Văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật (1196)

Find out the latest local and worldwide news.

Children categories

Thơ

Thơ (23)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Âm nhạc

Âm nhạc (122)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...
Truyện

Truyện (218)

Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipiscing elit. Sed id auctor orci. Morbi gravida, nisl eu bibendum viverra, nunc lectus.

Xem bài viết...

Hoa Ký Ức

Hoa Ký ức 
Với những ai từng sinh ra và lớn lên tại những vùng quê, hoa cỏ may là một phần không thể thiếu trong tuổi thơ chăn trâu cắt cỏ ngoài đồng. Hãy cùng chúng tôi phiêu du về những miền ký ức xa xăm với những bông cỏ may các bạn nhé...
Không màu sắc sặc sỡ, không có hương thơm ngào ngạt dụ ong bướm vây quanh, hoa cỏ may vẫn vươn lên mạnh mẽ giữa đất trời, khoe màu sắc của hương đồng gió nội. 

Có những loài hoa tươi và cây cỏ chỉ cần nhắc đến tên gọi thôi cũng đủ để kéo con người ta trở về với những hoài niệm, bông cỏ may chính là một trong số đó. Nếu tìm về những vùng nông thôn của Việt Nam, chúng ta dễ dàng bắt gặp loài cây này đang đung đưa theo gió quanh những bờ ruộng và triền sông vắng, gợi lên nhiều cảm xúc khó gọi tên.

Là một loài cây dại tưởng chừng không có giá trị, nhưng hoa cỏ may lại để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí của nhiều người. Và loài hoa này cũng mang trong nó khá nhiều ý nghĩa mà không phải ai cũng đã biết đến.

Loài hoa này luôn gợi nhớ về những ký ức thuở xa xưa, lúc còn rong chơi cùng nhau trên những cánh đồng đầy nắng và gió. Tuổi thơ của bất cứ ai cũng đầy hồn nhiên trong trẻo, khi những gánh nặng cơm áo gạo tiền vẫn chưa đè nặng lên vai. Chính vì vậy, bông cỏ may được nhiều người nhắc đến với ý nghĩa tượng trưng cho những điều nhỏ bé và tốt đẹp trong cuộc sống.

Bên cạnh đó, sự tích của bông cỏ may nhắc nhớ đến chuyện tình duyên đầy trắc trở của nàng thiếu nữ con nhà quyền quý với một chàng trai nghèo. 

Ngày xửa ngày xưa, tại một ngôi làng nọ có đôi trai gái yêu nhau rất thắm thiết. Nàng xinh đẹp, là con gái của một gia đình giàu có, một tiểu thư khuê các, còn chàng chỉ là anh đốn củi nghèo, mồ côi sống trong túp lều tranh xơ xác.  Có không ít những người môn đăng hộ đối muốn cùng nàng “kết tóc xe tơ”, nhưng nàng chẳng cảm mến ai, vì trọn con tim đã gửi cho chàng trai chăm chỉ, thật thà, tốt bụng.

Mối tình của họ không được chấp thuận, bố mẹ nàng đuổi chàng ra khỏi làng. Vì quá yêu nhau, họ bàn bạc đi đến một nơi thật xa, nơi không ai biết để cùng làm ăn sinh sống. Chàng sẽ cày cuốc thuê, nàng ở nhà trồng rau, dệt vải. Họ chấp nhận cơ cực để được sống bên nhau trọn đời.

Nhưng cuộc sống cơ cực đã biến nàng từ một tiểu thư khuê các thành người đàn bà lam lũ. Nhìn người vợ trẻ rất mực yêu quý phải vất vả đầu tắt mặt tối, chàng không an lòng.  Hàng đêm chàng tự dày vò, trách cứ bản thân đã không đem lại được cuộc sống đầy đủ cho vợ. Nỗi day dứt khiến chàng quyết chí ra đi làm giàu. Chàng để chút vốn liếng ít ỏi còn lại đỡ đần người vợ trẻ rồi ra đi, hẹn một năm sau trở về với cuộc sống đầy đủ, khá giả hơn.

Người con gái ở nhà dệt đan, trồng rau, nuôi trong mình niềm tin, niềm hy vọng mãnh liệt chàng sẽ trở về. Một năm, hai năm, rồi ba năm…thời gian cứ đằng đẵng trôi đi, nàng vẫn không nhận được tin tức của chồng. Nỗi nhớ nhung cùng niềm mong mỏi làm nàng ngày càng trở nên xơ xác, héo hon. Tình yêu, niềm tin vào người chồng thật thà, tốt bụng khiến nàng quyết định đi tìm chàng với ước mong về một ngày mai đoàn tụ.

Nàng ra đi, đi đến đâu cũng hỏi về tung tích người chồng yêu quý. Biển người mênh mông bao nhiêu, đất trời rộng lớn bao nhiêu cũng không làm người con gái ấy nản lòng. Tình yêu vẫn luôn thường trực và bùng cháy trong sâu thẳm trái tim, một trái tim khát khao kiếm tìm hạnh phúc.

Thế nhưng tình yêu, niềm tin và hy vọng của nàng cuối cùng chỉ đổi lại bằng những cái lắc đầu, xua tay. Nàng cứ đi, đi mãi, cho đến một ngày mệt quá xỉu lúc nào không hay. Nàng nằm xuống, trong lòng vẫn đau đáu nỗi niềm chờ mong, hy vọng.

Cảm kích trước tình yêu son sắt thủy chung của người vợ trẻ, sau khi nàng chết, Ngọc Hoàng đã hóa phép biến nàng thành một loài hoa cỏ, loài hoa cỏ màu tím bàng bạc, có sức sống mãnh liệt giống như tình yêu thủy chung của nàng.  Chị gió tốt bụng cảm động trước tấm chân tình của người con gái đã đem loài hoa cỏ ấy đi khắp mọi nơi trên các nẻo đường gần xa.

Dù cho người con gái ấy không còn nữa, nhưng tình yêu của nàng thì bất diệt cùng tháng năm, để rồi mỗi lần có khách đi đường ngang qua, nàng vẫn cố gắng níu bám vạt áo họ để hỏi thăm tin tức về chồng.

Hoa cỏ may sắc nhọn, nhức nhối một nỗi niềm đau của tình yêu trong xa cách.   Câu chuyện có cái kết thật buồn với cái chết của cô gái nọ, và một loài cỏ dại đã mọc lên trên mộ phần của nàng mang theo nỗi nhớ theo gió gửi đến muôn phương. Chính vì vậy, hoa cỏ may còn có ý nghĩa thể hiện sự thương nhớ và tiếc nuối về những chuyện tình yêu không được trọn vẹn.

Bên cạnh ý nghĩa nhắc nhớ về những chuyện tình không được trọn vẹn, loài hoa này còn muốn nhắn nhủ đến tất cả những người đang yêu, rằng khi đã yêu hãy cố gắng hết sức mình để có thể hạnh phúc bạc đầu bên người mình yêu. Đừng như bông cỏ may kia, suốt đời phải cô đơn lẻ bóng để ngóng trông về một cuộc tình không biết đâu là ngày trở lại…

..."Ngọn cỏ lau bềnh bồng nương gió
Bầu trời thơ hơi thở thơm tho
Trót mang cái tuổi dại khờ
Ôm đồm khoảnh khắc bơ vơ chân mềm"...
 
(Tự tình cỏ lau, - Thiên Ân)
 

Loài hoa từng ám ảnh chàng thi sĩ chân quê đa tình Nguyễn Bính thuở nào:

“Lòng anh như hoa cỏ may

Một chiều cả gió bám đầy áo em”.

Và một nữ sĩ nữa từng viết: “Cho tôi làm cỏ may để giữ người yêu lại” …Tất cả những hình tượng trong thơ đã để lại trong tôi những xốn xang, bồi hồi đến kỳ lạ.

Cỏ may vẫn nở ven đê

Khâu vào thương nhớ lời thề ngày xưa

Hoàng hôn lỡ chuyến đò đưa

Chiều nay cơn gió trở mùa rưng rưng

 

Nếu ai đó đã từng thực sự một lần đứng giữa đồng cỏ may, thật sự tận hưởng vẻ đẹp, mùi hương của loài hoa nhỏ bé ấy thì mới thực sự biết rằng hoa cỏ may cũng đẹp và thơm không kém gì các loài hoa kiêu sa khác, mùi thơm dịu dịu thoang thoảng mà chỉ có ai thực sự muốn mới cảm nhận được.

Chân thành cảm ơn nhiếp ảnh gia Trần Đào Khôi đã ghi lại những khoảnh khắc thật đẹp của bộ ảnh Hoa Cỏ May này.

-Trần Phương Tuyền

 

 
Xem thêm...

Phúc và Đức

Hương các loài hoa thơm.
Không bay ngược chiều gió.
Nhưng hương người đức hạnh.
Ngược gió khắp tung bay.
 
 
Gương mặt chính là tấm gương phản chiếu tâm hồn và hành động của mỗi người.
 

    Phúc Và Đức    

Bản thân mỗi người được tồn tại trên đời, được hạnh phúc hay gặt hái được nhiều thành công hơn người khác ... tất cả đều do Phúc Đức mà ra. Phúc đức càng nhiều thì vật chất càng đầy đủ, tinh thần càng thoải mái và luôn đứng ở vị thế cao hơn những người khác. Phúc đức là một lá chắn bảo vệ chủ nhân, là một siêu năng lực mang đến may mắn. Khi có biến cố, lập tức phúc đức phát huy sức mạnh của mình, hóa giải tai ương, mang đến sự bình an cho chủ nhân.

  Phúc đức được chia làm hai phần, Phúc và Đức  

Phúc được tích lũy từ quá trình ăn ở của các bậc tiền bối có chung huyết thống với mọi người. Ông bà, cha mẹ, Tổ tông sẽ là người tạo ra phúc truyền lại cho con cháu, do đó mới gọi là hưởng phúc.

Còn Đức lại được tích lũy từ chính quá trình sống hằng ngày của bản thân mỗi người và được cộng dồn lại để chuyển phúc cho đời tiếp theo. 

Đức là do chính bản thân mỗi người tạo ra, vì thế người ta mới gọi là tích đức. Phần Phúc sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của một người trước 30 tuổi, và phần Đức sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống từ 30 tuổi cho đến lúc chết và đời con cháu tiếp theo. 

Con số 30 là cột mốc quan trọng của đời người, con số này đánh dấu sự chín chắn, sự trưởng thành. Do đó tuổi 30 người ta gọi là tuổi lập thân, là độ tuổi tôi phải có trách nhiệm với cuộc đời của chính mình và không còn bị ảnh hưởng từ gia đình. 

Có những người may mắn được sinh ra trong một gia đình có đạo đức, ông bà cha mẹ là người thiện lương nên phần phúc của người này rất nhiều. Vì thế, trước tuổi lập thân, người này sẽ vô cùng may mắn. Nhưng từ 30 trở đi, cuộc đời và số mệnh của người này sẽ phải chịu ảnh hưởng của phần Đức. 

Trong quá trình sống trước đó nếu người này tử tế, sống lương thiện thì phần đời còn lại cũng sẽ được thành công và yên bình, còn không thì bắt đầu từ giai đoạn này họ sẽ phải trả giá cho những gì mình đã làm. Người ta gọi đó là nghiệp chướng, nếu phần nghiệp chướng này quá nhiều, nó sẽ được truyền lại cho đời sau.

Đó là lý do giải thích cho việc tại sao nhiều những người ăn ở bất lương nhưng vẫn có thể thành công trong cuộc sống. Có điều nếu những người này không biết tích đức cho mình thì đến một lúc phần phúc mất đi sẽ còn lại phần nghiệp, lối sống có đức thì phần đức này sẽ hóa giải nghiệp chướng còn không thì tai họa bắt đầu ập đến từ đây.

Nếu bạn cảm thấy bản thân kém may mắn do không được hưởng phần phúc thì chúng ta vẫn còn lại phần đức để tự cứu lấy chính mình. Phúc không thể được sinh sôi hay tạo thêm vì nó đã được mặc định ngay từ khi bạn sinh ra, nhưng phần Đức thì không có giới hạn, bạn càng làm nhiều điều tốt, sống càng lương thiện thì Đức càng được tích trữ nhiều . 

PHÚC ĐỨC NHIỀU HAY ÍT CÓ THỂ NHÌN THẤY TRÊN GƯƠNG MẶT | CỔ NHÂN XƯA -  YouTube

Cuộc đời một nửa là do số mệnh an bài nhưng một nửa còn lại vẫn nằm trong tay chúng ta

Ông trời có đức hiếu sinh, không triệt đường sống của ai bao giờ, chỉ có chúng ta tự đẩy mình vào vực thẳm mà thôi.

Phúc Đức là một dạng sức mạnh tâm linh, một dạng siêu năng lực bảo vệ mỗi người. Người hơn người một phần là do tài năng nhưng phần nhiều là do cách sống đã tạo ra Phúc Đức khiến người khác tôn trọng họ. Tiền bạc và địa vị khi chết sẽ không thể đem theo nhưng Phúc Đức hay Nghiệp Chướng sẽ được truyền từ đời này qua đời khác. 

Phúc đức bị tiêu trừ khi Nghiệp chướng xuất hiện và Nghiệp Chướng sẽ được hóa giải khi Phúc Đức được tích lũy. Mỗi người đều đang cầm trên tay một thanh gươm báu xử dụng vào việc tạo Phúc hay tạo nghiệp.

Nghiệp là do chúng ta quyết định bởi mọi việc chúng ta làm không chỉ ảnh hưởng đến mỗi mình mình mà còn ảnh hưởng tới rất nhiều người khác. Số mình có tốt hay xấu ở nửa đời người còn lại là do chúng ta định đoạt.

Chúng ta không thể chọn cách bắt đầu, nhưng kết thúc đều do mỗi người định đoạt.

 

Lão Tử: Phúc đức sinh ra bởi biết đủ, tai họa sinh ra bởi lòng tham

Cổ nhân cho rằng, người biết đủ luôn là người giàu có và hạnh phúc. Không những thế, người biết đủ còn biết điểm dừng và họ không cố gắng làm mọi cách để thỏa mãn dục vọng, lòng tham của bản thân. Vì vậy, người biết đủ cũng sẽ không bị tủi nhục và tránh được tai họa về sau. Đây cũng là điều Lão Tử đề cập tới trong Đạo đức kinh.

“Đạo đức kinh” là quyển sách do Lão Tử viết ra vào khoảng năm 600 TCN, trong đó có rất nhiều chương Lão Tử đề cập đến tư tưởng “biết đủ”.

Trong chương thứ 30 của “Đạo đức kinh”, Lão Tử viết: “Tri túc giả phú”, tức là người biết đủ là người giàu có.

Trong chương thứ 44, Lão Tử cũng viết nhắc đến biết đủ: “Thậm ái tất đại phí; đa tàng tất hậu vong. Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi, khả dĩ trường cửu”, tức là yêu nhiều ắt sẽ tổn nhiều, chứa nhiều ắt sẽ mất nhiều, phải biết thế nào là đủ, đừng quá tham lam để tránh tủi nhục về sau, biết dừng lại thì sẽ không gặp nguy và có thể trường cửu.

Tư tưởng biết đủ này lại được Lão Tử nhắc đến trong chương 46 của “Đạo đức kinh”: “Họa mạc đại vu bất tri túc; cữu mạc đại vu dục đắc. Cố tri túc chi túc, thường túc hĩ”, tức là không họa nào lớn bằng không biết đủ, không hại nào lớn bằng ham muốn có được, cho nên biết cho mình là có đủ thì sẽ luôn luôn đủ.

Nội hàm tư tưởng “biết đủ” của Lão Tử

Tư tưởng biết đủ của Lão Tử bao hàm rất nhiều ý nghĩa khác nhau. “Biết đủ” là cầu bên trong mà không cầu bên ngoài, là theo đuổi bản tính chất phác và sự dồi dào về tinh thần. “Tri túc giả phú”, người biết đủ là người giàu có.

Vương Bật thời Tam Quốc là người chú giải “Đạo Đức Kinh”, ông viết: “Tri túc giả, tự bất thất, cố phú dã”, nghĩa là người biết đủ do không mất mà luôn giàu có. Người biết đủ sẽ không bị lòng tham vật chất quấy nhiễu, khống chế mà bị nhiễu loạn.

Trong một đoạn chú giải khác về “Đạo Đức Kinh”, Vương Bật còn viết: “Thiên hạ có câu, người biết đủ sẽ biết dừng lại. Họ không cầu ở bên ngoài mà chỉ tu nội trong mình mà thôi.” Tư tưởng này cũng là nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo đuổi sự giàu có về mặt tinh thần.

Danh lợi và tiền tài là vật ngoài thân, là thứ không thể nắm giữ được mãi, truy cầu và chiếm giữ quá nhiều thì nhất định cũng sẽ mất đi nhiều. Theo lời chú giải “Đạo Đức kinh” của Vương Bật: “Thậm ái tất đại phí; đa tàng tất hậu vong. Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi, khả dĩ trường cửu”, tức là yêu nhiều ắt sẽ tổn nhiều, chất chứa nhiều ắt sẽ mất nhiều, biết đủ thì không nhục, biết dừng lại thì không nguy, có thể trường cửu. Bởi vậy, con người ta chỉ nên có một phần danh lợi trong mức độ, không nên chiếm giữ quá nhiều, phải biết đủ thì mới được lâu dài.

Có thể nói, nhược điểm lớn nhất của nhân tính là lòng tham không đáy, vĩnh viễn không thấy đủ. Một người chỉ có thể “thời thời luôn thấy đủ” khi người ấy phải giảm bớt ham muốn, phải biết hài lòng và thỏa mãn. Bởi vậy, Vương Bật đã nói: “Không có dục vọng mà biết đủ” và “Thuận theo tự nhiên mà biết đủ”.

Đối với những người thống trị mà nói, dục vọng rất nhiều khi tạo thành tai họa lớn. Cho nên, những người này phải tu dưỡng tâm biết đủ để khống chế ham muốn của bản thân. Như vậy thì vạn vật và thiên hạ mới có thể tự nhiên an ổn.

Không biết đủ là nguyên nhân gây ra họa

Lão Tử vô cùng coi trọng tư tưởng biết đủ. Ông cho rằng, tư tưởng biết đủ có thể quyết định vinh nhục, sống chết, họa phúc… của mọi người. Không chỉ thế, Lão Tử còn dùng “biết đủ” để phân biệt người giàu và người nghèo trong xã hội. Một người nếu biết đủ thì những yếu tố khách quan như tiền tài, của cải… cho dù là không nhiều lắm nhưng họ vẫn có thể tự nhận mình là người giàu có.

“Người biết đủ là người giàu có”, “Sự giàu có lớn nhất là khi biết đủ”. Bởi vì người biết đủ thì luôn không thấy thiếu thốn gì, không thiếu thốn gì thì được xem là giàu có. Trái lại, người không biết đủ thì cho dù có nhiều những yếu tố bên ngoài như tài phú nhưng vì lòng tham không đáy mà có thể gây ra tai họa lớn. Từ điểm này có thể thấy, Lão Tử cho rằng một người giàu hay nghèo là được quyết định bởi “biết đủ” hay “không biết đủ”.

Trong cuốn “Hàn thi ngoại truyện” viết: “Phúc sinh ra bởi vô dục mà tai họa sinh ra bởi ham muốn. Biết đủ thì sẽ giàu có, người tham lam của cải mà không biết dừng thì tuy có thiên hạ cũng không gọi là giàu.”

Lão Tử thông qua tư tưởng biết đủ để răn người đời, đặc biệt là người nắm giữ quyền lực. Con người ta phải biết đủ khi đứng trước tài vật. Nếu một người không thể làm được điều ấy thì khi tham dục vượt quá hạn độ nhất định rồi thì tất nhiên sẽ tự rước lấy nhục. Người ấy sẽ gặp phải tổn thất to lớn và nghiêm trọng về phương diện vật chất, địa vị xã hội và tinh thần.

Vào triều đại nhà Minh, có một vị tiên sinh dạy học, gia cảnh bần hàn nhưng mỗi ngày đều dâng hương bái lễ, cảm tạ trời xanh ban phúc. Vợ của ông nghĩ mãi mà không hiểu, liền hỏi: “Một ngày ba bữa đều là húp cháo loãng, sao có thể tính là hưởng phúc?”

Vị tiên sinh này trả lời: “Sống ở nơi thái bình, không có chiến sự thảm họa, đó là cái hạnh phúc lớn nhất. Hàng ngày có quần áo mặc, có cái ăn, không đến mức đông chịu lạnh, đói không có gì ăn là hạnh phúc lớn thứ hai. Trong người không có bệnh tật, không có tai họa, trong lao ngục không có tù nhân là cái hạnh phúc lớn thứ ba. Chúng ta có cả ba thứ ấy rồi chẳng phải là phúc sao?”

Nhiều người nhìn vị tiên sinh này thường cho rằng ông không thành công, nhưng ông lại tự thấy mình hạnh phúc. Bởi vì trong lòng ông biết đủ, niềm hạnh phúc của ông đến từ góc độ tương đối. Một người biết đủ ở phương diện công danh lợi lộc có thể không thành công như người khác nhìn vào nhưng họ sẽ luôn vui vẻ, hạnh phúc mà không để tâm đến việc đó. “Biết đủ” chính là cách nắm giữ hạnh phúc trong tay.

Nguồn: https://tonggiaophanhue.net/

      Bài sưu tầm     

Người biết đủ là người giàu có và hạnh phúc nhất
 
Xem thêm...

Nhớ bài tình ca cho Giáng Sinh cuối của nhạc sĩ Việt Dzũng

Nhớ bài tình ca cho Giáng Sinh

cuối của nhạc sĩ Việt Dzũng

  

Nhạc sĩ Việt Dzũng mất khi chỉ còn vài ngày nữa là đến đêm Giáng Sinh, bỏ lỡ những cuộc hẹn trước với bạn bè, không kịp nói lời chia tay. Anh mất vào ban mai ngày 20 tháng Mười Hai, năm 2013. Buổi sáng định mệnh ấy, khi những người thân loan tin cho nhau, không ai tin được. Mọi người sửng sốt hỏi lại dè dặt, vì biết đâu có thể đó là một trò đùa nào đó ngày thường của Việt Dzũng chăng?

Giống như một trò đùa của tạo hóa. Mới đêm hôm trước anh còn ngồi với những người bạn trẻ, anh còn nói về ước mơ của mình, nếu như có một ngày mai khác ở Việt Nam, anh sẽ về làm đài phát thanh, một trong những nghề mà anh thành danh trước khi đến Hoa Kỳ. Nhắc đến Giáng Sinh, anh hát không đàn cho mọi người nghe vài câu trong bài Noel Rồi, Đừng Hờn Anh Nữa, Bé Ơi. Bài tình ca Giáng Sinh này, anh viết năm 1999 và tự mình hát theo yêu cầu của Trung Tâm sản xuất, cùng với các danh ca như Duy Quang, Khánh Ly… Đây cũng có lẽ là bài hát về Giáng Sinh duy nhất của anh, lọt về Việt Nam trong những ngày tháng còn đầy những khó khăn về kiểm duyệt văn hóa. Trên Youtube, những khán giả thời thanh xuân cùng anh đã ghi lại nhiều cảm xúc của mình khi nghe lại. Một trong những comment, của một người có tên Ngọc Anh, viết rằng “anh ấy đã ra đi mãi mãi rồi mong cho linh hồn anh dưới đây được an nghỉ trong Chúa. Amen.”

 

Việt Dzũng đã rời khỏi cuộc chơi trần gian 9 năm, nhưng tiếng hát và hình ảnh của anh vẫn đọng lại trong rất nhiều người, bao gồm trong cả âm nhạc và lý tưởng sống. Tháng 4 năm 1975, anh cùng bà ngoại đi ra biển tìm một cuộc sống mới, và cập cảng Singapore.  Sau đó anh chờ định cư nước thứ ba ở trong trại tỵ nạn Subic, Phi Luật Tân.

Năm 1993, nhạc sĩ Việt Dzũng bước vào một lĩnh vực khác là truyền thanh. Sự cách tân, thoát khỏi phong cách truyền thông nghiêm nghị và một chiều của radio đã làm cho nhiều người thích thú: Việt Dzũng xem buổi truyền thanh như một cuộc trò chuyện gia đình với khán giả, vui cười và gần gũi. Phong cách này đã tác động lớn đến khối truyền thanh của người Việt hải ngoại. Bằng lối nói chuyện vui và không ngại trêu ghẹo người đối diện khiến khán giả lẫn người được phỏng vấn đều thích thú. Nhạc sĩ Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được gần như toàn bộ ca nhạc sĩ hải ngoại như Chế Linh, Thái Thanh, Hà Thanh, Văn Phụng, làm thành một kho dữ liệu văn nghệ vô cùng sống động và quý giá. Người được coi là khép kín và khó tiếp cận nhất là ca sĩ Ngọc Lan, cũng đã đồng ý thực hiện một talkshow trên đài VOA với Việt Dzũng, vào tháng 10 năm 1994.

Nguyễn Ngọc Quang - Executive Producer of album Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982)

Recorded at Manna Audio Productions Agency (audio recording and music) in Holdrege, Nebraska

Bài hát cuối về Giáng Sinh mà những người bạn của nhạc sĩ Việt Dzũng ở Little Saigon được nghe anh Dzũng hát, là nm trong số gần 500 bài hát đủ thể loại của anh. Đặc biệt khán giả ghi nhớ là hai album Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982). Những bài hát như Một chút quà cho quê hương, Lời Kinh đêm không chỉ là những bài hát khiến nhiều thế hệ người Việt lặng nghe trong tâm cảm mà còn là những bài sử ca về một giai đoạn đau thương của người Việt Nam. Tên tuổi của Việt Dzũng còn gắn liền với phong trào của Hưng Ca, cùng với người sáng lập là ca sĩ Nguyệt Ánh. Ít ai biết Việt Dzũng được cha của ca sĩ Nguyệt Ánh là ông Đại tá Nguyễn Văn Y (1922-2012) nhận làm con nuôi. Ông Y nguyên Tổng Giám Đốc Cảnh sát Công an Đô Thành Sàigòn kiêm Đặc ủy trưởng Trung Ương Tình báo. Phong trào âm nhạc chính trị Hưng Ca  với sự có mặt của Việt Dzũng đã phát triển rộng khắp nhiều quốc gia và trở thành làn sóng sinh hoạt âm nhạc mạnh nhất, cho đến nay chưa có đối thủ.

 

Tháng Tư 1985, Ca sĩ Nguyệt Ánh (Sao đành xa em, Em vẫn mơ một ngày về, Trả ta sông núi, Biển Đông dâng sóng tự do…) khi xướng Phong trào Hưng Ca Việt Nam tại Washington DC và Houston, Hoa Kỳ. Từ đó lan đi Canada, Hòa Lan, Úc… Những gương mặt đầu tiên trong đó Hà Thúc Sinh là trưởng đoàn, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng, Châu Đình An, Huỳnh Công Ánh, Khúc Lan, Trần Lãng Minh, Tuấn Minh, Nguyễn Hữu Nghĩa, và Phan Ni Tấn. Phong trào lặng dần kể từ khi sức khỏe của nhạc sĩ Việt Dzũng và Nguyệt Ánh yếu đi, không còn đi lưu diễn nữa, kể từ sau năm 2015.

Nhạc sĩ Việt Dzũng (Ảnh: Dân Huỳnh/Người Việt)

Nhạc sĩ Việt Dzũng ghi dấu ấn lớn trong lòng người Việt, và mãi mãi với các chương trình ca nhạc của Trung tâm Asia, mà ông tham gia với vai trò người dẫn chương trình từ năm 1996. Sự có mặt của ông cùng lời dẫn là một thái độ chính trị khác biệt và dứt khoát, khiến thu hút hàng triệu người đồng chí hướng. Trên các chuyến xe đò đi liên tỉnh vào ban đêm tại Việt Nam, giới tài xế vẫn im lặng phát các bản đĩa video của Trung tâm Asia, bất chấp là nội dung có thể bi gây khó, đơn giản vì khán giả vẫn yêu thích và yêu cầu. Năm 2006, Bộ Văn Hóa Thông Tin Việt Nam buộc phải ra lệnh riêng, chấm dứt không được phát các bản ca nhạc của Trung Tâm Asia, và tối thiểu thì phải cắt toàn bộ phần giới thiệu và trò chuyện của Việt Dzũng và Nam Lộc.

Nhạc sĩ Việt Dzũng có vô số người hâm mộ, quen biết hoặc bạn bè. Thế nhưng với một ít người chung quanh mà anh có thể tâm tình, anh nói mình cảm thấy cô đơn khủng khiếp. Là một người Công giáo lý trí, anh hầu như không đi nhà thờ nhưng viết và hát rất nhiều về Chúa. Một tháng trước khi mất, anh liên tục bảo ghi âm cho anh hát các bài về Thiên Chúa và cậy mong Chúa dẫn đường. Lúc đó tiếng hát của anh đã khàn, hơi đã yếu nhiều lắm rồi, anh như dự cảm trước những điều sẽ tới. Bác sĩ khuyên anh bỏ thuốc và nghỉ ngơi thì mới có thể sống được. Lúc đó, anh tăng lượng thuốc hút đến hơn 2 gói mỗi ngày. Cứ chốc lát, anh lại châm thuốc như thể nuôi cuộc sống bằng đốm lửa. Anh cười và hỏi đùa bác sĩ “vậy thì tôi sẽ sống trong lành như vậy đến bao lâu?”.

Bác sĩ cũng từng thuyết phục anh dùng mạch máu từ tim heo, để thay cho một số sợi ở tim đã hư hại. Lẽ ra với người thường, thì sẽ được lấy mạch máu từ chân để dùng nhưng đôi chân anh đã khuyết tật từ bé, nên mạch máu không thể dùng được. Anh lại cười, nói với những người quen “Chết, anh không thể đối diện Chúa bằng trái tim heo. Anh không thể cho heo vào tim mình”.

Trước khi mất, vài lần anh đã suýt đi cấp cứu vì mệt bất thường. Chung quanh anh bao giờ cũng có kẹo để mỗi khi vậy, anh ăn vội vào, kịp lấy hơi thở bấm máy gọi cho người quen. Sáng ngày 20 đó, lẽ ra anh sẽ đến phòng ghi âm của đài Radio Bolsa như thường lệ, nơi anh làm việc và cất tiếng chào thính giả, nhưng anh đã nằm lại, không kịp chia tay với ai. Người nhà cố gắng đưa anh nhanh đến bệnh viện Fountain Valley, Orange County, nhưng có lẽ anh đã mệt. Có lẽ anh muốn ngừng cuộc hành trình ở tuổi 55.

Đám tang nhạc sĩ Việt Dzũng là một trong những đám tang hiếm hoi ở miền Nam Califfornia, có đến hàng ngàn người đi viếng và khóc. Nhiều người đã xếp hàng dài để nhìn anh lần cuối ở Good Shepherd Cemetery, thành phố Huntington Beach, miền Nam California. Mọi thứ thật hụt hẩng. Âm nhạc và sinh hoạt cộng đồng sau khi Việt Dzũng ra đi, cũng không còn được như trước. Ngày 1 tháng Năm, 2014, Thượng Viện Tiểu Bang California đã đồng thuận đặt tên cho đoạn xa lộ Highway 39 thuộc Orange County, là Việt Dzũng Human Right Memorial Highway, nhằm tưởng nhớ và vinh danh cho những họat động không mệt mỏi của một người nhạc sĩ tỵ nạn mang tên Việt Dzũng, một cái tên mãi nằm ký ức cộng đồng người Việt ly hương vì tự do trên toàn thế giới.

  Tuấn Khanh (SGN)

  Kim Phượng sưu tầm

Tình Ca Cho Nguyễn Thị Saigon (Việt Dzũng) - YouTube

 

https://www.youtube.com/@VietDzung

Houston, Texas 1979

? Tình ca Việt Dzũng ?

Streamed live on Dec 20, 2022

 
Xem thêm...

Rượu và Thơ

Rượu và Thơ

Nổi tiếng nhất về thơ và rượu là Tản Đà. Trong một bài thơ, Tản Đà kết luận:
 

BM

Trăm năm là một đời người. Cả đời Tản Đà chỉ có thơ và rượu. Vậy nghìn năm trước, ai là người thích rượu yêu thơ?

 

Rượu Và Thơ Của Những Nhà Thơ Trước Tản Đà

 

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)

 

Làm quan dưới triều Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm được phong tước Trình tuyền hầu, kế tới tước Trình quốc công nhưng xin từ quan về quê hưởng nhàn:

 

BM 

Thú vui 4 mùa của Trạng Trình rất đạm bạc và an nhàn:

 

BM

Đời sống tuy thanh đạm nhưng tâm hồn tao nhã với thơ và rượu:

 

BM

(chữ nôm là quốc ngữ  cũ,  tiếng Việt được La tinh hóa là quốc ngữ mới) .

 

Phạm Thái (1777-1813)

 

Cuộc đại thắng giặc Thanh của Nguyễn Huệ khiến triều Lê sụp đổ. Một số cựu thần mưu toan khôi phục nhà Lê nhưng thất bại. Trong số cựu thần có Trạch trung hầu và con là Phạm Thái. Trạch trung hầu chết, Phạm Thái bị truy nã.

 

Nhằm xóa bỏ tung tích, Phạm Thái vào chùa Tiêu sơn để tu dưới tên Phổ chiêu thiền sư. 

 

Giúp an toàn hơn, Phạm Thái được bạn là Trương Đăng Thụ làm quan ở Lạng sơn đón lên cho ẩn náu . Không lâu sau đó Đăng Thụ bị bệnh chết, Phạm Thái về quê bạn để viếng. Tại đây chàng gặp em gái bạn là Quỳnh Như, hai người yêu nhau. Cha nàng cũng là cựu thần nhà Lê: Kiến xuân hầu Trương Đăng Qũy. Cùng là con nhà thế gia vọng tộc, mối tình của chàng và nàng được coi là lý tưởng. Nhưng không ngờ mẹ nàng cương quyết chống đối. 

 

Chàng tuyệt vọng ra đi. Nàng thống khổ sinh bệnh rồi chết.

 

Để tiêu sầu, chàng uống rượu và làm thơ. Tập thơ "Sơ kính tân trang" là lời tự thuật mối tình của chàng và Quỳnh Như. 

 

Tìm quên trong men rượu, chàng trở nên nghiện nặng:

 

BM

Từ nghiện rượu tới buông thả cuộc đời:

 

BM

Rượu đã hủy hoại cuộc đời Phạm Thái ở tuổi 36.

 

Nguyễn Công Trứ (1778-1858)

 

Hoạn lộ của Nguyễn Công Trứ dưới 3 triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trải qua nhiều thăng trầm. Chức tước cao nhất là Binh bộ thượng thư nhưng vì tính bộc trực nên cụ Thượng Trứ bị truất hết chức tước xuống hàng lính trơn.

 

Không bất mãn, cũng không nản lòng, cụ phấn đấu:

 

BM

Tới 71 tuổi cụ mới xin về vui thú điền viên:

 

BM

Cụ hưởng nhàn bằng các cuộc ngao du đó đây:

 

BM

Nguyễn Công Trứ là tiêu biểu của kẻ sĩ nước ta.

 

Cao Bá Quát (.?..-1854)

 

Cao Bá Quát thi đậu cử nhân được quan trường chấm hạng nhì nhưng sau khi duyệt lại quyển văn, bộ Lễ truất xuống cuối bảng.

 

Theo Dương Quảng Hàm (tác giả Việt nam văn học sử yếu), Bá Quát có nhiều ý tứ mới lạ và lời lẽ cao kỳ. Người đương thời khen rằng "văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán" (văn như Siêu và Quát thì không còn nhà Tiền Hán).

 

Nguyễn Siêu là Án sát Hà nội. Bá Quát là giáo thụ phủ Quốc oai. 

 

Có lẽ vì bất mãn, Bá Quát từ quan về quê hưởng nhàn. Ngày nay còn truyền lại tập thơ Chu thần thi tập.

 

Trong một bài hát nói, Bá Quát có câu:

 

BM

(nghĩa 2 câu thơ chữ Hán: núi cao , nước chảy, thơ ngàn trang- trăng sáng, gió mát, rượu một thuyền. Theo Đào Duy Anh, trục là tờ giấy sau khi viết được cuộn lại và cho vào ống tre để gìn giữ).

 

Rượu và thơ được Cao Bá Quát tôn lên thành rượu thánh và thơ thần. Ý tưởng rất mới lạ.

 

Năm 1854 vì nổi loạn, Cao Bá Quát bị bắt và bị xử tử cả 3 họ.

 

Nguyễn Khuyến (1835-1909)

 

Người đương thời gọi Nguyễn Khuyến là Tam nguyên Yên Đổ. Tam nguyên là đỗ đầu 3 kỳ thi. Yên Đổ là tên làng quê của cụ.

 

Khoa thi đời Tự Đức gồm 3 kỳ, sĩ tử phải đậu kỳ 1 mới được vào thi kỳ 2 và phải đậu kỳ 2 mới được vào kỳ 3.

 

Yên Đổ làm quan tới chức Tổng đốc thì từ quan về quê dạy học và hưởng nhàn. Thơ của cụ phần nhiều là tự vịnh và tự trào.

 

Bài thơ Thu ẩm có những câu như:

 

BM

Tuy tửu lượng không nhiều và dễ bỏ nhưng cụ không muốn chừa:

 

BM

Tuy nhiên khi được tin bạn già là cụ nghè Dương Khuê mất, cụ làm thơ khóc bạn, bày tỏ lòng thương tiếc đến nỗi thơ không muốn làm, rượu không muốn uống:

 

BM

Bài thơ chứng tỏ một tình bạn hiếm có.

 

Trần Tế Xương (1870-1907)

 

Trần Tế Xương được người đương thời gọi là Tú Xương vì ông chỉ đậu tú tài, sau đó thi rớt 2 khoa nên bỏ luôn.

 

Thời của ông là thời Ông Đồ ông Cống cũng nằm co nên ông chẳng có nghề nghiệp gì. 

 

Ông làm thơ tự trào, tự nhận mình không biết chữ Tây và quốc ngữ thì chỉ còn cách về quê làm ruộng cũng có ăn và có tiền:

 

BM

Thật sự ông sống nhờ vợ. Mặc dù than nghèo, ông vẫn ăn chơi phóng túng.

 

Tuy vậy có lúc ông mệt mỏi về cuộc ăn chơi của mình:

 

BM

Đối với Tú Xương, rượu đứng hàng thứ...

 

Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939)

 

Quê của Nguyễn Khắc Hiếu ở Sơn tây, nơi có núi Tản viên và sông Đà giang nên ông lấy bút hiệu là Tản Đà.

 

Thuở nhỏ Tản Đà học chữ Hán, đi thi bị rớt nên chuyển sang học quốc ngữ. Tản Đà vừa làm thơ vừa viết văn và dịch Hán văn. Bài của ông gửi đăng trên các báo Bắc và Nam. Ông cũng xuất bản tác phẩm của mình và làm chủ bút Hữu thanh tạp chí và An nam tạp chí.

 

Thơ của Tản Đà được Dương Quảng Hàm khen: có giọng điệu nhẹ nhàng du dương, cách dùng chữ (thường là chữ nôm) và đặt câu uyển chuyển êm đềm khiến người đọc dễ cảm động say mê.

 

Tản Đà ưa uống rượu, rượu đi đôi với thơ như lời tuyên ngôn sau đây:

 

BM

Con người Tản Đà có hai thực thể. Một do cha mẹ sinh ra, biết mưu sinh cơm áo như mọi người. Một thực thể khác do Trời đất sinh ra, chỉ yêu thơ và thích rượu. Có lẽ ý tưởng này xuất xứ từ câu tục ngữ : cha mẹ sinh con, Trời sinh tính (thật ra câu này là lời tự an ủi của những cha mẹ thất bại trong sự uốn nắn con cái).

 

Trong bài thơ khác, ông tái xác nhận:

 

Kiếp say sưđã chm s Thiên đình

Càng đm sc mê thanh càng mi miết

Say lm v: say mt, say mê, say nh, say tít

Trong làng say ai biết nht ai say?

 

Đối với Tản Đà, rượu và thơ tương tác với nhau: rượu khơi nguồn cho thơ, thơ khiến rượu thêm ngon.

 

Rượu và thơ còn đưa tâm hồn nhà thơ thoát khỏi thân phàm tục:

 

BM

Đôi khi Tản Đà cho mình say là hư hỏng nhưng tự bênh vực mình bằng cách nhân cách hóa trái đất và mặt trời:

 

 Say sưa nghĩ cũng hư đi

 Hư thì hư vy, say thi c say 

 Đất say đt cũng lăn quay

 Tri say Tri cũng đ gay, ai cười?

 

Không ai cười trái đất quay vì say và mặt trời đỏ vì rượu. Vậy khi Tản Đà say có gì mà cười?

 

Mặc dù nhà thơ bị vợ phàn nàn rằng say sưa vô ích và khuyên ông nên chừa rượu, nhung ông cứ lần khân:

 

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu hưởng dương 51 tuổi.

 

 

 

Bùi Quý Chiến

 

 Hồng Anh sưu tầm

 

Xem thêm...
Theo dõi RSS này