Thế giới quanh ta

Thế giới quanh ta (593)

TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH (March12,1990 - March12, 2025)

TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH (March12,1990 - March12, 2023)

Sao Mai Hành Khúc

- Liên Trường Quảng Đà Houston 2013

TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH (March 12,1990 - March 12, 2025)

     SAO MAI    
 
 là ngôi sao sáng nhất trên bầu trời, báo hiệu cho sự bắt đầu tốt đẹp, rực rỡ và một ngày mai tươi sáng.
 
 
HD wallpaper: silhouette photo of trees under purple shining star, sky,  mountain | Wallpaper Flare

 ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ ஜ۩ ۩ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬
 
 
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ ஜ۩ ۩ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬
 
 
 

      TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH      

(March 12, 1990/March 12/2025)

 

Đi về nhà Chúa

Đi về nhà Chúa tim con reo hoan lạc Chúa ơi,

đi về nhà Chúa ôi bao nhiêu mến thương ngập trời

Lạy Chúa, đi về nhà Chúa tim con reo hoan lạc Chúa ơi,

đi về nhà Chúa đi về nhà Chúa

Ôi bao nhiêu mến thương ngập trời.

Đi về nhà Chúa như dân xưa đi về Thánh đô.

Đi về nhà Chúa tâm tư con đã bao đợi chờ.

Lạy Chúa ,đi về nhà Chúa như dân xưa đi về Thánh đô.

Đi về nhà Chúa tâm tư con đã bao đợi chờ.... 

 

 ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ ஜ ۩  ۩ ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

 

   Chúa là tất cả đời con. Con là tất cả của Chúa. Vì yêu con Chúa tác sinh muôn loài. Vì yêu con tay Chúa thương an bài. Cho con một đời vui sống thiết tha.

   Chúa là tất cả đời con. Con là tất cả của Chúa. Vì yêu con Chúa chết treo khổ hình. Vì yêu con nên đã quên thân mình. Cho con được làm con Chúa suốt đời. 

   Chúa (Chúa) chính là gia nghiệp đời con (gia nghiệp đời con). Con xin được đáp lại tình yêu (xin được đáp lại tình yêu). 

   Sông nào chẳng đủ miền xuôi. Con người có thủa nằm nôi. Thời gian đưa chiếc lá bay qua rồi. Đời vương vương như áng mây bên trời. Tim con bồi hồi xao xuyến mãi thôi. 

   Ân tình Chúa đủ chẳng vơi. Con nào thấu lòng trời cao. Tình yêu thương vẫn thiết tha tuôn trào. Tình dâng cao trong ngất ngây tâm hồn. Gieo vui một niềm cảm mến vô bờ. 
 
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ ஜ ۩  ۩ ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬
Tưởng nhớ Cha Antôn Vũ Như Huỳnh
▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ ஜ ۩  ۩ ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬
 
Tưởng nhớ và tri ân
Cố Linh mục Antôn Vũ Như Huỳnh

(1990 - 2025)

▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ ஜ ۩  ۩ ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

Tưởng nhớ CHA ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH

▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬ ஜ ۩  ۩ ஜ ▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬

TƯỞNG NHỚ CỐ LM. ANTÔN VŨ NHƯ HUỲNH

(March 12, 1990/March 12, 2025)

Kính Thưa Quý Thầy Cô cùng toàn thể cựu học sinh Sao Mai trên khắp các nẻo đường thế giới,
 
   “Uống nước nhớ nguồn” là đạo lý làm người được đúc kết từ bao đời nay. Đối với học sinh chúng ta, phấn đấu trở thành con ngoan, trò giỏi là cách đền ơn thiết thực nhất với công lao của Cha Mẹ, Thầy Cô và xã hội.
 
   Thấm thoát đã 35 năm trôi qua (1990-2025) kể từ ngày Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh được Chúa thương gọi về. Trong tâm tình thương tiếc, quý mến, chúng ta bày tỏ lòng tri ân đến Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh, Hiệu Trưởng trường Trung Tiểu học Sao Mai Đà Nẵng - Việt Nam từ 1965 đến 1975 .
 
   Chúng ta cùng nhớ về hình ảnh người Cha kính yêu, người Cha đã cho chúng ta trọn niềm vui của thời thanh xuân, của tuổi học trò dưới mái trường thân thương Sao Mai Đà Nẵng. Ở đây, chúng ta đã được Cha cùng quý Thầy Cô hướng dẫn, dạy bảo và luôn đồng hành trên con đường học vấn, để chúng ta có thể tự tin bước vào những cuộc hành trình mới.

   Biến cố lịch sử thăng trầm của đất nước khiến chúng ta phải chia tay nhau mỗi người một hướng theo dòng đời trôi. Sau bao nhiêu năm thất lạc, chúng ta đã có Duyên may được gặp lại nhau trên trang  Góc Nhỏ Sân Trường  yêu thương này để nối kết lại tình Thầy Trò, nghĩa Bạn bè đã một thời bên nhau...


   Và hôm nay,chúng ta cùng hướng lòng về người Cha kính yêu - Cố LM. Antôn Vũ Như Huỳnh nhân ngày Giỗ lần thứ 33.

   Tri Ân - Tiếc Thương và Tưởng Nhớ đến Ngài, chúng con tha thiết nguyện xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho Linh Hồn Cha Cố Antôn qua những công lao sâu nặng Ngài đã dành cho chúng con là đoàn con học sinh của Ngài.

   Chúng con tin tưởng rằng Chúa Nhân Lành đoái thương nhậm lời nguyện cầu của chúng con, đón nhận Linh Hồn vị Cha Cố đáng kính Antôn vào hưởng hạnh phúc Nước Trời.
 
 
 
 3 Photos phía trên by anh Nguyễn-Ngọc Quang
 
 
 
 
 
 
 
 
 

   Chúa là tất cả đời con. Con là tất cả của Chúa. Vì yêu con Chúa tác sinh muôn loài. Vì yêu con tay Chúa thương an bài. Cho con một đời vui sống thiết tha.

   Chúa là tất cả đời con. Con là tất cả của Chúa. Vì yêu con Chúa chết treo khổ hình. Vì yêu con nên đã quên thân mình. Cho con được làm con Chúa suốt đời. 

   Chúa (Chúa) chính là gia nghiệp đời con (gia nghiệp đời con). Con xin được đáp lại tình yêu (xin được đáp lại tình yêu). 

    Sông nào chẳng đủ miền xuôi. Con người có thủa nằm nôi. Thời gian đưa chiếc lá bay qua rồi. Đời vương vương như áng mây bên trời. Tim con bồi hồi xao xuyến mãi thôi. 

   Ân tình Chúa đủ chẳng vơi. Con nào thấu lòng trời cao. Tình yêu thương vẫn thiết tha tuôn trào. Tình dâng cao trong ngất ngây tâm hồn. Gieo vui một niềm cảm mến vô bờ.

✬▬▬▬▬ஜ۩ ۩ஜ▬▬▬▬✬

Tưởng nhớ và tri ân cố Linh Mục

Antôn Vũ Như Huỳnh

(1990 - 2025)

   Một Thánh lễ Misa cầu nguyện cho ngày giỗ Cha Cố Antôn Vũ Như Huỳnh - một vị Cha già đã từng là một thời lèo lái con thuyền Sao Mai của những cơn sóng gió. Một Thánh lễ đơn sơ nhưng đã chứa đựng thật nhiều tình thiêng liêng cao cả... đốí với những "người con Sao Mai hôm nay" tại quê nhà... chúng tôi vẫn nhận thấy đầy đủ mọi thành phần của ngôi nhà mẹ Sao Mai của ngày ấy và hôm nay... Thánh lễ diễn ra không tiếng chuông nhà thờ báo hiệu, một buổi lễ diễn ra trong sự im lặng và tưởng nhớ, không chỉ với những "người con của nhà mẹ" mà còn có cả những "cô dâu, chú rễ của Sao Mai ngày hôm nay" 

   Một sự cảm xúc và thiêng liêng trân trọng - duy chỉ trong một căn phòng nhỏ chưa trọn vẹn mười mấy mét vuông thực tế, nhưng trong đó đã chứa đựng cả một sự huyền bí lớn lao về cõi tâm linh và sự trung thành của khoảng hai mươi mấy người con Sao Mai đã vinh dự đại diện cho cả một ngôi trường mấy ngàn cựu học sinh của ngày ấy... 

Không cao sang, không quyền quý
Không là trong ngôi thánh đường cao sang và lộng lẫy. 
Không là nơi đài các khuê văn, cũng không là nơi chốn lầu hoa danh vọng...

Mà chỉ là một căn phòng nhỏ trong căn nhà hưu dưỡng của giáo xứ Thái lạc, Long Thành... 

Lời kinh trầm lắng mở đầu cho Thánh lễ Misa... 

Giây phút "sám hối" - mở đầu cho Thánh lễ

   Cũng với đầy đủ mọi nghi thức của một thánh lễ Misa bình thường theo truyền thống tôn giáo, cũng với một chí hướng và đồng tâm hiệp lực từ một cõi vô hình để cùng nhau đưa đến một triết lý vĩnh hằng của "một đời người" mà ngày hôm nay Thượng Thiên đã "gọi về" - bỏ lại trần gian một đôi chút vướng bận về một sự tưởng nhớ... duy không có những dòng lệ rơi, không có những tiếng than khóc "Cha ơi...", không có những sầu thương đau đớn, nhưng hầu như "tất cả những người con" hiện diện hôm nay trong ngày 18/03/2012 này đều cùng nhau cất lên cho chính mình từ một cõi hư không nào đó để trong suốt thánh lễ giỗ tưởng niệm... ai ai cũng "cầu xin Chúa mau sớm dẫn đưa linh hồn Cha Cố Anthony cũng như linh hồn Cha Cố Giuse được hưởng phúc Nhan Thánh"

   Ngày hôm nay - tuy chỉ là tại "nhà hưu dưỡng của Giáo xứ Thái Lạc - Long Thành" tuy không là "tiếng chuông thánh thót của một ngôi đại giáo đường báo hiệu giờ kinh nguyện cầu... tuy không là những hồi chuông báo hiệu trong giây phút Thánh Thể... tuy không là những âm vang của một Ca đoàn đại quy mô trong một thánh lễ tưởng niệm lớn lao nào.... nhưng trong cái không gian tĩnh mịch này, chỉ trong cái ngày 18/03/2012 vào lúc 10.00h... đã cất lên chỉ vài câu kinh nguyện sau một cử chỉ "làm dấu thánh giá" - chúng tôi nghĩ rằng: tại phương trời xa xôi nào đó bên tận trời Âu Philadelphia, Pennsylvania ... linh hồn Cha Cố Anthony cũng như tại nơi an nghỉ vĩnh hằng Đại Chủng viện Giuse Xuân Lộc linh hồn Cha Cố Giuse "chắc cũng đã mỉm cười tại nơi cung vàng chín suối... 

   Ngày xưa là "một người thầy" - hôm nay "là một vị linh mục già đã về hưu" - Cha Đỗ Văn Nguyên - có lẽ cũng đã mãn nguyện cho chính mình một sự hài lòng, cũng như "mấy chục con người trần thế hôm nay" đại diện cho mấy ngàn con người để rồi cùng nhau cất lên lời kinh thắm thiết, những lời ca như đã bay bổng để mong cầu xin nơi chốn thiên quốc một Hồng ân trong cõi tâm linh sống của những con người mà chính vào giờ phút thiêng liêng này trở thành một triết lý sống - một triết lý sống chứa đựng rất đầy đủ ý nghĩa của một cõi đời với những con người hôm nay đang còn trên con thuyền Sao Mai tại trần gian này... 

   Chúng tôi còn nhớ - ngày 12/03/2012 tại Giáo xứ Ngọc Lâm với những nghi thức "còn vang mãi những lời kinh..." thì hôm nay - ngày 18/03 tại một nơi chốn "nhà hưu dưỡng Thái lạc, Long Thành" một thánh lễ Misa duy chỉ đơn sơ và đạm bạc.... hoặc một nơi nào đó bên trời Âu cũng đã "tưởng niệm về cho vị Cha già của ngày xưa..... tất cả đều cũng chỉ là một hướng đi, tôi còn nhớ một đoạn Kinh Thánh nào đó mà ngày xưa Thánh Phaolo viết trong thư gửi cho cộng đoàn tín hữu Corhinto: Anh em hãy yêu thương nhau như Cha trên Trời đã yêu thương anh em, anh em hãy luôn luôn chú tâm vào sự thờ phượng duy chỉ có một Thiên Chúa là Cha chung của chúng ta.....

   Dẫu cho cuộc đời chỉ là ngắn ngủi, là kiếp phù du, là một cơn gió thoảng, là những con người không phải là có đạo, và không chỉ là những con người SaoMai của "ngày ấy", nhưng chúng tôi cũng luôn luôn có những sự trân trọng và kính phục về cho những "cô dâu và chú rễ Sao Mai" của ngày hôm nay... tuy chỉ là trong một căn phòng nhỏ bé, không tiếng chuông báo lễ, không lộng lẫy đèn hoa, không tiếng nhạc thánh thót của một ca đoàn - nhưng hầu như với những con người hiện diện hôm nay cùng với "vị Cựu Tổng Giám Thị" của ngày nào... có lẽ cũng đã thoả nguyện rất lớn và chứa đựng được nỗi vui mừng vì "đã sống đúng với "đạo làm con" con tinh thần hiếu đễ của nhân bản một con người...

Bài đọc 1 - với "con chiên Bùi Mai"

Bài đọc 2 - với "con chiên Phạm Thanh Long"

Thánh lễ cũng có những lời giảng của "vị Chủ tế"...


   Trong bài giảng Cha Đỗ Văn Nguyên hầu như không còn nhắc đến cái triết lý "sắc có như không..." nữa, mà trong bài giảng tuy ngắn ngủi, nhưng chứa đựng rất nhiều những thâm tình hiếu để của những con người hôm nay... Cha đã nêu cao tinh thần truyền thống Uống nước nhớ nguồn, tinh thần Sao Mai bất khuất của những Cựu học trò, và tinh thần rực lửa bất diệt của những con người Sao Mai của hôm nay.... tất cả cũng chỉ là một sự hiếu để của một đời người đang thực hiện một triết lý sống: Cuộc đời sắc có như không, phải chăng chỉ một tấm lòng mà thôi...

Giây phút "Hiệp nhất Phép Thánh Thể" 

   Từ những điểm nhấn ấy, duy ngày hôm nay 18/03 tại Thái Lạc - Long Thành Đồng Nai, cũng như ngày 12/03 vừa qua tại Giáo xứ Ngọc Lâm, hoặc đã một ngày nào đó phía bên kia bờ đại đương.... cũng đã có những giây phút như thế, một trong những buổi lễ tưởng niệm như thế... nhưng chúng tôi thiết nghĩ "tất cả cũng chỉ là một mà thôi" trong sự thực hiện tinh thần "hiếu đễ của con người" như lời vị Cựu Tổng Giám thị đã nhấn mạnh trong những buổi họp mặt và chuyện trò thân mật ngày nào... thì hôm nay, trong cái căn phòng nhỏ bé này, trong giây phút tưởng nhớ thiêng liêng và huyền bí này... cái đạo làm người của những người con Sao Mai cũng đã một lòng nhớ về cho những người Cha già như thế.... 

Lời cảm tạ của đại diện học sinh Sao Mai với "Thầy Tổng"

   Không chỉ là những miếng ăn ngon, không chỉ là vài ba mâm cổ đầy, không chỉ là những chiếc bánh sake lạ mắt và ngon miệng... mà giờ phút họp mặt có tính mini này cùng với những câu chuyện trò, những kỷ niệm được khơi dậy lại, những ký ức ngày xưa.... hầu như cũng đã nói lên được mối thâm tình hiếu để và tâm giao của những con người của nhà mẹ này vậy... 

   Trên con đường về lại Sàigòn, cũng những có những người con phải quay về xứ núi mây ngàn Phương Lâm... chúng tôi rất bùi ngùi và thật sự xúc động vì chính mình đã làm tròn bổn phận hiếu để của những người con Sao Mai, duy cánh biển Vũng tàu chiều hôm ấy có gió thôi rất nhiều, có những đợt sóng vỗ xô bờ, duy đứng trên một tháp cao bên cạnh ngọn núi Tao Phùng với hình ảnh Chúa Giêsu đang dang tay đón nhận và sẵn sàng ban phép lành cho tất cả những người con như chúng tôi, cũng như trên đoạn đường dọc theo bờ biển bao la và còn mãi lê thê ấy... chúng tôi cũng như vị Cựu Tổng Giám Thị của ngày xưa, ai nấy cũng đã mãn nguyện và mỉm cười vì đã làm tròn cho chính mình hiện diện (cũng ngư những người vắng mặt) đầy đủ một bổn phận trách nhiệm thiêng liêng và cao cả: sự hiếu để của một con người

   Thành phố giờ này đã lên đèn, màn đêm đã buông phủ, không phải những ánh đèn xanh đỏ tím vàng hoa lệ của một thành phố vật chất xa hoa kia đã điểm... mà chúng tôi có thể mãn nguyện và mỉm cười: có lẽ chính trong tâm linh của những người con Sao Mai hôm nay... vẫn còn có hàng triệu hàng triệu ánh đèn đủ sắc màu đang rực cháy, và còn sáng sáng mãi trong một tinh thần Sao Mai hiếu để và thanh cao ấy vậy... 

    Nguyễn Ngọc Hải

Ghi nhận từ buổi lể ngày 18/03 tại Thái Lạc...

●▬▬▬▬▬๑۩      GNST       ۩๑▬▬▬▬▬●

GNST chân thành cảm ơn anh Nguyễn Ngọc Hải.

 

GNST chân thành cảm ơn chị Hồng Vân

 

▬▬▬▬※ Gia đình GNST ※ ▬▬▬▬

▬▬▬▬Peace & Love always▬▬▬▬

✬▬▬▬▬ஜ ۩ ۩ ஜ▬▬▬▬

 
 

 

 

Xem thêm...

THƯƠNG NHỚ MIỀN TÂY: MỘT CHỤC KHÔNG PHẢI LÀ 10

THƯƠNG NHỚ MIỀN TÂY

MỘT CHỤC KHÔNG PHẢI LÀ 10

Khi dư luận xôn xao tin vui sắp khánh thành cầu Mỹ Thuận, nhà văn Sơn Nam viết bài “Vĩnh biệt con phà Mỹ Thuận.” Khi Sài Gòn di dời chợ đầu mối, nhà văn Võ Đắc Danh viết ký “Phiên chợ trăm năm” giã biệt chợ rau Cầu Muối… Theo quy luật cuộc sống, cái này sinh ra thì có cái khác mất đi.

Với cây bẹo giới thiệu hàng hóa của chiếc ghe có lẽ là nơi xuất phát một chục có đầu. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Lục tỉnh, miền Tây cũng vậy. Những khu công nghiệp, khu dân cư lấn át cánh đồng, con trâu không còn chỗ đứng, con diều giấy thưa dần trên bầu trời và lối sống, cách mua bán nghĩa tình nồng hậu một chục không phải là mười cũng thành ký ức của một thời.

Miền Tây đâu phải xa xôi. Cách đây hơn 20 năm, từ Sài Gòn đi về lục tỉnh, qua An Lạc, Bình Điền đã cảm nhận hơi hướng miền Tây với màu xanh đồng ruộng bao quanh những vườn xoài cổ thụ. Qua khỏi Bình Chánh đã lọt vào miền Tây đích thực với đồng lúa bạt ngàn cò bay thẳng cánh và những vườn cây xanh lặc lìa trái ngọt.

Không bông ô môi, vắng hẳn tiếng chày

Ngày nay cũng trên con đường ấy, hình ảnh miền Tây bị những khối nhà bê tông che khuất. Màu xanh đặc trưng của miền Tây bị những trụ khói đen, những nhà máy cấu trúc sắt thép khổng lồ băm nát. Bầu trời giăng giăng dây điện không gian bị ngăn cách nên vắng bóng cánh cò và ngay trẻ con cũng không có nơi để thả lên ước mơ bầu trời qua con diều giấy.

Câu hát “Mỗi lần thấy bông ô môi nở hồng trong gió chướng, mỗi lần nghe tiếng quết bánh phồng rộn rã đón Xuân sang, mỗi lần có dịp về Vĩnh Long đi ngang Tân Ngãi thấy nhà chợ Trường An” của cố nghệ sĩ Út Trà Ôn đã trở thành cổ tích. Cây ô môi, cây gòn, cây quao, cây me tây, cây trôm hay còn gọi là lim xẹt… biết bao loại cây thân thuộc của miền Tây đã gần như tuyệt chủng theo đà công nghiệp hóa. Hai bên đường ngang Tân Ngãi đã bị nhà cao tầng che chắn, không còn thấy nhà chợ Trường An như hình ảnh đặc trưng của đất Vãng (*). Tiếng chày quết bánh phồng gõ nhịp hằng đêm cũng tắt lâu rồi.

Về đâu mùa nước nổi

Thiên nhiên miền Tây ngày xưa có mùa nước nổi nằm vắt ngang giữa hai mùa mưa nắng. Nước từ đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ, từ biên giới phía Tây chảy tràn đồng về phía Đông ra biển mang theo bao nhiêu tôm, cá, trăn, rùa và nhiều sản vật khác nào là điên điển, cà na, bông súng, bông hẹ… đặc biệt là hàng vạn hàng triệu tấn phù sa như sữa mẹ vun bồi sức sống trù phú. Nước về chậm rãi, ở đầu nguồn một ngày đêm chỉ lên vài tấc. Người dân miền Tây nồng hậu đón chờ nước về, nước xuống và đặt tên cho nước mùa này rất thân thương là “nước bạc” nôn nao đồn đoán nước nhỏ hay nước lớn.

Dọc các triền sông, kinh rạch, những hàng đáy, vó lưới mọc lên đón cá, đồng thời cũng tạo thêm nét đẹp chất thơ cho miền Tây.

Từ cuối thập niên 1990 mùa nước nổi hiền hòa ấy lại bị gọi bằng cái tên phản cảm là mùa lũ. Người ta đào kinh, đắp lộ ngăn đường nước suông nên chỗ này bị ninh ngập úng, chỗ kia héo khô thiếu nước.

Đến nay Trung Quôc đắp đập chặn dòng ở đầu nguồn, mùa lũ cũng không còn, miền Tây khát khao nước ngọt ngay trong mùa lũ và đang bị chìm dần trong làn sóng thủy triều. Nước biển xâm nhập càng lúc càng sâu và người dân miệt vườn chưa có khái niệm, chưa có ý thức phải thích nghi với hệ sinh thái ngập mặn theo sự chu chuyển của đất trời và của cả con người đã lạm dụng khai thác quá mức lượng nước ngầm trong lòng đất.

Họp chợ trên sông. (Hình: Nguyen Vinh Quang/Pixabay)

Một thời sông nước

Đất đai tươi tốt, cây trái dồi dào thành hàng hóa cho các vùng miền khác, ngược lại ít làng nghề, thiếu các hàng tiểu thủ công nên nhu cầu giao lưu hàng hóa hình thành rất sớm. Con người miền Tây sông nước ngày xưa đi lại vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy là chính, họ quần tụ thành phố thị theo truyền thống trên bến dưới thuyền và cả những chợ nổi trên sông.

Nhà vườn bán sỉ thậm chí bán mão, sang từng ghe hàng cho thương lái. Thương lái địa phương cũng len lỏi đến từng vườn để mua hàng. Đường xa, tốc độ đi ghe chậm, trái cây chín dễ hư, con người lại phóng khoáng nên việc mua bán rất nhanh gọn ít kỳ kèo bớt một thêm hai và phương tiện đo lường cũng vậy. Trong bốn cách cân, đo, đong, đếm thì người miệt vườn chuộng nhất là cách đếm. Nó gọn lẹ, không cần công cụ.

Ngày xưa nếu có ai hỏi mua ký cam, ký quýt, ký dưa hấu sẽ là chuyện mắc cười. Từ vườn tới chợ, mua bán trái cây không ai cần đến cái cân mà chỉ đếm. Tùy theo từng loại trái, từng mặt hàng, mua sỉ mua lẻ mà có những đơn vị đếm khác nhau.

Với những trái to có giá trị như dừa, dưa hấu, bưởi, mua lẻ có đơn vị là một trái, cặp (hai trái) hoặc là một chục. Mua sỉ thì tính theo đơn vị là trăm, thiên (ngàn).

Bông súng, đặc sản mùa nước nổi của miền Tây. (Hình: Lê Đại Anh Kiệt)
 
Chỉ đếm, rất hiếm đo, đong, cân

Với các loại quả nhỏ như cam, quýt, xoài mua lẻ vẫn đếm bằng đơn vị trái, chục, nhưng mua sỉ thì kết hợp giữa đong và đếm. Đơn vị đong cũng là bao bì cho hàng hóa là cái cần xé (**). Người ta không đong bao nhiêu lít cam hay cân bao nhiêu ký cam mà tính đơn vị bằng cần xé.

Trái cây từ vườn hái cho vô cần, đóng gói và tính tiền theo đơn vị cần. Cách này rất tiện dụng cho nhà vườn lẫn thương lái và đến lượt mình các thương lái sang hàng cho chành vựa hoặc các tiểu thương bán lẻ cũng đếm bằng cần. Hiện nay, ở các tỉnh miệt vườn, Vĩnh Long, Bến Tre… nhà vườn vẫn còn duy trì cách bán này.

Không chỉ với trái cây mà ngay cả vật nuôi như gà, vịt, trứng, người miền Tây cũng tính theo phương cách đếm. Ngay cả cá con, cá giống, cũng tính theo đơn vị đếm con. Nhưng với các loại cá quá nhỏ như cá tra giống người ta cũng kết hợp giữa đong và đếm. Múc vài vợt cá, đếm mẫu xem mỗi vợt có bao nhiêu cá con và từ đó lấy con số trung bình của vợt làm đơn vị tính. Thí dụ, một vợt quy là 120 con, thì 10 vợt tính thành 1 thiên 2.

Với các chế phẩm từ nông sản như bánh tráng, bánh phồng cũng tính bằng cách đếm nhưng đơn vị tính là xấp. Một xấp có thể từ 10, 20, 50 cái tùy theo từng vùng. Rau, cải bán bó. Đồ hàng bông như bắp cải, bông cải thì bán bắp, tức nguyên một cái.

Lá chuối tươi, lá chuối khô để gói bánh, gói hàng thì tính theo xấp. Một xấp có bốn tàu, xé ra thành tám tờ. Người bán có lòng thì phân ra các loại lá lớn nhỏ khác nhau để theo từng xấp, vì giá khác nhau.

Chuối thì tính quày (buồng), nải. Một quày có nhiều nải. Nếu mua nguyên quày thì khuyến mãi luôn những nải chót có trái nhỏ không ngon bằng các nải ở phía trên.

Len trâu đi tìm vùng nước gò trong mùa nước nổi. (Hình: Lê Đại Anh Kiệt)

Du di một chục có đầu

Điều thú vị đặc biệt là từ phương thức đo lường là đếm phát sinh ra đơn vị “chục có đầu” tức là một chục không phải là 10 mà là 11, 12, 14… thậm chí là 18. Chục có đầu phổ biến đến mức được xem là mặc định trong giao dịch bán mua. Nói mua một chục thì đương nhiên phải hiểu có đầu không cần nói để xác định, muốn lấy một chục là 10 thì phải nói rõ là mua một chục trơn hay một chục bẻ đầu.

Còn chục 11? Khi mua chục thuốc giồng (thuốc sợi để vấn hút hoặc xỉa trầu), người bán đưa một xấp 10 bánh cột dây sẵn và một bánh rời gọi là rê đầu. Đối với trái cây thì tính chục gồm 12, 14, 16, 18… đến 24 trái số lượng này lại du di bất định tùy theo loại trái và tùy theo nơi bán! Thông thường trái cây càng rẻ tiền, vị trí càng xa trung tâm thì con số chục càng lớn. Ví dụ, ở tại chợ Cái Bè, một chục quýt có thể là 14 trái nhưng vô sâu hơn ở các xã Mỹ Đức, chục quýt có thể từ 16, tới 18 trái.

Trong cuốn “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười,” học giả Nguyễn Hiến Lê cho biết, ở tỉnh Tân An, chục trái cây được tính từ 12, 14 cho đến 16 trái. Vùng Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp tính chục trái cây 12 (dừa khô, măng cụt, thơm, xoài, trầu…). Bến Tre, Vĩnh Long trước đây, bắp, xoài tính chục 16. Ở Cái Mơn (huyện Chợ Lách, Bến Tre) chục trái cây là 12, nhưng ở Mỏ Cày cũng thuộc Bến Tre lại là chục 14.

Hàng đáy sông hình ảnh đang hiếm dần ở miền Tây. (Hình: Lê Đại Anh Kiệt)

Nghĩa tình kẻ bán người mua

Điều thú vị hơn nữa là sự chân thành chất phác của người bán cũng bộc lộ qua cách mua bán này. Người mua là khách phương xa, không rành số chục của địa phương, không phải lo lắng, cứ mua một chục người bán sẽ đếm đủ số đầu. Nếu người mua tự mình đếm trái không đủ số đầu, người bán sẽ nhắc “Lấy thêm hai trái, lấy thêm bốn trái cho đủ chục.”

Má tôi, dì tôi quê Long An, gần Sài Gòn nên một chục nhiều nhất là 14, mấy lần đi chùa ở Mỹ Thiện, Cái Bè, Tiền Giang, cứ tấm tắc khen những người bán hàng ở đây tốt bụng, đã lấy đủ 14 trái rồi mà vẫn cho thêm bốn trái. Hóa ra ở đây một chục là 18.

Thủa nhà văn Sơn Nam còn sống, tôi đã hỏi ông vì sao một chục có đầu, ông giải thích đây là cách bù hao của người bán dành cho người mua. Trái cây đi đường xa dễ dập dễ hư, trứng gà trứng vịt đi xa dễ bể. Thời đó đất rộng người thưa, sản vật dồi dào nên giá trị không lớn so với đồng tiền, bù hao thêm một chút, được cái tình, cái niềm tin, chuyện mua bán sẽ bền chặt, tin cậy nhau hơn. Tánh rộng rãi, trọng nghĩa khinh tài của người miền Tây là vậy đó.

Theo quy luật vật càng rẻ, nơi bán càng xa trung tâm phố thị, con số đầu của mỗi chục càng lớn, cách giải thích của nhà văn Sơn Nam là hợp lý. Tuy nhiên tôi băn khoăn tự hỏi, tại sao những anh chàng Ngũ Quảng (***) vốn tánh chặt chẽ tiện tặn từng xu từng cắc, vô tới miền Nam lại sanh ra hào phóng bán hàng không cân kéo trái nặng trái nhẹ, không đo lường cây lớn cây nhỏ, không đong xem bao lớn mà chỉ cần đếm, trái lại cho thêm một chục có đầu?

Miền Tây dạo này ít người đặt vó. (Hình: Lê Đại Anh Kiệt)

Kết quả của cuộc sống cộng cư

Nhìn lại những tiệm chạp pô, tạp hóa của người Hoa tuy có đủ các phương tiện cân, đong, đo nhưng đa phần vẫn dùng cách đếm. Các loại bánh tính bằng cây, bánh in thường một cây là một miếng hình chữ nhật, bánh in nhưn đậu xanh một cây 10 cái. Bánh xà lam xưa cũng 10 cái một cây, nay chỉ còn sáu cái.

Thuốc rê tính miếng, khi bán cho kèm cuộn giấy quyến để vấn thuốc. Một cây đường cát trắng, đường cát vàng nặng 12 kg, khi bán chỉ tính tiền 10 kg thôi. Đường tán có hình oval, 42 miếng là 1 kg, được đóng trong bịch 12 miếng.

Người Khmer Nam Bộ hay tại Cambodia cũng vậy, việc mua bán rất đơn giản, lỏng lẻo là hạo chừng. Cả đàn gà một con cứ bắt một con, lựa con nhỏ con lớn họ không phiền. Miễn đừng bắt hai con.

Phải chăng chính cuộc sống quần cư trên vùng đất mới giao thoa với cung cách sống khác nhau, những lưu dân Việt đã hình thành tính cách, tập tục sống mới, trong đó có cách mua bán nghĩa tình một chục có đầu.

Sau năm 1975, cung cách đo lường của miền Bắc được áp vào miền Nam. Cái trật tự của miền Nam đếm, đo, đong, cân bị đảo ngược lại thành cân, đong, đo, đếm. Lúa cân ký không còn đong giạm. Dưa hấu cân không bán chục, rau quả tất tần tật đều cân. Người mua, kẻ bán tính toán chi ly với nhau từng gram, từng lạng. Rồi lại sinh ra nạn cân già, cân non, hàng xấu hàng hư độn vào hàng tốt. Khi mở cửa làm ăn với Trung Quốc thì lại thêm tình trạng hóa chất độc hại, chất tăng trưởng, chất bảo quản, chất tạo màu tràn vào.

Cách mua bán một chục không phải là mười song trùng với cách ứng xử tin cậy, nghĩa tình giữa kẻ bán người mua lần hồi chết hẳn. Chỉ còn sót lại một vài nơi sâu thẳm vẫn còn lưu giữ được chút dư vị ngày xưa. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Cách mua bán một chục có đầu, một chục không phải là mười song trùng với cách ứng xử tin cậy, nghĩa tình giữa kẻ bán người mua lần hồi chết hẳn. Chỉ còn sót lại một vài nơi sâu thẳm vẫn còn lưu giữ được chút dư vị ngày xưa. Nghe đâu rằng, ở vài vùng Sóc Trăng trước đây tính chục 14 trái, nay một chục còn 12. Trà Vinh vẫn còn cách tính chục trái cây 12, 14 trái đối với dừa tươi, cam, quýt, cau. Trước đây một bó mía là 12, 14 cây, nay mía cũng bó nhưng bán theo cân ký.

Những đóm lửa tàn dư vị ngày xưa đó rồi cũng sẽ tắt trước làn sóng mua bán đua chen chụp giật.

Ôi! Thương nhớ miền Tây của một thời không xa, một chục không phải là 10. [qd]

*Bài đăng trên Giai Phẩm Người Việt Xuân Tân Sửu 2021
 
Lê Đại Anh Việt
Theo: Người Việt

—–

Chú thích:

(*) Tên xưa của đất Vĩnh Long.
(**) Đồ đựng bằng mây tre, miệng rộng, đáy sâu, có quai, thường dùng để đựng hàng hóa.
(***) Năm vùng đất: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam và Quảng Ngãi.
 
Xem thêm...

Hành hương Đức Mẹ Lộ Đức

 Hành hương Đức Mẹ Lộ Đức

 BM

Tôi đang ở chơi nhà một người bạn thân cũ ở ngoại ô phía nam Paris, chợt nhớ đến cha già Louis Nguyễn Văn Qui, DCCT, chuyên lo cho các anh em Gia Đình An Phong Bụi Đời, hiện đang có một “Ngôi Nhà Mở” ở Ermont Eaubonne. Chỉ là gọi điện thoại để thăm hỏi, không ngờ cha lại rủ cùng đi Lourdes. Thế là đang đêm hôm, gia đình người bạn lái xe chở tôi tức tốc đến cha Qui để kịp ra nhà ga trực chỉ miền Nam nước Pháp. Đoàn hành hương hóa ra chỉ vỏn vẹn có 3 người, cha Qui, chị Duyên – một người Việt định cư tại Đan Mạch, và tôi.

 

BM

Sau một chuyến xe lửa thâu đêm, tảng sáng ngày 27.11.2001, chúng tôi đến Lourdes. Trời đã vào cuối thu, sắp chuyển sang đông. Đúng ra ở miền Nam sẽ ấm hơn ở Paris, nhưng vì Lourdes nằm rất gần dãy Pyrenee, biên giới tự nhiên Pháp – Tây Ban Nha, nên khí hậu thuộc về miền núi, lạnh căm căm và mưa phùn lất phất. Tuy nhiên, cảnh vật thiên nhiên thì tuyệt vời, đường phố lại sạch sẽ, người dân như thể thấm đượm tinh thần chị Thánh Bernadette Soubirous nên cũng hiền hòa khiêm nhu và ôn tồn lặng lẽ.

 

Ăn lót lòng thật nhanh tại nhà khách của Hội AED (Aide des Eglises en détresse – Hội Tương Trợ các Giáo Hội đang bị bách hại) xong xuôi, chúng tôi rảo bước về hướng Hang Đá Lourdes. Thật may, sát tới giờ dâng Thánh Lễ, cha Qui ngỏ ý với Ban Tổ Chức, và hai linh mục Việt Nam chúng tôi được đồng tế với hai linh mục Pháp thuộc giáo phận địa phương, và Thánh Lễ được trực tiếp truyền thanh trên toàn nước Pháp cũng như trên tất cả các nước khối nói tiếng Pháp (francophone), với ý chỉ tạ ơn và cầu nguyện cụ thể của từng linh mục đồng tế xướng lên bằng tiếng Pháp.

 

BM

Thật cảm động đến rưng rưng nước mắt, có bao giờ tôi dám mơ ước có ngày được dâng Lễ Tạ Ơn ngay tại Hang Đá Lourdes, nơi Đức Mẹ đã hiện ra với chị Bernadette tất cả 18 lần từ ngày 11.2 đến ngày 16.7.1858, đã gửi cho toàn Giáo Hội một thông điệp tự giới thiệu Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội (Que soy Immaculada councepciou – Je suis l’Immaculée Conception), đã bày tỏ tấm lòng từ mẫu hay thương xót cho biết bao con người đau khổ trên thế giới được hồi sinh cả tâm hồn lẫn thể xác…

 

Khách hành hương hôm ấy rất vắng, chỉ khoảng 40 người, hình như gồm nhiều sắc tộc Âu – Á – Phi – Mỹ, ai cũng co ro trong áo rét mũ ấm, nhưng những ánh mắt thì ngước cao thành khẩn hướng về Thiên Chúa, hướng về Mẹ, nguồn Cậy Trông và Bình An.

 

Thánh Lễ đã xong nhưng mọi người vẫn cố nán lại dưới cơn mưa phùn để sốt sắng cầu nguyện và lần chuỗi Mai Khôi. Bất chợt, có mấy người tiến lại gần chúng tôi, thì ra họ là những người Phi Luật Tân khá giả, đi hành hương để xin ơn chữa lành bệnh ung thư, họ tỏ ra vui mừng gặp chúng tôi cũng là người châu Á, họ tặng chúng tôi mỗi người một xâu chuỗi màu đen rất đẹp họ vừa mua được khi hành hương về Thánh Đô Roma.

 

BM

Chúng tôi cùng ngồi lần chuỗi trên các băng ghế sắt sơn trắng trước khu vực Hang Đá. Cha Qui chỉ cho tôi thấy viên đá lát dưới nền sân, đánh dấu chính xác vị trí chị Thánh Bernadette đã quỳ trong những lần được gặp và trò chuyện với Mẹ. Sát bậc thềm lên Cung Thánh có đặt Bàn Thờ. Trong Hang Đá còn có thêm một phiến đá ghi dấu nơi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị đã đến quỳ cầu nguyện tạ ơn trong lần đầu tiên đến với Mẹ năm 1983 khi lên ngôi Giáo Hoàng. Ngay dưới chân hốc đá đặt pho tượng của Mẹ, một đài nến hàng trăm ngọn màu trắng vút cao lên, tỏa ánh sáng cả ngày lẫn đêm. Chếch về bên trái mặt tiền Hang Đá, là những sợi dây thép căng ngang, treo những chiếc nạng mà người bệnh được chữa lành đã lưu lại như một biểu tượng của lòng tri ân Mẹ. Phía bên trong, cạnh Bàn Thờ là một miệng giếng đầy ắp nước, được lắp kính và chiếu đèn, đêm ngày róc rách tiếng nước chảy.

 

Bên cánh phải của Hang Đá là một dãy các điểm tập trung hàng ngàn ngọn nến của khách hành hương cháy sáng quanh năm, kế đó là một dãy nhà dài cho mọi người bệnh tật hay lành mạnh có thể đến trầm mình trong các hồ nước tự nhiên của Lourdes. Bên cánh trái của Hang Đá là một loạt những vòi dẫn trực tiếp nước suối Lourdes cho khách hành hương đến uống hoặc đong vào chai lọ mang về như một vật báu.

 

BM

Toàn bộ Hang Đá Lourdes nằm trong một vách núi mà giờ đây, Giáo Hội vâng lời Mẹ dặn đã xây lên trên đó một ngôi Vương Cung Thánh Đường vĩ đại nguy nga, chung quanh là cả một khu vực rộng mênh mông, gồm các nguyện đường nhỏ, các hội trường lớn, phòng triển lãm các phép lạ, phòng chiếu phim tôn giáo, cùng các tượng đài, lại có cả một quả đồi cỏ xanh nằm bên con sông nhỏ uốn quanh, cho các đoàn giới trẻ dựng lều cắm trại và sinh hoạt. Hàng năm, hàng triệu lượt khách hành hương khắp thế giới sẽ tuôn đổ về đây trong các dịp Đại Lễ của Mẹ. Năm 2001 đã được Giáo Hội chọn là năm Magnificat. Tôi cũng vừa được biết vào tháng 8.2002 sắp tới, toàn thể cộng đồng người Việt Công Giáo toàn Âu Châu sẽ hẹn hò nhau về bên Mẹ, con số ước định đến hàng chục ngàn người, có lẽ đông nhất vẫn là từ Pháp, Đức và Roma…

 

Tự nhiên tôi lại vọng tưởng đến Linh Địa La Vang Việt Nam. Vẫn là Mẹ đấy thôi, Lourdes, Fatima, Medjugorja… nhưng sao trong khung cảnh La Vang Quảng Trị của giáo phận Huế còn nhiều thiếu thốn, nóng bức, khó khăn và nghèo nàn của Việt Nam, khách hành hương chúng mình vẫn cảm thấy gần Mẹ hơn biết bao. Có cảm tính chủ quan và nặng óc địa phương không nhỉ? Thôi, dẫu có thế nào đi nữa, mọi người trên toàn thế giới cũng như tôi vẫn chỉ có duy nhất một người Mẹ là Mẹ Đức Giêsu, Mẹ không hề phân biệt lý lịch những đứa con yêu của Mẹ là Tây, là Tầu hay là Ta, là da trắng, da đen hay da vàng, là Công Giáo, Phật Giáo, Hồi Giáo hay thậm chí là vô thần đi nữa…

 

Tôi chợt nhớ đến bài giảng về 5 bà mẹ của cha Tiến Lộc ở La Vang cho gần 100.000 bạn trẻ trong dịp bế mạc Đại Hội Thánh Mẫu năm 1999, và tôi thầm cầu nguyện với Mẹ Lourdes cho bà mẹ già tôi đã qua đời, cho Mẹ Giáo Hội, cho Mẹ Dòng Chúa Cứu Thế tôi đang được cưu mang, và nhất là cho Mẹ Việt Nam quê hương yêu dấu của tôi, của mọi người dân Việt gần xa…

 

Trong không gian lạnh giá dưới những hàng cây cuối thu trụi lá của Lourdes, tôi như nghe lòng mình hát lên bài ca kính mừng Đức Mẹ Lourdes, bài ca đã được dịch ra hàng trăm thứ tiếng khác nhau trên hoàn cầu, trong số đó có lời Việt của tôi mạo muội viết ra…

 

 

Phép lạ vĩ đại không ai có thể chối cãi

Chắc hẳn khi nhắc đến tên Fatima, các bạn đã nghe nói đến phép lạ mặt trời quay?  Nhưng các bạn có biết rằng qua cách thức phép lạ xảy ra, thì đây hẳn là một phép lạ vĩ đại nhất chưa từng xảy ra trong lịch sử Giáo Hội? Hay: Phải chăng đây là một chuyện thêm thắt và bịa đặt thái quá?

Hy vọng qua những dòng sau đây, các bạn sẽ có được sự nhận định chính xác hơn.

Để mọi người tin

Vào ngày 13.10.1917, tại ngọn đồi Cova da Iria ở Fatima, Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã hiện ra lần thứ sáu với ba trẻ chăn chiên: Lucia (10 tuổi), Francisco (7 tuổi) và Jacinta (6 tuổi).

Nhưng nhiều người cho rằng việc Đức Mẹ hiện ra chỉ là trò hề, do ba đứa trẻ nhà quê bịa đặt ra để gạt gẫm người khác, hay do thủ đoạn của những người lớn đứng phía sau giật dây để nhắm tới một mục đích chính trị hay kinh tế nào đó.  Chính bà mẹ Lucia cũng hoàn toàn nghi ngờ, đến nỗi bà còn đánh đập con gái mình vì cho rằng Lucia nói dối.

Để đánh tan sự nghi ngờ và bất tín của thiên hạ, nhất là để mọi người tin nhận biến cố Fatima là sự thật, trong lần hiện ra vào ngày 13.07.1917,  Vị Thiên Nữ đã hứa là vào ngày 13.10.1917, sẽ có một phép lạ vĩ đại xảy ra trước sự chứng kiến của mọi người.

Lời hứa này còn được Vị Thiên Nữ nhắc lại vào ngày 19.08.1917 và vào ngày 13.09.1917.

Vâng, trong lần hiện ra vào ngày 13.09. 1917, sự thông báo của Vị Thiên Nữ về một phép lạ vĩ đại sẽ xảy ra vào ngày 13 thang 10 tới, cũng được ba trẻ nói cho mọi người hay. Vì thế, đúng vào ngày đó, đã có khoảng từ 50 đến 70.000 người đã tấp nập đổ xô về Fatima, trong số họ, gồm có đủ mọi hạng người, từ các tín hữu, những người tò mò cho đến cả những người nghi ngờ chống đối.

Nhiều phóng viên của những tờ báo lớn ở Bồ Đào Nha cũng đều có mặt trong lần hiện ra hôm đó. Nhưng có lẽ những phóng viên này chỉ muốn đến để soạn sửa cho bản tin ăn khách sẽ được đăng ở trang nhất trên các tờ báo của họ trong số ra ngày mai với tít lớn: 

«Sự thất bại ê chề của hiện tượng Fatima», hay: «Nhân loại văn minh của thế kỷ XX vẫn còn bị những chuyện hoang đường lừa đảo »  kèm theo những bài bình luận đầy giọng mỉa mai châm biếm tôn giáo, nếu như phép lạ đã được loan báo trước, không xảy ra. Nhưng vào ngày 13.10.1917, mọi sự đã xảy ra hoàn toàn khác với ý nghĩ của những nhà báo này:

Phép lạ cả thể đã thực sự xảy ra; mặt trời đã quay cuồng trước sự chứng kiến của tất cả mọi người có mặt hôm đó.

Một vị giáo sư là chứng nhân hiện tượng lạ lùng hôm đó

Ở đây, chúng ta hãy nghe tiến sĩ José Maria Proença de Almeida Garrett, giáo sư môn khoa học tự nhiên đại học Coimbra, kể lại những gì ông đã quan sát thấy ở Fatima hôm đó. Vì ông là một giáo sư, nên lời tường trình của ông rất khả tín và gây được sự chú ý của mọi người:

«Hôm đó, tôi đến nơi vào giữa trưa. Cơn mưa tầm tã từ buổi sáng sớm chẳng những không ngớt, mà bây giờ còn bị những trận gió dữ dội thổi ào tới tấp như muốn làm tràn ngập cả cảnh vật. (…) Lúc đó vào khoảng 2 giờ chiều. Trong vài giây lát trước đó, mặt trời còn bị che khuất sau đám mây dày đặc, bổng chốc nó chiếu sáng qua đám mây. Mọi cặp mắt đều hướng nhìn về phía mặt trời như bị một sức mạnh nam châm vô hình nào đó cuốn hút vậy. 

Chính tôi cũng nhìn thẳng vào mặt trời. Nó trông giống như một cái đĩa sáng rực rỡ, chói lọi, nhưng không làm lóa mắt. (…) Nhưng mặt trời vào lúc bấy giờ không làm lóa mặt, không giống như khi chúng ta nhìn nó bị che khuất sau một đám mây. Không, bầu trời lúc bấy giờ hoàn toàn trong sáng, chứ không hề có một vẩn mây nào che khuất mặt trời cả; nó xuất hiện rõ ràng giữa bầu trời. Cái đĩa sáng chói đầy mầu sắc rực rỡ đó không đứng yên, nhưng chuyển động rất nhanh. Và đó không phải là những tia sáng lung linh phát ra từ các ngôi sao. Cái đĩa lửa quay tròn với một tốc độ nhanh khủng khiếp, khiến từ đám đông những người có mặt hôm đó, bổng chốc vang lên những tiếng kêu la sợ hãi thất thanh. Mặt trời cứ tiếp tục quay tròn như thế cùng với tốc độ nhanh khủng khiếp tương tự, đồng thời nó tách ra khỏi không trung và tiến đến gần mặt đất với mầu đỏ máu, mọi cảnh vật như đang sắp sửa bị nghiền nát dưới độ quay nhanh khủng khiếp của vòng lửa không lồ. (…) 

Tất cả những hiện tượng này, tôi đã bình tĩnh quan sát và trình bày ra đây sự nhận xét khách quan của mình, chứ không do bất cứ sự xúc động nào chi phối cả. Tôi cũng hoàn toàn chờ đợi sự nhận xét và quan điểm của kẻ khác.» (1).

Phải chăng đám đông bị thôi miên?

Hàng chục ngàn người đều đổ nhìn về phía mặt trời đang quay lộn kỳ lạ. Về phép lạ mặt trời quay, có lẽ sẽ có người cắt nghĩa ngay rằng vì đã được báo từ trước, và đám đông đã đến Fatima với một tâm trạng quá nóng lòng hồi hộp chờ đợi. Vì thế, khi có một hiện tượng bất bình thường nào đó nơi mặt trời xảy ra, họ đã vội cho là phép lạ, và rồi sự công nhận đó cứ lan tỏa ra nhanh trong đám đông một cách vô ý thức như một dòng điện vậy, tương tự như phản ứng của các khán giả ngồi xem đá banh trong một sân vận động khi có cầu thủ đá thủng lưới đối phương.

Nhưng sự cắt nghĩa đó sẽ hoàn toàn trở nên buồn cười và không thể đứng vững được khi sự kiện cụ thể xảy ra trong thực tế, đó là người ta có thể quan sát và nhìn thấy được phép lạ mặt trời quay trong chu vi rộng 1550 cây số vuông.

Rất nhiều nhân chứng đã từ xa chứng kiến được phép lạ mặt trời, lại là những người vô tín ngưỡng, những người đã từng phê bình và cười chê những khách đến Fatima hôm đó như những kẻ «nhẹ dạ cả tin». Trong số những người quan sát được phép lạ mặt trời từ xa, chứ không có mặt tại Fatima, đã cho ý kiến như sau:

Linh mục Joaquim Lourenco, hiện là nhà giáo luật học của giáo phận Leiria, nhưng vào lúc xảy ra phép lạ, hãy còn là một học trò và cùng người anh và các bạn bè của ngài đang có mặt tại làng Alburitel, cách Fatima vào khoảng 54  km. Tất cả đều tưởng ngày tận thế đã đến.

Cha Lourenco tường thuật lại như sau: «Tôi nghĩ rằng tôi không đủ khả năng để diễn tả lại những gì chính tôi đã chứng kiến xưa kia. Tôi nhìn như dán mắt vào mặt trời để quan sát: 

Mặt trời có màu nhợt, đến nỗi tôi có thể nhìn thẳng vào nó mà không bị đau mắt chút nào cả. Mặt trời vào lúc bấy giờ trông tựa như một quả bóng bằng tuyết, quay chung quanh cái trục của mình, và bổng chốc nó như rơi ra khỏi bầu trời, quay lượn ngoằn ngoèo và tiến sát gần mặt đất với vẻ đầy đe dọa. Vì quá sợ hãi, tôi đã chạy nấp vào phía sau người lớn đang đứng khóc lóc vì tưởng rằng thế giới trong giây lát nữa sẽ bị chấm tận. Bên ngoài ngôi trường làng của chúng tôi, có một đám đông đang tụ họp lại; còn đám học trò chúng tôi thì xô nhau chạy ra khỏi lớp học và đi xuống đường. Khi phép lạ bắt đầu xảy ra thì chúng tôi nghe thấy tiếng kêu la của những người đang đứng đầy ngoài đường phía trước cổng trường, đàn ông cũng như đàn bà…

Lúc bấy giờ có một người vô thần, mà cả buổi sáng hôm đó cứ rêu rao lên tiếng chê bai cười nhạo những người tới Fatima là «những kẻ ngu ngốc», cốt chỉ để xem một đứa bé gái nhà quê. Nhưng trong suốt lúc xảy ra phép lạ thì ông ta đứng đờ ra như một người bị bất toại cả thân mình và chỉ đưa mắt cắm chặt vào mặt trời. Ông ta bắt đầu run rẩy cả mình mẩy lẫn chân tay, rồi quỳ xuống trên bùn lầy và giơ hai tay lên trời cầu xin Chúa tha thứ cho mình.» (2).

 

Một hiện tượng không thể cắt nghĩa được

Qua sự trình bày của tất cả mọi nhân chứng có mặt hôm đó khi xảy ra phép lạ mặt trời quay, người ta có thể nói được rằng phép lạ cả thể đó có bốn đặc điểm khác nhau :

 

  1. Đám đông đã có thể nhìn thẳng vào một vật sáng chói lọi, mà họ cho là mặt trời, chứ họ không cần phải đeo kính râm hay bất cứ phương tiện bảo vệ mắt nào cả.
  1. Vừng sáng chói lọi đó đã tỏa ra những tia sáng mầu sắc rực rỡ xuống trên mặt đất, đến nỗi mọi cảnh vật đều bị nhuộm mầu hết.
  1. Vừng sáng chói lọi rực rỡ đó rơi xuống trên đám đông.

 

  1. Chỉ trong vòng mấy phút mà cả vùng đất Fatima đang bùn lầy dơ bẩn, bổng chốc trở thành khô cứng, và áo quần của đám đông trên dưới 60 ngàn người từng bị cơn mưa cả buổi sáng làm ướt đẫm, cũng hoàn toàn khô ráo bình thường.

Đúng vậy, chỉ trong vòng khoảng 10 phút đồng hồ mà cả mặt đất lầy lội cũng như quần áo ướt át của đám đông bổng chốc khô ráo hoàn toàn. Đó quả là một điều đã minh nhiên nói lên rằng ngoài phép lạ siêu nhiên ra, không thể tìm ra được lời giải thích theo phương diện tự nhiên được.

Nỗi lo lắng của Mẹ Maria cho con cái loài người

Nếu thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã từng ước ao là khi được về trên trời, thánh nữ sẽ trở thành tình yêu đầy sáng tạo để cứu giúp mọi người, thì nay Fatima và nhất là phép lạ mặt trời quay, là một bằng chứng hùng hồn của tình yêu đầy sáng tạo của Mẹ Maria đối với con cái loài người chúng ta, dĩ nhiên, trên hết là bằng chứng của tình yêu Thiên Chúa.

Bởi vậy, chúng ta hãy nghiêm chỉnh đón nhận dấu chỉ của sự lo lắng của Mẹ Thiên Chúa; đúng như lời chị Lucia đã cảnh báo : «Fatima luôn luôn mang tính cách thời sự cao điểm của nó.»  Bởi vì, đối với Thiên Chúa, thời giờ là vô tận; nhưng đối với phàm nhân chúng ta, thời giờ luôn có giới hạn của nó. Và giới hạn đó không ai biết được dài ngắn, lâu mau. Vì chưa bao giờ có ai biết được mình sẽ được sinh ra lúc nào, và ít ai biết được mình sẽ chết lúc nào. Ngày tận cùng của mỗi người sẽ xảy đến một cách bất chợt, không ngờ trước được, tương tự như một kẻ trộm vậy (x. Mt 24,37-44). Do đó, Đức Giêsu đã căn dặn chúng ta:  «Các con phải canh chừng, phải tỉnh thức, vì các con không biết khi nào thời ấy đến!»  (Mc 13,33).

Nhưng dĩ nhiên, sự tỉnh thức và canh chừng mà Chúa nói đây, không có nghĩa là sự ngồi chờ cách thụ động, vô vi; nhưng là một sự tỉnh thức đầy sáng tạo, nghĩa là một sự tỉnh thức chờ đợi đầy tính năng động mà Mẹ Maria đã chỉ cho chúng ta tại Fatima cách đây đúng 100 năm về trước. Đó là:

  • Mỗi người phải ăn năn sám hối và cải thiện cuộc sống cá nhân của mình;
  • Hằng ngày siêng năng và sốt sắng lần hạt Mân Côi;
  • Tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ, như Chúa muốn.

Nếu được thế, thế giới sẽ được hòa bình, nhiều dân tộc sẽ tránh khỏi cảnh bị diệt vong và nhiều linh hồn sẽ không bị trầm luân trong hỏa ngục đời đời.

 

 

Linh mục Nguyễn Hữu Thy

Ngọc Lan sưu tầm

 

 

 

https://baomai.blogspot.com/
Xem thêm...

VÌ SAO NGƯỜI HOA QUẦN CƯ THÀNH CHỢ LỚN

VÌ SAO NGƯỜI HOA QUẦN CƯ THÀNH CHỢ LỚN

Buổi đầu của các di dân người Hoa ở Đàng Trong: từ Cù Lao phố đến Chợ Lớn

Ngày nay, tại Sài gòn có trên 500.000 người Việt gốc Hoa sinh sống ở các quận 5, 6, và quận 11, trong đó quận 5 chiếm khoảng 40% dân số. Cộng đồng người Hoa này đến từ đâu? Vì sao họ tập trung sinh sống ở khu vực này?

(ảnh: Quang Ninh)

Năm Kỷ Mùi (1679), 4 năm trước khi đế chế của nhà Minh hoàn toàn rơi vào tay nhà Thanh (năm 1683), hai viên tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đã cùng hơn 3.000 quân binh, hơn 50 chiến thuyền đến nước ta xin tị nạn. Theo “Đại Nam thực lục”, chỉ riêng đoàn thuyền của Trần Thượng Xuyên đã có đến 50 chiếc thuyền cùng với khoảng 3.000 người đến cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng xin thần phục chúa Nguyễn. Đó là thế hệ di dân người Hoa đầu tiên đến Đàng Trong là những người Hoa theo phong trào “Phù Minh diệt Thanh” (hay “Phản Thanh phục Minh”), tức những người theo nhà Minh không thần phục nhà Thanh. Chúa Nguyễn Phúc Tần thu nhận, ban cho ông chức cũ và sai đến ở đất Đông Phố (Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ngày nay).

Đoàn thuyền của Trần Thượng Xuyên theo cửa biển Cần Giờ tiến vào Bàn Lân (Bàn Lăn), nay thuộc TP. Biên Hoà; binh thuyền của Dương Ngạn Địch tiến vào cửa Soài Rạp đến vùng Vũng Gù – Mỹ Tho. Họ đã vỡ đất hoang, dựng phố xá, biến hai vùng đất mình đặt chân đến thành những đại phố sầm uất là Nông Nại đại phố (Cù Lao phố, Biên Hòa) và Mỹ Tho đại phố.

Sách “Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển” (Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai, nxb Đồng Nai, 1999) chép: “Năm 1679, hai tướng Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên, tức Trần Thắng Tài, đã dùng 50 chiến thuyền vượt biển di tản 3.000 người thân tộc và cận vệ. Họ cập bờ Tư Dung (miền kinh đô Thuận Hóa) xin tị nạn vào đất Việt, được chúa Nguyễn chấp thuận cho phép nhập cư. “Việt sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang chép: “Chúa Thái Tông bèn khiến đặt yến tiệc đã họ, an ủi, khen ngợi, cho các tướng lãnh y chức cũ, phong thêm quan tước mới, khiến vào ở đất Đông Phố để mở mang đất ấy. Liền đó họ được các tướng Vân Trình, Vân Chiêu hướng dẫn, binh thuyền tướng sĩ Long Môn của Dương Ngạn Địch tiến vào Lôi Lạp, theo cửa Đại, cửa Tiểu, đến định cư ở Mỹ Tho. Binh lính, tướng sĩ Cao, Lôi, Liêm của Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình tiến vào cửa biển Cần Giờ rồi lên định cư ở Bàn Lân, xứ Đồng Nai (vùng Biên Hòa ngày nay)”.

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu lập phủ Gia Định, cho phép những di dân người Hoa định cư, đồng thời lập ra Minh Hương xã ở vùng Tàu Hủ – Bến Nghé thuộc Phiên Trấn và Thanh Hà xã thuộc Trấn Biên. Từ đó, nhóm người Hoa di cư còn được gọi là “người Minh Hương”.

Trong cuộc giao tranh giữa nhà Tây Sơn với chúa Nguyễn Ánh, vào những năm 1776-1788, Cù Lao phố (Biên Hòa) và Gia Định đã bị tàn phá nặng nề, sinh hoạt và hoạt động thương mại của người Hoa bị đình trệ, nhiều người phải bỏ đi nơi khác lánh nạn. Đến năm 1788, người Hoa ở Thanh Hà xã trở lại Cù Lao phố rất ít, đa phần chuyển đến định cư ở khu vực Chợ Lớn ngày nay, biến nơi này thành điểm tập trung người Hoa đông đảo, sầm uất nhất của Đàng Trong.

Như vậy, xét về nguồn gốc di cư, người Hoa tại Chợ Lớn có thể được chia làm hai nhánh khác nhau”: Một là những người Hoa ở Minh Hương xã đã kết hôn với người Việt, hội nhập với văn hóa và ngôn ngữ của cộng đồng người Việt; hai là những người Hoa Thất Phủ, tức các di dân người Hoa đến từ 7 phủ thuộc 3 tỉnh của Trung Quốc khi đế chế của nhà Minh sắp sửa rơi vào tay nhà Thanh.

Chân dung Đô đốc Trần Thượng Xuyên, chùa Ông thờ Quan Công ở Cù Lao phố, Biên Hoà (Hình: wiki)

Đô đốc Trần Thượng Xuyên và sự hình thành của Cù Lao phố (Biên Hòa)

Trần Thượng Xuyên sinh năm 1655, mất năm 1720, quê ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, là quan của nhà Minh. Năm 1644, nhà Mãn Thanh đánh chiếm hầu hết lãnh thổ Trung Quốc, lập ra triều đại nhà Thanh, nhưng trong thực tế, lực lượng ủng hộ nhà Minh vẫn còn chiến đấu rải rác ở các nơi. Trần Thượng Xuyên tham gia phong trào kháng Thanh của Trịnh Thành Công và được phong làm Tổng binh 3 châu Cao – Lôi – Liêm. Tuy nhiên, theo thời gian, triều đình nhà Thanh ngày càng ổn định, lực lượng kháng Thanh thất bại và bị tiêu diệt dần dần, kể cả Trịnh Thành Công ở Đài Loan. Năm Kỷ Mùi 1679, sau khi quân Thanh dẹp loạn Tam Phiên, Trần Thượng Xuyên cùng quân của mình và gia đình rời Trung Quốc tị nạn. Cùng đi với ông trong đợt này còn có Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và Phó tướng Hoàng Tiến.

Trước khi nhóm người Hoa của Trần Thượng Xuyên đến định cư ở Bàn Lân thì nơi đây đã có người Việt đến khẩn hoang lập làng rải rác từ Mỗi Xuy (Bà Rịa) đên Nhơn Trạch, Long Thành, Biên Hòa.

Số người Hoa hiên diện trong đợt nhập cư năm 1679 tại Bàn Lân là một bộ phận của tổng số 3.000 người Hoa di tản sang Việt Nam. Nhóm người Hoa do Trần Thượng Xuyên cầm đầu đến định cư tại Bàn Lân, thấy Cù Lao phố là địa điểm thuận lợi cho việc buôn bán. Họ đã xây dựng nên Nông Nại (Nông Nại là Đồng Nai phát âm theo giọng Quảng Đông) đại phố, một thương cảng xuất nhập khẩu lớn nhất miền Đông Nam bộ vào lúc đó. Họ đã thu hút các thương nhân Trung Hoa và các nước khác là những thương buôn chuyên nghiệp có vốn to và giàu kinh nghiệm… “ (Biên Hòa – Đồng Nai 300 năm hình thành và phát triển, tr. 111, 112).

(Hình: wiki)

“Đại Nam liệt truyện” chép về Trần Thượng Xuyên: “Trần Thượng Xuyên tự là Thắng Tài, người tỉnh Quảng Đông, làm quan Tổng binh nhà Minh. Khi nhà Minh mất, giữ nghĩa không làm tôi nhà Thanh. Thái Tông Hoàng Đế năm thứ 31, Kỷ Mùi (1679), mùa xuân, cùng với Long Môn Tổng binh Dương Ngạn Địch, Phó tướng Hoàng Tiến và Trần Bình An đem biền binh, gia quyến hơn 3000 người và hơn 50 chiến thuyền đến đỗ ở các cửa biển Tư Hiền và Đà Nẵng, tự bày tỏ rằng: “Chúng tôi là bộ thần nhà Đại Minh, hết lòng trung vì nước, sức kiệt thế cùng, vận nhà Minh đã hết, chúng tôi không chịu thờ nhà Thanh, sang đây dâng lòng thành, xin làm tôi tớ”. Triều đình bàn rằng họ khác phong tục, khác tiếng nói, thình lình kéo đến cũng khó khu xử, nhưng họ cùng bách mà đến với ta, ta không nỡ cự tuyệt.

Miền Đông Phố của Chân Lạp đất rộng, đồng tốt bát ngát nghìn dặm, triều đình chưa kinh lý, chi bằng lấy sức của họ cho mở đất mà ở. Thế là làm một việc mà được 3 điều lợi. Chúa ưng thuận, ban khen thiết yến và yên ủi họ, rồi trao cho làm quan chức, cho đến ở tại Đông Phố.

Trần Thượng Xuyên cùng bọn Dương Ngạn Địch đến cửa khuyết tạ ơn mà đi. Thượng Xuyên vào cửa biển Cần Giờ đóng ở Bàn Lân (nay thuộc Biên Hòa). Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa biển Soài Rạp (Lôi Lạp) đóng ở Mỹ Tho (nay thuộc Định Tường). Họ khai khẩn đất bỏ không, dựng phố xá. Người nhà Thanh cùng thuyền buôn các nước Tây dương, Nhật Bản và Chà Và đến tụ tập buôn bán đông đúc. Bởi thế phong hóa văn minh ngày dần thấm nhuần vào Đông Phố.

Năm Mậu Thìn (1688), Anh Tông Hoàng Đế năm đầu, mùa hạ, Hoàng Tiến giết chủ tướng Dương Ngạn Địch ở cửa biển Mỹ Tho, tự xưng là Phấn Dũng Hỗ uy Tướng quân, đóng quân ở Nam Khê (nay thuộc huyện Kiến Hòa, tỉnh Định Tường), cướp bóc nước Chân Lạp.

Tin này lên đến triều đình, chúa sai Phó tướng doanh Trấn Biên Mai Vạn Long đem quân đi đánh. Hoàng Tiến chạy đi rồi chết. Vạn Long chiêu tập những quân Long Môn còn lại giao cho Thượng Xuyên quản lĩnh, làm tiên phong, đóng quân ở Doanh Chậu (nay thuộc Vĩnh Long), kế đó tiến đánh Chân Lạp và thắng được.

Hiển Tông Hoàng Đế năm thứ 8 Kỷ Mão (1699), mùa thu, Nặc Thu nước Chân Lạp làm phản, Thượng Xuyên đem việc tâu lên. Chúa sai Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất, Cai bạ Phạm Cẩm Long làm Tham mưu, lĩnh quân 2 doanh Bình Khang, Trấn Biên và thuộc binh 7 thuyền Quảng Nam cùng tướng sĩ Long Môn.

Đền thờ tường Trần Thượng Xuyên nhìn từ ngoài cổng (Hình: Dân Trí)

Canh Thìn, Hiển Tông năm thứ 9 (1700), mùa xuân, Trần Thượng Xuyên đánh nhau với giặc nhiều trận đều thắng. Quân Hữu Cảnh đến thành Nam Vang. Nặc Thu đến cửa quân xin hàng.

Tân Mão, Hiển Tông năm thứ 20 (1711) mùa đông, Nặc Thâm từ nước Xiêm về, mưu hại Nặc Yêm. Nặc Yêm sai người phi báo Trấn Biên và Phiên Trấn, xin quân đến cứu. Thượng Xuyên cùng Phó tướng Nguyễn Cửu Vân đem việc tâu lên (việc này chép ở truyện Nguyễn Cửu Vân).

Giáp Ngọ, Hiển Tông năm thứ 23 (1714), mùa đông, Nặc Thâm đem quân vây Nặc Yêm. Nặc Yêm quân ít, cầu cứu với hai doanh Phiên Trấn và Trấn Biên. Chúa cho Trần Thượng Xuyên làm Đô đốc Phiên Trấn đem binh đến Sài gòn. Phó tướng Trấn Biên Nguyễn Cửu Phú đem quân đóng ở Soài Rạp (Lôi Lạp), thủy quân đóng ở Mỹ Tho làm thanh viện từ xa rồi sai người đem việc phi tấu. Chúa bảo cho biết rằng: “Việc ngoài cửa khổn, giao cả cho hai người. Phải xét kỹ cơ nghi nên đánh hay lấy thế nào cho yên nơi phiên phục”.

Rồi đó lũ Thượng Xuyên và Cửu Phú đem các tướng sĩ hợp quân với Nặc Yêm, bao vây Nặc Thâm ở thành La Bích. Nặc Thu dâng thư nhận tội, xin lập vua mới để giữ lấy nước. Lũ Thượng Xuyên đem việc tâu lên, chúa mừng lắm nói rằng: “Ngoài cửa khổn, tướng quân làm việc, nên lâm trận quyết thắng để khống chế khuất phục người ngoài. Còn việc lập vua mới đợi sau sẽ bàn”.

Ất Mùi, Hiển Tông năm 24 (1715), mùa xuân, Nặc Thâm ở thành La Bích, tình thế ngày một cùng quẫn, phóng hỏa đốt nhà cửa trong thành, ngầm ra cửa nam, trốn đi. Nặc Thu được tin, cùng trốn. Thượng Xuyên và Cửu Phú đem quân vào thành, thu hết khí giới nghi trượng. Lại dò biết Nặc Thu ở tháp Băng Thủy, bèn sai Nặc Yêm chiêu dụ. Nặc Thu sợ, không dám ra, xin nhường ngôi vua cho Nặc Yêm. Lũ Thượng Xuyên đem sự trạng ấy tâu lên. Chúa cho phong Nặc Yêm làm quốc vương Chân Lạp.

Mùa hạ, tháng ước Xiêm sai người trách Nặc Yêm gây hấn, lại muốn phát binh để giúp Nặc Thâm. Nặc Yêm cáo cấp Thượng Xuyên và Cửu Phú đem việc tâu lên. Chúa nghĩ ở xa khó tính được việc binh, bèn sai hai tướng tùy nghi xếp đặt. Chúa lo Nặc Yêm binh lực không đủ, nên cho Nặc Yêm hết cả những binh khí và nghi trượng đã thu được và trả lại những dân đã bị bắt từ trước.

Sau đó, Thượng Xuyên bệnh rồi chết. Người Trấn Biên nhớ công, lập đền thờ”.

Đền thờ tướng Trần Thượng Xuyên nhìn chính điện (Hình: Dân Trí)

5 năm sau khi đến định cư tại Cù Lao phố, nhóm người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đã xây dựng miếu Quan Công vào năm 1684, về sau đổi tên thành Thất phủ cổ miếu, dân gian thường gọi là chùa Ông (xã Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa). Miếu thờ chính là miếu thờ Quan Công, một trong 3 anh em “Đào viên kết nghĩa” thời Tam Quốc, gồm: Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi. Phía bên trái gần cổng ra vào có tượng ngựa Xích Thố của Quan Công. Theo tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa”, ngựa Xích Thố ban đầu là ngựa của Đổng Trác, sau đó Đổng Trác tặng lại cho Lữ Bố. Con ngựa này dài một trượng, cao tám thước, màu đỏ rực như lửa, mỗi ngày đi ngàn dặm. Sau khi Lữ Bố chết, Xích Thố được Tào Tháo cho người chăm sóc, sau đó trao lại cho Quan Công. Khi Tào Tháo tặng ngựa Xích Thố cho Quan Công, nhận ngựa xong Quan Công liền phục lạy tạ ơn. Tào Tháo đã phải ngạc nhiên nói: “Ta đã bao phen trao tặng nào là mỹ nữ, nào là vàng bạc, nào là gấm vóc, sao chẳng thấy Vân Trường vui, nay cho con ngựa này mà Vân Trường lại tạ ơn hậu như vậy?”

Về mặt chức năng, chùa Ông không chỉ là cơ sở thờ tự tâm linh mà còn là hội quán để cộng đồng người Hoa lui tới sinh hoạt, tương trợ lẫn nhau.

Về mặt kiến trúc, chùa Ông là một công trình mỹ thuật với nghệ thuật điêu khắc đặc sắc. Đặc biệt, trên nóc chùa có tượng “ông Nhật” và “bà Nguyệt” tượng trưng cho yếu tố âm và dương. Theo triết lý phương Đông, âm – dương hòa hợp sẽ sinh ra muôn loài, biểu hiện sự thịnh vượng của vạn vật. Tuy nhiên, theo chiết tự chữ Hán, 2 chữ Nhật và Nguyệt hợp lại thành chữ “Minh”; đây là cách để cộng đồng người Hoa nhớ về cố quốc.


Huỳnh Duy Lộc / Theo: Saigon Nhỏ
 
 

VÌ SAO NGƯỜI HOA QUẦN CƯ THÀNH CHỢ LỚN

Nhiều nghề truyền thống của người Hoa như làm đầu lân hoặc vàng mã đang bị thu hẹp (ảnh: tác giả)

Bà Dìn đã sống hơn trăm tuổi. Trong ký ức xa xăm về quê hương Trung Quốc, theo lời ba mẹ bà kể, đó là một vùng đất thân thương và giữ gìn nhiều tập tục tổ tiên. Năm 2018, bà có ước nguyện được về Quảng Châu, vì nghe đâu còn ngôi làng và một số bà con thân thuộc ở đó. Bà muốn thấy lại quê nhà trước khi ra đi. Con cháu bà Dìn ở Chợ Lớn gom tiền lại, tìm người đưa bà đi một chuyến về cố hương Trung Quốc cho bà vui. 

Đó là một chuyến đi ngắn, dự định khoảng hai tuần. Thế nhưng chỉ mới một tuần, bà Dìn đã quay về. Đón bà ở sân bay, con cháu thi nhau hỏi bà có vui không, mãn nguyện chưa. Bà Dìn im lặng không nói gì. Đến bữa cơm tối, cả nhà ngồi với nhau, có đứa cháu hỏi khi nào bà muốn đi lại. Bà Dìn nói sẽ không quay lại nữa. Ai nấy đều ngạc nhiên. “Nó không giống gì như ông bà kể”, bà Dìn thốt lên, “Ai cũng cũng nói tiếng Hoa, nhưng không ai giống như mình nghĩ”.

Bà Dìn mất năm 2020, trong đại dịch Covid-19, mang theo sự hụt hẫng của một thế hệ người Hoa lưu luyến quê cha đất tổ. Con cháu của bà sau này làm đám giỗ cũng đơn giản như người Việt: Một mâm cơm khiêm tốn trong gia đình. Những người như bà Dìn khi mất đi đã khép lại những thế hệ người Hoa từng kiêu hãnh gìn giữ cội nguồn, với tư cách một lớp di dân định cư trên đất Việt.

Người Hoa đến Việt Nam và nhập thành cư dân cố định trên nước Việt giờ có hai lớp người: Những người lớn tuổi thì giữ lại chữ viết, ngôn ngữ, phong hóa và luôn dạy cho con cháu về quê hương gốc. Còn những người trẻ thì hội nhập đời sống Việt Nam, dần đồng hóa và không còn biết viết hay nói tiếng quê hương gốc của họ. Nhiều người Hoa không thể nhớ nổi quê quán tổ tiên ở nơi nào bên Trung Quốc, chỉ biết đại khái họ là người gốc Triều Châu, Quảng Tây, Phúc Kiến hay Hải Nam… qua ngôn ngữ truyền lại thôi. 

Chùa đình, nơi sinh hoạt của cộng đồng và bang hội, giờ cũng đìu hiu (ảnh: tác giả)

Chợ Lớn là trung tâm của cộng đồng người Hoa với hệ thống thương mãi lớn rộng chi phối cả kinh tế miền Nam, khởi đầu từ năm 1698, khi Chúa Nguyễn cho lập ra Minh Hương xã ở vùng Tàu Hủ – Bến Nghé và Thanh Hà xã ở Trấn Biên. Tên gọi người Minh Hương có từ đó. Sau 1788, do chiến cuộc giữa nhà Nguyễn và quân Tây Sơn, người Hoa lùi dần về và tạo thành khu Chợ Lớn ngày hôm nay. Quận 5 là trái tim của Chợ Lớn, với đa phần là thương gia; quận 11 là nơi tập trung người Hoa làm nghề, chăm chỉ nối nghiệp cha ông để lại; còn quận 6 phần nhiều là kho bãi, với nhân công và bang hội người Hoa trú từ đời này sang đời kia.

Năm 1956, cái tên Chợ Lớn không còn trên mặt hành chính, do Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh thành lập Đô thành Sài Gòn. Nhưng Chợ Lớn phồn thịnh, đầy bản sắc và thú vị đến mức nhiều thế hệ dân Việt vẫn quen gọi là Chợ Lớn. Những năm 1980, đời sống cấm vận nghèo nàn và tăm tối, Sài Gòn gần như chết ngộp thì Chợ Lớn vẫn rộn rịp đến lạ kỳ. 

Buổi tối, ghé vào Chợ Lớn, người dân miền Nam có thể tạm quên nỗi cơ cực hàng ngày với các món ăn đặc biệt của người Hoa, từ ly chè cho đến tô hủ tiếu. Người Hoa giỏi quan sát sức mua của thị trường nên họ không bán mắc. Do đó, có lúc vô Chợ Lớn chơi, ăn uống, đi chùa, nghe người Hoa nói tiếng Việt với giọng đớt đát nhưng thân thiện, là ký ức khó quên đối với người Sài Gòn. Tận hôm nay, câu truyền khẩu từ thời Đệ nhất Cộng Hòa “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật” vẫn còn được nhắc. Hai vế sau thì đã không giữ được trọn ý nghĩa nhưng “ăn cơm Tàu” thì mãi vẫn chưa thấy đổi ngôi.

Nhiều chung cư và cửa tiệm người Hoa giờ vắng vẻ (ảnh: tác giả)

Theo Luận văn tốt nghiệp Học viện Quốc gia hành chánh Sài Gòn năm 1968, có tên “Vấn đề Hoa Kiều tại Việt Nam” của ông Lưu Trường Khương, vào năm 1950 có đến hơn 800,000 người Hoa ở miền Nam. Sự phồn thịnh và kiểm soát kinh tế xã hội của các bang hội người Hoa không khác gì ở Hong Kong. Vào Chợ Lớn thời đó đôi khi phải “thủ” sẵn vài câu tiếng Quảng để không lạc lõng trong vùng đất mà tiếng Việt vang lên như ở quốc ngoại. Thậm chí có người Hoa còn không biết rành tiếng Việt, phải có người dịch giùm.

Người Hoa Chợ Lớn từng kinh qua những giai đoạn thăng trầm, bắt đầu từ thời Tổng thống Ngô Đình Diệm với chính sách kiểm soát kinh tế, văn hóa và hộ tịch người Hoa, nhằm tránh tình trạng bị cộng đồng giàu có và hùng hậu này nắm quyền sau cánh màn. Tuy nhiên, cộng đồng người Hoa vẫn phát triển mạnh và đóng góp đáng kể cho kinh tế Sài Gòn nói riêng và miền Nam nói chung. Chỉ sau 1975 thì người Hoa mới nếm mùi cay đắng của chế độ cộng sản. 

Trước năm 1975, người Hoa có 16 tờ báo, 166 trường học. Ngoài bệnh viện Sùng Chính phục vụ tất cả cộng đồng Hoa kiều, người Hoa còn có năm bệnh viện phục vụ người của năm bang hội chính – lớn nhất là bệnh viện bang Quảng Đông với 912 giường, và nhỏ nhất là bệnh viện bang Hải Nam với 40 giường. Tất cả đều bị chính quyền mới cấm hoạt động hoặc tịch thu. Tiếp đó là chiến dịch đánh “tư sản mại bản”, tấn công quyết liệt và vơ vét sạch tài sản người Hoa. Người Hoa không còn chọn lựa nào khác là ra đi. Trong làn sóng vượt biển của người miền Nam chạy thoát họa cộng sản, có rất nhiều người Hoa… 

Sau gần 50 năm kể từ 1975, người Hoa ở Chợ Lớn như thế nào? Có rất ít người nhận ra rằng Chợ Lớn ngày nay dường như ngày càng… vắng bóng người Hoa! Nói chính xác hơn là cộng đồng người Hoa Chợ Lớn ngày nay đã bị chen lẫn bởi người Việt từ khắp nơi, đặc biệt từ… miền Bắc.

Mới đây, có lần ghé vào Chợ Lớn, mua giò cháo quẩy, mới bất ngờ biết người làm và bán là một thanh niên người Việt từ miền Tây lên. Làm giò cháo quẩy, bánh tiêu, bánh bò, bánh bao chiên, cũng như nhiều nghề truyền thống khác trước đây chỉ thấy người Hoa nắm giữ bây giờ nằm trong tay người Việt. Hỏi ra mới biết người Hoa ngày càng bỏ nhiều nghề truyền thống và con cái họ cũng không hứng thú nối nghiệp.

Chợ Lớn giờ đây ngày càng nhiều dân nhập cư từ các tỉnh lên làm ăn (ảnh: tác giả)

Nghề gia truyền là truyền thống kinh doanh của người Hoa. Họ luôn giữ kín bí mật gia truyền. Đó là những bí quyết chi tiết, chẳng hạn về công thức trộn bột làm bánh trung thu, bánh bao, dim sum, há cảo, mì sợi, mì vắt tươi, sủi cảo… Nghề của người Hoa, dù có học lóm bắt chước, cũng khó làm lại giống công thức độc quyền của họ. Và ngày xưa, người Hoa chỉ truyền lại bí quyết gia truyền cho con trai nối dõi. Bởi vậy, việc một số người Hoa truyền nghề lại cho ngoại tộc như đang thấy đã khiến nhiều người ngỡ ngàng. 

Một trong những yếu tố khiến người Hoa mất dần phong hóa của họ là sự kết nối không còn bền chặt và cộng đồng họ không còn quyền lực như xưa. Thế hệ trẻ người Hoa giờ không khác gì thanh niên Việt Nam, cũng thích những xu hướng sống thời thượng và ngại các tập tục cổ xưa.

Cách đây vài chục năm, vào Chợ Lớn là bắt gặp những cửa hàng sách, nhạc, đồ trang trí làm bằng tay của người Hoa. Những ngày lễ của người Hoa thì nhộn nhịp màu sắc đặc thù văn hóa truyền thống Trung Hoa. Nhưng bây giờ tìm lại những hình ảnh như vậy thật khó. Khi được hỏi các nhãn hiệu ghi tiếng Hoa có nghĩa gì, thậm chí có người cười, lắc đầu không biết. Anh L., một người Tiều chạy xe ôm sau khi tốt nghiệp lớp 12, tâm sự rằng anh đang dành thời gian đi học lại tiếng Hoa, vì tự nhiên thấy sợ mất gốc.

Một ông chủ tiệm hủ tiếu người miền Bắc (ảnh: tác giả)

Người Việt gốc Hoa, theo thống kê hiện nay, có khoảng 500,000 người ở Sài Gòn, sống rải rác ở các quận 5, 6 và 11. Cộng đồng người Việt gốc Hoa ngày càng ít ỏi. Họ đi đâu cả rồi? Rất nhiều người trẻ đã hòa tan vào thế hệ mới; nhiều người khác cũng tìm đường đi lao động ở những nơi nói tiếng Hoa như Macau, Singapore, Mã Lai… Còn lại chỉ biết làm việc và sống qua ngày, không còn vui thịnh vượng như ở thế kỷ trước. 

Đừng ngạc nhiên nếu ngày nào đó bạn ghé vào một tiệm đông y bất kỳ ở phố Hải Thượng Lãn Ông, quận 5, và thấy người bán có giọng miền Bắc Việt Nam. Từ sau 1975 đến nay, rất nhiều người Bắc di cư vào Nam đã thâm nhập vào Chợ Lớn, mua lại cơ nghiệp và buôn bán. Những thứ độc quyền của người Hoa khi xưa như lồng đèn, bánh trung thu, hàng mã… giờ vào tay người Việt cả rồi. Cũng buồn, nếu biết ở quận 5 hôm nay, những quán ăn gia truyền độc đáo có tay nghề gốc như người Hẹ đang rơi rớt dần.

Người Hoa có kiểu uống cà phê bằng dĩa, chấm một giọt bơ, giờ gần như không thấy nữa. Một buổi sáng cuối năm, mấy người bạn rủ đi, và nhắc nhau đến thật sớm vì quán chỉ mở cửa 4g sáng và nghỉ lúc 7g sáng. Trong căn nhà nhỏ, dưới ánh sáng vàng vọt của một cây đèn bàn, những người khách nhận phần cà phê rồi ngồi thu mình vào góc nói chuyện.

Ông cụ bán cà phê người Quảng ngạc nhiên khi thấy mấy người khách không phải những gương mặt quen thuộc thường ngày. Ông rót cà phê một cách trân trọng và kỹ lưỡng vào dĩa cho từng người. Những người Hoa uống cà phê trong căn nhà nhỏ, nằm giữa hẻm đó, dường như cũng ngạc nhiên, liếc nhìn. Hầu hết là người già. Cà phê không ngon lắm nhưng không gian tự nhiên thật xúc động. Mọi thứ như tái hiện, đọng lại. Nó giống như những người Hoa yêu truyền thống hôm nay đang cố níu giữ mọi thứ trong nhạt nhòa, và họ chỉ còn là những người già lặng lẽ, ngồi quanh nhau. 

Hồng Anh sưu tầm

 
Xem thêm...
Theo dõi RSS này