Văn học

Văn học (88)

GIỮ GÌN TÊN GỌI CHỮ ''CÁI'' TIẾNG VIỆT!!!

GIỮ GÌN TÊN GỌI CHỮ ''CÁI'' TIẾNG VIỆT!!!

Phan Văn Phước

Thư gởi đồng nghiệp:

Kính thưa quý Lương Sư Thụ Nhân,

Thể theo nguyện vọng của Việt Bào khắp nơi là ''giữ gìn tiếng Việt'', tôi chân thành viết bài có nội dung ấy.

 
Tôi lập luận khách quan, theo ngữ học và ngữ âm học, chứ không nêu đích danh ai. Làm hư (bôi bác) Quốc Ngữ cũng là nỗi nhục Quốc Thể!!!

Chúng ta không thể vô cảm và vô ơn đối với Đại Ân Nhân của Việt Nam là Linh Mục tuyệt vời Đắc-Lộ (Quý Danh Việt do Ngài tự gọi mình), Vị có công quá lớn, Cha Đẻ của Quốc Ngữ mà tôi đang sử dụng để viết bài bên dưới.

Kính chúc quý Thầy-Cô Lễ Giáng Sinh an lành.

Phan văn Phước
 
GIỮ GÌN TÊN GỌI CHỮ ''CÁI'' TIẾNG VIỆT!!!

Tôi xin tuần tự trình bày cách gọi SAI TÊN của chữ CÁI Quốc Ngữ và cách PHÁT ÂM chính xác mỗi mẫu tự ấy và xin mạo muội nêu lên thiển ý của mình.

I- Cách phát âm sai

Cách các cháu ở Việt Nam gọi TÊN hầu hết các mẫu tự CÁI tiếng Việt như thế này: ''bờ, cờ, dờ, đờ, gờ, hờ, mờ, nờ, lờ, pờ, cu, rờ, sờ, tờ, vờ, xờ, i'' là SAI hoàn toàn vì những lý do sau đây:

1- Khái niệm ''chữ CÁI'' có nghĩa là từng mẫu tự (lettre, letter) RIÊNG LẺ! Các mẫu tự ''b, c, d, đ, g, h, m, n, p, q, r, s, t, v, x'' KHÔNG kết hợp với NGUYÊN ÂM nào cả thì CHẲNG tạo âm thanh ''bờ, cờ, dờ, đờ, gờ, hờ, mờ, nờ, lờ, pờ, cu, rờ, sờ, tờ, vờ, xờ''.

2- Kết hợp mẫu tự T, t /te/ (tê) với nguyên âm (vowel) ''a'' thì tôi có thanh âm (sound) /t/ + thanh âm (sound) /a/---> /ta/ là cách phát âm (pronunciation) chữ (word, mot) ''TA, ta'', chứ KHÔNG phải ''tờ'', ''a'' ---> /ta/ bởi vì thanh âm /t/ chẳng tạo ra thanh âm /ə/ (ơ) như nhiều người lầm tưởng!!!

3- Giáo sĩ Đắc-Lộ lấy TÊN gọi mẫu tự cái Latinh-Pháp để đặt cho mẫu tự CÁI tiếng Việt, chẳng hạn: B,b có tên gọi là /be/ (bê); T,t có tên gọi là /te/ (tê), chứ KHÔNG phải là // (bờ), // (tờ). Mẫu tự ''s'' trong Quốc Ngữ cũng có tên gọi như trong Pháp Ngữ là /ɛs/, chứ không phải ''sờ''!

4- Mẫu tự ''g'' có TÊN là /ʒe/ như cách người Pháp gọi nó. Chữ ''gmail'' được phát âm theo người Pháp là /ʒemaj/ như trong ''émail'' hay ''travail'', và theo người Anh thì /'dʒi:meɪl/, chứ KHÔNG phải ''gờ-mêu'' như nhiều người đọc cho nhau NGHE địa chỉ điện thư!!!

5- Các cháu Mẫu Giáo ở bên nhà đọc ''I,i'' và ''Y,y'' giống nhau. Thật ra, ''Y,y'' tiếng Việt cũng có tên là Y grec! (Ngày trước, tôi được dạy: Y cờ-rét.) Người Anh, Pháp không nói ''i ngắn, y dài'' bao giờ.

6- Có rất nhiều người giỏi văn phạm tiếng Pháp và nói tiếng ấy ''như gió'', nhưng lại ''phiên âm'' từ ''baptême'' sang tiếng Việt là ''báp-têm''! Thật ra, các người ấy ''gọi đúng TÊN'' (spell) các mẫu tự (letters) trong chữ ''baptême'' là: be, a, pe, te, ə (accent circonflexe), ɛm, ə. Nhưng họ không ngờ rằng mẫu tự ''p'' (trong ''baptême'') là CÂM. Cách phát âm /batɛm/ (ba-tem) mới là chính xác. Mẫu tự ''e'' (ơ) cuối trong ''baptême'' cũng CÂM. Ví dụ khác: Chữ ''Genève'' cũng được đọc là /ʒənɛv/ hay /ʒnɛv/, chứ không phải Giơnevơ!

B- Người ngoại quốc đọc chữ CÁI tiếng Việt!

Bằng chứng đọc sai nhiều TÊN chữ cái: Pronouncing the Vietnamese Alphabet 

Nhận xét:

1- Chỉ gọi đúng TÊN của các mẫu tự ''a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư'' và ''y'' (ở lần thứ hai: y grec), còn những mẫu tự khác thì gọi SAI TÊN, nhất là các mẫu tự ''c, k, q'' cũng ''bị'' gọi là CỜ!!!

2- Xin lấy ví dụ khác: TPP là cách viết tắt nhóm từ ''Trans-Pacific Partnership Agreement'', cho nên ''nó'' được đọc theo TÊN gọi bằng chữ CÁI tiếng Anh là /ti:pi:pi:/ hay theo tiếng Việt là /tepepe/ (têpêpê), nhưng theo cách này ''tờ, pờ, pờ'' là SAI một trăm phần trăm!!!

3- Năm xưa, ở ''Lớp Vỡ Lòng'', các Dì Phước dạy tôi cách ĐÁNH VẦN (ráp âm) thế nầy: ''bờ, a---> ba'' thay vì /b/ + /a/ ---> /ba/ có lẽ do các Dì ấy không biết ký hiệu PHIÊN ÂM quốc tế. Trong khi đó, các Dì vẫn chia lớp ra từng nhóm A, B, C (a,bê, xê), chứ không phát âm là: a, bờ, cờ!!!

4- Tác giả Trần Tiếu ra bài Toán Tiểu Học: ''Một chiếc xe khởi hành từ A đến B ()... Chiếc kia từ B () đến A... '' Các Dì Phước Tiểu Học cũng không phát âm: ''A, BỜ, CỜ'' bao giờ!!!

5- Lên Trung Học, chúng tôi được ra bài tập: ''Cho tam giác ABC...'' (Soit un triangle ABC), chứ chẳng hề nghe ''tam giác a, bờ, cờ''!!! Học sinh chọn Ban A, B, C, D (A, BÊ, XÊ, ĐÊ) chứ không hề phát âm: Ban A, BỜ, CỜ, DỜ!!!

6- Theo ngữ học (linguistique) và ngữ âm học (phonologie), khi đọc hay viết cho người ta biết họ của mình là Phan, tôi phải ''xướng'' lên TÊN từng chữ CÁI như sau:/pe/, /aʃ/, /a/, /ɛn/. (pê, hát, a, en) Nhưng tôi ghi cách phiên âm /fan/ nếu người ta muốn đọc đúng từ (chữ) ấy.

7- Vào khoảng năm 1983 hay 1984, Thầy-Cô cả nước ''phải'' bắt học trò Tiểu Học viết chữ CÁI giống ký hiệu phiên âm quốc tế, trông thật kỳ cục, không có ''chân phương'' đẹp mắt như các Cụ thường dạy: ''Nét chữ, nết người!''

8- Xin chia sẻ cùng Bà Con phương pháp dạy đánh vần từng ngày mà tôi áp dụng cho các cháu nhỏ:

a- Viết và đọc mẫu tự ''a'', rồi ráp (nhưng không cần gọi TÊN) mẫu tự ''b'' TRƯỚC ''a'', tôi ĐỌC: ba, rồi hỏi: Ai là ''ba'' của con? ''Ba'' má có hai hay ''ba'' đứa con? Gái út của ''ba'' má là đứa con thứ ''ba'' hay thứ hai?

b- Tôi hỏi: '''' đâu rồi? ''Ba'' kêu '''' nội của con là '''' hay ''mạ''? Tôi chỉ cho con chiếc áo ''bà ba'' và hát: Chiếc áo ''bà ba'' trên dòng sông thăm thẳm.

c- Dần dà, tôi ráp các chữ CÁI ''d, đ, h, l, n, r, s, t, v, x'' (nhưng không cần gọi TÊN chúng) TRƯỚC mẫu tự ''a'', chẳng hạn tôi hỏi: Con thích '''' xanh hay '''' vàng rơi ''lả tả''? Con thích mang ''tả'' không? Con thích ăn canh '''' nấu với '''' chua không? Con thích ''ca'' sĩ nào? Con ưa nghe ra-đi-ô không? Con đừng quên trả lời với người lớn: ''Dạ'' có! ''Dạ'' không! ''Ba'' thích uống '''' phê ''đá''.

d- Tôi lần lượt dạy cháu từng THANH ÂM: ''ác, ạc, át, ạt; ai, ái, ài, ại; ắc, ắt, ặp, ắp, ấp, ập, ật'', chứ không bắt đánh vần như bé ở Việt Nam: ''á, CỜ, ác'' bởi vì, như đã nêu, âm /k/ cũng không tạo ra âm thanh /ə/ (ơ), vì chẳng muốn cháu lầm tưởng rằng ''CỜ'' là TÊN gọi chữ cái C,c!!!

e- Tôi cho các cháu ĐỌC mỗi ngày TỪNG thanh âm ''oi, ói, òi, ỏi, õi, ọi, ôi, ối, ổi, ỗi, ơi, ới, ời, ởi, ỡi, ợi, ua, ùa, úa, ủa, ụa, ui, úi, ùi, ủi, ụi, ửi, uôi, uối, uổi, uỗi, uội, ươi, ưới, ười, ượi, ước, ược, ưu, ứu, ừu, ựu...'' trước khi chọn thanh âm phù hợp để ghép với thanh âm ''ph, th, nh, ng'' tùy nghĩa của từng từ. Khi các cháu đã thạo cách vừa nêu, tôi bắt đầu dạy thanh âm: u+y: uy; ê+n: ên; uy+ên: uyên; ng+uyên: nguyên. Từ đó, tôi có thể thêm dấu sắc, huyền, ngã. Nếu dùng dấu hỏi thì tôi viết: tuyển. Các chữ ''quá, quà, quả, quýt, thúy, túy, giặc, giặt gỵa (giặt giũ) thì tôi dạy sau. (Chữ ''gỵa'' có dấu nặng dưới ''y'', chứ không phải ''gịa'' như Từ Điển Tiếng Việt ghi không đúng với ngữ âm học! Giáo Sư Lâm Toại ở Trường Providence bảo viết ''gỵa'', Lm Nguyễn Văn Thích, Lm Jean Oxarango dạy phonologie ở Đại Học Văn Khoa Huế cũng đồng ý với Gs Lâm Toại bởi vì viết ''gịa, giạ, ghịa, dịa'' thì không ổn!)

II- Kết luận

Người Anh gọi TÊN của chứ CÁI ''Z,z'' là /zed/, người Mỹ gọi Z,z là /zi:/, người Pháp thì /zɛd/. Nhưng, khi phát âm từ ''zone'', thì cả Anh-Mỹ-Pháp cho người nghe /z/thay vì /zed/, /zi:/, /zɛd/. Chúng ta không có mẫu tự Z,z thì, trong ''Phép giảng tám ngày'', Lm Đắc-Lộ đã bày cho người Việt âm /gi/ độc đáo trong chữ ''giảng''. Ngài ấy cũng chỉ cho cách viết ''ph'' thay vì ''f''. Vậy thì tôi chẳng rõ lý do nào khiến chúng ta ''vô tình'' bắt các cháu Mẫu Giáo đọc SAI TÊN của chữ CÁI tiếng Việt và tập đánh vần cũng SAI luôn như đã tình bày trong phần I!!! Theo tôi, chúng ta chớ vội cho các cháu Mẫu Giáo ĐỌC bảng chữ CÁI theo cách phản sư phạm. Xin mời xem và nghe: Dạy bé Tập Đọc Bảng Chữ Cái ! Cách dạy: ''a, quả na; ă, ăng ten...; dờ, diều sáo; â, ấm nước'' chẳng những SAI TÊN gọi từng chữ CÁI, mà còn khiến các bé càng bối rối bởi cách viết các TỪ vừa nêu!

Kính mời Việt Bào xem cách ''thiên hạ'' gọi TÊN chữ CÁI (của nước họ) có nhiều điểm giống ''Quốc Ngữ'':

A- Tiếng Pháp: La chanson de l'alphabet - Comptine – YouTube

B- Tiếng Đức: German Alphabet Song - Learn German easily - Nursery rhymes ...

C- Tiếng Latinh: The Latin Alphabet Song – YouTube

D- Tiếng Anh (British English): Gọi tên của Z: ABC Song | British Zed Version

E- Tiếng Anh-Mỹ (American English): ABC Song | Alphabet Song

 

Phan văn Phước

Xem thêm...

Những nhà giáo nổi tiếng thế giới

Những nhà giáo nổi tiếng thế giới

Sáng lập hệ thống trường mẫu giáo, tạo phương pháp giáo dục Montessori, xây dựng trường học đầu tiên dành cho phụ nữ là đóng góp của những nhà giáo nổi tiếng thế giới.

Friedrich Froebel (1782-1852)

Bạn có tưởng tượng được cuộc sống trước khi có trường mẫu giáo? Trẻ em phải làm việc trong các nhà máy và mỏ than, không có tiệc mừng sinh nhật, được coi là người lớn khi chỉ 7 tuổi. Sau đó, nhà giáo dục người Đức Friedrich Froebel mang đến cho thế giới khái niệm về trường mẫu giáo ngày nay.

Tầm nhìn của ông có ảnh hưởng từ tâm linh. Ông tin rằng tất cả đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, do đó mọi sự vật đều có bản chất giống nhau. Froebel tin rằng cần thiết phải nghiên cứu về bản năng và cảm xúc của một đứa trẻ. Qua đó, ông phát hiện giai đoạn quan trọng nhất để phát triển bộ não con người là từ khi sinh ra cho đến lúc 3 tuổi. Điều này giúp Froebel trở thành một trong những nhà cải cách giáo dục mạnh mẽ nhất của thế kỷ 19 nhờ nhấn mạnh vào tầm quan trọng của giáo dục mầm non.

John Amos Comenius (1592-1670)

John Comenius là nhà giáo dục người Czech, được xem là "cha đẻ của giáo dục hiện đại". Ông là người đầu tiên khám phá và dùng sách giáo khoa bằng hình ảnh như khái niệm phổ quát của giáo dục. Ông tin rằng giáo dục phải bắt nguồn từ những ngày đầu tiên của tuổi trẻ và kéo dài đến hết cuộc đời.

Comenius cũng quan niệm giáo dục dành cho tất cả mọi người, từ nam đến nữ, từ giàu đến nghèo, từ người lanh lợi đến kẻ khù khờ. Đối với ông, mọi giới hạn giáo dục đều là trở ngại chính cho sự tiến bộ của nhân loại. Ông loại bỏ những trở ngại này bằng cách soạn thảo một số sách giáo khoa xuất sắc.

Anne Sullivan (1866-1936)

Anne Sullivan là nhà giáo nổi tiếng người Mỹ. Bà bị giày vò bởi các chứng bệnh liên quan đến thị lực và phải trải qua nhiều cuộc phẫu thuật mắt. Năm 1886, bà tốt nghiệp trường học dành cho người mù và theo đuổi sự nghiệp giảng dạy. Một cách tình cờ, Sullivan trở thành gia sư của Helen Keller - cô bé 6 tuổi không thể nhìn, nghe hay nói. Sullivan khi đó mới 20 tuổi, bà sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, viết lên lòng bàn tay đứa trẻ để dạy cho nó.

Với việc Helen Keller sau này là người khiếm thị - khiếm thính đầu tiên đạt học vị Cử nhân Nghệ thuật, Anne Sullivan trở thành biểu tượng của thế giới trong giáo dục trẻ em khuyết tật.

Sarvepalli Radhakrishnan (1888-1975)

Sarvepalli Radhakrishnan là triết gia vĩ đại, nhà giáo dục nổi tiếng, đồng thời là vị tổng thống thứ hai của Ấn Độ. 

Sau khi nhận bằng M.A về triết học ở tuổi 21, Radhakrishnan được thừa nhận là giáo viên có kiến thức sâu rộng về các khái niệm khó nhất của triết học. Ông đặt nặng vai trò của giáo dục tâm linh, cho rằng giáo dục phải phát triển những cảm xúc thiêng liêng trong mỗi người.

Khi một sinh viên hỏi Radhakrishnan từng học tập ở nước ngoài hay chưa, ông trả lời: "Chưa! Nhưng tôi sẽ đến đó để dạy". Ông đam mê với sự nghiệp trồng người và có mối quan hệ tốt với sinh viên. Ngày sinh của Radhakrishnan (5/9) được chọn là ngày nhà giáo Ấn Độ để tôn vinh những đóng góp của ông cho nền giáo dục. 

Savitribai Phule (1831-1897)

Savitribai Phule là nữ giáo viên đầu tiên của trường nữ sinh đầu tiên ở Ấn Độ, người sáng lập thơ Marathi hiện đại. Bà khiến mọi người kinh ngạc khi đấu tranh mạnh mẽ chống chế độ chuyên chế và các tệ nạn xã hội trong thời kỳ đầu của Ấn Độ. 

Với sự hỗ trợ của chồng, bà mở một trường học cho nữ sinh thuộc tầng lớp "tiện dân", vào thời điểm mà việc chạm vào người các "tiện dân" bị xem là làm ô uế những người thuộc tầng lớp trên. Vượt qua những gian khổ chồng chất khi theo đuổi nghề giáo, cuối cùng bà đã được Chính phủ Anh vinh danh vì những đóng góp cho sự nghiệp giáo dục.

Xã hội của phụ nữ Ấn Độ ngày nay được tạo nên một phần nhờ hành động can đảm của Savitribai Phule. 

Maria Montessori (1870-1952)

Một trong những triết lý giáo dục đổi mới và gây ảnh hưởng của thế kỷ 20 đã được phát triển và thúc đẩy bởi Maria Montessori, giáo viên người Italy mà tên tuổi đã trở thành biểu tượng của một phong cách giáo dục. 

Phương pháp Montessori ngày nay được sử dụng phổ biến trên thế giới. Theo bà, trẻ em chủ yếu tự học, trách nhiệm chính của giáo viên là tạo ra môi trường thích hợp và kích thích trẻ phát triển tự nhiên. Bà đề cao việc để trẻ di chuyển và học hỏi từ mọi thứ xung quanh hơn buộc chúng ngồi yên và được giảng dạy thụ động. Trong suốt thời kỳ chiến tranh, phương pháp này bị phản đối dữ dội ở Mỹ, tuy nhiên từ năm 1960, nó trở thành một phần quan trọng trong giáo dục ở quốc gia này. 

Maria Montessori cũng quan tâm đến giáo dục hòa bình và kết hợp vào công việc của mình. Bà được đề cử cho giải Nobel hòa bình lần thứ 3 khi qua đời năm 1952, ở tuổi 81. 

William McGuffey (1800-1873)

Cũng như Maria Montessori, William Holmes McGuffey là giáo viên người Mỹ dành cả cuộc đời để phát triển lý thuyết về giáo dục trẻ em. Ông là học sinh xuất sắc, bắt đầu dạy học ở tuổi 14. Dành nhiều giờ trong các trường học ở Ohio và Kentucky, McGuffey không có phương pháp chuẩn để học sinh đọc và cuốn sách duy nhất có sẵn là Kinh thánh.

McGuffey ngừng sự nghiệp giảng dạy để đi học đại học. Ở tuổi 26, ông trở thành giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học Miami (Oxford, Ohio). Ý tưởng của ông về giảng dạy ngôn ngữ được nhiều đồng nghiệp ngưỡng mộ. Năm 1835, ông viết một loạt bài cho nhà xuất bản Truman và Smith.

McGuffey thiết lập một khuôn mẫu sách giáo khoa, khuyến khích trình bày nội dung sống động, dạy bảng chữ cái và phát âm bằng các câu chuyện đơn giản, đặt từ vựng trong bối cảnh, yêu cầu học sinh đọc lớn và tương tác với những gì được học. Những nội dung mà McGuffey phát triển có tác động rất lớn đối với giáo dục trẻ em ở Mỹ và sự hoàn thiện của tài liệu giáo dục hiện đại.

Emma Willard (1787-1870)

Đã có một thời kỳ người Mỹ tin rằng giáo dục đại học chỉ dành cho đàn ông. Phụ nữ được cho là có thể tiếp cận giáo dục ở một mức độ nhất định, thường nghiên cứu về kinh tế gia đình và cách cư xử hơn là toán, khoa học và triết học. Emma Hart Willard chính là người phụ nữ làm thay đổi quan điểm này.

Sinh ra ở Connecticut năm 1787, Emma sớm thể hiện sự xuất chúng. Bà được cha khuyến khích học tập và trở thành giáo viên tại trường mình học vào năm 17 tuổi. 19 tuổi, bà làm hiệu trưởng của một trường khác. Tuy nhiên, do không hài lòng với chương trình giảng dạy, bà tự thành lập trường nội trú để dạy cho các cô gái về lịch sử và khoa học. Sau đó, Emma đã kêu gọi được chính quyền thành Troy tài trợ xây dựng cơ sở giáo dục đại học đầu tiên cho phụ nữ tại Mỹ, mở cửa vào năm 1821. 

Bình đẳng và dân chủ trong giáo dục khi đó còn cách xa, tuy nhiên Emma là người đã bắt đầu ngọn lửa này trong thế kỷ 20. Bà giảng dạy cho phụ nữ ở Mỹ và châu Âu, mở thêm một trường khác dành cho phụ nữ ở Hy Lạp, viết sách giáo khoa về địa lý và lịch sử nước Mỹ cho đến khi qua đời vào năm 1870. 

Trường học được thành lập ở Troy vẫn còn tồn tại đến ngày nay với tên gọi Emma Willard. 

Jaime Escalante (1930-2010)

Trong thập niên 80, Escalante chấp nhận dạy học ở trường Garfield High, một trong những trường có điều kiện thiếu thốn nhất ở Los Angeles. Với môn toán học, ban đầu phong cách giảng dạy cứng rắn, tạo nhiều thách thức của ông vấp phải sự phản kháng của học sinh lẫn chính quyền. Tuy nhiên, theo thời gian, cách tiếp cận này khiến những học sinh bướng bỉnh dần yêu thích môn toán, đỗ kỳ thi AP Giải tích với kết quả cao, ngay cả khiến ông bị nghi ngờ về gian lận trong thi cử. Escalante yêu cầu tổ chức thi lại và vô cùng tự hào khi học sinh của mình hoàn thành xuất sắc.

Năm 1988, Escalante được trao huân chương xuất sắc vì những đóng góp trong giáo dục. Cùng năm này, bộ phim "Stand and Deliver" dựa trên câu chuyện có thật của ông phát hành, trở thành một trong những bộ phim Hollywood cảm động nhất về đề tài nhà giáo.

 

Kim Quy st

 

Xem thêm...

Andrew Wiles - Nhà toán học nổi tiếng bậc nhất thế kỷ 20

Andrew Wiles

 Nhà toán học nổi tiếng bậc nhất thế kỷ 20

Andrew Wiles bên cạnh định lý cuối cùng của Fermat. Ảnh Charles Rex Arbogast/AP.

Giải thưởng Abel 2016 được trao cho nhà lý thuyết số người Anh, Andrew Wiles với chứng minh cho Định lý cuối cùng của Fermat (còn được biết đến dưới tên gọi định lý lớn Fermat). Định lý này phát biểu rằng, với mọi n>2, phương trình xn+yn=zn không có nghiệm nguyên dương. Giải thưởng trao cho Wiles có giá trị 6 triệu kroner (tương đương 700.000$)

Giải thưởng được công bố vào ngày 15 tháng ba năm nay và Andrew Wiles đã hoàn toàn ngạc nhiên khi biết tin.

Việc giải quyết được một vấn đề mà nhiều người coi là vô cùng hóc búa – mà phát biểu lại quá đơn giản – đã đưa Wiles trở thành “nhà toán học nổi tiếng bậc nhất của thế kỷ 20”, giám đốc của Viện Toán học Oxford (vốn được đặt trong một tòa nhà mang tên Wiles), Martin Bridson phát biểu. Mặc dù Wiles đã đạt thành tựu này được hơn hai mươi năm, câu chuyện của ông vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho những người trẻ, điển hình là chuyện các học sinh trung học vẫn tới nghe bài giảng đại chúng của ông. “Chúng coi ông ấy như một ngôi sao nhạc rock”, “Chúng xếp hàng để chờ chụp ảnh cùng Wiles”, Bridson kể.

Câu chuyện của Wiles đã thành một truyện truyền kỳ về sự dẻo dai và bền bỉ. Khi còn ở trường Đại học Princeton vào thập niên 80 thế kỷ trước, ông bắt đầu một chuyến độc hành dài bảy năm, tìm kiếm lời giải cho vấn đề này, làm việc trên gác mái mà không ai khác biết ngoài vợ ông. Ông đã tiếp tục cho tới khi đưa ra một thông báo lịch sử tại một hội thảo ở quê nhà Cambridge, Anh vào tháng sáu năm 1993. Không may hai tháng sau, người ta phát hiện ra trong chứng minh của ông có một lỗi sai nghiêm trọng. Nhưng sau một năm làm việc điên cuồng cùng sự trợ giúp của một học trò cũ của mình là Richard Taylor – hiện đang là giáo sư tại Viện nghiên cứu cấp cao Princeton – ông đã có thể “vá” lại chứng minh. Khi kết quả là hai bài báo được công bố vào năm 1995, và chúng chiếm trọn một số của tờ Annals of Mathematics.

Nhưng sau khi khẳng định ban đầu của Wiles chiếm trọn trang nhất của báo chí trên khắp thế giới, áp lực cứu lấy công trình của mình gần như đã làm tê liệt nhà toán học nhút nhát. “Làm toán trong tình trạng phơi bày trước mắt mọi người thế này không phải phong cách của tôi, và tôi không mong muốn phải lặp lại nữa,” Wiles nói trong một bộ phim tài liệu của BBC năm 1996, vẫn còn run rẩy vì trải nghiệm đó. “Gần như không thể tin nổi rằng ông ấy lại có thể vá được chứng minh” ở thời điểm đó, John Rognes, nhà toán học ở trường Đại học Oslo, thành viên hội đồng giải thưởng Abel, cho biết.

“Đã rất, rất căng thẳng”, Wile nói. “Thật bất hạnh rằng con người chúng ta thành công từ những phép thử và những sai sót. Thất bại là mẹ thành công”.

Wiles biết đến nhà toán học Pháp Pierre de Fermat lần đầu tiên khi còn là một đứa trẻ ở Cambridge. Ông được kể lại rằng Fermat đã phát biểu định lý mang tên mình ở dạng viết tay trên lề của một cuốn sách vào năm 1637 (bằng tiếng Latin): “Tôi đã tìm ra một chứng minh tuyệt vời cho định lý này nhưng lề sách quá chật để ghi lại”.

“Tôi tin đây là một câu chuyện rất lãng mạn,” Wiles nói về ý tưởng của Fermat. “Mẫu câu chuyện này lôi cuốn trí tưởng tượng của người ta khi còn trẻ và muốn bước chân vào thế giới toán học.”

Mặc dù khi ấy Fermat đã nghĩ rằng ông chứng minh được nó, nhưng chỉ một chứng minh cho trường hợp đặc biệt n=4 là còn sót lại. Một thế kỷ sau, Leonhard Euler chứng minh nó cho trường hợp n=3 và công trình của Sophie Germain mang lại chứng minh cho vô hạn các lũy thừa, nhưng vẫn không phải cho tất cả. Các chuyên gia bắt đầu có ý cho rằng để giải quyết trường hợp tổng quát phát biểu trong định lý phải cần đến những công cụ toán học mà chỉ đến thế kỷ 20 mới xuất hiện.

Năm 1983, nhà toán học người Đức, Gerd Faltings, hiện đang làm việc tại Viện Toán học Max Planck ở Bonn, đã tiến một bước rất dài với chứng minh rằng phương trình Fermat cùng lắm chỉ có hữu hạn nghiệm, tuy nhiên ông vẫn chưa thể chỉ ra con số đó phải bằng 0. (Thực tế, ông đã chứng minh được một kết quả mà theo các chuyên gia nhận định là sâu sắc và thú vị hơn định lý cuối cùng của Fermat, nó chỉ ra rằng một lớp rộng hơn các phương trình, có cùng lắm là hữu hạn nghiệm).

Để đưa số nghiệm về không, Wiles đã tiếp cận vấn đề theo một hướng khác: ông chứng minh giả thuyết Shimura-Taniyama, một giả thuyết ra đời những năm 50 thế kỷ trước, miêu tả sự tương đương của hai khái niệm khác nhau của toán học, các đường cong elliptic và các dạng modular. Kết quả từ những nhà toán học khác cho thấy rằng chứng minh được tính tương đương này sẽ giúp suy ra định lý cuối cùng của Fermat – và giống như kết quả của Falting, hầu hết các nhà toán học coi kết quả này là sâu sắc và phong phú hơn chính định lý Fermat. (Toàn văn thông cáo giải thưởng Abel viết “giải thưởng trao cho Wiles vì chứng minh tuyệt diệu của ông cho định lý cuối cùng của Fermat bằng cách sử dụng giả thuyết modular cho các đường cong elliptic nửa ổn định, mở ra một kỷ nguyên mới trong lý thuyết số.”)

Mối liên hệ giữa giả thuyết Shimura-Taniyama và định lý cuối cùng của Fermat được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1984 bởi nhà toán học Gerhard Frey, hiện đang làm việc ở Đại học Duisburg-Essen, Đức. Ông đã khẳng định rằng bất kỳ phản ví dụ nào cho định lý cuối cùng của Fermat cũng sẽ dẫn tới một phản ví dụ cho giả thuyết Shimura-Taniyama.

Kenneth Ribet, nhà toán học ở Đại học California, Berkeley, đã nhanh chóng chứng minh được rằng khẳng định của Frey là chính xác và bởi vậy nếu ai đó chứng minh được giả thuyết này sẽ giải quyết được định lý cuối cùng của Fermat. Dẫu vậy, vấn đề vẫn không đơn giản hơn đi chút nào. “Andrew Wiles có lẽ là một trong số ít người trên Trái đất đủ can đảm để mơ ước rằng ông có thể tiến lên và chứng minh giả thuyết này, “ Ribet trả lời phỏng vấn trong bộ phim tài liệu của BBC vào năm 1996.

Định lý cuối cùng của Fermat cũng có liên hệ với một kết quả sâu sắc khác trong lý thuyết số, có tên gọi là giả thuyết abc, Rognes bình luận. Nhà toán học Shinichi Mochizuki ở Viện nghiên cứu Toán học, Đại học Kyoto, Nhật Bản đã khẳng định rằng ông đã chứng minh giả thuyết này vào năm 2012, mặc dù bản nháp chứng minh dài 500 trang của ông vẫn đang được bình duyệt bởi các đồng nghiệp. Một số nhà toán học nói rằng công trình của Mochizuki có thể cung cấp một cách thức khác để chứng minh định lý cuối cùng của Fermat, mặc dù Wiles nói rằng ông vẫn hoài nghi về kỳ vọng đó.

Wiles đã giúp tổ chức một hội thảo về công trình của Mochizuki ở Oxford, tháng 12 năm ngoái, mặc dù mối quan tâm trong nghiên cứu của ông tương đối khác. Gần đây, ông tập trung nỗ lực vào một giả thuyết mở quan trọng khác trong lý thuyết số, được liệt kê trong danh sách các vấn đề treo giải Thiên niên kỷ của Viện Toán học Clay tại Oxford, Anh. Ông vẫn tiếp tục làm việc chăm chỉ và tư duy về toán học trong hầu hết thời gian thức của mình, ngay cả khi đi bộ đến văn phòng vào buổi sáng. “Ông ấy không muốn đạp xe,” Bridson nói. “Ông nghĩ rằng sẽ tương đối nguy hiểm nếu vừa đạp xe vừa nghĩ về toán học.”

 

Kim Quy st

Xem thêm...

Tủ sách Tuổi Hoa

Tủ sách Tuổi Hoa

Phạm Công Luận

Lớp độc giả miền Nam yêu thích tủ sách này, nay đã bước sang tuổi 50, 60 vẫn còn nhớ những cái tựa gợi cảm, mang đầy âm hưởng gây háo hức. Đó là Mật lệnh U đỏ, Chiếc lá thuộc bài, Khúc Nam Ai, Thiên Hương, Lữ quán giết người... và tên những tác giả Hoàng Đăng Cấp, Minh Quân, Bích Thủy, Kim Hài, Thùy An, Nguyễn Thái Hải... Khi tình cờ thấy lại được một cuốn sách cũ của tủ sách này, tất cả kỷ niệm đẹp đẽ như ùa về, cái thuở trong sáng đầy mơ ước hướng thiện.

Nhà xuất bản Tuổi Hoa với tủ sách Tuổi Hoa, chủ biên là ông Nguyễn Trường Sơn khai sinh, nuôi dưỡng và phát triển tủ sách này. Bước ban đầu, tủ sách này in vài quyển, “hình thức cố cho sạch sẽ, nội dung là để giải trí lành mạnh, các em tuổi 14 đến 16” (trả lời phỏng vấn của báo Bách Khoa).

Lúc đầu là sách của nhà văn Nguyễn Trường Sơn, cuốn Con tàu bí mật và sách của vài người bạn thân. Sau khi in được tám quyển đầu, tủ sách nhận được nhiều thư của các bậc phụ huynh khích lệ và được các độc giả nhỏ tuổi rất thích. Đến năm 1962, bán nguyệt san Tuổi Hoa được phép phát hành và sau đó Tủ sách Tuổi Hoa ra đời.

Tuy nhiên, lúc đầu tủ sách chỉ đủ sức cho ra rải rác một số quyển. Theo nhà văn Nguyễn Trường Sơn trả lời trên báo Bách Khoa, đến năm 1966 - 1967, được sự hỗ trợ và khuyến khích của nhà văn Minh Quân, tủ sách ra sách đều đặn hơn, trung bình mỗi tháng một cuốn. Lúc đầu, mỗi cuốn in 3.000 bản bán không hết, sau in tới 5.000 bản/cuốn và bán ngon lành. Giá bán từ 30 đồng, cao nhất là 60 đồng. Nhiều người lấy làm lạ vì số trang nhiều, in đẹp, bìa offsette tươi rói mà sao bán giá rẻ vậy. Tuy vậy, người hưởng lợi nhiều nhất là nhà phát hành hưởng chiết khấu tới 45%, không khác chi hiện nay.

Sách Tuổi Hoa chia làm ba loại: Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím. Hoa Đỏ là loại sách trinh thám, phiêu lưu, mạo hiểm. Hoa Xanh thuộc loại tình cảm nhẹ nhàng. Hoa Tím đã xuất hiện tình cảm giữa nam nữ một cách trong sáng dành cho tuổi từ 16 đến 18. Biểu trưng của tủ sách là bông hoa tám cánh do họa sĩ Vi Vi vẽ. Nhà văn Nguyễn Trường Sơn tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, nên rất chú ý đến tính mỹ thuật của các ấn bản. Với “bút lực” của họa sĩ Vi Vi ngày càng phát triển, bìa các cuốn sách Tuổi Hoa ngày càng đẹp rực rỡ. Về nội dung, có sự hỗ trợ rất lớn của nhà văn Minh Quân từ việc quan trọng nhất là khai thác bản thảo, như giới thiệu nhà văn Nguyễn Hiến Lê viết cho tủ sách này (cuốn Bí mật dầu lửa) và mời một nhà phê bình kiếm hiệp viết truyện kiếm hiệp để “đả” loại kiếm hiệp hoang đường đang hoành hành lúc đó.

Lúc đầu, Tủ sách Tuổi Hoa có một số cuốn được viết theo dạng “phóng tác”, tức là dựa vào một cuốn tiểu thuyết nước ngoài và Việt hóa từ nhân vật cho đến bối cảnh trong truyện (Phải chăng đó là cách thức để hình thành những bản thảo khi đội ngũ viết cho tủ sách ban đầu hầu như không phải là nhà văn chuyên nghiệp?). Ví dụ như truyện Thiên Hương phỏng theo truyện Tombée du Ciel của Henry Winterfell, truyện Pho tượng rồng vàng phóng tác theo một truyện trinh thám của nước ngoài.

Nhà văn Kim Hài và nhà văn Thùy An (học chung một lớp tại Trường trung học Phan Chu Trinh, Đà Nẵng, sau đó cùng Khoa Địa chất, Đại học Khoa học Huế) cùng bắt đầu cộng tác với Tuổi Hoa cũng từ khâu “phóng tác” một tác phẩm của nước ngoài. Cuốn sách đầu tiên của hai chị ra đời mang tên Nắng lụa, ký tên Dạ Thanh, với bối cảnh xảy ra ở Huế. Nhuận bút cuốn đó trị giá ngang một lượng vàng. Sau đó, chị Kim Hài tiếp tục viết cuốn Khúc Nam Ai, lấy cảm hứng sau khi đọc một cuốn truyện dịch của chủ bút Nguyễn Trường Sơn đưa xem. Đó là lúc chị bắt đầu muốn viết những điều mình ấp ủ và trải nghiệm. Từ đó, ông Nguyễn Trường Sơn không đưa cho chị phóng tác bất cứ truyện dịch nào nữa mà chỉ nói “Kim Hài viết đi!”.

Nhà văn Thùy An trong năm 1970 viết cuốn truyện đầu tay là Vùng biển lặng (Tủ sách Hoa Xanh) và Hoa bâng khuâng (Hoa Tím). Từ đó, chị viết tất cả 9 cuốn sách cho tủ sách này cho đến năm 1975 như: Mây trên đỉnh núi, Hoa nắng (Hoa Xanh), Hoa bâng khuâng, Con đường lá me, Chân dung hạnh phúc, Như nắng xuân phai, Vườn cau nước dâng, Tiếng dương cầm. Nhà văn Kim Hài viết tổng cộng 7 cuốn cho tủ sách này, từ cuốn Khúc Nam Ai (1971), sau đó là Người dưng khác họ (Hoa Xanh), Cánh gió, Gợn sóng (Hoa Tím)...

Khoảng đầu thập niên 1970, nhờ các tác giả trẻ xuất hiện trong tủ sách và có sự đóng góp của một số nhà văn nổi tiếng, uy tín tủ sách ngày càng vững vàng. Tủ sách như một sân chơi tâm huyết cho những nhà văn, nhà giáo muốn dẫn dắt lứa độc giả nhỏ tuổi bước vào cuộc sống với lòng yêu thương dành cho cuộc sống, người thân, bạn bè và lớn hơn cả là tình yêu quê hương đang trong khói lửa chiến tranh.

Mùa hè 2015, nhà văn Nguyễn Trường Sơn, người anh cả sáng lập, điều hành và cũng là tác giả Tủ sách Tuổi Hoa đã từ trần tại Hoa Kỳ, hưởng thọ 98 tuổi.

 

Tác giả Thùy An năm 17 tuổi         và     nhà văn Nguyễn Trường Sơn - Ảnh: T.L
 
 

Phạm Công Luận

(Trích Sài Gòn, chuyện đời của phố tập 3)

˜*•. ˜”*°•.˜”*°••°*”˜.•°*”˜Kim Kỳ st ˜”*°•.˜”*°••°*”˜.•°*”˜ .•*˜

 

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này