Gia chánh

Gia chánh (106)

NHỮNG MÓN ĂN TỪ HOA ĐỘC ĐÁO CỦA VIỆT NAM

NHỮNG MÓN ĂN TỪ HOA ĐỘC ĐÁO CỦA VIỆT NAM

Không chỉ phô sắc vẻ đẹp, nhiều loài hoa còn hóa thân vào ẩm thực, tạo nên những món ăn tinh tế và bổ dưỡng. Nhờ vậy mà ẩm thực Việt vốn đã giàu bản sắc, nay lại trở nên vô cùng phong phú và mang đậm nét tinh túy.



Hoa dùng để chế biến trong các món ăn của Việt Nam có rất nhiều loài, tùy vào khu vực địa lý và tập quán canh tác của từng vùng miền. Hoa nuôi trồng, hoa mọc dại, hoa có ở khắp ba miền Bắc Trung Nam. Miền Bắc gọi bằng hoa, miền Trung, miền Nam gọi bằng bông. Hoa súng, hoa thiên lý, hoa bí, hoa mướp, hoa chuối, bông hẹ, bông điên điển, bông so đũa, bông sầu đâu...

Dưới đây là một số loại hoa/bông phổ biến trong ẩm thực Việt Nam:

Hoa ban Tây Bắc

Ở vùng núi Tây Bắc, vào mỗi dịp tháng 2, 3, hoa ban thi nhau nở trắng rừng. Người phụ nữ thường hái hoa đem bán ở chợ như một thứ rau sạch hay mang về nhà chế biến thành những món ăn độc đáo. Với sự sáng tạo, khéo léo của con người, đã có nhiều món ăn từ hoa ban được sáng tạo rất hấp dẫn.

Để có những món ăn từ hoa ban phải qua rất nhiều công đoạn. Hoa ban sau khi hái về nhặt lấy cánh và nhụy hoa đem rửa nhẹ rồi chần qua nước nóng, sau đó mới chế biến thành nhiều món ăn khác nhau.

Nộm hoa ban cũng là một món ăn truyền thống của người Tây Bắc.

Hoa ban có thể dùng làm nộm rau, nộm giềng hay măng nộm hoa ban đều rất ngon và lôi cuốn. Ngoài ra, hoa ban còn có thể vò nát trộn thịt băm, nhồi cá, gà nướng…làm thành món ăn ngon và rất hấp dẫn thực khách.

Với món xôi (thường được gọi là ban đồ), người ta thường chọn những bông hoa mới nở, rửa sạch, sau đó cho vào chõ đồ xôi đã chín. Ban đồ khi ăn được chấm kèm với chẩm chéo (một gia vị truyền thống của dân tộc Thái). Lá và hoa ban có vị bùi, ngọt, thoang thoảng mùi thơm dịu, hòa quyện vào mùi nếp thơm quả là một trải nghiệm cực kì thú vị.

Nộm hoa ban không giống nộm vùng miền khác, thường có lạc, chanh và vị chua. Gia vị trộn nộm hoa ban "chuẩn" nhất thiết phải là loại tương ủ lên men của dân tộc Thái và giềng giã nhỏ. Với cách chế biến cầu kì, nộm hoa ban thường được làm khi nhà có khách quý.

Hoa tam giác mạch

Hoa tam giác mạch có nhiều ở Lào Cai, Cao Bằng và đặc biệt là Hà Giang. Ở mảnh đất địa đầu phía Bắc của Việt Nam, cứ vào cuối thu, lúc trời bắt đầu chuyển lạnh, đó cũng là thời gian để loài tam giác mạch hẹn hò trổ hoa.

Say mê với những sắc hoa muôn hồng nghìn tía, ít ai biết rằng, hạt của hoa có thể dùng làm nguyên liệu chế biến món ăn. Vào cuối mùa, người dân thu hoạch hạt tam giác mạch đem phơi khô, một phần dùng ủ tạo thành loại men hồng mi nổi tiếng, một phần có thể xay bột làm thành món bánh tam giác mạch nổi tiếng.

Bánh tam giác mạch ngon cần được làm tỉ mỉ, cẩn thận.

Từ những hạt tam giác mạch nhỏ hơn hạt đậu, người dân xay thành thứ bột thật mịn màng, sau đó cho bột hòa lẫn với nước lã thành bột dẻo, rồi cho vào khuôn truyền thống đúc thành từng miếng bánh tròn xoe. Nghe qua có vẻ dễ làm, nhưng xay bột tam giác mạch rất khó, phải là những hạt tam giác mạch được phơi khô một tuần lễ dưới nắng thì mới dễ xay. Người ta xay hạt tam giác mạch bằng tay nên phải xay rất kĩ mới cho ra thứ bột mịn, làm bánh không bị sạn khi ăn.

Bánh tam giác mạch thoáng vị bùi bùi, phảng phất chút hăng hăng đặc trưng của cây rừng. Những sắc tím nổi trên nền bánh như gợi nhớ về một mùa hoa ngọt ngào. Chỉ có những ai đã từng đến Hà Giang, và gặp người dân bản địa mới có cơ hội dùng qua loại bánh tam giác mạch hiền hòa này.

Hoa thiên lý

Hoa thiên lý từ lâu là món ăn đã được "biến tấu" thành nhiều món dùng trong bữa cơm gia đình và cả trong nhà hàng. Giữa cái nắng hè oi bức, nếu được thưởng thức các món ngon từ hoa thiên lý, đó sẽ là một cảm giác thú vị không gì sáng bằng.

Hoa thiên lý xào với thịt bò là món ăn quen thuộc trong mâm cơm người Việt.

Người chế biến chọn ra những chùm hoa lớn. Sau khi rửa sạch, ngâm nước thì đem tỉa cụm nhỏ, vừa miệng rồi chế biến nhiều món ăn như canh hoa thiên lý nấu xương, thịt băm hay nấu cua. Ngoài ra, hoa thiên lý xào thịt bò hay dùng chung với các món lẩu cũng rất đặc sắc. Không chỉ là thực phẩm bổ dưỡng, loại hoa này còn mang tác dụng giải nhiệt, giúp ngon giấc.

Hoa chuối

Hoa chuối là loài dân dã, gần gũi trong tâm thức người Việt. Hoa chuối đồng bằng có màu tím, được sinh ra để gắn với những món ăn bình dị mà không kém phần ngon miệng.

Món nộm hoa chuối dân dã.

Phổ biến nhất có lẽ phải kể tới nộm hoa chuối ở miền Bắc, còn miền Nam lại gọi là gỏi bắp chuối. Món nộm là sự tổng hòa của đủ vị chua, cay, ngọt, mặn, với vị hơi chát của hoa chuối, hòa cùng cái giòn béo của tai heo, bùi nhậy của lạc, thanh mát của rau thơm.

Ngoài ra, hoa chuối còn được tận dụng trong các món ăn gia đình như canh hoa chuối, bún bung, hoa chuối hầm chân giò… hoặc làm rau ăn kèm đều rất ngon.

Hoa cúc vàng (kim cúc)

Hoa cúc vàng thường được chưng trong những ngày lễ hoặc rằm. Đây là loại hoa khá phổ biến và có giá rất rẻ nên nếu dùng để chế biến món ăn cũng rất tốt. Đông y cho rằng, hoa cúc có vị đắng – cay, tính ôn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, chữa mụn nhọt sung viêm, đau nhức, mắt đỏ, đau đầu chóng mặt.

Chè hoa cúc.

Hoa cúc thường được chưng với đường phèn ăn như chè hoặc nấu canh, làm súp ăn cũng rất lạ vị. Món ăn độc đáo này sẽ giúp bạn phòng được chứng cảm cúm, viêm não nhẹ, viêm mũi, viêm da mũ, huyết áp cao, viêm gan…

Hoa hiên (hoa kim châm)

Mang vẻ đẹp bình dị nhưng hoa hiên có chứa nhiều protein, chất béo, tinh bột, vitamin A, vitamin C… rất có lợi cho sức khỏe. Hoa hiên vừa được trồng để làm cảnh, vừa để làm nguyên liệu trong nấu nướng.

Hoa hiên xào nghêu là một món không chỉ ngon mà còn rất bổ dưỡng.

Ở nước ta, hoa hiên được trồng nhiều ở những khu vực có khí hậu mát mẻ, ẩm ướt như Sapa, Tam Đảo, Đà Lạt… Hoa hiên dùng để ăn sẽ có vị ngọt, thanh nhiệt, tiêu đờm, cầm máu, sáng mắt, an thai… Hoa thường được nấu chung với thịt gà, ăn kèm với các loại rau lẩu hay nấu chung với lươn đều ngon miệng. Lấy bột hoa hiên cho một ít vào nồi canh cá hay canh cua sẽ làm tăng mùi vị thơm ngon và bổ dưỡng cho món ăn hơn.

Ngoài hoa, lá thì rễ của hoa hiên cũng được sử dụng khá phổ biến để làm thuốc. Rễ hoa hiên có vị ngọt, tính mát, lợi thủy nên được sử dụng để làm thuốc giảm đau, chữa sốt, viêm gan, vàng da, viêm tai giữa, đau răng…

Hoa sen

Trong khi những loại hoa khác có thể chế biến thành các món ăn dân dã, thì hoa sen chỉ thích hợp với món ăn tinh tế, vương giả. Hầu hết các bộ phận của cây sen như hạt sen, nhụy sen, tim sen, củ sen hay ngó sen đều ăn được.

Chè hạt sen long nhãn rất thơm ngon, bổ dưỡng.

Hoa sen có sẵn vị ngọt, lại lành tính rất tốt cho sức khỏe. Có một món ngon từ hoa sen thuộc hàng cao lương mĩ vị chốn cung đình là vịt hấp hoa sen. Bên cạnh đó, rất nhiều món ăn có sự kết hợp của hương sen như cơm sen, nộm sen hay chè sen… tất cả đều mang hương vị đặc trưng của ẩm thực Việt Nam.

Bông súng

Bông súng có rất nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi nào có ao hồ, kênh rạch là nơi đó có bông súng. Bông súng rất đẹp, thường có hai loài: Súng sen trồng làm cảnh, bông to, màu tím đỏ, rất đẹp.

Súng dại, bông màu trắng hoặc tím. Nhụy bông súng màu vàng, cả hoa và nhụy đều có thể ăn được, nhưng người ta chỉ ăn phần cuống (cọng) vì thế cứ gọi luôn là bông súng. Bông súng tước vỏ, cắt khúc hai đốt ngón tay, làm rau sống cho móm lẩu mắm; trộn gỏi với bồn bồn, thịt ba dọi và tôm bóc nõn; nấu canh chua với cá đồng; ngâm giấm làm dưa… món nào cũng tuyệt hảo cả.

Ngày xuân người Bắc thường kiêng ăn mắm, nhưng người Nam thì không vì thế bông súng rất đắc dụng trong các món mắn đậ đà. Bông súng thân thuộc làm nên câu ca: “Miền tây nước lũ tràn đồng/Canh chua bông súng nấu xong chờ chàng”.

Bông so đũa

Ở phía Nam, ta dễ dàng bắt gặp các món ăn từ bông so đũa. So đũa là loài hoa trắng xóa hoặc tím, thường chỉ nở từ tháng 10 đến tháng 12 vừa có thể làm cây cảnh, nhưng lại vừa có giá trị dinh dưỡng rất cao.

Canh chua cá rô nấu bông so đũa.

Bông so đũa có vị hơi đắng nhưng lạ miệng. Vào mùa so đũa, người ta thường hái những bông tươi từ sáng sớm, nhặt bỏ cuống và vị đắng, bỏ đài, sau đó rửa nhẹ rồi chế biến thành những món canh chua cá rô, canh chua với khế, cá lóc, cá linh, tôm sống hoặc làm lẩu chua cùng một số loài ra khác đều rất ngon.

Đơn giản hơn, người ta thường luộc bông so đũa chấm với nước mắm kho quẹt hoặc luộc chung với các loài rau khác ăn giải nhiệt trong mùa hè oi bức. Đây cũng là món khoái khẩu của nhiều người.

Bông điên điển

Ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long, mùa nước nổi cũng là mùa của những bông điên điển nở rộ. Bông nở xanh tươi, rợp bóng cả bờ sông, bờ rạch… tạo nên một khung cảnh sông nước hữu tình và thơ mộng.

Bông điên điển nấu cá linh.

Bông điên điển là một món ăn mang đậm hương vị miền quê, được coi là đặc sản sông nước miền Tây. Hiếm có loài hoa nào vừa có thể để ngắm và vừa có thể ăn như bông điên điển. Người ta thường nấu điên điển thành các món ăn ngon như gỏi chua bông điên điển, điên điển xào tép, nộm bông điên điển… Nhưng ngon nhất phải kể đến món canh chua bông điên điển nấu cá linh.

Chỉ duy nhất ở miền Tây mới có thể thưởng thức được cái món ngon độc đáo này. Vẫn công thức canh chua lâu nay, nhưng người dân nơi đây khéo léo cho thêm bông điên điển tạo nên một mùi vị vô cùng hấp dẫn và lạ lùng. Cái chua chua của me, cái ngọt của cá và cái thơm của bông điên điển có thể làm dịu mát đi cơ thể giữa cái nóng trưa hè oi bức.

Người dân miền Tây còn có món mắm cá linh muối ăn kèm bông điên điển. Mắm cá linh muốn ngon nhất định phải ăn kèm với bông điên điển và các loại cá tươi vừa mới bắt lên. Như vậy mới có thể cảm nhận được hết hương vị giản dị nhưng không kém phần quyến rũ của món ngon này.

Bông sầu đâu

Nếu điên điển đại trà bao nhiêu thì bông sầu đâu lại hiểm bấy nhiêu. Cây sầu đâu có nhiều ở vùng Thất sơn, Châu Đốc, An Giang. Sầu đâu thân gỗ, cao to, lá giống xoan ở ngoài Bắc.

Gỏi khô sặc lá sầu đâu.

Bông sầu đâu màu trắng, ra hoa vào mùa xuân, mọc thành từng chùm nhỏ, dùng làm gỏi (miền Bắc gọi là mộm). Bông và lá non, rửa sạch, trần sơ qua nước nóng, trộn đều với khô cá sặc, hoặc cá lóc nướng, xé nhỏ. Thêm chút rau thơm, hành tây, xoài ương thái sợi, nêm nếm vừa ăn. Gỏi sầu đâu nhận nhận đắng, nhưng ngọt hậu và rất bắt mồi.

Bông hẹ

Gắn với những bông ở Đồng bằng sông Cửu Long không thể không kể đến bông hẹ. Lá hẹ ăn sống. Hoa hẹ mà xào với lòng mề gà, hoặc tim, gan, huyết heo thì nhớ làm nhiều nhiều, kẻo ăn một, đòi ăn hai. Canh hẹ nấu với nghêu sò, đậu hũ có tác dụng giải nhiệt, chị em ăn đẹp da. Bông hẹ ở Nam Bộ không hăng như hẹ miền Bắc, vì thế câu thành ngữ "rành rành như nấu canh hẹ" là không đúng với vùng đất này.


Bông bí vàng

Chế biến lẩu mắm hay lẩu nấm thì không thể thiếu món bông bí dân dã miền Tây này. Bông bí còn được dùng để nấu canh, xào tỏi, đặc biệt món thịt nhồi bông bí cũng hết sức lạ miệng. Thơm ngon nhưng bông bí cũng không kém phần bổ dưỡng. Trong thành phần của bông bí có rất nhiều chất dinh dưỡng như canxi, sắt, magie, kali, photpho cùng nhiều vitamin.

Bông được cắt cả cuống, thường là các bông bí đực. Khi cắt hoa bí về, người ta thường bỏ nhụy bên trong vì đắng, sau đó dùng luộc, xào hấp hay nấu canh với tôm khô, canh ngao, canh hến, canh cua hoặc xào chung cùng với thịt bò, thịt lợn. Đơn giản nhất là đem luộc. Bông bí chỉ cần luộc qua trong nồi nước sôi là đủ chín, vớt ra để nguội, vắt bớt nước, chấm cùng với nước kho thịt hay nước kho cá đều rất tuyệt.

Canh bông bí nhồi thịt.

Những món ăn từ bông bí có tác dụng chống lão hóa, kháng ung thư do có nhiều beta carotene. Đây là chất chống oxy hóa tế bào, giúp loại bỏ các gốc tự do có nguy cơ dẫn đến ung thư. Chất này khi vào cơ thể sẽ chuyển hóa thành vitamin A, tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch. Ngoài ra, bông bí còn hỗ trợ phòng bệnh tim mạch, huyết áp cao, tốt cho phụ nữ mang thai, ngừa bệnh loãng xương, tăng cường thị lực…

Bông mướp

Đã kể đến bông bí, không thể quên bông mướp. Bông mướp khi nở màu vàng rực. Dân câu lành nghề thường hay dùng để mắc cùng với mồi dụ mấy con ếch cụ “thành tinh”. Bị trêu ngươi, ếch nhảy ra vồ mồi, thế là chui… vào chảo.

Bông mướp xào tỏi.

Bông mướp chúm chím hàm tiếu, cùng với nụ mướp xào lòng gà thì hết chê bởi vị đăc trưng bùi bùi, ngậy ngậy. Hoa mướp dễ tính, nấu với thứ gì cũng được. Xào với tép đồng nhỏ, át mùi tanh; với da và dạ dày ếch hết nhớt, ăn dòn váng tai…

Ngày xưa hoa mướp là thức ăn của ngươi nghèo, dễ kiếm, mọc đầy hàng rào. Hàng xóm muốn ăn, chỉ cần dóng tiếng xin là hái thoải mái. Bây giờ nụ hoa mướp là đặc sản. Một đĩa nụ mướp chừng ba gắp có giá hai ba chục ngàn như chơi.

Bông lục bình

Nếu có dịp về các tỉnh miền Tây bạn sẽ được thưởng thức món bông lục bình xào tỏi vô cùng thơm ngon và đậm đà. Phần bông của lục bình có vị giòn ngọt, thanh mát rất dễ bắt cơm và đỡ ngán.

Canh chua cá ngát bông lục bình.

Theo Đông y, bông lục bình có vị hơi ngọt, tính mát có tác dụng lợi tiểu, giải độc, trừ phong nhiệt. Nếu bạn có vấn đề về các chứng ho hen, ho gió thì chỉ cần chưng bông lục bình với đường phèn ăn là thấy ngay công dụng tức thời.


C.M (tổng hợp)
 
Ngọc Lan sưu tầm
 

 

Xem thêm...

ĐIỀU NHỮNG NGƯỜI SÀNH ĂN NHẤT CŨNG KHÓ BIẾT VỀ THỊT BÒ KOBE

ĐIỀU NHỮNG NGƯỜI SÀNH ĂN NHẤT

CŨNG KHÓ BIẾT VỀ THỊT BÒ KOBE

Bò Kobe nổi tiếng thế giới nhưng thực khách vẫn không biết những câu chuyện truyền tai về chúng thực hư ra sao.



Nếu đam mê khám phá ẩm thực, chắc chắn bạn từng nghe đến thịt bò Kobe. Nó được coi là một trong những loại thịt đắt nhất thế giới. Nhưng nhiều người vẫn tự hỏi bò Kobe có gì "ghê gớm" - ngay cả những thực khách nghĩ họ hiểu về thứ thịt hảo hạng này cũng không thực sự biết câu trả lời.

"Ngôi sao" mới nổi

Trong lịch sử, cá là nguồn thực phẩm chính của Nhật Bản. Trong nhiều thế kỷ, người dân xứ sở hoa anh đào còn bị cấm ăn thịt động vật bốn chân, trong đó có cả bò, vì Thần đạo cho rằng động vật chết sẽ làm cơ thể bị dơ bẩn.

Mọi chuyện bắt đầu thay đổi vào năm 1868, khi thành phố Kobe - thủ phủ tỉnh Hyogo (Nhật Bản) - trở thành một hải cảng quốc tế. Điều này dần khiến chính quyền cho phép người dân ăn thịt bò. Khách nước ngoài cũng góp phần tăng lượng thịt bò được tiêu thụ, nhưng phải mất thời gian thực phẩm này mới trở thành một phần quan trọng trong chế độ ăn của người Nhật.

Hậu Thế chiến thứ hai, tình trạng thiếu hụt lương thực buộc người dân phải thay đổi chế độ ăn. Trong thời kỳ chiếm đóng Nhật Bản (1945 - 1952), Mỹ bắt đầu thực hiện chương trình bữa trưa học đường cho trẻ em. Học sinh Nhật Bản biết đến thịt bò nhiều hơn, điều này dẫn tới tăng trưởng trong ngành công nghiệp thịt của quốc gia này. Thịt bò Kobe từ đây trở nên quen thuộc với người nước ngoài trong nhiều thập niên, và danh tiếng của nó thực sự vang xa khi ngành công nghiệp thịt khởi sắc tại Nhật Bản.

Thịt bò Kobe Nhật Bản. Ảnh: Mashed.

Bò Kobe và Wagyu có phải là một?

Một trong những điều khiến nhiều người nhầm lẫn nhất về bò Kobe chính là tên gọi, có thể dùng thay với bò Wagyu. Nhưng Wagyu và Kobe có phải là một không? "Câu trả lời là có và không", đầu bếp Gerald Chin trả lời First We Feast.

"Tất cả bò Kobe đều là Wagyu, nhưng không phải tất cả Wagyu đều là Kobe. Wagyu có nghĩa là thịt bò Nhật Bản. Bạn không thể gọi một loại thịt bò là Kobe nếu nó không có nguồn gốc từ vùng này tại Nhật Bản. Nếu gọi bò Wagyu là Kobe, chẳng khác nào gọi vang nổ California là champagne", đầu bếp Chin bày tỏ.

Để được công nhận là Kobe, bò phải thuộc giống Tajima-gyu được sinh ra, lớn lên và thậm chí giết mổ tại tỉnh Hyogo, trong đó Kobe là thủ phủ và thành phố lớn nhất tại đây. Ngay cả khi đạt những tiêu chuẩn này, thịt bò phải đáp ứng nhiều quy định khác để đảm bảo đạt chất lượng cao cấp nhất trước khi được đóng dấu xác nhận.

Bò Kobe không uống bia thường xuyên

Bò Kobe quá nổi tiếng nhưng thực khách không biết những câu chuyện truyền tai về chúng thực hư ra sao. Một trong những lời đồn thổi lan truyền rộng rãi nhất chính là bò Kobe được cho ăn theo thực đơn đặc biệt trong đó có một vại bia mỗi bữa.

Ý tưởng về giống bò sống trong nhung lụa là kết quả theo trí tưởng tượng của công chúng dành cho bò Kobe, và gần như mọi con bò Wagyu được chăn nuôi theo phương pháp của người Nhật.

Thực tế, chuyện này không hoàn toàn chính xác. Một số nông dân có cho bò uống bia để kích thích vị giác, đặc biệt trong những tháng hè khi chúng khảnh ăn hơn. Điều này giúp lượng mỡ tăng, khiến thịt bò mềm hơn. Đồ uống có cồn không thuộc chế độ ăn tiêu chuẩn, bò Kobe chủ yếu uống nước - dù vậy nhiều người, gồm cả người Nhật, vẫn nghĩ lũ bò thường xuyên say xỉn.

Bò được massage

Một bí ẩn khác về bò Kobe chính là thịt mềm do thường xuyên được nông dân xoa bóp. Thực tế, rất nhiều con bò chăn nuôi tại Nhật Bản được massage, nhưng không nhằm mục đích khiến thịt thơm mềm hơn.

Đầu bếp Gerald Chin cho rằng: "Phương pháp này giúp gia súc vận động. Ngày xưa, lũ bò ra đồng gặm cỏ và vận động rất nhiều. Khi trời lạnh, chúng sẽ vào chuồng, khớp của chúng sưng lên như bị viêm vậy. Nông dân phải vỗ vào người chúng để khi trở lại đồng, khớp của lũ bò không bị cứng. Đó là lý do người ta đồn thổi lũ bò được massage".

Một số nông dân Nhật Bản vẫn xoa bóp cho bò Kobe, nhưng việc này giúp chúng thư giãn hơn là nhằm có thịt ngon. Ảnh: Mashed.

Một lời đồn chính xác về chế độ chăn nuôi bò Kobe chính là bò có thức ăn chất lượng cao hơn tại Mỹ hay châu Âu. Chúng cũng nghe nhạc khi ăn, điều này kích thích cảm giác ngon miệng.

Thịt bò hảo hạng

Thịt bò Kobe có vân mỡ trắng xen kẽ với những thớ thịt đỏ với tỷ lệ đồng đều, ít béo và đạt đến độ mềm như tan ra trong miệng. "Bò Kobe thật hảo hạng, thịt sống được thái mỏng và đặt trên đá nóng. Chúng tôi phục vụ thịt sống để khách có thể tận mắt thấy đường vân trên từng miếng. Đó quả là một sản phẩm độc đáo", Devin Hashimoto, đầu bếp nhà hàng Mizumi tại Las Vegas (Mỹ), nhận định.

Tỷ lệ mỡ trong thịt bò Nhật Bản được đánh giá cao đến mức nó trở thành một tiêu chí để phân loại thịt. Tiêu chuẩn vân mỡ trong thịt bò (BMS) của Nhật Bản là từ 3-12, với mức 3 là tối thiểu, còn 12 là một miếng bít tết gần như mang màu trắng vì nhiều vân. Miếng thịt càng nhiều vân thì càng mềm, và đó là điều những người sành thịt bò đánh giá cao.

Điểm BMS càng cao, thịt bò càng đắt. Người Nhật loại bỏ mức 1 và 2 trong chỉ số BMS, vì miếng thịt bò ở mức này gần như không có vân.
Ảnh: Philippe Lopez/AFP.

Nhiều người có thể nghĩ thịt bò Kobe không lành mạnh do nhiều mỡ, nhưng sự thật hoàn toàn trái ngược. Bò Kobe giàu chất béo không bão hòa, giúp giảm cholesterol. Thịt bò Kobe cũng rất giàu axit béo omega-3 và omega-6, khiến nó trở thành một trong những loại thịt đỏ tốt nhất cho sức khỏe con người.

Thật giả lẫn lộn

"Burger bò Kobe có thể xuất hiện trong vô số thực đơn, nhưng thật nực cười khi một nhà hàng có thể bán với giá dưới 100 USD. Một chiếc sandwich bò Kobe giá 16 USD là điều không tưởng", bếp trưởng Hashimoto nói.

Thứ bò Kobe được thực khách gọi trong các nhà hàng nhiều khả năng là bò Wagyu. Một số loại bò Wagyu tại Mỹ có chất lượng cao, nhưng vẫn xếp sau Kobe. Thịt bò Wagyu thường sẫm màu hơn, không dậy vị và thơm ngậy như bơ.

Nhiều nhà hàng và nông dân có thể dùng lẫn lộn mác "thịt bò Nhật Bản", "bò Wagyu Nhật Bản", "Wagyu", "bò Kobe Mỹ" và "Kobe"... để tung hỏa mù. Đó là lý do thực khách có thể thấy nhà hàng này bán "bò Kobe" 16 USD và nơi khác bán với giá 200 USD.

Do kẽ hở trong quy định dán nhãn nguồn gốc xuất xứ, thịt bò thực khách được phục vụ có thể chỉ là bò nuôi tại Nhật Bản - ngoài vùng đặc trưng của bò Kobe tại tỉnh Hyogo. Đó cũng có thể là thịt của bò giống Nhật Bản, nhưng được nuôi tại Mỹ hay Australia. Khả năng cuối cùng tệ hơn, khi thịt bò đội mác Kobe thực chất là bò Nhật phối giống với bò Angus hoặc một giống bò rẻ tiền hơn.

Và nếu muốn thưởng thức bò Kobe mà không cần tới Nhật Bản, thực khách cũng khó có nhiều cơ hội. Theo Hiệp hội Xúc tiến Phân phối & Tiếp thị Thịt bò Kobe, có khoảng 5.000 đầu gia súc được chứng nhận là bò Kobe mỗi năm. Nguồn cung thậm chí còn khan hiếm hơn trên thị trường thế giới vì hầu hết thịt bò Kobe được tiêu thụ tại Nhật Bản, với 10% hoặc nhỉnh hơn được xuất khẩu.

Ăn bò Kobe sao cho chuẩn

Phần đông thực khách có xu hướng nghĩ thịt bò phải ăn kiểu bít tết - một phần thịt dày, ngon ngọt và hơi sém bên ngoài. Nhưng người Nhật ăn thịt bò rất khác. Chỉ có vài cách để đầu bếp chế biến bò Kobe: nướng vài dải thịt mỏng trên vỉ, rán những dải thịt mỏng với trứng sống, hoặc nhúng lẩu.

Thường đầu bếp Nhật sẽ cắt thịt bò thành những miếng nhỏ để khách dùng đũa gắp ăn, thịt chỉ được đảo nóng trong khoảng 40 giây - khác với những đĩa bít tết để khách cắt bằng dao dĩa kiểu Âu.

Theo: VNE/Mashed, Eate
Xem thêm...

Gỏi cuốn Việt Nam

Gỏi cuốn Việt Nam

 

BM

Món cuốn Việt Nam còn gọi là gỏi cuốn, nem cuốn, sal cuốn, gỏi cuốn mùa xuân tươi mát, hay bánh tráng cuốn. Đó là những cuốn bánh tinh tế chứa đầy sự kết hợp tươi ngon của các loại rau thơm tươi, rau giòn, protein như tôm hoặc thịt heo, và bún. Có thể xem gỏi cuốn là phiên bản thanh đạm và nhẹ nhàng hơn của món chả giò Việt Nam. Món ăn này dễ làm đến kinh ngạc, đặc biệt là nếu bạn đã chuẩn bị sẵn một góc nhỏ để cuốn mọi nguyên liệu. Bắt đầu bằng việc chuẩn bị mọi thứ: luộc chín bún khô, thái sợi rau củ, và cắt tôm làm đôi theo chiều dọc. Sau đó, chỉ cần làm mềm bánh tráng trong nước ấm, xếp nhân vào giữa và cuốn lại như những chiếc bánh burrito nhỏ.

 

Điểm nhấn của món ăn này là xốt tương đậu phộng xay nhuyễn — thơm ngon đến mức bạn sẽ muốn chấm mọi thứ vào đó! Gỏi cuốn là món ăn rất linh hoạt. Bạn có thể thưởng thức chúng như món khai vị nhẹ nhàng hoặc kết hợp với các món ăn yêu thích khác của Việt Nam, như phở. Gỏi cuốn cũng là món ăn hoàn hảo để tạo thêm nét tươi mới, đầy sắc màu cho bất cứ bàn tiệc mùa hè nào.

 

Nguyên liệu cần có để làm món gỏi cuốn Việt Nam

 

BM

Bơ đậu phộng mịn: Tạo nền tảng béo ngậy, đậm đà cho xốt chấm.

Tương đen Hoisin: Thêm hương vị ngọt và mặn đậm đà.

Tương ớt Sriracha: Thêm vị cay nồng; tùy ý tăng gấp đôi nếu bạn muốn cay hơn.

 

Giấm gạo: Tạo vị chua thanh để cân bằng hương vị trong xốt chấm, và tăng cảm giác tươi mát cho nhân cuốn.

Tỏi: Thêm chiều sâu hương vị cho xốt chấm.

Bún gạo: Tạo độ dai và cân bằng nền tảng dai-mềm cho nhân cuốn.

Cà rốt thái sợi: Thêm độ giòn và ngọt cho nhân cuốn. Mua cà rốt dạng gói cắt sẵn ở siêu thị là một cách tiết kiệm thời gian tuyệt vời.

Dưa leo Anh: Thêm độ tương phản tươi mát, giòn rụm.

Hành lá: Bổ sung chút hương vị hành cho món cuốn.

Nước mắm: Mang đến vị umami (vị ngọt của đạm) và một chút vị mặn.

Đường: Cân bằng vị chua và bổ sung chút ngọt.

Bánh tráng gạo: Những tấm bánh mỏng, trong suốt làm từ bột gạo và nước, thường dùng trong ẩm thực Việt Nam để làm gỏi cuốn và chả giò. Bánh tráng trở nên mềm dẻo và dễ cuốn hơn khi nhúng nhanh qua nước.

Lá xà lách cuộn hoặc lá rau diếp: Thêm độ giòn và tươi mát, giúp giữ chặt hỗn hợp nhân cuốn.

Tôm chín: Cung cấp chất đạm và vị ngọt nhẹ, mặn mòi.

Lá bạc hà: Thêm hương vị thảo dược thanh mát và màu sắc đẹp.

Lá ngò rí: Thêm chút tươi sáng, mùi thanh mát như chanh, và tạo màu xanh bắt mắt qua lớp bánh tráng.

 

 

Cách thức thực hiện

 

Bước 1: Làm xt chm tương đu phng

 

Cho bơ đậu phộng, tương đen hoisin, nước lọc, tương ớt sriracha, giấm, tỏi, và muối vào máy xay sinh tố. Xay nhuyễn hỗn hợp cho đến khi sánh mịn. Đổ ra tô và để sang một bên.

 

BM

Bước 2: Làm gi cun

 

Đun sôi một nồi nước lớn và thả bún gạo vào, nấu cho đến khi mềm, khoảng 3 phút. Vớt ra, xả lại dưới vòi nước lạnh cho bún nguội, và để ráo nước.

 

BM

Cho cà rốt, dưa chuột, hành lá, giấm gạo, nước mắm, và đường vào một chiếc tô vừa.

 


Chuẩn bị một chiếc đĩa tròn hoặc nồi lớn đựng nước ấm. Nhúng nhanh một miếng bánh tráng vào nước cho hơi mềm, khoảng 5 đến 10 giây.

 

BM

Lấy bánh tráng ra cẩn thận bằng hai tay và đặt lên một mặt phẳng sạch. Đặt 3 lá ngò rí và 3 lá bạc hà thành một hàng hơi lệch về bên trái trung tâm của miếng bánh, xếp 4 nửa con tôm lên trên, mặt cắt hướng lên trên, tạo thành một hàng bên trên các loại rau thơm.

 

BM

Giữ một chiếc lá xà lách trong tay, cho khoảng ¼ cup hỗn hợp cà rốt/dưa leo, và ¼ cup bún vào.

 

BM

Cuộn lại thành hình trụ, rồi đặt bên phải của phần tôm trên miếng bánh tráng, mép cuốn lá xà lách úp xuống.

 

BM

Cuốn lại: Nâng mép bánh tráng phần rìa gần nhân nhất, và cuốn chặt tay qua các hỗn hợp xà lách, cà rốt/bún, bảo đảm phần nhân được gói thật chặt. Tiếp tục cuốn bánh tráng về phía tôm và rau thơm, gấp hai cạnh bên của miếng bánh tráng vào giữa, cuộn cho đến khi cuốn bánh tròn trịa và mép bánh dính lại với nhau.

 

BM

Đặt gỏi cuốn lên khay, mép dán úp xuống dưới, đặt các cuốn bánh cách nhau một khoảng nhỏ để chúng không dính vào nhau, sau đó dùng khăn ẩm đậy lại. Lặp lại thao tác với các phần nguyên liệu còn lại, thay nước nếu thấy cần.

 

BM

Khi thưởng thức, bạn có thể cắt đôi mỗi cuốn theo chiều ngang nếu muốn, chấm kèm với xốt đậu phộng.

 

BM

 

Món gỏi cuốn Việt Nam

 

BM

·       S lượng: 12 cun

·       Thi gian chun b: 40 phút

·       Thi gian chế biến: 5 phút

·       Tng thi gian: 45 phút

·       Định lượng xt tương đu phng

·       1/3 cup bơ đu phng mn

·       ¼ cup tương đen hoisin

·       1/2 cup nước lc

·       1 mung canh tương t sriracha (có th tăng gp đôi nếu mun xt chm cay hơn)

·       1 mung canh gim go

·       1 tép ti, băm nh

·       3/4 mung cà phê mui

 

Định lượng nguyên liệu cho nhân cuốn

 

BM

·       85 gr bún khô

·       1 1/2 cup cà rt bào si/thái si

·       1 cup dưa leo Anh, b rut, thái si, khong 1 qu dưa chut nh

·       3 cây hành lá, ly phn màu xanh nht và đm, thái nh

·       2 mung canh gim go

·       2 mung cà phê nước mm

·       2 mung cà phê đường

·       12 miếng bánh tráng (Loi c 8 1/2 inch)

·       12 lá xà lách cun hoc rau diếp (khong 1 đến 2 cun; loi b hết sng rau)

·       24 con tôm c va, luc chín, ct đôi theo chiu dc

·       1 cup lá bc hà nh (nếu lá to thì ct nh li)

·       1 cup lá ngò rí

 

Chế biến xốt tương đậu phộng

 

BM

Cho bơ đậu phộng, tương đen hoisin, nước lọc, tương ớt sriracha, giấm, tỏi, và muối vào máy xay sinh tố. Xay nhuyễn hỗn hợp cho đến khi sánh mịn. Đổ ra tô và để sang một bên.

 

Chế biến gỏi cuốn

 

BM

Đun sôi một nồi nước lớn và thả bún gạo vào nấu đến khi mềm, khoảng 3 phút. Vớt ra, xả lại dưới vòi nước lạnh cho bún nguội, và để ráo nước. Đổ bún ra đĩa lớn và để qua một bên cho khô ráo.

 

Cho cà rốt, dưa leo, hành lá, giấm gạo, nước mắm, và đường vào một chiếc tô vừa.

 

Trộn đều

 

Chuẩn bị một chiếc đĩa tròn hoặc nồi lớn đựng nước ấm. Nhúng nhanh một miếng bánh tráng vào nước cho hơi mềm, khoảng 5 đến 10 giây. Lấy bánh ra cẩn thận bằng hai tay và đặt lên một mặt phẳng sạch.

 

Đặt 3 lá ngò rí và 3 lá bạc hà thành một hàng hơi lệch về bên trái trung tâm của miếng bánh tráng, xếp 4 nửa con tôm lên trên, mặt cắt hướng lên trên, tạo thành một hàng bên trên các loại rau thơm. Giữ một chiếc lá xà lách trong tay, cho khoảng ¼ cup hỗn hợp cà rốt/dưa leo, và ¼ cup bún vào. Cuộn lại thành hình trụ, rồi đặt bên phải của phần tôm trên miếng bánh tráng, mép cuốn lá xà lách úp xuống.

 

BM

Cuốn lại: Nhấc mép bánh tráng phần rìa gần nhân nhất và cuốn chặt tay qua các hỗn hợp xà lách, cà rốt/bún, bảo đảm phần nhân được gói thật chặt. Tiếp tục cuốn bánh tráng về phía tôm và rau thơm, gấp hai cạnh bên của miếng bánh tráng vào trong, cuộn cho đến khi cuốn bánh tròn trịa và mép bánh dính lại với nhau. Đặt gỏi cuốn lên khay, mép dán úp xuống dưới, đặt các cuốn bánh cách nhau một khoảng nhỏ để chúng không bị dính vào nhau, sau đó dùng khăn ẩm đậy lại. Lặp lại thao tác với phần nguyên liệu còn lại, thay nước nếu thấy cần.

 

Khi thưởng thức, bạn có thể cắt đôi mỗi cuốn theo chiều ngang nếu muốn, chấm kèm với xốt đậu phộng.

 

BM

Chuẩn bị trước: Gỏi cuốn có thể được chuẩn bị trước vài giờ. Dùng màng bọc thực phẩm bọc kín khay gỏi cuốn, giữ nguyên khăn ẩm bên trên, rồi cho vào tủ lạnh đợi đến khi dùng. Khi ăn, lấy gỏi cuốn ra khỏi tủ lạnh và để ở nhiệt độ phòng khoảng 15 phút cho hết lạnh.

 

Lưu ý: Hàm lượng dinh dưỡng cho mỗi phần ăn bao gồm 2 chiếc gỏi cuốn và khoảng 3 muỗng canh xốt tương đậu phộng.

 

Hàm lượng dinh dưỡng

Khẩu phần: 6 người

Số lượng mỗi khẩu phần: 2 gỏi cuốn/1 người

 

Lượng calo: 284, Chất béo: 1 g, Chất béo bão hòa: 0 g, Carbohydrate: 37 g, Đường: 4 g, Chất xơ: 3 g, Đạm: 5 g, Natri: 355 mg, Cholesterol: 32 mg

 

 

Jennifer Segal  _  Linh Đan  (BM)

 

Ngọc Lan sưu tầm

 

Xem thêm...

Canh Ngót Cá Khoai, Nồi Canh Biển Miền Nam - Trần Tiến Dũng

Canh Ngót Cá Khoai, Nồi Canh Biển Miền Nam 

Trần Tiến Dũng

Tháng 6, Sài Gòn mưa sáng, ngồi quán nhìn mưa, rồi thấy trang nhà anh bạn Trần Bá Đại Dương nói và đưa hình một mớ cá Khoai. Cá Khoai, tôi tin rằng người quê Gò Công xưa ưa cá Khoai hơn hết. Cá Khoai chưng tương hột, cá Khoai nấu canh ngót, khô cá Khoai nướng trộn dưa leo, rau thơm, với nước mắm tỏi ớt chanh đường…
 
Ờ mà dân miệt duyên hải miền Nam nào cũng ưa cá Khoai mà. Xương cá nhai nuốt gọn hơ như món thạch tráng miệng, thịt cá trong mềm nhưng không bở, vị cá ngọt thanh mà không tanh; gôm lại cá Khoai là loại cá như thể được sinh trưởng từ bọt biển khơi và mây trắng trên trời những hôm biển êm.
 
Cá Khoai ở chợ quê tôi ngày trước rất nhiều và rất tươi. Tôi cho rằng không vì cá Khoai rẻ mà được ưa, một loại cá người già, trẻ con đều ăn không sợ mắc xương người bình thường ăn các món cá Khoai vị ngọt ngon thấm đậm trong miệng nên nhớ và thèm miết. 
 
Tôi có mấy bà chị ở nước ngoài tuổi gần tám mươi, các chị về Sài Gòn món chị thèm nhứt, mong ăn nhứt là món cá Khoai nấu canh ngót. 
 
cangotnaungot
 
Nồi canh ngót cá Khoai thiệt đơn giản, gồm ít rau cần (hoặc lá húng quế) hành lá, cà chua, nêm nếm muối, ớt, tiêu sao cho vừa miệng. Miệt khác tôi thấy người ta ăn với nước mắm trơn hoặc nước mắm tỏi đâm và chút nước chanh, còn người quê tôi xưa ăn với nước mắm pha tỏi, ớt, chanh đường.
 
Nước canh cá Khoai có màu sương mai buổi sáng sớm, mùi thơm cá Khoai chín, mùi rau cần, mùi hành lá, mùi tiêu, ớt cứ như là hương vị riêng mà biển quê nhà ban tặng riêng cho bà con sống ven biển miền Nam.
 
Hẳn nhiên các món lẩu hải sản kiểu Tàu cũng ngon, nhưng đã là những người con sinh ra bên biển, được dưỡng nuôi trưởng thành người thì dù có phiêu lưu phương trời nào đi nữa thì cá nồi canh trong bữa cơm từ biển quê nhà vẫn mãi là thứ nước lèo mặn mòi, ngọt ngót riêng, cái riêng không nhất thiết được cảm nhận từ đại dương bao la mà chỉ nhỏ như một góc biển gần, một con thuyền nhỏ, một mái nhà trên bờ cát dịu dàng dấu tay của sóng êm, gió nhẹ.
 
 
Người Việt ngày nay có cách so sánh về người ra biển lớn, người ở lại biển nhà nhưng có lẽ vẫn luôn có nhiều người vẫn thường nấu canh và ăn bữa cơm có canh. Nồi canh chưa bao giờ được coi là biểu tượng gì đó văn hoá ẩm thực hay trong thực đơn hàng đầu được nước ngoài bình chọn của các món Việt, nồi canh có trong bữa cơm thường ngày người Việt nhất là người Miền Nam, có khi chỉ để dễ nuốt vậy mà no lành ngàn năm.
 
Với tôi, trong trường hợp nồi canh cá Khoai và các loại canh thuộc về biển khác, luôn luôn nhắc nhớ về biển và người thân quê nhà, nơi ấy cho dẫu mai sao không tìm thấy tôi. Người duyên hải có khi phải sống gần hết đời người ta mới biết từ lúc biết ăn cơm, biết chan canh họ đã mang theo biển. 
 
Trần Tiến Dũng
SG, 24-6-2024 

 

________________________________

 

Nồi Canh Chua Của Má

Đỗ Cường

 

 

Ngày xưa nhà tôi nghèo lắm, đến bữa ăn gia đình thường quây quần bên mâm cơm đạm bạc, không có người ăn trước người ăn sau, bởi nếu như vậy thức ăn sẽ không đủ cả cho gia đình mười người con.

Anh em có một thông lệ ngầm là mỗi tháng phải nấu hai lần canh chua, đó là ngày Ba tôi lãnh lương và ngày anh em chúng tôi đề nghị.

Mỗi lần nghe Ba tôi nói với Má: “Bà ơi mai nấu canh chua nghe bà” dường như đêm đó tôi không ngủ được, thử hỏi một thằng con trai còn non và chưa xanh vừa tròn mười lăm tuổi… ngày mai xách giỏ lẽo đẽo đi chợ với Má, thì ôi thôi “còn có danh gì với núi sông“ nữa.

Vào chợ, Má lựa chọn tỉ mỉ, cá phải là cá còn sống, rau phải tươi ngon, trái me không được già hay non quá, khóm mua nguyên trái vừa chín tới, bạc hà mới cắt phải còn mủ, lấy móng tay bấm vào phải xốp…
 
Việc mua nguyên liệu, Má đã cẩn thận, thì công đoạn nấu nồi canh chua còn công phu hơn nữa, để cạo lớp nhớt trên mình con cá Hú (Ú) phải là nước sôi vừa “reo” sau đó chà xát với muối tránh mùi tanh, cá cắt ra từng khứa bằng nhau để vào rỗ cho ráo nước không được để trên dĩa cá đọng nước sẽ không ngon, trái me cạo sạch và dằm me bên ngoài lấy nước chua tuyệt đối không dằm me trong nồi canh chua, khóm và các rau khác xắt ra đều để thứ tự trong rổ…

Khi nghe tiếng xe đi làm về của Ba tôi ngoài cửa, Má tôi mới bắt đầu nấu nồi canh chua, Má nói nồi canh chua không được nấu sớm hay trễ quá sẽ mất đi mùi vị của nồi canh chua, giống như trái cây chín tới khi ăn mới cảm nhận được cái ngon của nó.
 
Tôi không quên được tiếng húp xì xụp, những giọt mồ hôi chảy dài của anh em tôi bên mâm cơm bởi vị ngon của tô canh chua.

”Bà nấu ngon quá“ Ba tôi khen.

Nhìn chồng và các con ăn, tôi thấy gương mặt Má tôi hạnh phúc và mãn nguyện.

Có lần Má tôi hỏi:

“Theo con nguyên liệu nào quan trọng nhất của nồi canh chua?”.

Tôi liền đáp: “Cá, me, bạc hà phải không Má“.

Má từ tốn nói: “Nếu chỉ có cá, me, bạc hà là nguyên liệu chính để quyết định nồi canh chua ngon, theo Má như vậy thì chưa đủ, con thử nghĩ nếu canh chua thiếu chút ớt hay hành, ngò, giá… thì hương vị của canh chua như thế nào?. Tuy những nguyên liệu đó không sánh được với nguyên liệu khác, nhưng nó là yếu tố quan trọng làm kết dính những mùi vị khác để hình thành nồi canh chua ngon.”
 
nguyen lieu canh chua ca loc 
Những điều Má tôi nói, giúp tôi hiểu ra được nhiều vấn đề trong đó có việc học của tôi, trong lớp tôi chỉ giỏi toán, lý, hóa, sinh ngữ còn những môn khác tôi không cho là quan trọng.

Từ dạo đó tôi ít đi chơi chăm học hơn những môn kém, đi học về tôi phụ giúp Má nhiều hơn và việc học của tôi tiến bộ.

Tôi nghĩ “Trong cuộc sống có những vật bình thường ở cạnh mình, mình không gìn giữ, trân trọng khi mình cần nó đã thất lạc hay bị mất đi làm mình tiếc nuối khôn nguôi.”
 
Ba năm sau!

Vào một chiều mưa muộn, Má tôi đã bỏ anh em tôi ra đi mãi mãi!

Tạo hóa rất công bằng và oan nghiệt, tạo hóa ban tặng cho tôi một người Mẹ để tôi sống trong yêu thương, giận hờn, vòi vĩnh và tạo hóa đòi lại người Mẹ của tôi, chưa cho anh em tôi đủ trưởng thành để được báo hiếu.

Từ ngày Má mất, gia đình tôi ít tiếng đùa vui, anh em tự chăm sóc cho nhau, đi học về tôi nấu nướng chính cho gia đình. Riêng ba tôi tóc bạc nhiều, ít nói và trầm mặc.

Có những lần tôi chợt thức giấc nửa đêm thấy Ba ngồi ngoài sân nhìn vào cõi xa xăm, tôi biết Ba tôi đang nhớ Má lắm, Ba thật cô đơn như chết nửa tâm hồn.

Tháng năm dần qua, anh em tôi ra đời làm việc, người thành đạt, người công chức, người giáo viên cuộc sống ổn định.

Riêng tôi, hành trang ra đời là nồi canh chua của Má, cái nồi canh chua dân miền Nam ai cũng nấu được, chỉ khác nhau sự nêm nếm, tùy theo khẩu vị mọi người khi ăn xong chỉ khen ngon hay dở mà thôi.
 
Nồi canh chua của Má cũng dung dị như bao nồi canh chua khác. Nhưng với tôi nồi canh chua của Má lại có tính triết lý dạy cho tôi biết vận dụng trong cuộc sống và ngộ ra được nhiều điều.

Ở công ty, tôi biết coi trọng chị nấu bếp, anh lái xe, người bảo vệ… Tôi không coi tôi là một khúc cá, me và bạc hà để quyết định nồi canh chua, chính họ - ngò, ớt, hành… là những nguyên liệu quan trọng kết dính để phát triển công ty, và tôi đã thành công.

Với con tôi, tôi là người cha, người bạn, người thầy và cả là người em nữa.

Mọi người tin tôi không? “Bố ơiiiiiii tắm con”

“Yes Sirrrrrr “!!!

Được Má chỉ dẫn phương thức nấu nhưng tôi chưa bao giờ nấu được nồi canh chua ngon như Má tôi.

Nhân ngày họp mặt, anh em đề nghị tôi nấu nồi canh chua, tôi tận dụng mọi kỹ năng của mình để hoàn thành nồi canh chua thật to đãi các anh em.

Đang ăn cơm, tôi thấy mọi người ăn trầm ngâm và đăm chiêu, đến khi đứa em út thốt lên một câu “Ăn canh chua làm em nhớ Má!“, từng đôi đũa để chầm chậm xuống bàn, mọi người từ từ đứng dậy không nói với nhau lời nào, tôi biết anh em đang hoài niệm lại ngày Má còn sống bên tuổi ấu thơ của chúng tôi.
 
 
Nồi canh chua của tôi nhạt nhẽo!

Nồi canh chua tôi nấu dư thừa của người có tiền, còn Má tôi phải đi từ đầu chợ đến cuối chợ trả giá, mua con cá vừa phải, xin thêm người bán cọng ngò trái ớt… vì túi tiền eo hẹp.

Nồi canh chua, tôi nấu nhanh chóng vì có người giúp việc.

Nồi canh chua của Má tự tay làm có pha mồ hôi và nước mắt vì khói củi cay xè.

Canh chua của tôi vừa ăn có nhạc du dương, còn canh chua của Má chỉ có mồ hôi và tiếng xì xụp, đũa muỗng lanh canh của mười đứa con đang đói.

Canh chua của Má tràn ngập thương yêu có sự đợi chờ chồng và các con về trong hạnh phúc đầy mãn nguyện, còn canh chua của tôi thì mau chóng, no nê và thừa thãi.
 
Má tôi luôn luôn là người ăn sau cùng, có lần nghe thằng Út nói lại với tôi:

“Má mút lại những cái xương cá của anh em mình đó anh!”

Em hỏi Má, Má quay đi chỗ khác và nói

“Tụi con ăn phí quá!”

Đây là bài học có lẽ tôi không bao giờ quên cho đến khi xuôi tay nhắm mắt.

Nếu tôi được một điều ước, tôi sẽ ước Má tôi sống lại để anh em tôi được phụng dưỡng Má, dù tạo hóa có lấy đi bao nhiêu tuổi thọ của tôi cho điều ước đó tôi cũng vui vẻ chấp nhận, mãi được ôm Má vào lòng và gọi hai tiếng: “Má Ơi”.

Đỗ Cường
 
Ngọc Lan sưu tầm
Xem thêm...
Theo dõi RSS này