Văn học

Văn học (88)

CHIẾC NÓN LÁ VÀ CHIẾC ÁO BÀ BA

( Kim Chi Sưu Tầm )


                       CHIẾC NÓN LÁ 


 
“Nón nầy che nắng che mưa
Nón nầy để đội cho vừa đôi ta”

Nón lá không xa lạ với chúng ta, ngày nay ở hải ngoại chỉ thấy nón lá xuất hiện trên sân khấu, trình diễn nghệ thuật múa nón và áo dài duyên dáng mền mại kín đáo của thiếu nữ Việt Nam nổi bật bản sắc văn hoá dân tộc, áo dài và nón lá là nét đặc thù của phụ nữ Việt Nam, chắc chắn không ai chối cãi. Nếu mặc áo đầm, hay quần tây mà đội nón không tạo được nét đẹp riêng.


Nón dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử:

- Nón dấu: Nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa
- Nón gò găng hay nón ngựa: Sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa.
- Nón rơm: Nón làm bằng cộng rơm ép cứng.
- Nón quai thao: người miền Bắc thường dùng trong lễ hội.
- Nón cời: Nón rách
- Nón gõ: Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa.
- Nón lá sen: Cũng gọi là nón liên diệp.
- Nón thúng: Thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng.
- Nón khua: Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa.
- Nón chảo: Thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng.
- Nón cạp: Nón xuân lôi đại dành cho người có tang.
- Nón bài thơ: Ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ v.v…


Người Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều dùng nón lá, nhưng ít người để ý nón lá có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu cm? Nón lá tuy giản dị rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón cần phải khéo tay. Nghề chằm nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón.


Với cây mác sắc, người làm nón chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì chằm nức vành. Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng.



Khi xây và lợp lá, người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Nghề làm nón lá thường sản xuất từ miền Bắc và miền Trung trong các làng quê sau các vụ mùa, ở các tỉnh miền Nam không thấy người ta chằm nón?


Vật liệu làm nón tuy đơn sơ nhưng khó tìm loại lá làm nón, lá mọc ở những vùng núi, sau nầy người ta đem giống về trồng ở vườn, có tên Du Quy Diệp là lá làm tơi thời gian văn minh chưa phát triển, người ta dùng loại lá nầy làm cái tơi để mùa đông chống mưa gió. Một loại khác là Bồ Quy Diệp là loại mỏng và mền hơn để làm nón lá.


Ngày nay dù đã phát triển nhưng trên những cánh đồng lúa xanh tươi ngoài Bắc, trong những trưa hè nắng gắt, người ta còn dùng lá tơi để che nắng, giống như con công đang xòe cánh.



Người ta chặt lá nón non còn búp, cành lá nón có hình nan quạt nhiều lá đơn chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê có người chằm nón. Ở Quảng Nam ngày xưa vùng Bà Rén chuyên buôn bán nón lá, từ đó phân phối đến các chợ như chợ Hội An, có khu bán nón lá nhiều loại.


Lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương đêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng, dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải nhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ giấy dài màu trắng, có nổi lên những đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phần ngoài của nón.



Người ta dùng cái khung hình giống như Kim Tự Tháp Ai Cập, có 6 cây sườn chính, khoảng cách giống nhau để gài 16 cái vành nón tròn lớn nhỏ khác nhau lên khung. Cái khung nầy phải do thợ chuyên môn làm kích thước đúng cỡ khi lợp lá và chằm nón xong, tháo nón ra dễ dàng.


Nón thường chỉ 16 vành tròn làm bằng tre cật vót nhỏ đều nhau nối lại, Nón bài thơ nhẹ mỏng chỉ 2 lớp lá trong chen hình cảnh và các câu thơ, nón thường độ bền lâu hơn dày có 3 lớp phần trong lót thêm loại lá đót, (loại cây nầy giống cây sậy, khi trổ bông người ta lấy bông làm chổi) Chằm xong nón tháo khỏi khung, cắt lá thừa nức miệng nón và làm quai, nón rộng đường kính thường 41 cm, người ta phết phiá ngoài lớp mỏng sơn dầu trong suốt nước mưa không thấm qua các lỗ kim vào bên trong. Để có được một chiếc nón, phải trải qua 15 khâu, từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ…


Thời gian chưa có chỉ cước người ta dùng bẹ lá cây thuộc loại thơm (hùm) tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải, chải lấy phần tơ dùng làm chỉ để chằm nón, hay dùng chỉ đoác. Nhưng sau nầy phát triển người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã hơn. Nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt nam:

“Nón em chẳng đáng mấy đồng,
Chàng mà giật lấy ra lòng chàng tham
Nón em nón bạc quai vàng
Thì em mới dám trao chàng cầm tay
Tiếc rằng vì nón quai mây
Nên em chẳng dám trao tay chàng cầm”

Nón quai thao, hay nón thúng các cô gái Bắc thời xưa chưa chồng thường dùng, ngày nay đến Hà Nội không còn thấy ai đội nón quai thao, trên đường phố cổ trầm mặc dưới bóng cây cổ thụ, thiếu nữ Hà Nội che dù màu, đội mũ lát, đội mũ tân thời, nhưng vào thăm Văn Miếu sẽ thấy trình diễn văn hoá, hát quan họ, các cô đều trang sức giống như thời xưa với chiếc nón quai thao.



Thuở xưa, con gái sau khi lập gia đình, bổn phận làm vợ, làm mẹ, họ chỉ chú trọng đến niềm vui tận tụy làm tròn bổn phận trong gia đình, xao lãng những vẻ đẹp bề ngoài.

“Chưa chồng nón thúng, quai thao
Chồng rồi, nón rách, quai nào thì quai…”
Thân phận của những bóng hồng khi về chiều nhan sắc tàn phai:
“Còn duyên nón cụ quai tơ
Hết duyên nón lá quai dừa cũng xong”



Dáng dấp con gái Việt Nam mềm mại, dịu dàng, nếu trên đầu nghiêng nghiêng vành nón trắng. Nụ cười, ánh mắt giấu sau vành nón ấy mới cơ hồ e ấp, rạo rực vì những bâng khuâng…
Mỗi thiếu nữ đều có một cái duyên để làm say đắm người khác phái. Nhưng tựu trung, nhan sắc của các nàng cũng không ngoài những điều đã được ca dao truyền tụng. Có nàng đẹp nhờ mái tóc thề hay cắt ngắn, đôi chân mày cong vòng như vầng trăng non dưới vành nón lá:

“Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón
Chiều mùa thu mây che có nắng đâu
Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh màu
Sẽ làm khô làn môi em dịu ướt
Còn ta mắt anh…
Có sao đâu mà em phải cúi đầu từ khước
Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước
Thì mười ngón tay em sao bỗng quấn quít đan nhau
Nửa vầng má em bỗng thắm sắc hồng đào
Đôi chân bước… anh nghe chừng sai nhịp.”


Ở Huế, có nhiều vùng chằm nón nổi tiếng từ xa xưa cho đến bây giờ như: Phú Hồ, Phước Vĩnh, Dạ Lê, Triều Sơn, Nam Phổ, Kim Long, Dương Nỗ, Tân Mỹ, Hương Sơ, Mỹ Lam, làng Chuồn, bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế làm nón bài thơ dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn người ta còn cắt những bức tranh với chùa Linh Mụ, cầu Trường Tiền, con đò trên sông Hương… và đặc biệt nhất là vài câu thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế:


“Sông Hương lắm chuyến đò ngang
Chờ anh em nhé, đừng sang một mình”



“Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”
Nguyễn Khoa Điềm
“Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
Nón bài thơ e lệ nép trong tay”

Những chiếc nón bài thơ thường trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ. Lựa nón, lựa quai, cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề:

“Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ
Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ
Gió cầu vương áo nàng tôn nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ”

Nón bài thơ hiện hữu trên khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của phụ nữ Huế, dùng nón lá nâng hay đựng xoài, cũng tạo nên nét đẹp mỹ miều.


“Anh về Bình Định ba ngày
Dặn mua chiếc nón lá dày không mua”

Nón bài thơ đặc sản Huế, nón Gò Găng ở Bình Định còn gọi là nón ngựa làm bằng vành tre cật, chuốt nhỏ như tăm, đan thành ba lớp mê sườn; bên ngoài phủ lớp lá kè non, chằm bằng những đường chỉ tàu trắng muốt và đều đặn. Trên đỉnh chóp được gắn chụp bạc hoặc đồi mồi có chạm trổ long-lân-qui-phụng. Quai nón được làm bằng lụa xanh hoặc đỏ, bản rộng và đều người ta chằm một chiếc nón ngựa phải mất cả tháng trời dày công nhọc sức. Vì vậy giá thành rất đắt, nó chỉ dành cho những người cao sang quyền quí, những chức sắc quan lại của triều đình. Dần dần theo nhu cầu của giới bình dân, nón ngựa được cải biên thành ngựa đơn rồi nón buôn, nón chũm, rẻ hơn nhiều. Các loại này đều không có chụp bạc, nó được thay bằng những tua ngũ sắc ở chóp nón cho đẹp. Ở các vùng làm nón, ngày cưới, nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể thì đội nón đi ngựa; còn những nhà nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày cưới. Vậy nên có câu ca dao:

“Cưới nàng đôi nón Gò Găng
Xấp lãnh An Thái, một khăn trầu nguồn”



Ngày nay các cô gái làm nón hầu như không còn giữ được phương pháp làm nón ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh, giản tiện và dễ tiêu thụ của chiếc nón trắng mảnh mai - một sản phẩm của quá trình cải cách lâu dài. Để làm loại nón này phải qua nhiều công đoạn. Vấn sườn, lợp lá, chèn lá, chằm và nức. Việc làm lá đòi hỏi nhiều tính tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm.



Nghề nón là thuộc thị trấn Gò Găng, Nhơn Thành - An Nhơn. Nơi đây có một chợ nón lớn họp thường ngày từ 3-4 giờ sáng. Cứ hết một đợt làm được 25-30 chiếc thì bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán và mua sắm vật liệu cho đợt sau. Mỗi tháng Gò Găng có thể cung cấp cho cả nước 50,000 chiếc nón. Gần đây nón Gò Găng còn được xuất cảng sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp với xứ người. Như vậy, từ vùng núi cao nguyên mưa nguồn gió dữ cho đến các miệt vườn miền Nam:

“Nhớ nón Gò Găng
Vầng trăng đập đá
Sông dài sóng cả
Người quân tử,
Khăn điều vắt vai…”

Đời sống văn minh, phát triển nhưng nón lá Việt Nam vẫn thuần túy nguyên hình của nó. Ở bất cứ nơi đâu, từ rừng sâu hẻo lánh, trên đồng ruộng mênh mông, dọc theo sông dài biển cả, đều thấy chiếc nón lá ngàn đời không đi thay… 

 
 
CHIẾC ÁO BÀ BA
 
 
Thuở ấu thơ chạy nhảy mệt nhoài trên những triền đê, tôi vẫn được mẹ cho mặc áo bà ba màu nâu gụ, quần lụa đen, mẹ bảo "đỡ... phí". Tôi không hiểu "phí" theo ý mẹ là gì, chỉ biết rằng mặc bộ bà ba thì thích lắm, tha hồ nghịch ngợm, lăn lê với đám bạn quê mà không lo áo bẩn về mẹ mắng. Tôi lớn lên ở thành phố, chỉ mỗi độ hè râm ran trong tiếng ve trốn nắng mới có dịp gặp cái Thu, cái Huệ, thằng Tí, thằng Kèo, "bám đuôi" chúng nó đi chăn trâu mỗi buổi chiều phai nắng. Ông tôi mất sớm, nhà chỉ có bà sớm tối quanh ra quanh vào, nhưng trong ký ức của tôi ba gian nhà gỗ chẳng bao giờ quạnh vắng, phải chăng vì đám cái Thu, cái Huệ, thằng Tí, thằng Kèo thường ghé qua chơi, quét sân, tưới cây và hái trái ngọt trong vườn nên nếp nhà neo người được ấm cúng, rộn rã đến vậy?
Bà tôi chẳng mặc áo hoa bao giờ, cả đời bà chỉ quen áo bà ba - quần lụa đen bạc màu sương gió. Mẹ tôi may tặng bà nhiều đồ đẹp, bà đều cất gói cẩn thận trong rương gỗ. Bà bảo tôi: "Phụ nữ chân lấm tay bùn, chẳng gì bằng bà ba". Lúc đó tôi nghĩ bà ba là trang phục dành riêng cho các bà, các mẹ và đám trẻ nhỏ chúng tôi mặc "lao động", không hề đẹp hay đáng quý. Chỉ khi lớn lên rồi, chất đầy trong tủ áo quần muôn kiểu mốt, tôi mới nhớ đến nao lòng cảm xác thoải mái khi xỏ mình trong bộ bà ba sờn đường chỉ nhỏ năm xưa.
Tôi yêu phim và đặc biệt thích các tác phẩm điện ảnh Việt sản xuất những năm 70, 80 thế kỷ trước. Xem phim, được sống với một giai đoạn của lịch sử đất nước đã đành, được ngắm các diễn viên Lê Vân, Thúy An đằm thắm, dịu hiền trong dáng áo bà ba càng hay gấp bội. "Cánh đồng hoang", "Bao giờ cho đến tháng 10" rồi sau này là "Người đẹp Tây Đô", "Đất Phương Nam" cho tôi cái nhìn rộng mở về người phụ nữ Việt tần tảo, một nắng hai sương nhưng vẫn toát lên vẻ dịu hiền, đằm thắm. Họ chẳng viện nhiều son phấn, cũng không diện áo váy thời thượng, chỉ bộ bà ba thôi mà sao đẹp đến thế, thanh lịch đến thế.

Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 1
Áo bà ba nhưng trẻ con cũng mặc...
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 2
 
Diễn viên Lê Vân và vẻ đẹp dịu hiền với áo bà ba trong "Bao giờ cho đến tháng 10".
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 3
 
Hình ảnh đẹp của diễn viên Thúy An trong "Cánh đồng hoang".
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 4
 
Áo bà ba góp phần khắc họa thành công chân dung người phụ nữ Việt đảm đang, tảo tần trong năm tháng chiến tranh.
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 5
 
Áo bà ba tôn lên vẻ đẹp đằm thắm, ấn tượng của diễn viên Thúy An.
 
Tìm hiểu về nguồn cội trang phục giản dị nhưng thân thương quen thuộc này, tôi bất ngờ khi biết có thể áo bà ba xuất phát từ tộc người Bà Ba ở Malaixia. Trong cuốn "Văn minh miệt vườn" (1970) nhà văn Sơn Nam có viết: "Sự liên lạc giữa Cái Mơn và Mã Lai đem cho miệt vườn nhiều loại cây mới: măng cụt, bòn bon, chôm chôm. Poulo Penang, nơi ông Trương Vĩnh Ký du học, là nơi có nhóm người Bà Ba lập rẫy mía. Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa (chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba)"
Ở miệt vườn, ở miệt Hậu Giang thời Pháp thuộc, cái áo dài đàn ông không được thông dụng cho lắm. Kiểu quần áo bà ba là tiện lợi nhứt, đồng thời quần áo bà ba cũng tiêu biểu cho sự trang nghiêm trong giới trung lưu... Áo bà ba gọn gàng, cởi ra mặc vào dễ dàng, giúp con người đi đứng khoan thai, ít câu thúc"
Có lẽ trải qua quá trình "chọn lọc" cho hợp với văn hóa, xã hội và đặc tính dân tộc nên áo bà ba hiện giờ của Việt Nam mang những nét độc đáo riêng chăng?
Áo bà ba xuất hiện trong thơ ca nhiều, trong âm nhạc cũng chẳng ít, nổi tiếng nhất có lẽ là nhạc phẩm "Chiếc áo bà ba" của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Lời thơ giản dị, giai điệu nhẹ nhàng êm ái "Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm, thấp thoáng con thuyền bé nhỏ mong manh..." nhưng để lại trong tâm hồn người nghe những xúc cảm day dứt, lưu luyến khôn nguôi.
Áo bà ba truyền thống toát lên vẻ giản dị, mộc mạc, vẻ đẹp tự nhiên trong trẻo cho mặc. Ngày nay với nhiều cách tân trong dáng áo và họa tiết, áo bà ba tôn nét yêu kiều mộng mơ nơi phái đẹp. Thay vì chất liệu vải lon, satin trắng hay gấm cổ điển, áo bà ba hiện đại còn được tạo nên từ lụa và voan hoa. Không nức tiếng năm châu như áo dài, nhưng áo bà ba cũng là một phần "hồn" làm nên diện mạo đằm thắm, dịu hiền đáng quý của người phụ nữ Việt từ bao đời nay.
Ghé thăm chợ nổi vùng sông nước miền Tây, có thể dễ dàng bắt gặp bóng dáng chị Hai, cô Ba nền nã áo bà ba gấm trắng đon đả mời mọc hoa quả, bánh trái chất đầy ghe. Hay một ngày nhạt nắng về thăm miền quê luá Thái Bình, sẽ thấy thấp thoáng nơi cánh đồng xa tấm lưng khom tảo tần trong áo bà ba vun cho cây lúa trĩu bông. Ngắm đấy, để rồi lại nhớ nhớ thương thương về một mảnh hồn của trang phục dân tộc...

Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 6
 
Vẻ đẹp phụ nữ miền sông nước Nam bộ.
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 7
 
Trong cuộc sống hiện đại, áo bà ba - quần lụa đen trở thành phục trang đóng phim, diễn văn nghệ được sử dụng nhiều.
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 8
 
 Áo bà ba xuất hiện cả trong các cuộc thi nhan sắc.
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 9
 
Áo bà ba trên cánh đồng lúa trĩu bông.
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 10
 
Sắc áo đỏ thắm tôn lên vẻ yêu kiều cho người đẹp.
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 11
 
Áo bà ba chất liệu satin mang đến vẻ trang nhã, thanh lịch được nhiều chị em chọn lựa.
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 12
 
Dáng áo bà ba hiện đại được có vạt áo dài hơn trước kia, điểm xuyết hoa văn điệu đà rực rỡ.
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 14
 
Người đẹp với áo bà ba bên hoa sen thanh tao, trong trẻo.
 
Áo bà ba có nguồn gốc từ... Mã Lai? - 15
 
Áo bà ba hồng cho sắc hương thêm thần đằm thắm, ngọt ngào.
 
 
 
 
 
Xem thêm...

Nhàm chán Lỗi của chính chúng ta

Nhàm chán
Lỗi của chính chúng ta

Bieke Vandekerckhove

Năm 2011, quyển sách của tác giả trẻ Bieke Vandekerckhove, đã giành giải Sách Thiêng liêng của Năm ở Bỉ. Với tựa đề, Vị của Thinh lặng [Taste of Silence], quyển sách ghi lại cuộc đấu tranh của cô sau khi bị chẩn đoán mắc bệnh ALS, hay thường gọi là bệnh Lou Gehrig, tình trạng suy thoái thần kinh luôn dẫn đến kết cục là suy nhược cơ thể trầm trọng và sẽ chết không lâu sau đó. Thật là một chẩn đoán không dễ chấp nhận với một phụ nữ trẻ đầy sinh lực.
Nhưng không lâu sau khi trầm cảm nội tâm sâu sắc, cô tìm thấy ý nghĩa cuộc đời thông qua suy niệm, thinh lặng, văn học, nghệ thuật, thi ca, và không kém phần quan trọng, là một mối quan hệ cuối cùng đã kết trái thành hôn nhân. Và thật không ngờ, bệnh tình của cô thuyên giảm, và cô sống thêm hai mươi năm nữa. Trong nhiều thấu suốt phong phú đã chia sẻ với chúng ta, Bieke có đưa ra một suy tư đáng chú ý về sự nhàm chán.
Bàn về sự nhàm chán đang thịnh hành trong thời nay, cô nêu bật một nghịch lý, cụ thể là sự nhàm chán đang tăng mạnh giữa chúng ta cho dù mỗi ngày chúng ta đều sản xuất ra đủ loại cải tiến để tránh chuyện đó. Ngày nay, khi có trong tay những thiết bị công nghệ nối kết chúng ta với mọi thứ, từ tin tức thế giới cho đến ảnh chụp của những người thân yêu đang chơi với con cái họ, chẳng phải chúng ta đã được cách ly khỏi sự nhàm chán hay sao? Nghịch lý thay, ngược lại thế mới đúng. Mọi cải tiến công nghệ không xoa dịu nỗi nhàm chán của chúng ta. Tại sao lại không? Chúng ta vẫn vật lộn với sự nhàm chán bởi mọi kích thích trong thế giới không hẳn đã có ý nghĩa. Theo Bieke, ý nghĩa và hạnh phúc không hệ tại nhiều ở chuyện gặp gỡ những người thú vị và khám phá những điều thú vị, mà đúng hơn là hệ tại ở việc hứng thú sâu sắc về những con người và sự vật.
Từ thú vị phát xuất từ gốc La Tinh, với hai từ là inter (bên trong) và esse (hiện hữu) và khi kết hợp lại, nghĩa là hiện hữu bên trong sự gì đó. Mọi sự thú vị với chúng ta khi chúng ta chú tâm đến chúng đủ để thật sự đi vào trong chúng. Và hứng thú của chúng ta không nhất thiết phải tùy vào khả năng kích thích tự nhiên của sự đó, dù ta vẫn thừa nhận rằng có những sự kiện và cảm nghiệm mạnh mẽ hơn cái khác. Điều này giải thích sự hứng thú mạnh của ta với những sự kiện thế giới, các giải thể thao lớn, các lễ trao giải, cũng như sự ám ảnh vốn kém lành mạnh hơn với đời sống của những người nổi tiếng. Có những người, sự vật và sự kiện, tự nhiên thu hút chúng ta hơn và chúng ta muốn ở “bên trong” những cuộc sống và sự kiện đó.
 
Nhưng hầu hết các tin tức thế giới, sự kiện thể thao lớn, các buổi trao giải và đời sống riêng tư của những người nổi tiếng, không phải là chế độ bình thường của ta, không phải là bữa ăn gia đình, nơi làm việc, những buổi đi nhà thờ, những buổi bán hàng từ thiện, lịch sống thường nhật hay những món ta ăn hằng ngày. Và đây chính là điểm thường khiến ta chịu lấy sự nhàm chán, bởi ta không ở sâu trong hiện thực của những con người và sự kiện đó. Chính vì thế mà chúng ta thường cảm thấy cuộc sống đều đều, ù lỳ, và thông lệ. Nhưng nếu như thế, xét cho cùng, chúng ta đấu tranh với sự nhàm chán, không phải bởi gia đình, nơi làm việc, hàng xóm, giáo xứ, và bạn bè mình không thú vị. Chúng ta nhàm chán bởi quá bần cùng nội tâm, quá phân tâm hay quá quy ngã, để có thể thật sự hứng thú với những sự đó. Cảm nghiệm không phải là những gì xảy đến với chúng ta, mà là những gì chúng ta làm với những gì xảy đến với mình. Enstein đã nói thế đấy.
Và Bieke Vandekerckhove cũng nêu bật một nghịch lý khác: Thật nghịch lý khi ta có xu hướng đấu tranh với nhàm chán và trì trệ trong khi ta đang đầy triển nở trong đời, đang khỏe mạnh và làm việc, còn những người như Bieke Vandekerckhove thì mất sức khỏe và chuẩn bị đối diện với cái chết nhưng lại thường thấy sự hồ hởi vui tươi nơi những cảm nghiệm bình thường nhất.
Những thấu suốt của Bieke Vandekerckhove rất giống với cảm nghiệm của Rainer Maria Rilke trong quyển Những lá thư gởi Thi sĩ Trẻ [Letters to a Young Poet.] Như Bieke, ông cũng gợi ý rằng nhàm chán là lỗi của chúng ta, lỗi của một con mắt hờ hững. Trong những lá thư giữa ông với một thi sĩ trẻ, chàng thi sĩ đã than phiền rằng mình không được tiếp cận đủ với những cảm nghiệm thúc đẩy thi ca, bởi anh sống trong một thị trấn nhỏ nơi hầu như chẳng có chuyện gì thú vị. Và chàng thi sĩ ghen tị với Rilke, vì ông chu du gần khắp châu Âu và đã gặp đủ mọi kiểu người thú vị. Với anh, những thấu suốt thi ca của Rilke phần nhiều dựa vào việc được đến những thành phố lớn, gặp những người thú vị, và được những kích thích mà một chàng trai ở thị trấn nhỏ chẳng bao giờ có được.
Câu trả lời của Rilke với chàng trai trẻ này đã trở thành câu trả lời kinh điển về vấn đề nhàm chán: “Nếu cuộc sống thường nhật của anh có vẻ nghèo nàn, thì đừng đổ lỗi cho nó, mà hãy bảo rằng mình không đủ thi vị để khơi lên sự phong phú của nó, bởi với người sáng tạo, thì không có sự nghèo nàn và không có không gian nghèo nàn.”
Tìm được hứng thú trong đời không hệ tại ở việc chúng ta là ai và gặp ai, nhưng là ở khả năng nhìn sâu vào mọi sự. Cuộc sống khắp nơi đủ phong phú để cho ta thú vị, nhưng về phần mình ta phải hứng thú trước đã.
 
J.B. Thái Hòa chuyển dịch
phanxicovn
 
Kim Kỳ st▬▬▬▬▬
Xem thêm...

Trùng tu Bia Quốc Học

Image result for Bia Quốc Học photos

Trùng tu Bia Quốc Học: “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này” ?

                  “…Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trong thấy mà đau đớn lòng

Trong 3 tháng vừa qua Bia Quốc Học ở Huế đã được trùng tu và dự kiến sẽ khánh thành trong dịp tết Đinh Dậu sắp đến. Kết quả của công trình trùng tu này là một “dấu hỏi to tướng” trên phương diện mỹ thuật cũng như sự tôn trọng nguyên tác (văn hóa & lịch sử).
Theo họa sĩ Trần Khánh Chương – Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam, nguyên tắc của việc trùng tu là phải giữ lại những gì còn có thể giữ lại được. “Đập đi để xây mới hay thay lại hoàn toàn nước sơn, họa tiết trên các bức tường Bia Quốc học Huế đã làm mất hết giá trị lịch sử của công trình này…  Với các công trình cổ, việc giữ nguyên thực trạng là điều rất quan trọng. Việc làm mới Bia Quốc học Huế khiến cho công trình này trở nên lạc lõng với cả quần thể di tích lịch sử Cố Đô Huế“.
Lý giải về thực trạng trùng tu di tích lịch sử đang gây nhiều tranh cãi, họa sĩ Trần Khánh Chương cho rằng, có hai nguyên nhân:

  • Một là trình độ và kiến thức của các nhà “trùng tu học” đang bị hạn chế.
  • Thứ hai là việc làm đơn giá quyết toán tài chính đối với công tác trùng tu khá phức tạp cho nên “nhà quản lý” luôn muốn “làm mới, xây mới” để được quyết toán đơn giản hơn. Điều này xuất phát từ thái độ xem nhẹ vai trò của các công trình mỹ thuật, lịch sử.
    Công tác trùng tu cẩn thận rất công phu và khó có thể xác định được hết bao nhiêu tiền. “Ví dụ, xây một con Nghê mới sẽ dễ dàng hơn việc sửa một con Nghê cũ. Sửa lại từng mét vuông bức tường người ta có thể tính ra hết bao nhiêu tiền, còn việc sửa một viên gạch cho đúng như nguyên bản ban đầu thì rất khó. Người sửa nó sẽ phải cất công tìm kiếm, có khi in ra 10 viên gạch mới tìm được 1 viên ưng ý. Như thế là đã mất mấy ngày công. Cấp trên đánh giá: “thay một viên gạch mà hết nhiều tiến thế?”, thế là phải làm báo cáo, giải trình, rất mệt !

Những hoa văn cũ, mang đậm giá trí văn hóa cổ xưa trên tấm bia trước kia, giờ đây đã bị cạo gần hết. Mà thay vào đó là những hoa tiết hoa văn hoàn toàn mới. và toàn bộ công trình được phủ bằng một màu sơn vàng chói !
Để lí giải về máu sắc mới của Bia Quốc học, Ông Lê Văn Quảng, Phó giám đốc Phân viện Khoa học Công nghệ Miền Trung, đơn vị tư vấn thiết kế công trình bia Quốc học chia sẻ “Sau khi nghiên cứu cẩn thận kiến trúc gốc của công trình thì phát hiện nét gốc tổng thể của công trình Bia Quốc học có màu vàng. Đơn vị chỉ tái tạo tu bổ đúng nguyên gốc, giữ lại tất cả những họa tiết trang trí của công trình.  Mùa mưa khác, nắng khác và còn đòi hỏi có thời gian, chứ bây giờ tu bổ lại không thể đòi hỏi phải cũ kĩ được. khẳng định việc trùng tu tiến hành theo đúng cấu trúc và kiểu hoa văn gốc. Riêng việc công trình có màu vàng chủ đạo như hiện nay là do mưa, sơn chưa khô. Khi có nắng thì sơn sẽ chuyển sang màu phù hợp
Theo đó, ông Quảng cũng khẳng định, việc trùng tu này không thể đúng 100% nguyên gốc, nhưng đã tôn trọng tối đa yếu tố gốc. Toàn bộ hoa văn trang trí, màu sắc của công trình đều trùng tu theo đúng nguyên gốc, vẫn còn lưu lại trên công trình”.

Như vậy thì người dân Huế hay khách du lịch nên cố gắng chờ đợi… sau khoảng 100 năm thì Bia Quốc Học sẽ có lại được màu sắc và hình dạng như cũ ?

Sau đây là một số hình chụp Bia Quốc Học trước và sau khi “trùng tu”:

Related image

Image result for Bia Quốc Học photos

 

Lan Chi ST

 

Xem thêm...

Tam Đa Phúc Lộc Thọ

Truyền Thuyết Về Tam Đa Phúc Lộc Thọ

Tam Đa Phúc Lộc Thọ - Tiêu biểu cho hạnh phúc lớn nhất của con người

Phúc Lộc Thọ hay Phước Lộc Thọ là thuật ngữ thường được sử dụng trong văn hóa Trung Hoa và những văn hóa chịu ảnh hưởng từ nó, để nói về ba điều cơ bản của một cuộc sống tốt đẹp là: những điều lành (Phúc), sự thịnh vượng (Lộc), và tuổi thọ (Thọ). Mỗi điều tượng trưng cho một vị thần, ba vị này thường gọi chung là ba ông Phúc-Lộc-Thọ hay Tam Đa, và thường không được tách rời.

su-tich-tam-da-phuc-loc-tho-18

Tam Đa Phúc Lộc Thọ

I. Sự Tích 1

Truyền thuyết kể rằng: Đời thượng cổ ở Trung Quốc, tương truyền vua Nghiêu, vị Hoàng đế hiền minh thời thịnh trị, thái bình, nhân dịp tiết xuân đi thưởng ngoạn cảnh xuân và thị sát vùng đất Hoa Phong để hiểu thêm nhân tình thế thái. Nhân dân đã chúc tụng nhà vua ba điều:

Một là, kính chúc nhà vua trường thọ, vua Nghiêu không nhận.

Nhân dân lại nói điều hai: Xin cầu chúc nhà vua thật phú quý nhiều lộc, nhà vua cũng từ chối và nói tránh đi.

Nhân dân lại chúc tiếp điều thứ ba: Chúc nhà vua sinh nhiều con trai, tỏa phúc ấm cho cả Hoàng tộc. Vua Nghiêu vẫn không chấp nhận mà thay mặt triều đình ban những lời chúc tụng đó thành ba điều chúc: “Đa phúc, đa lộc, đa thọ” gọi là “Tam đa” cho cả trăm họ.

Từ đó, Tam đa trở thành lời chúc nhau trong những ngày tết đến, xuân sang. Và ôngng từ đó có tượng ba ông “Tam đa”.

II. Sự tích 2

Có một sự tích khác đầy ấn tượng kể về 3 nhân vật này. Chuyện xưa bên Tàu, hình tượng Phúc Lộc Thọ xuất phát từ ba con người có thật ở ba triều đại phong kiến Trung Quốc.

su-tich-tam-da-phuc-loc-tho-14

Phúc Lộc Thọ

Theo truyền thuyết của người Hoa Hạ, ông Lộc là một quan tham chuyên ăn đút lót. Ông Thọ lại là vị quan thực dụng, ưa xu nịnh vua để được ban thưởng, trong dinh của ông cung nữ nhiều chẳng kém ở cung vua. Chỉ có ông Phúc là quan thanh liêm, ngay thẳng, con cháu đề huề.
 
1. ÔNG PHÚC
 
Ông Phúc tên thật là Quách Tử Nghi. Thừa tướng đời nhà Đường. ông xuất thân vốn là quý tộc, đồng ruộng bát ngát hàng trăm mẫu, nhưng suốt cuộc đời tham gia triều chính, ông sống rất liêm khiết, thẳng ngay. Không vì vinh hoa, phú quý mà làm mất nhân cách con người.
 
su-tich-tam-da-phuc-loc-tho-16
 
Ông Phúc bồng trên tay đứa bé ngũ đại
 
Cụ bà và Cụ ông bằng tuổi nhau. Người Việt ta có câu: “cùng tuổi nằm duỗi mà ăn”. Còn theo người Hoa Hạ ở Trung Nguyên thì vợ chồng cùng tuổi là rất tốt. Họ có thể điều hòa sinh khí âm, khí dương cho nhau. Vì vậy, có thể bớt đi những bệnh tật hiểm nguy. Lại cùng tuổi nên dễ hiểu nhau, dễ thông cảm cho nhau, nên hai ông rất tâm đầu, ý hợp. Hai cụ 83 tuổi đã có cháu ngũ đại. Lẽ dĩ nhiên phải là nam tử rồi. ông Phúc thường bế đứa trẻ trên tay là như vậy.
 
Theo phong tục người Hoa cổ đại, sống đến lúc có cháu ngũ đại giữ ấm chân nhang của tổ tiên là sung sướng lắm lắm! Phúc to, phúc dày lắm lắm! Bởi thế ông mới bế thằng bé, cháu ngũ đại, đứng giữa đời, giữa trời, nói:
 
- Nhờ giời, nhờ phúc ấm tổ tiên, ta được thế này, còn mong gì hơn nữa. Rồi ông cuời một hơi mà thác. Được thác như ông mới thực sự được về cõi tiên cảnh nhàn du.
ông bà ra ôm lấy thi thể cụ ông và chít nội than rằng:
 
- Tôi cùng tuổi với chồng tôi. Phúc cũng đủ đầy, dày sâu, sao trời chẳng cho đi cùng…
 
Ai có thể ngờ, nói dứt lời cụ bà cũng đi luôn về nơi chín suối. Hai cụ được con cháu hợp táng. Vậy là sống bên nhau, có nhau, chết cùng ở bên nhau, có nhau. Hỏi còn phúc nào bằng. Và ông được người đời đặt tên là Phúc.
 

2. Ông Lộc

Ông Lộc tên thật là Đậu Từ Quân, làm quan đến chức Thừa tướng nhà Tấn. Nhưng ông Đậu Từ Quân là một quan tham. Tham lắm. ông hưởng không biết bao nhiêu vàng bạc, châu báu, là của đút lót ônga những kẻ nịnh thần, mua quan, bán tước, chạy tội cho chính mình, cho con, cho cháu, cho thân tộc.
 
su-tich-tam-da-phuc-loc-tho-13
 
Ông Lộc (Thần Tài) với hình ảnh giàu sang phú quý
 
Trong nhà ông, của cải chất cao như núi. Tưởng ông Đậu Từ Quân được như thế đã là giàu sang, vinh quang đến tột đỉnh. ông chỉ hiềm một nỗi, năm ông tám mươi tuổi vẫn chưa có đích tôn. Do vậy ông lo nghĩ buồn rầu sinh bệnh mà chết. ông ốm lâu lắm. Lâu như kiểu bị tai biến mạch máu não bây giờ. ông nằm đến nát thịt, nát da, mùi hôi thối đến mức con cái ông không dám đến gần. Đến khi chết, ông ôngng không nhắm được mắt. ông than rằng:
- Lộc ta để cho ai đây? Ai giữ ấm chân nhang cho tổ tiên, cho bản thân ta?
 
3. Ông Thọ
 
 
Ông Thọ tên là Đông Phương Sóc, làm Thừa tướng đời Hán. Triết lý làm quan của ông 
 
su-tich-tam-da-phuc-loc-tho-17
 
 
 
Đông Phương Sóc là quan thì phải lấy lộc. Không lấy lộc thì làm quan để làm gì. ông coi buôn chính trị là buôn khó nhất, lãi to nhất. Nhưng ông Đông Phương Sóc vẫn là quan liêm. Bởi ông nhất định không nhận đút lót. ông chỉ thích lộc của vua ban thưởng. 
 
Ông Thọ sống đến 125 tuổi
 
Được bao nhiêu tiền thưởng, ông lại đem mua gái đẹp, gái trinh về làm thê thiếp. Người đương thời đồn rằng, trong dinh ông, gái đẹp nhiều đến mức chẳng kém gì cung nữ ở cung vua. Ông thọ đến 125 tuổi. Nên người đời mới gọi ông là ông Thọ. Trước khi về chốn vĩnh hằng, ông Thọ còn cưới một cô thôn nữ xinh đẹp mới mười bảy tuổi. ông Đông Phương Sóc bảo, ông được thọ như vậy là nhờ ông biết lấy-âm-để-dưỡng-dương.
 
Do ông Đông Phương Sóc muốn có nhiều tiền để mua gái trẻ làm liều thuốc dưỡng dương, cho nên suốt cuộc đời cũa ông, ông chỉ tìm lời nói thật đẹp, thật hay để lấy lòng vua. Có người bạn thân khuyên ông:
 
- Ông làm quan đầu triều mà không biết tìm lời phải, ý hay can gián nhà vua. Ông chỉ biết nịnh vua để lấy thưởng thì làm quan để làm gì.
ông Đông Phương Sóc vuốt chòm râu bạc, cười khà khà bảo:
 
- Làm quan không lấy thưởng thì tội gì mà làm quan. Can gián vua, nhỡ ra vua phật ý, tức giận, chém đầu cả ba họ thì sao?
 
ông Đông Phương Sóc 125 tuổi mới chịu từ giã cõi đời. Khi ông chết thì con không còn, cháu cũng đã hết cơm hết gạo mà chắt đích phải làm ma, phải thay cha, thay ông, chở ông nội. Vậy làm quan như ông, Thọ như ông phỏng có ích gì?
 
Qua ba bức tượng Phúc, Lộc, Thọ người đời thấy, người Hoa Hạ thật là tài giỏi. Họ đã khéo xếp ba vị thừa tướng, ba tính cách khác nhau ở ba triều đại khác nhau để răn đời.
 
Trong ba điều ước Phúc, Lộc, Thọ ấy chỉ có thể được một mà thôi.

Ba vị đó được người Trung Quốc dựng lên ba hình tượng, không phải để thờ mà để người đời nhìn gương đó mà lựa chọn cách sống cho phù hợp. Phúc Lộc Thọ có lối sống khác nhau. Phúc thì tử tế, còn cầu theo Lộc Thọ là cầu cái vô phúc, liệu có ai muốn không?

Thực ra khi thờ 3 ông này người ta đã khôn khóe xắp xếp để chúng ta có được cả 3 cái mà người đời ai cũng mong, chứ ko phải muốn chúng ta học tính cách ông này ông kia.

 

6. Ý NGHĨA PHONG THỦY CỦA BỘ BA TAM ĐA PHÚC LỘC THỌ

Ông Phúc

Ông Phúc tượng trưng cho sự may mắn, tốt lành. Tương truyền, Ông Phúc là một quan thanh liêm của triều đình. Theo quan niệm xưa, nhà đông con là nhà có phúc nên đôi khi còn thấy có một đứa trẻ đang nắm lấy áo Ông Phúc, hoặc nhiều đứa trẻ vây quanh ông hay là có hình ảnh con dơi bay xuống ông (dơi phát âm giống "phúc").

Ông Lộc 

Ông Lộc hay Thần Tài tượng trưng cho sự giàu có, thịnh vượng. Theo truyền thuyết, Ông Lộc được sinh tại Giang Tây, sống trong thời Thục Hán ônga Trung Quốc, ông còn là một quan lớn của triều đình, có nhiều tiền của. Ông thường mặc áo màu xanh lục vì trong tiếng Hoa, "lộc" phát âm gần với lục", tay cầm "cái như ý" hoặc thường có một con hươu đứng bên cạnh (hươu ôngng được phát âm giống "lộc").

Ông Thọ 

Ông Thọ tượng trưng cho sự sống lâu với hình ảnh là một ông già râu tóc bạc trắng, trán hói và dô cao, tay cầm quả đào, bên cạnh thường có thêm có con hạc.

su-tich-tam-da-phuc-loc-tho-15

Tam đa Phúc Lộc Thọ

Ba Tiên ông Phúc Tinh, Lộc Tinh, Thọ Tinh tiêu biểu cho 3 hạnh phúc lớn nhất của con người là Phúc là con cháu đầy đủ ngoan hiền. Lộc là tài lộc dồi dào và Thọ là sống lâu không bệnh tật.

Bộ Tam Tiên Phúc Lộc Thọ mang nguyên khí của sao Lục, Bạch, Kim Tinh có tác dụng rất lớn trong vận 8. Cát khí đem lại cho chủ nhà nhiều phúc lộc và công danh, tiền tài tăng tiến, thường dùng gia tăng cát khí cho sao Lục Bạch, Nhất Bạch chủ về phúc lộc, công danh, học hành hoặc gia tăng tuổi thọ, sức khoẻ và cầu sinh thêm con cái...

 

Thúy Ái Sưu tầm

Xem thêm...
Theo dõi RSS này