Văn học

Văn học (184)

Vì sao cúng giao thừa là lễ quan trọng nhất Tết Nguyên đán?

Related image
 

Vì sao cúng giao thừa là lễ quan trọng nhất Tết Nguyên đán?

Image result for Cúng tất niên 30 Tết photos
 
Cúng giao thừa hay lễ trừ tịch là lễ quan trọng nhất trong Tết Nguyên đán bởi ý nghĩa sâu xa. Vì vậy, người Việt xưa thường cúng giao thừa rất long trọng.
Ngày 30 Tết hàng năm, người dân Việt gấp rút hoàn thành những công việc, lễ nghi cuối cùng trước khi đón năm mới. Trong ngày ấy, hai nghi lễ cúng tất niên và cúng giao thừa được các gia đình Việt rất coi trọng.

Cúng tất niên 30 Tết

Trong sách Nghi lễ dân gian - Nghi lễ cúng gia tiên, Minh Đường cho biết ngày 30 Tết, người dân thường ra mộ tổ tiên và người thân đã khuất để lễ tạ Thổ thần. Đồng thời, họ đắp thêm đất và sửa sang mộ, rước vong linh gia tiên về đón năm mới. Khi ra mộ, người ta thường chuẩn bị lễ cúng, gọi là lễ Chạp. Với những gia đình không có điều kiện ra mộ, họ có thể rước gia tiên về đón năm mới bằng cách bày cỗ lên bàn thờ với đền, hương, hoa dâng cúng vào trưa (giờ Ngọ) ngày 30 Tết. Sau đó, con cháu khấn tổ tiên về dự hưởng Tết với gia đình.
Mâm cỗ gia tiên phải được chuẩn bị chu đáo, bao gồm hương hoa, trầu cau, vàng mã. Ngoài ra, lễ mặn hoặc ngọt tùy theo gia chủ chuẩn bị nhưng mâm cúng lễ phải đầy đặn, bày biện cẩn thận để mang ra ngoài mộ hoặc bày lên bàn thờ gia tiên.

Image result for Cúng tất niên 30 Tết photos

Ý nghĩa lễ trừ tịch

Sau khi cúng tất niên, lễ cúng giao thừa (hay lễ trừ tịch) được thực hiện vào nửa đêm 30, rạng sáng mùng một Tết.
Nhà nghiên cứu Minh Đường nhấn mạnh lễ giao thừa là lễ quan trọng nhất trong dịp Tết Nguyên đán. Đó là lễ dâng hương vào giây phút chuyển giao giữa giờ khắc cuối cùng (giờ Hợi) của năm cũ và giờ khởi đầu (giờ Tý) của năm mới.
Người ta tin rằng mọi điềm hay, dở xảy ra vào giây phút này có liên quan tới mọi sự hay, dở của tất cả thành viên gia đình trong năm mới. Trong giây phút thiêng liêng ấy, mọi người đều quên đi tất cả những điều không hay trong năm cũ. Mọi sự kiêng kỵ được thực hiện triệt để từ giây phút giao thừa tới sáng sớm mùng 1 Tết.
 
Related image

Người Việt thường chuẩn bị những mâm cỗ thịnh soạn để cúng tất niên, giao thừa. .
 
Tác giả Nhất Thanh lý giải thêm về ý nghĩa của tục cúng giao thừa hay lễ trừ tịch trong sách Đất lề quê thói. Theo ông, người ta làm lễ trừ tịch vào thời khắc giao thừa để tiễn vị thần năm cũ và đón vị thần năm mới. Vị thần cũ giao lại công việc để thần mới tiếp nhận (trừ là trao lại chức quan, tịch là ban đêm).
Người Việt xưa tin rằng mỗi năm có một vị thần Hành khiển coi việc nhân gian gọi chung là Đương niên chi thần, ngoài ra, mỗi vị có tên riêng với vương hiệu và có một vị phụ tá là Phán quan. Mười hai vị Hành khiển luân phiên từ năm Tý đến Hợi. Sau khi hết lượt mười hai năm, năm Tý quay trở lại với vị Hành khiển của năm ấy.
Theo Nhất Thanh, Hành khiển có ông thiện, ông ác. Vì vậy, có nhiều năm người dân phải chịu thiên tai, hạn hán, lụt lội, mất mùa, đói kém hay dịch tễ, chết hại. Những tai ương ấy là do sớ tấu của Hành khiển trừng phạt vua quan không có nhân chính hay dân ăn ở càn rỡ.
Bên cạnh việc tiễn, đón các vị Hành khiển, Phán quan của các năm cũ, mới, người dân còn cầu cúng cả Bản cảnh Thành hoàng và Thổ địa Thần kỳ trong lễ trừ tịch.
Các thôn xã thiết lập hương án nơi trung thiên, sân đình, Văn chỉ hay ở ngã ba trước điếm canh để tế lễ trọng thể với đầy đủ lễ vật. Tư gia thường không làm riêng lễ trừ tịch.
 
Related image
 
 
5 quan niệm kiêng kỵ trong ngày Tết
 
Vào dịp đầu năm mới, mọi người thường kỵ xin lửa, đổ rác hay không vay mượn tiền của nhau.

Mâm cỗ cúng giao thừa

Thời điểm giao thừa, người ta thường cúng lễ ngoài trời và trong nhà.
Lễ vật cúng giao thừa ngoài trời gồm hương, đăng (nến), trầu, rượu, vàng, tiền (hàng mã)… Ngoài ra, lễ vật cần thêm thủ lớn luộc (cả cái) hoặc gà trống luộc (cả con, đủ bộ), xôi nếp, bánh chưng…
Những lễ vật này cần được chuẩn bị từ trước thời điểm giao thừa. Chúng được đặt trên bàn hay mâm lớn kê trên một cái đôn (không để trên mặt đất). Tới đúng thời điểm giao thừa, người dân thắp đèn, hương. Nếu có chuẩn bị văn khấn trên giấy để đọc thì sau khi đọc xong, người ta đốt ngay cùng với tiền, vàng dâng cúng. 
 
Related image
Sau khi cúng giao thừa, người Việt còn có tục đi chùa cầu may. 

Related image
Image result for Cúng tất niên 30 Tết photos

Mâm cơm cúng tất niên bày biện hơn 40 món của nữ tiến sĩ văn hóa


Các món trong mâm cúng nhà chị Đặng Thiếu Ngân ở Hà Nội được bày biện theo từng chủng loại và phối màu sắc.
 

 

Mâm cúng tất niên
Mỗi người có một sở thích đầu tư cho lễ, Tết. Với chị Ngân, lo cúng lễ, bày biện ban thờ là việc quan trọng và hân hoan nhất.
    Mâm cúng tất niên  - 1
   
Mâm cơm cúng tất niên hôm 29 Tết được chị bày biện suốt 5 tiếng, từ 9h đến 14h, mới ưng ý để thắp hương.
 
  Mâm cúng tất niên  - 2
Mâm cúng tất niên  - 3
Nữ tiến sĩ tâm sự, chị luôn muốn tìm những gì tốt nhất, đẹp nhất có thể để dâng lên tổ tiên, ông bà. Chị đặt mua các món ăn ngon và trang trí đẹp mắt để bày biện trên ban thờ.
Ba loại canh trong mâm cỗ cúng.
Ba loại canh trong mâm cỗ cúng.
Mâm cỗ hàng chục món được bày biện theo từng chủng loại như món mặn, món ngọt hay hoa quả và phối theo màu sắc.
Mâm cỗ hàng chục món được bày biện theo từng chủng loại như món mặn, món ngọt hay hoa quả và phối theo màu sắc.
 
Bánh trung thu Cung chúc tân xuân
Bên cạnh những món truyền thống của Việt Nam và Hàn Quốc, mâm cỗ nhà chị Ngân còn có nhiều món mới lạ như bánh trung thu Cung chúc tân xuân hay bánh gato xôi có hình hoa đào, bánh chưng, đĩnh vàng, rượu chữ Phúc.
Mâm cúng tất niên  - 5
Các món mặn trong mâm cỗ đều do chính tay chị Ngân chuẩn chị, còn các loại bánh được đặt theo chủ đề yêu cầu.
Bánh gato xôi hoa đào.
Bánh gato xôi hoa đào độc đáo nổi bật trong mâm cúng.
Ngoài bánh chưng cẩm, bánh chưng gấc, mâm cỗ còn có bánh chưng Lang Liêu.
Ngoài bánh chưng cẩm, bánh chưng gấc, mâm cỗ còn có bánh chưng Lang Liêu.
Mâm cúng tất niên  - 8
Các con của chị Ngân háo hức cùng bố mẹ trang hoàng nhà cửa và nấu cỗ Tết.
 
 
Tuệ Minh sưu tầm
 
Ảnh: Minh họa
Xem thêm...

Giao thừa, thời khắc ‘bản lề’ giữa cũ/mới, trong nhạc Việt

Giao thừa, thời khắc “bản lề”

giữa cũ / mới, trong nhạc Việt

*** Du Tử Lê  ***

 GIỜ KINH GIAO THỪA

 
Mùa xuân, với bất cứ một dân tộc nào, ở bất cứ đâu trên trái đất, cũng không chỉ là mùa đầu tiên trong vận hành một năm bốn mùa, với sự hồi sinh của thiên nhiên, cây cỏ, sinh vật… Mà, mùa xuân còn là mùa hy vọng đổi mới của mọi người – – Dù cho đó là người thành công hay thất bại; người giầu hay kẻ nghèo, trong năm cũ.

Giữa những giây phút cuối cùng của năm cũ sẽ vĩnh viễn khép lại và, một năm mới hớn hở mở ra, có một khe hở mà, chúng ta gọi là Giao thừa. Nó như chiếc “bản lề” nối kết giữa cũ và mới. Với nhiều dân tộc, thời khắc “bản lề” này có phần lung linh, thiêng liêng không kém gì ngày đầu tiên của một năm mới.

Có dễ chính vì thế mà về phương diện ca khúc, giao thừa cũng đã để lại cho chúng ta nhiều sáng tác giá trị, dù không nhiều, nếu so sánh với những ca khúc viết về mùa xuân.

Điển hình cho cảm thức giao thừa lung linh trong tân nhạc Việt, nhiều người tới giờ vẫn còn nghe âm vang trong ký ức một thời, ca khúc “Phiên gác đêm xuân” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Một ca khúc đẹp, trong sự nghiệp âm nhạc của người nhạc sĩ tài hoa này.

 Lunar New Year -Vietnamese New Year 2018 Greeting Images

 Rõ hơn, đó là ca khúc phản ảnh tâm trạng của người lính gác giặc, đồn trú nơi biên ải. Mặc dù người lính trong ca khúc là nhân vật không được nêu đích danh – một thứ chủ từ ẩn, nhưng không một ai, khi nghe ca khúc này, mà, không cảm nhận được sự hiện diện cùng tâm tình của người lính đó:

“Đón Giao Thừa một phiên gác đêm 
Chào xuân đến súng xa vang rền 
Xác hoa tàn rơi trên báng súng 
Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi”

Ảo tưởng hay ảo giác giữa tiếng súng và tiếng pháo cho thấy người lính gác giặc của “Phiên gác đêm xuân”, dù đang trong nhiệm vụ gác giặc, nhưng cũng chẳng vì thế mà không bị chi phối, rơi, đắm vào cái khe hở linh lung của giao thừa, giây phút bàn giao giữa cũ, mới…

Mở đầu này, mặt nào khác, cũng cho thấy tính nhân bản, không một chút hiếu sát, thù hận của người lính miền Nam, với truyền thống đón giao thừa theo tập quán hay văn hóa Việt, đã có hằng nghìn năm trước.

Thêm một bước, vào sâu hơn tâm sự của mình, người lính gác giặc nói với người thương của mình ở hậu phương, về tình yêu của chàng, nhiều như nước sông – – Một so sánh hay liên tưởng chân thành, nên dễ dàng tạo được cảm thông, chia sẻ của người nữ cô đơn, vò võ cuối chân trời.

Từ tình yêu chân thành ấy, người lính gác giặc hy vọng hay, tin tưởng rằng chàng sẽ không bị “trách người đem thân giúp nước”… Vì, cách gì thì, người lính gác giặc cũng vẫn là công dân của một đất nước trong chiến tranh:

“Bấy nhiêu tình là bao nước sông 
Trời thương nhớ cũng vương mây hồng 
Trách chi người đem thân giúp nước 
Đôi lần nhớ bâng khuâng, gượng cười hái hoa xuân”

Chuyển qua điệp khúc, là những mơ tưởng rất cụ thể, hiện thực lúc người lính gác giặc nhớ tới nơi chốn sinh ra, lớn lên, trưởng thành… Rồi giao thừa, nhang đèn, bánh chưng…, những phẩm vật được trưng nơi bàn thờ, gần như không thể thiếu trong truyền thống đón Tết của người Việt:

“Ngồi ngắm mấy nóc chòi tranh 
Mơ rằng đây mái nhà tranh 
Mà ước chiếc bánh ngày xuân 
Cùng hương khói vương niềm thương”

Nhưng thực tế lại không thể bẽ bàng hơn, khi:

“Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu 
Vì mơ ước trắng như mây chiều 
Tủi duyên người năm năm tháng tháng 
Mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi”

 

Trước thực trạng phũ phàng kia, người lính gác giặc, trong “Phiên gác đêm xuân” không thể không bày tỏ cảm nghĩ riêng của cá nhân mình. Tuy cảm thức đó, ít nhiều mang tính thất vọng, nhưng lại rất con người trong đời thường:

“Chốn biên thùy này xuân tới chi? 
Tình lính chiến khác chi bao người 
Nếu xuân về tang thương khắp lối 
Thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi!”

Tôi cho, chính tính nhân bản, mộc mạc, không ngôn ngữ bác học, không  hình tượng khúc mắc, cũng không đặt những câu hỏi có tính triết lý cao siêu mà, “Phiên gác đêm xuân” của họ Nguyễn sẽ còn ở mãi trong rung động của người nghe – – dù cho, trong một chừng mực nào đấy, thì, chiến tranh, súng đạn, đã không còn trên quê hương.

Nếu ngữ-cảnh trong “Phiên gác đêm xuân” của Nguyễn Văn Đông là cảm thức của người lính gác giặc nơi tiền đồn thì, ngữ-cảnh trong ca khúc “Em đến thăm anh đêm ba mươi” – – Thơ Nguyễn Đình Toàn / nhạc Vũ Thành An, lại là cảm thức của đôi lứa ở thành phố – – Với những ẩn dụ mới mẻ, rất gần với phong cách diễn đạt của tây phương, như:  “Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em” hay “Dòng sông đêm hồn đen sâu thao thức / (…) Đá buồn chết theo sau ngày vực sâu / Rớt hoài xuống hư không cuộc tình đau”:

beautiful night street light

 “Em đến thăm anh đêm ba mươi 
Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi 
Anh nói với người phu quét đường 
Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em. 

Tay em lạnh để cho tình mình ấm 
Môi em mềm cho giấc ngủ em thơm 
Sao giao thừa xanh trong đôi mắt ngoan 
Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết. 

Tháng ngày đã trôi qua 
Tình đã phôi pha, người khuất xa 
Chỉ còn chút hương xưa 
Rồi cũng phong ba rụng cùng mùa. 

Dòng sông đêm hồn đen sâu thao thức 
Ngàn vì sao mọc hay lệ khóc nhau 
Đá buồn chết theo sau ngày vực sâu 
Rớt hoài xuống hư không cuộc tình đau” (Trọn bài – Nđd)

Nếu tôi nhớ không lầm thì ca khúc này ra đời những năm đầu thập niên 1970s. Nó như một nguồn suối, hay những hòn than nóng hực niềm khao khát chân trời lãng mạn mới; đáp ứng nhu cầu kiếm tìm hình ảnh, rung động khác, bập bùng trong tâm hồn giới trẻ thành thị. Nó gửi tới người nghe một cách nói khác về tình yêu – – Trong thời khắc “bản lề” của một năm cũ / mới. Đồng thời, nó cũng nói đến chia lìa, tựa định mệnh bất toàn, mặt bên kia đồng tiền tình yêu hai mặt (?)

Nhưng, dù ở ngữ-cảnh nào, với tâm thái nào, thì hai ca khúc kể trên, cũng vẫn là hai trong những vì sao lung linh, hiện ra nơi khe hở của cánh cửa cũ / mới. Của năm cũ sắp ra đi và, năm mới, đã một chân bước vào.

Vì chúng là những vì sao “chứng nhân” của truyền thống Giao thừa Việt, nên, tôi tin, chúng cũng sẽ mãi là “nhân chứng”  của những giao thừa kế tiếp… Như một phần “ký ức lung linh” của nền tân nhạc Việt, vậy.

Du Tử Lê

Tháng Giêng 2017

Hồng Vân sưu tầm

Ảnh bìa Facebook chúc mừng năm mới, Happy New Year 2016

 

Xem thêm...

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN TẾT

Image result for NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN TẾT photos

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN TẾT


Tết Xưa



Người VN xưa quan niệm rằng những điều may mắn hay xúi quẩy phụ thuộc rất nhiều vào những ngày Tết, nên rất coi trọng chuẩn bị cho Tết để cúng Phật, cùng tổ tiên và ông bà , sau đó là ăn Tết và vui chơi. Vì vậy cái gì quí nhất , ngon nhất đều để dành cho Tết và chuẩn bị hàng tháng trước Tết, tôi còn nhớ những ngày xưa ở 53 Lãn Ông các cụ coi việc sửa sang, dọn dẹp bàn thờ là việc vô cùng thiêng liêng để bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên, việc trang trí ban thờ cũng rất công phu: từ hoành phi, câu đối, rồi tam sự, ngũ sự bằng đồng, cho đến ngai thờ, tranh chân dung, bình hoa, nhang nến...Gói bánh chưng là công việc chính và nổi trội cho Tết, và trẻ con rất thích thức đêm cùng người lớn canh nồi bánh trưng và khi luộc xong còn được thưởng thức ngay vài cái bánh gói nhỏ, nhà nào nhà nấy cũng gói tới hàng chục chiếc, rồi làm hay mua các lọai mứt,muối dưa cải hay củ kiệu, sắm cành đào và các lọai hoa phổ biến là hoa cúc vàng, chậu quất đỏ,hoa mẫu đơn và sang thì có hoa thuỷ tiên …và trang trí nhà cửa thật đẹp. 

Các món ăn ngày Tết khá phong phú, nổi trội là bốn loại: bóng, mực, miến, thịt ninh với măng khô, sang hơn thì thêm bát nấm, bào ngư.. Ngoài ra còn thịt gà luộc( kiêng ăn thịt vịt trong ngày Tết vì vịt chậm chạp hơn gà ), giò lụa, giò thủ, lạp xường, trứng muối, cá kho ngọt. Ngày mồng 3 nhiều nhà hay làm bún thang,một đặc sản của HN. Ăn những thứ này phải có cà cuống pha vào nước mắm Trong ba ngày Tết, buổi chiều thường cúng mứt, không cúng cơm. Trà uống phổ biến là trà mạn sen hay trà Thái Nguyên, hạt dưa, hạt bí để nhâm nhi trong những ngày Tết. Ngày Tết mọi người đều ăn mặc đẹp dù ở trong nhà hay khi ra ngòai đường, nhất là trẻ em vui mừng xúng xính trong những bộ quần áo mới đẹp mắt.và nhất là được lì xì trong mấy ngày Tết.

Phố xá thì sạch sẽ vắng vẻ hơn ngày thường, trước cửa mỗi nhà còn giữ lại xác pháo mầu hồng đốt đêm Giao Thừa để hưởng lộc. Tết Việt Nam là dịp dành cho sự sum họp gia đình.nên xa xưa ít có sinh họat vui chơi cho cộng đồng như ngày nay.Mấy ngày đầu năm mới dành cho việc thăm và chúc Tết họ hàng, ít ai đi ăn cơm khách. Thú vui chính là đánh tam cúc hay về quê ở Mọc Quan Nhân ra đình xem đánh cờ tường với các quân cờ bằng người thực Sau này khi có truyền hình thì nhiều người nhất là người già ít đi chơi mà ở nhà xem các chương trình giải trí đặc biệt dành cho Tết.
Hình ảnh của ngày Tết đã đi vào ca dao như :
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. 
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh."
 
 
Tết Sài Gòn 
 
 Ở miền Nam thường gói bánh tét hình trụ tròn ,có nhiều loại: bánh tét chay, bánh tét mặn, bánh tét ngọt và bánh phồng làm bằng gạo nếp nấu chín bỏ vào cối giã như giã giò, xoa mỡ hình tròn, khi chiên thì phồng to. Cây mai vàng là cây cảnh trang trí chính của mọi nhà ở miền nam. Dưa hấu là hoa quả chính dành cho ngày Tết. Nổi tiếng nhất là dưa Trảng Bàng, Trà Vinh... Bổ quả dưa ra, ruột đỏ như son, hạt đen huyền nhỏ rít, thịt óng ánh như hạt đường kính, ăn ngọt tê cả răng. Người ta mua dưa về trước để cúng tổ tiên ngày tết trên bàn thờ nhà nào cũng thấy hai quả dưa hấu to 3 - 5kg. Người ta dán lên lớp vỏ xanh mượt của mỗi quả một miếng giây hồng điều cắt thành hình bông hoa xinh xắn, và đặt nó ngồi chễm chệ giữa mấy nải chuối chín vàng tươi xếp vây tròn quanh một chiếc đĩa bằng sứ màu trắng.

Mâm ngũ quả là không thể thiếu trong ngày Tết : mãng cầu (na ), dừa, đu đủ, xoài, mà theo cách phát âm miền Nam hiểu là "cầu vừa đủ xài".Chuối phổ biến là chuối sứ xanh chín chậm, để giữ được lâu trong các ngày Tết. Ở miền Nam, bốn món cúng và là bốn món ăn ngày Tết,món thứ nhất là thịt hầm.,phải là thịt bắp đùi, hầm cho nhừ với vài vị thuốc Bắc, món này chỉ để ăn chơi chớ không ăn với cơm. Món thứ nhì là thịt kho tàu, bắt buộc phải là thịt ba rọi (ba chỉ) ,miếng phải to nấu với dừa xiêm,. Món thứ ba là khổ qua ( mướp đắng) ruột dồn thịt heo xay . Món thứ tư đó là nem . Rau chỉ có một thứ độc nhất và cũng bắt buộc, ấy là món dưa giá tức là giá sống ngâm trong nước có ít muối. Ăn bất kỳ món nào trong bốn món kể trên cũng bắt buộc ăn với dưa giá.Từ ngày mùng 3 có thể ăn cá, gà..

 
Mỗi năm hoa đào nở 
Lại thấy ông đồ già 
Bày mực tàu, giấy đỏ 
Bên phố đông người qua 
(Vũ Đình Liên)

Related image

NGÀY XUÂN NÓI CHUYỆN TẾT

Related imageHồi nhỏ, tôi thường đi học xa; nhưng tranh thủ năm nào chiều ba mươi tháng chạp tôi cũng có mặt tại nhà để đón Giao thừa và ăn Tết cùng với gia đình. Trẻ con thường ước mong Tết chóng đến để được những thứ mà ngày thường không dễ gì có được, như cái nón mới, áo quần mới, chạy nhảy vui chơi, nhất là có dịp đốt pháo; nhưng tuyệt nhiên chẳng bao giờ trong đầu tôi nẩy sinh câu hỏi: chữ Tết từ đâu đến và nó mang ý nghĩa gì?   TẾT là ngày đầu, tháng đầu, của năm mới Âm lịch gọi là ngày Tết. Theo GS. Kim Định, Tết là cách đọc trại của chữ Tiết – nhịp điệu uyên nguyên, qua đó mọi hoạt động khác trong trời đất phải vận hành theo, với một sinh lực đỉnh cao để đạt được sự Thái hòa, tựa như vòng xoay của Vũ trụ: Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn,
 
 nghĩa là cái vòng hoạt động Âm Dương của dân nông nghiệp với nền văn minh lúa nước phồn thực, luôn nương theo nhịp điệu tuần hoàn của thời tiết trong năm: mùa Xuân khí trời ấm áp, cây cỏ bắt đầu đâm chồi nẩy lộc (Xuân sinh) , đến mùa Hè khí hậu bắt đầu nóng ấm hơn, bao nhiêu năng lượng của cây cỏ bắt đầu tăng trưởng, phát triển tối đa để trưởng thành (Hạ trưởng), đến mùa Thu, khí hậu bắt đầu dịu bớt, sinh lực của cây cỏ cũng theo đó mà giảm theo  và co rút vào thân cây nằm đó đợi Đông sang (Thu liễm); khi Đông đến thì khí trời lạnh giá cũng theo về: cây cỏ rụng lá trơ cành, nhựa sống cũng co vào và nhựa sống của cây lá cũng đọng lại (Đông tàn), chờ mùa Xuân kế tiếp để tái diễn vòng tuần hoàn kế tiếp.
Như vậy sự chuyển động cùa thời tiết, mùa màng, cây lá, là một vòng chuyển động sinh hóa, theo tiết điệu tuần hoàn (the Cycle of birth-and-transformation in accordance with the periodic Rhythm)
 

  Như vậy Tết, nhất là Tết Nguyên Đán (Tết đầu năm; Nguyên đán = ngày đầu năm) đối với người Việt chúng ta, nó là một lễ hội truyền thống lớn nhất trong năm.  Đến Tết, các thành viên trong gia đình, dù có ở  chân trời góc bể nào, xa xôi bao nhiêu đi nữa, cũng phải bằng mọi cách cố về đến nhà, muộn nhất là trước giờ giao thừa (The New Year’s Eve) .
 
Tết là dịp để cho các thành viên trong gia đình đoàn tụ, gặp nhau sau một thời gian dài xa cách. Ngoài những người thân yêu ruột thịt trong gia đình gặp nhau còn có những người bà con tộc họ đến thăm nhau, chúc phúc, chúc thọ cho nhau.Tết chẳng những là những ngày vui chơi đình đám tưng bừng của người sống mà còn là dịp để tổ tiên ông bà về sum vầy với con cháu, đặc biệt là trong ba ngày:  mồng một, mồng hai và mồng baÍt nhiều ba ngày Tết; còn hết bảy ngày xuân.
 
Related image
 * Tết Nguyên Đán:
Thời gian nhuốm màu Tết bắt đầu từ ngày 23 tháng chạp hằng năm, thể hiện bằng lễ cúng đưa Táo quân về Trời.
Đầu tiên người ta trồng cây nêu. Cây nêu là một thân tre, dài chừng 5m-6m, trồng trước nhà. Ở phía dưới ngọn cây tre vài tấc, người ta buộc vào đó một cái vòng bằng tre, có hình dáng cây cung với một mủi tên, có dán giấy tiền vàng bạc và hình một con cá chép . Theo truyền thuyết, con cá chép ấy sẽ hóa rồng để đưa ông Táo về Trời.
 
  
Dựng cây nêu, Hai ông với một Bà, Vua Bếp cưỡi cá Chép về Trời   
 
Vào buổi chiều cùng ngày, người ta dọn lễ vật cúng đưa ông Táo. Táo quân gồm có ba vị thần họp lại thành bộ tam (La triade domestique): Thổ địa (Dieu du sol), Thổ kỉ (Déesse de la terre), và Ông Táo, hay Thổ công, hay Ông Vua Bếp (Dieu de la cuisine , ou du sol ou Roi du foyer) .
Táo quân hay Vua Bếp sẽ về Trời và ở lại đó trong 7 ngày để trình báo với Ngọc Hoàng Thượng Đế tất cả mọi việc trong nhà gia chủ bằng một bản “Tường trình”,  thường được gọi là sớ Táo quân (Kitchen God’s Annual Report). Táo quân làm việc ở thượng giới cho đến chiều ngày 30 tháng chạp, và chủ nhà cũng phải sắm lễ cúng để rước Táo quân quay về lại “nhiệm sở” cũ để tiếp tục công việc của mình. Không có tài liệu nào nói rõ giờ nào trong chiều 30 tháng chạp Táo quân sẽ trở  lai nhà gia chủ cũ.
Theo truyền thuyết thì trong thời gian vắng mặt Vua Bếp là lúc mọi sinh hoạt ở trần thế cũng ngưng trệ vào những ngày cuối Đông để rồi sau đó hồi sinh tươi trẻ trở lại khi Táo quân quay về. Do vậy, Tết là một ngày có ý nghĩa đặc biệt. Nó làm cho mọi người cảm thấy thời gian dường như ngưng đọng khi Táo quân ra đi “công tác”  và nó cũng mang lại một nhịp điệu tràn đầy năng lượng cho mọi người và muôn vật. (His absence symbolizes the death of Nature during Winter, and his return marks its rejuvenation and renewal. Therefore, the Tết is an important date that disrupts the continuity of time and puts rhythm into men and things’life.) [ Przyluski ]
Chiều tối 30 tháng chạp, nhà nào cũng chuẩn bị sắm lễ cúng rước ông bà về ăn Tết cùng con cháu, đồng thời cũng sắm lễ cúng rước ông Táo về lại nhà trước giở Giao thừa.
 
* Cúng Giao Thừa

Sau lễ cúng rước Táo quân thì nhà nhà đều  chuẩn bị lễ cúng Giao thừa. Có thể nói Giao thừa là lễ bàn giao (Hand-over Ceremony) —bàn giao giữa cái cũ và cái mới, giữa người cũ và người mới (L’heure où finit l’année précédente et où commence l’année suivante). Theo tục lệ, nửa đêm hôm ba mươi tháng chạp rạng ngày mồng một, nhà nào cũng bày hương án ra giữa sân để cúng Giao thừa. Tục ta tin rằng mỗi  năm có một ông Hành khiển thay mặt Ngọc hoàng trông coi việc nhân gian, hết năm thì thần cũ bàn giao công việc lại cho thần mới. Cho nên phải có việc cúng tế để tiễn cựu nghênh tân.
Thường thì mùa Tết kéo dài trong 7 ngày, từ ngày mồng 1 cho đến hết ngày mồng 7 tháng giêng. Người giàu kẻ nghèo, người sang kẻ hèn mặc lòng, đến ngày Tết đều phải ráng lo ăn cái Tết cho được đầy đủ, cúng Tổ tiên Ông bà phải cho được tươm tất như câu dân gian người ta thường nói: ít nhiều cũng ba ngày Tết, còn hết cũng bảy ngày xuân. Tuy nhiên, thực chất thì chỉ có 3 ngày là quan trọng: ngày mồng 1, ngày mồng 2 và ngày mồng 3 Tết. Công việc được phân bổ như sau :
– Ngày mồng một, mọi việc dành riêng cho gia đình. Sáng sớm người ta  chuẩn bị làm cỗ cúng Gia tiên, Thổ công, Táo quân và Nghệ sư (Tổ nghề). Cỗ bàn lớn nhỏ thế nào mặc lòng, nhưng làm thế nào cũng phải có bánh chưng, giò, chả, dưa hành, thịt bò hay thịt heo thì mới ra cỗ ngày Tết Nguyên Đán; vì Tết nầy là Tết lớn nhất trong năm.
Hôm ấy mọi người phải giữ gìn từng lời ăn tiếng nói, sợ nói bậy bạ thì xui xẻo cho cả năm, không làm ăn nên nổi. Nhiều nhà nhờ một người phúc hậu dễ tính, sáng sớm đến xông đất dùm, để cho cả năm được hanh thông may mắn, làm ăn phát tài.
 
Cúng Gia tiên xong thì con cháu ra mừng tuổi ông bà cha mẹ. Ông bà cha mẹ cho con cháu một món tiền nhỏ gọi là tiền lì xì mừng tuổi.
– Ngày mồng hai thì mọi người đi thăm bà con thân tộc nội ngoại, chúc cho nhau được vạn sự như ý, sinh năm đẻ bảy, được thăng quan tiến chức, v…v…
– Ngày mồng ba, đặc biệt dành để đi thăm và chúc Tết thầy dạy mình học, và thăm bạn bè, chúc phúc cho nhau.
– Ngày mồng bốn là lễ Hóa vàng, có nhà đến mồng bảy mới làm lễ Hóa vàng. Hóa vàng là lễ cúng tất tiễn đưa ông bà tổ tiên về lại chốn cũ quê xưa. Hôm ấy con cháu họp mặt đông đủ ăn uống vui vầy với nhau.
Suốt cả tháng giêng, già trẻ trai gái, người quê kẻ chợ, quần điều áo thắm, kẻ thì lễ bái chùa nầy miếu nọ, người thì du ngoạn cảnh nọ cảnh kia. Những người nhàn rỗi, năm ba người họp lại đánh bài vui chơi. Ngoài ngã ba ngã bảy, đám thì quay đất, đám thì lúc lắc thò lò, tổng chi gọi là Cách Thưởng Xuân.
Ngoài Tết Nguyên đán, chúng ta cũng còn có các ngày Tết khác trong năm :
 
– Tết Hàn thực:  nhằm vào ngày 3 tháng 3Âm lịch. Tết Hàn thực tức là Tết ăn đồ lạnh, có gì ăn nấy chứ không sắm sửa nấu nướng món gì trong ngày nầy.
 
-Tết Thanh minh: 
 

Thời gian đâu đó trong tháng 3 như cụ Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều :
 
         Thanh minh trong tiết tháng ba,
         Lễ là Tảo mộ, Hội là Đạp thanh (  Nguyễn-Du)
 
Nên để ý : trong Tết Thanh minh có hai phần: phần Lễ và phần Hội, như cụ Nguyễn đã chỉ dạy cho chúng ta rõ qua hai câu Kiều trên.
 
– Tết Đoan ngọ: 
Nhằm ngày mồng 5 tháng 5, trong lễ Tết nầy dân mình theo cách người Trung hoa, trong đó nổi bật có tục lệ hái lá. Tục hái lá là do từ điển tích Lưu Thần và Nguyễn Triệu đời nhà Tấn: hôm mồng 5 tháng 5 hai anh chàng vào núi Thiên thai hái lá thuốc gặp tiên thành tục.
Ở ta, lác đác trong ngày Tết Đoan ngọ cũng còn có người đi vào rừng hái lá về làm thuốc.
 
– Tết Trung nguyên:
Rằm tháng 7 gọi là Tết Trung nguyên. Người tin theo thuyết nhà Phật thì gọi đó là Lễ Vu-Lan, ngày vong nhân xá tội, nghĩa là trong ngày hôm ấy người dưới Âm phủ được Diêm Vương xét mà tha tội. Sách Lục Du của Tàu có nói: Cứ đến ngày Rằm tháng 7 thì làm một mâm cỗ đơn sơ, cúng Thần Tiên (thần sinh ra nghể dệt cửi) và đốt giấy tiền vàng bạc.
Người Phật tử thường gọi Rằm tháng 7 là Lễ Vu Lan hay Vu Lan Bồn – Bồn là cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày nầy  để cầu nguyện cho linh hồn người quá cố khỏi phải bị đọa đày trong cảnh khổ nữa.
Vu Lan là dịch âm từ chữ Sanskrit Ullabana nghĩa là cứu nạn treo ngược. Những người khi sống làm điều ác thì khi chết phải thác sinh xuống một cõi rất khổ gọi là địa ngục, ở đây có một khổ hình là bị treo ngược. Người  đệ tử của Đức Phật Thích Ca là Mục Kiền Liên, sau khi đắc đạo, dùng mắt thần nhìn xuống các cõi khổ, thấy mẹ mình đang bị treo ngược, bèn đem cơm xuống cho mẹ ăn, nhưng mẹ ăn không được. Mục Kiền Liên hỏi Phật,  Phật bèn dùng Kinh Vu Lan Bồn mà giảng, khuyên vào ngày rằm tháng 7, nhân dịp Tăng chúng vừa kết hạ, làm cơm chay cúng dường Phật và Tăng chúng thì có thể cứu mẹ thoát được cảnh khổ.
Kinh nầy do nhà sư Ấn độ Dharmaraksa đời Tây Tấn dich từ chữ Sanskrit sang chữ Hán (tk III TL)
 
– Tết Trung thu: 
Tết Trung thu nhằm vào ngày Rằm tháng 8. Tết Trung thu ta thường gọi là Tết của thiếu nhi, nhi đồng.
 
                                             
Tết Trung thu (tranh Bùi Xuân Phái)
 
Ban ngày làm cỗ cúnng Gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng nguyệt. Đầu cỗ là bánh Trung thu hay bánh Mặt trăng, cùng với các bánh trái bông hoa, màu sắc sặc sỡ, xanh trắng đỏ vàng. Trẻ con tối hôm ấy kéo nhau đi chơi vui đùa, trên tay đứa nào cũng có cây đèn ông sao; chúng dắt díu nhau từng đàn từng lũ, đám rước đèn, đám rước sư tử, múa lân đánh trống và phèn la kêu vang cả xóm. Có nơi bày ra hát trống quân, tổng chi gọi là cách Trung Thu thưởng nguyệt.
Tục treo đèn bày cỗ do ở điển Đường Minh Hoàng. Tục rước đèn do từ đời Tống.
Tục hát trống quân có từ đời Quang Trung Nguyễn Huệ. Nguyên khi ông đem quân ra Bắc, quân sĩ lắm kẻ nhớ nhà, ông bèn cho bày ra cách hát nầy: cho một đôi, chia hai, một bên giả làm trai, một bên giả làm gái, hát đối đáp với nhau để cho quân sĩ đỡ buồn vì nhớ nhà. Khi hát có đánh trống giữ nhịp, cho nên gọi là hát Trống quân.
 
 – Tết Trùng Cửu:
Lễ Tết ngày 9 tháng 9 gọi là Tết trùng cửu. Lễ nầy ít nhà ăn; nhưng đôi khi cũng có người ăn theo lối người Tàu.
 
– Tết Trùng thập :
Mồng 10 tháng 10 là Tết trùng thập. Các thầy thuốc và những người đồng cốt mới ăn Tết nầy,  nhưng ở nhà quê cũng có nhiều nơi ăn, có nơi ăn to lắm. Họ làm bánh dầy, nấu chè xôi cúng thần, cúng gia tiên, rồi đem biếu bạn bè thân thuộc.
Các nhà thầy thuốc ăn Tết một là để cúng cấp, hai là để khoản đãi các đệ tử và các thân chủ của mình. Đại để nhà quê ăn Tết Trùng thập là để nhớ  đến ơn tiên nông mà cúng tế và an ủi, đền bù lại cho sự khó nhoc tháng năm qua. Còn lại phần nhiều người ta chỉ cúng gia tiên mà thôi.
 
– Tết Táo quân:
Như trên đã nói, chiều 23 tháng chạp nhà nhà đều sắm lễ vật cúng tiễn đưa Táo quân hay Vua Bếp về Trời.
Chuyện kể rằng có hai vợ chồng nhà kia ăn ở với nhau hơn 5 năm trời mà chẳng có một mụn con. Hai vợ chồng rất buồn, lại gặp nạn đói nên hai vợ chồng phải mỗi người một phương tìm kế sinh nhai.
Một hôm người vợ  được ông quan hưu trí góa vợ nhận cho làm gia nhân giúp việc nhà, dần dà hai người thương mến nhau kết nghĩa vợ chồng.
Một hôm người vợ đang cúng đốt vàng mã ngoài sân thì có một người đàn ông vào ăn xin. Người đàn bà nhận ra đây là người chồng cũ của mình, động lòng thương cảm, liền đem cơm gạo tiền bạc ra cho. Liền lúc đó ông chồng sau đi săn về bắt gặp cảnh thương cảm nhau giữa hai người  thì đem lòng nghi cho vợ nầy kia. Người vợ lấy làm xấu hổ liền đâm đầu vào đống rơm, châm lửa tự thiêu. Người chồng  “ăn mày” nhảy theo cũng đâm đầu vào đống lửa. Người chồng sau thấy vậy cũng nhảy vào đám lửa rơm đang cháy. Hậu quả : ba người cùng chết cháy trong đống rơm.
Về sau biết chuyện thương tâm nầy, Ngọc Hoàng cho cả ba đều làm Táo quân. Do đó chuyện Táo quân là chuyện của hai Ông một Bà, trong đó mỗi người cò một chức vụ riêng.
Đến đây, thiết tưởng kể ra một số lễ Tết như trên cũng tạm đủ, trong đó đáng kể nhất là Tết Nguyên Đán, Tết Thanh Minh, Tết Trung Nguyên và Tết Trung Thu. Những Tết kia kể ra để biết vậy thôi chứ bây giờ không còn mấy ai ăn nữa.
Như trên, ta thấy những sinh hoạt phần lớn thuộc về lễ  của Tết. Nhưng Tết mà thiếu phần hội, thiết tưởng đã mất đi cái sinh khí vui tươi và ý nhị của Tết cổ truyến Việt-Nam.
Hàng năm cứ khi xuân về Tết đến, người dân, ngoài lễ Tết ra, họ thừơng tổ chức những hội hè dình đám vui chơi; nhất là ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung còn giữ lệ tổ chức hội hè như hội đua ghe, hội hát bội, hát bài chòi ở Quảng nam, Quảng ngãi, Bình thuận, đặc biệt người ta thường tổ chức hát Quan họ ở tỉnh Bắc Ninh, chẳng hạn.
 
                                               
Hát Quan Họ  (tranh sơn mài)
 
Vào sáng ngày 13 tháng Giêng, họ họp nhau lại, độ chừng năm bảy cụ ông, năm bảy cụ bà với một số nam nữ có giọng hát hay, kéo nhau sang làng Tam sơn dự hội. Bên Tam sơn cũng cử một số đông ra tận đường cái quan đón chào. Sau khi phân ngôi chủ khách, trên dưới thứ tự, chuyện trò chè chén vui vầy thì bắt đầu cuộc xướng hát. Lần lượt trai bên nầy xướng, gái bên kia họa, gái bên kia cầu, trai bên này ứng; luân phiên nhau đối đáp. Lúc ấy các bô lão ngồi nghe, thưởng thức các câu hát hay, giọng hát ngọt, vỗ tay ban thưởng. Các cụ Ông cụ Bà là quan khách đồng thời cũng là Ban Giám khảo, phân định bên thắng, bên thua.
Nội dung lời ca tiếng hát đại khái là những lời diễn đạt tình cảm nam nữ, tuy chơi đùa trêu chọc mà vẫn có mức độ, nồng nàng mà vẫn vẫn giữ được cái vẻ trong sáng hồn nhiên. Cuộc vui kéo dài thâu đêm suốt sáng. Sau đây tôi xin trích một vài đoạn tiêu biểu. Hát mời trầu: Miếng trầu là đầu câu chuyện :
– Nữ :
Gặp nhau ăn một miếng trầu,
     Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào !
-Nam :
Miếng trầu đã nặng là bao,
     Muốn cho đông liễu, tây đào là hơn !
– Nữ :
Miếng trầu kể hết nguồn cơn,
     Muốn xem đây đấy thiệt hơn thế nào ?
– Nam :
     Miếng trầu là nghĩa xướng giao,
     Muốn cho đây đấy duyên vào hợp duyên !
 
Mời trầu xong, hai bên nam, nữ mới đi vào những câu hát đố :
 
-Nam :
Ở đâu năm cửa nàng ơi ?
     Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?
     Sông nào bên đục bên trong ?
     Núi nào thắt quả bồng mà có thánh sinh?
 
– Nữ :
Thành Hà-nội năm cửa chàng ơi!
     Sông Lục đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.
     Nước sông Thương bên đục bên trong,
     Núi Thánh Tản thắt quả bồng mà lại có Thánh sinh.
Rồi dần dà họ đi đến những câu đố đậm đà tình tứ hơn :
– Nam :
     Một năm có mấy tháng xuân?
     Một ngày có mấy giờ dần sớm mai?
– Nữ :
Một năm có ba tháng xuân,
Một ngày có một giờ Dần sớm mai.
– Nam :
     Bây giờ mận mới hỏi đào,
     Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
– Nữ :
Mận hỏi thì Đào xin thưa,
     Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào!
Giọng hát cứ thế mà ngân nga, càng lúc càng cao, càng tình tứ đậm đà cho mãi đến chiều tà, bên nào thua phải mời bên được về nhà thết đãi, để rồi lại tiễn đưa ra về đến cổng làng mới chia tay, hoặc là chia tay ngay dưới chân núi, xiết bao quyến luyến giằng giai với những lời hẹn hò tiếc nhớ, vừa đi vừa hát :
– Nam :
Ấy ai dắt mối tơ mành,
     Cho thuyền quen bến, cho anh quen nàng.
-Nữ :
Tơ tằm đã vấn thì vương,
     Đã trót dan díu thì thương nhau cùng.
– Nam :
Ai về đường ấy hôm nay,
     Ngựa hồng ai cưỡi, dù tay ai cầm?
– Nữ :
Ngựa hồng đã có tri âm,
      Dù tay đã có người cầm bạn ơi!
Sau cùng là lời chào từ biệt gợi cảm của bên nam :
– Nam :
     Ai về đường ấy hôm nay,
     Gởi dăm điều nhớ, gởi vài điều thương.
     Gởi cho đến chiếu đến giường,
     Gởi cho đếnn chốn buồng hương em nằm!
Cứ thế mà đối đáp đến khi không còn tiếp tục nữa mới thôi. Cuộc hát quan họ đại khái là thế ấy.  Các tỉnh miền Trung cũng có tục tổ chức những hội đua ghe, hát bội, hát bài chòi v…v… Các tỉnh miền Trung, từ Quảng trị đến Bình thuận, ngày Xuân, ngoài những cuộc vui chơi khác, người ta còn có hội hát bài chòi.
 
                                                                    
Hát bài chòi
 
Người ta cất 10 cái chòi phân bổ xung quanh một cái chòi Hiệu hay Hát Hiệu. Người chơi mua một thẻ bài và lên ngồi trên một cái chòi lắng nghe anh Hiệu ở cái chòi ở giữa hay đi lại và hô bài hiệu. Người nào có con bài đã mua giống như con bài hiệu đã hô to thì người ấy thắng cuộc. Trò chơi cứ thế mà tiếp tục.  Sau đây tôi xin trích dẫn vài câu thơ trong hát Bài chòi :
– Nhất Trò :
Không ngon cũng bánh lá gai,
     Dù anh có dại cũng trai học trò.
– Nhì Bí :
Bình định có núi Vọng Phu,
     Có đầm Thị Nại, có cù Lao Xanh,
     Em về Bình Định cùng anh,
     Được ăn  đỏ nấu canh nước dừa.
– Tam Quăng :
Anh đang viết liễn trong đình,
     Nghe em chồng hỏi giật mình quăng nghiên.
Cứ thế mà Ông hay Bà Hiệu rao lên cho hết bộ bài. Bộ bài này có những con bài mang tên Trò, Bí, Quăng…như trên. Bộ bài nầy có tên là Bài Tới. Tại sao bộ bài có tên Bài tới và những con bài được đặt tên như thế thì cho đến nay chưa ai giải thích được rành mạch.
Như vậy xét cho cùng thì Tết, nhất là Tết Nguyên Đán, là một lễ hội đặc trưng của các dân tộc nông nghiệp Á Đông, nhất là dân Việt chúng ta; bởi mùa màng cây lúa, hoa quả đều lệ thuộc vào sự vận chuyển đổi thay của thời tiết và con nước: Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn. Theo Przyluski thì khi vắng mặt Táo quân Thiên nhiên tạo vật dường như cũng ngừng hoạt động và mọi sinh hoạt sẽ bắt đầu trở lại khi Ông Táo trở lại thế gian.
Cuối Đông và đầu Xuân, khí trời và thời tiết cũng chưa thuận hòa cho công việc nông trang và đây cũng là cơ hội để người lao động nghĩ ngơi vui chơi, bù lại công lao cực nhọc trong những ngày tháng qua. Thế thì việc ăn Tết Nguyên Đán của dân ta là đáng trân trọng gìn giữ chứ sao lại bỏ đi như một số người chủ trương?!
Tóm lại, qua những trang viết trên đây, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau :
Tết Âm lịch mà chúng ta quen gọi là Tết Nguyên Đán có một ý nghĩa sâu sắc, tác động đậm nét vào xương vào máu dân ta; có thể nói nó là cái phần hồn cốt trong nền Văn hóa lúa nước của dân tộc Việt-nam. Lý do tại sao thì cũng có nhiều người đã lý giải. Theo tôi lý do cơ bản nhất là chuyển động của mặt trăng có ảnh hưởng sâu đậm đến mùa màng, Nông cũng như Ngư, bởi thời tiết và con nước thủy triều lên xuống. Do đó ngày tháng theo Âm lịch gắn chặt với sinh hoạt mùa vụ của đa số người dân Việt-nam. Nói cách khác: chúng ta làm ăn theo mùa và nghỉ ngơi cũng theo mùa. Bởi lý do đó, chọn ngày nghỉ cuối năm theo Tết Dương lịch là một điều khiên cưỡng với tập tục và truyền thống bao đời nay của dân tộc ta
Tôi xin mượn mấy dòng sau đây của cụ Phan Kế Bính, tác giả sách Việt Nam Phong Tục, để khép lại bài viết nầy :
Xét về các ngày Tết của ta, phần nhiều là noi theo tục Tàu, nhưng chủ ý thì chỉ nhân ngày tuần tiết mà dâng lễ vật cúng gia tiên, chớ không có ý gì nhớ đến người Tàu.
 Cứ như nước ta khi xưa, quanh năm chí tối lo làm ăn, mồ hôi nước mắt, không có thì giờ nghỉ ngơi. Nhà nông làm ruộng thì sáng vác cuốc, trưa vác cày, hết mùa cấy đến mùa gặt, quanh năm chí tối, chân lấm tay bùn. Người làm thợ thì canh ba chưa nằm, canh năm đã phải dậy, làm lụng chúi mũi, không lúc nào mở mắt ra được. Người đi buôn thì nay ngược mai xuôi, tất ta tất tưởi để cầu lấy chút lợi cho mình. Người đi học thi nung kinh nấu sử, thức khuya dậy sớm để cầu lấy chút danh phận cho vẻ vang cùng người.
 Nói tóm lại thì tính dân ta rất là cần mẫn, chịu thương chịu khó, mà không có ngày nào là ngày chủ nhật. Vậy nên thỉnh thoảng phải có những ngày nghỉ ngơi ăn chơi giải trí. Nhưng chẳng lẽ tự nhiên vô cớ mà nghỉ công nghỉ việc để ăn chơi. Vậy mới nhân tuần nầy tiết nọ, bày ra cách ăn Tết, trước là đem lòng thành kính, thờ phụng tổ tiên, sau là được vài ba ngày nhàn nhã cầm chén rượu mà yên úy tinh thần.
 Cứ như chủ ý thì cách ăn Tết của ta không hại gì. Nhưng chỉ hiềm một nỗi là ta hay tin những chuyện huyền hoặc của Tàu mà không nghĩ đến ý nghĩa chính yếu của những ngày Lễ Tết ! 
Nhận định và đánh giá về việc Tết tây Tết ta trên đây của cụ Phan Kế Bính, thiển nghĩ cũng có thể dùng làm câu trả lời phản biện lại  đề nghị của nhiều người gần đây đưa ra : muốn sáp nhập Tết ta vào Tết tây.
Lý do cụ Phan đưa ra, theo tôi, là có cơ sở và rất thuyết phục.
Những ngày đầu Xuân Mậu Tuất  . 
Ngày 27 tháng 1 năm 2018   
 
Nguyễn Văn Chương
Hình ảnh: nguồn Net
_________________________________________________
Nguồn tham khảo và trích dẫn :
  1.  Việt Nam Phong Tục                   (Phan Kế Bính)
  2.  Tư Tưởng Việt Nam                   (Nguyễn Đăng Thục)
  3.  Vietnamese Legends                  (Lê Huy Hạp)
  4.  Connaissance Du Vietnam         (Pierre Huard et
Maurice Durand )
  1.    VIETNAM: Civilization and Culture      (Vũ Thiên Kim)

    ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ஜ ۩  ۩ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

 
Image result for tranh Xuân Mậu Tuất 2018 photos

Bên mâm cơm mẹ nấu

 Người Việt tâm niệm, ngày thường ăn uống sao cũng được, Tết nhứt mọi sự khác hẳn. Mọi thứ trên mâm cơm không chỉ đẹp về hình thức mà còn phải tốt về chất lượng. Tết đến, ngay cả cái bàn ăn cũng được trải khăn đẹp, điểm xuyết lọ hoa tươi.
Mâm cơm cúng ông bà luôn được bày biện những thực phẩm tinh túy nhất mà con cháu đã sắm sửa. Ảnh: Q. T
Mâm cơm cúng ông bà luôn được bày biện những thực phẩm tinh túy nhất mà con cháu đã sắm sửa. Ảnh: Q. T
Bữa cơm chiều cuối năm
 
Với mỗi người con đất Việt, bữa cơm chiều cuối năm là bữa ăn ngon nhất trong năm. Bữa cơm ấy luôn phải đủ đầy các thành viên trong gia đình. Nhiều nhà chờ cho người cuối cùng (ở xa) về mới tổ chức bữa cơm tất niên sum họp. Trong bữa cơm ấy, những người phụ nữ thường dành nhiều tâm sức, sự cẩn trọng, để không chỉ bỏ công chế biến những món ăn hợp khẩu vị cho từng thành viên trong gia đình, mà còn là mâm cơm thành kính dâng cúng ông bà.
Nhiều người còn nói, bữa cơm 30 là bữa cơm cốt lõi, tinh túy nhất của gia đình ngày Tết. Thêm nữa, người Việt có tính hiếu khách. Ngoài việc nhắm đến món ăn gì, cũng sẽ nghĩ đến dọn bày khách thế nào cho ưng ý.
Món ăn nào mình chưa ăn qua, chưa đánh giá được ngon, dở sẽ không dám mời khách. Chai nước mắm nhĩ mẹ mua để dành ăn Tết cũng được lấy ra ăn thử trong bữa cơm 30. Cũng thứ nước mắm cá cơm sánh vàng, thêm chút ớt, tỏi giã nhuyễn ấy mà ai cũng xuýt xoa khen ngon. Con cá thu mua từ độ 26, 27 Tết cũng được đem ra… ăn thử phần đầu, đuôi xem cá có tươi ngon không. Hũ dưa kiệu, tợ thịt mẹ mới mắm vài ngày trước cũng được bày ra dĩa…
Dẫu đã bày dọn tươm tất, đủ đầy, vậy mà người nấu vẫn chưa yên lòng. Trong suốt bữa cơm, mẹ theo dõi nét mặt từng thành viên trong gia đình để xem “tay nghề” của mình năm nay thế nào. Nếu cả nhà vừa ăn vừa gật gù khen ngon, hẳn mẹ sẽ rất vui lòng vì đó là điềm báo một năm tới tròn trịa, suôn sẻ.
Chị Quỳnh Phương (đường Nguyễn Thiện Kế, quận Sơn Trà) kể lại, dù năm nào, mâm cơm chiều cuối năm cũng bày biện hàng chục món quen thuộc nhưng chị và các chị em trong gia đình chẳng bao giờ chán.
Bởi đó là món mẹ nấu, là món ăn truyền thống phải có mỗi dịp Tết về. Đó là tô canh khổ qua, đĩa ram chả, lát cá thu chiên, tợ thịt mắm, đĩa giò thủ mẹ gói từ hôm cúng đầu heo… Vậy mà ngon, mà ấm áp. Bữa cơm ấy mẹ luôn đong gạo rộng tay để cơm dư lại một ít trong nồi với ý nghĩa “năm cũ liền qua năm mới sẽ có cơm ăn”. “Có rất nhiều việc nhỏ nhặt mẹ làm mà ngày ấy tôi cho là mê tín, không cần thiết. Ví dụ ngày Tết mẹ kiêng mua tôm (thụt lùi), khế (chua chát), lươn (trơn trượt)…
Rồi sau khi nấu ăn, dọn dẹp, mẹ tranh thủ xay tiêu (tránh qua năm mới mà phải… tiêu), nồi niêu soong chảo đều được mẹ đậy nắp lại… Vậy mà từ ngày lấy chồng, tôi lại học theo nếp của mẹ. Bởi tôi biết, những việc mẹ đã và đang làm chỉ với một mong ước duy nhất là mong cho năm đến, gia đạo sẽ gặp may mắn, bình an”, chị nói.
 
Tấm lòng thành kính
Cách đây vài tuần, phim ngắn “Mẹ chỉ mong Tết về” của nam ca sĩ Hà Anh Tuấn đã lấy đi biết bao nước mắt của khán giả vì những cảm xúc thật, chứa đựng trong lời bài hát nhẹ nhàng, nhưng gợi nhớ ký ức sâu sắc. Trong hoài niệm của chàng trai trẻ, những ngày Tết là mẹ thật bận bịu, vầng trán luôn ướt đẫm mồ hôi nhưng đôi tay vẫn cứ thoăn thoắt, hết cuốn ram đến mắm thịt, muối dưa...
Từ miếng thịt, bó rau, hoa quả chưng đều phải chăm chút kỹ lưỡng từng chút một. Có lẽ, bất kỳ đứa con nào cũng nhìn thấy hình ảnh của mẹ mình trong bộ phim ấy. Hình ảnh nổi bật nhất trong bộ phim có lẽ là hình ảnh người mẹ tỉ mẩn lau chùi bộ chén bát gốm sứ in hình nhành mai. Ngày Tết, người Việt có lệ mời (cúng) cơm người đã khuất.
Rước ông bà và đưa ông bà ngày Tết. Con cháu quây quần bên mâm cơm thì trên bàn thờ gia tiên các món ngon vật lạ cũng đuợc bày biện để tỏ lòng thương kính người đã khuất. Không chỉ mâm cao cỗ đầy là đủ, những thứ tưởng như vụn vặt như bộ chén bát mới, bó đũa mới, bình hoa tươi thắm… là những tiểu tiết nhưng thể hiện sự tinh tế, chỉn chu của người phụ nữ trong gia đình.
Chị Huỳnh Thu Trang (tổ 26, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn), rưng rưng nhớ lại, hơn 20 năm sống cùng bố mẹ là chừng ấy năm chị đón cái Tết bình yên, sum vầy cùng gia đình. Chị vốn là đứa ít để ý nhưng lại nhớ thật lâu những điều mẹ làm.
Bởi những điều ấy được lặp đi lặp lại qua hàng chục năm. Mẹ luôn nhắc nhở, có một ngày lấy chồng, con cũng phải tự tay làm như thế, mẹ đâu thể ở mãi bên con, làm thay con được… “Tôi nhớ nhất là những chiều 30, sau khi đã tất bật nấu mâm cơm cúng, mẹ mở ngăn tủ bếp phía trên cùng, lấy ra bộ chén bát đã mua mới từ hồi nào, rồi tỉ mẩn lau chùi. Mẹ bảo, Tết mình sắm quần áo, vật dụng mới thì cũng phải sắm sửa đồ dùng mới cho ông bà. Như vậy mới thể hiện lòng thành kính với tổ tiên, sự trân trọng gia đình”, chị nói.
Sau bữa cơm chiều cuối năm, kết hợp rước ông bà, người phụ nữ trong gia đình sẽ bận bịu với bếp núc cả ba ngày Tết. Mỗi ngày là mỗi mâm cơm với đủ đầy cá, thịt, canh… Ông Hòe (đường Lê Đại Hành, quận Cẩm Lệ) trầm ngâm:
“Ngày xưa không có quán xá gì nhiều. Lũ trẻ có đi đâu chơi rồi cũng phải ghé về nhà ăn cơm. Mâm cơm vì thế luôn đủ đầy thành viên trong gia đình. Giờ đâu đâu cũng có quán xá, tụi nó đi chơi, tiện đâu ăn đó. Thành ra, ba bữa cơm ngày Tết cũng chỉ lủi thủi hai ông bà già. Mình thì quan niệm, khi đã rước ông bà về thì phải cùng ăn cơm với ông bà, không thể bỏ đi đâu được. Sáng ra có việc đi đâu thì cũng phải tranh thủ trước giờ trưa về để thắp cây hương. Đó là lệ rồi, không thay đổi được”.
Bữa cơm ngày xuân, bữa cơm lòng thành ấy chính là bữa cơm cả nhà quây quần đoàn tụ. Những món ngon mà mẹ làm ra để dâng lên đấng sinh thành là những món ngon mẹ chắt chiu cho chồng, con thưởng thức, thay cho bữa cơm thanh đạm ngày thường. Nhìn mâm cơm mẹ nấu, những đứa con trong gia đình sẽ hiểu, trong cuộc sống, lòng thành càng chặt mới mong nhận được sâu.
 
QUỲNH TRANG
 

▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ஜ ۩  ۩ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Ngọt thơm món mứt ngày xuân

Tết đang đến thật gần, đây là khoảng thời gian mọi người nhanh tay chọn mua hoặc chọn nguyên liệu để làm nên món mứt thơm ngon, giàu dinh dưỡng.
Khách hàng chọn mua cà rốt về làm mứt ở một cửa hàng rau sạch tại số 90 Hải Phòng, quận Hải Châu. Ảnh: T.Y
Khách hàng chọn mua cà rốt về làm mứt ở một cửa hàng rau sạch tại số 90 Hải Phòng, quận Hải Châu. Ảnh: T.Y
 
Chọn món ngon mời khách
Ngay từ giữa tháng 1, chị Ngô Thị Phương ở đường Kinh Dương Vương, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu đã chuẩn bị thật nhiều dừa sợi, dừa cắt sẵn lẫn dừa non để bán cho chị em có nhu cầu làm mứt tại nhà. Chị Phương cho biết, hiện mức giá thị trường khoảng 15.000 đồng/quả dừa non và 20.000 đồng/quả dừa dẻo. Đến thời điểm hiện tại, gia đình chị bán ra hơn 100kg nguyên liệu mứt dừa và khoảng 50kg mứt làm sẵn. Để thuận tiện cho những bà nội trợ không có thời gian cắt cơm dừa, từ Tết năm ngoái, gia đình chị đã sắm máy cắt cơm dừa hình lát hoặc hình sợi. Bên cạnh đó, chị cũng nhận làm mứt dừa, dừa bào, nước cốt dừa để khách nấu xôi, chè dịp Tết. Trong đó, món mứt đặc sản được chị Phương giới thiệu là mứt dừa sữa lá dứa hình hoa ngộ nghĩnh, mềm, dai, ngọt, khá phù hợp với trẻ con.
“Vài năm trở lại đây, người dân chuộng các loại mứt nhà làm, không chất bảo quản, tạo màu bằng các loại nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên như lá dứa, cà rốt, củ dền, sữa tươi, sữa dâu hay màu sắc tự nhiên của các loại quả. Tuy nhiên, với những loại mứt này, thời gian sử dụng ngắn nên thông thường cận ngày Tết chúng tôi mới đẩy mạnh việc sản xuất, mua bán”, chị Phương chia sẻ.
 
Bên cạnh dừa non, vỏ bưởi cũng là nguyên liệu làm mứt tuyệt hảo được nhiều người lựa chọn. Lần đầu tiên kinh doanh mặt hàng Tết qua mạng, chị Nguyễn Hồng Lan, nhân viên văn phòng một công ty có trụ sở tại quận Hải Châu chọn sản phẩm mứt bưởi sấy của Công ty TNHH Thực phẩm Nông Lâm (Nong Lam Food) bán dịp Tết. Chị Lan cho biết, vỏ bưởi sấy ngoài công dụng ăn vặt, ăn chơi còn là món quà quý từ thiên nhiên cho sức khỏe như giảm ho, giảm viêm họng, giảm mỡ máu, hạ cholesterol, cắt giảm chất béo và đốt cháy calo. Ngoài ra, Lan còn bày bán một số loại mứt đặc biệt khác như mứt chanh dây, mứt quả dứa, (quả thơm), mứt cau kiểng có xuất xứ từ tỉnh Cà Mau…
Có người nhà đang sinh sống tại đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi nên hầu như Tết năm nào, trên mâm bánh mứt ngày Tết của gia đình chị Nguyễn Thị Tâm, phường Hải Châu 1, quận Hải Châu cũng có món mứt rong sụn, đặc sản của cư dân đảo này.
Bên cạnh mứt gừng cay thơm, ấm bụng, hương vị của biển cả thấm đượm trong món mứt rong sụn khiến ai đến nhà chị chơi xuân cũng trầm trồ khen ngợi. Từ sở thích của gia đình, cứ gần Tết chị lại giúp bạn bè đặt gần 100kg mứt rong sụn về ăn chơi. Được biết, mứt rong sụn ngoài giòn, dai, còn chứa nhiều giá trị dinh dưỡng…
 
Ưu tiên dùng thực phẩm sạch
Từ một tháng trước, lò mứt của chị Nguyễn Thị Phượng, hẻm 505 đường Hoàng Diệu thơm nức mùi mứt gừng và mứt dừa các loại. Ngày thường, chị Phượng chuyên cung cấp các loại dừa xiêm, dừa lấy nước cho một số điểm bán nước giải khát. Cách đây vài ba năm, thấy nhiều khách hỏi mua, chị lựa chọn dừa để mở lò bán nguyên liệu làm mứt. Thời gian rảnh, gia đình chị làm thêm mứt dừa để bán trong dịp Tết cho những mối hàng thân quen. Trung bình mỗi Tết, chị bán ra khoảng gần 200kg mứt dừa các loại, mang lại một khoảng thu nhập đáng kể. Theo chị Phượng, tùy theo yêu cầu của khách quen, chị cắt cơm dừa hình sợi, thái mỏng hoặc vuông vức. “Mứt nhà làm, bán cho khách quen nên chúng tôi rất chú ý đến khâu vệ sinh, nói không với các chất bảo quản, phụ gia có hại cho sức khỏe”, chị Phượng khẳng định.
 
Tương tự, hơn 10 năm nay, hộ gia đình chị Hà Thị Kim Chi (ở 268/24 Trần Cao Vân) có thêm nguồn thu nhập ổn định trong những ngày cận Tết nhờ nghề tay trái là kinh doanh bánh mứt tự làm. Không chất bảo quản, không phẩm màu nên mặt hàng mứt gừng, mứt nghệ của gia đình chị được khá nhiều người yêu thích.
Tính đến thời điểm hiện tại, mặt hàng mứt Tết của chị đến tay người tiêu dùng hơn 150kg. Khách hàng chủ yếu là người quen, người thân và bạn hàng bán ở các khu chợ trong thành phố. Chị Chi cho biết, từ đây đến Tết chị đã nhận đơn hàng của gần 50 người, với hơn 200kg mứt gừng, nghệ.
Bên cạnh đó, nhiều chị em cũng chịu bỏ tiền túi để mua các loại củ, quả trồng theo phương pháp hữu cơ làm nguyên liệu mứt ngày Tết. Dịp này, Ban quản lý (BQL) An toàn thực phẩm TP. Đà Nẵng cũng khuyến cáo người dân nên cẩn trọng với những loại bánh mứt thủ công tự làm đang được rao bán tràn lan trên các trang web, mạng xã hội. Theo ông Nguyễn Tứ, Phó BQL An toàn thực phẩm thành phố, đơn vị đã thành lập 5 đoàn kiểm tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm dịp Tết, đảm bảo việc kiểm soát, truy xuất nguồn gốc các loại củ, quả nhập về Đà Nẵng. Tuy nhiên, với những sản phẩm rao bán trên mạng xã hội, được đưa từ địa phương khác về, đơn vị rất khó kiểm soát.
Do đó, người dân khi chọn mua sản phẩm, đặc biệt là bánh mứt, cần chú ý thời hạn sử dụng, nguyên vật liệu, nên mua ở cửa hàng quen biết, có uy tín. Bởi trên thực tế, đã có một bộ phận người tiêu dùng bị lừa khi mua các loại mứt được quảng cáo “nhà làm” nhưng thực chất được đưa từ nơi khác về, không rõ nguồn gốc.
 
TIỂU YẾN

▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ஜ ۩  ۩ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Bánh Tết 

Bánh quê, bánh truyền thống, bánh Tết... đằng sau những tên gọi nghe đến nao lòng ấy là tinh ba tú khí của đất trời, là hai sương một nắng của con người. Dâng bánh cúng Tổ tiên chính là dâng tấm lòng thơm thảo của cháu con gửi gắm trong từng chiếc bánh.
Bà Tán Thị Hương bên nồi bánh tét nấu bằng củi.  Ảnh: V.T.L
Bà Tán Thị Hương bên nồi bánh tét nấu bằng củi. Ảnh: V.T.L
 
Bà Tán Thị Hương đang loay hoay thêm củi cho nồi bánh tét thì tôi đến. Nhà bà cách không xa đình Bồ Bản, xã Hòa Phong, nơi thỉnh thoảng tổ chức những hội làng đình đám không thua kém gì hội làng Túy Loan cách đó gần 2 cây số. Nước sôi sùng sục, làn khói mỏng đưa hương vị đặc trưng của lá, của nếp bay lên tận nhà trên. 23 năm trước, bà kể, khi nhạc sĩ Lương Nguyên, bấy giờ là Phó ban Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam đến tổ chức chương trình “Làng vui chơi, làng ca hát” ở đình Bồ Bản, bà cùng cha mình thi gói bánh tét và rinh ngay giải nhất. Tuy hồi đó chỉ gói thôi chứ không nấu vì không đủ thời gian, nhưng bánh của cha con bà nhìn qua đã mê bởi “ngoại hình” quá đạt: tròn lẳn từ đầu đến chân, dây lạt cân phân đến từng mi-li-mét, lá đều tăm tắp như được làm bằng... máy!
 
Hơn 10 năm sau đó, bà mới có dịp tỏ cho bàn dân thiên hạ biết rằng bánh nhà bà không chỉ đẹp về mẫu mã mà còn ngon về chất lượng bên trong. Đó là khi Đài Phát thanh-Truyền hình Đà Nẵng làm chương trình về văn hóa dân tộc lên sóng đúng Tết Đoan ngọ mồng 5 tháng 5 âm lịch. Các công đoạn, từ lúc gói bánh, nấu bánh đến khi vớt bánh ra, bóc lớp lá chuối để lộ ra thân bánh trong trắng ngoài xanh và thưởng thức hương vị quê hương... đều được phóng viên nhà đài ghi hình tỉ mẩn.
Không hổ danh 3 đời làm bánh, hồi cha còn sống, bà còn làm thêm bánh khô và tạo được “thương hiệu” ở chợ Túy Loan. Nay chỉ làm độc một loại bánh tét, ngày thường cứ cách nhật bà gói 15 đòn, đến tháng 10-11 Âm lịch, bắt đầu vào mùa chạp mả thì làm nhiều hơn. Qua đầu tháng Chạp bắt đầu tăng tốc, cao điểm là 3 ngày, từ 27 đến 29. Tết năm rồi, bà cùng hai người chị làm trên một nghìn đòn bánh, phần lớn làm theo đặt hàng của khách quen. Bánh tét cỡ lớn nhất gọi là bánh tét tượng (to như... voi) một đòn nặng 2,5kg, dài khoảng 30cm, đường kính gần 10cm, tét một lát là chưng đầy một đĩa loại vừa. Kế là bánh trung lớn nặng 2,2kg và bánh trung nhỏ nặng 1,5kg.
 
Bà Châu người làng Hòa Nhơn bên cạnh, mua bánh tét gửi đi Nhật cho con trai ăn Tết. Bên đó người ta ăn Tết theo dương lịch nên cậu này nhớ quay nhớ quắt mỗi khi Tết đến xuân về trên nước bạn. Chính cái hương bánh tét đã làm cậu nguôi ngoai nỗi nhớ quê nhà.
Bánh tét ngon, theo cách của bà Hương, chỉ có 2 tiêu chí là nếp và lá. Nếp phải là nếp hương, không được lẫn với gạo hoặc có nốt ruồi (lấm tấm chấm đen trên hạt nếp), không ẩm mốc. Lá phải chọn loại lá vừa “dậy thì”, đó là một lá mới vừa lớn bên cạnh một lá đã “trưởng thành”.
Để có bánh đẹp và ngon, lá đó giá mấy cũng mua. Một số người vì ham lời nhiều mà quơ đại các loại lá già, lá bị “rỗ” mặt nên dù có chọn nếp “thượng hảo hạng” cũng cho ra lò những đòn bánh không đạt.
Gần nhà bà Hương là nhà ông Hứa Đạt, cũng chuyên nghề bánh trái. Ngày thường ông làm nhiều loại bánh: tét, đúc, chưng, rò, gói; mỗi thứ một ít bán ở chợ, trong đó bánh tét chỉ to bằng cổ tay. Tết chủ yếu các loại bánh tét, chưng, rò.
Vợ ông, bà Phan Thị Ân, ngày trước làm HTX nông nghiệp, nằm đêm nghĩ cách làm thêm để tăng thu nhập. Sáng ra, bà đổ mấy lon nếp nấu thử bánh tét, đem lên chợ bán. Cả một vùng quê nghèo lam lũ làm ăn, bỗng dưng xuất hiện loại bánh tét “tí hon” ở chợ, ai thấy cũng ưng, giá cả vừa túi tiền nên mua về cho nhà dùng để thấy hương Tết giữa ngày thường. Từ đó, gần 30 năm nay bà và cô em ruột (ở thôn Cẩm Toại Đông) “cắm” luôn ở chợ Túy Loan với các loại bánh mang hương vị quê nhà.
 
Bánh quê, bánh truyền thống, bánh Tết... đằng sau những tên gọi nghe đến nao lòng ấy là tinh ba tú khí của đất trời, là hai sương một nắng của con người. Dâng bánh cúng Tổ tiên chính là dâng tấm lòng thơm thảo của cháu con gửi gắm trong từng chiếc bánh.
Ở chợ Lệ Trạch, xã Hòa Tiến, có gian hàng chuyên bánh trái của ông Võ Nghĩa. Ngoài các loại bánh công nghệ, ông còn bán một số loại bánh truyền thống được làm thủ công ngay tại địa phương. Mỗi Tết ông Nghĩa nhập trên dưới 50 triệu đồng bánh quê các loại.
Chợ Lệ Trạch nằm ở vị trí “đắc địa”, bên đường ĐT 605 nối cầu Đỏ với các xã thuộc thị xã Điện Bàn giáp ranh với Hòa Tiến như Điện Tiến, Điện Hòa, Điện Thọ... nên lượng bánh bán sỉ rất nhiều. Có thể kể ra: bánh khô mè, khô nổ của bà Điểu (em bà Liễu bánh khô mè ở Khuê Trung, quận Cẩm Lệ) ở thôn Yến Nê, xã Hòa Tiến; bánh khô mè gói mộc, tuy bao bì không “hoành tráng” như các sản phẩm cùng loại khác nhưng vẫn có vuông giấy nhỏ ghi Cơ sở sản xuất Bánh khô mè Minh Quân, thôn Xuân Phú, xã Hòa Sơn.
 
Ông chủ Minh Quân cho biết, cơ sở ông sản xuất bánh khô mè được 5 năm rồi. Ngày thường ông làm khoảng 30kg bánh, ngày Tết cỡ 20 tấn. Ngoài Đà Nẵng, ông đưa hàng vô Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ, lên Trà My, Tiên Phước. Toàn bộ các công đoạn đều sử dụng củi: từ nướng ruột bánh, rang mè đến thắng đường, sấy bánh. “Ngày nay khi xã hội tân tiến thì đâu đó mỗi người chúng ta lại muốn trở lại với cội nguồn, quay về với những sản phẩm bánh trái của vùng quê được làm thủ công, không một máy móc hiện đại”, ông nói.
Nấu củi, tuy tốn chi phí nhiều hơn so với nấu bằng than đá hay chạy điện. Nhưng không sao, cả bà Hương lẫn ông Đạt cũng đều khẳng định, tuy lời ít hơn nhưng giữ được hương vị bánh trái quê nhà trong lòng người, nhất là mỗi khi Tết đến xuân về...
 
VĂN THÀNH LÊ
 
Image result for XUÂN TẾT mau tuat photos

▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ஜ ۩  ۩ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Dọn nhà đón Tết 

Trang trí nhà cửa dịp Tết là một trong những phong tục đẹp của người Việt. Năm hết Tết đến, cả gia đình quây quần dọn dẹp ngôi nhà với ước vọng xua đuổi những điều không may trong năm cũ và chào đón một năm mới tốt đẹp hơn. Hiện nay, với người trẻ, việc trang trí nhà không còn được chuẩn bị một cách công phu và kỹ lưỡng như trước nhưng cũng không vì thế mà bị xem nhẹ.
Hoa là vật trang trí chủ đạo trong nhà ngày Tết dù là trước đây hay bây giờ. Ảnh: Q.T
Hoa là vật trang trí chủ đạo trong nhà ngày Tết dù là trước đây hay bây giờ. Ảnh: Q.T
Cách của người xưa
Trong cuốn Tết xứ Quảng, tác giả Võ Văn Hòe dành riêng một chương để nói về việc trang trí trong nhà ngày Tết. Đại ý rằng: “Ngay từ đầu tháng Chạp, người ta đã bắt đầu mua sắm bông hoa trang trí trong nhà ngày Tết. Kèm với đó là sửa soạn, sắp xếp lại nơi thờ cúng ông bà tiên tổ. Những gì của năm cũ phải được lau chùi kỹ lưỡng, nếu cần thì thay mới. Trong nhà, mẫu vật nào đẹp, có giá trị được đem ra trưng bày nơi phòng khách. Người ta còn quét vôi, sơn phết tường nhà, cửa bằng những gam màu mới, tạo cho căn nhà dáng vẻ mới mẻ. Vườn tược được dọn trước, quét sau, các chậu hoa được đặt vào sân nhà ở vị trí tương ứng nhất sao cho toàn cảnh phù hợp với căn nhà…”. Như vậy, việc năm hết Tết đến phải trang trí lại nhà cửa đã như là một lệ, một thói quen trong tiềm thức của người Việt.
Bà Nguyễn Thị Chung (80 tuổi, tổ 82, phường An Hải Đông, quận Sơn Trà) nhớ lại, cách đây độ hai, ba chục năm, khoảng trước Tết từ tháng rưỡi đến hai tháng là người ta bắt đầu gieo hoa chơi Tết. Hai loài hoa chủ lực ngày ấy là vạn thọ và thược dược. Với vạn thọ, người ta giữ lại vài ba gốc hoa sau khi đã cúng Rằm/mồng Một tháng trước, rồi dăm vào ảng nước phía sau nhà. Còn thược dược thì sau khi chưng, người ta không bỏ đi mà giữ lại củ, ủ trong tro, treo đâu đó trong nhà. Canh đến gần Tết thì đem ra gieo xuống đất. Vạn thọ là loài hoa có sức sống dai dẳng, chưng cả tháng không tàn, còn thược dược thì bông hoa sặc sỡ. Theo quan niệm của ông bà ta ngày ấy thì hai loài hoa này bổ sung cho nhau, chưng trong nhà có ý nghĩa vừa đẹp, vừa thọ. “Bên cạnh những loài hoa tự trồng thì gần Tết, người ta cũng đi mua thêm cây kiểng mới. Tùy vào điều kiện của mỗi gia đình mà các loại cây cũng khác nhau. Nhà có điều kiện thì họ hay mua mai, bonsai, áp Tết thì mua thêm hoa cúc. Nói chung, mùa xuân thì hoa phải nở rộ trong nhà. Ngoài hoa, để làm đẹp cho nhà, người ta còn treo tranh. Hồi xưa có cả những tiệm chuyên bán tranh treo Tết. Người ta rất thích tranh phong cảnh, hoặc bức tranh có in hình chú nai quay đầu. Mua về chưng trong 3 ngày Tết rồi cuộn lại cất kỹ, năm sau lại đem ra dùng”, bà Chung chia sẻ thêm.
 
Tết nay: đơn giản, hiện đại
Hiện nay, do điều kiện không cho phép như không gian nhà cửa hạn chế, thời gian eo hẹp nên nhiều bạn trẻ đã chọn mua hoa, các chậu cảnh bán sẵn nhằm mục đích trang trí cho ngày xuân thêm rạng ngời hơn. Những ngày này, tại các lô bán hoa trên đường Lê Đại Hành (quận Cẩm Lệ) tấp nập người đến mua hoa. Những loài hoa có màu sắc sặc sỡ như hồng, cẩm chướng, thủy tiên, phong lan… rất được ưa chuộng. Chị Trần Thị Trang (trú đường Lê Đại Hành) chia sẻ: “Tôi thấy hiện nay về cơ bản thì việc bày biện mâm ngũ quả hay chưng mai, đào, quất cũng theo truyền thống như xưa. Chỉ có trang trí thêm đèn nháy lên mai, đào. Nhưng việc trang hoàng nhà cửa chuẩn bị đón Tết thì thường trễ hơn do cuộc sống bây giờ bận rộn. Các cụ ngày xưa tự tay sơn phết tường nhà chứ bây giờ phải thuê hết. Mình muốn thuê sớm cũng không được, phải phụ thuộc vào đội thợ. Nhà ai muốn chưng các chậu hoa nhỏ trong sân nhà thì thường mua sớm, hoa sớm bao giờ cũng đẹp hơn. Khoảng đầu tháng Chạp đi mua là vừa”.
 
Nhiều năm nay, gia đình chị Trang trung thành với phong cách trang trí đơn giản trong ngày Tết. Độ vừa sang tháng Chạp là chị thường tự tay dịch chuyển, bố trí lại đồ đạc trong nhà để tạo sự tươi mới. Qua Rằm, nếu có thời gian, vợ chồng chị sẽ cùng nhau dọn dẹp, lau chùi nhà cửa. Nếu không, chị sẽ thuê đội dọn dẹp nhà. Chị cũng không chưng mai, quất mà thường mua những loài hoa ngoại về chơi Tết. Có năm là tu-lip, có năm là lan vanda hay hồng leo Thái Lan. Theo chị, các loài hoa này có màu sắc rực rỡ, tươi thắm, đặc biệt là rất sang trọng, phù hợp với không khí xuân sang.
Chị Hà Quỳnh Mai (đường Hàm Nghi, quận Thanh Khê) thì lại thích “thay áo mới” cho nhà cửa bằng cách sử dụng giấy dán tường 3D. Loại giấy này có ưu điểm là mẫu mã đẹp, dễ dán, ít tốn thời gian, công thợ, bề mặt tranh dán mịn, có thể lau chùi thoải mái. “Trước đây, muốn làm mới nhà cửa chỉ có cách sơn phết lại. Mỗi lần sơn mới là mỗi lần phải dọn dẹp rất mất thời gian. Nay có loại tranh dán 3D này, mình tha hồ lựa chọn mẫu mã. Đặc biệt, các loại tranh dán tường này có độ bám dính cao nên rất bền. Trừ khi mình muốn thay đổi cho mới mẻ, nếu không, ít nhất cũng để được 5 - 7 năm”, chị Mai nói.
Một trong những vật dụng nữa mà nhiều gia đình muốn thay đổi cho ngôi nhà mình dịp Tết đó là khăn trải bàn. Hiện nay, chị em thích “săn lùng” những loại vải dày dặn, có họa tiết độc đáo. Tại cửa hàng Cổ và Cũ trên đường Bạch Đằng, chị Phan Thị Quỳnh (đường Võ Văn Tần, quận Thanh Khê) đang tỉ mỉ chọn lựa những loại vải được dệt từ thổ cẩm, tweet… Chị Quỳnh đặc biệt yêu thích phong cách vintage (đồng quê) nên những vật dụng trang trí nhỏ xinh mang hơi hướng cổ điển như lọ hoa, khung ảnh, những tấm khăn có họa tiết dân tộc… được chị ưu tiên lựa chọn để trang trí nhà cửa mỗi dịp xuân về. Chị cũng sẽ chọn thêm hoa khô (đã được nhuộm màu) về cắm trong các lọ hoa bằng giấy hoặc thủy tinh nhỏ xinh. Đơn giản vậy thôi là thấy Tết về bên hiên nhà.
 
Anh Cao Minh Công (kiến trúc sư tại Công ty TNHH Lima Desige) cho rằng: “Việc trang trí nhà cửa dịp Tết hiện nay có sự đan xen giữa mới và cũ. Về cơ bản, việc chuẩn bị Tết vẫn như xưa nhưng chất liệu đa dạng, phong phú hơn và không bó buộc nhiều. Ví dụ, ông bà ngày xưa chơi hoa thì ngày nay giới trẻ cũng chơi hoa. Nhưng thay vì chưng các loài hoa truyền thống, theo quan niệm xưa thì người trẻ chọn hoa tùy theo sở thích, điều kiện, khả năng sáng tạo của mỗi người. Không chỉ mua hoa về cắm vào bình là xong, nhiều gia đình còn cắm hoa vào ấm trà, chai thủy tinh… tạo sự độc đáo, mới lạ. Do hiện tại, thứ gì cũng được bày bán sẵn trên thị trường nên việc chuẩn bị cũng không công phu như trước. Xu hướng hiện nay là “chơi Tết” nhiều hơn nên các công đoạn đều được giảm thiểu”.
QUỲNH TRANG
 

▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ஜ ۩  ۩ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Image result for  XUÂN TẾT mau tuat photos

Vị mắm ngày Tết

 Cứ mỗi dịp năm hết Tết đến, trong giỏ đi chợ của các chị, các mẹ bao giờ cũng có vài chai nước mắm mua về dự trữ trong những ngày đầu năm. Đặc biệt, đối với người dân Đà Nẵng sống ven biển, nước mắm càng trở nên không thể thiếu để chế biến món ăn. Tuy ngày nay nhiều cơ sở chế biến nước mắm bị mai một nhưng nhiều người dân vẫn tìm mua những loại nước mắm ngon, nguyên chất để dùng bởi hương vị mắm truyền thống đã gắn bó với họ từ bao đời.
Để có nước mắm ngon phục vụ Tết, ông Trần Ngọc Vinh chuẩn bị làm từ tháng 2, tháng 3 hằng năm. Ảnh: Đ.L
Để có nước mắm ngon phục vụ Tết, ông Trần Ngọc Vinh chuẩn bị làm từ tháng 2, tháng 3 hằng năm. Ảnh: Đ.L
 
Ưa dùng bởi hương vị đậm đà
Chị Nguyễn Thị Vân Dung, phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ cho biết, vào dịp Tết chị thường dùng nước mắm ngon để ngâm thịt, kiệu, làm nước chấm bánh tráng cuốn thịt heo và nêm nếm các món ăn.
Đặc biệt là loại nước mắm quê ở đô thị cổ Hội An, huyện Thăng Bình hoặc nước mắm do mẹ chị làm. Chị thích dùng nước mắm quê vì ăn an toàn hơn nước mắm công nghiệp, đồng thời góp phần giúp bà con có nhiều thu nhập hơn từ nghề truyền thống.
Đối với món thịt ngâm nước mắm, lúc đầu chị chỉ làm cho gia đình ăn và biếu bạn bè nhưng nhiều người thấy ngon nên mong muốn chị làm bán. Năm nay, chị đã sử dụng hết 5 lít nước mắm để ngâm thịt. Chị cũng ưa dùng nước mắm Nam Ô bởi chất lượng thơm ngon, đậm đà.
Chia sẻ về việc sử dụng nước mắm để làm các món ăn, chị Nguyên Dung, phường An Hải Tây, quận Sơn Trà nói: “Nước mắm là hương vị không thể thiếu trong những ngày Tết. Hầu như các món ăn Việt đều cần đến nước mắm để nêm nếm hoặc dùng làm nước chấm.
Để làm nước chấm ngon, tôi thường dùng nước mắm Văn Tranh. Đây là nước mắm truyền thống của quận Sơn Trà có vị hơi mặn và đậm chất đạm. Còn để làm món thịt ngâm nước mắm, tôi thường dùng nước mắm Nam Ngư vì loại này có vị vừa chừng, nếu mặn quá sẽ không ngon. Nếu thời nắng, gia đình dùng khoảng 3kg thịt, thì ngày mưa lạnh là khoảng 5kg. Khoảng 1,5 lít mắm thì dùng cho 3kg thịt và 0,5 đến 0,7kg đường”.
Nhờ người dân sử dụng nước mắm nhiều trong dịp Tết nên những người bán nước mắm cũng nhờ đó mà gia tăng số lượng. Chị Nguyễn Thị Liên, ở đường Nguyễn Công Trứ, quận Sơn Trà chuyên bán nước mắm quê của huyện Thăng Bình cho khách Đà Nẵng. Ngày thường, mỗi tháng chị bán cỡ 70 lít, còn vào dịp Tết thì tăng khoảng gấp 3 lần. Hiện nay khách đã đặt mua khoảng 150-200 lít.
“Người dân Đà Nẵng vẫn thích dùng nước mắm quê để ngâm thịt, dưa món... vì nước mắm quê có vị đậm và khá mặn. Thường thường khách hàng đã ăn nước mắm quê thì họ sẽ từ chối nước mắm công nghiệp”, chị Liên cho biết.
 
Nâng cao chất lượng với tiêu chí “4 không”
Trong những năm gần đây, nước mắm truyền thống ngày càng được nhiều người ưa chuộng trở lại. Nhờ vậy, nước mắm Nam Ô trở nên nổi tiếng hơn và được khách hàng tin dùng, nhất là sau khi nhiều cơ sở nước mắm nổi tiếng ở các phường Thọ Quang, Mân Thái (quận Sơn Trà) không còn sản xuất.
Ông Phạm Phương Nam, Chủ tịch Hội Nông dân phường Thọ Quang cho biết, trước đây trên địa bàn phường có xưởng mắm Thọ Quang nhưng bây giờ không còn nữa. Hiện nay chỉ còn một vài hộ tự làm chỉ đủ dùng trong nhà.
Trong khi đó, bà Phạm Thị Hải Nguyệt, chủ hộ sản xuất nước mắm thương hiệu Hiệp Hải ở làng nước mắm Nam Ô cho biết, nhà bà làm nước mắm đã hai đời, đến nay hơn 60 năm. Để có nước mắm ngon phục vụ Tết thì khâu chuẩn bị làm mắm từ tháng 2, tháng 3 và sau 10 đến 11 tháng mới lọc được.
Bà chọn loại cá cơm than tươi và muối Cà Ná, không dùng muối trôi nổi trên thị trường. Nước mắm chỉ có cá và muối chứ không dùng bất cứ chất bảo quản, tạo màu, tạo mùi nào cả. Hầu hết nước mắm sản xuất ở đây chủ yếu phục vụ cho các cơ quan, xí nghiệp đặt hàng để làm quà biếu cho các cán bộ, công nhân viên, người lao động.
Ngoài ra, khách hàng ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cũng đặt mua để bán hoặc làm quà biếu. Trong năm, bà chỉ bán lai rai cho khách du lịch khoảng vài trăm lít nhưng vào mùa Tết thì bán khoảng hơn 2.000 lít.
Ông Trần Ngọc Vinh, Chủ tịch Hội làng nghề truyền thống nước mắm Nam Ô cũng phấn khởi cho biết, ngoài 53 hộ sản xuất nước mắm, Hội làng nghề còn có 2 doanh nghiệp và 3 hợp tác xã gồm Đông Hải, Ô Long, Nông nghiệp 1 Xuân Thiều.
Tuy số hộ sản xuất giảm khoảng một nửa do giải tỏa để thực hiện dự án Khu du lịch sinh thái biển Nam Ô nhưng sản lượng mắm năm nay vẫn tăng cao. So với những năm trước, Hội làng nghề chỉ sản xuất từ 100-150 tấn thì năm 2017 sản xuất hơn 200 tấn nhờ cá được mùa. Riêng hộ gia đình ông Vinh sản xuất 28 phi nước mắm nguyên chất loại 1 khoảng 5.000 lít.
“Nước mắm Nam Ô giờ nổi tiếng khắp cả nước nhờ chất lượng thơm ngon, hương vị đậm đà do người dân chỉ sử dụng cá tươi được lấy tại Đà Nẵng và Hội An; còn muối lấy từ Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) và Cà Ná (Phan Thiết). Đặc biệt, bà con nghiêm túc thực hiện sản xuất theo tiêu chí “4 không” bao gồm không sử dụng hóa chất trong quá trình sản xuất, không chất bảo quản, không chất tạo màu, không chất tạo mùi. Nhờ vậy, nước mắm Nam Ô luôn được khách hàng tin dùng, đặc biệt vào dịp Tết, nhất là người dân Đà Nẵng”, ông Vinh khẳng định.
 
ĐOÀN LƯƠNG
 
Kiều Oanh sưu tầm
 
Related image
Xem thêm...

CÁCH DÙNG HỌ VÀ ĐẶT TÊN CỦA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

Related image

Một Điệu Múa Trống Rất Đẹp Mắt Của Dân Tộc Người

Yao (Dao) Ở Trung Quốc

CÁCH DÙNG HỌ VÀ ĐẶT TÊN 
CỦA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
 
 
NGUYỄN KHÔI
 
Related image
Related image
 

LỜI DẪN : 
Năm 2006, nxb Văn Hóa Dân Tộc -Hà Nội đã in và phát hành cuốn Các dân tộc ở Việt Nam- cách dùng họ và đặt tên". Trên @ trước đây đã giới thiệu về 6 tộc người : Ê Đê, Chăm (Chiêm Thành),Thái, Mường, Mông (Hmong, Mèo),Khmer.

Nay xin giới thiệu tiếp 1 số Tộc người có cách dùng họ và đặt tên khá độc đáo là :

*A  - NHÓM NGƯỜI VIỆT CỔ :

1 - Dân tộc CHỨT 
2 - Dân tộc THỔ

**B - NHÓM NGÔN NGŨ MÔN - KHMER

1 - Dân tộc BA NA 
2 - Dân tộc BRÂU 
3 - Dân tộc BRU - VÂN KIỀU 
4 - Dân tộc CO (KOR) 
5 - Dân tộc Chơ Ro 
6 - Dân tộc CƠ HO  (k'Ho) 
7 - Dân tộc CƠ TU 
8 - Dân tộc GIÉ - TRIÊNG 
9 - Dân tộc HRÊ 
10 - Dân tộc KHÁNG 
11 - Dân tộc KHƠ ME  
12 - Dân tộc KHƠ MÚ 
13 - Dân tộc MẠ  
14 - Dân tộc MẢNG  
15 - Dân tộc M'NÔNG 
16 - Dân tộc Ơ ĐU 
17 - Dân tộc RƠ MĂM 
18 - Dân tộc TÀ ÔI 
19 - Dân tộc XINH MUN 
20 - Dân tộc XƠ ĐĂNG 
21 - Dân tộc XTIÊNG 

*C - NHÓM VĂN HÓA NGÔN NGỮ TÀY THÁI

1 - Dân tộc BỐ Y 
2 - Dân tộc GIÁY 
3 - Dân tộc LÀO 
4 - Dân tộc LỰ  
5 - Dân tộc NÙNG 
6 - Dân tộc SÁN CHAY 
7 - Dân tộc TÀY 
8 - Dân tộc THÁI

*D - NHÓM VĂN HÓA NGÔN NGỮ MÔNG - DAO

1 - Dân tộc MÔNG ( H'mong ,Mèo) 
2 - Dân tộc DAO 
3 - Dân tộc PÀ THẺN

*Đ - NHÓM VĂN HÓA NGÔN NGỮ KA ĐAI

1 - Dân tộc PU PÉO 
2 - Dân tộc LA CHÍ  
3 - Dân tộc LA HA 
4 - Dân tộc CỜ LAO

*E - NHÓM VĂN HÓA HÓA HÁN

1 - Dân tộc HOA  (Hán) 
2 - Dân tộc SÁN DÌU 
3 - Dân tộc NGÁI

*F - NHÓM VĂN HÓA NGÔN NGỮ MÃ LAI  - ĐA ĐẢO

1 - Dân tộc CHĂM ( Chiêm Thành) 
2 - Dân tộc CHU RU 
3 - Dân tộc Ê ĐÊ  (Rhadé) 
4 - Dân tộc GIA RAI 
5 - Dân tộc RAGLAI  (Raglei, Rai, Noang,  Laoang)

*G - NHÓM VĂN HÓA TẠNG MIẾN , hệ Hán Tạng (Tạng= Tây Tạng, Miến Điện= Myanma) 
1 - Dân tộc CỐNG 
2 - Dân tộc HÀ NHÌ  (U Ní) 
3 - Dân tộc LA HỦ 
4 - Dân tộc LÔ LÔ 
5 - Dân tộc PHÙ LÁ 
6 - Dân tộc SI LA

* H - Dân tộc KINH (Việt) : thuộc nhóm văn hóa ngôn ngữ Việt - Mường

Tổng luận về cách dùng họ và đặt tên

*A -Nhóm người Việt cổ :

1- DÂN TỘC CHỨT:

Có gần 4000 người , có các tên gọi khác là :Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, Arem,Tu va,Paleng,Xơlang, Tợ hung, Cha cú,Tắc cụi. Umo sinh sống ở 2 xã Minh Hóa, Tuyên Hóa Quảng Bình, còn nặng về hái lượm. Họ phổ biến là họ Cao, Đinh, Hồ... 
Trong dó có nhóm Người Rục (Kha toong lương = Mọi lá vàng) được coi như loại "Người Rừng mới phát hiện", dân số  có 51 hộ=212 nhân khẩu sống rải rác trong hang núi, rừng rậm ở miền tây Quảng Bình. Nhóm người Mã Liềng ( Mơ Leng = người) có khoảng 700 người, là nhóm người Việt cổ ở vùng Tuyên Hóa (Quảng Bình), Hương Khê (hà Tĩnh), Khăm Muộn (Lào), không có Họ, nay do Nhà nước đặt họ cho (Cao, Đinh , Hồ) để làm Chứng minh nhân dân. Lễ đặt tên :khi đứa trẻ biết cười.

2- DÂN TỘC THỔ:

còn giọ là Kẹo, Mòn, Cuổi,Tày Pọng, Đan Lai,Ly Hà, sống chủ yếu ở Con Cuông, Nghĩa Đàn, Tân Quỳ (Nghẹ An).Trai gái có tục "ngủ mái" để tâm tình tìm hiểu nhưng không được có hành vi thiếu đứng đắn. Họ tên như người Kinh :Phan, Bùi, Phạm, Trương, Hồ,La, Nguyễn ,Cao, Hoàng, Lê, Chu, Trần.

*B- Nhóm ngôn ngữ Môn -khmer

1-DÂN TỘC BA NA :

Có khoảng 170.000 người ở Tây nguyên, Bình Định, Phú Yên. có các tên gọi : Bơ Nâm,Glơ lăng, Y lăng, Gơ lar, Rơ ngao,...Buôn làng gọi là Plây. Xưa có tục "Cà răng căng tai".Người Ba Na không có Họ. ví dụ: 
Nam có người là Yang Danh, Nữ : Thưr, Thớp, Yung, Blui, Aying,Klrot, Blinh, Chơ, Y owu, Nhiêng, Đim, Đech, Njưk...

2- DÂN TÔC BRÂU ;

có 313 người ,còn gọi là Brạo,ở Kontum. Làng gọi là Srúc. Người Brâu thuộc nhóm các tộc người Song Hệ, tức là cách tính dòng họ, thừa kế tài sản theo cả cha và mẹ và chế độ cư trú Song Phương luân chuyển tùy theo từng hoàn cảnh.Cũng như người Rơ Măm, người Brâu không có tên để chỉ một dòng Họ cụ thể, nhưng họ có cách tính họ tộc huyết thống tới 10 đời : kiêng sau 5 đời mới được kết hôn, vì Luật tục chặt chẽ, dân số lại quá ít nên con trai có khi phải sang Lào, Campuchia để kiếm vợ.

3- DÂN TÔC BRU- VÂN KIỀU:

có trên 55.ooo người ở miền núi Bình Trị Thiên. Trước đây không có Họ, sau này lấy họ Hồ.

4- DÂN TÔC CO (KOR) :

còn gọi là Cùa, Tràu, có ngót 3 vạn người, trồng Quế ở miền núi xứ Quảng. Trước không có Họ, nay là họ Đinh, Hồ...

5- DÂN TỘC CHƠ RO :

Còn gọi Châu ro,Đơ ro, Chro, sống ở Bình Phước, Đồng Nai , Bà Rịa...theo chế độ Song Hệ. Số đông là họ Điểu như người Xtiêng, ngoài ra còn có họ : Chrau Lun (cá sấu), Bicu (cây gỗ mật)...

6- DÂN TỘC CƠ HO (k'Ho) :

có trên 12 vạn người là cư dân bản địa ở Lâm Đồng, Đồng Nai...gồm các nhóm Chil, Lát (Lách- cư trú ở Đà Lạt, cái tên Đà Lạt xuất xứ từ chư nước của người Lát...), Tơ ring, Sree, Nộp... Gia đình mẫu hệ. Làng gọi là "Bon".Có các Họ : Adat,Buoorr, Bondưng, Bontô,Chiphichoreo,Chily , Chil mup, Day Out, Day K, Đazur, Đakriêng, Đưngur, Kơ, Kdun, Llong, Kơpa, Kơsa, Kra zanh, K'tol, Lâm Biêng, Lé mou, Liênghót, Liêng Zẩng, Mbon, Paungtin, Rglê, RơÔ, Rơon, Sarem, Sơao, Sơ kết, Srê... 
Ví dụ : Lơmu hà Kroong, Tuprông Nim (nam); Kgléo, Cillpam Mơlam (nư )

7- DÂN TỘC CƠ TU:

: có trên 50.000 người , là dân bản địa ở dãy Trường Sơn thuộc Thừa Thiên- Huế, Quảng Nam. còn gọi là Cà tu, Gao, Hạ, Phương, Ca tang. 
Có các họ : Achuếch (nước), Adốt (vượn), Amu (chó), A rắt (Con Cuốc ), D râm (cái đầu), Nđnok (Con Bò),Prông (con Sóc), Vọt (khỉ)...

8- DÂN TỘC GIÉ - TRIÊNG:

 có 3 vạn người , là cư dân bản địa ở Kon tum, Quảng Nam...các nhóm :Cà Tang, Ve, Proong, Gié, Giang Rẫy, Triêng  đang từ mẫu hệ chuyển sang phụ hệ, có tục đẻ ngoài rừng...mỗi người Gié- Triêng (trừ nhóm Proong) đều có Họ kèm theo tên, nhưng đàn ông khác với đàn bà. các họ như : Bluông, Bruốt, Cắp năng, Ê đuốt, (tên một loài chim),Khoông, Kriêng, Na xó (vùng đất đỏ)... Ví dụ : 
    Y Một ( Uv T ư Đảng - nữ ), Sô Lây Tăng (Bác sĩ Bí thư Thỉnh Ủy Kontum - nam). 
Nhóm Người Triêng : có trên 1 vạn, 3/4 ở Kon Tum, ở Lào gọi là Tà Liêng. chia thành các chi họ , người đứng đầu thường là Thủ lĩnh có tài : 
- Bloong  Tro : có tài bắt tù binh 
- Chông Hăng : tài bất Cọp V.v... 
  Nhóm NGƯỜI VE : ở Quảng Nam, có khoảng 2000 người, nam giới có các họ : Choong xuyên ( Côn Choong Xuyên Ngâu), Choong Unh, ...Nữ giới có các họ : Plei Pooc, Lêp Pieerr,( H'nei Plei Pooc Thêm) , Rủ Ah... 
  Hiện nay "từ" chỉ nam "côn", nữ "H'nei" đều đã bỏ, vì gây rắc rối khi làm giấy tờ hành chính...

9- DÂN TỘC HRÊ :

có trên 11 vạn người ở Quảng Ngãi, Bình Định., trình độ phát triển khá như người Chăm, sống ở dọc Sông Re. Dưới thời Phong kiến chỉ có 1 họ là họ Đinh, nay có họ Phạm, Nguyễn , Hà... Tên nữ Thi sĩ nổi tiếng là Hơ Vê.

10- DÂN TỘC KHÁNG :

có 1 vạn là cư dân bản địa ở Sơn La , Lai Châu. Họ tên theo người Thái. Ví dụ : Hoàng Sương (nam)

11- DÂN TỘC KHƠ ME : đã có ở phần trước

12- DÂN TỘC KHƠ MÚ: 

Có 56.000 người là cư dân bản địa ở Sơn La, Lai Châu, Yên Bái , Lào Cai, Thanh Hóa , Nghệ an...còn gọi là : Kúm Mụ, Kmụ. Còn là cư dân đông đảo ở bên Lào. Họ và tên người Khơ Mú ở Việt Nam do lịch sử bị người Thái chinh phục, thành dân "bị trị= cuông nhốc" cho Phìa Tạo (Thái) nên thường là có 2 tên : 
    Họ người Khơ Mú nguyên gốc : theo tên các thú rừng, cây cối, chim, vật vô tri...như : 
- Nhóm tên thú : 
Nhóm Rvai (hổ) gồm có : Rvai Veng Ung (Hổ vằn tròn có đốm to);Rvai Xênh Khương (Hổ vằn đen vàng);Rvai Tlắp (Báo); Rvai Đêr (Hổ xám lớn). 
Nhóm Tmoong (Chồn, Cầy) gồm có : Tmoong Hol (Cầy); Tmoong Rung (Cáo). 
 Ngoài ra có nhóm Tiác ( Hươu, Nai);Ho Hoa (khỉ); Hual( Gấu); Goi (Sóc); Oivê (Rái cá); Mar (Rắn);  Kưmbur (Tê tê). 
Nhóm tên chim : nhóm Thràng (Phượng hoàng đất);nhóm Tgooc Xlooc Ôm có 2 nhành :Ôm Cô Tlê (Chim Bồng chanh) và Ôm Lit Praga (Chìa vôi); Chưnđre (Chàng ràng); Ric (én);Rivi (Chim Phường chèo); Lang Tu (Họa mi); Khư Tloc (Cuốc); Klảng (Cắt) ; Ir Glava (Bìm bịp). 
Nhóm tên cây: Nhóm  Tvạ có 3 ngành : Tvạ Tờrông Blai (Guột), Tvạ Ngăm (rau Dớn), TvạVoor ( Dương xỉ) , Xinh Ưa (Tỏi). 
 Ngoài ra lẻ tẻ có họ Rét ( con ông lão "Tu niễu" ở dưới nước); họ Soong (cái Rọ),Ha Lip ( muôi múc canh)... 
  Do người Khơ Mú ở xen kẽ với người Thái (bị trị lâu đời) nên bị văn hóa Thái "đồng  hóa" tới người Khơ Mú khá đận nét : 
 Ở Nghệ An: người Khơ Mú vẫn giữ cách đặt tên theo dòng họ theo ngôn ngữ dân tộc của mình nhứ các họ Tmoong, Soong, Rvai, Lo, Seo, Chon, Cút, Chích, Ven, Hung, O ôc... 
Còn ở Sơn La, Lai Châu thì người Khơ Mú đã đổi sang họ người Thái...họ gốc khơ Mú chỉ còn gọi trong nội bộ dân tộc, tên hành chính (hộ khẩu, chứng minh thư theo họ & tên người Thái) : họ Rvai đỏi thành họ Quàng, ở Nghệ  An lại đổi thành họ Lộc; Rvai Tlăp thành họ Lương, Rvai KrLự thành họ Lự... 
 Ở Điện Biên : họ Ôm thành hị Vi, Tmoong thành họ Lù. 
 Ở Sơn La : họ Ôm thành họ Lò, Tmoong thành họ Lường, họ Chưn đnẹ thành họ Tòng.

13-DÂN TỘC MẠ :

Có trên 33.000 người ở Lâm Đòng , gồm các nhóm Blao, Chô Rô, Chô Tô, Chơ Sôp, Đa Dựng, Đa Huây...trước đây có tục cà răng căng tai.. Làng gọi là "bon". 
 Họ tên : ví dụ K'va Răng (nam), K'Bình, K' Sáu (nữ)...

14- DÂN TỘC MẢNG :

Có 2663 người ở Lai Châu, sống du canh du cư, Làng gọi là "muy". 
 Nguồn gốc xưa có 5 họ chính, nay theo kiểu họ người Thái - H'mông : Tơ Gioảng (Chìn), Vẳn Nơ ( Lò), Văn Nệnh ( họ Anh), Tơ Lot (họ Lùng), Tơ Ổ (họ Pàn), họ Lý, Tào, Vàng, Sùng, Chao, Ma...Trong mỗi dòng họ gốc đều gắn với tên Vật tổ (Tô tem) như chim, thú hoặc một vật nào đấy. Mỗi dòng họ có cách đặt tên theo 1 kiểu riêng : ví dụ: 
 Thông thường là : họ, tên đệm, tên gọi chính thức. Tuy vậy : con trai đều có tên đệm là "A", nhưng lại đặt lên đầu , rồi đến tên người, cuối là họ ( cứ như kiểu tên Tây bên Châu Âu ?) : họ Vẳn Nơ (họ Lò)  như A Muôn Vẳn Nơ = Lò văn Muôn. 
con gái : Thà Vẳn Nơ Muôn = Lò thị Muôn. 
 Họ Từ Gioảng (họ Chìn) thì lại như bình thường : Từ Gioảng A Chảo= Chìn A Chảo. 
Con gái : Từ Gioảng Chảo = Chìn thị Chảo. 
Họ Văn Nệnh : con trai chỉ dùng một "từ" họ : như Nệnh A Kây hay Anh A Kây. 
Con gái : Văn Nệnh Kây, Anh Thị Kây. 
 Họ Tơ Ổ (họ Pàn): con trai đặt bình thường; con gái thì đặt tên đệm là "Chứa" ở giữa- ví dụ : tên là Nhượng thì  với con trai là Tơ Ổ A Nhượng, con gái là Tơ Ổ Chứa Nhượng. 
 Ví dụ : một số tên thông thường của người Mảng hiện đang dùng trên giấy tờ là :Lý A Lầy, Lý A Chức, Lò A Nhì, Lò A Xoang, Tào  A Sến, Vàng Mò Hừ, Lùng Thị Dính, Pàn Thị Nhương, Lò Thị Phương, Hoàng Ngọc Phan, Sìn Văn Son, Pàn Thị Mê...

15- DÂN TỘC M'NÔNG:

Còn gọi là Chil, Gar, Kuyênh, Nông,Preh,Prong, Riăm. có 92.451 người ở Lâm Đồng, Bình Dương , Dak Nông. Tên M'Nông hay Pnông có nghĩa là "người ở núi". 
Người M'Nông ở Buôn Đôn (Dak lak) có nghề săn Voi...xưa có tục cà răng căng tai. 
Các Họ : Ba Sưr, Bing, Bu đăm, Busor, Bu đôp, Bu tông, Bu nô, Bun Toi, Buôn Krong, Chin, Dak cat, Đinh Đrang, Ja, K Liêng, Lieng, Lieng Hot, Long Đing, Lưk, Mbuôn, 
Mđrang, Mok, Nđu, Nong, N'tor, Ong, Pang Pé, Pang Sur, Pang Ting, Pang Tsong, Phi Mbre, Phok,Rche, Rchil, Ry am, R Lăk, Sruk, Tơr, Tumol, Triek, Uêbas, Vmăk. 
 Họ tên : H' Luộc NTor (nữ), K' Tân (nam).

16-DÂN TỘC Ơ ĐU :

Có 301 người, cư trú ở 2 bản Kim Hòa,Xốp Pột (Tương Dương- Nghệ An), sống bằng nương rẫy, hái lượm...là tộc người không còn tiếng mẹ đẻ, bà con sử dụng chủ yếu là tiếng  Thái, tiếng Khơ Mú , băn sắc văn hóa đã mờ nhạt. xa xưa không có họ, nay theo họ người Thái hoặc Lào.

17-DÂN TỘC RƠ MĂM:

có 352 người ở Làng Le , xã Mo Rai, huyện Sa Thầy -Kontum. sống bằng nương rẫy, hái lượm. Tộc người này họ còn sống rải rác ở Lào, Campuchia tùy sở thích, còn ở trình độ tan rã của chế độ nguyên thủy. Dòng họ theo song hệ (cả cha/mẹ) và cư trú song phương (nội/ ngoại) 
Họ tên : Y Ly Trang (nư ).

18-DÂN TỘC TÀ ÔI :

Có 34.960 người ở A Lưới (Thừa thiên -Huế), còn gọi là Pa cô, Pa Hí, Cà Tua... 
giỏ săn Voi. làm Lúa nước.Làng gọi là "Vel". 
Có các họ : Avet (chim Vẹt), Blup, Kêr; Hoa Hăr (Thờ chó), họ Pa tả, A kơ... 
Ví dụ : Hồ Đức Vai (anh hùng quân Giải phóng), Vien Lô, Hồ Onh, Plup Nùng...

19-DÂN TỘC XINH MUN:

Dân số 18.018 người, là dân bản địa ở Sơn La, Lai Châu...xưa gọi là "Người Xá" (có ý miệt thị), bên Thái Lan, Lào gọi là người Khạ. 
Còn có các tên gọi : Xá tú năng (uống nước, uống rượu bằng Mũi), Xá chại càng Lài (có tục xăm cằm), Xá toong lương= xá Lá vàng, Xá Poọng (Xá ở rìa bản do Phìa Tạo quản lý -làm tôi tớ), Xá Xúa (làm thuốc súng), Xá tấu nha ( Xa hay nói: không biết đâu) 
Theo đồng bào thì K'xing có nghĩa là "người", mul= là "núi"- Xinh Mun là người ở núi. Trước không có họ, sau theo người Thái : Lò, Vì...Lường, Mè, Cút... như Lò Văn Sắn, Lò Văn Lên, Vì Văn Khăm...

20-DÂN TỘC XƠ ĐĂNG:

Có 127.148 người ở Kon tum. có các nhóm : Cà Dong, Hà Lăng, Mơ Năm, Xơ Đăng, Tơ Đrá, Hơ Teng, Xê Tác,Xê Tang, Rơ Tê Ang, Rơ Tê A, Holklan,Kmang. 
Làng gọi là "plây". Đàn ông đóng khố.... 
Người Xơ Đăng không có họ, chỉ có "từ" phân biệt trai gái : A Nhông, A Sênh (trai), Y Hên, Y Vênh (nữ)

21-DÂN TỘC XTIÊNG :

Còn gọi Xa Điêng , là hậu duệ của người Phù Nam xưa ở Nam Bộ. Trước đây con trai là K' để trước tên như K' Lư, con gái là Thị...Ví dụ: Thị Diêm, Thị Em 
Sau này có họ Điểu ( Điểu Bảo) người theo họ Thiên Chúa lấy họ Lê ( Lê K' Bang).

Nhóm NGƯỜI TÀ MUN :

ở Tây Ninh có 389 người là nhóm thuộc người Xtiêng.

*C-Nhóm Văn hóa ngôn ngữ Tày Thái1-DÂN TỘC BỐ Y :

Có 1864 người cư trú ở Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang,Tuyên Quang. Còn gọi là :Chủng Chá, Pù Ná, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Din, trước 1945 chịu sự quản lý của bộ máy hành chính người Nùng, canh tác lúa nước, nương rẫy, đã có chữ viết . 
 Họ và tên tựa người Thái, mỗi dòng họ có hệ thống tên đệm riêng từ 5 đến 9 chữ, mỗi chữ dùng cho một thế hệ. Các họ :Dương (Zàng), Lỗ (Lồ), Lục (Lù), Ngũ (Ngủ, U), Phan (Phán), Vi (Vầy), Vù (vủ)...

2-DÂN TỘC GIÁY :

Có 49.000 người sống ở Lào cai, Hà giang,, Cao Bằng, Lai Châu...còn có tên gọi : Củi Chu,Dẩng, Pầu Thình, Pu Xạ,Pu Nà. Có tục "cướp dâu" (kéo vợ) như người H'mông. 
Có các họ : Lò, Vùi, Chảo (Triệu),Phán (Phan), Trần, Vàng (Vương).Nhà thơ Lò Ngân Sủn.

3- DÂN TỘC LÀO :

 Có 11.000 người ở biên giới Tây Bắc VN , tương tự người Thái...Nữ cũng dùng khăn Piêu, Nam thường xăm chữ "vạn" ở cổ tay và hình con vật vào đùi. Theo đạo Phật. Thường mang các họ : Lò , Lường, Vi, mỗi họ có kiêng kỵ riêng, con cái theo họ cha . Ví dụ : Lò Văn Xay...

4- DÂN TỘC LỰ :

Có 4.964 người ở Lai Châu rất gần người Thái, văn hóa kinh tế phát triển, ở nhà sàn 2 mái. Ăn cơm nếp, hút thuốc Lào, hôn nhân tự do, ở Rể 3 năm. Tín ngưỡng :theo đạo Phật. 
 Văn nghệ : ca hát múa phong phú 
  Họ và tên : họ theo cha, con trai có tên đệm "Bạ", con gái có tên đệm "Ý"; các họ : Lò, Vàng, Tao (Đào)...

5- DÂN TỘC NÙNG :

 Có 856.412 người cư trú ở các tỉnh miền núi phía bắc. 
Tự gọi là Người Nùng hay Nồng. Tộc danh này lúc đầu chỉ dùng họ Nông, một trong 4 họ lớn ở vùng Tả hữu giang (Quảng Tây) và vùng Đông bắc VN là Chu, Vi, Hoàng , Nông. 
Trong 4 dòng họ ấy thì vào thời điểm lịch sử phát triển, họ Nông có ưu thế hơn cả, đặc biệt là từ cuộc hưng nghiệp của Nông Trí Cao ( sách xưa phiên âm là Nùng Trí Cao) -đời Nhà Lý, từ năm Tân Tỵ 1041 trở đi nổi lên lập 1 Nhà nước riêng chống cả Tống lẫn Lý, do đó có tên gọi "đất Nùng" ở Quảng Tây. Như vậy tộc danh Nùng từ chỗ chỉ là tên 1 dòng họ (họ Nông), dần dần do viết chệch đi thành tên 1 tộc người. Rồi các nhóm Nùng di cư sang Việt Nam, thường lấy "Quê gốc" để gọi tên: 
 Nùng An gốc ở Kết Châu, Long An. Nùng Phàn Sình ở Vạn Thành Châu. Nùng Inh ở Anh Châu. Nùng Cháo ở Long Châu. Nùng Quý Rịn ở Quy Thuận Châu. Nùng Lòi ở Hạ Lôi. 
Nùng Giang (biến âm của chữ "Choang" -Tráng, ở Trịnh Châu.Nùng Cúm Cọt (phụ nữ mặc áo ngắn); Nùng hua Lài (đội khăn trắng). Người Nùng mặc quần áo Chàm. Ăn có món "khâu nhục" nổi tiếng. Có hát Sli giao duyên, đàn Tính, hát Then., Lễ hội xuống đồng "Lùng tùng". 
  Dòng họ : Nhóm Nùng An ở Hoàng Su Phì có 16 họ : Vàng, Cháng, Xin, Sải, Lừ, Hoàng, Pờ, Ly, Lèng, Sèn, Then, Giằng, Tải. Nhóm Nùng An ở Linh Hồ (vị Xuyên) có các họ : Hoàng, Nông, Triệu,Phùng,Nùng, Đặng, Lưu, Sạch, Hà, Lão, mỗi họ có tên đệm riêng cho nam từ ông tổ đến thế hệ thứ 6, sau đó mới lặp lại. 
  Hệ thống tên đệm của dòng họ người Nùng Dín lần lượt thể hiện qua 6 thế hệ là  : Lao, Slử, Sào, Vần,Thìn,Kháng. Một số tên :Nông Đình Hiên, Mông ký Slay,Hoàng Thị Thiệu, Lục Minh Chỉnh, Mông Lợi Chung, Hà Cắm Di...

6-DÂN TỘC SÁN CHAY :

 Có 147000 người, còn gọi là : Hờn Bán, Mán Cao Lan, Trại, Sờn Nhằn (Sơn nhân)...có 2 nhóm : Cao Lan, Sán Chỉ, sống rải rác ở miền núi phía bắc. Cao Lan có nghĩa là :làn sóng cao ngày xưa ở ven biển, gần gũi tiếng Tày Nùng, nhóm Sán Chỉ có nghĩa là Sơn Tử = người ở núi , gần thổ ngữ Hán. Văn nghệ có "Sình ca" nổi tiếng. 
 Các họ : Dương, Đặng, Đàm, Hoàng, Trương, La, Lục, Trần, Nịnh, Lý, Lâm,Mễ, Mông...Người Cao Lan có 36 họ. Tuy nhiên :có họ chỉ có người Sán Chỉ có như : Đằng,. Đồng, Lương, Vi...hoặc chỉ có ở người Cao Lan như :Âu, An, Bàng, Chu, Chung, Lãnh, Lưu, Quách, Tiêu, Tô, Tơ, Tống, Trạc, Vũ, Vương...Họ Hoàng có 10 chi nhánh như : Hoàng Quan Âm, Hoàng Ngọc Hoàng, Hoàng Nam Hoa, Hoàng Táo Quân, Hoàng Nguyên, Hoàng Ngũ giáp, Hoàng Vùng, Hoàng Bách Vùng...Trong đó họ Hoàng Quan Âm thờ Phật Qua Âm, họ Hoàng Ngọc Hoàng thờ Ngọc Hoàng, Hoàng Thập Giáp thờ ma ngoài trời chỉ cúng thịt trâu, bò; trong khi Hoàng Ngũ Giáp chỉ cúng hoa quả.

7-DÂN TỘC TÀY :

Có 1.477.514 người sống chủ yếu ở Việt Bắc.. tên khác "Thổ", Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí. Thời Bắc thuộc gọi là Man Di, Lý, Lạo hay Sinh Lão.Tộc danh "Tày" bắt nguồn từ "cày ruộng" (cái cày = mạc thay, thây) rồi biến âm thành Tày, Thái ( cần Tày, côn Tay). Từ thế kỷ 15 các lưu Quan, binh lính nhà vua Đại Việt lên trấn thủ lưu đồn lâu ngày đã "Kinh già hóa Thổ " (thổ địa), còn Tày bản địa là "cần Tày cốc đin mác nhả" -Người Tày gốc đất hạt cỏ.  
 Các họ chính gốc : Ma, Mông, Cà,, Nông, Hoàng Lý, Chu , Vi, Ngân, Bế.. như Ma Khánh Bằng, Nông Đức Mạnh, Bế văn Phủng, Hoàng Đức Hậu ...các họ ở xuôi (Kinh)  lên như Nguyễn, Trần, Đàm (Đàm Quang Trung), Hà Thiêm Ích, Vũ , Cao, Đinh...Đặc biệt ở xã Kim Hỷ (Na Rì) người Tày họ Nguyễn gốc Kinh chiếm tới 80% số hộ Tày ở đây. 
  Nhóm Người PA DÍ : có trên 2000 dân ở Mường Khương (Lào Cai) có họ tên như Tày, Thái  như  Nhà thơ Pờ Sảo Mìn (Bạch Tiểu Minh).

8- DÂN TỘC THÁI : đã có ở phần trên

*D- Nhóm Văn hóa ngôn ngữ Mông-Dao

1- DÂN TỘC MÔNG ( H'mong ,Mèo)) : đã có ở phần trên

2-DÂN TỘC DAO : 

Có 620.000 người, sống xen kẽ với các dân tộc ở miền núi phía bắc. 
các nhóm : Dao quần trắng,Dao quần chẹt, Dao Tiền, Dao Thanh Y,Dao Đỏ, Mán, Trại, Đông, Dìu miền,Kim miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn,Mán Sơn Đầu. Các nhóm đều thờ ông tổ Bàn Hồ ( Bàn Vương), có chữ Nôm, có nhiều tập tục cúng bái phong phú tốn kém. 
 Phong tục :Việc chọn ngày tháng để làm nhà quy định :họ Bàn  làm vào tháng 1,2,7,9. 
Họ Lý :tháng 1,2,4,12. Họ Đặng : tháng 1,2,4,12, tuổi  gia chủ được làm nhà từ 30-45, kiêng làm vào các năm "hạn", cần thì phải lấy tuổi cha mẹ thay con để làm. Việc chọn hướng nhà cũng theo dòng họ : nhà hướng đông là các họ Bàn, Triệu, Chu, Lưu; hướng nam là các họ Lý, Đặng , Lê ,Đàm; hướng bắc dành cho họ Trương. Hướng bàn thờ tổ tiên theo dọc ngôi nhà. 
    Ngoài các họ trên còn có họ Bạch,Bao, Đối, Đường, Lan, Mãn, Phùng, Phương, Trần... Có các tên như Triệu Khánh Phương,Lý Lòi Sáng, Lya Mẩy Muội, 
Bàn Văn Mình, Triệu Thị Nhậy (nhì = 2). Họ Bàn (âm Hán Việt) tương đương với Phàn (âm Dao).

3- DÂN TỘC PÀ THẺN :

 Tự gọi là Pạ Hưng, có 5.569 người, cư trú ở Hà Giang, Tuyên Quang. còn gọi là Mèo Lai, Mèo Hoa,Mèo Đỏ...bên Trung Quốc gọi là Hoa Lan Dao (Hung Dao, Thầu Dào) là 1 trong 4 ngành Dao. Thư tịch xưa gọi là "Bát tiên tộc". Một số tác giả Pháp gọi là " Mán Paseng" mới sang Việt Nam khoảng 300 năm cùng các nhón Dao chủ yếu làm nương rẫy ở trên núi cao, có tục "nhảy Lửa" vào dịp tết nguyên đán. 
 Có 8 họ : Phù, Sìn, Làn, Hùng, Tẩn, Tải, Lìu, Ván. ngoài ra có họ Bàn, Triệu, Chẩu, Giàng; có 2 cách gọi : họ Phù (âm Hán), tiếng Pà Thẻn là Ca Bô, Sìn = Ca Sơ .Lìu= Ca Đe, Làn =CaLaMe. 
  Họ Phù ở Bắc Quang có 3 chi là Phù to (Ca bô cộ),Phù Đê (Cabô ca đe). họ Phù gio bếp (Caboo ca xi). Họ Sìn có 3 chi : Ca sơ qua, Ca sơ pi, Ca sơ công hay Pế ca công. 
 Cách đặt tên  theo quy tắc : họ theo cha với trình tự nhất định. Con trai đệm "Láo", con gái đệm "Thì" - ví dụ: 
  Nam : Sìn Láo Tả,Sìn Láo Lở, ...Si, Ủ,Pù, Chớ 
  Nữ :    Sìn Thì Tả, Sìn Thì Lở...................... 
Anh chi em họ ai hơn tuổi  thì là bậc trên.
*Đ- Nhóm Văn hóa ngôn ngữ Ka Đai

1- DÂN TỘC PU PÉO :

Có 705 người ở Hà Giang, còn gọi là : Ka Beo, Penti lô lô. Tiếng  nói gần với Cờ Lao,La Chí , La Ha, sống bằng nương rẫy. Là tộc người còn sử dụng "Trống đồng" (có trống đực, cái). Dòng họ : Chồ,Củng, Chúng, Giàng, Lèng, Lù, Phủ,Thào, ráng, Vàng...    

2-DÂN TỘC LA CHÍ :

có 10.765 người ở Hà Giang, Lào Cai. có tên là Cù Tê, La Quả. giỏi làm ruộng bậc thang, trồng lúa nước. Có các họ : Ly, Lùng, Tận, Vương...

3- DÂN TỘC LA HA :

Có 5686 người ở Sơn La, Lào Cai, làm nương rẫy, có trồng Bông , nhưng không dệt vải ,nên đổi cho người Thái lấy quần áo, ăn  mặc như người Thái. tục ở Rể 4 năm, vợ theo họ chồng.Tín ngưỡng : cho rằng mỗi người có 8 hồn, có bàn thờ ma,nhưng chỉ thờ một ông  bố. Vào mùa hoa Ban nở ( Pan pún) nhà nhà đều làm lễ tạ ơn cha mẹ. 
 Họ và tên : như người Thái, ví dụ Lò Thị Nu (chuột).

4- DÂN TỘC CỜ LAO :

Có 1865 người , còn gọi là Ke Lao sống ở Hà Giang. Canh tác :trồng Ngô trong hốc đá,làm nương ruộng... Phụ nữ mặc áo 5 thân cài nách. Con theo họ cha. 
Mộ phần được xếp các vòng đá rồi lấp kín. thờ cúng tổ tiên. Dòng họ : Cáo , Chảo, Chéng, Hồ, Lý, Min, Sáng, Sênh, Sú, Vân...
*E- Nhóm Văn hóa hóa Hán

1- DÂN TỘC HOA (Hán) :

có 862.371 người ,ở nhiều nơi trong cả nước, trình độ phát triển xã hội cao. Phụ hệ :chỉ con trai mới được thừa kế. Hôn nhân "môn đăng hộ đối- cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" (xưa ) ? Tín ngưỡng :Khổng, Phật , Lão. Có bản sắc dân tộc  , tính cộng đồng rất cao. Họ bên Trung Quốc có 10.000 họ, trong đó phổ cập khoảng từ 45-100 họ, riêng họ Zhang (Trương) có tới 100 triệu người (48% dân số TQ). 
 Ở VN người Hoa có khoảng trên 100 họ. 
 Nguồn gốc các họ : 
-Nguyễn : thời nhà Thương có nước Nguyễn, con cháu lấy tên nước làm họ. 
 Nước Ngụy có nhà thơ Nguyễn Tịch. 
-Họ Lê : cháu nội vua Chuyên Húc được phong ở Lê Dương, tức nước Lê, con cháu lấy tên nước là họ. 
-Họ Trần : đất Trần ở Quận Dĩnh Xuyên, con cháu dòng dõi Ngu Thuấn, lấy tên nước làm họấ 
-Họ Phạm : có ấp Phạm ở Quận Quỳnh Dương, người ở đấy lấy tên ấp làm họ. 
-họ Vũ : con út vua Bình Vương là Hữu Văn ,thích xăm trên cánh tay chữ "Vũ", Vua bèn ban cho họ Vũ. 
-Họ Ngô : đất Ngô ở Quận Diên Lăng, Chu Vũ Vương phong cho cháu 4 đời của Trọng Ung ở đất Ngô, con cháu lấy tên đất làm họ. 
-Họ Lý  (cây Mận) : con cháu Cao Dao làm chức Quan Lý ở Lũng Tây, lấy chức quan làm họ, sau có Lão Tử (Lý Đam) tổ của Đạo Lão. 
- Họ Khúc : đời Chu có chức quan Khúc Thị ở Quận Nhữ Nam, con cháu lấy tên chức quan làm họ. 
-Họ Trịnh : con cháu vua Chu Lệ Vương được phong ở đất Trịnh - Quận Huỳnh Dương, lấy tên nước làm họ. 
-Họ Hồ: nguyên họ Quy ở Quận Yên Định, một người con thứ của Trần Công Mãn lấy tên thụy (đặt khi chết) là họ. 
-Họ Mạc : hậu duệ của Cao Dương Thị được phong ở đất Mạc, lấy tên đất làm họ. 
-Họ Đinh : nguyên họ Khương, dòng dõi Đinh Công (tước vị) con của Tề Thái  Công, lấy tên thụy làm họ. 
-Họ Đặng : Vua nhà Ân phong cho Chúc Man Quý ở đất Đặng, con cháu lấy họ Đặng. 
-Họ Phùng : con cháu Văn Vương hưởng Thái ấp ở đất Phùng- Quận Thủy Bình, sau lấy tên ấp làm họ. 
-Họ Tưởng : con Chu Công được phong ở đất Tưởng - Quân Lạc An, lấy tên đất làm họ. 
  Tên người Hoa thường mẫu mực cho cách đặt tên truyền thống ở Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên...Về giới tính tuy không : "Văn"/nam, Nữ / "thị"  như ta, nhưng cách đặt tên cũng dễ phân biệt nam/ nữ : 
 Nam : Chu Nguyên Chương, Hứa Trụ, Nghị Đoàn, An Văn Phát... 
 Nữ : Mã Tú Anh, Lư Mỹ Niệm, Phan Bích Vân, Lương Ngọc Thuyên... 
 Cách đặt tên của người Hoa theo công thức nhất định : 
-Tên đơn (1 chữ) : Lưu Bị, Trần Nghị 
-Tên đôi (2 chữ): Văn Thiên Tường, Lý Tự Thành 
-Họ kép, tên đơn : Gia Cát Lượng, Tư Mã Ý 
-Tên 3 chữ Lô Tiểu Lập Kính, Chu Nhị Muội Ly 
-Họ chồng+họ vợ :hoặc họ cha+ họ mẹ : Trần Trương Cúc Như, Vương Cáp Thục Thu.    

2-DÂN TỘC SÁN DÌU :

Có 126.273 người rải rác ở các tỉnh miền núi, trung du phía bắc còn gọi là Sán Déo, Mán Quần Cộc. làm ruộng...là người sáng tác ra cái "xe quệt" do trâu kéo thay cho gồng gánh. Trang phục như người Kinh, có chữ Nôm. 
  Con trai mang tên đện "Á" (Tràn Á Thanh), con gái mang đệm "A" ( Trần A Lan). Quan hệ dòng họ coi trọng như người Hoa. Các họ tiêu biểu : Hoàng, Trần, Ân ,Vi, Tô, Trương, Dương, Đỗ ,Đặng, Diệp, Hà, Lưu, Leo, Phạm, Viên, Thăng, Dư, Đào, Đằng... 
Hệ thống tên đêm được đặt tới 9 đời : Kính, Phượng, Thắng, Vinh,Nguyên, Thế, Văn, Trung, rồi mới lăp lại.

3-DÂN TỘC NGÁI :

Có 4841 người, sống ở Quảng Ninh, Bắc giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tp HCM, Thái Nguyên. Còn gọi là Ngái Hắc Cá, Lẩu Mẩn, Hẹ,Lê, Đàn. Sơn Ngái = miền núi. 
 Trồng lúa nước, đánh cá, giỏi làm Thủy lợi, làm Lò gạch, dệt chiếu... 
 Gia đình phụ hệ. Cưới qua 2 lần lễ thành hôn và lễ nhập phòng. 
Tín ngưỡng : cúng tổ tiên, theo đạo Khổng, Phật, Lão. 
Văn nghệ có hát giao duyên suốt 5-7 ngày mà không trùng lặp , múa Sư  Tử 
 Họ & tên giống người Hoa.
*F-Nhóm Văn hóa ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo

1- DÂN TỘC CHĂM ( Chiêm Thành) : đã có ở phần trên

2- DÂN TỘC CHU RU :

Có 14.978 người sống chủ yếu ở Đơn Dương ( Lâm Đồng) và có khoảng 2000 người ở Ninh Sơn (Ninh Thuận), Đức Linh (Bình Thuận). Chu Ru còn gọi là Cru = "xâm đất" (di cư từ nơi khác đến, còn gọ là :Cado, Kơ lu, Pnông Chăm, tộc người này gần với người Chăm (có thể  là người Chăm ở Nam Trung Bộ lên), giỏi làm ruộng, đồ gốm, thủy lợi. 
 Làng gọi "plây", theo mẫu hệ. Tín ngưỡng :thờ cúng thần linh, ở nhà không có bàn thờ, 1 năm chỉ lập 1 lần ở ngoài Nghĩa địa ( Kôt a tâu). 
Đời sống văn nghệ phong phú như dạng Sử thi Đam San, Xinh Nhã... 
 Họ & tên : B'nahria, Crugiang,Dnơngsang, Đơ Lơng,Ya, K'Bao, Ma, M'Hơi. 
Ví dụ : Manuôi Ta In (nữ).

3-DÂN TỘC Ê ĐÊ (Rhadé) : đã có ở trên

4-DÂN TỘC GIA RAI :

Có 317.557 người, chủ yếu ở Tây Nguyên,Phú Yên , Khánh Hòa. 
Gia Rai có nghĩa là "thác nước". Có 10 họ : đặt theo sự tích bà tổ Rchom (nếu đẻ ở gốc cây um tùm), Nay (gốc cổ , thụ), Rơ Ô, Siu (đẻ ở gốc cây Rsiu), Rmah (đẻ ở gốc Mãng Cầu), vợ chồng làm tình ở Rẫy đẻ ra con  nên có họ là Ksor, Rahlan, Hieo (dưới bóng cây Hieo) Kpă (dưới bóng cây Kbla). 
 ví dụ : Ksơr  Tên Kreng, Ksơr Sahôm Ta (một mắt).

5-DÂN TỘC RAGLAI  (Raglei, Rai, Noang,  Laoang) :

 Có 96.931 người ở Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh -Bình Thuận. Ngôn ngữ, sinh hoạt giống người Chăm , theo mẫu hệ. Dòng họ :  Pa Tâu (đá mài), Pi Năng (cau), Ka to (Bobo), Pupo (tro bếp), Kazá (dựa vào nhau), Camau, Copuro', Chama le'  (dây máu) Chip, Dó, Hà dài, Ja rao, Lao, Man, Bẩu, Pateh, Phul 
 Ví dụ : Chamale' Điêu, Pi Năng Tắc (nam) 
             Catơ Thị Cuống, Chamale' Thị Đăm. 
Tên thường gắn với con vật : Tikuh (con chuột), Anu (con dúi).

*G-Nhóm Văn hóa Tạng Miên , hệ Hán Tạng (Tạng= Tây Tạng, Miến Điện= Myanma)

1- DÂN TỘC CỐNG :

 Có 1.600 người từ Lào, Trung Quốc sang ở Lai Châu. còn gọi là Xắm khổng, Mâng Nhé, Xá Xeng. Do ở cạnh người Thái nên dùng tiếng Thái để giao tiếp, làm ruộng- nương. trồng Bông để đổi lấy quần áo của người Thái, Lào. 
 Các họ tiêu biểu : Chang, Chảo, Hù, Lý, Lò, Lung, Séng. Tên :Lý Hoài Sáo, Lò Văn Saư 
(nam), Chang Thị Lin (nữ).

2-DÂN TỘC HÀ NHÌ  (U Ní) :

Có 17.535 người ở Lai Châu, Lào Cai , làm ruộng, tự túc được mặc. Gia đình phụ quyền .Ăn : thích món cháo. làng bản đông vui, thờ cúng tổ tiên. Văn nghệ phong phú. 
Đặt tên theo 12 con giáp. ví dụ :Cà Bơ là cô Bơ sinh ngày con Lợn, Ha Dé là cậu bé sinh ngày con Gà .  Nam : Pờ A Vù, Chang Bố Hừ, Lỳ Ly phà 
                      Nữ : Pờ Gò Sừ, Lỳ Thị Chom, Hù Mí Dẹ

3- DÂN TỘC LA HỦ :

 Có 6.874 người, cư trú ở huyện Nậm Tè ( Lai Châu) hẻo lánh đi lại khó khăn. 
Gốc gác là người Địch- Khương xưa ở Cam Túc, Tứ Xuyên -TQ, bên Trung Quốc gọi là "Côn Minh tộc", hoặc Miên , Miến (do sử dụng bông cây Gạo-mộc miên ), ở VN gọi là Xá Pươi (Xá ở trần), Xá toong Lương ( Xá lá vàng),Khù Sung,, Cò Sung ( tiếng Thái = ở núi cao). 
La= con Hổ, Hủ = cách nướng thịt ngon nhất. Sống bằng nương rẫy, hái lượm, giỏi đan lát...gia đình phụ hệ, nhà ở : tường trình hoặc nhà sàn. Phụ nữ có chửa kiêng ăn thịt Hổ. 
Người La Hủ ở bên Trung Quốc có 30 vạn (1982), Thái Lan có 35.000 người, còn ở Lào, Miến Điện.  Họ Ly, Vàng, Pờ, Giàng, Phùng, Ma, Sừng...song song còn có hệ thống tông tộc được gọi bằng tiếng La Hủ, thường gắn với 1 loài thú : . 
   Họ La Lò = Hổ, họ Pha Lạ Thó Lò= họ Sóc, Vàng Là Pa Thờ Ngác Lò (chim gõ kiến), Ly Giò Lò =họ Giàng, Ha ná Lò=họ Phù, 
 Trong số 14 họ thì 6 họ có tên riêng là : Thàng, Lò, Giàng, Chang, Hoàng, Ky. Còn 8 họ được mang 4 tên họ giống nhau mà chỉ khác tên đệm như : Pờ La Hủ và Pờ A Lé, Ly La Lok-Ly Pá Lạ Thộ và Ly Lỵ Cơ. Vàng Min Du và Vàng Pà Thô, Phản Xạ và Phản Thu.

4- DÂN TỘC LÔ LÔ :

 Có 3.307 người ở Hà Giang, Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai. có các tên gọi : Lu Lộc Màn, Lu Lu, Qua La, Ô man, Di nhân, Di gia, Lạc Tô. Đồng bào tự gọi mình là "Mà Trgix" hay Mu Trgif rất khó phát âm, gọi đơn giản là "Màn Di" hay Mùn Di. Là 1 trong các tộc người lập ra Nước Nam Chiếu ở Vân Nam ,từng sang xâm chiếm Giao Chỉ ( thời Nhà Đường).Kinh tế nông nghiệp khá phát triển, Gia đình phụ hệ., thờ cúng tổ tiên, học hành giỏi giang (tuy dân số ít nhưng đã có những Cử Nhân, Tiến sĩ người Lô Lô) 
 Dòng họ : Bàn, Cáng, Cổ,Chi, Chông, Dao, Dìu, Doãn, Duyền, Hoàng, Hồ, Lang, Làng, Lặc, Lý, Liềng, Lò, Lồ, Lù, Màn, Mèo, Nùng, Pâu, Phái, Sình, Thàng, Thào, Thổ, Vàng, Văn...  Ví dụ : Lò Giàng Páo, Lầu Súng Páo, Lò Si Pao, Mùng Dỉ Đổi, Thàng Dúng Kỉnh, Vàng Dĩ Sinh, Chấn Vần Quang, Thàng Thị Kèn...

5-DÂN TỘC PHÙ LÁ :

Có 9.046 người ở Lai Châu, Sơn La, Lào cai, Hà Giang. Có các hóm : Phù Lá Lão (Xá Phó), Phù Lá Hán, Pố Khô Pà, Phù Lá Đen. Sống nghề nông, trồng bông dệt vải. 
 Làng gọi là "hờ" (Xá Phó), "Chải" (Phù Lá Hán- tiếng Quan Hỏa).Chế độ phụ quyền. Vị trí người vợ được coi trọng, mọi người trong gia đình khá bình đẳng. 
Tín ngưỡng :thờ cúng tổ tiên, theo âm lịch như người Hán, nhưng năm mới bắt đầu từ tháng 10 hay 11 (1 năm 12 tháng theo 12 con giáp, cứ 2 năm có 1 năm nhuận). 
Tiếng nói gần với tiếng Hà Nhì, Lô Lô, La Hủ, Cống và Si La. 
Dòng họ : tiêu biểu là A Si, Nhơ Hê... Ví dụ : Lý Ba Dửn, Đặng Văn Lả, Nìu A Xướng, Nìu Văn Xiêm...

6- DÂN TỘC SI LA :

 Có 802 người ở Mường Tè- Lai Châu...có nguồn gốc với các bộ lạc ở Côn Minh (Vân Nam) Sang Việt Nam từ 200 năm trước từ phía Lào.  Tên tự gọi là" Cú Dề Xừ", các dân tộc khác gọi là "Khả Pé". Canh tác nương rẫy. Gia đình phụ quyền, có tục cưới 2 lần, cách nhau 1 năm. ở nhà đất. Phụ nữ đẻ "ngồi" (Thái). 
Tang ma : quan tài là 1 cây gỗ độc mộc, làm nhà mồ rồi mới đào huyệt. 
Dòng họ : có 5 họ là Hù, Pờ, Lì, Li, Giàng, trong đó họ Hù và Pờ chiếm số đông, mỗi họ gắn với 1 truyền thuyết : Hù gắn với Hổ cứu người; họ Pờ là thanh gươm bảo vệ làng bản. 
Phân biệt trai gái bằng tên đệm: con trai đệm "chà", con gái đệm "Có" (cô); 
Ví dụ : Hù Chà Cây, ...Chà Xóa,...Chà Thái (nam); Nữ như ...Có Ché, Có Dớ...

H* Dân tộc Kinh (Việt) :

Có trên 70 triệu người , chiếm 86 % dân số cả nước, người  Tày -Thái goi người Kinh là "Cần Keo, côn Keo" ( Keo= Giao...). Người Giao Chỉ khác người Hán ở chỗ tầm vóc thấp nhỏ hơn, lăn lẳn thân mình (gắm) chứ không to béo. 
  Họ Và tên : theo Sử sách thì người Kinh đã có Họ và Tên từ Thế kỷ thứ 2 trước Tây lịch. 
Đó là các nhân vật lịch sử như An Dương Vương- Thục Phán, Cao Lỗ, Đào Nồi, Lý Thân (Lý Ông Trọng) ...trong 1 thời gian dài, họ tên người Kinh chỉ  có 2 tiếng, sau thêm "thị" để phân biệt giới tính như Lê Thị Đoan (mẹ của 2 Bà Trưng), Triệu Quốc Đạt (anh trại Bà Triệu). Người Kinh thướng có tên "Nôm" (Cu Tèo, cái Hĩm) lúc nhỏ gọi thông thường, 
 và tên "Chữ" khi làm giấy tờ, đi học. Điều thú vị là : có những trường hợp người Kinh đặt tên không theo "tiêu chí" nào ? với các cái tên vô nghiã (không có trong Tự Điển) như 
Đặng Thị Tèo, Trần Văn Đuống, Trạch Văn Đoành , Nguyễn Thế Cởng... 
Ngoài tên do cha mẹ đặt (giấy khai sinh), còn có họ tên do Vua ban cho như : Nguyễn Trãi= Lê Trãi ( Quốc tính),  Lê Danh Phương = Lê Quí Đôn... 
Tên do chính mình tự đặt : Hồ Chí Minh (Nguyễn Sinh Cung), Lê Duẩn (Lê Văn Nhuận), Trường Chinh (Đặng Xuân Khu)... 
  Họ  và tên người Kinh ngày càng có nhiều "từ" : trước 1945, trong số 448 nhân vật lịch sử chỉ có 1 người có họ tên 4 chữ là Lương Thị Minh Nguyệt ( tức Kiến Quốc Phu Nhân thời Vua Lê Thái Tổ). Việc đặt tên thường tránh tên "húy" (tên cúng cơm ông bà cha mẹ, tên kỵ húy do Triều Đình quy định.) 
  Người Kinh có trên 300 họ, trong đó : họ Nguyễn chiếm 38 % dân số cả nước; họ Lê 9,5 %; họ Trần 11%, họ Phạm 5 %, họ Vũ/ Võ 3,9 %, họ Ngô 1,3 % rồi đến các họ Lý, Khúc, Trịnh, họ Hồ 1,3 %,họ Đinh, họ Đặng 1 %, họ Phùng, họ Tưởng... 
Họ Mạc : Xuất sắc có Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Thái tổ Mạc Đăng Dung...sau do biến loạn phải đổi ra các họ là : Bế, Hà, Nguyễn, Vũ, Lê, Hoàng, Thạch, Thái, Mai, Cát, Chử,Đặng , Đoàn, Đỗ, Phạm , Phan, Bùi, Dương, Lều, Hoa, Ma, Đào, Khương , Tô... 
  CÁCH ĐẶT TÊN  rất đa dạng : 
- Giới trí thức thường đặt tên theo "chữ Hán" (bộ thủ), theo các tích trong sách  sử... 
-Bình dân :theo tên nôm na bằng các "từ" thuần Việt, sau lớn lên lại đổi như : Hồ THơm = Nguyễn Huệ, Phạm Thị Gáo = Phạm Thị Loan (gáo với Lon)... 
-Cách đặt tên theo âm vần : Biên (cha),- Bình, Bồng, Bưởi, Bắc (con); Mít (mẹ)- Xơ, Múi ,Hột (con)...Tên cha/ con đồng âm : Đỗ Đại Đồng/ Đỗ Đại Định 
Nói Lái tên cha mẹ thành tên con như Tiến (cha)/ Giang(mẹ) = Giáng Tiên (con).Ghép tên cha mẹ thành tên con : Lê Hồng Phong (cha)/nguyễn Thị Minh Khai (mẹ)= Lê Hồng Minh (con). Tên ghép theo sự liên tưởng : Hội (cha)/ Nghị (con). 
Đặt theo nghề : Sĩ, Nông, Công, Thương...Đặt theo dụng cụ :Chàng, Đục, Cưa, Bào...Đặt theo tên các nước : Nga, Mỹ, Nhật, Pháp...theo địa danh lịch sử :Việt Băc, Điện Biên, Sông Lô.. theo thời  cuộc : Trường, kỳ, Kháng , Chiến... 
 Theo can chi :Tí, Sửu...theo mùa : Xuân , Hè...theo tưởng vọng các triều đại : Đường, Tống, Minh, Thanh...Theo ước vọng :Phúc, Đức,Vinh, Hoa... 
Theo danh nhân, nghệ sĩ : Quang Trung,Tố Uyên...theo thứ tự : Một, Hai, Ba, Bốn... 
Theo cây cối : Lý, Đào , mộc, Lan , Huệ...theo con vật : Long, Lân ,Quy, Phượng 
 Đặt theo lấy tên "người tình" xưa để tưởng nhớ; theo tên "kẻ thù" để chửi cho bõ tức... 
Đăt kèm tên Tây cho "sang" như : Vũ Thị Nô En, Nguyễn Lê Na, Phạm Bá Rose... 
Hỗn danh : Năm Sài Gòn, Tài Chó, Chí Phèo... 
 Các tên hiệu của Nho sĩ : Nguyễn Du, tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; Phan Bội Châu/ Sào Nam. Nguyễn Trãi /Ức Trai...  Bút danh : Tô Hoài / Nguyễn Sen, Tố Hữu /Nguyễn Kim Thành... Xước danh : Phù Thăng/ thằng Phu (Lục Văn Phu). 
Pháp danh : Thích Trí Quang .Đạo hiệu : Vạn Hạnh Thiền Sư... 
Tên thánh : Phê rô Phạm Văn Tĩnh...Biệt danh : Thắng cụt, Bảy Sẹo... 
Tên theo chức vị : Hồ Chủ Tich, Ngô Tổng Thống...

Tổng luận về cách dùng họ và đặt tên

Nước Việt Nam ta có 54 dân tộc (Tộc người), xưa chia làm nhiều Bộ lạc sống gần gũi với thiên nhiên nên tên các con vật  , thực vật thường dùng để đặt Họ và Tên để phân biệt dòng giống... sau giao lưu với người Hán, người Viêt ta đã tiếp thu thêm một số Họ nữa. 
Một số dân tộc thiểu số không có Họ thì do giao lưu với người Kinh hoặc do Nhà Vua ban cho các Họ...Họ và tên là để phân biệt Người này với người khác, cùng với chúc năng thẩm mỹ (hay về ý, đẹp về âm). 
  Xưa kia con người không có tên, chính nhờ đặt tên (mệnh danh) thì loài người mới có sự khai mở trời đất, làm cho vạn vật thoát khỏi sự hỗn mang ban đầu. Họ và tên trở thành một bộ phận quan trọng ( như số kiếp) trong cuộc đời mỗi con người, gắn bó máu thịt của chúng ta (con vật chết để lại bộ xương,con người chết đi còn để lại : lưu danh muôn thưở (tiếng thơm) hay lưu xú (tiếng xấu) nghìn thu là thế ? 
 Khi đã có tên là con người đã được Xã Hội Hóa (công nhận) đặt cho một dấu ấn và chỉ định cho một thân phận (như một số phận của định mệnh, mà số phận của mỗi người là do chính người đó, qua sự điều khiển vô thức mà hình thành nên ( đức năng thắng số/ mưu sự tại nhân-thành sự tại thiên ?) 
  Do những bối cảnh lich sử văn hóa,xã hội khác nhau của các dân tộc khác  nhau nên KẾT CẤU HỌ VÀ TÊN (toàn bộ các bộ phận cấu thành Họ Tên và các mối quan hệ giữa các bộ phận đó) cũng khác nhau : 
    Nói chung có 3 loại kết cấu Họ Tên khác nhau : 
-Các dân tộc có Họ đặt trước Tên như Trung Quóc,Việt Nam, Triều Tiên... 
-Các dân tộc có tên đặt trước như Anh, Mỹ Pháp, Italia, Nga, Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha. Ba Lan, Đức...ở Việt Nam có tộc người Ê ĐÊ... 
- Những dân tộc chỉ có Tên mà không có Họ như người Tây Tạng, tộc ở Myanma (Miến Điện).ở VN có dân tôc Xơ Đăng, Ơ Đu... 
 Ở Việt Nam hiện nay có trên 1020 họ... 
MÔ HÌNH ĐẶT TÊN : 
Việt : Họ - tên đệm- tên chính ( Nguyễn Văn Linh ) 
Anh , Mỹ : tên đầu-tên giữa-họ ( Stuart  E. Eizenstat) 
Nga : Tên - tên cha- họ ( Alexander Obrenovic Puskin) 
Ba Lan : Tên- tên thứ nhì-họ (Sylwia Katarzyna Kucharska) 
Người Ê ĐÊ ; Nam-tên-họ-chi họ ( Y Ly Niê Kđăm)

Viết tại Góc thành nam Hà Nội, xuân 2006 
Nguyễn Khôi

NGUYỄN KHÔI

Sinh: 26/12/1938 tại Thị xã Yên Bái

Quê quán: xóm(phố) Đình, xã (phường) Đình Bàng, Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Nguyên Phó vụ trưởng Vụ Dân Tộc (chuyên viên cao cấp) - Văn Phòng Quốc Hội nước Việt Nam; 

Ủy viên BCH Hội VHNT các Dân tôc thiểu số Việt Nam (khóa 2), Hội viên Hội Dân Tộc Học Việt Nam, Hội viên Hội nhà văn Hà Nội, Ủy viên BCH Hội văn nghệ dân gian Hà Nội.

 

Tê Hát sưu tập,
Ảnh minh họa

Related image

   
Xem thêm...
Theo dõi RSS này