Văn học

Văn học (92)

Những bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay nhất

Image result for hoa phuong  banners photos

            PHƯỢNG HỒNG - Tiếng hát VŨ KHANH            

 
 
Image result for hoa phuong NẮNG HẠ  photos
 
Hoa phượng gắn liền với tên gọi “Hoa học trò” mà ai đó đã gọi một cách trìu mến và thân thương. Có lẽ vì phượng đã quá gần gũi và thân thuộc, bởi phượng đơm hoa là báo hiệu mùa hè sắp đến. Cô học sinh nhỏ sớm nay chợt giật mình: “Phượng nở rồi sao?”.
Và đâu đó hình ảnh “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng” liệu có dần trở thành cổ tích? Hoa phượng loài hoa của tuổi học trò
“Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng.
Em chở mùa hè của tôi đi đâu.
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám.
Tuổi chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu”.
Tên “phượng vĩ” là chữ ghép Hán Việt – “phượng vỹ” có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng.
 
Image result for hoa phuong NẮNG HẠ  photos
 
Những bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay nhất là tổng hợp những bài văn hay nhất miêu tả về vẻ đẹp của cây phượng và hoa phượng. Cây phượng và hoa phượng là hình ảnh quen thuộc, gắn liền với tuổi học trò, hoa phượng nở báo hiệu ngày hè sắp đến. Các bạn có thể tham khảo những bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay nhất dưới đây để viết ra những bài văn hay nhất về hình ảnh cây phượng của riêng mình nhé.
 
bai van ta cay phuong
 
Văn tả cây phượng, hoa phượng hay nhất
 
Đối với bài văn tả cây phượng thì các bạn học sinh cần xác định được cây phượng thuộc loại cây gì, sử dụng các giác quan để có thể miêu tả đặc điểm của cây phượng từ thân, hoa, lá, cành, rễ như thế nào. Như vậy, bài văn miêu tả cây phượng của bạn mới hay và hấp dẫn, được giáo viên đánh giá cao.
 
  Những bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay nhất  
 
Sau đây là những bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay nhất sẽ giúp bạn biết cách viết các phần của một bài văn: mở bài tả cây phượng, kết bài tả cây phượng và thân bài và viết bài hoàn chỉnh.
 
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay số 1
Hoa phượng - Một màu đỏ tinh khiết của nắng và gió
 
bai van ta hoa phuong
 
Nhắc đến hoa phượng, ta không thể quên được một màu đỏ rực rỡ của nó - một màu đỏ nhờ sự tinh khiết của gió, nắng, nóng của thiên nhiên vào mùa hạ.
Đài hoa ôm lấy bông như một người mẹ che chở cho con thân yêu của mình. Bên trong lớp đài hoa là cánh, cánh hoa phượng đỏ, mỏng manh nhưng chính nó đã tạo nên vẻ đẹp tươi xinh cho mỗi bông hoa phượng. Trong lòng hoa là nhuỵ đỏ, chứa mật và phấn, mật hoa cho những chú ông bé nhỏ, chăm chỉ tới hút. Vào khoảng giữa tháng năm, tiếng ve sầu kêu râm ran, liên miên trên những tán lá phượng vĩ, báo hiệu mùa hè tới, thôi thúc học trò chúng tôi phải chuyên tâm học hành đạt được những kết quả cao trong học tập.
 
Những buổi trưa hè nắng nóng, những giờ ra chơi oi bức vì nô đùa, phượng như một cái ô che mát cho chúng tôi. Đứng dưới cây phượng, nhìn lên bầu trời dường như ta không thể nhìn thấy những gợn mây trong xanh mà chỉ thấy trong những tán lá phượng xum xuê một màu xanh và lốm đốm nhiều một màu đỏ của hoa phượng. Tia nắng vàng xuyên qua tán lá và để lại bóng hình của hoa phượng dưới mặt đất. Vào đầu tháng sáu, lũ học trò chúng tôi vui vẻ, sửa soạn về nhà, sung sướng đón chào một mùa hè thú vị. Nhưng không ít tiếng khóc sụt sùi phải xa mái trường, xa thầy cô, xa ban bè và xa những kỉ niệm dưới ngôi trường thân yêu, dưới gốc phượng bơ vơ giữa sân trường, bơ vơ giữa biển nắng vàng.
 
Hoa phượng buồn khi phải xa học trò, thỉnh thoảng có những cơn gió nhẹ thổi qua, lại một cơn hoa rụng... Ba tháng hè trôi qua đằng đẵng, không một tiếng cười nói, không tiếng trống, phượng trống vắng. Phượng vẫn thả những cánh son đỏ xuống sân trường, phượng vẫn đếm từng giây từng phút khi xa học sinh. Ba tháng hè trôi qua, ngày khai giảng lại về. Phượng mong nhớ, chờ đợi để được gặp lại các bạn học sinh.
 
Những học sinh cũ đến thăm trường, họ rỏ những giọt lệ bé nhỏ. Những giọt lệ ấy chứa đầy sự nhớ thương mái trường, thầy cô, nhớ bạn bè, nhớ những kỷ niệm thân thương dưới gốc phượng và nhớ phượng...Trong tâm hồn họ chứa đầy kỷ niệm, chứa một màu đỏ thân thương của hoa phượng. Hoa phượng đón chào các bạn cũ và vui vẻ chờ đợi gương mặt mới của trường. Đâu đâu cũng có tiếng cười nói vui vẻ, hoa phượng mừng rỡ, hoa phượng khóc nhưng là tiếng khóc chứa đầy niềm vui, nỗi buồn của phượng đã được chia sẻ phần nào.
 
Giữa mùa thu, hoa phượng đã tàn, những chiếc lá vàng úa rụng đầy dưới sân trường. Học sinh buồn, không được nghe thấy, nhìn thấy và ngắm hoa phượng nhiều. Hoa phượng chỉ nở vào mùa hè thì biết cho ai ngắm? Hoa phượng như một người bạn vô hình, để lại những kỷ niệm thời áo trắng. Tôi yêu hoa phượng - loài hoa học trò thân thương.
 
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay số 2
Phượng đến từ câu chuyện cổ tích bà kể
bai van ta ve cay phuong
Trời chớm hè trong xanh, một màu xanh mượt mà của cỏ cây, hoa lá. Làn gió nhè nhẹ thoảng qua, cây phượng ở góc sân trường rùng mình đánh thức những búp non tỉnh giấc. Phượng cùng lũ học trò chúng tôi đón mùa hè tươi đẹp đã về. Và có lẽ đây là loài cây tôi yêu thích nhất.
 
Mới ngày nào, cây phượng có những cành trụi lá. Nhìn cây trông như không còn sức sống. Một dạo không để ý, hôm nay nhìn cây phượng tôi thật sự bàng hoàng. Tán lá xòe ra như cái ô khổng lồ che mát một góc sân trường. Cây phượng bắt đầu thắp lửa rồi! Lúc này tôi sực nhớ: Hè đã đến!
 
Những ngày đầu hè, phượng lác đác những bông hoa như cánh bướm. Sau đó, nhiều đóa lung linh, lung linh từng chùm rồi rực rỡ khắp cành. Muôn vàn búp nõn là muôn vàn bông hoa rực đỏ. Nhìn những chùm hoa trên cành, tôi nhớ câu chuyện kể của bà: Ngày xưa, khi mặt đất còn lạnh lẽo, Ngọc Hoàng đã đưa các con mình xuống trần gian để sưởi ấm cho muôn loài. Nhưng các con ngài bị kẻ ác đe dọa, Ngọc Hoàng bèn chọn cây phượng để treo Mặt Trời, phượng là nơi các con Ngài trú ngụ.
 
Ôi! Phượng có một quá khứ tuyệt vời. Quá khứ vinh quang, hào hùng và đáng yêu đến thế!... Tôi yêu những nụ hoa vừa hé. Yêu những bông hoa nở rộ và yêu những cánh hoa lác đác bay nghiêng. Tôi yêu cái gốc cây sần sùi, bạc phếch, nơi học trò chúng tôi thích đến tụm bảy, tụm năm. Có lúc chúng tôi khắc tên nhau lên chiếc áo nâu sần giản dị ấy, rồi những lúc ngước nhìn lên cây để đón hoa rơi.
 
Và sự mong chờ đón đợi cũng đến. Hoa lác đác rụng xuống sân trường, hoa thản nhiên rơi xuống đất, không chút do dự vẩn vơ, có hoa tung tăng bay lượn với làn gió nhẹ. Có hoa còn lưu luyến khi phải xa cành. Có lẽ hoa cũng giống chúng tôi trong giờ phút chia tay, giờ phút xa trường, xa lớp vì đã kết thúc năm học. Những lúc ấy, ai cũng có sắc hoa nằm ở trong tâm hồn.
Cứ như thế, hoa phượng thả những cánh hoa son xuống cỏ, đến từng giây phút xa các bạn học trò. Hoa phượng rơi, rơi...Hoa phượng rạt rào, lay động khi các bạn đã về. Hoa phượng yêu chúng tôi đến thế. Tôi cũng yêu hoa phượng biết nhường nào. Cây phượng đã hằn sâu trong kí ức tôi, làm cho tôi thêm gắn bó với trường, với lớp.
 
Những ngày hè, cổng trường khép kín. Trường vắng lặng, không tiếng trống, không tiếng vui đùa. Cây phượng cô đơn giữa không gian yên ắng. Tôi vui với mùa hè nhưng không sao quên được mái trường yêu dấu, nơi đó có cây phượng trầm ngâm đứng đợi mỗi ngày...Tôi nhớ từng cành cây, kẽ lá, nhớ từng nụ hoa, từng cánh hoa lác đác dưới sân trường. Tôi nhớ những chiều xuân hửng ấm, chúng tôi tụm nhau dưới gốc cây để chuyện trò. Tôi muốn tìm lại nơi đây giữa những ngày hè xa vắng.
 
Ôi, cây phượng thật đáng yêu, thật giản dị và cũng thật rực rỡ, phượng hãy đứng đấy để làm vui cho cảnh trường. Phượng đã tô điểm cho cảnh trường thêm đẹp. Đối với tôi, phượng là loài hoa đẹp nhất.
 
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay số 3
Cây phượng già trường em
 
bai van ta hoa phuong do
 
Đứng bên cổng trường em là cây phượng già. Một buổi trưa tháng năm, em ngồi dưới gốc phượng, ngắm nhìn những đóa hoa thắm tươi như báo hiệu một mùa hè nữa lại bắt đầu.
 
Cây phượng đã già lắm rồi, nghe bác bảo vệ kể lại, ngày xây dựng ngôi trường này, thầy hiệu trưởng đã trồng cây phượng làm kỷ niệm. Hai mươi năm trôi qua, cây phượng đã hai mươi tuổi. Cây đứng giang rộng cánh tay che chở cho chúng em dưới bóng mát của mình. Dưới gốc phượng, một cái rễ lớn, ngoằn ngoèo uốn lượn trông như con rắn đang trườn. Lớp da phong sương bạc phếch của phượng trông như màu đất ải. Quanh gốc cây giờ đã được xây một cái vòng tròn có đường kính năm mét. Bờ gạch xây giữ đất gốc được láng xi măng cho chúng em ngồi chơi.
 
Buổi trưa ngồi trên bờ gạch, chúng em thích thú ngắm cây phượng tỏa bóng mát cho sân chơi. Cái thân nó đẫy đà vòng tay của em, sần sùi, cằn cỗi. Phần dưới gốc tròn vo làm ta ngỡ nó sẽ cao vút lên nhưng không, chỉ khoảng hơn hai mét là nó phân ra làm hai, rồi từ hai phần thân ấy các cành đua nhau mọc ra xiên chéo lên, đâm xòe về các phía. Tán phượng xòe rộng ra như một cái ô che mát cả một góc sân, chim đậu làm tổ trên đó, suốt ngày đua nhau hót líu lo. Từ những cành nhánh, lá phượng xòe ra với một bộ xương lá đều đặn đối xứng nhau. Trên các xương lá đó các phiến lá lại xòe ra đối xứng.
 
Giữa vùng trời mênh mông, giữa đám lá xanh um, những đóa phượng nổi bật lên, rực lửa kiêu sa dưới ánh nắng hạ; tươi mát dịu dàng vào những buổi chiều tắt nắng; xinh xắn dễ thương vào những buổi sáng trong mát. Bây giờ đang mùa hè, các cành nở bung chùm hoa như lửa đỏ chói chang. Mỗi cánh hoa như cánh bướm bay. Một chùm hoa trong gió như bướm kết chùm lại. Hè còn về là phượng còn nở, là còn một khung trời trong sáng dành cho tuổi thơ, là còn những trang lưu bút với những dòng chữ xinh xắn, với lời lẽ ngây thơ nhưng chứa chan biết bao cảm xúc.
 
Bỗng nhiên không khí chợt xôn xao hẳn lên khi trên tán cây con ve sầu cất tiếng. Tiếng ve inh ỏi. Một con ve kêu, hai con ve kêu... cả một dàn nhạc ve sầu lên tiếng. Tán phượng say nồng những cành mềm rung rinh màu lá xanh hoa đỏ. Sau mùa thi cử, những cánh bướm làm bằng hoa phượng lại bay lượn trong các quyển lưu bút học trò. Bóng tán lá xanh sáng hôm nay bỗng hừng hực sắc đỏ nôn nao. Sắc đỏ nhập nhòa trong tâm trí em dòng mực đỏ lời phê, điểm số của thầy giáo, cô giáo, sắc đỏ của hoa phượng bên màu đỏ mái ngói ngôi trường như thì thầm nói: Mùa nghỉ hè nữa lại về.
 
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng số 4
Hình ảnh cây phượng đang vào mùa hoa đã khắc sâu trong tâm trí em
nhung bai van ta cay phuong hoa phuong hay nhat
Hằng năm, đến độ cuối xuân, học sinh chúng em lại được làm bạn với hoa phượng. Cây phượng ở góc sân trường em đã làm vui cho cảnh vật ngày hè. Và có lẽ, đây là loài cây em yêu nhất.
 
Cây phượng khá to. Dưới gốc, hai cánh tay em ôm mới xuể. Thời gian đã khoác lên cây chiếc áo nâu sần sùi. Lá phượng xòe ra, mềm mại, hao hao giống lá me. Tán lá như một chiếc ô lớn che mát một khoảng trời nho nhỏ. Cành phượng uyển chuyển, lung linh những chùm hoa đỏ thắm. Mỗi bông hoa như ngọn đèn đỏ thắp trong lùm cây xanh thẫm. Nhưng phượng ở đây không chỉ một đóa, không phải vài hoa, mà phượng nở từng chùm, từng cành bóng bẫy như chứa lửa, chứa nắng. Gặp làn gió nhẹ, từng nhụy hoa mang túi phấn rung rinh trông như đàn bướm thắm đang rập rờn trong vòm lá xanh non.
 
Thỉnh thoảng, những đóa hoa lìa cành ngập ngừng bay nghiêng theo chiều gió rồi lả tả rơi dưới góc sân trường. Trên cành cao, ve kêu ra rả, chim chóc đua nhau chuyền cành, dường như chúng cũng bâng khuâng trước màu hoa phượng. Dưới bóng cây râm mát ấy, chúng em tụm nhau để chơi chọi gà, có bạn tung tăng chạy theo những đóa hoa bay. Có lúc em thầm hỏi: "Phượng ơi! Cây có từ bao giờ mà đẹp đến thế?". Nhìn thấy hoa phượng nở mà lòng em thêm rạo rực, phơi phới niềm vui. Phượng gợi nhắc mùa thi sắp đến, mùa hè đã về, mùa gặt hái kết quả học tập của tất cả học sinh.
 
Hình ảnh cây phượng đang vào mùa hoa đã khắc sâu trong tâm trí em. Rồi đây, chúng em sẽ xa ngôi trường thân yêu này, xa cây phượng vĩ ở góc sân trường đã chứa chan biết bao nhiêu kỉ niệm. Dù có đi đâu, về đâu chúng em vẫn nhớ mãi ngôi trường thuở ấu thơ, nơi có biết bao bè bạn thân thương, có bao thầy cô sớm hôm chăm sóc và có cây phượng trầm ngâm đang đứng đợi mỗi ngày.
 
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay nhất số 5
Hoa học trò - Cách gọi hoa phượng trìu mến và thân thương
 
nhung bai van ta cay phuong hoa phuong hay nhat 2
 
Hoa phượng gắn liền với tuổi học trò
 
"Hoa học trò". Ai đó đã gọi hoa phượng một cách trìu mến và thân thương như vậy. Có lẽ vì phượng đã quá gần gũi và thân thuộc với lứa tuổi học trò, phượng đơm hoa là báo hiệu mùa hè sắp đến.
 
Không biết cây phượng đã được trồng tự bao giờ. Em chỉ biết ngày đầu tiên bước vào lớp một đã thấy nó đứng sừng sững giữa sân trường. Nó như một người bạn lâu năm gắn bó với mái trường. Nhìn từ xa, cây phượng tựa chiếc ô xanh mát rượi, che rợp cả một khoảng sân. Thân cây to cỡ hai vòng tay của bạn học sinh. Vỏ cây sần sùi nhiều mấu, thời gian đã phủ lên nó một màu nâu bạc dầu dãi nắng mưa. Những chiếc rễ lớn ngoằn ngoèo nổi gồ ghề trên mặt đất. Từ thân cây toả ra nhiều cành như những cánh tay giang rộng đón làn gió mát.
 
Lá phượng xanh um, mát rượi, mượt mà như lá me non. Những chiếc lá mọc song song hai bên cuống, trông như đuôi chim phượng. Hoa phượng có năm cánh, mềm như nhung. Nhuỵ hoa dài và cong. Nhờ vào tán lá rộng của cây phượng, chúng em có nơi chuyện trò, ôn bài, thư giãn sau những giờ học căng thẳng. Mùa huy hoàng của phượng, đó là lúc được thoả sức khoe màu đỏ của hoa phượng lên nền trời xanh bao la. Đó là mùa hè. Lúc này, hoa phượng sáng rực cả một góc trời nhờ vào sắc đỏ của hoa được kết thành những tán lớn. Mùa hoa phượng nở cũng là lúc những nhạc công "ve sầu" râm ran tiếng hát.
Rồi mùa hè đi qua, trên mặt sân lả tả sắc màu đỏ của những cánh phượng rơi. Trên cành cây bắt đầu xuất hiện những trái phượng non dài và mỏng. Mùa hoa phượng rạo rực đã kết thúc. Cây phượng già lại trở về với dáng vẻ thân quen vốn có hàng ngày, vẫn tiếp tục hân hoan chào đón chúng em tung tăng cắp sách đến trường.
 
Em yêu trường em bởi những nét đẹp thiên nhiên bình dị, yêu cây phượng gắn với hình ảnh mùa hè như người bạn nhỏ thân quen. Mãi mãi hình ảnh ấy cùng thầy, cô, bè bạn vẫn sống trong lòng em với ký ức đẹp đẽ nhất.
 
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng số 6
Hoa phượng báo hiệu mùa hè
 
nhung bai van ta cay phuong hoa phuong hay nhat 3
Giữa sân trường tôi sừng sững một cây phượng đang nở rộ những chùm hoa thắm tươi như báo hiệu cho chúng tôi một mùa hè nữa lại bắt đầu.
 
Cây phượng đã nhiều tuổi lắm rồi. Thân cây to dễ đến mấy người ôm không xuể. Dưới gốc phượng có đến mấy cái rễ to nhỏ khác nhau. Cái thì trồi lên trên mặt đất vài mét mới chui xuống dưới. Cái thì ngoằn ngoèo, cái thì thẳng đuột. Tán phượng thì xòe rộng ra như cái dù phi công trùm lây một khoảng sân rộng, che bóng mát cho tụi nhỏ chúng tôi. Trên những cành phượng cao tít chim chóc thường đến đây ca hát líu lo làm cho sân trường không chỉ rộn rã tiếng trẻ thơ mà còn âm vang cả một bản hợp xướng yêu đời của người và chim.
 
Giữa khoảng trời mênh mông, những chùm phượng nổi lên một màu đỏ rực như có ai đó bắn lên một chùm pháo trong đêm giao thừa đón mừng thiên niên kỉ mới. Đây là hình ảnh đọng lại trong tâm tưởng tôi mỗi khi tiếng ve sầu bắt đầu râm ran trên các cành phượng và phượng bắt đầu ra hoa rồi hè đến. Hè sắp về là y như phượng khoe sắc là dấu ấn thời gian thúc giục tụi nhỏ chúng tôi mau mau luyện bài chuẩn bị kì thi sắp tới. Và đây cũng là khoảng thời gian chuẩn bị tinh thần chia tay nhau trong mấy tháng hè đầy bịn rịn và nhớ nhung.
 
Rồi đây nữa, những trang lưu bút hồn nhiên, ngây thơ nhưng chứa đầy những cảm xúc tình bạn. Trong ấy có thể là những kỉ niệm buồn vui với những cánh phượng hồng ép khô thành con bướm màu huyết dụ, gợi nhớ những ngày học bên nhau dưới gốc phượng này, Và sau nữa, những cơn mưa mùa hạ sẽ đến, xác phượng khắp sân trường đỏ hồng như xác pháo. Và biết bao bạn học sinh cũng như tôi cảm thấy xót xa trước những cánh hoa tơi tả. Nhưng rồi sau đó, hè qua đi, năm học mới lại đến, phượng đâm chồi nảy lộc! Cứ thế, cứ thế phượng lại ra hoa, thắp đỏ cả một vùng trời, báo hiệu năm học mới sắp kết thúc. Và hè lại đến.
 
Giã từ những cánh phượng thắm, lòng tôi lại cảm thấy xao xuyến bâng khuâng khi phải chia tay với cây phượng thân yêu, chia tay với những người bạn cùng học với biết bao lưu luyến nhớ nhung.
 
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng số 7
Cây phượng cho em nhiều kỉ niệm dưới mái trường
 
 
Trên sân trường em có rất nhiều loại cây: cây bàng, cây xà cừ, cây bằng lăng, cây phượng. Loài cây nào cũng có đặc trưng và vẻ đẹp riêng của nó. Nhưng em vẫn thích nhất là cây phượng ở ngay bên dưới cột cờ.
 
Em không biết cây phượng này có từ bao giờ, chỉ biết từ khi em bước vào ngôi trường này, cây phượng đã sừng sững đứng hiên ngang bên dưới cột cờ. Mỗi mùa hè đến, phượng nở đỏ rực một góc. Cô giáo em vẫn thường bảo rằng màu hoa phượng chính là màu của tuổi học trò. Cây phượng này cao hơn ngôi trường của em học, từng cành, từng lá xum xuê, bao phủ và tạo nên một bóng râm rất mát. Thân cây phượng xù xì, có nhiều con mắt nổi lên ở thân cây. Lá của cây phượng giống như lá của cây me, nhưng nó dài hơn lá cây me một chút.
 
Ở dưới gốc cây, có những cái rễ rất to và dài bò lan ra ngoài mặt đất như những con rắn đang im lặng nằm ngủ một giấc thật ngon lành. Rễ cây chính là nơi chúng em vẫn ngồi mỗi khi giờ ra chơi. Chúng em nói đủ mọi thứ chuyện và có những trò chơi đặc biệt dưới gốc phượng này. Trò chơi rất thú vị, đó là vẽ một vòng tròn rộng xung quanh cây phượng, chia thành hai nhóm, một nhóm ở trong vòng tròn và một nhóm ở ngoài. Nhóm ở ngoài sẽ đuổi bắt nhóm ở trong, cứ thế chúng em chạy xung quanh gốc phượng không biết mệt mỏi. Mỗi khi có làn gió thổi qua, tán phượng rung rung lên âm thanh rất thích thú. Ánh nắng xuyên qua những tán lá, rọi vào khung cửa sổ lớp em.
 
Những sáng thứ hai đầu tuần, trường em tổ chức chào cờ, khi ngước mắt lên nhìn lá cờ bay phấp phới trên bầu trời bao la, chúng em cũng thấy những tán phượng đang reo đùa như đang vẫy chào chúng em. Khi mùa hè đến, những chú ve êu râm ran trên những tán cây không chịu ngớt. Vào tháng Năm, hoa phượng bắt đầu nở rộ, màu đỏ của hoa phượng rực cả một góc sân trường. Chúng em thường nhặt lấy từng cánh phượng rơi rụng xuống đất ép vào trang vở thành những chú bướm xinh đẹp nhất. Bạn nào cũng thích thú ép hoa vào trang mở chưa viết gì.
Cây phượng trên sân trường là người bạn của em, em đã có rất nhiều kỉ niệm đối với loại cây này. Có lẽ sau này khi rời xa mái trường này, em vẫn sẽ luôn luôn nhớ đến cây phượng dưới cột cờ này.
 
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng số 8
Cây phượng - Người bạn tri kỉ của tuổi học trò
 
 
Mùa xuân đã trôi đi một cách âm thầm, lặng lẽ nhường chỗ cho mùa hè mến yêu. Lại một niềm vui mới cho lũ học trò nghịch ngợm nhưng lại nôn nao không muốn xa mái trường thân yêu, xa thầy cô, bạn bè, xa cây bàng già và cây phượng thân yêu nữa. Cây phượng mà học sinh thầm thì các bí mật suốt bao năm trời nay. Còn bây giờ thì hoa phượng nở đỏ rực trên từng cành như thắp lửa cả ngôi trường em. Tiếng ve sầu cũng bắt đầu cất tiếng kêu vang. Mọi thứ như hòa quyện vào nhau và tạo nên một bức tranh tuyệt mĩ.
 
Nhìn từ xa, cây phượng như khoác lên mình một chiếc váy đỏ thật tráng lệ. Gốc phượng to sần sùi vì bao năm tháng dãi dầu mưa nắng. Rễ cây ngoằn ngoèo bò trên mặt đất như những con rắn đang vui đùa và cùng nhau mừng mùa hè đến. Hoa phượng đỏ bao nhiêu thì lá cây của nó có một màu xanh um bấy nhiêu. Cành cây đâm ra từ người mẹ của nó. Cuống hoa xanh mơn mởn khoảng tám phân, thon dài, nối liền giữa bông hoa và cành hoa. Nụ hoa thật đẹp, lúc thoáng nhìn cứ tưởng hạt ngọc bích. Hoa phượng nở từng chùm, một màu đỏ rực như muốn tô điểm lên vẻ đẹp lộng lẫy của ngày hè ở trường em. Hoa phượng đỏ rực thế mà sao hiền dịu quá.
 
Khi có một làn gió nhẹ thổi qua cũng đủ làm hoa phượng rơi xuống đất. Nhưng không vì thế mà phượng lấy làm buồn bã, cứ hàng ngày, phượng lại cho ra những bông hoa đẹp của tuổi học trò. Và rồi cuối cùng những bông hoa phượng nở đầy cả cây. Có ai biết rằng, giữa chùm hoa màu đỏ rực đó là nỗi nhớ thương của học trò nhớ thầy cô, bạn bè, trường lớp. Năm cánh hoa phượng mịn như nhung, lung linh dưới nắng hè, có lúc rực lên như chứa lửa chứa nắng. Giữa năm cánh hoa là nhụy hoa như những cô tiên áo vàng đáng tỏa hương thơm ngát, lan tỏa khắp cả khu vườn.
 
Cánh hoa phượng như những anh hùng vĩ đại đã hi sinh vì tổ quốc thân yêu. Màu vàng của nhị hoa như màu da của con người Việt Nam. Hoa phượng như lá cờ đỏ, sao vàng. Thể hiện cho sự anh dũng, yêu Tổ Quốc bao đồng bào dân tộc đã hi sinh vì Tổ Quốc mến yêu. Màu máu đỏ như hòa quyện với màu hoa phượng, để nhắc nhở chúng em nhớ đến những chiến sĩ của đồng bào dân tộc mà cố gắng học tập thật giỏi để mai sau Tổ Quốc giàu đẹp. Lũ học trò chúng em xem chị phượng như người bạn tri kỉ, chia sẻ những chuyện vui buồn.
 
Cứ mỗi buổi ra chơi, chúng em lại tụ nhau ngồi dưới gốc phượng để tâm tình. Có bạn mặt rạng rỡ khoe với các bạn những điểm mười đỏ chói. Có bạn mặt buồn bực vì những chuyện không vui. Còn gì thích hơn được ngồi dưới gốc phượng, tận hưởng cái cảm giác mát mẻ, dễ chịu giữa trưa hè. Nghe những tiếng ve đang râm rang rạo rực như tan biến những cái mệt mỏi, căng thẳng sau giờ học. Trong không khí nhộn nhịp, nàng phượng vẫn lặng lẽ đứng nhìn chúng em vui chơi, đùa giỡn, em chợt thấy ánh mắt phượng rộn lên, vẫy tay trong nắng.
 
Rồi những buổi chúng em nhặt những cành phượng để chơi đá gà. Lũ học trò chúng em tụm năm, tụm ba lại mà không biết rằng chị phượng cũng đang đón chờ kết quả. Cây phượng như người bạn tri kỉ của tuổi học trò chúng em. Hoa phượng báo hiệu cho học trò đủ thứ chuyện. Nào là hè đã đến rồi, đã đến lúc nghỉ ngơi sau một học kì. Một năm học căng thẳng đã đến lúc vui chơi rồi. Nhưng điều quan trọng là hoa phượng báo hiệu đã đến lúc phải xa mái trường, thầy cô, bạn bè. Nhưng dù có xa cách mấy, nó luôn ở trong tim, trong tâm trí của mỗi người. Hoa phượng như đánh dấu bước ngoặt trưởng thành trên con đường học vấn nhưng nghĩ đến cảnh xa trường, xa thầy, xa bạn lại thấy nao nao.
 
Các anh chị cuối cấp còn lo lắng hơn vì đó là lúc bước vào kì thi quan trọng. Vì sao tuổi học trò chúng em lại yêu hoa phượng đến thế. Mỗi lần nhìn thấy hoa phượng hay nghe tiếng ve cất tiếng là lòng em lại nôn nao quá. Chính vì vậy mà cây phượng là kí ức tươi đẹp mà học trò. Với nhiều người, mùa hè đơn giản chỉ là một mùa trong bốn mùa, không hơn, không kém. Nhưng đối với ai đã trải qua thời áo trắng thì mùa hè là nỗi niềm, là tâm trạng và trong thẩm sâu tâm hồn ta còn nỗi háo hức đón hè về.
 
Phượng ơi, ve ơi, lũ học trò sẽ chẳng bao giờ quên bạn đâu. Nhờ các bạn mà mình hiểu được mùa hè thú vị đến thế nào. Mùa hè mang lại cho chúng mình màu sắc của tuổi thơ yêu dấu. Chúng mình sẽ mãi mãi không quên màu đỏ của hoa phượng. Các bạn ơi đừng ngắt phượng, bắt ve, đừng tàn phá mùa hè bạn nhé.
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay nhất số 9
Cây phượng vĩ trong sân trường em
 
 
Cây phượng là loại cây hay được trồng ở trường học. Xung quanh trường em là những cây phượng, với những chùm hoa đỏ rực một góc trời vào mùa hè, báo hiệu một mùa chia tay bạn bè, mái trường và thầy cô nữa lại đến.
 
Cây phượng ở trường em khá to, có lẽ nó được những thế hệ thầy trò đầu tiên của ngôi trường mà em đang học trồng. Đến thế hệ của chúng em thì nó đã lớn và chiếm một khoảng khá rộng ở sân trường. Thân cây rất to chắc phải mấy đứa chúng em ôm mới xuể. Phần rễ cây rất phát triển nhô cả lên mặt đất, vô tình như một cái ghế tạo thành chỗ ngồi cho học sinh ở trường. Cây phượng có rất nhiều cành, cành to, cành nhỏ thi nhau vươn cao, vươn xa để đón lấy ánh nắng mặt trời.
 
Lá phượng rất đặc biệt, mỗi cành có rất nhiều cành lá, trên mỗi cành lá lại có nhiều lá con. Vì lá phượng nhỏ như vậy nên cả một cây phượng không tạo thành một bóng mát, những tia nắng lọt qua kẽ lá chiếu xuống sân như những đốm sáng nhỏ trông rất đẹp. Mỗi khi hè đến, cả cây phượng chìm trong tiếng ve kêu, rất ồn ào nhưng lại vui tai, những chum hoa phượng bắt đầu nở, rồi cả cây phượng nở hoa, che lấp những cành lá màu xanh, nhìn từ xa cây phượng đỏ rực cả một góc trời.
 
Nếu không có tiếng ve, không có những chùm hoa phượng thì có ai biết hè đã đến từ bao giờ. Chúng em thường nhặt hoa phượng làm thành con bướm rồi đem nó ép vào trang vở như để cất giữ những kỉ niệm. Hoa phượng nở báo hiệu mùa hạ về, mùa thi đến, mùa chia tay thầy cô, bạn bè và mái trường yêu dấu khiến ai cũng có cảm giác xốn xang. Thế rồi hoa phượng tàn, kết thành những quả phượng dài, cong cong mà mấy bạn con trai hay nhặt để làm kiếm. Khi quả phượng rụng hết, cây phượng cũng trụi lá và đợi đến mùa xuân để mọc lên những tán lá xanh non mơn mởn.
Cây phượng vẫn đứng đó chứng kiến bao lớp học sinh đã trưởng thành từ đây. Dù xa trường nhưng em sẽ nhớ mãi về cây phượng như một người bạn của một thời học sinh.
 
Bài văn tả cây phượng, hoa phượng hay số 10
Hoa học trò - Xuân Diệu
 
van ta hoa phuong do
 
Phượng không phải là một đóa, không phải vài cành; phượng đây là cả một loạt, cả một vùng, cả một góc trời đỏ rực. Mỗi hoa chỉ là một phần tử của cả xã hội thắm tươi; người ta quên đóa hoa, chỉ nghĩ đến cây, đến hàng, đến những tán hoa lớn xòe ra, như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau.
 
Nhưng hoa càng đỏ, lá lại càng xanh. Vừa buồn mà lại vừa vui mới thực là nỗi niềm hoa phượng. Hoa phượng là hoa học trò. Mùa xuân, phượng ra lá. Lá xanh um, mát rượi, ngon lành như lá me non. Lá ban đầu xếp lại, còn e ấp, dần dần xòe ra cho gió đưa đẩy. Lòng cậu học trò phơi phới làm sao!
Cậu chăm lo học hành, rồi lâu cũng vô tâm quên mất màu lá phượng. Một hôm, bỗng đâu trên những cành cây báo một tin thắm: mùa hoa phượng bắt đầu. Đến giờ chơi, cậu học trò ngạc nhiên trông lên: hoa nở lúc nào mà bất ngờ vậy?
 
Bình minh của hoa phượng là màu đỏ còn non, nếu có mưa, lại càng tươi dịu. Ngày xuân dần hết, số hoa tăng, màu cũng đậm dần. Rồi hòa nhịp với Mặt Trời chói lọi, màu phượng mạnh mẽ kêu vang: hè đến rồi! Khắp thành phố bỗng rực lên như đến Tết nhà nhà đều dán câu đối đỏ.
Đối với những bài văn tả cây phượng theo từng khối: bài văn tả cây phượng lớp 6 hay nhất, bài văn tả cây phượng lớp 4, tả cây phượng lớp 5, tả cây phượng lớp 7 văn biểu cảm ... sẽ có cách tả khác nhau và yêu cầu cách diễn đạt khác nhau. Tuy nhiên, thông qua những bài văn tả cây phượng, hoa phượng trên đây, các bạn học sinh dễ dàng nắm bắt được miêu tả cây phượng thì miêu tả những gì, cách diễn đạt ra sao, từ đó, bạn nhanh chóng viết bài văn tả cây phượng hòa chỉnh.
 
 
Image result for hoa phuong NẮNG HẠ  photos
 

Ý nghĩa hoa phượng – hoa phượng vĩ

 Hoa phượng gắn liền với tên gọi “Hoa học trò” mà ai đó đã gọi một cách trìu mến và thân thương. Có lẽ vì phượng đã quá gần gũi và thân thuộc, bởi phượng đơm hoa là báo hiệu mùa hè sắp đến. Cô học sinh nhỏ sớm nay chợt giật mình: “Phượng nở rồi sao?”.
 
Và đâu đó hình ảnh “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng” liệu có dần trở thành cổ tích?
Hoa phượng
Hoa phượng loài hoa của tuổi học trò
 
“Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng.
Em chở mùa hè của tôi đi đâu.
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám.
Tuổi chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu”.
Tên “phượng vĩ” là chữ ghép Hán Việt – “phượng vỹ” có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng.
Phượng vĩ có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó ở trong cánh rừng ở vùng Malagasy. Trong hoang dã nó là loài đang nguy cấp nhưng nó được con người trồng ở rất nhiều nơi.
 
Hoa phượng
 
 
Hoa phượng vĩ
 
Phượng vĩ được người Pháp du nhập vào Việt Nam trồng khoảng những năm cuối thế kỷ 19 tại các thành phố lớn như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn. Hiện nay phượng vĩ là loài cây được trồng rộng rãi từ miền Bắc vào miền Nam trên vỉa hè, công viên, trường học. Thành phố Hải Phòng được gọi là thành phố Hoa phượng đỏ; nơi đây hoa phượng được trồng khắp nơi, có cả một công viên hoa phượng ngay trung tâm thành phố, có lễ hội hoa phượng diễn ra vào tháng 5 rất độc đáo.
 
Hoa phượng
 
Hoa phượng vĩ
 
Phượng vĩ biểu tượng của tuổi học trò.
Loài hoa gắn liền với nhiều kỷ niệm buồn vui của tuổi học trò, Mùa nở của hoa trùng với thời điểm kết thúc năm học, mùa chia tay, mùa của những cuốn số ghi đầy nhật ký, ép đầy cánh phượng khô.
Cái tên gọi “Hoa học trò”. Ai đó đã gọi một cách trìu mến và thân thương như vậy. Có lẽ vì phượng đã quá gần gũi và thân thuộc, bởi phượng đơm hoa là báo hiệu mùa hè sắp đến. Cô học sinh nhỏ sớm nay chợt giật mình: “Phượng nở rồi sao?”, rồi cô nhìn mông lung, ánh mắt đong đầy biết bao nhiêu là cảm xúc.
 
Hoa phượng
Hoa phượng
 
Hoa phượng loài hoa e ấp mối tình đầu.
Không hiểu từ bao giờ và ai đã có ý tưởng thật hay là trồng những cây phượng nơi trường học. Những bông hoa đỏ thắm như nhắc nhở cái ngày chia tay của niên học đã sắp gần kề.
Hoa phượng không phải là một loài hoa hiếm, hoa nở liên tục từ khoảng giữa tháng 5 cho đến giữa tháng 9 , đôi khi vào tháng 10 người ta còn tìm thấy một vài chùm hoa dấu mình sau những tàn lá xanh. Hoa nở từng chùm, mỗi hoa có 5 cánh, 4 cánh mầu đỏ cam mang những vết loang mầu đỏ đậm, cánh thừ 5 dầy hơn những cánh kia đem lại cho hoa phượng một dáng kiêu sa với mầu trắng mượt điểm những vệt đỏ hài hoà như đuôi của một loài chim phượng cho nên hoa đã được gọi là hoa phượng vĩ.
 
Hoa phượng
 
Hoa phượng
Khi còn trong nụ,nhất là khi nụ còn non phải để ý lắm mới phân biệt được sự khác nhau giữa các cánh hoa. Hình như trong chúng ta không một ai đã không một lần ép cho mình một vài cánh phượng giữa những trang vở học trò mang đầy nét chữ vụng dại.
Phượng tỏa hương khác với các loài hoa. Nó hăng hăng, chua chua nhưng không gắt như trái me, trái sấu, mà man mác đượm một nỗi niềm hoài vọng xa xôi. Phượng vừa là sự khởi đầu, vừa là sự kết thúc.
 
Hoa phượng
 
Hoa phượng vĩ cười trong nắng hạ
Tuổi học trò tấc dạ bâng khuâng
Ngày qua ta tiếc mùa xuân
Hạ về chia rẽ tình thân tuổi ngà
(Hoa Sơn)
 
Kiều Oanh sưu tầm
Xem thêm...

Thú Vị Về Ngày Quốc Khánh Mỹ

 
Related image

  Thú Vị Về Ngày Quốc Khánh Mỹ  

 
Related image
 

       Neil Diamond America        

 
Related image

Ngày 4 tháng 7 được coi là ngày Quốc Khánh của Hoa Kỳ.
 
Ông Davis cũng cho biết thực tế cựu tổng thống John Adams soạn thảo Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ vào ngày 2/7, còn ngày 3/7 ông dành để viết thư cho vợ là bà Abigail Adams. Sau đó, phải mất 2 ngày sau quốc hội Mỹ mới chấp thuận tuyên bố của Thomas Jefferson. Do đó, theo ông, ngày độc lập của nước Mỹ thực chất là ngày 2/7.
 
Trong lịch sử, có 3 trong số 5 tổng thống đầu tiên của Mỹ qua đời đúng vào ngày Quốc khánh. John Adams, tổng thống thứ 2 và Thomas Jefferson, tổng thống thứ 3 là những đối thủ trong suốt sự nghiệp chính trị nhưng lại chết cách nhau vài giờ đúng dịp kỷ niệm 50 năm ngày quốc khánh.
 
Hai vị tổng thống Mỹ qua đời vào đúng ngày Quốc khánh Hoa Kỳ.
Hai vị tổng thống Mỹ qua đời vào đúng ngày Quốc khánh Hoa Kỳ.
John Adams qua đời ở tuổi 90 tại nhà riêng ở Quinc, Massachusett còn Jefferson qua đời ở tuổi 83 tại Virginia. Sau đó, James Monroe, tổng thống thứ 5 cũng qua đời vào đúng ngày 4/7 kỷ niệm 55 ngày quốc khánh Mỹ.
 

10 sự thật thú vị về ngày quốc khánh Mỹ

Ngày độc lập của nước Mỹ thực chất là 2/7 theo một sử gia, lễ hội xúc xích lớn nhất năm cũng rơi vào 4/7 là hai trong 10 điều đặc biệt về quốc khánh ở xứ cờ hoa.
Theo sử gia Kenneth C. Davis, 2/7 mới thực sự là ngày thích hợp để đánh dấu lễ kỷ niệm đặc biệt của <a href=
Mỹ. Ông Davis cho biết, thực tế cựu tổng thống John Adams soạn thảo Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ vào ngày 2/7, còn ngày 3/7 ông dành để viết thư cho vợ là bà Abigail Adams. Sau đó, phải mất 2 ngày sau quốc hội Mỹ mới chấp thuận tuyên bố của Thomas Jefferson. Do đó, theo ông, ngày độc lập của nước Mỹ thực chất là ngày 2/7." />
Theo sử gia Kenneth C. Davis, 2/7 mới thực sự là ngày thích hợp để kỷ niệm độc lập của Mỹ. Ông Davis cho biết, thực tế Tổng thống John Adams viết thư cho vợ là bà Abigail trong ngày mùng 3 rằng ngày 2/7 "sẽ đi vào lịch sử". Tuy nhiên, phải đến ngày 4/7, quốc hội Mỹ mới chấp thuận tuyên bố của Thomas Jefferson, công nhận cuộc bỏ phiếu hai ngày trước. Do đó, theo ông, ngày độc lập của nước Mỹ thực chất là ngày 2/7. Ảnh: Huffington Post
 Lịch sử Mỹ ghi nhận 3 trong số 5 tổng thống đầu tiên của Mỹ qua đời đúng vào ngày quốc khánh. John Adams, tổng thống thứ 2 và Thomas Jefferson, tổng thống thứ 3, là những đối thủ trong suốt sự nghiệp chính trị nhưng lại chết cách nhau vài giờ đúng dịp kỷ niệm 50 năm ngày quốc khánh. Sau đó, James Monroe, tổng thống thứ 5 cũng qua đời vào đúng dịp kỷ niệm 55 ngày quốc khánh Mỹ.
Lịch sử Mỹ ghi nhận 3 trong số 5 tổng thống đầu tiên của Mỹ qua đời đúng vào ngày quốc khánh. John Adams, tổng thống thứ 2 và Thomas Jefferson, tổng thống thứ 3, là những đối thủ trong suốt sự nghiệp chính trị nhưng lại chết cách nhau vài giờ đúng dịp kỷ niệm 50 năm ngày quốc khánh. Sau đó, James Monroe, tổng thống thứ 5 cũng qua đời vào đúng ngày kỷ niệm quốc khánh lần thứ 55. Ảnh: Huffington Post
4/7 cũng là ngày giải phóng của Philippines và Rwanda. Đối với Philippines, ngày 4/7 hay còn gọi là
4/7 cũng là ngày giải phóng của Philippines và Rwanda. Đối với Philippines, ngày 4/7 hay còn gọi là "Ngày Cộng hòa" đánh dấu thời điểm Mỹ chính thức công nhận Philippines là quốc gia độc lập vào năm 1946. Ngày 12/6 mới chính thức là ngày quốc khánh của Philippines, song ngày 4/7 vẫn có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng với quốc gia này. Trong khi đó, ngày 4/7/1994 là thời điểm chấm dứt nạn diệt chủng ở Rwanda và cũng là thời điểm chính phủ mới thành lập. Ảnh: AP
Người Mỹ bắt đầu tổ chức lễ độc lập từ năm 1977. Các lễ kỷ niệm lớn đầu tiên diễn ra thành phố ở Philadelphia, mở màn bằng diễu hành, bắn 13 quả pháo chúc mừng cùng lễ hội pháo hoa. Tuy nhiên, mãi đến năm 1870, quốc hội Mỹ mới chính thức công nhận ngày 4/7 là ngày lễ độc lập.
Người Mỹ bắt đầu tổ chức lễ độc lập từ năm 1977. Các lễ kỷ niệm lớn đầu tiên diễn ra thành phố ở Philadelphia, mở màn bằng diễu hành, bắn 13 loạt pháo chúc mừng cùng lễ hội pháo hoa. Tuy nhiên, mãi đến năm 1870, Quốc hội Mỹ mới chính thức công nhận ngày 4/7 là ngày lễ độc lập. Ảnh: Huffington Post
Lễ độc lập cũng trùng ngày sinh của nhiều người nổi như Calvin Coolidge, tổng thống thứ 30 của nước Mỹ, nhà kinh tế đoạt giải Nobel Gerard Debreu, nhà vô địch Olympic Pam Shriver hay con gái lớn của Tổng thống Barack Obama.
Lễ độc lập cũng trùng ngày sinh của nhiều người nổi như Calvin Coolidge, tổng thống thứ 30 của nước Mỹ, nhà kinh tế đoạt giải Nobel Gerard Debreu, nhà vô địch Olympic Pam Shriver hay con gái lớn của Tổng thống Barack Obama. Ảnh: AP
Ngày 4/7 cũng là lễ hội xúc xích lớn nhất trong năm. Theo tạp chí Time, người Mỹ tiêu thụ khoảng 155 triệu xúc xích trong ngày lễ độc lập. Tuy vậy, không ai biết rõ vì sao xúc xích lại có mặt ở Mỹ. Theo hiệp hội xúc xích quốc gia, nhiều khả năng xúc xích được người châu Âu mang đến Mỹ trong các cuộc di cư. Những chiếc xúc xích đầu tiên được cho là xuất hiện ở vùng Bắc Mỹ.
Ngày 4/7 cũng là lễ hội xúc xích lớn nhất trong năm. Theo tạp chí Time, người Mỹ tiêu thụ khoảng 155 triệu xúc xích trong ngày lễ độc lập. Tuy vậy, không ai biết rõ vì sao xúc xích lại có mặt ở Mỹ. Theo hiệp hội xúc xích quốc gia, nhiều khả năng xúc xích được người châu Âu mang đến Mỹ trong các cuộc di cư. Những chiếc xúc xích đầu tiên được cho là xuất hiện ở vùng Bắc Mỹ. Ảnh: Huffington Post
Ngoài xúc xích, khoai tây chiên và các món nướng, người Mỹ còn chế biến nhiều món ăn độc đáo khác để kỷ niệm ngày lễ độc lập, trong đó phải kể đến món súp rùa.Theo truyền thuyết, ngày 4/7/1776, cựu tổng thống John Adams cùng vợ ăn mừng lễ độc lập với món chính là súp rùa, cá hồi kho với nước sốt trứng, đậu xanh và khoai tây luộc. Họ còn đặt lên bàn ăn cả món bánh pudding của Ấn Độ và bánh táo.
Ngoài xúc xích, khoai tây chiên và các món nướng, người Mỹ còn chế biến nhiều món ăn độc đáo khác để kỷ niệm ngày độc lập, trong đó phải kể đến món súp rùa. Theo truyền thuyết, ngày 4/7/1776, cựu tổng thống John Adams cùng vợ ăn mừng lễ độc lập với món chính là súp rùa, cá hồi kho với nước sốt trứng, đậu xanh và khoai tây luộc. Họ còn đặt lên bàn ăn cả món bánh pudding của Ấn Độ và bánh táo. Ảnh: Huffington Post
Theo Cục điều tra dân số Mỹ, Pennsylvania - nơi Tuyên ngôn Độc lập Mỹ được thảo luận và ký kết - có tới 11 địa điểm có chữ
Theo Cục điều tra dân số Mỹ, Pennsylvania - nơi Tuyên ngôn Độc lập Mỹ được thảo luận và ký - có tới 11 địa điểm có chữ "tự do" trong tên gọi. Ngoài ra, có tới 33 địa điểm khác có chứ  "đoàn kết". Do đó, các nhà thống kê kết luận Pennsylvania chính là bang "yêu nước" nhất trong số các bang. Còn theo văn phòng Patriot, ở Pennsylvania còn có một thị trấn mang tên Yêu nước (Patriot) với dân số khoảng 209 người. Ảnh: Huffington Post
Trong bức thư gửi con gái Sarah Bache năm 1784, Tổng thống Mỹ Bejamin Franklin viết rằng ông không hài lòng khi đại bàng trọc được chọn là biểu tượng của đất nước.
Trong bức thư gửi con gái Sarah Bache năm 1784, Tổng thống Mỹ Bejamin Franklin viết rằng ông không hài lòng khi đại bàng trọc được chọn là biểu tượng của đất nước. "Đại bàng là loài chim xấu. Nó không bao giờ sống một cách trung thực. Con có thể thấy nó đứng trên những cái cây chết ở sông. Nó quá lười biếng để tự bắt cá mà chỉ đợi những con khác kiếm cá và sau đó cướp công”, ông viết. Theo ông, gà tây là loài chim đáng kính hơn nhiều. "Gà tây mới thực sự là bản chất của người Mỹ. Nó luôn bàng quan, có đôi chút ngớ ngẩn và vô dụng, song lại là loài chim vô cùng dũng cảm. Nó không ngần ngại tấn công những binh sĩ Anh dám tới xâm lược trang trại của mình với bộ quân phục đỏ", Franklin mô tả. Ảnh: Huffington Post
Do có một vết nứt lớn trên thân, nên chuông Tự do - một trong những biểu tượng của nước Mỹ - chưa bao giờ được rung lên kể từ năm 1846. Vào ngày 4/7, người ta chỉ dám vỗ nhẹ 13 lần vào chiếc chuông trị giá hơn 3.000 USD và coi đó là dấu hiệu thông báo cho các chuông khác trên khắp đất nước.
Do có một vết nứt lớn trên thân, nên chuông Tự do - một trong những biểu tượng của nước Mỹ - chưa bao giờ được rung lên kể từ năm 1846. Vào ngày 4/7, người ta chỉ dám vỗ nhẹ 13 lần vào chiếc chuông trị giá hơn 3.000 USD và lấy đó là dấu hiệu thông báo cho các chuông khác trên khắp đất nước. Ảnh: Huffington Post
==

      Lễ Độc Lập (Independence Day)      

by Le Thanh Hoang Dan

Lễ Độc Lập (Independence Day) của Mỹ còn được biết đến với tên ngày 4 tháng 7. Đây là lễ quốc gia ở Mỹ (federal holiday) để ăn mừng ngày bản Tuyên Ngôn Độc Lập được chấp nhận.
Ngày 4 tháng 7 năm 1776, các đại biểu của 13 thuộc địa của Anh đã chấp nhận Bản Tuyên Ngôn Độc Lập.
 
Pháo bông tỏa sáng đài tưởng niệm Tổng Thống Washington ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn (Hình Wikipedia).
 
Ngày 4 tháng 7 (July 4) là ngày lễ lớn nhất ở Mỹ. Theo Wikipedia tiếng Mỹ, trong ngày này, người Mỹ thường tổ chức đốt pháo bông (fireworks), diễn hành (parade), tổ chức ăn thịt nướng (barbecue), lễ hội (Carnival), hội chợ (Fair), đi picnic, xem hòa nhạc, xem các trận tranh tài thể thao, hoặc họp gia đình ăn thịt nướng nhậu rượu bia. Nhân ngày này, các chánh khách thích đọc diễn văn nói về lòng yêu nước, nhắc lại lịch sử và truyền thống của nước Mỹ.
 
Tổng Thống Washington, vị tổng thống đầu tiên của Mỹ đã được tuyên thệ nhậm chức ở đây. Địa điểm lịch sử này là Federall Hall nằm ở phố Wall, ngó xéo qua New York Stock Exchange.
 
 
Pháo bông ăn mừng Độc Lập tại Miami. Ngoài pháo bông, thành phố Miami còn thắp sáng đèn ở tòa nhà cao nhất thành phố với ánh sáng màu đỏ, trắng và xanh, là màu cờ của Hoa Kỳ. (Hình Wikipedia).
 
Ngày 2 tháng 7 năm 1776, các đại biểu 13 thuộc địa quyết định độc lập đối với mẫu quốc, là nước Anh. Hai ngày sau đó ngày 4 tháng 7 năm 1776, các đại biểu đã chấp thuận bản Tuyên Ngôn Độc Lập, là một văn kiện giải thích tại sao họ đã quyết định phải độc lập với nước Anh.
Ngày 2 tháng 7 là ngày nước Mỹ độc lập trên phương diện pháp lý. Ngày 4 tháng 7 là ngày dân chúng Mỹ ăn mừng chánh thức nước Mỹ được độc lập, từ năm 1776 đến nay.
 
Trung Tâm Rockefeller (Rockefeller Center) ở New York một ngày 4 tháng 7 (Lễ Độc Lập) mấy năm trước.
 
 
Do tình cờ của lịch sử, hai đại biểu đã biểu quyết chấp nhận bản Tuyên Ngôn Độc Lập, là John Adams và Thomas Jefferson, sau này trở thành Tổng Thống Mỹ, đã qua đời một lượt ngày 4 tháng 7 năm 1826. Năm đó là năm bản Tuyên Ngôn Độc Lập (Declaration of Independence) được 50 tuổi.
 
Pháo bông huy hoàng nhất là pháo bông tại thành phố New York. Hãng Macy’s bảo trợ lễ hội pháo bông nầy hàng năm. Tối mai tôi dự định đi chụp hình pháo bông ở bờ sông Hudson. Sẻ chia sẻ với các bạn sau. (Hình Wikipedia).
 
Theo Wikipedia, mặc dầu không phải là người đã ký tên vào bản Tuyên Ngôn Độc Lập, Tổng Thống James Monroe, vị tổng thống thứ 5 của Hoa Kỳ, cũng đã tạ thế vào ngày 4 tháng 7 năm 1831.
 
Tổng Thống Calvin Coolidge, vị tổng thống thứ 30 của Mỹ được sanh ra ngày 4 tháng 7 năm 1872. Ông là vị tổng thống duy nhất ở Mỹ được sanh ra vào ngày Lễ Độc Lập.
Nói cách khác nước Mỹ có 3 vị Tổng Thống đã tạ thế vào ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7, và chỉ có một Tổng Thống được sanh ra vào ngày này thôi.
Ngày 4 tháng 7 năm nay, thành phố New York có tổ chức Lễ Hội mừng Lễ Độc Lập. Vợ chồng tôi dự định tham dự Lễ Hội này, sau đó đi xem đốt pháo bông. Nếu mọi chuyện tốt đẹp, tôi sẽ post nhiều hình chia sẻ với các bạn sau.
 
Một vài hình ảnh Lễ Hội Mùa Hè tại New York ngày 2 tháng 7 vừa qua. 2 tháng 7 là ngày các đại biểu của 13 thuộc địa đã chấp nhận một nước Hoa Kỳ độc lập với mẫu quốc (nước Anh).
 
 
 
Ngày 2 tháng 7 vừa qua, Hội Bạn Thú Vật đã tổ chức đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập của chó, hứa hẹn tạo một xã hội tốt đẹp, giúp chó sống một cuộc đời Tự Do và Hạnh Phúc hơn. Xin chia sẻ với các bạn một vài hình ảnh cuộc diễn hành (Parade) này.
 
 
 
 
 
New York có gì lạ?
 
 
Related image
 
 
Image result for have a wonderful 4th of july 2018 thank you photos
 
 
      Sưu tầm tổng hợp by Quỳnh Nga     
Xem thêm...

Vì sao gần một nửa dân số Việt cùng mang họ Nguyễn?

Ý nghĩa niên hiệu của các hoàng đế Việt Nam triều Nguyễn

**********

Việt Nam thời các hoàng đế trị vị, việc đặt và ban hành niên hiệu đều có liên quan mật thiết đến ý chí chính trị của hoàng đế. Bằng hình thức niên hiệu, hoàng đế đã đưa ý chí chính trị của mình thẩm thấu vào cuộc sống thường nhật của quốc gia.

Các dân tộc Á Đông có một nền văn minh vô cùng xán lạn. Lịch sử Á Đông nói chung, trong đó có Trung Quốc và Việt Nam, rất hào hùng, tràn đầy khí chất. Lịch sử 5000 năm văn minh, văn hoá của Á Đông là cả một kho tàng vô giá cho hậu thế. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của những quan niệm mới có phần thiên kiến, lệch lạc, lịch sử ấy đã bị cải biên và nguỵ tạo nhiều. Với mong muốn phục hưng lại nền văn minh vĩ đại cũng như những truyền thống đạo đức quý báu của người Á Đông, chúng tôi tiến hành loạt bài về lịch sử Việt Nam, Trung Hoa… gửi đến quý độc giả, ngõ hầu phá giải được những quan niệm sai lệch hiện nay.

Trước triều Nguyễn, hoàng đế Việt Nam không chỉ có một niên hiệu, thường có việc đổi niên hiệu. Sau chịu ảnh hưởng của đời Minh – Thanh, mỗi đời vua một niên hiệu. Triều Lê Trung Hưng bắt đầu thực hiện mỗi đời vua một niên hiệu. Đến triều Nguyễn thì chế độ này đã được cố định.

Triều Nguyễn có tổng cộng 13 vị hoàng đế, trừ vua Cung Tông kế vị ngắn ngủi 3 ngày ra không có niên hiệu, tổng cộng đã đặt ra 12 niên hiệu, trong đó niên hiệu Hiệp Hòa chưa được sử dụng. Các vua Việt Nam tuy đã nhạt nhòa theo lịch sử nhưng những niên hiệu mà họ để lại làm cho chúng ta sau hàng trăm năm vẫn cảm nhận được ý thức chính trị của họ.

Gia Long – Niên hiệu của vua Nguyễn Thế Tổ (18 năm, 1802 – 1819)

Nguyễn Thế Tổ Nguyễn Phúc Ánh là người sáng lập ra triều Nguyễn. Năm 1802, Nguyễn Thế Tổ đánh bại triều Tây Sơn, thu phục cựu đô Phú Xuân, Quảng Nam và đổi tên là Thuận Hóa. Năm sau, đổi niên hiệu Gia Long, lập ra triều Nguyễn. Đặt quốc hiệu là Nam Việt, về sau, triều Thanh sắc phong ông làm Nam Việt Quốc Vương.

Tranh vẽ vua Gia Long. Ảnh dẫn theo xaluan.com

Đại Nam thực lục – đệ nhất kỷ” có ghi: “Lấy ngày 1 tháng 5 năm nay chiếu cáo thiên hạ, hôm sau chiếu cáo các Thánh, Kỷ Nguyên Gia, lấy kỷ thống nhất để biểu thị mới cái đức”. Ý nghĩa của cái tên Gia Long lấy từ cụm từ “Gia Định Thăng Long”, để bày tỏ ý nghĩa thống nhất thiên hạ (Việt Nam).

Sử Trung Quốc “Thanh sử cảo – Việt Nam truyện” có chép: “Nguyễn Phúc Ánh có được quốc gia nhờ Gia Định, Vĩnh Long binh lực nhiều, nên lấy hai tỉnh làm niên hiệu, gọi là Gia Long”. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng niên hiệu của hoàng đế lấy ý nghĩa trong 2 từ Gia Định, Thăng Long. Bởi lúc đó khi triều Nguyễn vừa thiết lập, niên hiệu này cũng cho thấy hàm ý triều Nguyễn kế thừa triều Lê chính thống trị vị toàn bộ Việt Nam.

Giai đoạn Gia Long tại vị trị vì, tình hình Việt Nam dần ổn định. Ông đã tiến hành cải cách trên các lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, văn hóa, xây dựng lớn nhiều đô thành, đường xá. Tham khảo “Đại Thanh luật” của Trung Quốc, ông đã ban hành “Gia Long luật thư” (sách luật Gia Long), đương thời gọi là “Hoàng triều luật lệ”.

Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” (bản tóm tắt chính biên triều đình) biên soạn trong những năm Duy Tân triều Nguyễn, đã đánh giá Gia Long Nguyễn Phúc Ánh là:

Vua đã phục hưng sáng nghiệp, công lao và đức độ đều lớn, tạo phúc cho dân to lớn chưa từng có. Khi bắt đầu lập quốc, vua cho xây dựng thành quách, tu sửa lăng tẩm, dựng đàn Giao Tế, đàn Xã Tắc, ban thưởng tước lộc, mở khoa thi cử chọn nhân tài, chấn hưng lễ nhạc, trường học, định ra pháp luật chế độ, điều luật, bảo tồn dòng dõi nhà Lê, Trịnh, kéo dài chế độ thế tập cho công thần, ngăn quan tướng Tây Sơn, đề phòng cẩn mật Xiêm La, bao dung Chân Lạp, vỗ về Vạn Tượng, uy danh chấn động muôn phương, nhân đức bao trùm các nước nhỏ, quy mô che phủ rộng lớn xa xôi“.

Minh Mạng – Niên hiệu của vua Đại Nam Nguyễn Thánh Tổ (21 năm, 1820 – 1840)

Đại Nam Thánh Tổ, tên húy Nguyễn Phúc Đảm, lên ngôi năm Gia Long thứ 18 (1819), đổi niên hiệu Minh Mạng. Trong thời gian ông trị vì, quốc lực cường thịnh nhất. Sau này vào ngày Giáp Tuất tháng 3 mùa xuân năm Minh Mạng thứ 19, đổi tên quốc hiệu là Đại Nam. Niên hiệu Minh Mạng lấy từ sách “Thượng thư – Hàm hữu nhất đức”: “Khắc hưởng thiên tâm, thụ thiên minh mạng” (Được hưởng lòng trời, thì được cái mệnh sáng của trời).

Vua Minh Mạng là con thứ 4 của Nguyễn Thế Tổ Gia Long. Sau này, hoàng thái hậu Anh Duệ mất sớm, chuyển kế thừa cho con của hoàng hậu Thiên Cao, và coi ông là “đích tử”. Sau đó Nguyễn Phúc Đảm đổi tên thành Nguyễn Phúc Kiểu, được lập làm hoàng thái tử. Niên hiệu Minh Mạng cũng biểu lộ ngôi vị của ông là chính thống, ông lên ngôi là do thiên mệnh.

Tranh vẽ vua Minh Mạng. Ảnh dẫn theo honguyenvietnam.vn

Trong thời gian vua Minh Mạng trị vì, ông đã tiến hành rất nhiều cải cách. Minh Mạng đã xây dựng thể chế quan lại hệ thống hóa mô phỏng theo triều Mãn Thanh, hoàn thiện chế độ khoa cử, xây dựng chế độ hành tỉnh, đưa triều Nguyễn vào giai đoạn cực thịnh. Một lòng mong muốn xây dựng Việt Nam thành đại đế quốc như triều Thanh, ông đánh nam dẹp tây, mở rộng cương thổ của Việt Nam lớn nhất, thôn tính sát nhập Cam Pu Chia và Lào.

Nhưng về đối ngoại ông lại thi hành chính sách bế quan tỏa cảng. Trong nước thì cấm truyền bá Cơ Đốc giáo, bức hại giáo sỹ, làm cho phương Tây ác cảm, bị người phương Tây gọi là “Nero phương Đông”, đã để lại một mối hậu hoạ sau này. Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” đã đánh giá Minh Mạng:

Vua với tư cách thánh thượng kế thừa đại đinh, dốc sức trị quốc, tô điểm thái bình. Học điển cố xưa, sửa sang lễ nhạc, cẩn trọng quyền lực, rà soát pháp luật chế độ, đặt khoa cử chọn nhân tài. Vua cày ruộng khuyến nông, cử quan tuần các tỉnh, đặt chức kinh sát để kiểm tra quan lại. Cho đến ngăn chặn kẻ thân cận lộng quyền, ngăn ngừa cảnh giới hoạn quan, lệnh hoàng thân quốc thích không được can dự việc bên ngoài, ý vua ngăn chặn tệ nạ từ khi còn manh nha ra rất sâu sắc. 21 năm lo nghĩ, cần mẫn, khoan thứ, việc chính sự luôn giữ hàng ngày, phàm tất cả sắc lệnh, phê duyệt, dụ chỉ, bố cáo đều tự vua viết. Bắt đầu dạy chữ giáo hóa các vùng man di, uy danh chấn động Xiêm La, Lào, thánh đức thần công, không thể kể hết“.

Thiệu Trị – Niên hiệu của vua Đại Nam Hiến Tổ (7 năm, 1841 – 1847)

Đại Nam Hiến Tổ Nguyễn Phúc Tuyền tên ban đầu là Nguyễn Phúc Miên Tông, con trai trưởng đích hệ của vua Minh Mạng. Năm Minh Mạng thứ 21 (năm 1840) lên ngôi, niên hiệu Thiệu Trị. Thiệu Trị kế thừa đế quốc Đại Nam hùng mạnh, lãnh thổ bao gồm cả Cao Miên (Cam-pu-chia), Vạn Tượng (Lào)… Để bày tỏ kính trọng cha – vua Minh Mạng nên định niên hiệu là Thiệu Trị, với ý nghĩa là “Thiệu tiên hoàng Minh Mạng chi Trị” (Nối nghiệp trị vì của tiên hoàng Minh Mạng).

Tranh vẽ vua Thiệu Trị. Ảnh dẫn theo kienthuc.net.vn

Thời gian trị vì Thiệu Trị tôn trọng không thay đổi cách trị vì của vua cha, giữ lại các phép cũ. Về thái độ với phương Tây, Thiệu Trị cũng giống y như vua cha Minh Mạng, có thái độ bảo thủ và đối địch với các nước phương Tây, nhưng trong những năm Thiệu Trị cấm thiên chúa giáo có hòa hoãn hơn thời Minh Mạng. Thiệu Trị tiếp tục các chính sách của vua Minh Mạng, thưởng cho những người bắt các giáo sỹ phương Tây, và đưa các giáo sỹ bị bắt về Thuận Hóa giam giữ, lệnh cho họ dịch các sách phương Tây. Sau này người Pháp bắn pháo đánh Đà Nẵng. Vua Thiệu Trị nổi giận, lại tuyên bố lệnh cấm Thiên Chúa giáo, và tăng cường đàn áp giáo đồ Thiên Chúa giáo trong nước.

Tự Đức – Niên hiệu của vua Đại Nam Dực Tông (36 năm, 1848 – 1883)

Đại Nam Dực Tông Nguyễn Phúc Thì tên gốc là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con trai đích hệ của vua Thiệu Trị (con trai thứ 2), năm Thiệu Trị thứ 7 lên ngôi, năm sau đổi niên hiệu là Tự Đức. Trong “Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ” viết, nghĩa của Tự Đức là “Tự tiên hoàng Thiệu Trị chi Đức” (kế thừa đức của vua cha Thiệu Trị).

Trong thời gian Tự Đức trị vì, nước Đại Nam dần dần suy yếu, người Pháp xâm nhập, xâm chiếm mấy tỉnh phía nam, ký hiệp ước bất bình đẳng, Việt Nam dần dần trở thành thuộc địa Pháp. Về văn hóa, cũng như vua cha coi trọng giáo dục văn hóa là Nho gia, biên soạn nhiều bộ sách sử như “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, và viết “Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca”… Niên hiệu Tự Đức là niên hiệu sử dụng lâu nhất của triều Nguyễn. Các vua kế vị sau là Nguyễn Cung Tông và Hiệp Hòa cũng dùng niên hiệu này.

Tranh vẽ vua Tự Đức. Ảnh dẫn theo tongphuochiep.com

Tự Đức qua đời tháng 6 năm Tự Đức thứ 36, con nuôi trưởng của ông là Nguyễn Cung Tông Nguyễn Phúc Ưng Chân kế vị, nhưng kế vị được 3 ngày thì bị quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết soán cải di chiếu phế bỏ, và cũng chưa đặt niên hiệu. Sau khi Nguyễn Cung Tông bị phế, quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lập con thứ 29 của vua Thiệu Trị là Lang Quốc Công Nguyễn Phúc Hồng Dật lên ngôi, đổi tên là Nguyễn Phúc Thăng, sửa niên hiệu từ năm sau là năm Hiệp Hòa thứ nhất.

Hiệp Hòa có xuất xứ từ sách “Thượng thư – Nghiêu điển” là “Hiệp Hòa vạn bang, lê dân ư biến thời ung” (hòa hiệp với vạn nước thì nhân dân thời biến loạn sẽ trở lại yên bình hài hòa). Đại Nam lúc này đã tơi tả thảm hại, vua mới hy vọng dưới sự trị vì của mình có thể hòa hiệp với nước Pháp, để nhân dân an định. Nhưng vua Hiệp Hòa chỉ là bù nhìn, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền khiến vua hết sức bất mãn, muốn tiếp nhận chính sách bảo hộ do người Pháp đưa ra để chống lại đại thần phụ chính cường thịnh.

Sự việc bị Nguyễn Văn Tường biết và tấu bẩm Từ Dụ thái hậu. Ngày 29 tháng 11 năm 1883 đảo chính, Tường giết chết Trần Tiễn Thành và phế truất vua Hiệp Hòa, sử sách gọi là phế đế. Vì kế vị 4 tháng vẫn trong năm Tự Đức thứ 36, niên hiệu Hiệp Hòa vẫn chưa chính thức sử dụng.

Kiến Phúc – Niên hiệu của vua Đại Nam Giản Tông (1 năm, 1884) 

Đại Nam Giản Tông tên húy là Nguyễn Phúc Hạo, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là con nuôi của Tự Đức (con thứ 3). Quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sau khi phế giết vua Hiệp Hòa, ngày 30 tháng 11 năm 1883 lập Giản Tông, đổi niên hiệu là Kiến Phúc. Trị vì 1 năm, thời gian đó Việt Nam và Pháp ký “Hiệp ước Thuận Hóa thứ 2”, Việt Nam trở thành nước bảo hộ của Pháp. Việt Nam đem ấn vàng Việt Nam Quốc Vương do triều Thanh ban nấu chảy, tuyên bố thoát ly quan hệ triều cống với triều Thanh.

Hàm Nghi – Niên hiệu của vua Đại Nam Xuất Đế (năm 1885, phong trào Cần Vương sử dụng đến năm 1889)

Vua Hàm Nghi tên húy là Nguyễn Phúc Minh, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng, con của Kiên Thái Vương. Vua Kiến Phúc mất, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền không muốn để con nuôi thứ 2 của Tự Đức Nguyễn Phúc Ưng Kỳ lên ngôi, bèn đưa em trai Nguyễn Phúc Ưng Kỳ là Nguyễn Phúc Ưng Ủng lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Hàm Nghi. Hàm Nghi có nguồn gốc từ “Thi Kinh”: “Cảnh viên duy hàn thụ mệnh hàm nghi, bách lộc thị hà” (Núi Cảnh Sơn có sông lớn bao quanh, triều kế thừa triều Thương là thu mệnh trời, tất cả đều thích hợp, trăm lộc đều có cả). Nó phản ánh khát vọng cho nhân dân được yên vui của Hàm Nghi.

Khi vua Hàm Nghi trị vì, Việt Nam đã là thuộc địa của Pháp, người Pháp đối với hoàng thất cũng rất kiêu căng ngỗ ngược. Vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết phò tá lấy danh nghĩa hoàng đế ban “Cần vương chiếu”, và xin Mãn Thanh sắc phong, hiệu triệu nhân dân các địa phương nổi dậy chống sự thống trị của người Pháp. Các nơi khắp Việt Nam ào ào khởi binh hưởng ứng. Phong trào nổi dậy chống sự thống trị của người Pháp này được đời sau gọi là phong trào Cần Vương. Sau đó Hàm Nghi bị phản đồ bán đứng cho Pháp, bị bắt và lưu đày ở Algeria.

Đồng Khánh – Niên hiệu của vua Đại Nam Cảnh Tông (4 năm, 1885 – 1888)

Đại Nam Cảnh Tông tên húy là Nguyễn Phúc Biện, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Thị, là con nuôi thứ 2 của vua Tự Đức, năm Tự Đức thứ 35 được vua Tự Đức sắc phong làm Kiên Giang Quận Công. Sau khi vua Hàm Nghi ra đi phát động phong trào Cần Vương, chính quyền thuộc địa Pháp để vỗ về dân chúng đã thương lượng cùng Từ Dụ thái hậu lập Kiên Giang Quận Công Nguyễn Phúc Ưng Thị làm hoàng đế.

Thế là ngày 9 tháng 8 năm Hàm Nghi thứ nhất, đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Biện và làm lễ tấn quang, ngày 10 lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đồng Khánh, từ ngày 22 tháng 5 năm Hàm Nghi thứ nhất đổi là năm Ất Dậu Đồng Khánh, năm sau bắt đầu gọi là năm thứ nhất. Đồng Khánh có nghĩa là “Trung hưng đồng khánh” (phục hưng lại, tất cả đều vui mừng).

Lúc này triều Nguyễn hoàn toàn phụ thuộc vào Pháp nên để che giấu màu sắc thuộc địa, nên xưng là vua Đồng Khánh và người Pháp hợp tác khôi phục trung hưng Đại Nam. Vua Đồng Khánh tự nhận là “Quả nhân khôi phục lại hưng thịnh”, Đồng Khánh kế vị dưới sự bảo hộ của người Pháp tuyên bố Đại Nam là “Quốc thái dân an, phổ thiên đồng khánh” (Quốc thái dân an, khắp trời đều vui).

Thành Thái – Niên hiệu của vua Thành Thái

Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Chiêu, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con của Cung Tông. Năm Đồng Khánh thứ 3 vua Đồng Khánh qua đời, Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp Lê-na đưa Nguyễn Phúc Bửu Lân lên ngôi, và đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Chiêu, đổi niên hiệu là Thành Thái. Thành Thái có nguồn gốc từ “Dịch Kinh” là “Thái, tiểu vãng đại lai, cát hanh. Tắc thị thiên địa giao, nhi vạn vật thông dã” (Thái, đi nhỏ về lớn, tốt lành. Tức là trời đất giao hòa, vạn vật hanh thông). Có ý nghĩa là quẻ Thái là trời đất giao hòa mà Thành. Thái có nghĩa là an định.

Vua Thành Thái lên ngôi chú ý đến quốc sự, đi thị sát dân tình. Trong thời gian trị vì, thể hiện tương đối thân thiện với xã hội phương Tây, cũng là vị quân vương Việt Nam đầu tiên học lái xe, cắt tóc ngắn theo kiểu phương Tây. Tuy chịu ảnh hưởng của giáo dục nước Pháp sâu sắc, nhưng ông cảm thấy đau buồn vì quốc gia mình bị người Pháp khống chế. Năm Thành Thái thứ 17 (1907), vua Thành Thái bổ nhiệm một số quan lại mà chưa được sự đồng ý của chính quyền thực dân Pháp, làm cho người Pháp không tín nhiệm ông. Thế là Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp phế truất vua Thành Thái.

Duy Tân – Niên hiệu vua kế tiếp Đại Nam (10 năm, 1907 – 1916)

Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Hoảng, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh San, là con trai vua Thành Thái. Năm Thành Thái thứ 17, Nguyễn Phúc Vĩnh San mới 8 tuổi được lập làm hoàng đế, đổi tên là Nguyễn Phúc Hoảng, đổi niên hiệu là Duy Tân, Duy Tân có nguồn gốc từ sách “Thượng Thư” là “Hàm dữ duy tân” (Tất cả đều được đổi mới), với ý nghĩa là Đại Nam dưới sự bảo hộ của người Pháp, đất nước đổi mới, mọi người dân được an lạc.

Trong thời gian vua Duy Tân trị vì, người Pháp kiêu căng ngỗ ngược, vua Duy Tân cực kỳ căm ghét. Cuối tháng 4 năm 1916 (năm Duy Tân thứ 10), vua Duy Tân bí mật gặp các thành viên của Việt Nam Quang Phục Hội, lên kế hoạch đảo chính. Nhưng đảo chính thất bại. Người Pháp dự định đưa vua Duy Tân trở lại hoàng thành làm hoàng đế, nhưng vua không muốn làm bù nhìn. Thế là vua Duy Tân và vua cha bị lưu đày ở đảo Reunion.

Khải Định – Niên hiệu của vua Đại Nam Hoằng Tông (10 năm, 1916 – 1925) 

Tên húy là Nguyễn Phúc Tuấn, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, là con của vua Đồng Khánh. Ngày 18 tháng 5 năm 1916 (ngày 27 tháng 4 năm Duy Tân thứ 10) Nguyễn Phúc Bửu Đảo được thực dân Pháp lập làm hoàng đế Việt Nam, đổi niên hiệu là Khải Định. “Khải” là khai mở, “Định” là bình an, an định. Vì 2 vua Thành Thái, Duy Tân làm trái ngược ý chí của người Pháp, Khải Định mang ý nghĩa cam chịu làm bù nhìn cho người Pháp nên đặt niên hiệu là Khải Định. Trong thời gian trị vì ông đã ban bố nhiều pháp lệnh có lợi cho người Pháp. Ông cũng giống cha ông không nhận được nhiều thiện cảm của người dân Việt Nam.

Khi trị vì, Khải Định đã đến Marseille Pháp, tham gia triển lãm các nước thuộc địa Pháp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hoàng đế xuất ngoại thăm viếng. Nhưng chuyến đi Pháp này bị mọi người chê trách. Sau khi vua Khải Định lên bờ cảng Marseille, thì gặp phải sự phản đối của nhóm người Việt lưu vong ở Pháp.

Bảo Đại – Niên hiệu hoàng đế cuối cùng 

Vua Bảo Đại, hoàng đế cuối cùng của Việt Nam tên húy là Nguyễn Phúc Thiển, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Năm Khải Định thứ 10 (1926), Khải Định tạ thế, ông kế vị làm hoàng đế, đổi niên hiệu là Bảo Đại. Bảo Đại lấy từ “Tả Truyện – kỳ lục nhật” là “Tuy vạn bang, lũ phong niên, bảo đại, định công, an dân, hòa chúng” (Dẹp yên vạn nước, liên tiếp được mùa, giữ được vị trí nước lớn, lập công đức, làm dân yên ổn, hòa hợp với tất cả mọi người), ngụ ý là kéo dài phúc tộ nhà Nguyễn, lập công dựng nghiệp. Tiếc rằng Bảo Đại cũng giống như các tiên đế, vai trò quá mờ nhạt trong khi nhận sự bảo hộ của người Pháp. Các vua cũng sử dụng niên hiệu này là Tộ Đế nước Liêu, Trung Tông, nước Nam Đường đều giống nhau là phúc lộc quốc tộ hết.

Thời kỳ đầu thân chính, Bảo Đại có hoài bão lớn lao cải cách, hy vọng Việt Nam có thể độc lập phú cường như Nhật Bản. Trong vài tháng, ông nhanh chóng tiến hành một số cải cách bao gồm bãi bỏ các tập quán cũ lễ chế phong kiến. Ngày 2 tháng 5 năm 1933, Bảo Đại được Pasquier – bộ trưởng thuộc địa toàn quyền Pháp đồng ý, đã phát động “Đảo chính yên lặng”, giáng chức Nguyễn Hữu Bài và thân tín, đồng thời thăng chức các quan trẻ có tài Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn và đưa vào nội các.

Trong triều đình, lần thay đổi nhân sự này của Bảo Đại không những được lòng phái bảo hoàng đang muốn tăng quyền lực cho ông ủng hộ, đồng thời cũng nhận được sự ủng hộ của phái cấp tiến đang muốn thay đổi hiện trạng, tiến hành cải cách ủng hộ. Nhưng cải cách của Bảo Đại đã sớm gặp trở ngại, ông phát hiện ra mình chẳng có mấy thực quyền, mất đi sự đồng ý của bộ trưởng thuộc địa toàn quyền, cải cách cảu Việt Nam bị đình trệ, thế là ông bắt đầu cảm thấy thất vọng về cải cách.

Năm 1945, quan Nhật xâm nhập Đông Dương, Bảo Đại phát động đảo chính, tuyên bố Việt Nam độc lập thoát ly nước Pháp, đổi quốc hiệu là Việt Nam Đế Quốc, xưng là Việt Nam Hoàng Đế. Không lâu sau đó, quân Nhật chiến bại trong chiến tranh thế giới phải đầu hàng. Nhân cơ hội đó, Việt Minh phát động khởi nghĩa giành chính quyền, yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị. Vua Bảo Đại và triều đình nhà Nguyễn chấp nhận yêu cầu, tự nguyện trao lại quốc tỷ và bảo kiếm tượng trưng cho địa vị thiên tử, chuyển giao quyền lực trong hòa bình. Chế độ vua chúa Việt Nam cũng kết thúc từ đó. Những niên hiệu cũng chỉ còn lại trong ký ức.

Tác giả: Hải Sơn biên dịch

 ***************

Vì sao gần một nửa dân số Việt cùng mang họ Nguyễn?

 

Image result for Vì sao gần một nửa người Việt cùng mang họ Nguyễn?

 

Chắc hẳn ai cũng từng nghe hoặc từng quen biết một người họ Nguyễn. Trên trường quốc tế, đó là một dấu hiệu nhận diện người gốc Việt. Nhưng tại sao gần 40% người Việt lại có chung một họ Nguyễn này? 
 
Nếu căn cứ theo tỉ lệ này, cứ ba người dân Việt Nam có ít nhất một người mang họ Nguyễn. Những người mang họ Nguyễn trên toàn thế giới có khoảng 35 triệu người, tức là nhiều thứ ba sau họ Lý và họ Trương của Trung Quốc. 
Cấu tạo tên họ của người Việt khác với người Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tên họ người Việt Nam phân thành 3 phần: Họ – tên đệm – tên. Ở những trường hợp chính thức, thông thường người ta chỉ gọi tên. Tên người thường là ba chữ hoặc bốn chữ, cũng có khi là 2 chữ (ví dụ Nguyễn Trãi). 
Vậy thì tại sao họ Nguyễn lại trở thành dòng họ lớn nhất và đông nhất ở Việt Nam? Có rất nhiều nguyên nhân lịch sử cho hiện tượng này.
 
Thời cổ đại 
Vào thời Nam Bắc triều (420 – 589) Trung Hoa thiên hạ đại loạn. Vì để lánh nạn mưu sinh, một bộ phận gia tộc họ Nguyễn sống tại An Huy, Chiết Giang, Hồ Bắc… di cư sang Việt Nam. 
 
Số người này sinh sống ở Việt Nam, qua thời gian đã đồng hoá cùng dân bản địa để tạo nên thêm một phần đáng kể người Việt có họ Nguyễn. Sau đó vào thời Ngũ Đại (5 triều đại nối nhau cai trị Trung Nguyên: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu 907-960), dần dần lại có nhiều người họ Nguyễn di chuyển về phía Nam, bổ sung thêm vào số lượng người họ Nguyễn bản địa ở Việt Nam. 
 
Sự phát triển của dòng họ lớn nhất Việt Nam cũng gắn liền quan hệ với triều đại nhà Trần. Trước triều Trần là giai đoạn trị vì của nhà Lý (1009 – 1225). Từ khi Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Tiền Lê đến khi Lý Chiêu Hoàng bị ép thoái vị để nhường ngôi cho Trần Cảnh, tổng cộng là 216 năm.
Những năm đầu tiên, Trần Cảnh còn nhỏ tuổi, toàn bộ quyền hành của nhà Trần đều do một tôn thất vai chú của Trần Cảnh là Trần Thủ Độ nắm quyền. Trong thời gian này, Trần Thủ Độ đã làm một việc trực tiếp ảnh hưởng tới tên họ của người Việt. 
Đó là việc gì? Đời Trần Thái Tông (1232), sau khi đã đoạt ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ lấy lý do tổ nhà Trần tên Lý, đã bắt tất cả những người họ Lý là họ dòng vua vừa bị hoán vị còn trốn lẩn trong dân gian phải đổi thành họ Nguyễn. 
 Tuy nhiên ý đồ thật sự của Trần Thủ Độ là khai tử dòng vua Lý để không còn ai nhớ đến họ Lý nữa. Còn lý do vì sao khi đó ông lại lựa chọn họ Nguyễn để thay họ Lý, cho tới nay vẫn chưa được lý giải rõ, cũng có thể đó là lựa chọn một cách ngẫu nhiên. 
Tuy nhiên trong sử sách chỉ ghi chép lại đơn giản như sau: “Sau khi nhà Trần nắm giữ quyền lực, tất cả những người mang họ Lý trong đất nước đều phải đổi sang họ Nguyễn”. 
Có một điều càng không thể tưởng tượng được, đó là đổi họ đã trở thành một tục lệ của người Việt Nam thời cổ đại. Cứ mỗi khi một triều đại mới được thay thế thì tất cả những người mang họ của triều đại trước sẽ phải sửa thành họ Nguyễn. Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có nhiều sự kiện như vậy khiến số người mang họ Nguyễn đã nhiều lại càng nhiều hơn. 
Năm 1232, nhà Lý suy vong, Trần Thủ Độ đã bắt con cháu của dòng họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông ấy đã giết hại rất nhiều con cháu họ Trần. Vì thế, sau khi nhà Hồ sụp đổ, con cháu của họ Hồ vì sợ trả thù nên tất cả đã đổi sang họ Nguyễn. 
 
Năm 1592, nhà Mạc suy tàn, con cháu của dòng họ Mạc cũng lại đổi họ sang Nguyễn. Khi triều đại nhà Nguyễn nắm quyền năm 1802, một số con cháu họ Trịnh cũng vì sợ trả thù nên lần lượt đổi hết họ sang Nguyễn, số còn lại trốn lên Bắc sang Trung Quốc.
Trong luật pháp của nhà Nguyễn, những người mang họ Nguyễn được hưởng nhiều đặc lợi, được triều đình ban thưởng. Vì thế các tội nhân cũng theo đó đổi họ sang Nguyễn nhằm tránh bị bắt tội, hưởng thêm ân sủng. 
Cùng theo sự thay đổi của các triều đại những người mang họ Nguyễn càng ngày càng đông lên, cuối cùng lập ra triều Nguyễn. Triều Nguyễn cũng là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. 
 
 
  Thời cận đại  
Trước khi đề cập tới quãng thời gian này, cần nhấn mạnh một đặc điểm của các dòng họ Việt Nam thời cổ đại. Vào thời cổ đại, dân chúng ở tầng lớp thấp bình dân thường không mang họ, chỉ có các  vương tôn quý tộc mới có họ. 
Vào thế kỷ 19, khi Việt Nam trở thành thuộc địa của người Pháp, lần đầu tiên người Pháp có cuộc điều tra về dân số với quy mô lớn nhất trên khắp Việt Nam.
 Trong quá trình điều tra họ gặp phải một vấn đề phiền phức lớn, đó là: Đa số người dân ở tầng lớp thấp bình dân đều không có họ, nên không có cách nào để thống kê tổng kết. 
 Vào lúc này phải làm như thế nào? Người Pháp liền nghĩ ra một cách, trước đây triều Nguyễn chẳng phải là triều đại cuối cùng của người Việt sao, vậy những người không mang họ đó để họ đều mang họ Nguyễn. Dòng họ này, bởi thế lại được mở rộng với quy mô lớn chưa từng có thêm một lần nữa.
Kỳ thực cho dù không có người Pháp, họ Nguyễn vẫn là một dòng họ lớn nhất Việt Nam, tuy nhiên để chiếm một tỉ lệ lớn 38% như vậy, không thể không kể tới tác động của người Pháp. 
 Bây giờ, khi ra đường, bất kể gặp một người họ Nguyễn nào, bạn hãy nói rằng họ đang có một tên họ đặc biệt nhất Việt Nam. Còn nếu đang mang họ Nguyễn, có lẽ bạn nên đọc bài viết này.
 
Kiên Định 
 
Hồng Vân st
 
Hình ảnh Chiêm ngưỡng bút tích của các hoàng đế triều đại cuối cùng ở Việt Nam số 1
Xem thêm...

Những kỷ niệm tinh khôi như hạt sương trắng trong

Related image

Ký ức tuổi thơ tôi, những kỷ niệm tinh khôi như hạt sương trắng trong

Chuyên mục Nghệ Thuật dành tặng quý độc giả những dòng cảm xúc tinh khôi do những em nhỏ viết lên. Những cảm xúc gợi lên ký ức về một tuổi thơ ngọt ngào, như hành trang thiện lành quý giá giữa cuộc sống bộn bề, nhiều âu lo.
Tuổi thơ như hạt sương đọng trắng tinh khôi trong ánh nắng ban mai. Bởi trong cái tuổi hồn nhiên ấy, chẳng có so đo tính đếm lợi ích cá nhân, chẳng có được mất, sẵn sàng hết mình giúp bè bạn. Cái thời áo vá chân trần hồn nhiên vô tư lự quên cả đất trời. Thời “trẻ trâu” ngày ấy, nào có cái gì quá đỗi quan trọng, chẳng có điều chi khiến chúng ta phải nhăn mặt cau mày.
Có lẽ vì vậy mà ai cũng ước ao được trở về giây phút hạnh phúc trẻ thơ, như trở về dòng suối mát nơi nguồn cội.
 
Từng sống tháng năm tuổi trẻ hết mình
Như áo vá chân trần thời chăn trâu cắt cỏ
Ôi một thời hồn nhiên – Một thời quá khứ
Cho nâng niu ta được sống hai lần…
 
(Gặp lại bạn thời cắt cỏ chăn trâu- Nguyễn Trọng Đồng)
(Ảnh: Pinterest.com)
***
Nỗi niềm của cây lúa – Tác giả Thu Hoa (13 tuổi)
Mùa xuân đã đến. Trên cánh đồng, trong lúc các chị lúa Nếp Hương khoe với nhau những tấm thân thon thả, những cánh tay mềm mại thì Nông Nghiệp 8 buồn lắm. Nó thấy tủi thân. Nó oán trách ai đã đem cấy nó vào đây, không biết vô tình hay hữu ý. Rồi nó lại tự giận mình có vóc người lùn tịt và béo mập. Nhưng lắm lúc nó cũng lại tự an ủi: “Chả lo. Cứ ăn khỏe là mình sẽ xinh xắn ngay”. Từ đó, nó ra công chọn các thức ăn thật quý còn ẩn kín trong đất. Khốn thay, người nó cứ to bè. Chỉ có tấm áo là trông đẹp đẽ hẳn.
 
Mỗi lần nhìn lên trời cao, nó lại thấy tay mình. Những cánh tay giơ cao, thẳng đuột, trông chả “con gái” một chút nào. Trong đêm khuya, lúc mọi người thỏa sức uống sương đang sa xuống thì nó phải chịu đứng im, thèm muốn. Tay nó nhọn và sắc quá.Hạt sương vừa chạm phải đã phải nhảy vội ra ngoài. Nó cảm thấy mình xấu hơn khi trong bụng ôm ấp lứa con đầu tiên. Bụng nó mỗi ngày một căng to làm cái áo hóa chật. Nó phải kéo mãi, kéo mãi hai tà áo mới khin khít được. Nó thấy ngượng. Cuối cùng, nó cũng sinh được đàn con kháu khỉnh. Dạo này, nó bận rộn hẳn. Làm gì cũng phải gượng nhẹ. Mấy đêm liền thức trắng, nó khâu được những cái mũ thóp bé tẹo, có dính tua hoa khá dài ở một bên cho đàn con. Nó gầy đi nhiều. Nhưng nó rất vui khi ngắm những bé thóc béo tròn. Thời gian trôi nhanh quá! Nó lại phải khâu hàng loạt áo vàng tươi và mỏng dính cho các con.
 
Cây lúa ra hoa, rồi những hạt non sẽ ngậm sữa, hút dưỡng chất trong đất mà lớn lên. (Ảnh: Growmorex.com)

Mùa hè đã tới. Trong những trận sấm rền, Nông Nghiệp 8 tha hồ mà tắm. Thân hình nó thon thả hẳn. Nó thấy mình trẻ, đẹp và hạnh phúc vô cùng.
Trên cao, các chị Nếp Hương cũng sinh được những đàn con. Trông chị nào cũng khẳng khiu và hay thở dài.
Rồi, một đêm… Trời đang sáng trăng bỗng tối sầm. Mưa trút nước ào ào. Gió gào ràn rạt. Các chị Nếp Hương hoảng hốt ngã dúi dụi vào nhau. Nhưng Nông Nghiệp 8 can đảm hơn. Những bàn tay xinh xinh của nó cố dang rộng, che chở cho các con. Trong đêm tối, nó vẫn đứng thẳng lên, trông đẹp lạ!
Sáng hôm sau, các chị Nếp Hương được bà con nông dân nâng dậy. Hàng trăm ánh mặt cảm phục trìu mến nhìn Nông Nghiệp 8. Sung sướng quá, nó chỉ biết ôm con vào lòng, ru chúng ngủ bằng giọng hát êm đềm thiết tha.
 
Bãi biển Đồng Châu quê hương tôi – Tác giả Phúc Linh (12 tuổi)
Chiều tối, chúng tôi ra chơi ngoài bãi biển. Nắng đã nhạt, mặt biển chỉ còn đọng lại một lớp ánh vàng rất mỏng. Những con le le màu nâu sẫm đang ăn chụm lại thành từng đàn. Chợt thấy người, chúng bay lên chỉ để lại những tiếng kêu xao xác và những dấu chân xinh xinh in trên cát.
 
Những con còng biển còn mang tên còng gió, vì khẽ chạm chúng chạy như bay như biến trên bãi cát phẳng lỳ. (Ảnh: WordPress.com)

Ngoài xa, những con sóng hiền hòa như những nốt nhạc dào dạt vỗ vào bờ. Đứng trên bãi biển này, tôi mới hiểu thì ra lúc trời yên, biển hiền hòa dịu dàng đến thế! Nước biển Đồng Châu màu hồng nhạt chứ không xanh như nước biển Hạ Long. Có lẽ nó còn mang theo màu phù sa của bờ bãi sông Hồng. Lúc còn ở trên xe, tôi cứ hình dung biển hung dữ lắm. Sóng biển phải to như những dãy nhà ấy chứ. Mấy chúng tôi thả bộ trên bãi biển. Cát mịn dưới chân. Sóng rì rào như kể cho chúng tôi nghe câu chuyện của những cây sú, cây vẹt sai trĩu quả đang đứng hiên ngang chắn sóng cho làng.
 
Rồi trăng lên! Trăng như từ mặt biển bay lên, tòa ánh sáng dịu dàng. Gió từ biển thổi vào mát rượi. Mang theo cả hơi muối mặn của đại dương. Cả chúng tôi vừa cười khanh khách vừa đuổi theo những con còng đỏ như lửa đang cố chạy trốn thật mau. Những con dã tràng miệt mài xe cát. Những viên cát tròn, nhỏ như hạt ngọc màu nâu…
Biển chiều quê hương đẹp biết bao. Tôi yêu giây phút đứng trên bãi biển nghe ngân nga sóng vỗ và dịu dàng gió thổi.
 
Tuổi thơ cánh diều bay cao. (Ảnh minh họa/Luc Forsyth)
 
Tuổi thơ lộng gió cho cánh diều bay cao. (Ảnh minh họa/Luc Forsyth)
 
Buổi đầu tôi đi gặt – Tác giả Ngọc Châu (15 tuổi)
– Châu ơi, mai con đi gặt nhé!
Câu nói ấy của mẹ tôi đối với các bạn nhỏ tuổi ở xóm tôi là chuyện thường nhưng đối với tôi thì “hệ trọng”.
Tôi là con út. Bố tôi và các anh, các chị đều đi công tác xa, chỉ còn mẹ tôi, tôi và anh Hùng ở nhà. Ở nông thôn nhưng tôi được cưng chiều và sống như các bạn ở thành phố. Sau nửa ngày đi học, tôi chỉ về nhà đọc sách và thổi cơm. Tôi không ra đồng bao giờ. Bắt cua, mò ốc, tát cá, những việc đối với học sinh nông thôn vừa là công việc, vừa là thú vui, nhưng tôi không biết làm.
Tôi chưa kịp trả lời thì mẹ tôi tiếp:
– Đi làm cho quen con ạ. Xong vụ này anh Hùng vào đại học, ở nhà con phải phụ việc đồng áng với mẹ chứ!
– Vâng, mai con đi gặt với mẹ, tôi đáp vội vì sợ mẹ tôi buồn.
Từ lúc đó, tôi cứ hồi hộp, lo lắng. Tôi vào trong buồng tìm bộ quần áo cũ để mai mặc đi gặt.
 
Tháng 5, mùa lúa chín vàng ươm chờ tay người gặt trên đồng. (Ảnh: baothuathienhue.vn)
Tháng 5, mùa lúa chín vàng ươm chờ tay người gặt trên đồng. (Ảnh: baothuathienhue.vn)

Ba mẹ con tôi quẩy quang gánh ra đồng lúc trời vẫn còn mờ tối. Tôi cứ tưởng mẹ gọi dậy quá sớm. Nhưng ra đường làng tôi đã thấy rất đông người. Họ cười nói râm ran. Tôi nhận ra giọng nói của mấy đứa bạn. Cái Nga lanh chanh, cái Liễu nói oang oang, cái Oanh gầy trong trẻo, tiếng thằng Tuấn láu cá thì nhanh và hay gây cười. Tôi nghĩ: “Thế nào chúng nó cũng ngạc nhiên thấy mình đi làm đây”.
Tôi đã không nhầm. Trông thấy tôi, cái Liên đã nói to.
– Chà, nay đi gặt cơ à?
Thế là chúng nó ở đâu xúm lại:
– Ối giời ơi, đến mưa mất!
– “Nhà văn” đã đi thực tế kìa!
Nghe chúng nó đùa như vậy, tôi vừa vui vừa xấu hổ.
Từ lúc vào ruộng lúa, bước chân của tôi cứ xiêu vẹo. Tôi đi trên bờ ruộng mà như đi trên chiếc cầu tre nhỏ vắt vẻo qua sông, hai tay tôi luôn phải giơ lên giữ thăng bằng. Đôi lúc tôi chúi về phía trước và suýt ngã xuống ruộng.
Tôi đứng trước ruộng lúa chín rộ đầy ắp như một mâm xôi mà không biết bắt đầu từ đâu. Mẹ tôi chỉ cho tôi chỗ đứng, dặn dò cẩn thận kẻo cắt vào tay.
 
(Ảnh: Pinterest)

Sau trận mưa rào, ruộng ì ũm những nước, tôi bước chân xuống, một tiếng “ọp” gọn lỏn phát ra và tia nước đục ngầu phụt lên làm bẩn quần áo tôi. Tôi cười ngượng nghịu.
Mẹ tôi và anh Hùng đã mở được một lối bằng cái nia. Chiếc liềm sắt cong cong như mảnh trăng đầu tháng mẹ tôi đưa nhanh thoăn thoắt. Tiếng cắt lúa nghe ngọt xớt.
Tôi cúi xuống đưa lưỡi liền sát gốc rạ. Tôi tưởng liềm của mình cũng sẽ xén băng băng, nào ngờ cứa đến bốn phát gốc lúa vẫn không đứt. Tai tôi nóng lên và sợ mẹ tôi trông thấy. Nhưng mẹ đã biết điều ấy.
– Mẹ… mẹ, hình như cái liềm nó cùn ấy.
Tôi nói chữa thẹn vậy chứ cái liềm của tôi sắc nhất. Mẹ ân cần bảo:
– Con vòng cái liềm ra gốc rồi giật mạnh chứ đừng cứa cứa như kéo cưa, chậm lắm.
Tôi làm theo lời mẹ cắt xoẹt từng gốc lúa rất ngọt. Dần dần tôi cắt nhanh hơn trước nhưng vẫn bị tụt lại sau mẹ và anh Hùng. Thỉnh thoảng mẹ phải lùi lại gặt trợ giúp. Mẹ còn hướng dẫn tôi cách để lúa cho gọn bông, dễ xén, không rơi rụng, gối đầu lúa lên rạ cho khỏi ướt bông. Mới gặt được một lúc mà lưng tôi mỏi nhừ, mặt nhễ nhại mồ hôi. Tôi bước những bước xiêu vẹo, khó nhọc, mỗi bước đi nước cứ vọt tung làm ướt thêm quần áo. Một lúc sau thì tay tôi không muốn cắt nữa. Biết tôi đã mệt, mẹ giục tôi lên bờ nghỉ trước.
 
(Ảnh: Pinterest)

Tôi lên bờ ngồi bên gốc cây cầm cái nón quạt lấy quạt để. Một lúc sau, mẹ tôi và anh Hùng gánh lúa lên đặt tạm xuống bờ mương. Tôi cầm nón quạt cho mẹ. Anh tôi rót nước mời mẹ. Mẹ uống nước, những giọt mồ hôi ròng ròng, nhỏ vào bát nước chè xanh. Mặt mẹ đỏ sạm vì nắng. Chiếc nón trên tay, tôi bỗng dừng lại, tôi nhìn mẹ thấy trong cổ mình có một cái gì nghèn nghẹn. Tự nhiên, tôi thấy mình có lỗi, đây là lần đầu tiên tôi phần nào hiểu được nỗi vất vả của mẹ và bà con quê tôi để làm ra hạt lúa. Tôi kể lại chuyện này khi tôi đã trở thành một “thợ gặt” có tay nghề khá. Thế nhưng hình ảnh về buổi đầu làm việc nhà nông ấy vẫn in đậm trong tôi.
Image result for Ký ức tuổi thơ tôi photos
 
Related image
 
Image result for Ký ức tuổi thơ tôi photos
 
Related image
 
Image result for Ký ức tuổi thơ tôi photos
 
Image result for Ký ức tuổi thơ tôi photos
 
Related image
 
Lan Chi sưu tầm
Xem thêm...
Theo dõi RSS này