mình đã uổng công phí cả một đời đi tìm những ảo vọng trong một ốc đảo đầy mộng ảo!
Hình như có cái gì đó bất ổn đang thao thức trong tim? Hình như có nỗi lo âu nào đó đang canh cánh bên lòng? Hình như ước mong hạnh phúc chỉ là một giấc mơm, một giấc mơ thừa thãi, phi lý!
Nói thế, không có nghĩa chúng ta bi quan hóa cuộc đời! Những cảm nghiệm trên thật đúng đắn và cũng là khởi đầu cho một giai đoạn mới của con người đi truy tầm vào chân hạnh phúc!
Kết quả hình ảnh cho Trong Thế Giới Vô Thường photos

Trong Thế Giới Vô Thường

Mơ ước hạnh phúc mà con người cảm nghiệm trong đời là thực thụ và lành mạnh, chứ không phải là ảo tưởng. Chính Thiên Chúa đã gieo ước mơ hạnh phúc nơi trái tim con người khi Ngài cho mang thân phận làm người và đi vào hiện hữu. Những đối tượng của hạnh phúc như tiền-tình và danh vọng là những đối tưọng thực chứ không phải gỉa tướng. Ảo vọng là ở thái độ lầm tưởng của con người về cái nhìn vào thế giới. Con người đả quên là mình đang sống trong một thế vô thường, những gì con người mơ ước, tự bản chất có một gía trị, nhưng là gía trị tương đối. Sai lầm ở chỗ con người ôm lấy những gía trị tương đối mà nhận làm tuyệt đối. sống trong òng một thế giới vô thường, nghĩa là hữu hạn, chóng qua, thay đổi, nhất thời mà con người lầm tưởng rằng thế giới nầy và những đối tượng trong thế giới là tuyệt đối, vĩnh hằng. Những đối tượng hạnh phúc mà con người ảm nhiệm hôm nay có một gía trị tương đối, có tính cách nhất thời, giai đoạn giúp con người xử dụng chúng như những phương tiện, như người dùng chiếc đò để qua sông, một khi qua được bên kia bờ sông rồi, hãy bỏ chiếc đò để lên bến bờ chân thực. Con người không làm thế, trái lại, ôm lấy những thứ tương đối mà ngỡ là tuyệt đối vĩnh viễn: con người đã có thái độ lầm, ôm ấp những thứ tương đối trong lòng vô thường mà ngỡ là mình đã qua được sông Chân Lý Vĩnh Hằng!
Tóm lại, con người đã bám lấy phương tiện mà quên đi mục đích, đã bám lấy chiếc đò mà quên bước sang bên kia bờ bến mong đợi, cũng như Lý Thái Bạch thủa xưa nhảy xuống ôm bóng trăng dưới nước mả ngỡ là mình đang thiệt sư ôm măặt trăng! Khi Thiên Chúa tạo dựng nên con người và đặt vào lòng thế giới, Ngài đặt trong trái tim con người khát vọng hạnh phúc là để con người đi tìm chân hạnh phúc ở trên Trời, nơi quê hương vĩnh cữu. Con người thay vì hướng lòng về trời cao, thay vì đi tìm Chân-Thiện-Mỹ, là chính Thiên Chúa, Đấng Tạo-Hóa, Người Cha yêu thương, cùng đích của nhân nloại, con người lại ôm chặt lấy nhiên giới, thế giới hiện tượng của thay đổi của biến động của vật chất tương đối mà quên đi quê hương đích thực của mình. Nói khác đi, con người bám chặt vào chiếc đò, mà quên đi bờ bến bên kia, đó là lý do tại sao, sau khi chiếm hữu và hưởng thụ những đối tượng tình-tiền-danh vọng, con người cảm thấy thiếu thốn, chán chường âu lo và cay đáng. Thánh Augustinô đã cho ta một bằng chứng hùng hồn veề những cảm nghiệm cuộc đời của Ngài: sau một cuộc đời phiêu lưu tìm kiếm và hưởng thụ trong sa đoạ, Augustinô đã tìm được ánh sáng cứu rỗi và Ngài đã kêu lên những tiếng chân thật của một linh hồn khát khao chân lý và bình yên chân chính, Ngài viết lại trong cuốc sách tự thú những lời đáng qúi nầy:" Linh hồn tôi thao thức xao xuyến cho đến khi được yên nghĩ trong Chúa là Thiên Chúa chân thực của tôi"!( Confessions )
Kết quả hình ảnh cho Hạnh Phúc và Nước Mắt photos

Hạnh Phúc và Nước Mắt

Không thể chối bỏ được khát vọng hạnh phúc đang nung nấu trong trái tim con người, một trái tim luôn tìm kiếm, kêu van, luôn thét gào, luôn đòi hỏi, ngóng trông được lấp đầy, được thỏa mãn, được yên hàn, như thuyền tìm về bến đậu! Nhưng cũng không thể chạy trốn được nước mắt của khổ sầu đang bám sát thân phận làm người trong cuộc đời!Làm sao dung hòa được một đàng là khuynh hướng cố hữu, một đàng là thực tế phũ phàng của cuộc nhân sinh?
Một đàng khát mong kiếm tìm hạnh phúc, một đàng phải chuốc lấy chén đắng phiền muộn của cuộc sống?
Phải chăng Con Tạo có thói quen đánh ghen con người, như lời thơ Kiều của đại văn hào Nguyễn Du:
" Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng!
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen"
Khổ đau sầu muộn không riêng gì cho phận má hồng, nhưng cho chung tất cả con người, với tư cách là người sinh ra trên cõi trần ai!
Lamartine, một thi hài thời danh của Pháp, cho rằng con người phải khổ đau nơi trần thế, bởi vì con người là thiên thần gãy cánh, những trích tiên bị đày đọa dưới trần gian:
"Bordée dans sa nature,
infinie dans ses voeus
l' home c'est un dieu
qui se souvient des cieux"
" Hình hài tuy hữu hạn,
thị dục vẫn vô cùng,
người là tiên đọa lạc,
vẫn ước nhớ thiên cung"!
(Lời Việt Sảng-Đình dịch)
Đức Phật Thích Ca nhìn đau khổ như là thực thể oan khiên của nhân loại, đời là khổ, thực chất cuộc đời không gì hơn là cái bể khổ định mệnh. Chỉ có một con đường duy nhất muốn thoát khổ, con người phải tiêu diẹt mầm mống của nó tức là dục vọng, mà muốn diệt dục, có một cách hiệu nghiệm nhất, tức là thoát khỏi cuộc đời, vì đòi là cái vòng Luân-Hồi của khổ đau.
Kết quả hình ảnh cho cuộc sống trần gian photos
Thật ra, khổ đau chẳng phải vì Trời đày đọa con người, hay tại vì cuộc đời như số kiếp ác nghiệt, mà căn cơ của nước mắt sầu muộn là tại nơi ta, nơi ý-hệ, nơi tri thức, nơi cảm quan và hoài niệm của mỗi con người. Nói tóm lại, tại sự nhầm lẫn của mổi con người! Nói là nhầm lẫn, thực thế, con người được sinh ra, làm kiếp người trong môt thế giới vô thường, trong đó có những bậc thang gía trị: nghĩa là con người được bao vây, được mời gọi, được dun dủi, được cảm kích, rung cảm bởi những đối tượng, tự chúng có giá trị, nhưng là giá trị tương đối. Con người đang đối diện với những gía trị tương đối mà cứ ngỡ đó là những gì tuyệt đối, cố bám sát vào, cố ôm chặt lấy những tương đối cho như là tuyệt đối. Đàng khác, con người đang sống trong một thế giới vô-thường, đổi thay, biến chuyển, có đó rồi không đó: "sắc tức thị không, không tức thị sắc" mà tưởng chừng mình đang sống trong cõi vĩnh hằng, bất biến, đời đời viên mãm! Đau khổ khởi nguyên từ cái lầm to lớn đó! Đáng lẽ con người xử dụng những gì tương đối như phương tiện giúp cho đi tìm gía trị tuyệt đối, sống trong vô thường là để vươn chuẩn bị, sửa soạn, để vươn tâm hồn lên cõi vĩnh hằng! Con người đã khọng làm như thế, mà tráo biến tương đối thành tuyệt đối, vô thường làm vĩnh hằng! Con người quên rằgn cuộc đời là một hành trình là mỗi người chỉ là một lữ khách cô đơn! Nói cách khác, con người đau khổ vì đã quên đi tính cách tại thế của mình! Quên rằng trần gian là chốn lưu đày, mà cõi Trời mới là quê hương Vĩnh Cữu!
Kết quả hình ảnh cho Đức Phật  photos vo thuong
Tuy thế gian vô thường và cuộc hiện sinh và những đối tượng hạnh phúc trên trần gian có tính cách tương đối, nhưng tự bản chất không ảo tưởng, không phi lý, bởi vì cuộc đời tại thế là cơ hội duy nhất, là phương tiện duy nhất cho con người phải vượt qua để đạt tới những gì tuyệt đối trên cõi vĩnh hằng. Thế nên, cuộc hiện sinh trần thế, với những gì tương đối của nó vớn cần thiết và hữu ích cho con người. con người không thể tìm được Tuyệt-Đối mà không phải vươn qua cuộc đời vô thường và tương đối nầy! Đó cũng là ý của Thiên Chúa khi sáng tạo ra vũ trụ nhiên giới, và con người hiện sinh hữu hạn nầy! Con người cần qua trần gian mà về quê hương Vĩnh-Phúc là Nước-Trời. Con người thất vọng và cảm nghiệm khổ đau, bởi vì đã quên đi thân phận làm người hữu hạn, sống trong lòng những tương đối giữa một thế giới vô thường! Con người phải bước qua Vĩnh Hằng bằng con đường vô thương, và chỉ đạt tới Tuyệt Đối qua ngã đường tương đối. Tương đối và vô thường có phận vụ như chiếc đò dùng để qua sông Tuyệt-Đối và cõi Vĩnh-Hằng là "Đáo-Bỉ-Ngạn", là Bên-Kia-Bến-Bờ, nói theo ngôn từ nhà Phật. Tuy vô thường và tương đối của những gía trị trần gian, nhưng vô cùng cần thiết cho con người, thiếu nó, con người không thể đạt tới cùng đích của đời mình.
Những giọt nước mắt, những sầu muôn của cuộc sống hiện tại là cần thiết, và như điều kiện tất yếu để con người có thể đạt đến chân hạnh phúc. Vậy chấp nhận nước mắt cũng là thái độ đương nhiên để cảm nghiện được niềm hạnh phúc vô biên của ngày mai nơi quê hương vĩnh hằng! 
Kết quả hình ảnh cho Thực Tại Và Ảo Tưởng photos

Thực Tại Và Ảo Tưởng

Bàn về vấn đề hạnh phúc và đau khổ của con người mà không đề cập đến" ảo tưởng và thực tại, thật là một thiếu sót đáng tiếc. Con người sống trên đời, hành trình giữa cuộc đời cũng giống như người lữ hành trong sa mạc! Sau những ngày dài lê bước chân miệt mài trên cát nóng bỏng, người lữ khách cảm thấy mệt mỏi kiệt sức và khát nước! Tâm trí người lữ khách bị ám ảnh bởi một nhu cầu: có thức ăn, nước ống và được nghĩ ngơi. Từ não trạng ước muốn thèm khát đó, con mắt của người lữ hành tìm kiếm về phía trước và họ đã thấy hình ảnh của những ốc-đảo “Oasis", thiên đàng mà họ mong muốn! Nhưng than ôi! Những "ốc-đảo" kia chỉ là những gỉa tướng, những huyền hoặc do trí tưởng mù loà tạo nên để đánh lừa lữ khách mà thôi. Nếu không qúa đặt nặng niềm hy vọng vào những thiên đàng"ốc-đảo", chắc người lữ hành đã không đến nỗi tuyệt vọng, khổ đau, để còn bảo toàn sinh lực cho cuộc hành trình!
Cũng thế, mang thân phận làm người, bị bao vây bởi những gía trị tương đối, giữa cuộc đời trôi nổi vô thường, nay có mai không, đổi thay không ngừng, chúng ta lại mộng tưởng nắm chắc được tuyệt đối vĩnh hằng, ngỡ là mình đã chiếm được thiên đàng hạ giới! Đó là căn cơ gây nên khổ đau, tạo nên thất vọng và khơi ngườn những đắng cay phiền muộn. Những đam mê , những cuồng vọng làm phát sinh những khái niệm, những vọng tưởng, những thâm tín sai quấy làm lêch lạc cái nhìn đúng đắn và đường hướng chân thực đưa ta đối dieện với thực tại của cuộc sống và định mệnh trần gian của ta: con người là lữ khách cô đơn và cuộc đời chỉ là một cuộc hành trình gian khổ, là chốn lưu đày đang tiến về miền "đất-hứa".
Hạnh phúc chân thực là khi ta nhận chân được gía trị lữ hành của mình, nghĩa là nhận chân được gía trị tương đối của cuộc sống trần gian và những hạnh phúc tương đối ta tìm được suốt dọc cuộc hành trình. Cuộc đời ta không chỉ là hôm nay và bây giờ thôi, còn có một cái gì nữa đang đến, sẽ đến, đang và sẽ chờ đợi chúng ta. Có một lời nào đó đang vang vọng trong sâu thẳm lòng của mỗi người rằng: đừng bỏ cuộc, đừng ngường bước tìm kiếm, đừng thôi bước hành trình, những hạnh phúc, những vui thú trần gian sẽ chóng qua, sẽ tàn lụi, đừng đặt hết trái tim và ý chí vào đó, hãy tiếp tục hành trình, những cảm nghiệm hạnh phúc trần gian chỉ là những bông hoa dại, những quán trọ phù sinh bên đường! Biết phân biệt, chân nhận được sự khác biệt giữa quê hương và chốn lưu đày, mái ấm gia đình và quán trọ, mới là thái độ sáng suốt của người lữ khách!

    Thánh Ca | Sống Trong Niềm Vui - Video    

-    LM Nguyễn Sang      

Thiên Đàng Chớm Nở Nơi Dương Thế

Nói rằng bản chất trần thế là vô-thường, giá trị cuộc đời là tương đối không có nghĩa là phủ nhận những niềm vui, những hạnh phúc mà con người cảm nhiệm trong cuộc sống! Vâng có những niềm vui sướng hạnh phúc thật sự trong đời, bởi vì Thiên Chúa vẫn hiện hữu trong lòng trần thế, bởi vì thiên đàng đang chớm nở ngay giữa cõi nhân gian,và tuyệt đối đang ngự trị trong lòng tương đối, vĩnh hằng đang nẩy mầm giữa chốn vô thường! Thái độ của con người là phải nhập cuộc, là mở rộng vòng tay ôm trọn cuộc đời như một thử thách, như một chiến đấu, một chạy đua có nghĩa lý, có mục đích! Bởi vì số kiếp của con người ngày mai ra sao là tuỳ thuộc vào thái độ tích cực phấn đấu của con người trong hiện tại. Như Chúa Kitô Cứu-Thế đã đi vào đời bằng cách sinh ra trong gia đình nhân loại nghèo khó khốn khổ, Ngài đã hành trình thực thi sứ mệnh cứu thế bằng cuộc tử nạn, sau cùng Ngài đã sống lại khải hoàn về trời vinh quang, thì con người chúng ta cũng bắt chước Chúa, sinh vào cuộc đời, chấp nhận thân phận làm người, với những nỗi vui buồn sướg khổ, những thành công thất bại, cuối cùng ta cũng chịu đóng đinh con người cũ, con ngườ thế tục của mình vào thập gía, chịu mai táng trong phận mộ, chết đi cho thế gian, cho xác thịt cho tội lụy đọa đày, để rồi sống lại với Chúa Kitô về Quê trời trong quang vinh của Thiên Chúa!
 
       Rev.Nguyễn Quốc Hải, Ph.D      


Kết quả hình ảnh cho Một Đời Tìm Kiếm photos
Kết quả hình ảnh cho hấp lực của tình yêu photos
 
                    Quỳnh Nga sưu tầm và tổng hợp                    

                         Ảnh minh họa (Internet)                           
 
Kết quả hình ảnh cho cuộc sống trần gian photos
Kết quả hình ảnh cho cuộc sống trần gian photos

" Giấc Mơ Mỹ "

Kết quả hình ảnh cho Live the American Dream photos

           " Giấc Mơ Mỹ "            


Hình minh họa.
 

Con người trên trái đất này có thể nhìn nước Mỹ dưới nhiều con mắt khác nhau, thương yêu, ghét bỏ hay thù hận, nhưng tự trong thâm tâm, ai cũng có một giấc mơ, một ngày kia, được đến sinh sống ở Mỹ. Chắc hẳn ngày nay không ai có ảo tưởng là ở Mỹ, người ta có thể nhặt đồng đô la trên đường phố một cách dễ dàng hay có một đời sống giàu sang sung sướng, nhưng tất cả đều có một cái nhìn chung là nước Mỹ cho ta nhiều cơ hội để thăng tiến, mà không bị giới hạn bởi chủng tộc, gốc gác, tôn giáo hay giới tính của mình.

Image result for Giấc Mơ Mỹ photos

Ngày nay, số người Việt Nam mong muốn sang Mỹ và mong có cơ hội trở thành thường trú nhân luôn là một con số rất cao, từ chuyện du học, nhập cư theo đường hôn nhân đến diện đầu tư. Cả những nhân vật trong chính quyền và đảng viên Cộng Sản cũng muốn tìm cách bắc một đầu cầu, để trong tương lai, cả gia đình có thể “đổ bộ” lên đất Mỹ một cách hợp pháp. Các bà bầu Trung Cộng và bây giờ đến đàn bà Việt Nam, nếu có phương tiện cũng tìm cách vào Mỹ ấp trứng, và chờ ngày sinh nở một đứa con mang quốc tịch Mỹ.

Thời gian qua, dư luận trong nước xôn xao việc ông Trương Đình Anh, nguyên Tổng Giám đốc tập đoàn viễn thông FPT, đã đưa cả gia đình sang Mỹ định cư. Ông cựu thủ tướng trước đó cũng đã có con gái mang quốc tịch Mỹ…

Những gia đình này chắc chắn không nghĩ rằng sang Mỹ để kiếm tiền hay tị nạn chính trị, vì thời nay, còn có những trường hợp tị nạn văn hóa hay tị nạn giáo dục, và ai cũng biết rằng nước Mỹ là nơi các thế hệ con cháu họ lớn lên, nhận được một nền giáo dục tốt và sau đó là nghề nghiệp tốt do nền giáo dục đó mang lại.

Kết quả hình ảnh cho american Dream photos

Những nhà khai quốc Hoa Kỳ đã dùng thành ngữ “cuộc sống, tự do, và sự mưu cầu hạnh phúc.” Di dân có nhiều cơ hội để đạt được sự thành công về mặt vật chất lớn lao hơn là có thể có được tại quốc gia gốc gác của mình.

Khốn nỗi, theo một khảo sát mới đây của tổ chức New Economics Foundation, khảo sát về chỉ số hạnh phúc, Hoa Kỳ đứng thứ 108 trong khi Việt Nam đứng thứ 5 trong 10 “top ten” trong số 140 quốc gia. Vậy mà, mỗi năm có gần trăm nghìn người rời Việt Nam đi định cư, đông nhất vẫn là đến Mỹ và một số nhỏ ở các nước khác.

Những ngày hỗn loạn vào thời điểm 30 tháng 4-1975 và sau đó, nhiều người chống Cộng Sản và đã bị Cộng Sản cầm tù và bạc đãi, chỉ có một con đường duy nhất là đến Hoa Kỳ để được nương thân và cật lực làm việc để sống còn. Nhưng sau đó có những đợt di dân, bảo lãnh sum họp gia đình, không còn thấy đây là “Giấc Mơ Mỹ” nữa. Đây là những người đang sống sung sướng giàu có ở Việt Nam, hay đang nhờ đồng tiền “mồ hôi, nước mắt” của thân nhân ở ngoại quốc. Ở Việt Nam, họ ăn không ngồi rồi, nhà đôi khi có một hai người giúp việc, không bận lòng vì sinh kế, lại sống giữa cộng đồng người Việt quen thuộc, gần gũi, chung cùng văn hóa, không trở ngại chuyện ngôn ngữ, nhất là những vị cao niên.

Không thiếu những bà mẹ được con cái bảo lãnh sang Mỹ, nằng nặc đòi về. Ở Mỹ chẳng có lối xóm, bạn bè gần gũi, cũng chẳng có xích-lô, xe ôm, không biết lái xe được coi như què. Có người hiến kế mua cho bà một chương trình TV tiếng Việt, chiếu suốt 24 giờ cho bà có bè bạn, đỡ cô đơn. Tôi có một vị thầy cũ cũng ở trường hợp trên, cuối cùng đám học sinh phải xúm lại năn nỉ, cuối cùng thầy mới nguôi ngoai, nhưng cuộc sống trên xứ Mỹ này chắc không được vui đối với một người không thấy đây là chuyện cấp bách sống còn và sống là sống như thế nào?

Kết quả hình ảnh cho living in american dream photos

Bây giờ trên đất Mỹ, người Việt giàu có, sung túc, với những ngôi nhà bạc triệu, xe hơi đắt tiền, nhưng những điều này không do may mắn, hay mánh mung mà bắt đầu bằng những nỗi cơ cực trong những ngày đầu chân ướt chân ráo đến đây. Có người dậy từ lúc 4 giờ sáng trong buổi sáng mùa Đông giá rét để đi một “round” bỏ báo, ngồi trong shop may để cắt chỉ, đơm khuy với đồng lương rẻ mạt. Có những gia đình làm nghề may, đêm tối mỏi mệt, gục đầu ngủ thiếp trên bàn may. Thời gian bắt đầu, có những người đến sở làm bằng hai ba chuyến xe bus, có khi phải đứng chờ chuyến xe giữa trời tuyết đổ, lạnh dưới độ âm.

Ông anh rễ tôi bảo lãnh cho cô em gái vượt biển từ đảo sang. Buổi chiều, thấy ông anh đi làm về sau một ngày đi cắt cỏ, mặt mày hốc hác, quần jean, áo bò bẩn thỉu, tay xách cái lunch-box đựng cơm trưa, bất giác cô em than:

- “Tưởng anh qua Mỹ làm gì, đâu có ngờ thấy anh tồi tàn như vậy!

Nhờ cuộc đời chịu thương, chịu khó như vậy, phần lo cho con cái ăn học nên người, phần lo giúp đỡ cho gia đình còn kẹt lại ở quê nhà, nhưng ngày nay những gia đình này đã thành công vượt bực, con cái thành tài, nhà cao cửa rộng. Thấy những “Việt kiều” áo gấm về làng, đừng nghĩ rằng ở Mỹ, họ thong dong nằm chơi hốt bạc. Ngày nay không những những người đến Mỹ được cơm no, áo ấm mà có một đời sống tự do, hạnh phúc, nhân phẩm được tôn trọng, sinh mạng con người được bảo đảm, có cơ hội thăng tiến cho mọi người. Như vậy, đừng nên chỉ nghĩ đến hai chữ “đô la” khi muốn đến Mỹ, tạo Giấc Mơ Mỹ cho mình và gia đình.

Kết quả hình ảnh cho american Dream photos

Nhà văn kiêm sử gia James Truslow Adams đã dùng danh từ "Giấc mơ Mỹ" trong cuốn sách xuất bản năm 1931 của ông có tựa đề là Epic of America (Thiên Anh Hùng Ca Mỹ Quốc):

"Giấc mơ Mỹ là giấc mơ của một vùng đất mà ở đó cuộc sống đáng tốt đẹp hơn, giàu có hơn và đầy đủ hơn cho mọi người. Ở đó mỗi người có cơ hội theo khả năng hoặc thành tựu của mình. Đấy là một giấc mơ khó khăn cho tầng lớp thượng lưu châu Âu diễn giải đầy đủ, và cũng thật khó khăn cho tất cả chính chúng ta những người càng ngày ngờ vực và không tin tưởng vào nó. Nó không phải là một giấc mơ về các loại xe hơi hay đơn thuần là tiền lương cao, nhưng là một giấc mơ về trật tự xã hội mà trong đó mọi đàn ông và đàn bà sẽ có thể đạt được tầm vóc đầy đủ cái khả năng bẩm sinh của mình, và được những người khác công nhận họ vì những gì của chính họ, không phân biệt môi trường hoàn cảnh sinh ra hay địa vị ngẫu nhiên của họ."

Nước Mỹ chỉ mới thành lập hơn 500 năm (Cristoforo Colombo đến châu Mỹ năm 1492) ngày nay là một cường quốc về kinh tế, quân sự, lãnh đạo cả thế giới. Hơn thế nữa, có thể nói là là một vùng đất của ước mơ, của cơ hội và mọi người trên quả địa cầu này đều muốn đến sống nơi đây. Phải chăng tất cả đều nằm trong câu cuối của lời tuyên thệ trung thành với nước Mỹ, “với tự do và công lý cho tất cả mọi người!”

Related image

Đất nước chúng ta từ hơn bốn mươi năm nay, không có tự do, mà cũng chẳng hề có công lý. Nước Mỹ là đồng minh của miền Nam nhưng được xem là cựu thù của miền Bắc, và giờ đây, chuyện mơ ước được đến định cư tại Mỹ của người Việt Nam như là một cơn sốt.

Xin hãy đến đây “những kẻ mệt mỏi, nghèo đói,” “những người vô gia cư, dập vùi trong bão tố…” như những lời thơ của thi sĩ Emma Lazarus khắc dưới chân Nữ Thần Tự Do bên bờ biển New York.

Nước Mỹ có thể gọi là Thiên Đường, nhưng là một chốn Thiên Đường cần lao và trí tuệ, là đất cơ hội của nỗ lực, chứ không phải cơ hội của băng đảng, mánh mung.

Ngày nay những ông Vương, ông Li ở Trung Cộng, hay những ông Nguyễn, ông Trần ở Việt Nam, đều mang “Giấc Mơ Mỹ” như ước mơ của ông Li, một người có ở Bắc Kinh đã phát biểu: “Những giá trị của sự Tự Do, Bình Đẳng, Độc Lập và Dân Chủ đã lôi cuốn tôi. Tôi hy vọng con cái mình sẽ được nuôi dưỡng và trưởng thành trong môi trường ấy!”

Môi trường đó không tìm thấy ở Trung Cộng hay ở Việt Nam, là những nước tiêu biểu cho chủ nghĩa Cộng Sản hiện nay.

  • 16x9 Image

    Huy Phương - VOA

    Nhà báo Huy Phương nguyên là một Sĩ Quan Thông Tin & Báo Chí VNCH, một người tù trong các trại tập trung của CS bảy năm sau 1975, lưu vong tại Mỹ từ năm 1990. Tại Hoa Kỳ, ông là tác giả 12 tác phẩm văn thơ, hiện cộng tác với Người Việt, Hệ Thống SàiGòn Nhỏ và Báo Trẻ, Thời Báo (Canada), đài Phát thanh Việt Nam (Oklahoma) và đài truyền hình SBTN tại Hoa Kỳ, sở trường với thể loại tạp ghi, viết về sinh hoạt và tâm tình của người Việt trên đất Mỹ.

     

                Dr. Chu Bá Kiên DDS sưu tầm             


    Ảnh minh họa

     

  • Related image
    Chu Bá Kiên
     
Theo dõi RSS này